Bài thuộc thể loại: Tạp văn
Từ sự gắn bó với thiên nhiên đến những gặp gỡ với người dân Bắc Âu trong năm 2004-05 với tư cách là một học giả Fulbright, tôi ôm ấp miền đất này như thiên đường ở hạ giới, mặc dù tôi có những quan điểm khác biệt trong một số vấn đề liên quan đến lối sống tại đây.
Nàng thấy như mình đang ngồi trên một con thuyền hơn là đang ngồi trên mặt đất, cụ thể là một chiếc ghế. Nàng thấy mình đang ở trong một nơi không đầu không cuối hơn là trong một căn nhà nhìn ra một khung cửa sổ phẳng dẹt và hữu hạn.
Hình dung ngồi như buổi trưa, bên xóm biển di cư, thấy một đường đèo quá tầm mắt một chút ở khoảng nhìn ra, từ chiếc mái hiên nhà một người o, đường đèo chạy một lượn vòng triền ngoài mép biển, thấy những chiếc xe đò nhỏ, bóng chúng lăn chậm lắm, như không đi,
“Mẫu đơn quái quỉ gì mà tí tẹo, lại còn đơm từng chùm? Không thấy mẫu đơn của… người ta toác hoác như cái chén ăn cơm thế kia sao?” Sau đó chúng tôi “trao đổi ý kiến” qua lại, xém chút cãi nhau mà cuối cùng vẫn không “nhất trí” về một mẫu số chung cho cái gọi là “hoa mẫu đơn”.
Hoài nghi và ngán ngẩm thông tin một chiều, cộng với bận rộn cơm áo gạo tiền đã khiến tôi từ lâu không muốn quan tâm tới chính trị-bao gồm những đổi thay nhân sự và cả chính sách trong bộ máy cầm quyền.
Vẫn còn, trên đất nước ta, những mảnh đời rách nát, rút máu nuôi mồm theo nghĩa đen, thậm chí có cả những làng bán máu. Nhưng khi nghệ sĩ, người nuôi khí của một dân tộc phải sống còn theo kiểu này, nỗi đau khủng khiếp kiểu khác, thành nỗi thẹn. Cho ai ngày ấy? Cho ai bây giờ?
Ta tự hỏi : sau hồi trốn nhà ra đi và gặp Tương Như, họ còn làm gì nữa ? Sinh con đẻ cái ư? Chao, buồn chết. Sao họ không lên mây ? Có ai nhìn thấy họ không, một chiếu có ráng vàng và mây ngũ sắc, chim phượng và chim hoàng chắp cánh bay cao, cao mãi…
Bảo tàng đau, nơi nỗi đau trần trụi trong hình hài thật của nó, nơi nó đối diện với nó trên những bức tường giống như những tấm gương, nó nhìn thấy gương mặt đau vạn hoa, bản thể đau vạn hoa. Nó nở tới vô cùng và co lại trong chiều kích của một hạt bụi.
Bạn ơi, có bao giờ bạn tiễn bạn nơi bến sông. “Lâm giang tống hữu” câu thơ cũ. Đỗ Phủ thương người thấm ướt khăn . Ý thơ cổ làm tôi buồn khôn xiết. Người tóc bạc giữa trùng khơi sóng biếc. Nghe não lòng cho kẻ ở người đi… Nước mắt người xưa làm mình muốn khóc. Cảm thương người lữ khách, khóc tri âm.
Mình đọc tham khảo cả một cuốn sách dày “Sáu lần gặp Putin” chỉ để rút ra câu hỏi hơi… cà chớn, “Tại sao có nhiều người chức càng cao bụng càng to?” Mình sẽ hỏi về những trăn trở, âu lo, những buồn vui vô cớ, mối tình đã qua, rung động đầu đời… mấy cái này coi bình thường vậy mà ăn khách lắm, mới mẻ lắm, đồng nghiệp chưa làm…
Từ khi tôi đến Úc năm 1999 – nhất là khi tôi được rời khỏi trại tập trung tỵ nạn Maribyrnong hai năm sau đó – tôi đã cảm kích cái vẻ dễ dãi nhưng hơi bảo thủ, của những khu ngoại ô thành phố Melbourne; phần lớn người Úc chào đón rất cởi mở thân thiện, từ bên trong những hàng rào gỗ cây của họ. Nhưng những con chó giữ nhà thì hoàn toàn trái ngược lại. Chúng đưa tôi đến một tình trạng khủng hoảng văn hóa nặng.
Làm sao ta tưởng tượng được đến việc gọi điện thoại cho người bạn thân khi họ nằm chờ chết trong bệnh viện, để nói lời xin lỗi là không thể tận mình đến viếng thăm được lần cuối. Ấy vậy, tôi làm điều này mỗi tháng, buồn lắm…
Có những nhân viên ở trạm xăng rất thân thiện và tỏ vẻ quan tâm đến những người không có khiếu định hướng như tôi. Cũng có khi họ bận rộn, chỉ đáp gọn lỏn, “Không biết!” Thế là xong. Có lần, tôi gặp như vậy, đang lúng túng không biết tính sao, thì một người đàn ông Mễ đang đổ xăng liền quay sang…
Hãy hỏi nhỏ chính mình, ngay trong thời khắc này, bạn đang ao ước điều gì? Nếu bạn đang muốn muốn ngợi ca tình yêu vĩnh cửu [xin đọc Trần Mộng Tú], muốn phiêu lưu vòng quanh thế giới [xin đọc Đỗ Kh.], muốn chạm nhẹ vào ký ức lãng mạn [xin đọc Hoàng Chính], trầm mình trong chữ nghĩa hoài vọng [xin đọc Nguyễn Xuân Hoàng], …
Những ngày gần đây, cả trong và ngoài nước, có nhiều thảo luận sôi nổi trên các diễn đàn, báo chí văn nghệ về “Tự Truyện Lê Vân – Yêu Và Sống”. Những cuộc thảo luận này có cường độ nóng tương tự như những cuộc thảo luận về “Bóng Đè”, về “Cánh Đồng Bất Tận”, về “Nhật Ký Đặng Thùy Trâm”. Người khen cũng lắm, kẻ chê cũng nhiều.
Chữ quốc ngữ sử dụng mẫu tự La-tanh do các nhà truyền giáo Tây phương đặt ra để dễ giảng và truyền đạo. Bởi thế các nhà văn/nhà thơ đầu tiên sử dụng thứ chữ mới này thay cho Hán và Nôm, đương nhiên là những người Công giáo. Căn cứ những tài liệu xưa được đọc trong kho thư tịch của Gs Nguyễn Văn Trung,
Từ cấp trên cho đến cấp trên của cấp trên, ông chủ cho đến ông chủ của ông chủ, tất cả kết hợp lại với nhau thành một thể thống nhất, đó là hệ thống quyền lực…
Lũ bọ chét cũng rất đáng ghét. Khi chúng nhảy múa lăng xăng bên dưới trang phục của ai đó, quả thật bọn chúng dường như nhấc cả quần áo người đó lên.
Âm thanh của bọn chó khi chúng đồng thanh sủa liên hồi thì đáng ngại và đáng ghét.
Thú cũng như người
Cô gái nói đến, nếu mới 15, thì tôi chắc là đã lắm người thăm nhưng hôm nay cô không đi chùa Hương mà hoa cỏ mờ hơi sương đã đi lao động. Nếu cô 25, thì con nhỏ đang ở nhà nghịch đất không biết là mẹ mới bỏ xác bên kia biên giới, dưới bom khôn chính xác sản xuất tại Hoa kỳ…
Hà Nội ngày tháng cũ, có bóng trăng thơ in trên mặt hồ
Hà Nội ngày tháng cũ, có tiếng oanh ca bên bờ tường đi
Hà Nội ngày tháng cũ, có dáng em tôi aó trắng nghiêng nghiêng đường chiều,
Tiếng guốc lưa thưa lao xao khua trên vỉa hè, mùa thu theo gió heo may

