Bài thuộc thể loại: Nhân Văn
Theo nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, “Liệu có phải đặc trưng riêng của Hoàng Ngọc Hiến là chủ nghĩa độc đáo? Hay lỳ lợm? Có lẽ người làm phê bình ở Việt Nam ít nhiều cũng buộc phải lỳ lợm? … Chính sự chống lại lược thuật một cách hệ thống, chống lại lối tư duy kinh viện con tằm ăn lá dâu rồi nhả ra tơ… này tạo ra sự độc đáo [của] Hoàng Ngọc Hiến …
Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của ngót 70 triệu cư dân sống ven sông.
Anh có một tình yêu sâu xa đối với nước với dân mình, nhưng thể hiện ra không phải chỉ với những tình tự thuần cảm tính, mà với kiến thức, tính toán, với sự lên tiếng một cách bền bỉ có ảnh hưởng quốc tế, với sách vở được xuất bản đều đặn, nhằm bảo vệ dòng sông ấy, cũng là bảo vệ sự sống của dân Việt Nam trong đồng bằng sông Cửu Long…
Người Haiti có một tục ngữ có thể làm phật ý (một số người) về vẻ đẹp của phụ nữ. Nou led, Nou la. Chúng tôi xấu xí, nhưng chúng tôi có mặt. Đối với những người phụ nữ khi họ chào nhau ở những con đường quê bằng câu tục ngữ này, tinh túy của cuộc đời nằm trong sự sinh tồn, chiến thắng những bất hạnh của cuộc sống, hơn là việc giữ gìn nhan sắc.
Theo Mục sư, có phải sự kết hợp giữa văn chương và đời sống, hoặc giữa văn chương và tôn giáo, cũng là một sự “sa ngã hạnh phúc”?
-Ôi, câu hỏi này khó quá cô Thúy ạ. Thôi để tôi xin trả lời ngắn gọn. Sự kết hợp giữa văn chương và tôn giáo (nói chung) với tôi, là một hạnh phúc mà không …sa ngã (cười).
Ở khắp nơi, những con người sùng tín đang kết đội ngũ lên đường, và bằng cả hai việc chiêu mộ cũng như gây mối thù nghịch, anh ta đang thay đổi thế giới theo hình ảnh của mình. Và dù đang đứng chung với anh ta hay đang đối đầu cũng vậy, tốt nhất là chúng ta nên biết tất cả những gì có thể biết về bản chất và những đặc điểm của con người này.
Kẻ sùng tín của Eric Hoffer là một nghiên cứu kinh điển về một hiện tượng tái diễn trong lịch sử loài người. Tác động và nét đương đại của nó không bị mất đi chút nào qua năm tháng. Có thể tiên đoán khá chắc rằng cuốn sách này sẽ được các thế hệ tương lai đọc để có thể hiểu rõ hơn, không những quá khứ của họ mà cả hiện tại của họ nữa.
Người hùng của Hoffer là con người độc lập, tự chủ, loại người tự tin và yên bình trong tâm hồn về bản thân mình, dấn mình vào với hiện tại. Trong sách của Hoffer, loại người hùng này, được vun bồi lên bởi những xã hội tự do, được đặt đối lập với “kẻ sùng tín”, kẻ khởi đầu từ chỗ cùng quẫn, uất ức, bị thúc đẩy bởi mặc cảm phạm tội, thất bại và nỗi ghê tởm chính bản thân, đến chỗ chôn vùi nhân dạng riêng của mình trong một lý tưởng hướng đến cứu cánh cho tương lai.
Đã đến lúc các nước Đông Nam Á phải duyệt xét lại mình và phải nhận chân rằng: có triệt tiêu được những ý hướng dựa vào đế quốc mới thực sự xây dựng được một thế đứng tự lập. Tự lập chứ không phải cô lập, vì cô lập thì dễ bị đế quốc khuynh loát.
Người Malay vùng Đông Nam Á hải đảo là một trong những nhóm dân Bách Việt đã từ Hoa Lục thiên di xuống Đông Nam Á sớm nhất (Malay đợt 1 và Malay đợt 2). Qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi của lịch sử, những cái tên như Srivijaya, Majapahit vẫn luôn luôn là âm hưởng của một dĩ vãng vàng son ám ảnh tâm hồn người Malay và nung nấu một ý chí kết hợp bất diệt.
Những tiếng nói “nhân danh bảy trăm triệu nhân dân Trung Hoa” của Mao Trạch Đông cất lên đầy thách đố với thế giới, chắc chắn không phải phát xuất từ ý thức đấu tranh cho vô sản, vì trong số 700 triệu ấy còn không biết bao nhiêu “kẻ thù” của giai cấp này. Thực tế, người ta chỉ có thể nhìn thấy khía cạnh vị tộc trong giọng điệu kiêu căng phô trương sức mạnh nhân số ấy.
Từ khi cộng sản Trung Hoa toàn thắng ở Hoa Lục (1949), Mỹ càng ráo riết lo liệu việc nghênh địch ở Đông Nam Á, dù chỉ là nghênh địch một cách gián tiếp. Ngày 7 tháng 2 năm 1950, Mỹ tuyên bố công nhận chính phủ Bảo Đại và từ đó Bảo Đại đã trở nên cái bình phong để Mỹ có thể mượn danh nghĩa mà đổ chiến cụ cho lực lượng thực dân.
Về phương thức đấu tranh, CS Đông Nam Á đã đi theo đường lối vũ trang khởi nghĩa để từ đó mưu tính tạo ra những cuộc chiến tranh cách mạng, hầu đánh quỵ hẳn lực lượng cầm quyền. Đường lối này có vẻ ngả theo phương thức tiến hành của CS Trung Quốc và khác hẳn phương thức mà các đảng CS Á Châu khác đã và đang theo đuổi .
Hai hình thái thông thường nhất là chiến tranh uỷ nhiệm và chiến tranh cục bộ. Trong chiến tranh uỷ nhiệm, đế quốc giữ phần chỉ đạo và tiếp trợ bên ngoài, còn phần vụ lâm chiến do quốc gia nhược tiểu tay em đảm nhận. Trong chiến tranh cục bộ, đế quốc tham chiến trực tiếp nhưng chỉ đưa ra những sức mạnh giới hạn, cụ thể là giới hạn trong loại vũ khí thường, mặc dù đế quốc có sẵn vũ khí hạch tâm.
Chiến tranh tự nó vốn đã phức tạp, nhưng chiến tranh ở Lào mới quả là phức tạp ghê gớm. Thật khó mà có một danh từ nào để gọi cho đúng nghĩa cuộc chiến ở đó. Một dân tộc hiếu hoà vô địch như dân tộc Lào, thế mà cứ bị đẩy vào vòng khói lửa! Một vùng đất túi kẹt không có một tác dụng chiến lược đáng kể nào thế mà lại bị đủ mọi thứ cường lực nhào vào xâu xé!
… Và, với người Khmer dưới thời Sihanouk, họ cũng cho rằng chính sách tuyệt diệu hơn cả là ở giữa, mặc cho các cường lực bên ngoài tranh giành, chống đối nhau. Họ tự phụ ngầm với cái khôn ngoan của Apsara Tilottama mà học tự cho là đã nắm chắc được; nhưng bề ngoài, biện bạch một cách khiêm tốn hơn, Sihanouk nói với mọi người “Khi hai con voi đang xung đột thì con kiến chỉ biết đứng ngoài mà ngó chứ còn làm gì hơn được!”
Về lãnh thổ, các dân tộc thiểu số ở Miến choán một nửa diện tích đất đai (rải ra ở Nam và Đông Nam), nhưng về dân số chỉ chiếm 20%. Người Karen đông đảo nhất gồm khoảng ba triệu, còn những nhóm khác ít hơn như Shan (Thái) 1,5 triệu, Chin và Kachin một triệu.
Tuy nhiên, mọi nhận định về Phi một cách hời hợt hay có thành kiến đều là bất công và thiên lệch. Vì tình trạng thực của Phi-Líp-Pin không thể tìm thấy ở những chính trị gia chuyên nghiệp thạo nghề thao túng chế độ Cộng hòa vay mượn, ở thành phần ca xích mạnh tay bóc lột hay ở những cán bộ Mác xít đang mơ tưởng thiên đường Cộng sản.
Một hải đảo Singapore giàu có chưa được coi là đủ! Nắm trọn chủ quyền kinh tế tại liên bang Mã Lai cũng chưa được coi là đủ! Người Tàu vẫn còn đang nỗ lực vận động đoạt nốt quyền chính trị tại liên bang này một cách “hợp pháp”, nghĩa là bằng lá phiếu công dân.
… Nhưng ngay từ trong cái thắng để thống nhất ấy lại nẩy mầm chia rẽ, chia rẽ giữa Java (đảo trung tâm) và ngoại đảo, giữa chính trị và quân sự, giữa giá trị cũ và giá trị mới, giữa khuynh hướng tự do và khuynh hướng độc tài; sau hết và trầm trọng hơn hết: giữa cộng sản và không cộng sản.
Thái là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á đã thoát khỏi thời kỳ bị Tây phương thống trị. Điều may mắn ấy một phần nhờ ở vị trí trái độn giữa hai lực lượng thực dân Anh ở phía tây và nam, và Pháp ở phía đông, một phần nhờ ở phương lược ngoại giao khôn ngoan và óc canh tân của các triều vua từ Rama IV (1851) về sau.
Tây Ban Nha rồi Mỹ tại Phi-líp-pin, Hòa Lan tại Indonesia, Anh tại Mã Lai và Miến Điện, Pháp tại Việt Nam, Kampuchea và Lào, năm đại diện thực dân Tây phương đã thống trị và tạo nên một khoảng thời gian vô cùng đen tối trong lịch sử toàn vùng Đông Nam Á…
… Ngoài nỗ lực khôi phục tổ quốc vào thế kỷ 10 của tộc Việt, điều xác quyết cũng còn được thể hiện qua công cuộc tạo dựng Kampuchea của tộc Khmer, Ayuthia rồi Xiêm, Lan Xang rồi Lào của tộc Thái, Miến Điện của tộc Miến và Pyu, Sravijaya, Singhasari, Majapahit… của tộc Malay vùng Hải đảo.
Nếu chỉ bằng vào truyền thuyết thì chúng ta sẽ gặp ngay một trận hoả mù về thời gian với 20 vị vua họ Hồng Bàng nối tiếp nhau chia sẻ một chuỗi dài 26 thế kỷ, và với cái gốc tích cũng mù mờ không kém thời gian. Truyền thuyết Hồng Bàng không giúp được chúng ta một cách thiết thực trong việc xác định thời kỳ lập quốc.
Phải đi đường con don, con dím,
Đường con trâu, con bò lẩn trong rừng.
Ai có bò bện thừng mà buộc;
Ai có trâu làm xẻo mà lôi;
Ai có con đeo địu, mang nôi.
. . .
(hành ca trên đường nam thiên của bộ tộc Thái)
…những lời viết của Phạm Việt Châu tác động mạnh mẽ như thế nào. Ông cho chúng tôi một căn cước mới, một niềm hãnh diện mới, một gia đình mới, và dĩ nhiên, một hướng đi mới.
Điều đáng tiếc là “Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh” bị những biến cố lịch sử dồn dập suốt những năm đầu thập niên 70 che khuất, và vùi dập vào lãng quên do biến cố 30.4.1975. Phạm Việt Châu qua đời cùng chính thể Việt Nam Cộng Hòa, như một thuyền trưởng cùng tự trầm với con tàu thất trận.
