<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Học Thuật</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/h%e1%bb%8dc-thu%e1%ba%adt/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Chữ nghĩa: chữ v&#224; nghĩa (phần 2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23955</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23955#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 17 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Hữu Thục</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23955</guid>
		<description><![CDATA[Derrida cũng cho rằng tất cả mọi ngôn ngữ đều là ẩn dụ, bao giờ cũng sử dụng nghĩa bóng và dụ pháp. Tác phẩm văn chương là ít lừa dối hơn những hình thức diễn ngôn khác vì chúng nhận biết tính chất tu từ của riêng chúng.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/ceci-n-est-pas-une-pipe.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="ceci-n-est-pas-une-pipe" border="0" alt="ceci-n-est-pas-une-pipe" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/ceci-n-est-pas-une-pipe_thumb.jpg" width="417" height="291" /></a></p>
<p align="center"><font size="2"><em>René Magritte, “Ceci n’est pas une pipe” (“Đây không phải là ống píp”)</em></font></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4">&#160;</font></b></p>
<p><b><font size="4">Nghĩa đen và nghĩa bóng</font></b></p>
<p>Dựa theo nghĩa hiện có sẵn của một từ đa nghĩa, người ta phân loại chúng: nghĩa gốc/nghĩa phái sinh; nghĩa tự do/ nghĩa hạn chế; nghĩa thường trực (nghĩa đã ổn định tức là nghĩa từ vựng)/nghĩa không thường trực (nghĩa ngữ cảnh trong nghệ thuật). Thực tế, một từ có nghĩa mới, bao giờ nó cũng mới lạ, và dường như chẳng dựa trên một tiêu chuẩn nào cả. Nó xuất hiện từ một sự kiện xã hội hay tâm lý hoàn toàn tình cờ. Nhất là từ trong sáng tạo thơ văn. Nghĩa mới thêm vào, do đó, dường như có một sự khác biệt nào đó so với nghĩa đã được biết, được gọi là nghĩa bóng. Thành thử, theo một sự phân loại tổng quát cổ điển, từ đa nghĩa có thể phân thành hai: nghĩa đen và nghĩa bóng. Theo <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân, “</strong>đây chỉ là cách gọi khác của nghĩa cơ bản và nghĩa mở rộng, chỉ có điều khái niệm nghĩa bóng theo cách hiểu thông thường có nội hàm hẹp hơn nghĩa mở rộng, và do đó, người ta thường nói tới nghĩa bóng trong những trường hợp nghĩa mở rộng gợi ra sự liên tưởng nước đôi hay hiệu quả văn học.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_9605" name="_ftnref1_9605">[1]</a></p>
<p>Khái niệm nghĩa đen và nghĩa bóng đã được Aristotle đề cập đến trong khi bàn về ẩn dụ trong hai tác phẩm <i>Poetics</i> và <i>Rhetoric</i>. Ông phân biệt ra những chữ thông thường được sử dụng trong cách dùng hàng ngày và những chữ xa lạ, tức là chữ đặc biệt, nói tóm lại là tất cả những gì khác với cách dùng thông thường, là chữ có nghĩa thoát ra khỏi sự tầm thường, dung tục, được dùng trong ẩn dụ.</p>
<p>César Chesneau Dumarsais, trong tác phẩm “Tropes” (dụ pháp), cho nghĩa bóng thuộc về “dụ thái” (figures) là hình thái trong đó, “người ta cho một chữ một nghĩa rõ ràng không thuộc về chữ đó”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn2_9605" name="_ftnref2_9605">[2]</a>. Tiếp nối Dumarsais, Fontanier mở rộng thêm và đi sâu hơn vào bản chất của không những “những dụ thái mà tất cả dụ thái”. Với lý thuyết về dụ thái, Fontanier phân biệt rõ ràng vai trò của nghĩa bóng và nghĩa đen trong ngôn ngữ.</p>
<p>Theo Fontanier, ý tưởng của con người được biểu hiện ở chữ. Chữ thì dính liền với nghĩa. Ông phân ra ba loại nghĩa:<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn3_9605" name="_ftnref3_9605">[3]</a></p>
<p>- Nghĩa khách quan (sens objectif) (của một mệnh đề): là nghĩa mà nó có một cách tương đối về sự vật mà dựa vào đó nó hình thành. Có nhiều loại nghĩa khách quan: thể từ hay tĩnh từ, hoạt động hay thụ động, tuyệt đối hay tương đối…Nói tóm lại, nghĩa khách quan là loại nghĩa có tính cách ngữ pháp.</p>
<p>- Nghĩa đen (sens littéral): là nghĩa xuất phát từ chữ hiểu sát theo chữ (à la lettre), nghĩa là những chữ được hiểu theo cách tiếp nhận chúng trong cách dùng thông thường, là nghĩa trực tiếp đến với tinh thần của những người thông hiểu thứ ngôn ngữ đó.</p>
<p>Nghĩa đen chỉ lệ thuộc vào một chữ duy nhất, hoặc là nguyên thủy (primitif), tự nhiên và riêng (naturel et propre), hoặc là từ phát sinh (dérivé) và có thể chuyển nghĩa (tropologique). Phép chuyển nghĩa xảy ra, hoặc do nhu cầu và do sự mở rộng, để bổ sung cho những chữ thiếu một số ý tưởng nào đó trong ngôn ngữ; hoặc do sự chọn lựa và do dụ thái, để trình bày những ý tưởng dưới những hình ảnh sống động hơn và gây ấn tượng hơn các ký hiệu riêng của chúng.</p>
<p>- Nghĩa tinh thần (sens spirituel): còn gọi là nghĩa quanh co (détourné) hay nghĩa bóng (figuré) là <i>nghĩa mà nghĩa đen làm phát sinh trong tinh thần do tình huống diễn ngôn</i>, do giọng nói hay do liên hệ giữa những ý tưởng được diễn tả ra với những ý tưởng không được diễn tả. Gọi là tinh thần vì tất cả đều thuộc về tinh thần và vì tinh thần tạo nên nó hay tìm thấy nó . Nó không hiện hữu đối với những ai chỉ hiểu sát theo từng chữ, đối với những ai không hề biết rằng chữ (lettre) thì làm mất đi còn tinh thần thì làm sống lại.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn4_9605" name="_ftnref4_9605">[4]</a></p>
<p>Trong lời tựa cho <i>Les figures du discours</i> được tái bản hơn 200 năm sau ngày Fontanier mất, Gérard Genette viết: “Dụ thái”, tức là nghĩa bóng, “chỉ hiện hữu chừng nào mà người ta đối nghịch với nó một ý tưởng nghĩa đen”.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn5_9605" name="_ftnref5_9605">[5]</a> Nói cách khác, đen/bóng là hai mặt đối lập của nghĩa.</p>
<p>Có lẽ nếu không có hiện tượng đa nghĩa thì sự phân chia đen/bóng không gây ra một hậu quả gì trầm trọng. Đơn giản là vì, ai thích loại nghĩa nào thì cứ thoải mái sử dụng chữ liên hệ. Không có gì dính dáng đến cái gì. Cái phiền là cả hai (hoặc nhiều) nghĩa đều cùng dùng chung một chữ. Tưởng tượng cái cảnh hai (hay nhiều) người đàn ông có cùng chung một vợ hay nhiều người đàn bà có cùng chung một chồng. Nó khiến nghĩa này chen lộn với nghĩa kia, tạo nên một sự nhập nhòe. Sự chen lộn được tận dụng để biến thành một nghệ thuật: nghệ thuật tu từ. Vào các thế kỷ 17, 18, xuất phát từ sự tranh cãi ở toà án và ngoài quần chúng, nghệ thuật tu từ được hệ thống hóa thành các quy luật, được soạn thành sách, là bản chỉ nam cho các môn sinh muốn trở thành những tay hùng biện. Do dính líu đến chuyện giáo dục, nơi cần phải xem xét thử có nên được cho phép dạy dỗ hay không, dạy ở đâu và lúc nào, sự tách bạch đen/bóng lại càng quan trọng và cần thiết. <strong>Thomas Hobbes khẳng định: h</strong>ệ thống ý niệm con người chủ yếu là nghĩa đen. Ngôn ngữ nghĩa đen là phương tiện thích hợp duy nhất để diễn tả nghĩa của nó một cách rõ ràng và xác lập chân lý, giúp cho các triết gia lý luận đúng, còn nghĩa bóng là một sự lệch ra khỏi tiêu phạm. Nó trở thành một điều độc hại.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn6_9605" name="_ftnref6_9605">[6]</a></p>
<p>Khuynh hướng tôn sùng nghĩa đen trong lịch sử tu từ học như cách nhìn của Hobbes được Richards gọi một cách hình tượng là sự “mê tín nghĩa đen” (proper meaning superstition). Mê tín nghĩa đen là niềm tin sai lầm cho rằng mỗi một chữ có một ý nghĩa đặc thù, rõ ràng mà mọi người đều có thể hiểu một cách dễ dàng. Theo Richards, nghĩa không hiện hữu trong chữ, nhưng trong con người như là kết quả của kinh nghiệm mà họ đã có về cuộc đời. Xem quan niệm nghĩa đen là mê tín, Richards tấn công trực tiếp vào lý thuyết quả quyết rằng chữ chứa đựng nghĩa và khi người ta sử dụng chữ, chúng có thể truyền đạt có hiệu quả. <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn7_9605" name="_ftnref7_9605">[7]</a> Là những biểu tượng quy ước có tính cách độc đoán, chữ không hề có nghĩa vốn sẵn. Giống như những con kỳ nhông thường đổi màu sắc tùy theo môi trường chung quanh, chữ, theo Richards, nhận cái nghĩa của ngữ cảnh trong đó một cá nhân gặp phải. Điều này cho thấy rằng “hầu hết chữ, khi chúng chuyển từ ngữ cảnh này đến ngữ cảnh khác, thay đổi nghĩa của chúng.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn8_9605" name="_ftnref8_9605">[8]</a> Nói một cách khác, nghĩa của chữ là hoàn toàn tương đối.</p>
<p>Saussure bàn về nghĩa đen và nghĩa bóng với một cái nhìn khác. Cũng trong cùng tài liệu đã đề cập ở trên<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn9_9605" name="_ftnref9_9605">[9]</a>, đoạn 23 tựa đề “Sens propre et sens figuré”, Saussure xác định “Nếu chữ không gợi nên ý tưởng của một sự vật vật chất, thì tuyệt đối không có gì có thể định rõ ý nghĩa một cách khác hơn là bằng con đường tiêu cực”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn10_9605" name="_ftnref10_9605">[10]</a><i>.</i> Sao gọi là tiêu cực? Tiêu cực, nghĩa là một chữ không thể tự đứng một mình nếu không có những chữ khác với nó kết hợp nhau trong một hệ thống tương quan bổ sung và đối nghịch. Khi tên của một sự vật được sử dụng cho nhiều điều khác nhau, “ánh sáng” chẳng hạn: “ánh sáng” của mặt trời, “ánh sáng” của lịch sử, “ánh sáng” của đất nước, thì người ta thường cho rằng có một nghĩa mới (gọi là nghĩa bóng) được tạo ra. Thực ra, nghĩa nào cũng là kết quả của tương quan. Chỉ có thể có nghĩa bóng nếu nghĩa của chữ là “xác định” (positif), nghĩa là khi nào chữ có một giá trị tuyệt đối do mang trong chính nó những “đặc tính của sự vật” (propriétés de choses), những đặc tính tự chúng hiện hữu hoàn toàn độc lập với ngôn ngữ. Ví dụ như những chữ mặt trăng, mặt trời, đàn bà phải được kiến tạo bằng những đặc tính xác định của mặt trăng, mặt trời, đàn bà là những sự vật mà chúng tượng trưng. Nhưng điều đó là hoàn toàn bất khả. Vậy thì, “Không có sự khác biệt giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của chữ (hoặc là: chữ không hề có nghĩa bóng nào khác hơn nghĩa đen), bởi vì nghĩa của chúng là hoàn toàn tiêu cực”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn11_9605" name="_ftnref11_9605">[11]</a>, theo Saussure.</p>
<p>Khác với Saussure bàn về nghĩa trên quan điểm ký hiệu học, Lakoff bài bác nghĩa đen trên quan điểm “ngữ học nhận thức” (cognitive linguistics). Nhìn qua dòng lịch sử, Lakoff nhận thấy rằng cái gọi là nghĩa đen được người ta xem như là hiển nhiên, và vì là hiển nhiên nên không ai mất công bàn cãi. Rốt cuộc, theo ông, có một thứ “lý thuyết về nghĩa đen” tiềm ẩn trong mọi cách lý luận về ngôn ngữ, dù trong thực tế, không có ai tự nhận mình là tác giả của một lý thuyết như thế <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn12_9605" name="_ftnref12_9605">[12]</a>. Khái niệm đầu tiên và căn bản của lý thuyết này là tính tự trị ngữ nghĩa (semantic autonomy). Một diễn đạt ngôn ngữ là tự trị nếu nghĩa của nó hoàn toàn là của riêng nó, không có một ý nghĩa nào xuất phát từ ẩn dụ, cũng chẳng có tương quan nào với những ý niệm khác nằm ngoài nghĩa cũ. Tự trị ngữ nghĩa cũng là tự trị vô ý niệm (nonconceptional autonomy), cho rằng hoặc là không có ý niệm hoặc là ý niệm chẳng có vai trò gì trong việc hình thành ý nghĩa. Chữ và câu chỉ có nghĩa xuyên qua cái chúng chỉ định ở ngoại giới, không qua nhận thức con người (mind-free).</p>
<p>Lakoff ghi nhận ba điểm chính được bao hàm trong quan niệm về nghĩa đen:</p>
<p>- Nếu một diễn đạt ngôn ngữ là ngôn ngữ có tính quy ước và thông thường, thì nó có tính chất tự trị về mặt ngữ nghĩa và do đó, có thể quy chiếu với hiện thực.</p>
<p>- Không một ngôn ngữ quy ước và thông thường nào là có tính chất ẩn dụ.</p>
<p>- Không ẩn dụ nào là nghĩa đen.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn13_9605" name="_ftnref13_9605">[13]</a></p>
<p>Trong trường hợp đó, một câu chỉ có thể có nghĩa nếu nó diễn tả một mệnh đề có thể đúng hay sai, nghĩa là có thể biểu trưng một trạng thái sự việc (state of affairs) trong một thế giới khách quan, vô niệm. Hiện thực khách quan bao gồm những trạng thái trong thế giới hoàn toàn độc lập với tư duy con người. Thế giới đó gồm những sự vật, đặc tính sự vật, tương quan giữa các vật, loại sự vật. Những ý tưởng trong ngôn ngữ quy ước diễn tả được tất cả những điều đó. Do đó, chân lý hay sai lầm là tuyệt đối.</p>
<p>Lakoff gọi quan điểm này là khách quan chủ nghĩa, theo đó, một ý tưởng ẩn dụ có thể chỉ có nghĩa nếu nó có thể được cải tả (paraphrase) thành một ngôn ngữ phi-ẩn dụ, nghĩa là nghĩa đen. Khách quan chủ nghĩa, theo ông, là một “ngụy luận”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn14_9605" name="_ftnref14_9605">[14]</a>, vì nó không thừa nhận chân lý hay sai lầm liên quan đến hệ thống ý niệm. Khái niệm nghĩa đen là hoàn toàn sai lầm, không thích hợp với sự phân tích ngôn ngữ tự nhiên thực sự.</p>
<p>Sự bài bác nghĩa đen, theo tôi, không có nghĩa là bài bác sự hiện hữu của một nghĩa đầu tiên, nghĩa gốc của chữ. Và lại càng không có nghĩa là để đề cao nghĩa bóng. Nói đúng hơn, bài bác nghĩa đen có nghĩa là bài bác một quan niệm cho rằng nghĩa đen là nghĩa tiêu chuẩn mà từ đó các nghĩa khác đều dựa vào. Nhiều nghĩa khác – nghĩa bóng &#8211; của chữ xuất hiện do mối tương quan với những chữ khác trong cấu trúc và do mối tương quan vói hiện thực, chứ không chỉ “dựa” vào nghĩa đen. Từ “nghĩa đen”, thực ra, là một hình thức “ẩn dụ chết”, vì từ lâu đã biến thành từ vựng. Nghĩa đen của một chữ cũng chỉ là một nghĩa trong nhiều nghĩa khác, nằm trong hiện tượng từ đa nghĩa.</p>
<p>Lakoff cho rằng hạn từ “nghĩa đen” đã có mặt và không thể biến mất, nên ông đề nghị sử dụng từ “nghĩa đen” như một chức năng hữu ích dùng như một hạn từ phi-kỹ thuật, tiện dụng hoặc như là nguồn của một ẩn dụ.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn15_9605" name="_ftnref15_9605">[15]</a></p>
<p><i></i></p>
<p><b><font size="4">Chữ/nghĩa mới</font></b></p>
<p><b></b></p>
<p>Ngôn ngữ là dụng cụ năng động nhất trực tiếp liên quan đến mọi sinh hoạt hàng ngày của con người. Đó là một vật sống, chịu ảnh hưởng của các biến động diễn ra trong hiện thực. Theo thời gian, một số chữ đi vào bóng tối, bị quên lãng và có thể biến mất. Một số chữ khác có thể vẫn còn, nhưng biến nghĩa. Trong lúc đó, nhiều chữ mới được khai sinh, tăng cường thêm số lượng từ vựng để đáp ứng với nhu cầu thông tin và các nhu cầu khác. Có những chữ do con người (nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nhà báo&#8230;) chủ động sáng tạo nhằm diễn tả những khái niệm, sự kiện hay những ý tưởng mới. Nhưng cũng có nhiều chữ tự động khai sinh, đôi khi khai sinh một cách đột ngột, do những biến cố lớn gây chấn động và làm xáo trộn đời sống mọi người. Năm 2000 chẳng hạn, trong cuộc bầu cử tổng thống gây ra nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử bầu cử ở Mỹ, &quot;chad&quot; là từ nổi bật hàng đầu, kéo theo nhiều từ khác được khai sinh do việc đếm phiếu ở bang Florida: <i>hanging chad</i> (chéc treo), <i>bulging chad</i> (chéc lồi), <i>dimpled chad</i> (chéc lõm), <i>pregnant chad</i> (chéc có bầu) hay <i>hand recount</i> (đếm phiếu bằng tay), <i>butterfly ballot</i> (phiếu bướm)&#8230; Năm 2001, biến cố 11/9 khai sinh một loạt từ, từ những từ cũ được thêm nghĩa cho đến những từ hoàn toàn mới. Chúng được trui rèn trong biến cố và những hậu quả tất yếu của nó để từ trong bóng tối, chúng bắn vọt vào sinh hoạt hàng ngày. Và rồi, qua tay những nhà biên soạn tự điển (lexicographers), chúng từng bước trở thành ngôn ngữ chính thức được ghi vào tự điển.</p>
<p>Hàng năm, người ta ước tính có chừng 800 từ vựng mới gọi là <i>neologism </i>thêm vào trong tiếng Anh. Để có từ mới, Peter Sokolowski, cộng tác viên biên tập của Công ty biên soạn tự điển <i>Merriam-Webster&#8217;s Collegiate® Dictionary, </i>cho biết: “Chúng tôi theo dấu những con chữ (…) năm này qua năm khác cho đến khi chúng tôi cảm thấy nghĩa của chúng đã ổn định đủ để cho chúng vào trong tự điển”. Hãy thử xem một số chữ mới đã được đưa vào tự điển <i>Merriam-Webster&#8217;s Collegiate® Dictionary</i> năm 2011<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn16_9605" name="_ftnref16_9605">[16]</a>:</p>
<p><i>crowdsourcing</i>:<b><i> </i></b>the practice of obtaining information from a large group of people who contribute online (thực hành tìm kiếm thông tin từ một nhóm đông người trên mạng).</p>
<p><i>m-commerce</i>: a business transaction conducted using a mobile electronic device (một dịch vụ kinh doanh được thực hiện bằng một thiết bị điện tử di động).</p>
<p><i>bromance</i> (ghép bro (ther) và romance): a close nonsexual friendship between men (tình bạn thân thiết lành mạnh giữa những người đàn ông)</p>
<p><i>boomerang child</i>: a young adult who returns to live at his or her family home especially for financial reasons (một thiếu niên trở về sống với cha mẹ vì có khó khăn về tài chánh/<i>hồi gia</i>).</p>
<p><i>helicopter parent</i>: a parent who is overly involved in the life of his or her child (một người cha hay mẹ dính dáng quá mức đến cuộc sống của con cái, như chiếc máy bay trực thăng bay vòng vòng trên đầu đứa con)</p>
<p>Từ tiếng Anh hay Pháp đa âm nên có thể ghép âm, thêm tiếp đầu ngữ hay tiếp vĩ ngữ vào một từ cũ, nên có một số chữ có hình thức ký hiệu mới, giống như một từ hoàn toàn mới.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn17_9605" name="_ftnref17_9605">[17]</a> Trong thực tế, rất hiếm khi có một từ hoàn toàn mới. Chủ yếu vẫn là thêm nghĩa mới vào từ cũ. Như đã đề cập ở trên, đó là hiện tượng tích lũy nghĩa, hiện tượng đa nghĩa. Trên đây, ta thấy những chữ như <i>boomerang</i> hay <i>helicopter </i>đã có thêm nghĩa mới trong lúc nghĩa cũ vẫn còn đó. Từ chỗ là một vũ khí của người thổ dân, <i>boomerang </i>có nghĩa là “đòn bật lại” bây giờ có nghĩa mới là “hồi gia” ; từ chỗ là tên của một chiếc máy bay cất cánh thẳng, dùng để bay vòng vòng với mục đích quan sát bên dưới, <i>helicopter</i> có thêm nghĩa mới là sự “quan tâm quá mức”.</p>
<p>Tiếng Việt đơn âm, nên không thể tạo ra hình thức mới của từ, mà chỉ bằng cách ghép các chữ riêng lẻ lại với nhau. Trong nước, trong thời gian vừa qua, ta tìm thấy trên báo chí một số từ mới: <i>diễn biến hòa bình, lề phải, lề trái, thế hệ a còng, dân oan, tàu lạ, lộ hàng, </i><i>khúc ruột ngàn dặm</i>… “Diễn tiến hòa bình” chỉ sự thay đổi chế độ mà không dùng bạo lực (tương đương với “regime change” trong tiếng Anh), “lề trái” chỉ những nhà báo viết bài không đi theo sự chỉ đạo của đảng Cộng Sản cầm quyền. Trong số này, <i>t</i><i>àu lạ </i>có một lai lịch khác thường. “Lạ” có nghĩa là “không quen”, nhưng theo Nguyễn Hưng Quốc, “…đến năm 2009 vừa qua, chữ “lạ” này lại được sử dụng một cách vô cùng khác lạ, nếu không nói là quái lạ. Quái, vì nó được dùng để chỉ một điều hầu như ai cũng biết. Từ vị thế phản nghĩa, nó bỗng dưng trở thành đồng nghĩa với chữ “quen”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn18_9605" name="_ftnref18_9605">[18]</a>. <i>Tàu lạ</i> hóa ra là “tàu quen”, tức tàu Trung Quốc.</p>
<p>Ở hải ngoại, ta cũng tìm thấy một số từ mới:<i> cưỡng chiếm, thuyền nhân, tháng Tư Đen, ăn oeo-phe (welfare), cờ máu, cộng đồng, đón gió trở cờ…</i> “Tháng Tư Đen” chỉ ngày Sài Gòn rơi vào tay quân Cộng Sản; “ăn oeo-phe”, từ ghép Việt-Mỹ, có ý nghĩa tiêu cực ám chỉ những cư dân Mỹ sống nhờ trợ cấp xã hội; “đón gió trở cờ” chỉ những thành phần chống Cộng thay đổi lập trường, chủ trương hòa hợp hòa giải với nhà cầm quyền trong nước…vân vân. <i></i></p>
<p>Ta nhận thấy trước hết, nghĩa của từ mới chỉ có thể được hiểu bên trong ngữ cảnh của nền văn hóa mà nó phát sinh hay qua bối cảnh mà một sự kiện đặc thù nào đó diễn ra. Ta không thể hiểu được hai chữ “tàu lạ” nếu không hiểu về chính sách nước đôi kỳ quặc của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đối với thái độ hung hăng của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp biển Đông. Ta không thể hiểu “khúc ruột ngàn dặm” nếu không hiểu được chính sách của nhà cầm quyền Việt Nam muốn dụ khị những người vượt biên, tị nạn Cộng Sản quay về ủng hộ nhà nước Cộng Sản. Ngược lại, ta không thể hiểu những chữ “cưỡng chiếm” (miền Nam) hay “tháng Tư Đen” hay “cờ máu” (chỉ cờ đỏ sao vàng) nếu không sống trong tâm cảm của những người miền Nam bỏ nước ra đi vì căm ghét Cộng Sản.</p>
<p>Cũng thế, ta không thể hiểu từ <i>nipplegate</i> (tai tiếng núm vú) nếu không nắm vững được sự kiện ca sĩ Janet Jackson bất ngờ để lộ một bên ngực trong lần trình diễn tại Superbowl năm 2004: <i>nipple</i> ghép với tiếp vĩ ngữ <i>gate</i>. <i>Gate</i>, cách nói gọn từ chữ “Watergate” là tên một cao ốc, nơi xảy ra vụ tai tiếng lớn làm tổng thống Richard Nixon phải từ chức năm 1974. Từ một danh từ riêng, “gate” thêm một nghĩa mới là “tai tiếng” (scandal). Chữ <i>lộ hàng</i> hiện đang được sử dụng nhiều trên báo chí Việt Nam trong nước có cùng một ý nghĩa như (và có thể dùng để dịch) “nipplegate” hay “wardrobe malfunction”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn19_9605" name="_ftnref19_9605">[19]</a>. <i>Hàng</i> ở đây có thêm nghĩa mới: những bộ phận “nhạy cảm” trên thân thể người phụ nữ.</p>
<p>Dò tìm cơ cấu của ẩn dụ ý niệm nối hai lãnh vực khác nhau cho chúng ta biết một ý niệm mới hay ý niệm chưa biết dựa theo ý niệm cũ như thế nào. Như thế, hàm nghĩa của từ mới thường vuột hẳn khỏi nghĩa đã từng biết (không hẳn là nghĩa đen), và được thúc đẩy bởi liên tưởng trừu tượng. Có thể nói, nghĩa mới bao giờ cũng là “dụ ngữ”, nghĩa là có tính cách bóng bẩy.</p>
<p>Những không đâu mà nghĩa mới tràn ngập bằng trong văn chương, nhất là trong thơ. Có thể nói, văn chương là một nguồn suối vô tận của nghĩa mới. Bằng cách thêm nghĩa vào ngôn ngữ, văn chương giúp chúng ta khám phá ra trong thế giới những điều gì vốn chưa hề được nhìn thấy trước đó. Nó không thể thay đổi hiện thực, dĩ nhiên, nhưng làm thay đổi cách nhìn, cách quan hệ với hiện thực, nghĩa là, cách chúng ta cư ngụ trong thế giới.</p>
<p><i>Ta nhặt từng trang sách rách toang      <br /></i><i>Đứa ngu đã xé vứt ra đường      <br /></i><i>Ta gom từng hạt cây luân lạc      <br /></i><i>Mong mỏi gầy lên một địa đàng</i> (Tô Thùy Yên)</p>
<p>Bốn câu thơ cho thấy một cách nhìn <i>tuy quen mà rất lạ</i> hình ảnh miền Nam trong chính sách gọi là bài trừ văn hóa đồi trụy rất đỗi sai lầm của nhà cầm quyền Cộng Sản đối với nền văn hóa miền Nam, sau ngày 30/4/1975.</p>
<p align="center">*</p>
<p><strong>Xin lập lại</strong>: chữ là ký hiệu. Bản thân của một ký hiệu là hoàn toàn hình thức và nghĩa của nó được hình thành là do tương quan. Ngay cái nghĩa đầu tiên, nghĩa gốc của một chữ, cũng hình thành trên tương quan: tương quan giữa vật, ý thức và ký hiệu. Gọi đó là nghĩa gốc, nghĩa đen thì cũng được. Nhưng gọi đó là nghĩa bóng thì cũng không có gì sai vì bóng bẩy chỉ là dùng cái này để ví von cái khác. Trong lúc không thể gọi sự vật bằng chính hiện hữu của bản thân nó, ta đành phải vay mượn một ký hiệu. Chữ, nói cho cùng, là một cách ví von: ví sự vật với một ký hiệu. Phần đông những chữ hay từ vựng là sản phẩm của những ẩn dụ bị quên lãng.<b> </b>Nhiều ngôn ngữ khác nhau, nếu được đặt cạnh nhau, ta sẽ thấy ngay tính chất quan trọng đối với chữ không bao giờ là chân lý, không bao giờ là một diễn đạt hoàn toàn. Với Nietzsche, không có nghĩa đen tự nó.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn20_9605" name="_ftnref20_9605">[20]</a> Nghĩa chỉ là một sự áp đặt. Derida cho rằng, khi ta đọc một ký hiệu, nghĩa của nó không rõ ràng ngay đối với ta. Nghĩa luôn luôn di chuyển dọc theo một chuỗi những ký hiệu và ta không biết rõ nơi nào là “trú sở” của nó. Ký hiệu luôn luôn dẫn đến ký hiệu. Để nhận biết chữ này ta phải dùng đến chữ khác. Để hiểu nghĩa của một chữ, ta lại phải dùng đến nghĩa khác của nó. Cứ thế. Derrida cũng cho rằng tất cả mọi ngôn ngữ đều là ẩn dụ, bao giờ cũng sử dụng nghĩa bóng và dụ pháp. Tác phẩm văn chương là ít lừa dối hơn những hình thức diễn ngôn khác vì chúng nhận biết tính chất tu từ của riêng chúng.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn21_9605" name="_ftnref21_9605">[21]</a></p>
<p>Thay vì phân biệt đen/bóng, Beardsley phân biệt ý nghĩa sơ cấp và ý nghĩa thứ cấp. Nghĩa sơ cấp là nghĩa rõ ràng, tỏ lộ. Nghĩa thứ cấp là nghĩa gợi ra, không đóng vai trò chính như nghĩa sơ cấp. Nó ẩn tàng. Tất cả mọi loại câu, ở những mức độ khác nhau, đều chứa đựng nghĩa ẩn tàng. Chữ, trong tình trạng cô lập, có ý nghĩa, nhưng là một phần của câu. Người ta chỉ hiểu chữ nếu nó nằm trong câu. Nghĩa tỏ lộ của một chữ là tên gọi, là sự chỉ định của nó (désignation). Ý nghĩa ẩn tàng là hàm nghĩa (connotation). Trong một số ngữ cảnh nào đó, như trong các tài lìệu khoa học, kỹ thuật, chữ loại bỏ hoàn toàn hàm nghĩa không cần của một chữ đã cho. Trong một số ngữ cảnh, hàm nghĩa được giải thoát; đó là thứ hàm nghĩa, ở đó, ngôn ngữ trở nên bóng bẩy và mang tính ẩn dụ. Có thể nói trong một diễn ngôn như thế, nó vừa bao gồm nghĩa sơ cấp và nghĩa thứ cấp, do đó, thành ra đa nghĩa. Đa nghĩa, theo cách hiểu của Bearsley, không đồng nghĩa với mơ hồ. Chỉ có sự mơ hồ khi nào chỉ có một nghĩa là cần, nhưng ngữ cảnh lại không cung cấp lý do để nhận biết nghĩa đó. Văn chương đặt chúng ta vào một diễn ngôn, ở đó, có nhiều điều có ý nghĩa cùng một lúc và người đọc không cần phải chọn lựa giữa chúng.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn22_9605" name="_ftnref22_9605">[22]</a></p>
<p><b>Trần Hữu Thục      <br /></b>(4/2012)</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref1_9605" name="_ftn1_9605">[1]</a> <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân, bài đã dẫn</strong></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref2_9605" name="_ftn2_9605">[2]</a> <i>On fait prendre à&#160; un mot une signification qui n&#8217;est pas précisément la signification de ce mot</i>/Dẫn theo Jan Plug, <i>Figurative language, </i></p>
<p><i></i>Xem ở: <i></i>http://www.flsh.unilim.fr/ditl/Fahey/LANGAGEFIGURFigurativelanguage_n.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref3_9605" name="_ftn3_9605">[3]</a> Pierre Fontanier, <i>Les figures du discours, </i>tr. 55-59</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref4_9605" name="_ftn4_9605">[4]</a> <i>lettre tue, esprit vivifie</i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref5_9605" name="_ftn5_9605">[5]</a> Gérard Genette, lời tựa cho “<i>Les figures du discours</i>”, Pierre Fontanier, sách đã dẫn, trang 10</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref6_9605" name="_ftn6_9605">[6]</a> Xem Trần Hữu Thục, “Ẩn dụ/qua dòng lịch sử” trang mạng Da Màu: http://damau.org/archives/23596</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref7_9605" name="_ftn7_9605">[7]</a> C.K. Ogden and I.A. Richards, The meaning of meaning, trong “Semantic Triangle”, Harcourt, Brace &amp; World, NY, 1946, dẫn lại theo Allie Cahill,<i> </i><i>&quot;Proper Meaning Superstition&quot; I. A. Richards, </i><a href="http://www.colorado.edu/communication/meta-discourses/Papers/App_Papers/Cahill.htm">http://www.colorado.edu/communication/meta-discourses/Papers/App_Papers/Cahill.htm</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref8_9605" name="_ftn8_9605">[8]</a> Em Griffin nhận định rằng, Richards dùng chữ ngữ cảnh (context) để quy cho nhiều biến cố xảy ra, không chỉ là một câu hay ngay cả tình hình trong đó chữ được nói ra. Ngữ cảnh ở đây là toàn thể lãnh vực kinh nghiệm có thể gắn liền với một biến cố, kể cả những tư tưởng về những biến cố tương tự. Griffin phê phán Richards chỉ chú trọng đến nghĩa từng chữ một mà không chú ý đến cú pháp (syntactics), Cú pháp liên quan đến quan hệ giữa các chữ. Richards quên rằng hầu hết các chữ cá nhân có rất ít ý nghĩa từ bản thân chúng. Nghĩa của chúng tùy thuộc vào vị trí nằm trong câu.</p>
<p><i></i>(Dẫn theo Em Griffin,<i> A First Look at Communication Theory,</i> McGraw-Hill, Inc. 1997. Xem ở:</p>
<p><u>http://highered.mcgraw-hill.com/sites/dl/free/0073385026/228359/meanmean2.html</u></p>
<p>Ricoeur bênh vực Richards, cho rằng ngữ cảnh ở đây là diễn ngôn. Chỉ có diễn ngôn xem như một toàn thể mới có ý nghĩa, mang ý nghĩa một cách không thể phân chia. Con người là những sự vật (choses) đáp ứng với những sự vật khác. Sự vật không phải là chữ mà là ngữ cảnh (context). Ngữ cảnh của một diễn ngôn chính là một phần của một ngữ cảnh rộng lớn hơn. (Xem Métaphore vive, trang 101)</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref9_9605" name="_ftn9_9605"></a>[9] Ferdinand de Saussure, <i>Ecrits de linguistique générale</i>.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref10_9605" name="_ftn10_9605">[10]</a><i>Autrement dit, si le mot n&#8217;évoque pas l&#8217;idée d&#8217;un objet matériel, il n&#8217;y a absolument rien qui puisse en préciser le sens autrement que par voie négative.&quot; </i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref11_9605" name="_ftn11_9605">[11]</a> <i>Il n&#8217;y a pas de différence entre le sens propre et le sens figuré des mots (ou: les mots n&#8217;ont pas plus de sens figuré que de sens propre), parce que leur sens est éminemment négatif. </i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref12_9605" name="_ftn12_9605">[12]</a> George Lakoff and Mark Turner, <i>More than cool reason, </i>The University of Chicago Press, 1989, trang 136</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref13_9605" name="_ftn13_9605">[13]</a> George Lakoff and Mark Turner, <i>More than cool reason, </i>The University of Chicago Press, 1989, trang 118</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref14_9605" name="_ftn14_9605">[14]</a> George Lakoff and Mark Turner, trang 118</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref15_9605" name="_ftn15_9605">[15]</a> Như trên, 119</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref16_9605" name="_ftn16_9605">[16]</a> <a href="http://www.merriam-webster.com/info/newwords11.htm">http://www.merriam-webster.com/info/newwords11.htm</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref17_9605" name="_ftn17_9605">[17]</a> Nhưng cũng có những từ có hình thức “mới” hoàn toàn, không giống bất cứ hình thức cũ nào. Những từ này thường được tạo ra bằng cách kết hợp những từ hiện có hay bằng cách thêm vào chữ có sẵn những tiếp vĩ ngữ hay tiếp đầu ngữ (brunch = breakfast + lunch), cũng có thể được tạo thành bởi viết tắt hay nối những chữ cái đầu tiên của mỗi chữ (Nato, Laser…) <b>L</b>ight <b>A</b>mplification by <b>S</b>timulated <b>E</b>mission of <b>R</b>adiation.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref18_9605" name="_ftn18_9605">[18]</a> Nguyễn Hưng Quốc, <i>2009: Năm hoành hành của những “kẻ lạ”</i></p>
<p>http://www.voanews.com/vietnamese/news/a-19-2009-12-31-voa32-82745312.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref19_9605" name="_ftn19_9605">[19]</a> an unanticipated exposure of bodily parts = một sự để lộ bất ngờ những phần kín đáo trên cơ thể.</p>
<p><a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Wardrobe_malfunction">http://en.wikipedia.org/wiki/Wardrobe_malfunction</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref20_9605" name="_ftn20_9605">[20]</a> Nietzsche, <i>On Truth and Lie in an Extra-Moral Sense</i>, xem ở <u><a href="http://www.geocities.com/thenietzschechannel/tls.htm#2">http://www.geocities.com/thenietzschechannel/tls.htm#2</a> </u></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref21_9605" name="_ftn21_9605">[21]</a> Dẫn theo Madan Sarup, <i>An introductory Guide to Post-Structuralism and Post-modernism</i>, The University of Georgia Press, Athens, GA 1993,</p>
<p>tr. 46</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref22_9605" name="_ftn22_9605">[22]</a> Monroe Beardsley, <i>Aesthethics</i>, Hartcourt, Brace &amp; World, New York 1958, dẫn theo Paul Ricoeur, Métaphore vive, tr. 117-118</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23955/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chữ nghĩa: chữ v&#224; nghĩa (phần 1)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23939</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23939#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 16 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Hữu Thục</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23939</guid>
		<description><![CDATA[Chữ ... chỉ là những đường nét vô nghĩa vẽ ra trên giấy .... Nó sẽ chỉ hiện hữu đối với chủ thể dựa vào cái ý tưởng mà chủ thể gắn vào đó. Ngược lại, ý nghĩa chỉ hiện hữu bằng và xuyên qua ký hiệu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/the-poet.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="the-poet" border="0" alt="the-poet" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/the-poet_thumb.jpg" width="383" height="291" /></a></p>
<p align="center"><span style="font-size: x-small"><em>Nhà Thơ (nguồn: </em><a href="http://thejesuitpost.org/site/2012/01/words-words-words-our-shabby-equipment-part-1/" target="_blank"><em>The Jesuit Post</em></a><em>)</em></span></p>
<p><span style="font-size: medium">&#160;</span></p>
<p><span style="font-size: medium">&#160;</span></p>
<p><span style="font-size: medium"><strong>Chữ </strong></span></p>
<p>Theo Arild Utaker, trong một bài bàn về Saussure, <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_5806" name="_ftnref1_5806">[1]</a> khi nói đến chữ<strong>, </strong>ta thường nghĩ ngay đến chữ viết. Từ lâu, đó là cách chúng ta suy nghĩ về ngôn ngữ. Theo mẫu tự, chữ viết tự phân cách ra khỏi sự vật, đưa đến sự khác nhau giữa chữ và vật. Nhưng nhờ thế mà ngôn ngữ tách khỏi thế giới và trở thành một lãnh vực tự động, một lãnh vực có thể suy nghĩ. Từ đó, ta có ngữ học, một khoa học về chữ viết gắn liền với nghệ thuật viết và đọc. Và cũng vì thế, ngôn ngữ trở thành một vấn nạn triết lý: tương quan giữa chữ và sự vật hay nói khác đi, tương quan giữa chữ và thế giới. Mặt khác, chữ viết được xem như là tượng trưng cho lời vì nó có thể được phát âm. Do được thị giác hóa, nghĩa là bị khách thể hóa, lời tự biểu lộ ra trong chữ. Lời có chữ như một tấm gương. Nhưng nếu lời là chìa khóa của chữ thì nó lại bị lệ thuộc vào chữ. Ngữ pháp xem chữ vừa là phân tích vừa là tiêu phạm của lời. Rốt cuộc, sự đúng sai của lời chỉ có thể tìm thấy trong chữ.</p>
<p>Saussure nhìn vấn đề một cách khác hẳn. Trong tiếng Pháp, Saussure phân biệt <em>langage</em> (“hoạt động ngôn ngữ” hay ngôn ngữ nói chung) với <em>langue</em> (ngôn ngữ nói riêng)<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_5324" name="_ftnref1_5324"></a>[2]. “Hoạt động ngôn ngữ” là khả năng của con người có thể tự diễn đạt qua hình thức ký hiệu. Khả năng này không chỉ dành riêng cho ngôn ngữ tự nhiên nhưng mà cho tất cả mọi hình thức giao tiếp của con người. Còn “ngôn ngữ” (hay “tiếng”) là tập hợp những ký hiệu được sử dụng bởi một cộng đồng để truyền đạt với nhau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Ngoài ra, Saussure còn phân biệt ngôn ngữ và lời nói [3]. Ngôn ngữ có tính chất xã hội và độc lập với cá nhân. Lời nói là sự sử dụng cụ thể những ký hiệu ngữ học, có tính cách cá nhân. Cả hai lệ thuộc lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của lời nói. Với khái niệm này, Saussure phân biệt cách sử dụng ngôn ngữ với chính ngôn ngữ được hiểu như là toàn thể các ký hiệu.</p>
<p>Chữ viết, theo ông, tự nó không phải là thành phần của hệ thống nội tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ và hình thức chữ viết của nó xây dựng nên hai hệ thống ký hiệu tách biệt nhau. Nhưng người ta vẫn xem như chữ viết là tượng trưng cho ngôn ngữ. Vì “chữ viết gắn với lời nói mà nó tượng trưng chặt chẽ đến độ nó tìm cách cưỡng đoạt vai trò chính” của lời nói. Một ngôn ngữ có một truyền thống nói độc lập với chữ viết thì ổn định hơn, nhưng ưu thế của chữ viết khiến ta không thấy được điều đó. “Người ta thường cho rằng một ngôn ngữ bị mất đi nhanh hơn nếu không có chữ viết. Điều này hoàn toàn sai.” Trong một số trường hợp, chữ viết rất có thể làm trì hoãn những sự thay đổi trong một ngôn ngữ. Nhưng mặt khác, “sự vắng mặt của hình thức chữ viết” chẳng ảnh hưởng gì đến sự ổn định ngôn ngữ cả<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn3_5324" name="_ftnref3_5324"></a> [4].</p>
<p>Nhưng do đâu mà chữ viết có ưu thế như vậy? Saussure cho rằng: vì hình thức chữ viết cho ta ấn tượng của một cái gì bền vững và thích hợp hơn âm thanh qua thời gian; “đối với hầu hết mọi người, ấn tượng nhìn thì rõ ràng hơn và kéo dài hơn ấn tượng âm thanh.” (…) “Ngôn ngữ văn chương giúp làm nổi bật hơn sự quan trọng không thích đáng dành cho chữ viết.” Ngôn ngữ văn chương có tự điển và có ngữ pháp. Nó được giảng dạy ở trường ốc từ hết cuốn sách này đến cuốn sách khác. (…) những điều đó khiến cho chữ viết trở nên ưu tiên khiến ta quên đi rằng ta học nói trước khi học viết <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn4_5324" name="_ftnref4_5324"></a>[5]. Nhưng “Sự độc tài của chữ viết còn đi xa hơn.” Điều này xảy ra ở những nơi mà các tài liệu viết đóng vai trò chủ đạo, là nơi mà hình thức viết đưa đến các phát âm sai lầm. Đó là một “hiện tượng hoàn toàn bệnh hoạn”. Nếu ta thử xóa bỏ hình thức chữ viết khỏi đầu óc, và đồng thời vứt bỏ đi hình ảnh thị giác, ta có nguy cơ bị bỏ lại với một vật vô hình thù khó mà nắm bắt. “Không có ký hiệu viết, một âm thanh chỉ còn là cái gì rất mơ hồ” khiến “chúng ta cảm thấy bị lạc lõng”, đến nỗi đối với những nhà ngữ học đầu tiên chưa biết đến môn sinh lý học âm thanh, “buông chữ cái đi có nghĩa là mất đất đứng”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn5_5324" name="_ftnref5_5324"></a>[6]. Chả thế mà tục ngữ Việt Nam có câu: “bút sa gà chết” hay “lời nói bay đi, chữ viết để lại.” Ký một chữ trên giấy là khẳng định sự hiện hữu và đồng thời khẳng định trách nhiệm của người ký.</p>
<p>Saussure đặt vấn đề: làm sao để nghĩ về chữ mà không cần qua lời và nghĩ về lời mà không cần qua chữ. Muốn vậy, phải tách lời ra khỏi chữ, mới có thể nhìn thấy được bản lai diện mục của ngôn ngữ. Điều kiện để cho nỗ lực tách lời khỏi chữ là nhờ hai biến cố: sự ra đời của môn sinh lý học âm thanh (<em>physiologie du son</em>) và sự phát minh ra máy hát (<em>phonographe</em>). Máy hát lần đầu tiên giúp cho giọng nói được giữ lại và được khách thể hóa mà không cần thông qua chữ viết. Lời nói chiếm lại chức năng đã bị tước mất. Giọng nói có thể được nghe mà không cần sự hiện diện của người nói, cũng như một chữ có thể đọc mà không cần sự hiện diện của người viết. Cũng như chữ viết, giọng nói được khách thể hóa và do đó, hiện diện một cách độc lập.</p>
<p>Dẫu vậy, ưu thế của chữ viết vẫn không hề mất. Nhất là hình thức chữ in. Do nằm trong một hình thức ổn định với cùng một khổ (trên giấy hay về sau này, trên màn hình máy vi tính), chữ không thể chen trước chen sau một cách tùy tiện, rườm rà như khi nói mà là một thứ ngôn ngữ sắp xếp theo tuyến tính, được bố trí theo chức năng, biến chúng thành câu kéo với các từ loại được phân bố, tách bạch rõ ràng khiến cho những ý tưởng vô hình trở nên dễ hiểu và dễ truyền đạt: ngôn ngữ trở thành tiêu chuẩn hóa. Chúng trở nên một biểu tượng bền vững, tách khỏi cái mà nó biểu tượng, thuộc về một thế giới khác có tính cách khách quan gọi là “thế giới chữ ghĩa”. Các bản in được xem như một thứ chân lý ướp lại để dành cho hậu thế.</p>
<p>Nhu cầu học tập, nghiên cứu, lưu trữ, truyền đạt và giao lưu giữa ngôn ngữ này và ngôn ngữ khác khiến cho chữ viết, dù không phản ảnh hoàn toàn lời nói, vẫn là hình thức thuận tiện nhất. Internet là một bằng chứng. Không những thế, với các phương tiện kỹ thuật hiện đại về kỹ nghệ thu, phát âm lại khiến cho chữ viết càng lúc càng gần với lời nói và ngược lại. Trên truyền hình, những lời phát biểu trực tiếp của bất cứ cá nhân nào cũng có thể biến thành chữ ngay lập tức sau đó. Cũng thế, với một số loại iPhone đời mới, ta có thể nói ngay ra…chữ (speech to text). Qua các <em>chatroom </em>trên Internet, đối thoại bằng chữ viết trực tiếp qua, lại có kèm thêm các xúc hình (<em>emoticons</em>) tượng trưng cho đủ thứ cảm xúc khác nhau, khiến cho người đối thoại có cảm giác như đang sử dụng lời nói bằng chữ.</p>
<p>John Lyons nhận xét: “Do những nguyên nhân lịch sử và văn hóa, mức độ tương ứng giữa ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói biến đổi đáng kể từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Nhưng trong tiếng Anh và các ngôn ngữ khác vốn gắn bó với hệ thống chữ ghi âm, thì hầu hết, nếu không nói là tất cả, các câu được nói ra đều có thể được đặt trong một quan hệ tương ứng với các câu được viết ra.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn6_5324" name="_ftnref6_5324"></a>[7]</p>
<p>Trong phạm hạn hẹp của đề tài, khi đề cập đến “chữ” ở đây, chúng ta sẽ hiểu vừa chỉ chữ viết vừa chỉ lời nói.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn7_5324" name="_ftnref7_5324"></a>[8]</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong><span style="font-size: medium">Nghĩa</span></strong></p>
<p>Dù là băng âm thanh hay bằng đồ hình (graphic), chữ là những ký hiệu. Tự bản thân, chúng chỉ là hình thức chứ không phải là chất liệu. Nếu mỗi chữ tượng trưng cho chỉ một điều nào đó và chỉ điều đó mà thôi thì chữ là nghĩa/nghĩa là chữ. Nghĩa, trong trường hợp này, là cái chứa đựng trong chữ đã được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và tương đối ổn định. Nghĩa là, chữ đã trở thành từ vựng, được ghi vào trong tự điển. Thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay trong cái “tương đối ổn định” đó, nghĩa lắm khi không hề đi đôi với chữ. Chẳng hạn như chữ “<em>đi</em>”. <em>Đi</em> là động tác di chuyển bằng chân hướng về phía trước, nhưng có nhiều chữ <em>đi</em> lại có nghĩa khác, thậm chí khác hẳn: đi đêm, đi khách…Hay chữ “<em>ăn</em>”: từ chỗ là động tác bỏ thực phẩm vào trong miệng, ta có những chữ <em>ăn</em> như ăn cánh, ăn ảnh, ăn gian… mà ý nghĩa của chúng dường như chẳng có liên hệ gì mấy đến chuyện “ăn”.</p>
<p>Đi vào lãnh vực sử dụng như trong báo chí, chính trị, quảng cáo và nhất là trong văn chương, thì biên giới giữa chữ và nghĩa lại càng mập mờ, bất định.</p>
<p>- Tin tức: The storm <em>played a role</em> in three deaths, two in a car accident and one because of a power line downed by the storm, officials said.(Cơn bão “<em>đóng vai trò</em>” trong ba cái chết)</p>
<p>- Xã luận: Western Europe is <em>a patient in an iron lung</em>. <em>American economic and military aids provide with oxygen, but it cannot live and breathe by itself</em>. (<em>Tây Âu là một con bệnh thở bằng phổi nhân tạo. Viện trợ kinh tế và quân sự Mỹ cung cấp cho nó dưỡng khí, nhưng nó không thể tự sống và thở một mình</em>/Arthur Koestler, New York Times, 1950):</p>
<p>- Thơ: <em>Còn tương lai kia anh mang bỏ giữa rừng/nàng nhỏ xuống trí nhớ/một khung trời mưng mủ, chàng đặt giữa vũng tay nàng/tôi vuốt ve vết thương</em> (Nh. Tay Ngàn)</p>
<p>- Văn: …tiếng hát <em>truyền nhiễm</em> sang phòng bên kia, những âm thanh vỡ bờ từ hai phía, những lời <em>chuyển động</em> <em>rầm rộ</em>, dồn dập <em>xoáy vào</em> không gian hạn hẹp <em>trào ra</em> bên ngoài hành lang (Đặng Phùng Quân)</p>
<p>Trong những câu vừa trích dẫn, chữ và nghĩa không những không đi đôi, mà còn tương phản nhau, va chạm nhau, đụng độ nhau, đến độ chữ dường như theo đàng chữ, nghĩa theo đàng nghĩa.</p>
<p>Tương quan chữ/nghĩa quả là một tương quan vô cùng lỏng lẻo!</p>
<p>Lợi dụng đặc điểm đó, người ta tạo ra tu từ học, là khoa truyền đạt nghệ thuật thuyết phục, nghệ thuật nói hay, tức là khoa hùng biện. Trong một xã hội có tổ chức, sức mạnh thể chất không còn chỗ dứng trong những cuộc tranh chấp thì chữ là vũ khí duy nhất để gây ảnh hưởng đến người khác, trong tòa án hay giữa đám đông. Theo định nghĩa xưa cũ của người Sicilien, “Nghệ thuật tu từ là người thợ (mà cũng là người thầy) của sự thuyết phục”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn8_5324" name="_ftnref8_5324"></a>[9]. Đó là nghệ thuật sắp đặt chữ để điều khiển, để chinh phục người khác.</p>
<p>Và cũng từ đặc điểm đó mà có văn chương.</p>
<p>Nói chung, hoạt động ngôn ngữ, tức là đưa ngôn ngữ vào đời sống, chẳng có gì khác hơn là sự vận dụng <em>nghĩa</em> của <em>chữ</em>, đưa đến hiện tượng biến đổi nghĩa. “Sự biến đổi ý nghĩa của từ là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của hệ thống từ vựng để đáp ứng nhu cầu về các phương tiện biểu đạt”, theo cách nói của <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân.</strong><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn9_5324" name="_ftnref9_5324"></a>[10]<strong> </strong></p>
<p>Nhưng nghĩa là gì? Nghĩa của một chữ là sự thống nhất kép của tên, tức là ký hiệu (sign), và nghĩa. Một tương quan hỗ tương giữa tên và nghĩa. Nhờ đó mà người ta có thể biên soạn từ điển dựa theo chữ cái và ý niệm. Theo Saussure, trong một tài liệu mới được tìm thấy và xuất bản vào năm 1996 “<em>Ecrits de linguistique générale”</em><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn10_5324" name="_ftnref10_5324"></a>[11]<em>,</em><em> </em>chữ và ý tưởng, tức là nghĩa của nó, không thể khảo sát như là những “thực thể” độc lập đối với nhau. Một ký hiệu chỉ thực sự hiện hữu đối với người nói xét như một toàn thể, nghĩa là xét như chữ <em>kèm theo</em> với nghĩa của nó. Để làm rõ nghĩa, có thể so sánh chữ, ký hiệu ngữ học, với các hệ thống ký hiệu khác. Chẳng hạn như hệ thống ký hiệu hàng hải: đó là những cờ hiệu với màu sắc khác nhau. Khi một lá cờ hiệu bay giữa nhiều lá cờ khác trên cột buồm, thì chỉ có hai “hiện hữu”: đầu tiên là một mảnh vải đỏ hay xanh, thứ hai đó là một ký hiệu hay là một vật được người nhận thấy nó gán cho một ý nghĩa nào đó. Nói một cách khác, một mảnh vải chỉ hiện hữu độc lập như là một sự vật vật chất “vô nghĩa”. Đây cũng là quan điểm của Kant về sự-vật-tự-nó (noumène): sự-vật-tự-nó là bất khả tri. Nó chỉ là một cách xuất hiện qua giác quan, nghĩa là một hiện tượng, chỉ là một cách nhìn.</p>
<p>Chữ cũng thế, chỉ là những đường nét vô nghĩa vẽ ra trên giấy. Hãy hình dung như khi ta nhìn thấy một văn bản viết bằng tiếng Á Rập hay một văn bản cổ khắc trên đá. Nó sẽ chỉ hiện hữu đối với chủ thể dựa vào cái ý tưởng mà chủ thể gắn vào đó. Ngược lại, ý nghĩa chỉ hiện hữu bằng và xuyên qua ký hiệu. Do đó, “ý nghĩa không tách rời khỏi ký hiệu”, còn ký hiệu thì “không xứng đáng mang tên của chúng nếu không có ý nghĩa.”</p>
<p>Ta có thể hình dung quan hệ giữa ký hiệu (chữ), ý tưởng và sự vật ngoại giới như sau:</p>
<p>Chữ&#160; -&gt; nghĩa -&gt; sự vật</p>
<p>Như thế, không phải là những đặc tính cố hữu của sự vật, nhưng chính những ý tưởng mà chúng ta tự tạo ra, kiến tạo nên nghĩa của chữ. Ý tưởng không hề nằm ngoài chữ. Chữ không phải là một thực thể năm ngoài (ý thức) chúng ta. Cần nhấn mạnh, khi nói quan hệ giữa ký hiệu và ý tưởng không có nghĩa đó là quan hệ cá nhân, là ý định chủ quan của mỗi cá nhân. Nếu cá nhân nào cũng tự đặt cho mình một ý nghĩa riêng thì không có ngôn ngữ. “Nghĩa là những liên hệ, không phải là những liên hệ tất yếu mà là liên hệ phản ảnh, là quy ước được xây dựng trong cộng đồng bản ngữ. Nghĩa là những liên hệ được xác lập trong nhận thức những cái mà nó làm tín hiệu (ký hiệu).”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn11_5324" name="_ftnref11_5324"></a>[12]</p>
<p>Mặt khác, theo Stephen Ullman, thì “tương quan tên – nghĩa” không phải là tương quan đơn giản từ với từ, nghĩa là một tên cho một nghĩa. Thực ra thì ta có:</p>
<p>- một nghĩa cho nhiều tên: hiện tượng đồng nghĩa (<em>synonymy</em>)</p>
<p>- nhiều nghĩa cho một tên: hiện tượng đồng âm (<em>homonymy</em>)</p>
<p>- nhiều nghĩa cho một tên: hiện tượng đa nghĩa (<em>polysemy</em>)</p>
<p>trong đó, hiện tượng đa nghĩa là hiện tượng then chốt của tất cả ngữ nghĩa luận về chữ.[13]</p>
<p>Cần lưu ý: rất dễ lẫn lộn giữa từ đồng âm và từ đa nghĩa. Theo Ullman, giữa từ đồng âm và từ đa nghĩa, có một sự nhập nhòe. Cả hai đều dựa trên nguyên tắc tổng hợp của một chữ mà có nhiều nghĩa. Trong lúc chữ đồng âm bao gồm <em>sự khác nhau giữa hai chữ</em> và ngữ nghĩa hoàn chỉnh của chúng thì đa nghĩa <em>nằm bên trong</em> một chữ và nó tách ra nhiều nghĩa khác nhau.</p>
<p>Đa nghĩa có thể hiểu theo hai cách:</p>
<p>- đồng đại (<em>synchronic</em>): một chữ có hơn một nghĩa</p>
<p>- lịch đại (<em>diachronic</em>): một chữ có thể duy trì nghĩa cũ trong lúc vẫn có thể mang thêm nghĩa mới.</p>
<p>Michel Bréal (1832-1915), người tạo ra hạn từ “semantics” (ngữ nghĩa luận), giải nghĩa nguyên nhân của hiện tượng đa nghĩa: Nghĩa mới, dù thuộc loại nào, không chấm dứt nghĩa cũ, cả hai đều tồn tại bên cạnh nhau. Ngay khi một nghĩa mới thêm vào một chữ, nó tự tăng lên và sản xuất những ví dụ mới, về hình thức thì tương tự, nhưng khác nhau về giá trị.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn13_5324" name="_ftnref13_5324"></a>[14]</p>
<p>Chính cái khả năng đặc thù đó của chữ khiến cho nghĩa trở nên mơ hồ, bất xác. Và tính mơ hồ này là hiện tượng trung tâm của ngữ nghĩa diễn giải. Vận dụng nghĩa của chữ, như đề cập ở đoạn trên, chính là vận dụng tính mơ hồ này, nghĩa là vận dụng hiện tượng đa nghĩa. Theo W. M. Urban<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn14_5324" name="_ftnref14_5324"></a> [15], sự kiện một ký hiệu, tức là một chữ, có thể nói về một sự vật đồng thời vẫn không ngừng nói về một sự vật khác khiến cho ngôn ngữ trở thành một dụng cụ sắc bén cho vấn đề tri thức. Sự tích lũy nghĩa trong chữ, “sự tăng cường chồng chất” (accumulated intension) ý nghĩa tạo nên sự bất xác nhưng đồng thời cũng là nguồn suối và quyền năng của ngôn ngữ. Nó khiến cho ngôn ngữ có thể diễn tả bất cứ một hiện thực nào. Trong ngôn ngữ tự nhiên, mỗi một từ có một căn cước riêng tách biệt với các từ khác nhưng đồng thời mang một dị tính nội tại (<em>internal heterogeneity</em>), tính đa dạng (<em>plurality</em>), nghĩa là cùng một chữ lại có nhiều nghĩa khác nhau tùy theo từng ngữ cảnh. Khác với từ đồng âm, dị tính này không phá hủy tính đồng nhất của chữ, bởi vì ý nghĩa của chúng có thể được sắp xếp và ý thức ngữ học của người nói tiếp tục nhận biết một ý nghĩa nào đó trong nhiều ý nghĩa.</p>
<p>Vậy, đa nghĩa không phải là một hiện tượng bệnh lý, mà trái lại, là hiện tượng khỏe mạnh của ngôn ngữ. Một ngôn ngữ không có từ đa nghĩa sẽ là một bảng từ vựng vô cùng tận. Chúng ta cần một hệ thống từ vựng thuận tiện, mềm dẻo, co dãn để truyền đạt, trao đổi nhiều biến dạng của kinh nghiệm nhân sinh. Nói khác đi, bản chất của hệ thống từ vựng cho phép sự chuyển nghĩa. Điều này giúp ngôn ngữ dễ tiếp nhận sự cách tân, dễ dàng cho sự đổi mới<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn15_5324" name="_ftnref15_5324"></a> [16].</p>
<p>Sự đa nghĩa xác định tính cách mở của kết cấu chữ. Dung lượng nghĩa của mỗi một chữ là không xác định.</p>
<p><em>Cánh</em> là để chỉ b<a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/b%E1%BB%99_ph%E1%BA%ADn">ộ phận</a> trong <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/th%C3%A2n_th%E1%BB%83">thân thể</a> <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/chim">chim</a> và một <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/s%E1%BB%91">số</a> <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/c%C3%B4n_tr%C3%B9ng">côn trùng</a>, dùng để <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/bay">bay</a>. Nhưng rồi nghĩa của nó mở rộng ra thành <em>cánh máy bay</em>, <em>cánh hoa</em>, <em>cánh cửa</em>, <em>cánh tủ</em>, <em>cánh ngôi sao</em>, <em>cánh quạt</em>, <em>cánh tay</em>; xa hơn là <em>cánh rừng</em>, <em>cánh đồng</em>; xa hơn nữa là <em>cánh tả</em>, <em>cánh hữu</em>, <em>phe cánh</em>, <em>cánh đàn ông</em>…Tóm lại, từ chỗ chỉ mở rộng ra với những gì có đôi chút tương tự nào đó, chữ “cánh” được dùng để chỉ những gì có mối liên hệ rất mờ nhạt và đến chỗ dường như không có chút liên hệ nào với nghĩa nguyên thủy. Nó hoàn toàn trừu tượng. Chưa hết, nghĩa của chữ cánh vẫn chưa (hoặc) không hề chấm dứt. Tuy chưa ai dùng, chưa ai cảm nhận, chưa ai khám phá, vô số khả năng vẫn còn trước mặt: <em>cánh biển, cánh tình, cánh gió, cánh trời, cánh đêm, cánh</em> vân vân…</p>
<p>Chữ <em>đi</em>: <em>đi bộ, đi chệch, đi cống, đi đêm, đi đứt, đi phép, đi khách, đi kèm, đi mây về gió…</em>Theo Lê Quang Thiêm, động từ “đi” có đến 18 nghĩa khác nhau; trợ từ “đi” có 4 nghĩa; chỉ có phó từ “đi” là một nghĩa <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn16_5324" name="_ftnref16_5324"></a>[17].</p>
<p>Chữ “ăn”: <em>ă</em><em>n cưới, ăn Tết, ăn nhậu, ăn nằm, ăn sương, ăn hiếp, ăn quỵt, ăn gian, ăn thua, ăn khớp, ăn ảnh…</em>Ngô Nguyên Dũng có một bài phân tích rất thú vị về chữ ăn <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn17_5324" name="_ftnref17_5324"></a>[18].</p>
<p>Chưa hết, nghĩa của chữ<em> cánh</em> hay<em> đi </em>hay <em>ăn</em> vẫn chưa (hoặc) không hề chấm dứt. Tuy chưa ai dùng, chưa ai cảm nhận, chưa ai khám phá, vô số khả năng vẫn còn trước mặt: <em>cánh biển, cánh tình, cánh gió, cánh trời, cánh đêm, cánh</em> vân vân…; <em>đi trời, đi sáng, đi ngoan, đi vui, đi </em>vân vân<em>…</em>; <em>ăn gió, ăn nương, ăn phiến, ăn đỏ, ăn vàng…ăn </em>vân vân.</p>
<p><strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân nhận xét: </strong>“Sự biến đổi ý nghĩa của từ thực chất là lấy một từ để biểu đạt một số loại sự vật có quan hệ gần gũi với nhau về một phương diện nào đấy, cho nên giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa vẫn có những mối liên quan nhất định. Sự khác nhau giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa không phải là sự khác nhau hoàn toàn: sự biến đổi ý nghĩa ở đây thường đi theo xu hướng làm thay đổi một thành phần ý nghĩa nào đấy của từ.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn18_5324" name="_ftnref18_5324"></a>[19]</p>
<p>Nhận định này không có gì sai nếu xét trên những nghĩa mà ta hiện có về một từ, tức là tính cách lịch đại, như đã được ghi trong tự điển. Sở dĩ ta tìm thấy giữa “cánh chim” và “cánh cửa” có sự quan hệ gần gũi hay tương tự, không phải vốn chúng đã gần gũi hay tương tự sẵn trước khi có chữ cánh cửa. Ta chỉ tìm thấy sự liên hệ khi chữ “cánh cửa” đã ổn định, nghĩa là đã biến thành từ vựng. Nghĩa là tương quan đến sau sự sáng tạo. Điều đó cho thấy, không phải có một số loại từ nào đó có bản chất đa nghĩa hình thành “từ đa nghĩa” còn những từ khác thì không. Đa nghĩa là một hiện tượng ngữ nghĩa, trừ một số rất giới hạn các thuật ngữ khoa học, <em>dường như</em> có thể rơi vào bất cứ từ ngữ nào. Nhờ thế mà với một số lượng âm thanh và ký hiệu hữu hạn, con người có thể diễn tả một số lượng vô hạn các hiện tượng ngoại giới và tâm giới. Thế giới của chữ và nghĩa, do vậy, mà cứ tăng lên không ngừng và không có chỗ kết thúc. <strong></strong></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p>[1] Arild Utaker, <i>L</i><i>e problème philosophique du son chez Ferdinand de Saussure et son enjeu pour la philosophie du langage</i>, University of Bergen (Texte paru dans<i> Les papiers du Collège international de philosophie</i>, 1996, n° 23, p. 41-58)</p>
<p>[2] Ferdinand de Saussure, <em>Course in General Linguistics</em>, Open Court, La Salle, Illinois, 1986, Roy Harris dịch và chú giải từ bảng tiếng Pháp. <em>Langage</em> trong tiếng Pháp được dịch là “language” và <em>langue</em> được dịch là “linguistic structure” (cấu trúc ngôn ngữ) (tr. 9); Tổ ngôn ngữ học Khoa Ngữ văn, <em>Giáo trình ngôn ngữ học đại cương</em>, Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1973, dịch <em>langage </em>là hoạt động ngôn ngữ và <em>langue</em> là ngôn ngữ. (tr. 30). Một số trích dẫn từ Saussure trong bài, tác giả sử dụng bản tiếng Anh“<em>Course in General Linguistics”, </em>có tham khảo thêm bản tiếng Việt<em> </em>“<em>Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”.</em></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref2_5324" name="_ftn2_5324"></a>[3] Lời nói = parole (Pháp), speech (Anh)</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref3_5324" name="_ftn3_5324"></a>[4] Ferdinand de Saussure, sđd, tr. 25</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref4_5324" name="_ftn4_5324"></a>[5] Ferdinand de Saussure, sđd, tr. 26</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref5_5324" name="_ftn5_5324"></a>[6] Ferdinand de Saussure, sđd, tr. 31,32</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref6_5324" name="_ftn6_5324"></a>[7] John Lyons<em> , </em><em>Linguistic Semantics: An Introduction</em> (Ngữ nghĩa học dẫn luận)<em> </em>Nguyễn Văn Hiệp dịch<em></em></p>
<p><em></em>Xem ở:<em> </em><a href="http://ngonngu.net/index.php?p=150">http://ngonngu.net/index.php?p=150</a>, tr. 19</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref7_5324" name="_ftn7_5324"></a>[8] Written words/spoken words; langage écrit/langage parlé</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref8_5324" name="_ftn8_5324"></a>[9] <em>Peithous dêmiourgos</em>, dẫn theo Ricoeur, <em>La métaphore vive</em>, tr 14. Sicilien = người dân thuộc đảo Sicile, Ý</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref9_5324" name="_ftn9_5324"></a>[10] <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân, <em>Sự biển đổi nghĩa của từ</em>, </strong></p>
<p>Xem ở: <span style="text-decoration: underline">http://vi.wordpress.com/tag/ng%E1%BB%AF-nghia-t%E1%BB%AB-v%E1%BB%B1ng-h%E1%BB%8Dc/</span></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref10_5324" name="_ftn10_5324"></a>[11] Ferdinand de Saussure, 2002, <em>Ecrits de linguistique générale, </em>Paris, Gallimard. Dẫn theo Patricia Schulz, <em>Saussure et le sens figuré</em>, 2003, Université de Paris 7, UFR E.I.LA. Xem ở trang mạng “<a href="http://www.info-metaphore.com/articles/schulz-saussure-sens-figure-ou-pourquoi-la-metaphore-n-existe-pas.html" target="_blank">Plan du site”/La métaphore en question</a>    <br />Trong bài viết “<em>Saussure ou la poétique interrompue</em>”, Revue Langages 3/2005, Henri Meschonnic nhận định: “<em>Écrits de linguistique générale” </em>mới được khám phá gần đây cho phép ta đọc một Saussure khác hơn Saussure của “Cours de linguistique générale” của Bally và Séchehaye (1916), một Saussure khác hơn “Sources” của Godel (1957) và khác hơn ấn bản của Engler (1967-1974). Đó là một nhà tư tưởng của ưu thế của diễn ngôn mà người ta khám phá, trước cả Benveniste và những người khác.” Xem ở: <span style="text-decoration: underline">http://www.cairn.info/revue-langages-2005-3.htm</span></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref11_5324" name="_ftn11_5324"></a>[12] Theo Mai Ngọc Chữ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến/<em>Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt</em>, nxb Giáo Dục, 1997, trang 166-171</p>
<p>Xem ở: <a href="http://ngonngu.net/index.php?p=201">http://ngonngu.net/index.php?p=201</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref12_5324" name="_ftn12_5324"></a>[13] Stephen Ullman, <em>The Principles of Semantics</em>/Barnes and Noble, Inc, NY 1957, tr. 119</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref13_5324" name="_ftn13_5324"></a>[14] Dẫn theo Yong-Ho Choi, <a href="http://www.reference-global.com/doi/pdfplusdirect/10.1515/SEM.2008.015" target="_blank"><em>Ricoeur and Saussure: On meaning and time</em></a></p>
<p>[15] W. M. Urban, <em>Language and Reality</em>, dẫn theo Ullmann, sđd, trang 117</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref15_5324" name="_ftn15_5324"></a>[16] Xem Paul Ricoeur, sđd, tr. 150</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref16_5324" name="_ftn16_5324"></a>[17] Lê Quang Thiêm, <em>Ngữ nghĩa học,</em> nxb Giáo Dục, Hà Nội 2008, trang 117</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref17_5324" name="_ftn17_5324"></a>[18] Xem Ngô Nguyên Dũng, <em>Tặng phẩm của ngôn ngữ: Thói &quot;ăn&quot; nếp &quot;ở&quot; của người Việt qua cách nói</em></p>
<p>http://damau.org/archives/9278</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref18_5324" name="_ftn18_5324"></a>[19] <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân</strong>, bài đã dẫn.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23939/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>B&#224;i Sử Kh&#225;c Cho Việt Nam&#8211;Chương XX (Kết)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23910</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23910#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 11 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23910</guid>
		<description><![CDATA[Vậy là bắt đầu của dân tộc Việt không có rồng Lạc, tiên Âu gì hết. Sống ở thời đại văn minh thì hãy nhìn sự vật ở mức độ bình thường dù rằng cứ tưởng đó là tầm thường. Để khỏi sống bằng ảo tưởng, hoang tưởng, khỏi phải lừa mình, dối người, gồng xác lên gân che giấu mặc cảm tự ti lâu dài...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2 align="center"><em>CHƯƠNG XX (Kết):</em></h2>
<p> <strong></strong><br />
<h2 align="center"><strong>TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH VIỆT NAM</strong></h2>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Vậy là bắt đầu của dân tộc Việt không có rồng Lạc, tiên Âu gì hết. Sống ở thời đại văn minh thì hãy nhìn sự vật ở mức độ bình thường dù rằng cứ tưởng đó là tầm thường. Để khỏi sống bằng ảo tưởng, hoang tưởng, khỏi phải lừa mình, dối người, gồng xác lên gân che giấu mặc cảm tự ti lâu dài đến trở thành bản chất tập thể, khó tẩy xoá. Những con người sống trên vùng đất nay là Việt Nam, cũng như tất cả những ai khác trên đời này, cũng phải bắt đầu từ thấp lên cao, từ tối tăm ra chỗ sáng sủa, chèn lấn huỷ diệt tập thành theo với hoàn cảnh và thời cơ thúc đẩy, chuyện thật bình thường mà sao có lúc, có người tưởng chừng không thể nào hiểu nổi.</p>
<p>Vậy là bắt đầu trên phần đất nay là Việt Nam, hay nói rộng hơn, trên phần đất Đông Dương, Ấn-đọ-Chi-na khi chưa có các tên đó, những con người nguyên thuỷ đến, sống như họ đã lưu lạc tới, sinh ra, không cần biết rằng nhiều ngàn vạn năm sau sẽ được dò hỏi, phân loại, xếp hạng những gì là Mongoloid, Negritos, Indonesian&#8230; có lúc còn tranh cãi. Ngay cả khi mới có chữ viết để ghi chép thì dòng dõi của họ, hay của những người khác đến lấn chiếm, cũng được gọi tên tuỳ thuộc vào kẻ “có chữ” mà không có ý kiến của họ. Tiếp giáp với kẻ có chữ phương Bắc thì họ là Man / Nam Man, chi li hơn, là Lạc, là Hùng, là Việt, là Chiêm, Phù Nam&#8230; (theo lối đọc, viết “quốc ngữ” ngày nay), phần lớn với cách biểu hiện chứng tỏ có một chút gì mù mờ lúc khởi đầu mà nay đành chỉ còn là thắc mắc. Từ phía tây, muộn hơn, họ được gọi với các tên Yavana/Yuon, Kamvuja/Kambudesa, Kirita, Randaiy (Rhade?), Mada (Mạ?)&#8230; cho đến khi tiếp xúc với một tập đoàn văn minh đòi hỏi nhiều chi tiết chính xác hơn với những dò hỏi tận tình tại chỗ, dẫn đến hàng loạt tên 54 tộc người được công nhận, riêng trong nước Việt Nam ngày nay. Bởi sự mù mờ của thời tiền sử, phải nhờ vào lối tiếp cận quá khứ theo chuyên ngành, các học giả còn chia người theo nhóm ngôn ngữ austroasiatic / Nam Á, austronesian / Nam Đảo, theo tập họp đặc trưng vật chất phát hiện mà có những nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo, chưa kể đến những tên gọi chi li hơn theo đà phát hiện tiếp theo, hay theo với kiến thức, tâm thức người, chủ thể đặc trách, tác động đến chuyên môn đó.</p>
<p>Bắt đầu ngay khi có ghi chép, trên phần đất nay là Việt Nam đã có tác động của hai nền văn hoá lớn đương thời để nổi lên, với thời gian xê xích không là quan trọng của thời mù mờ trì trậm xưa, có ba trung tâm tạo hình cho ba tập đoàn càng lúc càng rõ dạng. Phía Bắc, những người Lạc/Việt dưới sự đô hộ của nhà Hán, phía Nam có sự xuất hiện của tập họp, tên được gọi là Phù Nam theo nhân chứng Hán nhưng lại mang nguồn gốc phát xuất phối hợp của địa phương và lưu dân từ bán đảo Ấn. Ở giữa, một bộ phận dân bản xứ chịu quyền đô hộ của người Hán nhưng sinh hoạt lại mang nặng sự riêng biệt tại chỗ, hải đảo như chứng tỏ ở văn hoá khảo cổ Sa Huỳnh, ở tên những người nổi dậy: Khu Liên (Riên) ghi bằng Hán ngữ mà còn giữ âm vang kurung (thủ lãnh) của ngôn ngữ Nam Á. Nhân dịp người chủ quản suy yếu họ đã nổi dậy, tách ra (137, 190) thành lập bộ phận riêng được gọi là Lâm Ấp. May mắn đã đến với thành phần cuối đường thuộc địa này bởi vì như sẽ thấy, một bộ phận dân của “vua Đen” phía bắc, trên vùng Nghệ Tĩnh ngày nay, đã trỗi dậy mà không thành công (722). Cái thế bị chèn lấn, ảnh hưởng của phần đất giữa này của hai cực Hoa Ấn sẽ xuất hiện càng rõ rệt hơn với thời đại lịch sử về sau.</p>
<p>Từ khi có những nghiên cứu của người phương Tây về vùng đất nằm giữa hai khối Ấn Độ, Trung Hoa, các chữ Ấn hoá, Hoa hoá đã gây những cuộc tranh luận học thuật để rồi dần dần có sự công nhận vai trò của các dân tộc bản xứ Đông Nam Á trong sự lập thành quốc gia, văn minh của họ, nhất là khi họ giành lại được quyền độc lập, thoát khỏi sự cai trị của các quốc gia chủ thể những học giả kia. Tuy nhiên không thể vì đó mà quên được ảnh hưởng của hai nền văn minh Ấn Hoa trên vùng lục địa hải đảo này. Tự ái của tập thể, sự ương ngạnh của người cầm quyền một thời đại không thể là yếu tố xoá bỏ được những gì đã xảy ra.</p>
<p>Vậy thì ngoài sự xa cách khởi đầu, vùng đất được Chu Ứng, Khang Thái đến vào khoảng năm 250 đó đã nhiều phần liên hệ với biển, với phía tây nên ảnh hưởng Ấn Độ được rõ nét với các phong tục ghi lại hay trên các kiến trúc thờ tự, di vật của văn hoá Óc Eo (tên của địa điểm thuộc tỉnh An Giang ngày nay). Lâm Ấp từ chối mà mang ảnh hưởng Hán, vì phải chống đối nó cho sự tồn tại của mình nên rõ ràng dễ tiếp nhận ảnh hưởng Ấn Độ theo với vị trí gần cận, hay với phong trào thương mại biển mà địa thế nhô ra trên biển Đông / Giao Hải đã dành sẵn cho nó. Cuộc sống như thế hẳn là nhộn nhịp nhưng không được hiểu biết nhiều, bởi nó đã tách rời khu vực thuộc địa Giao Chỉ có truyền thống ghi chép của quyền lực Hán, cái ưu thế mà phần đất rủi ro còn lại sẽ được may mắn nhận lãnh.</p>
<p>Trước khi nhà Hán chiếm lĩnh phần đất này thì Triệu Đà, viên tướng li khai của đế quốc Tần, đã cho thấy bằng chứng về các nhóm dân bản xứ mang tên Lạc, Việt, Âu với ảnh hưởng quan niệm Hán về người chủ tể: “Có kẻ ở trần mà cũng xưng Vương”. Vì thế đã có tên một nước Việt chen vào lịch sử tranh chấp quyền bính của tộc Hoa Hạ từ thế kỉ V tCn., cái tên “việt” còn lưu lại với hai lối viết chữ Hán nhưng cũng là dấu ấn lịch sử để Triệu Đà vin lấy, mở nước cho mình, tạo dựng một quá khứ có oai danh khác cho các tập họp dựng nước về sau bắt chước theo, trong đó có những kẻ kế tục quyền bính từ chính những người sinh sống ở trung châu sông Hồng (tên mới ngày nay) thuộc Giao Chỉ Bộ của nhà Hán.</p>
<p>Một ngàn năm Bắc thuộc (nói tròn) đã khuôn nắn những con người ở đây theo thời gian để tạo dựng một xã hội khác hẳn lúc đầu. Đầu tiên là những Lạc hầu, Lạc tướng, chủ nhân các trống đồng mang hình ảnh khắc vạch (khác với nhóm Điền Việt có trống đính khối tượng) đã chịu nhập vào người chủ Hán một khi tránh được sự huỷ diệt hay lưu đày. Không thể biết gì về biến động dân cư bản thổ, hay gần cận, trong vùng nhưng hẳn là vẫn có như từng được ghi nhận cho đến gần đây. Thấy chứng cớ nhiều nhất, bởi vì có sự đồng dạng tộc hệ, là sự nhập cư của những người từ phía Bắc thuộc liên hệ chính trị, văn hoá, chủng tộc với người cai trị. Tất nhiên họ giữ được sự trên trước đối với dân bản thổ nhưng không tránh khỏi khuynh hướng địa phương hoá, như có thể thấy trên cấp cao nhất với cảnh Triệu Đà ngồi chồm hổm, với mả Triệu Văn Vương có tường vách mang dấu hiệu khắc vạch như trên trống Đông Sơn. Con cháu họ thay đổi theo với chừng mực nghiêng về gốc gác cũ nếu chính quyền còn vững, hay mau chóng tìm cách hoà nhập với nơi ở mới khi chính quyền suy yếu, đến có thể tự xưng là dân bản thổ khi thuộc địa tan biến. Dân bản thổ lúc đầu, hay người nhập cư từ vùng lân cận, qua thời gian cũng phải thay đổi, chịu đựng theo tổ chức của người cầm quyền đến từ một trung ương xa lơ xa lắc nào đó, đang hiện diện ở hai trung tâm trên vùng đồng bằng với tên “quận”: Giao Chỉ, Cửu Chân (sau thêm Nhật Nam). Nhưng dù bị cưỡng ép hay chịu tuân phục, những người cầm đầu các tộc nhóm địa phương cũng theo kịp sinh hoạt được dắt dẫn để chen chân vào các cấp bực cai trị, từ thấp lần mò lên cao, có khi gần đến tột đỉnh để gây tham vọng tranh quyền, hay ít ra cũng thay thế được địa vị của những người cai trị cũ phải ra đi.</p>
<p>Người Hán (gọi chung cho tập thể phương Bắc) cũng đem đến cho thuộc địa phương Nam hình thức tổ chức chính trị, xã hội theo cách họ được đào luyện và hoàn thiện qua thời gian với các triều đại. Tính chất cai trị chặt chịa bằng đàn áp và sinh hoạt thu hút đã khiến cho các thủ phủ, quận/huyện lị trở thành đỉnh cao của văn minh trong vùng, làm điểm ngưỡng vọng để cho kẻ nào nắm quyền ở đó đương nhiên được hưởng sự quy tụ, thần phục, trước khi bị thực tế quyền lực của kẻ ở vùng khác tước đoạt. Từ rất sớm, thuộc địa phương Nam của người Hán có hai, rồi ba quận nhưng quận Giao Chỉ / châu Giao trên vùng đồng bằng rộng lớn, trù phú trở thành quạn/châu trung tâm, ở đó lị sở từ địa điểm Liên Lâu / Luy Lâu, Long Uyên / Long Biên trên sông nhỏ tiến dần ra sông lớn với tên Tống Bình, La Thành, Đại La trở thành thủ phủ của chung thuộc địa An Nam Đô Hộ vào lúc cuối giai đoạn chiếm đóng. Cho nên từ khi trung ương Nam Triều của người Hán không đủ sức bao quát thuộc địa thì thấy có các hào trưởng, thủ lãnh địa phương tranh chiếm địa điểm Đại La để làm Tiết độ sứ (danh xưng quyền lực trung ương đương thời) trước khi bị người khác đuổi đi: họ Khúc và Nam Hán, rồi họ Dương, họ Kiểu, họ Ngô, né tránh với Đinh, Lê nơi hang hốc Hoa Lư trước khi trở về với họ Lí vững bền mà thành Thăng Long, Đông Kinh / Tonkin&#8230;</p>
<p>Quyền lực tập trung dẫn đến nhu cầu tiếp xúc rộng lớn khiến phát sinh một thứ ngôn ngữ chung ngoài ý định của người cầm quyền, bởi vì họ đã có chữ Hán – một thứ văn tự chung để nhà cầm quyền dùng làm phương tiện kết hợp cai trị thật thuận tiện trên một vùng đất quá lớn, bao gồm nhiều dân tộc, nhiều tiếng nói khác nhau. Nhà ngữ học ngày nay cố tìm nguồn gốc tiếng Việt, nhận định trên sự liên quan của các tập đoàn hiện tại mà cho rằng có thể là từ những nhóm người vùng (đại khái) Quảng Bình, Thanh Nghệ, Thượng Lào “do sự hấp dẫn của nền văn minh lúa nước”, đi vào trung châu sông Hồng, phối hợp với dân tại chỗ mà hình thành tiếng nói chung. Song không những không thể tìm ra dấu vết dòng di cư đó mà cũng khó hiểu tại sao những người sống trên vùng heo hút, rõ ràng được công nhận là lạc hậu kia, lại có thể mang ảnh hưởng vào tiếng nói của vùng văn minh sang cả được. Có vẻ cái nhóm ngôn ngữ proto Việt Chứt có 2 500 năm tuổi đó, cũng chỉ là một hệ thống khoa học của nhà ngữ học thấy ra, khi làm việc định hình tiếng nói của các dân tộc cùng mang một khung ngữ pháp vào thời gian xác định kia. Bởi vì dấu vết tiêu cực là báo cáo của Tiết Tổng (231) về việc không có tiếng nói chung ở Giao Chỉ, dấu vết tích cực là bằng chứng của Trương Tịch (thế kỉ VIII) gặp “Nhật Nam tăng” cuối đường thuộc địa, nói “Man ngữ”, không có vẻ là của một khu vực hạn hẹp trên phủ Đô hộ An Nam của đế quốc Đường đương thời. Ta cũng biết Lê Hoàn dùng song ngữ, nghĩa là có tiếng nói riêng với dân chúng, quần thần: “Man ngữ” vùng kinh đô Hoa Lư Ninh Bình, có thể là chung với dân đất Thanh Hoá phía nam, trung châu phía bắc, các nơi nương tựa và tổ quán của ông. Ông giao tiếp với sứ thần bằng Hoa ngữ, chắc là quan thoại vùng Ngô Việt. Tiếng Việt hẳn phải phát xuất ngay tại vùng thuộc địa theo nhu cầu tiếp xúc chung như ta đã nói, không cần phải từ đâu đến. Nó sẽ còn giữ lại một số từ gốc của các tập đoàn xưa cũ rồi được làm giàu thêm với tiếng Hán Việt của các nho sĩ chuyển qua như ta còn thấy các nho sĩ cuối mùa nho học, đầu thế kỉ XX còn sử dụng cho tầng lớp mình: “<em>Vọng chi bất tợ”/</em> ngó sao chẳng giống (ai / cái gì hết!), khi nhân sĩ Quảng Nam chê lén cái đầu không búi tóc của Thành Thái. Lại cũng thường xuyên thấy trong các bản tuồng hát bội của thế kỉ XIX, các bản văn tế đình, lời phù thuỷ, trong các bài hát nói được Huình Tịnh Của sưu tầm. Lối nói này có lẽ đã được sử dụng ngay từ khởi đầu mà chứng cớ của thế kỉ XII là ở lời phẩm bình chính trị: <em>“Ngô Phụ quốc thị lồn, Lê Đô quan thị cứt” </em>được sử gia ghi lại, dễ thấy là xác thực vì không xa thực tế biến động, cũng như tâm tình bức xúc tự nhiên. Lối nói có người cho là ba rọi ấy còn thấy xuất hiện gần cùng một cấu trúc, trong lời nhà nho ngạc nhiên thấy cái đầu không búi tóc của Phan Châu Trinh: <em>“Cửu bất kiến quân, quân dĩ trọc”. </em>Từ khởi đầu có một tiếng nói riêng, nền độc lập đem lại sự phát triển tiếp tục khiến loại man ngữ kia trở thành chủ thể trong vùng, đi theo với tập đoàn quyền lực ngự trị ở đây mà lan xa về phía nam.</p>
<p>Tuy nhà cầm quyền nào cũng muốn quyền uy của mình được lan đến mọi hang cùng ngõ hẻm nhưng chuyện đời vẫn là lực bất tòng tâm. Chính quyền thuộc địa Giao Chỉ từng khoe khoang vai trò vương hoá của các thái thú Tích Quang, Nhâm Diên vào đầu Công nguyên nhưng lại cũng Tiết Tổng cho biết ảnh hưởng Hán chỉ ở quanh các lị sở, không thâm nhập được các vùng xa. Ngay như vấn đề giá thú dẫn đến quan niệm tông phả mà người Hán hãnh diện thì vùng Mê Linh của Giao Châu, Đô Lung của Ái Châu vẫn còn tục levirat, phong tục dây dưa mãi đến thời VN DCCH, còn thấy rơi rớt trong việc đặt tên họ cho gái, trai khác nhau, làm rối rắm vấn đề hộ tịch trong vùng (Nguyễn Duy Hinh 2005). Quyền lực “trung ương” không lan khắp cũng chứng tỏ có những thành phần thủ lãnh địa phương độc lập, hay chỉ chịu sự ràng buộc lỏng lẻo / “ki mi” cho nên khi các lãnh tụ địa phương lên nắm quyền, họ phải liên kết với nhau bằng sự kết tập liên minh mà hình thức thông thường vẫn là các cuộc thông hôn giữa những tộc đoàn, có khi mang dấu vết riêng biệt chủng tộc, được gọi là “quốc”, không thấy chênh lệch địa vị. Người cầm quyền các nhóm địa phương vẫn xuất hiện qua nhiều thế kỉ, trong <em>TT,</em> dưới danh vị “thủ lãnh”, rõ rệt từ thời Lí với các tranh chấp biên giới phía bắc, kéo dài đến thời các tập đoàn phụ giúp nhóm Lê Lam Sơn quản lí vùng trung châu.</p>
<p>Cho nên không lấy làm lạ về tình hình đã xảy ra với bộ phận tách rời thuộc địa trước. Trong tiến trình thành lập nước Champa, dấu vết riêng biệt “vùng” xuất hiện lâu dài với hai nhóm Cau, Dừa nam và bắc. Thực tế địa hình chia cắt cũng cho thấy, trong lúc một thế lực vùng nổi bật vào thời kì mang danh “vua của các vua Champa” thì vẫn còn những tập nhóm địa phương chen vào tranh chấp, đi tìm viện trợ từ nước ngoài (Cambodge, Đại Việt) hay tôn giáo khác (Hồi). Từ những khác biệt có bằng cớ cũ, gần đây với ảnh hưởng của các trí thức Chàm xuất hiện qua các biến cố 1954-75, người ta lại nhấn mạnh đến một nước Chàm liên kết đậm nét với những tộc đoàn Tây Nguyên. Tuy nhiên nếu vin vào các ông vua Chàm, con các bà hoàng người Bru, Koho&#8230; hay với sự hiện diện các tháp trên Tây Nguyên, nếu dựa vào bằng cớ của thế kỉ XX về những người (Mọi) Hạ trên vùng biển Khánh Hoà, thì tình hình chắc cũng giống như Đại Cồ Việt có hai ông vua gốc Chàm để cho người nay có thể gán thêm một tên Campapura cho Hoa Lư. Hay cũng giống như có ai nhắc đến tập nhóm Chàm tù binh đông đảo phức tạp trên đất Đại Việt quanh Thăng Long, tồn tại riêng biệt sinh động đến hơn ba thế kỉ, quấy đảo triều đình chủ nô, xây tháp Trung Hoa mà mang hồn Ấn Độ, luồn lọt dáng hình Siva vào lời xưng tụng ông hoàng Trần Ích Tắc tranh chấp ngôi vua chông chênh của nhà Trần vừa tạo dựng.</p>
<p>Tình hình chung mang tính cốt lỏi, là bộ phận dân (các) nước Champa dưới đồng bằng đông đảo có đặc tính chủng tộc, nhất là tiếng nói riêng biệt, có sinh hoạt tiếp xúc với bên ngoài trên trường giao thương quốc tế, tạo dựng được một hệ thống chính trị, văn hoá có bằng chứng vật chất, để lại dấu ấn qua thời gian. Thành quả đó dựa vào nền tảng ý thức Ấn Độ, mang đậm tính tôn giáo nên sinh hoạt quy tụ quanh các đền tháp được xây cất theo tin tưởng đó, tạo ra ý niệm lãnh vực đất đai là của các thần bảo trợ, do đó không mang tính cách lãnh địa liên kết bao trùm. Champa, cũng như Cambodge đồng dạng kế tục Phù Nam, không hề có một bản đồ cho đất nước mình. Đất đai nghèo cực, sinh hoạt biển bất thường, kể cả việc cướp biển, cũng là một thế yếu khác trước bộ phận đồng dạng xa xưa thoát khỏi quyền lực chủ cũ mà đậm tính chất chủ, lấy cái ưu thế đó mà tràn lấn, bành trướng&#8230; Các vùng mang ảnh hưởng Ấn với tính chất thần thuyết tôn giáo đè nặng, tuy thất thế về mặt chính trị nhưng lại có những xây cất bền vững, lưu dấu vết nhiều hơn so với của những người chiến thắng họ: những tháp Chàm ở Mĩ Sơn, dọc Miền Trung, chưa kể các di tích khuất lấp trên vùng đất phía Nam (Óc Eo), trên cao nguyên (Cát Tiên)&#8230;</p>
<p>Sự tranh chiến giữa hai phần thuộc địa của phương Bắc nay đã trở thành độc lập vẫn có dáng dấp cũ, không là điều phải lấy làm lạ. Phần phía bắc mang danh xưng, niên hiệu của thủ lãnh lấy từ các “trung ương” cũ, cả tên nước cho riêng mình hay mang tính quốc tế (Đại [Cồ] Việt, An Nam) cũng không thoát nền nếp đó. Ngô Quyền hẳn lấy quân lính, binh thuyền đánh thắng Nam Hán là từ lực lượng có sẵn của Đại La. Các cuộc tấn công xuôi nam của Lê, Lí vẫn mang tính cách của các thứ sử Đàn Hoà Chi (436), Lưu Phương (605)&#8230; với cái khác là ngoài việc cung cấp nhân vật, tài lực cấp thời cho Hoa Lư, Thăng Long lại còn phát sinh các phó sản không toan tính trước từ một tập họp dị chủng phức tạp đem lại ảnh hưởng sâu xa, lâu dài trên phần đất của kẻ thắng trận. Tuy nhiên chiến tranh khu vực giữa những thành phần không chênh lệch nhiều về lực lượng cũng nảy sinh các vấn đề riêng tiếp theo. Giới hạn khả năng điều hành khu vực khiến không có những trận đánh quyết định chiếm đất mà chỉ có các thành quả cướp bóc từng thời điểm, từng giai đoạn như Lí được nhường hai châu Ô, Lí mà không giữ được. Cách trở địa hình khiến cho kẻ thực hiện sự lấn lướt mang tính khai thác chiếm đóng là một người có gốc xa hơn Thăng Long về phía Nam: Hồ Quý Li. Và cũng để vượt qua cách trở địa hình, các trận chiến phải phụ thuộc vào mùa gió trước khi yếu tố này được nâng lên tầm mức chiến lược với một lực lượng thuỷ quân khác, cao cấp hơn ở thế kỉ XVIII. Tuy nhiên từ sự hiểu biết về địa lí các vùng tận biên giới Chiêm Miên của họ Hồ mà ta đoán rằng họ này đã có dịp tiếp xúc với các tập đoàn Hồi Giáo để mua sắm trang bị các “hoả pháo” cho quân đội mình khiến cho Hồ Nguyên Trừng thoát nạn và làm quan triều Minh.</p>
<p>Thắng bại ngã ngũ với vương triều Lê mới của nước Việt, từ căn bản lực lượng hùng mạnh của tập đoàn Mường Thái Thanh Hoá, kết hợp các thủ lãnh thiểu số đi xuống trung châu, đánh thắng quân Minh đô hộ khắc nghiệt mà chưa đủ thời gian để vững chân. Khuất lấp dưới ngọn bút của sử quan triều đại vẫn cho thấy có một cuộc di chuyển lớn lao của các tộc đoàn rừng núi tràn ngập dưới đồng bằng. Lại cũng như tình hình hậu thuộc địa trước xa, sự quản trị đất nước Việt lần này cũng phải nhờ đến khuôn thức tổ chức của kẻ xâm lược phương Bắc. Lê Thánh Tông mượn thể thức của nhà Minh ít nhiều gì cũng để lại khi phải ra đi, áp dụng để xoa dịu đám văn quan trung châu bất mãn, đè ép đám binh tướng vùng cao trong chiến thắng, tuy đã bớt kiêu căng qua tranh chấp nội bộ nhưng vẫn còn thế lực tiềm tàng với các thực tế chức vụ quản lĩnh, thủ lĩnh đặt để nhằm đền đáp công lao liên minh. Tổ chức đem lại ổn định, dân số tăng gia rõ rệt đủ cho Thánh Tông “bắt lính” đánh thắng quân dưới quyền Trà Toàn “giống nòi rất đông&#8230; như ổ kiến” trên đất Chà Bàn, có chiến luỹ Cổ Lũy bị miệt thị là “hang cầy cáo”.</p>
<p>Ý thức quốc gia, dân tộc lớn của Đại Việt mang tính độc tôn trong vùng, rõ rệt từ thế kỉ XV với Hoàng triều Quan chế của Lê Thánh Tông, át hẳn quan niệm tông tộc khu vực của Lí, Trần. Tính chất Hoàng đế điền chủ của Lí mang tính chủ thể một liên minh mà mình là đơn vị lớn, thấy rõ ngay trong chiến tranh với Tống có cả già trẻ lớn bé đi theo đánh trận (để chia chiến lợi phẩm). Tuy nhiên quyền lực dàn trải trên 200 năm cũng khiến người dưới ý thức về một vùng riêng biệt, khi bị đe doạ mất chủ quyền, lộ ra trong than thở của Lê Văn Hưu, nơi lời khẳng khái của Trần (Lê) Bình Trọng. Ý thức đó không có trong tập đoàn sông nước Trần (xem Hịch tướng sĩ, thái độ Trần Ích Tắc). Cho đến khi chiếm được đất Lí, bỏ thuyền lên điện 20 năm sau, Trần Thái Tông mới nhận ra để buộc dân gọi vua là “quốc gia”.</p>
<p>Ý thức quốc gia lớn của Lê tạo được một sự hoà hợp, cưỡng bách đám dân chúng phức tạp dưới quyền thành một khối bắt đầu mang dạng đồng nhất cao cấp, chịu ràng buộc bởi các luật lệ mang tính phổ cập chứ không phải chỉ là sự tương nhượng, ép buộc qua những cọ xát tập nhóm. Các khác biệt tập nhóm mang tính chủng tộc từng lúc phải mất đi với sự phối hợp Miền Trên (Lí và phụ thuộc) Miền Dưới (Trần và liên minh sông nước) trong chiến đấu chống Nguyên Mông. Cuối Trần thêm có lệnh cấm nói tiếng Chiêm, Lào hẳn khiến làm biến mất các tập nhóm tù binh Chàm xưa còn lại, và các con cháu những dòng Thái: Trịnh Quốc, Ngưu Hống, riêng biệt với Cử Long đi sâu dưới đồng bằng Thanh Nghệ. Ngược lại, quyết định cũng khiến các tập họp bên lề trung châu như nhóm Mường Thái Thanh Hoá, dễ chen vào biến động toàn vùng. Ngôn ngữ Việt trở thành chủ thể khiến con cháu Lê nói tiếng Việt ở Thăng Long trở về tế lễ ở Lam Kinh, phải khấn tiếng Thái ông bà mới hiểu. Ông chúa Thái xuống đồng đã buộc thần dân bỏ vết tích cũ, rút gọn tên đa âm thành nhị âm là nhiều nhất, như thói quen mới của ông và con cháu ông. Cho nên có thể nói người dân Đại Việt là “dân nói tiếng Việt” (K.W. Taylor), và điều này trở thành điểm thống nhất xuyên suốt trong tiến trình lịch sử tiếp nối. Tổ chức của Lê Thánh Tông theo Minh đến độ giết cả cận thần từ hồi luân lạc, chìm lấp, đã đem lại sự cố kết từ trên với một ông “quốc tổ” – của vua, rồi sẽ được hiểu là của nước, đến cơ sở hành chính cấp căn bản là làng xã, mang biểu tượng chung là cái đình làng với ông thần phù hộ vừa vặn với tập thể nhỏ dân chúng nói tiếng Việt nơi ấy. Cái tế bào xã hội mang vừa đủ dạng thế tục, thần thánh ấy thật gọn nhẹ để di chuyển, rồi sẽ tồn tại trên đất lạ mà không phải mất nhiều bản sắc.</p>
<p>Nhưng cũng bởi sự tranh chiến kéo dằng dai qua nhiều thế kỉ trên những vùng đất dài nên có thể nói có những tập nhóm dân Việt, chông chênh giữa các thế lực Thăng Long và Vijaya, phải sống theo thực tế quyền lực trút đổ lên đầu mình, nghĩa là cũng trải qua trong một đời, hay nhiều thế hệ phải chuyển đổi qua lại tiếng nói, phong tục mà sống. Họ thành những nhóm địa phương mang dạng thế lực vùng, khuất lấp trong sử mà người tinh ý vẫn có thể nhận ra qua các dòng chữ tránh né hay ghi chép hời hợt. Dân xứ Nghệ từng bị sử quan chê là phản phúc, dân Tân Bình, Thuận Hoá bị tố cáo là huà theo quân Chế Bồng Nga, còn lớp người được Hồ Quý Li đẩy vào xa trong cuộc lấn chiếm có tổ chức cuối thế kỉ XIV, lại phải “chụm chân mà kêu than”, chịu “khốn khó” dưới các lệnh khắc nghiệt của Trà Toàn. Với kết quả cuối cùng, những con cháu tù binh Chàm trên đất Bắc có thể đã đem thể thức vần điệu lục bát của họ chuyển nhuần nhuyễn sang tiếng Việt, bởi vì không thể thấy dạng hình văn thể này từ gốc Hán tuy có người đã gắng gượng moi vài câu kinh Dịch ra làm chứng. Lục bát của văn thần Đàng Trong, với tiếp xúc ngắn ngủi hơn nên vụng về hơn của danh thần Lê Trịnh cũng là một minh chứng khác. Các chùa Bà Đanh / Bà Banh chuyển dạng thành những tên Bà Già, Bà Ả, Thiên Phúc, có những họ Trà, họ Chế, họ Ma&#8230; trên các tỉnh Miền Trung, được quan chức Pháp thấy cả ở Nghệ An nhưng không ai nghĩ đến các “dân Trời” của Lê Thánh Tông có lúc phải bỏ cúng tế ông bà, thành hoàng để theo chân các đoàn người lên tháp hành lễ Katê, múa bóng! Nói gì ngay đến những dấu vết Chiêm Thành trên đất Lí Lê mà tính chất Khổng Nho đã che lấp những ảnh hưởng của tầng lớp tù binh trên hai trăm năm ở đó, những dấu vết chỉ được hé lộ chút ít với thời đại văn minh mà vẫn còn phải chật vật tỏ bày. Bởi vì không ai chỉ rõ có bao nhiêu phong tục, sinh hoạt mà dân miền núi, thiểu số đã đem xuống đồng bằng, cải biến sinh hoạt nơi đây trước khi theo dòng tiến triển chung của thời gian? Họ Phan Huy đầy danh vọng với khoa cử, quan chức khi còn là Phan Văn đã lộ ra dấu vết thầy mo lãnh đạo của một tập họp thiểu số “phiên” trên vùng Hải Tây Đạo của triều đình Thăng Long. Tục séc-pùa mang đầy tính chất ma thuật nơi cỗi gốc đã theo chân họ Nguyễn quang vinh đến tận phía nam đất nước, mang dạng “tân tiến” hơn mà vẫn còn níu kéo quá khứ phù thuỷ trong tục sắc-bùa Đạo giáo.</p>
<p>Và như đã thấy, khả năng quản lĩnh đất nước yếu kém đã phát sinh hai kinh: Đông và Tây Đô cuối thế kỉ XIV thì với sự bành trướng về nam của Đại Việt tất yếu cũng dẫn đến sự phân chia Đàng Ngoài, Đàng Trong. Thế là người-nói-tiếng-Việt lại có thêm nhân số. Họ Nguyễn mang một trung tâm Việt vào Nam đã đem lại cho Việt Nam về sau một nửa lãnh địa chỉ trong vòng hai trăm năm. Vương quốc Chàm lay lắt không cản trở được một tập nhóm từ khởi đầu chỉ là đi tìm đất sống, đến chỗ giành được quyền lực tranh bá đồ vương khiến cả tập họp Khmer, dân thiểu số trên vùng Cửu Long, Đồng Nai cũng bị đe doạ. Trong khi đế quyền Angkor khai thác vùng Biển Hồ tương đối bình lặng nên không đủ khả năng xoay chuyển trên lưu vực Cửu Long còn dữ dội khiến tập nhóm Khmer nơi này chỉ dồn tụ trên các giồng đất sông biển thì lưu dân Việt có lưu vực Đồng Nai nhỏ hơn, vừa vặn cho những kinh nghiệm đối phó với thiên nhiên dữ dội trên các vùng Thuận Quảng, để rồi từ đó bung rộng ra. Tàn binh Minh, thường dân Thanh tuông chạy dưới biến loạn trên đất nước họ, thường cố tạo cho mình một lí tưởng để giữ gìn riêng biệt nơi đất mới nhưng gặp họ Nguyễn đang lấn lướt nơi đây, đang tự coi mình là chủ dân “Hán” chính cống, nên đành phải chịu làm một loại dân Hán khác: “Đường nhân”, thần dân của các ông chúa đất mới này<em>.</em> Thay thế chính quyền Chiêm tiếp nhận vùng đất có ưu thế thương mãi, chúa Nguyễn mời gọi thương nhân Hoa, Nhật thành lập Hội An, có cửa Cách Thử thay thế Chiêm Thành Cảng để các giáo sĩ đến học tiếng Việt ở Nước Mặn (Bình Định), Thanh Chiêm (Quảng Nam) dạy cho ông Alex. de Rhodes tập thành tự điển “quốc ngữ”. Dấu hiệu thiên trọng thuỷ quân ở các đơn vị chiến đấu được gọi là “thuyền” nên họ có thể tiến ra biển lớn, thăm dò khai thác các Bãi Cát Vàng / Hoàng Sa.</p>
<p>Trong lúc các ông Ốc nha / Okya thay mặt vua Miên ở Phnom Penh, quản lĩnh một vùng dân bản xứ theo lối cống nạp, không thể hiểu tại sao phải trưng tuyển dân binh có hạn kì, sao phải đo đạc đất ruộng phân minh thì đám dân lang bạt từ phương Bắc kia cung cấp cho họ Nguyễn hơn cả sự mong ước, không chỉ là sự điều hành ruộng đất, cửa biển tàu bè mà cả kiến thức đương thời của Trung Hoa, những kiến thức mang tính thực dụng, hiện đại không có trên đất Đông Kinh. Họ chịu làm tướng cực nhọc cầm quân, đi thi làm quan cho chúa, buôn bán, khai phá đất đai, lấy người đồng hương cũ mới, lấy cùng chủng tộc, lấy Miên / Phiên dân, lấy “Mọi” / Man dân không nề hà, rốt cục lại cũng phát sinh một lớp người Việt mới, góp phần khai thác một vùng tuy còn chừa tiềm năng cho người Pháp đến sau nhưng cũng đủ sung túc, giàu có làm đất phát nghiệp trung hưng cho họ chúa Phú Xuân lên ngôi, ngự trị trên một đất nước chưa từng lúc nào lớn hơn.</p>
<p>Thế nhưng cũng với thực tế tràn lấn chiếm lĩnh của các thế lực trên cao đó mà phát sinh những tồn tại khác, khuất lấp hơn, thường hay bị né tránh. Sự hạn chế của một quyền lực trung ương vững vàng theo với khả năng tổ chức diện địa, có thêm phần nguyên cớ ý thức hệ vay mượn để tổ chức lãnh thổ, khiến có những xung đột mang tính khu vực, lẫn lộn chủng loại, tuỳ thời điểm, yếu tố nào thiên lệch vào lúc phát xuất. Đã thấy hình thức liên minh biển với gia tộc mở rộng ở Bình Than, liên minh đồng biển ở Diên Hồng. Thấy ông vua Trần ngồi đánh bạc với các nhà giàu có thể đoán là con cháu triều trước (Đình Bảng, Lí), là gốc tù binh nắm giữ ruộng đất mà thoát địa vị đó nhờ chủ cũ thất thế (dân Quốc Oai). Sự xung đột hai vùng Kinh, Trại dẫn đến hai kinh đô Đông, Tây chia bớt danh vọng Thăng Long, kéo dài ra với Kiêu binh thời Trung hưng, ít nhiều gì cũng còn lưu dấu vết phân rẽ chủng tộc khởi đầu nơi tính khu vực Đông/Tây Việt trong tranh chấp Mạc, Lê Trịnh. Bên trong khu vực lớn, ông Quốc tổ của vua còn bị ông thần gần bên tranh cướp bè gỗ đưa về xây đền Hùng của ông. Trên thừa tuyên thứ 13 Thuận Quảng, các hào tộc không kiêng nể quan chức của triều đình, tổ chức tấn công các thế lực thù địch được phái đến, như với Nguyễn Hoàng lúc khởi đầu. Lịch sử Đàng Trong cũng là tiến trình bào mòn các xung đột tập nhóm cũ, mới trong vùng. Đất nước thống nhất tạo dựng một trung tâm phân phát quyền lực có tác động lan toả đồng tâm, vẫn phát sinh lời nhận định phê phán mỉa mai: “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa Thiên ních hết”. Gia Long làm chủ nước mà phải phân trần với người dưới về sự không phân biệt Nam, Bắc. Sự phân biệt lắng đọng, sẽ chuyển qua tay chủ nhân một nền văn minh khác rồi “trở về với dân tộc” ngày nay, trở về với đầu mối kinh đô xưa, tranh giành quyền sở hữu tên nước (Việt Nam) mới – cho là có từ thế kỉ XIV, cho thấy dai dẳng một nỗi hậm hực “mất Thăng Long” đã gây ra sự căm thù nhà Nguyễn, làm nền tảng chính nghĩa cho sự thống nhất đất nước trong thế kỉ XX, với những lễ hội tốn kém để chứng minh cho sự hiện diện trường tồn qua thời gian.</p>
<p>Sự thu nhận ý thức hệ Nho Giáo cho tổ chức cai trị đất nước cũng mang lại hình thức chia cách khác. Văn chương phát xuất từ tầng lớp nho sĩ đầy tính chất ca tụng viễn mơ về danh vọng của tầng lớp mình, gợi sự ước muốn thành đạt từ những người đứng ngoài, những kẻ háo hức ngày nay nhưng lại không cho thấy những sự thật không mấy vui về con đường gian khổ trước mắt những người đồng thời. Họ chỉ là những “tay biên chép ở nhà trong” quản lí ruộng đất, trông coi kho thóc, kho lụa cho ông hoàng đế điền chủ Lí. Họ có thể là con cháu những hào tộc độc lập nhưng về với chúa lớn thì chỉ là “người trong nhà” / “thằng bé biên chép” của vương hầu Trần, có làm quan thì nếu không lấy của nhà ra phục vụ để đổi chức tước (Phạm Ngũ Lão), cũng chỉ lãnh một ít lương nhà nước (Đinh Củng Viên), không bằng một anh bị thiến không biết chữ (Hán) nhưng được trông coi cơ ngơi Thiên Trường của chủ (Lê Tông Giáo). Khả năng “biết chữ” cũng là hãnh diện cho nho sĩ quan chức, khiến cho họ hay “nói chữ”, vung vẩy văn chương hoa hoè, biện biệt lí thuyết cao vời thật nhiều mà phần phát hiện cụ thể, sáng tạo thì rất ít. Sự nghiệp Lê Quý Đôn cũng có phần rất lớn là từ việc gom thẻ, chép lời người xưa, chắc có ảnh hưởng không nhỏ đến tận lớp hậu sinh ngày nay. Thế mà từ ưu thế trí thức, quyền chức có giới hạn ấy, nhà nho vẫn tự đặt họ ở địa vị cách biệt với dân chúng bên dưới nặng nề sinh hoạt bản xứ (mẫu hệ lan đến tầng lớp cầm quyền, “dâm từ” là phổ biến&#8230;), nên tạo ra trong xã hội sự kiêu ngạo một phía và sự ganh ghét chối bỏ phía kia. Sử ghi lại (1305) trường hợp Trần Cụ có mối hận với làng Cửu Liên, hẳn là làng gốc, vì thấy ông vẫn phải đi về dù đã thề không chạm đất làng! Ông Trần Quốc Vượng (<em>Dạm dài đất nước </em>2006) có nhiều bằng chứng khác, của thời hưng thịnh văn học về sau. Sự xung đột đó làm nổi bật tính chất kiêu ngạo không phải chỉ cá nhân mà là của tập thể văn thân, nho sĩ lấy từ niềm kiêu hãnh vương hoá, kì thị Di Man nơi cỗi gốc, đem ra áp dụng trong nước mà vẫn không thể cải đổi được thân phận của tầng lớp mình.</p>
<p>Tình trạng trí thức và người cầm quyền không phát sinh từ một gốc đã hiện diện trong suốt lịch sử Đại Việt. “Trí thức” bị chủ đè nén không vươn lên được mà lại kiêu ngạo với dân đen, lằng nhằng không lớn không nhỏ nên không có dịp bày tỏ ý thức sáng tạo nào, đành chịu bằng lòng sống với tình trạng làng nhàng của xứ sở, tự bản thân thấy chủ đích “bảng vàng bia đá” còn lại theo sự may mắn của thời thế, hay bị đục bỏ theo oai vũ sấm sét của triều đình, cũng đã là đầy đủ cho ước mơ. Vì thế lại thấy có sự cách biệt của những người sống ở đồng bằng với những người nơi rừng núi, những người chưa nói tiếng Việt của “Hán nhân”. Đó là sự phân biệt giữa người trên vùng trung châu Đàng Ngoài với các tập đoàn thiểu số nhà sàn “trâu đeo mõ, chó leo thang” được gọi là Thổ, Mường, Mán&#8230; Đó là cách nhìn những tù binh Chàm bắt được từ phía “tây”, tên gọi những phiên liêu để được mang họ Kim, hay lâu dần thành họ Phan. Đó là nguồn gốc hình thành luỹ Trấn Man dọc theo Quảng Ngãi, Bình Định chia cắt Mọi Đá Vách và dân “Hán”, dấu vết của sự cách biệt tranh chấp qua chiến tranh trường kì mà phần thắng không phải lúc nào cũng ở phía dân Trời. Đó là dấu vết kết thành địa danh của những Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Man&#8230; Trấn Tây Thành trên đường lấn chiếm của Lê, Nguyễn.</p>
<p>Tuy nhiên không phải chỉ có sự lấn lướt về mặt chính quyền mà không có tiếp nhận ngược lại. Với thời cận đại, lớp người Khmer Phiên dân bị vòng tròn quyền bính Phú Xuân thu làm thần dân, đã tiếp xúc với những nhà sư Việt Hoa phái Lâm Tế cũng đang phát triển nhiệm vụ hoằng pháp trên đất Đàng Trong, từ Sài Gòn xuống châu thổ Cửu Long. Sự tương hợp một chừng mực của hai nhánh Đại, Tiểu thừa tuy gây cạnh tranh nhưng hẳn cũng khiến sự giao tiếp giữa hai khối dân dễ dàng hơn, so với sự đối kháng Việt Chiêm. Thế là có sự tiếp nhận ý tưởng đảo lộn ghê gớm của các thần Tevoda để nói về một thời thượng nguơn sắp đến, thay thế cho thời hạ nguơn đang tàn, đúng vào lúc chúa Nguyễn trên đà phát triển tột đỉnh đang muốn tìm danh hiệu cho mình, cho vùng đất mình cai quản không phụ thuộc vào Đông Kinh xa vời nữa. Thế là có tuyên xưng vương hiệu, cải cách xứ sở của Nguyễn Phúc Khoát nhưng lại không ngăn chận được sự đòi hỏi thay đổi đã thành hình, âm ỉ rồi bùng phát với “loạn” Tây Sơn, xô đổ cả vương triều cũ kĩ Lê Trịnh, tưởng chừng có thể đặt tương quan thiên triều phiên thuộc – cũng cũ kĩ, lên một căn bản mới.</p>
<p>Ý thức vương hoá vay mượn đăt để trên trước đối với các dân tộc yếu kém, ngược lại cũng gây hệ luỵ với các vương triều Việt khi phải tuỳ thuộc vào đường hướng vương hoá từ phương Bắc. Trong thế yếu về binh lực và thấp thỏi về sinh hoạt, họ phải chịu sắc phong của các triều đại Trung Quốc, từ đó là hệ luỵ kéo dài cả ngàn năm, không những không dứt ra được mà còn ẩn khuất trì níu nặng nề, có thể mượn một danh hiệu y chứng hiện đại để nói về một thứ <em>Hội chứng phiên thuộc</em> lấp ló đâu đó, chỉ chờ được dịp là bùng ra. Vui thì được làm Quốc vương một nước An Nam, buồn thì chỉ là Đô thống sứ của một Ti, năn nỉ mãi được lên cấp thì vẫn phải lạy một tờ giấy đóng dấu son khác! Ông vua ngang ngạnh muốn tránh cũng không thể thẳng thừng từ chối mà lại nại cớ ngã ngựa đau chân. Lâu dần lạy thành thói quen, chỉ có thể kìm chút tự ái, lấy sĩ diện bằng việc tranh chấp lạy bao nhiêu, kiểu nào theo cách “của ta”. Bản chất cai trị là áp bức nhưng có phải sự thua thiệt với bên ngoài đã khiến cho tầng lớp cầm quyền tìm cách đền bù bằng sự tai ác với dân chúng bên trong, cũng là một cách che lấp cái uy thế mỏng manh của mình? Tuy có nghi ngờ sử Nguyễn che giấu nhưng chắc chắn Gia Long không thể lạy chiếu Càn Long trên đất Bắc Thành giữa hào quang chiến thắng, giữa các tướng từng phải lạy vợ ông mỗi lúc ra quân nhưng rõ ràng Tự Đức đã phải quỳ mọp lạy chiếu, dù đã ép sứ đi thêm đoạn đường đến Phú Xuân. Tội nghiệp cho chút thành quả đạt được trong giao tiếp với phương Bắc. Bởi vì không phải chỉ từ áp lực bên ngoài mà còn có cả sự thần phục lâu ngày đến thành sức ép vô thức từ bên trong: Khi Gia Long muốn tiếp nhận sắc phong ở biên giới (không để thần dân thấy sự thua thiêt của mình) thì nhóm Phan Huy Ích “từng quen đi sứ Bắc” lại cho rằng “xưa nay chưa từng có như thế”.</p>
<p>Uy thế phương Bắc sa sút chưa được nhận rõ nhưng cũng đã bị chuyển hướng qua các nước phương Tây từ xa đem lại, không những với các trang bị vật chất gợi ước muốn cho tầng lớp trên mà còn có cả một sinh hoạt tinh thần, thu hút đám dân chúng cùng khổ bên dưới ngóng chờ sự cứu rỗi qua tôn giáo mới, tạo nên một nền tảng quần chúng mới phải chịu đựng bức bách từng thời điểm mà càng lúc càng vững mạnh. Điều tiếng di man trong giai đoạn này vẫn có đấy nhưng chỉ xuất hiện từng chặp, khi khách phương xa không đền đáp đủ cho chủ nhân vùng đất. Hai họ Trịnh Nguyễn trong những năm dài tranh chấp đã đồng thời hưởng lợi và chịu luỵ khi muốn lôi kéo phe phía từ những con người xa lạ ấy. Và tác động từ phương Tây tuy chưa sâu đâm nhưng lại có phần nghiêng ảnh hưởng trên phần đất phía nam. Trong lúc Trịnh loay hoay với rối loạn nội bộ từ các “phong trào nông dân khởi nghĩa” thì Nguyễn chịu đựng những quấy đảo của thương nhân trong ngoài, lớn nhỏ: những “Minh dân” 1679 trên vùng Tiền Giang, nhóm Mạc Cửu kéo theo tranh chấp với Xiêm, những “Thanh nhân” xúi giục Phiên vương Chàm lay lắt, hay tự mình làm giặc&#8230; Quan trọng nhất là những thương nhân sinh hoạt bên rìa đồng bằng rừng núi, thu lợi từ sản phẩm các nguồn sông suối, được tăng giá trị thặng dư theo hoạt động của tàu thuyền Tây phương ngang dọc trên các biển trong vùng. Thế là có một vương triều các lái Tây Sơn, dũng mãnh theo bản chất mới mà không được tiếp sức để thành hình một hệ thống vượt thoát khỏi sức ép của truyền thống khu vực. Rốt lại hệ thống cũ vẫn thắng, với sự tiếp nhận vừa đủ các yếu tố mới, để thêm nanh vuốt cho Nguyễn Ánh thống nhất đất nước.</p>
<p>Hệ thống chính trị xã hội của phương Đông mà Nguyễn Ánh không thể rời bỏ được, càng thêm sức mạnh hỗn độn khi ông phải tiếp nhận một nước An Nam của nhà Lê lớn bằng đất nước của ông, đông hơn dân của ông mà lại thấm nhuần tinh thần Á Đông căn bản đậm nét hơn dân vùng của ông. Ông chịu để họ phô trương uy thế tinh thần trước đám thần tử lổn nhổn đủ thứ hạng, vốn chỉ có một niềm kiêu hãnh là biết sử dụng súng đạn trong khi thời chiến tranh bức thiết đã trôi qua. Chỉ gần hai mươi năm sau, khách ngoại quốc đến Gia Định đã thấy ra tình trạng vũ khí mới bỏ lăn lóc, hư hỏng ở nơi khởi nghiệp của triều đại mới. Gia Long đem lại một tên nước riêng cho quốc gia của mình, không phụ thuộc vào sự ban cấp phương Bắc nhưng vẫn phải cúi đầu chịu thụ phong theo lời chỉ dẫn của các nho thần quen thuộc giao tiếp về hướng đó. Minh Mạng chê dân Gia Định ít học (Nho) nhưng cũng hoảng lên vì thấy dân khoa bảng mới cũ của đất cựu Lê tràn ngập triều đình, tuy có người nhận ra rằng họ đỗ nhiều chỉ vì có thầy dạy cách thi cử thành công (tiếp nối Vũ Thạnh, Nguyễn Đình Trụ) chứ không phải vì giỏi dang – họ chỉ học sách đến thế kỉ XIII là nhiều nhất. Thế mà với áp lực đó, để tránh xa sự đe doạ từ tôn giáo mới, Minh Mạng lại nhiệt thành khuyến khích học Nho đến mức độ chê cả thầy Minh, Thanh. Một chính quyền chuyên chế mang dạng tập trung, mở rộng biên cương ra cả ngoài biển, thanh toán quá khứ chiến tranh, chia tỉnh, huỷ bỏ chức vụ Tổng trấn hai đầu Nam Bắc, xoá sổ nước Đại Việt, giải quyết tàn dư Lê triều, động đến cả hệ thống tộc đoàn thiểu số cai trị biên cương từ lâu vẫn giữ một chừng mực thế tập. Quan lại triều đình thay thế các tộc trưởng Nùng, Mường&#8230; mở rộng quyền lực, củng cố thế tập trung của Huế.</p>
<p>Bành trướng lấn lướt thì cũng phải có nhường bước thoả hiệp. Nguyễn rời bỏ sự hãnh diện riêng biệt: “Nhà ta phát xuất từ Ô Châu” để lập gia phả lôi ông Nguyễn Bặc của họ Đinh, ông Nguyễn Nộn cuối Lí đầu Trần vào làm ông tổ nhà mình, kèm thêm những nhân vật có thể là thật với chức vụ bịa đặt mà chừa ông Nguyễn Trãi (tội thần triều Lê) để người sau, với thời gian xoa dịu, sẽ đem vào tiếp! Ở tầng cấp công tột đỉnh, họ cho lập miếu Lịch đại Đế vương với nhân vật Hoa Việt bát nháo, hồn ma vật vờ phù thuỷ, theo thời gian, trở thành thần thiêng kinh truyện nhưng tất cả đều mang tính văn hoá khu vực phương Đông, để Tự Đức gắng gượng lấy tự tín, đẩy các ông Kinh Dương Vương vào địa vị thứ yếu lịch sử, từ đó tách ra ông Quốc tổ Hùng Vương mở đầu mang uy thế, địa vị to lớn đến ngày nay, tưởng chừng không thể nào suy suyển. Tình hình quay trở về “truyền thống” đó làm nổi lên ý thức khinh miệt di man xưa cũ nay mang dạng Dương Di, làm cản trở những ý muốn đổi thay, dù là từ trên bậc cao của quyền bính. Rốt lại thì chỉ có những tương quan lực lượng cụ thể là giải quyết được mâu thuẫn mà thôi.</p>
<p>Người Pháp vẫn hãnh diện với thuộc địa Đông Dương còm cõi của mình, bởi vì dù sao cũng có được một vùng đất ở châu Á xa xôi để cạnh tranh kịp thời với các nước khác đang xâu xé con rồng Trung Hoa bẹnh hoạn. Ông thiên tử không lo nổi thân mình thì phiên thần phải lọt vào tay người khác không phải là điều đáng ngạc nhiên. Lịch sử Pháp thuộc ở Việt Nam chỉ là một giai đoạn của sự tranh chấp Đông Tây ở cuối đường phát triển của các nước châu Âu trên đà kĩ nghệ hoá. Vì vậy phải coi đây là cả một sự đảo lộn to lớn: một cuộc “cách mạng”, nếu hiểu theo nguyên ngữ của từ “đổi mạng trời”. Người Pháp khi chặn ra một thuộc địa Đông Dương cho mình đã làm tách phần đất đó ra khỏi thế giới cũ, thế giới của vương mệnh Trung Hoa, của hệ thống thần quyền phương Đông, để đưa vào sinh hoạt tư bản chủ nghĩa đang muốn chiếm lĩnh toàn thế giới. Hiệp ước Fournier 1884 rồi Thiên Tân 1985 giữa đại diện Pháp và Thanh triều đã cắt đứt tương quan Thiên triều / thuộc quốc giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam kéo dài cả ngàn năm. Sự đổi thay trên cam kết quốc tế đó được cụ thể hoá bằng những cuộc đo đạc, xác định đường biên giới rành rẽ giữa hai nước Trung Việt, rồi tiếp theo là những xác định biên giới Việt với các thành phần khác bên trong thuộc địa. Một bộ mặt đất nước mới mang tính <em>định lượng</em> không phải là không có lợi cho Việt Nam trong tình cảnh mất chủ quyền: các quản binh, nhà thám hiểm Pháp tách ra khỏi ảnh hưởng Lào Miên, mang lại một vùng Cao nguyên cho Trung Kì khiến trường luỹ Trấn Man của nhà Nguyễn trở thành hoang phế; thực lực hải quân Pháp đẩy biên giới phía đông đến sát Philippin, Mã Lai gây tranh chấp với người Anh, Tây Ban Nha trên các nhóm đảo họ cho lính Thủ hộ Nam Kì (tổ chức Garde civile locale) trấn đóng, không hề có trong ý tưởng của vua quan nhà Thanh, Trung Hoa.</p>
<p>Tất nhiên sự cách biệt quá quắt về thực lực quân sự mà Nguyễn Bá Nghi chứng kiến đã là yếu tố quyết định trong suốt tiến trình xâm lăng nhưng tính chất lí tưởng trong việc bảo vệ tôn giáo của họ từ những nhân vật của Phái đoàn truyền giáo riêng biệt Pháp, cùng sự chần chừ trong chiếm lĩnh cũng đưa lại nét riêng biệt cho từng thành phần thuộc địa của họ. Đất Nam Kì chiếm đóng đầu tiên có diện tích nhỏ, đủ cho tham vọng của một toán thực dân tiền phong, ít nhiều gì cũng hành động vượt trên toan tính của chính quốc. Nam Kì như Trịnh Hoài Đức vẽ ra còn mang tính chất dân cư xôi đậu Đông Nam Á, có trải qua những biến loạn, đánh dẹp của triều đình Huế cũng không mang sự kết tập chặt chẽ của một khối quần chúng làm e dè kẻ xâm lăng. Đứng ngoài nhìn chiến trận là những tập họp người Thanh đến ở ào ạt mà triều đình chưa gom góp được, là những người Miên còn hằn dấu chống đối gây nên sự tan rã Trấn Tây Thành, chưa kể nhóm giáo dân bị bức đạo sẵn sàng hợp tác với người mới. Chống với người Pháp, có binh tướng triều đình từ xa phái tới, còn dân binh cố kết với chủ quyền đất nước chỉ là những thành phần khai thác đồn điền, cũng vẫn là những tập họp đang chiếm đất! Với kinh nghiệm từ các thuộc địa Bắc Phi, người Pháp phải cần giữ lại ở Việt Nam / Đại Nam một tầng lớp cai trị bản xứ mà quyền hành tuỳ thuộc vào khả năng sâu sát của các viên chức được phái đến theo từng tình thế. Nam Kì là đất trực trị, chỉ được giữ lại hàng tổng xã bản xứ, để những nhân vật cai trị lớp trên không còn là “quan” mà chỉ là viên chức, với danh xưng có hơi hướng Đàng Cựu: Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ. Bắc, Trung Kì còn vua, quan nguyên vẹn với hệ thống cũ nhưng vua mờ mịt ở Bắc hơn ở Trung cho nên quan Bắc cũng chỉ là viên chức của ông Thống sứ, chưa kể toàn hệ thống cũng chỉ mang dáng dấp quản trị hành chính là căn bản, dưới quyền những ông Công sứ đầu tỉnh, và nằm ngoài cả hệ thống cai trị mới về kinh tế, tài chính, thương mại&#8230; của người Pháp đăt để.</p>
<p>Tình hình cai trị như thế khiến cho người dân ở tầng cấp thấp trong xã hội, ở vùng đất cách xa các thành phố, thị trấn – điểm mới của thời thuộc địa, còn giữ lại những tâm tình, sinh hoạt truyền thống mang tính chống đối chính quyền, ngay trên cả những đổi thay mà họ hưởng thụ trong thời mới, dù muốn hay không. Cho nên các tập họp chống đối được Sở Mật thám Đông Dương ghép chung vào nhóm từ “hội kín”, thật không oan uổng, vì mang dạng thần quyền và có khuynh hướng thần quyền đủ cung bực. Cơ sở của hội kín không đánh mất trong thời gian khai triển qua nhiều danh xưng, là từ các nhóm Hoa dân lưu vong, nổi bật là Thiên Địa Hội có pha thêm màu anh chị của tập họp thành phố, thị trấn mà cũng lộ ra hơi hướng biển: hải tặc. Chính dạng đề kháng văn hoá nằm trong các cuộc vận động độc lập đã có sức mạnh đáng kể, khiến cho những hình thức kết hợp kiểu “Pháp Việt đề huề” đã bị đẩy về phía phục vụ thực dân đế quốc, không chừa lối cho những vân động tiến về phía văn minh mới mang tính công khai, vốn chỉ được coi là những ép uổng về phía người cai trị khác màu da. Các phong trào Cần vương, Văn thân giương cờ Bình Tây đi theo Sát Tả, với ý thức giữ lại ông vua của khuôn mẫu quá khứ (với dạng quá khứ ám ảnh, có lúc là loại trừ nhà Nguyễn). Những người phản kháng coi sự khai thác thuộc địa là hành động tội ác của đế quốc đối với dân nước, dù rằng có khi họ chống đối chỉ vì họ không muốn thay đổi, vì sự đổi thay đem lại bất lợi cho họ. Mọi ý thức bảo thủ, thù hận được bào chữa bằng tiêu chí cao nhất: giành độc lập cho Tổ quốc. Cứ thế mà tinh thần ái quốc được nâng đỡ mạnh mẽ trong vô thức, cùng lúc với một ý thức kì thị Di Man còn sót lại, qua thời gian được làm mới, giấu kín dưới những dạng hình khác.</p>
<p>Con đường giành độc lập là con đường lấy lại bản thân, nhưng dù sao cũng phải bao gồm những nhân tố mới được tạo thành theo với thời gian chung đụng giữa bị trị và thực dân. Sự kết hợp ép uổng khiến quá khứ được dựng dậy, tô vẽ thêm từ cả hai phía. Trong những lời than vãn kêu khóc của Phan Bội Châu có nhóm từ “con Rồng cháu Tiên”, “con cháu Lạc Hồng”&#8230; gợi được sự cách biệt với hiện tại tủi nhục. Lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc chưa phải e dè nhắc nhở nên Bà Trưng, Bà Triệu&#8230; được gán ghép với nhân vật ngày nay để có nhân vật Ấu Triệu của cụ Phan đưa ra so sánh. Trên vùng biên giới có Nguyễn Ái Quốc / Hồ Chí Minh vấn vương câu chuyện Sách ước của thần Tản Viên, đăt vài câu vè về vua Hùng, rồi sẽ là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt cho thế hệ nghiên cứu cổ sử nước nhà vào thời độc lập. Nhưng người Pháp cũng đâu có chịu kém.</p>
<p>Khung trí nhớ của con người vẫn thường là ngắn cho nên trong khi Ngô Sĩ Liên đem Hùng Vương vào sách, đặt vào phần Ngoại kỉ là để “dĩ nghi truyền nghi”, thì các sử quan của Tự Đức lại chỉ bắt đầu từ quyển sách có quá khứ 300 năm đó, viết bởi các danh thần dưới đời một ông vua của tột đỉnh văn minh, để coi sự hiện diện của ông Quốc Tổ là đương nhiên, không thể bàn cãi. Họ không thắc mắc sao ông Quốc tổ chỉ có một tên kèm với các thứ hạng ngẫu nhiên 3, 6, 18, cả tình cờ ngớ ngẩn: 13. Có chịu khó thêm trâu ma rắn thần thì bằng lòng với hai thuỵ hiệu từ Nguyễn Bính vẽ ra (1572). Thế mà với người Pháp chịu o bế dân thuộc địa thì sẽ có tên đủ 18 ông vua. Chỉ vì với nhu cầu cần cứu Mẫu quốc, họ đã cho con rồng An Nam uốn mình phun bạc Đông Dương, đem so sánh hình ảnh chiếc phi cơ của “quan ba tàu bay Đỗ Hữu Vị” như con Rồng văn minh phun lửa giết bọn man di Nhật Nhĩ Man! Cần nâng cao uy thế triều đình cũ trong lúc lực lượng giữ thuộc địa phải căng mỏng vì ảnh hưởng trước/sau Thế chiến I, người ta cho xây dựng đền Hùng Phú Thọ, đặt ngày lễ 10 tháng 3 âm lịch (1917) cũng như tổ chức biểu diễn tế đàn Nam Giao (1917)&#8230; Ngày sau Tổng thống Ngô Đình Diệm không chịu có ngày Quốc lễ 10 tháng 3 âl. hẳn là vì ông cựu Thượng thư biết cái ngày đó có gốc tích từ đâu mà ra. Thế chiến II với phong trào thể thao Ducouroy, có các khẩu hiệu “(Cần Lao, Gia Đình) Tổ quốc” của Thống chế Pétain cũng gợi sự bao dung cho đất nước An Nam, có các tranh cổ động khắc cảnh cạu bé Đinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau với nhóm trẻ mục đồng Hoa Lư thổi kèn tây, cảnh Trần Hưng Đạo phá trận Bạch Đằng, Hai Bà Trưng báo thù chồng, Bà Triệu cưỡi voi bành vàng nghênh ngang như Bà Thánh Jeanne d’Arc phất cờ! Thế là đủ cho Tản Đà than vãn “nước bốn ngàn năm”, cho phong trào Hướng Đạo nói chuyện Lễ hội đền Hùng, và tập thể tác giả Hoàng (Huỳnh) Mai Lưu nổi lên với những bài thơ nhạc yêu nước ồn ào ở Hà Nội, mời gọi dân Nam Kì đi thăm đất Bắc. Đây lại là thời điểm khởi đầu cho ý tưởng huênh hoang về nguồn gốc dân tộc xuyên qua hai luồng quen thuộc, một của nhà nước như sẽ thấy với chính phủ Hồ Chí Minh, và một của cá nhân Kim Định với thuyết Việt nho, đã phát triển ra ngoài nước với người di tản, và thật ngược đời, được giấu diếm ngóc đầu dậy trong nước không người cản trở, đã xuất hiện trên giảng đường Đại học tạo nên phe nhóm khoa bảng, trên tạp chí chuyên ngành phồn tạp&#8230; khó cãi, vì mang một chừng mực đồng dạng với thời đại, với của nhà nước.</p>
<p>Quá khứ trở về trong tâm cảm những con người mới sẽ dẫn dắt hành động cứu nước trượt dài trong vô thức trên vết mòn cũ. Rõ ràng người dân thuộc địa thấy tự mình không đủ sức chống đối với kẻ cai trị. Phan Bội Châu đã làm một thứ Thân Bao Tư khác, một thời gian ở Nhật. Phan Châu Trinh cũng phải vịn vào Hội Nhân Quyền và cả sự bao dung của viên chức thuộc địa. Các đảng viên cộng sản Việt núp bóng đảng Cộng Sản Pháp, và Nguyễn Ái Quốc đi Liên Xô, để cuối cùng khởi đầu danh vọng vang lừng trên biên giới Trung-Việt! Trong sự dẫn dắt của một chủ nghĩa cho là của tương lai, người cộng sản Việt hiểu qua sự hướng dẫn của vang vọng quá khứ về một chủ nghĩa đại đồng mới học từ phương Bắc, thế là hình ảnh di man chống đối, đã và sẽ trở lại trong đầu óc khi họ nắm chính quyền, với những cán bộ trong nước hay trở về nước, lún sâu vào khung cảnh và nhân tâm “truyền thống” được đề cao trong chiến đấu. Và như đã thấy, chiến đấu đến mức độ làm rúng động thế giới chỉ vì có sự phối hợp của chủ nghĩa dân tộc mang tính kì thị di man không khoan nhượng, và ước vọng xoay đổi thế giới đầy kiêu căng, có sự tiếp sức nhân lực, kĩ thuật của một thành phần nhân loại không nhỏ. Nhưng tiến trình chiến đấu không phải là không tạo ra những xoay đổi khác chực chờ. Các nhà lãnh đạo kháng chiến, từ địa vị những tù nhân, nhân viên cấp thấp thuộc địa&#8230; lúc đầu chỉ lấy niềm kiêu hãnh cứu nước làm điểm tựa chiến đấu, qua thời gian có yểm trợ vật chất, tinh thần vượt biên giới, chống đối được với những thế lực to lớn nên tự nâng tầm ước vọng cao quá khả năng lúc chưa vay mượn, để không lường trước được sự hụt hẫng hồi sau. Nhưng dù sao thì chiến thắng cuối cùng cũng đưa Việt Nam vào quyền lực không tranh cãi của tập họp Đảng được xây dựng bền chặt qua chiến tranh, theo với tính chất của tổ chức, lại dồn vào một tập nhóm nhỏ tạo thành qua chèn lấn tranh chấp hay thoả thuận chia chác với nhau.</p>
<p>Trở về với truyền thống dân tộc là nhắc nhở một quá khứ Việt Nam chia xẻ văn minh Á Đông với chủ thể Trung Hoa mà cũng là quá khứ chịu luỵ, có khi chịu nhục vì người khổng lồ phương Bắc đó. Về mặt lí thuyết, người Cộng sản Việt hiểu các ông Mác, Ănghen, Lênin như là anh học trò nhỏ đọc tiếng Tây! Muốn dễ dàng hơn thì cứ nhìn người bạn Trung Quốc mà làm. Cũng là lặp lại, giống như những người lớp trước họ học Mạnh-đức-tư-cưu, Lư-thoa qua <em>Tân thư!</em> Cho nên ông Đặng Xuân Khu lấy tên Trường Chinh khi làm Tổng bí thư, đeo đuổi Cải cách ruộng đất, không bỏ tên đó đến khi chết, kéo theo cả một tầng lớp người không bỏ lí thuyết xã hội chủ nghĩa theo ông hiểu, cho đến khi thấy “không đổi mới là chết”, nghĩa là chỉ đổi thay khi thấy phải mất bản thân, mất công lao thu tóm suốt cuộc đời.</p>
<p>Lại trở về với nội bộ dân nước. Khi các lãnh tụ khoe rằng chính “Đảng” đã lãnh đạo đất nước, với “nhân dân một lòng theo Đảng&#8230; đánh thắng bao đế quốc sừng sỏ” thì họ cũng có lí một phần. Về mặt dân chúng, ý thức cương cường chống đối người ngoại quốc đã che lấp được nỗi tủi nhục dưới sự áp bức của người trong nước, chưa kể đó là thói quen ngàn đời trỗi dậy trước thực tế phải chịu đựng dai dẳng. Bởi vì suốt thời kì thành lập nước từ 1945, chỉ có Đảng Cộng Sản với nhiều tên đổi màu da cắc ké, mới là kẻ điều hành đất nước, có số đông dân chúng ủng hộ và tuân phục. Nếu muốn sử dụng ngôn từ chính trị của họ, thì chuyện các đảng, các mặt trận, hiến pháp, chính phủ&#8230; học từ hồi chịu làm dân thuộc địa, nghe từ đám dân của các “chế độ thực dân kiểu mới”, từ khách vãng lai tình cờ đưa đẩy, từ người đi xa đem về như một thứ quà kiến thức, tất cả có được thu dụng cũng chỉ là những hình thức chiến thuật trên con đường tiến chiếm và giữ gìn quyền lực của Đảng mà thôi.</p>
<p>Vẫn phải nhắc chuyện ông Trần Độ từ chiến khu trở về, trông thấy dân chúng từng che chở ông lại khúm núm trước y quan con người cách mạng, nay là quan chức nắm quyền. “Đảng xuống lịnh&#8230;”, “Bác” đã “nói”, đã “dạy”&#8230; cho thấy con người thuần phục ngàn năm cũ đã trở về, dễ dàng chịu tuân thủ bởi vì chính người ban phát chân lí, nắm vận mạng họ là người của dân tộc, mang phần tâm tính xưa cũ như của đất nước hồi nào. Nghĩa là, nếu mơn trớn vỗ về thì cũng đủ ngọt ngào viện dẫn mà trở mặt quyền uy thì không có sấm sét nào hơn. Tận xa cùng phía nam, người ta nghe Đảng xuống lịnh khởi nghĩa, che giấu thằng Tư, anh Ba (nguyên thứ bực hội kín) Uỷ viên&#8230; Đảng trong hầm bí mật sau hè, và cũng từ chối ruộng chia “Của người ta ai lại lấy kì dậy” từ những người “du côn” đồng chí của ông Bộ trưởng Ung Văn Khiêm, nhưng chống đối mất đất thì có xúm lại tự thiêu tập thể như 12 tăng ni chùa Dược Sư ở Phụng Hiệp (Cần Thơ, 2-11-1975), cũng không ai đoái hoài! Tính chất “du côn” thành thật thú nhận kia, được áp dụng tiếp trong cách hành xử giữ an ninh thời nắm quyền, trấn áp “phản động” để bảo vệ Đảng, tỏ lộ một dáng hình quyền lực lạ lùng, khác biệt với của thời văn minh hiện đại, vì thu tóm cả hai mặt: chính quyền công khai và thảo khấu. Những người kia chết đi để khỏi nghe lời Mai Chí Thọ bảo thẳng Thích Quảng Độ (đại khái): “Theo chúng tôi thì cái gì cũng được hết, mà chống đối thì chỉ có chết mà thôi”. Lời nói chứng minh bằng việc cô lập Trí Quang, lưu đày Huyền Quang, để ông cựu Tăng thống này chết mòn trong chùa nhỏ trong khi đăng cai tổ chức tưng bừng Lễ hội Phật giáo thế giới có một cựu thiền sư tử tù cũ của Đảng chủ trì, và với tiền bạc thời mới khoa trương bằng hệ thống chùa Bái Đính không thể nào hoành tráng hơn.</p>
<p>Sự nhẫn nhục chịu đựng của người dân từ thực tế sát thân phải đối phó, được vuốt ve bằng những lí tưởng cao vời che lấp tủi hổ, trở thành thói quen của một nếp sống có quá khứ tiếp tay như thế, đã khiến người bên ngoài không hiểu nổi. Các đảng viên cấp thấp không hi vọng gì nhiều với thành quả thấy ở người trên cao, chỉ có chút ảo tưởng được dặn bảo là thành phần ưu tú của dân tộc, mà thực tế phải chịu đựng là những kềm kẹp của họp hành thúc bách, học hành vẩn vơ, phải sống theo mẫu đạo đức giai cấp, dân tộc gì đó với những màn phê bình khắc nghiệt, dai dẳng thế mà vẫn tỏ ra là thành phần cốt cán giữ yên xóm làng, phường khóm&#8230; trong từng động tĩnh khuất lấp hàng ngày, hay dàn ra đường phố trong tính “nhân dân” khi cần biểu dương lực lượng: “Biểu tình là việc của nhà nước&#8230; Đã có Đảng lo&#8230;” (tháng 6-2011). Khung trời kiến thức, tâm ý của họ chỉ có một tổ chức được gọi là Đảng, phải được tuân phục và bảo vệ, không thể là thứ gì khác. Cực nhọc không đủ bù với sự che chắn mỏng manh của Luật Bát nghị thời đại mới, đặt riêng họ làm thành phần không phải chịu pháp luật chung – họ chỉ phải ra toà sau khi bị khai trừ Đảng. Thế mà họ cũng không tìm cách vượt thoát, chỉ vì ngay bên ngoài cái khung đó là cả một thế giới xa lạ, không dung chứa họ, mang tính đe doạ còn hơn khung cảnh cũ nên họ an tâm lặp lại những điều được dạy bảo, ít ra là trong những buổi hội họp, ở chốn đông người. Hội-kín-Đảng của thời mới không mất tính chất thần thánh cũ bởi vì đã có Đảng, Tổ chức viết-hoa, thay thế cả ngay trong những khẩu hiệu không giấu diếm: Mừng Đảng, mừng Xuân / (Ba/Năm/Bảy mươi năm) đời ta có Đảng&#8230; Vị thế đó cho phép người lãnh đạo coi việc hưởng đăc quyền là đương nhiên, còn người dưới cũng không thắc mắc. Quyền uy làm cách biệt người lãnh đạo với dân-chúng-không-phân-biệt khiến cho không thể tái diễn câu chuyện thần tiên ngày xưa về anh Văn Ba nhờ cậy Toàn quyền Đông Dương can thiệp khi Khâm sứ Trung Kì không tìm ra người cha Phó bảng lưu lạc để chuyển lương thuỷ thủ của anh! Cho nên không lấy làm lạ rằng tính chất kềm kẹp của thời hội kín đi theo chiến đấu, chiến thắng, khi mở rộng đến tầm mức quốc gia trong liên hệ với thế giới, đã khiến cho đất nước mang nếp sống bình lặng một cách khủng khiếp lạ thường.</p>
<p>Đảng lãnh đạo đã thành công. Trong quá khứ, người ta quen với học vấn phương Tây, thấy có những hành động chính trị xoay đổi liền nhắc đến Machiavelli với tiêu chí rút gọn: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Cũng như, chịu ảnh hưởng macxít mà không biết, người ta cho rằng cứ để Đảng đổi mới kinh tế thì sẽ có biến chuyển chính trị theo kiểu “huỷ thể”&#8230; Rốt lại ảo tưởng cho rằng tầng lớp tư sản tạo ra trong đổi mới kinh tế sẽ làm đổi thay đường lối của Đảng đã không xuất hiện, vì các lí thuyết gia không tính được rằng ở phương Đông ngày xưa, quan lại và thương nhân có chèn lấn giành giật là để chia quyền, thủ lợi chứ không huỷ diệt nhau, trừ phi động đến quyền lợi căn bản. Thương nhân làm giàu, đút lót, mua ruộng rồi cũng cho con cháu học hành đỗ đạt làm quan, bóc lột thế hệ tiếp theo chứ không lo kiến thiết một xã hội tư bản! Với thời mới, họ đã tìm ra phương thức Quốc doanh để nắm chắc lợi và quyền, lớn và vững hơn cả người xưa. Cả khi các cơ quan truyền thông chịu nghe lời “một Tổng biên tập”, tuy có phần là theo phép tắc “dân chủ tập trung” nhưng phần khác, thật ra họ cũng thủ lợi phía khác qua những hình thức kinh doanh bên lề, phối hợp uy thế từ ngành chính hiệu. Các lãnh tụ Đảng đã hành động như người thuộc sách vở Xuân Thu Chiến Quốc, của những kẻ ngày xưa tìm cách tiến thân với bất cứ giá nào, với bất cứ ông chủ nào, không chừa sự giẫm đạp lên bất cứ tiêu chuẩn đạo lí thông thường nào. Đúng ra thì nhìn trình độ học vấn khi xuất thân của các lãnh tụ, ta thấy chắc họ cũng không thuộc lịch sử của giai đoạn tranh chiếm Tiên Tần kia nhưng với với mớ kiến thức Thành chung, Tú tài Pháp họ cũng có thể vận dụng hiểu biết từ trong gia đình khoa bảng, theo truyền thống kể “truyện xưa tích cũ”, để đem ứng dụng vào đời sống chính trị những giai thoại nghe được từ sự tranh chiếm địa vị Tướng quốc của các Tô Tần, Trương Nghi, Thương Ưởng&#8230; Thêm vào đó là những cách ứng xử mưu mô ranh vặt nơi chốn đình trung, xóm làng ẩn khuất, được nâng cấp khi phải đối phó trốn chạy người cai trị, chuyển qua tình trạng chống đối ngang hàng có thời cơ hiếm hoi, đã đưa họ đến thành công.</p>
<p>Lề lối tiến thân mang tính hội kín (dù không được thừa nhận) của Đảng làm nảy nở ra những chuyện thâm cung bí sử thời mới, dụ khị hay doạ dẫm phổng tay trên tình nhân của lãnh tụ, những chuyện con rơi con rớt, con bất hợp pháp mà hợp pháp lộ ra ở tình trạng nối nghiệp khác họ mà đồng tông, chuyện chèn lấn tranh đoạt đưa người lên tột đỉnh quyền hành, đẩy người đến chỗ sa cơ thất thế, loại trừ tàn nhẫn, di hại đến đời sau, như khi con cái ngoại hôn của Lê Duẩn lo sợ cho an ninh bản thân lúc ông Tổng bí thư qua đời. Sự việc nổi bật lên khi có sự đối chiếu liên quan đến vùng sinh hoạt. Gia đình ông Lê Đức Thọ phải lo lắng giữ vệ sinh cho mả ông Trưởng ban Tổ chức Đảng trong khi anh em ông Diệm, Nhu vẫn lặng lẽ yên nghỉ trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi râm mát trước khi bị cậu bé Lê Văn Tám huyền thoại của phe chiến thắng đuổi đi.</p>
<p>Tính khép kín riêng biệt đã đem lại sự hạn chế về kiến thức cần thiết cho việc lãnh đạo. Từ bí thư tổ Đảng, thôn xã, khóm phường (trùm nhỏ) lên bí thư huyện, bí thư tỉnh (đã là trùm một phương), lên tột đỉnh (Tổng) bí thư nước thì con đường thu nhận kiến thức hẳn là không nhiều nhặn gì mấy. Không lấy làm lạ là vẫn thấy xuất hiện trên cấp bực quốc gia những cách hành xử xa lạ với thế giới hiện đại nói chung. Với thời đại thống nhất yên bình thì tình hình kia cũng có phần không thể nào khác hơn những lúc thăng quan tiến chức của thời xưa. Một bộ phận lớn cán bộ vẫn là những ông quan trầy trật trên bước thang danh vọng, chừa chỗ cho bậc cuối cùng, với chữ nghĩa thời đại là tuân phục tính chất Dân chủ tập trung. Nói như lời thú nhận thực thà của ông cựu Trưởng ban Khoa Giáo Nguyễn Khoa Điềm: “Có chi mô!” khi được hỏi về tình trạng tiếp thu kiến thức bên ngoài ở nhóm người lãnh đạo cao cấp. Ông bí thư Phú Yên trong thời kì hơi đổi mới, có chút áy náy liền chịu núp bóng làm nhân viên một phái đoàn thương mại được mời đi ngoại quốc, và bị báo chí (Đảng) móc moi, chê trách. Đó là bằng chứng về một người lãnh đạo tự nhận ra sự xa rời với thế giới bên ngoài nhưng quyền lực độc tôn của Đảng đã không cho phép bên ngoài chỉ dẫn, dù là sau đó thì ra tay thực hiện, lúc trừng phạt xong tên phản động nào đã rủi ro lên tiếng.</p>
<p>Cho nên công cuộc Đổi mới sau 1975, tách rời cơn mê muội xã hội chủ nghĩa là của các lãnh tụ nhỏ phía Nam, nơi tiếp xúc với “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” ở Sài Gòn. Cuộc đổi mới được nhạo báng: “Lấy lại cái cũ bị thù ghét” thật ra là một cuộc đảo chính nội bộ, cũng cho thấy một tình hình khác của chế độ Đảng trị. Những người thực hiện đổi mới khởi đầu, khi nhớ lại, đã dùng ý niệm “phá rào cản”, “xé rào”, “đột phá tư duy”&#8230; nhẹ nhàng kể lể công tích muộn màng mà không dám tỏ ý phạm thượng đối với ông Tổng bí thư Lê Duẩn còn ngồi đó, nhăn nhó “không muốn nghe chuyện khó khăn, tiêu cực&#8230;” cùng với ông Tổng bí thư nhiều lần khác, Trường Chinh, được dắt tận tay, chỉ tận chỗ thành quả đổi mới lén lút để thuận tình không trách phạt bóng hình ông Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phú nữa&#8230; “Công trình sư” đổi mới thật ra là các chuyên viên VNCH cũ, những người ra Bắc nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắn nhủ: “Ra chơi thôi chớ đừng bắt chước họ (?) làm bậy, dân rên lắm!” (Không biết ông Thủ tướng làm việc gì ở chức vụ đó?) Đổi mới đúng là làm lén, trái với nghị quyết của Đảng, vi phạm pháp luật nhà nước, vậy mà được tiến hành. Đây là một chứng tích về lề lối cai trị mới, xuyên suốt của Đảng trị, có khi lại được coi là thể hiện sự linh động, sáng suốt của Đảng, mặc kệ những tác hại trước đó. Thế nhưng không phải ai trong Đảng cũng “phá rào” được. Thành uỷ Hồ Chí Minh có thể đem ghe thuyền ra điểm zero trên biển nhận hàng mua lén qua tay thương nhân Chợ Lớn, Hongkong nhưng huyện uỷ Bình Đại (Bến Tre) làm vậy thì bị cảnh cáo, còn tỉnh uỷ viên Minh Hải buôn bán lén với Lào chỉ bị tù treo trong lúc cựu dân biểu Dương Văn Ba của VNCH, cố vấn chui, bị tù chung thân, không nói ra nhưng chắc với tội âm mưu phá hoại chế độ XHCN từ bên trong! Vì Đổi mới phát sinh trong tình trạng bất đắc dĩ như thế nên con đường hội nhập của Việt Nam vào thế giới mới thật là khó khăn, cực nhọc, quanh quất có khi đến mức độ kì quái&#8230;</p>
<p>Một chút thời gian bị bắt buộc lạc lối – 80 năm không là gì so với 1 000 năm – vẫn phải để cho người ngoại quốc, gần nhất lại là một nguời gốc Hoa (Li Tana), nhận ra tính khác biệt của Đàng Trong để cho lịch sử Việt Nam mang tính dồi dào sinh đọng hơn, trong khi sử gia quốc nội vẫn nhiệt thành theo hướng dẫn của nhà cầm quyền tuyên xưng vương hoá Kinh Việt, nói về một tính dân tộc đơn sắc, vẽ vời thêm với ông Quang Trung phía Nam, có tiên cảm về sứ mạng thống nhất đất nước, chống xâm lăng! Mà sự hãnh diện chiến thắng rồi cũng phải tàn lụi nhanh chóng với sự đe dọa dẫn đến chiến tranh trên biên giới phía Bắc, với sự lùi bước ở Kampuchia có 180 000 quân sa lầy ở đấy, dù vẫn với cách thức can thiệp từ trên chóp bu chính quyền nước sở tại, như việc bắt Tổng bí thư được dàn dựng Pen Soven nhốt ở nhà cầu Tổng Y viện Cộng hoà (cũ), giống y Minh Mạng cho bắt Công chúa Ang Mei / Ngọc Vân xưa!</p>
<p>Thế mà khi Đổi mới “thành công” người ta lại quên những khích động khác, cứ tưởng là không ăn nhập gì với sự phủ nhận tính chân lí của chế độ vốn được cho là nền tảng của chiến thắng vừa qua. Phong trào vượt biên đem lại cho từ điển thế giới nhóm từ Boat People / Thuyền Nhân, với thảm cảnh ăn thịt người (1982) vang vọng vào văn chương (Elisabeth D., <em>L’Ogre capitaine, petit roman pour la jeunesse </em>1987) không phải chỉ là “vì Chính phủ không lo được cho (dân Miền Nam) một li cà phê sữa mỗi buổi sáng” như lời ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố. Sự đóng góp của thế giới để giải quyết vấn đề, những thùng hàng dồn dập gởi về Việt Nam dù được nặn bóp cả từ cây kem đánh răng, cũng vẫn là những tín hiệu giải đáp đến từ thế giới to rộng hơn cho những người cầm quyền “dân tộc” say đắm kinh sách mới, cứ tưởng có thể xoay đổi dân chúng, lịch sử theo ý mình bằng một thứ mê muội còn dư vang đến nay qua những lời huênh hoang về “tính cách dân tộc riêng biệt”, về “đường lối phát triển của riêng ta”, không cần biết gì đến những cách ứng xử hợp với thời đại chung. Li cà phê sữa buổi sáng ngày nay đã có không thể đến từ các tổ chức công hữu, hợp tác hoá là điều hiển nhiên được chứng minh.</p>
<p>Tuy nhiên Đổi mới, qua cơn lo sợ mất Đảng đầu tiên, lại cho những thế hệ cầm quyền tiếp theo thấy ra mình là một ông địa chủ lớn đến mức độ kinh hoàng, với quyền hành không ai tranh cãi, được làm chủ vài chục triệu mẫu đất rừng núi sông suối biển cả, mang giá trị tăng tiến tột bực trong giao tiếp với bên ngoài. Loại giá trị thặng dư đó của thời mở cửa đã sản sinh những tỉ phú kinh doanh địa ốc, nháo nhào đào bới tài nguyên mà mù tịt sự tàn phá môi trường. Họ là lớp người vốn chỉ biết “đi làm Cách mạng”, sống thực tế bằng tiêu chuẩn phân phối của binh trạm hay hợp tác xã mà được nuôi dưỡng với lời kinh nhật tụng “Đất nước ta rừng vàng biển bạc”, nay hiển nhiên lại thấy rừng biển rơi vào tay&#8230; Thế là với danh nghĩa phát triển, họ cho thuê trên rừng khuất lấp không màng đến an ninh tổ quốc, dụ hoặc đồng thời với cưỡng bức theo cung cách đánh/đàm đắc thế trong chiến tranh, để giành đất với nông dân, tạo ra khuất lấp vô vàn vụ Ninh Thạnh Lợi (1927) của thời mới, mới nhất là vụ Tiên Lãng (Hải Phòng 1-2012), hay sắp xảy ra với các nông dân Nông trường Sông Hậu, sau khi lãnh đạo dọn đường kết tội nhân vật khai sáng cũ để chuẩn bị bước thu hồi cuối cùng.</p>
<p>Cai trị tất nhiên phải cần đến trí thức. Ngoài những trí thức xuất thân cựu thuộc địa, được ca tụng vì nhu cầu dàn mặt chính trị mà không làm gì hơn với cái chức tượng trưng, cũng có những trí thức góp phần vào kháng chiến ở những vị trí cần thiết cho chiến thắng có các tay thư lại mới đua nhau tô vẽ, bốc cao hơn thực tế rất nhiều. Đã nói, trí thức Việt từ bản chất, thành phần xuất thân, mãi mãi chỉ được coi là tay sai. Dù là với thời mới được nhẹ nhàng ghép theo lời thân thương: Con em Công Nông, họ vẫn phải được chỉ bảo tận tình đến từng cách viết văn, lí luận, làm việc nghiên cứu&#8230; trong một khuôn khổ chỉ định có lúc không cần giấu diếm. Chưa đủ cho người cầm quyền, cả từ địa phương, xác định tính chất “phản động” của một tác phẩm, kết tội “tiết lộ bí mật (lịch sử) quốc gia” của một nghiên cứu, người ta còn muốn làm luật để duy trì kỉ cương. Chút văn từ “phản biện” được trí thức thời mới dùng để rửa mặt cho tầng lớp mình vẫn không được vượt quá lằn mức “cãi lại”.</p>
<p>Nhưng vẫn phải cần đến trí thức mà không có cách nào khác hơn, là lấy lớp trí thức được Đảng ra tay đào tạo để cai trị, vì không thể nghe lời Lí Quang Diệu cho các công thần về vườn được. Họ là cả một thế giới làm nên chiến thắng, đủ sức đe doạ cả Lê Đức Thọ khi ông “lệch hướng” tán thưởng bài thơ “phản động” của Phạm Thị Xuân Khải, dám chê bai hiện thực (1986). Thế cho nên có những lớp học bổ túc, tại chức với những chuyện khôi hài cười ra nước mắt trong thời kì còn vướng víu tinh thần nhạo báng, nảy nở bởi quá khứ VNCH chưa phai lạt để có điều so sánh. Rồi cũng qua, để tới lớp người mới nữa của các trường Đại học, Cao đẳng chuyên môn mở ra theo nhu cầu “ra biển lớn”, theo sự cần thiết ghìm giữ tình trạng thất nghiệp của thanh niên vào trường học, cả từ nhu cầu địa phương cạnh tranh mở trường lấy danh, nhận tiền phân cấp của trung ương hay chia phần từ các trường dân lập rồi tư thục rối mù, đến mức cả thứ trưởng cũng chen vào cướp đoạt.</p>
<p>Người ta than vãn về tình trạng xuống cấp của giáo dục nhưng với loại giáo dục “cơm chấm cơm” của Miền Bắc vào Nam sử dụng giáo trình 3, 40 năm cũ rồi tiếp theo, của các nhà giáo VNCH tự nâng cấp cho bắt kịp đời mới “làm giàu” mà vẫn còn thấy hãnh diện có lí, thì không thể nào khác được. Nó chỉ là tình trạng Việt Nam hoá / “dân tộc hoá” / “bảo tồn truyền thống dân tộc” sau chiến tranh chống đối ngoại xâm, thế tất phải kéo theo dạng phủ nhận văn hoá từ phía kia tuy không thể dứt bỏ được. Trí thức Miền Bắc bị bó rọ trong quan điểm duy vật lịch sử pha chế tinh thần dân tộc vốn không có nhiều sách vở bên ngoài, nên khi vào Miền Nam tiếp xúc với tài liệu mới – dù là qua bản dịch, tha hồ vồ vập như khi ba hoa về cấu trúc luận, ngập ngừng với lí thuyết hiện sinh chính tông. Tiếp xúc với lập luận khác trong khi thực tế bào mòn lối văn từ cả vú lấp miệng em, người ta lặng lẽ quên chuyện Quang Trung thống nhất đất nước rồi nhường bước cho Nguyễn Ánh mà còn giữ sĩ diện cho tập thể chiến thắng, với vai trò người anh hùng ưa thích dọn đường cho tên vua phong kiến thừa hưởng vinh quang. Thế rồi, chỉ vì chìm ngập quá lâu trong sự theo đuôi, chưa từng nghĩ đến chuyện sáng tạo, người ta lại giấu diếm “làm mới” cả những loại kiến thức tồi tệ của Miền Nam như lí thuyết Kim Định mà không thấy ngượng ngùng&#8230; Tư tưởng dân tộc quá khích từng được thúc đẩy trong chiến tranh nay có thêm đà nở rộ đến tầm mức quốc gia mà không mặc cảm, vì thêm những dạng hình tân tiến có tiền bạc ngập tràn bào chữa: phong thuỷ, ngoại cảm và các hội hè đình đám thúc đẩy bởi các đồng ngoại hối du lịch, che lấp nguyện vọng thăng quan tiến chức đưa đẩy với cõi thiêng liêng. Con đường “tìm về dân tộc” trong ước mơ, thực hiện bằng súng đạn rốt lại vẫn có một chút gì giông giống với thế kỉ XIX.</p>
<p>Rồi cũng giống như thời Đàng Cựu, giống ông quan, nhà khoa bảng có danh phận trí thức Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng, kể cả có lúc là Trạng nguyên&#8230; ngoài việc vặn vẹo câu cú trong trường thi, chết đi giỏi lắm là để lại các sáng tác dạy con cháu, điểm vài bài thơ, câu đối thù tạc, đưa tiễn, điếu tang&#8230; Cái làng nhàng kiến thức đó xuất hiện lại ở thời đại ngày nay, với những dự định khoanh vùng to tát lập bia Tiến sĩ thời hiện đại, bị la ó nhưng vẫn là ước mong của những nhà lãnh đạo thủ đô Hà Nội mở rộng để cạnh tranh diện tích với Thành phố Hồ Chí Minh mà thu hút đầu tư, nâng mặt bằng giá trị đất đai. Và cũng đủ cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thấy mình có dân khoa bảng điều hành qua chủ trương “chuẩn hoá” lập “khung cán bộ có bằng cấp tương đương chức vụ”, nên giải tán nhóm Cố vấn của các thủ tướng trước, và ra lệnh kiểm soát các tập họp trí thức ngoài luồng. Một Viện Cơ mật của thời mới cũng là đủ rồi. Không kể đến hơn 600 tờ báo và các cơ quan truyền thông khác, sự thụt lùi thảm hại của tờ báo <em>Tuổi Trẻ (Tp. Hồ Chí Minh) </em>là minh chứng cho thế hệ sôi nổi sau chiến tranh được đi vào “định hướng” dân tộc, định hướng “xã hội chủ nghĩa” khiến cho một người con của Lê Duẩn, dù được hưởng ưu thế, cũng phải lên tiếng phàn nàn. Và do đó, thành phần thiểu số chính trị, tộc đoàn, lại có phần cũng như ngày xưa, đi tìm vây cánh, tìm sự an ủi tinh thần ở đạo giáo, khuất lấp trong nước với nhóm Hoà Hảo không quốc doanh, với các ông đạo mới kiểu Ân Đàn Đại Đạo / Hội Đồng Công Luật Công Án Bia Sơn vừa bị phác giác (5-2-2012), với sự tiếp nhận các tông đồ của Thanh Hải Vô Thượng Sư từ Mĩ không còn xa lạ, và những người tu theo Pháp Luân Công từ Trung Hoa quen thuộc, vẫn thấy tập luyện lẻ loi an lành trên công viên Tp. Hồ Chí Minh khi không có lệnh ra toà, chắc là để vừa lòng đàn anh&#8230; Nhưng với thời thế mới thì ước vọng ít tuyệt vọng hơn, là ở người xa: Tin Lành, Công Giáo, báo hiệu một sự dồn nén nổ bùng mới. Có sự “trở lại đạo” của những người chống đối, có sự bền bỉ tìm ơn phước không thấy ở đời này của những tập nhóm dân tộc thiểu số bị bỏ rơi&#8230; Và tuy đã thấy có những “thắng lợi” khuất lấp của giáo dân vài địa phương, có những buổi cầu nguyện hiệp thông với nạn nhân tranh đấu do nhà thờ tổ chức nhưng Đảng vẫn còn vững vàng qua các biến động ở Hà Nội, Đà Nẵng&#8230; buộc được Giáo hội Công Giáo địa phương lùi bước bằng những nhóm “quần chúng tự phát”, đối chọi với bổn đạo thời mới “vác thánh giá” chờ chực làm Thánh tử đạo cho ngày sau.</p>
<p>Tính<em> nhất thể hoá,</em> nói theo lối văn minh của chủ trương Đảng trị trên đường tìm kiếm sự đồng nhất Đảng và Nhà nước, càng lúc càng đạt được đỉnh cao để Đảng vượt qua những khó khăn, nhấn chìm những đổ vỡ khác. Đất nước thông thương với thế giới, dù lẹt đẹt đàng sau cũng hưởng lây được tình trạng phát triển chung, để người dân chịu bằng lòng với cuộc sống khi không có cách nào thoát khỏi sự hướng dẫn chung. Sự đồng tình thụ động đó làm thui chột những bất bình, ngăn cản tiếp viện cho những phản đối vốn là thường tình ở những xứ sở khác. Sự đè nén chính trị có chuyển qua các bất ổn xã hội thì người dân vẫn chịu đựng được, vì “đã quen rồi”. Một bộ phận lớn dân chúng chưa quen phải phủ nhận chế độ do chính mình nồng nhiệt tạo dựng hay được thừa hưởng thành quả từ đó. Trên phần đất còn nhiều khác biệt, với kiến thức thấp kém của người lãnh đạo không cần giấu diếm, người ta áp dụng phương thức tập thể lãnh đạo theo cách chia một chừng mực tự trị địa phương (dù có khi dẫn đến lộng hành) với các ông bí thư tỉnh là uỷ viên trung ương Đảng, với sự chia quyền trên cấp cao cho những người xuất thân từ các vùng miền lớn: Tổng bí thư là của Miền Bắc, Chủ tịch nước của Miền Trung (hay ở “phía Nam”), Thủ tướng của Miền Nam.</p>
<p>Điều thể hiện dấu vết quá khứ đó, dù có là một sự khôn ngoan chính trị thì cũng đè nặng lên đường hướng phát triển của quốc gia theo một cách thế không đáng hãnh diện mấy. Hai ông Chủ tịch nước từng tỏ lộ sự bất lực của mình, nghĩa là sự kém thế của địa phương mình: Tôn Đức Thắng (“Tao cũng sợ bọn nó”), Nguyễn Minh Triết (lặp lại lời thầy cò văn học ngớ ngẩn). Trương Tấn Sang như người tị nạn ở đất Bắc vì mắc cái rớp Năm Cam. Ông thủ tướng được lấy từ một vùng cho là có khuynh hướng phóng khoáng thì cũng không thoát khỏi những kềm kẹp của thực tế chính trị chung để lợi dụng thăng tiến cho bản thân. Có đem văn chương xu phụ rổn rảng ra kêu gào tình tự dân tộc thì cuộc chiến vừa qua cũng vẫn là thắng lợi của phần phía Bắc, đã đưa đến một tình trạng Nam tiến tràn ngập chưa từng có trong lịch sử, mang cả cây cối như cây hoa sữa nồng nặc “mùi thơm” trên các tỉnh Miền Trung, tràn lên Tây Nguyên, xuống đến Trà Vinh, lấn lướt khiến dân Nam Kì chịu phận đàn em mà vẫn ấm ức. Nghe Lê Văn Tám của địa phương bị đánh đổ để chứng minh cho tinh thần trung thực của sử học thời đại có Đảng mà không dám đề cập tới Phan Đình Giót, La Văn Cầu. Lũ “con cháu mấy đời hoang” không thường nghe nhắc “Ta nhớ người xưa, ôi Nguyễn Hoàng”, không thể đòi lại tên đường, tên trường đã bị Tổng Bí thư Trần Phú, uỷ viên Đệ Tam Quốc tế Lê Hồng Phong chiếm đoạt nên cầy cục vận động một phong trào Thế kỉ XXI nhìn lại Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, nhà Nguyễn&#8230; để có những tên trường nơi khuất lấp hơn, hay né tránh chen vào nơi ở mới những Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Phúc Nguyên&#8230; khá khuất lấp.</p>
<p>Sự tràn lấn còn đe doạ diệt vong cho cả những tập thể xa khuất trên Tây Nguyên, những người dù đã mất tiếng Man/Mọi/Thượng vẫn không được đối xử khá hơn. Những nhóm di dân 1954 vào các khu trù mật, dinh điền tuy làm nổi lên phong trào FULRO nhưng chưa đủ làm xáo trộn phần đất này như tình trạng không ai ngăn chặn được bàn tay Đảng sau 1975, lúc đầu với những cuộc di dân khai hoang vỡ hoá kiểu truyền thống: “Đấy, cứ vào mà chặt, bao nhiêu thì nhiêu , để lấy đất làm ruộng, trồng khoai”. Rồi văn minh hơn, với rừng cà phê đưa mức sản xuất chỉ sau Brazil, với mỏ bauxit đứng hàng thứ ba (?) trên thế giới. Tê giác tuyệt giống, voi nhà tàn tạ không có voi rừng kế tục mà còn bị săn đuổi cả những nhúm lông đuôi. Cồng chiêng bị đem ra rao bán dù cũng có những tổ chức hội thảo xin được bằng cấp UNESCO, thực hiện được tính cách vừa phô trương chính sách vừa thoả mãn tính hiếu danh truyền thống. Công thần các tộc thiểu số trong cuộc chiến được Đảng hoá, chỉ còn chờ chết để được ma chay rình rang.</p>
<p>Dấu vết sông Gianh với sự đoạt chiếm hai kinh đô sau 1975, tuy làm cho Huế ngỡ ngàng nhưng khiến “Miền Trung” chỉ còn là phía nam đèo Hải Vân thôi. Ông Võ Chí Công còn hãnh diện vì công tích vào sinh ra tử nhưng ông Trần Đức Lương quả là “đẻ bọc điều”. Sự phát triển của phần phía Nam, nhất là phần cuối chỉ có nghĩa là một sự cung phụng cho phần phía Bắc hãnh diện cố giữ “nếp nhà”, “truyền thống”, “tính dân tộc xã hội chủ nghĩa”&#8230; thực tế là ghìm phát triển nên cũng góp phần đẩy lớp di dân tự do, cuối thế kỉ XX tràn ngập các thành phố phía nam, hay lén lút phá rừng trên núi đồi phía tây. Vét cạn kiệt than đá ở Quảng Ninh cho Trung Quốc thì người ta cào bới bauxit trên Tây Nguyên, bùn đỏ có lan tràn thì ngập lưu vực Đồng Nai chứ không đổ xuống đồng bằng sông Hồng. Lập vài nhà máy nguyên tử (biết rằng) không an toàn thì đặt ở xứ Ninh Thuận của Chàm cũ chứ không trên đất Hà Nội để hưởng nguồn điện lực văn minh gần gũi. Cho mãi đến năm 2009, một chuyên viên còn cho thấy sự phân phối chênh lệch không che giấu về nghiên cứu (83/14 đề tài) dành cho các trường Hà Nội so với các trường Huế, Cần Thơ, và Sài Gòn, nơi được coi là hãnh diện mang tên người sáng lập đất nước hiên tại. Cả vùng đồng bằng Cửu Long cung cấp đến 90% lượng lúa gạo xuất khẩu mà không được hoàn trả đúng mức, khiến cho mực sống của dân chúng chỉ được đứng vào hàng trên vùng Tây Bắc (thượng du Miền Bắc). Việc điều chỉnh các quan điểm chính trị về nhân vật, sự kiện xảy ra ở phần đất phía Nam thật là chật vật, có khi phản ứng chống đối lại đùn đẩy cho thành phần kiên định bảo thủ ở địa phương cho có vẻ công bình, dân chủ mà thật mang tính chất quyết định nếu không có quyền lợi phía Bắc chen vào. (Ví dụ vấn đề nhà Nguyễn). Có phải đàn áp dân chúng thì việc thi hành ở phía Nam cũng thực hiện dễ dàng, suôn sẻ hơn vì vướng vất ưu thế chống “nguỵ” đâu đó. Chỉ nhìn vào tình hình biểu tình trong các tháng 6-8/2011 ở hai thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là thấy dấu vết rơi rớt bạn thù ở nơi nào rồi. Có nghĩa là đường hướng điều hành lãnh đạo vẫn đến từ phía Bắc theo đúng vị trí dành cho Tổng bí thư. Cho đất nước giẫm trên vết mòn cũ được mở thành đại lộ thênh thang, tít tắp mù khơi.</p>
<p>Với thời mới thì sức mạnh vẫn có dáng dấp đạo lí kèm theo. Cho nên tuyên truyền về Hùng Vương cao rao từ ông Chủ tịch đầu tiên, được phụ hoạ khoa học đeo theo trống đồng Đông Sơn bao phủ khắp nước, với sao bản khu đền Nghĩa Lĩnh ở Đà Lạt, với các đền Hùng nằm ở các tỉnh, có khi cố gắng kèm theo đền Quốc mẫu Âu Cơ tận Đất Mũi Cà Mau, hình như là từ một miếu Bà Thiên Hậu của đám người Hoa phỉnh nịnh địa phương, khôn ngoan cầu đất sống! Các ông vua Hùng chính thức không những có thêm niên hiệu, mà 98 “lang” đầu tiên (Lang Liêu có tên rồi!) cũng được vẽ tên đẹp đẽ trong sách Bộ Giáo dục dạy thành phần lãnh đạo tương lai. Quốc tổ, Quốc mẫu đội mũ Đường tăng, ông vua Hùng ngự trong Kim Điện hoành tráng của khu vui chơi ở Bình Dương mang dáng truyện tích phim ảnh Trung Quốc (Lục địa, Hongkong, Đài Loan), có các nhân vật đứng đầu nước, không thiếu một ai, đến chiêm bái, gộp cả Đại sứ Mĩ M. Michalak như cầu chứng quốc tế. Với sự ép uổng chèo kéo, chắc là cuối cùng Phú Thọ cũng lãnh được bằng UNESCO để có sự chuẩn nhận là Đất Tổ của dân tộc. Vậy là bởi thiếu một lí thuyết chính trị mà chưa có thể bỏ giáo trình mac-lênin nhồi nhét cho học trò, đảng viên vì còn cần phải gắn bó với công tích mới đây, người ta mơ hồ xây dựng một <em>chủ nghĩa</em> <em>Huyết thống tập thể</em> cho tính chính nghĩa của thời thống nhất mới. Cho nên dù là hết chiến tranh, với những đầu óc mang đầy tính truyền thống địa phương như thế, con đường hướng về phương Bắc xa là dĩ nhiên, dù mới có xung đột nổ bùng, xung đột mang hãnh diện ban đầu nhưng càng về lâu càng thấy thấm đòn bất ngờ. Nhất là với tầng lớp thừa hưởng sự sung túc của hậu chiến, thay thế lớp người dày dạn cực nhọc trong chiến tranh.</p>
<p>Mơn trớn vỗ về và cúi đầu tuân phục, giận dữ mắng nhiếc và giả lả làm thân là chuyện muôn đời của hai nước Trung Việt. Điều đó không thể nào không trở lại trong thời kì có “tiến trình vương hoá mới (1949-?)” xảy ra trong cuộc chiến giành độc lập, với thời kì xoay đổi “gió Đông thổi bạt gió Tây” trên tầm diện địa toàn cầu. Hết chiến tranh, cái thế dựa dẫm đa phương chấm dứt, sự chọn lựa thiên lệch đã thành hình, gió Đông trở thành gió Bấc lạnh căm căm, triền miên để quá khứ trỗi dậy thúc đẩy hành động đã trở thành tự nhiên. Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh khi bị Nguyễn Huệ xua đuổi, Quang Toản cũng gởi sứ bộ qua Thanh khi bị Nguyễn Ánh truy bức, rồi đến Tự Đức đang khó khăn nhiều năm với dư đảng Thái Bình Thiên Quốc mà cũng mời quân Thanh đối phó với quân Pháp. Trước hoàn cảnh đe dọa mất địa vị, bản thân tinh thần dân tộc không còn chỗ đứng thì lại được tính chất đồng văn ngày xưa – thêm tình đồng chí ve vản bây giờ, mời gọi phân bua cho hành động cầu viện, có di chứng kì thị Di Man “chống diễn biến hoà bình” vơ vào chính nghĩa cho sự kết hợp. Đã nói: “Giữ chính quyền còn khó hơn&#8230;”, mà đã chiếm chính quyền bằng bất cứ giá nào thì đương nhiên cũng phải giữ chính quyền với bất cứ giá nào, huống là nay đã có thêm quyền lợi thủ đắc to lớn có triển vọng vô chừng không thể đánh mất, để tưởng tượng ra thảm cảnh “nằm gầm cầu Thăng Long” một khi bị hất cẳng, như nhà lãnh đạo đã tiên liệu cho tầng lớp mình.</p>
<p>Cho nên cũng là chuyện thường tình khi Liên Xô trên đà sụp đổ, dù bị pháo biên giới sẵn sàng nhả đạn, người ta kéo nhau qua Thành Đô cầu hoà (1990). Những người chủ trương cũng thật là kẻ tiêu biểu của tình thế: ông Đỗ Mười níu kéo thời ân tình xã hội chủ nghĩa say đắm thà mất đất cho bạn chứ không đành để cho nguỵ, tư bản chiếm đoạt, kết hợp đúng cơ hội với ông Nguyễn Văn Linh, người một lúc sau năm 1986, hăng hái “cần làm ngay” để rồi thấy nguy cơ của đổi mới là làm đánh mất công tích lao khổ mấy mươi năm của mình, của Đảng. Tuy nhiên về mặt thực tế, đây là một chiến thuật đúng đắn, có nền tảng tồn tại dài lâu khiến cho những kẻ muốn tranh chiếm quyền hành, vốn không cần đến tiếng nói của dân chúng, thấy có thể vượt qua được các sự kèn cựa bên trong tập thể chóp bu bằng cách hướng sự vận động ngay từ Bắc Kinh xa. Và thấy thành công. Trong thời gian xung đột biển Đông nổ bùng vì người anh lớn chèn ép thái quá, gây những cuộc biểu tình tưởng chừng không còn có thể xảy ra ở đất nước này, quan sát viên ngoại quốc đã đoán là tình hình sẽ dịu đi vì có Tổng bí thư thân với Trung Quốc, với một bộ sậu cai trị mới trình làng, biểu lộ một quyền lực không suy suyển bên trong, chấp nhận cầu thân không màng tăm tiếng!</p>
<p>Các lãnh tụ đã không phải cô độc trong hành động cứu Đảng như thế. Quang Trung, Nguyễn Ánh cả hai đều mới chiến thắng mà phải cầu hoà, cầu phong chỉ vì lớp sĩ phu Bắc Hà các ông nhờ cậy chỉ thấy có mỗi một con đường đó. Người ta nhắc đến “bài học lịch sử” thâm nhiễm từ trong cốt tuỷ mà không thấy rằng <em>lịch sử là chuyện của quá khứ mà tương lai thì nằm trong tay người hiện tại, </em>cho nên không thể có bài học lịch sử nào phải lặp lại hết. Ấy thế mà người ta vẫn nhắc: “Từ ngày xưa, ta vẫn phải cầu phong&#8230;” Và nhà ngoại giao viện dẫn tục ngữ ca dao quen thuộc trong vùng của thời xưa cũ, áp dụng cho đời mới: “Một câu nhịn là chín câu lành / Lạt mềm buộc chặt”&#8230; để biện minh cho cách hành xử thậm thụt ở tương quan quốc gia, dù thật là lạc lõng với thế giới ngày nay. “Đảng”, tự bản chất, và qua chiến tranh cũng chưa từng biết được một đường lối ngoại giao giữa quốc gia với quốc gia thì hành xử như thế không phải là chuyện xa lạ.</p>
<p>Chưa nói đến sự đe doạ tổng thể, cả miền Bắc (rồi vào tận tột cùng phía Nam) rõ là đang tiêu thụ hàng hoá Trung Quốc như một cách thế hối lộ triều cống, đang sống trở thành thói quen theo các cơn sổ mũi, ấm đầu, dở chứng tinh nghịch của các tỉnh bên kia biên giới. Sự lệ thuộc kinh tế thật không cần giấu diếm, nói gì đến lệ thuộc tinh thần. Hãy nhìn các dãy phố treo đèn lồng đỏ trên vài tỉnh Miền Bắc vào dịp Tết, ngày kỉ niệm, theo lệnh phát xuất từ chính quyền địa phương để thấy kẻ nội thù đông đúc êm dịu bên mình. Sự sợ hãi có cái thân tình nằm bên trong nên che lấp được sự phân vân. Việc xoá bỏ các dấu tích “chống Tàu” trong quá khứ, thực hiện từ bên trên làm cho anh công an xã coi việc nể nang người công nhân nước bạn quậy phá xóm làng chỉ là làm đúng chủ trương của thời mới, không thấy là chạm đến quyền uy ngày thường của anh để anh khỏi nặng tay như khi dẫn đến tai vạ chết người dân cùng nước.</p>
<p>Rõ là không phải chỉ nhà ngoại giao bị kềm hãm với quá khứ. Các tay làm ăn trong nước, ngay cả trước thời vào WTO, cũng thấy giao thiệp với người Trung Hoa là theo được một nền nếp quen thuộc, là thuận lợi hơn với các công ti Âu Mĩ phải chịu nhiều ràng buộc pháp luật, có tính cả điều khoản đạo lí kinh doanh, như đã thấy với các công ti Nhật Bản, Australia. Thời đại mới, chính trị không còn là thống soái miễn là không phạm đến quyền uy của Đảng, nhất là với tình trạng có các cơ quan chủ quản mà sự yếu kém năng lực quản lí còn là do bởi sự khích động tiền bạc thu tóm, đi theo với tính bẩn chật bòn rút có gốc rễ từ trong quá khứ xa, thật xa. Các nhà kinh doanh Hongkong, Đài Loan đắc thế ở phía Nam, núp bóng các nhân vật Việt, cơ sở Việt bao chiếm công việc, thu tóm tài nguyên đâu có cần phải giương cao cờ đỏ, sao tua chùm! Có sẵn đất để các thầy cò xúi giục cho mướn nên không biết, và không cần tạo dựng cơ sở cho nền kĩ nghệ nội địa để vượt thoát giai đoạn vét của nhà ra ăn. Sợ mất quyền lực nên chỉ để tư nhân góp phần nuôi sống chế độ qua chừng mực nuôi sống bản thân họ, được sao hay vậy, chừa tổng lực cho hệ thống doanh nghiệp nhà nước chủ đạo nằm dưới sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng với kiến thức như đã biết. Vì thế, vì không thực chất nên tàu Vinashin chưa “ra biển lớn” đã chìm, chưa kể là biển Đông đã bị ngăn chận với 9 hải lí được chỉ định, khiến tầng lớp lãnh đạo né tránh, nhẫn nhịn không che giấu, thẳng tay đàn áp phản ứng bên trong dù biết là có hại cho uy tín của mình. Có những ngăn chận hội bàn về biển đảo. Trong các trưng bày biểu diễn hội lễ đã không thấy bóng dáng Hoàng Sa, chỉ còn Trường Sa gượng gạo. Họ “sợ” thấy rõ nhưng chút máu mặt hiện lại nhờ sự thúc đẩy của quần chúng, lại phải chuyển qua trấn áp để dành ưu tiên cho sự tồn tại (may ra) vững bền của Tổ chức. Hai thực thể Triều đình và Đất nước của truyền thống vẫn còn đó để có những ứng xử co rút, dùng dằng, bất chợt phản ứng&#8230; xuất hiện trên xứ sở Việt Nam của tình thế độc lập, hậu thống nhất.</p>
<p>Đây không phải là định mệnh, mà là chặng đường lịch sử của con người Việt Nam cụ thể thời hiện đại, tạo dựng ra. Và thế kỉ XXI đã khác. Đã qua rồi, thế hệ (19)75 hồ hởi phấn khởi hay ngậm ngùi cay đắng, tất cả nay chỉ còn là vang bóng gượng gạo. Đường cầu vượt sông, xuyên núi, lấn biển. Thành phố ngợp người với các cao ốc muốn cạnh tranh ở tầm mức thế giới nhưng cũng còn chừa chỗ cho danh xưng “dinh” của các Thị uỷ, Tỉnh uỷ với cờ phướn ngập đường, phần phật tung bay đầy uy thế. Thế hệ hiện tại hưởng thành quả 1975 với Mercedes, cellphone, internet&#8230; đã định hình khá rõ, rõ ràng thờ ơ với các vấn đề chính trị dù vẫn còn dáng dấp hiện diện qua các biến động năm 2011 của các tân cựu hương chức, trưởng họ, trưởng ngõ và tuần đinh Đại Việt trên đất Đại làng Hà Nội (Lady Borton), thủ đô của Triều đại Đảng cường ngạnh vững vàng bám trụ. Sự xoay chiều Đổi mới thu thập kĩ thuật phương Tây, trong tình thế của sự ru ngủ hãnh diện “trở về với dân tộc / truyền thống”, đã làm đà cho “tiến trình vương hoá mới” có cơ sở vững chắc thêm. Chút ảnh hưởng từ phía đối ứng di man chỉ là dấu vết phản ứng theo “lề trái”, chìm lấp trong xầm xì, lạc loài trên mạng toàn cầu, đẩy đưa một tình hình chuyển biến về một xã hội dân sự tiến triển rất chậm chạp và cực nhọc, đổ tội tình xuống đầu một vài cá nhân lạc loài, nhiệt thành hứng chịu. Trong khi đó một nước Trung Hoa lớn mạnh, tự phụ với nền văn minh cổ truyền của mình, muốn tìm thêm dạng mới, một thứ Pax Sinica vương hoá mới có hướng vọng toàn cầu, mở rộng ngay ở vòng trong với chủ trương “một nước ba chế độ” thì cũng cần giữ một đàn em ngoan ngoãn bất định ở vòng ngoài, như đã có một đàn em ươn ngạnh ngông nghênh phía đông bắc. Cho nên, có thể là về lâu về dài vì bị ép đến kiệt lực, sẽ chỉ mất / buông bỏ “các bãi chim ỉa” chứ nước không mất đâu, bởi vì nếu có đe doạ mất thì sẽ có tận lực chống đánh. Sự lấn lướt của Trung Quốc vốn cũng là một yếu tố giữ gìn quyền lực, tiêu cực là mong mỏi các nước liên quan (Mĩ, Đông Nam Á) thấy động chen vào, tích cực là dân chúng vẫn phải né tránh chuyện xô đổ Đảng. Sẽ vẫn còn ghế ngồi ở Liên Hiệp Quốc để lên tiếng, còn cờ để phất, còn dân chúng để vuốt ve và trấn áp, còn ban bệ chính quyền cho lịch sử đang đi tới&#8230; Phần còn lại vẫn sẽ đủ cho cuộc sống làng nhàng, vất vưởng có thứ bậc để mà hãnh diện với nhau, như ngày xưa. Vì thế chỉ e là phải nhẫn nhịn tuỳ thuộc dài lâu dù có những trái chứng bất chợt. Cũng như ngày xưa.</p>
<p><em>sau Tết Nhâm Thìn 2012</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>SÁCH BÁO THAM KHẢO</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Phần Một</strong></p>
<p>Borri, Cristophoro, <em>Xứ Đàng Trong năm 1621,</em> Nguyễn Khắc Xuyên, Nguyễn Nghị dịch, Nxb. TP. HCM 1997. Có lẽ vì ảnh hưởng “thời thế” mà người ta đã sử dụng một bản gốc quá sơ lược. Có thể xem một bản khác cũng dễ tìm, nơi <em>BAVH </em>1931/3-4.</p>
<p>Chu Thuấn Thuỷ, <em>Kí sự đến Việt Nam năm 1657 </em>(bản dịch<em> An Nam cung dịch kỉ sự </em>của Vĩnh Sính), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, H. 1999.</p>
<p>Dương Văn An, <em>Ô Châu cận lục,</em> Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc dịch, chú, Nxb. Thuận Hoá, Huế 2001.</p>
<p><em>Đại Việt sử kí toàn thư,</em> Bốn tập, bản dịch và nguyên văn, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1993.</p>
<p><em>Đại Việt sử lược,</em> Trần Quốc Vượng dịch, Đinh Khắc Thuân đối chiếu, chỉnh lí, Nxb. Thuận Hoá 2005. Khác với bản dịch 1960, điều nổi bật rõ rệt của bản in lần này là có kèm theo nguyên văn chữ Hán, chỉ tiếc là người chỉnh lí không chịu giữ nguyên cách trình bày theo bản văn cổ mà lại xếp các trang theo lối tân thời bây giờ trong khi không thể đổi cách thu xếp các dòng chữ bên trong trang (từ trên xuống dưới, rồi trở lên đầu từ phải sang trái) nên gây lúng túng cho người đọc. Không hiểu từ đâu có cảm hứng “cải cách” này bởi vì đã thấy xuất hiện đều đặn trong trong các bản văn cổ của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học cũng như nơi bản in lại <em>An Nam chí lược</em> của Nxb. Lao Động và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây 2009, từ bản dịch của Viện Đại học Huế 1961.</p>
<p>Dampier, W., <em>Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688,</em> Hoàng Anh Tuấn dịch, chú, Nxb. Thế Giới, H. 2006.</p>
<p><em>Đặng gia phả hệ toản chính thực lục và Đặng gia phả kí tục biên,</em> Ngô Thế Long dịch, Nxb. Thế Giới 2006.</p>
<p><em>Hà Tiên trấn Hiệp trấn, Mạc thị gia phả, Hà Tiên – Kiên Giang,</em> Nguyễn Văn Nguyên dịch và chú thích, Nxb. Thế Giới 2006.</p>
<p>Hồ Nguyên Trừng, “Nam Ông mộng lục” trong <em>Nam Ông mộng lục và các truyện khác, </em>Nxb. Văn học, H. 2001. Cũng có in trong <em>Thơ văn Lí Trần</em> tập III.</p>
<p><em>Hồng Đức thiện chính thư,</em> Nguyễn Sĩ Giác phiên dịch, Vũ Văn Mẫu đề tựa, Nam Hà Ấn quán, Sài Gòn 1959.</p>
<p>Lê Quý Đôn, <em>Kiến văn tiểu lục,</em> quyển nhất, Lê Mạnh Liêu dịch, tập nhì Đàm Duy Tạo dịch, Bộ QGGD xb., Sài Gòn 1963, 1965.</p>
<p>Lê Quý Đôn, <em>Phủ biên tạp lục,</em> Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa Học, H. 1964.</p>
<p>Lê Quý Đôn, <em>Vân Đài loại ngữ,</em> Trần Văn Giáp dịch, Nxb. Văn hoá Thông tin, H. 2006.</p>
<p>Lê Tắc, <em>An Nam chí lược, </em>bản dịch Viện Đại học Huế 1961. Như đã nói, hiện có bản mới 2009.<em> </em></p>
<p>Lí Tế Xuyên, <em>Việt điện u linh tập,</em> bản dịch của Lê Hữu Mục 1960, Cơ sở xuất bản Đại Nam in lại ở Hoa Kì, không năm.</p>
<p><em>Lê triều chiếu lịnh thiện chính, </em>Nguyễn Sĩ Giác dịch, Nhà in Bình Minh, Sài Gòn 1961.</p>
<p>Ngô Cao Lãng, <em>Lịch triều tạp kỉ,</em> Hoa Bằng, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1995.</p>
<p>Ngô Thì Chí, <em>Hoàng Lê nhất thống chí, </em>Ngô Tất Tố dịch, Tự Do tái bản, Sài Gòn 1958. Có các bản dịch mới hơn nhưng không tiếp cận được.</p>
<p>Nguyễn Khoa Chiêm, <em>Nam triều công nghiệp diễn chí, </em>Ngô Đức Thọ &amp; Nguyễn Thúy Nga dịch, chú, giới thiệu, Nxb. Hội Nhà Văn 2003.</p>
<p><em>Phan gia công phả, Gia Thiện &#8211; Hà Tĩnh, </em>Nguyễn Ngọc Nhuận dịch và chú giải, Phan Huy Lê hiệu đính, Nxb. Thế giới 2006.</p>
<p>Phan Huy Chú, <em>Lịch triều hiến chương loại chí, </em>bản dịch Ba tập, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1992.</p>
<p>Phan Thúc Trực, <em>Quốc sử di biên, </em>bản dịch Viện Sử Học, H. 2009.</p>
<p>Quốc sử quán Nguyễn, <em>Đại Nam thực lục</em> <em>(tiền biên và chính biên),</em> Mười tập, Nxb. Giáo Dục, từ 2002.</p>
<p>Quốc sử quán Nguyễn, <em>Đại Nam liệt truyện (tiền biên và chính biên),</em> Bốn tập. Nxb. Thuận Hoá 1993. Đáng lưu ý, trong các sách dịch từ chữ Hán chuyển qua chữ quốc ngữ, việc coi sóc in ấn không được kĩ lắm (cả trong sách của Bộ GD xuất bản) nên phát sinh những sai sót mà phải có chữ Hán kèm theo thì mới tránh được lầm lạc. Mỗi một dấu của chữ Việt ngày nay là thêm hay bớt một chữ, mang nghĩa hoàn toàn khác mà người ta hình như không quan tâm lắm, ví dụ đã thấy nơi sách của một sử gia được tán tụng, có tên Đỗ THÀNH Nhân thay vì Đỗ THANH Nhân!</p>
<p>Quốc sử quán Nguyễn, <em>Đại Nam nhất thống chí,</em> 5 tập, bản dịch Viện Sử Học Việt Nam, Nxb. Thuận Hoá 2006.</p>
<p><em>Quốc triều hình luật (Hình luật triều Lê),</em> Lưỡng Thần Cao Nãi Quang dịch, Nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn 1956.</p>
<p>Tavernier, Jean-Baptiste, <em>Tập du kí mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài, </em>Lê Tư Lành dịch, Nxb. Thế Giới, 2005.</p>
<p>Trần Thế Pháp, <em>Lĩnh Nam chích quái, </em>Lê Hữu Mục dịch, Nxb. Khai Trí. Sài Gòn 1961.</p>
<p>Trung tâm Khoa học Xã hội &amp; Nhân văn Quốc gia – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, [Ngô Thì Sĩ] <em>Đại Việt sử kí toàn thư tiền biên, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1997.</p>
<p>Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, <em>Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, </em>Ba tập, Nxb. Văn Học 2001. Cũng như các tập cùng loại, sách này có tính cách bề thế, công phu, với bản chữ Hán kèm theo nhưng có rất nhiều khuyết điểm về mặt nghiên cứu vì những sơ hở phương pháp học, nhất là vì vướng phải tinh thần bảo thủ chặt chẽ của người chủ trương khiến cho đến thế kỉ XXI mà đọc vẫn tưởng như ở những năm 60 của thế kỉ XX.</p>
<p>Trương Như Tảng with David Chanoff and Doan Van Toai, <em>A Vietcong Memoir,</em> Harcourt Brace Jovanovitch Publishers, San Diego, New York 1985.</p>
<p>Vũ Đình Hoè, <em>Thanh Nghị, </em>Hồi kí, Nxb. Văn học, H. 2000.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong>Phần Hai</strong></p>
<p>Barker, R. Allan, Dr., <em>The Historical Cash Coins of Việt Nam, Part I: Official and Semi-Official Coins, </em>Singapore 2004.</p>
<p>Chandler, D., <em>A History of Cambodia, </em>2<sup>nd</sup> edition, Silkworm Books, Bangkok 1993.</p>
<p>Chiêm Toàn Hữu, <em>Văn hoá Nam Chiếu Đại Lí </em>(bản dịch), Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2004.</p>
<p>Coedes, G., <em>Les peuples de la péninsule indochinoise,</em> Dunod, Paris 1962.</p>
<p><em>Commerce et navigation en Asie du Sud-Est (XIVe-XIXe siècle), </em>Nguyên Thê Anh &#8211; Yoghiaki Ishizawa eds., L’Harmattan, Paris 1999.</p>
<p>Đào Duy Anh, <em>Chữ nôm, nguồn gốc – cấu tạo – diễn biến,</em> Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1975.</p>
<p>Đào Duy Anh, <em>Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 2003.</p>
<p>Đỗ Quang Chính, <em>Lịch sử chữ quốc ngữ (1620-1659), </em>Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1972.</p>
<p>Fairbank, John King, <em>China, a New History, </em>Harvard University Press, Cambridge Massachusetts, London 1992.</p>
<p>Groslier, Bernard Phillippe, <em>Indochine – Carrefour des arts,</em> Ed. A. Michel, Paris 1961.</p>
<p>Guillemot, Francois, “Trực diện với cái chết và nỗi đau: vấn đề Thanh niên Xung phong trong chiến tranh Việt Nam (1950-1975)”, Talawas blog, tháng 4-2010.</p>
<p>Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm,<em> Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông – Thế kỉ XIII, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1975.</p>
<p>Hồ Sơn Diệp, <em>Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp, 1945-1954,</em> Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2003.</p>
<p>Hall, Kenneth, R., <em>Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia,</em> University of Hawaii Press, Honolulu 1985.</p>
<p>Higham, Ch., <em>The Bronze Age of SEA,</em> Cambridge University Press 1996.</p>
<p>Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương, Nguyễn Đại Phúc, <em>Đặc khảo về hát sắc bùa, </em>Trung tâm Văn hoá Tp. Hồ Chí Minh xb. 2000.</p>
<p>Inrasara, <em>Văn học Chăm. Khái luận – Văn tuyển, </em>Nxb. Văn hoá Dân tộc 1994.<em> </em></p>
<p>Inrasara, <em>Ariya, </em>Nxb. Văn Nghệ 2006.</p>
<p>Inrasara, <em>Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố Chăm, </em>Nxb. Văn hoá Dân tộc 2006.</p>
<p>Jacques, Roland, <em>Les misionnaires portugais et les débuts de l’Eglise catholique au Viet-nam – Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kì đầu của Giáo hội Công giáo Việt nam, </em>Bilingue, tome I, Định Hướng Tùng thư, 2004.</p>
<p>Khuất Đẩu, <em>Những tháng năm cuồng nộ,</em> Thư Ấn Quán (Mĩ) xuất bản, 2009. Tuy đề là “truyện dài” nhưng là thuật lại diễn biến rất sát với thực tế xảy ra ở một vùng quê hương Bình Định của tác giả, qua hai cuộc chiến tiếp nối 1945-1975. Tính chất của một địa phương khuất lấp cho ta thấy những sự kiện thật thà, trần trụi thường là được tô vẽ ồn ào ở những trang sách của các địa phương lớn, nói về các nhân vật lớn.</p>
<p><em>La frontière du Vietnam – Histoire des frontières de la péninsule indochinoise, </em>L’Harmattan, Paris 1989.</p>
<p><em>La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996),</em> Hữu Ngọc – Nguyễn Đức Hiền sưu tập, biên soạn, Nxb. Giáo Dục, H. 1998; tập I: Con người và trước tác (Phần I); tập II: Trước tác (Phần II: Lịch sử); tập III: Trước tác (phần III: Văn học).</p>
<p>Lại Nguyên Ân, <em>Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1929, </em>Nxb. Đà Nẵng &#8211; Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây 2005.</p>
<p>Lê Thành Khôi, <em>Histoire du Viet Nam des origines à 1858,</em> Sudestasie1982.</p>
<p>Lê Trung Hoa, <em>Họ và tên người Việt Nam, </em>Nxb. Khoa học Xã hội 2005.<em> </em></p>
<p>Lê Trung Hoa, <em>Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học, </em>Nxb. Khoa học Xã hội 2005.</p>
<p>Li Tana, <em>Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18,</em> Nguyễn Nghị dịch, Nxb. Trẻ 1999.</p>
<p>Li Tana, “A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnamese Coast”, <em>Journal of Southeast Asian Studies, </em>37(1), February 2006, pp. 83-102, The National University of Singapore 2006.</p>
<p>Lương Ninh, <em>Lịch sử Vương quốc Champa,</em> Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội 2004.</p>
<p>Lương Ninh, <em>Vương quốc Phù Nam – Lịch sử và văn hoá,</em> Viện Văn Hóa &amp; Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2005.</p>
<p>Lý Chánh Trung, <em>Một thời đạn bom, một thời hoà bình, </em>Nxb. Tổng hợp Đồng Nai 2005. Dù là loại “tuyển tập”, dấu vết còn lại cũng cho thấy “một thời thành thực ngây thơ” để cho Nguyễn Văn Linh khen “Lý Chánh Trung là một người cộng sản không Đảng”, và một thời rụt rè giác ngộ để cũng ông Tổng bí thư mắng là “kẻ cơ hội” khi thấy Liên Xô tan rã, đòi Đảng thôi dạy Mácxít trong trường học.</p>
<p>Maybon, Charles B., <em>Những người châu Âu ở nước An Nam, </em>Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Nxb. Thế Giới, 2006.</p>
<p>Nguyễn Duy Hinh, <em>Văn minh Lạc Việt,</em> Viện Văn Hoá &amp; Nxb. Văn hoá Thông tin, H. 2004.</p>
<p>Nguyễn Duy Hinh, <em>Văn minh Đại Việt,</em> Viện Văn Hoá &amp; Nxb. Văn hoá Thông tin 2005.</p>
<p>Nguyễn Đình Đầu, <em>Việt Nam, Quốc hiệu và cương vực qua các triều đại,</em> Nxb. Trẻ 2007.</p>
<p>Nguyễn Đình Lê, <em>Lịch sử Việt Nam 1954-1975, </em>Nxb. Giáo Dục Việt Nam 2010. Với áp lực của thời đại trên lớp sử gia công chức, quyển sách cũng nhắc đến tên hai thực thể tương đương: Việt Nam Cộng hoà và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng có gắng gượng lắm thì cũng chỉ đến thế mà thôi. Các bước tiến triển của lịch sử được trình bày trong thời gian đó vẫn không qua cái khung được vẽ trong Văn kiện Đảng, của các bài học thấy thường xuyên sau 1975, do đó các sự biến chính trị, kinh tế, xã hội&#8230; chen vào trong sách dù của thế giới, dù của VNCH cũng vẫn lổn nhổn không hồn vía, không cho thấy có tác động gì trong tình thế chung của đương thời, của tương lai gần, ngoài lí do hiện diện để giải thích chiến thắng 1975. Mà điều này thì lại không cần một quyển sử mới của Hà Nội.</p>
<p>Nguyễn Đình Tư, <em>Non nước Ninh Tbuận, </em>Nxb. Thanh Niên 2003.</p>
<p>Nguyễn Kỳ Phong, <em>Từ điển chiến tranh Việt Nam, </em>Nhà sách Tự Lực xb., Garden Grove, CA 2009.</p>
<p>Nguyễn Ngọc San. <em>Tìm hiểu lịch sử tiếng Việt,</em> Nxb. Đại học Sư phạm, 2003.</p>
<p>Nguyễn Tài Cẩn, <em>Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt,</em> Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1979.</p>
<p>Nguyễn Thế Anh, <em>Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn,</em> bản in lần thứ nhì, Nxb. Lửa Thiêng, Sài Gòn 1951.</p>
<p>Nguyễn Thế Anh, <em>Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, </em>Nxb. Văn Học tái bản, Hà Nội 2008.</p>
<p>Nguyễn Văn Huyên, <em>Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, </em>“Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam”<em>,</em> tập 1, Nxb. Khoa Học &amp; Xã Hội, H. 2003; tập 2: “Văn minh Việt Nam” (1939).</p>
<p>Nguyễn Văn Trung, Tập họp rải rác những thu gom tài liệu thời chiến tranh, các hồi kí của tác giả về tình hình đương thời trong đó có sự tham gia của tác giả. Chúng tôi cũng được sao hay vậy, như thói quen trong tình thế của riêng mình.</p>
<p>Nhà Bảo tàng Đồng Nai, <em>Lịch sử Cù lao Phố, </em>Nxb. Tổng hợp Đồng Nai 2007.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Đại cương lịch sử Việt Nam, </em>Ba tập. Nxb. Giáo Dục, H. 2000.<em></em></p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Lịch sử Việt Nam, </em>Nxb. Trẻ, Tp. HCM. Dự định gồm 6 tập, đến giữa năm 2007 thấy xuất hiện ba tập và có vẻ không có kết thúc. Hình như đây là một dự tính viết lịch sử Việt Nam khác với trung ương nhưng cuối cùng đuối sức.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Tiến trình lịch sử Việt Nam, </em>Nxb. Giáo dục, H. 2004.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Những vấn đề lịch sử Việt Nam, </em>Nguyệt san Xưa &amp; Nay, Nxb. Trẻ, 2001.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>“Đêm trước” Đổi mới, </em>Báo Tuổi Trẻ &#8211; Nxb. Trẻ, Tp. HCM. 2006.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Bài thơ gây chấn động dư luận &amp; “Đêm trước” Đổi mới, </em>Báo Tiền Phong – Nxb. Thông Tấn, H. 2006.</p>
<p>Papin, Philippe, <em>Việt Nam, Hành trình một dân tộc,</em> (nguyên tác: <em>Việt Nam – Parcours d’une nation</em>), <em></em>Nguyễn Khánh Long dịch, Toronto 2001.</p>
<p>Phạm Hồng Tung, <em>Nội các Trần Trọng Kim – Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử, </em>Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2009.</p>
<p>Phan Khoang, <em>Việt Nam Pháp thuộc sử (1862-1945), </em>in lần thứ hai, Tủ sách Sử học, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hoá, S. 1971.</p>
<p><em>Southeast Asia in the 9<sup>th</sup> to 14<sup>th</sup> Centuries, </em>David G. Marr and A.C. Milner eds, Singapore 1986.</p>
<p>Taylor, K.W. <em>The Birth of Vietnam,</em> Berkeley 1983.</p>
<p>Tchang, Mathias, <em>Synchronismes chinois &#8211; Chronologie complète et concordance avec l’ère chrétienne de toute les dates concernant l’histoire de l’Extrême-Orient (Chine, Japon, Corée, Annam, Mongolie, etc.), 2357 av. J.C. – 1904 apr. J.C., </em>Imprimerie de la Mission Catholique, Chang-Hai 1905.</p>
<p><em>Tập bản đồ hành chính Việt Nam, </em>Nxb. Bản Đồ, H. 2003</p>
<p><em>The Cambridge History of Southeast Asia, </em>Vol. I,<em> From Early Times to c. 1500, </em>Nicolas Tarling ed., Cambridge University Press 1999.</p>
<p><em>Thơ văn Lí Trần, </em>tập II, quyển Thượng, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1989</p>
<p><em>Thơ văn Lí Trần, </em>tập III,<em> </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H.1978.</p>
<p>Tô Hoài, <em>Ba người khác, </em>Nxb. Đà Nẵng, 2007. Sách mượn danh “tiểu thuyết”, có lẽ một phần để tránh né tự ái người cầm quyền tuy khác thế hệ nhưng cùng một xuyên suốt quyền lực, do đó vẫn dính dáng tới trách nhiệm về biến động cải cách ruộng đất được vẽ lại ở đây. Phần khác cũng có lẽ chính là sự tự phủ nhận quá khứ của tác giả vì Tô Hoài cũng từng tham gia tích cực vào biến cố với vai trò Đội phó đội cải cách, Chánh toà án đội, và tiếp theo cũng từng được hưởng nhiều ưu thế dành cho nhân vật trong giới văn nghệ phục vụ tích cực cho chế độ.</p>
<p>Trần Trọng Kim, <em>Việt Nam sử lược, </em>Nxb. Văn hoá Thông tin tái bản, H. 1999.</p>
<p>Trung tâm nghiên cứu Khảo cổ học, <em>Một số vấn đề khảo cổ học ở Miền Nam Việt Nam, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 2004.</p>
<p>Trương Hữu Quýnh, <em>Chế độ ruộng đất ở Việt Nam – Thế kỉ XI-XVIII, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, tập I: Thế kỉ XI-XIV, 1982, tập II: Thế kỉ XV-XVIII, 1983.</p>
<p>Tsuboi, Yoshiharu, <em>Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa,</em> (bản dịch của Nguyễn Đình Đầu và ctv.), Hội Sử học Việt Nam, H. 1993. Đến 2011 sách đã có 4 lần xuất hiện ở Việt Nam.</p>
<p>Viện Dân tộc học, <em>Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc),</em> Nxb. Khoa học Xã hội 1978.</p>
<p>Viện Dân tộc học, <em>Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam),</em> Nxb. Khoa học Xã hội 1984.</p>
<p>Viện Văn học, <em>Hoàng đế Lê Thánh Tông – nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1998.</p>
<p>Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, <em>Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, </em>Nguyễn Quang Hồng chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1993</p>
<p>Wheeler, Ch., “Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận Quảng, Seventeen-Eighteen Centuries, <em>Journal of Southeast Asian Studies,</em> 37(1), February 2006, pp. 123-153, The National University of Singapore 2006.</p>
<p>Whitmore, John K., “The Rise of the Coast: Trade, State and Culture of Early Đại Việt”, <em>Journal of Southeast Asian Studies,</em> 37(1), February 2006, pp. 103-122, The National University of Singapore 2006.</p>
<p>Võ Bá Cường, <em>Chuyện tướng Độ, </em>Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2007.</p>
<p>Vũ Thư Hiên, <em>Đêm giữa ban ngày (hồi kí chính trị của một người không làm chính trị),</em> Văn Nghệ xb. California 1997.</p>
<p>Cũng từng tham khảo bài viết từ các tâp họp có định kì hay không mà người viết may mắn có dưới tay:</p>
<p><em>Khảo cổ học,</em></p>
<p><em>Nam Bộ, đất và người,</em></p>
<p><em>Nghiên cứu Huế.</em></p>
<p><em>Nghiên cứu Lịch sử,</em></p>
<p><em>Những phát hiện Khảo cổ học mới, năm..,</em></p>
<p><em>Xưa và Nay,</em></p>
<p>Riêng biệt: CD-ROM <em>Bulletin des Amis du Vieux Hue.</em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Lại cũng phải kể thêm các bài, sách của Tạ Chí Đại Trường liên hệ đến những vấn đề riêng biệt về sử Việt Nam, xuất hiện bất thường nơi này nơi nọ.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>SÁCH DẪN</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Đáng lẽ là phải xếp những mục từ theo đề tài nhưng không kham nổi     <br /></em><em>thôi đành ghi đơn giản vậy.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>A </strong>Adam, E. A Nỗ / Chao Anou Ả Rập adhipati Ái Châu Ái Tử akayat Alexandre VI (Giáo hoàng) Amaravati An Dương Vương An Giang An Khê An Lộc An Lộc Sơn An Nam, A Nam / Hà Nam, <em>An Nam chí, An Nam chí lược, An Nam sử lược, </em>An Nam Đô hộ phủ / Phủ Đô hộ An Nam, An Nam Đô thống sứ (ti), An Nam Quốc Vương, An Nam Phó Quốc Vương annamite An Tây An Tôn An Tượng Angkor, Angkor Borei, Angkor Thom, Angkor Vat Ang Mei / Quận chúa Ngọc Vân Ang Sor / Sô Anh (người, xứ) / Hồng Mao Antonius Pius Ao bà Om ariya Ân/Thương Ân đàn Đại Đạo / Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn Ấn, Ấn Độ, Ấn Độ Giáo Ấn-độ-Chi-na Ấp Chiến lược Ấp Đời mới / Ấp Dân sinh Âu, Âu Châu (người, xứ) Âu Lạc Aubaret Ấu Triệu Auriol, V. Aurousseau, L. Australia Austroasiatic/ique Autronesian/en</p>
<p><strong>B</strong> Ba (sông) Ba Bình Ba Cụt (Lê Quang Vinh) Ba Đích Lai / Indravarman V Ba Điểm Ba Lạt Ba Phủ Ba Tơ Bá Đa Lộc, Pierre Joseph Georges Pigneau (de) Béhaine, Pedro, Pe-to-(r)lo Bà Ả Bà La Môn Bà Chúa Ngựa Bà Chúa Xứ Bà Banh / Bà Đanh Bà Điểm Bà Già (chùa, thôn) Bà Mađalêna Bà Maria Bà Rịa Bà Tấm / Po Nrop Bà Tím Bà Tranh / Po Thot Bà Triệu Babut, E. Bạc Liêu Bắc Hà, Nam Hà Bắc Kì Bắc Kinh / Yên Kinh Bắc Lệ Bắc Ninh Bắc Sơn (Văn hoá) Bắc Thành Bắc Thuận <em>Bách Khoa</em> Bách Việt Bạch Đằng Bạch Hạc Bạch Liêu Bạch Long Vĩ Bạch Mã / Bạch Mã Thái giám Bạch Sa (cồn) Bạch Xuân Nguyên Badravarma Bái Trời/Nhật / Bái Ân Bajaraka (Mặt trận) Balaha Bai Debare / Plei Bocan / Catlin / Chung Mĩ Ban Kan Luang Ban Mê Thuộc / Buôn Ma Thuột Bàn Lân / blaang (bằng lăng?) Bàn Than (đá) Bàn Văn Nhị (Cờ Trắng) Bana Bạng (cửa) Bàng Hà Bánh Ít (tháp) Banteay Bảo (Đô đốc, Đại Đô đốc) Bảo Đại Bảo Định (rạch) Bảo Lạc Bảo tàng Quang Trung Baron, Samuel bắp/ngô Barizy, L. / Ba-la-di Barrow, Jh. Batavia/Jakarta Batumriachia Bayon Bê Mi Thuế Bế Khắc Thiệu Beau, P. Bento Thiện Bến Hải Bến Nghé / Kas Krobei Bến Súc Bhadresvaravarman / Bạt đa la thư la bạt la / Ba đơ rét va ra vác man Bí Cai Bia Út <em>Bích Câu kì ngộ kí</em> Bích Quan / Quan Bích Biên Hoà Biển Hồ Bình Dương Bình Giã Bình Đa Bình Định (địa phương), (thành trì) Bình Khang Bình lệ (phép) Bình Nam đồ Bình Ngãi / Boh Pălriya Bình Nguyên Lộc Bình Than Bình Thuận Bình Xuyên Blao / Bảo Lộc Bolaert (Cao uỷ) Bonard (Đô đốc) Boat People Bố Cái / Vua Cái Đại Vương Bố Chính (Nam), (Bắc) Bố Đa La Bố Điền Bố Đông / Kim Trung Liệt Bố Hải Khẩu / cửa Bố Bồ / Bồ Đào Nha, vua Bồ Bộc (chùa) Bối Lí Bồn Man / Mường Bồn / Mọi Chum / Cổ Bồn Man Bombo (sóc) Borri, Ch. Bouet (Thiếu tướng) Bowyear, Thomas Bùi Bá Kì Bùi Chu Phát Diệm Bùi Dương Lịch Bùi Đắc Tuyên Bùi Hành Lập Bùi Nguyên Hựu Bùi Phổ Bùi Quang Chiêu Bùi Quốc Hưng Bùi Tá Hán Bùi Thế Đạt Bùi Thị Mè Bùi Thị Xuân Bùi Văn Khuê Buôn Chu Bửu Dưỡng (Lm.) Bửu Lộc Bửu Sơn Kì Hương</p>
<p><strong>C</strong> Ca Da ca trù cá Ông (tục thờ) / cá voi cá sấu Cà Mau Cà Tráp / Choah? Cả (đèo) Cả (sông) các lái <em>Cách Mạng Quốc Gia </em>(nhật báo) Cách mạng Tân Hợi (Trung Hoa) Cách mạng tháng Mười (Nga) Cách mạng tháng Tám Cai Lậy Cải cách ruộng đất Calcutta Cam Lộ Campapura Canada (Kiểm soát đình chiến) Cầm (họ); Cầm Bành, Cầm Lạn, Cầm Quỳ Cẩm Sa Càn Long Canh Hãn (xã) / Cảnh Hàng Cánh đồng Chum Cao Bằng Cao Biền, Cao Vương Cao Đài Cao Hồng Lãnh Cao La Hâm Sâm Cao Lỗ Cao Man / Cao Miên , <em>Cao Miên kỉ lược</em> <em></em>Cao Triều Phát Cao Tự Thanh cáp Duồng Caravelle (nhóm chính trị) cargo-cult cát bá / cổ bối / cát bối / kapok Cát Hanh Long Catinat (tàu chiến) Catroux (Toàn quyền) Cau (thị tộc) Cauchechina, (Basse, Haute) Cochinchine Cauchigu / Giao Chỉ quốc cày Tịch điền Cần Giờ Cần Lao Nhân Vị (đảng) / Công Nông Chánh Đảng Cần vương Câu Chiêm Câu Tiễn Cầu Kiệu Cầu ngư (lễ) Cầu Sơn Cedar Fall (Hành quân) Cơ mật (viện) Cố Du / Phú Hoài Nhân / Marchand (giáo sĩ) Cố Khải Chi Cồ Quốc Cổ Hoành (giáp) Cổ Loa (thành); (trống) Cổ Luỹ Cổ Pháp Cổ Trai Coedès, G. Commerce d’Inde en Inde Côn Lôn / Côn Đảo Côn Man Côn Nường (c/chúa) Cồn Tiên Cờn (cửa) <em>Công dư tiệp kí </em>Công sứ, Khâm sứ, Thống sứ Công tào Công ti Đông Ấn Cọng hoà Nhân dân Trung Quốc Cộng Sản An Nam, Đông Dương, Việt Nam (đảng) Courbet (Đô đốc) Crawford, Jh. Cù lao Phố Cù Mông Củ Chi (địa đạo) Cường Để, Kì Ngoại hầu Cử Long Cứu Quốc Quân Cửu Chân Cửu Đức (thái giám) Cửu Long Cựu Châu <em>Cựu Đường thư</em></p>
<p><strong>Ch</strong> Chaigneau, J.B. / Ba Nê Ô Nguyễn Văn Thắng Chà Bàn thành Hoàng Đế Chà Và / Chà Bà / Đồ Bà Champa, Ciampa, Chamba, Chàm, (tù binh), Chăm, Chăm H’roi, Chăm Bà La Môn / Cam / Cam Jat, Cam Cuh (thiêu) / Cam Kaphir (vô đạo), Cam Bini / Chăm Bà Ni Chân Bôn / Chantaboun Chân Lạp Chân Tín (Lm.) Chao Praya Chất Đa Tư Na / Sitrasena / Mahendravarman Châu Ấn thuyền Châu/Chu Diên Châu Đạt Quan Châu Đốc Châu Lâm (viện) / Phúc Lâm (chùa) Châu muội nương (Đậu) Châu Tâm Luân Châu (Chu) Văn Tiếp Chế Bồng Nga Chế Chí Chế Củ Chế Đa Da Chế độ Lưỡng đầu Lê Trịnh Chế Mạn Chế Mân Chế Mỗ/mỗ Chế Sơn Nô Chevreuil (giáo sĩ) Chey Chetta Chí Hoà Chí Linh Chiêm / Chiêm Thành; Kẻ Chiêm Chiên Đàn (Chandra) Chiên Đàn (tháp) Chiến Quốc Sách Chiến tranh Lạnh Chiến tranh Lí Tống Chiếu bình Phục Lễ Chiite <em>Chinh phụ ngâm (khúc) </em>Chợ Lớn Chợ Quán Chu (Tổng đốc) Chu An Chu Ân Lai Chu Bá Chu Bỉnh Khuê Chu Đậu Chu Lai Chu Khẩu Điếm Chu Kình Chu Nhai Chu Thuấn Thuỷ Chu Trang Vương Chu Tử Chu Tử / Chu Văn Bình (nhà văn) Chu Ứng Chủ đô Chúa Bầu/Biều Chúa Chổm Churu/Ch’ru<em> </em><em>Chư phiên chí </em>chữ nôm (truyện, thơ), quốc ngữ, quốc ngữ (la tinh) Chun Do Hoan Chương Dương Chương trình Phát triển Sinh hoạt Học đường (CPS) Claeys, J.Y.</p>
<p><strong>D </strong>Dã Tượng / “voi rừng” Dạ Lang Dạ Xoa Vương Dân Chủ (đảng) dân số Dân Tôn Tử (Trần Văn Vi) Dâu Diên Hồng Diên Khánh Diên Ninh Diễn Châu Diệp Mậu Diệp Văn Kì Dóng/Gióng, Đống/Đổng dòng Tên (Jésuite) Dốc Chùa Du ca Dục Đức Duy Tân (vua) Duy Tân (phong trào) <em>Dư địa chí </em>Dừa (thị tộc) Dựng Tú Dương Anh Nhĩ Dương Bạch Mai Dương Cát Lợi Dương Chủ tướng / “tam kha” / Tam Kha / Bình Vương Dương Diên/Đình Nghệ Dương Huy Dương Khuê Dương Kinh Dương Long Dương Minh Châu (chiến khu) Dương Ngạn Địch (binh Long Môn) Dương Nhật Lễ Dương Quỳnh Hoa Dương Thái hậu Dương Thu Hương Dương Tiến Lộc Dương Tố Dương Tuệ Dương Tự Hưng Dương Tự Minh Dương Văn An Dương Văn Ba Dương Văn Đức Dương Văn Minh Dưỡng Chân</p>
<p><strong>Đ </strong>Đa Bang Da Cruz, Joan Đa Cương / Tinh Cương / Long Hưng / ấp Biển Đa Gia Li Đa Giá Thượng Đá Trắng (núi) Đà Giang Đà Nẵng Đà Rằng Đài Loan Đại Châu Đại Điên Đại Đồng Đại đồng (chủ nghĩa) Đại Hoàng (sông, tập nhóm) Đại học Đông Dương đại la (thành), Đại La Đại Lại Đại Làng Đại Lào Đại Lí Đại Lộc Đại Nam (nước), Đại Nam hoạ quốc toàn đồ, <em>Đại Nam liệt truyện tiền biên, chính biên; Đại Nam thực lục tiền biên, chính biên</em> Đại Ngu Đại Tần Đại Trị Đại Vân Đại Việt, Đại Cồ Việt, Đại Việt Quốc Vương, <em>Đại Việt sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư / Toàn thư / TT, Đại Việt sử lược</em> Đại Việt Duy Dân / Dân Chính / Quốc Dân / Quốc xã (đảng) Dak Son Đam Manh Đàm (thôn, họ) Đàm Dĩ Mông d’Amaral, Gaspar Dampier, W. Đan Gia Đàn Hoà Chi Đản / Đản Gia Lão / Đan, Soisang-yan / Thuỷ Sinh Nhân Đàng Cựu Đàng Ngoài, chương XII Đàng Trên Đàng Trong, chương XII Đanh (thôn Bắc Ninh), Đanh Xá, Đinh Xá (thôn xã Hà Nam) Đăng Châu Đặng Chất Đặng Dung Đặng Huấn Đặng Như Mai Đặng Tất Đặng Tiến Đông Đặng Tiểu Bình Đặng Trần Côn Đăng Trần Thường Đặng Văn Chân Đặng Thuỳ Trâm Đào Cam Mộc Đào Duy Anh Đào Duy Từ Đào Hoàng Đào Thịnh Đào Trí Phú đảo chính 9-3-1945, 11-11-1960, 1-10-1960 đạo (Đinh, Tiền Lê) (Hậu Lê) “đạo”, Thiên Chúa Giáo, Giáo hội La Mã Đạo Dung Đạo Giáo d’Amedo Đạt Lỗ Hoa Xích Dayot, Jean Marie / Đa Đột Đáy (sông) Đập Đá Đầu Bào / Đồng Bào (giặc) de Forcan, Alexir Olivier / Lê (Nguyễn) Văn Lăng De Genouilly, Rigauld De la Baume (giáo sĩ) De Lattre de Tassigny De Puynamel, Alexis Olivier / Ô Li Vi / Ông Tín De Rhodes, Alex. Đê, Eđê, Rhade đê điều Đệ Tam Quốc tế Đệ Tứ Quốc tế Đèo Cát Hãn deva raja Di Pina, F. Địa Lí Điền (Văn minh), Điền Việt điền nhi “điền Tây” Điện Phi (tàu) điện phủ Điện Biên Phủ Điều Khiển (dinh) Đinh (họ) Đinh Bàng Đức Đinh Bộ Lĩnh / Tiên Hoàng Đinh Công Trứ Đinh Công Tuyết Đinh Điền Đinh Đạo Đinh Kiến Đinh Liễn / Khuông Liễn Đinh Lộc Đinh Phiên Đinh Toàn/Tuệ/Triển, Vệ Vương Đính Noa Tăng Noa (Đại đức) đình làng Định Phiên Định Viễn Đò Mè / Doumea Đọ (núi) Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung Đoàn kết (binh) Đoàn Nhữ Hài Đoàn Thượng Đoàn Trưng Đoàn Văn Toại Đô Dương Dohamide Đô hộ (phủ), Đô Hộ (nước) / Đô Quốc Đô Lỗ Đô Lung Đô Lương Đô uý Đô sát viện Đồ Gia Bạt Ma Đồ Sơn Đỗ (họ) Đỗ Anh Hàn Đỗ Anh Sách Đỗ Anh Triệt Đỗ Anh Vũ / Đỗ Thái uý Đỗ Cảnh Thạc Đỗ Chiêu Linh (thái hậu) Đỗ Chú Đỗ Động Giang Đỗ Giản Đỗ Hưng Đỗ Hữu Phương Đỗ Hữu Vị Đỗ Hưng Viễn Đỗ Nhạc Đỗ Pháp Thuận Đỗ Quang Chính Đỗ (Năng) Tế Đỗ Thanh Nhân Đỗ Thích Đỗ Thiện Đỗ Thủ Trừng Đỗ Tồn Thành Đỗ Trình Thoại Đỗ Tuệ Độ Đỗ Tùng Đỗ Tử Bình Đỗ Văn Dự Đỗ Viện Đốc phủ sứ Đọi (núi) Đội Sơn Đội Cung Đôn Vương đồn điền Đông Du Đông Dương Đông Hán, Đông Hán Đại Vương Đông Kinh (Nam Chiếu) Đông Kinh, Đông Đô, Đông Quan, Trung Đô Đông Kinh Nghĩa Thục Đông Phố, Đông Phố Đại Vương Đông Sơn (quân) Đông Sơn (Văn minh) Đông Việt Doumer (cầu, Toàn quyền P.) Đống Đa Đống Quất Đồng Cổ Đồng Dương / đồng Giàng/yang Đồng Đậu Đồng Khánh Đồng Khởi Đồng Nai, Đạ Đờng (sông) Đồng Tháp, đồng/ Đồng Tháp Mười, bia Đồng Tuyên Đồng Xoài động/đồng/Đồng (họ) Doudart de Lagrée Dubois, E. Dupuis, J. Đường An Đường (triều đại), Đường nhân Đường Đức Tông Đường, Nguyễn (thôn) Đường Trung Tông</p>
<p><strong>E </strong>Emmanuel / Mãn Noài Engels, F. Eo (cửa) Eisenhower, D.</p>
<p><strong>F </strong>Falacci, O. Ferry, J. Fonda, J. FULRO</p>
<p><strong>G</strong> Gandhi, M. Garaudy, R. Gia Định, <em>Gia Định Báo, Gia Định thành thông chí </em>Gia Lâm Gia Long Gia Miêu / Gia Miêu Ngoại trang / Bái Trang Gia Ninh gia thần Gia Tô (đạo) Già Nàng Giác Hoàng Giải Phóng (xứ uỷ) Giải Tấn Giám ban, nội giám Giạm/ Dạm (chùa, cột đá) Giản Định Đế Giản Phố Trại Giản Tu công Oánh/Dinh Gianh (sông) Giao (tế) Giao Châu, <em>Giao Châu ngoại vực kí</em> Giao Chỉ, Giao Chỉ Quận Vương, Giao Hải giao long thuồng luồng Giao tử vụ Giáo Hiến Giáo phường giáp, quản giáp giông / kì nhông giồng Giồng Phệt Gò Mun Gò Sành Goa Guiness (kỉ lục) Gươm (hồ)</p>
<p><strong>H</strong> Hà Công Phụ Hà đê sứ Hà Huy Tập Hà Lan, Olane ,“Hoà Lan” (đạo) Hà Mẫu Độ Hà Nội Hà Ngại <em>Hà Thành thất thủ </em>(vè) Hà Thị Cầu Hà Tiên Hà Tĩnh Hà Văn Tấn Hạ/(mọi) Hạ Hạ Long (vịnh) (thoả ước) Hai Bà (Trưng) Trưng Trắc Trưng Nhị Hải Dương Hải Lăng Hải Nam Hải Tây đạo Hải Vân Hàm Nghi Hàm Tử Hán (người, triều đại, chữ), Tây Hán, Đông Hán, <em>Hán thư </em>Hán nhân, dân (người Việt) Hàn Triệu Hang Hùm Hàng Gòn Hạng Lang / Chàng Lớn Hành khiển hào trưởng / hào sĩ Harivarman I, Harvarman II, Harivarman IV Harmand (Bác sĩ) Harrimand W.A. Hát cửa đình (tiền) Hầu Nhân Bảo Hậu (sông) Hậu thổ Heger (phân loại) Hi Lạp Hịch tướng sĩ Hiến chương Vũng Tàu <em>Hiện Đại</em> Hiệp định Genève (Việt Pháp, Trung lập Lào) Hiệp định Paris Hiệp Hoà Hiệu Khả Hình thư họ, tông phả Hoa (người) Hoa Anh Hoa Lang đạo Hoa Lư <em>Hoa văn cáo thị </em>Hoá Châu Hoà Bình Hoà Hảo (làng, Phật Giáo) Hoà ước Fournier, Hoà ước Giáp Tuất, Hoà ước Harmand, Hoà ước Nhâm Tuất, Patenôtre, Hoà ước Thiên Tân Hoả Xá / Hoả Quốc Hoài Đức Hoài Nhơn <em>Hoài Nam khúc </em>Hoan Châu, <em>Hoan Châu kí </em>Hoàn Vương Hoàng (sông) Hoàng (họ) Hoàng bà Hoàng Bôi Hoàng Cao Khải Hoàng Công/Văn Chất Hoàng Công Kì Hoàng Công Lí Hoàng Công Phụ Hoàng/Huỳnh Diệu Hoàng đế điền chủ Hoàng Đình Ái Hoàng Đình Bảo Hoàng Động (man) Hoàng Hạ (trống) Hoàng Hoa Thám / Đề Thám <em>Hoàng Lê nhất thống chí</em> Hoàng Nghĩa Hiền Hoàng Ngũ Phúc Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phùng Cơ Hoàng Quốc Việt Hoàng Quỳnh (Lm.) Hoàng Sa / Tây Sa Hoàng Sào “Hoàng thành Thăng Long” Hoàng Thị Châu Hoàng Thọ Hoàng Thuỵ Năm (Đại tá) Hoàng triều Luật lệ Hoàng triều Quan chế Hoàng tử Cảnh Hoàng Sùng Anh, Cờ Vàng Hoàng Văn Hoan Hoàng Xuân Hãn hoành đầu (tiền thưởng) Hoành Sơn Hoằng Tháo Hô (Đô đốc), Hô Hổ hầu Homo sapiens Hồ (thành, An Nghiệp) Hồ Chí Minh (chủ tịch, giải thưởng, thời đại) Hồ Đồ Hồ Đồng Hồ Hán Thương Hồ Hữu Nhựt Hồ Hữu Tường Hồ Hựu Hồ Nguyên Trừng Hồ Quý Li Hồ Sĩ Dương Hồ Tôn tinh Hồ Tông Thốc/Xác Hồ Văn Mai Hồ Văn Ngà Hồ Văn Nghị Hồ Văn Vạn Hồ Xá Hồ Xuân Hương <em>Hổ trướng khu/xu cơ</em> Hồi, Hồi Giáo, Hồi Hột Hồi Lương Hội An Hội đồng Cải cách Giáo dục Hội đồng Hàng tỉnh Hội đồng Quân nhân Cách mạng Hội đồng Tư vấn Bắc Kì, Trung Kì Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Hội Nhân Quyền Hội Thừa Sai Paris, Hội Truyền giáo Ngoại quốc Pháp Hỗn Điền / Hỗn Hội Hồng (sông) Hồng Bàng Hồng Bảo Hồng Châu Hồng Đức <em>Hồng Đức quốc âm thi tập </em>Hồng Hiến Hồng Phúc Hốt Tất Liệt, Nguyên Thế Tổ Hợp Phố Hua Panh Huế, trà Huế Huệ Đức Vương Huình Tịnh Của Hung Nô Hùng: Vương (nhân vật, thời đại, đền, hệ thống), tướng, hầu, điền, <em>Hùng Vương dựng nước </em>Huyền Khê Huyền Quang (Tăng thống) Huyền Trân Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt) Huỳnh Cự Huỳnh Minh Huỳnh Tấn Huỳnh Tấn Mẫm Huỳnh Tấn Phát Huỳnh Văn Nghệ Huỳnh Văn Tiểng Huỳnh Thúc Kháng Hưng Hoá Hưng Nguyên Hưng Phúc / Phước Hưng Hưng Thạnh (tháp) hương, hương ấp quan, hương chức, hương ước, ngôi hương ẩm</p>
<p><strong>I </strong>Ia Drang I Bih Aleo I-nê-xu / Ignatio Ibn Batutah Ieng Sary Ignesico Văn Tín Indrapura Indravarman IV, Indravarman V Inrasara Islam Issara/la Issarak / Khmer Tự Do Itu Aba / Ba Bình</p>
<p><strong>J</strong> Java Jaya Harivarman / Chế Bì La Bút Jaya Paramesvaravarman II Jaya Shinhavarman II / Sạ Đẩu Jayashinhavarman IV / Harijit / Chế Mân Johnson, L.B. (Tổng thống) Junction City (Hành quân) Junfa</p>
<p><strong>K </strong>Kambudesa/Kampujâs/Camboye/Cambodia/Cambodge/Kamphuchia Karnow, E. Katê (lễ) Kaudinya Kiều Trần Như Kauthara Kẻ Chợ / Cachu Kelantan Kennedy, R.F. Kéo Lèng Khe Sanh Khmer Khmer Krom Kiên Thành Kiển Thành / thành Kén Kiểu Công Hãn Kiểu/Kiều Công Tiện Kiểu Hiền Kiểu Quốc (Lương) Kim Định Kim Lân Kim Ổ Kim Sa / sông Dương Tử Kim Sơn Kim Thành Kinh (người) Kinh Ấp Kinh Bắc Kinh Cựu Kinh phủ Kiritas Kissinger, H. Koffler, Jh. Koho Koshichang Kra krek</p>
<p><strong>Kh</strong> Khả Lam Khai nguyên (tiền) Khái Hưng (Trần Khánh Giư) Khải Định Khang Thái và Chu Ứng khao giáp Khánh Hoà Khắc Xương / Cung Vương Khâm Châu <em>Khâm định Việt sử thông giám cương mục / Cương mục Khoá hư lục</em> Khoái Châu Khổng Tử “khởi nghĩa nông dân” Khu Dinh điền Khu Liên/“riên” / kurung Khu Trù mật Khu Túc (ông) Khù / Guru Khúc Hạo, Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Mĩ Khuyến nông Khương Công Phụ, Khương Công Phục Khương Mĩ Kim Trang (Yeng Sary)</p>
<p><strong>L</strong> La Cochinchine francaise <em>La Cloche Fêlée</em> Lady Borton La Hai <em>La Lutte</em> La Mã, Đông La Mã La Ngai / Jaya Shimhavarman V La Rivière de Tonkin la thành, La Thành La Văn Cầu lá buông (giấy) Lã Thuần Dương Lạc: Vương, hầu, tướng, dân, điền, (chim) Lạc Biên Lạc Hoá (phủ) Lạc Tân Vương Lafont (Thống đốc) Lai Châu Lại Giang Lam (sông) Lam Sơn, Lam Kinh, <em>Lam Sơn thực lục </em>Lam Sơn 719 (Hành quân) / Deway Canyon II Lâm Văn Tết Landes Lan Khai Lan Kham Deng Lan Xang / xứ Triệu Voi Langbiang / Lâm Viên Lang Chánh Lang Tủng Lãng Bạc Lạng Sơn lánh/lính, lánh tráng / lính tráng Lao Bảo Lao Động Việt Nam (đảng) Lào Ai Lao Lão Qua Lạy xác (tục thờ Ông Bà) Lâm Ấp, <em>Lâm Ấp kí </em>Lâm Duy Hiệp/Phát/Nghĩa Lâm Văn Phát Lập Bạo Lập Giáo (Hoàng hậu) lập hậu Le Brun / Cai đội Thạch Oai hầu Le Myre de Vilers Leaky, R. Lefèbre (giáo sĩ) Lenin, Vl. Les Kosem Lévêque (Khâm sứ) levirat / tục “nối ruột” Lê (họ) Lê Anh Tông / Bang Lê Anh Tuấn Lê Anh Xuân Lê Bá Li Lê Bá Minh Lê Bá Ngọc Lê Bằng Lê Bôi Lê Bổng Lê Cảnh Tuân Lê Cập Đệ Lê Cơ Lê Chất Lê Chiêu Thống Lê Chiêu Tông Lê Duẩn Lê Duy Hoán Lê Duy Lương Lê Duy Mật Lê Duy Thanh Lê Duy Vĩ (Thái tử) Lê Đắc Ninh Lê Đình Chính Lê Đình Lí Lê Đức Thọ Lê Hi Lê Hiến Tông Lê Hiển Tông Lê Hoàn / Đại Hành Lê Hồng Phong Lê Hữu Bôi Lê Khắc Sinh Nhật Lê Khuyển Lê Lai Lê Lăng Lê Long Đĩnh / Ngoạ Triều Lê Long Mang / Nam Quốc Vương Lê Long Việt / Nam Phong Vương / Trung Tông Lê Lợi / Thái Tổ Lê Lương Lê Minh Xưởng Lê Năng Trường Lê Ngã Lê Ngọc Bình Lê Nhân Tông / Bang Cơ Lê Niệm Lê Phi Thừa Lê Phụng Hiểu Lê Quý Đôn Lê Tắc/Trắc Lê Tần / Phụ Trần Lê Tung Lê Tương Dực / “vua Lợn” Lê Thạch Lê Thái Tông / Nguyên Long Lê Thánh Tông / Tư Thành Lê Thần Tông Lê Thọ Vực Lê Trang Tông / Ninh Lê Trọng Thứ Lê Trừ Lê Uy Mục / “vua Quỷ” Lê Văn An Lê Văn Duyệt Lê Văn Đức Lê Văn Hảo Lê Văn Hưu Lê Văn Khôi / Nguyễn Hựu Khôi Lê/Tạ Văn Phụng Lê Văn Quân Lê Văn Tám Lê Văn Viên (con LVKhôi) Lê Xuân Chuyên Lễ tiết Trần Lệ Khai Li Tana Lí (tộc, họ, triều đại) Lí Anh Tông Lí Bí/Bôn Lí Bồ / Khai Quốc Vương Lí Cao Tông Lí Công Bình Lí Chánh Trung Lí Do Độc Lí Đạo Thành Lí Đông A Lí Giác Lí Hiến Lí Hộ (Đô hộ) Lí Hoảng / Nhật Quang Lí Huệ Tông / Sảm Lí Khai Ba Lí Khuê Lí Nguyên Cát Lí Nguyên Khải Lí Nhân Nghĩa Lí Nhân Tông Lí Ông Trọng Lí Phật Tử Lí Phục Man Lí Quang Diệu Lí Sùng Phúc Lí Tài (Hòa Nghĩa quân) Lí Tắc Lí Tư Lí Tử Tấn Lí Tự Tiên Lí Thái Tổ / Công Uẩn Lí Thái Tông Lí Thánh Tông Lí Thần Tông Lí Thiên Bảo Lí Thúc Hiến Lí Thường Kiệt / “thằng Cặt” Lí Thượng Cát / “thằng Cứt” Lí Tích Lí Tiên Lí Trác Lí Trần Quán Lí Triều Tiên Lí Trường Nhân Lí Văn Quang Lí Xuân Lị Nhân Lía, vè chàng Lía, <em>thơ Văn Doan Lịch sử Đàng Ngoài Lịch triều hiến chương loại chí Lịch triều tạp kỉ </em>Liêm Châu Liên Hiệp Quốc Liên Xô Liễu Hạnh Vân Cát Thần nữ Liễu Thăng linga Linh/Linh Vương Lĩnh Nam <em>Lĩnh Nam chích quái Lĩnh ngoại đại đáp</em> Lisbonne Lỗ Hạnh Lỗ Khê lộ ông Lộ Văn Luật Lokesvara / Quan Âm lồn cứt Long (Đô đốc), Mưu Long Biên / Long Uyên Long Đỗ Long Giao Long Hồ Lonnol Lovek Long Xuyên Lonnol Luang Prabang Luông Pha Bang Lục Đầu Lung Leng Luro Luy Lâu luỹ: Luỹ Thầy / Trường Dục, An Náu, Trường Sa, Trấn Ninh Lũng Nhai Lư Tổ Thượng Lữ Phương Lương / Hậu Lương Lương Đăng Lương Giang Lương Nguyên Bưu Lương Nhữ Hốt Lương Ninh Lương Thạc Lương Thế Vinh Lương Văn Chánh Lương Xá Lưu Ẩn Lưu Cơ Lưu Cung Lưu Diên Hựu Lưu Hằng Tín Lưu Hữu Phương / Huỳnh Minh Siêng Lưu Kế Tông Lưu Khánh Đàm Lưu Nhân Chú Lưu Phương Lưu Tống (triều đại) Lưu Vĩnh Phúc, Cờ Đen Lữ Đường Lữ Tống Lý Đông A / Nguyễn Ngọc (Hữu) Thanh</p>
<p><strong>M </strong>Macao, Mã Cao Ma Linh Ma Sa Ma Vân Trường Mã (sông) Mã Đoan Lâm Mã Lai Mã Lai Á / Malaysia mã tà / matamata Mã Viện Mạ, “vương quốc Mạ” Mạc (họ, nhiều họ) MAACV / Bộ Tư lệnh Quân viện Việt Nam Mạc Cảnh (Kính) Huống Mạc Cửu Mạc Đăng Dung Mạc Đỉnh Chi Mạc Hiền Mạc Hiển Tích Mạc Kính Chỉ Mạc Kính Cung Mạc Kính Điển Mạc Kính Khoan Mạc Mậu Hợp Mạc Ngọc Ỷ Mạc Thiên Tứ Mai Cầu Mai Chân Mai Thúc Loan / Thúc Yên / Thành Lập / Hắc Đế, Vua Đen Mai Vạn Long Mai Xá Mái Đá Nguờm Malacca / Mãn Thích Gia Malleret, L. Man (cao, thượng, hạ) Man Nương Mang (đèo), Mang Giang/yang, Cửa Trời Mansfield, M. Mao Trạch Đông Marchand (Lm.) Marco Polo Marcus Aurelius Marini (giáo sĩ) Martin Luther King Jr. Marx, K. Maspéro, H. Mắm (tháp) Mặt trận Giải Phóng Dân Tộc Cao Nguyên, Mặt trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Mặt trận Liên Tôn Chống Cộng Mặt trận Quốc Gia Thống Nhứt (1946) Mặt trận Việt Minh Mân, Mân Việt Mân Thít Mâu Du Đô Mật Tông Mekong Menam Menras A., (Hồ Cương Quyết) Meru Mê Linh Michalak, M. (đại sứ) Miche (Gm.) Mĩ / Hoa Kì Mĩ Lai / Sơn Mĩ Mĩ Lương Mĩ Sơn Mĩ Tho Mị Nương, Mị Châu Miến, Miến Điện Minh (người, triều đại) Minh Hương Minh đạo (hiệu tiền) Minh kinh Minh Mạng Minh Nghĩa (vệ) Minh Thành Tổ Mnong Mọi, Mọi hoang, Mọi thuộc, Kẻ Mọi Mọi Xoài / Mỗi Xuy Mọi Đá Vách Mộc Châu / Mường Mộc Mộc Thạnh Mộc trụ Thần xà Môn-Khmer Môn Lai Phù Tử, Thôn Ba Hú, Bô Kha Đáo Mông Cổ Mông Kha Montesquieu Morelli, Phúc Châu Mounier, E. Mùa Hè Đỏ Lửa Mukha/Mecca Mười hai / Thập nhị Sứ quân Mường Mường Thái (tập họp)</p>
<p><strong>N</strong> Naga Nam Bộ, Nam Kì, Nam Kì tự trị Nam Chiếu Nam Chưởng Nam Dương, Indonesia Nam Giao Nam Hán Nam Kinh <em>Nam Phong tạp chí </em>Nam Phương (thiền phái) Nam Phương Hoàng hậu Nam Quan, Trấn Nam Quan, Mục Nam Quan “Nam Quốc sơn hà&#8230;” Nam Sách Nam tiến Nam triều Bắc triều <em>Nam triều công nghiệp diễn chí</em> Nam Việt, Nam Việt Vương, Nam Việt Đế, <em>Nam Việt chí</em> Napoléon III Nàng Tía Nặc Chân Nặc Nộn / An Non Nặc Ông Chân / Ramiathipdei Nặc Ông Đài / Bô Tâm Nặc Thu Nậm U nậu, nẫu Nậu Lạt Đinh Navarre (tướng) New Zeeland Ninh Bình Ninh dân thông bảo Ninh Thuận Ninh Xá Nịnh Trường Chân Nixon, R. Nội (đạo) Nội các Nội thư gia nội thuộc / ngoại thuộc Nông trường Sông Hậu Nông Văn Vân Norodom Nùng Tồn Phúc Nùng Trí Cao Nước Mặn (cửa, vùng), Chiêm Thành cảng / Sri Banoi / Vinaya / Thi Lị Bì Nại Tì Ni / Kẻ Thử / Cách Thử “nước Stiêng”</p>
<p><strong>Ng</strong> Nga Lạc Nga Vương Ngân Già Ngân hàng Đông Dương Nghênh Phúc Nghệ An, Ngean Nghi Dân Nghi Vệ Nghiêm Kế Tổ Nghị quyết Vịnh Bắc Việt <em>Nghĩa khuyến giáo dân tân cựu ca</em> Ngọc Hồi Ngọc Lũ Ngọc Ma Ngọc Tháp Ngọc Tú Ngọc Vạn / Ang Cuv / Đam Sat Ngô (nước) Ngô Bá Thành (Bà) / Phạm Thị Thanh Vân Ngô Bệ Ngô Chân Lưu / Khuông Việt Đại sư Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu Ngô Đức Đệ Ngô Đức Kế Ngô Gia Tự Ngô Kha Ngô Lí Tín Ngô Lợi Ngô Mân Ngô Ngọc Lâm Ngô Nhật Khánh / An Vương Ngô Quyền, Ngô Tiên Chủ Ngô Sĩ Liên Ngô Thế Lân Ngô Thì Nhiệm, Ngô Thời Nhiệm Ngô Thì Sĩ Ngô Thuận Đế Ngô Tòng Châu Ngô Tôn Quyền Ngô Vương Toại Ngô Xương Ngập / Thiên Sách Vương Ngô Xương Văn / Nam Tấn Vương Ngô Xương Xí Ngô Xử Bình Ngột Lương Hợp Thai Ngũ Đại nguồn Nguyên (triều đại), <em>Nguyên sử</em> Nguyên Phong Nguyễn (họ dân, chúa, vua) Nguyễn Ái Quốc / Nguyễn Tất Thành Nguyễn An Ninh (nhân vật, Hội kín) Nguyễn (Phúc) Ánh Nguyễn Bá Nghi Nguyễn Bá Xuyến Nguyễn Bảo (nhân vật, Tiểu triều) Nguyễn Bảo Hoá / Tô Nguyệt Đình Nguyễn Bặc Nguyễn Biểu Nguyễn Bính Nguyễn Bình Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Cao Kỳ Nguyễn Chế Nguyễn Chích Nguyễn Công Hãng Nguyễn Công Trứ Nguyễn Cư Trinh Nguyễn Cửu Quý Nguyễn Cửu Thông Nguyễn Cửu Vân Nguyễn Danh Phương / Quận Hẻo Nguyễn Diên Nguyễn Du Nguyễn Du Dịch Nguyễn Duy Hinh Nguyễn Duy Trinh Nguyễn Đa Phương Nguyễn Đại Nguyễn Đại Phạp Nguyễn Đăng Thịnh Nguyễn Đăng Vân Nguyễn Đê Nguyễn Đính / Trần Vàng Sao Nguyễn Đình Chiểu Nguyễn Đình Đầu Nguyễn Đình Tán Nguyễn Đình Tân Nguyễn Đình Trụ Nguyễn Đức Trung Nguyễn Đức Xuyên Nguyễn Gia Phan Nguyễn Gia Thiều Nguyễn Hải Thần Nguyễn Hàng Nguyễn Hiến Lê Nguyễn Hiền Nguyễn Hoàng Nguyễn Hoằng Dụ Nguyễn (Văn) Huệ, Đức ông Tám, Bắc Bình Vương, Quang Trung Nguyễn Huỳnh Đức / Huỳnh Đức Nguyễn Hữu Cảnh/Kính Nguyễn Hữu Cầu / Quận He Nguyễn Hữu Chỉnh Nguyễn Hữu Dật Nguyễn Hữu Đang Nguyễn Hữu Hào Nguyễn Hữu Huân / Thủ khoa Huân Nguyễn Hữu Thận Nguyễn Hữu Thọ Nguyễn Hữu Thuỵ Nguyễn Hữu Tiến Nguyễn Khản/Lệ Nguyễn Khánh Nguyễn Khắc Tuyên Nguyễn Khoa Chiêm Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Thuyên Nguyễn Khoan Nguyễn Kim, Huân Tĩnh công Nguyễn Kim Phẩm Nguyễn Liễu Nguyễn (Phúc) Long Nguyễn (Văn) Lữ, “Bảy”, Đức ông Bảy, Pháp sư / Đại pháp sư&#8230;, Đông Định Vương Nguyễn Lương Bằng Nguyễn Mại Nguyễn Minh Triết Nguyễn Nghiễm Nguyễn Ngọc Lan (Lm.) Nguyễn Ngọc Nhựt Nguyễn Ngọc San Nguyễn Ngọc Tương Nguyễn (Văn) Nhạc, Biện Nhạc, Thư Nhạc,Yin Yac, Thượng sư / Thầy cả, Thái Đức Đế, Trung Ương Hoàng Đế Nguyễn Nhữ Cái Nguyễn Nộn Nguyễn Phan Nguyễn Phan Long Nguyễn Phi Khanh Nguyễn Phu Nguyễn Phú Trọng Nguyễn Phúc Anh Nguyễn Phúc Chu / Quốc Chúa Nguyễn Phúc Cự Nguyễn Phúc Dương, Hoàng tôn Dương, Tân Chính Vương, “quân Hoàng tôn” Nguyễn Phúc Hiệp Nguyễn Phúc Khoát Võ Vương Nguyễn Phúc Kiều Nguyễn Phúc Lan / Chúa Thượng Nguyễn Phúc Luân Nguyễn Phúc Nguyên / Chúa Sãi Nguyễn Phúc Quang Nguyễn Phúc Quân Nguyễn Phúc Tần / Chúa Hiền Nguyễn Phúc Thái / Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thụ Nguyễn Phúc Thuần, Duệ Tông Nguyễn Phúc Tĩnh Nguyễn Phúc Văn Nguyễn Phúc Vinh / Hữu Vinh Nguyễn Quang Bích Nguyễn Quang Tiền Nguyễn Quang Toản, Cảnh Thịnh, Bảo Hưng Nguyễn Quốc Trinh (1623) (Nguyễn) Quốc Trinh, Bồi tụng Nguyễn Quý Cảnh Nguyễn Quyền Nguyễn Quyện Nguyễn Rỗ Nguyễn Sĩ Cố Nguyễn Siêu Nguyễn Sơn / Vũ Nguyên Bác Nguyễn Sư Hồi Nguyễn Tạo Nguyễn Tăng Minh Nguyễn Tấn Dũng Nguyễn Thái Bình Nguyễn Thái Học Nguyễn Thánh Huấn Nguyễn Thân Nguyễn Thận / đạo Mục Nguyễn Thế Chuẩn Nguyễn Thế Chung Nguyễn Thế Truyền Nguyễn Thi Nguyễn Thị Bình Nguyễn Thị Đồng Nguyễn Thị Lộ Nguyễn Thị Ngọc Vịnh Nguyễn Thị Thuyết / Bà Bổi Nguyễn Thiếp Nguyễn Thông Nguyễn Thung Nguyễn Thuyên Nguyễn Thủ Tiệp Nguyễn Thường Nguyễn Thường Xuân Nguyễn Tiến Lãng Nguyễn Tiến Lâm Nguyễn Trãi Nguyễn Tri Phương Nguyễn Triều Vân Nguyễn Triệu Hồng Nguyễn Trung Ngạn Nguyễn Trung Trực Nguyễn Trực Nguyễn Trương Hiệu Nguyễn Trường Tộ Nguyễn Tuyển Nguyễn Tường Tam, Tự Lực Văn Đoàn, <em>Phong Hoá, Ngày Nay</em> Nguyễn Uông Nguyễn Ư Dĩ Nguyễn Văn Bé (dũng sĩ diệt Mĩ) Nguyễn Văn Bông Nguyễn Văn Bột Nguyễn Văn Cừ Nguyễn Văn Duệ Nguyễn Văn Dụng Nguyễn Văn Hinh Nguyễn Văn Huyên Nguyễn Văn Hưng Nguyễn Văn Kiên Nguyễn Văn Lang Nguyễn Văn Nghĩa Nguyễn Văn Ngũ / giặc Du Bao Nguyễn Văn Sâm Nguyễn Văn Tạo Nguyễn Văn Tâm Nguyễn Văn Thành Nguyễn Văn Thinh Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Văn Tồn Nguyễn Văn Trắm/Chắm Nguyễn Văn Trung Nguyễn Văn Trương Nguyễn Văn Tường Nguyễn Văn Xuân (triều Nguyễn) Nguyễn Văn Xuân (Thủ tướng) Nguyễn Viên Nguyễn Viết Thứ Nguyễn Vỹ Nguyễn Xí Nguyễn Xuân Nguyệt Ấn người khổng lồ “người Java” Ngưu Hống Ngự sử đài</p>
<p><strong>Nh</strong> Nha Hầu Nha Trang Nhà Bè Nhà nước / Quốc gia, Quốc chủ (Vua) Nhâm Diên <em>Nhân Dân </em>Nhân Văn Giai phẩm (vụ án) Nhất binh Nhật, Nhật Bản Nhật Bản Đại Quốc Vương (đảo chính 9-3-1945) cầu Nhật bản / Lai Viễn Kiều Nhật Lệ Nhật Nam, Nhật Nam tăng Nho Giáo Nho sĩ Nhồi (làng) Như Hồng Nhữ Đình Toản</p>
<p><strong>O</strong> Óc Eo (Văn hoá) Ô Châu, Ô Lí/Rí <em>Ô Châu cận lục </em>Odendh’al Ô Mã Nhi Ốc Nha / Okya Odoric de Pordenone Ôn Như Hầu (vụ án phố) “ông Nghè” Ong Vangsaraja / Ung Minh Ta Điệp Oudong</p>
<p><strong>P </strong>Palembang Palei Thươn (Hậu Sanh) Pandanan (Philippin) Panduranga / Panran, Phan Rang Paramesvari Paramesvaravarman Paris, M.C. Parmentier, H. Pasquier (Toàn quyền) Pathet Lào Pellerin (Gm.) Pelliot, P. Pen Soven Pétain, P. Petit Laos (Bồn Man) Pha Ngum Phát triển Sắc tộc (Bộ) Phạm (họ Thái), (họ Tây Sơn) Phạm Chí / Phạn Chí Phạm Chiên Phạm Chuỳ/Trĩ Phạm Bạch Hổ / Phòng Át Phạm Công Trị Phạm Công Trứ Phạm Dao Phạm Dật Phạm Duy (nhạc sĩ) Phạm Dương Mại Phạm Đăng Hưng Phạm Đình Chi Phạm Đình Hổ Phạm Đình Trọng Phạm Hạp Phạm Hồ Đạt Phạm Hoàng hậu Phạm Hùng (Chàm) Phạm Hùng (CS) Phạm Huy Thông Phạm Hữu Lễ Phạm Hữu Nhật Phạm Hữu Tâm Phạm Khắc Hoè Phạm Kính Ân Phạm Ngạn Phạm Ngọc Chúc Phạm Ngọc Thảo Phạm Ngũ Lão Phạm Phật Phạm Quỳnh (Mạc) Phạm Quỳnh (Nguyễn) Phạm Sư Man Phạm Sư Ôn Phạm Tầm Phạm Thành Đại Phạm Thế Căng Phạm Thị Thuỳ Vinh Phạm Thị Xuân Khải Phạm Thị Yên Phạm Văn Phạm Văn Điển Phạm Văn Đồng Phạm Văn Hưng Phạm Văn Nghị Phạm Văn Sâm Phạm Văn Sĩ Phạm Văn Xảo Phạm Vấn Phạm Xuân Ẩn Phạm Võ Phan (họ) Phan Bá Vành Phan Bội Châu Phan Châu Trinh Phan Đình Giót Phan Đình Phùng Phan Hâm Phan Hiển Đạo Phan Huy Ích Phan Huy Quát Phan Huy Thực Phan Kế Toại Phan Khắc Sửu Phan Khôi Phan Kiệt Phan Lâm Phan Lân Phan Liêu Phan Ma Lôi Phan Mãnh Phan Mĩ Phan Ngạn Phan Phu Tiên Phan Quang Đán Phan Rí Phan Thanh Giản Phan Thị Lương Phan Thiết Phan Thúc Trực Phan Trần Chúc Phan Trung Phan Xích Long / Phan Phát Sanh / Nguyễn Văn Lạc Phàn Tiếp phản chiến Mĩ Phao Sơn Pháp (người, xứ), Phú Lãng Sa Pháp Loa Pháp Luân Công Phật Giáo/đạo, Phật Vương, “Phật”, giặc Phật Phật Mã Phật Thệ Phiên, phiên dân Phiên An Phiên lễ Phiên Trấn Philastre, P. phnom, bnam, Phnom Penh Phong Châu Phong Khê Phong Sa Lỵ <em>Phong thần</em> Phò Lê (làng) Phố/Phú Hài Phố Hiến, Phố (Vạn) Lai Triều Phú Chánh Phú Hoà Phú Lâm Phú Lợi (đầu độc) Phú Lương Phú Thọ Phú Yên Phú Xuân Phù Đổng (hương, thần) Phù Lê Phù Li Phù Nam, Phù Nam Đại Vương, <em>Phù Nam kí Phủ biên tạp lục </em>phụ tử liên danh <em>ví dụ: </em>Pen Saloth có các con Loth Suong (anh), Saloth Roeumh (gái) và Saloth Sar (em) nổi danh với tên hiệu Pol Pot Phúc, Hồ Phi Phúc Phúc Châu Phúc Kiến Phục Quốc (đảng, quân) Phùng (họ) Phùng An Phùng Chân Phùng Hưng Phùng Lộc Phùng Nguyên Phùng Tá Chu Phùng Trí Năng Phương cơ Phường/Thợ Đúc Pleime Pignon, L. Po Aly Po Binosur / Po Bil Thuôr Po Nagar / Tháp Bà Po Rayak/Riyak Po Rome, vua Mê Po Yan Dari Po Sah Po Yan Ino Nưga Poivre, H. Pondichéry pơtao/bôtao Prabhasadarma / Phạm Trấn Long pramana (đơn vị hành chính) Praya Bodin Proh (di tích)</p>
<p><strong>Q</strong> Quan Âm Quan Da Quách Kình Nhật Quách Hữu Nghiêm Quách Ngang/Mão Quách Phúc Thành Quách Quỳ Quách Thị Trang Quách Thịnh Ích/Dật Quách Tuấn (Lí Thường Kiệt) quan điền quản lãnh Quang Thuận Quảng Châu (cảng, đơn vị hành chính), <em>Quảng châu kí,</em> Quảng Đông, Quảng Tây Quảng Nam, “nước Quảng Nam” Quảng Ngãi Quảng Nguyên Quảng Trị Quảng Yên/Ninh Quắc Hương quân điền Quần Ngựa “quận” <em>Quế hải ngu hành chí </em>Quế Lâm Quốc Gia Độc Lập (đảng) Quốc hội VN DCCH quốc thần, quốc tính (Lê) (Nguyễn), hệ tính (Nguyễn) <em>Quốc/Lê triều hình luật, </em>luật Hồng Đức Quy Hợp Quy Ninh Quy Nhơn Quý Huyện / Tống Sơn Quý Hương / Bái Trang / Gia Miêu / Gia Miêu Ngoại trang Quỳnh Lâm</p>
<p><strong>R</strong> Rama I <em>Ramayana </em>Ran Ran Rạch Gầm Xoài Mút Rạch Giá Retord (Gm.) Rheinart (Ksứ) Rivière, H. Roh Tae Woo Rossard, Antonio Vicenti Roubaud, R. Rusk, D.</p>
<p><strong>S</strong> Sa Đec Sa Huỳnh (Văn hoá) Sạ Đẩu (Chàm) Sạ Đẩu (Lào)/P’ot’isarat Sai Chakrap’at Sailendra Sài Gòn, Prey Kor Sài Thung <em>Sãi Vãi </em>Sách (sắc tộc) / sách Sắc bùa / nậu Sắc bùa Salwen Sambhuvarman / Phạm Chí / Phạn Chí Samrong Sen Sầm Nghi Đống Sầm Nứa, Sầm Thượng, Sầm Hạ San Francisco (hội nghị) Sankah <em>Sáng Tạo</em> Sarraut, A. Satyavarman shaman thầy mo Sharpa (buôn) Siem Reap Sihanouk N., Sihanoukville Shiite Singapore/pour / Hạ Châu Siva/Civa Sĩ Nhiếp Soái phủ Sài Gòn Sóc Trăng Soma <em>Song tinh </em>(truyện) Sòng (đền), Sùng Sơn sông Bé / Đạ Glung, Sông Bé Shinhapura Sơn Nam (nhà văn) Sơn Nam, Sơn Nam Hạ Sơn Ngọc Minh Sơn Ngọc Thành Sơn phòng (Nha) Sơn Tây Sơn Tinh Thuỷ Tinh Sơn Vi (Văn hoá) Spellman (Hồng y) Spratley / (đảo) Trường Sa Sri Mara Stieng Sukarno Sultan Sùng Hiền hầu Sùng Thiện Diên Linh Sunni Suryavarman I Suryavarman II <em>Sử kí </em>Đỗ Thiện, Tư Mã Thiên</p>
<p><strong>T</strong> Tá (Chàm) Tá Quốc (Hoàng hậu) Tạ Quang Cự Tạ Thiên Huân Tạ Thu Thâu Tạ Tri Hiển Tạ Văn Phụng / Lê Duy Phụng Tam Đảo Tam Giác Sắt Tam Giáo Tam Ích Tam phủ / Ưu binh <em>Tam Quốc chí, Tam quốc chí diễn nghĩa</em> Tam ti Tam Vương (loạn) Tám Hà Tạm ước 16-9-1946 Taylor, K.W. Tản Viên (núi, thần), Ba Vì Tăng Cổ Tăng lục Tân An Tân Bình Tân Châu Tân Lộc Tân Sở Tân Việt Nam Hội Tây (hồ) Tây Âu Lạc Tây Ban Nha Tây Đô, Tây Kinh Tây Giai Tây Giang Tây Nguyên / Cao nguyên Trung Phần Tây Kết Tây Sơn, “cách mạng Tây Sơn”, quân Ó Tây Việt Tây Vu, Tây Vu Vương <em>Tấn thư </em>Tần <em>Tập san Sử Địa</em> Tập Đình (Trung Nghĩa quân) Tề (loạn) Tề ngôi (cướp biển) Tết Mậu Thân Thomas, A. Tích Quang Tiên Điền Tiên Lãng Tiến quân ca Tiền (sông) tiền: đồng, kẽm, tiền giấy Tiền Hải Tiền Phong (xứ uỷ) <em>Tiếng Dân</em> Tiết độ sứ Tiết Tổng Tin Lành Tín phiếu Tiêu Tư Tiêu Văn Tiểu Đồng Nai Tinh Thiều Tĩnh Hải Quân Toa Đô Toà án Stockholm Toà Bố Toàn Phù Toàn Thắng (hành quân) toát (tiểu, đại) Tô Định Tô Hậu Tô Hiến Thành Tô Lịch (sông) Tố Hữu Tồi Ôi Tôn Đức Thắng Tôn Sĩ Nghị Tôn Thất (họ) Tôn Thất Bật Tôn Thất Dương Kỵ Tôn Thất Dương Tiềm Tôn Thất Thuyết Tonkin/Tonchino/Tonkin/Tonqeen/Tonqium(n) Tông Đản Tống (họ Đàng Trong) Tống (triều đại), dân lưu vong, Nam Tống Tống Bình Tống Cao Tông Tống Cảo Tống Đức Minh Tống Hữu Đại Tống Hữu Thận Tống Huy Tông Tống Khâm Tông Tống Lê Chân Tống Phúc Đạm Tống Phúc Hiệp Tống Phúc Thông Tống Phúc Trị Tống Phúc Trung Tống Sơn, Quý Huyện Tống Sơn Quạn quân, Quận chúa, Tống thị (vợ Nguyễn Phúc Kì), Tống Thiên Vương Tụ Long <em>Tụng Tây hồ</em> Tư Dung Tư Lăng Tư Mã Thiên Tư Tề Tứ Ân Hiếu Nghĩa Tứ Kiệt Tứ Linh Tứ sương quân Tứ trấn / Nhất binh Tức Mặc Từ Bá Tường Từ Chung Từ Diên Húc <em>Từ điển Việt Bồ La </em>Từ Đạo Hạnh Từ Vinh Tự Đức Tuyên Quang Tuỳ (triều đại) Tương Dương Tường Long Tưởng Giới Thạch Tượng (núi) Tượng Lâm, Tượng Lâm Ấp</p>
<p><strong>Th</strong> Thác Đông (chủ trương) Thạch Thất Thái (tộc người), Thái Trắng, Thái Lan Thái Bình (tỉnh, niên hiệu) Thái bình hưng bảo (tiền) Thái Bình Thiên Quốc Thái Công Triều Thái Đình Lan Thái Khang Thái Nguyên (xứ, khởi nghĩa) Thái Phiên Thái thú Thái thượng hoàng (Trần, Mạc) Tham biện, Tham biện Chủ tỉnh Tham tụng Thang Thượng, Thang Hạ Thang Trông Thanh (người, triều đại) Thanh Chiêm Thanh Hà Thanh Hải Vô Thượng Sư Thanh Hoá, Tenehoa Thanh Mai Thanh Nghệ <em>Thanh Nghị</em> Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội Thanh Niên Tiền Phong, Thanh Niên Tiền Tuyến Thanh Niên Xung Phong Thanh Trì Thau (Thái tử) “Thánh địa Cát Tiên” Thành Cát Tư Hãn Thăng Long thằng: Cặt/Cứt, Ái, Hàm, Chạy, Tạo, thằng Suy / ông Thân Lợi Thân (họ) Thân Vương ban Thẩm Khuyên Thập bát La Hán Thất Sơn Thập đạo Tướng quân Thầy (chùa) Thầy Cả Dairo The Young Turks Thế Lại Thi Thi Nại Thị Hoả Thị Nghè Thị Tứ / Thitu / Pagasa Thích Đại Sán, Thạch Liêm Hoà thượng Thích Đôn Hậu Thích Quảng Độ Thích Quảng Đức Thích Tâm Châu Thích Trí Quang (Phạm Văn Bồng) Thiên Chúa Giáo Thiên Địa Hội Thiên Đức Thiên Khánh Thiên Mụ Thiên phúc trấn bảo (tiền) thiên táng Thiên Tôn Thiên triều – Phiên thuộc, tâm thức phiên thuộc Thiên Trúc Thiên Trường Thiên tử binh <em>Thiền uyển tập anh</em> Thiết đột Thiết lâm Thiếu Sơn Thiệu Phong Thiệu Trị Thoát Hoan Thomson (Tđốc) <em>Thơ Nam Kì, Thơ tiếp theo Thơ Nam Kì</em> Thu Vật Thủ hộ (lính) Thủ lãnh Thuận Hoá Thuận Lưu Thuận Quảng Thuận Thành Thuận Thành Vương Thục (vua) Thục Phán thuốc lá / thuốc lào, tạm-ba-cô thuộc Thuỷ hoả kí tế <em>Thuỷ Kinh chú</em> “Thuỷ thiên tự” Thuỷ Xá Thuyền Nhân Thư gia thư nhi Thứ sử Thừa Thiên Thương bạc (sở) Thượng (người, xứ) thượng/hạ nguơn Thượng Dương “Thượng tướng”</p>
<p><strong>Tr</strong> Trà Kiệu Trà Hương Trà Lai / Jarai, Raglai Trà Lân Trà Toại Trà Toàn Trà Vang/Vinh, trapeang Trai Lang Trại/Kinh <em>Trạng Quỳnh,</em> Nguyễn Quỳnh Trấn Biên (Phú Yên) (Gia Định) Trấn Định (châu) Trấn Man (châu, luỹ) Trấn Ninh (xứ, châu) Trấn Tây Thành Trần (họ, triều đại) Trần Anh Trần Anh Tông Trần Bá Lộc Trần Bá Thọ Trần Bạch Đằng / Trương Quang Triều Trần Bửu Kiếm Trần Cảnh/Bồ, Thái Tông Trần Cảo (đầu Lê sơ) (cuối Lê sơ) Trần Chân Trần Chu Phổ/Tấn Trần Công Ninh Trần Công Xán Trần Cụ Trần Dần Trần Di Ái Trần Doãn Trần Dụ Tông Trần Duệ Tông Trần Đại Luật Trần Đại Thức Trần Đạo Tái Trần Đình Long Trần Đức Hoà Trần Đức Huy Trần Đức Lương Trần Đức Thảo Trần Đức Việp Trần Hiến Tông Trần Húc / Ngự Câu Vương Trần Huy Liệu Trần Ích Tắc Trần Khánh Dư Trần Khát Chân Trần Khắc Chung Trần Kiện Trần Kim Thạch Trần Lãm Trần Lão (lão?) Trần Lăng Trần Liên Trần Liễn Trần Lục Trần Lựu Trần Minh Tông Trần Nam Trung / Trần Lương Trần Nghệ Tông Trần Ngọc Liễng Trần Ngỗi / Giản Định Đế Trần Nguyên Diệu Trần Nguyên Đán Trần Nguyên Đỉnh Trần Nguyên Hãn Trần Nguyên Huy Trần (/Nguyên) Khang / Trần Thiêm Bình Trần Nhân Tông, Giác hoàng Điều ngự Trần Nhật Duật Trần Nhật Hiệu Trần Phế Đế Trần Phó Duyệt Trần Phong Trần Phú Trần Quang Diệu Trần Quang Khải Trần Quang Long Trần Quang Xưởng Trần Quốc Chẩn Trần Quốc Hoàn Trần Quốc Khang Trần Quốc Kiệt Trần Quốc Tảng Trần Quốc Tuấn / Hưng Đạo Vương, Đức Thánh Trần Trần Quốc Vượng Trần Quý Khoáng / Trùng Quang Đế Trần Quý Nha Trần Tấn Trần Thánh Tông Trần Thiên Lại Trần Thủ Độ Trần Thừa Trần Thượng Xuyên / Thắng Tài Trần Tôn Trần Trọng Kim Trần Tuân Trần Tung Trần Tự Khánh Trần Văn Đỗ Trần Văn Giáp Trần Văn Giàu Trần Văn Học Trần Văn Hương Trần Văn Hữu Trần Văn Kỉ Trần Văn Lai Trần Văn Lũ Trần Văn Ơn Trần Văn Thạch (CS) Trần Văn Thành (Đức Cố Quản) Trần Văn Tình Trần Văn Trạc Trần Văn Trung Trần Vàng Sao (Nguyễn Đính) Trần Xá Trần Xuân Trạch Trâu Canh Trâu Tôn <em>Tri Tân tạp chí</em> Triều Tiên / Đại Hàn Triệu (triều đại), Triệu Đà / Vũ Đế, Triệu Mạt / Văn Vương Triệu Nhữ Quát Triệu Quá Triệu Quang Phục / Việt Vương Triệu Tiết Triệu Túc Triệu Xương Trinh Minh Trình (Trần) Nguyên Bá Trình (Trần) Nguyên Đỉnh Trịnh (họ dân, chúa) Trịnh Bách Trịnh Cán Trịnh Căn Trịnh Cối Trịnh Công Năng Trịnh Công Sơn Trịnh Cương/Chù Trịnh Doanh Trịnh Duy Liêu Trịnh Đình Thảo Trịnh Đồ Trịnh Đỗ Trịnh Giác Mật Trịnh Giang/Khương Trịnh Hàng Trịnh Hoài Đức Trịnh Khả Trịnh Khải Trịnh Khắc Phục Trịnh Kì / Đào Quang Huy Trịnh Kiểm Trịnh Lãm / Hoàng Nhân Dũng Trịnh Lệ, Trịnh Lịch, Trịnh Luân, Trịnh Phất Trịnh Quốc (Hoàng hậu) Trịnh Sâm Trịnh Tạc Trịnh Toàn Trịnh Tráng Trịnh Trọng Tử Trịnh Tuy Trịnh Tùng, Bình An Vương Trịnh Xuân Trịnh Viên Trọng Thuỷ Trotsky, L. trống đồng Trúc Lâm Trung lập chế Trung Hậu hầu <em>Trung nghĩa ca</em> Trung Quốc / Trung Hoa, người Hoa Trung hưng (Lê) Trừng Quốc công Trương (họ Lê Bá Ngọc), họ Đàng Trong Trương Bá Cần Trương Bá Nghi Trương Bội Công Trương Chu Trương Công Da/Gia Trương Đăng Quế Trương (Công) Định Trương Hán Siêu Trương Hát Trương Hiển Trương Hống Trương Hữu Quýnh Trương Lập Đạo Trương Ma Ni, (Ni sư) Trương Ma Trương Minh Giảng Trương Như Tảng Trương Phát Khuê Trương Phụ Trương Phúc Loan, “quân Quốc phó” Trương Phúc Phấn Trương Phúc Phượng Trương Quyền Trương Tấn Sang Trương Thị Ngọc Lãnh Trương Tịch Trương Trà Trương Tử Anh Trương Văn Hạnh Trương Văn Hổ Trương Văn Sáng Trương Vĩnh Ký Trường Châu Trường Chinh / Đặng Xuân Khu Trường Giang Trường Kì / Nagasaki Trường Lưu Trường Sa (quần đảo) / Nam Sa Trường Tiền / Tràng Tiền Trường Viễn Đông Bác Cổ / EFEO Tùng Thiện Vương</p>
<p><strong>U</strong> U Thant Um Mưrup Ung Bảo Toàn Ung Châu Ung Văn Khiêm Urdurgia Uy (Tư khấu) Uỷ ban Xô viết Nghệ An (phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh) Ưu binh Ứng Phong Ứng Thiên</p>
<p><strong>V</strong> Vachet, B. Vannier, P. / Nguyễn Văn Chấn Vạn Gia Bá Vạn Kiếp Vạn Lại Vạn Tượng Vạn Xuân Văn Cao <em>Văn hiến thông khảo</em> Văn Khuông Văn Lang Văn Lương Văn Phong Vân Đồn (Tây Sơn) Vân Đồn (thương cảng) Vân Nam (trống) (tỉnh), Vân Nam Vương Varenne (Toàn quyền) Vauban Versailles (Hiệp ước) Vệ Quốc Đoàn Vị Long Vị Xuyên Vial, P. Viên Kiệu / Vân Kiều Viên ngoại lang Việt (cửa) <em>Việt chí</em> Việt Chứt (ngôn ngữ) <em>Việt điện u linh tập </em>Việt Khê Việt Nam, <em>Việt Nam sử lược</em> (Trần Trọng Kim), <em>Việt nam sử lược</em> (Từ Diên Húc), <em>Việt Nam thế chí, Việt sử cương mục</em> Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội / Việt Cách Việt Nam Quốc Dân Đảng / Việt Quốc Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng Việt Nam Quang Phục Hội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân Việt Thường vijaya (đơn vị hành chính) Vijaya (nước, người) Vinh Li Ma Vĩnh Khang Vĩnh Tế Vĩnh Long Vinitaruci / Tì Ni Đa Lưu Chi Viollis, A. Virapura Võ Cạnh Võ Nguyên Giáp Võ Phiến Võ Tánh Võ Thành Minh Võ Văn Kiệt Võ Văn Lượng Võ Xán Voltaire Vọng Các / Bangkok, Công thần Vọng Các Vọng Thê Vũ Chân Vũ Công Đức Vũ Công Tuấn / “BaoTan”, Tiểu Giao Cương Vương Vũ Duy Chí Vũ Đái/”Cứt” Vũ Đình Hoè Vũ Đức Cát Vũ Đức Cung (Long Bình Vương) Vũ Hạnh Vũ Hồng Khanh Vũ Mọng Uyên Vũ Như Tô Vũ Quốc Thúc Vũ Thạnh Vũ thắng (binh) Vũ Thư Hiên <em>Vũ trung tuỳ bút </em>Vũ Văn Dũng, Chiêu Viễn hầu Vũ Văn Mật Vũ Văn Nhậm / Võ Văn Nhiệm Vũ Văn Uyên Vũ Xuân Cẩn Vụ “Gián điệp Bình Định” Vua Lửa, Euil At Vua Núi / Sơn Vương Vua Nước Vũng Long / Neak Luong Vũng Tàu Vương An Thạch Vương Mãng Vương Nhữ Chu Vương Thông</p>
<p><strong>W</strong> White, Jh. Woodside, A.</p>
<p><strong>X</strong> Xa Khả Tham xã (tiểu, đại) Xã Hội (đảng Pháp, Việt) Xã tắc (thần) Xak Pakei Xiêm La, Tiêm / Tiêm La, “Xiêm”, Xiêm binh Xít-ta-lin Xuân Đài Xuân Lộc (địa điểm, trận chiến) Xuân Thuỷ Xứ Châu</p>
<p><strong>Y</strong> Ỷ Lan Yan Pu Nagara Yang Mun Yang Po Ku Vijaya Sri / Đức vua Tôn Quý Thắng lợi Yang Prong Yavana/Youn Yên Báy (xứ, khởi nghĩa) Yên Phi (tàu) Yên Sở Yên Tử Yeng Sary Yersin, A. Yogi Aoyagi Yoni Yuvaraya</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23910/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>B&#224;i Sử Kh&#225;c Cho Việt Nam&#8211;Chương XIX</title>
		<link>http://damau.org/archives/23903</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23903#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 10 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23903</guid>
		<description><![CDATA[Thời bình dẫn theo sự hưởng thụ có ngay trước mắt mà ước vọng lí tưởng còn quá xa vời nên phải có những toan tính lắt léo, tuy không đủ lấy thúng úp voi nhưng cũng ghìm giữ được sự thật một thời gian, hay có thể ghìm giữ lâu dài khi cố không buông bỏ quyền lực.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160; </p>
<h2 align="center"><em>CHƯƠNG XIX:</em></h2>
<h2 align="center"><strong>CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP: CƠN MỘNG DU 30 NĂM (II)</strong></h2>
<p> <strong></strong>
<p><strong>&#160; </strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Người và tình thế mới: The Young Turks, lực lượng thanh niên Miền Nam</strong></p>
<p>Cuộc chiến tiếp nối sau Genève, nhìn từ phía VN DCCH tuy có những xê dịch tiến đến độ cường ngạnh, quá khích gây ra những xáo trộn nội bộ nhưng vẫn được trình bày với mục đích cứu nước khích động, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong ước mơ. Để biện minh cho lí tưởng sau cùng và thực tế quy tụ quần chúng trong tay, người ta đẻ ra cụm từ “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” kết nối từ khẩu hiệu “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”. Do một chừng mực đồng nhất đó, cùng với sự co cụm vốn là bản chất của một phe tuy là đã xuất hiện trên diện địa rộng lớn toàn cầu, tình hình cuộc chiến lần thứ hai này trên bình diện thế giới lại gần như là xoay quanh từ những biến động của Sài Gòn, Miền Nam với những thông tin đi theo với các phương tiện truyền thông mới nhất, tạo thành một cuộc chiến dành cho các nhà báo, gây tác động không nhỏ đến cả đường hướng chiến tranh nói chung. Sự biến 1-11-1963 ở Sài Gòn mang danh xưng “Cách mạng” tại chỗ, tuy không có ý nghĩa đạo đức chính trị như người ta muốn có khi gán cho nó, nhưng lại là dấu hiệu rõ ràng về một quá khứ “thuộc địa và phong kiến” không trở lại nữa – sự đoạn tuyệt đó, lạ lùng, lại giúp cho người Cộng sản bớt được cản trở trong việc tiến chiếm và củng cố quyền hành trên đất nước.</p>
<p>Về mặt chế độ, có thể nói Đệ nhất Cộng hoà mang tính chất hậu thuộc địa, thừa hưởng nền dân chủ thu nhận từ Pháp với các nhân viên quân sự, dân sự được đào tạo thời thuộc địa hay trong chiến tranh dưới quyền người Pháp, do đó cả sinh hoạt xã hội, cung cách ứng xử của con người, rõ ràng cũng đầy tính chất liên hệ với cuộc sống trước 1945. Tuy nhiên, cầm quyền lại là người Việt nên yếu tố “truyền thống” lại nổi lên, rõ rệt nhất là ông Tổng thống vốn là một cựu Thượng thư, để cho những người chống đối dễ dàng tìm được lời buộc tội: “phong kiến”, “độc tài”, “tham nhũng” mang thêm chữ mới “gia đình trị” không xa. Cũng bởi mang dấu vết truyền thống mà chính quyền mới đã sử dụng thành công một cung cách đàn áp, căn bản không khác gì phía đối nghịch, để tạo ra một thời bình an ngắn ngủi không dễ thấy lại trong suốt cuộc chiến. Có lẽ cả trên Miền Bắc cùng thời, vốn không dấu vết chiến tranh, cũng không thể có được sự thoải mái trong sinh hoạt ở phần đất mà họ chê là dưới “sự kềm kẹp của đế quốc và tay sai” này. Chút khoảng trời quang mây tạnh trong chiến tranh tàn khốc, nhắc lại có thể làm người ta ngạc nhiên, như khi đọc vài dòng ngắn ngủi của sử quan xưa khen thời Mạc Đăng Doanh “không trộm cướp, cổng ngoài không đóng, người đi đường không nhặt của rơi&#8230;” Dấu hiệu rõ nét sau thời loạn là cuộc chen lấn chết người trên chiếc cầu nhỏ trong sở Thú bắc qua Thị Nghè, trong dịp mừng Quốc khánh 1956. Tranh tài thể thao – trong một chừng mực, có nghĩa là vui chơi, được nổi lên trong khu vực với các trận thắng bóng bàn ở Asian Games 1958, SEA Games 1959, đá bóng thắng để người Nhật tặng đôi giày nhỏ với những lời khiêm tốn&#8230; Sự bình an thấy rõ, ít ra là trên những vùng khá rộng lớn khiến cho đường xe lửa tái lập đi thẳng đều đăn từ Sài Gòn ra đến Huế. Cho nên có thể nói sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà là sự đổ vỡ của một quá khứ, Tổng thống bị giết là hình ảnh một lãnh tụ (không cần phải “anh minh”) quy kết lòng người, muốn tìm mà không thể tìm lại được nữa. Không còn một “triều đình” họ Ngô với ông cựu Thượng thư làm Tổng thống, ông cựu Đốc phủ sứ làm Phó, vài ông Bộ trưởng, Tỉnh trưởng vốn là tri huyện, tuy không phải như thời Nam triều, nhưng cũng học được các cách làm chính trị người cộng sản vừa dạy cho. Và thất bại. Người Mĩ trong ảo tưởng về sức mạnh của chính mình, của thế giới Tây Phương mà mình là đỉnh cao, đã cố gắng tìm một công thức xây dựng mới nhưng rõ ra là đã hoài công. Không còn sự kết nối nào trên vùng đất này nữa cho đến ngày 30-4-1975, với một khuôn khổ khác, theo sự mơ tưởng của chính không ít người Việt Nam.</p>
<p>Và lại không chỉ có sự đổi thay thế hệ đến mức gãy đổ riêng ở Miền Nam. Ở Miền Bắc, khuất lấp sau tiếng hoan hô tở mở Điện Biên, đẩy viễn vọng hoà bình củng cố tin tưởng vào chế độ mới, vẫn có những đổi thay thế hệ, khó thấy chỉ vì vùng đất này đã tự rút mình vào vùng khuất của thế giới thông tin, lại gói trọn sự tranh chấp vào một hệ thống tổ chức quây kín với bên ngoài. Vẫn còn đó, một ông Chủ tịch nước năm 1945 nhớ mình là con một ông Phó bảng, chấp chứa một quá khứ văn thân đủ để tha chết cho ông cựu Thượng thư dòng dõi Phụ chính Đại thần từng có người không chịu “phế vua”, với kết quả không tính trước là người cựu tù nhân đó lên làm Tổng thống, cho phép thuộc hạ săn sóc mồ mả ông cựu tri huyện lưu lạc trên đất Cao Lãnh gà đá muỗi mòng, cái mả nhỏ nằm nhờ đất chùa đó trở thành Lăng sau 1975! Nhưng ông Chủ tịch không thể vượt lên quá khứ của chính mình, nên khi cầm đầu đất nước đã thú nhận mình không có tư tưởng gì khác lạ, đành phải mượn (1951) “tư tưởng Mao Trạch Đông” làm nền tảng cho đảng Lao Động của mình lấy đó mà sinh hoạt. Công cuộc Thổ cải / Cải cách ruộng đất áp dụng tư tưởng Mao vào Việt Nam đã gây bước đoạn tuyệt với ảnh hưởng thuộc địa còn sót đâu đó, để ông Tổng bí thư Trường Chinh thấy mình lựa chọn bí danh rất hợp thời thế, rồi sẽ quên những luận điểm văn hoá bắt chước của R. Garaudy hồi đầu kháng chiến mà chịu nghe theo lời khuyên Trì cửu chiến áp dụng cho cuộc chiến trước mắt, diễn giảng thành “trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi”.</p>
<p>Thế là theo với chiến thắng, lớp người 1945 phải lùi vào bóng tối, bị loại bỏ hay nhẫn nhục sống cuốn theo thời mới. Như anh hùng thảo dã Huỳnh Văn Nghệ vào Hội Nhà văn. Như Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo với cái thế cựu đảng viên cộng sản Pháp từng tỏ oai phong với đám đảng viên thuộc địa, nay co lại trong các tổ chức hành chính, đảng bộ trên đất lạ, không quần chúng. “Le héro de Chợ Đệm”, Hung thần Nguyễn Văn Trấn lẩn khuất đi theo các đội đấu tố cải cách, sẽ lạc loài với thời chiến thắng 75 đến mức phải chịu nghe các bà đương quyền bực mình mắng mỏ, xếp vào hàng “những thằng hưu trí”. Trần Văn Giàu từng không chịu là “con gà rót” đối với trung ương, nay cũng nhờ tăm tiếng “đi Tây”, vào Đại học Đông Phương của Liên Xô, nép mình làm ông thầy giáo, chờ dịp trở về nổi bật trên đất xưa mà không có chút thay đổi với mớ kiến thức quay quắt thời cũ, viết hồi kí kể chuyện chỉ vài năm trong cuộc đời 6, 70 năm làm cách mạng của mình! Đó là những công thần được ca tụng buổi đầu như Trần Đại Nghĩa, các trí thức mang bằng cấp thuộc địa như Tạ Quang Bửu, như các bộ trưởng Vũ Đình Hoè, Nguyễn Văn Huyên nay vẫn còn giữ chức nhưng bị các bí thư chi bộ, nhân viên có “thành phần giai cấp” tốt mỉa mai, coi thường ngay trong cơ quan mình cầm đầu&#8230; Họ, hay chính con cháu các công thần như họ, khi vượt thoát ra ngoài tha hồ chê những kẻ hãnh tiến, để kể lể, ví dụ Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải) chỉ là kẻ khuất lấp thời tiền cách mạng nay lại là “Sáu Búa” của những lời xầm xì, không dám ngang nhiên như khi anh hoạ sĩ Ớt nằm vùng (Huỳnh Bá Thành) gọi “Tổng Thẹo” ở Sài Gòn. “Ông Sáu” oai quyền trùm trời đó, dám gạt ngang không cho “Bác” phát biểu trong cuộc họp&#8230; Trong thâm tâm chính ông Chủ tịch cũng biết mình vướng víu nhiều đến quá khứ, lúc này đã xa, quá xa nên chỉ dồn nén tâm lực vào trong ước mơ. Muốn làm người mở đầu triều đại, đánh dấu niên hiệu mới mà quyền bính vuột khỏi tay nên phải đành đưa tâm nguyện “tha thuế” cho dân chúng vào trong di chúc mà thôi! Những người trung thành với ông không thấy rằng với thời thế khác, “Bác” đã không được như xưa, đã hiển hiện đúng với con người thật chứ không như trong trí tưởng của họ.</p>
<p>Thời bình dẫn theo sự hưởng thụ có ngay trước mắt mà ước vọng lí tưởng còn quá xa vời nên phải có những toan tính lắt léo, tuy không đủ lấy thúng úp voi nhưng cũng ghìm giữ được sự thật một thời gian, hay có thể ghìm giữ lâu dài khi cố không buông bỏ quyền lực. Phải tìm ra, tạo ra thần tượng mới mang tính dân tộc, theo sự hình dung của tầng lớp lãnh tụ nhuốm đầy truyền thống khu vực, thế là vì “Các Chú ở Bộ Chính trị nói Bác không có vợ thì có lợi hơn” nên mới xảy ra chuyện thâm cung bí sử của thời mới (1957) từ sự lựa chọn lén lút mang tính dân tộc lớn, với người tình dân thiểu số, mới dẫn đến cái xác chết của bà hoàng hậu trong bóng tối tên Xuân kia. Cũng có thể nhìn sự việc một cách khoan dung hơn đối với ông ta, như theo cách nhìn sự kiện “hàng Pháp” của Phan Hiển Đạo: đó là một thực chứng hiện sinh giữa dòng điên đảo của đổi thay, cách mạng và chiến tranh, thực chứng có ngay trong đời của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành, ngơ ngác trên đất Marseille, làm đơn xin học trường Thuộc Địa (15-9-1911). Tuy nhiên sự kiện sex nọ biết đâu lại cũng đã biến ông Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Nước thành bù nhìn trong tay lớp thuộc hạ của mình? Bài thơ viếng Trần Hưng Đạo là một tâm ý đúng với con người thật của ông mà không đúng với dụng ý của các nhân vật lãnh đạo kế tục. Với thời gian, vẫn còn đó là thân xác ông Chủ tịch 1945, để được tiếp tục nhào nặn trái ý sau 2-9-1969, làm biểu tượng xuyên suốt cuộc chiến, mượn làm bậc sáng nghiệp thời đại Hồ Chí Minh cho đến bây giờ. Ngay ở đây, đã thấy có dấu hiệu thao túng của một tập đoàn nhận ra rằng quyền lực có thể mở ra đến vô hạn, để họ có bỏ công tranh đoạt cũng không phải là uổng phí. Ngô Đình Diệm, cũng dòng dõi khoa bảng, cũng độc thân cầm đầu một đất nước, lại không được hết quả như ông chủ tịch chỉ vì thiếu một tổ chức hội kín kết tập sít sao, mềm mỏng mà có sức đe dọa kinh hồn, xoay chuyển được quần chúng như họ.</p>
<p>Sáng ngày 2-11-1963, khi chiếc xe tăng chở xác đầy máu me của hai nhân vật cầm đầu Đệ nhất Cộng hoà về trại Tổng Tham mưu thì có thể thấy ngay sự hiển hiện quyền uy ở Miền Nam, về một thế lực mới được tạo dựng trong chiến tranh, đang đòi hỏi được hiện diện trên chính trường. Cách thế giết người: đã bắn mà còn có đâm, chứng tỏ vừa có sự thô bạo đạt thành qua thách thức, vừa có sự khiếm khuyết bởi thiếu tự tín. Tiếp tục như thế họ sẽ trồi sụt thoả mãn được điều đòi hỏi của tầng lớp mình trong phần thứ hai của cuộc chiến, theo với khả năng của họ và tình thế vây quanh. Nhưng trong khi họ loay hoay tìm cách tạo dựng quyền hành thì những thành phần khác tham gia vào việc đánh đổ “nhà Ngô”, mất sự kềm kẹp nay được bung ra, đồng thời cũng đòi hỏi quyền lực.</p>
<p>Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng do Trung tướng Dương Văn Minh cầm đầu, sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm, chỉ tồn tại trong ba tháng thì bị tướng Nguyễn Khánh làm việc “chỉnh lí&quot; lật đổ, lại là như một dấu hiệu gạt phăng ý định mong manh của người Pháp muốn trở lại tác động ảnh hưởng, ngả theo phe Cộng sản. Danh xưng Hội đồng Quân Đội Cách Mạng (21-3-1964) rồi Quân Lực Cách Mạng cho thấy sự biến đổi vụng về của lớp người chưa tìm ra thực lực của mình. Với bản chất của một tập họp có kỉ luật nên dù là vừa mới lật đổ một chế độ “độc tài”, họ thấy là cần phải tóm thâu quyền lực lại nên lập Hiến chương Vũng Tàu, xác định quyền hành về tay quân đội. Nơi hội họp lập hiến chương (Vũng Tàu) không phải là nơi của quyền lực thực sự (Sài Gòn) nên chỉ với những cuộc biểu tình rầm rộ là hiến chương bị huỷ (26-8-1964), chỉ tồn tại có mươi ngày! Lãnh đạo tôn giáo dùng khối áp lực của quần chúng mình để chen vào tình hình chung: Thượng toạ Thích Tâm Châu ra Thông bạch (1-9-1964) yêu cầu trừng trị người của chế độ cũ (Công Giáo!) thì Linh mục Hoàng Quỳnh yêu cầu chính phủ (8-9) chống nhóm Phật Giáo đồ Miền Trung. Uy thế của lớp lãnh đạo sút giảm như thế nên có đảo chính hụt (13-9) của các tướng tá Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát để chứng tỏ thêm rằng quân đội không thể đóng được vai trò quản lí đất nước. Thế là thêm với sức ép của người Mĩ, lại có việc hồi phục chính quyền dân sự (20-10-1964) đưa Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm Thủ tướng.</p>
<p>Lần đầu tiên chính quyền Miền Nam có những người cầm đầu là dân tại chỗ quanh thủ đô nên vấn đề Nam, Bắc ngấm ngầm lâu nay được dịp nổ bùng trong khi vấn đề Công Giáo Phật Giáo vẫn còn là điểm nóng, không phải chỉ gây xáo trộn đường phố mà còn dẫn đến tình trạng li khai địa phương. Phan Huy Quát của đảng phái di cư thay thế Trần Văn Hương (16-2-1965) làm Thủ tướng mà còn ông Quốc trưởng Nam Kì. Cho nên vẫn lại có chống đối bên trong, biểu tình bên ngoài để lớp tướng lãnh mới, từ cấp tá trẻ hơn, những người được báo chí ngoại quốc đương thời tặng danh hiệu The Young Turks, nhanh chóng thu thập cấp bực, tăng thêm tự tín qua vài năm biến động, nổi lên tranh giành nhau. Phạm Ngọc Thảo cứ tưởng có nhiều “gốc gác” (Nam Kì, Công Giáo, Mĩ?), làm đảo chính 19-2-65 với Lâm Văn Phát mà không thể thoát khỏi quá khứ Việt Cộng nên luỵ thân, để nhóm sĩ quan trẻ còn lại đẩy được tướng Khánh lưu vong (2-1965). Chính họ đứng phía sau sắc luật 24-5-1965 cho hồi hưu chín tướng lãnh, trong đó có Dương Văn Minh.</p>
<p>Nổi bật trong hàng ngũ họ, và ồn ào nhất, là Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư lệnh Không quân, một dân chơi play boy, vừa bởi cá tính vừa bởi nằm trong quân chủng được đương thời coi là quý phái, “bay bổng” nên có những quyết định bốc đồng gây thu hút, chấn động cấp thời tuy không tạo được nền tảng lâu dài. Gốc Bắc Kì của ông không phải không chịu chút thất thế trước sự đòi hỏi thăng tiến của các nhân vật địa phương đã bị lật đổ, đối chiếu đồng dạng rõ rệt với gốc gác các lãnh tụ Mặt Trận (Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát) được phô trương trên hình ảnh quốc tế. Chút níu kéo mơn trớn nhóm Liên Trường xuất thân từ các trung học cũ của Nam Kì không làm cho ông có uy thế hơn. Trong lúc đó, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu thâm trầm, mưu mô và có một ưu thế mà cấp thời người ta né tránh: dân Công Giáo, dù là “đạo theo”. Chừng mực thủ đắc mỗi thứ một ít trong vốn liếng tự thân, được khai thác thuận lợi cho con đường chính trị: làm tướng không cần phải giả tiếng, chút dấu vết đạo giáo để được trong ngoài chấp nhận mà không gây xào xáo, gốc gác Ninh Thuận được nối kết bằng quê vợ Mĩ Tho, cũng mang dấu vết “truyền thống” với lời đồn tin bói toán, mộ phong thuỷ&#8230; Trong Nội các Chiến tranh (19-6-1965) Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Lãnh đạo Quốc gia, cao chức mà né tránh trách nhiệm bên trong trong lúc Nguyễn Cao Kì, người mấy mươi năm sau xưng là “con của Phật”, làm Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp (Thủ tướng) múa may, quay cuồng.</p>
<p>Một chính quyền vá víu tôn giáo, địa phương như thế tất nhiên không thể làm thoả mãn thế lực Phật Giáo đang lên, thấy mình từng là nòng cốt chống đối, lật đổ một chính quyền “độc tài” mà vẫn còn ở thế bên lề, nên tiếp tục sắp xếp tổ chức nhắm vào tham vọng lớn hơn: “Chính phủ dân sự chống giới quân sự, giới dân sự chống Mĩ, giới sư sãi chống cả ba!” (Đại sứ M.D. Taylor). Nhưng ở thủ đô họ phải chùn bước trước khối quần chúng Công Giáo di cư nên biến động to lớn vẫn là ở cố đô Huế, mệnh danh là Phong trào Phật Giáo Miền Trung kể từ tháng 2-1966, lan đến Đà Nẵng để cũng lại gặp khối Công Giáo di cư nơi này. Báo chí của sinh viên, trí thức Huế sục sôi những lời lẽ, ý hướng quá khích mà không cho thấy lối thoát. Những lần tự thiêu không còn “mới” nữa, những cuộc biểu tình kiểu mang bàn thờ Phật xuống đường (6-6-1966) theo lệnh Thích Trí Quang (Phạm Văn Bồng), cho thấy tính chất “nội hoá” của hệ thống chống đối nên dễ dàng cho Việt Cộng chen vào khích động, và các Phật tử khi thất bại cũng dễ dàng thấy ra con đường “nhảy núi” để cứu lấy thân. Một phong trào quần chúng mang tính li khai cô lập như thế tất không thể tồn tại được, dù là có những kết quả mang tính biểu diễn như như chận tướng từ trung ương phái ra, cướp chính quyền biểu diễn vài nơi, lập “Trung đoàn (?!) quyết tử” Trần Đại Thức mang tên một anh hùng ngẫu nhiên như trong các biến chuyển bất ngờ tương tự nào khác.</p>
<p>Tám năm thời Đệ nhất Cộng hoà tuy không phải là thời thanh bình mơ ước nhưng một thời gian lắng dịu cũng là dịp để nảy nở một lớp người mới, một nề nếp sinh hoạt không dễ dàng chịu đựng ước thúc. Người thanh niên ở Sài Gòn đậu Trung học Đệ nhất cấp, lúc này về quê không cần tránh né vì làng không còn các du kích đe doạ trừng phạt họ tội đi theo thực dân. Trường học mở nhiều từ thành phố lớn lan ra thị trấn nhỏ, từ cấp thấp vươn lên cấp cao, bậc cuối cùng của trung học, làm mất sự dị ứng của người cộng sản đồng quê. Hệ thống giáo dục khá phóng khoáng nên sự thành lập các trường tư cũng đưa đến việc tăng nhanh sĩ số. Lẽ tất nhiên hệ luỵ về mặt kiến thức vì mở trường tràn lan chưa được bộc lộ trước các biến động tràn lấp. Ý thức địa phương, thế lực tôn giáo chen vào khiến cho Đại học không dồn ở Sài Gòn nữa mà mở ở Huế, Đà Lạt, nhấp nhỏm chuẩn bị ra đời ở những nơi khác. Lẫn lộn phức tạp nên Viện trưởng Huế là một Linh mục mà sinh viên là nòng cốt nổi loạn chống chính quyền Công Giáo.</p>
<p>Người ta ý thức được vai trò của tuổi trẻ nên các tổ chức thanh niên mới cũ, ra đời, phát triển: Thanh niên Công Giáo, Gia đình Phật tử, Hướng đạo sinh. Cô bé Quách Thị Trang, không ai cần biết học trường nào, ở đâu, nhưng được dựng tượng ngay giữa trung tâm Sài Gòn, dầu dãi mưa nắng đến nay, là tử nạn theo phong trào nổi dậy của Phật Giáo (25-8-1963). Một lớp thanh niên lớn lên đi tìm đường lối, vô tình hay có ý thức cũng bị lôi kéo bởi quá khứ, bởi những tập thể muốn tranh giành quyền lực. Người học sinh Nha Trang thấy bạn học gốc Bình Định (Liên khu V cũ) đưa xem tài liệu mácxít. Anh bạn Nam Kì giữa đám học sinh di cư lau nhau, đứng lên xin phép làm lễ kỉ niệm “trò Ơn” ngay trong giờ học. Anh ta khuất lấp hơn anh sinh viên Đoàn Văn Toại ồn ào hồi sau rất lâu, nhớ thời Chín năm mà tranh đấu phản chiến trong lúc từng là nhân viên ăn lương Mĩ. Cạu học sinh Phạm Xuân Ẩn đi Mĩ vào “Đại học trường làng” (Community College), chưa chắc đã có định ý làm gián điệp nhưng cũng là một trường hợp chực chờ làm con bài cho một hệ thống chính trị đầy âm mưu quấy đảo. Chưa bị lôi kéo vào những hành động cụ thể mà được trang bị kĩ thuật vui chơi mới, trong lúc thừa sức sống, đầy tham vọng ước mơ của tuổi trẻ “nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng”, nên họ mượn sân trường Đại học tách biệt “hát cho đồng bào tôi nghe”, làm người du ca của “quê hương ngạo nghễ” để mơ màng quá khứ thanh bình “mặc áo the, đi guốc mộc” (Trần Quang Long), hướng về tương lai rộng mở (Nguyễn Ngọc Thạch), thấy “bên kia sông là ánh mặt trời!” Lí tưởng yêu nước, vì mọi người, chung chung từ phong trào Hướng đạo, gợi mới với tổ chức Peace Corp của R.F. Kennedy, mở đường cho họ cùng đi đào giếng giúp người Thượng, xây nhà, phát thuốc cho dân nghèo&#8230; Đó là thời đại của những tổ chức Học đường Phục vụ Xã hội 1965, Du Ca 1966, của Chương trình Phát triển Sinh hoạt Học đường 1966&#8230;</p>
<p>Họ có thần tượng khích động từ bên ngoài, nhưng xuất thân từ trong nước nên dễ bị lôi kéo bởi ý thức dân tộc bảo thủ tại chỗ, dễ bị thu hút theo lực lượng chống chính quyền mang tính bảo thủ không che giấu chút nào, như Việt Cọng. Cuộc nổi loạn 1958 của sinh viên Pháp đưa ảnh hưởng vào trong nước, theo nguồn lí thuyết hiện sinh, dấn thân của lớp thầy giáo tốt nghiệp Đại học Pháp, mang ảo tưởng trí thức lãnh đạo tinh thần đất nước như ở các xứ xa xôi kia. Quan điểm Tự trị Đại học khiến ông thầy nhắc nhở công khai về Hồ Chí Minh trong giảng khoá, linh mục viết về mácxít in ra sách phổ biến mà không ai thắc mắc. Cũng từ sách vở Tây Phương, chủ nghĩa Mác giải thích trong thế kỉ XX vào Đại học Việt, mang một khuôn mặt “hợp lí” chứa chấp chữ nghĩa cao cấp hơn, để nảy sinh một lớp sinh viên thiên tả, hợp thời đại, ra đời có chút danh vọng ở Sài Gòn chật chội, hay vào bưng làm chức chưởng khuất lấp, nhưng cũng đủ đánh bóng dáng vẻ trí thức cho Mặt trận theo với đà chiến thắng dâng cao. Nhưng những cuộc tranh đấu phản chiến của sinh viên các trường Đại học Tây Phương, nhất là ở Mĩ, chỉ thực sự tác động đến thanh niên Miền Nam, là khi những người này bị lôi vào cuộc chiến mở rộng, đe doạ đến thân xác họ. Tấm băng-rôn “Chống lịnh tổng động viên” kéo đi trên đường phố Sài Gòn là chứng cớ cụ thể. Tâm tình trốn lính mệt mỏi của Trịnh Công Sơn – Bob Dylan Việt Nam – kéo dài theo với cuộc chiến, được sự hưởng ứng đồng thuận của xã hội đương thời làm nên một nhạc sĩ tăm tiếng lâu dài nhất, át hẳn các khuôn mặt đàn anh Văn Cao, Phạm Duy – và do đó cũng lôi cả Phạm Duy nhập cuộc một chút qua loa.</p>
<p>Với tình trạng mở rộng ước thúc chính trị sau 1-11-1963, học sinh, sinh viên (thanh niên nói chung) bước từ vai trò quần chúng của các hội đoàn chính trị, tôn giáo trở nên có ý thức tự chủ hơn, muốn thành lực lượng xoay đảo tình thế. “Xuống đường! Xuống đường!” biểu tình là khẩu hiệu đầy khích động đương thời. Họ không phải chỉ là những kẻ bất mãn vì bị xua đuổi sống bên lề xã hội mà có thể lại chính là con cháu những người đương quyền, xuất thân từ các gia đình vừa hưởng chút sung túc hồi phục sau chiến tranh. Biểu tình tuy có thể gặp đòn vọt, lựu đạn cay nhưng trong lẫn lộn xô đẩy không phải không có những thích thú, thấy ra quyền uy đạt được là to lớn, như đã làm tắt Hiến chương Vũng Tàu, ít nhiều gì cũng là yếu tố đẩy được Quốc trưởng Nguyễn Khánh lưu vong. Thích thú cả ở những chuyện nho nhỏ thường xuyên như xông vào các lớp học đập bàn, xua người xuống đường, hò reo đốt xe Mĩ ngoài phố, rồi cười rúc rích trong hẻm tối khi bị rượt đuổi&#8230; Vượt lên khuôn viên trường học của ý thức tuân phục thầy giáo có sẵn, họ đã quấy động, thuyết phục các giáo sư còn rụt rè, co rút chuyển dần sang thế chống đối chính quyền công khai, tích cực hơn. Sức trẻ của thời sung túc ngắn ngủi được sự chỉ đạo khít khao từ phía các tổ chức vận động quần chúng của Việt Cọng, gây nên những cuộc tranh cướp quyền lãnh đạo (Đại học Văn Khoa 1967, Tổng hội Sinh viên Sài Gòn), dẫn đến đổ máu trong sân trường (Ngô Vương Toại 1967, Lê Khắc Sinh Nhật 1971) để Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An có nhạc phẩm thời sự. Bạo động lan đến tầng lớp lãnh đạo đại học, xâm hại tính mạng giáo sư (Thạc sĩ Y khoa Trần Anh), cướp quyền lãnh đạo từ bên dưới để có tình trạng lãnh tụ sinh viên làm tuyên cáo cho “các thầy” kí! Rồi bạo dạn nồng nhiệt theo lệnh Đảng, tung ra ám sát các nhân vật có uy thế của chính quyền, phe địch (Viện trưởng Nguyễn Văn Bông, nhà báo Từ Chung, nhà văn chủ báo Chu Tử&#8230;) làm chiến tích lâu dài về sau. Trò chơi súng đạn trở thành phương cách thực hiện lí tưởng có dìu dắt, có biện minh, có cả thúc giục ép uổng nên họ sử dụng không ngần ngại giữa đám đông, không phân biệt (mìn định hướng ở bến Bạch Đằng ăn chơi, ném lựu đạn làm chết học sinh, nhà giáo ở sân vận động Quy Nhơn&#8230;) Trường hợp cô biệt động không tuân lệnh ở Đà Nẵng là hiếm hoi, đem may mắn đến cả với cô.</p>
<p>Với người Mĩ trực tiếp lãnh đạo chiến tranh thì sự thất bại của nhóm Young Turks dẫn về lại một chính quyền dân sự cho hợp với lời hô hào bảo vệ Thế giới Tự do, xây nền dân chủ. Một bản hiến pháp mới được soạn thảo, chuẩn bị bầu cử Quốc hội và Tổng thống&#8230; là những điểm then chốt cho hai tướng Thiệu Kì họp ở đảo Guam (3-1967) với Tổng thống Lyndon B. Johnson và các nhân vật quân dân sự quan trọng, bàn biện pháp đẩy mạnh chiến tranh. Hội đồng Quân lực còn không chịu buông bỏ danh vọng cuối cùng nên thu xếp sự tranh giành của hai ông chủ tịch, lập liên danh Thiệu Kì để đối phó với các liên danh dân sự. Cuối cùng Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành Tổng thống Đệ nhị Cộng hoà từ 3-10-1967, tìm cách tước quyền, đẩy ông phó lùi vào bóng tối. Tuy nhiên, tướng lãnh hay tổng thống gì cũng không kềm được tình hình suy sụp quyền bính của Miền Nam, cùng lúc với sự thúc đẩy của Việt Cộng Nam Bắc gây quấy đảo cả về phương diện quân sự lẫn chính trị, mang vũ khí mới khai thác tâm tình xưa cũ, tăng tiến với sự can thiệp của người Mĩ vào Việt Nam, vào toàn cõi Đông Dương cũ.</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Cuộc chiến một phía: Mĩ Việt và hệ luỵ của Thế giới Tự do</strong></p>
<p>Sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà và những rối loạn tiếp theo là dịp để người Mĩ tham chiến trực tiếp trên chiến trường Việt Nam, trút bỏ những ngần ngại can dự chính thức của các đời Tổng thống trước. Từ 1964, Thượng nghị sĩ M. Mansfield đã đề nghị để Miền Nam trung lập vì thấy Mĩ không đủ nhân lực để can thiệp vào mớ biển người Á Châu, nhưng Tổng thống Johnson thay thế Kennedy bị ám sát (22-11-1963) đã tuyên bố :”Tôi không thể là vị Tổng thống để mất Đông Nam Á”. Người Mĩ không thể nào với sự hiện diện của mình mà không khỏi lún sâu vào cuộc chiến trực tiếp. Chiến hạm Mĩ tuần tiễu sâu vào bờ biển Miền Bắc (đầu tháng 8-1964) gây phản ứng, khởi đầu việc oanh tạc, được Quốc hội chấp thuận với tên là Nghị quyết Vịnh Bắc Việt gây nhiều tranh cãi về sau. Tiếp theo lại có những phản ứng cho các vụ tấn công phi trường Biên Hoà (1-11-64), phá huỷ khách sạn Brink (Giáng sinh 64), pháo kích ở Pleiku (7-2), đột nhập Quy Nhơn (10-2), gây nổ toà đại sứ (30-3-65). Ngày 7-5-65, Johnson đề nghị thương thuyết điều đình nhưng trước sự tan rã thấy rõ của chính quyền Miền Nam, phản đề nghị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được coi là “gần như kêu gọi Mĩ đầu hàng”. Thế là chính phủ Phan Huy Quát gần như phải đặt trước sự đã rồi của hai Tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến đầu tiên đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng (8-3-1965), có các nữ sinh Việt Nam áo dài mang hoa chào đón thân thiện. Ngày 3-5-65, quân nhảy dù đến Vũng Tàu, một tuần sau lại Thuỷ quân Lục chiến đổ bộ trên bãi cát ở Quảng Nam giáp ranh Quảng Ngãi, rồi sẽ mang tên Chu Lai với các chuyện tranh cãi nguồn gốc bên lề cuộc chiến. Cuối tháng 6-1965 Mĩ có 59 000 quân tại Việt Nam, nhưng cuối năm đó là 184 300 người.</p>
<p>Thế là bắt đầu của những chiến dịch đụng độ trực tiếp với quân chính quy Miền Bắc trên thung lũng Ia Drang 11-1965, giải tỏa Pleime tiến sát đến Hạ Lào. Hết phía bắc đến phía nam, quân Mĩ mở các cuộc chiến đánh vào vùng Tây Ninh, chỗ trú của Trung ương Cục Miền Nam, dựa vào thế ẩn nấp núi rừng và an toàn khu giáp biên giới Cao Miên. Đó là cuộc hành quân vào chiến khu Dương Minh Châu tháng 11-66, hành quân Cedar Fall 1-67 tấn công vào Tam giác Sắt (Trảng Bàng, Bến Súc, Củ Chi), hành quân Johnson City trải trên một trận tuyến dài 35 km rộng 25 km.</p>
<p>Để cho cuộc chiến thêm tính chất chính nghĩa, Mĩ mời gọi nhiều đồng minh cùng tham gia. Đồng minh sớm nhất (1962) là Australia vì mang danh nghĩa thành phần Hiệp hội Đông Nam Á (SEATO), với 7 600 quân, New Zeeland 550 quân, Thái Lan 11 500, Philippin 2 000. Đắc lực nhất là Đại Hàn với 50 000 quân của các sư đoàn Mãnh Hổ, Bạch Mã, một lữ của Sư đoàn Thanh Long. Họ thiệt 4 400 người nhưng giữ gìn an ninh kiến hiệu trên một vùng rộng lớn vì tính chất chiến đấu Đông phương đồng dạng, không nề hà vượt qua những nguyên tắc luật pháp rắc rối mà người Mĩ phải lo vướng vào. Họ đến Việt Nam để lấy tiền Mĩ nhưng cũng là để có chiến trường tập luyện dự bị cho cuộc chiến trên đất nước họ. Các tư lệnh của họ cũng nhờ đó được tiếng tăm quốc tế để rồi sẽ lên cầm đầu nước như Chun Do Hoan, Roh Tae Woo. Đài Loan không được gởi quân vì e ngại khuấy động mối thù truyền kiếp nhưng sự giúp đỡ của họ tuy kín đáo mà ích lợi sâu xa, như các chiến dịch xây dựng nông thôn, mời đến cả các xã trưởng đi thăm Đảo quốc. Toán 31 quân nhân của Đài Loan đã góp phần chuyển đổi một Nha Tâm lí chiến nhỏ bé, mờ nhạt thành một Tổng cục Chiến tranh Chính trị, tuy không kiến hiệu nhiều nhưng có bề ngoài đe doạ người Cộng sản vì các phương cách tiến hành giống như của họ. Và có phần chắc là câu nói của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói&#8230;” đã xuất phát từ Đài Loan – câu nói ngược đời, lại chuyển từ một phê phán của Mao Trạch Đông, cũng do các bậc Thánh hiền Trung Quốc phán ra!</p>
<p>Tuy bị lúng túng nhưng Mĩ cũng không hổ thẹn là cường quốc đương thời. Sư đoàn không kị I đến An Khê vào tháng 9-1965, quân số có lúc đến 20 346 người, được Bộ Tư lệnh Vận tải Đường biển dùng 13 vạn tải hạm và 4 hàng không mẫu hạm chuyên chở tất cả binh lính, quân dụng và 480 trực thăng của sư đoàn. Mỗi ngày họ cần 1 600 tấn tiếp liệu, sử dụng 4 600 tấn đạn, tiêu thụ 4 triệu gallon xăng mỗi tháng. Trước sức mạnh biểu dương đó, đứng ngoài, dù là cường quốc cũng thấy e ngại, cho nên Liên Xô từng đề nghị cho Bắc và Nam Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc hòng tránh chiến tranh, còn Trung Quốc thì đề nghị các đồng chí Việt Nam chỉ nên đánh với cấp trung đội – phá hoại, du kích, mà thôi. Nhưng con voi cũng có cái nặng nề của nó. Tướng không quân Mĩ từng chê việc dùng B52 thả bom đường mòn của người gùi súng mang lương thực, việc đánh phá lều lá ở mật khu địch, là dùng búa tạ đập ruồi. Họ phải loay hoay với rất nhiều ràng buộc pháp lí, tổn phí tiền bạc để biện minh cho việc can thiệp vào Việt Nam.</p>
<p>Dưới con mắt của cả thế giới nhìn vào, họ gần như trần truồng trước sự xoi mói, không phải của chỉ kẻ địch mà còn cả đám phóng viên như bầy diều hâu đi tìm danh vọng, tiền bạc trong chiến tranh. Những bức ảnh của phóng viên chiến trường, trung thực hay chế biến, với tác động tâm lí to rộng tức thời, được giải thưởng Pulitzer đã gây nên những phản ứng tiêu cực cho cuộc chiến, gây hệ luỵ lâu dài cho kẻ phải chịu đựng một thành kiến mà ta gọi là <em>sự lệch chuẩn văn hoá.</em> Đại tá Nguyễn Ngọc Loan bắn người đặc công bị bắt trên mặt trận (E. Adam chụp hình, Võ Sửu quay phim) bị coi như có một hành động ghê tởm, không văn minh nhưng thật ra ông ta cũng xử sự bình thường như hành động của phía người đối kháng qua những tin tức thờ ơ, ngắn gọn trên báo chí Sài Gòn, ở những sự biến chỉ làm đau lòng người vợ, bầy trẻ con nạn nhân mà anh phóng viên ngồi uống bia trên thềm khách sạn Caravelle, Continental không cần biết đến. Hình cô bé bị napalm đem lại danh vọng cho anh phóng viên ảnh tập sự nội địa, được thu xếp đưa lên mạng tin, thấy như có cả lửa bom xăng nóng rát, thật ra chỉ là ghi nhận ở trên đường chuyển thương (nhận xét Trần Hoài Thư).</p>
<p>Người xa tưởng tượng kẻ địch nằm trong đồn luỹ kiên cố, công sự kềnh càng nên đau lòng bất mãn thấy cảnh nhà tranh bị đốt mà không chịu nhận ra đó là nơi ẩn trú của chiến binh địch, cũng có nghĩa là một chiến lũy, không thể gọi bằng tên gì khác. Thấy xác trẻ con nên đón chào người chiến binh hết nhiệm vụ bằng lời mắng chửi “baby killer” mà không biết trong thân xác kẻ vị thành niên kia là một khẩu AK, một trái lựu đạn, một ước mơ làm “dũng sĩ diệt Mĩ”. Sự ràng buộc không phải chỉ ở cấp điều khiển trên cao mà lụy cả những nhân viên cấp thấp, ở cả những cậu bé quân dịch vào chiến trường mà chưa kịp bỏ thói nghịch tinh ở nhà trường. Địa đạo Củ Chi làm nên danh vọng khác thường cho quân kháng chiến, với hầm bí mật ngoằn ngoèo gây tác hại cho sinh mạng quân lính nếu tấn công theo lối thường, thế mà dùng đến lựu đạn cay phải xin phép vì đây là vũ khí hoá học! Du kích Củ Chi thú nhận sợ chạm mặt nghĩa quân, địa phương quân hơn bởi vì người lính Mĩ không thể phân biệt ai là “Việt Nam”, ai là “Việt Cộng”. Sự nhập nhằng gây tranh cãi mang tính lí thuyết từ xa đã được người chiến binh giải quyết cấp thời tại chỗ theo hướng bảo vệ thân xác mình, dẫn đến quan niệm thù địch đầy tính cách tiêu cực cho cuộc chiến, ẩn giấu một ý thức tội lỗi: “Việt Cộng là một người Việt đã chết”. Cứ dồn ép như thế để rốt lại gây nên những scandal lớn, kiểu vụ “tàn sát Mĩ Lai” (Sơn Mĩ 16-3-1968) theo đà thiên lệch của tình thế đã trở nên quan trọng hơn vụ Mậu Thân Huế, có số lượng nạn nhân mươi lần hơn.</p>
<p>Sự ràng buộc dẫn đến hiệu quả yếu kém nằm ngay trong tổ chức cồng kềnh của một quân lực mang tính đối phó toàn cầu. Lục quân can thiệp ở Việt Nam là 368 300 người nhưng quân tác chiến thực sự không đầy 100 000 vì phần còn lại nằm ở vị trí yểm trợ. Trừ phần tình nguyện nhà nghề, quân lính là của hệ thống quân dịch với nhiệm kì một năm khiến người ta có thể nói đến 4 triệu người luân phiên phục vụ cho cả chiến tranh. Các cậu bé 18 tuổi ngơ ngáo xa đất nước cả vạn dặm, loay hoay khoảng 8 tháng là lo tính ngày về, chưa kịp quen với chiến trường gian khổ, xứ sở thiếu tiện nghi nhưng cũng đủ thấy sự cùng khốn tác động ngược vào bản thân nên bị lôi cuốn theo tình trạng nghiện ngập ma tuý, chống đối đến mức treo thưởng giết chỉ huy mặt trận (Fragging &lt; fragmentation). Rồi kéo theo về xứ là sự hoảng hốt hành xử bệnh hoạn, để dân nhà y xứ Mĩ nói đến hiện tượng post-traumatic stress / disorder syndrome kèm tên Việt Nam. Thế là chiến tranh động đến cả nước Mĩ, một nước Mĩ cũng đang bệnh hoạn với vấn đề kì thị chủng tộc, chống văn minh, được đà rối loạn phát triển thành các phong trào hippy, beatnik sử dụng ma tuý như một tôn giáo&#8230; Tình hình chống đối chính quyền cũng nằm trong thời đại thiên tả trên lãnh vực toàn cầu mà có lẽ sự thất bại của chủ nghĩa Mc Carthy đã gây mạnh dạn thêm trên đất Mĩ với cơ sở hiến pháp yểm trợ cho nó. Bên ngoài xã hội là những cuộc biểu tình phản chiến như vẫn thấy ngày nay nhưng lan rộng trong giới sinh viên, dẫn đến hành động xé thẻ quân dịch, trốn sang Canada kề cận biên giới&#8230; Bộ trưởng Quốc phòng Dean Rusk khi thôi chính quyền đã không thể tìm được một chân giáo sư Đại học, vì tính chất chống Cộng thời làm-quan của ông.</p>
<p>Với danh nghĩa Chống trả sự bành trướng của Cộng sản, cụ thể là chống quân Bắc Việt xâm lấn Miền Nam – và có thể cũng từ sự tự tin ở sức mạnh của mình, người Mĩ thực hiện một cuộc chiến to lớn một cách thụ động mà không tự biết. L.B. Johnson đưa lính trực tiếp vào Việt Nam mà chủ trương “đánh vừa đủ và đừng quá nhiều” – vừa đủ để Việt Cộng chịu hoà, và không nhiều để Liên Xô và Trung Cộng không nhảy vào! Các chiến dịch oanh tạc Miền Bắc, ban đầu là với tính cách đánh trả những cuộc đột kích vào người Mĩ trong Nam nhưng sự thực hiện cũng chỉ tiến hành theo cách tăng dần cường độ, với mục tiêu giới hạn, phản ứng theo từng nấc, sự kiện rốt lại chỉ làm tăng sự cương quyết của người chống đối và chừa thì giờ cho họ nhận viện trợ, tập luyện chống trả. Thành phố bị đánh phá nhưng có lệnh chừa 10 km cách bến cảng Hải Phòng, không đánh tàu có treo cờ cập bến, chừa 15 km quanh thủ đô Hà Nội, 30 km cách biên giới, dành nguyên cả một loạt thành phố nguyên vẹn, để cho quân Trung Quốc năm 1979 có dịp đập không còn mảnh ngói, theo lối đánh trận phương Đông, cụ thể chia xẻ tâm thức nhà quê sít sao của toán quân Tây Sơn ỉa vào cá mắm của Võ Văn Lượng ở Gia Định cuối thế kỉ XVIII. Rốt lại, vì không rõ bản thân vùng đất vốn đã “như ở thời kì đồ đá” (S. Karnow 1983), chỉ còn mấy cây cầu đánh đi đánh lại (P. Doumer / Long Biên, Hàm Rồng Thanh Hoá) để huênh hoang đòi cho kẻ địch “trở về thời đồ đá” mà không thấy khuyết điểm mở lối mòn cho kẻ địch đón đầu chận đánh, lặp lại nhược điểm đã gây ra thế công đồn đả viện từng thành công của phe địch, cả vào thời điểm cuối của trận đánh phá Giáng sinh 1974, phát sinh “chiến thắng Điện Biên Phủ trên không” của Hà Nội.</p>
<p>Chủ trương ngăn chận đó cũng ảnh hưởng vào việc xây dựng quân lực VNCH, là đồng minh thiết yếu của Mĩ, nếu không phải là chủ thể của cuộc chiến theo mong ước của một số chính trị gia. Lời hô hào Bắc tiến, mang tính huênh hoang hơn là theo thực chất của Nguyễn Khánh (19-7-1964) đã làm mất lòng chính phủ Mĩ, và ông tướng cao bồi Nguyễn Cao Kỳ thấy rõ trong việc chỉ được trang bị các phi cơ có tầm bay gần để ông phi công vận tải mang chiến đấu cơ phóng vài loạt bom xa đến tận Quảng Bình, rồi về (1965). Trang bị quân đội Miền Nam cũ kĩ đến mức trong khi đạn AK nổ dòn tan dịp Tết Mậu Thân thì quân tổng trừ bị như Thuỷ quân Lục chiến còn bắn carbin M1 từng viên, hay carbin M2 bán tự động! Họ cũng sẽ được trang bị theo như quân Mĩ sau đó, trong chương trình Việt Nam hoá từ 1969 nhưng rốt lại cũng không bì kịp với đối phương như lại chứng tỏ trong cuộc tiến công mùa hè 1972 của quân Bắc. Sự né tránh tăm tiếng xâm nhập Miền Bắc khiến cho Mĩ phải lập đài Gươm thiêng Ái quốc (4-1966), giả hình có một tổ chức chống Cộng ở Miền Bắc mà thật ra là cốt đề phòng để ăn nói với thế giới một khi các toán tình báo VNCH và Mĩ đi thu thập tin tức, phá hoại mà bị phác giác.</p>
<p>Dù sao thì việc quân Mĩ tung vào chiến trường cũng giải toả được cái thế bao vây của quân Việt Cộng, chiếm lại các lãnh địa bị mất qua những năm rối loạn sau 11-1963. Quân đội lên nắm quyền dù trong tình thế chao đảo của tình hình cũng hẳn nhiên lấn dần các hình thức dân sự. Đơn vị lãnh thổ quân sự Vùng Chiến thuật (1964) đổi tên thành (bốn) Quân khu (1970) có các Tiểu khu tương đương với các tỉnh hành chính mà với tình hình chiến tranh, nhân viên quân sự sẽ dần dần thay tỉnh trưởng dân sự, rồi lấn đến cả cấp quận bên dưới. Các đơn vị tổng trừ bị tăng quân số, chuyển đổi từ cấp lữ đoàn lên sư đoàn: Thuỷ quân Lục chiến tháng 7-1964 qua 10-1968, Nhảy Dù trong năm 1965. Tổ chức Biệt Động Đội đầu năm 1964 có đơn vị tiểu đoàn cùng với sự phát triển của các Lực lượng Đặc biệt của tình thế chiến tranh. Quân đội Cộng hoà tuy phải bận tâm lôi kéo vào những tranh chấp của các phe phái nhưng cũng vẫn tham dự vào những cuộc hành quân lấn chiếm lại đất đai trên phần đất Miền Trung (Thuỷ quân Lục chiến trên vùng bắc Bình Định) và Cao nguyên (Nhảy Dù trong trận Pleime), đương đầu với các đơn vị chính quy Miền Bắc xâm nhập. Và ngay cả ở những trận được Miền Bắc tuyên dương là đã chiến thắng (Đồng Xoài 6-1965), sự hiện diện của phía bại cũng là một dấu vết ngăn chặn. Ở hạ tầng cơ sở, các ấp Chiến lược bị phá vì sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà để Nguyễn Khánh kí nghị định giải tán (9-3-64), thay thế bằng các tên ấp Tân sinh / ấp Đời mới mang tính chính trị nhiều hơn. Và như đã thấy, ở Sài Gòn, dưới sự thúc đẩy của người Mĩ, các phe phía cũng nhận ra phải tìm cách thoả hợp giữa hai khuynh hướng quân sự và dân sự để có một nền Cộng hoà khác đang thành hình. Có cả một bộ Xây dựng Nông thôn (1965-71) với Trung tâm Huấn luyện cán bộ ở Vũng Tàu. Tổ chức Bảo An Đoàn, Dân Vệ Đoàn (1956) được thay thế bằng Địa Phương Quân, Nghĩa Quân (1964).</p>
<p>Điều đó có nghĩa là cuộc chiến có đà lấy lại mức thăng bằng nếu quân Mĩ đẩy được quân Miền Bắc ra xa ngoài biên giới với các cứ điểm Khe Sanh, Cồn Tiên&#8230; (cả phía biên giới Miên) để bên trong chính phủ Sài Gòn làm việc bình định. Tất nhiên đà lấn lướt của phe Mĩ Việt không phải không có sơ hở. Các cuộc tiến quân với quy mô lớn đã để trống những lõm nhỏ của các tổ chức du kích địa phương – không phải chỉ là những đơn vị nhỏ, cùng với cả hệ thống tổ chức chính trị đảng chặt chẽ quen thuộc của người Cộng sản. Sự việc rối loạn ở thành phố, dữ dội với tự thiêu, chiếm chính quyền như ở Huế tuy không được các lãnh tụ đánh giá kịp thời để lợi dụng nhưng đó cũng là nơi nhem nhúm, kết tập sự chuyển hướng của đám thanh niên đi theo lời kêu gọi giải phóng, chống Mĩ xâm lăng. Ước mơ làm bồ câu trắng chung chung đã có đường mở tiếp theo “&#8230; là người tôi sẽ chết cho quê hương” tuy họ đã trở thành công nhân viên chức Sài Gòn, được hệ thống pháp lí bảo vệ cơm áo, như nhà giáo biểu tình, chống đối (Trần Quang Long, Lữ Phương&#8230;) mà vẫn không mất việc, mất lương mọt khi chưa bị kết án, hay nhảy núi, ra bưng. Thành phố có lúc chỉ có cái dáng an toàn bề ngoài. Chính quyền Miền Nam chứa điều kiện ruỗng nát từ trong hậu phương của mình như thế, nên không lấy làm lạ là có trận chiến Tết Mậu Thân (1968) được trù bị cả năm trời của một đối phương, chỉ có mỗi một công việc là đi xin viện trợ về đánh trận theo lời lãnh tụ, đánh đến “năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa”, cho đến toàn thắng mới thôi.</p>
<p><strong>Cuộc chiến một phía: Hội kín VN DCCH trên vị trí tuyến đầu chống tư bản đế quốc</strong></p>
<p>Cuộc chiến kết thúc rồi một người Sài Gòn mới thấy ra: “Cứ cầm ngang lá cờ Mặt trận Giải Phóng, kéo màu đỏ xuống lấp màu xanh thì ra cờ Miền Bắc chứ khó gì mà phải nghĩ!” Ấy thế mà cả một Măt trận vẽ vời đầy ban bệ từ trên xuống dưới như thế vẫn hưởng được uy tín trong ngoài nước, mặc kệ những ấm ức của người trong vòng và ở cả một vài tỏ lộ của Hà Nội, không phải vì sơ suất mà vì muốn chừa chỗ giành trước con bài chủ động, không thể nhường bước cho đàn em dù là của mình tạo dựng. Tất cả đã được chuẩn bị đủ cho lời giải thích hồi sau: “Cờ xanh đỏ vàng là cờ Mặt trận, cờ đỏ vàng là cờ Tổ quốc”. Không thấy cách giải thích lúc cờ xanh-đỏ-vàng cũng là của “nước” Cộng hoà Miền Nam Việt Nam! Sách sử đầu thế kỉ XXI xác nhận, trước khi tập kết “Nam Bộ đã có 6 vạn đảng viên rút vào bí mật, hơn một vạn súng và nhiều điện đài được chôn giấu&#8230; tại Liên khu V hai vạn rưỡi đảng viên rút vào bí mật&#8230; Trị Thiên &#8211; Huế chôn giấu một số lớn vũ khí”, đặc biệt đã “bố trí nhiều cán bộ quân sự tại địa phương” nơi vùng đất nối cầu với Miền Bắc này. Thế cho nên có thể nói VN DCCH đã có thế trên chân ngay từ khởi đầu của cuộc chiến lần thứ hai mà sự tròng tréo quanh quất mặt trận này nọ, kéo dài đến 20 năm chỉ vì có sự hiện diện của người Mĩ, do đó lôi vào cuộc cả thế giới cộng sản và thế giới tả phái của chính hệ thống tư bản.</p>
<p>Đã có những người quần kết, đã thấy những người hồi kết với Đoàn 559 vận chuyển vũ khí, vạch lối vào Nam trên con đường Hồ Chí Minh sơ khởi nhưng cũng vì thực tế từ hiệp định Genève nên phải có một bộ mặt chính trị đối kháng trên vùng đất phía nam vĩ tuyến 17: Măt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, cái tên dài dòng đó là một sự giả dối chính trị cần thiết, tiếp tục cho sự chính danh chống ngoại xâm, giành độc lập, dân chủ, hoà bình của một ý định kiên trì xây dựng một chế độ cộng sản cho đất nước, như sẽ được công khai tuyên bố danh nghĩa sau 1975, khi không còn lực lượng đối kháng nào khác. Và vì còn có mặt khuất lấp như thế nên trong phần hai cuộc chiến này, dù sử dụng vũ khí tối tân, phương tiện tuyên truyền mang tầm mức quốc tế, tính chất hội kín lúc khởi đầu vẫn còn được giữ lại xuyên suốt trong tổ chức, buộc người bên ngoài chỉ được thấy những gì muốn cho thấy, thấy trong hé mở những khuôn mặt lấp lửng mang tính huyền thoại, vừa đủ cho giai đoạn.</p>
<p>Học giả Mĩ tò mò có thể đi sâu vào các văn kiện, tài liệu tịch thu của tù binh từ các cơ quan chính trị quân sự để tìm ra những tên người khá xa lạ, hay tưởng đã bị quên lãng trong cuộc chiến trước. Nhưng với dân chúng thông thường thì những cái tên nổi bật như Nguyễn Hữu Thọ luật sư, Huỳnh Tấn Phát kiến trúc sư (chỉ là một trong ba Phó chủ tịch cùng với Võ Chí Công, Trần Nam Trung), Trần Bửu Kiếm dược sĩ, Dương Quỳnh Hoa bác sĩ&#8230; không những không có gì là sắt máu phải xa lánh mà thật lại quen thuộc, nối kết được Sài Gòn hào nhoáng với núi rừng Cục Rờ thâm u, chưa kể một Hà Nội Thăng Long vời vợi có khuôn mặt Bác, Cha Già thân thương. Ông Tôn Thất Dương Kị hoàng phái, bác sĩ thú y Phạm Văn Huyến và Cao Minh Chiếm, kí giả kì cựu Nam Kì bị tống xuất ra Bắc (16-3-1965) là hình ảnh can trường của ông Nguyễn Hữu Thọ năm 1950, 60 tuy sau 1975 ông này lộ ra chỉ là đảng viên thường của đảng Cộng Sản. Ông Huỳnh Tấn Phát của đảng Dân Chủ chi nhánh của đảng Cộng Sản, nằm chịu đựng nguy hiểm tận cùng phía nam nên không phải bị ghép vào thành phần “xét lại chống Đảng” như Tổng thư kí Hoàng Minh Chính. Tuy nhiên, nắm vai một Phó Chủ tịch – rồi sẽ là Thủ tướng, không biết ông có phải chịu o ép, khinh miệt như Huỳnh Văn Tiểng hay không nhưng với trí thức thành phố thì ông vẫn là kiến trúc sư xây biệt điện Bảo Đại ở Đà Lạt, là người chủ trương báo Thanh Niên của Sài Gòn, dung chứa nhóm Hoàng Mai Lưu về nam, với ông Lưu Hữu Phước khá khuất lấp nhưng là người làm “quốc ca” cho hai thực thể chính trị đối kháng: Việt Nam Cộng hoà và Cộng hoà Miền Nam Việt Nam! Rồi không phải chỉ là quá khứ, dù là quá khứ gần mà ngay trong chính quyền mới tại Sài Gòn, cũng có người được ghép tên vào thành phần thành lập Mặt trận, như Trương Như Tảng với kỉ niệm cháu trai Nam Bộ được Bác vỗ về năm 1946, vào Khu bịt mặt dự lễ rồi về Thành làm Giám đốc Công ti Đường của Mĩ Diệm. Vẫn còn những người ở lại để tung hoành như bà Ngô Bá Thành / Phạm Thị Thanh Vân của Phong trào Bảo vệ Hoà bình, dù ông cha bị tống xuất ra Bắc. Những khuôn mặt không thể giấu, không cần giấu thì cứ cho ra công khai, còn những kẻ cần che giấu như một số của cuộc chiến trước thì vẫn phải cải dạng như Lưu Hữu Phước với tên Huỳnh Minh Siêng, Trương Gia Triều thành Trần Bạch Đằng (và nhiều tên hiệu khác). Cứ như là có cả một đoàn người ma quái làm việc nhân gian qua những nhân vật phô trương ở mặt tiền.</p>
<p>Những người đó không bao giờ được đi ra ngoài cho thiên hạ sờ ngắm mà chỉ là ẩn hiện để thiên hạ tò mò đồn đoán hay chiêm ngưỡng, đúng với nhận định của sử gia S. Karnow về ông chủ tịch có vai trò “vô tích sự” / inocuous! Làm nhân vật nổi bật của một thời đại, họ được nhắc nhở nhiều, chắc có khi cũng thấy “lấn cấn” như Trương Như Tảng lúc bị buộc học chủ nghĩa Mác nhưng vướng vòng danh vọng, chia xẻ chút hư danh thời tiếp nối, họ cũng bị đưa đẩy như các trí thức, nhân vật tăm tiếng của Sài Gòn trong các phong trào phản kháng ở đô thị thời chuyển tiếp và Đệ nhị Cộng hoà. Chút hư danh của thời loạn tuy đầy trắc trở nhưng vẫn có cái gì hấp dẫn. Mặt trận Bảo vệ Văn hoá Dân tộc (1967) rầm rộ họp chỉ trong một ngày mà đưa ra được một danh sách bầu bán dài dằng dặc, gồm đủ thứ lớp Cố vấn đoàn, Thư kí đoàn&#8230; có mặt Giáo chủ Bửu Sơn Kì Hương, Chánh thư kí Viện Tăng thống Phật Giáo, linh mục, trí thức Công Giáo, các nguyên Phó thủ tướng, Bộ trưởng, Khoa trưởng của chính quyền&#8230; Danh sách ấy là từ “trong khu” đưa ra qua tay ông Vũ Hạnh nhớ mãi đòn thù của địa phương căm hận, không kịp nhận ra là ông có thể tự ý bỏ cơ quan Văn Nghệ Liên khu V như Lê Trọng Nguyễn chứ không hẳn là được cài lại! Được bỗng dưng đẩy đưa như thế mà không thấy những nhân vật tăm tiếng kia lên tiếng phản đối hay ít ra là, cải chính! Các ông Chủ tịch, Cố vấn đôi khi chỉ làm việc kí tên trên những bản văn của Thư kí sinh viên soạn thảo! Có ý thức hay không, những người trí thức này nọ của mọi phía chỉ là con cờ của những người cương cường trong khuất lấp, nín nhịn ở hậu trường để đưa đẩy lịch sử.</p>
<p>Trần Nam Trung (tên thật Trần Lương) cán bộ quân sự cũ của Liên khu V, tập kết làm cán bộ phụ trách Uỷ ban thống nhất đất nước, tư lệnh quân đội Giải phóng từ ngày thành lập (1962). Đảng Cộng Sản đã giấu danh hiệu yêu chuộng, mang tên Lao Động ở Miền Bắc, vào Nam lại ẩn khuất thêm một tầng nữa với tên đảng Nhân Dân Cách Mạng. Nam Bộ, phần đất nổi bật khêu gợi sự chú ý của thế giới, nằm dưới sự lãnh đạo của một Xứ uỷ (1945, 1954) có một bộ tư lệnh mang tên Trung ương cục Miền Nam (1951) tái hiện năm 1960, quản lãnh toàn Miền Nam, rồi co lại từ Bình Thuận với Bí thư Phạm Hùng. Phần Trung Bộ còn lại nằm dưới tay Võ Chí Công, Bí thư của nơi ông xuất thân. Chưa kể Lê Đức Thọ với chức vụ Trưởng ban Tổ chức Trung ương cục Miền Nam (sau 1954) rồi Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng (1960) để sau 1968 vào Nam, chỉ là Phó bí thư Trung ương Cục mà nắm quyền chỉ đạo và điều khiển Mặt trận không có ai tranh cãi. Và không phải chỉ có sự khuất lấp trong rừng núi, biên giới mà có cả một liên hệ chằng chịt từng người, từng nhóm xuyên suốt đến tận vùng thị thành, với dân chúng ơ hờ quen thói của một xã hội chưa được cải tạo “xã hội chủ nghĩa”. Nắm được quần chúng trong tay, người cộng sản có thể luồn lọt hay gom góp những người của tổ chức khác (như của Phật Giáo, sinh viên) để biểu tình chống Mĩ Nguỵ trong các tập họp lớn, và còn thúc đẩy quần chúng của mình để uy hiếp các quận lị, đồn trại nhỏ với xác người khiêng theo, đòi bồi thường, đòi trả lại lúa gạo, trâu bò bắt đi (hay bị bắn chết)&#8230; Họ ngang ngạnh không kể rằng trâu bò, lúa gạo là chính tích trữ nuôi quân của họ, người chết là chính chiến binh của họ như lúc đám phụ nữ giằng co, giành giật các cậu-bé-chiến-sĩ-tù-binh trong tay đám lính Cộng hoà ngơ ngáo, đôi lúc có súng mà không biết bắn làm sao. Như lúc ông Tỉnh uỷ xúi đám phụ nữ cởi truồng uy hiếp người quận trưởng mới tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh, anh thanh niên con nhà quen biết của ông! Cách thế ăn vạ quen thuộc trong xóm làng được đưa lên thành chiến lược chiến thuật, quả cũng đạt được thành công một chừng mực đáng kể, cho đến khi thi hành trong một trận chiến khác, không phải với Mĩ Nguỵ mà là với đồng chí Đặng Tiểu Bình ân nghĩa cũ, mang quyết tâm đánh giặc “làm cỏ sạch, không tù binh, không thương binh”, như trong trận Cao điểm 1509 (Lão Sơn) tháng 4-1984.</p>
<p>Tổ chức len lỏi vào các cơ sở tôn giáo (Công Giáo) đưa đẩy người lên đến tận phủ Tổng thống. Tất cả tạo thành cơ sở cho những toán Biệt động Thành danh tiếng tấn công trụ sở hành chính, quân sự, ngoại giao (Mĩ) của chính quyền Sài Gòn, cho người liên lạc đưa tin của Phạm Xuân Ẩn ra khu, về Bộ Tổng tham mưu Hà Nội! Tất cả tạo thành cơ sở xã hội, tâm lí ý thức bình thường cho người thanh niên mơ hoà bình mà có thể chưa nghĩ là mình phục vụ người Cộng sản, cho người lính Dù bênh vực Vũ Hạnh, người sĩ quan An ninh Quân đội viết sách “phản chiến” mà không thấy mình chống chế độ đang phục vụ. Lê Trọng Nguyễn (tác giả <em>Binh nhì ca, Quán bên đường, </em>nhất là bản nhạc<em> Nắng chiều</em>) từ Liên khu V ra, gặp Nguyễn Văn Bổng ở Sài Gòn núp bóng Văn Lương điều khiển tờ <em>Tin Văn</em> mà thấy không cần báo cáo. Sự ngây thơ ngờ nghệch đó có luôn cả ở nhân vật cao cấp chính quyền, che chở cho thân thuộc trốn lánh cảnh sát, công an truy tầm&#8230; từ tình trạng ân tình quen biết, như Nguyễn Văn Thiệu nuôi con gái Trương Như Tảng gởi học MIT, Bà Thiệu có thư kí là em vợ Huỳnh Tấn Phát đến sự che chở của Dương Văn Minh đối với Huỳnh Tấn Mẫm, cả hai người đàn ông đều là Quốc trưởng! Mớ bòng bong rối tung đủ để cho lính Mĩ không biết đánh ai, vì mục đích gì&#8230; Và tất cả những đường lối quanh quất ấy được điều khiển từ một vùng hội kín lớn lao hơn ở Miền Bắc, nơi đã mang tên nước, có thủ đô, có ban bệ hành chính nội trị, ngoại giao, có lực lượng quân sự hùng hậu đã nhận ra: “Đánh Mĩ dễ hơn đánh quân Lê dương của Pháp”&#8230;</p>
<p>Đường lối chính trị đã được định sẵn, tổ chức đã có lối mòn thì những vấp váp không làm người lãnh đạo buông bỏ, những “sửa sai” không làm ngưng đà tiến bước. Cải cách ruộng đất vẫn được ca tụng là thành công. Chính sách cải tạo công thương nghiệp không nương tay đánh tư sản, lập hợp tác xã, tổ chức xí nghiệp quốc doanh, biến cả nước thành một guồng máy lớn. Các cải biến hành chính mượn vật vờ đâu đó như sáp nhập tỉnh, lập khu tự trị&#8230; không tác động gì nhiều đến tình trạng quản trị đất nước được thúc đẩy ngầm với quyền uy của tổ chức Đảng bên trong, bên dưới, chằng chịt những đảng viên, cán bộ mang tính truyền thống khu vực xưa cũ, càng lúc càng đậm nét. Tất cả kiêu hãnh với sự khích động dân tộc chủ nghĩa, pha trộn mới mẻ bằng chút lí thuyết xã hội vu vơ. Dân chúng phải sống trong khuôn khổ mới nhưng nhận vang vọng từ quá khứ của ý thức kì thị di man gây sự cương cường chống đối “kẻ xâm lược”, đồng thời với ý thức tuân phục ngàn đời để dằn nén chịu đựng quyền bính “dân tộc”, khi chưa cần đến sự nịnh bợ khuất nhục. Người cầm bút vụng về mới nổi, có uất ức chịu dằn nén hai ba mươi năm chỉ vì lỡ dại nói chuyện “cây táo ông Lành”, không ngờ chạm húy với tên tục của nhân vật đang lên (Nguyễn Hữu Thành/Lành, Tôn Thất [?] Lành) thì cũng như Trần Dần vào những ngày bị đày đoạ cứ ước mong ông Tố Hữu và Đảng ngó lại thôi!</p>
<p>Trên nền tảng đó, các lãnh tụ khi tìm cách tận dụng nhân lực như cổ động phong trào Ba Sẵn sàng / Ba Đảm đang cho phụ nữ thay thế thanh niên, không những đã lấp được nhu cầu càng to lớn theo đà lớn rộng của cuộc chiến mà còn kiểm soát được người đến tận trong gia đình thôn xóm, với vai trò truyền thống của phụ nữ các nơi chốn ấy. Lấy thân xác đương đầu với máy móc, những toán người của tổ chức Thanh niên Xung phong thành lập từ 1950 đã chỉ dùng đôi chân, hai bàn tay mở đường, sửa cầu, phá bom đạn, cũng tham gia chiến trường rồi thu dọn làm nhiệm vụ kết thúc cuộc chiến, mệt hơn cả người chiến binh. Tổ chức lớn rộng thu thập phụ nữ chủ yếu từ 1965, tạo nên kì tích nhưng cũng khiến cho nhà nghiên cứu (F. Guillemot) phải so sánh các hình ảnh trình diễn và thực tế chịu đựng: “Nụ cười rạng rỡ của các cô gái anh hùng trên nhật báo và phim ảnh tuyên truyền của VN DCCH trong chiến tranh đã chu du khắp nơi trên thế giới nhưng số phận bi thảm của chính những người anh hùng vô danh này vẫn chưa được mọi người biết đến đầy đủ”. Ông thấy đây là thể hiện khác của ý chí quyến tâm tranh chiếm quyền lực của giống Đực nơi các lãnh tu, nhưng cũng vượt trên vấn đề giới tính để nhận ra “thanh niên (Việt Nam)&#8230; bị kẹt giữa chủ nghĩa ái quốc đầy đòi hỏi và việc sử dụng chính trị lạnh lùng&#8230; Đằng sau những trang sách anh hùng và tuyên truyền chính thức, đằng sau những diễn văn biện giải, che giấu một sự thật sống sượng hơn, đau khổ hơn và bi kịch hơn&#8230;” Như hình ảnh người nữ anh hùng khô cằn, ngực đầy huy chương trên hình bìa một số <em>National Geographic,</em> hay khuất lấp trong các thôn xóm, ngõ hẻm đi tìm người cha cho đứa con tương lai để mong nhờ cạy lúc tuổi già xế bóng.</p>
<p>Thực tế kềm thúc chỉ được nói đến trong riêng tư như khi người bộ đội thú nhận sau 1975: “Không làm nghĩa vụ quân sự, chúng nó còng đầu cả nhà đi chứ lại!” Nhưng sự khiếp nhược lại được đền bù về vật chất bằng những tờ tem phiếu không thể thiếu, bằng một công việc có lương ổn định mà “chân ngoài dài hơn chân trong”, và tiếp theo là văn chương rổn rảng của những hồi hạ phóng, đi thực tế. Loại văn chương “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” của hàng loạt văn nghệ sĩ tê liệt thuần phục hậu &#8211; Nhân Văn, giúp những người nhanh nhạy đi nước ngoài hưởng một chút ân huệ buôn bán nhỏ, hay rủi ro chậm lụt thì ở trong nước giao lưu với văn nghệ sĩ thế giới, lãnh một tờ phiếu xe đạp để chụp hình biểu diễn. Sự pha trộn của lí tưởng mơ mộng và triển vọng quyền lợi đó, đẩy một bộ phận dư thừa của lớp người không sản xuất này vào Nam, tự tìm lấy vinh quang trong cái thế mở đường sống giữa cảnh bom đạn truy lùng của kẻ địch, tạo nên những nhân vật huyền thoại Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi&#8230; ngay trong chiến tranh, hay chực chờ làm huyền thoại nối tiếp như Đăng Thuỳ Trâm với cuốn nhật kí lưu lạc, tồn tại nhờ một quan điểm nhân bản khác&#8230; Cái không khí ngột ngạt đó, cái thế giới âm hồn đó bị trùm lấp dưới hàng vạn tiếng hoan hô, đàng sau những sinh hoạt chính trị phô trương, không được bên ngoài biết đến, mà có bị tiết lộ thì cũng không làm ai để ý. Có ai phải thắc mắc về việc phóng viên O. Falacci phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà bị buộc đăng theo bản của Hà Nội đưa ra, để có thể nghĩ rằng nhà báo thân Cộng Úc W. Burchett cũng có thể đăng bài tán tụng VN DCCH theo một bản văn viết sẵn như thế? Cho nên nhìn ở một khía cạnh khác, có thể nói các lãnh tụ Cộng sản tự bản thân là những chuyên viên kĩ thuật tài tình, những tay phù thuỷ vận động quần chúng giỏi giang hiếm có.</p>
<p>Nhưng qua tay chân, qua nhiều giai đoạn, không phải là tuyên truyền không có nhiều sơ hở, vậy mà không ảnh hưởng nhiều đến chiến cuộc cũng chỉ vì chúng trùm lấp trong tiếng bom đạn dồn dập, trên đà của một trào lưu mê tín mới thời giải thực được gọi là phong trào tả phái, ít nhiều gì cũng nằm trong vòng tay xoay chuyển của người cọng sản trên thế giới. Tình trạng hiểu biết thấp kém của dân chúng Miền Bắc, vì sự cô lập của chiến tranh khiến cho những phương cách tuyên truyền có từ đầu chiến tranh, nay xuất phát từ đầu óc những thư lại yên bình trên bàn giấy của các Ban, Viện, Bộ vẫn tiếp tục với thể thức, phong cách cũ – và vẫn được tiếp nhận phô trương trong các sinh hoạt đường bệ, ồn ào náo nhiệt.</p>
<p>Thật ra đây cũng là lây lan từ khung cảnh chính trị đương thời, từ các chuyện “tố khổ” / “tố điêu” mà ra. Tội ác của địa chủ được Cách mạng vạch trần đúng như thế thì phía địch cũng không thể nào khác. Thế là vẫn có những chuyện tra tấn đàn bà có chửa làm lòi con (chắc nhớ lời tác giả C.B. nói về Cát Hanh Long), vẫn có chuyện lính hiếp dâm cắt vú, xẻo mu phụ nữ (<em>Tiểu thuyết Vô đề</em> của Dương Thu Hương), chuyện chặt tử sĩ ra từng khúc ở Vũng Rô, không cần biết rằng với thời súng liên thanh, đại bác không ai mang dao thái thịt, mã tấu ra chiến trường. Không rầm rộ đến mức phải bào chữa như cây đuốc sống Lê Văn Tám nhưng từ chuyện thời đánh Tây “ôm bom ba càng” đơn giản ở Liên khu V, có chuyện (30-5-1966) Nguyễn Văn Bé dồn dập 3 danh hiệu: “dũng sĩ diệt Mĩ, dũng sĩ diệt nguỵ, dũng sĩ diệt xe cơ giới” ,“bị giặc bắt” mà “mưu trí” ôm một quả mìn lớn lao thẳng (?!) vào xe địch, tiêu diệt 69 tên giặc Mĩ và tay sai, cùng với 3 xe bọc thép của chúng! (<em>Việt Nam, những sự kiện,</em> Viện Sử học 1976). Tuy cơ quan Chiến tranh Chính trị của VNCH có đưa ra một hồi chánh viên để chứng minh phản bác nhưng cũng như mọi chuyện bất thường thời ấy, thời nay, anh hùng Nguyễn Văn Bé vẫn không suy suyển uy danh để vẫn được đứng tên trên đường phố về sau.</p>
<p>Có thể những người chủ trương chỉ nghĩ đến tác dụng từ âm hưởng của những lời tuyên truyền theo vang vọng vô thức của câu chuyện Tăng Sâm giết người, nhưng ở Việt Nam, tầng lớp trí thức không bỏ bản chất thư lại gia thần ngày xưa, vẫn cứ thản nhiên hoặc tâm thành biên chép các sự kiện như thế, bao gồm chuyện bắn rơi máy bay vô số, giết địch kể không xiết, từ tin tức tờ <em>Nhân Dân</em> chép ra thành các nghiên cứu của Viện Sử Học, Trung tâm UNESCO Việt Nam&#8230; Với thời thế, họ cũng hãnh diện với tính cách “đầu hàng Giai cấp” để dịch sách <em>Cương mục</em> bỏ chữ “khâm định”, và tán dương các “phong trào nông dân khởi nghĩa” thời Lê Trịnh để lùa vào đó “giặc May mắt” Hoàng Văn Chất! Khả năng trí thức của họ được thu dụng, khuôn nắn trong việc bồi đắp khoa học cho ông vua Hùng quốc tổ để ghép vào với danh hiệu văn hoá khảo cổ Đông Sơn mang bằng chứng trống đồng, càng lúc càng xuất hiện nhiều. Sách vở vốn cũng mang khả năng làm áp lực nên các quyển sách loại <em>Hùng Vương dựng nước</em> được đưa đẩy vào Nam, gợi ý cho các ông thầy nơi đây nhanh nhảu đưa chuỗi tiền sử Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn vào tập sử mới, chiêu dụ độc giả học sinh mua sách của mình. Sự thu hút này chắc không làm phấn khởi người Phó Tiến sĩ sử học Tô Minh Trung, được phái vào Nam để “nghiên cứu” gì đó mà lại ra chiêu hồi sau Tết Mạu Thân.</p>
<p>Những người nắm quyền Đảng đầy tự tín đến nỗi, không chỉ diệt trừ kẻ phản động cũ mà còn xoay ra đàn áp những người cùng phe khác nhóm, gán ghép tội trạng theo nhãn hiệu quen thuộc đương thời, như chống những thành phần Xét lại Chống Đảng theo Pháp lệnh trừng trị các tội Phản cách mạng của Trường Chinh kí (30-6-1967). Tình hình xảy ra vì sự xung đột trong phong trào cộng sản thế giới ảnh hưởng đến sự lựa chọn phe phía của Việt Nam mà phe thân Trung Quốc thắng thế dẫn đến những vụ bắt bớ, giam cầm “xử lí nội bộ” trong đó có một nhân vật còn sót hồi sau là Hoàng Minh Chính, Tổng thư kí đảng Dân Chủ, cái đảng được coi là thành phần chân rết của đảng Cộng Sản. Sự thu tóm nhân lực dồi dào được điều kiện hoá như thế, một mặt khiến cho về phía người lãnh đạo Đảng thấy có đủ thân xác tiếp nhận viện trợ, lao về phía trước tiến hành cuộc chiến, mà phía “bạn bè” – có khi bất đắc dĩ, cũng nhẹ nhõm khi thấy không phải tốn nhiều thân xác con dân họ như đám dân Mĩ kia.</p>
<p>Với người ủng hộ Miền Bắc từ phía Nam thì cho rằng sự ủng hộ của phe XHCN chỉ là sự hò hét nhiệt tình, có chăng cũng chỉ như những món quà thân thương. Chỉ vào hồi sau mới có những con số viện trợ cụ thể của các nước liên hệ, có chuyện tiết lộ (1991) 3 000 chuyên viên Liên Xô “làm tất cả để ngăn các cuộc không kích”, tranh giành với sự hi sinh trong số khoảng 200 phi công Bắc Triều Tiên tham gia chiến đấu, được làm lễ tưởng niệm công khai năm 2001. Cũng phải nhận rằng tinh thần “quốc tế vô sản” của phe Liên Xô khá cao nên trong khi ở Miền Bắc, những người ngả về họ bị đàn áp đến nỗi có người phải tị nạn trên đất họ, vậy mà viện trợ của họ không hề ngưng nghỉ – viện trợ những khí tài quân dụng tối tân, như máy bay MIG “đứng nấp trong mây rình bắn máy bay Mĩ”, hay hoả tiễn SAM mà phi công Mĩ thấy nhiều đến mức có lúc bắn không tới mục tiêu mà chỉ các mảnh tung ra đã đủ làm hư hại các B52 bay phía trên nó! Từ cuối 1965, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị hàng năm đã cất công đi xin viện trợ của Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc, Triều Tiên, năm này cho năm sau, mang bóng dáng quen thuộc không mỏi mệt đó đến cả sau chiến tranh, gây bực mình ra lời mỉa mai cho cả những người bạn hào phóng lúc trước. Vay không cần tính đến chuyện trả, chuyện đất nước to lớn cứ như trên một chiếu bạc khát nước!</p>
<p>Không phải chỉ đợi cuối thập niên 1970, vì cơm không lành canh không ngọt, Trung Quốc công khai xác nhận mới thấy vai trò trực tiếp của họ trong cuộc chiến. Từ khoảng 1968 đã có hàng vạn quân của họ vào đất Bắc mang theo anh thanh niên nghĩa vụ quân sự Trần Khải Ca, xây cất đường xá, làm nhiệm vụ phòng không, gây nên nỗi tức giận của vài người dân ngay ở đấy khiến họ phải vào tù. Hoàng Văn Hoan, cựu Uỷ viên Bộ Chính trị, xác nhận: “Bác và Trung ương đảng Lao Động Việt Nam cho quân đội Trung Quốc vào bảo vệ Miền Bắc Việt Nam”. Trong khoảng 1965-1970 có hơn 300 000 quân Trung Quốc đến đóng vùng mỏ Quảng Ninh, khu Tự trị Việt Bắc, Tây Bắc (nghĩa là gần hết vùng thượng du phía Bắc), xuống đến nam Hà Nội dọc đường số 1. Tin đó, khi đăng lên các báo Sài Gòn sau Tết Mậu Thân, cũng vẫn được coi như thêm một chứng cớ “tâm lí chiến” kiểu rêu rao “bán nước cho Nga, Tàu”! Số lượng quân có mặt lúc cao nhất là 170 000 trong năm 1967. Theo tài liệu giải mật về sau, họ đã chi viện hàng triệu tấn vũ khí, quân dụng và thực phẩm, kể cả loại bánh in thần kì của người bộ đội ăn “vài ngày không đói”, hay rau muống đóng hộp được khoe khoang kể ơn hồi môi răng cắn nhau. Các bao gạo mang hàng chữ Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc đại mễ, mốc meo chồng chất trong rừng phía nam sau 1975, cho thấy nguồn gốc những “hạt gạo cắn làm tư chia cho Bắc, Nam, Miên, Lào” có gốc gác từ đâu, và những công trình “nghiêng đồng đổ nước ra sông / thay trời làm mưa” để có những Cánh đồng 5 tấn, thật ra là tiếng hò hét thúc đẩy nhau trong cuồng vọng hơn là chính thực chất đạt thành. Tiết lộ trên báo chí trong nước sau 1975 cho biết có cố vấn trên chiến trường Miền Nam điều khiển hệ thống tổ chức phân phối viện trợ, không biết có phải là của Trung Quốc hay không. Vì tính chất thực dụng, người cộng sản không bỏ hẳn Nga nhưng theo Tàu, đối với họ, là một khuynh hướng gần như vô thức dưới áp lực tồn đọng của quá khứ và nhu cầu tranh chiếm quyền lực trong hiện tại. “Bài ca hữu nghị” những năm 1960 vang vang những câu ân tình <em>“Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông&#8230; Nhân dân ta ca: Hồ Chí Minh Mao Trạch Đông&#8230;”,</em> át hẳn những thực tế của các công trình viện trợ tồi tàn, kém chất lượng. Ngày sau, khi tỉnh giấc, khi cơm không lành canh không ngọt thì hô hoán là bị lừa gạt nhưng thật ra đó là vì khả năng Trung Hoa hồi ấy chỉ có thế mà thôi!</p>
<p>Tầm mức giúp đỡ to lớn của Trung Quốc mang tình “không biên giới”, đem lại hệ luỵ đương thời cho Mĩ mà cũng mở đường gợi ý lấn lướt chiến lược với cả Việt Nam hồi sau. Máy bay Việt bị săn đuổi có thể tị nạn trên sân bay bên kia biên giới. Trong hai năm 1965-66, vũ khí Trung Quốc qua cảng Sihanoukville đủ để trang bị cho 50 ngàn quân Việt Cộng. Từ năm 1957 họ đã viện trợ và cung cấp để Việt Nam huấn luyện, lập căn cứ cho Pathet Lào gây mất ổn định chính phủ Hoàng gia Lào và khiến Thái Lan lo sợ. Cái thế quan trọng của Lào như D. Eisenhower nhận định: “Mất Lào là mất Đông Nam Á”, làm cho tướng tình nguyện Việt Nam chê Pathét Lào mà vẫn đẩy họ lấn chiếm, đưa đến hiệp ước Genève trung lập về Lào (1962), là một bước lùi của Mĩ trước sự bành trướng của phe cộng sản. Và con đường đẩy đưa ra ngoài biên giới như thế, hẳn đã giúp các lãnh tụ Trung Quốc thấy có đà thực hiện chiến lược về phương Nam của Mao. Có thể với sự rối loạn nội bộ, với khả năng quân sự đương thời, Trung Quốc ghìm mơ ước, không muốn chọc giận Mĩ để Lâm Bưu khuyên Việt Nam chỉ nên đánh du kích nhưng với thời gian, thấy ra sự kiến hiệu của thân xác người Việt, bắt đầu từ kẻ cung cấp phương tiện chiến tranh thiết yếu, cung cấp tâm thức sinh hoạt đồng dạng ngàn đời được đổi mới có hiệu quả, họ nhận ra những đòi hỏi chiến lược của họ đã có cơ thực hiện khi thời thế đến.</p>
<p>Ít ra thì ở đây cũng có thể thấy ngay điều chưa xuất lộ, là trong trường hợp nước nhỏ cần đến những phương tiện lớn để đạt mục đích thì thế nào cũng bị buộc cứng nhắc trong mục tiêu xác định để phải chịu những sự lệ thuộc mình không mong muốn. Còn các nước lớn với tiềm năng lớn, thế lực vững mạnh sẵn, thì có thể xoay chuyển linh động theo cách có lợi cho mình, theo với những tình thế gợi mở dù chưa được toan tính trước. Nước Mĩ thua trận độc nhất trong lịch sử của họ nhưng không sụp đổ sau 1973, còn Trung Quốc thì thấy chiến thắng của người bạn nhỏ lại mở ra con đường về Nam, chiếm hàng triệu km vuông biển cả, thực hiện được mong ước không đạt thành của Hốt Tất Liệt ngày xưa!</p>
<p>Thế là người, vũ khí ùn ùn vào nam. Con đường Hồ Chí Minh huyền thoại không phải chỉ đi trên dãy Trường Sơn được đòi “đốt sạch” mà lấn qua đất Lào, toả ra nhiều hướng xuống Tây Nguyên, đồng bằng, được sử dụng không phải chỉ theo hướng bắc nam mà còn dùng cho chuyển vạn từ cảng Sihanoukville như đã nói, sau khi chừa 10% cho Hoàng gia Cao Miên. Với sự sụp đổ của Đệ nhất Cộng hoà, tổng số quân xâm nhập năm 1964 được tính là 17 427 người, gấp 14 lần năm 1960. Đơn vị vào Nam lên đến cấp trung đoàn nên mới có mặt tướng Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Hoàng Cầm ở Bình Giã. Quân Bắc đóng trên đất Lào, Miên, chỉ phải chịu đựng bom B52 hay những cuộc dò xét xâm nhập của những đơn vị Kĩ thuật phá hoại lẻ tẻ, hay đi dò xét tình hình mà thôi. Sự vướng víu vào tính công pháp quốc tế của người Mĩ trông thật tức cười nhưng có lẽ đúng, là cuộc sống lúc nào cũng có sự bất hợp lí của nó: Qua Lào Miên thì bị cả dân của mình coi là xâm lăng, mà ai tấn công từ đó thì được coi là sự hi sinh gian khổ theo chiến lược thần kì, chỉ vì lời biện minh có vẻ thuận lí “Người Việt có quyền đi bất cứ nơi đâu trên đất nước mình (?) để chống xâm lăng”. Rồi cũng có sự kiện ngày 27-4-1966, bộ đội Vĩnh Linh “lại” bắn súng lớn xuống nam vĩ tuyến tiêu diệt địch, phá huỷ máy bay, kho tàng&#8230; đánh tiếng tiền lệ 1972 về sau khi hàng rào điện tử McNamara lập tháng 6-1966 đã tỏ ra vô hiệu quả. Sự tràn ngập này thật ra không cần thiết, vì chiến tuyến Bắc Nam không phải chỉ dài hơn 40 cây số dọc sông Bến Hải mà là hàng ngàn cây số giáp giới biên cảnh Lào, Miên.</p>
<p>Sự hoài nghi chiến thắng ở Việt Nam đã phát sinh ngay trên đất Mĩ, ngay từ lúc Mĩ đổ quân ào ạt (lại cũng giống như các cuộc can thiệp bây giờ) nhưng không phải đã không đem lại tình hình sáng sủa trên vùng đất rối loạn này. Các thành phần chống đối đã mỏi mệt hoặc mỏi mòn. Phật Giáo chia ra hai phái Ấn Quang, Việt Nam Quốc Tự giành giật tín đồ, đất chùa. Giới Công Giáo an tâm thấy địa vị không suy suyển, có thể phát triển thuận lợi với tập họp tư bản mới mà không bị mang tiếng nhiều. Cuộc chiến lan rộng với các cuộc càn quét bắt lính, trấn áp nội loạn của chính quyền cũng làm cùn nhụt khí thế chống đối của một lớp thanh niên.</p>
<p>Và với phương tiện dồi dào, đối phó với sự xâm nhập trên đường mòn Hồ Chí Minh, người Mĩ đã đem vùng Cao nguyên Trung Phần / Tây Nguyên nổi lên trong chiến tranh. Điều đó không có nghĩa là chính phủ Sài Gòn đã bỏ lơ vùng đất. Nhưng tất cả những hoạt động của chính quyền lại vẫn mang ý nghĩa “truyền thống” là Việt hoá man di như đổi các tên Blao thành Bảo Lộc, Langbiang thành Lâm Viên&#8230; đăt các tên mới có âm vang quen thuộc “sang trọng” như Gia Nghĩa (giống ở phía nam có các tên Khánh Hưng thay Sóc Trăng, Trúc Giang thay cho Bến Tre, Vĩnh Bình thay cho Trà Vinh&#8230;) Người Mĩ đem đến một quan niệm tập họp đất nước dân tộc phóng khoáng, cởi mở hơn, quan niệm có thể bị những người mang tính “dân tộc lớn” chê trách nhưng rõ ràng là văn minh hơn. Họ mộ quân riêng trong các Lực lượng Đặc biệt khiến vai trò người thiểu số càng nổi hơn – đã được gọi là Thượng chứ không là Mọi nữa. FULRO (Front Unifié de Lutte des Races Opprimées) gồm thâu 3 Mặt trận nhưng dưới quyền Les Kosem được Sihanouk yểm trợ, nên có vẻ nổi bật với ý tưởng hồi phục nước Chàm xưa. Tù nhân trí thức Thượng được thả, FULRO nổi dậy ở Buôn Sharpa (20-9-1964) và các đồn Lực lượng Đăc biệt Thượng khác. Những cuộc trấn áp, điều đình lôi kéo dẫn đến sự thành lập các tổ chức của Đệ nhị Cọng hoà, đưa vào Thượng nghị viện hai người cựu Fulro và một người là dân biểu. Vị thế của người thiểu số lên cao nhất với sự thành lập Bộ Phát triển Sắc tộc ngày 16-12-1967. Sự thù hận các điểm tập trung dân Thượng cản trở bước tiến “giải phóng” khiến phát sinh những vụ thảm sát như ở Dakson (6-12-1967) cho thấy chiến tranh đã lấn sâu vào các tập đoàn Thượng như thế nào. Nhất là với những người cộng sản chịu đựng luồn lọt Ba cùng, nắm chắc dân chúng buôn rẫy, khoe khoang một anh hùng Núp đang được Bác tưng trọng ngoài kia khiến cho người xâm nhập hát hò “tiếng chày trên sóc Bom Bo”, xúi được dân sóc bắn tên lên cả trực thăng khung sắt!</p>
<p>Viện trợ và sự chi tiêu của quân ngoại quốc ở Việt Nam đã đem lại một hình thức sung túc mà người bác bỏ đặt tên là “phồn vinh giả tạo”. Nhưng thực phẩm dồi dào, mới lạ, máy thu âm ca nhạc, cái tivi đen trắng rồi màu mè, hàng PX lẫn lộn trong “rác” Mĩ thành đôla xanh đỏ, tiền ngân hàng&#8230; thì không thể là giả tạo để ruồng rẫy được. Với cấp thời trước mắt, đó là sự hưởng thụ, là đời sống thấy được nâng cao. Sự thừa mứa dễ dẫn đến sự hơ hỏng, kém quản lí để tiếp theo là những chuyến đánh hàng PX, với câu chuyện người tài xế dạm bán bộ máy computer 2 triệu đôla không được mới bị phát giác (hẳn vì đồ vật không phải gọn nhẹ như ngày nay). Một lớp người sống nhờ quân đội ngoại quốc theo thể thức bán buôn dịch vụ, đứng đắn hay không đứng đắn cũng thành một lớp trung lưu mới, chuyển đùa tiền bạc cho những người kém may mắn hơn. Các nơi đóng quân thành những tụ điểm dân cư mới, nối liền bằng một hệ thống đường xá rộng rãi, phẳng phiu hơn trước, bằng cả một hệ thống phi trường lớn nhỏ dày đặc với phi/quân cảng Cam Ranh tối tân. Thành phố Sài Gòn kết nối Chợ Lớn thông suốt, lấn lướt các đồn điền cao su Gia Định với nhà cửa cao tầng chập chùng, mang hệ thống điều hoà không khí không cần thuận theo tình hình thực tế gió mùa, nắng mưa.</p>
<p>Tất nhiên thay đổi cũng có nghĩa là đem lại rối ren. Vẫn còn thấy rối loạn trên đường phố, thỉnh thoảng vẫn còn những vụ ám sát, nổ bom phá hoại của Đăc công Thành, vẫn phải lén lút tiếp tế cho Việt Cộng&#8230; nhưng đại bộ phận dân chúng sống công khai dưới quyền chính phủ đã dần dần thấy có một đời sống khác, không giống với dạng hình cũ, dù là hình như chỉ vừa mới hôm qua. Đó không phải là cuộc sống thị dân, như sự tiến triển bình thường của định chế tư bản nhưng cũng là của những con người bị bom đạn loạn lạc dồn về các thành phố, chuyển hướng sản xuất thành bộ phận dịch vụ, chuyển đổi suy nghĩ để không dễ dàng theo sự chiêu dụ của người cộng sản, như dự tính của một số người làm chiến lược chính trị mong muốn. Và cũng như mọi toan tính khác, họ cũng đã sai lầm. Với vị thế ở đỉnh cao của hệ thống tư bản, người Mĩ đã đem lại cho xứ sở này sự đảo lộn xã hội, văn hoá lớn lao, lớn hơn cả khi dưới quyền người Pháp. Cho nên có phản ứng trên căn bản dân tộc ngay cả ở những người “theo Mĩ”, phản ứng mà kẻ thu đoạt được kết quả cuối cùng lại là Việt Cộng, những người nhanh nhẹn chụp bắt mọi cơ hội, những người trong tâm thức bảo thủ đến cùng cực đã nghĩ ra lập luận về sự bảo vệ văn hoá dân tộc, chống đối sự nô dịch của văn hoá Mĩ và tay sai&#8230;</p>
<p>Một thứ tư tưởng dè bỉu Di Man khuất lấp khiến cho người ta lăn vào chia sớt tiền bạc chiến tranh mà cứ ngần ngại, rẻ rúng với công việc “làm sở Mĩ”. Ý thức đó được chuyển tiếp công khai trên ngôn từ bằng lớp người của báo chí, văn học. Ở đây lại có thêm sự xung đột giữa lớp khoa bảng lớn nhỏ được đào tạo từ Pháp, còn đông đúc nhưng lại thấy mình có nguy cơ bị lớp người ở các trường Mĩ chèn lấn. Lại rắc rối là sự xung đột môi mép, chữ nghĩa được khuyến khích bởi ngay cơ sở dân chủ của chế độ đưa ra, tất nhiên lúc khởi đầu không cho thấy có nguy cơ nổ bùng tai hại. Như bản Tuyên bố sau cuộc Hội thảo về vấn đề phê bình văn nghệ ngày 15-1-1967, cho thấy chỉ đòi hỏi có sự tự do trong phê bình văn nghệ, nói rằng để chống đối “hiện tượng dâm ô và đồi truỵ càng ngày càng trở nên trầm trọng” trong sinh hoạt văn nghệ ở Miền Nam. Tuyên bố dùng sự đòi hỏi “phát huy nền văn học hùng mạnh và tiến bộ&#8230; bảo tồn và phát triển dân tộc” để chĩa mũi dùi chống chính quyền mà không để ai chú ý đến tên những nhân vật đồng kí có những người thiên tả, nằm vùng đứng ở các chỗ thật khuất lấp. Cũng như một đơn vị hội thảo là tạp chí <em>Tin Văn</em> nằm sau cùng trong liệt kê, tạp chí đó với Văn Lương, một cán bộ văn hoá vận lòn theo phong trào di cư, đã núp bóng làm mưa làm gió trên các sinh hoạt văn hoá đương thời. Mục đích là chống Mĩ nên không kể đến chuyện mâu thuẫn tức cười giữa một bên là nhà văn, chủ báo Chu Tử tác giả các bestseller <em>Yêu, Tình, Tiền, Loạn</em> bị tố cáo là viết sách khiêu dâm, bị ám sát hụt, với đối kháng là người được cho vào danh sách đứng đầu một Đoàn Chủ tịch của Phong trào Bảo Vệ Văn Hoá Dân Tộc, Giáo sư Đại học Nguyễn Văn Trung cổ động “nói chuyện với người anh em phía bên kia”, mà cũng là tác giả <em>Ca tụng thân xác,</em> nấp lén sau sự nghiên cứu, chứa chấp các ngôn từ thô lỗ, trắng trợn vẫn chưa dám xuất hiện ngay trong các tiểu thuyết bị chống đối nọ.</p>
<p><strong>Tết Mậu Thân: trận “ăn vạ” chiến lược</strong></p>
<p>Khoảng 1:20 sáng ngày 30-1-1968, quân cộng sản đồng loạt tấn công thủ đô Sài Gòn với 19 đoàn đặc công, vào các mục tiêu trọng yếu: Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, Toà Đại sứ Mĩ, Đài Phát thanh&#8230; Trước đó vài tiếng đồng hồ, nghĩa là vào đêm giao thừa (29-1) năm thành phố Quy Nhơn, Kontum, Darlac, Pleiku, Nha Trang đã bị tấn công. Từ mồng 1 đến mồng 2 Tết, mặt trận toàn diện mở ra trên 28 tỉnh lị bị xâm nhập với 16 tỉnh bị pháo kích, tổng cộng có hơn 100 địa điểm thành phố, thị trấn. Lệnh tấn công được cho rằng đã phát ra từ Chủ tịch đoàn Uỷ ban Trung ương MTGP lúc 18:30 ngày 30-1-1968 lại cũng chỉ là thói quen chiến thuật chính trị của thời đại vì thực sự, lệnh khích động khởi phát cho cuộc chiến chuẩn bị cả nửa năm trời là bài thơ chúc Tết (1-1-1968) của Chủ tịch VN DCCH: “Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”</p>
<p>Cuộc Tổng tấn công được coi là bất ngờ nhưng thực ra trước một tiến trình chuẩn bị lâu dài cho một chiến dịch lớn như vậy mà cho rằng không thấy có tín hiệu quân sự đánh động thì cũng nên xét lại. Người Mĩ xa lạ, nhìn vào những dấu hiệu lớn chỉ lo quan tâm đến địa điểm Khe Sanh bị bao vây (4 sư đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo và xe tăng), để bị đánh lừa bởi ám ảnh trận chiến Điện Biên Phủ 1954, trong đó có không ít khuynh hướng chủ bại của dư luận báo chí, quần chúng phương Tây. Quân Bắc đã sử dụng đến đơn vị sư đoàn với vũ khí tối tân để đánh các đơn vị Mĩ ở vòng ngoài giáp Miên, Lào, vùng cao nguyên, giới tuyến. Phía những người quen tung hô quyền lực thì cứ lấy sự kiện Quang Trung đánh nhau trong mấy ngày tết xưa mà tán thưởng cho cuộc chiến ngày nay. Không ai nhắc chuyện huênh hoang khoe âm mưu chất súng vào hòm với kèn trống đưa ma tiến vào thành phố, chính là phá vỡ đạo lí dân tộc không có cách gì bào chữa được. Có thể nhạo báng là chính VNCH mới đúng là kẻ sống theo truyền thống! Không như kẻ địch chỉ có mỗi một việc là đánh giặc, phe ta quan niệm: Có đánh thì phải có nghỉ ngơi, và chuyện nghỉ ngơi Tết Mậu Thân năm đó không phải là lần đầu. Vì thế trại lính cấp phép cho quân nhân về nhà – có khi khá xa nơi đồn trú, Tổng thống về quê vợ Mĩ Tho – cũng là đã có thận trọng, hơn là về Ninh Thuận xa tít, trắc trở hơn!</p>
<p>Chiến trận thật khốc liệt nhưng bao nhiêu mưu toan sâu kín của cấp lãnh đạo không màng đến tổn thất, với sự liều lĩnh của quân tướng cũng không đủ để đương đầu với thực tế. Sự bất ngờ có ở phía Cộng Hoà thì cũng có ở phía quân Giải Phóng, những người quen thuộc với núi rừng, đồng ruộng mà phải lạc loài vào thành phố nhà cửa chập chùng, ngoắt ngoéo đường xá đầy quân lính, cảnh sát Việt và Đồng Minh. Khi hết chiến tranh, họ cũng sẽ thấy lạc lõng như thế, dù là với tính cách người chiến thắng nhưng điều đó không tai hại bằng sự lạc lõng của những người lãnh đạo khi phải điều hành thành phố to lớn, ồn ào nhất Đông Nam Á. Toan tính chủ quan cho rằng có Tổng công kích thì có Tổng nổi dậy của quần chúng căm thù Mĩ Nguỵ, không phải là lầm lạc khó thấy ở những người mê muội kinh sách, nuôi ảo tưởng lâu ngày để dễ tưởng là sự thật. Họ không kịp thấy như đám phóng viên ngoại quốc, qua giây phút kinh hoàng bất ngờ của súng đạn máu me ghê rợn, lại có dịp thu vào máy ảnh cảnh từng tốp người xúm xít bên góc phố, chỉ chỏ bàn tán cuộc chiến đang diễn ra ở cuối đường, hay có lúc dàn cả trên một đoạn đường ngóng cổ về một chòm khói bốc lên phía xa. Dân Sài Gòn trong hơn 20 năm xem chiến tranh trong phim ảnh, nghe/đọc chiến tranh qua radio, báo chí, nay mới thấy tận mắt nên lò dò theo chân người lính, nhân viên cảnh sát truy bắt Việt Cộng quanh quất trong hẻm nhỏ, trên mái nhà! Cách ứng xử cũng thật là lạ lùng với người nơi khác nhưng đó là sự ứng biến tự vệ cấp thời khôn ngoan: di chuyển giữa súng đạn thì không núp lén mà đi ngay giữa tim đường cho các bên tranh chiến cùng thấy, còn chuyện tên rơi đạn lạc thì phó mặc cho Trời! Đừng đòi hỏi đám dân thành thị đó đứng về phía Cách mạng, Giải phóng!</p>
<p>Cái mê muội của những người nắm quyền sinh sát kẻ dưới tay thấy rõ trong quyết định tiến hành tấn công đợt hai (tháng 3), rồi đợt ba (tháng 4-5) trong tuyệt vọng của kẻ thừa hành. Đọc những đoạn hồi kí thành thật về sau của những người lâm trận thoát chết, để thấy rõ tình cảnh thê thảm của những cánh quân lẻ tẻ xâm nhập ngã gục, bị thương cứ trông chờ mòn mỏi, vô vọng ở những toán tiếp viện được hứa hẹn đầy nhiệt tình lúc khởi quân. Cho nên tình thế lật ngược nhanh chóng ở các thành phố lớn nhỏ, trừ cựu đô Huế nằm ở vị trí tiếp cận giới tuyến khiến chiến trận kéo dài đến hơn ba tuần lễ. Nhưng chính những gì xảy ra ở đây mới là phản ảnh đúng bản chất cuộc chiến nội địa.</p>
<p>Huế bị tấn công sáng sớm 31-1 theo ba hướng, qua những chuẩn bị từ 5 tháng trước, không phải chỉ được hoàn thiện về phương diện quân sự với chi tiết 200 điểm tấn công mà cả về phương diện chính trị nữa. Huế có những cuộc nổi loạn chống chính quyền Sài Gòn với giới Phật Giáo dễ có sự xâm nhập của Việt Cộng, và chính sự bảo thủ chống Công Giáo, chống Tây phương của một Cố đô cũng đẩy người tranh đấu lên rừng, ra khu. Cho nên ở đây mới xuất hiện những nhân vật tranh đấu chịu chết thảm vì không tìm được lối thoát (Ngô Kha), điêu đứng lận đận vì mang chất cộng hoà, còn sót lại lúc đã ở trong vòng tay cộng sản từng mơ tưởng (Nguyễn Đính / Trần Vàng Sao) hay may mắn (?) thuận hợp với tình thế chính trị, trở nên những người nổi danh hồi sau, có phân trần cho mấy nữa cũng phải chịu đựng oan thù từ các xác chết những ngày Mậu Thân năm ấy (anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường / Ngọc Phan, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đắc Xuân&#8230;) Vì có sự hiểu biết địa phương tại chỗ, nhiều và chính xác để tạo ân oán như thế nên mới có cuộc thảm sát ở đây, tuy có gây tranh cãi về số lượng, tính chất nhưng không xoá được sự hiển nhiên, như chứng kiến điên loạn của Trịnh Công Sơn, lần đầu tiên giáp mặt chiến tranh: <em>“Chiều đi qua Bãi Dâu hát trên những xác người&#8230;”</em> Người ta lập trước cả một danh sách “ác ôn” được lùng bắt đúng địa chỉ. Tính chất bài ngoại nằm trong lệnh bắt tất cả những người ngoại quốc trừ Pháp (vì tướng De Gaulle chỉ trích Mĩ), thế là các giáo sư y khoa Đức của Đại học Huế bị giết, giết cả Lm. Bửu Dưỡng từng xác nhận với bổn đạo là đã cầu kinh cho Hồ Chí Minh! Ít ai nhớ đến anh Trưởng Hướng đạo Võ Thành Minh từng thổi sáo than khóc chia cắt bên hồ Léman, cũng như sinh viên Sài Gòn quên chủ tịch Tổng hội đầu tiên (1964) Lê Hữu Bôi. Huế cung cấp thêm dáng “tổng nổi dậy” như thế nên theo thói quen lôi kéo người, ngay hôm sau ngày “giải phóng” là có thêm một mặt trận vô vị, Mặt trận Dân tộc Dân chủ Hoà bình, với các lãnh tụ dùng dằng chắp vá: Trịnh Đình Thảo mang tiếng tăm đặt tên đường Hồ Chí Minh trong trang trại Gò Vấp của mình đi khoe với Chủ tịch, Lâm Văn Tết nhân sĩ Biên Hoà khuất lấp như dấu vết thừa thải của thời trước, Hoà thượng Thích Đôn Hậu như hơi hướng của Phật Giáo tranh đấu, Giáo sư Lê Văn Hảo luỵ vì chút cảm tình thiên tả của đại học Tây trút cho đám đồ đệ tại chỗ, để rồi phải vùng vẫy nhục nhã thoát ra hồi sau&#8230;</p>
<p>Kết cuộc là có những con số lạnh lùng. Chỉ trong hai tháng 2 và 3-1968, VNCH có 4 954 tử thương và hơn 15 000 bị thương; Đồng Minh (phần lớn là Mĩ) có 4 114 tử thương và hơn 19 200 bị thương. Các đơn vị cộng sản có 58 373 chết và hơn 9 000 bị bắt. Thường dân chết là 14 300, bị thương 24 000. Nổi bật tại Huế không chỉ là sự tàn phá hoàng thành, tranh giành cột cờ mà còn là những hồi ức về sự tàn sát tại chỗ và những xác người tìm thấy bên bờ sông suối, ở ngoại vi thành. Điều đáng kể vì là chiến lược liều lĩnh thọc sâu vào thành phố, đồng bằng nên các đơn vị gốc tại chỗ phải chịu nhiều thiệt hại nhất, để từ đó nổi lên vấn đề oán hận hồi sau của Dương Quỳnh Hoa khi thú nhận với S. Karnow: “Chúng tôi thiệt những người ưu tú nhất”. Họ cũng lượng định có phản ứng ngược của người Mĩ đến tận Thủ đô nên ông Chủ tịch già yếu phải nương náu ở Trung Quốc, buồn thiu trong một căn nhà nào đó. Các tay chỉ huy chiến trường là kẻ nhận ra tình thế thất bại đầu tiên như Thượng tá Tám Hà, Trung tá Huỳnh Cự phải bỏ quân về hàng trong cuộc tấn công Sài Gòn đợt hai. Ở cuối đường chiến dịch là Trung tá Lê Xuân Chuyên về hàng khi thất bại trong trận công đồn Võ Đắt (Bình Tuy).</p>
<p>Thất bại quân sự kéo theo thất bại dân sự, để trống thôn quê cho các chiến dịch Phượng Hoàng, Bình định Nông thôn xây dựng làng xã, tiêu diệt cán bộ cơ sở, thu hẹp phạm vi hoạt động của họ. Trong 5 năm thực hiện (1968-1973) kế hoạch Phụng Hoàng đã gây thiệt hại cho 80 ngàn cán bộ cộng sản với 26 ngàn bị giết, còn lại là chiêu hồi, tù binh trong đó chỉ riêng hai năm 1969-70 họ đã bị thiệt hại hơn 14 ngàn chết và gần 15 ngàn bị bắt. Kế hoạch chiêu hồi, thu nhận hàng binh được thành lập từ 1963 có thêm Huỳnh Cự làm cố vấn phụ tá Thủ tướng, cũng như Tám Hà cố vấn phía Xây dựng nông thôn, Lê Xuân Chuyên chỉ huy trưởng các toán võ trang tuyên truyền. Cùng với các cuộc tấn công của quân đội trên đất cấm Cambodge, truy đuổi cục R, những người sống sót hồi sau nhớ lại thời “không còn chỗ trải chiếc chiếu mà nằm!” “Tâm lí bộ đội xoay quanh Ba lo: lo bom, lo đạn giặc, lo bệnh tật – và Hai ngán: ngán chiến trường Tây Nguyên, ngán lâu dài&#8230;” (<em>Nghiên Cứu Lịch Sử</em> 6-2011). Năm đầu thành lập chương trình Chiêu hồi chỉ thu nhận được 5 417 người nhưng năm 1970 con số lên đến 32 000 người. Thế là trong khi danh từ Việt Nam hoá từ phía Mĩ bị nhạo báng là thay màu da xác chết trên chiến trường, thì trong rừng núi khuất lấp cũng có tình trạng thay màu áo, màu quân phục chính quy Bắc Việt và màu chính trị đỏ hơn trong đầu óc các chiến binh, cán bộ sinh Bắc tử Nam. Các đồng chí khăn rằn, mũ tai bèo đã nằm xuống, người sống bị lấn át công khai hơn để có lời than thở não nùng, cũng của Dương Quỳnh Hoa.</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Cuộc chiến tàn bạo hồi cuối và phần kết thúc của giấc mơ </strong></p>
<p>Người ta không phải lạc quan vô cớ trước tình hình an ninh trở lại trong các năm 1969, 1970. Cứ nhìn xe đò chạy xuyên suốt trên những tuyến đường là thấy ra áp lực phía Việt Cộng đã giảm. Ngày 5-4-1968, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh lên tiếng chấp nhận hoà đàm khi vẫn chưa đạt yêu cầu (28-2-1967) “ngưng ném bom Miền Bắc”, chỉ có bớt ném bom (không quá vĩ tuyến 20, 31-3-1968), điều đó chứng tỏ một chút thấm đòn trong cuộc Tổng tiến công thất bại với cả đợt hai gắng gượng mà yếu ớt thấy rõ. Tuy không phải là “chiến lược kéo Mĩ xuống thang chiến tranh” như thói quen khoe khoang về tính chủ động thần thánh nhưng giai đoạn “đàm” kế tiếp là liên tục trong ý chí chiến đấu, cuối cùng đã đem lại kết quả đưa đẩy đến toàn thắng.</p>
<p>Lần đầu tiên người Mĩ bình thường không chỉ biết chiến tranh ở cái xứ xa xôi kia qua những bình luận, thông tin của các nhà báo mang về những hình ảnh dù gợi xót thương hay bất mãn nhưng dù sao cũng là muộn màng, có cách biệt. Nhưng đây là lần đầu tiên người Mĩ từ trong phòng ngủ, thức dậy kinh hoàng thấy lửa cháy, đạn nổ, xác người trên tivi hiện lên ở những vùng phố xá quen mắt, thấy Việt Cộng xâm nhập ở những nơi tưởng là bất khả xâm phạm như tòa Đại sứ của họ. Và với một chính quyền luôn phải chịu áp lực của quần chúng mỗi lần 4 năm bầu cử như chính quyền Mĩ, rõ ràng qua những ngày tháng bị tấn công liều lĩnh đó, họ đã phải chịu đựng sự phản đối từ mọi phía của những ngày trước kia, lúc này đã dồn ép lên đến đỉnh điểm. Kết cục, ngày 31-3-1968 TT Johnson tuyên bố không ra ứng cử nhiệm kì hai để công nhận sự thất bại của mình.</p>
<p>Dân Mĩ luôn luôn đòi hỏi thay đổi nên dễ “nóng ruột”, vì thế các cuộc biểu tình phản chiến trên đất Mĩ có thể nói là “dài như chính cuộc chiến”. Bắt đầu từ phong trào teach-in của giáo sư Đại học Michigan 24-3-1965 lan tràn qua những đại học khác để thành hình những cuộc biểu tình của sinh viên, quần chúng càng lúc càng lớn rộng, càng dữ dội. Đầu tiên chỉ có khoảng 20 000 người ngày 17-4-1965 ở Washington D.C., lên đến 100 000 người năm 1967 và lên tột đỉnh ở Thủ đô tháng 11-1969 với 250 000 người. Con số đạt nửa triệu vào một trong 4 ngày biểu tình tháng 4-1971, có mặt Jane Fonda, Jh. Kerry (ứng cử viên Tổng thống Mĩ 2006), biểu tình lấy tên Deway Canyon III nhái chiến dịch Deway Canyon II (Lam Sơn 719), phản đối cuộc tiến công qua Hạ Lào. Thật ra thì như đã nói, các cuộc biểu tình phản chiến xảy ra cũng mang tính cách phức tạp như chính xã hội Mĩ. Chúng lẫn lộn vào những đòi hỏi cải tạo xã hội như biểu tình sau cái chết Martin Luther King Jr., những rối loạn với vụ ám sát Robert Kennedy. Lí tưởng ngông nghênh và tập tánh phô trương của giới điện ảnh kịch trường khiến cô đào Jane Fonda ngồi trên nòng đại bác Hà Nội chống đối chiến tranh, để rồi cũng sẽ nói lời hối tiếc vuốt đuôi như nhiều người khác. Bạo động trong cuộc biểu tình ở Đại học Kent, Ohio 4-5-1970 phản đối đánh qua Cambodge làm chết 4 sinh viên, kéo theo những cuộc biểu tình tiếp ở các Đại học tăm tiếng của nước Mĩ. Phức tạp là như vậy nhưng ý thức thiên tả của thời đại cũng khiến những tập họp này ảnh hưởng riêng đến các du học sinh Miền Nam, những người trở thành những “Việt kiều yêu nước” đi biểu tình, tiếp tay phục vụ phái đoàn Mặt Trận trong cuộc hoà đàm Paris, hay táo bạo hơn, như Nguyễn Thái Bình định cướp máy bay bằng một túi chanh giả làm lựu đạn theo thời thượng không tặc đang lên lúc bấy giờ. Nhìn theo hướng thuận lợi của các biểu tình phản chiến như thế nên chính Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng cũng tỏ lời khuyến khích, tán dương trong tâm ý thành thật tin rằng “đúng là của phe mình”.</p>
<p>Rối loạn từ nước Mĩ dội ngược vào Miền Nam không phải chỉ bởi sự bắt chước thụ động mà bởi chính sự đồng dạng văn minh đi vào một khu vực yếu ớt, mỏng manh như ta từng bàn luận. Một tổ chức dân sự có Tổng thống, Thượng Hạ Viện, bầu cử 4 năm một lần cãi nhau chí choé, phô bày hết mọi xấu xa của đối phương để khi lên cầm quyền thì không còn chút uy tín nào trong một xứ vẫn còn quan niệm về “tài/đức” trị nước, chăn dân. Thành phố đáng lẽ là nơi an toàn theo khuynh hướng tự nhiên của bản chất chế độ thì lại là nơi khởi đầu rối loạn, không phải chỉ bởi kẻ địch tấn công. Sự chống đối chính quyền được coi như là một sinh hoạt tự nhiên, không cần bàn cãi, khiến cho người cầm quyền trở thành cô lập trong lúc phải cần sự tập trung quyền lực để đối phó với tình hình chung. TT Nixon viện dẫn có “đa số thầm lặng” theo mình còn được các poll chứng minh chứ chính quyền Miền Nam chỉ có thể co lại trong vòng rào kẽm gai, nghe lời phản đối từ bất cứ tầng lớp xã hội nào, cả từ những người trong vòng tay che chở của quyền bính mình. Sự lấn lướt như thế dễ dẫn đến sự tán đồng các khuynh hướng chống chính quyền khác, mang sự hấp dẫn vì chưa có thực nghiệm, hay chưa thấy sự đe doạ sát thân từ phía Việt Cộng, để bị lôi cuốn theo mà không phải xấu hổ vì điều tiếng xu phụ. Thế là xã hội thành phố Miền Nam trong những ngày có an toàn tương đối vì thất bại Mậu Thân của Việt Cộng, lại trở thành một nồi cám heo của mọi phong trào, tư tưởng khởi phát theo sự va chạm cá nhân, lẫn lộn nhân danh lí tưởng cao vời.</p>
<p>Ngay sau trận chiến Mậu Thân, quần chúng phản đối có thêm lực lượng hùng hậu của sinh viên vì chính quyền gọi tái ngũ, “bắt lính” dồn dập hơn. Có Hội thảo của sinh viên Văn khoa Sài Gòn (9-4-1968) chống tổ chức quân sự học đường, chống luật Tổng động viên. Họ chống luật cấm biểu tình 10/68, lập Uỷ ban vận động hoãn dịch, bắt tay với phái Ấn Quang, quấy động cả trong Giáng sinh 1968 “cầu nguyện hoà bình”. Bởi vậy không lấy làm lạ rằng ngày 13-6-1968, Hội đồng Đại diện sinh viên kêu gọi hoà bình, đòi thương thuyết, hẳn là với “phía bên kia”. Quan điểm tự trị Đại học mượn của Mĩ khiến sinh viên phản đối cảnh sát xâm nhập Đại học, bắt lãnh đạo sinh viên đưa ra toà. Khi họ biểu tình bị rượt đuổi chạy vào khuôn viên nhà trường, trụ sở sinh viên thì cảnh sát đứng ngoài ngó vào “bao vây”, hay có thể nói là canh chừng cho họ nhảy múa ca hát “cho đồng bào (!) tôi nghe” mà kết cục không ngăn được tù tội, đoạ đày. Tầng lớp Đại học được một chừng mực kính nể khiến bà Tiến sĩ Luật Ngô Bá Thành (Phạm Thị Thanh Vân) múa may quay cuồng trên đường phố. Cựu chức sắc cao cấp Bộ Giáo dục Lí Chánh Trung làm Chủ tịch Hội Giáo sư và Phụ huynh chống đàn áp Sinh viên học sinh, cựu Khoa trưởng Nguyễn Văn Trung làm Chủ tịch một Uỷ ban Bảo vệ Văn hoá Dân tộc, Uỷ ban Cải thiện Chế độ Lao tù&#8230; dù biết là “sinh viên làm hết”, các ông chỉ có kí tên mà thôi. Trường Đại học Khoa học thì xin ông Trần Kim Thạch đang bị giữ ở Tổng nha Cảnh sát về chấm thi. Ông tiến sĩ địa chất đó từng nhất quyết bảo rằng ngoài biển phía nam không có dầu mỏ, rồi sau 1975 lại phân trần với các đồng nghiệp phía bắc đến tiếp thu, rằng ông nói vậy để người Mĩ thấy không lợi lộc gì mà bám giữ Miền Nam!</p>
<p>Lực lượng học sinh sinh viên lôi cuốn được các ông thầy, nổi bật nhất là các khuôn mặt trí thức Công Giáo tưởng có thể mang lí tưởng thiên cộng của mình núp dưới cái vỏ dân tộc (tên một đề sách của giáo sư Lí Chánh Trung: <em>Tìm về dân tộc</em>), hay tưởng có thể dung hoà được lí tưởng xã hội Công Giáo với lí thuyết cộng sản để tán thành một chính quyền cộng sản cho Miền Nam mà không ngại điều tiếng phản bội (Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Chân Tín, Châu Tâm Luân&#8230; hay Nguyễn Đình Đầu của nhóm Trí Việt). Sự ngang nhiên của tầng lớp trí thức này chứng tỏ giới Công Giáo thấy mình đến đây đã đủ quần chúng và cán bộ để hiện diện trong mọi chiều gió chính trị quốc gia. Gam màu thiên tả có thêm chút tinh thần yêu nước càng làm người chọn lựa dè dặt như Nguyễn Hiến Lê an tâm hơn, khi phải so sánh với sự độc tài của Stalin qua tố cáo của Krutchev, hay được chứng thực bằng tin tức Hồng vệ binh tai quái hành xử đương thời ở phương Bắc. Nhưng dù bằng cách biện minh nào thì trước tình hình lấn lướt của người cộng sản trên chiến trường, hay sự xu phụ ào ạt của phong trào thiên tả quốc tế, sự chọn lựa của các trí thức Công Giáo Miền Nam này cũng vẫn phải được coi như một cách đón gió trong mặc cảm “xa rời dân tộc” của một quá khứ hiện diện trên đất nước này mà nay họ muốn chuộc lại một phần tội lỗi (?), mong đem đến một hình ảnh mới của Đạo trong cuộc chiến thắng thấy rõ.</p>
<p>Bên ngoài nước, từ tiếng vang của toà án Hoà bình mở ở Stockholm, bảo trợ bởi B. Russell và J.P. Sartre, bắt đầu từ 1966 kết tội Mĩ, có các cuộc biểu tình trên đường phố hô vang “Hồ! Hồ! Hồ Chí Minh”, có tên “Công viên Hồ Chí Minh” ở Đại học Berkeley, có tiếng súng xử tử tù binh Mĩ trong rừng rậm Trung Nam Mĩ đáp lại các cuộc xử tử Việt Cộng ở Miền Nam, có anh phóng viên “mơ làm người Việt Nam”, nỗi ước mơ qua thế kỉ XXI đã tắt trên đất Thuỵ Điển nhưng vẫn còn được hồ hởi viện dẫn với một tay giang hồ nào đấy đang phải kiếm sống trên đất Việt&#8230; Những sôi sục đó cho thấy cả một không gian quốc tế rộng lớn, những xã hội với trình độ phát triển không có ở Miền Bắc, ở toàn thể khối “ưu việt”, đã xông vào phục vụ Bác và Đảng bằng tất cả nhiệt tình tin vào lẽ phải của mình. Không biết từ đâu, loại ngôn từ truyền thông tán tụng “(Việt Nam) lương tâm / đỉnh cao của loài người”, “(Hà Nội) trái tim của nhân loại” đã đưa vào tai các nhà lãnh đạo, truyền đạt xuống dân chúng sự kiêu ngạo bốc đồng trong ngôn ngữ: “chế độ ta dân chủ gấp triệu lần tư bản”, đến độ quá phận trong tình cảnh còn phải nhờ cậy tới tấp, xin xỏ khắp nơi mà vẫn cho ướp xác lãnh tụ để khỏi thua kém đàn anh&#8230; Bốc đồng tung hứng lẫn nhau, chỉ đòi tiếng khen mà gầm gừ với lời chê, điều này trở thành “tiêu chuẩn” hành xử được kéo dài rất xa về sau, chính là từ sự ưu ái quá đà đó của một bộ phận lớn thế giới trong chiến tranh.</p>
<p>Sau những dò dẫm, tiếp xúc bí mật trên những địa điểm khác nhau, qua nhiều trung gian, cuối cùng năm 1968 mới thấy ló dạng thoả thuận, vì sự thất bại Tết Mậu Thân buộc Việt Cộng đi đến hoà đàm để củng cố lại lực lượng, và cũng là nối tiếp chiến tranh theo chiến thuật mới – lại cũng học nơi người anh lớn, Thiên triều xưa: “đàm đàm, đả đả”, hết đánh lại đàm, vừa đàm vừa đánh. Vì ý định thực tế đó mà cuộc hoà đàm bắt đầu ở Paris ngày 7-5-1969 giữa Harriman và Xuân Thuỷ phải kéo dài qua những tranh luận về nguyên tắc, hình thức cứ tưởng là vô bổ như tìm hình dạng cái bàn dùng cho các phái đoàn ngồi tố cáo nhau. Thực ra thì những tranh cãi này cũng đem đến kết quả, là Hà Nội đưa được Mặt trận Giải Phóng ra trước chính trường quốc tế, sau những năm có đại diện quanh quẩn giữa các nước anh em và các nước có cảm tình cùng phe. Ngày 6-6-1969, Mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam với Bộ trưởng Ngoại giao là Nguyễn Thị Bình, cháu ngoại Phan Châu Trinh – theo một cách thế trình diễn quen thuộc nhưng chứng tỏ vẫn luôn luôn mang lại hiệu quả. Chính phủ này được những người tạo dựng săn sóc tận tình, như có những đại diện (toà Đại diện mở cả ở Hà Nội) mang dáng vẻ sang trọng (xe cộ, áo quần&#8230;) hơn các nhân viên được coi là Đại sứ của Hà Nội. Tất nhiên với bên ngoài, chính phủ này có đủ lệ bộ, với ông Huỳnh Tấn Phát được đôn lên làm Chủ tịch, có những người trưởng ở các vai trò cần đến sự trình diễn lô liễu, như trường hợp bà Bộ trưởng Ngoại giao kia, như ông Bộ trưởng Thông tin và Văn hoá Lưu Hữu Phước để tuyên bố chính sách, còn ông Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng nằm bên trong thì thấy mình vô quyền. Cho nên vào hồi sau chỉ thấy hiện ra những người “thứ” phô trương trên các thông tin thấp thoáng: Thứ trưởng Y tế Dương Quỳnh Hoa, Giáo dục Hồ Hữu Nhựt, Thương binh Xã hội Bùi Thị Mè&#8230; bởi vì các Bộ trưởng đang có mặt tại Hà Nội, từ lâu! Tuy nhiên sự hiện diện của chính phủ này khiến cho những tay thiên tả thế giới – và cả những du học sinh thiên tả từ Miền Nam đi ra có thế để chống chiến tranh, kêu gọi hoà bình mà không phải mang tiếng bênh vực cộng sản lộ liễu. Hội đàm tiến triển bằng các tác động chiến tranh để đi đến những thương lượng ngầm mà người ta gọi là “đi đêm” từ tháng 1-1970, giữa hai nhân vật chính yếu là H. Kissinger, cố vấn của Tổng thống Nixon và Lê Đức Thọ, nhân vật của Bộ Chính trị, người thực sự điều khiển Mặt Trận rồi Chính phủ CH MNVN.</p>
<p>Chiến tranh trong giai đoạn này thường được gọi là Việt Nam hoá theo ngôn từ phổ thông trên báo chí từ lúc R. Nixon lên nắm quyền (2-1969) nhưng thực ra có thể nói đó là ý niệm phải có của nhà chính trị Mĩ từ lúc đem quân can thiệp trực tiếp, phải tính đến lúc rút ra, trao quyền chủ động cho chính quyền họ giúp đỡ. Từ sau cuộc Tổng tấn công, Washington từ chối tăng viện cho chiến trường nhưng đồng ý tăng ngân sách quân viện để VNCH thành lập nhiều đơn vị mới, gánh vác trách nhiệm chiến đấu thay thế quân đội Mĩ. Từ quân số 765 000 cuối năm 1968, VNCH có 1 triệu quân cuối năm 1971 với hơn 540 000 Địa Phương Quân và Nghĩa Quân. Quân chính quy được trang bị như lính Mĩ, trừ các loại vũ khí chiến lược. Chủ thuyết Nixon: chỉ giúp phương tiện chứ không cung cấp nhân lực chống cộng sản, nhịp độ rút quân gia tăng nhanh chóng không tuỳ thuộc vào khả năng quân VNCH hay tình hình chiến trường. Vì thế, theo dấu hiệu nhượng bộ phía cộng sản như thấy ở Hoà đàm Paris, họ phải gặp những chống đối của VNCH tuy vẫn tiến hành nhịp độ rút quân bởi vì sức ép của tình hình chính trị nội bộ đòi hỏi. Từ 549 500 quân hồi tháng 6-1969, đến tháng 12-1972 Mĩ chỉ còn 27 000 quân trong đó là 400 quân tác chiến. Và đó cũng là chỉ dấu cho đối phương ươn ngạnh hơn để tiếp tục chuẩn bị đưa cuộc chiến lên tầm mức cao hơn.</p>
<p>Tuy nhiên trong toan tính rút lui, người Mĩ vẫn phải lo làm áp lực mạnh trên hai vùng giáp Lào nơi có một chính phủ yếu ớt, và Cambodge nơi có một chính phủ thù ghét Duôn, chỉ đến khi giật mình thấy nguy cơ cộng sản thì đã muộn. Trong tổng số bom thả ở Đông Dương thì hai phần ba là ở Hạ Lào. Quốc trưởng Sihanouk ngầm cho phép Mĩ thả bom trên đất mình nhưng đã đến lúc quân Cộng sản Miên mạnh hơn, đẩy Sihanouk vào thế suy yếu khiến có cuộc đảo chính của Lonnol (3-1970), mở cửa biên giới cho các cuộc hành quân Toàn Thắng (5/1970-3/1971) của Sài Gòn truy bức quân Việt Cộng sâu vào đất Miên. Vai trò của Mĩ ở đây lại cũng bị hạn chế vì các cuộc biểu tình phản đối việc “xâm lăng” Cambodge, đồng thời Quốc hội bỏ phiếu ngăn chặn quân viện cho Lonnol. Trong lúc đó thì tình hình viện trợ của các nước XHCN cho Miền Bắc chỉ có tăng chứ không có giảm. Chỉ nhìn riêng hai nước chủ yếu, lấy con số gợi ý niệm chung chung thì thấy khối hàng viện trợ quân sự của Liên Xô trong giai đoạn 1965-68 là 226 969 tấn, giai đoạn 1969-72 là 143 793 tấn, giai đoạn 1973-75 là 65 601 tấn. Viện trợ Trung Quốc trong các giai đoạn tương đương là: 170 798 tấn, 761 001 tấn, 620 354 tấn, số lượng vượt trội Liên Xô ở các giai đoạn về sau, không trách họ nhiếc móc là phản bội!</p>
<p>Với cuộc hành quân Lam Sơn 719 của VNCH tấn công qua Hạ Lào (8/2-9/4/1971) không đạt kết quả ngăn chặn, Hà Nội mở cuộc tổng tiến công lớn nhất trong suốt chiến cuộc, bắt đầu ngày 30-3-1972, được giới báo chí phía Nam mệnh danh là Mùa Hè Đỏ Lửa. Trên vùng Tây Nguyên, quân Bắc tràn vào thị xã Kontum (14-5), phía nam họ chiếm Lộc Ninh (7-5), bao vây An Lộc (24-4) chận tiếp viện từ Sài Gòn trên quốc lộ 13. Lần này thì không còn e dè gì nữa, họ chiếm Quảng Trị (2-5) với đạn pháo bắn tới tấp trên các địa điểm phòng thủ khiến cả một trung đoàn trưởng vốn từng là anh hùng mặt trận phải quy hàng, và quốc lộ từ Quảng Trị nổi danh là Đại lộ Kinh hoàng vì cảnh thảm sát dân chúng chạy trốn ở đấy. Còn có chiến dịch Đồng bằng sông Cửu Long và chiến dịch Bắc Bình Định với quy mô nhỏ. Cuối cùng quân Sài Gòn phản công với sự trợ giúp của B52, chiến trường Kontum kết thúc 30-5, giải toả An Lộc (26-6), chiếm lại cổ thành Quảng Trị tháng 9-1972. Dù không thành công như ý muốn, cuộc tấn công cũng đem lại một vùng đất đai cho chính phủ CHMNVN có thực thể trên trường ngoại giao, cùng với sự hiện diện của các binh đoàn thiện chiến, mang vũ khí tối tân của Miền Bắc đứng chân phía nam vĩ tuyến, liền lạc với Miền Bắc, làm cơ sở đòi hỏi cho người Mĩ nhượng bộ trong Hiệp định Paris kí ngày 27-1-1973.</p>
<p>Tất nhiên đây là chiến thắng của Hà Nội nhưng không phải suôn sẻ như lịch sử viết theo Văn kiện Đảng cho thấy, kể cả trong cuộc chiến thắng được gọi là “Điện Biên Phủ trên không”. Mĩ buông bỏ Miền Nam mà dư luận đã chán ngán nơi này, vì đã chuyển chính sách sang việc kết thân với Trung Quốc (Nixon thăm 21-2-1972) để chống Liên Xô nhưng họ không thể hạ bệ Nguyễn Văn Thiệu theo đòi hỏi của Hà Nội được. Họ không thể kí hiệp định với hai bàn tay trắng. Họ nôn nóng lấy lại tù binh nhưng Tổng thống Thiệu cũng là con bài đi theo mục đích đó, nên việc giữ lại ông ta để khỏi xảy ra đổ vỡ trong chính quyền Miền Nam, cũng là thành quả từ những trận thả thuỷ lôi phong tỏa Hải Phòng, từ những đám mưa bom B52 tuôn xuống Hà Nội. Thế mà hiệp định Paris được kí kết cũng nuôi ảo tưởng về một nền hoà bình được tái lập. Kissinger thuận tay lãnh nửa giải Nobel Hoà bình không do dự nhưng Lê Đức Thọ từ chối, viện cớ “hoà bình chưa thật đến ở Việt Nam”, theo cách phát biểu chính trị uyển chuyển dành cho lối thoát của những âm mưu sâu kín. Như đã rõ, chữ “hoà bình” phát biểu ở đây được hiểu theo nghĩa chiến thắng của phe phái mà không mâu thuẫn với tình thế trước mắt theo cách hiểu của những người phát giải. Như thế sẽ không có gì phải biện minh khi Đảng đã không dừng lại trước lúc thẳng tiến đến Sài Gòn để đổi tên một trung tâm, không những mang đầy dấu vết thuộc địa mà còn chứa chấp những dạng thức được cho là không truyền thống của một đất nước thống nhất. Nửa triệu đôla giải thưởng cho một đất nước vay mượn lung tung không tính chuyện trả nợ, dân chúng phải ăn cám (Tô Hoài 2007) mà bị từ chối, đủ biết sự hấp dẫn quyền lực của các lãnh tụ cao đến mức độ nào.</p>
<p>Làm sao ngưng tiếng súng khi có hai lực lượng đánh nhau không nương tay trên những vùng không những xen kẽ nhau mà còn mập mờ quyền lực tuỳ thuộc thời gian sáng tối, âm mưu hiển hiện hay khuất lấp trên đó nữa? Loại <em>Hoà bình da beo</em> đó dẫn ngay đến những cuộc tranh chấp có vẻ trẻ con nhưng chết (nhiều) người, khi tính chất lãnh thổ tuỳ thuộc được Mặt Trận định nghĩa là nơi nào có treo cờ của họ, để chống trả luận điệu Sài Gòn chế riễu một chính phủ không có đất đai! Thế là có việc tung cờ và tịch thu cờ Mặt trận của lính Sài Gòn, bởi vì họ không có thói quen tự động may cờ như đối phương. Có những cuộc giành dân lấn đất trong thế đồn trại bị bao vây khiến quân đội Sài Gòn cuối cùng phải rút lui, như ở Tống Lê Chân. Uỷ ban kiểm soát đình chiến tỏ ra bất lực khi Việt Cộng thấy rõ đang trên đà thắng thế. Họ được giữ số quân xâm nhập vì không phải là “quân ngoại quốc”. Từ lúc kí hiệp định đến ngày tấn công Ban Mê Thuộc họ đã chuyển 150 000 quân vào nam, lập kho chứa 200 000 tấn vũ khí, quân nhu trên vùng chiếm đóng, thiết lập đường ống dẫn dầu đến cuối vùng Tây Nguyên trong khi xe cộ chạy cả ban ngày trên đường Hồ Chí Minh&#8230; “Trong lịch sử chống Mĩ cứu nước, chưa năm nào số lượng bộ đội Miền Bắc vào Miền Nam lại đông như thời gian [1973-1974] này” (<em>Lịch sử Việt Nam 1954-1975,</em> 2010). Cho nên máy bay của Uỷ ban Quốc tế bị bắn rơi, nhân viên phi hành bị tử thương khi quan sát đường xâm nhập ở vùng Khe Sanh (7-4-1973), nhân viên phái đoàn Canada bị bắt giữ, hăm doạ (7-1973) phải rút lui, nhường chỗ cho Iran thay thế làm một công việc cho có đủ hình thức, vào lúc tình hình cho thấy bản kí kết đã trở nên vô nghĩa.</p>
<p>Trong đà tiếp tục cuộc chiến với ưu thế thấy rõ, các lãnh tụ nông dân hoá của Hà Nội không mọt lần nhìn ra biển khơi, có lẽ cho đến khi Trung Quốc thấy sự buông bỏ của Mĩ mở đầu cho triển vọng mở rộng cương vực trên biển nên ngày 19-1-1974, cho quân chiếm phần còn lại trong quần đảo Hoàng Sa / Paracel, nhóm Cressent của VNCH đã được trấn đóng từ 1956. Đã lỡ công nhận Tây Sa, Nam Sa không thuộc Việt Nam (nhắc lại: Bộ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm 1956) mà là của Trung Quốc (nhắc lại: Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1958), Hà Nội đành để đàn em Mặt Trận lên tiếng xuê xoa “sẽ thương lượng trên bàn hội nghị”. Có lẽ với tiền lệ Bạch Long Vĩ, và cũng bởi ngập sâu vào sự tuyên truyền về tinh thần quốc tế vô sản cao vời đến thành mê muội (“còn hơn là đảo nằm trong tay Mĩ nguỵ”), chắc những người này cũng tin rằng điều mong mỏi kia sẽ trở thành sự thật, như còn thấy trên báo Sài Gòn Giải Phóng sau 1975. Dư hưởng của cơn mê muội quốc tế đó sẽ đưa đến kết quả là những cuộc thảm sát năm 1978 ở biên giới tây nam (Ba Chúc, Tây Ninh) và sự bất ngờ khởi đầu của cuộc chiến 1979, dù đã nghe tiếng gầm không giấu diếm của Đặng Tiểu Bình. Cho nên chắc Hà Nội cũng không biết chủ trương chiếm đảo của VNCH là bước chiến lược bành trướng mới của cơ quan đầu não Trung Quốc, mở đầu tuy nhỏ nhưng triển vọng biển khơi thật vô cùng, cũng đủ bù đắp với công trình tận tuỵ tiếp viện bao nhiêu năm. Tuy nhiên, thực tế đánh động cũng khiến cho các lãnh tụ quân sự, vào những ngày tháng 3-1975, cho quân ra chiếm các đảo của Trường Sa mà họ vẫn gọi là Nam Sa như trên các bản đồ của Miền Bắc. Có điều mấy hòn đảo nhỏ nằm ngay ngoài khơi Đà Nẵng, không chỉ dừng lại phạm vi 12 hải lí đòi hỏi như năm 1958 nữa mà toả rộng ra, bên dưới chận bắt ngư dân thu hẹp ngư trường Việt, đúng là đủ để bóp mũi CHXHCN VN thống nhất, thấy đòn 1979 càng lâu càng thấm.</p>
<p>Thế rồi có chủ trương đánh chiếm Phước Long đề ra từ tháng 4-1974, dẫn đến việc chiếm đóng một tỉnh lị của Sài Gòn ngày 6-1-1975, mưu tính đặt một thủ đô cho một chính phủ bị chê là không đất đai, mở rộng hành lang biên giới tự do suốt sườn phía tây mà không thấy phản ứng của người Mĩ. Thời gian này thì cũng vừa đủ giữ thể diện cho người Mĩ buông bỏ, cho “một khoảng cách vừa phải”, a decent interval, như văn chương chính trị hậu chiến tung ra lời bào chữa. Và Ban Mê Thuộc sắp thành cũ kĩ để Buôn Ma Thuột đưa lên sách vở chiến trận lừng danh ngày 13-3-1975, đánh từ trong ruột đánh ra!</p>
<p>Sự sụp đổ nhanh chóng của VNCH là một bất ngờ cho những tay chính khách cứ nhìn vào những con số chứ không phải bận tâm theo dõi thời cuộc tỉ mỉ. Sự đổ vỡ từ quyết định “rút lui chiến thuật” của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đẩy trách nhiệm cho ông cũng khiến ông được nhắc một cách lạc lõng khi Kim Dung sửa lại bộ Anh hùng xạ điêu. Thật ra đây chỉ là hồi kết cuộc của chuyện đàn chuột lo trốn tàu đắm. Cả một tâm lí chủ bại với ý tưởng “người Mĩ tháo chạy” khiến mọi người thấy phải tự lo lấy thân từ lâu. Tình trạng tham nhũng lan tràn cũng chỉ là truyền thống tiếp nối cho kẽ hở quyền lực.</p>
<p>Vào hồi tàn cuộc mà chưa đến cơn trốn chạy thì những kẻ khôn ngoan đi tìm con đường đón gió. Tiếng gọi hoà bình không được hiểu cùng một nghĩa như nhau. Trong khi người cộng sản làm chính trị chuyên nghiệp, hiểu hoà bình là cuối đường của sự chiến thắng thì với những người coi cuộc sống chính trị – của người khác hay chính mình dấn thân, là trò chơi nay làm mai bỏ thì hoà bình có nghĩa là mệt mỏi buông thả, và ai cản trở cũng đều bị coi là đi ngược đạo lí của “quần chúng nhân dân”, phải bị loại trừ. Chưa kể với một lớp người “vô tư” khác thì hoà bình là xuống đường mơ “làm loài bồ câu trắng”, ca hát khơi khơi. Hoà đàm Paris đem lại lợi thế ngoại giao to lớn cho người cộng sản trong lúc người Mĩ muốn buông tay. Không phải chỉ các cố vấn Mĩ trái ý với Kissinger, thấy ra điều khoản chịu để quân Bắc còn lại dưới vĩ tuyến 17 là điểm chết của VNCH. Người nào có chút quan tâm cũng biết như thế nhưng Tổng thống Thiệu to tiếng, ương ngạnh thì không những gặp phản ứng quyết liệt từ phía Mĩ mà còn hiện diện trước dư luận như một kẻ hiếu chiến. Ông ta vẫn còn nắm quyền đó nhưng đã trở thành con người bị cô lập. Chung quanh, người ta đang lo tìm chốn nương thân.</p>
<p>Phản đối ở trung tâm quyền lực (Quốc hội) đến từ mọi phía theo tính chất quen thuộc của chế độ đại nghị, là người dân cử coi như lúc nào cũng có bổn phận phải chống chính quyền, ai không làm như vậy thì được ghép vào thành phần “gia nô”. Một số dân biểu, nhân viên chính quyền, dân trí thức vào “Khu”, bịt mặt chừa hai lỗ mắt như của đảng KKK để nghe lời thuyết phục của ông Nguyễn Văn Linh, hay một ai đó, phổ biến chính sách hoà hợp hoà giải của Mặt trận. Dân biểu móc nối với người quen, thân phía bên kia mà không thấy mình là phản bội, dù là vào hồi tàn cuộc cũng chui vào “hộp” hay bỏ chạy như ai. Dân biểu Ngô Công Đức, cháu Giám mục Nguyễn Văn Bình, đủ thế lực đâu đó để chủ trương đàm phán với Mặt trận theo một diễn biến chính trị đầy kịch tính trên thềm Quốc hội, lên máy bay ra vào nước như đi chợ mà đòi huỷ bỏ chế độ có ông làm đại biểu. Phản đối tung ra tới tấp. Một ông linh mục cũng có thể kéo người biểu tình chống tham nhũng, Lm. Nguyễn Ngọc Lan chủ trương báo Đứng Dậy (thật oai) ca tụng cộng sản công khai, mắng quân đội Miền Nam là lính đánh thuê. Một ông linh mục khác, Trương Bá Cần (Trần Bá Cường) in sách trình bày Hai mươi lăm năm kiến thiết chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc viết theo loại sử liệu, dễ thấy là quảng cáo cho chế độ ngưỡng vọng nhưng người ta vẫn cứ tán dương. Dậu đổ bìm leo, cứ đòi bãi bỏ kiểm duyệt, “tự do báo chí” khiến các kí giả, chủ báo kéo theo nhân sĩ biểu tình Ngày kí giả ăn mày (10-10-1974), ồn ào có mặt ông Sơn Nam nhát nhúa mà ranh mãnh bên cạnh giáo sư Lí Chánh Trung “can đảm”, có ông Chu Tử không nhớ chuyện Việt Cộng bắn hụt, có bà Ngô Bá Thành (Phạm Thị Thanh Vân) hò hét cho Phụ nữ Đòi quyền sống giành chùa cho sư bà Trúc Lâm Nương mơ thời thượng nguơn cộng sản, cùng đòi truất phế Tổng thống, thi hành Hiệp định Paris với Nguyễn Đình Đầu (nhóm Trí Việt), Nguyễn Long (Dân tộc Tự quyết!), Trần Ngọc Liễng (của thời Phong trào Hoà bình Nguyễn Hữu Thọ). Và ông Hồ Hữu Tường, bị thời thế bỏ xa, vẫn còn mơ mộng dẫn đạo một nền văn minh, văn hoá không phải là “quái hoá” cho Việt Nam, được thực hiện bởi những người rồi sẽ đưa ông vào cõi chết&#8230; Phía xa, trong những ngày chống giữ cho Huế, Tỉnh trưởng Thừa Thiên thấy các chùa treo khẩu hiệu “Xin đừng bắn người anh em ruột thịt của chúng ta”, nghĩa là kêu gọi buông súng đầu hàng!</p>
<p>Không còn quần chúng, Tổng thống Thiệu tập trung quyền hành từ 1970, gom theo hệ thống quân dân sự diện địa khiến bộ Tổng Tham mưu trở nên thừa. Ông Tham mưu trưởng nằng nặc đòi từ chức, không được, cứ vác sách đi học Cử nhân Văn khoa trong lúc quân số phải giảm vì đã có hoà bình (!), chiến trường vẫn bề bộn mà đạn bắn phải theo cấp số hạn định, đến tháng 4-1975 thì chỉ đủ dùng trong một tuần lễ – cũng chính ông Tham mưu trưởng nhớ lại. Cuộc “di tản chiến thuật” rút khỏi Cao nguyên là bắt buộc nhưng thực hiện vụng về khiến làm tan rã từng binh đoàn, cả đến những đơn vị tổng trừ bị, nên trở thành dấu hiệu sụp đổ toàn vẹn để Hà Nội thay đổi ý định, không chờ đến cuộc bầu cử Tổng thống Mĩ năm sau mà mở chiến dịch Hồ Chí Minh ngay trong năm 1975. Cuộc cờ đến hồi tàn thì không tránh khỏi nhưng ngay đến lúc này, cái nhanh nhảu của Thế giới tự do, dựa trên loại lí tưởng không kể đến cái chết của người khác: Ai cũng có quyền hưởng sự tự do thông tin, “lí tưởng” ích kỉ đó cũng góp phần làm cho Sài Gòn sụp đổ nhanh chóng hơn. Có hình ảnh nào cho thấy sự tàn tạ kinh hoàng hơn hình chiếc máy bay chở người từ Đà Nẵng có cái càng không co vào thân được vì một xác người đã nằm chắn trong ấy? Nhiều thành phố Miền Trung được phóng viên BBC, theo tập tính tranh giành ưu tiên, đã cho thất thủ khi quân tướng Văn Tiến Dũng còn chạy bộ ngoài xa. Cuối cùng thì một trận Xuân Lộc gắng gượng cũng không cứu vãn được tình thế. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải nhẹ mình bước xuống ngai, dành chỗ cho những người thay thế, như vua phường chèo hồi mạt vận để khó có thể trách thêm những nhân vật cao cấp khác tuôn đùa bỏ chạy.</p>
<p>Sáng ngày 30-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh hạ lệnh buông súng, những viên tướng tá tự tử, lính chĩa súng vào nhau bóp cò chỉ là chút phản ứng của tinh thần kiêu hãnh muộn màng. Về phía khác, những người khao khát quyền lực đã thấy được đỉnh cao danh vọng. Trong khuất lấp, “người gián điệp tài ba” Phạm Xuân Ẩn phải lôi gia đình đã gởi đi Mĩ trở về, vì biết rằng trở đầu hay tiếp tục thì may mắn cũng không thể đến với ông mãi mãi. Lịch sử là con đường một chiều mà mỗi người chỉ có vai trò trong một giai đoạn. Những người đeo đuổi ước mơ về một thế giới trong ảo tưởng, đến đây cũng tưởng là đã đạt tới hiện thực. Khối tượng Thuỷ quân Lục chiến sẽ bị phá bỏ, không còn chỗ để chứng giám lòng nhiệt thành của hai nhà giáo Pháp leo lên treo cờ Mặt trận (25-7-1970) nhưng còn A. Menras trở thành Hồ Cương Quyết (1-12-2009) chống đỡ cho Hoàng Sa, như chứng tích lí tưởng lạc loài ân hận của một thời chiến tranh. Cầu rốt lại là được, ước rồi cũng đã thấy, dù là phải vượt qua những đổ vỡ kinh hoàng tưởng chừng không thể chịu đựng nổi. Và cả không lường được những hậu quả không ngờ trong tương lai.</p>
<p>Bởi vì với lịch sử thì cái đuôi nào cũng là một sự mở đầu mới. Chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cửa Dinh Độc Lập mở sẵn ngày hôm đó phải được đổi bằng chiếc khác, cho có người chỉ huy thể hiện đúng lập trường giai cấp hơn – và sự thật lịch sử nhỏ bé này lại cũng phải có người ngoại quốc mới nhận ra để đính chính. Cho nên quá khứ oai hùng sẽ đè nặng vào tương lai ì ạch rộng mở. Lúc con người cho là kẻ tình cờ đại diện phe chiến thắng chấp nhận đầu hàng (Bùi Tín) thấy ra nẻo khác, lịch sử vẫn tiếp tục với những người ông bỏ lại. Và để ngay chính những con người vượt thoát được như ông, muốn nhận ra cơn mộng du 30 năm đã qua, cũng không thể gọi là dễ dàng.</p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>PHỤ LỤC</strong></p>
<p><strong>1. Chiến tranh và hồi tưởng</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Quà tặng trong chiến tranh</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Em tặng anh hoa hồng   <br />chôn trong lòng huyệt mới    <br />em tặng anh áo cưới    <br />phủ trên tấm mộ xanh</p>
<p>Anh tặng em bội tinh   <br />kèm với ngôi sao bạc    <br />chiếc hoa mai màu vàng    <br />chưa đeo còn sáng bóng</p>
<p>Em tặng anh tuổi ngọc   <br />của những ngày yêu nhau    <br />đã chết ngay từ lúc    <br />em nhận được tin sầu.</p>
<p>Anh tặng em mùi máu   <br />trên áo trận sa trường    <br />máu em và máu địch    <br />xin em cùng xót thương.</p>
<p>Em tặng anh mây vương   <br />mắt em ngày tháng lụi    <br />em tặng anh đông giá    <br />giữa tuổi xuân cuộc đời</p>
<p>Anh tặng môi không cười   <br />anh tặng tay không nắm    <br />anh tặng mắt không nhìn    <br />một hình hài bất động</p>
<p>Anh muôn vàn tạ lỗi   <br />xin hẹn em kiếp sau    <br />mảnh đạn này em giữ    <br />làm di vật tìm nhau.</p>
<p><em>8/1969</em></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><em>Có phải tôi không?</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Có người gửi tôi tấm hình trên mạng   <br />cô gái Sài Gòn áo trắng khăn tang    <br />đi trong Sài Gòn bốn mươi năm cũ    <br />cô gái trong hình có phải tôi không?</p>
<p>Ô hay tại sao tự nhiên tôi nhận   <br />Sài Gòn cả trăm cô gái giống tôi    <br />cả ngàn khăn tang trên đầu goá phụ    <br />goá phụ còn hồng một vệt son môi</p>
<p>Ô hay tại sao tự nhiên tôi chối   <br />Sài Gòn ngày ấy trắng toát khăn tang    <br />những cô trẻ lắm mắt đầm đìa lệ    <br />theo tay ai dắt đi vào nghĩa trang</p>
<p>Sài Gòn bây giờ khói nhang đã tắt   <br />goá phụ ngây thơ tóc đã phai xanh    <br />nhìn lại tấm hình nhận ra cô gái    <br />khẽ gọi tên cô Trần Thị Chiến Tranh</p>
<p><em>4-2009</em></p>
<p><em>Trích trong Trần Mộng Tú, </em>Thơ tuyển Bốn mươi năm 1969-2009    <br /><em>Tác giả tự xuất bản 2009     <br /></em><em>(Lời xin phép trích dẫn ghi nơi đây)</em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><strong>2. Nhận định, thực chứng lan man</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Mộng và Thực:</em></p>
<p>“Dù phải chiến đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. (Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố ngày 20-7-1965, vào dịp kỉ niệm kí hiệp định Genève).</p>
<p>“Lãnh tụ Á Châu nào năm 1967 tuyên bố không chịu khuất phục dưới bom đạn?” – Hồ Chí Minh. (Alex Trebex, chương trình <em>Jeopardy!</em> tối 28-9-2011).</p>
<p>“Giới lãnh đạo VN DCCH nắm chắc mục tiêu ‘dân tộc &#8211; cộng sản’ thẳng tiến vào Nam đến chiến thắng tận Sài Gòn, không dừng bước trước bất kì trở ngại nào và không ngần ngại trước bất kì hi sinh nào”. (F. Guillemot, sử gia Pháp).</p>
<p>“Họ bắt con người phải hi sinh quá nhiều. Sự hi sinh trở thành vô bờ bến, không thời hạn. Vì thế sự hi sinh đã trở thành những cực hình, chứ nó không mang tính chất tự nguyện của cách mạng”. (Xuân Vũ, nhà văn hồi chánh, tác giả <em>Xương trắng Trường Sơn, Đường đi không đến&#8230;)</em></p>
<p>“Hồi đó có thật nhiều nhiệt tình đến kì lạ. Người Mĩ tưởng rằng cứ thả nhiều bom thì chúng tôi sẽ nhanh chóng quỳ gối đầu hàng. Nhưng bom đạn lại làm tăng tinh thần chúng tôi hơn là làm lụn bại. Thế mà bây giờ từ lúc hết chiến tranh, bom đạn không còn rơi nữa, chúng tôi lại mất hết nhiệt tình ngày xưa. Chúng tôi cứ than vãn về thiếu thốn thực phẩm, về nơi ở chật chội&#8230; Sự thay đổi thật là lạ lùng và nghịch thường (Tôn Thất Tùng, bác sĩ riêng của Hồ Chí Minh nói với S. Karnow khoảng 1981).</p>
<p>“Các anh coi, các phong trào ở đô thị đã thành công đến mức kì diệu – tất cả: trí thức, sinh viên học sinh, Phật Giáo. Chỉ có công nhân là <em>xệ quá!</em>” (Trương Như Tảng thuật chuyện Trần Bạch Đằng / Tư Méo lỡ lời trong một buổi báo cáo về phong trào tranh đấu ở “vùng địch”, và bị hạ tầng công tác sau đó).</p>
<p>“Các sư đoàn 1, 3, 5, 7, 9 (của Mặt Trận) đâu cả rồi?” (Câu hỏi ngớ ngẩn của “Bộ trưởng” Tư pháp Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, Trương Như Tảng, đưa ra với Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Văn Tiến Dũng, trên khán đài duyệt binh ngày 15-5-1975, ở Sài Gòn đã đổi tên Tp. Hồ Chí Minh).</p>
<p>“Mặc kệ bọn Bắc Kì muốn làm mưa làm gió gì thì làm”. (Dương Quỳnh Hoa, Bộ/Thứ trưởng Y tế CH MNVN hờn dỗi trả lời phóng viên ngoại quốc, được kể trong một số The Vietnam Experience, trong hồi kí của Trương Như Tảng).</p>
<p><em>Di chứng lịch sử của văn chương trường ốc và lối mòn dẫn đến tương lai:</em></p>
<p>“Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao” (Chế Lan Viên);</p>
<p>“Liên Xô Trung Quốc với mình anh em / Tình thân máu chảy ruột mềm” (Tố Hữu);</p>
<p>“Bên ni biên giới là nhà, Bên kia biên giới cũng là quê hương” (Tố Hữu).</p>
<p><em></em></p>
<p><em>Tuyên truyền về chủ nghĩa yêu nước hàm chứa ý thức kì thị chủng tộc Di Man: </em>“Rớt Tú tài anh đi trung sĩ / Em ở nhà lấy Mĩ nuôi con / Đến khi yên nước yên non / Anh về anh có Mĩ con anh bồng”.</p>
<p>Kết quả của sự thách thức “Ai thắng ai” về mặt lí tưởng xã hội như được chứng thực sau tháng 4-1975 cho nên có sự thanh toán đối với lịch sử trong các hành động phá mả Bá Đa Lộc “Lăng Cha Cả”, dời nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi lập Công viên Lê Văn Tám, giải tán nghĩa trang Quân đội Gò Vấp, bắn nát tượng Phan Thanh Giản, đổi tên trường Phan Thanh Giản, Petrus Ký, Gia Long, Đồng Khánh, đổi tên đường phố&#8230; Ý thức bộ tộc, thù hận Di Man còn thấy trong hành động thù ghét “cái lạ”, như trong sự việc phá huỷ tượng đài Bông Lúa Con Gái cao 18 m của (Nguyễn) Mai Chửng (1940-2001), đặt ở Long Xuyên làm biểu tượng cho vùng lúa đồng bằng Cửu Long. Hay trong sự cường ngạnh về việc phân biệt chính nguỵ bên trong, chính sách kiều vận bên ngoài mà đề phòng “diễn biến hoà bình” của di man, tạo nền tảng vững vàng cho chế độ mới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23903/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>B&#224;i Sử Kh&#225;c Cho Việt Nam &#8211; Chương XVIII</title>
		<link>http://damau.org/archives/23891</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23891#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 09 Apr 2012 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23891</guid>
		<description><![CDATA[Ngày (đúng ra là đêm) 9-3-1945 được ghi trong lịch sử là thời điểm quân đội Nhật Bản lật đổ toàn bộ chính quyền thuộc địa ở Đông Dương do người Pháp xây dựng trong hơn 80 năm. Tất nhiên là vì quân Nhật đã đóng ở Đông Dương từ 1940, đã đặt nhiều cơ sở thâm nhập, tạo dựng nhiều tầng lớp thân thuộc...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em></em></p>
<h2 align="center"><em>CHƯƠNG XVIII:</em></h2>
<p> <strong></strong><br />
<h2 align="center"><b>CUỘC CHIẾN GIÀNH ĐỘC LẬP: CƠN MỘNG DU 30 NĂM (I)</b></h2>
<p><b></b></p>
<p><b>&#160;</b></p>
<p><b>&#160;</b></p>
<p><b>Thuộc địa Đông Dương sụp đổ trong thế tan rã của đế quốc phương Tây</b></p>
<p>Ngày (đúng ra là đêm) 9-3-1945 được ghi trong lịch sử là thời điểm quân đội Nhật Bản lật đổ toàn bộ chính quyền thuộc địa ở Đông Dương do người Pháp xây dựng trong hơn 80 năm. Tất nhiên là vì quân Nhật đã đóng ở Đông Dương từ 1940, đã đặt nhiều cơ sở thâm nhập, tạo dựng nhiều tầng lớp thân thuộc để có cơ hội thành công dễ dàng hơn nhưng sự thành công có dáng bất thần, chóng vánh của họ đã đánh mạnh vào uy tín của người Pháp trên phần đông dân chúng thuôc địa. Với người lớn tuổi, an phận thì đó là định mệnh, là Trời giáng! Người Pháp không thể xuất hiện trước mắt dân chúng thuộc địa với khuôn mặt oai phong, đáng kính nể như cũ nữa. Giáo dục chính trị về sau có làm đổi khác quan điểm nhưng với đương thời, cấp thời, sự tiêu huỷ chế độ thuộc địa của người Pháp đúng là bởi quân đội Thiên hoàng qua đêm 9-3-1945 đó.</p>
<p>Lật đổ chính quyền cũ thì người Nhật cũng không thể tự cai trị vùng đất họ chiếm được. Một chính quyền địa phương phải được dựng lên vì nhu cầu của tình thế nhưng không phải là bất chợt. Mối liên hệ Nhật Việt kéo dài trong hơn nửa thế kỉ vừa có tính đồng văn, vừa có tính lí tưởng như đã thấy với Phan Bội Châu và nhóm Đông Du cho nên không thể chỉ là tuỳ thuộc, nô lệ. Thời thế đặt vào tay ông Trần Trọng Kim để thành lập một chính quyền èo uột, sẽ bị vùi dập bởi quyền lực mới, điều đó không làm mất vị trí lịch sử bình thường của một giai đoạn chuyển tiếp ở khúc quanh lịch sử Việt Nam 1945. Người làm chính trị phải đi theo những điều kiện thực tế cho nên tướng lãnh Nhật ở Đông Dương không thể đem một Kì Ngoại Hầu Cường Để, dù được vọng tưởng, từ xa về làm Quốc trưởng trong khi có ông Bảo Đại đại diện trực tiếp quyền lực chính thống, đang ở tại Huế với cả một hệ thống thần hạ vẫn được nuôi dưỡng với ý niệm trung quân, ái quốc, được cả người Pháp đề cao để giữ gìn thuộc địa. Và có lẽ vì thế không thể có thủ tướng là một cựu Thượng thư thiên về Cường Để dù nhà vua còn lưu luyến: Ngô Đình Diệm. Một ông thủ tướng nhà giáo, học giả trong tình hình sôi sục chính trị đương thời, có lẽ là sự lựa chọn hợp lí nhất đối với người tướng lãnh Nhật tuy mang quân bắn giết, đi chiếm đất người nhưng cũng từng thấm nhuần phong thái Khổng Mạnh Thần Phật chung.</p>
<p>Vậy thì kết quả cuộc đảo chính của Nhật đêm 9-3, là ngày 11-3-1945 vua Bảo Đại tuyên bố xoá bỏ hiệp ước 1884, lập lại nền độc lập của vương quốc Việt Nam trong sự hợp tác với đế quốc Nhật Bản. Ông ra Dụ tuyên bố tự cầm quyền, giải tán Viện Cơ mật, mời nhân tài ra giúp nước, và cuối cùng Nội các Trần Trọng Kim ra đời, họp phiên đầu tiên ngày 7-5-1945 để hôm sau làm lễ ra mắt chính thức. Trong việc thu hồi lãnh thổ, Bắc Kì được sáp nhập vào đế quốc Việt Nam và có một khâm sai là Phan Kế Toại ngày 2-5-1945. Các nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng được thu hồi trong tháng 7-1945. Riêng Nam Kì vì là nhượng địa của Pháp, và vì có sự tranh giành của Cao Miên nên mãi đến ngày 14-8-1945 mới có khâm sai là Nguyễn Văn Sâm. Cũng theo dự tính thì sẽ có cuộc bàn giao các công sở Phủ Toàn quyền vào ngày 15-8-1945. Nhưng tất cả những hình thức tổ chức bên trên đó đã không bắt kịp với tình hình sôi động trong nước và quốc tế.</p>
<p>Chính phủ Trần Trọng Kim bị lớp người lật đổ kết tội bù nhìn của Nhật nhưng thành phần kết tập lại là tinh hoa của chế độ thuộc địa, những người cả về sau này vẫn phải được sử dụng vì nhu cầu tình thế, vì cần thiết trước khi bị rũ bỏ. Họ là bác sĩ, kĩ sư, luật sư, chuyên viên hành chính&#8230; được đào tạo từ các trường đại học mới, trong nước hay từ Pháp trở về, có thể vẫn còn giữ truyền thống xứ sở nhưng có nhiều người không mấy mặn mà với ông vua sắp trở lại ngôi vị thật. Sử gia ngoại quốc về sau gán cho một tên, không khoác áo chính trị, là tập họp của một “Chính phủ Kỉ trị” nhưng gọi như thế là làm mất thực chất xã hội của nó, và do đó không cho thấy sự suy yếu từ căn bản. Đó là những người có chút tiếng tăm thời thuộc địa, thuộc nhiều thành phần, địa phương khác nhau, vì có bằng cấp, vì một danh vị nào đó&#8230; nên nổi lên trong vòng quen biết của nhóm người ở tầng lớp trên của xã hội, và đột nhiên Đi vào chính quyền, như ông Phạm Khắc Hoè, Ngự tiền Văn phòng, thú nhận: “[N]ếu tôi được giao một ghế Bộ trưởng thì chắc tôi cũng vui lòng nhận và bái mạng như ai”. Vì thế trước những khó khăn hỗn loạn dồn dập, sự tan rã dễ xảy ra, dẫn đến việc từ chức của Nội các ngày 5-8-1945.</p>
<p>Tuy nhiên một sự kiện lịch sử mang tầm mức bao quát, dù hiện diện ngắn ngủi cũng không thể không có tác động đến đất nước chung quanh. Lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm sôi sục đòi hỏi, danh từ Độc lập được công khai nói đến trong một bản tuyên bố chính thức. Những hạn chế cấp thời không ngăn được ước vọng nảy nở. Bắt đầu từ người trên. Như ông vua nhắn nhủ với ông thủ tướng: “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa là độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách độc lập&#8230; Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chánh phủ để lo việc nước”. Thế là có những cố gắng tạo tính chính thống như lấy lại quốc hiệu, xác định quốc kì, quốc ca, có các cuộc vận động thu hồi chủ quyền, cử người đại diện lo liệu việc nước, nhắm “theo đuổi mục đích là hợp nhất các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội&#8230;” Mọi chủ trương đề ra tuy không thể thực hiện hết nhưng đã có tác động mạnh mẽ tiếp theo, cả đến việc đục ruỗng, làm sụp đổ nội các vừa thành lập.</p>
<p>Thật ra thì như đã thấy, tuy đàn áp chống đối nhưng chính quyền Đông Dương trong thời chiến đã cổ động một tinh thần quốc gia Đại Nam trong vòng tay mẫu quốc Đại Pháp, và điều đó không phải không tạo nên một tinh thần quốc gia dân tộc chực chờ của thời kì tiếp nối, được biến cố 9-3 gây bùng phát không gì cản trở nổi. Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp tục để phát triển các hội đoàn xã hội như Truyền bá Quốc ngữ, Hướng Đạo, Phong trào Sinh viên&#8230; tiếp tay với nhà nước cố sức cứu chữa nạn đói đã giết đến hàng triệu người chỉ vì khoảng trống quyền lực ở xứ Bắc sau cuộc đảo chính. Họ lập bộ Thanh niên để chuẩn bị cho một cơ cấu bộ Quốc phòng chưa được phép. Và trường Thanh Niên Tiền Tuyến ở Huế (2-7-1945) cũng như tập họp Thanh Niên Tiền Phong mang cờ vàng sao đỏ ở Sài Gòn (5-7-1945) sẽ là quần chúng nòng cốt cho chính quyền kế tiếp. Khuất lấp hơn, là chương trình Hoàng Xuân Hãn đặt nền tảng giáo dục bằng tiếng Việt, được sử dụng mãi đến khi một chương trình giáo dục mang tính giai cấp mượn lẫn lộn từ Liên Xô, Trung Quốc đến thay thế.</p>
<p>Tiếng kêu gào độc lập không dừng ở tầng lớp trên. Dù sao thì những đoàn thể được gọi là “thân Nhật” cũng có ước vọng độc lập, nên trong cuộc biểu tình khoảng 50 ngàn người ở Sài Gòn ngày 18-3-1945 do các nhóm Phục Quốc, Cao Đài, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập tổ chức ủng hộ Nhật Bản, đã nêu các khẩu hiệu “Việt Nam độc lập”, “Việt Nam thống nhất”. Những lời hô hào cứu đói Bắc Kì gợi lại một tinh thần thống nhất tiềm tàng từ lâu. Và thế là “cơn sốt độc lập” không có gì kềm giữ đã tràn ngập trong dân chúng theo với những nhóm quá khích được loan truyền dưới nhãn hiệu kì bí của một hội kín mới: Việt Minh.</p>
<p>Chính trị gia của Pháp có thể bằng vào kinh nghiệm thực tế và chức vụ mà có những đối xử phe phái, thiên lệch nhưng nền giáo dục Pháp phần lớn mang tính cách nhân bản, vô chính trị nên đã truyền sang đám học trò thuộc địa lối sống bằng hoài vọng, có khi cũng chứa chấp đầy tính lí tưởng ngây thơ, như bày tỏ trong tôn chỉ Nội các mới: “theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà, không tư vị cá nhân, đảng phái&#8230;” Thế là giải pháp cấp thời thứ nhất của nội các là “mở các nhà tù của thực dân Pháp phóng thích các chiến sĩ yêu nước&#8230;” để sau này ông Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo có dịp kể công với “Cách mạng”. Quyền lực mới hẳn không đủ ảnh hưởng cùng khắp nhưng với chủ trương đó, và sự lỏng lẻo cai trị sau đảo chính đã khiến có những lần phóng thích của chính quyền, những cuộc vượt ngục của các đảng viên cộng sản đích thực hay mơ hồ, đào thoát về thôn xóm, bưng biền, rừng núi tổ chức lại cơ sở nổi dậy.</p>
<p>Tình thế phức tạp, rối rắm không thể giải quyết cấp thời được thì những bất mãn dồn nén sẽ đổ vào đầu những người lãnh trách nhiệm công khai, và những kẻ chực chờ chiều gió chính trị sẽ có ngay sự lựa chọn phe phái mà không ngại điều tiếng xu phụ. Huế với tính cách trung ương vừa hồi phục, không đủ quyền uy trước một Hà Nội ngỡ ngàng với địa vị thủ phủ tan rã trong đói khát hỗn loạn mà lại nắm trong tay phần sinh hoạt hướng dẫn dư luận của thời mới. Nằm dưới sự bảo trợ của chính quyền Pháp, những lời khinh miệt thô lỗ của Ngô Đức Kế đã được tiếp tục dưới dạng tân thời, ảnh hưởng từ báo châm biếm Pháp, như khi nhóm <i>Phong Hoá Ngày Nay</i> chế riễu Nguyễn Tiến Lãng, thư kí của Nam Phương Hoàng hậu: <i>“Người ta thì lấy vợ hai, Còn mình thì lại đóng vai chồng nhì!”</i> Cho nên cứ thế mà đến lúc này, báo chí ở đây, theo tính chất thôi thúc hàng ngày của ngành nghề được không khí chính trị mới buông thả kềm hãm, đã thấy có những lời công kích chính phủ về việc không giải quyết vấn đề cứu đói, vấn đề quan lại nhũng lạm&#8230; Sự đổi thay xuất hiện rõ rệt nơí tờ <i>Thanh Nghị,</i> từng là nòng cốt của Tân Việt Nam Hội (16-5-1945) lập ra để ủng hộ chính phủ mới. Tập họp trí thức thiên tả ghép mình vào những tổ chức thiên Việt Minh, như đảng Dân Chủ (30-6-1945) gây tác động đến các nhân vật của Nội các vừa thành hình khiến ông thủ tướng phải tức giận, lên tiếng mắng mỏ. Chính quyền yếu ớt dễ mở đường cho những đòi hỏi quá kích, lôi cuốn quần chúng nhiều hơn. Như đã nói, đảng Cộng Sản Đông Dương có cơ hội phát triển mạnh mẽ một phần vì khả năng tổ chức tự thân, phần khác cũng là vì ước vọng mang tính cách mơ mọng bao quát đầy khích động. Do đó, phong trào Việt Minh cướp chính quyền tháng 8-1945 vừa mang tính cách rầm rộ toàn quốc, vừa có tính chất địa phương tai ác, rối loạn.</p>
<p>Ở cấp bực trung ương, Hồ Chí Minh thoát khỏi sự kềm thúc của các nhân vật trẻ từng được Quốc tế đặt ở địa vị cao cấp hơn vì “cấp tiến” hơn, như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập&#8230; lúc này đã bị người Pháp diệt trừ. Bên ngoài biên giới, Hồ Chí Minh luồn được vào sự yểm trợ của Quốc Dân Đảng Trung Hoa như đã thấy, rồi lợi dụng lúc các chính quyền suy sụp, bỏ trống vùng biên giới – vùng mang danh “biên khu” trong văn chương, nên tổ chức được ở đây những toán người hoạt động tuyên truyền, quấy đảo. Và vì xuất hiện ở chính vị trí của truyền thống giao tiếp Trung-Việt nên chỗ dựa càng lúc càng tỏ rõ là đắc thế trong tình thế tiếp theo về sau. Nhưng ngay ở vùng này, tính chất khu vực cũng thấy rõ: Quân võ trang lúc đầu có đến hai bộ phận là Cứu Quốc Quân (từ thời khởi nghĩa Bắc Sơn 1940 tan rã) và Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân (24-12-1944).</p>
<p>Nói gì đến các địa phương khác mà sau này người ta cũng không thể che giấu. Trần Văn Giàu, bí thư Xứ uỷ từ 1943, phân trần vì “không liên lạc được với Trung ương, nên tự vạch ra một đường lối tấn công riêng cho Nam Kì” với Xứ uỷ Tiền Phong (tên tờ báo) ở Sài Gòn do ông lãnh đạo. Đường lối tấn công riêng đó cũng có nhóm khác thực hiện với người lãnh đạo là Dân Tôn Tử / Trần Văn Vi, lấy tên Xứ uỷ Giải Phóng (tên báo) mang dấu hiệu “đồng quê”, vì có cơ sở căn bản ở Miền Tây bị kết tội liên kết với Hoà Hảo, thành hình trong tập họp cộng sản thời mới sự xung đột cũ của hai trục Thất Sơn và Sài Gòn, lên cao độ đến mức phe Giải Phóng tố cáo phản bội, tuyên án chết cho Trần Văn Giàu! Gia Định nằm ở ranh giới hai thế lực thành ra có đến hai tỉnh uỷ! Khu Đông Bắc (vùng Quảng Ninh) có tay anh chị giang hồ lãng tử, cựu đảng viên Quốc Dân Đảng Nguyễn Bình, sẽ được chiêu dụ hợp tác bằng chức tước sứ quân: Tổng tư lệnh Giải phóng quân Nam Bộ (20-11-1945). Tù nhân nhà giam Ba Tơ ở Quảng Ngãi tổ chức du kích, tự phụ là đã làm cuộc cách mạng cướp chính quyền trước cả trung ương (11-3-1945) – và cũng biểu hiện được tính chất quá khích của phe đảng bằng những cuộc loạn sát tập thể. Chủ trương phá kho thóc cứu đói ở Bắc Bộ, thật ra không có hiệu quả bao nhiêu về mặt thực hiện mà chỉ là một khẩu hiệu để khích động quần chúng nổi lên quấy đảo. Ở các tỉnh, các nhóm Việt Minh khác nhau đi cướp chính quyền, giết nhau, người thắng đi vào lịch sử đảng bộ địa phương, người bại sẽ được đền bù bằng danh hiệu Liệt sĩ (trường hợp Võ Xán ở Bình Định), nếu không phải va chạm đến uy tín của lãnh tụ cấp cao, như trường hợp một đồng chí của ông Trường Chinh bị “thịt” mà ông phải giấu gia đình nạn nhân.</p>
<p>Vậy là ước mơ quyền lực được thành đạt khiến cho cuồng vọng thú tính buông thả nên mới xảy ra những cuộc xử trí, chém giết người khác phe, người cùng phe không phân biệt, mang tính cách thù hận quần chúng truyền kiếp sẽ còn kéo dài dây dưa rất lâu, được văn nghệ hoá trong lời kêu gào ở Tiến quân ca: <i>“Thề phanh thây uống máu quân thù!”</i> Cũng có thể gọi đó là sự trở về với dân tộc, truyền thống được chia xẻ chung trong tinh thần bài ngoại như khi Trần Văn Lai, thị trưởng Hà Nội của chính phủ Trần Trọng Kim cho đổi tên đường phố, phá đổ tượng đài người Pháp, làm kẻ đi trước cho lớp người Việt Minh sau đổi cả tên làng xóm, tỉnh thành.</p>
<p>Tiếng gọi lí tưởng và cơn đam mê quyền lực được thể hiện trên đất Việt trong phong trào được gọi là Cách mạng tháng Tám, vào dịp xảy ra khoảng trống quyền lực khi Nhật Bản bại trận, đầu hàng Đồng Minh ngày 14-8-1945. Cùng ngày đó, ở Huế có một “chính phủ lâm thời” không còn ai biết tới. Trung ương đảng Cộng Sản và Tổng bộ Việt Minh tuyên bố Tổng khởi nghĩa, chủ đích nhắm vào Hà Nội, thủ phủ Đông Dương, từ đó đương nhiên mang danh nghĩa thủ đô của nước độc lập. Trong cuộc mittinh chiều ngày 17-8 của Tổng hội Viên chức thành phố Hà Nội tổ chức ủng hộ chính quyền Trần Trọng Kim, các đội viên Tuyên truyền Xung phong luồn vào trương cờ, dựng biểu ngữ hô hào ủng hộ Việt Minh, đả đảo bù nhìn, đòi “Việt Nam độc lập”. Thế là cờ đỏ sao vàng tràn ngập đường phố, ngày 19-8 một Uỷ ban Khởi nghĩa ra tuyên bố, tập họp biểu tình giành chính quyền. Tuy bên trong còn có hai xứ ủy như đã nói nhưng Sài Gòn cũng đã chiếm chính quyền ngày 15-8, với lẫn lộn những phe phái khác mà mạnh nhất là các tập họp giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo. Ở Huế, ngày 30-8 một Uỷ ban khởi nghĩa thành lập, tổ chức mittinh trước cửa Ngọ Môn yêu cầu Hoàng đế Bảo Đại thoái vị, nạp ấn kiếm. Các tỉnh lần lượt tiếp theo nhau sụp đổ với những người lãnh đạo và quần chúng, có khi chỉ nhận ra Việt Minh bằng cây cờ đỏ sao vàng và bàn tay nắm lại giật mạnh vào mang tai, chào nhau. Tất nhiên Việt Minh không thể làm chủ một phần vùng biên Trung-Việt nơi có những toán quân Phục Quốc, Quốc Dân Đảng, Đại Việt&#8230; kéo về chiếm đóng, đi theo các toán quân Trung Hoa làm nhiệm vụ tước khí giới quân Nhật. Tuy nhiên với kết quả chiếm chính quyền ở thủ phủ Hà Nội, các thành phố lớn nhỏ, đảng Cộng Sản Đông Dương và mặt trận Việt Minh có tư thế của một quyền bính toàn quốc để lập chính phủ tạm thời ngày 28-8, và ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.</p>
<p><b></b></p>
<p><b>Chiến tranh và cơn lốc văn hoá ngầm của thế giới trên địa phương</b></p>
<p>“Việc giành chính quyền dễ bao nhiêu (?!) thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu”, một Văn kiện Đảng nhắc bài học cũ của Lenin, nhớ lại theo thời thuận lợi lẫn lộn khó khăn của mình tiếp theo. Nhật đầu hàng, phần đất Việt Nam được chia ở vĩ tuyến 16 để phía Nam thuộc phần quân Anh đến giải giáp quân bại trận, phía Bắc thuọc phần hành quân Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Mọi sự bận rộn trong đất liền – và cả tình thế chưa gợi mối quan tâm, khiến không ai lưu ý đến việc quân Tưởng chiếm một phần tập họp quần đảo mà Nguyễn gọi chung là Hoàng Sa và phía Trung Hoa lờ mờ về một vùng Tây Sa. Họ chiếm phần đông bắc, nơi hòn đảo mang cái tên biểu hiện: Ile Boisée / đảo Phú Lâm / Vĩnh Hưng, nơi cũng có “miếu Hoàng Sa” theo chứng cớ muộn. Và cũng xa về phía nam, Itu-Aba của Pháp cũng trở thành Ba Bình của Tưởng. Phương Đông sắp có mặt trời hồng, dù là của Tưởng hay của Mao&#8230;</p>
<p>Phía Nam, quân Anh đổ bộ lên Sài Gòn với người Pháp đồng minh thì không thể trao quyền cho ai khác, dù xét theo pháp lí hay tình cảm phe phía. Thế mà ở đó đã có một tổ chức nhân danh quyền lực xa xưa tiếp đón họ, phủ nhận đồng minh họ. Người Anh tất không tránh khỏi bị lôi vào xung đột. Ngày 23-9-1945 được ghi nhận là ngày Kháng chiến Nam Bộ, ngày quân Pháp trở lại tái chiếm Nam Kì / La Cochinchine francaise của họ. Rồi lại cũng như, gần giống như chuyện hàng trăm năm trước. Các nhóm người chống đối nổ bùng, với thời mới thì gọi là dân quân, du kích quân nhưng vẫn mang hình ảnh cũ của những anh hùng thảo dã, cầm đầu bởi những người Việt Nam thời mới, lẫn lộn tướng cướp bưng biền thêm hơi hướng du đãng thành thị, chia sớt phong cách với thủ lãnh hội kín tân thời, nhà trí thức tốt nghiệp Đại học Tây Phương, cựu công chức thuộc địa&#8230; Và vẫn có đảng viên Cộng Sản Đông Dương hô hào xây dựng thế giới đại đồng, lẫn lộn với các nhóm quá khích khác mà họ đẩy về phía “phản động”, “trốtxkít” đang trương các khẩu hiệu đòi “tiêu diệt người da trắng”, “chính quyền về tay nhân dân”, “làm cách mạng ruộng đất”&#8230;</p>
<p>Phía Bắc, sự đối phó của người cọng sản vừa mang tính cách tân thời của một tổ chức cầm quyền mang danh “chính phủ”, vừa mang tính truyền thống với âm mưu lấn át người dưới, dụ dỗ kẻ ngang tay (các đảng phái quốc gia, các cảm tình viên thụt thò), hay luồn lọt hối lộ, ve vãn nịnh bợ người trên, kẻ mạnh (quân đội Quốc Dân Đảng, kể cả nhóm nhỏ OSS Mĩ dò dẫm bên cạnh). Để tỏ ra là một chính phủ tân thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một Tuyên ngôn Độc lập lặp lại các nguyên tắc căn bản của nền dân chủ tư sản Pháp, Mĩ, với tổ chức cơ cấu điều hành đất nước theo cùng dạng: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội (6-1-1946), thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước, thành lập chính phủ “do dân”, “vì dân”&#8230; ban hành những sắc luật lí tưởng đầy mơ ước khắp nơi, công nhận tự do cá nhân, tự do báo chí, tự do lập hội&#8230; Tuy nhiên thực tế vốn đã không như mơ ước thì sự tạo dựng tốt đẹp nào đưa ra cũng mang tính dối trá có lợi cho người chủ động, trong trường hợp này là những người cọng sản Việt Nam đang có vũ khí, thực lực dưới dạng một quyền bính chính thức bao trùm toàn quốc.</p>
<p>Quyền bính ở Hà Nội không giống như, ví dụ lúc ở Tân Trào, Bắc Sơn nên ông chủ tịch Đảng phải tìm cách luồn sâu hơn nữa, ra lệnh giải tán Đảng (11-1945), chỉ còn hoạt động dưới hình thức một Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Sự việc không những gây phản đối về phía cán bộ, đảng viên mà đối với Quốc tế còn tỏ ra là một hành vi phản bội lí tưởng, nhẹ nhàng thì gọi là “thiên hữu” gì đó như đã từng xảy ra, để ông Chủ tịch còn nhớ và chỉ mặt một cựu Tổng bí thư trong tranh: “Chú này [Hà Huy Tập] hồi trước công kích Bác dữ lắm”. Nhưng thực tế về sau, chứng tỏ là không ai có nhiều kinh nghiệm về âm mưu để đưa đến thành công như ông, bằng cớ ngay trong hành động “giải tán Đảng” này. Đảng Cộng Sản xuất thân là một hội kín từ ngay nguồn gốc Tây, đến cắm rễ ở Việt Nam lại đậm thêm nét thần bí phương Đông thì những hoạt động ẩn giấu vốn đã có cái thế mập mờ khuất lấp mang lại sự đe doạ hay hấp dẫn, nay lại còn được thêm thế của quyền bính công khai tạo dựng, nâng đỡ bên ngoài nữa. Cho nên không cần tuyên bố hiện diện hay trương bảng hiệu, nó vẫn mang sức mạnh tràn đầy. Vì thế ở tận cùng phương Nam, thủ lãnh đảng Lập Hiến Bùi Quang Chiêu, Quốc Gia Độc Lập Hồ Văn Ngà, nhà báo Diệp Văn Kì bị giết, đảng viên Đệ Tứ lo trốn chạy. Hồ Hữu Tường núp bóng ở Hà Nội xa lạ, thủ lãnh Tạ Thu Thâu ra đến Quảng Ngãi cũng không thoát, chia sớt số phận của các giáo dân Cao Đài bị tàn sát cả làng nơi này, trên đất Quảng Nam, trên vùng Đông Nam Bộ, còn giáo dân Hoà Hảo thì bảo vệ sinh mạng mình bằng cả một phong cách tuyệt vọng của nông dân thời Đàng Cựu, gây kinh hoàng nhiều năm về sau. Ở cố đô Huế, cựu Thượng thư Phạm Quỳnh, cha con Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân bị giết, Nguyễn Tiến Lãng, cựu bí thư Nam Phương Hoàng hậu, thoát chết nhờ xe không đủ chỗ, sự quyết định có vẻ là từ ngôi sao Tố Hữu đang lên lúc bấy giờ, theo những ẩn khuất mập mờ tiết lộ hồi sau. Trên thủ đô Hà Nội, người cộng sản khó tung hoành hơn nên phải chịu đựng các ống loa của các đảng phái quốc gia công kích, thêm tiếng nói cho lời các báo đối lập, chịu đựng vài cuộc biểu tình, và cả chuyện giết chóc được phanh phui thành tội ác riêng của phe đối lập như trong vụ phố Ôn Như Hầu.</p>
<p>Các đảng phái quốc gia chậm chân, chỉ có thể nương thế quân đội Trung Hoa ép chính phủ Hồ Chí Minh mở rộng Quốc hội, thu nhận 70 đại biểu không qua bầu cử theo thoả thuận giữa Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội. Một chính phủ liên hiệp kháng chiến được tuyên bố thành lập nhưng tình thế nội bộ cũng như biến chuyển bên ngoài đã khiến những người cộng sản càng tăng thêm quyền lực. Quân Pháp trở lại chiếm các thành phố ở Nam Bộ, lấn dần lên Tây Nguyên, rồi với các tiếp viện từ chính quốc, cũng muốn tìm cách đem quân ra Bắc một cách êm thấm. Họ nhân lúc Trung Hoa phải đối phó với với Hồng quân trong việc chia chác thành quả chiến thắng quân Nhật nên chịu thoả thuận để quân Pháp thay thế trên vùng bắc vĩ tuyến 16 (hiệp ước Trùng Khánh 28-2-1946). Chính phủ Việt Nam cũng không có cách nào khác là kí Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, công nhận sự hiện diện của quân Pháp.</p>
<p>Lợi thế đầu tiên của Tạm ước là nhân quân Tưởng rút đi (15-5), chính phủ cho quân tiến chiếm lại các vùng thành phố biên giới, thanh trừng các nhân vật Việt Quốc, Việt Cách trong chính phủ và Quốc hội, truy sát các nhân vật phe phái này (Khái Hưng, Phan Trần Chúc, Lan Khai&#8230;) theo luận điệu thường thấy về sau, là “bị cơ quan an ninh quốc gia trừng trị vì tội phản bội Tổ quốc”, trong đó nổi bật ngay ở thủ đô là vụ đột nhập trụ sở của Đại Việt Quốc Dân Đảng ở phố Ôn Như Hầu (12-7). Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Tường Tam tự động rời nhiệm sở, các lãnh tụ Lí Đông A, Trương Tử Anh&#8230; mất tích để các đảng viên mong ngóng ngày họ xuất hiện lại, trở về dẫn dắt. Tuy nhiên sự thanh trừng êm thấm hơn, với một nhân vật tưởng là đã ở “bên lề lịch sử” như Cựu Hoàng Bảo Đại / Cố Vấn Vĩnh Thuỵ (được “cử” đi Trung Hoa ngày 11-3-1946) lại sẽ mang phiền luỵ nhiều hơn người cộng sản tưởng, bởi tính tượng trưng nơi con người lạc loài kia. Còn một người có thể làm đại biểu cho chế độ người cộng sản mong muốn diệt trừ mà chưa thực hiện được, tức là còn mầm mống, cơ hội trỗi dậy cho chế độ cũ. Nhưng dù sao thì với sự thanh trừng thành công, chính phủ Hồ Chí Minh từ nay đã trở thành người chính thống không tranh cãi để giành quyền độc lập cho tổ quốc.</p>
<p>Quân Pháp lúc này không phải chỉ thập thò ở những vùng xa mà nay đã đóng trên vùng đất gần chính phủ trung ương thì họ càng có thế uy hiếp nhiều hơn nên không quan tâm đến Tạm ước 14-9-1946, kí ở Paris để Chủ tịch khỏi mang tiếng về tay không với dân chúng. Họ cho quân lấn chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, Đà Nẵng, đòi giữ quyền trị an ở Hà Nội. Thế là đêm 19-12-1946 đánh dấu thời điểm toàn quốc kháng chiến của chính phủ VN DCCH. Các nhân viên văn võ Pháp điều hành chiến trường Đông Dương, có tiếp viện từ chính quốc đã đem quân lấn nống ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, nay định làm một cú đảo chính để loại trừ Hồ Chí Minh và Việt Minh. Nhưng họ lại để vuột khỏi tay toàn bộ người cầm đầu, biến chiến tranh thành cuộc chiến nhân dân tản lạc, thành thử không những không thao túng được với quyền uy người chiến thắng mà khi cần điều đình lại không có đối tượng hợp tác gần cận, như trường hợp của Anh với M. Gandhi của Ấn Độ, Hoà Lan với Sukarno ở Nam Dương vài năm sau. Từ căn bản khởi đầu của cuộc chiến, chiến tranh giành độc lập ở Việt Nam đã có mầm mống xung đột khác, ngay trong lòng bản chất đối kháng không khoan ngượng của các phe phái tranh đoạt. Không phải giành giật một quyền bính, một dân tộc, một đất nước mà là giành giật toàn thế giới, nhân loại.</p>
<p>Tuy nhiên về mặt cá nhân, có thể nói đây là thời kì tột đỉnh của Hồ Chí Minh. Chức vụ và tình thế đem đến quyền lực thực sự cho ông, cho phép ông khai thác tận lực khả năng quyền biến được tác thành trong cuộc đời âm mưu trôi nổi. Thành công ngắn ngủi đó ảnh hưởng đến tiếng tăm lâu dài về sau. Hào quang quá khứ yêu nước của (các ông) Nguyễn Ái Quốc được dồn lại, cụ thể hoá bằng uy thế danh vọng Hồ Chí Minh Chủ tịch nước, sẽ lại được củng cố, bồi đắp theo với thời gian ẩn hiện trong kháng chiến, qua các tô vẽ tạo dựng do chính ông hay các thuộc hạ đồng chí tung ra, làm che lấp các khuyết điểm, đẩy ông vươn đến tầm mức quốc tế mà không có một lời chê trách nào bật ra – trừ từ những nạn nhân thất thế cấp thời của ông, hay ngậm ngùi nín lặng như khi Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Xiển nghe ông lập lại lời chê “&#8230; cục phân” của Mao Chủ tịch còn ở xa. Và dù có phát lộ thì cũng không thể nào lọt tai nhiều kẻ khác, để tiếng tăm trong lịch sử của ông không sứt mẻ nhiều, như cảnh cái lăng uy nghi thô kệch kia che lấp được cả mùi tử khí của cái xác ướp sập sình bên trong.</p>
<p>Cuộc chiến Việt Pháp ở thế kỉ này không như lần trước. Tuy vẫn có những ý nghĩ đánh giặc lạc loài kiểu bện rơm làm áo giáp chống đạn ở Huế, vẫn còn những nông dân Miền Tây thừa hưởng niềm tin vào bùa chú của hội kín nhưng nhìn chung, nơi người Pháp khởi chiến lần này không phải là đất xa kinh đô yếu ớt mà là toàn vùng đất có tập họp người mang tầm mức kiến thức sát với thời đại văn minh, có những cơ sở vật chất, kĩ thuật đủ để chống đánh, không thắng thì cũng đủ cản trở đội quân vừa trải qua cuộc Thế chiến. Tài sản dân chúng ngày nay không phải chỉ là những manh áo vá, họ đánh nhau mà vẫn hưởng một số tiện nghi của thời mới – cái ưu thế này sẽ kéo dài cả khi cuộc chiến đổi thành phần, tăng mức độ. Họ, cùng với những đồng bào sống ngoài biên giới, đủ năng lực để đưa người chiến đấu, mua khí giới từ Xiêm, Mã Lai về (phong trào từ nội địa “xuyên Tây” tìm tiếp viện, hướng mong ước của Trần Văn Giàu trốn cảnh bó rọ ở Việt Bắc). Khí giới thừa mứa sau chiến tranh, mua từ quân Nhật bại trận – nếu không phải là từ những người này tuồn qua cho-không theo một ý thức đồng văn, đồng chủng Á-tế-á lúc này không còn mang tính cách kênh kiệu, lợi dụng nào cả. Tất nhiên là quân Pháp với xe tăng, đại bác, máy bay có thể chiếm đóng nhiều nơi nhưng không thể nào dàn trải khắp chốn, vì thế họ chỉ có thể bám trụ ở những thành phố, thị trấn với những vùng phụ cận nối tiếp mà thôi. Cho nên vẫn còn những vùng “tự do” rộng thênh thang hoăc chỉ bị đe doạ chút ít, hoặc hoàn toàn vắng bóng người Pháp như các vùng Đồng Tháp Mười, Cà Mau, vùng Nam Ngãi Bình Phú (gọi là Liên khu V của Việt Nam), vùng Thanh Nghệ Tĩnh (một phần Liên khu IV)&#8230;</p>
<p>Sở dĩ còn những vùng Tự do như thế cũng là vì những năm sau tháng 12-1946, quân Pháp cố tập trung mở những chiến dịch truy đuổi chính phủ kháng chiến trên các vùng trung, thượng du Việt Bắc mà không thành công. Sắc lệnh 25-5-1946 đổi danh xưng Vệ Quốc Đoàn thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, đưa quân số lên đến 80 000 người vào cuối năm. Hiệp định sơ bộ 6-3 ứng xử với một tập đoàn văn minh đã làm cớ cho kháng chiến Nam Bộ bớt chịu áp lực tấn công của Pháp một thời gian. Cuộc chiến giằng dai cũng là dịp cho chính phủ kiện toàn tổ chức diện địa, tập họp các đoàn thể Cứu quốc theo kiểu đoàn ngũ hoá, dễ dàng chuyển qua các tập họp quân sự. Đảng Cộng Sản phát triển kết nạp đảng viên, không cần phân bua công khai hay ẩn giấu. Đã có nửa triệu đảng viên trong các năm 1948-49. Sự đòi hỏi quyền lãnh đạo lúc này không phải nấp lánh nên ngày 22-12-1946, Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Toàn dân kháng chiến”, nói rõ triển vọng là thành lập một nước “Việt Nam Dân chủ mới”, danh xưng còn xa lạ với đương thời nhưng đã thấy ở vùng Đông Âu dưới uy lực của Liên Xô.</p>
<p>Vùng Nam Bộ phức tạp với các nhóm kháng chiến theo kiểu sứ quân như ta thấy, rốt lại ông Chủ tịch Trần Văn Giàu giằng co khi bỏ Sài Gòn của ông, nhưng cô thế trước nhóm tù Côn Đảo về (Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn&#8230;) và đại diện Trung ương (Hoàng Quốc Việt, Cao Hồng Lãnh), đành phải nhận lệnh lôi về Bắc, nhường chức Bí thư Xứ ủy Lâm thời cho Lê Duẩn. Tướng Nguyễn Bình được điều động vào Nam là để mất cái thế hùng cứ của ông ta ở chiến khu Đông Bắc, làm Tư lệnh mà chỉ loay hoay với quân lực chính ở Miền Đông vậy mà cuối cùng, khi vai trò Lê Duẩn lên cao, cũng bị lôi về Bắc, chết trong cảnh mập mờ trên đất Miên (21-1-1951) có lẽ vì thiếu cái dù Đại Hán mới như của tướng Nguyễn Sơn. Thật ra thì sự sục sôi cứu nước ở vùng cuối đất nước này khiến cho đảng Cộng Sản không cần phải nặng tay cho lắm. Nỗi ao ước độc lập vừa chớm thấy qua không bao nhiêu ngày hô hào tưng bừng, lại bị dập tắt trước mũi súng nên người ta lao vào cuộc chiến không đắn đo. Tránh được cảnh “bao bố trùm đầu nhìn mặt” của lính-kín Pháp, họ may mắn ra bưng (Phạm Ngọc Thảo) thoát khỏi nạn phải mò-tôm, làm thằng-chổng, rồi rủi ro lại không gặp dịp “về thành”, họ trôi theo kháng chiến lãnh tiếng khen của lời đồn, của truyền thông thời mới với một chức vụ mơ hồ nào đó, như cảnh ông Huỳnh Văn Tiểng thời sinh viên Hà Nội sôi động, trải qua hai cuộc kháng chiến, đến thế kỉ XXI mới dám thốt lời nhẫn nhục về cảnh đám Dân Chủ của ông bị người Cộng Sản mỉa mai, miệt thị dai dẳng! Tầng lớp dưới có phản ứng giản dị hơn, như người dân Hoà Hảo mang mã tấu trả lời Việt Minh về tội giết Giáo chủ của họ (14-7-1947).</p>
<p>Cái sốc văn hoá nổi bật nhất là hiện tượng Nam Kì tự trị. Dấu vết riêng biệt còn mang tính cách phân biệt chủng tộc, là hiện tượng “cáp Duồng” của dân các phum sóc Miên mang phảng mác tìm giết người Việt, vốn cũng đang hoang mang trước tình thế mới. Tuy nhiên Nam Kì lại cũng là thuộc địa, thấm nhuần sinh hoạt Tây Phương đậm đặc hơn đâu hết, nên khi cảnh độc lập được chớm thấy, ước ao hiện thực đã thành hình trước mắt không như trong mơ tưởng, thì hiện tượng phân hoá từ sự chênh lệch sinh hoạt, suy tưởng lại cũng dễ dàng xảy ra. Tầng lớp trung thượng lưu bên trên sợ sệt, bất mãn trước cảnh phe cộng sản Đệ Tam vừa nắm chính quyền là đã tiêu diệt đối lập, không chỉ đối với những kẻ mang tên “Việt gian thân Nhật” như Hồ Văn Ngà, từng cùng Trần Văn Giàu biểu tình 1930 trước điện Élysée, lúc này là lãnh tụ Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, một thành phần thế tục của Mặt trận Quốc Gia Thống Nhứt bao gồm các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo. Đệ Tam còn ra tay trừ khử phe Đệ Tứ tụ tập quanh tờ báo <i>Tranh Đấu </i>từ tên<i> La Lutte</i> chuyển sang tiếng Việt (Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch&#8230;), thù hận theo đúng chủ trương từ Quốc Tế cao vời, trong đó cũng có tiếng gào thét của Nguyễn Ái Quốc những ngày còn lang bạt. Sự huênh hoang của người cầm quyền Sài Gòn “mùa thu rồi, ngày hăm ba&#8230;” đó còn thấy trong hồi kí năm 1985 của con Hùm xám Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn, người nắm Quốc Gia Tự Vệ Cuộc (Công An) hồi ấy. Người ta chém giết nhau, đe dọa giết người khác vì không cùng lí tưởng, vì những lí do lạc hậu, bảo thủ đến mức cùng cực, như giữ sách vở chữ Tây trong nhà, như rủi ro có các mảnh vải ghép lại có thể là xanh, đỏ, trắng&#8230; tất cả báo hiệu cho họ một hướng độc tài gay gắt thấy trước. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh từng chăm sóc Phan Châu Trinh những ngày cuối, lập đảng Dân Chủ (1937), từng đòi tự trị cho Đông Dương, đòi cải tổ xã hội&#8230; bây giờ lại co rút trong khuôn khổ nhỏ hơn: đòi cho Nam Kì tự trị, bởi vì cái trung ương mới từ Hà Nội không những thật xa vời trong đường đất mà còn cả trong tâm tưởng của ông, với thực trạng độc lập phe-phía ông vừa chớm thấy. Và gặp sự đồng điệu ở những người khác ít thất vọng hơn, không đến nỗi phải tự tử (11-11-1946) như ông: nhà báo Nguyễn Phan Long, bác sĩ Lê Văn Hoạch của tập thể Cao Đài đang bị truy diệt&#8230; Và không phải chỉ mình phe “thân Pháp” của ông thấy được sự thất thế của Nam Kì. Trần Văn Giàu kháng Pháp chống lệnh Trung ương, không chịu làm “phó tướng” cho Hoàng Quốc Việt, vẫn phải tiếp nhận hai tư lệnh gốc Bắc được đưa vào quản lĩnh hai Khu 8, 9 của Miền Tây cuối đường đất nước. Và lệnh triệu hồi ông ra Bắc được cả Nguyễn Văn Trấn nhìn nhận như một chiếu chỉ gọi “Nhạc Phi về trào”, lệnh gây nỗi hoang mang lo sợ chết dấm dúi dọc đường của những người quen với âm mưu thanh trừng nội bộ – cũng kinh khiếp không khác như đối với kẻ khác phe, lệnh hiểu được mà vẫn phải tuân theo vì cái thế cùng đường của ông chúa vùng mới hôm qua!</p>
<p>Cuộc đổi dời đem lại những thảm cảnh / nghịch cảnh ứng xử cá nhân, không dễ gì giải quyết được cho mình, cho người. Không rơi hẳn vào vòng tay người Pháp để phải ân hận như Nguyễn Văn Thinh, kĩ sư Nguyễn Ngọc Nhựt, con Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương của phái Cao Đài Bến Tre, lăn về phía kháng chiến, bị bắt, bị lôi kéo giữa chút lí tưởng mơ hồ chưa thành hình với kinh nghiệm độc lập mới, tâm trạng giằng xé đến nổi cơn điên loạn tới chết. Thiếu sự tự chủ của ông Tam Ích treo cổ trên chồng sách hồi sau (1972) như một xác nhận về chữ nghĩa lạc loài, nặng nề hơn sự ray rứt muộn màng trong bệnh hoạn thất vọng của ông Nguyễn Hiến Lê hồi cuộc chiến kết thúc, để khỏi cần phải phân vân, hoài nghi gì nữa.</p>
<p>Tình cảnh “ăn cơm nhà làm việc kháng chiến” không phải chỉ có ở Nam Bộ. Phần đông những cán bộ nhà nước lúc đầu đều là con nhà khá giả có thể tự lo cho bản thân. Chi tiêu công là tiền ngân hàng tịch thu, là ở các quỹ ủng hộ bởi những nhà giàu (chưa gọi là địa chủ) hay những đóng góp mang tên Tuần lễ vàng, Công khố phiếu, Hiến tặng tài sản, Hũ gạo nuôi quân, hay qua những đóng góp tản mạn đón tiếp cán bộ công tác ghé vào nhà dân (giàu)&#8230; Sự chênh lệch phát triển trên tầm mức thế giới cũng đem lại tiền bạc cho chính phủ kháng chiến qua các tổ chức buôn lậu giữa hai vùng “Tự Do” và “Bị Chiếm”, thấy ra ở vụ Đại tá Trần Dụ Châu, và nổi bật nhất là việc kinh doanh thuốc phiện dưới quyền Nguyễn Lương Bằng, Phó Chủ tịch nước hồi sau. Sinh hoạt chung trở về với thời đại nông thôn tự cấp tự túc nên sự cực khổ đến mức không chịu được chỉ cảm thấy ở tầng lớp thị dân, công chức cũ, những người ráng bám víu một lúc ở nông thôn nhờ tiền của cất giữ mang theo, trước khi đuối sức, “dinh tê” về-thành.</p>
<p>Tổ chức diện địa mang tính chiến đấu, nên các tên vùng dân sự không được nhắc nhở như các tên quân sự: các Khu, rồi Liên khu III, IV, V, Việt Bắc mà chính phủ nối kết bằng các đại biểu do trung ương cử đến. Có vẻ sự điều hành suôn sẻ là nhờ tính chất tự trị khu vực tự nhiên trên nền nếp hành chính cũ, có sự canh giữ một chừng mực của đảng Cộng Sản trong khi lực lượng Pháp chưa đủ lấn tới gây hỗn loạn. Thời kì bị động trước sự tràn lấn của Pháp như thế, được xếp trong sách lược nhà nước, là thời kì Cầm cự / Phòng ngự (chờ đợi Chuẩn bị rồi Tổng phản công). Ở vào thế yếu nên những hoạt động tinh thần được cổ động rất nhiều. Nam Bộ nói đến “tầm vông vạt nhọn”, đến “mang gươm đi mở nước”&#8230; Lời kêu gọi kháng chiến của ông Chủ tịch với ý kiến “có gì dùng nấy”, từ đó nổi lên hình ảnh của các văn nghệ sĩ đi kháng chiến một cách lãng mạn với cây đàn, với “thơ treo đầu súng”&#8230; Trong Đại hội Văn hoá Toàn quốc 7-1948, Tổng bí thư Trường Chinh đọc báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam” tuy bị có người thấy ra là “mượn” bản văn của R. Garaudy (Vũ Thư Hiên 1997) nhưng chính nhờ giới hạn sáng tác đó mà vài nhận định lịch sử Việt Nam của ông vẫn còn trong vòng sách vở cũ.</p>
<p>Mặt khác, trong lúc chính phủ trung ương phải lo trốn chạy sự truy đuổi của quân Pháp thì các vùng xa phía Nam chưa thấy bóng quân Pháp vẫn phải có những đại diện, như Miền Nam Trung Bộ có Huỳnh Thúc Kháng rồi Nguyễn Duy Trinh. Tuy nhiên với tình hình chiến tranh, dấu hiệu quyền lực quân sự vẫn nổi bật, như Liên khu V trùm lên Miền Nam Trung Bộ có THIẾU tướng Nguyễn Sơn / Vũ Nguyên Bác chận lấy khí giới của Nam Bộ mua về chở ngang qua (để dằn mặt TRUNG tướng Nguyễn Bình?) Rồi khi ông này coi Liên khu IV mà trung tâm là vùng Thanh Nghệ Tĩnh, thì có thể nói đây là một trung tâm văn hoá kháng chiến với trường Đại học, với các hoạt động văn nghệ khích động tinh thần kháng chiến, gợi nỗi hồi tưởng nuối tiếc của những người “về Thành”, của tướng đàn em Trần Độ. Tất cả một thời kháng chiến lãng mạn, trong thời kì tranh đấu giai cấp tiếp theo, sẽ là chân trời mơ tưởng ở những vùng xa, phía Nam, mơ màng với “màu tím hoa sim”, “đôi mắt người Sơn Tây”&#8230; vào thời kì khắc nghiệt của cuộc chiến tiếp, sau khi ông tướng sứ quân chửi cả Tổng tư lệnh, bị đuổi về Tàu, chôn thân nơi đất khách như những hình nhân thất thế khác.</p>
<p><b>1949 và Hiệp định Genève, ranh giới chiến tranh lạnh trên đất Đông Dương</b></p>
<p>Với những người khao khát quyền lực, lí tưởng thì chiến tranh không phải là chuyện chơi văn giỡn chữ. Trong năm 1947, bộ đội chủ lực vẫn còn mang tên thông dụng: Vệ Quốc Đoàn, đã được nâng lên số 125 000 quân với tổ chức trung đoàn và tiểu đoàn độc lập. Có tổ chức dân quân du kích và bộ đội địa phương, và ngày 28-8-1949 đánh dấu sự thành lập Đại đoàn chủ lực đầu tiên. Sự phát triển tự thân như thế không phải là không có duyên cớ từ biến động to lớn, tuy còn mang tính khu vực Đông Á nhưng sẽ thấy là nhân tố biến động toàn cầu: Hồng quân Trung Hoa tiến sát biên giới phía nam, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan, tuyên bố thành lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc ngày 1-10-1949.</p>
<p>Vai trò của Hồng quân trong cuộc chiến Việt Nam không những được giữ kín chi tiết rất lâu về sau mà với tính cách hội kín truyền thống Đông Á như đã thấy, người Pháp ngay đương thời cũng không thể có nhiều thông tin về phía địch, như tướng Navarre từng than thở. Thông sử nhà nước cho biết, từ đầu 1949 đã có bộ đội Việt Nam đánh chiếm vùng Thập Vạn Đại Sơn của tỉnh Quảng Tây, tiếng là “giúp bạn xây dựng khu giải phóng” nhưng hẳn là nôn nóng tiếp cận với bè bạn, trong mộng tưởng nhờ cậy vào tinh thần giai cấp quốc tế. Ông Trần Độ có dịp dẫn người đi huấn luyện trên đất Hồng quân. “Dựa vào sự giúp đỡ của các lực lượng bạn”, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh Tổng động viên để chuyển sang giai đoạn Tổng phản công. Thế là chiến dịch Đông Bắc 16-9-1950 “đánh thông đường liên lạc quốc tế nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa&#8230;” (<i>Đại cương lịch sử Việt Nam,</i> tập III, 2000). Trấn Nam Quan mang tên thuận thảo Mục Nam Quan của vị thiên tử mới, nín lặng nhường danh vị thành công cho bạn bè nhỏ. Ngày 18-1-1950 CHND Trung Quốc công nhận VN DCCH, đáp lễ việc Việt Nam công nhận trước đó ba ngày như một thúc giục ứng đối. Lôi cuốn theo là sự công nhận của Liên Xô ngày 30-1-1950, như một sự cạnh tranh với Trung Quốc về tinh thần tương trợ quốc tế, mở hướng cho sự cạnh tranh vì chủ nghĩa lớn rộng hồi sau.</p>
<p>Người dân bình thường chưa thấy ra vận mệnh của mình được đặt vào tay những thế lực kia, kinh khủng là dường nào. Tuy nhiên mầm mống đối kháng dữ dội, như đã nói, là đã nằm trong bản chất chế độ mới, của tình hình quốc tế sau Thế chiến II. Nhà nước “tư sản” Pháp không thể điều đình với nhà nước “nhân dân” Việt Nam thì phải tìm đối thoại ở người được bảo trợ cũ, tuy là ở tầng lớp bị trị nhưng đã chuyển hoá gần gũi với họ hơn. Sức tràn lấn của chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới gây ra phản ứng của các nước theo chủ nghĩa tư bản mà đứng đầu là Mĩ, tạo ra một tình hình được gọi là Chiến tranh Lạnh kéo dài đến 1991, khi Liên Xô sụp đổ. Trong tình hình chung về tương quan thuộc địa và đế quốc lúc đó thì Mĩ đã trả độc lập cho Philippin (1946), người Anh trả độc lập cho bán đảo Ấn Độ (8-1947), thành lập liên bang đầu tiên (1948) làm nòng cốt cho nước Malaysia về sau (1957), trong lúc Hoà Lan thả Sukarno và công nhận Nam Dương (1949). Người Pháp không thể làm khác khi Cựu hoàng Bảo Đại lưu vong ở Hongkong đề nghị điều đình, dẫn đến thoả ước Hạ Long với Cao uỷ Bollaert công nhận một Việt Nam độc lập có giới hạn (12-1947). Tình thế thất bại của người Pháp khi không truy bắt được chính phủ Hồ Chí Minh, và sự lấn lướt của phe cộng sản ở Tây Âu (phong toả Berlin), cùng sự thắng thế của Hồng quân Trung Quốc đã làm Pháp phải lùi bước hơn. Tổng thống V. Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại kí Thoả ước 8-3-1949, công nhận Việt Nam là nước liên kết trong Liên hiệp Pháp với trách nhiệm ngoại giao, quốc phòng và tài chính còn trong tay người Pháp. Cựu hoàng thất vọng nhưng cũng phải trở về (4-1949) với danh nghĩa Quốc trưởng, thành lập chính phủ (7-1949) trong tình thế kết tập lãnh thổ của các phe phái Việt Nam. Ông phải lãnh tình trạng xé vụn nước khi người Pháp chưa tìm được một mẫu số chung: các vùng tự trị của các thủ lãnh bộ tộc (Mường, Thái), giáo phái (Hoà Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa Giáo).</p>
<p>Sự công nhận chính phủ Hồ Chí Minh của Trung Quốc, Liên Xô và các nước phụ thuộc Đông Âu tiếp theo làm cho thuyết Be bờ Ngăn chận (cộng sản) của Mĩ có lí do chen vào cuộc chiến Đông Dương. Từ đây trên ngôn từ kháng chiến lại có thêm tập họp “Can thiệp Mĩ”. Lời của Nghiêm Kế Tổ, nhân vật Quốc Dân Đảng cùng đi với Cựu hoàng qua Hongkong năm 1946, biện minh cho phe mình sao mà giống lời Tổng bí thư Lê Duẩn hồi sau, chỉ cần đổi vai trò danh xưng: “Quân đội quốc gia không còn chiến đấu để riêng phụng sự cho người Việt Nam nhỏ bé mà đã có nhiệm vụ tiên phong trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa cộng sản của toàn thế giới tự do dưới sự lãnh đạo chiến lược (của) đại cường quốc dân chủ Hoa Kì”.</p>
<p>Tuy nhiên thế yếu về cả danh nghĩa của chính phủ Quốc gia Bảo Đại là thấy rõ. Cơ cấu này được lập nên bởi tình thế bất đắc dĩ của người Pháp phải thụt lùi dần trong ý định tái chiếm thuộc địa nên họ không dễ dàng buông lỏng dây cương. Nỗi hậm hực vẫn còn đó hồi sau, khi họ phải nhường vai trò chống Cộng (thất bại) của họ cho người Mĩ. Nhưng liên hệ của những người cầm quyền mới, tuy còn phải tuỳ thuộc vào quyền lực của người Pháp, vẫn không phải chỉ là liên hệ chủ tớ như người chống đối thiên tả cao rao mắng mỏ. Đó là liên hệ căn bản ở sự thân thuộc văn hoá qua hơn 80 năm chung đụng, xuất phát từ chế độ thuộc địa, thân thuộc theo một gam màu rộng, từ Thủ tướng Trung tướng Nguyễn Văn Xuân bị chê 100% Tây, đến bác sĩ Phan Huy Quát của một dòng dõi sâu vào trong quá khứ quốc gia. Có những người như triết gia Trần Đức Thảo về với kháng chiến, không chịu nằm mùng chống muỗi để mong được cùng chia sớt cực nhọc với nhân dân, thực nghiệm quan điểm mácxít của mình thì cũng có tiến sĩ Vũ Quốc Thúc rời Paris về Hà Nội, sống với một không khí luật pháp, ít nhiều gì cũng là hợp với những điều ông được huấn luyện. Với tình hình tương quan quốc tế của chính phủ Quốc gia, cùng với tầng lớp nhân sự có kiến thức thích hợp với thế giới to rộng như thế nên tuy những người nối nghiệp của chính phủ kháng chiến mắng mỏ Việt gian, tay sai đế quốc, cuối cùng họ vẫn phải viện dẫn đến những người quốc gia khi cần thiết. Chính vì cái chính nghĩa “Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” được tuyên dương mà họ đã công nhận Tây Sa, Nam Sa năm 1956, 1958 nhưng sau này lúc gặp mâu thuẫn khi có tranh chấp về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa một cách thất thế với Trung Quốc, họ vẫn phải nhắc tới hội nghị San Francisco 1951 có mặt Thủ tướng Trần Văn Hữu, cùng các tuyên bố tiếp theo của chính phủ Bảo Đại, Việt Nam Cộng hoà, của các chế độ vẫn được họ trưng bày dưới mắt dân chúng là xấu xa, đáng phỉ nhổ!</p>
<p>Nhưng cũng chính sự ràng buộc với khuôn mẫu Tây Phương trong lúc không tránh khỏi vướng víu với quá khứ thuộc địa nên chính quyền Quốc gia đã phải chịu thêm những lận đận cốt lõi của chế độ dân chủ tư sản, sự lận đận càng nặng hơn đến mức không có cơ cứu vãn. Tướng Navarre nhận định: “Họ (CS) chỉ có một chính phủ, một tướng tổng tư lệnh, còn Ta (Pháp) 19 lần thay đổi chính phủ 7 lần thay đổi chỉ huy&#8230;” Nhưng thứ “định mệnh” đó của Pháp chỉ làm lung lay mà không tiêu diệt họ ở chính quốc, lại làm tiêu diệt thành phần gán ghép vào đó ở phương xa này. Sinh hoạt tự do tương đối ở các thành phố, trên đất Nam Bộ / Sài Gòn đã thành tự nhiên đến mức những ý tưởng chống đối, khác biệt được phô bày một cách công khai trong lời nói, cả trên các hội đoàn ngang nhiên tập họp, trên báo chí công luận, tuy có thể gặp rủi ro chết người nhưng vẫn là xuất hiện được để đủ gây tác dụng. Ước vọng độc lập mới thoáng hiện đã bị trùm lấp bởi chính quyền cai trị cũ nên càng thành một thôi thúc khiến người ta quên sợ hãi, vẽ vời về một cuộc đời gian lao lãng mạn trong kháng chiến, dễ dàng xuất hiện với thơ văn vó ngựa sa trường, anh hùng Lương Sơn Bạc cụ thể với Bộ đội Hoàng Thọ, Thi tướng Chiến khu xanh Huỳnh Văn Nghệ, pha chút hấp dẫn huyền bí của du côn thành thị kiểu băng nhóm Bình Xuyên&#8230; Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ bao gồm toàn các bác sĩ, kĩ sư, luật sư tinh hoa của thời kì Pháp thuộc – có cả một Đốc phủ sứ Đô trưởng Sài Gòn Chợ Lớn bỏ chức – mang màu sắc thân cận, để ngay ở Sài Gòn có Tuyên ngôn của trí thức Nam Bộ phản đối “giải pháp Bảo Đại”, được luật sư Nguyễn Hữu Thọ đàng hoàng trao cho L. Pignon đòi giải quyết, và cũng được ông Cao Uỷ tiếp kiến! Bởi vậy các chính phủ Quốc gia cứ liên tục thay đổi, hết Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân đến Nguyễn Phan Long (1-1950), Trần Văn Hữu (5-1950, 2-1951), Nguyễn Văn Tâm (6-1952), Bửu Lộc (12-1-1954), Ngô Đình Diệm (7-7-1954). Ở đây tính chất phản kháng của quần chúng được bảo vệ bởi một chính quyền thực dân, theo một tinh thần dân chủ cốt lỏi được tạo dựng ngay từ chính quốc. Không cần phải lên gân can đảm nhiều, người ta phản đối chính quyền, tự nhiên như họ đang sống. Bởi vậy từ cuộc lễ kỉ niệm Nam Kì khởi nghĩa nhỏ mới dẫn đến việc bắt bớ, đòi thả người theo một cung cách cục bộ quyết liệt, rồi chuyển qua cuộc tập họp phản đối tiếp theo làm chết một học sinh, nổ bùng thành cuộc biểu tình lớn (9-1-1950), mở đầu cho phong trào Trần Văn Ơn lâu dài. Và khi hai chiến hạm Mĩ ghé Sài Gòn thì có cuộc biểu tình (9-3-1950) với khẩu hiệu “Can thiệp Mĩ cút đi!”</p>
<p>Người ta không cần biết thực tại về phía bên kia như thế nào. Tuy đó là chuyện bình thường của nhân thế nhưng cũng phải thấy là do tài vận động tổ chức của những người kháng chiến cọng sản Việt Nam. Họ nhìn ra được tính chất bầy đàn loại cừu Panurge của quần chúng trong cái thế đang lên của nhân tâm hướng về độc lập, trong một niềm say mê không ở mức bình thường. Đây là thời kì của thế hệ những người Chín năm (1945-54), với suốt quảng đời còn lại sẽ chỉ thấy ra hào quang của chuyện kể Chín năm hào hùng.</p>
<p>Nhưng trong khi Phòng Nhì Pháp biết rất ít về phía đối phương như Navrre đã nói, thì chính người dân Việt cũng khó có thể biết những gì được trao đổi từ lúc đánh thông biên giới, “liên lạc được các nước XHCN”, chủ yếu là với Hồng quân Trung Hoa. Chỉ biết sau đó là những cuộc tấn công được mệnh danh là của thời kì Tổng phản công. Các chiến dịch Trần Hưng Đạo xuống trung du (cuối 1950 đầu 1951), Hoàng Hoa Thám vào vùng Đông Bắc (3, 4-1951), chiến dịch Quang Trung dự tính chiếm đồng bằng (giữa 1951) thật dữ dội nhưng gặp hệ thống kháng cự của tướng De Lattre de Tassigny nên phải chịu”tổn thất nặng”, “bị tiêu hao nhiều”.</p>
<p>Tuy sử gia nhà nước nói là “viện trợ bên ngoài tuy không nhiều” (có con số dẫn chứng) nhưng nhìn chung thì tình hình về phía chính phủ kháng chiến đã có thay đổi rõ rệt, thật căn bản từ năm 1950, chứng tỏ sự quan trọng không thể phủ nhận về ảnh hưởng của Trung Quốc trong sự tạo dựng sức mạnh cho Việt Nam DCCH. Tướng Trần Độ, người công thần trở thành phản thần tội nghiệp, vào hồi sau vẫn thành thật thú nhận: “Bất luận là thế nào, tôi cũng vẫn biết ơn đảng Cộng Sản Trung Quốc, Giải Phóng Quân Trung Quốc trong sự nâng cao nhận thức quân sự và chính trị” (của ông). Phần khuất lấp được che giấu khó thấy ra nhưng thành quả của chiến trường thì thật là hiển nhiên.</p>
<p>Với cung cách một tổ chức địa phương có dân, có lính, tăng tự tín, đầu năm 1951 (Đại hội tháng 2-1951), đảng Cộng Sản vượt thoát được cái khung Đông Dương của quốc tế xa vời, mở hướng thu hẹp trong một quốc tế khu vực, ra mắt công khai với tên mới: đảng Lao Động Việt Nam, thông qua Tuyên ngôn, Chính cương và Điều lệ, xác định lãnh đạo toàn dân theo chủ nghĩa Mácxít-Lêninít và tư tưởng Mao Trạch Đông. Từ nay dân Việt Nam có một tập họp chính trị dẫn dắt, chỉ cần gọi tắt là Đảng / “đảng Viết Hoa”, là đủ hiểu để lo sợ hay thành kính tuân theo. Đối với người dân bình thường thì “tư tưởng MTĐ” là những gì xuất hiện trên vùng kháng chiến không thấy có trước đó, nghĩa là những gì vừa mới được ban phát, mới học được. Học sinh thấy biến mất một chương trình giáo dục phi chính trị vẫn được gọi là “chương trình Hoàng Xuân Hãn” của chính phủ Trần Trọng Kim, để thay vào một chương trình học rút ngắn thời gian hơn, đặc biệt là có những sinh hoạt ngoại khoá: học tập chính trị, phê và tự phê, họp Đội, Đoàn (Thanh, Thiếu niên), họp Tổ&#8230; với các ngôn từ mới lạ, đầy khích động mà cũng bao hàm một dấu hiệu đe doạ, cho thấy một cuộc sống không yên ổn chực chờ. Do đó mà nảy sinh sự kiện chống đối nhà nước DCCH đầu tiên, và có lẽ độc nhất trong cuộc kháng chiến, của một nhóm người lẻ tẻ gồm các cựu học sinh thuộc địa, nhân sĩ xưa sót lại và người của tôn giáo, nhất là Công Giáo. Vụ án phát sinh khoảng 1950 đó được gọi bằng hai tên: Mặt trận Quốc gia bài Cộng hay Mặt trận Liên tôn chống Cộng, chứng tỏ tính cách rời rạc của nó nhưng cũng đã được chính quyền đàn áp có bài bản. Họ cho in thành sách quay ronéo (?), trên giấy rơm đương thời, với tên “Vụ Gián điệp Bình Định”, sau khi mở phiên toà với 5 bản án tử hình (một vắng mặt) và nhiều án tù nặng liên can đến nhiều gia đình, chỉ được giải thoát với hiệp định Genève, tình cờ đối với những người bất hạnh này. Và khuất lấp trên đất “mọi Đá Vách” ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) cũng lặp lại hiện tượng xưa khi dân thiểu số nổi dậy với rựa, mác (1949-50) chống tình trạng ép giá gạo muối đổi trâu bò, cồng chiêng!</p>
<p>Chính trị mácxít-lêninít đi vào cuộc sống thường nhật qua những bài luận thuyết giản lược, hãy cứ coi đúng là của các lãnh tụ ở xứ nào xa tít kia vẽ ra mà thật ra cũng chỉ là qua các tài liệu “abc cộng sản”, mang dáng Mao nhiều hơn Mác. Tuy nhiên chính số lượng đảng viên được kết tập theo cung cách hội kín mà mang tính toàn cầu đó, đã tạo thành một mạng lưới dày đặc củng cố chính quyền, thúc đẩy xã hội bên dưới tiến tới theo đường lối hướng dẫn từ trên, không chừa cho một phản kháng nào cả. Nhưng nặng nề nhất có lẽ là những cuộc học tập chỉnh huấn nhắm vào quân đội, những người đang hoặc sắp hứng chịu súng đạn.</p>
<p>Và cuối cùng thì vấn đề thuế cũng phải đăt ra, vấn đề gây sự chống đối của dân chúng đối với mọi chính quyền ở mọi thời đại, vấn đề được người cộng sản xúi giục, a tòng với những người khác chống đối chế độ thuộc địa, mà rốt cục vẫn phải thi hành với đám dân chúng nay đang ở trong tay mình. Có cái khác là nay họ đang làm chủ dân chúng nên những lệch lạc xuất hiện từ đó không được nhắc nhở tới. Các bộ luật thưế nông nghiệp, công thương nghiệp ban hành gọi là “có lí có tình” để cán bộ trên cao như ông Bộ trưởng Vũ Đình Hoè lần đầu thấy mình được lãnh lương! Có thuế để cho một dạng hình điều hành tài chính có thực chất với sự xuất hiện của các tờ Tín phiếu, thay bạc quốc gia xuất hiện từng vùng nhỏ tuy căn bản tiền tệ vẫn bị lôi kéo về phía lúa gạo (tính bằng kílô), lấy từ các kho thuế nông nghiệp mà ra. Tuy nhiên có lẽ ông Bộ trưởng không biết tình trạng tận thu đã làm khổ người dân ở mọi thời đại, nay lại có thêm những hình dạng chỉ xuất hiện kèm với tư tưởng Mao Trạch Đông, gợi dậy một loại truyền thống cứ tưởng là phải biến mất từ lâu: Thuế không được tính trên những thu hoạch thực tế – ít ra là cũng có một chừng mực kiểm nghiệm nào đó, mà lại tính theo ý kiến quần chúng của những cuộc họp bình bầu sản lượng (nếu là ruộng đất), thu nhập (nếu là công thương) diễn tiến với sự thôi thúc của cán bộ kêu gào tinh thần thi đua yêu nước, yêu giai cấp có dẫn dắt, gợi dậy ý thức cạnh tranh danh vọng, chèn lấn vặt vãnh thường thấy trong xóm làng, chốn đình trung xưa. Việc “chây lười thuế khoá” được Chủ tịch nước đẩy về phía tội ác của địa chủ, làm cơ sở cho việc trị tội Cát Hanh Long trong chiến dịch Cải cách ruộng đất sâu rộng. Thời thế đã khác rồi, nhà nước nay cần phải có tiền nuôi quân, nuôi Đảng, cứu nước&#8230; bao nhiêu là mục tiêu tốt đẹp phải thực hiện, điều đó sẽ đẻ ra một thứ triết lí về Bản chất và Hiện tượng, biện minh cho tất cả mọi hành động của Đảng đem ra thực hiện để đạt mục đích của mình.</p>
<p>Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thực hiện “cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” do Đảng đề ra, dẫn tới các biện pháp cải cách ruộng đất (Sắc lệnh 19-12-1953) cho thấy những ngôn từ biểu diễn ý định tốt đẹp, sẽ trở thành quen thuộc trong các văn bản nhà nước: “Luật CCRĐ của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình&#8230;” Nhưng phương pháp thực hiện lại là dựa vào “tư tưởng Mao Trạch Đông” – và như tiết lộ về sau, là được điều hành sít sao bởi các cố vấn Trung Quốc, nên xảy ra những biến cố kinh hoàng trên nông thôn Việt Nam, ban đầu trên các tỉnh của Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, Liên khu V (nửa sau 1953, nửa đầu 1954) rồi tiếp tục trên các vùng nông thôn tiếp thu theo Hiệp định Genève. Lần đầu tiên, dân chúng Việt Nam tái tiếp thu hiện tượng vương hoá thời mới, dẫn đến sự đảo lộn lớn lao không những làm chết 172 000 người trong cơn cuồng loạn đấu tố ở Miền Bắc (<i>Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000,</i> 2004) mà còn làm đà tạo dựng một tầng lớp điều hành đất nước mới sẽ lấn lướt thay thế những người của Mùa thu 1945. Đà kiểm soát quần chúng để thực hiện công cuộc được gọi là Cải cách ruộng đất / “phóng tay phát động quần chúng” được tăng lên với sự thành lập nhanh chóng cơ quan Công an, từ vị trí chỉ là môt Vụ năm 1946 xa lắc, đến tháng 2-1953 lên bậc Thứ Bộ rồi ngay tháng 6 cùng năm, thành hẳn hòi là một Bộ, giao cho Trần Quốc Hoàn với gốc gác giang hồ sẽ làm luỵ cho vị Chủ tịch sau này.</p>
<p>Nhưng dù sao thì sự đánh thông biên giới cũng tiếp sức cho sự lớn mạnh về quân sự của chính phủ DCCH. Thời điểm 27-3-1951 thành lập Đại đoàn công pháo 351, hẳn là có trang bị các đại bác, pháo cao xạ, pháo tên lửa của Trung Quốc, Liên Xô viện trợ, dùng “phục vụ cho một số chiến dịch lớn ở giai đoạn cuối của kháng chiến”, không cần nói rõ là của chiến dịch Điện Biên Phủ, cái tên vang dội trên thế giới còn ám ảnh cường quốc bậc nhất của hồi sau.</p>
<p>Lại cũng không rõ sự thay đổi chiến lược về hướng tấn công trên miền Tây Bắc là bởi ý kiến của cố vấn Trung Quốc, hay bởi sự thất bại trong năm 1951 của các trận đánh xuống đồng bằng nướng quân của tướng Võ Nguyên Giáp. Chỉ biết rằng hiệu quả của những cuộc chỉnh huấn đã tăng rất nhiều. Người bộ đội thường được ca tụng nhiều nhưng với tiết lộ về sau của các cố vấn Trung Quốc thì vẫn là ít can đảm, trong khi với những trận đánh cuối cuộc chiến, lại được người ngoại quốc phương Tây khen là người lính bộ binh giỏi nhất thế giới. Ai cũng biết rằng sự thành đạt là kết quả của tập luyện trong đó, cùng với những tiết lộ về sinh hoạt chỉnh huấn – giống như sự kiện phê, tự phê trong cuộc sống dân sự, cho thấy sự kềm thúc tinh thần đã lên đến mức độ bức bách cùng cực. Là gì đi nữa thì kết quả chịu đựng lao khổ tinh thần, đồng thời với chịu đựng gian khổ vật chất cũng khiến người lính, trong vô thức, bị thúc đẩy vượt thoát theo hướng tiến về phía trước, bởi vì ý thức được rằng sự hiểm nguy ngay bên cạnh là có thật. Trong sự thúc đẩy lòng can đảm, người ta pha trộn tâm tình yếu hèn, tự ái với ước muốn phô trương danh vọng, nấp dưới danh xưng mới của ganh đua là “thi đua”, đặt tiêu chuẩn vượt thường để đạt tới, không nề cả sự dối trá một phần hay toàn vẹn. Cho nên rốt lại trên bảng công tích được nêu trước hàng quân – rồi sẽ trở thành sử sự làm nền tảng chính nghĩa cho chế độ, sẽ có Anh hùng Lấy thân chèn pháo vốn chỉ là người lính bị pháo đè, có Anh hùng Lấp lỗ châu mai mang tên thật là Phan Đình Giót, chắc cũng là tên người bộ đội nào đó chết thật trước một lô cốt, nhưng cội nguồn huyền tích là từ chuyện vẽ ra, về một anh hùng Hồng quân tương tự trong cuộc chiến với quân Tưởng, chắc được các cố vấn chuyển làm quà cùng lúc với các khẩu 105 đang nện xuống Điện Biên Phủ. Huyền tích pha trộn với sự thật, che lấp cả những vô lí mà lúc thường dễ thấy ra ngay, ví dụ chuyện anh hùng La Văn Cầu chặt cánh tay bị thương hư nát để xung phong khỏi vướng! Và được Chủ tịch nước tán thưởng.</p>
<p>Tất cả xuất hiện có bài bản, được khai triển mạnh thêm vào hồi sau, vì vướng víu quyền uy tối thượng nên không được phép động chạm đến, không dễ dàng cho sử gia “phản tỉnh” như với câu chuyện cậu bé anh hùng Lê Văn Tám lẻ loi làm ngọn đuốc sống, đốt kho đạn Thị Nghè của năm 1946 không xa. Người Pháp, phương Tây nói chung, lần đầu đối phó với tinh hoa của Đông Phương trong những trận chiến sống mái, không thể nhìn ra ưu thế chiến thắng đó mà chỉ nhắm vào cái thấy được, là hàng vạn chiếc xe đạp thồ của dân công đem lên chiến trường, để so sánh với địa điểm Verdun của mình.</p>
<p>Trong đại hội thành lập đảng Lao Động cũng có chiến lược chính trị mới, là tách riêng các đảng Lào, Miên (chưa có danh xưng Kampuchia) thành những đảng chính trị liên kết nhưng vẫn là có sự kềm thúc của Việt Nam bên trong theo một ý định tốt đẹp: “làm nghĩa vụ quốc tế”, để lần hồi sẽ nảy ra trong đầu óc ông Lê Đức Thọ về một Liên bang Đông Dương có thể là nằm trong tay ông. Với đương thời thì người ta chỉ nói đến sự liên kết chính trị của các mặt trận ba nước: Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Issarak Miên và Issala/ra Lào nhưng có lẽ chưa thấy mầm mống phân rã bên trong sự kết hợp ấy. Với đất Lào hiền hoà và có thực tế địa vực liền lạc với trung ương đất nước và đảng Lao Động thì với một ông hoàng thân tốt nghiệp kĩ sư Hà Nội, có vợ Nha Trang, một chi bộ Lào trong Đảng vẫn có hi vọng tuân phục dài lâu. Với xứ Cambodge thì tình hình phức tạp hơn. Có một bộ phận lớn dân Khmer trên đất Việt dễ ngưỡng vọng về cố quốc và vẫn được Phnom Penh nhắc nhở đòi hỏi, từng gây nên một phần chậm trễ trong việc người Nhật trao trả Nam Bộ cho Việt Nam. Tuy nhiên đám dân ấy với vị trí gần biển, dưới quyền cai trị của người Pháp lại tỏ ra năng động hơn dân chính quốc nên có nhiều nhân vật lãnh đạo nổi bật. Sơn Ngọc Thành từng làm Thủ tướng Cambodge thời Nhật rồi chống đối Sihanouk hồi sau. Kim Trang gốc Trà Vinh với tên Yeng Sari là Phó thủ tướng Kampuchia Dân chủ sau 1975. Sơn Ngọc Minh là con bài thất bại của Việt Nam trong hội Genève. Tuy nhiên cũng vì cái thế bên lề Khmer Krom mà họ bị dân chính quốc loại trừ (Sơn Ngọc Minh) hay không mấy tin tưởng (Ieng Sary), chưa kể việc sau này bị thanh trừng vì xuất thân trong hàng ngũ Việt (Pol Sovan, Heng Somrim).</p>
<p>Sự thất bại khi tấn công xuống vùng đồng bằng khiến những người chỉ huy nhận ra, sẽ có lợi hơn khi tấn công trên vùng rừng núi, gần với trọng tâm xuất phát, với liên hệ viện trợ, đánh ở những nơi lực lượng Pháp yếu ớt, phần lớn là của những thủ lãnh thiểu số. Các chiến dịch Tây Bắc thành công, giải phóng một vùng rộng lớn dẫn đến ý định đánh thông qua Lào, đe doạ một nước yếu mà người Pháp vẫn phải có trách nhiệm bảo vệ. Thế là có tiền đồn Điện Biên Phủ với chiến thắng vang danh kết thúc ngày 7-5-1954, trận đánh quyết định dẫn đến những kí kết ở Hội nghị Genève 21-7-1954.</p>
<p>Chiến tranh Đông Dương / Việt Nam với khởi đầu của nó là sự giành giật chủ quyền dân tộc / tái chiếm thuộc địa nhưng với bản chất các bên đối nghịch, và theo đà biến chuyển trên thế giới, cuộc chiến đó nay đã trở thành quốc tế hoá một chừng mực sâu đậm. Cho nên khi khuynh hướng xung đột trên thế giới dịu đi thì cơ may hoà bình mới được thấy thực hiện. Stalin chết (3-1953) có ông Tố Hữu khóc than, tiếng khóc thống thiết che lấp nước mắt của nhiều nhân vật danh tiếng khác, nhưng N. Khrutchev lên thay thế, lại chủ trương Chung sống hoà bình. Tháng 7-1953, Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên / Đại Hàn kí kết, chứng minh sự bế tắc của tranh chấp bằng súng đạn. Do đó, Hội đồng Hoà bình Thế giới, cánh tay chiến lược của Liên Xô trong cuộc đấu tranh với thế giới tư bản, ra nghị quyết kêu gọi giải quyết hoà bình vấn đề Đông Dương (10-9-1953). Cho nên qua gợi ý phỏng vấn của một tờ báo Thuỵ Điển (26-11-1953), thật dễ hiểu về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý giải quyết bằng thương lượng. Ngày 8-5-1954, Hội nghị Quốc tế về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương khai mạc tại Genève với đại diện 9 nước, về phía Đông Dương là hai chính phủ Dân chủ Cộng hoà và Quốc gia Việt Nam cùng đại diện các Vương quốc Lào, Cambodge. Không có mặt các thủ lãnh Issala và Issarak.</p>
<p>Ngày 21-7-1954, các hiệp định đình chiến ở Đông Dương được kí kết. Phía Cambodge, “Chính phủ Sơn Ngọc Minh của chúng ta” (Khmer Tự do / Issarak) biến mất trên chính trường quốc tế, nhưng phe Pathet Lào (với các Chiến sĩ Tình nguyện quân Việt Nam) được hưởng hai tỉnh Sầm Nứa và Phong Xa Lỵ, dựa thế vào tây bắc Bắc Bộ, là một mối đe doạ chiến tranh có lẽ chưa được nhận ra. Phía Việt Nam, theo gương Triều Tiên, chia hai bộ phận, lấy vĩ tuyến 17 làm giới hạn. Phía Bắc là của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phía Nam thuộc quyền quản trị của phe Quốc gia và quân đội Pháp với quy định sẽ có việc Pháp rời khỏi Đông Dương. Có đặt những giới hạn thời gian về từng vùng tập kết với hạn cuối là 300 ngày. Việc chia hai đất nước đã gây nên những xúc động trong các phái đoàn Việt Nam và nơi các biểu lộ riêng tư. Không thấy có xuất hiện bên ngoài rõ rệt nơi Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhưng có những giọt nước mắt của Bộ trưởng (Quốc gia) Trần Văn Đỗ, cùng tiếng sáo rền rĩ của người Huynh trưởng Hướng Đạo Võ Thành Minh khóc than cho việc chia cắt.</p>
<p>Thật ra nhìn ở khía cạnh quân sự, Hiệp ước Đình chiến đã cứu nước Pháp khỏi một thảm bại lớn lao hơn, và may mắn tạo ra tư thế cho một chính quyền Quốc gia thành hình có đất đai, có một hình tượng lịch sử không thể xoá nhoà dù là cuối cùng vẫn phải thất bại nhục nhã. Trong những ngày tháng trước khi kết thúc chiến tranh, quân Pháp tuy mở chiến dịch Atlante lấn át vùng Tự do Liên khu V nhưng Luang Prabang, Vientiane bị uy hiếp, quân Liên khu IV đã đánh chiếm vùng Trung Lào, quân Liên khu V lần đầu tiên bỏ đồng bằng tiến lên Tây Nguyên làm chủ gần nửa vùng cao nguyên này rồi còn lấn qua Đông Miên, Hạ Lào. Ngay trên vùng Nam Bộ dễ bị kềm kẹp, các vùng giải phóng cũng nống ra, cả trên vùng biên giới, đe doạ vương quốc Cambodge.</p>
<p>Lịch sử chính thống vẫn cho là người Việt nắm quyền chủ động trong chiến tranh, điều hành đất nước nhưng chắc lúc này các người lãnh đạo đã thấy ra áp lực Thiên triều cũ. Một chút ngờ nghệch lí tưởng, cùng nhu cầu thúc bách trong tranh chiến khiến những mâu thuẫn không nổ bùng, giúp cho những người lãnh đạo Việt Nam giữ trọn vẹn uy tín với dân chúng trong công cuộc cứu nước đang trên đà thành công thấy rõ. Nhưng dù không có những tiết lộ vào lúc đương thời, vai trò điều hợp, phá vỡ những bế tắc từ phía CHND Trung Hoa thật đã hiển hiện rõ rệt trong hội nghị. Trung Quốc vừa mới thoát khỏi chiến nạn Triều Tiên, chưa được vào Liên Hiệp Quốc nhưng là lần đầu tiên có mặt trong một hội nghị quốc tế, phải chứng tỏ sức nặng của mình mà vẫn thấy không còn đủ sức làm một cuộc “&#8230; viện Việt” như là đã Chống Mĩ viện Triều. Vì thế trong cuộc họp trù bị cho phe mình, Chu Ân Lai đã tuyên bố “không thể viện trợ thêm cho Viẹt Nam nữa” nếu chiến tranh mở rộng. Rồi cũng nói rõ với các phe ở Genève là ông ta đến không phải để bênh vực Việt Minh. Vì thế phái đoàn VN DCCH ngậm đắng nuốt cay khi Chu gạt bỏ các đồng chí chư hầu Issarak, Issala/ra sang một bên, và họp riêng với Thủ tướng Mendès France về việc chia cắt Việt Nam.</p>
<p>Sự chia cắt, dù bị phản đối, kêu khóc nhưng cũng là một hiện thực lịch sử kéo dài đến 20 năm, với những biến động chưa từng có, không dễ gì bị xoá bỏ. Sự chia cắt đó đã tạo ra 2 chính quyền mà danh xưng rối rắm, nhiều sắc màu từ tinh thần phe phía và nhu cầu đổi thay thích ứng khiến phải đòi hỏi một sự chính danh gọn ghẽ, cần thiết cho một tóm gọn ngắn. Chính quyền “tay sai Mĩ nguỵ” phía dưới vĩ tuyến 17, được chẽ ra thành Mĩ Diệm, Mĩ Thiệu bởi Miền Bắc, vẫn thường tự xưng là Chính phủ Quốc gia, tiếp nối quyền lực của chính phủ Bảo Đại trong ý nghĩa pháp lí mượn từ chữ État của Pháp ngữ, nhưng thông thường có ý nghĩa là “đối kháng với Cộng sản”. Và vì tình trạng tranh chiến suốt 20 năm vận mệnh của nó nên từ Quốc gia có thể dùng chung cho hai giai đoạn mang tính pháp lí là Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hoà. Phía bắc vĩ tuyến 17 chỉ có một chính quyền Dân chủ Cộng hoà, thường không bằng lòng khi được gọi là cộng sản mà chỉ muốn là dân chủ nhân dân / xã hội chủ nghĩa trong văn từ chính trị sang cả. Tuy nhiên ở đó rõ ràng được lãnh đạo càng lúc càng sít sao bởi một đảng Cộng Sản với nhiều tên, như con cắc kè đổi màu, bởi bản chất, muốn ứng biến tuỳ tình thế. Tên đương thời là đảng Lao Động Việt Nam, cuối cùng sau 1975 lấy tên Cộng Sản Việt Nam đúng với ước muốn dai dẳng triền miên, có bộ phận ẩn nấp chiến thuật phía Nam mang tên đảng Nhân Dân Cách Mạng dưới một Mặt trận Giải Phóng, nhưng rõ ràng tất cả chỉ là sự nhẫn nhịn cấp thời có tính toán trên con đường tranh chiếm quyền lực, nên gọi họ là Cộng Sản cũng không phải là một sự bỉ báng, dù cái tên rút gọn: Việt Cộng, lâu dần cũng mang ý nghĩa đó.</p>
<p>Kết quả rút quân hoàn tất tháng 5-1955 với hàng triệu người di cư vào Nam đem lại cuộc xáo trộn dân số lớn nhất, đầu tiên sau nhiều thế kỉ. Vì sự liên hệ với thế giới Tây phương, vì tính tổ chức chặt chẽ của người Công Giáo, vì yếu tố chống Cộng được nêu lên làm thế cân bằng cho tuyên truyền về tính “nhân dân” của chế độ DCCH nên cuộc di cư 1954-55 được khai thác rầm rộ về khía cạnh tôn giáo, che lấp hẳn những thành phần khác, vốn cũng đông không kém nhưng không nổi lên vì lẫn lộn trong những chuyến tàu chở người của Pháp, hay trốn chạy theo các phương tiện riêng, kể cả đi vòng lên xứ Lào. Đặc biệt có thể kể trường hợp Trần Đình Long, người đã từng hãnh diện dưới thời thuộc địa viết báo kể chuyện 3 năm thụ huấn trường Đại học Liên Xô, thời phe phái thành công chưa làm được gì đã bị Quốc Dân Đảng (?) giết (1946), gia đình bị đồng chí bỏ rơi nên theo dòng di cư vào Nam (và rồi đi Úc tiếp theo sau 1975). Ba trăm ngày tập kết cuối cùng quanh Hải Phòng cũng là thời gian để những người chưa biết mặt cộng sản mà kịp đủ nghe về cảnh đấu tố ở vùng “tự do”, có dịp tuôn chạy – hay lại đủ cho sự dằn vặt phải rời bỏ quê cha đất tổ để lủi thủi trở về xóm làng quen thuộc, chịu đựng một tương lai u tối không ngờ tới. Tuy tính “Công Giáo” của cuộc di cư đã được nêu thành chiến lược chống Cộng để mong có thành công trên một vùng đầy ước vọng hướng về kháng chiến, nhưng rốt lại cũng là yếu tố đổ vỡ khiến một thành phần trong cuộc, khi thấy gió đổi chiều, lại lo tìm đường thoát về phía họ đối kháng. Chưa kể rằng chính sự tuyên truyền rầm rộ về thành phần di cư ưu tú khiến cho hệ thống gián điệp Miền Bắc tung người đi theo, luồn sâu leo cao trong chính quyền Miền Nam với sự yểm trợ ngây thơ của các cha đạo, cứ tưởng mình đang bênh vực con chiên, tôn giáo của mình!</p>
<p>Số người tập kết ra phía Bắc thật là nhỏ, một phần vì chính phủ kháng chiến không có phương tiện di chuyển họ, phải nhờ tàu Ba Lan – đúng là không thể nhiều và lớn như tàu Pháp, Mĩ. Tuy không có dân chúng đi theo, họ cũng không thể nuôi ăn cho số cán bộ hành chính (chưa kể đảng viên) nên dựa vào tiêu chuẩn quy ước chiến tranh lập ra với nước lớn, họ chừa lại một số lượng nhân viên lớn, cho lẩn vào các thành phố lớn, đổi vùng, hay chỉ giản dị là bị bỏ rơi, tự lo tìm đường thoát trong tình thế mới với lời dặn dò vuốt đuôi: “Đi vinh quang, ở anh dũng!” Với thực tế nhập nhoà đó, người cầm đầu Đảng ở địa phương đã có cơ sở để chuẩn bị tiếp tục chiến đấu ngay từ khi Hiệp định được kí kết.</p>
<p>Bản tuyên bố cuối cùng của Hiệp định có đặt vấn đề hiệp thương hai miền và bầu cử thống nhất đất nước hai năm sau (1956). Tuy nhiên rõ ràng đó là một bản văn kí “cho rồi việc” chứ không ai tin tưởng vào sự thực hiện. Ở thế thắng, chính phủ HCM vẫn nhắc nhở đến Tổng tuyển cử nhưng ở thế thua kém, chính phủ Cộng hoà luôn luôn tìm cách bác bỏ, và từ đó là điểm tuyên truyền “chống Mĩ Diệm”: Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Genève, lời kết tội ngớ ngẩn thấy cả ở những trí thức chống đối hồi sau, rất lâu. Người tập kết được thu nhận cho toan tính tiếp nối có thể là cả thành phần thanh niên thành phố, như các nhóm học sinh Sài Gòn đầy mơ mộng, mang ảo tưởng giống cha anh lớp trước. Học sinh các trường Kiến Thiết (vùng Bàn Cờ), Huỳnh Khương Ninh (vùng Tân Định) chuyền tay nhau dưới gầm bàn lời kêu gọi ra “khu”, theo một âm mưu “bắt trẻ đồng xanh” đào tạo cho ngày quay lại, như Võ Phiến thấy ra, nhại theo nhan đề dịch của sách Mĩ. Nhưng những người vốn là chỉ bị lôi vào cuộc chiến thì thấy chuyện ở lại, trở về nơi sinh sống quen thuộc trước kia là chuyện bình thường. Hành động tự nhiên đó giúp chính phủ Kháng chiến khỏi bị mang tiếng bỏ rơi người hợp tác mà còn mở hướng trong thầm kín, là “cấy” / cài đặt lực lượng quấy đảo, kết tập vào hồi sau. Điều này rõ rệt nhất là đối với trí thức vùng Nam Bộ / Sài Gòn.</p>
<p>Tính cách nhiệt thành hơi ngây thơ của trí thức, như đã nói, thật ra cũng là bởi giáo dục Pháp gây nên, từ nền giáo dục họ tận hưởng hoặc ngay chính ở nước Pháp, hoặc tuy là ở thuộc địa nhưng cũng là dành cho / để đào tạo tầng lớp trên của xã hội. Vẫn tiếp tục như điều chỉ xảy ra ở Paris, nhà chính trị ở Sài Gòn cũng thấy dễ dàng chuyển hướng: Hồ Hữu Tường, cựu đảng viên Đệ Tứ, ra sức cổ động một chủ thuyết mới vượt trên chủ nghĩa tư bản và cộng sản, mang tên Trung Lâp Chế, nhằm cứu nhân loại khỏi cảnh Thế chiến thứ Ba – lại cũng như những hoang tưởng đồng dạng mà khác phe phái của những người cùng thời đại! Trở về lại thành phố, vẫn trong không khí “Tây” quen thuộc, dựa trên địa vị, công việc xưa, tài sản có sẵn, những người “kháng chiến” tiếp tục hành nghề cũ, mở tiệm thuốc, khám bệnh, làm báo, hay chỉ giản dị là ngồi không thu lúa ruộng, vọng tưởng về kháng chiến&#8230; Rồi bởi không khí quen thuộc, với giá trị xã hội không sa sút đó, họ tham gia chính trị chống đối một cách có khi thật là tự nhiên. Các ông Thiếu Sơn, Trịnh Đình Thảo (khôn ngoan còn là chức sắc Cao Đài) từng dựa thế của đảng Xã Hội Pháp; ông Nguyễn Hữu Thọ tiếp tục thản nhiên hành nghề luật sư, đòi hỏi Hoà bình để cho người Cộng Sản có ưu thế. Nguyễn Bảo Hoá có vì phong trào Hoà bình mà bị tù đày thì vẫn có thể tiếp tục làm báo, viết tiểu thuyết như từng là tác giả Tô Nguyệt Đình của <i>Bộ áo cà sa nhuộm máu.</i> Bà Phạm Thị Yên, Bí thư chi bộ trí thức Sài Gòn Chợ Lớn, ra khu với sự thoả mãn nhìn thấy thần tượng độc nhãn Nguyễn Bình, rồi trở về mở tiệm thuốc tây to lớn nuôi ông chồng Trần Bửu Kiếm tiếp tục chiến đấu&#8230; Cả những người không chịu đựng nổi, hay bị xua đuổi khỏi chính quyền Việt Minh, khi luồn lọt về Thành cũng tự coi mình như là người kháng chiến thất thế, theo trào lưu chống đối mà co rút làm “người trùm chăn”, với ngầm ý khinh miệt quyền bính nơi mình ẩn núp.</p>
<p>Những người đó hãnh diện với công việc cứu nước, vì nhân loại của mình mà không thấy chỉ là thành phần được thúc đẩy của một lớp người nấp lánh khác, ít học nhưng tự cho là ưu tú hơn, xứng đáng hơn với vai trò lãnh đạo của thời đại. Đó là các đảng viên, có khi là những đảng viên gốc địa chủ, tư sản được cấp tiền để ở lại “tranh đấu trong lòng địch”, trốn tránh trên bìa rừng, bưng ruộng, thật ra cũng là một cách thanh trừng nhẹ nhàng mà còn có chủ đích là đăt người vào thế tự cứu để lập công cho Đảng. Đó là trường hợp cụ thể của ông Tỉnh uỷ Bình Định gốc địa chủ, chung đụng với người Bana trong 20 năm, trở về với vinh quang mà lạc lõng trong thay đổi của tình hình, thật thà kể lại công tích bằng hồi kí <i>Ở lại với dòng</i> <i>sông</i> (Côn). Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh nay đã hãnh diện phô trương chính sách đó trên những bức hình hoành tráng. Từ âm mưu đó mà tiếp theo cụm từ Tập kết đương thời đã có từ Quần kết ít người biết: (tưởng) đi rồi (nhưng thật ra là lòn) trở lại. Quyết định quần kết chứng thực ở cấp cao chỉ được biết rõ sau hơn hai mươi năm chiến thắng, được ông Võ Văn Kiệt kể ra để ca ngợi cấp trên mình: Ông Lê Duẩn ban ngày tổ chức tiễn đưa lên tàu cho mọi người thấy, rồi ban đêm lén lút tụt lại với vài tiểu đoàn thiện chiến. <i>Lịch sử cũng từng có chuyện những biến động nhỏ gây ra sự sụp đổ mang tính đại cuộc, chuyện những nhân vật cấp thấp đẩy đưa các tay oai võ trùm trời miễn cưỡng nhảy vào lên tiếng múa may, nhưng mãi cho đến nay, hình như chưa thấy ai công nhận rằng tình hình bùng nổ mang tính thế giới ở Việt Nam, kéo dài cả đến “cuộc chiến Đông Dương lần thứ Ba” có phần là do sự bướng bỉnh của một nhân viên hoả xa Đông Dương cũ.</i> Trực tiếp nghe doạ cắt viện trợ, các ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp&#8230; có thể phải chịu khuất phục ở Genève nhưng làm sao điều đó tác động được đến ông Bí thư Xứ uỷ chúa vùng trên mảnh đất xa tít, đang thấy hừng hực khí thế chiến thắng xung quanh mà lại bảo phải chịu buông xuôi, bỏ rơi tất cả?</p>
<p><b>Đệ nhất Cọng hoà và Mặt trận Giải Phóng</b></p>
<p>Những người khóc than cho sự chia cắt Việt Nam, không tin ở tính chất giới tuyến nói là tạm thời để an ủi, như trong các bản văn kí kết, những người đó thật cũng có đủ thực tế trước mắt để tin về một cuộc chia cắt vĩnh viễn: Giới tuyến quân sự ngăn cách chỉ có một chiều ngang trên 40 km có con sông vẽ nên rành rẽ, các đối phương chính thức thì một bên có một cường quốc nguyên tử bậc nhất không tranh cãi, cho dù còn ra vẻ lẩn khuất nhưng vẫn là lù lù trước mắt mọi người, bên kia là một tập đoàn vừa tạo chiến thắng có tính cách tượng trưng toàn cầu nhưng cũng vừa được có kinh nghiệm thực tế thấm thía về giới hạn đàn em của mình.</p>
<p>Cho nên trong cuộc chiến chống cộng trên bình diện mới của thế giới, người Mĩ thay thế người Pháp là điều không tránh khỏi. Thủ tướng Ngô Đình Diệm của Quốc gia Việt Nam tổ chức trưng cầu dân ý lật đổ Quốc trưởng Bảo Đại (23-10-1955), thành lập nền Cộng hoà (26-10-1955) cho có dạng ứng hợp với tình hình mới. Sự mệt mỏi sau chiến tranh cũng như thời gian tạm thời thi hành các kí kết, cho phép ông Ngô Đình Diệm tập trung quyền lực bị phân tán trong các giáo phái, quân giang hồ, đảng phái sứ quân&#8230; đẩy được người Pháp hậm hực ra đi. Tất nhiên là vẫn có bàn tay người Mĩ trong sự tạo dựng chế độ mới: Họ tung tiền mua chuộc giáo phái, tập đoàn chính trị, gởi cố vấn yểm trợ, huấn luyện quân đội, mở trường hành chánh quản trị&#8230; Nhưng cho dù phải chịu đựng sự công kích về một “chế độ thực dân kiểu mới” như được rao giảng về phía người đối kháng thì chính quyền Cọng hoà vẫn có những người của dân tộc, địa phương, gắn bó một chừng mực với vùng đất họ sinh ra và lớn lên, thành thật tin tưởng phải bảo vệ nó, không như biểu tượng của một chính nghĩa thì cũng là một chốn nương thân, nơi cuối cùng để sống còn không ô nhục mà những người tự cho là lãnh đạo dân tộc, đất nước đã không chừa cho họ. Đó là những người lúc đầu vì sự phân đôi thế giới thành ra có chỗ để tự sắp mình ở hàng ngũ chống Cộng, một thứ Cộng đang thắng thế, nên mang một vẻ tập họp hỗn độn, ngoài lí tưởng cấp thời là chống Cộng, còn là một ý thức mơ hồ về việc xây dựng một nền tảng chính trị dân chủ Tây Phương mà trong cụ thể còn phải được người Mĩ có khi cầm tay chỉ dẫn, qua các cố vấn trong bóng tối hay các phái đoàn công khai. Sự yếu đuối, èo uột, những khuyết điểm của chế độ thường được phô bày, nhìn xét theo định kiến như là độc nhất xấu xa riêng biệt của một phía, là đáng tủi hổ, phải được bài trừ, tiêu diệt. Hình ảnh đó chỉ sẽ được điều chỉnh khi người ta thấy được những kẻ thay thế mang đến những khuôn mặt mới mà rộn ràng như hồn ma cũ.</p>
<p>Dù sao thì Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng thừa hưởng được một tập thể quân đội mang tính phi chính trị, nên khi tước quyền (9-10-1954) tướng cầm đầu Nguyễn Văn Hinh của người Pháp thì ông có lực lượng quân sự để trị phe anh chị Bình Xuyên ngay bên trong Sài Gòn (5, 9-1955), trị giáo phái Hoà Hảo (Ba Cụt 1956), phe Đại Việt li khai (Ba Lòng, Quảng Trị 1955) sau khi điều đình không được. Gần một triệu người di cư được thu xếp vào những vùng trống (khu Trù Mật, Dinh Điền 1957) tuy tránh được những xung đột nhỏ với địa phương nhưng lại trở thành những tập nhóm riêng biệt mà với ý thức tự trị từ hồi còn người Pháp, họ trở thành không hoà nhập với địa phương. Thêm với những lời tuyên truyền về vai trò dân Chúa trong việc chống Cộng, họ trở thành những kiêu dân, ít nhiều gì cũng gây ra những biến động về sau làm sụp đổ chế độ mà chính họ muốn bênh vực, chống đỡ.</p>
<p>Sự chuyển giao quyền lực của Pháp cho Sài Gòn khiến một bộ phận nhân viên thuộc thành phần thiểu số cảm thấy thất thế, mặt khác cũng mở đường cho tham vọng nên có những Mặt trận Giải phóng riêng rẽ cho người Chàm, người Cao nguyên, người Khmer Krom, được Sihanouk và Việt Cọng lợi dụng lôi kéo: Cambodge với nhóm dưới quyền trung tá Chàm Les Kosem thuộc tập đoàn sống ở Miên; Mặt trận Giải Phóng Dân Tộc Cao Nguyên (1955), 1958 có danh hiệu Bajaraka (Bahnar, Jarai, Rade, Kaho). Việt Cộng có I Bih Aleo, người Rhadé, chủ tịch Uỷ ban Dân Tộc Tây Nguyên Tự Trị. Vấn đề Cao nguyên Trung phần / Tây Nguyên chưa nổi bật nhưng cũng cho thấy những dao động từ đồng bằng đưa lên trong vụ một thanh niên Cao Đài ám sát hụt Tổng thống nhân chuyến kinh lí Ban Mê Thuộc (1957).</p>
<p>Những phương cách hành động để thu hút, hay “trị” quần chúng của người Cộng Sản được phe Quốc gia / Cộng hoà sử dụng cũng có hiệu quả, bởi vì người quốc gia tuy phải sử dụng theo cách bắt chước nhưng lại thực hiện được dễ dàng, có khi tự nhiên vì xuất phát cùng một tâm thức dân tộc. Tổng thống Ngô Đình Diệm được đón chào nhiệt thành nhất, đến mức làm ông phải ngạc nhiên, là ở những vùng chính quyền kháng chiến cũ. Những người bày vẽ các cuộc đón chào ấy tuy là cán bộ kháng chiến “giác ngộ” / “hồi đầu lập công” nhưng đám dân chúng đã được huấn luyện trong tám chín năm về một thần tượng cầm đầu đất nước nên dễ dàng ồ ạt phất cờ, chen lấn nhìn mặt ông Tổng thống. Họ chỉ cần chuyển ý niệm “ra đi tìm đường cứu nước” qua lời ca “bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người” là thấy sung sướng, thoả mãn với một hình ảnh cao vời để được yên tâm trong cuộc sống. Ngay trong cuộc đảo chính đầu tiên 1960, người xướng suất cũng dụ quân dưới quyền là về “cứu Tổng thống”, cứu giá!</p>
<p>Nhưng kết quả dễ thương của lối “dụ”, trở thành hình ảnh khủng khiếp khi người ta bắt chước lối “trị” của đối phương. Chưa kể những ân oán giang hồ riêng lẻ của các nhóm đảng phái quốc gia với Cộng sản / Việt Minh, càng xưa càng thấm đậm oan thù (Đại Việt ở Quảng Trị và Quốc Dân Đảng ở Quảng Nam). Các phái đoàn kiểm soát quốc tế không thể nào áp dụng được điều khoản “cấm không được trả thù” chỉ vì nếu chỉ nhắm vào quá khứ, sự việc đã không giản dị, huống là những người cán bộ Cộng hoà từng trong kháng chiến chui ra đã biết về những toan tính của những kẻ đổi vùng, thay tên đổi họ, sống hợp pháp chờ cơ hội chiếm chính quyền. Và thế là chuyện giết người quay trở lại, cả oan cùng không. Đối xứng với Tố khổ của phong trào Cải cách Ruộng đất thì có Tố Cộng, vạch mặt chỉ tên những người nằm vùng, lẩn trốn, cả trước khi có luật 5/57 đăt Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, khiến ông Lê Duẩn thấy không còn dễ dàng luồn lọt trong bưng rạch dù mênh mông nhưng đã mất đến 90% tổ Đảng, nên phải luồn rừng về Bắc (1957) để lại ông Phạm Hữu Lầu đau yếu (1906-1959), bám trụ làm “Quyền Bí thư” cho đất Thành Đồng. Truyền thông, sử gia ngoại quốc có thể tìm ra rất nhiều chứng cớ về việc tra tấn, tù đày người cựu kháng chiến để an tâm về việc buông bỏ liên minh nhưng chính người Cộng sản la lối để chận tác hại mà cũng phải công nhận, ví dụ Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung / “Mật vụ Miền Trung” đã làm họ hao tốn cán bộ đến mức độ tê liệt hoạt động như thế nào. Ông Bí thư Tỉnh uỷ Bình Định cũng thú nhận hầu hết các &#8230;uỷ, uỷ ông đẩy xuống đồng bằng đều bị mất tăm. Người ngoại quốc không biết cách đánh nhau theo truyền thống khu vực, thấy thật đúng là tàn nhẫn, ghê tởm nhưng ở đây, đó là chuyện thường ngày ở xã. Kẻ trên đà thất bại để tiếng chê cười, bị người đương thời xa lánh, khinh ghét trong lúc người thắng trận lấn lướt che lấp, đến khi bị tiết lộ thì hoặc dễ dàng có kẻ bao che, hoặc để rồi theo với thời gian, chuyện lúc đó đã trở thành quá khứ, chỉ là chuyện kể lịch sử cay cú hay chỉ để làm quà cho nhau nghe.</p>
<p>Nhưng như đã thấy, Việt Nam Cộng hoà mang danh vị của một tổ chức chính quyền theo lối dân chủ Tây Phương nên không thể điều hành theo lối làm việc khuất lấp, dù họ có cố gắng che giấu những việc khuất lấp hay vì bất lực không đủ quyền ngăn chận. Sự yếu ớt căn bản của một chế độ như vậy dễ bị khoét sâu đến mức không cứu vãn được, trong khi kẻ địch vừa lợi dụng được tính công khai của các hình thức chính phủ, quốc hội có sự dòm ngó của truyền thông quốc tế xoi mói&#8230; lại vừa có một đoàn thể cố kết không mang tên Cộng Sản / Lao Động mà là Cách Mạng Nhân Dân, tên nào thì cũng có thể làm “cách mạng” trị người theo kiểu truyền thống hoặc tân tiến: Mang súng đi thu thuế kiểu “ủng hộ”, ám sát cán bộ xã, nhà giáo bằng dao rựa cán cuốc, theo cách được một học giả ngoại quốc khen là “có chọn lựa”. Hăng say với nhiệt tình cách mạng, họ không cần biết đến các điều ước quốc tế, như khi viên bí thư huyện uỷ Thủ Đức Nguyễn Văn Chẳng bắt giết (15-10-1961) Đại tá Hoàng Thuỵ Năm, trưởng phái bộ VNCH trong Uỷ hội Quốc tế. Đất đai thu hồi rộng lớn theo hiệp định còn rất nhiều khoảng trống quyền lực, thế mà lại được cai trị bằng những viên chức xuất thân thành phố, thị trấn, mang những nguyên tắc cai trị sách vở thời bình, chưa kể là còn xa lạ (của phái đoàn Đại học Michigan dạy!), không chút nào ứng hợp với thực tế. Còn chỗ trống diẹn địa nên có chỗ cho những người cựu kháng chiến trốn nấp. Còn chỗ trống cho các giáo phái li khai giữ được quân, không theo Cộng nhưng với thời thế rồi cũng biết phải theo bên nào mạnh hơn. Thế mà ngay chính từ nội bộ của chính quyền vừa tạo dựng cũng bắt đầu có sự phân hoá.</p>
<p>Là người của thời đại chính trị mới, Ngô Đình Nhu, người lèo lái chính sách của nền Đệ nhất Cộng hoà, hiểu rõ được cái thế bấp bênh của một chính quyền dựa vào sự ủng hộ của ngoại quốc và những tập họp phân tán nay đầu mai đánh, nên tự thấy phải lập một đảng riêng, đi tìm quần chúng ủng hộ chính quyền. Đó là đảng Cần Lao vốn được thành lập từ 1953 với tên Công Nông Chánh Đảng, nay được chính quyền hoá với thủ lãnh là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, chứa đựng một triết thuyết mang tính xã hội có dáng liên kết mơ hồ với thuyết Nhân vị Công giáo Tây Âu, nên cũng thường được gọi là đảng Cần Lao Nhân Vị. Đảng của người cầm quyền thì tính xu phụ tất thấy rõ. Chưa kể nền tảng Công Giáo từ đó làm tăng sự a dua đã đào sâu khía cạnh tôn giáo khác biệt, gây tác hại lớn về sau. Cho nên nhật báo <i>Cách Mạng Quốc Gia </i>không thể nào có được sự kềm thúc như của tờ<i> Nhân Dân</i> phía Bắc. Các tạp chí văn hoá như <i>Sáng Tạo, Bách Khoa, Quê Hương, Hiện Đại&#8230; </i>khác với tờ<i> Học Tập</i> phía Bắc (sau 1975 là <i>Tạp chí</i> <i>Cộng Sản</i>) không dám dấn thân sâu vào chính trị nên chỉ có tác dụng tiêu cực về mặt chống đỡ cho chế độ, không bõ với việc công nhận được sự yểm trợ tài chính sít sao của chính quyền hay người Mĩ. Sự kiện cải cách ruộng đất kinh hoàng phía Bắc được dân di cư đưa vào và công bố trên sách báo, như của ông Hoàng Văn Chí, vẫn không mảy may làm xáo động dân tại chỗ để đảng mới có thể đi tìm quần chúng.</p>
<p>Thế mà từ các hành động thanh trừng Cộng sản chính thức ở thôn quê, hay còn né tránh ở thành thị, việc lập đảng của chính quyền đem đến một tính cách đoàn ngũ hoá mà dân thành thị vốn quen buông thả chưa từng chứng kiến sự ràng buộc xoi mói, nên lại gây ra những phản ứng bước đầu làm lung lay chính quyền ngay ở thành phố, nơi cơ sở quyền lực được tập trung. Thế là từ ngữ “độc tài” được đưa ra thêm với “gia đình trị” mang dáng vẻ mới, được xướng suất bởi nhiều thành phần chống đối lẫn lộn cũ mới mà ở giai đoạn này lại vẫn vướng víu nhiều với tàn dư của người Pháp để lại trên thủ đô nước Cọng hoà vốn là thủ phủ Nam Kì cũ. Về mặt chính trị, đó là nhóm Caravelle đưa tuyên ngôn chỉ trích chính quyền từ một nhà hàng sang trọng, như dấu hiệu tiêu biểu tính cách của nhóm, đầy những người khoa bảng thuộc địa, do đó có đáp ứng từ bên ngoài hơn là ảnh hưởng đến dân chúng trong nước. Về mặt quân sự đó là cuộc đảo chính thất bại 1960, tuy báo hiệu sự xuất hiện của quyền bính quân sự mới nhưng những người xướng suất rõ ràng là một bộ phận quân nhân cũ, thời Pháp / Quốc gia. Cuộc đảo chính thường được nêu danh với những người cầm đầu khác nhưng chủ xướng là trung tá Nguyễn Triệu Hồng âm mưu với các chính khách đối lập bị gạt ra rìa (Hoàng Cơ Thuỵ, Phan Quang Đán), lại vẫn có dáng của “gia đình” – chưa kể là “di cư” xa lạ. Ngay cả các nhân viên trí thức cựu kháng chiến trở về Thành, bỏ ra đi tự nguyện hay thoát từ ngục tù, thuộc các nhóm “tiền Mặt trận” cũng có thể liệt vào “thành phần Pháp để lại” không oan uổng tí nào.</p>
<p>Và dù không thuộc hàng trí thức cao, những người ẩn lánh khác ở quận huyện, thị trấn nhỏ cũng là “thành phần của Pháp” để lại vì tuy đã rời xa trong kháng chiến mà vẫn mang tâm tình cũ. Với tính cách người toàn quyền điều hành Đảng tại chỗ, gắn bó thêm với địa phương vì chiếm được người tình của một thuộc viên làm vợ lẽ, ông Xứ uỷ Lê Duẩn hiểu rõ tình hình, biết rằng sức mạnh kháng chiến nơi này còn nằm trong uy tín, khả năng kĩ thuật của tầng lớp trí thức, tư sản, địa chủ, không chừa cả sự tham gia của những lãnh tụ tôn giáo, nên đã đồng ý ngăn chặn không cho thi hành cải cách ruộng đất ở Nam Bộ. Cuộc hôn nhân kia chỉ cần sự chấp nhận của người trong Đảng, một thuộc thành phần cao cấp ở địa phương (Phạm Hùng, Giám đốc Công an Nam Bộ), một như dấu ấn của trung ương (Lê Đức Thọ), chứng thực trên cấp cao, lần đầu, về sự thao túng quyền uy của Đảng vượt trên luật pháp quốc gia khiến bà Lê Duẩn II bị bỏ rơi trên đất Cảng, thèm thuồng cảnh êm ấm của vợ chồng người, phải luồn lọt trở về đất địch, ẩn nấp giữa xứ bùn lầy kinh rạch quen thuộc. Còn thấy giấy tờ (3-1979, hồi tố) ông chứng nhận kết nạp đảng viên “riêng” cho Cao Triều Phát (1889-1956), đồng ngũ ngày xưa với đạo Tưởng, đại địa chủ, Chánh Đảng trưởng Đông Dương Lao Động Đảng (1926), đương kim Giáo chủ hệ phái Cao Đài li khai ở Bạc Liêu, người từng làm “Anh Cả” của hơn bốn ngàn tín đồ Minh Chơn Đạo, đơn độc chống Tây (4-1946). Không có một bằng cớ nào rõ rệt hơn về tinh thần Cứu cánh biện minh cho Phương tiện chuyển sang ý định Lừa dối với Bất cứ giá nào. Thật ra, dối trá không chỉ là tâm bệnh cá nhân mà ngay trong căn bản lí thuyết đã mở đường cho thể chế hoá. Từ chỗ say mê lí tưởng, nhiệt thành tạo dựng sự Đổi đời, họ cho rằng việc phá vỡ bất cứ khuôn khổ cũ nào cũng là hợp lí, rồi nhân đà có quyền lực, họ trở thành kẻ Muốn làm gì thì làm mà có khi không tự ý thức được.</p>
<p>Sự thao túng kia thực hiện được cũng vì khả năng trung ương không đủ với tầm tay xa tận phía nam, và do đó những người kháng chiến ở đây – và quần chúng liên hệ, như đã nói, chỉ biết một khung cảnh kháng chiến Chín năm, thời gian định hình cho một danh xưng, một hoài niệm riêng biệt toàn vùng, tạo thành một niềm kiêu hãnh mạnh mẽ vừa mang tính lí tưởng dân tộc bao trùm, vừa có tính địa phương co cụm. Và cũng như ở mọi ước mơ chưa thành hình, sự thôi thúc chiến đấu được nâng đến tầm cao khi chính bản thân họ bị đe doạ với chế độ Cọng hoà sơ khởi khiến họ phá ngục tù, trở về chốn cũ, đào vũ khí chôn giấu, tự cứu bằng cách mở rộng kềm kẹp trong xóm làng, thực hiện những cuộc ám sát các viên chức xã, đầu mối đe doạ an ninh bản thân, và phá trường học, giết thầy giáo, tiêu diệt từ trong trứng nước đầu mối tạo đe doạ trong tư tưởng. Bộ phận tuyên truyền đem những hình ảnh sử dụng hồi Chín năm áp dụng cho kẻ thù mới, khai thác mọi khía cạnh sơ hở của đối phương, như chỉ từ một sơ suất về vệ sinh ăn uống của nhà thầu Phú Lợi đã biến thành một chủ trương tàn ác đầu độc tù nhân rộng lớn của chính quyền, mở màn cho các chiến dịch chống đối gây căm thù. Luật 10/59 xử tử người chống đối bằng cái máy chém của người Pháp để lại, được diễn giảng bằng hình ảnh “kéo lê máy chém&#8230;” ghê rợn khiến vật chứng còn được đem ra trưng bày trong Bảo tàng Chứng tích chiến tranh bây giờ. Họ phát huy kĩ thuật tranh chiến không có ở những cả những đơn vị quân đội Cộng hoà “làm việc quân dịch trong thời bình”. Và thế là bắt đầu của phong trào gọi là Đồng Khởi (1960), sau này vẽ vời riêng biệt ở Bến Tre cho bà goá “nữ tướng” Tư lệnh phó Quân đội Giải phóng, Nguyễn Thị Định, dẫn đầu Đoàn quân Tóc dài “ôm hè giựt súng” đám Dân Vệ (thành lập 1956) xóm làng bà con, phải lúng túng như tình cảnh các cậu lính Quốc gia đứng trước đám đàn bà, con nít la ó giành giật con bò, bao lúa của ông tỉnh uỷ Bình Định chăm chút, cất giấu rủi ro bị phác giác!</p>
<p>Cái trò chơi nhỏ đó nằm trong sự liên kết trùng trùng xếp đặt sẵn sau ngày 27-7-1954, đến lúc này trở thành mối nguy không che giấu cho chế độ, dẫn đến sự chấm dứt một giai đoạn Cộng hoà, đẩy chiến tranh địa phương lên tầm mức liên vùng, quốc tế. Ông Lê Duẩn thấy mình thênh thênh trên đường sự nghiệp giải phóng bằng bạo động được ông vẽ ra từ tháng 6-1956 trong Đề cương Cách mạng Miền Nam. Tháng 9-1960, Đại hội đảng Lao Động họp, chính ông đọc Báo cáo chính trị rồi được bầu làm Bí thư Thứ Nhất. Và ngày 20-12-1960, trong vùng căn cứ Tây Ninh, ở một loại “biên khu” / vùng trống quyền lực, với đất Cambodge, Tây Nguyên sau lưng, Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ra đời.</p>
<p><b></b></p>
<p><b>Hà Nội, Sài Gòn, rồi Huế</b></p>
<p>Ngay cả khi không có những biến động phù trợ tiếp theo thì một tướng từ chiến trường về như ông Lê Duẩn hẳn vẫn có tiếng nói vượt trội hơn các người cầm chính quyền ở Hà Nội, nơi không còn bị súng đạn đe doạ nữa. Ít nhiều gì những người này cũng chờ đợi hưởng thụ mà lại phải loay hoay trước tình thế tự bản thân vốn không có chút kinh nghiệm nào về việc quản trị một vùng đất to lớn, lại được trao trong cảnh hoang tàn, đổ nát. May thay, tình thế tuyệt vọng của các đồng chí ở Miền Nam không những đã cứu vãn danh dự họ mà còn mở lối đưa họ lên đến đỉnh vinh quang mới.</p>
<p>Quân đội Pháp và quân phụ lực của họ khi rút đi đã không chịu để lại thứ gì nằm trong tầm tay họ. Không mang đi được thì phá huỷ, như đơn vị nào đó đã giật sập ngôi chùa Một Cột&#8230; Có lời đồn đãi “Chúa đã vào Nam” lôi cuốn người đi, đồng thời với việc cài đặt người ở lại phá hoại của người Mĩ, đã bắt đầu nhìn thấy mình phải nhúng tay sâu hơn ở khu vực này. Chính quyền kéo về đồng bằng (tiếp quản Hà Nội 10-10-1954) thì rừng núi hở kềm kẹp, các toán “phỉ” nổi dậy, ở biên giới Đông, Tây Bắc gì cũng có. Có phong trào “xưng vua”, “đón vua” tiếp tục truyền thống bị dằn nén cũ, và tất nhiên bị đàn áp vì đất nước độc lập đã có một ông vua không được tranh cãi rồi. Loạn xuất hiện ngay ở Quỳnh Lưu, vùng quê hương của Chủ tịch nước. Cũng nên nói thêm rằng các hiện tượng “xấu xa” này xảy ra – được đẩy qua thành tội trạng của phía Pháp và Quốc gia, lại cũng mang những dạng hình tương tự hoặc lạ đời ở phía người cầm quyền đã rời bỏ phía dưới vĩ tuyến 17. Các toán quân tiếp thu được cán bộ nằm vùng xúi giục dân chúng gàn trở đóng quân, có khi mắng chửi “Việt gian”, hẳn là để nuôi tin tưởng cho đám quần chúng còn lại về sự hiện diện của mình, mà “thu hoạch” không ngờ lại là gây ra những cuộc bắn giết, tạo thêm hận thù mới, kết tập quần chúng hồi sau. Lạ lùng nhất là chuyện lập nghĩa trang liệt sĩ ở khuôn viên sân vận động (thay vì xác ngưới là súng ống đạn dược!), ngay giữa thành phố Quy Nhơn, để khi chính quyền mới cho dời đi thì có biểu tình, phản đối, kiện thưa&#8230;</p>
<p>Trong tình trạng quản lí lãnh thổ mà không đủ lực, chính phủ phải nhờ Hồng quân tiếp thu đảo Bạch Long Vĩ khi quân Pháp rút đi ngày 16-5-1955, để được trao lại năm sau. Không rõ đó là chuyện định chiếm đóng mà nuốt không trôi, nên chuyển qua cách giải thích thuận thảo đầy tình đồng chí thân thương hay không nhưng dù sao một thứ tiền lệ như vậy, hẳn là đã gây cho nhận định lạc quan của chức quyền Đảng về sau, khi quân Trung Quốc chiếm vùng Hoàng Sa (nhóm Cressent) của Việt Nam Cộng hoà 1974. Trên vùng đồng bằng, “tháng 9-1954 có gần nửa triệu người bị đói”, tình thế có cơ nguy như năm 1945 nếu không có viện trợ cấp tốc của Liên Xô để mua gạo từ Miến Điện qua. Ấy thế mà công cuộc cải cách ruộng đất vẫn tiến hành tiếp trên vùng “giải phóng”, trước sự chứng kiến của đám học sinh Miền Nam vừa đến, lần đầu thấy cảnh mắng chửi, đánh đập, xử tử người. E. Karnow trách ông Hồ sao không lo chuyện thực tế lúc bấy giờ là vấn đề kinh tế mà lại theo đuổi ý thức hệ vạch sẵn. Rõ ràng hào quang ông Hồ còn vướng víu trong đầu óc nên ông học giả không biết rằng ông Hồ đã lạc hậu ngay từ khi nắm được chính quyền. Ông vốn được đào luyên để tổ chức cướp chính quyền, nhờ chiến tranh giúp cho khả năng cầm quyền không bị phơi bày, tạo thêm một hình tượng thần bí rồi sẽ được các đồng chí, đồ đệ o ép, bồi đắp thành người Khai sáng cho quyền lực họ đang nắm giữ. Trong tình hình mới, ông chỉ có thể viết sách <i>Sửa đổi lề lối làm việc</i> (1947) mà lấy từ văn của Mao Trạch Đông, ý của Lưu Thiếu Kì. Cuốn <i>Giấc ngủ mười năm</i> (1949) cho thấy xã hội ông ra tay xây dựng, dắt dẫn dân nước như là của một huyễn tưởng được mớm từ xa. Hoang tưởng trở thành cuồng tưởng khi các đồng chí cố vấn Trung Quốc của ông mở đường, chỉ lối cụ thể trong cách thức thi hành cải cách ruộng đất mà ông nêu điển hình phải xử trí trong vụ trị tội bà Cát Hanh Long. Người Cộng sản thường gán nhãn hiệu “chế độ thực dân kiểu mới” cho Sài Gòn, cho tất cả các nước Đông Nam Á mà không thấy rằng chính họ mới là kiểu mẫu hoàn hảo nhất của chế độ ấy, với cả một chính quyền địa phương toàn tâm toàn ý thực hiện một chủ thuyết từ nơi xa (được phản tỉnh thú nhận là mang đầu óc “giáo điều”), đề xướng bởi những cường quốc mang tính bành trướng không che giấu.</p>
<p>Ngày 20-7-1956, đợt V cải cách và là đợt cuối cùng, được chấm dứt trên 6 triệu dân ở 20 tỉnh và hai thành phố. Cuộc “cách mạng” ruộng đất kinh hoàng đó kéo dài qua thế kỉ XXI mà vẫn chưa được công khai tổng kết, chỉ được tiết lộ theo lời các chứng nhân trốn chạy, với sự ồn ào của sách báo, tuy cũng khuấy động được phản ứng bên trong gây ra một tình hình sửa sai, có vài giọt nước mắt của Chủ tịch, sự lùi bước của Tổng bí thư nhưng không làm suy suyển quyền lực của Đảng, đủ để cho những lãnh tụ về sau vẫn đầy tự tin nơi quyền bính của mình. Sử chính thống đổ thừa né tránh về “sự áp dụng giáo điều kinh nghiệm ‘giai cấp chống giai cấp’ của nước ngoài (?!) vào hoàn cảnh nước ta” nhưng sau sửa sai, ruộng đất bị tịch thu không được hoàn trả, sự đàn áp tư sản vẫn tiếp tục, hệ thống hợp tác xã được xây dựng, siết chặt thêm quyền lực trên nền nếp Khủng bố Nhà nước đã thành hình. Sửa sai chỉ là một dịp củng cố thành tích. Từ đây người dân thấy rõ thực trạng họ phải chịu đựng dưới những người lãnh đạo “dân tộc” nên có dịp thì tuôn chạy không cần phải ai hô hào, xúi giục. Còn những người có chút suy nghĩ xa hơn thì giật mình không hiểu tại sao con người – không phải chỉ một vài cá nhân, bộ phận, lại có thể đối xử tuyệt tình, tàn ác với nhau như thế, giống như là cái ác vẫn nằm sẵn bên trong (người Việt?) chỉ cần được gợi nên, thúc giục là bung ra, hoành hành!</p>
<p>Cán bộ Cộng sản vẫn được khen là xuất thân từ quần chúng nên dễ dàng “trị” được khối quần chúng lớn lao ở nông thôn. Họ gặp khó khăn hơn ở thành phố với phong trào chống đối của văn nghệ sĩ trí thức tham gia trong các báo <i>Nhân Văn, </i>tập san<i> Giai Phẩm, Đất Mới,</i> được gọi chung là phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Những người này chống đối sự lãnh đạo của Đảng, đòi được tự do trong văn nghệ đúng ra với những lời lẽ, ý tưởng có khi vẫn còn là những cầu xin, né tránh búa rìu&#8230; Lạ lùng thay, đây cũng là dấu vết để lại của người Pháp, được gợi nhớ theo sự tiếp thu các thành phố lớn với sinh hoạt mới hôm qua còn nằm dưới quyền họ. Có thể nói đây là nội loạn trong một chế độ “dân chủ nhân dân” mà có dư hưởng của thời thuộc địa. Đó là sự phản kháng của Phan Khôi, “tây” hơn bất cứ nhà nho nào khác. Đó là phản kháng của Trần Dần chủ trương nhóm Dạ Đài, người tiếp nối dòng thơ ảnh hưởng Pháp sau Xuân Diệu, Huy Cận, loại siêu thực, siêu siêu gì đó mà Hoài Thanh chưa kịp viết trong tác phẩm của ông. Đó là sự gắng gượng nhớ lại những bài học trong các ngôi trường Pháp, các nơi đào tạo cũ của các ông Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo&#8230; Lại cũng trùng hợp với sự lưỡng lự, thụt lùi trên thế giới của các bận đàn anh ý thức hệ: Khrutchev tố cáo Stalin làm nảy nở những phản kháng của các đàn em Hungary (nhóm Petofi), Ba Lan, có Mao Trạch Đông chiêu dụ, mời gọi “trăm hoa đua nở&#8230;”</p>
<p>Nhưng trăm hoa chưa nở bao nhiêu thì đã sớm tàn, Suvlov lật đổ Khrutchev, Ba Lan, Hungary nổi dậy bị đàn áp, Nhân Văn Giai Phẩm cũng không tránh được số mệnh dành sẵn cho mình trên vùng đất có sự tuân phục ngàn đời (<i>Nhân Văn</i> bị cấm 15-12-1956). Người người tố cáo nhau để chạy tội hay tâng công, tránh né nhau, cả khi với một người đã chết, như khi Yến Lan đưa đám Phan Khôi bị cho là khùng điên. Một toà án được mở ra trị tội những tên gián điệp chống đối Nguyễn Hữu Đang, Thuỵ An, ông chủ Nxb. Minh Đức Trần Thiên Bảo, với cả một nhân vật tình cờ liên luỵ làm ngơ ngẩn các học giả quen tìm sự chính xác. Trần-Dần-nhà-thơ tú tài, chê quan chức văn nghệ Tố Hữu chưa-có-đíplôm viết vè lục bát, bị đày đoạ mà vẫn tha thiết ước mong thượng cấp thương tưởng ngó lại. Trần Đức Thảo trở thành người trích văn lãnh tụ to nhỏ; Đào Duy Anh lầm bầm với “thời kì Đồ đểu”. Chỉ có thoát nạn là người đàn bà qua đường, phê phán linh tinh Nguyễn Đình Thi: “Thằng lào mà lịnh thế?” may mắn không được tới tai công an! Tình hình đó tạo thành một khuôn mẫu phát biểu mới ngay trong đời sống hàng ngày: “Báo cáo đồng chí, anh/chị&#8230;” mà Lady Borton (bản dịch 2006) rất lâu về sau còn nhận ra. Và thi sĩ Anh Thơ theo thói quen, chào người trên diễn đàn ở Paris: “Nhờ ơn Bác và Đảng&#8230;”, bình thường như trong các khẩu hiệu về sau: “Mừng Xuân, mừng Đảng” đặt Đảng ngang hàng với Đất Trời! Ngay cả các lãnh tụ đương quyền xuất thân phú quý (Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng&#8230;) cũng phải nín lặng, “đầu hàng Giai cấp” để giữ địa vị, mở đầu cho đường hướng thực tế xuyên suốt về sau là viện dẫn Lênin “không (được) chao đảo”, nắm chặt quyền uy có sẵn, sử dụng ngôn từ văn hoa bí hiểm hoặc tự mình nghĩ ra, hoặc từ vô số kẻ thuộc quyền sáng tạo tung hô, để trị số đông mang thói quen tuân phục vì không có cách nào khác hơn là phải tuân phục. Sự sụp đổ không dạng hình của đất nước kéo dài mãi về sau chính là bởi sự mất tự tin, mất định hướng của tầng lớp cầm quyền mới đó. Tính chất lạc loài đó khiến cho xứ sở thời độc lập sẽ không tìm đâu ra một dạng hình quốc gia tiêu biểu mà các nước khác trong vùng còn giữ được: nét biểu trưng “phong kiến” thì đã bị xoá sạch, khó có thể trở lại, còn mẫu hình xã hội chủ nghĩa thì cũng rõ là trên đà tan rã, muốn bắt chước tư bản thì ngập ngừng để lại sa vào vết trượt phiên thuộc ngàn năm cũ, chỉ còn đường lối vơ vét, dương oai như với xứ sở thời xưa nào, cứ tưởng là đã qua&#8230;</p>
<p>Lí thuyết mácxít lêninnít là danh nghĩa, đường hướng Mao Trạch Đông mới dắt dẫn được sự việc cụ thể nên chủ trương hợp tác hoá phải mang các danh hiệu thi đua Đại Phong trong nông nghiệp&#8230; Ba Nhất trong quân đội&#8230; Bắc Lí trong giáo dục&#8230; giống với các phong trào ở phương Bắc. Cái khung hành chính mà người Pháp để lại, được quản trị bởi những ông làng mới đang lúng túng với những vấn đề họ không thể nào giải quyết nổi, càng lúc càng phải phức tạp hơn, có chìu đảo lộn lớn hơn nếu tình hình yên bình tiếp nối, trong khi đó thì tiếng kêu cứu từ Miền Nam xa có đại diện Lê Duẩn ở ngay thủ đô đã giúp các lãnh tụ Đảng trở lại thời loạn li quen thuộc.</p>
<p>Sử chính thống cho thấy ngay sau Genève, không có hoạt động tích cực nào ở khu vực Miền Trung bỏ lại chỉ vì sự đàn áp hiệu quả của chính quyền mới nơi này. Chỉ còn lại Nam Bộ sau Đề cương của Lê Duẩn, Xứ uỷ quyết định “tích cực lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ ở rừng núi”. Chính quyền xã ấp nhà nước co lại vì các cuộc ám sát, các đơn vị vũ trang Việt Cộng bạo dạn tấn công các đơn vị lẻ, lấn vào các thị trấn nhỏ (quận lị Dầu Tiếng), đánh trụ sở Cố vấn Mĩ MAAG ở Biên Hoà (25-10-1958), chen vào các cuộc biểu tình hợp pháp ở thành phố lớn đòi dân chủ, hoà bình, thống nhất (Kỉ niệm Quốc tế Lao động 1-5-1958, 1960 ở Sài Gòn &#8211; Chợ Lớn). Tình hình rối loạn đó khiến chính phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt đất nước trong tình trạng chiến tranh (tháng 3-1959), ban bố Luật 10-59 “kéo lê máy chém khắp Miền Nam&#8230;” Đồng thời Hà Nội quyết định thay đổi chính sách, chủ trương “cách mạng Miền Nam cần có Mặt trận dân tộc thống nhất riêng” để chống đế quốc và tay sai. Đại hội Đảng lần thứ III tháng 9-1960 có Lê Duẩn vừa được làm Bí thư thứ Nhất, xác định là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà”. Đầu 1959, đoàn Vận tải Quân sự Trường Sơn gọi tắt là Đoàn 559 được thành lập mở đường, đến cuối năm đưa 542 cán bộ, 1 667 súng và quân dụng khác vào Nam. Năm sau, có 51 tấn vũ khí đạn dược cho Khu V (Miền Nam Trung Bộ). Thế là có Đồng Khởi, có Mặt trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Và người Mĩ chen vào chính tình Đông Dương, riêng biệt Việt Nam, càng lúc càng đậm nét hơn.</p>
<p>Tính chất yếu ớt của chính quyền Miền Nam không phải chỉ vì thể chế cộng hoà lựa chọn mà còn vì thành phần tập họp và tình thế quy tụ của nó nữa. Đã nói về các giáo phái, đảng phái mà chính phủ phải lo hối lộ, mua chuộc, diệt trừ, các hành động đưa thêm rắc rối vì thu thập thêm thành phần bất khả tín, tạo thêm an toàn cho những tập họp chống đối còn vị trí, địa vực để ẩn náu làm loạn tiếp&#8230; Người hăng hái chống Cộng là gốc từ xa, tuy có thể gọi là thành phần tinh hoa của tầng lớp trên ở Miền Bắc nhưng lại đến đóng đô trên thành phố hừng hực lửa kháng chiến, chưa kể có sự tồn tại của một loại tâm thức giáo phái hội kín khác biệt, đồng thời với cả sự buông thả sinh hoạt của nơi này do tính chất khai thác thuộc địa và ý thức dân chủ người Pháp để lại. Thế là ông Tổng thống phải tìm một ông cựu Đốc phủ sứ làm Phó, phải chia quyền cho những người địa phương, gây bất mãn nơi những người từng ủng hộ mình, lúc nào cũng vẫn thấy chưa được đền bù đủ. Vấn đề Nam Bắc không được công khai mà vẫn sôi sục. Muốn bắt chước cải cách ruộng đất để ve vãn nông dân thì lại chừa cho địa/điền chủ đến cả hàng trăm mẫu. Điền chủ mất đất không bằng lòng đã đành mà nông dân lâu nay vẫn cày cấy, thu hoa lợi ruộng rẫy của ông chủ nằm ở thành phố, tất nhiên cũng không bằng lòng nốt, trong lúc những người xúi giục họ chống đối không báo trước là sẽ thu đất làm hợp tác xã một khi chiến đấu thành công. Chưa kể trường hợp những người nhận đất bị trừng trị không thương tiếc.</p>
<p>Tất nhiên không cần kể sự đe dọa trùng trùng của người cộng sản địa phương và xa tận Hà Nội, đầy mưu lược, không khi nào chịu dừng lại khi chưa chiếm được chính quyền trọn vẹn. Người cộng sản đã hành động đúng với tính cách của một lớp người làm chính trị chuyên nghiệp độc nhất ở xứ này. Họ theo một chủ thuyết hướng về tương lai chống đế quốc tư bản, cụ thể là người Pháp – rồi Mĩ, nên dễ dàng chịu sự lựa chọn vô thức đẩy về phía Trung Quốc có sức nặng cả tỉ người, mang truyền thống đồng văn mà có dạng mới, che lấp quá khứ thiên triều cũ. Trong lúc đó sự lựa chọn của những người chống Cộng là phải đứng về phía bị thù ghét đó, cụ thể là nằm ở thành phố với những sinh hoạt, thể chế vốn dễ được khai thác để xô đẩy, đánh đổ từ bất cứ ai muốn chống đối. Như đã nói, điểm được tuyên truyền nổi bật lúc đầu của sự thành lập chính quyền Miền Nam là công cuộc di cư gần một triệu người, gọi là của người Công Giáo Miền Bắc. Và một ông Tổng thống Công Giáo cũng dễ dàng được lựa chọn hơn, không những vì có sự giới thiệu của Hồng y Spellman mà còn thấy là quen thuộc với cả chính quyền Mĩ đồng giáo tuy khác tông. Thế là quá khứ chống đối tôn giáo lại nổi lên trong hình trạng mới, dữ dằn hơn đến nỗi người cầm đầu chết như súc vật, khiến làm sụp đổ không phải một chính phủ mà cả một chế độ, tàn tạ cả một vùng đất mang biểu tượng “xấu xa”.</p>
<p>Trong vụ xung đột Phật Giáo Công Giáo bùng nổ năm 1963, chính phủ đương thời có gắng gượng phân trần về tính không thiên vị của mình nhưng những diễn biến cuối cùng đã cho thấy người cầm quyền không thấy ra tính chất căn bản của vấn đề. Chứng cớ là sự việc không dừng lại khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, có những “chính phủ Diệm không có Diệm”, và Miền Nam vẫn có một ông Tổng thống Công Giáo khác, còn phe Phật Giáo thì sẽ đầy dẫy người Cộng sản hay thiên Cộng từ quần chúng đến tu sĩ. Trước nhất, ngay từ bản thân, người nắm quyền cao cấp không thể nghĩ ra một cách điều hành chính quyền nào khác, bên ngoài nền giáo dục họ thụ nhận, không thể tìm đồng minh tin cậy nào khác hơn những người đồng đạo. Cho nên Albert Phạm Ngọc Thảo, tiểu đoàn trưởng kháng chiến, với tính cách con chiên về đầu Giám mục Ngô Đình Thục, làm tỉnh trưởng Bến Tre, bình định quê hương Nguyễn Thị Định, bị đồng đội ganh ghét mà vẫn leo cao, làm đảo chính qua lại. Cố vấn Ngô Đình Nhu chỉ có thể nghĩ ra sự xây dựng một chủ nghĩa xã hội Công Giáo mà sự mượn danh thuyết Nhân vị của E. Mounier là một bằng cớ, chưa kể những bài viết hồi còn lận đận. Lí thuyết Nhân vị lại được tổ chức dạy viên chức ở Vĩnh Long, giáo khu của Ngô Đình Thục, anh Tổng thống. Những toán quân tiếp thu các vùng “Tự do” là quân Bùi Chu Phát Diệm, để trong trại quân râm rang lời đọc kinh đêm khuya, mờ sáng, nghe như ở những nhà thờ di động. Và lẽ tất nhiên các sĩ quan đến liên lạc với nhà thờ, tu sĩ địa phương để giữ an ninh, truy nã Việt Cộng&#8230; Hàng cứu trợ Công Giáo Caritas mời gọi người ùn ùn nhận lãnh từ các nhà thờ. Cho nên dân chúng biết tìm nơi đâu là chốn an thân, no ấm. Đó là cách truyền đạo thời có thể gọi là hỗn loạn. Còn bình thường thì nhân viên chính quyền cũng biết phải tiến thân bằng cách nào. Cả đến dân chúng, chưa bị động đến an ninh bản thân, chưa thấy phải cầu cạnh ai mà nghe ông Tổng thống “Xin Ơn Trên che chở” thì dù không bị ép buộc, cũng thấy cuốn hút theo thứ tâm tính hướng thượng dễ hiểu của con người. Đây là chuyện đã xảy ra khắp nơi, khi người châu Âu đi tìm Thế giới mới. Rủi ro là điều này xảy ra ở nơi còn một trung tâm phản kháng tôn giáo xưa cũ, ở xứ Huế, vào lúc có người Cộng sản sẵn sàng khai thác biến động, vào thời đại cả thế giới theo dõi tin tức với người Mĩ đang loay hoay tìm cách giải quyết một vấn đề toàn cầu trên khu vực Đông Nam Á họ phải be bờ, ngăn chận.</p>
<p>Ngoài Tây Nguyên đến lúc này chỉ vừa mới nổi rõ trong biến động với các toán quân xâm nhập sâu vào vùng biên giới, Miền Nam có hai khu vực nhân văn rõ rệt, thừa hưởng từ quá khứ thuộc địa gần và triều đại xa: Sài Gòn của Nam Kì thuộc Pháp và Huế của Trung Kì vướng víu nhà Nguyễn lây lất. Sự cách biệt rõ rệt, lại có lấn lướt tự nhiên đến mức người em út Tổng thống – “Út (ăn) Trầu” – vẫn sống ở Huế chăm sóc mẹ già, mà với thời đại mới trở thành điểm tụ hội của quyền hành địa phương, có lực lượng chống Cộng riêng đầy kiến hiệu và tất nhiên, ác ôn: Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung, có mặt cả ở Sài Gòn vào thời điểm đàn áp khốc liệt nhất. Huế với họ Nguyễn chủ vùng, chủ nước bốn trăm năm cũng là trung tâm của Phật Giáo còn đầy năng động. Ý thức được tính địa phương là quan trọng nên Tổng thống lúc thường nói giọng Nam trên đài phát thanh, ngày xung đột nổ bùng đã hiệu triệu dân Huế bằng giọng núi Ngự sông Hương! Cho nên điều có thể gọi là lấn lướt – có ý thức hay chỉ là được xu phụ, của Công Giáo, đến Huế là gặp phản ứng. Mạnh mẽ vì chính quyền Ngô Đình Diệm đang chao đảo.</p>
<p>Chiến tranh đưa một lớp người có quyền lực lên vũ đài chính trị, đó là các sĩ quan quân đội với tột đỉnh là các tướng lãnh quen chỉ huy người nên không chịu ai chỉ huy mình. Còn rụt rè thì họ chịu sự xúi bẩy của người thân thuộc ở các đảng phái thất thế, như trường hợp cuộc đảo chính bất thành 11-11-1960, như hai sĩ quan không quân ném bom Dinh Độc Lập 1962. Như là những hồi diễn tập cho vai trò chính thức của họ hồi sau. Ở bên ngoài, Măt trận Giải Phóng Miền Nam thành lập xong, chờ đến hơn một năm sau mới tìm ra người, rước được ông Nguyễn Hữu Thọ đang bị lưu đày, quản thúc ở Phú Yên mà đủ rộng chân cẳng để vào rừng làm Chủ tịch trang trí (16-2-1962). Chính phủ phản ứng với tình trạng suy sụp ở nông thôn bằng cách, từ tháng 7-1961, thi hành chính sách Ấp Chiến lược mượn của người Anh đưa ra bình định Mã Lai. Tất nhiên hoàn cảnh không giống nhau nên kết quả có khác, nhưng chính Việt Cộng cũng công nhận là họ gặp khó khăn nhiều tuy đã tìm hết cách lôi kéo quần chúng phản kháng, sử dụng du kích đánh phá. Họ chỉ thực hiện được khi cuộc tranh đấu của giới Phật Giáo dẫn đến việc lật đổ chính phủ.</p>
<p>Cũng phải nhắc rằng thời đại Giải thực sau 1945, các giá trị bản xứ tăng tiến trong đó có sự trỗi dậy của các triết lí, đạo giáo phương Đông. Miền Nam Việt Nam hưởng được sự trỗi dậy đó, và tuy còn nhiều dòng phái nhưng Phật Giáo cũng đã tập họp hội đoàn, trương cờ hiệu, tham dự làm thành phần của Phật Giáo Thế giới. Từ ảnh hưởng các nước chung quanh, ngày Đản sinh “mồng Tám tháng Tư” của Bắc Tông phải chịu lùi trước ngày trăng tròn “Rằm tháng Tư” của Nam Tông. Màu áo vàng của tăng ni trong các lễ hội lấn át các màu nâu, lam Trung Bắc Kì. Tính chất “tông đồ” do đó tăng lên, đưa sự khắc khổ coi thường bản thân lên đến cực độ. Thế mà ngày Phật Đản 8-5-1963, họ nhận được lệnh cấm treo cờ, được hiểu là cấm ở khắp nơi có người Phật tử tập họp, tuy chỉ có nghĩa là không được ở ngoài vòng các khuôn hội thờ tự. Chủ ý người đưa quyết định ra sao không rõ, chỉ thấy chính quyền sau đó gượng gạo lôi ra một Dụ số 10 có từ thời Pháp để biện minh, nhưng Phật Giáo coi đó là một hành vi ngăn cấm đạo mình vì những ngày trước đó cờ Công Giáo bay khắp nơi. Thế là có biểu tình. Nơi Phật Giáo mạnh nhất: Huế. Có người chết. Đòi hỏi tự do tôn giáo lan đến Sài Gòn, hơi ngỡ ngàng vì theo tình thế chung không thể có sự lấn át lộ liễu ở ngay thủ đô. Và cũng rõ rệt ở tính chất khu vực là có đến hai phái đoàn Phật Giáo điều đình với chính phủ, Sài Gòn và Huế. Huế cứng rắn và quá khích hơn, tất nhiên tiếng nói Huế mạnh hơn, giống như tất cả những tập đoàn quá khích nào khác. Tự ái của người cầm quyền, đòi hỏi của Phật Giáo tăng cường độ khiến đối đầu vượt ranh giới tranh chấp tôn giáo, đến chỗ không thể thoả hiệp được. Đã nói, Phật Giáo Miền Nam mang tính Nam Tông, lại của thời đại quần chúng, nên không chỉ có ngồi im niệm Phật mà còn có tung cờ biểu tình, rồi rước bàn thờ Phật ra đường hồi sau. Thế là ngày 16-6-1963, Hoà thượng Thích Quảng Đức xuất phát từ một ngôi chùa Nam Tông, ngồi tự rưới xăng thiêu giữa ngã ba đường, trước ống kính nhà báo truyền hình đưa đi khắp thế giới. Một ngọn lửa, chỉ một ngọn lửa đã thiêu cháy một chính quyền, và có thể nói, cả chế độ Cộng hoà. Những người tự thiêu tiếp sau (5-8, 16-8) ít gây tác động hơn nhưng cũng thúc đẩy quyết định của người nhà nước đánh vào các trung tâm phản đối, nghĩa là các chùa chiền, bắt nhốt sư sãi (21-8-1963), đem tình hình vượt quá khả năng tồn tại của một chính quyền còn lệ thuộc quá nhiều vào người, nước Mĩ.</p>
<p>Họ đã có mặt và chứng kiến, tham dự sự thành lập chính quyền Miền Nam, từng thất vọng gợi ý buông bỏ rồi cũng trở lại tin tưởng để đẩy mạnh sự can thiệp khiến không còn thấy bước lùi. Họ tăng cường sự hiện diện quân sự bằng cách chuyển đổi tổ chức MAAG / đoàn Cố Vấn Quân Viện ở đẳng cấp thấp (G: group/nhóm) lên thành MACV / Bộ Tư Lệnh Quân Viện Việt Nam do một đại tướng chỉ huy. Đến cuối 1962 đã có 11 000 quân Mĩ ở Việt Nam, không kể 400 lính của Lực lượng Đặc Biệt yểm trợ chương trình Ấp Chiến lược. Trước tình hình suy sụp ở nông thôn và sự chỉ trích gia tăng ở thành phố, họ muốn can thiệp mạnh hơn vào cơ cấu quyền bính mà họ từng tin tưởng ở những năm sáng sủa đầu thời Cọng hoà. Họ cũng thấy hợp ý với những lời chỉ trích về tính chất độc tài, gia đình trị của chính quyền vì rõ ràng là không thích hợp với lí tưởng xưa nay của nước Mĩ, của thế giới phương Tây. Suy luận theo sự nể trọng tôn giáo quen thuộc mà né tránh giới quyền lực nhà thờ, họ theo khuynh hướng thế tục đương thời để dồn chỉ trích vào Cố vấn Ngô Đình Nhu và bà vợ – về người này thì sự chống đối không phải chỉ bởi quyền hành khuynh đảo do địa vị, tính chất thân thuộc của bà gây ra, mà về phía khác cũng có phần là từ sự ganh ghét của một xã-hội-đàn-ông với ưu thế truyền thống, thường tỏ lộ trong lời mỉa mai, ví dụ về Phong trào Liên “đái” (đới) Phụ Nữ mà dân biểu Trần Thị Lệ Xuân cổ động thành lập .</p>
<p>Sự thất bại đã khiến cho Ngô Đình Diệm trở thành tội nhân của lịch sử trên trang sách của phe thắng – như tất cả những chuyện khác trên đời, nhưng ở vị trí một người đã đứng đầu nước thì sự can thiệp của quyền bính ngoại quốc, dù đang được nhờ cậy, cũng khó phải được ngoan ngoãn tuân theo. Cố vấn Ngô Đình Nhu – và cả hệ thống lập thành theo các thực tế lịch sử đến lúc này, là cả một nền tảng quyền bính của Tổng thống, của chế độ Cọng hoà nên không thể dễ dàng buông bỏ. Chỉ có điều là cái thế của Tổng thống càng lúc càng mong manh, không phải chỉ bởi sự lớn mạnh của Việt Cộng có sự tiếp sức từ Miền Bắc mà còn bởi lực lượng quân đội dưới tay của ông, được thời thế kết thành.</p>
<p>Trong những lời phê phán của các tướng lãnh Mĩ, các nhà báo ngoại quốc đương thời thường có lời chê trách tính kém hiệu quả của quân đội Cọng hoà. Trong trận Ấp Bắc đầu 1963 mà Miền Bắc coi là trận tiêu biểu đánh dấu giai đoạn chống càn quy mô lớn, đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của Mĩ nguỵ, tính chất thiếu phối hợp của các binh chủng Cộng hoà, sự rụt rè của những người chỉ huy trước một đối phương tính chuyện cùng đường liều chết, là chứng cớ thường được nhắc nhở trong chiến tranh. Tuy nhiên phải thấy, trong huấn luyện, người Mĩ cũng phạm sai lầm như người Pháp trước kia, là đào tạo một đội quân chính quy với quan niệm vận động nặng nề cồng kềnh thuộc về một nước kĩ nghệ tân tiến. Giống như chính người Mĩ, bị người của họ chê trách, là đã mang B52 thả bom trên các con đường của những người mang gùi vận chuyển vũ khí, lương thực! Về phần tinh thần, sự chê trách người lính Cộng hoà cũng là một điều thiếu nhận định thực tế. Người lính Cộng hoà chỉ làm bổn phận công dân với một chút ý thức mơ hồ về tổ quốc như trong bài ca mời gọi họ: “Đi quân dịch là thương nòi giống”. Họ là những công chức quân sự, chờ đợi đến tháng lãnh lương. Họ cầm súng, loay hoay trong 12 tháng rồi sẽ giải ngũ, chiến tranh có lan rộng thì 18 tháng, ba năm&#8230; cũng vẫn với tâm trạng chờ đợi, trong khi với đời sống tương đối yên bình ở thành phố lại có những cuộc biểu tình kêu gào chống bắt lính, trương cả băng vải “Chống lịnh tổng động viên” đi nghênh ngang giữa đường phố Sài Gòn! Ở vùng xôi đậu, họ có thể lẩn vào vùng bưng biền nhưng đó là trước khi biết mình phải trở thành du kích anh hùng diệt Mĩ nguỵ không đường thối lui!</p>
<p>Dù sao thì như đã nói, chiến tranh cũng khiến Miền Nam có một đội quân càng lúc càng lớn rộng, chuyên nghiệp hơn, với những người chỉ huy càng nhiều tự tín hơn với quyền lực của mình. Điều này thì cũng thấy ở các nước Đông Nam Á khác, những nơi không tạo được một hệ thống chính trị kềm giữ giới quân nhân, như Nam Dương làm đảo chính Sukarno, Miến Điện lật U Thant, giới quân nhân Thái mượn hơi Quốc vương nắm chính quyền. Nghĩa là ở Miền Nam, người Mĩ cũng thấy có thể dựa vào giới quân nhân để diệt trừ Tổng thống Ngô Đình Diệm.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><b>PHỤ LỤC</b></p>
<p><b>1. Địa chủ ác ghê</b> </p>
<p><b></b></p>
<p><i>Bài viết kí tên C.B. đăng trên báo </i>Nhân Dân<i> 21-7-1953, được đăng lại trên báo </i>Cứu Quốc<i> số 2459 ngày 2-11-1953, dưới bút hiệu Đ.X. Bút hiệu C.B. gần đây được giải thích là Của Bác thay cho lối giải thích Cán Bộ lúc xưa. Có thể so sánh với lối hành văn ở </i>Đường kách mệnh<i> để cùng xác nhận với nhiều chứng cớ khác, là bài văn chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết. Bà Cát Hanh Long (có vẻ như từ tên của một thương hiệu) tên thật là Nguyễn Thị Năm, từng nuôi dưỡng che chở cán bộ, lãnh tụ CS, có hai con trai làm Chính uỷ trung đoàn và Đại đội phó Thông tin vào lúc xảy ra sự việc. Trong thời gian tiến hành giảm tô tiến đến Cải cách ruộng đất, sáu xã huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên được chọn làm thí điểm, và người đầu tiên bị mang ra xử bắn là Bà Nguyễn Thị Năm. </i>“Bà bị quy là địa chủ cường hào ác bá, bị đoàn CCRĐ xử án tử hình, Uỷ ban CCRĐ trung ương duyệt y và Ban Chấp hành trung ương đảng Lao Động Việt Nam chuẩn y” (Nguyễn Minh Cần). “Đến Bác Hồ biết là không đúng cũng không dám nói với họ. ‘Họ’ là các ông con trời đặc phái viên của Mao” (Thành Tín / Bùi Tín).</p>
<p>Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:</p>
<p>Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:</p>
<p>-Giết chết 14 nông dân.</p>
<p>-Tra tấn đánh đập hàng chục nông dân, nay còn tàn tật.</p>
<p>-Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.</p>
<p>-Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân. Năm 1945 chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói, bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.</p>
<p>-Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng</p>
<p>Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!</p>
<p>Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:</p>
<p>-Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.</p>
<p>-Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.</p>
<p>-Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.</p>
<p>-Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.</p>
<p>-Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.</p>
<p>Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.</p>
<p>Nguồn: Nhật báo <i>Người Việt</i> USA 12-7-2010</p>
<p>&#160;</p>
<p><b></b></p>
<p><b>2. “Nhà thơ cũng phải biết xung phong”      <br /></b>(Hồ Chí Minh)</p>
<p>Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ,    <br />Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong,     <br />Cho Đảng bền lâu cùng rập bước chung lòng     <br />Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xíttalin bất diệt.     <br /><i>Tố Hữu</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Lôi cổ bọn chúng ra đây,    <br />Bắt quỳ gục xuống đoạ đầy chết thôi.     <br />Bắt chúng đứng, cấm cho ngồi,     <br />Bắt chúng ngước mặt, vạch người chúng ra.     <br /><i>Xuân Diệu</i></p>
<p><b></b></p>
<p><b>3. Chút thơ phản động</b> </p>
<p>Chiến khu tôi để chú khiên(g) rồi,    <br />Chú phỉnh tôi hoài chính phủ ơi!     <br />Thi đua sao cứ thua đi mãi,     <br />Kháng chiến lâu dài khiến chán(g) thôi!     <br /><i>Vè Liên khu V</i> (1950?)</p>
<p>Muốn sang làm hành chánh, muốn đánh làm công an    <br />Muốn đánh làm công an, muốn sang làm hành chánh     <br /><i>Truyền ngôn Liên khu V 1950 </i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23891/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

