Bài thuộc thể loại: Nhận Định
Nhận diện thơ Việt Nam đương đại thông qua báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng và dựa trên những mối quan hệ cá nhân với từng tác giả, quả là công việc nặng nhọc nhưng đầy hào hứng với tôi. Nó phản ánh khá rõ nét bước ngoặt quan trọng trong định hình và phát triển một giai đoạn văn học Việt Nam, đặc biệt thơ ca, vừa đa diện vừa phức tạp.
Kafka về mặt văn học chịu ảnh hưởng lớn nhất là từ Flaubert. Flaubert, ghê tởm những thước văn mỹ miều, có lẽ sẽ ngợi ca thái độ của Kafka đối với công cụ của mình. Kafka thích lấy ngôn từ của mình từ ngôn ngữ của luật và khoa học, ban cho chúng một sự chính xác đến châm biếm, không có sự xâm phạm của cảm xúc riêng tư của tác giả ….
Đúng là các môn nghiên cứu văn học đang đứng trước ngã rẽ: bên phải là con đường nền nếp của loại kiến thức thực nghiệm/thực chứng (savoir positiviste) đang dẫn về lối bí của thần học nếu không chịu chất vấn vị thế của mình; bên trái là con đường phi chuyên ngành của các cách đọc hoạt khởi /lectures actualisantes lấy lịch sử và văn bản tính làm dưỡng chất ….
Nếu ngày xưa chúng ta phải tốn quá nhiều thời gian để tìm kiếm dữ liệu, thì giờ đây chúng ta lại phải tốn nhiều thời gian hơn thế nữa để tiêu hóa cả núi thông tin cho mỗi một vấn đề. Chiếc máy tính ra đời vừa góp phần vào sự bùng nổ thông tin, vừa như một công cụ để giúp con người xử lý vấn nạn này.
Theo chân Trần Mộng Tú, bước xuống cuộc đời, ta gặp thơ mỗi ngày … Thơ quanh quẩn đâu đây, thơ không ở đâu xa. Thơ sẵn đâu đó, tưởng cứ xòe tay ra là nắm bắt được thơ ngay, tưởng có thể chia nhau mỗi người một mẩu thơ. Mỗi người đến và đi đều có mang thơ theo.
Một điều không ai từ miền Bắc đặt chân vào miền Nam lần đầu sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 bây giờ còn có thể phủ nhận: đó là cả rừng sách báo, từ sáng tác tới dịch thuật, muôn hồng nghìn tía phơi bầy ra trước mắt họ trước khi có cái chiến dịch man ri mọi rợ “đốt sách” của nhà nước Cộng sản vào cuối năm 1975.
Bài “Bàn thêm về cái gọi là ‘đạo văn” của Nguyễn Hưng Quốc” trên Da Màu ngày 10/02/2010 là một trong một loạt những phản ứng kỳ lạ của Ngô Hương Giang, kẻ đã đạo văn của Nguyễn Hưng Quốc.
Đầu đuôi câu chuyện như sau:
Ngày 4/1/2010,…
Trong mấy ngày qua tôi đã bình tâm tự kiểm và suy xét với khoảng cách cần thiết biến cố media tai tiếng lôi thôi quanh bài dịch “The Death of Postmodernism and Beyond” của Alan Kirby được công bố lần đầu trên Da Màu. Kinh nghiệm dù không vui vẫn là kinh nghiệm quí khi con người khám phá ra ý nghĩa của nó bên dưới những âm thanh và cuồng nộ…
Trong lần “cafe Gypsy” sắp tới, tôi sẽ có một câu hỏi dành cho anh. “Liệu anh sẽ dấn thân tranh đấu cho sự cáo chung của chế độ độc đảng toàn trị ở Việt nam nếu quả thực có một mảy may hy vọng nào đó?”
Tính chất sơ khai ấu trĩ của kịch bản phim tương phản đậm nét với mức độ tinh vi của các hiệu ứng kỹ thuật cinê ngày nay. Phần lớn email và văn bản điện thư đều vô vị so với những gì thiên hạ thuộc mọi cấp bậc giáo dục đã từng cầm bút viết ra trước đây. Nhàm chán và nông cạn ngự trị mọi sự.
Người làm từ thiện cũng vui vì thấy làm được cái gì đó cho người dân nghèo khổ; người nhận quà từ thiện cũng vui vì đỡ lo được cái ăn cái mặt hay các nhu cầu đời sống trong một thời gian ngắn nào đó; và chính quyền cũng vui vì rảnh tay hơn lo việc khác (biết đâu rảnh tay hơn để đàn áp những người đấu tranh cho dân chủ).
Nhưng bài học cần học qua Thơ đến từ đâu là gì? Tiêu Dao Bảo Cự cho đó có thể như là một trận đánh du kích văn học, lẻ tẻ xâm nhập chờ thời cơ. Đánh được gì tôi chưa thấy, chỉ thấy Nguyễn Đức Tùng bị đánh lừa vì cả tin. Như nhiều doanh nhân về Việt Nam làm ăn, như Thầy Nhất Hạnh với Bát Nhã mới đây.
Tự do sáng tác nhất thiết phải đi đôi với tự do xuất bản, nếu không sẽ trở thành bi kịch hay chỉ là một điều mỉa mai. Sáng tác xong phải cất vào ngăn kéo, phải chôn giấu, để rồi 10 năm, 20 năm sau, thậm chí 30-40 năm hay sau khi chết mới được công bố, không phải ai cũng có thể chấp nhận.
Hỏi Thơ đến từ đâu là vô hình trung đặt lại vấn đề nền móng của một nền văn học, thậm chí vấn đề lãnh đạo văn nghệ. Mà Nguyễn Đức Tùng, anh là ai mà ra mặt đặt vấn đề, và đặt cho một đám thi sĩ vớ vẩn?
Trong văn phong của Lâm Chương có mang âm điệu các bài hịch. Về đặc điểm này, có thể giải thích, vì tác giả viết câu văn cô đọng, lại đối ý chặt chẽ, cùng với cái lòng của Lâm Chương chìm sâu vào những cảnh đời gặp lúc bể dâu, nên lời văn vang vọng lại cái âm thanh gờn gợn như vậy ….
Phải chăng đã có những năm tháng ông chỉ nhìn phố qua sân thượng, cửa sổ nên một số bức tranh … thiếu cảm xúc, thiếu cái thần của phố. Có những tranh ông cho mái ngói đỏ tươi quá, không hợp … có những phố quá hoang vắng, quá đơn điệu, buồn tẻ, sơ lược, không có đời sống phố mà chỉ nặng về kiến trúc phố cổ …
Vị thế chắc chắn của Raymond Carver trong nền văn học Mỹ được xác định gần đây khi nhà xuất bản Thư viện Hoa Kỳ ((The Library of America) long trọng phát hành Carver: Những Truyện Ngắn Tổng Hợp (Carver: Collected Stories), một bộ mới trong loạt những tác phẩm được chính thức công nhận như “kinh điển” của Thư Viện Hoa Kỳ.
Có thể nói Ondatjee là một nhà văn có tài phù thủy. Ông táo bạo kết hợp tinh túy của hai nền mỹ thuật, Ai Cập thời tiền sử và La Mã từ thế kỷ 15 và 16, rồi dùng tính chất tàn phá của kỹ thuật vũ khí hiện đại để tương phản với sự tinh túy của mỹ thuật trong tác phẩm này.
Bài thơ mở ra với phác vẽ chân dung của hình mẫu “đạo mạo” đĩnh đạc đường bệ, lấp lánh ánh vàng hào quang kiêm đủ cứng mềm thâu tóm cả âm dương trong cái bị càn khôn còn khuất lấp bao nhiêu bí mật chưa giải mã. Hình như ai cũng phải ngưỡng mộ cúi đầu truớc cái cung cách cánh và khuỷu tay cứng, cổ tay & ngón tay mềm?
Nhưng, qua lời nói hổn hển của người chỉ huy bị thương trở về, chứng nhân cuối cùng của cuộc ám sát, ta bỗng thấy dung nham của sự thật đang trào lên sau tiếng nổ lớn. Như đêm bỗng sang ngày. Như chết bỗng thành sống. Tất cả đã quay ngoắt 180 độ.
Cái “quyết định” mở ranh giới không phải là một lựa chọn có ý thức. Thay vì là thắng lợi chắc chắn do sức mạnh của tự do, nó đã là một sự hỗn độn và có khả năng trở thành bạo loạn. Một trong những biến cố trọng đại nhất của thế kỷ vừa qua, thật ra, đó là một tai nạn, một thứ bán hài kịch và lỗi lầm quan liêu ….
Claude Lévi-Strauss là một trong vài người khai sáng trào lưu cấu trúc luận đã gây ảnh hưởng sâu và rộng trong những khoa học nhân văn, xã hội thế giới năm mươi năm gần đây. Tại Việt Nam, đã có nhiều người giới thiệu như Nguyễn Văn Trung ở miền Nam[2], Hoàng Trinh ở miền Bắc[3] thời kỳ đất nước còn bị phân chia.
những khó khăn của những phụ nữ cùng thế hệ được biểu lộ với những hình hài xiêu vẹo, những thân hình tự biến dạng cong queo trong khi cưu mang những thân thể khác cũng bị bóp méo như thế—một lời bình phẩm về những đòi hỏi cũ xưa áp đặt vào đời sống của phụ nữ …
Ông bị lãng quên suốt bốn thế kỉ vì “tính khai sáng” trong hội họa của Rafael, Rubens, Boucher (và thậm chí tới cả Mondrian, Kandinsky…) đã thuyết phục cái ham muốn hướng tới vẻ đẹp thần thánh cao siêu, tuyệt đối, hài hoà của công chúng.
“Tự họa với Shiva” là điệu múa của một thứ ý thức muốn chiếu dọi vào thực tại trên cái nền những tiếng trống bập bùng của hiện thực. Trong ý nghĩa ấy, họa sĩ đã từng bộc lộ : “Chúng ta mắc nợ quá nhiều từ đời sống, từ lịch sử, văn hóa. . .”.
Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là tuy vẫn bám vào các thể loại cấu trúc của truyền thống cũ nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu: tình yêu,quê hương, cái chết, nỗi đau, niềm tin, chiến bại…
