<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Nhận Định</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/nhandinh/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Th&#226;n cư đ&#226;u?</title>
		<link>http://damau.org/archives/24328</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24328#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 21 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lê Minh Hà</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Phê Bình]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24328</guid>
		<description><![CDATA[Nói ông đừng buồn, ngoài sự ông tây đến mức tôi tưởng ông là Việt kiều yêu nước dùng, sự khác tôi thấy ông cũ xì y như các cụ ngày xưa vậy. Cái lối xưng danh đầu tác phẩm của ông chẳng mang tính diễn xướng rất chi là folklore đó sao. Cứ như là xem một vở chèo ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/nmht.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="nmht" border="0" alt="nmht" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/nmht_thumb.jpg" width="164" height="244" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Thì ở <a href="http://damau.org/archives/16300" target="_blank"><em>NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN</em></a><b></b> chứ đâu!</p>
<p>Nói thật, ông Đặng Thân ạ, tôi chả quen biết gì ông, lúc này ông đang danh nổi như cồn, tôi có thích ông cũng không muốn viết về ông, khỏi mang cái tiếng thấy người sang bắt quàng làm thân, hoặc giả té nước theo mưa. Nhỉ?</p>
<p>Mà cũng nói thật, tôi chả thích ông cái gì ngoài quả đầu trọc. Ông viết đek gì mà lắm thía. Dán mắt vào màn hình hai ngày mà mới đọc xong có mỗi cái cuốn mới nhất của ông. Mất hết thì giờ phục vụ chồng con của tôi. Ông phải biết với đàn bà biết phận như tôi, thầy cáu cũng không ngại bằng chồng cáu. Nhé!</p>
<p>Mà tôi thì mắc cái thói bọn đàn ông, đừng nói là chồng (vốn lòng dạ cũng như biển Việt Nam càng ngày càng hẹp vẫn bao la phết), rất khó thông cảm là ưa đọc nhuận. Thấy anh/chị chàng nào viết hay hay, đủ sức làm nguyên mẫu, tôi còn phải tự kiểm tra hứng của mình bằng cách đọc lại cho bằng hết, cả những gì liên quan, rồi có viết gì mới viết. Ông thử nhìn lại mình đi. Đọc ông xong, mỗi lần đứng lên duỗi được hai cái chân ra, đầu gối chưa già hứng khởi kêu đánh khục một cái, tôi phục tôi qúa. Phục gần bằng phục cái bà nào ở với ông hầu hạ ông với con ông để cho ông ngồi viết, xem nào, cái cuốn gần nhất: cũng phải tám trăm trang nhỉ. Ông bảo mất sáu tháng bao nhiêu ngày liên tục để viết nó? Nhưng ông có tính cho vợ ông rằng ông mất mấy năm mấy tháng để nghiền ngẫm sự đời, sách vở từ cao siêu tới lá cải để mà có cái viết trong sáu tháng bao nhiêu ngày đó không? Cái này tôi hỏi thật, nhưng mà hỏi nhỏ: bà ấy có đọc những gì ông viết ra cho thiên hạ xem rồi tán tụng không? Tôi có phải làm vợ một kẻ như ông thì nói trước và sẽ bước qua: không đời nào tôi đọc. Đọc để thấy chồng vô tích sự và mình là kẻ vô nghĩa trong mắt y à.</p>
<p>Nhưng nghĩ đi thì thế, nghĩ lại, tôi chắc bà ấy cũng có thể làm bạn đọc hàng ngày của ông mà chưa chắc ông biết đấy. Ít nhất là bạn đọc cái cuốn ông vừa bỏ bom thiên hạ. Những mảnh hồn trần. Ba vạn chín ngàn những mảnh hồn trần. Làm bạn đọc hàng ngày của ông có cái thú, tha hồ chê khen, chả phải nhìn tổng thể tác phẩm làm gì, thích gì thì ngôn thế. Thú nhất là được làm nhân vật của ông luôn, một thứ vai không xoàng ở ngoài đời: Nhà phê bình. Tôi nhòm, thấy vô khối nhà văn nhà giáo tiếng tăm lừng lẫy có mặt trong tác phẩm của ông qua các comment: Nguyễn Quang Lập này, Phạm Ngọc Tiến này, Đỗ Quyên này, Nguyễn Đức Tùng này, Nguyễn Thị Hậu này. Bà này là bà Hậu Khảo Cổ Nguyễn trên các blog đây mà. Tôi chả biết gì về ông trước đó ngoài những gì đọc được ở <i>Tiền Vệ</i>, à không, cuốn <b><i>Ma Net</i></b> là Cột &#8211; điện &#8211; Chập &#8211; Tiến &#8211; lên &#8211; Lê Anh Hoài gửi cho xem bản thảo. Nếu biết những mảnh hồn trần ông xé ra trước quăng lên mạng, thế nào tôi cũng nhảy vào còm để được ông cho vào sách như bà Khảo Cổ, mà như thế, đỡ công ngồi khảo kim là cái cuốn mới của ông bây giờ. Tôi sẽ viết tới khi nào chồng sắp về, xong thì xong không xong thì thôi. Nhé!</p>
<p>Ông đã bao giờ tự làm một điều tra là có bao nhiêu người ngồi ôm sách ông đọc một lèo như tôi đọc bản thảo của ông chưa? Ai chưa đọc như thế có bàn gì ông cũng đừng tin vội. Mà phải tin tôi: Đọc ông khó bỏ mịa. Nội cái sự một văn bản mà có bao nhiêu font chữ thể hiện bao nhiêu điều tiếng của bao nhiêu nhân vật đã làm khó cho nhau lắm rồi. Mà điều tiếng trong đó thì xáo xào đủ kiểu bác học cao siêu bình dân nhí nhố. Ông tiêu hóa được tuốt đủ thứ kiến thức, xử lí thì công phu và cẩn trọng, đến nỗi tôi đã nghĩ rằng ông chắc sinh ra ở Đức, chắc tiếng Đức là tiếng bố đẻ chắc về Việt Nam mới gia công tiếng mẹ, giỏi, nhưng ông cũng suồng sã với đời quá lắm. Cái này ông bộc lộ nhất quán trong các sáng tác văn xuôi, quánh đặc ở <b><i>Những mảnh hồn trần</i></b>. Chẳng cứ một iem Tài Nhân Mộng Hường của ông đâu, cái thằng người Đức Sờ Đít (tôi phiên âm tên gã thế ông OK chứ?), cả cái tay Đặng Thân kể chuyện kiêm trả lời bình luận cũng vậy.</p>
<p>Tôi đọc, cũng thấy gato tẹo. Là vì chưa bao giờ viết được dài mà chẳng ra dại như ông. Chưa ra sách, mới nhỏ giọt từng chương đã thấy bao nhiêu kẻ nhảy bổ vào khen. Mà có phải ông chỉ viết cái ông nghiền ngẫm đâu. Có bao nhiêu trang cắt dán từ mạng tôi cũng đọc cả rồi. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện biến của chung thành của riêng một cách có hệ thống thế này. Đọc lại những info đó trong văn bản <b><i>Những mảnh hồn trần</i></b><i>,</i> nó phát quang kiểu khác ông ạ. Với cái lối cắt cắt dán dán, với lối mang lời bình của thiên hạ vào trong tác phẩm tỉnh bơ thế này, ông qua mặt tôi và bao nhiêu kẻ vốn cũng lụy Internet. Là bởi vì mạng với tôi mới chỉ là phương tiện đọc và tống những gì mình viết lên đó bất kể dại khôn. Ông, ông biến Internet thành thành tố của tác phẩm. Cấu trúc tác phẩm của ông đâm ra mới như chưa từng mới thế ở bất kì kẻ nào tí toáy viết văn đến giờ chưa chết. Trước nay cứ nói văn học lưới văn học mạng. Tôi, thôi bây giờ thì cũng đành khen ông cái: <b><i>Những mảnh hồn trần</i></b> của ông, dĩ nhiên là bước tiếp của <b><i>Ma Net</i></b>, nhưng chỉ đến nó thì ông mới tọt thật sự được vào mạng. Chỉ với <b><i>Những mảnh hồn trần</i></b>, văn học Việt mới thực sự có tác phẩm văn học mạng, trong đó, mạng không còn là một phương tiện truyền tải, gắn bó vô cơ cùng chữ, như là tôi vẫn dùng, và sắp dùng để tống cái bài đang viết này về Đặng Thân lên.</p>
<p>Tuy nhiên, tôi cũng cảnh cáo ông ngay, vì cái nhẽ Mới này, ông đừng hi vọng có nhiều bạn đọc chín chắn ở tuổi của chúng ta nhé. Càng khó có đông đảo bạn đọc già già. Đảm bảo với ông, những ai gần ba mươi năm về trước nhảy tưng tưng vì vụ ông Nguyễn Huy Thiệp lạnh lẽo kể chuyện bác sĩ cho chó ăn thịt bào thai cho nhân vật khen nhau „sát sát“ nhờ tính đầu người ăn cỗ làm đủ mâm chính xác cho tướng về hưu trở về tử trong đội ngũ thoát nỗi cô đơn trước cái đời sống bát nháo từng ngày, những kiểu bạn đọc ấy bây giờ có thể lại chê ông Thiệp viết chưa qua được muôn mặt đời thường, nhưng họ cũng lại sẽ rủa ông thôi, về tội phá nát văn chương Việt, (thật ra nhiều lúc cũng tương bần lắm).</p>
<p>Cứ bảo là người đọc có quyền đồng sáng tạo. Nhưng đồng làm sao được mà đồng. Tôi cứ nghĩ giả dụ quả táo không rơi trúng đầu ông Newton ở tận châu Âu thì biết đâu chẳng có quả mít nào rơi vào đầu một ông Thái Lào Việt. Và định luật về sức hút của trái đất cũng sẽ được khám phá, dù với một bộ não khác. Nhưng trong nghệ thuật, nghệ thuật thật ấy, thì khác. Không một ai thay được một ai. Biết ông viết kiểu đó là hay, là độc sáng, tôi cũng chẳng dại gì theo ông. Thành lố bịch. Thế nên tôi sẽ không ngồi nghĩ xem nên gọi tác phẩm của ông là cái gì (tiên đương hậu hiện đại?) Gọi là gì thì cũng là một cách gọt ông cho vừa khuôn. Ông là Đặng Thân. Thế thôi! Được chưa? Cái gọi là con đường đồng sáng tạo ông mở ra cho đám bạn đọc như tôi chỉ là ông cho người ta bàn loạn và rinh thẳng vào tác phẩm.</p>
<p>Cũng vì thế, tôi nghĩ đọc ông vì vậy có nhiều cấp độ, tùy từng chương, tùy tạng người đọc và cũng tùy cách đọc. Tôi đọc các lời bình trong tác phẩm của ông, thấy người hỉ hả người hoang mang người bực tức vì những gì ông viết. Lúc thì như viết từ điển chuyên ngành, lúc lại sến phết (những đoạn ông móc ra từ báo mạng nhà ta ấy), lúc cũ lúc mới, lúc tây lúc ta, lúc già khú lúc đúng kiểu trẻ ranh thạo viết SMS hơn tập làm văn, loạn cào cào. Cách viết đó đáp ứng được thị hiếu của nhiều kiểu người đọc, rất hợp với bọn ma net chưa chết như… tôi chẳng hạn. Được bình ngay cũng là cái thú của người đọc tức thời. Nhưng nếu đi tới một cách đọc khác, đọc toàn bộ văn bản trong tính liên tục của nó, tôi ngờ rằng khối người sẽ thay đổi nhận định về chữ nghĩa của ông. Ông cư xử với chúng tôi &#8211; bạn đọc &#8211; bỗ bã quá lắm, chúng tôi qua từng chương chả khác gì hình nhân bị ông xô đẩy đặt định, và ở mỗi chương lại phải tìm cho mình một góc nhìn/cảm mới. Tức và mệt vì theo ông, nhưng tôi cũng lại phải thừa nhận rằng sau tay Nguyễn Huy Thiệp với mợ Phạm Thị Hoài, đến ông, ở Việt Nam mới lại có một người viết có khả năng nhào nặn nên một kiểu độc giả mới. (Nói thế là bởi vì tôi vẫn mong có ngày nhà mình in những <b><i>Cây gậy làm mưa</i></b> của Đỗ Kh. Hay <b><i>Giấc mơ Thổ</i></b> của Trần Vũ, hay<b>…</b> của<b>…</b> ở ngoài này đấy ông Thân ạ, vì cái sự viết như ông mà in được làm tôi tràn trề hi vọng vào ý thức tự do nghệ thuật của ngành xuất bản nước nhà.)</p>
<p>Sẽ rất đông đấy, kiểu độc giả mới tụ quanh ông ấy mà, nhưng trụ lại cùng chữ nghĩa của ông lâu không thì còn tùy. Cái lối ông viết đòi hỏi người ta hơi bị nhiều. Iem Tài Nhân xứ thuốc lào của ông đã chẳng dễ gì đong được ngay, đừng nói gì thằng Sờ Đít (Schditt) và…</p>
<p>Tôi cũng chưa biết mình có theo được đến cùng đời chữ của ông không. Gập ghềnh quá gập ghềnh không chịu nổi. Tưởng bỡn cợt, hóa thành nghiêm túc đến điều. Ông phá tan hoang cái thị hiếu xúc cảm bầy đàn sướt mướt của người đọc chúng tôi. (Nhưng cũng cẩn thận nhé. Khéo bầy nọ vỡ lại có đàn kia.) Tay người đọc nào của ông bảo đọc ông từng mẩu nhỏ thì mẩu nào đọc được cũng sướng cái xúc tu lờ, đúng thật, nhưng sướng thì cứ sướng, mà hiểu cái chết liền. Đồng ý trong nghệ thuật chả ai dám cãi rằng tôi đây không thử ướm chân vào dấu abc người đi trước, nhưng thú thật, tôi chả thấy ông với ông Thiệp giống nhau tí nào. Khả năng liên tưởng của ông Thiệp thì thôi rồi, nhưng ông Thiệp không có trường thông tin kiểu Gúc gồ chấm, nên các liên tưởng của Đặng Thân ý chừng rộng hơn, khiến người ta dễ bổ chửng hơn. Tôi chỉ định lượng thôi, thích hay không thích các ông là chuyện của mỗi người đọc. Tôi cũng chẳng thấy ở Đặng Thân con đường mà với Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh đã đi (có chăng chỉ có một chút Nguyễn Hữu Hồng Minh), thế nên tôi cũng không nói Đặng Thân là người đi xa nhất trên con đường này đâu nhé. Cái chất giễu nhại của ông là của một ông thôi. Ông mà giống ai cũng thành ngớ ngẩn, và ngược lại.</p>
<p>Nếu đi tìm một cái gì như ảnh hưởng, nói ông đừng buồn, ngoài sự ông tây đến mức tôi tưởng ông là Việt kiều yêu nước dùng, sự khác tôi thấy ông cũ xì y như các cụ ngày xưa vậy. Cái lối xưng danh đầu tác phẩm của ông chẳng mang tính diễn xướng rất chi là folklore đó sao. Cái sự thay đổi liên tục người kể chuyện, người bình, cực mới, cũng là cực dân tộc đấy. Cứ như là xem một vở chèo có tiếng đế râm ran.</p>
<p>Hoặc đúng hơn, chữ ông không cho chuồi theo dòng cảm xúc, hay chạy theo tình tiết nọ kia của cốt. Tôi, tôi đọc ông, đọc rồi, đọc lại, như xem một bức tranh, ấn tượng là toàn bộ. Hiểu cái chết liền. Đúng đúng, hiểu cái chết liền.</p>
<p>Thế nên tâm niệm một lời (của nhân vật Đặng Thân):</p>
<p><i>Chả cá chình với cá trình      <br /></i><i>Chỉ cần hai chữ thật tình là thông.</i></p>
<p>Tâm niệm xong thì thấy mình thông suốt lập tức hai chữ chả cá.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24328/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Kiếp Ch&#243;</title>
		<link>http://damau.org/archives/24282</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24282#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đặng Đình Túy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24282</guid>
		<description><![CDATA[Bùi Ngọc Tấn viết chuyện tù rất sống. “Người Chăn Kiến” là câu chuyện của ông giám đốc xí nghiệp chẳng may bị tù oan và còn là nạn nhân bị các tay anh chị trong tù tuyển chọn làm "nữ thần tự do," phải ở truồng trùng trục, tay giữ một vật tượng trưng cây đuốc và đứng bất động trên cao ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dophan_buingoctan.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="dophan_buingoctan" border="0" alt="dophan_buingoctan" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dophan_buingoctan_thumb.jpg" width="287" height="335" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Chân dung nhà văn Bùi Ngọc Tấn (họa sĩ Đỗ Phấn, 2008)</em></font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Nghe Bùi Ngọc Tấn (BNT) nhận <a href="http://buingoctan.wordpress.com/2012/04/06/bui-ng%E1%BB%8Dc-t%E1%BA%A5n-do%E1%BA%A1i-gi%E1%BA%A3i-th%C6%B0%E1%BB%9Fng-l%E1%BB%9Bn/" target="_blank">giải thưởng của Tây</a> tôi bèn lục lạo số sách mình có xem thử có gì liên quan đến ông không. Gần như là không. Năm nọ có đọc một bài giới thiệu về <em>Chuyện Kể Năm 2000</em> do Nguyễn thị Hải Hà viết tôi cũng có ý định tìm xem thêm nhưng có lẽ trong thâm tâm hơi chán nghe chuyện đàn áp, bắt bớ và tù tội xảy ra như chuyện-thường-ngày-ở-huyện nên dù tự nhủ vậy mà tôi đã lờ đi (do phần phản đối từ trong tiềm thức tôi chăng?) Do vậy mà tôi cứ đinh ninh BNT là “chuyên viên ở tù” kiểu nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, cho đến hôm nay, nhân buổi vinh quang của ông (vừa nhận giải Henri Queffélec của Pháp với cuốn truyện Biển và chim bói cá) tôi mới xem qua tiểu sử và phát giác ra rằng ông chỉ “có thể” có ở tù (không chắc lắm) vài năm không rõ lý do. Và hiện nay thì ông vẫn sống đàng hoàng ở Việt-Nam, lại thêm được phép dong chơi hải ngoại. Thời đại này chỉ những người chính thức ngồi trong tù của Cộng Sản mới được xem là chống đối; những người ở ngoài vẫn phải mang cái ê-ti-két rất lờ mờ bởi họ sống dưới một chế độ lờ mờ có hành tung lờ mờ danh nghĩa lờ mờ…     </p>
<p>Nhưng chúng ta đang nói chuyện văn chương, đâu phải chuyện chính trị thì chống đối hay không chống đối có nhằm nhò gì? Hơn nữa, những truyện của BNT mà tôi đã đọc thì phần nhiều là …chuyện tù. Chắc là ông phải ở tù mới kể được chuyện tù một cách sống động như vậy chứ!</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tn.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Bui-Ngoc-Tn" border="0" alt="Bui-Ngoc-Tn" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tn_thumb.jpg" width="512" height="388" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Dấu tay in của Bùi Ngọc Tấn        <br />(Nguồn: </em></font><a href="http://phannguyenartist.blogspot.com/2011_05_01_archive.html" target="_blank"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Emprunt Empreinte – Trang Mượn Dấu Thời Gian</em></font></a>&#160;<em><font size="2" face="Times New Roman">của Phan Nguyên)</font></em></p>
<p align="left">&#160;</p>
<p align="left">Lại phải “nhưng” một lần nữa rằng cuốn sách duy nhất của BNT mà tôi đã đọc chỉ là một cuốn truyện được dịch ra tiếng nước ngoài chứ không phải là nguyên bản. Truyện dịch có cái hay và cái dở của nó, đặc biệt là dịch từ Việt ngữ. Ngôn ngữ ta “hào nhoáng” quá nên đâm ra thiếu chính xác. Lại thêm cái tâm hồn thơ của người Việt nữa –bất cứ người Việt nào– nên viết văn thật chẳng khác làm thơ. Vì vậy chỉ riêng chúng ta thích văn ta chứ chưa chắc người ngoại quốc đã thích được. Nói vậy không có nghĩa là các nhà văn ngoại quốc không dùng mỹ từ nhưng họ chỉ sử dụng có giới hạn và cách diễn tả của họ thiên về ý tưởng nhiều hơn trong khi ta lại thiên về <i>từ</i> hơn là <i>ý</i>, do đó rất khó dịch trừ khi người viết có tinh thần viết văn giản dị nhưng súc tích. Câu văn việt ngữ hầu hết đọc lên nghe rất “kêu” nhưng nếu được chuyển ra một ngôn ngữ khác có khi nó trở nên trần truồng trơ khất đáng buồn, tựa bộ lông con công khi bị vặt trụi. Hãy tưởng tượng tới văn phong của một Mai Thảo chẳng hạn…     </p>
<p>Bởi lẽ tôi đọc văn BNT bằng tiếng nước ngoài nên tôi sẽ dịch sai hoặc gần gần chứ không đúng chóc tựa các truyện, xin bạn đọc bỏ qua cho. Tập truyện của ông tôi đồ rằng nó mang tên là “Kiếp Chó” vì những mẫu nhân vật toàn chịu đựng điêu đứng khổ nhục như … chó, trừ truyện đầu tác phẩm mà tôi cho là đẹp nhất, có tên là “Khói” (sợi khói, đám khói?) nhẹ nhàng hơn hết và không thành… truyện vì không nhiều sự việc, thiếu kịch tính, chỉ để mô tả một trạng thái tâm hồn. Nhân vật Thân, mười chín tuổi là trưởng toán bảo vệ có nhiệm vụ canh gác đám tù thường phạm. Truyện xảy ra khi một người tù bị kết án tám năm vì tội đánh lộn (!) bỏ trốn trong khi anh ta chỉ còn một năm nữa là ra tù. Thân và cả toán đổ ra truy nã kẻ trốn thoát. Đôi mắt quan sát của nhà văn chỉ dồn vào có mỗi Thân chứ không hề đả động đến những người khác. Không gian là cánh rừng nơi đội tù chịu hình phạt cải tạo lao động. Nói đến rừng, nói đến buổi trời chiều, đến cái lạnh, cái trơ vơ mênh mông, người đọc đã thông cảm ngay được tâm trạng của chàng tuổi trẻ tên Thân ấy. May mắn trời không mưa hôm ấy, nhưng những hôm khác thì tầm tã, đội bảo vệ ướt sũng, đỉa vắt bấu lên da, lạnh và đói khiến người chỉ huy cáu kỉnh, chàng nguyện sẽ bắt tên trốn thoát trả giá cho những ngày dò tìm khốn khổ này. Vì trách nhiệm chàng phải cố gắng tìm kiếm kẻ vượt ngục nhưng trong không gian ấy, vào thời điểm ấy, con ngưòi rồi sẽ hành động khác đi, nếu không hoàn toàn tắc trách thì cũng có chút lơ là chễnh mãng. Chàng lần dò trong tiếng róc rách luôn lỉ của những giòng suối, mắt đưa tìm tia sáng cuối của mặt trời bị cắt bởi hình dáng thon thả của ngọn núi nhô cao (như chiếc vú mẩy! –mối liên tưởng của thân xác rạo rực đôi mươi), chợt nhận ra một sợi khói vươn lên hòa mình vào làn sương chiều tỏa ra từ những chòm cây. Một dấu hiệu hiện diện của con người nhưng chắc không phải là kẻ tẩu thoát; không ai trên đường tẩu thoát lại dại dột đốt lửa khi ngày chưa tắt. Nhưng biết đâu. Chàng lần theo. Và nghĩ về mối đam mê nhóm lửa của bọn tù, thắc mắc không hiểu tại sao chúng thích nhóm lửa đến thế. Sao chàng lại không tự hỏi chính mình vì chàng cũng đang thèm ngọn lửa mà? Chàng tiến về phía ngọn lửa, có người ăn mặc quần áo tù ngồi quay lưng lại nhưng không phải là kẻ chàng tìm kiếm. Đây là tên tù được hưởng ưu quyền chăn bò cho trại. Y nhóm lửa không để làm gì, chỉ để sưởi ấm. Đột nhiên chàng cũng thèm sưởi ấm thèm chuyện trò với một người. Chàng đến bên, trao đổi vài câu với người tù, muốn thăm hỏi bày tỏ đôi điều nhưng vị trí của chàng trong trường hợp này không cho phép chàng gần gũi. Tên tù sau vài câu đối đáp đứng lên sửa soạn về trại khi nghe tiếng còi báo hiệu của trại giam. Còn một mình chàng ngồi lại chất củi cho ngọn lửa cao thêm, mặt dấu vào hai bàn tay, nghĩ đến quá khứ ấu thơ, nhớ gia đình, nhớ bè bạn …     </p>
<p>Tiếp đến là chuyện kể về mấy người bạn đồng lứa cùng làm việc với nhau ngày xưa ngoài Bắc, giờ tình cờ bắt được tin tức nhau vì cùng tình cờ có mặt ở Sài Gòn và ngay lý do của sự có mặt cũng tương tự: giúp đỡ con cái đang đi làm bằng cách chăm sóc các đứa cháu, nói khác đi là đóng vai con sen, người hầu cho con. Ngày xưa họ nghèo khổ, thiếu thốn; ngày nay lớp con cái họ lớn lên có công ăn việc làm tốt hơn, mực sống vật chất cao hơn nhưng phần họ thì vẫn tiếp tục vật lộn với những tủm mủn cuộc đời tuy tự cho rằng đấy là bổn phận của mình nhưng đã hoàn thành với cảm giác chua cay pha nhiều phần mỉa mai hý lộng. Có hai đối cực, một bên là thiếu thốn, khao khát ngày xưa, một bên là no chán thừa mứa bây giờ. Ông Hào ngày xưa thèm thịt lợn đến nỗi đánh cược với mọi người để ăn cả cân thịt mà không cần ướp mặn; cũng ông Hào đó ngày hôm nay ở với vợ chồng con trai không thèm gì hơn chút mắm cáy (?) chấm với rau dền.     </p>
<p>Truyện “Kiếp Chó” kể về cuộc đời ngắn ngủi của con Kiki, rơi vào nhà của một ông làm nghề mật vụ bị thất sủng. Chính vì bị thất sủng nên chủ và tớ mới sống thân thương mật thiết và ngày ông chủ ra đi cố vận động cấp trên để tự minh oan cho mình nhưng thất bại ông bèn bỏ nhà luôn, con chó vì quá thương chủ đã lặn lội đi tìm và bị tai nạn. Nó lết về nhà khi hai chân sau đã quị và bị bán cho người xẻ thịt.     </p>
<p>Có lẽ truyền thống sáng tác của các nhà văn được đào tạo dưới chế độ miền Bắc là ca tụng cuộc tranh đấu hào hùng của những chiến sĩ cộng sản, nếu không thì phải vẽ ra những bần hàn xã hội trong ý hướng kêu gọi san bằng giai cấp. BNT không thoát ra khỏi quan điểm đã học tập đó. Ông viết về đời cô Sỏi (?) một cô gái ăn sương có trái tim lớn. Sỏi lăn lộn với đám người mạt hạng của xã hội trong ngõ cụt, đàng sau là nhà vệ sinh công cộng. Cô vừa bán hàng vừa bán thân. Trong giao tiếp hàng ngày cô chinh phục được lòng tin cậy của một bà cụ ăn xin có gánh nặng là nuôi dưỡng hai đứa cháu gái còn dưới quê. Bà cụ kiếm được đồng nào là về đưa cô giữ dùm chờ khi có được khoản tiền lớn thì lại mang về cho hai cháu. Rồi một lần bà đi quá lâu không về nữa Sỏi tiên đoán bước cuối cuộc đời của bà cụ ăn xin người gập làm đôi trên chiếc gậy, nóng lòng, tự lãnh nhận trách nhiệm mang tiền đi dò tìm trao cho hai cô bé mặc kệ việc sáng hôm ấy người ta đến phá nhà vệ sinh, dấu hiệu cho thấy “sự nghiệp” làm ăn của cô sẽ sụp đổ. Một cử chỉ “hiệp sĩ” mà tất nhiên theo lý thuyết tiến bộ của giai cấp, chỉ có thể xảy ra nơi những người khốn khó nhưng lòng vàng.     </p>
<p>Tôi gọi BNT là chuyên viên ở tù vì ông viết chuyện tù rất sống. “Người Chăn Kiến” (đầu đề không do tôi dịch mà do tôi bắt chước cô phóng viên trên BBC Việt ngữ) là câu chuyện của ông giám đốc xí nghiệp chẳng may bị tù oan. Đã bị tù oan ông còn là nạn nhân được tuyển chọn của tay anh chị trong đám tù. Thông thường một tay thảo khấu rơi lưới pháp luật chẳng hề chịu thất thế, ngoài đời nhờ liều lĩnh mà hắn sống thì vào tù hắn cũng dùng cái hung bạo nghề nghiệp đê xử sự. Vớ được tên tù mới nhập trại có vẻ công tử, tay anh chị thích thú nghĩ ngay ra cách hành hạ: ông ta có nhiệm vụ giả dạng nữ thần tự do cho sếp giải trí. Làm tượng nữ thần tự do thì phải ở truồng trùng trục, tay giữ một vật tượng trưng cây đuốc và đứng bất động trên cao. Với một người có địa vị và biết giữ nhân cách, không có sự sỉ nhục nào hơn. Vì vậy ngày mà ông ta thấy tay anh chị sau hồi xuất trại lao động trở về, mở gói thuốc lá rỗng tháo ra mấy con kiến, bày trò cho quần thần chăn bầy kiến, thay nhau gìữ kiến không cho chúng bò ra khỏi những vòng tròn vẽ trên giấy thì ông đâm thèm thuồng công tác ấy – tất nhiên là còn danh giá hơn làm tượng thần tự do nhiều– bèn nhân ra ngoài kiếm được con kiến về dâng lên cho chủ tướng tỏ lòng muốn tham gia công tác, nhưng tay anh chị kia thì diễn dịch ý kiến ông ra cách khác, bèn nổi giận ra lệnh phạt mới. Lần này ông không làm thần tự do nữa mà làm con chim đậu trên cành cao cho người ta bắn. Ông trèo lên thang vẫn trần truồng chờ cú đạn bắn tới và phải giả vờ ngã lăn xuống. Sợ té đau, ông không đóng trọn vai trò, bị bắt làm đi làm lại… cho kỳ đúng mới được. Cuối cùng được minh oan, ông giám đốc trở về giữ chức vụ mình tại một xí nghiệp khác ở miền Nam. Thế là qua cơn ác mộng chăng? –Không, trí óc ông hằn khắc dấu ấn của thời gian tù đày nên những buổi nghỉ trưa của xí nghiệp, ông giám đốc khóa trái cửa, sống một mình trong phòng với mấy con kiến mà ông dùng mấy tấm <em>cartes de visite</em> của khách hàng ngăn không cho chúng bò ra khỏi vòng vẽ bằng bút trên giấy. Có khi ông còn đánh truồng trèo lên bàn tay giang lên trần như thuở còn đóng vai tượng thần tư do dưới lệnh của tay anh chị trong tù! Có ai trong chúng ta tưởng tượng được vết chấn thương tâm hồn của kẻ khốn khổ ấy sâu đậm đến chừng kia không?     </p>
<p>“Ngày Dài Bất Tận” cũng là một chuyện tù khác với cách khai thác tâm lý đậm đặc khiến câu chuyện kể thêm duyên dáng. Chỉ là cuộc chuyển tù từ trại tù này sang trại tù khác. Nhân vật tù duy nhất bị nhốt trong xe chịu sự căng thẳng tâm lý: y cố gắng dò đoán xem người ta sẽ mang mình đi đâu một cách bất lực vì xe chở kín bưng, chật ních; y đã phải trải qua một ngày rất mệt mỏi trong khi những kẻ canh tù chỉ lợi dụng công tác để đi bắn chim giải trí. Mối mâu thuẫn giữa lo âu tuyệt vọng của người tù và vẻ nhởn nhơ của mấy chàng bảo vệ ham hưởng thụ riêng được triệt để khai thác cho thấy số phận oái oăm của kẻ bị tước mất quyền làm người cùng vẻ “vô tâm” của các ông mật vụ hưởng thú “sa-đích” (<em>sadisme</em>) qua việc thi hành nhiệm vụ chuyển tù.</p>
<p align="left">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tan_dau-tay.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Bui-Ngoc-Tan_dau-tay" border="0" alt="Bui-Ngoc-Tan_dau-tay" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tan_dau-tay_thumb.jpg" width="514" height="388" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>(Nguồn: </em></font><a href="http://phannguyenartist.blogspot.com/2011_05_01_archive.html" target="_blank"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Emprunt Empreinte – Trang Mượn Dấu Thời Gian</em></font></a><font face="Times New Roman"></font><font size="2">&#160;</font><font face="Times New Roman"><em>của Phan Nguyên</em></font><em>)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Chỉ đọc có độc một cuốn sách, lại là cuốn sách dịch, tôi chẳng dám nói gì nhiều hơn. Mục đích chỉ để gợi tí xíu về tác giả qua sự việc ông được trao tặng giải thưởng. Dù vậy cũng chắc rằng cách viết của BNT giản dị, minh bạch, thích hợp cho việc chuyển ngữ. Những chuyện tù của ông rất thú vị. Tôi tự hứa là khi thuận tiện sẽ tìm đọc tập <em>Biển và Chim Bói Cá</em>. Nghệ thuật viết và lách của những văn nghệ sĩ trong nước đôi khi đạt tới tầm cao, có lẽ nhờ những trăn trở lâu ngày trong cố gắng mô tả những điều không nói được, một thứ “ý tại ngôn ngoại” mà chỉ khi nào người ta có một tay bút già dặn mới mong đạt tới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24282/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Về Thư Gửi Con của Th&#225;i Kim Lan</title>
		<link>http://damau.org/archives/24201</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24201#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 11 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Thị Hoàng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Giới Tính]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24201</guid>
		<description><![CDATA[Mẹ là thân nữ nhận hưởng mà thật sự chỉ là nhận chịu những vui thỏa của người nam để hoài thai và thoát sinh con cuộc đời cùng số phận ... chỉ cầu mong đời sau lên khỏi đời trước- cái mặt phẳng tưởng là bệ phóng mà kỳ thực chỉ là nền địa ngục nối truyền không dứt ... nếu không chuyển niệm được chân tính của mẹ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Nguyen-thi-Hoang.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Nguyen-thi-Hoang" border="0" alt="Nguyen-thi-Hoang" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Nguyen-thi-Hoang_thumb.jpg" width="439" height="344" /></a></p>
<p align="center"><font face="Times New Roman"><em>Nhà văn Nguyễn thị Hoàng</em></font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thoáng qua thì tưởng chừng như chẳng có gì nơi một khoảng không nhẹ tênh và trong suốt. Lời tiếng ấy, nao lòng ấy, bày tỏ ấy&#160; thì đâu đâu cũng có từ nguồn thương mỗi người mẹ gửi cho con &#8230;. Nhưng, để hiểu một chấm phết&#160; trong một câu, hay môt tác phẩm, dẫu ngắn dài lớn nhỏ của một trừơng hợp sáng tạo, khách thể cần một cái biết bằng&#160; cân đo, thăm dò hay tương thông tính cách trọn vẹn một chủ thể. </p>
<p>Nên muốn cảm hiểu được vì sao chỉ là như thế trong những trang thư gửi về con từ những chuyến đi xa, phải trích dẫn phần mẹ con khỏi Tổng Thể Thái Kim Lan&#160; bao gồm Triết, Đạo,và nhiều mô hình phức hợp khác trong nghĩ tưởng, hành động , cách khác, trong&#160; viết và sống. Nếu không, lướt qua những trang thư dung di, hồn nhiên, người đọc sẽ ngạc nhiên không tìm thấy chút trữ lượng của chủ đề sâu nặng Mẹ Con. </p>
<p>Mỗi phụ nữ có con đều được là mẹ và làm mẹ, nhưng trên mẫu số chung là thương con, hàng tỉ tử số khác nhau cho tự tính là và làm mẹ ấy, tùy thuộc dân tánh, căn chất, đẳng cấp, thể loai&#160; khác nhau của phụ nữ. Cái là xác định tính cách sinh sản, sáng tạo và hoàn thành một công trình, tuyệt phẩm. </p>
<p>Cái làm xác đinh&#160; tính cách nuôi dưỡng, biến hóa, đắp bồi, hoàn thành trọn vẹn công trình và tuyệt phẩm ấy, trong cuộc nối truyền bất tận cái là sau hơn cái là trước, cái làm sau hoàn hảo hơn cái làm trưóc trên tiến hóa từng thế hệ luân lưu. </p>
<p>Quá trình sinh và thành ấy, trên nền tảng tình thương không cùng tận, là mẹ và làm mẹ trải qua những trạng thái, nổi niềm,tình thế, hoàn cảnh khổ vui, đau xót, chiu đựng, hy sinh … chính là nguồn cơn thử thách và chứng nghiệm được tình thương ấy. </p>
<p>Để bảo toàn mái ấm cho con, trong gia đình và trong cả xã hội, mẹ đôi khi quên sống phần mình, phải thích những gì không thích, và phải không thích những gì mình thích, chịu những gì không ai chịu được, làm lấy việc không ai muốn làm, nín nhịn những cần thiết cá nhân, nhường phần cho kẻ khác, khổ mà giả vui, đau vẫn làm lành để giữ đối trọng giữa hai&#160; thái cực xung khắc.Tối thiểu của hy sinh và chiu đưng, khi không có điều kiện để sống để làm, mẹ vẫn nhường phần êm ấm cho con: <em>Bên ưót mẹ nằm, bên ráo con lăn</em>. Chính trong những hoàn cảnh không là gì, không có gì ấy , mẹ thể hiện&#160; trọn vẹn phẩm tính mình, không phô diễn, không kể lể. Nên, hy sinh là hy sinh, không nhỏ, không lớn, dẫu chỉ là một chỗ nằm trên manh chiếu nát, hay cả một cuộc đời ba la dàn trải, mẹ vẫn khước từ đời muốn sống, nhận chiu đời phải sống để bảo toàn tổ ấm cho đến mùa chim con đủ cánh bay đi. </p>
<p>Cho nên, mẹ là nơi chứa đựng, chôn vùi hay cất giấu buồn vui, sướng khổ của đời con. Mẹ là nguồn cảm ứng sâu xa, tuyệt đối và lặng&#160; câm với mọi nỗi niềm yêu đau bi hoan của nổi lòng con. Mẹ là thân cây cao lớn mà rã mục dần theo mùa tàn, chomầm chồi&#160; lá hoa con trổ mùa xuân mới. </p>
<p>Bởi mẹ là thân nữ nhận hưởng mà thật sự chỉ là nhận chịu những vui thỏa của người nam để hoài thai và thoát sinh con cuộc đời cùng số phận. Nên, tất cả những nghĩ và làm của người mẹ trong tương quan đối đãi cùng con, chỉ để cầu mong đời sau lên khỏi đời trước- cái mặt phẳng tưởng là bệ phóng mà kỳ thực chỉ là nền địa ngục nối truyền không dứt của thân phận sinh và nuôi, nếu không chuyển niệm được chân tính của mẹ là nâng đỡ, giải cứu con mình và tất cả. </p>
<p>Không thấp thoáng bóng dáng tính cách mẹ này trên những trang thư hồn nhiên phơi phới TKL viết gửi cho con những buổi xa nhà. Những trang thư chứa đầy hai nổi nhớ và thương của tình mẹ. Tình me nghĩ đến con khi nhìin thấy cảnh đẹp (tr. 25), tình mẹ cảm nghe đựơc hơi ấm của con trong mình khi xa cách.Tình me mong ước chia xẻ cùng con trong chiêm ngưõng ngoại giới, cùng ngắm màu xanh mùa thu của Huế. Tinh mẹ tiếc không có con chung cùng mỗi khi cảm sống đưọc điều gì đẹp (tr. 51). Tình me chứng nghiệm đươc, không có con mẹ mất ý nghĩa sống (tr. 69). Rồi tình mẹ dặn dò con ăn ở tưom tất lúc mẹ vắng nhà. Giản di nhất, mà cũng thiết tha nhất, tình mẹ hẹn khi về nấu một bữa ăn thât ngon cho con.&#160; Nấu một bữa ăn thật ngon cho con, công việc thật nhỏ, niềm vui thật lớn của người mẹ, với TKL, không đuơc hàng ngày hằng bữa như những đàn bà và cuôc đời khác , mà phải chờ đợi để thể hiện, nhận hưởng. Vì&#160; biết bao lần&#160; mẹ phải dứt lìa ra khỏi vòngtay nhỏ xíu của con, để lên đường. Hành trình của mẹ, bất luận dưới hình thức và phương thế nào, cũng chỉ vì Yêu thương, vun trồng và tắm tưới mọi thể loại cây xanh&#160; trong vườn đời hạn hán&#160; thời nay. Cây tri thức. Cây nhân ái…&#160; Cây Công Bình. Cây Thiện Mỹ, những mầm chồi từ Đại Đaọ của Ngày Mai.Vì Yêu Thương Con, Mẹ yêu thương Tất cả. Yêu thương ấy không cùng tận. Nên hành trình cũng sẽ không cùng tận , dẫu mai kia&#160; có ngã bóng trên đường Me, không chỉ là mẹ, mà còn làm mẹ. Là mẹ và làm mẹ, một thể tính trộn lẫn, tròn đầy là một. Nên không là mẹ nếu không làm mẹ . Mọi nghĩa “là mẹ” thể hiện trong “làm mẹ.” Suốt cuộc sinh và nuôi trọn vẹn. Đừng ngạc nhiên hay phê phán vội nếu không tìm thấy dấu tích gì về yếu tính mẹ này trên những lời thư cho con của TKL. Bởi vì, không những TKL chỉ dành một phần trích của mẹ cho con (phần trich của không cùng tận!) mà khi nói với con, TKL đã hoàn toàn thoát thân RA KHỎI tổng thể mình. Khi ấy, không có và không cần nữa mọi thứ trang sức lỉnh kỉnh trong thân và ngoài thân, nào triết, nào đạo, nào văn học, nào lý luận, phê bình, nghiên cứu….Khi ấy, không cần phải là gì và làm gì cả, với con hay bất kỳ ai, mẹ bốc hơi trong nghĩ&#160; tưởng về con, thành khí thể hòa nhập cùng con bât chấp thời gian không gian cách trở. </p>
<p>Phần thể tính trong ngần bất biến họại ấy còn đọng lại mãi hoài nơi người mẹ. Nhưng con thì lớn khôn, biến đổi, ra đi, mang theo it nhiều phẩn trích của mẹ trộn lẫn tỉ lệ di tánh cao thấp tùy theo từ phía khác, hoàn thành số phận mới. Hai vòng tròn đồng tâm lớn nhỏ mẹ con từ đó trượt qua nhau, có thể đồng nhất hiệp lực mà cũng có thể xung khắc, đối nghịch. Bụng của mẹ, tấm lòng nữa, có thể là miền an trú cho con trọn đời nghĩ nhớ, mà cũng có thể chỉ là căn phòng chật hẹp cho thuê chín tháng mười ngày nếu bên đời con chỉ vâng chìu và đáp ứng những quyền năng quyến rũ của tha nhân. </p>
<p>Có lẽ, với hồn tính trẻ thơ hay hóa thân thành trẻ thơ như thế trong diệu nhập cùng con, TKL hẳn không quên yếu tính này của mẹ và con. Nhưng bất cần những điều rắc rối vô can ấy trong khoảnh khắc màu hồng thơ trẻ này của mẹ và con. </p>
<p>Hãy xúc động, khóc cười với nước mắt vui cho đến ngày thiên tai chạm vỡ hết mọi&#160; thứ “có” và “là”&#160; trong&#160; ý niệm cùng thực tại. </p>
<p>Cho đến ngày, không phải mẹ, mà con ra đi và trở về&#160; sau những vòng đời thể nghiệm xa xôi. </p>
<p>Khi ấy, biết đâu những tờ thư cho con nối tiếp. Ngày xưa đã xa. Tình thơ đã phai. </p>
<p>Chỉ còn lai những nghĩa vụ nhắc nhở hoàn thành&#160; Những vấn đề chung nhau giải quyết. </p>
<p>Những vấp vướng&#160; nặng lòng tháo gỡ triền miên …. Sẽ không là phần trích mà tổng thể TKL, danh tính và tầm cỡ, viết dòng thư mới. Đọc một tác phẩm, một trường hợp, môt Con người, phải cho đến cùng&#160; mới tìm ra nhận đinh đúng (mà chựa chắc đã đủ, đừng hòng chuyện phê bình!) Nên, nếu hiểu Thư Cho Con của TKL chỉ như là khúc dạo của một Trường Ca, người đọc còn chờ mong ngày thế giới đoàn viên cùng ngồi xem tập tiếp theo của Kịch Bản Luân Hồi.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24201/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thư gửi con: Lời n&#243;i đầu</title>
		<link>http://damau.org/archives/24118</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24118#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Giới Tính]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24118</guid>
		<description><![CDATA[Nhưng tấm lưới lại có một kẽ hở không ngờ: ĐỨA CON. Đứa con chính là kẽ hở của tình mẹ ... nó chính là ... đòi hỏi sống động không ngừng về tình mẹ. Tấm lưới mẹ có quăng ra cùng khắp bầu trời, khả năng “con xa mẹ” đã tiềm ẩn nơi đôi chân vừa thành hình trong lòng mẹ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-th-gi-con.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="TKL-th-gi-con" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-th-gi-con_thumb.jpg" alt="TKL-th-gi-con" width="217" height="331" border="0" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thư gửi con đã nằm kín trong ngăn kéo thư cũ… Những lá thư là “của riêng” của hai người, của mẹ và của con, của con nhiều hơn của mẹ, cho nên thoạt tiên nỗi ngần ngại đưa đến bạn đọc, dưới con mắt bàng quan thiên hạ, e giống như “đem con bỏ chợ,” là điều dễ hiểu.</p>
<p>Nhưng, dĩ nhiên với sự đồng ý của người con, quyết định cho cuốn sách nhỏ này ra đời chủ yếu đến từ thôi thúc muốn chia xẻ với bạn đọc, nhất là nữ độc giả, những người đã là mẹ, có khi đang thành bà, những người đang là mẹ hay sắp làm mẹ và ngay cả với độc giả thuộc nam giới, điều mà tôi đã và đang học khi làm mẹ, &#8211; và có thể nói từ đó, học làm…người…trong nỗi trăn trở của một người&#8230; sinh thành một con người&#8230;</p>
<p>Không nhiều, dù chuyện “mẹ con” nhiều đến vô vàn,- ở đây chỉ xin nói một điều: nỗi trăn trở về sợi dây liên lạc mẹ với con trong vô lượng kiếp người – và chính người mẹ cũng đã từng là con của mẹ, cho nên khi làm mẹ mới hiểu được cái khúc mắc “mẹ con” truyền kiếp ấy. Cái khúc mắc lạ lùng, vì tưởng nó không bao giờ có, tưởng như không thể có, bởi lẽ đơn giản, bao đời giữa mẹ và con, có điều chi mà khúc mắc? Cái tình mẹ con ấy bao la như sông dài biển rộng, hồn nhiên như mây bay, độ lượng như mặt trời, trăng và sao, hoa lá, nó nằm sâu trong dạ, trong ruột, trong tim, khúc mắc ở đâu?</p>
<p>Có chăng khúc mắc đến từ nỗi đau, hình như bà mẹ nào cũng có nỗi đau ấy, vô thức hay ý thức, xác thịt lẫn tinh thần, nỗi đau con xa mẹ, mẹ xa con ngay từ khi cái kéo cắt con rời khỏi rún mẹ, chia hai.</p>
<p>Khúc mắc lạ lùng, bởi sự “thành hai” là điều hiển nhiên trong việc sinh thành. Nhưng vì lòng mẹ thì cứ đinh ninh “mẹ con” là một, con thì nhất thiết là của mình. Mẹ tôi thường nói “núm ruột của mình,” “máu thịt của mình.” Thật không có chi thân thuộc hơn sự thân thuộc mẹ con.</p>
<p>Dòng sữa ngọt ngào chảy cho con, chịu đựng mọi khổ ải, sẵn sàng “bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn.” Mẹ như đất và trời của con, và con là vũ trụ của mẹ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-tgc-scan-back.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="TKL-tgc-scan-back" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-tgc-scan-back_thumb.jpg" alt="TKL-tgc-scan-back" width="236" height="313" border="0" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tưởng như trong tấm lưới đan kín thương yêu đầy mãnh lực ấy không còn một kẽ hở cho một sự lạ lùng nào đột nhập. Tưởng như đứa con hạnh phúc được nằm trong nôi mãi hoài. Tưởng như tương quan nước chảy xuôi là của “trời ban,” vì mẹ là bà trời trông xuống sinh vật nhỏ nhoi là con. Tưởng như không bao giờ có một kẽ hở để có thể lọt rơi đứa con ra ngoài &#8230; sau cái kéo cắt chia.</p>
<p>Nhưng tấm lưới lại có một kẽ hở không ngờ: ĐỨA CON. Đứa con chính là kẽ hở của tình mẹ, trong nghĩa: nó chính là câu hỏi và đòi hỏi sống động không ngừng về tình mẹ. Tấm lưới mẹ có quăng ra cùng khắp bầu trời, khả năng “con xa mẹ” đã tiềm ẩn nơi đôi chân vừa thành hình trong lòng mẹ, ngay khi con chập chững biết đi. Nó bất ngờ hơn mọi sự ngờ trong đời, vì người mẹ nào cũng đinh ninh con thuộc về mình, bởi vì nó từ lòng mình mà ra. Nhưng con là nỗi bất ngờ của thử thách độ bền tấm lưới tình thương, quăng ra và thu về. Mẹ chỉ mong thu con vào lòng. Ngờ đâu, chính đứa con là sự tách rời đã định sẵn cho người mẹ, nó là sự bất ngờ nhất cho đời người làm mẹ sau mọi đinh ninh êm ái.</p>
<p>Dù vòng tay của người mẹ bao la hơn biển Thái Bình, đứa con vẫn là điểm bấp bênh chỉ chực xa rời cái biên giới “hơn biển” ấy để lang thang vào sa mạc. Dù vòng tay mẹ có với cao tới vùng trời, cao hơn Bắc Đẩu, đứa con vẫn có thể mù khơi đến Nam Tà&#8230;.</p>
<p>Trong tương quan mẹ -con, mẹ là điểm cố định mà con là thiên di. Nếu mẹ là mặt trời, mặt trăng, là ánh sáng, thì dù được toả sáng đến đâu, đứa con vẫn còn một chấm đen không trăng để lẩn, để rời xa.</p>
<p>Tình mẹ bao la hơn biển Thái Bình rạt rào, như nước trên trời đổ xuống vẫn còn chưa đủ bén gót chân con. Cái tình bao la ấy như vết ánh sáng đuổi theo một điểm, đang ở ngoài điểm vô định., như sóng trào miên man không nghỉ mà vẫn chưa đến bờ. Nó bao la mà hầu như vĩnh viễn chưa đủ&#8230;bao la, chưa bao trùm hết&#8230;người con. Chỉ vì một lẽ: cái khả năng thoát khỏi vòng tay mẹ đã tiềm ẩn trong người con, sự khát khao được yêu của con lại cũng nằm trong tư thế cách xa ấy. Con vừa là con của mình mà vừa là một NGƯỜI KHÁC.</p>
<p>Bao lâu con chỉ là đối tượng, vật sở hữu của tình mẹ, người mẹ càng nuôi sẵn cái “bất ngờ” KHÁC ấy. Nhìn thiên hạ khác mình không khó, nhìn con mình là người khác quả thật khó tưởng tượng nỗi. Nhưng oái ăm thay, bao lâu tình mẫu tử khoanh vòng người con là sản phẩm của mình, là phó bản của mình, thì dù cho nó mãnh liệt, lai láng đến đâu tình ấy kầu như không liếm gót chân luôn sẵn xa rời của con.</p>
<p>Nỗi trăn trở nêu trên chính là trăn trở không chỉ của mẹ mà cũng là của con. Lắm khi trong từ trường yêu thương của mẹ, bỗng người con nhận ra nó chỉ là một phiên bản của mẹ. Mẹ có thể đồng hóa với con từ cảm nhận cho đến tư duy. Mẹ nghĩ con cũng nghĩ như mẹ, con cũng cảm như mẹ, và mẹ hành động mà nghĩ con mình hành động, với tâm tư, chỉ vì mẹ thương con.</p>
<p>Mẹ tôi, trong tình thương ấy, đã nhiều lần như nhập cốt vào con, mà không biết đứa con ấy còn có những tâm tư khác, có một trái tim khác, có những xót thương khác &#8230;. Ngộ nhận này, nếu không có cái nhìn thông cảm, có thể đem đến không ít đỗ vỡ cho cả hai.</p>
<p>Từ chiêm nghiệm làm con muốn được mẹ truy nhận mình là một “người khác,” và có lần oán trách mẹ. Đến lượt mình làm mẹ mới ngộ được tại sao mẹ không dễ nhìn đứa con mà mình mang nặng đẻ đau là một người KHÁC mình, mới biết khó vượt qua tình thương mình cho con để nhận ra đứa con thân yêu ấy có những đòi hỏi hoàn toàn khác với mong ước của mình, để có thể chấp nhận nó khác mình.</p>
<p>Trong lúc ấy, trên căn tính bản thể “trời sinh tánh” (cha mẹ sinh con trời sinh tánh) thì tiên thiên CON là một chủ thể khác mẹ. Một kẻ LẠ, mà trong giờ phút sinh bồn người mẹ đón nhận bằng đôi tay, ấp nó vào người, sau khi mang nó 9 tháng trong lòng. Đứa “CON” là một người LẠ &#8230;. thân nhất, gần nhất. Tương quan sơ khởi nhất với một con người vừa là núm ruột của mình vừa là sinh thể KHÁC ấy là cảm giác hạnh phúc được ôm nó vào lòng&#8230;như khi mang nó trong bụng, hạnh phúc được gọi nó là “con tôi“ và cảm nhận thiên chức mới trong đời người đàn bà: làm mẹ.</p>
<p>Có thể nói chỉ khi làm mẹ người phụ nữ mới trọn vẹn là NGƯỜI ĐÀN BÀ, một CON NGƯỜI số nhiều, có nghĩa không một mình. Bởi vì từ đây câu hỏi về cuộc đời mang một ý nghĩa rộng lớn hơn hiện sinh chật hẹp, ý nghĩa vươn tới “một người khác” trong chức năng và bổn phận làm mẹ.</p>
<p>Cho nên tấm tình bao la trong nghĩa “cha mẹ sinh con“ cần vượt đến vùng đất mênh mông của “trời sinh tánh,” bảo bọc được người con như một con người, một chủ thể tha nhân.</p>
<p>Tôi tâm đắc với nhận định của Immanuel Kant &#8211; điều kỳ lạ của vị triết gia thời khai sáng này là suốt đời độc thân- về yếu tính căn bản của tương quan <em>mẹ (cha) – con</em>, khi ông nêu lên giá trị chủ thể nơi đứa trẻ sơ sinh. Chính sự truy nhận giá trị chủ thể (độc lập) của đứa trẻ sơ sinh, dù nó chưa biết đứng chưa biết đi, chưa biết nói, chưa phát biểu để đòi được truy nhận là chủ thể &#8211; làm nên điều kiện tạo nên cốt tủy nhân bản của con người được thực hiện qua nuôi nấng và giáo dục.</p>
<p>Sự nuôi nấng và giáo dục được cân nhắc chính trong tương quan của hai chủ thể độc lập “mẹ &#8211; con” thay vì tương quan con là đối tượng phụ thuộc của người mẹ, người cha. Người mẹ làm thế nào để gầy dựng đối tượng thương yêu của mình có đủ sức mạnh, không những về thể chất mà về tinh thần, có khả năng thoát ra khỏi từ trường thụ động „được mẹ thương“ và vươn vai lớn mạnh trở thành một chủ thể “khác” mình, chuẩn bị cho một sự “trưởng- thành- người.”</p>
<p>Nói theo Đạo Phật, đó là quá trình nhìn ra được tự tính bình đẳng MẸ &#8211; CON trong nghĩa CHO cũng là NHẬN – <em>“Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì đời dời kiếp kiếp mẹ con</em> <em>gặp nhau</em>”, không những con nhớ ơn mẹ mà mẹ cũng nhớ ơn con.</p>
<p>Con nhớ ơn mẹ đã đành mà mẹ nhớ ơn con vì được làm mẹ của một NGƯỜI con.</p>
<p>Chính vì con là một sinh linh khác nên mẹ phải vượt lên trên chính mình mà đến với con. Quá trình “vượt” này không gì khác hơn là quá trình trong lúc nuôi nấng, mẹ thoát chủ quan vị kỷ, thoát khung trời định kiến hạn hẹp của cái ngã sở hữu, học nhìn „cái này không phải của riêng tôi“ để nhận ra thế giới sống của CON đang hình thành, để yên tâm biết rằng chân trời mới của con rộng đến vô cực, thì tình mẹ vẫn có thể tràn tới đến muôn vàn kiếp sau …</p>
<p>Siết chặt con trong lòng hay nhìn con rời xa, người mẹ tâm niệm một điều: “thương mấy cũng chưa vừa, thương như thế vẫn còn chưa đủ.” Chỉ trong tâm niệm ấy, CON vẫn ở trong lòng Mẹ dù có bao giờ….</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24118/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hiện tượng Katherine Pancol</title>
		<link>http://damau.org/archives/24036</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24036#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 25 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đặng Đình Túy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24036</guid>
		<description><![CDATA[Có những tác phẩm ngay lần ra mắt đầu tiên đã được tập thể văn giới chấp nhận không hề cò kè và những tác phẩm khác, trái lại, được quần chúng đón tiếp niềm nở nhưng lại bị phe cầm bút dửng dưng, [xếp vào thành phần "sách sến."] Trường hợp Pancol là một.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Pancol.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Pancol" border="0" alt="Pancol" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Pancol_thumb.jpg" width="271" height="419" /></a></p>
<p align="center"><font face="Times New Roman"></font><font size="2">Chân dung nhà văn Kathérine Pancol trên bìa sau của quyển     <br /><i>Les écureuils de Central Park sont tristes le lundi        <br /></i></font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thú thật tôi thấy sách cô bày nhan nhản trên sạp mà chẳng bao giờ để ý. Tất nhiên tên tuổi cô được nói đến nhiều nhưng với một quốc gia có truyền thống văn học lâu đời như Pháp, quan niệm về giá trị của một tác phẩm là đề tài cho những cãi cọ dai dẳng. Có những tác phẩm ngay lần ra mắt đầu tiên đã được tập thể văn giới chấp nhận không hề cò kè và những tác phẩm khác, trái lại, được quần chúng đón tiếp niềm nở nhưng lại bị phe cầm bút dửng dưng. Và càng ngày càng dửng dưng thêm. Trường hợp Pancol là một.    </p>
<p>Chẳng qua chỉ là sự khác biệt về một thẩm mỹ quan. Có lời đùa của một nhân vật (sâu sắc) nào đó khi quả quyết rằng tác phẩm lớn là tác phẩm mà ai ai cũng đều muốn bàn đến (để tỏ rằng ta thông thái!) nhưng thực sự thì chẳng ai đọc đến đầu đến đuôi cả! Như vậy vấn đề thưởng ngoạn trở thành khoảng không gian đầy tính kỳ thị nghiêm trọng, một bên là phe chữ nghĩa cùng mình (chưa chắc nhé nhưng cũng nên nhận đại, gồm thành phần chuyên môn, thành phần –phần lớn– tạo ra tác phẩm) còn bên kia là quần chúng hồn nhiên, tiếp nhận tác phẩm và chấp nhận/ không chấp nhận chúng khi trong đầu không cần có mớ lý luận căn bản làm tiêu chuẩn cho những phán xét và xác định giá trị.     </p>
<p>Ngày nay, trên lĩnh vực truyền thông mà dẫn đầu là ngành truyền hình, người ta bất chấp <i>giá trị thực</i> của con người cũng như kết quả lao tác nơi hắn ; điều người ta chú trọng là sau lưng hắn có bao nhiêu quần chúng ngóng chờ, cái gọi là célébrité. Phương danh hay xú danh không đáng kể, miễn là số đông. Vì vậy có kiều nữ nọ nhờ làm tình trong bồn tắm bị (được) quay phim mà từ đó mọi người thích ngang cô ta. Hiện tượng blog cũng là một minh chứng. Có những blogs có đến hàng triệu độc giả nhờ kể điều gì đó mà mọi người chú ý… nhưng chắc tôi lầm vì kẻ đầu tiên quan niệm về <em>blog</em> không nhằm nói chuyện cao siêu văn chương triết lý chăng. Nói thêm như vậy chỉ để chứng minh rằng quần chúng có thị hiếu của họ trong khi giới <em>élite</em> thì chỉ muốn hướng quần chúng về với …lẽ phải!     </p>
<p>Trở lại với Katherine Pancol: cô viết nhiều, sách cô bán chạy như tôm tươi (hôm nọ tôi thấy mấy cuốn sau cùng của cô được gom lại dưới hình thức sách bỏ túi, trang trọng không kém loại “collection” dành cho các nhà văn lớn trong loạt ấn phẩm của Pléiade). Năm 2011 qua bảng xếp hạng của báo Figaro thì cô được xếp hàng thứ ba trong số các tác giả có sách bán chạy nhất trong năm (1,213,000 cuốn; xin đừng so với sách Anh ngữ, thử tính với con số độc giả <em>francophone</em> thì như vậy đã nhiều lắm).     </p>
<p>Tuy nhiên không hiểu ai sao chứ tôi thì thượng vàng hạ cám lắm. Tôi biết thưởng thức những tác phẩm lớn nhưng cùng lúc tình cờ vẫn theo dõi những <em>feuilleton</em> kiểu <i>Sex in the City</i>, hay <em>Desperate Housewives</em> được. Vì vậy mà tôi ít “kỳ thị” hơn người khác. Và vì vậy mà một hôm trông thấy cuốn sách nhỏ của cô (loại bó túi, rẻ tiền) thử lật vài trang, nhận ra có chỗ lãng mạn thích hợp cho tâm hồn những người nhạy cảm, tôi bèn mua về đọc và dịch cho riêng một người, làm quà.     </p>
<p>Đó là cuốn <em>Un Homme à distance</em>– một người trong cách ngăn. Kẻ đọc bản dịch đề nghị với tôi một tên khác: <em>Người Cuối Chân Mây</em>, xa xôi thêm và trữ tình hơn! Xin vâng vậy, ta cũng nên đẩy hắn tới tận cuối trời.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Katherine-Pancol-Un-homme-distance.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Katherine-Pancol-Un-homme-distance" border="0" alt="Katherine-Pancol-Un-homme-distance" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Katherine-Pancol-Un-homme-distance_thumb.jpg" width="264" height="398" /></a></p>
<p align="left">Cuốn truyện được viết dưới hình thức những bức thư từ đầu đến cuối. Ngày nay mà nói chuyện thư tín kiểu <i>mầu mực xanh thơm ngát ý mong chờ, tình hé nụ bừng thơm trên nếp giấy</i> như nhà thơ họ Vũ ngày xưa thì mới nghe qua chúng ta đã bồi hồi cả dạ. Định nghĩa của bức thư ngày nay khác hẳn với tinh thần bức thư ngày trước. Hồi đó mỗi bức thư là một cuốn tiểu thuyết được giản lược. Hình như không chỉ không gian ngày xưa mênh mông hơn bây giờ mà thời gian ngày xưa cũng dài, rộng không kém. Liệu chẳng biết những kẻ sống trước chúng ta có sở hữu đúng hai mươi bốn giờ trong một ngày hay có khi giữa hai múi ngày tiếp nối quả đất bỗng lén ngừng quay một lát, ăn gian để tặng nhân giới thêm vài giọt thời giờ làm chút quà nhỏ cho vui? Trong những công trình tập thể quả thật, thế kỷ chúng ta có những công trình lớn nhưng nếu tách ra chuyện cá nhân thì sao? Có khi tôi tự hỏi chúng ta sống như những kẻ chạy nước rút nhưng nếu mang đời sống của từng cá nhân ngày nay để so với ngày xưa thì đời sống chúng ta liệu có phong phú hơn không về mặt tri thức, tinh thần?&#8230; Ấy chết, nói nhiều chỉ tổ lạc đề. Kể bạn nghe câu chuyện anh chàng “nơi cuối trời”:     </p>
<p>Cô chủ hiệu sách tỉnh nhỏ, một ngày nhận thư đặt hàng từ một kẻ xa lạ, một người Mỹ nhưng viết được Pháp văn, tỏ ra yêu đọc và sành đọc sách. Hôm nhân vật này đến hiệu sách là lúc cô vắng mặt (tình cờ hay nhân vật ấy cố ý lựa chọn?) y để lại một món tiền đặt cọc và yêu cầu nhà sách gửi theo địa chỉ y. Theo lời y thì y là một kẻ đi du lịch và được một nhà xuất bản bên Mỹ đặt một khoảng tiền để y viết loạt bài hướng dẫn du lịch trên đất Pháp. Chúng ta đang ở vào cuối năm 1997 khi mà internet đã bắt đầu được sử dụng, chưa sâu rộng nhưng đã có người dùng. Anh chàng người Mỹ có tên là Jonathan Shields có đầy đủ phương tiện liên lạc cho một kẻ đang di chuyển trên đất người với tư cách ký giả nhưng cô nàng chủ hiệu sách, Kay Bartholdi thì không. Cô từ chối các phương tiện mới với riêng cô, từ điện thoại, truyền hình đến vi tính. Vì vậy, cô viết thư tay khi anh chàng đã dùng mail (cũng có thể là cách sắp đặt để che dấu tuồng chữ). Ban đầu thư tín chỉ có mục đích trao đổi tin tức gìữa cô chủ hiệu sách và ông khách sộp đặt tiền cọc trước khi cần mua hàng, nhưng dần dần lời lẽ trong thư có bề ấm áp hơn nhờ chỗ ông khách tỏ ra thông minh đủ trình độ thưởng thức những tác phẩm nhiếu khi không đến do sự đòi hỏi của ông mà từ sáng kiến của cô chủ, tuy đề nghị nhưng có chỗ như áp đặt. Càng hay! Người khách hàng đọc thấy qua cử chỉ đó niềm tha thiết muốn chia xẻ lạc thú của sách vở mà cũng phản ảnh được sở thích đồng điệu giữa hai người. Theo lời cô nhân viên làm trong tiệm, ông khách được mô tả là một người đã già. Hình như điều đó không khiến cô chủ quan tâm. Cô viết thường xuyên cho ông khách tỏ bày ý kiến cô về mỗi cuốn sách, nhiều khi với rất nhiều đam mê được ghi nhận qua nội dung. Cô không thú nhận là cô sắp vị trí ông khách nơi nào trong lòng cô nhưng quả là dần dần cô đâm ghiền những lá thư ông viết từ trên nhiều nẻo đường của xứ Pháp. Rồi một lúc nào đó, ông đến miền Đông Nam và, như một tình cờ oái oăm, vào ngụ tại khách sạn nơi mà mười lăm năm trước cô trải qua mối tình lớn ở đấy và sau đó đánh mất nó vĩnh viễn. Cô chỉ mới lên mười lăm tuổi vào thuở ấy, người tình cô gần gấp đôi. Anh là một kẻ có tài, hiểu biết và nhiều tham vọng mặc dù yêu cô tha thiết, một ngày anh đã xuống tàu ra đi bỏ lại cô trên bến. Anh theo tiếng gọi của Hollywood không phải để làm tài tử mà thực hiện phim. Cô thất điên bát đảo với mất mát, tưởng có thể chết đi được nhưng cuối cùng đã gượng dậy tập sống cuộc sống khác. Cô trở thành cô chủ hiệu sách. Cô phản đối việc ông khách ngụ tại chốn kỷ niệm của cô, còn ông thì làm như vô tình và lì lợm nán lại. Rồi một hôm, ông bảo rằng nghe theo lời kể của người chủ khách sạn, ông mách lại cho cô chuyện cũ. Bức thư là quả bóng thăm dò vì người khách kia không phải là ai xa lạ, ông chính là người tình cũ của cô, người anh hùng thấm mệt đã trở về, muốn nối lại tình cũ nhưng ngại ngùng nên đã tự che dấu dưới mặt nạ mang tên Mỹ Jonathan Shields và vai trò giả làm du khách. Tình yêu lẽ ra có thể được phục sinh dưới thái độ thẳng thắn thú nhận lỗi lầm một cách quang minh chính đại nhưng nó khó chấp nhận qua lối tiếp cận ngòng ngoèo nhất là với người thiếu nữ non dại mười lăm tuổi yêu bằng dâng hiến toàn vẹn, đam mê vũ bão như Kay Bartholdi ….</p>
<p>Cuốn sách là một chuyện kể khéo với cách sắp đặt có kỹ thuật, một thứ <i>story-telling</i> không hơn không kém. Tôi nghĩ đó là lý do mà giới văn chương Pháp đã làm ra tai ngơ mắt điếc trước hiện tượng. Ở đâu cũng vậy, người ta phân chia ra hai loại văn chương. Tùy theo trình độ văn hóa của quần chúng, có những xã hội mà loại sách như thế này được chấp nhận dễ hơn trong khi những xã hội khác người ta khắt khe hơn. Chung qui thì dù dưới hình thức diễn dịch nào, cái gọi là văn chương cũng đòi hỏi đi kèm cùng tư tưởng, không chỉ đơn thuần dùng để mua vui trong vài trống canh mà thôi. Trong truyền thống văn chương Pháp, những tác phẩm mang theo cả một căn bản suy tư tạo thành triết lý đã từ lâu được xem như có tầm vóc đích thực, kiểu truyện của Jean-Paul Sartre hay kịch bản của Ionesco, Beckett. Ở xứ ta ngày trước, Vũ Ngọc Phan xếp vào loại tiểu thuyết luận đề. Nhóm Tự Lực văn đoàn được khai sinh với mục đích cải cách xã hội nên những tác phẩm của họ nhằm đả phá nếp sống cũ của họ được xếp vào nhóm tiểu thuyết luận đề như <i>Đôi Bạn</i> của Nhất Linh hay <i>Con Đường Sáng</i> của Hoàng Đạo. Vũ Khắc Khoan sau này khi viết <i>Thần Tháp Rùa</i> cũng ôm ấp những luận đề liên quan đến việc tranh biện về ý thức hệ chính trị. Có khi sự canh tân trong kỹ thuật cũng được đón nhận. Ít ra nếu không mang được một nội dung đòi hỏi suy tư thì những cố gắng làm mới trong hình thức cũng góp được giá trị cho việc sáng tạo. Bằng không thì mời bạn sang ngồi chiếu khác, nơi đó có <i>Chú Tư Cầu</i> của Lê Xuyên, <i>Sống</i>, <i>Yêu</i> của Chu Tử, toàn bộ sách của Lê Văn Trương hay tiểu thuyết của bà Tùng Long… Tiếp tục truyền thống chấp nhận văn chương bình dân, ngày nay ở Việt-Nam người ta dịch những nhà văn « best-sellers » Marc Lévy, Guillaume Musso bên cạnh Houellebecq và Kundera. Chưa biết mèo nào cắn miễu nào. Tưởng cũng nên nói thêm Marc Lévy, Guillaume Musso và Kathérine Pancol đều là những người viết đã sinh sống bằng những nghề chuyên môn khác trước khi theo đuổi nghề viết. (Marc Lévy theo học ngành vi tính; Guillaume Musso có bằng cử nhân kinh tế; Pancol xuất thân là nhà báo). Nghe đâu cuốn <i>Les yeux jaunes des crocodiles (Những đôi mắt vàng của bọn cá sấu</i>), một trong ba cuốn trong bộ của Kathérine Pancol cũng được dịch sang Việt ngữ. Một nhà văn, Patrick Besson, đã nhạo báng cách Pancol đặt những tựa đề cho hai tác phẩm tiếp nối quyển <i>Les yeux jaunes des crocodiles</i>, là quyển <i>La valse lente des tortue</i>s (<i>Điệu luân vũ chậm của loài rùa</i>) và <i>Les écureuils de Central Park sont tristes le lundi</i> (<i>những chú sóc ở công viên Central Park u sầu mỗi sáng thứ hai</i>)… mà ông cho là lố bịch. Về phía Pancol, bà cũng lên tiếng chống chế cho cách kể chuyện của mình, nhấn mạnh rằng bà xuất thân là ký giả (chắc là méo mó nghề nghiệp, chỉ nghĩ đến chi tiết và sát với sự thực, mà lờ mất phần mà người Mỹ gọi là <em>fiction</em>.)</p>
<p>Cũng nên nói thêm về Pancol: bà sinh năm 1954 tại Casablanca (Maroc) vì thân phụ là kỹ sư lúc ấy đang góp công xây dựng đập nước và các công trình xây cất nơi này. Khi bà lên năm tuổi cả gia đình mới dọn về Paris. Bà đi học và xuất thân làm báo, viết cho <i>Paris Match</i> và <i>Cosmopolitain</i>. Năm 1979 có người gợi ý bà nên viết tiểu thuyết, kết quả là cuốn <i>Moi d’abord</i> (<i>Tôi trước tiên</i>) ra đời, số bán lên tới 300,000 cuốn. Nhờ tiền bán sách, bà bỏ nước sang Mỹ ghi tên vào Columbia University học khóa viết văn. Cùng lúc sáng tác một số tác phẩm. Năm 1991 bà quay về cố quốc tiếp tục viết. <i>Un homme à distanc</i>e ra mắt sau thời gian này. Hiện bà đã có vài chục cuốn dưới giòng ghi “cùng một tác giả”. Hiện tượng Pancol cho thấy trong bất cứ xã hội nào cũng có hai giòng văn học, một cho giai cấp tinh hoa và một cho người ngoài phố, mỉa mai thay chính thành phần này mới là thành phần nuôi sống văn chương!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24036/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

