<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Nhận Định</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/nhandinh/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>B&#224;i viết, b&#224;i g&#245;, b&#224;i vẽ</title>
		<link>http://damau.org/archives/23263</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23263#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Feb 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lê Hữu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Phiếm luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23263</guid>
		<description><![CDATA[Trước năm 1975, những từ “bài viết”, “bài nói” hầu như không thấy sử dụng ở miền Nam (chỉ có “bài”, “bài văn”, “bài nói chuyện”) .... Cách gọi chung chung “bài viết” như thế chỉ có làm nghèo đi chứ khó mà gọi là “làm giàu thêm kho tàng tiếng Việt”.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="left">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/ChoiDan-JacquelynNgo.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="ChoiDan-JacquelynNgo" border="0" alt="ChoiDan-JacquelynNgo" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/ChoiDan-JacquelynNgo_thumb.jpg" width="450" height="318" /></a></p>
<p align="center"><i>Chơi đàn</i>, “bài vẽ” của bé Jacquelyn Ngo (6 tuổi)</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>“Bài viết dưới đây của giáo sư X gửi ra từ trong nước”.</p>
<p>“Bên dưới là bài viết của một em học sinh trường Việt ngữ Văn Lang ở Seattle”.</p>
<p>Trong số các <i>từ</i> ở trong nước được người Việt ở ngoài nước sử dụng với <i>tần suất</i> khá cao có từ “bài viết”. Bài này xin <i>tản mạn</i> chút chút về cái từ lâu nay đã trở nên quen thuộc (đặc biệt trong giới truyền thông, báo chí) cả trong lẫn ngoài nước.</p>
<p><b><i>Bài viết, vừa nghèo vừa lười </i></b></p>
<p>Trước hết cần tìm hiểu xem cái từ “bài viết” này ở đâu ra. Truy tầm nguồn gốc của từ này là việc không dễ dàng chút nào. Một người bạn tôi nói rằng từ “bài viết” được phổ biến kể từ khi một loạt… bài viết gọi là “Những việc cần làm ngay” của tác giả ký tên NVL xuất hiện trên một tờ báo lớn ở trong nước vào giữa năm 1987. Một bạn khác lại nói rằng từ này đã có từ thời… Nhân Văn-Giai Phẩm (trong loạt bài công kích các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm có thấy lác đác từ này), hoặc trước đó nữa. Thật khó mà xác quyết, chỉ biết rằng từ này không thấy sử dụng ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, hoặc nếu có thì cũng hiếm khi chứ không tràn lan vô tội vạ trong cả nước như ngày nay.</p>
<p>“Bài viết”, tùy trường hợp được sử dụng hiện nay, có thể được hiểu là:</p>
<p>1. Bài văn hoặc bài văn xuôi (phân biệt với văn vần) nói chung.</p>
<p>“Bài viết” ở đây chỉ đơn giản là bài văn, bất luận đề tài gì. Có khi là những mẩu chuyện, những ghi chép vụn vặt, có khi là những cảm nghĩ về con người, sự việc, có khi chỉ là một bài “tập làm văn” hoặc luận văn của học sinh. Vài mẫu câu đọc được trên báo chí trong và ngoài nước:</p>
<p>“Tổng hợp những <i>bài viết</i> hay nhất về tình yêu, tình bạn”.</p>
<p>“Những <i>bài viết</i> của học sinh các trường Việt ngữ”.</p>
<p>“Giải thưởng cho các <i>bài viết</i> hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông”.</p>
<p>2. Bài vở (những bài đăng tải, phổ biến trên báo chí).</p>
<p>Các bài vở gửi cho báo chí gọi chung là “bài viết”, khi đăng tải sẽ xếp loại theo thể loại của bài. Vài mẫu câu:</p>
<p>“<i>Bài viết</i> có thể đánh máy hoặc viết tay trên một mặt giấy và gửi về tòa soạn”.</p>
<p>“Khi gửi <i>bài viết</i> xin sử dụng dạng chữ unicode”.</p>
<p>“Trả lời chung về <i>bài viết</i> tham dự giải thưởng ‘Viết về nước Mỹ’”.</p>
<p>3. Như là một thể văn:</p>
<p>Thay vì gọi tên thể loại của bài văn thì gọi là “bài viết”. Vài mẫu câu:</p>
<p>“<i>Bài viết</i> ‘Một chuyến Mỹ du’” (thay vì gọi là “Bài ký sự/phóng sự ‘Một chuyến Mỹ du’”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> tường thuật trận đấu chung kết World Cup 2010” (thay vì “Bài tường thuật…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> có tựa ‘Kinh tế Mỹ đi về đâu?’” (thay vì “Bài nhận định…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> của bình luận gia X về vấn đề dân chủ hóa toàn cầu” (thay vì “Bài bình luận…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> về nguồn gốc và sự hình thành nền tân nhạc Việt” (thay vì “Bài biên khảo…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> vạch rõ những sai lầm của giới lãnh đạo” (thay vì “Bài phê bình…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> của tiến sĩ X về tình hình Biển Đông” (thay vì “Bài phân tích…”).</p>
<p>“Một loạt <i>bài viết</i> tên là ‘Những việc cần làm ngay’ đăng trên trang nhất báo <i>Nhân Dân</i>” (thay vì “Một loạt bài báo…”).</p>
<p>Cứ theo cách gọi như trên, có lẽ chỉ trừ truyện dài, thơ, kịch, thư từ, đơn từ, bài phỏng vấn, bài dịch thuật, còn lại tất cả những bài văn về mọi đề tài mọi thể loại, từ ký sự, phóng sự, bài báo, bài góp ý, bài tường thuật, bài nhận định, bài nghiên cứu, bài phê bình, bài bình luận, bài tham luận, bài nghị luận, bài xã luận, bài tiểu luận, bài phiếm luận, bài khảo cứu, bài khảo luận, bài biên khảo, bài sưu tầm, đến những bài luận văn, tạp văn, tạp ghi, tạp bút, tùy bút… vân vân thảy đều gọi là “bài viết”. Thậm chí, truyện ngắn đôi khi cũng được gọi là “bài viết”.</p>
<p>Cách gọi bài viết “như là một thể văn” trong các ví dụ trên vừa có vẻ “nghèo” vừa có vẻ “lười”.</p>
<p>(1) Sao gọi là nghèo? Nghèo vì thiếu chữ, không nghĩ ra được tên một thể loại văn xuôi nào để gọi bài văn ấy. Gọi “bài viết” vì… không biết gọi là bài gì.</p>
<p>Trước năm 1975, những từ “bài viết”, “bài nói” hầu như không thấy sử dụng ở miền Nam (chỉ có “bài”, “bài văn”, “bài nói chuyện”), và hầu như không có bài văn xuôi nào mà không có được cái tên thể loại, cho dù người viết muốn viết kiểu nào. Viết linh tinh lang tang, viết chuyện trên trời dưới đất, chuyện không đầu không đuôi, chuyện nọ xọ chuyện kia… vẫn được gọi là “tạp bút”, “tạp ghi”, “tạp văn”, “tạp luận”, “tản văn”, “đoản văn”… Viết tả tình tả cảnh, viết tùy hứng, tùy nghi, tùy tiện, vẫn được gọi là… “tùy bút”.</p>
<p>Cách gọi <i>chung chung</i> “bài viết” như thế chỉ có làm nghèo đi chứ khó mà gọi là “làm giàu thêm kho tàng tiếng Việt”.</p>
<p>Cái “nghèo” này còn thể hiện ở không ít từ khác. Tính từ “tốt” chẳng hạn, được sử dụng vô tội vạ: người tốt, việc tốt, lao động tốt, học tập tốt, vệ sinh tốt, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt, chấp hành tốt, tham gia tốt, phấn đấu tốt, tự giác tốt, kiểm điểm tốt, tiếp thu tốt, công tác tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt…, cái gì cũng tốt, tốt, tốt, mà không rõ là “tốt”… như thế nào, “tốt” ra làm sao(?) Chỉ độc nhất có một chữ “tốt”, muốn hiểu sao thì hiểu (trong lúc tiếng Việt mình không thiếu chữ). Cũng chả cần phân biệt tính từ với trạng từ (nói “học giỏi”, “thi đấu giỏi”, “lãnh&#160; đạo giỏi”, chứ không thể nói “học tốt”, “thi đấu tốt”, “lãnh đạo tốt”…). Hoặc, một thời các bài viết, các sách nghiên cứu, lý luận, phê bình ở miền Bắc thường có cái tựa bắt đầu bằng chữ “Về”, nói về một sự kiện, biến cố, chủ thuyết…, như “Về chủ nghĩa thực dân mới”, “Về chủ nghĩa tư bản hiện đại”, “Về phong trào thơ mới”, “Về văn hóa văn nghệ”, “Về Tự Lực Văn Đoàn”&#8230; Hoặc, các bài bài viết lan man thường có cái tựa bắt đầu bằng “Tản mạn về…”, như “Tản mạn về tiếng Việt”, “Tản mạn về bóng đá”, “Tản mạn về rượu vang”, “Tản mạn về mùa thu”, “Tản mạn về tình yêu”, “Tản mạn về thư pháp ngày xuân”… Cách đặt tựa “Tản mạn về…” này cũng được người Việt ngoài nước <i>tiếp thu</i> và ưa chuộng, mặc dầu “tản mạn” (tính từ) chỉ có nghĩa tương tự “rải rác”, “rời rạc”, chứ không có nghĩa như “mạn đàm”, “chuyện trò” (động từ). Nói “ý nghĩ tản mạn”&#160; hoặc “câu chuyện tản mạn” thì hợp nghĩa hơn.</p>
<p>(2) Sao gọi là lười? Lười đến mức không cho nổi bài văn ấy một cái tên thể loại.</p>
<p>Lười vì không muốn/không chịu <i>động não</i>. Từ một bài tập làm văn của một học sinh tiểu học đến những bài nghiên cứu, lý luận, phê bình của các học giả, các nhà khoa bảng, hoặc nhà văn, nhà báo, người cầm bút chuyên nghiệp đều là… “bài viết” tuốt.</p>
<p>Lười vì gọi thế cho… xong chuyện, không phải mất thì giờ tìm kiếm cái tên gọi thích hợp. Lười vì ai gọi sao thì mình gọi vậy.</p>
<p>Cách gọi “nghèo” và “lười” ấy không cho người đọc có chút khái niệm nào về bài gọi là “bài viết”. Ai lại chả biết là bài viết, nhưng mà là bài… gì mới được chứ? Cái từ “bài viết” nghe rất <i>chung chung</i>, rất “huề vốn”.</p>
<p>Cách tốt nhất vẫn là chịu khó cho “bài viết” ấy một cái tên thể loại đàng hoàng.</p>
<p><b><i>Bài gõ, tại sao không?</i></b></p>
<p>Cần hiểu như thế nào về từ “bài viết” hiện nay? Liệu có thể định nghĩa tổng quát: <i>nói chung</i>, “bài” gì được “viết” ra trên giấy đều có thể gọi là “bài viết” được.</p>
<p>Thực tế, ngày nay nhiều bài viết được gõ ra trên bàn phím computer hơn là viết ra trên giấy. Như thế chắc phải gọi là “bài gõ” thì chính xác hơn. “Bài gõ”, tại sao không? Trước lạ, sau quen. Như các “từ lạ” khác, thoạt đầu nghe lạ tai, dùng riết thành quen tai.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/hands-typing-on-a-computer.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="hands-typing-on-a-computer" border="0" alt="hands-typing-on-a-computer" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/hands-typing-on-a-computer_thumb.jpg" width="349" height="263" /></a></p>
<p>Viết loăng quăng trên giấy gọi là “bài viết”, gõ lóc cóc trên bàn phím gọi là “bài gõ”. Tương tự, vẽ lăng nhăng trên giấy gọi là “bài vẽ” (thay cho “họa phẩm”, “bức họa”, “bức tranh”, “bức vẽ”). “Bài vẽ”, cũng như “bài viết”, không cần phải nêu rõ thể loại, thể tài (sơn dầu, màu nước, màu bột, lập thể, trừu tượng, siêu thực, chân dung, phong cảnh, tĩnh vật…). “Bài vẽ”, thế thôi, muốn hiểu sao hiểu.</p>
<p>Cứ theo cách ấy, ta còn có thêm những “bài nói” (thay cho “bài nói chuyện”, “bài phát biểu”, “bài diễn thuyết”, “bài thuyết trình”, “bài thuyết giảng”, “bài thuyết pháp”), “bài đọc” (thay cho “bài diễn văn”, “bài diễn từ”, “bài tham luận”), “bài múa” (thay cho “vũ khúc”, “màn vũ”), “bài ngâm” (thay cho “thi phẩm”, “bài thơ”). Tại sao không? Bài nhạc gọi là “bài hát” thì bài thơ cũng gọi là “bài ngâm” được vậy.</p>
<p>Những từ “bài nói”, “bài vẽ”, “bài múa” vẫn được sử dụng trong nước (và ngoài nước, đôi khi). Vài mẫu câu:</p>
<p>“<i>Bài nói</i> của Steve Jobs tại trường đại học Stanford rất lôi cuốn”.</p>
<p>“Ban giám khảo đã chọn ra ba <i>bài vẽ</i> xuất sắc nhất”.</p>
<p>“<i>Bài múa</i> ‘Chiều lên bản thượng’ vào chung kết”.</p>
<p>Cách dùng này có thể <i>triển khai</i> dựa trên “công thức” khá đơn giản: đi sau chữ “bài” là một động từ (như: viết/vẽ/gõ/khắc/nói/đọc/hát/ngâm/múa/chụp/quay/diễn…).</p>
<p>Vì sao từ “bài viết” lại được phổ biến rộng rãi từ trong nước ra đến ngoài nước? Có thể là khởi đầu <i>báo, đài</i> ở trong nước đăng tải, phát đi một “bài viết” của nhân vật nào đó và báo, đài ở ngoài nước khi trích dẫn đã lặp lại nguyên văn (“bài viết của…”). Từ chỗ quen nghe, quen đọc đến chỗ <i>tiếp thu</i> và trở thành thói quen sử dụng đến mức có muốn thay cũng chẳng biết thay bằng… từ gì. Hơn nữa, gọi “bài viết” thì cũng … tiện, đơn giản hóa và đỡ <i>phức tạp</i>.</p>
<p>“Bài viết”, thôi thì cũng được đi, nếu gọi chung những “bài” viết ra trên giấy (hay gõ ra trên bàn phím), thế nhưng khi… gọi riêng thì cũng nên cho biết bài ấy là… bài gì.</p>
<p>Dẫu sao việc trong nước, ngoài nước đều sính dùng từ “bài viết” này (như đều sính dùng các từ ca từ, đặc trưng, đăng ký, đứng lớp, phát hiện, tâm đắc, tham gia, tranh cãi…) rất là <i>vô tư</i>, mà không gọi “từ” này “từ” kia, không thắc mắc khiếu nại ai dùng “từ” của ai, cũng cho thấy là người Việt trong nước và ngoài nước, trong một nghĩa nào đó, đã “gần nhau trong tiếng nói”.</p>
<p><b><i>Bài viết của tác giả XYZ </i></b></p>
<p>Chuyện “<i>Tản mạn về từ </i>‘bài viết’” có thể ngừng ở đây nếu “bài viết” chỉ là… bài viết mà không cần gắn thêm cái đuôi “của tác giả…” Nói “bài viết” thôi thì e không được cụ thể, không có đầu đuôi, gốc gác rõ ràng, vì vậy mới có thêm <i>cụm từ</i> “bài viết của tác giả (tên tác giả)” để <i>làm rõ</i> <i>vụ việc</i>, cung cấp thêm <i>thông tin</i> về bài viết ấy.</p>
<p>Một vài mẫu câu đọc được trên báo trong, ngoài nước:</p>
<p>“<i>Bài viết của tác giả</i> TC rất công phu, cung cấp nhiều tư liệu có giá trị”.</p>
<p>“<i>Bài viết của tác giả</i> NHQ một phần nào trả lời câu hỏi ấy”.</p>
<p>“<i>Bài viết của tác giả</i> DTL đăng trong báo Xuân <i>Người Việt</i>”.</p>
<p>(Đôi lúc ta còn gặp những “bài viết của tác giả nhà văn/nhà thơ XYZ”).</p>
<p>Đây cũng là lối viết <i>đặc trưng</i> của người Việt trong và ngoài nước từ sau năm 1975 (cũng được không ít “những người viết cũ” của miền Nam <i>tiếp thu</i> và ưa chuộng).</p>
<p>Vì sao lại cần phải có thêm từ “tác giả” đứng trước tên của… tác giả? Có thể hiểu hoặc suy luận (đúng/sai) một trong những lý do thế này:</p>
<p>- Ghi rõ như thế cho cẩn thận và… chắc ăn (có thừa một chút cũng không sao), vì có khi bài viết ghi tên tác giả nhưng tác giả… thật lại là người nào khác.</p>
<p>- “Tác giả” ở đây không chỉ là… tác giả hiểu theo nghĩa thông thường mà còn là một danh xưng, danh hiệu (title), cũng tựa như “học giả”, “diễn giả”, “soạn giả”, “dịch giả”.</p>
<p>- “Tác giả” này không phải là nhà văn, nhà báo, nhà thơ… hay “nhà” gì chuyên nghiệp, hoặc là nhiều “nhà” quá không biết gọi sao cho đúng, bèn gọi là “tác giả” cho… gọn.</p>
<p>Cho dù hiểu theo nghĩa nào thì việc đặt hai chữ “tác giả” trước tên tác giả là thừa và… vô nghĩa, không khác nào nói “nhà sử gia”, “nhà tâm lý gia”, “nhà phê bình gia” (thay vì “nhà sử học”, “nhà tâm lý học”, “nhà phê bình”), hoặc “quý thính giả nghe đài”, “quý khán thính giả xem đài”. Cách dùng hợp lý bao giờ cũng là đặt hai chữ “tác giả” trước tên tác phẩm, chứ không phải trước tên tác giả. Ví dụ: nói “tác giả Cô Gái Đồ Long” chứ không nói “tác giả Kim Dung” (hoặc “tác giả nhà văn Kim Dung”), nói “tác giả Buồn Ơi, Chào Mi!” chứ không nói “tác giả Francoise Sagan”, nói “tác giả Bướm Trắng” chứ không nói “tác giả Nhất Linh”, nói “tác giả Vòng Tay Học Trò” chứ không nói “tác giả Nguyễn Thị Hoàng”…</p>
<p>Đề nghị vài cách điều chỉnh: ví dụ, thay vì nói/viết “Bài viết của tác giả Kim Dung”:</p>
<p>1. Thay tên tác giả bằng tên tác phẩm: “Bài viết của tác giả Cô Gái Đồ Long”.</p>
<p>2. Thay “tác giả” bằng danh hiệu (title) đứng trước tên người viết (nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà phê bình, nhà biên khảo…): “Bài viết của nhà văn Kim Dung”.</p>
<p>3. Không ghi “tác giả”, ghi “ông/bà/anh/chị/cô…” trước tên người viết, hoặc chỉ ghi tên người viết: “Bài viết của ông Kim Dung” hoặc “Bài viết của Kim Dung”.</p>
<p>Có thể ghi “Bài viết của tác giả” (không ghi tên người viết sau từ “tác giả) nếu tên tác giả (Kim Dung) đã được đề cập trước đó. Ví dụ: “Bài viết của tác giả rất lý thú”.</p>
<p>Trở lại với từ “bài viết”, thiết nghĩ nếu từ này được ưa chuộng vì đơn giản và… thuần Việt thì từ “tác giả” cũng nên đổi thành từ “người viết” (hay “người gõ”, “người vẽ”, “người chụp”…), vừa tương ứng với từ “bài viết” vừa thể hiện được tinh thần “ta về ta tắm ao ta” và “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Thay vì nói “Bài viết của tác giả ABC” hoặc “Bài vẽ của tác giả XYZ”, nói “Bài viết của người viết ABC” hoặc “Bài vẽ của người vẽ XYZ”. Thoạt nghe hơi lạ tai, nghe mãi cũng thành quen tai. Trước lạ, sau quen. (Từ “người viết” về sau này cũng thấy khá phổ biến, một số tác giả xưng mình là “người viết” trong các “bài viết”).</p>
<p>Sau hết, để kết thúc bài này, xin dẫn ra hai bài viết “mẫu” đọc được trong các báo mạng (online):</p>
<p>* “Bài viết” thứ nhất của một em học sinh tiểu học, viết về “ông nội của em”:</p>
<blockquote><p>Nhà em có nuôi một ông nội. Ông không có răng. Sáng sáng mẹ em cho ông nội ăn. Trưa trưa ba em cho ông nội ăn. Hôm nào không có ba và mẹ ở nhà thì ông nhịn đói. Ông nội trông nhà rất giỏi. Tuy ông già nhưng rất ít khi ngủ vì bị lao phổi, ho suốt cả đêm. Vì vậy nhà em suốt mấy chục năm nay không bị mất trộm vì chúng tưởng trong nhà em lúc nào cũng có người còn thức.</p>
</blockquote>
<p>* “Bài viết” thứ hai của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, “Mọi chuyện đều là trò đùa” (<i>trích đoạn</i> bài “Bệnh của chữ, bệnh của người”):</p>
<blockquote><p>Có một cách nói chỉ mới nảy sinh vài chục năm nay song được mọi người bình thường đón nhận khá hào hứng, đó là khi nói về những cái hay, cái tử tế, người nói thường kèm thêm hai chữ ‘hơi bị’ ở đằng trước: ‘Cái áo này hơi bị vừa’, ‘Cái nhà kia hơi bị nổi trong khung cảnh’, ‘Em hơi bị đẹp, anh hơi bị buồn’ (thơ Nguyễn Duy). Thử phân tích kỹ một chút: chữ ‘bị’ trong tiếng Việt vốn chỉ cái điều thụ động, không thích làm không thích nhận, hoặc đơn giản là cái gì kém, hỏng, lạc điệu. Nay nó lại được dùng cho những phẩm chất tích cực. Một quá trình tâm lý nào đã xảy ra ở đây? Tôi muốn đẩy cho ý nghĩ lan man một chút, đi tới cùng trên cái hướng mà nhiều người đã dừng. Phải chăng nay là lúc sự đời nhuế nhóa, nhiều sự việc đến với chúng ta trong cái vẻ không thuần nhất, bảo là vui cũng được, bảo là buồn cũng được? Cái tốt đẹp lại mang trong nó mầm tai họa? Cái xấu xí hóa ra lại ở với mình lâu dài? Trong đùa cợt ở đây có cả sự ê chề của kẻ bị lừa quá nhiều nên thiếu niềm tin lẫn nhận thức sâu xa về cuộc đời hỗn loạn, suy đến cùng là một cái gì giống như cảm giác về thế giới lộn ngược, và người ta phải đùa để xả hơi. Phong cách đùa bỡn trở thành ngôn ngữ chủ yếu của đời sống?</p>
</blockquote>
<p>Xin cám ơn <i>các quý độc giả</i> đã dành thì giờ đọc qua <i>bài viết của tác giả</i>…</p>
<p><strong>Lê Hữu </strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p>*Những chữ in <i>nghiêng</i> trong bài là từ ngữ hoặc cách dùng chữ ở trong nước.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23263/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>ĐINH LINH: NH&#192; TU TRONG THẾ GIỚI MỞ</title>
		<link>http://damau.org/archives/23208</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23208#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Bích Thúy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23208</guid>
		<description><![CDATA[“Sự xấu xí” của Đinh Linh đồng nghĩa với “tự do”, vì “sự xấu xí” luôn luôn “sáng tạo, bồn chồn, mạo hiểm, phóng đãng.” “Sự xấu xí” nằm bên ngoài khuôn phép, nhưng nó cần được mọi người chứng nhận, như bề trái của sự hiện hữu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="right"><i>Đăng lần đầu trên Việt Báo (bản in) số Xuân Nhâm Thìn, Tháng Giêng 2012</i></p>
<p align="right"><em></em></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Linh-Dinh.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Linh-Dinh" border="0" alt="Linh-Dinh" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Linh-Dinh_thumb.jpg" width="454" height="304" /></a></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>Tôi đã đọc, <a href="http://www.google.com/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=2&amp;ved=0CDEQFjAB&amp;url=http%3A%2F%2Ftieulun.hopto.org%2Fdownload.php%3Ffile%3DLuuDayVaDeQuocTrongBoiCanhNhaNguy&amp;ei=K44RT7KQIuX30gHKn4ihAw&amp;usg=AFQjCNGL47XcF4QG6wVVbvb-vPz3AfJFHA" target="_blank">viết nhiều</a> về Đinh Linh, và cũng đã trích dịch nhiều <a href="http://damau.org/archives/5109" target="_blank">truyện ngắn</a>, <a href="http://damau.org/archives/14921" target="_blank">thơ</a>, các bài <a href="http://damau.org/archives/18381" target="_blank">nhận định</a>, <a href="http://damau.org/archives/21734" target="_blank">phỏng vấn</a> của anh. Tuy cùng họ Đinh, tôi không có liên hệ họ hàng gì với anh. Ở một khía cạnh nào đó, anh biểu hiệu cho khái niệm độc lập và tự do mà tôi luôn mong muốn cho chính mình.</p>
<p>Đinh Linh là một mâu thuẫn: anh độc lập trong cách nhìn và hoàn toàn tự do trong nếp sống anh đã tự chọn cho mình, chính vì anh là một nhà tu công giáo, theo đúng nghĩa nguyên thủy của chữ <i>catholic.</i></p>
<p>Tự điển Merriam-Webster định nghĩa chữ “catholic” (không viết hoa) là “Including or concerning all humankind; universal”—bao gồm hoặc liên hệ đến nhân loại, phổ quát.”</p>
<p>Khái niệm phổ quát về những con người bất hạnh có lẽ đã thúc đẩy Đinh Linh đề tặng <i>Nhà Ngụy</i> (Fake House, 2000)- tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của anh- cho “những kẻ không được chọn” (“for the unchosen”). Anh chủ tâm chọn những phần tử đã bị “Chúa”- chính quyền, xã hội, văn hóa, diễm phúc &#8211; khước từ. Sự chọn lựa của Đinh Linh là một hành động chống trả: đó là cách anh thể hiện quyền công dân ở xứ sở thứ hai của mình. Đó cũng là cách anh thể hiện quyền làm người trong một thế giới tuyệt đối mở, nơi ngay những kẻ thua cuộc cũng có cơ hội được bẻ bánh và dự vào <em>đêm tiệc trần gian.</em> <a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn1" name="_ednref1"><b>[1]</b></a></p>
<p>Trong bài phỏng vấn với Andrew Cox trên Tạp chí Da Màu về “<a href="http://damau.org/archives/21734" target="_blank">Những Kẻ Khốn Cùng và Sự Vô Dụng của Thi Ca</a>,” Đinh Linh khẳng định,</p>
<blockquote><p><i>Lúc nào tôi cũng quan tâm đến bọn người bị coi là thua cuộc, hay không được ai chọn, bởi vì đó là tình trạng chung của con người, nếu không thua trong lúc này, thì thế nào mai mốt cũng thua. Chúng ta tất cả sẽ thua cuộc, nhưng trong sự thua cuộc cũng hàm chứa phẩm giá và nghị lực.</i></p>
</blockquote>
<p>Hành động chống trả của Đinh Linh cũng là một cách chất vấn mọi nề nếp tự mãn, mọi hệ thống phè phỡn, hủ lậu. Nối tiếp <i>Nhà Ngụy</i> là các tuyển tập truyện ngắn <i>Máu và Xà Phòng </i>(<i>Blood and Soap, </i>2004), <i>Thư Lạ</i>, 2007 (bản dịch Việt ngữ của Phan Nhiên Hạo), tiểu thuyết <i>Yêu Như Ghét</i> (<i>Love Like Hate</i>, 2010); các tập thơ <i>Chung Quanh Mọi Tuôn Trào</i> (<i>All Around What Empties Out</i>, Tinfish: 2003), <i>Xăm Mỹ</i> (American Tatts, Chax Press: 2005), <i>Những Hình Thể Vô Biên </i>(<em><a href="http://lime-tree.blogspot.com/2006/03/linh-dinhs-borderless-bodies.html" target="_blank">Borderless Bodies</a></em>), Factory School, 2006), <i>Những Ứng Tấu Nhiễu Động (</i><a href="http://www.chax.org/poets/dinh.htm#jam"><i>Jam Alerts</i></a>, Chax: 2007<i>), Lĩnh Đinh Chích Khoái</i> &#8211; tuyển tập thơ đầu tay trong tiếng Việt (Giấy Vụn: 2007), <i>Cuộc Truy Hoan Trơ Tráo</i> (<a href="http://www.chax.org/poets/dinh.htm"><i>Some Kind of Cheese Orgy</i></a><i>, </i>Chax Press: 2009). Qua những tác phẩm trên, Đinh Linh vinh danh <i>đạo </i>của người nghệ sĩ: anh chính là sự phối hợp giữa Narcissus và Goldmund<i>. </i>Anh hiểu rằng trác táng và khổ hạnh là hai khía cạnh đi đôi trong hành trình siêu thoát, không những cho <i>Siddhartha</i> mà cũng áp dụng cho mọi nghệ sĩ chân chính. Qua những tác phẩm của Đinh Linh, cuối cùng tôi đã hiểu nỗi băn khoăn sâu kín của Hermann Hesse. Hesse bị phân tán bởi hai thế cực, giữa xác thịt và tâm hồn, vì ông mang dòng máu của một sắc tộc <i>Baltic</i> Đức lâu đời bén rễ trong lãnh thổ của Đế quốc Nga, đày ải bởi sự cô lập của văn hóa Đức, và đồng thời bị thu hút bởi sắc thái linh hoạt của phong tục Estonia.</p>
<p>Đối với Đinh Linh, khái niệm về Việt Nam là một khái niệm quảng bá, mơ hồ, không có hình dáng hay bờ cõi rõ rệt: Việt Nam có thể là Mỹ, là Anh quốc, là Ý Đại Lợi, là Philadelphia, hoặc với địa thế cũng na ná như một Estonia trần tục của Hesse.</p>
<p>Tôi nghĩ mỗi nhà văn di dân vừa là một hòn đảo, vừa là một đại dương. Mỗi một đại dương chuyển hóa, di động, xen kẽ, hòa mình, hợp lưu với hình thể vô biên của vô vàn đại dương khác, đã hiện hữu từ những thời đại xa lắc xa lơ.</p>
<p>Cũng cùng trong bài phỏng vấn với <a href="http://damau.org/archives/21734" target="_blank">Andrew Cox</a>, Đinh Linh thố lộ,</p>
<blockquote><p><i>Dù sao, tôi luôn luôn là một người thích lang thang, một tên thích đi bộ. Lúc bé ở Sài Gòn, tôi đi khắp nơi. Khi tôi sống ở Ý và Anh, tôi thường đi thăm viếng nhiều thành phố, thị xã, làng ấp xa lạ và chỉ đi bộ. Dự án [Tình trạng Liên Bang] hiện nay cũng là cách tăng cường một thúc đẩy mà tôi vẫn hằng có.</i></p>
</blockquote>
<p>Đinh Linh nói với tôi rằng không có gì <i>thật </i>trong văn chương của anh, vì viết văn là một trò chơi chú trọng trên hết vào sự bấp bênh và giả tạo của ngôn ngữ. Có lẽ trò chơi này cũng không khác gì cỗ quan tài rỗng trong “<a href="http://litviet.com/2009/05/30/dinh-linh-th%E1%BB%8B-tr%E1%BA%A5n-c%E1%BB%97-quan-tai-bi-%E1%BA%A9n/" target="_blank">Thị Trấn Cỗ Quan Tài Bí Ẩn</a>” (“The Town of the Hidden Coffin”) luôn luôn đi lùng xác người nhưng lại “không muốn có thai”(!)<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn2" name="_ednref2">[2]</a> Tuy vậy, Đinh Linh chất vấn mọi khái niệm nghệ thuật và lập luận chính trị đã ly thân ra khỏi trải nghiệm. Trong “A Cultured Boy” (“Thằng Lịch Lãm”), nhân vật kể truyện, một nữ sinh viên đại học, quyết định dùng dao “thiến” người tình của mình vì “thằng bồ lịch lãm” của cô tuy am tường về nghệ thuật nhưng không nhận thức được sự tương quan mật thiết giữa thể xác và tâm hồn.<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn3" name="_ednref3">[3]</a></p>
<p>Thật ra, chính đặc tính bấp bênh và <i>có vẻ giả tạo</i> trong văn chương Đinh Linh đã giúp tôi cảm nhận được những <i>sự thật</i> về anh. “Ông Nội Ngoại Hạng”(“My Grandfather the Exceptional”) là chân dung tự họa, đồng thời là quá khứ, hiện tại, và tương lai của nhà văn hoàn vũ:</p>
<blockquote><p><i>Đây là chuyện có thật về ông nội tôi: bỏ làng đi bộ một ngàn dặm. Ông không định đi xa. Lúc đầu chỉ vài dặm, cuối cùng không ngờ đã đi cách làng ngàn dặm. Cứ vài dặm lại gặp làng mới, hoàn toàn khác làng trước đó. Đến đâu ông cũng ở lại cho tới khi bị đe dọa hoặc lễ độ yêu cầu rời khỏi làng &#8230;. Ở một làng khác ông được phong tước nhà thơ công huân mặc dù không biết ngôn ngữ của họ &#8230;. </i></p>
<p><em>Cuối cùng ông đến một làng, nhìn quanh cảm thấy nhẹ nhàng vì mình không còn khác biệt. Tất cả lão già đều giống hệt nhau, kinh tởm và bị kinh tởm, ông được đón chào vào hội những kẻ chờ chết</em>.<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn4" name="_ednref4"><b>[4]</b></a></p>
</blockquote>
<p>“Ngoại hạng” (dịch từ chữ “exceptional” trong tiếng Anh) là một từ đa nghĩa, rất tiêu biểu &#8230; Đinh Linh: nó vừa là cái ở ngoài tầng lớp chỉ định, không được chọn vào cùng nhóm, vừa là cái vượt bậc, xuất chúng. Do đó, một sinh vật ngoại hạng có thể là một hình thể / tiềm năng vô giới hạn.</p>
<p>Nhưng lý tưởng “ngoại hạng” bắt buộc người nghệ sĩ lúc nào cũng phải di chuyển/biến thể (có lẽ cũng không khác nhân vật trong tác phẩm du ký <i><a href="http://damau.org/archives/16134" target="_blank">Đi Tây</a></i> của Nhất Linh, trở nên dạn dĩ và quên đi trạng thái nô lệ của mình khi con tàu càng gần <i>phía Tây, </i>nhưng lại trở thành nhút nhát, ngô nghê như một đứa trẻ khi tàu càng xa hải cảng Tây Phương đi <i>về hướng Đông)</i>. Sự di chuyển/biến thể này dĩ nhiên gây hậu quả không mấy khả quan về phần vật chất.</p>
<p>Tôi tôn trọng Đinh Linh như một thầy tu vì anh có vẻ chai lì với sự khắc khổ đi liền với sáng tạo, hay dù sao anh đã khắc phục phần nào những yếu tố vật chất. Vào cuối thập niên 1990, khi còn làm phóng viên thiện nguyện cho tờ báo song ngữ <i>Viet Magnet</i> (hiện đã đình bản), tôi được tòa soạn giao cho việc phỏng vấn Đinh Linh-lúc đó vừa bắt đầu khuấy động làng văn Mỹ ở ba mặt: thơ (anh nhận giải Pew Fellowship vào năm 1993); dịch thuật (vì anh vừa hoàn tất công trình dịch tuyển tập <i>Night, Again</i> &#8211;lấy hứng từ tựa truyện “Đêm Đêm” của Võ Phiến) bao gồm những truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam trong thời đổi mới); sáng tác&#8211;một vài truyện ngắn “rất ấn tượng” của Đinh Linh được xuất bản trên các tạp chí văn học Anh ngữ có tiếng như <i>Three Penny Review, New American Writing </i>và<i> New York Stories</i>. Tôi gọi cho Linh qua số điện thoại với area code khu Philadelphia nhiều lần, nhưng không gặp, và hơi ngạc nhiên là anh không có máy thu message. Bẵng đi nhiều hôm, tôi gọi lại. Sau độ 10 lần chuông kêu, anh nhắc máy, nói xin lỗi vì anh mệt nên ngủ say quá, không nghe chuông reo. Cho dù mới gặp, và lúc đầu chỉ đối thoại qua điện thoại, Đinh Linh rất cởi mở, vui vẻ. Anh nói rằng anh làm nghề thợ sơn nhà vào ban ngày, nhiều khi túng quá thì hãng telephone cúp điện thoại. Khi nào có ít tiền, anh lại nhờ hãng “mở” điện thoại. Anh kể rằng để tiết kiệm tiền nhà, anh đã có lúc ở trong một căn phòng thuê không có hệ thống dẫn nước. Muốn đi tắm, anh đứng trong một cái thùng rác nhựa lớn và xối nước lên người.</p>
<p>Lúc đó vì chưa có máy vi tính, anh đánh máy những truyện ngắn –sau này xuất hiện trong <i>Nhà Ngụy—</i>dán nhiều tem<i> </i>và gửi Priority Mail đến địa chỉ tôi ở Washington DC. Có lẽ lúc đó anh tưởng lầm tôi là một nhà phê bình điêu luyện, nhưng thật ra tôi chỉ là dân tài tử cũng mới vào nghề viết. Ban ngày tôi vào sở “đội lốt” luật sư. Buổi tối tôi về nhà đọc đi đọc lại những truyện của anh như “<a href="http://www.talachu.org/tacphamdich.php?bai=246" target="_blank">555</a>,” “<a href="http://ccat.sas.upenn.edu/xconnect/v3/i3/t/dinh.html" target="_blank">Fritz Glatman</a>,” và “<a href="http://litviet.com/2009/05/30/dinh-linh-boo-hoo-hoo/" target="_blank">Boo Hoo Hoo</a>.” Tôi hoàn toàn không hiểu anh muốn nói gì, vì những trải nghiệm lô gích từ nghề nghiệp trở nên vô dụng trước văn phong của anh. Tôi cũng bị sốc vì cách viết <i>coi bộ rất thẳng thừng</i> về thể xác của anh. Tôi lo anh tiêu hết tiền lương sơn nhà mua tem gửi truyện cho tôi đọc, rồi cũng thành &#8230; công cốc. Sự thất bại <em>trong cách đọc Đinh Linh</em> kéo tôi về quá khứ, làm tôi nhớ lại hết những lần tôi đã hoàn toàn bất lực trước ngôn ngữ, ngay cả sau thời mà Anh ngữ không còn là một thử thách. Một sự thất bại đầy đe dọa, vì nó tước đi mọi thứ mà tôi tưởng mình đã hiểu, đã biết rõ.</p>
<p>Mãi hằng chục năm sau, tôi mới dần dà giải được những ẩn dụ trong văn chương Đinh Linh, và phát hiện rằng những điều mà tôi tưởng rất thẳng thừng về thể xác thực ra liên hệ đến lĩnh vực <i>metaphysics</i>. Đinh Linh là một nghệ sĩ nối gót Rimbaud, nhưng anh lại ngụy trang như một nhà <i>realist. </i>Đọc văn của anh người đọc lúc nào cũng phải ở trong tình trạng cảnh báo, với hai con mắt mở căng.</p>
<p>Một nhà tu chân chính, ở một khía cạnh nào đó, sẽ trở nên một <i><a href="http://damau.org/archives/2430" target="_blank">tên tù với quyển tự điển</a></i> nếu y nhất định không chịu phá giới. Đó cũng là một mâu thuẫn rất ư Đinh Linh. Tôi luôn luôn bị/được ngạc nhiên về những hành vi phá giới của anh. Từ hội họa, anh chuyển sang thi ca, văn chương, video, và hiện nay chuyên về nhiếp ảnh. Tuyên bố rằng thi ca đã trở thành vô dụng vì không thể đáp ứng những nhu cầu của xã hội hiện đại, Đinh Linh trở thành một nhân chứng cho thời kỳ khải huyền –thời anh gọi “là sự tận cùng của nền kinh tế chính trị Hoa kỳ.” Tuy tôi hy vọng lời tiên đoán của anh sẽ không trở thành sự thực, tôi cảm kích trách nhiệm cảnh giác của anh—đó là trách nhiệm của một nhà tu, cũng là trách nhiệm của một người viết theo đúng nghĩa “viết.”</p>
<p>“Đứa Con Gái Xấu Nhất” (“The Ugliest Girl”) đã nói thay cho Đinh Linh từ hơn một thập kỷ trước:</p>
<blockquote><p><i>Nếu tôi không có ở đó [một đứa con gái xấu xí khác] sẽ có cơ hội được quên đi, trong khoảnh khắc, cái nhan </i><i>sắc [dưới trung bình] </i><i>của nó. Trong đám người diễm kiều, đứa con gái có thể lầm tưởng rằng nó là một người trong bọn họ, rằng nó thuộc về họ thay vì thuộc về chính cái dung diện xấu xí của nó.</i></p>
<p><em>Nhưng với tôi trong phòng, ảo tưởng này sẽ bị dập tắt. Bỗng nhiên có một nhóm, một thiểu số với hai mạng người, một hiệp hội [đề xướng] sự xấu xí.</em><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn5" name="_ednref5"><b>[5]</b></a></p>
</blockquote>
<p>“Sự xấu xí” của Đinh Linh đồng nghĩa với “Tự do”, vì “sự xấu xí” luôn luôn “sáng tạo, bồn chồn, mạo hiểm, phóng đãng.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn6" name="_ednref6">[6]</a> “Sự xấu xí” nằm bên ngoài khuôn phép, nhưng nó cần được mọi người chứng nhận, như bề trái của sự hiện hữu.</p>
<p>Như Rimbaud, Đinh Linh “dấn thân” mọi ngày. Anh tin thuốc độc sẽ trị độc. Như một nhà tiên tri, anh cảnh báo thời của những kẻ giết lén.<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn7" name="_ednref7">[7]</a></p>
<p>&#160;</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref1" name="_edn1">[1]</a> Mượn tựa truyện của Nguyễn Đức Sơn, một nhà thơ/nhà tu chính trực mà người viết cũng ngưỡng mộ.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref2" name="_edn2">[2]</a> Đinh Linh, “Thị Trấn Cỗ Quan Tài Bí Ẩn,” bản dịch Phan Nhiên Hạo, từ tuyển tập <i>Thư Lạ</i> (Văn Mới: 2007), tr. 144.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref3" name="_edn3">[3]</a> Đinh Linh, “A Cultured Boy,” từ tuyển tập <i>Fake House</i> (Seven Stories Press: 2000), tr. 31.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref4" name="_edn4">[4]</a> Đinh Linh, “Ông Nội Ngoại Hạng,” bản dịch Phan Nhiên Hạo, từ tuyển tập <i>Thư Lạ</i>, tr. 105.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref5" name="_edn5">[5]</a> Đinh Linh, “The Ugliest Girl,” từ tuyển tập <i>Fake House</i>, tr. 31-32 (người viết trích dịch sang tiếng Việt).</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref6" name="_edn6">[6]</a> Như trên, p. 32.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref7" name="_edn7">[7]</a> Rimbaud, trích từ “Matinée D’ivresse” (“Sáng Say”) trong <i>Illuminations</i> (đi cùng với bản dịch Anh ngữ của John Ashberry) (Norton: 2011): “<i>Nous avons foi au poison. Nous savons donner notre vie tout </i><i>entire</i><i> tous les </i><i>jours. Voici le temps des Assassins.</i>”</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23208/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>H&#227;y thử d&#225;n lại những hạnh ph&#250;c cũ (*)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23200</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23200#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi Vĩnh Phúc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23200</guid>
		<description><![CDATA[Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. A shadow of your smile ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="bird-in-the-foliage-1961" border="0" alt="bird-in-the-foliage-1961" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961_thumb.jpg" width="484" height="368" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Georges Braque,&#160; <em>L&#8217;Oiseau dans le feuillage</em> (</font><font size="2" face="Times New Roman"><em>Chim trong tán lá</em>) (lithographe/collage, 80.5 x 105 cm, 1961)</font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Có rất nhiều định nghĩa về thơ. Tất cả mọi định nghĩa đều phản ánh, một cách nào đó, cách nhìn cuộc đời hay cách tiếp cận cuộc đời của người định nghĩa nó.</p>
<p>Nói như thế có nghĩa thơ là một vật thể—hay một sinh thể—đa dạng và có nhiều chiều kích. Nó có thể lạ mà cũng có thể quen, có thể gây hưng phấn, hạnh phúc mà cũng có thể làm buồn bã, chán chường. Nó có thể ngắn mà cũng có thể dài. Có thể mang vần điệu lằng nhằng hoặc thiết tha, tạo nên những cái ôm ghì cuống quýt hay những cái quấn xiết lả lơi. Tạo nên một cái mặt bằng địa lý phức tạp. Hoặc nó cũng có thể, thẳng tuột một cái, lái ngay đâm thẳng vào giữa trái tim người.</p>
<p>Có nghĩa, thơ có thể tạo nên những hiệu ứng, những phản ứng, những hô ứng, thậm chí những “cuồng ứng” khác nhau.</p>
<p>Hay nói như Nguyễn Bá Trạc:</p>
<p><i>Thơ nghĩa là thơ nghĩa là thơ      <br /></i><i>Nghĩa là một buổi thấy bơ vơ      <br /></i><i>Một tay cái bút tay tờ giấy      <br /></i><i>Ta giết ta đâm hết thì giờ&#8230;</i></p>
<p>Thơ, như thế, cũng có thể là do hoàn cảnh. Hoàn cảnh trong cuộc sống hay hoàn cảnh của tâm hồn. Tâm cảnh. Đúng, nó phản ánh cái địa lý của tâm hồn con người. Thơ có thể uốn quanh, hiền và mềm như một dòng sông lờ lững, mà nó, chính cái dòng sông ấy, cũng có thể có lúc cuộn xiết và tuôn chảy ào ạt qua bao ghềnh đá của địa dư tâm hồn người viết.</p>
<p>Đọc thơ của Đán, tôi nhận thấy trong mình có những hiệu ứng, phản ứng, hô ứng, “cuồng ứng” khác nhau. Trần Nguyên Đán là một một người làm thơ đem được cảm xúc đến cho người đọc. Thơ ấy đi đứng, nói cười, thở dài, ngồi lặng, chạy nhảy, và đôi khi cũng để chảy ra một vài dòng lệ. Có lúc ông làm cho ta có được một cảm nhận mát mẻ và muốn bay lên. Thơ gắn với sự mơ mộng và với thiên nhiên:</p>
<p><i>tôi sẽ vẽ một cơn mưa      <br /></i><i>trên cánh bay của một cơn gió      </p>
<p></i>Có khi nhà thơ nhìn vào cuộc đời. Rồi tự quán chiếu lại minh:</p>
<p><i>có những lúc tôi mệt như gió bay      <br /></i><i>hoài không thể ngơi nghỉ      <br /></i><i>muốn dừng lại một quán trọ nào      <br /></i><i>đó mà không thể dừng      <br /></i><i>chân vẫn phải bước như      <br /></i><i>con lạc đã phải bước      <br /></i><i>mà miệng vẫn phải cười      <br /></i><i>cợt và nói một vài câu dí dỏm      <br /></i><i>để yêu đời      <br /></i><i>dù đời chẳng thể yêu mình      <br /></i><i>có khi mưa rơi trong những ly cà      <br /></i><i>phê bỏ quên ngoài hiên      <br /></i><i>có khi mây bay qua tâm hồn trống trơn như chiếc      <br /></i><i>vỏ đậu khô héo quắt quéo      <br /></i><i>có khi nắng&#8230;</i></p>
<p>Tự quán chiếu, buồn bã, nhưng rồi Đán vẫn mỉm cười bước tới, bắt tay với đời sống.</p>
<p>Tôi sẽ thử rủ rê người đọc, dẫn họ đi dạo trong địa lý ngôn ngữ của nhà thơ. Thử nhìn ngắm và cảm nhận cái hơi lạnh cũng như nỗi buồn và niềm vui trong không gian của một người. Tôi sẽ thử trích dẫn một số câu thơ của Đán (và cố tình không cho biết tên của các bài thơ) để thử nhìn vào trong đó xem mình có thể bắt gặp được những điều gì. Hay có khi, ta lại bắt gặp được khuôn mặt của một người nào đó, rất giống khuôn mặt riêng của mình, đang nhìn ngược lại ta:</p>
<p><i>bỗng nhớ một điều gì đó      <br /></i><i>bỗng thấy một cái gì đó      <br /></i><i>bỗng nghe một tiếng nào đó      <br /></i><i>bỗng ngửi được mùi của hoa dạ lan bên vườn      <br /></i><i>khu vườn nhỏ ngày xa xưa      <br /></i><i>khu vườn có một chiếc ghế gẫy một chân      <br /></i><i>những con bướm đang vỗ cánh nhỏ      <br /></i><i>tiếng hát của bầy ong dưới nắng      <br /></i><i>&#8230;      <br /></i><i>thôi thì đóng mặt phẳng ô vuông cửa lại      <br /></i><i>mở ra một ngăn tủ ký ức      <br /></i><i>nhìn vào đó      <br /></i><i>cả một rừng mưa đang khóc lóc thảm thiết</i></p>
<p>Có phải tâm hồn và trái tim con người luôn luôn bị giằng kéo bởi những giấc mơ cũ. Những giấc mơ cũ càng nhưng vẫn còn vương vất đâu đó mà ta chưa thể nói lời tận tuyệt với chúng. Những tiếng động mơ hồ, những âm thanh vẫy gọi về những chân trời cũ kỹ, những không gian đựng đầy sương mù. Đổ xuống thành một rừng mưa. Hay là một rừng hoa:</p>
<p><i>có một rừng hoa, hoa trắng      <br /></i><i>mây trắng      <br /></i><i>thỉnh thoảng thấy một vài hoa hồng      <br /></i><i>xen lẫn trong hơi thở      <br /></i><i>của bão </i></p>
<p>Nhà thơ vẫn thấy giữa những cơn bão (những cơn bão lửa hay những cơn bão tuyết giữa đời) một rừng hoa. Và mây. Trắng. Trắng thao thiết và thơ mộng. Cùng với một vài “nhất điểm hồng”. Của những nét yêu. Của những niềm tin vào cuộc đời, vào con người. Và vào cuộc sống.</p>
<p>Trần Nguyên Đán cũng là một người thơ thường xuyên tự nhắc nhở mình. Nhắc nhở, bảo ban. Và lau nước mắt. Cho chính cái ta. Đó là một kiểu “hôn lên tay mình”, như cái cách của một người nhạc sĩ đã nói, “Em hôn lên tay mình / Để chua sót tình trần” (TCS).</p>
<p><i>chẳng hạn như khi không còn một ai cả      <br /></i><i>cũng đừng nói gì với mình      <br /></i><i>tập cắt vài bông hoa dại ngoài đường      <br /></i><i>cắm vào một lọ nhỏ      <br /></i><i>chẳng hạn như chẳng hạn như      <br /></i><i>có một lúc nào đó thấy mình bị xé rách      <br /></i><i>hãy dùng keo dán lại      <br /></i><i>tình yêu đã chết rồi vẫn có thể hàn gắn được      <br /></i><i>phải tập quen với những điều không tốt      <br /></i><i>tập cười khi thấy mình sắp chảy nước mắt      <br /></i><i>trong những cái chậu gỗ mục nát      <br /></i><i>vẫn còn một giọt đang rơi </i></p>
<p>Dán. Dán lại mình. Đó là một cách nói khác. Lạ hơn. Mới hơn. Và cũng thẳng và thật hơn. Như người ta vẫn nói, theo một lối ẩn dụ vẫn quen dùng, chỉ có điều là cũ và mòn hơn cách nói của thi sĩ: tự băng bó (những vết thương). Nhưng khi “tự băng bó”, anh còn có những vật dụng cần thiết và (có vẻ) thích hợp để tự cứu chữa mình. Còn khi tâm hồn người ta bị rách, “dùng keo dán lại” là một cung cách tự cứu chữa thật tội nghiệp! Có lẽ vì người ta không có đủ thời giờ để tìm kiếm những vật liệu cần thiết cho một sự băng bó đúng nghĩa, hoặc là vì người ta lóng ngóng, không hiểu rõ về thao tác “tự cứu” bằng cách băng bó cẩn thận. Nhưng, dù có thế nào đi nữa, chính cái khát vọng tự tồn, không chịu bó tay, thua cuộc, đầu hàng trước cuộc đời, trước những nghịch cảnh, mà người ta phải làm một điều gì đó. Để tiếp tục sống. Để tiếp tục nở một nụ cười trước cuộc đời đắng cay và nhiều nước mắt. Người ta tự dán mình lại.</p>
<p>Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. <i>A shadow of your smile. </i>Tên một bài hát cũ, một cung điệu lạc loài còn lênh đênh như một vài sợi sóng nhỏ trong tim. Một nụ cười của em. Một nụ cười của người. Nụ cười như một bóng mây quá vãng.<i> </i>Hãy dán lại mọi điều. Và dán lại cả những bài thơ:</p>
<p><i>có những bài thơ viết riêng cho gió      <br /></i><i>cũng có vài bài viết riêng cho người      <br /></i><i>khi những bông tuyết rơi đầy trên cỏ      <br /></i><i>khi những mùa xuân về ở giữa đời      <br /></i><i>chỉ là cơn gió một lần ngừng lại      <br /></i><i>ghé qua dòng sông đã cụt hai bờ      <br /></i><i>trên sông còn vọng tiếng người hoang dại      <br /></i><i>và những đêm này dán lại đêm xưa</i></p>
<p>Khi còn khả năng dán lại mọi điều như thế, người ta chưa chịu thua. Hay, đúng hơn, không chịu thua. <i>A man can be destroyed, but not defeated</i>. Con người có thể bị tiêu diệt, nhưng nó không thể chịu thua, không thể để cho bị hạ gục. Nó không được phép để bị đánh bại. Hình như bóng ma của Hemingway đang lẩn quất đâu đây.</p>
<p><i>chiến đấu với một cái lòng đỏ trứng      <br /></i><i>chói lọi dưới chân trời      <br /></i><i>hắt những cụm mây vỡ tan      <br /></i><i>rạn nứt buổi chiều</i></p>
<p>Chiến đấu với mặt trời buổi chiều như thế, con người tiếp tục bước đi. Tiếp tục đi tới, cho dù nó có tự thấy mình như một con ngựa bị thương:</p>
<p><i>tôi vốn dĩ đã chậm chạp trong quá khứ      <br /></i><i>đến mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào nước mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào văn chương cũng chậm chạp      <br /></i><i>chậm chạp, ngay cả chữ này      <br /></i><i>cũng gợi lên một hình ảnh chậm chạp      <br /></i><i>như một con ngựa bị thương      <br /></i><i>khập khiễng đi qua núi</i></p>
<p>Một con ngựa bị thương. Thật ra, tất cả chúng ta đều mang thương tích, nhưng không phải ai cũng tự ý thức được điều đó. Thương tích làm cho chúng ta gập, gẫy, nứt rạn, hay vỡ toác. Thương tích có thể làm cho chúng ta gục ngã, nhưng chúng cũng có thể thách thức nghị lực của một con người. Chúng ta là những con chim, những con sóc, những con cá, v.v., đang hồn nhiên tung tẩy trong đời thì bị một mũi tên, một mô đá, hay một cái móc câu, v.v., tập kích, làm cho bị thương tổn. Và chúng ta dần dà mất đi niềm tin vào cuộc đời. Nhưng hình ảnh con ngựa bị thương ở đây thật đáng tội nghiệp. Chân nó khập khiễng. Và nó lại còn phải tiếp tục đi qua núi. Mà núi non thì trùng điệp. Mà cuộc đi thì còn dài. Vết thương có lẽ vẫn còn xước máu và làm cho đau đớn. Nhưng con ngựa vẫn tiếp tục đi tới, cho dù khập khiễng, và cho dù nó biết là con đường qua núi không phải là sẽ dẫn ngay đến đích.</p>
<p><b></b></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Đôi khi, để sống còn, con người cũng phải giấu đi những cái nhìn. Chỉ còn nhìn bằng một con mắt. Nhưng con mắt bị giấu đi ấy không hề nhắm lại. Nó vẫn mở chong chong và ghi nhận mọi hình ảnh cuộc đời. Rồi một ngày nào đó, những cái nhìn ấy sẽ lại mách bảo cho chúng ta về những nếp gấp khác của đời sống. Hay của chính lòng mình. Hãy thử nhìn lại chính ta trong ly cà phê đen:</p>
<p><i>tôi thường hay cố gắng      <br /></i><i>cách tuyệt vọng      <br /></i><i>dấu con mắt còn lại      <br /></i><i>trong ly cà phê đen      <br /></i><i>người ta gọi tôi là      <br /></i><i>chân dung của dĩ vãng      <br /></i><i>trên vách của quán xưa      <br /></i><i>con mắt tôi còn đó</i></p>
<p>Nhìn lại như thế, người ta có thể bắt gặp lại được nhiều điều. Bắt gặp lại những mảnh của đời ta đã bị xé rách, tả tơi. Những “mảnh ta” đứng sững hoặc bay đầy trong không gian đã tưởng là xa lắc, mịt mù. Thật ra, thời gian vẫn còn lưu dấu tất cả mọi điều trong cái hộp đen vĩ đại của nó. Chỉ cần tìm được một cái mã, một cái mã bí mật, bạn sẽ mở lại được chiếc hộp kia. Và rồi bạn sẽ tha hồ “dán”. Dán ngày vào đêm. Dán giọt nước mắt vào một nụ cười. Hay ngược lại. Dán em vào anh. Dán anh vào những lỡ lầm, mất mát. Dán mặt trời buổi chiều vào con mắt ướt. Dán mắt nhìn khát vọng vào một ánh sao đêm. Mỗi người chúng ta tự định nghĩa mình, tự tìm ra hoặc tự gọi tên mình qua những cuộc dán ấy. Chính thao tác làm nên con người. Anh “dán” ra sao, anh “dán” cái gì, thì con người anh sẽ hiển lộ ra đấy.</p>
<p><i>tôi nhớ nó, khu rừng đó      <br /></i><i>khu rừng có những vệt sáng cắt đứt từ những kẽ hở      <br /></i><i>của lá      <br /></i><i>tôi còn nhớ đã loay hoay làm một chuyện ngớ ngẩn trên cỏ      <br /></i><i>và khi nhìn qua vai      <br /></i><i>tôi đã hổ thẹn với một con sóc      </p>
<p></i><i>có nhiều khu rừng tôi đã đi qua      <br /></i><i>tôi cố gắng quên nó, tôi lại nhớ nó      <br /></i><i>khu rừng với những hôn mê bất tận      <br /></i><i>làm rách toang đường bay của bướm trắng      <br /></i><i>khu rừng tôi đã chạy tơi bời dưới lửa đạn      <br /></i><i>mà lửa đạn ngày đó cũng giống một hành động ái ân      </p>
<p></i><i>đôi khi, cuối rừng có một dòng sông      <br /></i><i>không biết ai để đó từ bao giờ      <br /></i><i>dòng sông in bóng rừng hoang dại      <br /></i><i>ngút mắt những đại ngàn      <br /></i><i>tiếng chó sủa lùng bùng những vạt nắng lửa      <br /></i><i>dăm ba con chim cụt cánh đứng trong trời vắng ngắt</i></p>
<p>Và hãy dán tiếp quá khứ vào với hiện tại trong một lần trở về. Sài gòn. Sài gòn thơm, mềm mại, cũng như Sài gòn ồn, gẫy:</p>
<p><i>sài gòn đêm tiếng ồn      <br /></i><i>người thức dậy trên sông      <br /></i><i>dưới khoảng tối nồng nàn      <br /></i><i>mùi dạ lý bay thoảng</i></p>
<p><i>sài gòn đường phố gẫy      <br /></i><i>người khom lưng ngoái nhìn      <br /></i><i>cầm cây đàn quay lại      <br /></i><i>xa tít mù quán trọ</i></p>
<p><i>sài gòn về qua cầu      <br /></i><i>bóng người trong bóng nước      <br /></i><i>chiếc xuồng tan sương khuya      <br /></i><i>người quăng mình thiên thu</i></p>
<p><i>sài gòn còn đây tôi      <br /></i><i>xé rách vài tờ giấy      <br /></i><i>áo vàng mầu hoàng hôn      <br /></i><i>đêm tơi bời thức dậy</i></p>
<p>Dán và mơ. Dán và nhìn thấy các hình ảnh lay động. Và thấy ta hoá thành bướm, thành trận mưa cuồng. Và thấy đêm mở ra, thân mật:</p>
<p><i>em có bao giờ mơ thấy bướm      <br /></i><i>trong mùa lũ lụt rán bay về      <br /></i><i>giữa trận mưa cuồng không dứt hột      <br /></i><i>tôi khoả thân từng chiếc nút khuya</i></p>
<p>Thế rồi sau một cuộc mưa như vậy, con người bừng thức. Nó nhìn trở lại vào ly cà phê của ngày xưa. Thấy trở lại những giọt mưa cũ. Những giọt long lanh những mảnh tôi rạng rỡ, thiết tha và tội nghiệp. Và trái tim khô hạn cũng thấm đẫm những hạt mưa:</p>
<p><i>mưa, nghe rầm rộ mạnh bạo thế      <br /></i><i>mà đã chấm dứt rồi      <br /></i><i>còn những giọt mưa rơi vào ly cà phê tôi      <br /></i><i>thì vẫn còn đó      <br /></i><i>thậm chí có những giọt      <br /></i><i>rơi vào trái tim khô      <br /></i><i>làm cho nó ướt át trở lại</i></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Thơ của Đán là một cuộc trần thuật về con người. Con người nhà thơ. Và, có lẽ, về cả những con người như tôi, như anh, như chị. Những con người luôn trăn trở với cả những giấc mơ, với những mảnh hiện tại và quá khứ không toàn vẹn của mình. Chúng ta loay hoay và chúng ta lật giở cuộc sống. Cuộc sống với những trang giấy, với những mảnh vụn đã bị gió đời xáo trộn và xé rách, thổi bay tung toé khắp nơi. Cuộc sống có những hình ảnh hiện tại, cái thì sắc nét, cái lại nhoà nhạt dáng hình. Nhưng tất cả vẫn còn ở đó. Trong chiếc “hộp đen” ấy. Chiếc “hộp đen” của thời gian. Và của trí nhớ.</p>
<p>Chỉ những người nhậy cảm và thiết tha mới có được cái mật mã để mở lại những trang đời kia. Trần Nguyên Đán là một nhà thơ, lại là một người nhậy cảm như thế. Ông có cái thiết tha và mơ mộng ngay từ những ngày tuổi trẻ khi ông hồi nhớ lại tác động của những dòng thơ Tagore trong hồn mình:</p>
<p><i>Rabindranath Tagore, người đã chinh phục trái tim còn nông nổi của một thiếu niên 16 tuổi, </i></p>
<p><i>trên mặt còn đầy những vệt lông tơ, nhưng sự khao khát đi tìm thơ thì dầy hơn túm lông đuôi của ngựa. Trong những ngày ấy, tôi kinh ngạc đọc những dòng sữa trắng chảy ra dưới bầu vú      <br /></i><i>     <br /></i><i>của những con bò cái, và hoa hồng lúc nào cũng có mặt, như thể bầu trời bị lật úp chiếc thúng lớn đầy hoa, đổ tràn lan trên mặt đất.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tagore, tôi lần dở lại trang sách của người làm vườn cần mẫn, và dù Rabindranath đã đi khuất vào lịch sử 70 năm rồi, tôi lại thấy cầu vồng mọc sau cơn mưa,</i></p>
<p><i>và cô gái Ấn mở cửa ra vườn với váy dài loạt xoạt, thúng bên hông, với những trái cà chua mới cắt,      <br /></i><i>&#160; <br /></i><i>chàng trai khăn quấn ngang đầu nay đã già, tóc phai mầu, mắt cúi xuống ngó vào tĩnh lặng chiều tà, dường như không nói gì nữa.</i></p>
<p><i>Nhưng mà dòng sông vẫn trôi, chuyện tình vẫn còn đấy, chuyện tình nho nhỏ thôi, nhưng đầy những con thuyền giấy xếp bằng giấy xé ra từ trang sách cổ có pha chút mơ mộng của đôi môi dầy và lồng ngực lép. Tagore lại đứng dậy và bước đi (&#8230;)</i></p>
<p>Cũng thế, bao nhiêu nhà thơ của nhân loại vẫn đang tiếp tục bước tới. Họ bước đi. Họ ngắm nhìn. Và trên hành trình của mình, họ tường trình cho con người về đời sống, về những vùng địa lý, đất đai nằm ngay trong tâm hồn mỗi một chúng ta mà chúng ta đã không từng để ý hay biết đến. Và, qua thơ của mình, họ cũng mời gọi chúng ta cùng cất bước.</p>
<p>Trần Nguyên Đán vẫn đang bước đi. Dù sao, mỗi người viết, mỗi nhà thơ có một cách bước đi riêng, một cách nhìn ngắm cuộc đời riêng của mình. Đọc thơ ông, tôi nhìn rõ cuộc đời hơn và nhận thấy trái tim cuộc sống máy đập. Những máy đập ấy phản ánh những rung động của chính nhà thơ với đời sống. Hẳn thế. Nhưng, có lẽ, chúng cũng phản ánh những cảm xúc của tôi, cũng như của những người khác, khi đến với thơ ông.</p>
<p>Xin cám ơn những dòng thơ của Đán.</p>
<p>Nhà thơ ơi, xin hãy tiếp tục bước tới.</p>
<p>Và xin hãy để tôi gửi những nụ cười và những giọt lệ của mình trong ánh mắt anh.</p>
<p>&#160;</p>
<p>16. VII. 2011   <br /><i>Tustin Ranch, Calif</i><i>.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p>_______________________________________________</p>
<p>(*) Tựa cho tập thơ <i>Tôi Chạy Vòng Quanh Một Khoảng Trống </i>của Trần Nguyên Đán. Tập thơ sẽ được Kệ Sách của Da Màu ebook xuất bản trong những ngày sắp tới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23200/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>L&#8217;&#233;legance du h&#233;risson: Từ một cuốn s&#225;ch đến cuốn phim</title>
		<link>http://damau.org/archives/23187</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23187#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 24 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đặng Đình Túy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nghệ Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Điện Ảnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23187</guid>
		<description><![CDATA[Như con khỉ của Trang Tử đã ăn hết phần chuối dành cho nó, ta còn chờ đợi gì trong cuộc sống: René Michel đã ngốn ngấu những quả chuối ... của đời bà hơi vội vã nhưng hãy còn may mắn hơn chán vạn phần số khác.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/herisson.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="herisson" border="0" alt="herisson" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/herisson_thumb.jpg" width="166" height="276" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Cuốn phim mà tôi mới xem có tên <em>Le</em> <i>Hérisson</i> (con nhím), được quay thành phim dựa trên cuốn truyện của Muriel Barbery với tựa <i>L’Elégance du Hérisson</i> (Vẻ lịch lãm của con nhím). Nhà thực hiện là Mona Achache (sinh năm 1981) với thành tích là làm diễn viên vai phụ vài lần và cũng có làm một phim tài liệu cùng hai phim ngắn. Chỉ có thế! Người ta không hiểu tại sao có sự thỏa thuận giữa tác giả với nhà làm phim dễ dàng như vậy nếu không là mối đồng cảm chớp nhoáng bắt gặp ngay phút đầu. Nên biết là việc điều đình đã xảy ra khá sớm nhưng lúc ấy theo báo Figaro thì cuốn sách đã bán được đến 700 000 cuốn! Và một ngạc nhiên khác: nhà thực hiện chỉ mua bản quyền sách với giá 35 000€ thôi (theo Figaro; nhưng một nguồn tin khác thì bảo là 100 000€, dù sao món tiền cũng còn cứ quá thấp). Suy việc, chúng tôi phỏng đoán là có một mối cảm thông sâu sắc và tin cậy nào đó giữa tác giả và Mona Achache chăng. Một điều đáng nói khác là tác giả Muriel Barbery nghe bảo là một người ngại tiếng tăm, cô trốn kỹ trong khi sách của cô bán chạy như tôm tươi, con số cuối cùng là trên một triệu cuốn chưa kể 250,000 cuốn tung ra sau đó dưới dạng sách bỏ túi. Còn cô Mona Achache thì tuy mới chập chững trong nghề nhưng theo thiển ý cô đã tạo một phim xem được, những sửa đổi từ cuốn sách sang cuốn phim cũng hợp lý thôi –vì lý do kỹ thuật.     <br /><i></i></p>
<p><i><font size="3"><strong>*Từ cuốn sách…</strong></font></i></p>
<p>Cuốn <i>L’Elegance du Hérisson</i> do nhà Gallimard xuất bản năm 2006. Tác giả là một người đàn bà trẻ (sinh năm 1969) cựu học sinh trường sư phạm danh tiếng ENS, có bằng thạc sĩ, một học vị riêng trong hệ thống giáo dục Pháp, về triết học. Bắt đầu viết cuốn sách đầu năm 2000, mãi đến sáu năm sau bà mới cho ra mắt cuốn này, cuốn thứ hai. Là một kẻ kín đáo, mặc dù tác phẩm được dư luận chú ý, bà không là khuôn mặt của đám đông. Sau khi ra mắt cuốn sách, bà sang Nhật cư ngụ cùng với chồng, vì qua cuốn sách ta cũng thấy bà bày tỏ mối hâm mộ đặc biệt đối với văn hóa Nhật Bản.</p>
<p>Câu chuyện xoay quanh ba nhân vật chính: bà gác dan chung cư sang trọng của giới trưởng giả tọa lạc ở số 7 đường Grenelle, tên Renée Michel năm mươi bốn tuổi, chỉ học hết bậc tiểu học nhưng mê đọc sách và nhờ đó có một hiểu biết văn chương đáng kể; cô bé Paloma Josse mười hai tuổi rưỡi, thông minh quán chúng, con một gia đình trong chung cư, bố là dân biểu, mẹ cũng có học nhưng không cần làm việc, chỉ ở nhà và chăm lo thứ “bệnh tưởng” của mình, một mẫu nhân vật Molière hiện đại; ông Nhật giàu có Kakuro Ozu (bà con xa gần của nhà điện ảnh nổi tiếng Nhật, Yasujiro Ozu) tượng trưng cho những người Nhật vừa giàu vừa có văn hóa. Cấu trúc của cuốn sách được sắp xếp bằng những độc thoại xen kẽ giữa bà gác dan Renée và cô bé Paloma. Bà Renée kể về đời mình từ nhỏ đến khi lấy chồng rồi chồng chết và bà vào làm chân gác dan. Công việc của người gác dan là phục vụ cho việc lên xuống cầu thang máy của người trong chung cư, phát nhận thư tín, bưu phẩm và vài việc lặt vặt khác; ngoài ra, đời sống riêng của bà là con mèo mập Léon và một góc khuất có cửa khóa, sào huyệt của bà trong đó chứa sách và là chốn trú ẩn yên bình mà không ai biết, nơi bà đánh bạn với tác phẩm của các nhà văn lớn.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/josiah-balasko-herisson.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="josiah-balasko-herisson" border="0" alt="josiah-balasko-herisson" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/josiah-balasko-herisson_thumb.jpg" width="429" height="261" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Josiane Balasko trong vai Renée, bà gác dan trí thức với con mèo Léon</font></p>
<p>Renée cố tạo cho mình một bề ngoài hoàn toàn ăn khớp với vai trò người gác dan một cách gần như quá đáng bởi bà không muốn cho ai hiểu rằng bà có một sinh hoạt tinh thần vượt khỏi trình độ của giai cấp xã hội đáng phải có. Bên cạnh đó, bà cũng là kẻ nặng mặc cảm tự ti. Bà tự giới thiệu mình ngay trong phần đầu cuốn sách y như các nhân vật hát bội kiểu Tàu, <i>như ta đây là</i>… “Renée năm mươi bốn tuổi. Từ hai mươi bảy năm nay tôi là kẻ gác dan của nhà số 7 đường Grenelle, một khách sạn đẹp, tư nhân có sân và vườn bên trong, chia thành tám gian nhà ở loại thượng hạng, tất cả đều có người ở, tất cả đều sang trọng. Tôi, góa chồng, thấp bé, xấu xí, mập ú, có mụn chai đầy bàn chân, và có những buổi sáng có hơi thở của giống ma-mút. Tôi không học hành nhiều, luôn luôn nghèo khổ, che dấu, vô nghĩa. Tôi sống một mình với con mèo bự… Nó cũng như tôi không muốn cố gắng gia nhập vào đám đồng loại. Vì tôi hiếm khi dễ thương, tuy rằng luôn luôn lễ độ, nên người ta chẳng thương tôi nhưng họ vẫn khoan thứ bởi tôi ăn nhập với dạng thức xã hội mẫu của một đứa gác dan”…</p>
<p>Mỗi tuần hai lần vào buổi xế, Renée có người bạn đến viếng cùng uống trà với nhau, bà Manuela, một người đàn bà người Bồ Đào Nha, gốc trưởng giả thất thời, giờ cũng làm người đi lau quét nhà cửa cho người. Câu chuyện trao đổi giữa họ thuộc về công việc tủm mủn mà họ cáng đáng hàng ngày. Bà này không “thông thái” như Renée đến nỗi khi bà nghe lỏm chuyện người về kể cho bạn, chuyện hai con mèo một con tên Kitty còn con kia bà không rõ thì Renée vọt miệng: có phải Lévine không? (tên hai nhân vật trong Anna Karénine). Bà bạn gật gật ra chiều có thể là đúng nhưng gặng: liệu có dính dáng gì với… cộng sản không. Thì ra <i>Lévine</i> nghe thành <i>Lénine</i>!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Manuela.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Manuela" border="0" alt="Manuela" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Manuela_thumb.jpg" width="404" height="271" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Ariane Ascaride trong vai Manuela, bạn của Renée</font></p>
<p>Cô bé Paloma Josse vì quá thông minh đã thấy trước cái lẩn quẩn chật hẹp ngu muội của đời sống vô nghĩa được tượng trưng qua hình ảnh con cá đỏ trong bình thủy tinh, đã quyết định sẽ tự tử vào ngày sinh nhật mười ba tuổi của cô. Sự lựa chọn đó không mang ý nghĩa bi thảm mà có chất <i>absurdité</i> của Albert Camus cho nên cô vẫn hăng hái sống, hăng hái ghi chép những suy nghĩ của cô vào nhật ký mà cô lấy tựa là những “suy tưởng sâu xa” và “nhật ký về sự chuyển biến trần thế”. Nhưng với những kẻ “bình thường” việc sống tách rời cộng đồng là một điều bất thường. Bố cô, một hôm tỏ vẻ khó chịu: “Tại sao con trốn?” Cô lý luận với mình rằng cô không đi trốn, cô chỉ tách xa mọi người để quan sát và suy nghĩ. Nhưng không biết trả lời sao với bố, cô không thể bảo tại vì các người làm tôi điên đầu và vì tôi còn một công việc trọng đại phải ghi chép trước khi chết; cô bèn nửa đùa nửa thật: “tại con nghe muôn thứ tiếng trong đầu.” Tai họa! Bố cô trợn trừng đến muốn lọt mắt ra ngoài và bà mẹ làm ra bộ tỉnh táo, vỗ về: “Không sao đâu con!” rồi lập tức gọi điện thoại cho ông tâm lý gia; còn Colombe, chị cô: “Em nghe bao nhiêu thứ giọng?…” Cuối cùng cô phải ngoan ngoãn cùng mẹ đến thăm nhà tâm lý mà cô chê rằng chẳng hơn gì cô. Cô đã dùng giọng văn hài hước để mô tả ông cùng câu chuyện đối đáp giữa hai người. Cô vạch mặt thứ trò chơi gian lận của nhà tâm lý và đạt được thỏa thuận với ông ta. Ông ta sẽ tuyên bố với mẹ cô rằng trạng thái tâm lý của cô bình thường để cô không cần đến gặp ông ta nữa.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Paloma-with-goldfish.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Paloma-with-goldfish" border="0" alt="Paloma-with-goldfish" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Paloma-with-goldfish_thumb.jpg" width="404" height="271" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Garance Le Guillermic trong vai Paloma đang suy nghiệm “cái lẩn quẩn chật hẹp” của đời sống như bao nước đựng con cá đỏ</font></p>
<p>Cuộc sống của hai nhân vật vừa nêu ra đáng lẽ cứ tiến triển lặng lẽ như vậy nếu không có một biến cố mới. Bà Renée làm công việc hàng ngày và khi rỗi thì chui vào sào huyệt mà đọc sách và thỉnh thoảng cười thầm một mình về một lỗi văn phạm, một cách sử dụng từ ngữ sai lầm của những kẻ tự cho là ở trên bà, đồng thời lại đóng vai dốt nát khi tiếp xúc với họ. Cô bé Paloma thì cắm cúi một mình trong phòng, chống đối cô chị, dửng dưng với bố mẹ, rình rập quan sát mọi người, và nếu cần, sửa sai bố mẹ khách khứa khiến ông bố quát : “nếu sự hiện diện của mày chỉ để làm mất mặt khách thì tốt hơn mày cút đi nơi khác,” vì quả thật cô biết nhiều, hiểu thấu. Cô đang học tiếng Nhật vì cô rất yêu văn hóa Nhật Bản, và thích đọc sách tranh <i>manga</i>.     </p>
<p>Đừng ai hòng len chân vào chung cư số 7 đường Grenelle vì chẳng gia đình nào muốn bán nhà, họ chỉ làm việc cha truyền con nối, nhưng sự lạ đã xẩy ra khi một ông làm nghề viết phê bình về món ăn bỗng ngã ra chết bất đắc vì bệnh tim. Bà vợ không muốn nán lại nên rao bán nhà. Khách mua nhà là ông Nhật Kakuro Ozu: một biến động lớn trong chung cư khi ông này dọn nhà đến và đưa thợ vào sửa chữa. Ozu trở thành hiện tượng cho mọi quan sát của đám người trú ngụ. Không thể khinh khi ông ta được vì ông ta giàu, chứng cớ là ông đã không bằng lòng với cách xây cất một bin-đinh hạng cao như vậy mà còn cho thợ đến sửa chữa cho vừa ý; cũng không thể có ác cảm với ông ta được khi ông ta ung dung bặt thiệp lễ độ với tất cả mọi người.</p>
<p>Đặc biệt là với Renée Michel, bà gác dan. Việc đưa khách mới đến để giới thiệu với bà là điều tự nhiên để bà hay rằng có thêm người đến ở tức thêm nhiệm vụ phải gánh vác. Nhưng thái độ của khách mới rất đặc biệt. Ozu chào bà kính cẩn, sự kính cẩn thành thật chứ không phải thứ lịch sự nhằm tăng tư cách mình hơn là kẻ kia của đám người lâu nay trong chung cư. Cũng trong thời gian đó, có hôm một người trong chung cư đã vô ý đánh đổ giỏ thức ăn mà bà Renée đang giữ trên tay khi ở chợ về. Cô bé Paloma có mặt lúc đó và chứng kiến trong số thực phẩm có cả một cuốn sách nội dung khá nặng nề. Cô phân vân không biết bà làm gì với cuốn sách ấy. Mang chuyện kể với ông Nhật (cô đã làm quen được ông trước nhất và được ông mời lên phòng ông chơi), ông này thì quyết đoán rằng bà gác dan là một loại “nữ hoàng nhập nội bất hợp pháp có trình độ văn hóa lỗi lạc”. Họ đồng ý cùng nhau điều tra về bà, và sau đó cô bé Paloma đã tóm tắt nhận định của cô bằng công thức “Vẻ lịch lãm của con nhím.” Đó là con vật luôn thủ thế với chùm lông nhọn, chẳng ai biết bên trong da thịt, lòng dạ nó ra sao; họa chăng chỉ có Kakuro, thủ đắc một truyền thống văn hóa thâm trầm và tinh thần nhân bản cho phép ông khám phá ra cái phong phú bên trong của con vật xấu xí ấy chăng?    </p>
<p>Rồi bà Michel nhận gói bưu phẩm đưa đến mang tên người nhận là chính bà, cuốn <i>Anna Karénine</i> của Léon Tolstoï với giòng chữ ngắn: “Thưa Bà, Để nhớ đến con mèo (vì bà đặt tên nó là Léon) của bà, Thân mến, Kakuro Ozu”. Vẫn còn trong thế tự vệ bà đã viết lời cám ơn Ozu với mọi cách mà bà cho là đủ để hóa trang che đậy con người bà. Nhưng chỉ vài hôm sau, Ozu lại đến gõ cửa, nói về cuốn sách. Bà lại cám ơn lần nữa nhưng Ozu đáp không phải ông đến để được bà cám ơn mà là để mời bà dùng cơm tối với ông.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Kakuro.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Kakuro" border="0" alt="Kakuro" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Kakuro_thumb.jpg" width="429" height="287" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Togo Igawa trong vai Kakuro Ozu, mộr người bạn hào phóng của Renée</font></p>
<p>Phải chăng cuộc sống tối tăm xám xịt của bà gác dan từ đây đã nhận được chút lóe sáng qua vài cuộc chuyện trò về văn chương, nghệ thuật với Kakuro dưới hình thức những bữa <i>goûter</i> hay ăn tối khi tại nhà ông, khi ngoài nhà hàng sang trọng. Sự giàu sang của ông Nhật đã cho phép ông hào phóng –hào phóng mà vẫn thanh cao– khi tặng cuốn sách, khi tặng bộ áo quần để bà có thể ra đường <i>như mọi người.</i> Chỉ cần một mẩu đối đáp ngắn giữa hai người để đủ cho ta thấy cái thâm trầm của ông Nhật: ông đến mời bà đi ăn tối để mừng sinh nhật ông. Bà diện bộ quần áo mà ông biếu. Họ khoác tay nhau bước ra cửa khi hai phụ nữ ở trong chung cư vừa đi đâu về, nhìn thấy hai người và lên tiếng chào. Trong cung cách chào cho ta thấy là họ không nhận ra bà gác dan đi bên ông Nhật mà chỉ là một người phụ nữ nào đó khiến Renée Michel thắc mắc. Bà bảo với ông bạn: “họ <i>không nhận ra</i> tôi ông ạ!” Ông Kakura thâm trầm: “Họ không nhận ra bà vì họ <i>chưa bao giờ thấy</i> bà”. Ý tưởng chủ đạo của truyện ta có thể nói chỉ gồm trong hai đoạn, một do cô bé Paloma nói về bà gác dan (ví bà như con nhím), và một của Kakuro trên đây.</p>
<p>Người đọc, trong tinh thần truy tìm tinh hoa của tư tưởng tác giả, có thể không cần đi xa hơn; dừng lại ở đây cũng đã vừa.    </p>
<p>Đoạn kết như thủ tục cần phải có của một cuốn truyện là cái chết của bà gác dan. Trong cảm giác lâng lâng nhờ dư vị đêm trước đi ăn tối với ông Nhật, sáng sau bà thức giấc, trở lại với công việc thường nhật của người gác dan là đẩy mấy thùng rác của chung cư ra tận vỉa hè chờ xe đến lấy và ra chợ. Bà nhìn thấy ông ăn xin vẫn lây lất hè đường quen thuộc hôm ấy đang múa may bất chấp xe cộ qua lại, bèn bỏ giỏ hàng chợ đến kéo ông vào lề. Một chiếc xe giao hàng buổi sớm ngang qua đấy đã xô vào bà. Renée Michel ngã xuống mắt còn đọc được giòng chữ sơn trên xe : “Giặt ủi Malavoin.”     </p>
<p>Như con khỉ của Trang Tử đã ăn hết phần chuối dành cho nó, ta còn chờ đợi gì trong cuộc sống: René Michel đã ngốn ngấu những quả chuối cuối cùng của đời bà hơi vội vã nhưng hãy còn may mắn hơn chán vạn phần số khác. Phút cuối trong ngắc ngoải bà nghĩ đến cô bé Paloma, ông Kakuro, bà Manuela là những người bạn đích thật của bà và thầm vĩnh biệt chú mèo ú Léon! Phần Paloma, cô đã bỏ ý định tự tử và đốt chung cư; cô nguyện rằng từ nay cô sẽ đi tìm cái đẹp khi đã thấu rõ ý nghĩa của chữ “luôn luôn” và chữ “không bao giờ nữa.”</p>
<p><strong><font size="3">… <i>đến việc thực hiện cuốn phim</i></font></strong><i>      <br /></i></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/le-herisson-the-hedgehog-movie-poster.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="le-herisson-the-hedgehog-movie-poster" border="0" alt="le-herisson-the-hedgehog-movie-poster" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/le-herisson-the-hedgehog-movie-poster_thumb.jpg" width="297" height="402" /></a></p>
<p>Ngôn ngữ viết không thể là ngôn ngữ điện ảnh. Với hai mẩu độc thoại xen kẽ nhà làm phim phải tìm cách thay thế. Người ta nghĩ ra cách giao cho cô bé Paloma chiếc máy quay phim để thu vào ống kính mọi ghi chép trên giấy của cô. Người ta cũng bỏ bớt đi vài nhân vật không cần thiết lắm, thí dụ chàng thư ký riêng của ông Kakuro là Paul Nguyễn, và sắp đặt cho ông này thêm một số việc do Paul đảm nhận trong sách. Tuy nhiên cuốn phim đã tương đối chấp hành đầy đủ công tác chuyển đạt chủ đích tác phẩm. Nó không bề thế, không đề nghị được cái khắc khoải của nỗi đời trong lời kể của bà gác dan qua các trang sách; nó khiêm tốn hơn nhưng người xem có cảm tưởng nhà làm phim có chỗ ngại ngùng sợ không dám làm đổ vỡ nét tế nhị của con nhím e có khi lầm lạc khiến nó xú lông ra chăng?</p>
<p>Rốt cuộc, như tôi đã nói một lần, đọc bài tóm tắt một cuốn sách (và cuốn phim) chẳng khác nghe trực tiếp truyền thanh trận bóng đá. Tốt hơn nên mua vé đi xem…</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23187/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Năm Rồng N&#243;i Chuyện Rồng C&#225;i</title>
		<link>http://damau.org/archives/23171</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23171#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 23 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Thức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Giới Tính]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23171</guid>
		<description><![CDATA[Theo tự điển, chữ rồng cái (dragon lady) có hai nghĩa: (1) Một phụ nữ mạnh mẽ, hống hách, ngang ngược; (2) Một phụ nữ nguy hiểm và quyến rũ (“femme fatale”).  Theo ngôn ngữ thông dụng, “dragon lady”  là những phụ nữ Á Đông có cá tính mạnh, dựa vào chồng con để tham gia quốc sự.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="justify">&#160;</p>
<p align="right">(<em>Xuất hiện lần đầu trên Việt Báo số Xuân Nhâm Thìn 2012</em>)</p>
<p><strong></strong></p>
<blockquote><p><strong>LTS:</strong>&#160; Danh từ “dragon lady” phát xuất từ Tây Phương, có tính cách miệt thị, thường dùng để ám chỉ một khuôn mẫu phụ nữ Á Châu xa lạ, bí hiểm, tham quyền, nhiều mưu mẹo. Ngày hôm nay danh từ “dragon lady” đã vượt ngoài khuôn khổ da vàng và đôi lúc bao gồm các phụ nữ da đen “mạnh miệng.” Tuy chưa ai gọi phụ nữ da trắng là “dragon lady,” Hilary Clinton đã một thời bị báo chí Mỹ ví là “phu nhân Macbeth” (người vợ xảo quyệt và tham quyền của Macbeth, đã xúi chồng cướp ngôi Duncan&#8211;vua Tô Cách Lan &#8211;trong thảm kịch nổi tiếng của Shakespeare.) Vì khái niệm “dragon lady” mang tích cách kỳ thị, có lẽ “rồng cái” là cách dịch sát nhất của tác giả Đinh Từ Thức cho chữ “dragon lady.” Tuy vậy, Da Màu mong được đón nhận những thảo luận từ quý độc giả về cách diễn dịch khái niệm “dragon lady” sang Việt ngữ. Với những tiến triển ở mặt lịch sử, văn hóa, xã hội và luật pháp hiện nay, có phải đây cũng là một danh từ đã lỗi thời, phát xuất từ thời đại thực dân khi quyền lực của phụ nữ và các chủng tộc chưa được coi là chính thống/hợp pháp? Khi đặt ra danh từ “dragon lady,” có phải cũng là cách Tây Phương “lạ hóa” Đông Phương, không khác chuyện Baudelaire sáng tác bài thơ “A Une Dame Créole” (“<em>Au pays parfumé que le soleil caresse</em> ….”) như cách so sánh một phụ nữ nô lệ da màu với một quốc gia lạc hậu nhưng quyến rũ, thơ mộng?</p>
<p>Để có sự đối chiếu và đồng thời nới rộng khuôn thảo luận, xin quý độc giả cũng đọc lại bài tiểu luận “<a href="http://damau.org/archives/18656" target="_blank">Phụ nữ Á Châu trong Phim Ảnh: Không Hả Hê, Không May Mắn</a>” của Jessica Hagedorn (bản dịch Nguyễn thị Hải Hà), đăng ngày 4 tháng 3, 2001 trên Da Màu.</p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>Rồng là một linh vật không có thật. Tiên cũng không có thật. Nhưng thường nghe nói ông tiên, bà tiên, cô tiên, mà không nghe nói rồng đực, rồng cái.</p>
<p>Tại Trung Quốc ngày xua, rồng có vẻ giống đực, vì tượng trưng cho nhà vua, trong khi một linh vật khác tượng trưng cho vợ vua, là phụng. “Long phụng” là hình ảnh của vua và hoàng hậu. Trước cửa cung điện chính tại Dinh mùa Hè – Di Hòa Viên – của nhà vua ở ngoại ô Bắc Kinh, có hai con long phụng bằng đồng. Theo lệ thường, long bên mặt, phụng bên trái; vua quan trọng hơn hoàng hậu. Sau khi thu tóm mọi quyền hành trong tay, Từ Hi Hoàng Thái Hậu ra lệnh đổi vị trí, phụng bên mặt, long bên trái. Vị thế này vẫn còn tồn tại đến nay.</p>
<p>Tại Việt Nam, theo sử Trần Trọng Kim: “Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân”. Rồi Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra trăm con. “Long Nữ” là tên riêng, hay chính bà là “rồng (cái)”? Quý vị nào biết, xin chỉ giáo.</p>
<p>Tựa “Rồng Cái” của bài này thật ra dịch từ tiếng Anh <i>“Dragon Lady”. </i>Đây là chữ mới xuất hiện trong tiếng Anh, chỉ mấy chục năm nay.</p>
<p>Wikipedia căn cứ theo Oxford English Dictionary nói rằng vào thế kỷ 18 và 19, người ta đã dùng chữ “dragon”, và ngay cả chữ “dragoness” để chỉ phụ nữ hăng say và áp đảo (fierce and aggressive), nhưng trong tiếng Anh không có chữ “Dragon Lady”, cho đến khi họa sĩ Milton Caniff sáng chế ra trong loạt truyện giải trí bằng tranh comic nổi tiếng của ông là “Terry and the Pirates”. Danh hiệu Rồng Cái (Dragon Lady) được dùng lần đầu ngày 6 January 1935.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/terry-and-the-pirates-dragon-lady.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="terry-and-the-pirates-dragon-lady" border="0" alt="terry-and-the-pirates-dragon-lady" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/terry-and-the-pirates-dragon-lady_thumb.jpg" width="250" height="387" /></a></p>
<p align="center"><em>Bìa truyện comic Terry and the Pirates của Milton Caniff</em></p>
<p>Họa sĩ Caniff tạo ra Rồng Cái, lấy cảm hứng từ một cuốn phim năm 1931, mang tựa “Daughter of the Dragon”, cuốn phim này lại dựa vào loạt truyện “The Daughter of Fu Manchu”, của Sax Rohmer.</p>
<p>Daughter of the Dragon do Anna May Wong (1905 – 1961) thủ vai một công chúa người Tầu, khá quái ác. Wong là diễn viên gốc Tầu đầu tiên nổi tiếng từ Hollywood đến Âu châu, diễn xuất từ thời phim câm sang phim nói. Qua phim <i>Con Gái Rồng </i>này,<i> </i>Wong trở thành Rồng Cái, tuy rằng khi phim này ra đời, chưa có chữ rồng cái.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon" border="0" alt="anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon_thumb.jpg" width="269" height="348" /></a></p>
<p align="center"><em>Nữ diễn viên Anna May Wong</em></p>
<p>Dù ra đời gần phố Tầu ở Los Angeles, trên nguyên tắc là người Mỹ, và trở thành diễn viên nổi tiếng, Wong vẫn bị coi là người Tầu, chỉ được cho đóng phim hạng B, hay những vai tầm thường như nữ tỳ hoặc người giúp việc. Năm 1935, Wong đã vô cùng thất vọng khi một vai quan trọng trong cuốn phim dựng theo truyện Đất Lành (The Good Earth) của nữ nhà văn Pearl Buck đã về tay một diễn viên người Đức, thay vì Wong.</p>
<p>Ngoài ra, theo luật cấm hôn nhân dị chủng, Wong không thể đóng phim có cảnh hôn người da trắng trên màn ảnh, dù người này đã hóa trang để đóng vai người Á Đông. Không có vai chính nam là người Á Đông, Wong không thể đóng vai nữ chính.</p>
<p>Wong luôn cố đề cao quê cha đất tổ, phản đối những vai trò hèn hạ do người Tầu đóng như trong phim <em>Daughter of the Dragon</em>, và lớn tiếng tố cáo nước Nhật trong vụ tạo cớ để chiếm Mãn Châu. Nhưng, báo chí của chính quyền Trung Hoa không ngớt lên án Wong làm xấu mặt phụ nữ Trung Hoa. Trong khi ấy, viện Đại học Bắc Kinh lại tặng Anna May Wong bẳng Tiến sĩ danh dự, năm 1932.</p>
<p>Wong nói một câu ngắn, chẳng những mô tả khá đầy đủ hoàn cảnh của mình bảy chục năm trước, mà ngày nay còn đúng cho cả những di dân muốn theo đuổi nghiệp đóng phim: <i>“Thật đáng buồn cho tình trạng bị phủ nhận bởi người Trung Quốc vì tôi ‘quá Mỹ’ và bởi các nhà sản xuất Hoa Kỳ vì họ thích chọn người chủng tộc khác đóng vai người Tầu”.</i></p>
<p>Ngày nay, theo American Heritage Dictionary, chữ rồng cái (dragon lady) có hai nghĩa: (1) Một phụ nữ mạnh mẽ, hống hách, ngang ngược; (2) Một phụ nữ nguy hiểm và quyến rũ, một “femme fatale”. Định nghĩa thì như vậy, nhưng trước hết, “dragon lady” thường được dùng để chỉ những phụ nữ Á Đông có cá tính mạnh, dựa vào chồng con để tham gia quốc sự. Lên Internet, google chữ “dragon lady”, thế nào cũng thấy xuất hiện danh tính ba bà Từ Hi Thái Hậu, bà Tưởng Giới Thạch, và Bà Ngô Đình Nhu. Vậy, bài này chỉ nói tới ba bà.</p>
<p><b>Rồng cái vua sau rèm</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Mặc dầu nhà Thanh có lệ đàn bà không dính tới việc nước, nhưng bà Từ Hi đã cai trị Trung Hoa trong 47 năm. Gần ba chục năm sau khi bà mất, chữ “rồng cái” (dragon lady) mới ra đời, nhưng ngày nay, bà được gọi là Rồng Cái.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress.png"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress" border="0" alt="The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress_thumb.png" width="290" height="337" /></a></p>
<p align="center"><em>Chân dung Từ Hi Thái Hậu</em></p>
<p>Từ Hi Thái Hậu (Cixi Tai Hou) sinh năm 1835 tại Mãn Châu, đúng một trăm năm trước khi chữ dragon Lady ra đời, mất năm 1908. Bà được tuyển vào cung làm phi tần của Hoàng Đế Hàm Phong (Xiamfeng) khi là một thiếu nữ. Nhờ sinh được con trai nối dõi, Bà được nâng lên hàng thứ phi, vì Hoàng Hậu không có con.</p>
<p>Năm 1890, vào hồi kết thức trận chiến nha phiến thứ nhì, liên quân Anh Pháp chiếm thủ đô Bắc Kinh, đốt phá bằng địa Di Hòa Viên, là cung điện cư ngụ mùa Hè của nhà vua ở ngoại ô Bắc Kinh. Vua và hoàng gia cùng quần thần phải chạy về lánh nạn tại Nhiệt Hà (Rehe), bây giờ là Thành Đô, Hà Bắc (Chengde, Hebei).</p>
<p>Tháng 8, 1861 Hàm Phong qua đời tại Nhiệt Hà, hoàng tử nối ngôi (con của thứ phi, sau thành Từ Hi Thái Hậu) mới 6 tuổi. Trước khi từ trần, Hàm Phong gọi các cận thần lại, lập ban nhiếp chính tám người, để giúp Hoàng Đế tương lai. Hoàng Hậu và Thứ Phi cũng được nhà vua gọi đến, nhắn nhủ hai bà hòa thuận, cùng nhau giúp vua con trưởng thành.</p>
<p>Sau khi Hoàng Đế Hàm Phong băng hà, Hoàng Hậu 25 tuổi được mang danh hiệu Từ Ân Thái Hậu (Ci’an Tai Hou). Thứ Phi 27 tuổi lên địa vị Từ Hi Thái Hậu. Khi Hàm Phong còn sống, Từ Hi đã âm mưu nắm quyền. Sau khi Hàm Phong băng hà, một mặt Từ Hi liên kết với Từ Ân Thái Hậu để cả hai cùng trị nước, mặt khác, chia rẽ ban nhiếp chính. Trong khi thi hài nhà vua còn đợi ngày tốt để được rước về kinh, Từ Hi cùng con trai về Bắc Kinh trước, liên kết với các phần tử bất mãn chống lại ban nhiếp chính. Vụ này coi như cuộc đảo chính trong cung, ban nhiếp chính bị lật đổ. Để tỏ lòng nhân từ, Thái Hậu Từ Hi cho quan đứng đầu ban nhiếp chính “được” chém đầu, thay vì bị tùng xẻo.</p>
<p>Từ đó, hai bà Thái Hậu ngồi sau rèm lo việc triều chính, được các nhà viết sử gọi là “Thùy Liêm thính chính”. Hai bà chọn niên hiệu cho vua con là Đồng Trị (Tongzhi) – cùng cai trị. Bà Từ Ân vốn ngây thơ hiền lành, chán việc triều chính, khiến quyền hành trong tay bà Từ Hi ngày càng tăng.</p>
<p>Năm 1872, khi vua Đồng Trị 17 tuổi, tuy là con ruột bà Từ Hi, nhưng cưới người vợ theo chỉ dẫn của bà Từ Ân. Cô này còn là cháu một kẻ thù của bà Từ Hi, khiến mối liên hệ mẹ chồng nàng dâu rất căng thẳng. “Đôi trẻ” Hoàng Đế và Hoàng Hậu quấn quít bên nhau, làm cho Thái Hậu Từ Hi ngứa mắt. Bà bắt Hoàng Đế phải xa vợ, cấm cung một nơi để lo việc nước. Chán cảnh lẻ loi, nhà vua cùng với bạn, lẻn ra ngoài Tử Cấm Thành, giả thường dân đi chơi điếm. Có tin đồn Hoàng Thượng mắc bệnh hoa liễu, và chết vì bệnh này năm 20 tuổi. Nhưng cũng có tin nhà vua băng hà vì bệnh đậu mùa. Hai tháng sau, Hoàng Hậu trẻ cũng qua đời. Có tin đồn bị đầu độc, nhưng vô bằng chứng.</p>
<p>Đồng Trị không con nối dõi. Từ Hi chọn một người cháu của mình, mới 4 tuổi, cho làm vua, lấy hiệu là Quang Tự (Guangxu) – thừa tự vinh quang. Hai bà Thái Hậu tiếp tục cai trị từ sau rèm. Đến khi bà Từ Ân qua đời năm 1881, bà Từ Hi nắm độc quyền trị nước. Vì bà Từ Ân qua đời đột ngột, khiến dư luận nghi bà bị đầu độc, nhưng không có bằng chứng.</p>
<p>Năm 1887, Hoàng Đế Quang Tự được 16 tuổi, đáng lẽ đủ tuổi để cai trị, nhưng bà Từ Hi vẫn tiếp tục nhiếp chính “theo thỉnh nguyện của quần thần”. Hai năm sau, Quang Tự phải lấy một người cháu của bà làm Hoàng Hậu. Thay vì thân thiết với Hoàng Hậu, Quang Tự lại gắn bó với một phi tần, khiến bà Tù Hi giận dữ.</p>
<p>Ở tuổi đôi mươi, Quang Tự trưởng thành vào đúng lúc nước Tầu thất bại trong trận Trung Nhật chiến tranh năm 1894, nên muốn canh tân đất nước để kịp thời đối phó với tình thế. Dưới ảnh hưởng của các nhà cải cách như Khang Hũu Vi (Kang Youwei) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao), Quang Tự muốn đổi mới Trung Hoa như Nhật và Đức.</p>
<p>Quang Tự họp bàn kế hoạch canh tân với các nhân vật chủ trương thay đổi, kể cả quân sự và dân dự. Chỉ trong một trăm ngày, Quang Tự công bố hơn một trăm biện pháp canh tân. Bà Từ Hi phản ứng bằng cách thẳng tay đàn áp: Quản thúc Quang Tự trong một cung điện trên hòn đảo nhỏ ở Đông Nam Hải (Zhongnanhai), cạnh Tử Cấm Thành, không cho tiếp xúc với bất cứ ai. Phía quân sự, sáu quân nhân trong nhóm Đàm Tự Đồng (Tan Sitong) bị giết. Đứng đầu phe dân sự là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu chạy thoát sang Nhật. Vụ này gọi là chính biến Mậu Tuất (1898).</p>
<p>Sau vụ này, Từ Hi Thái Hậu ra chiếu chỉ phán rằng Quang Tự hoàn toàn sai lầm, không xứng đáng với địa vị Hoàng Đế. Tuy không bị phế bỏ, nhưng sự nghiệp Quang Tự coi như chấm dứt.</p>
<p>Năm sau, 1900, có cuộc nổi dậy của Nghĩa Hòa Đoàn (Yi He Tuan). Môn phái này mang tính tôn giáo, vốn xuất phát từ tỉnh Sơn Đông, gồm đa số nông dân, sử dụng gươm giáo và quyền cước, người Tây phương gọi là “Boxer Rebellion”, nên còn được dịch là “Loạn Quyền Phỉ”. Thành viên phái này tin vào bùa phép, nghĩ rằng súng đạn không giết được họ. Vốn chống Thanh phò Minh, nhưng khi áp lực của Tây phương đè nặng trên Trung Hoa, họ quay sang phò Thanh diệt Dương, ủng hộ triều đình tiêu diệt người Tây phương.</p>
<p>Thấy Nghĩa Hòa Đoàn được dân chúng khắp nơi ủng hộ, bà Từ Hi nghĩ rằng họ có thể giúp bà chống ngoại xâm. Bà nói: “Có lẽ không thể trông cậy vào ma thuật của họ; nhưng chúng ta có thể nào không dựa vào tâm và trí của nhân dân? Trung Quốc ngày nay vô cùng yếu. Chúng ta chỉ có tâm và trí của nhân dân để dựa vào. Nếu chúng ta bỏ qua và mất sự ủng hộ của dân, chúng ta có cái gì để giữ nước?” Bà công khai ủng họ Nghĩa Hòa Đoàn, cùng lúc tuyên chiến với các cường quốc Tây phương. Chiến tranh nổ lớn, các phái bộ ngoại quốc bị vây hãm và giết hại. Bát quốc liên quân tiến chiếm Bắc Kinh, nhiều người cả hai bên chết và bị thương. Triều Đình phải chạy về Tây An (Xi’an).</p>
<p>Khi thấy Bát quốc liên quân khá mạnh, Bà lại cầm chân Nghĩa Hòa Đoàn, không cho đánh đến cùng. Liên minh Tây phương cũng không săn đuổi bà tới cùng. Họ cho người tới thương thuyết, bảo đảm vẫn tôn trọng địa vị của Bà. Từ Hi đồng ý hòa đàm, đưa tới hòa ước năm 1901, chịu bồi thường chiến phí cho Liên minh số tiền là 450 triệu lạng bạc, ngang với 450 triệu dân Trung Quốc, trả trong 39 năm, cả vốn lẫn lời thành trên 900 triệu lạng bạc, đổ đồng mỗi đầu dân hai lạng. Nước Mỹ làm một cử chỉ có ý nghĩa, dùng số tiền bồi thường về phần mình để phát triển giáo dục Trung Quốc, một phần cho người Trung Quốc đi du học, một phần mở trường tại Trung Quốc, Đại học Thanh Hoa (Tsinghua) nằm trong số này, trở thành đại học danh tiếng ngày nay.</p>
<p>Từ Tây An trở lại Bắc Kinh vào tháng Giêng 1902, bà Từ Hi thay đổi hoàn toàn. Bà bắt đầu cải cách mọi mặt, về chính trị, ban hành hiến pháp, về xã hội, bỏ tục phụ nữ bó chân, về giáo dục, thay đổi cách học và cách thi… Bà chủ trương thay đổi nhiều hơn cả đề nghị của những người bà chém đầu mấy năm trước. Để lấy lại uy tín và tạo hình ảnh Âu hóa trước dư luận, Bà cho mời họa sĩ Âu châu vào cung, vẽ hình bà mặc long bào, áo có thêu rồng của nhà vua, chứng tỏ mình là kẻ cầm quyền chính thống. Bà cho gọi một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, vào cung chụp một loạt hình của bà, là bộ ảnh duy nhất ghi lại cảnh Bà trong cung triều đình Trung Quốc vào đầu thế kỷ 20. Gây tranh cãi nhiều nhất vào thời đó là hình bà Từ Hi trong y phục Quan Âm, nhân vật biểu tượng của tình thương trong Phật Giáo. Người ta phản đối: “Hãy tưởng tượng, Hoàng Thái Hậu từng bị cho là người đoạt ngôi vua, giết hại dân và người ngoại quốc, rồi ăn mặc như Quan Âm là người tượng trưng cho tình thương?”</p>
<p><a href="http://www.asia.si.edu/explore/china/powerplay/" target="_blank">Bộ ảnh hiếm có về bà Từ Hi</a> đang được trưng bầy tại Freer/Sackler thuộc Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Á Châu của hệ thống The Smithsonian, tại Washington, DC. từ 24 tháng 9, 2011, đến sau Tết Rồng, 29 tháng 1, 2012.</p>
<p>Mối liên hệ giữa công chúng, triều Thanh và các cường quốc Tây phương vào đầu thế kỷ trước là cái vòng luẩn quẩn. Dân sợ vua quan, vua quan sợ nước ngoài, nước ngoài sợ dân. Dân sợ vua quan, vì vua quan có quyền thưởng phạt. Vua quan sợ nước ngoài, vì họ có thể mang quân tới lật đổ mình. Nước ngoài sợ dân, vì không thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán, họ không thể trực tiếp cai trị dân. Vậy, nước ngoài muốn trị dân, họ phải quay ngược vòng: Nắm đầu vua quan, để vua quan trị dân thay cho họ.</p>
<p>Bát quốc liên minh không lật đổ bà Từ Hi, giữ bà lại để bà trị dân, bắt dân đóng thuế để bồi thường cho mình. Chừng nào địa vị bà không bị lung lay, bà sẵn sàng làm vừa lòng nước ngoài, kể cả ngăn chặn dân chúng bài ngoại.</p>
<p>Có vẻ nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh ngày nay đã học thuộc bài học Tây phương đối với bà Từ Hi. Họ sẽ không bao giờ đem quân tới đánh và trực tiếp cai trị dân tộc Việt Nam. Họ nắm đầu đảng cầm quyền ở Hà Nội để cai trị dân Việt thay cho họ. Dân Việt không nộp tiền cho họ qua hình thức “bồi thường”, mà qua ngả “đấu thầu” họ thường thắng với tỉ lệ 90%.</p>
<p>Vừa lên cầm quyền, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải sang Bắc Kinh nhận lệnh. Lệnh ra sao? Bí mật, ai biết! Trong khi ấy, Chủ Tịch vô quyền Trương Tấn Sang đi Ấn đi Phi, nói năng mạnh bạo, nhưng lời nói của kẻ không có thực quyền, liệu có ích gì? Biết đâu, Bắc Kinh chả sắp xếp như vậy để che mặt thế gian. Kể cả chuyện “Hà Nội xích lại với Mỹ,” biết đâu chỉ là màn kịch đạo diễn từ Bắc Kinh.</p>
<p>Trong khi người dân Hà Nội liên tiếp biểu tình chống Tầu để giữ nước, có thể nước đã mất rồi, và đang do Bắc Kinh cai trị qua tay Hà Nội. Với những kẻ đang cầm quyền ở Hà Nội, chừng nào Bắc Kinh còn bảo đảm địa vị của họ, họ sẵn sàng làm theo tất cả những gì Bắc Kinh muốn. Cũng như bà Từ Hi sẵn sàng làm theo nước ngoài, nếu để bà được yên.</p>
<p>Ngày 14 tháng 11, 1908, Quang Tự qua đời, vẫn trong tình trạng bi giam lỏng. Cùng ngày, bà Từ Hy phong vương cho một đứa bé ba tuổi<b> </b>trong hoàng tộc lên ngôi, là Hoàng Đế Phổ Nghi (Puyi). Hôm sau, bà qua đời, hưởng thọ 74 tuổi.</p>
<p>Một trăm năm sau, ngày 4 tháng 11, 2008, kết quả giảo nghiệm xác vua Quang Tự cho biết ông bị đầu độc bằng chất arsenic. Theo tin CNN, chất độc này trong cơ thể ông cao gấp hai ngàn lần bình thường. Dư luận đoán rằng bà Từ Hi biết mình sắp chết, cho Quang Tự chết trước một ngày, để trừ hậu họa.</p>
<p><b>Giúp chồng thành bại</b></p>
<p>Bà Tưởng Giới Thạch (Madame Chiang Kai-shek) ra đời tại đảo Hải Nam vào năm bà Từ Hi làm cuộc chính biến Mậu Tuất (1898), và sống tới 106 tuổi. Trong cuộc sống hơn một thế kỷ, bà làm được nhiều việc lớn, và nhiều việc bị dị nghị; lời khen cũng lắm, lời chê cũng nhiều. Bà đã giúp chồng thành công, và khi chồng thất bại, người ta cũng đổ tại bà một phần. Trong Đệ Nhị Thế chiến, bà đã cố gắng nêu cao chính nghĩa của Trung Hoa, và tạo uy tín cho chồng bà sánh vai với Roosevelt, Churchill, và Stalin. Thông suốt văn hóa Trung Hoa và Tây phương, bà nổi tiếng cả trong nước và hải ngoại.</p>
<p>Ngoài vai trò là thư ký, là thông ngôn, và người phát ngôn của ông, ông còn cử bà vào nhiều chức vụ quan trọng, như Ủy ban Viện, đại biểu Viện lập pháp, Tổng quản không lục Trung Hoa, và năm 1945, là thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.</p>
<p>Sự nghiệp của một người chỉ có thể thẩm định khi nắp quan tài đóng lại (cái quan định phận). Vậy xin trích dịch lại sau đây nhận định của một số cơ quan truyền thông khác nhau, khi bà Tống Mỹ Linh (Soong Mei Ling) qua đời vào năm 2003:</p>
<p><i>Trích tin VOA viết từ Hồng Kông ngày 24 tháng 10, 2003:</i></p>
<p>Bà Tống Mỹ Linh, góa phụ cố lãnh tụ Đài Loan Tưởng Giới Thạch, đã qua đời tại nhà bà ở New York, thọ 106 tuổi.</p>
<p>Bộ Ngoại Giao Đài Loan đã loan báo về cái chết của Bà Tưởng Giới Thạch. Cờ rũ đã treo tại trụ sở Trung ương Quốc Dân Đảng tại Đài Bắc (Taipei).</p>
<p>Nhũ danh Tống Mỹ Linh, bà là người trẻ nhất trong ba chị em nổi tiếng của Trung Hoa, bà Tưởng đã được nuôi dưỡng và giáo dục tại Hoa Kỳ. Bà tốt nghiệp hạng danh dự tại trưởng đại học Wellesley ở Massachusetts năm 1917 (19 tuồi).</p>
<p>Bà mang danh hiệu “Bà Tưởng” (Madame Chiang) sau khi kết hôn với lãnh tụ đảng cầm quyền Trung Hoa là Tưởng Giới Thạch vào năm 1926…</p>
<p><i>Trích bài báo trên tờ Guardian (Anh) ngày 5 tháng 11, 2003:</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Tống Mỹ Linh, hay Bà Tưởng Giới Thạch, một thời nổi tiếng khắp thế giới vừa đẹp vừa là Rồng Cái siêu quyền lực vợ của nhà cai trị độc tài Trung Hoa, sống những năm cuối đời ẩn dật trong một apartment lớn nhìn ra Gracie Park ở Upper East Side trước khi qua đời vào ngày 23 tháng 10 ở tuổi 106. Sự ẩn dật này không phải chỉ dản dị là tuổi già hay bệnh tật. Quốc Dân Đảng (Kuomintang) đã cai trị Đài Loan sau khi bà và chồng chạy khỏi lục địa Trung Hoa vào năm 1949, đang tự tái sinh như một đảng dân chủ hiện đại, và họ không muốn diện mạo từ thời độc tài trong quá khứ xuất hiện…</p>
<p><i>Trích bài báo tạp chí TIME 24 tháng 10, 2003:</i></p>
<p>Giai đoạn cực thịnh của Bà Tưởng là thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, khi bà tới Hoa Kỳ như là người phát ngôn của chồng bà, đọc một bài diễn văn khích động trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, kêu gọi giúp đỡ chống Nhật. Một trí thức có sức lôi cuốn, bà đã đương đầu với những tư tưởng cổ truyền về người phụ nữ Trung Hoa chỉ biết im lặng vâng lời, bà đã đảm nhận vai trò lãnh đạo chính trị, một thời điều khiển cả không lực của ông Tưởng. Là thần tượng của thân hữu Tây phương hiện đại và không lùi bước trong việc chống lại bành trướng của phe Mao, Bà Tưởng và chồng bà đã được trọng vọng tại Hoa Kỳ, và bà đã xuất hiện trên bìa báo TIME tới ba lần. Nhưng trong nước, một số người cho là bà kiêu căng và là một người bào chữa cho đường lối cai trị độc tài của chế độ Quốc Dân Đảng. Sau khi chồng bà qua đời năm 1975, bà sang Hoa Kỳ, và sống cuộc đời ngoài ánh đèn chính trị…</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Madame-Chiang-Kai-shek.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Madame-Chiang-Kai-shek" border="0" alt="Madame-Chiang-Kai-shek" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Madame-Chiang-Kai-shek_thumb.jpg" width="279" height="253" /></a></p>
<p align="center"><em>Chân dung bà Tưởng Giới Thạch</em></p>
<p><i>Trích báo New York Times, ngày 25 tháng 10, 2003:</i></p>
<p>Là một diễn giả thông thạo Anh ngữ và theo Thiên Chúa Giáo, như là một người mẫu mà nhiều người Mỹ mong muốn Trung Hoa trở thành, Bà Tưởng đã chạm đúng tần số của thính giả người Mỹ khi bà du hành khắp nước, bắt đầu từ năm 1930, vận động tài chính và ảnh hưởng để giúp cho chính quyền của chồng bà. Đối với nhiều người Mỹ, bà có vẻ biểu tượng của một Trung Hoa hiện đại, có học, thân Mỹ mà họ mong muốn xuất hiện – dù rằng có nhiều người Trung Hoa cho rằng bà là một người tham nhũng, thèm khát quyền lực, biểu tượng của một quá khứ họ cố thoát khỏi…</p>
<p>- Tạp chí LIFE gọi bà là “Người phụ nữ quyền lực nhất thế giới”</p>
<p>- Nhà văn Ernest Hemingway gọi bà là “Hoàng hậu của Trung Hoa”</p>
<p>- Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ Eleanor Roosevelt nhận xét: “Bà ấy có thể nói rất hay về dân chủ. Nhưng bà ấy không hiểu làm thế nào để sống dân chủ”.</p>
<p>- Bà Tưởng tự nói về mình: “Chỉ có một thứ Á Đông về tôi là cái mặt của tôi”.</p>
<p>- Tuyên bố của Tổng Thống George W. Bush: Bà Tưởng là một người bạn thân của Hoa Kỳ trong suốt đời bà, và đặc biệt trong khi nói lên cuộc chiến đấu của thế kỷ trước. Nhiều thế hệ người Mỹ sẽ nhớ mãi và kính trọng sự thông minh cùng với cá tính mạnh mẽ của bà. Thay mặt nhân dân Hoa Kỳ, tôi gửi lời chia buồn tới những người trong gia đình Bà Tưởng và những người ái mộ khắp thế giới.</p>
<p><b>Rồng Cái tự biện minh</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, sinh năm 1924, qua đời 2011. Bà Từ Hi qua đời trước khi chữ Rồng Cái ra đời. Không rõ bà Tưởng có biết người ta gọi mình là Rồng Cái không. Bà Nhu chẳng những biết, mà còn có cơ hội tự giải thích tại sao người ta gọi mình là Rồng Cái. Khi bà qua đời vào tháng Tư năm 2011, nhiều bản tin đã nhắc tới danh hiệu Rồng Cái của bà. Hãng CBS loan bản tin của AP ngày 27 tháng 4, với tựa: Bà “Rồng Cái” Ngô Đình Nhu qua đời tại Rome. Tờ Independent (Anh) mở đầu bài viết của Martin Childs: “Bà Ngô Đình Nhu được mô tả như “Rồng Cái” hay “Lucrezia Borgia Á Đông”.</p>
<p>Qua bài viết của Joseph Gregory ngày 27 tháng 4, 2011 trên New York Times, có những đoạn đáng chú ý sau đây:</p>
<p>Cha mẹ đặt tên bà là Trần Lệ Xuân, “mùa Xuân đẹp”. Với tư cách là người chính thức tiếp khách của vị tổng thống độc thân Nam Việt Nam là anh chồng bà, bà được chính thức gọi là Bà Ngô Đình Nhu. Nhưng đối với các nhà báo Mỹ, giới ngoại giao và các quân nhân vứơng mắc trong vòng những mưu toan của Sài Gòn vào đầu thập niên 1960, bà ấy là “Rồng Cái”, biểu tượng của tất cả những gì sai quấy với nỗ lực của Mỹ để cứu đất nước bà khỏi chủ nghĩa cộng sản….</p>
<p>Vào những ngày ông Diệm mới cần quyền, bà nghe nói người đứng đầu quân đội là tướng Nguyễn Văn Hinh khoác lác rằng ông sẽ lật đổ Thủ Tướng và bắt bà làm người tình, bà đối diện ông tại một cuộc tiếp tân ở Sài Gòn. Theo tuần báo TIME, bà đã làm ông Tướng sửng sốt khi nói rằng: “Ông không bao giờ lật đổ chính quyền này, vì ông không có gan. Và nếu ông lật đổ, ông sẽ không bao giờ có được tôi, vì tôi sẽ móc cổ ông trước”.</p>
<p>Theo nhà báo William Prochnau: “Bà Nhu nhìn và hành động giống như người đàn bà quái ác chết người của loạt truyện bằng tranh nổi tiếng thời bấy giờ “Terry and the Pirates”, nên người Mỹ đặt cho bà cái tên của nhân vật đó, là “Rồng Cái”.</p>
<p>Trong cuộc phỏng vấn của chương trình “Vietnam: A Television History” (Lịch sử Việt Nam bằng truyền hình) tại Roma ngày 02 tháng 11, 1982, bà Nhu đã được hỏi thẳng tại sao báo Mỹ gọi bà là Rồng Cái. Sau đây là những câu hỏi và trả lời của chính bà:</p>
<p><i>Người phỏng vấn: </i></p>
<p>Thưa Bà Nhu, vào thời Tổng Thống Diệm, Bà được coi như Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam. Bà có thể cho chúng tôi biết về vai trò của bà không?</p>
<p><i>Bà Nhu:</i></p>
<p>Vai trò của tôi. Không được đâu, nó quá khó đề mô tả. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi giống như một con mèo con, được Chúa cắn cổ tung vào đấu trường với đám sư tử, nhưng tôi tin rằng chỉ bởi vỉ tôi sinh ra dứơi dấu hiệu sư tử, và tôi tin rằng tôi có thể sống với họ. Nhưng thật ra, đó là câu truyện quá dài để nói bây giờ, tôi đã viết ít nhất ba cuốn sách về nó, nên tôi muốn giữ lại.</p>
<p><i>Người phỏng vấn:</i></p>
<p>Còn về việc báo chí Tây phương đã phản bà như thế nào? Nhân tiện, có chuyện người ta gọi bà là Rồng Cái. Bà có muốn bình phẩm về chuyện này?</p>
<p><i>Bà Nhu:</i></p>
<p>Tôi tin rằng khi người ta gọi tôi như vậy, chỉ bởi vì người ta nhìn thấy tôi không sợ hãi, và đó là sự thật. Chồng tôi, ông ấy đã rất không vui với một bên là ông anh, và bên kia là vợ. Ông ấy đã coi cả hai chúng tôi đều như trẻ con trong rừng, là người tuyệt đối vô tâm – nghĩa là người không có cảm giác thực tế, khi đụng độ với con mồi, mà mình không có cảm tưởng mình chiến đấu với những con thú khủng khiếp. Và ông ấy thường nói với anh của ông ấy rằng: Anh, anh nên là một thầy tu, và bà (với tôi), bà nên ở nhà và kín tiếng như một bà nội trợ. Và tôi nói, dĩ nhiên, nếu chỉ là mình tôi, chắc là tôi theo ngay lời khuyên của chồng tôi, trở về nhà, khâu vá, đan áo, và nấu cơm. Đó chính là những điều tôi thích ở đời. Nhưng khi tôi ở trong nước tôi, dân chúng tới nói với tôi, bà nên làm cái này, bà nên làm việc kia. Và tôi thấy rõ rằng, nếu tôi không làm những điều đó, thì chẳng có ai làm.</p>
<p>Vì thế, tôi tổ chức mọi sự sẵn sàng để trao cho họ ngay vì tôi không muốn, không thích cuộc sống của tôi lúc đó, không một tí nào. Và họ cho rằng, họ gọi tôi là Rồng Cái bởi vì họ thấy rằng tôi là người tuyệt đối cương quyết, rằng không cái gì có thể ngăn chặn tôi. Chỉ có một điều họ có thể, nếu họ có thể ngăn cản tôi, nếu họ muốn cản tôi, họ phải giải thích cho biết tại sao tôi sai. Nếu họ không giải thích được, tôi cóc cần.</p>
<p>Vì thế, họ thấy rất rõ rằng tôi không hề sợ cái gì cả. Và cô (người phỏng vấn) có biết rằng tại sao họ gọi tôi như vậy? Họ mời tôi, báo chí, mời tôi đi. Lúc đầu họ nói, “ông Nhu, ông bà Nhu, không Nhu, tin hấp dẫn,” và&#160; “Ông Bà ấy phải rời khỏi đất nước.” Họ nói mời tôi đi để giải thích địa vị của tôi trước diễn đàn [công luận] Hoa Kỳ, trước báo chí. Tôi rời nước tôi, nhưng khi mới tới Belgrade, tại đó, họ nói với tôi rằng theo Bộ Ngoại Giao [Hoa Kỳ], tôi không nên tới Mỹ vì họ không bảo đảm an toàn cho tôi.</p>
<p>Thế ra, họ mời tôi là để tôi rời nước tôi. Nhưng ngay khi tôi rời nước tôi, họ nói đừng tới. Tôi nói, tôi rời nước tôi chỉ là để tới đó, và nước Mỹ hãy chứng tỏ với thế giới rằng họ không đủ khả năng bảo vệ một phụ nữ yếu đuối trên lãnh thổ của họ.</p>
<p><i>Người phỏng vấn:</i></p>
<p>Như vậy, vào tháng Mười năm 1963, bà đã thất vọng với người Mỹ?</p>
<p><i>Bà Nhu:</i></p>
<p>Vào thời gian đó họ mời tôi và sau khi tôi rời nước tôi họ lại nói như thế [là đừng tới nước Mỹ]. Tất nhiên, tôi thất vọng. Và vì thế mọi người nói, coi tôi như một con Rồng Cái – có thể vì tôi dám đương đầu họ.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0076.gif"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image007[6]" border="0" alt="clip_image007[6]" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0076_thumb.gif" width="2" height="2" /></a><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/MmeNgoDinhNhu.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="MmeNgoDinhNhu" border="0" alt="MmeNgoDinhNhu" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/MmeNgoDinhNhu_thumb.jpg" width="204" height="318" /></a></p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0077.gif"><em><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image007[7]" border="0" alt="clip_image007[7]" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0077_thumb.gif" width="2" height="2" /></em></a><em>Chân dung bà Ngô Đình Nhu (Bìa báo Life, 9 tháng Tám, 1963)</em></p>
<p><b></b></p>
<p>Tóm lại, Rồng Cái, mỗi bà một vẻ, chẳng ai giống ai. Chắc thế gian không chỉ có ba bà Rồng Cái. Các bà này thuộc loại “Hiển Long Nữ,” loại Rồng Cái xuất đầu lộ diện, dễ biết để tránh. Có thể còn nhiều “Tiềm Long Nữ,” Rồng Cái ẩn mặt, rất nguy hiểm vì không biết mà đề phòng.</p>
<p>Ngoài Rồng Cái gốc người, còn có Rồng Cái gốc đồ vật. Loại phi cơ trinh thám nổi tiếng của Mỹ là “U2” cũng được gọi là Rồng Cái (dragonlady). Theo Hội Rồng Cái (U2-Dragonlady Association), <a href="http://www.u2dla.org/">http://www.u2dla.org/</a> &#8211; bao gồm thành viên hoặc cựu thành viên của lực lượng không quân Hoa kỳ và những công ty nhân sự đã có quan hệ với phi cơ U2), hiện nay, bất cứ giờ nào, ngày hay đêm, 24 giờ một ngày, 365 ngày một năm, đều có Rồng Cái quan sát nơi nào đó trên thế giới, theo dõi hành tung của người ta.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/U2dragonlady.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="U2dragonlady" border="0" alt="U2dragonlady" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/U2dragonlady_thumb.jpg" width="404" height="270" /></a></p>
<p align="center"><em>Phi cơ trinh thám U2 dragonlady</em></p>
<p>Năm Rồng, mong chư quân tử khắp nơi chớ dỡn mặt với Rồng Cái.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23171/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

