<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Nghiên Cứu</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/nghiencuu/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>S&#212;NG MEKONG TRƯỚC NGUY CƠ 2012: C&#217;NG PH&#193;T TRIỂN VỚI &#8220;TINH THẦN MEKONG&#8221;</title>
		<link>http://damau.org/archives/23247</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23247#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Jan 2012 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Thế Vinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tế]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23247</guid>
		<description><![CDATA[Con Sông Mekong sẽ là một sợi dây nối kết các quốc gia chứ không phải là nguyên nhân gây chia rẽ. Năm 2012, sẽ là một năm của ước vọng hàn gắn/ healing process những đổ vỡ, phục hồi niềm tin, tiến tới triển vọng hợp tác trong “Tinh Thần Sông Mekong / Mekong Spirit” như một mẫu số chung ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="right">Gửi Nhóm Bạn Cửu Long &amp; VN 2020 Mekong Group</p>
<p>&#160;</p>
<blockquote><p><i>Các quốc gia thành viên ký kết cùng đồng ý là “bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.” </i>Điều 7 trong &quot;Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong&quot; 1995<i> </i></p>
<p><i>“Sông Mekong đang bị đe dọa nghiêm trọng vì sự lạm dụng nguồn nước và hậu quả của biến đổi khí hậu. Nếu không có một chính sách khai thác thận trọng và hợp lý các nguồn tài nguyên sông Mekong, con sông hùng vĩ này không thể nào sống còn”. </i>Abhisit Vejjajiva, Hua Hin MRC Summit 2010</p>
</blockquote>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>     <br />NỔ BÙNG THỦY ĐIỆN VÙNG HẠ LƯU </strong></p>
<p>Khai thác thủy điện không phải chỉ có trên con sông Lancang – tên nửa chiều dài sông Mekong thuộc lãnh thổ Trung Quốc, mà ngay vùng hạ lưu cũng đang có hiện tượng <i>“nổ bùng thủy điện / explosion of hydropower”</i>. Chỉ riêng nước Lào nhỏ bé [diện tích chỉ lớn hơn tiểu bang Utah của Mỹ, dân số khoảng 6.5 triệu, ít hơn cả dân số thành phố Sài Gòn] vậy mà đã có hơn 77 dự án đập trên các phụ lưu và dòng chính sông Mekong, hoặc đã hoàn tất, hoặc đang xây hoặc sắp được triển khai. Phần lớn lượng điện sản xuất từ xứ Triệu Thớt Voi <i>“Lane Xang – the land of a million elephants”</i> này là nhằm thu về ngoại tệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng [10-15% mỗi năm] của hai nước láng giềng là Thái Lan và Việt Nam.</p>
<p>So với trước đây, khai thác thủy điện sông Mekong nay có phần dễ dàng hơn khi mà nguồn tiền đầu tư có thể đến từ những ngân hàng thương mại địa phương thay vì phải được tài trợ từ các tổ chức tài chánh quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới / World Bank, Ngân hàng Phát triển Á châu / ADB.</p>
<p>Nhưng rõ ràng vẫn có rất nhiều khiếm khuyết trong các dự án đập hạ lưu trên dòng chính sông Mekong. Thứ nhất là khả năng điều hợp xử dụng nước ra sao cùng với chuỗi đập thượng nguồn của Trung Quốc, và không ai trả lời được là liệu có đủ nước hay không để vận hành các turbines quanh năm nhằm bảo đảm công suất cho mỗi con đập [ cũng là bảo đảm lợi nhuận ]; khi mà công ty xây đập chỉ biết về xây dựng nhưng lại không có kỹ năng về thủy điện.</p>
<p>Giới lãnh đạo các quốc gia Mekong, phần do thiếu hiểu biết hoặc cố tình không biết / <i>wilful ignorance </i>– theo ngôn từ của Milton Osborne, [5] nên chỉ thấy những lợi nhuận trước mắt, mà không quan tâm gì tới hậu quả nghiêm trọng lâu dài mai sau. Cư dân trong lưu vực sông Mekong liệu có hạnh phúc hơn không với những bước phát triển không bền vững / <i>unsustainable development</i> như hiện nay. Như với người dân Lào hiền hòa, từ bao nhiêu ngàn năm nay – Con Sông Mẹ / Mea Nam Khong [ tên Lào Thái của con sông Mekong ] luôn luôn là mạch sống của họ với phong phú nguồn cá và lúa gạo. Nay thì nếp sống cổ truyền và an bình ấy bị đảo lộn, đang bị các chánh trị gia / hay đúng hơn là thiểu số lãnh đạo xem dân họ như quá lạc hậu, nên cần mau chóng “canh tân”, bằng tận khai thác nguồn thủy điện cho dù có những bằng chứng là họ đang giết chết Con Sông Mẹ ấy. Nông và ngư dân Lào thì không được biết về mối hiểm họa, họ lại không có tiếng nói và nếu có thì với một chánh quyền “không dân chủ” tiếng nói ấy cũng chẳng được lắng nghe.</p>
<p><strong>TỪ CON ĐẬP XAYABURI TỚI DON SAHONG</strong></p>
<p>Xayaburi đã và đang gây nhiều tranh cãi vì là con đập dòng chính đầu tiên vùng hạ lưu đang được Lào và Thái Lan xây dựng. Tưởng cũng nên ghi lại đây là cho dù Hội Nghị Ủy Hội Sông Mekong ở Siem Reap [ 12/08/2011 ] đã có quyết định tạm hoãn dự án đập Xayaburi, nhưng Lào thì không bày tỏ một cam kết là sẽ ngưng xây con đập này. Surasak Glahan, phát ngôn viên của Ủy Hội Sông Mekong / MRC cho biết là : “Trong Hội nghị Siem Reap, phái đoàn Lào đã không đề cập gì tới dự án đập Xayaburi.” Và Ủy Hội Sông Mekong và các quốc gia thành viên khác đã chính thức gửi văn thư tới chánh phủ Lào yêu cầu cung cấp thông tin về con đập Xayaburi nhưng <i>không được một hồi âm.</i></p>
<p>Nay tên con đập Don Sahong cũng đang rất được lưu ý và nhắc tới; tuy là con đập nhỏ nơi cực nam của đất Lào, sát biên giới Cam Bốt khoảng cách chỉ hơn 1 km, nhưng lại được xây dựng ngay trên thác Khone, nơi được coi như một khu bảo tồn sinh thái phong phú nhất / global diversity value, nơi có triển vọng được xem là vùng <i>Đất ngập Ramsar / Ramsar Wetlands</i> có tầm quan trọng toàn cầu [Ramsar Convention on Wetlands là một thỏa ước liên quốc gia được ký kết tại Ramsar [02/ 02/ 1971] bờ nam biển Caspian của Iran, với mục đích bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập qua sự hợp tác từ các cấp địa phương, cấp vùng, quốc gia và quốc tế ]. Và hơn thế nữa, thác Khone cũng là trọng điểm của các loài di ngư từ Biển Hồ Cam Bốt ngược dòng lên rất xa trên khúc sông Mekong thượng nguồn Lào Thái để sinh sản. Để qua thác, các loài cá phải bơi qua các kênh nước /channels thác Khone – nơi có hàng ngàn đảo nhỏ với chằng chịt những kênh rạch nhưng chỉ có vài kênh nước chính là cá có thể lội qua được để lên thượng nguồn, trong đó quan trọng nhất phải kể tới con kênh Hou Sahong dài 7 km từ đảo Don Sahong đến đảo Don Sadam, vì kênh nước này rộng và cũng đủ nước quanh năm để cá có thể lội ngược dòng ngay cả trong mùa khô. Dự án Don Sahong cũng có thể làm tuyệt chủng / extinction hai loài cá hiếm qúy Pla Beuk / Pangasianodon gigas và Irrawaddy Dolphin, được coi là hai chủng loại quan trọng / <i>flagship species </i>biểu tượng cho sự lành mạnh của hệ sinh thái Sông Mekong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1A_-Pla-Beuk-Catfish.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H1A_-Pla-Beuk-Catfish" border="0" alt="H1A_-Pla-Beuk-Catfish" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1A_-Pla-Beuk-Catfish_thumb.jpg" width="349" height="234" /></a></p>
<p align="center"><i>Cá Pla Beuk / Pangasianodon gigas [nguồn: Tan S. Bunwath / WWF Cambodia] </i></p>
<p><i></i></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1B_-Mekong-Dolphin.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H1B_-Mekong-Dolphin" border="0" alt="H1B_-Mekong-Dolphin" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1B_-Mekong-Dolphin_thumb.jpg" width="379" height="213" /></a></p>
<p align="center"><i>Cá Irrawaddy Dolphin Mekong [nguồn: Kratie Province Government, Cambodia] </i></p>
<p><i></i></p>
<p>Đã có rất nhiều chứng cớ là con đập thủy điện Don Sahong, tuy chỉ cao khoảng 30-32 m với công suất 240-360 MW [nhỏ nhất so với 11 dự án dòng chính vùng hạ lưu] nhưng lại có tác hại vô lường trên toàn hệ thủy sinh thái nhất là đối với nguồn cá phong phú của con sông Mekong, vì đây là điểm quy tụ tối đa của các đoàn di ngư / migratory fish trên sông Mekong. Phần lớn lượng cá mà ngư dân Lào và Thái lưới bắt được trên thượng nguồn cũng là từ các đoàn di ngư lội ngược dòng từ thác Khone. Kể cả nguồn cá của các phụ lưu lớn sông Mekong như sông Mun [Thái], sông Xedon, sông Xebanghieng [Lào] cũng phụ thuộc vào các đoàn di ngư từ vùng ghềnh thác này. [4]</p>
<p>Giới am hiểu và theo dõi tình hình nước Lào, nhận định trường hợp con đập Don Sahong có một lịch sử lâu dài hơn nhiều, phản ánh một nền cai trị rất phức tạp theo lãnh địa của xứ Lào. Nhà nước Lào tuy là một chánh quyền Đảng trị, đảng Cộng Sản Lào, giống mô hình Việt Nam – nhưng vẫn không tránh được nét phong kiến gia đình trị trong hệ thống ấy. Điển hình là quyền lực của gia đình Siphadone phía Nam Lào. Khamtay Siphadone tuy không còn là tổng thống Lào [1998 – 2006], nhưng gia đình ông thì từ trước đó và cả sau này vẫn cứ thống lĩnh một tiểu vương quốc phía Nam, trong đó có vùng thác Khone hay còn có tên gọi là Tứ Thiên Đảo / See Phan Done thuộc tỉnh Champasak. Rất sớm, vào giữa thập niên 90s, gia đình Siphadone đã cho phép công ty Mã Lai xây dựng một trung tâm du lịch tráng lệ phía trên vùng thác Khone: bao gồm một khách sạn 5 sao với 2,000 buồng, một sân Golf 18 lỗ với hai sòng bài và cả một sân bay có thể đón loại phản lực cơ Boeing 737. Dự án ấy phải tạm ngưng do cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu 1997. Nhưng rồi một kế hoạch khác cũng có liên hệ tới dự án khu du lịch, do người con trai của Khamtay Siphadone, nguyên thống đốc tỉnh Champasak, ký kết với một công ty Mã Lai khác có tên là Mega First Corporation Berhad, tiến hành xây đập thủy điện Don Sahong ngay trên thác Khone nhằm cung cấp điện cho khu du lịch mà phần lớn sở hữu là của gia đình Siphadone và cả bán điện cho Cam Bốt và Thái Lan.</p>
<p>Thấy được mối hiểm nguy của con đập Don Sahong trực tiếp đối với vựa cá của Cam Bốt nên cuối năm 2007, Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt / <i>Cambodian National Committee</i> đã gửi thư phản đối tới chánh phủ Lào, nhưng <i>hoàn toàn “không được hồi âm”.</i> Tháng 11, cũng năm 2007 tại Hội nghị Siem Reap, phái đoàn Cam Bốt và các tổ chức NGO một lần nữa lên tiếng phản đối dự án đập Don Sahong, và yêu cầu đáp ứng từ Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong / MRC Secretariat, và sau đó thì MRC cũng gửi bản lượng giá với <i>“những nhận định chỉ trích / critical”</i> về con đập Don Sahong tới chánh phủ Lào, và một lần nữa bị chánh phủ Lào <i>“coi như không có”</i> và vẫn cứ tiến hành ký kết bản Hợp đồng Dự án Phát triển / Project Development Agreement với công ty Mã Lai Mega First để tiếp trục triển khai con đập thủy điện Don Sahong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H2_-Don-Sahong-Dam.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H2_-Don-Sahong-Dam" border="0" alt="H2_-Don-Sahong-Dam" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H2_-Don-Sahong-Dam_thumb.jpg" width="270" height="439" /></a></p>
<p align="center"><i>Đập Thủy Điện Don Sahong 240-360 MW trên Thác Khone [nguồn: Milton Osborne, The Mekong River Under Threat] </i></p>
<p>Thủ tướng Cam Bốt Hun Sen cũng đã tới Lào [03/2008] để thảo luận về dự án đập Don Sahong do ảnh hưởng di hại trực tiếp tới Cam Bốt. Nhưng sau đó, theo Milton Osborne với lý do thật khó hiểu là Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt nhận được chỉ thị là phải ngưng chỉ trích công khai / public criticism dự án đập Don Sahong [5].</p>
<p><i>[Tưởng cũng nên ghi lại ở đây là Cam Bốt cũng có dự án đập thủy điện Sambor – cùng với Don Sahong, được coi như một trong hai “tử huyệt” đối với các loài cá sông Mekong] </i></p>
<p>Điều đó có nghĩa là dự án đập Don Sahong sẽ vẫn cứ được tiến hành và chánh phủ Lào thì được chia 20% cổ phần / shares của dự án. Don Sahong tuy nhỏ hơn cả những con đập phụ lưu trên đất Lào, nhưng lại có tầm quan trọng của một <i>“phát súng thi ân / coup de grâce”</i> đối với cả một nguồn cá nước ngọt phong phú nhất của hành tinh này, có nghĩa làm mất 80% nguồn protein của hàng triệu cư dân phụ thuộc vào nguồn cá [3 triệu tấn/ năm], và sẽ ảnh hưởng lâu dài hơn nữa tới tình trạng dinh dưỡng vốn đã thiếu thốn từ bao năm rồi.</p>
<p><i>“Cho dù các quốc gia Mekong khác nói gì đi nữa, thì họ – đây là Lào và Thái, vẫn quyết tâm tiến tới trong năm 2012 này.”</i> Một cựu viên chức trong phân bộ thủy điện Lào, phát biểu với yêu cầu được ẩn danh, là chánh phủ Lào đã dứt khoát có quyết định xây con đập Xayaburi. <i></i></p>
<p>Piaporn Deetes, điều hợp viên truyền thông Thái Lan của tổ chức Mạng lưới Sông Quốc tế / IRN đã nhận định: <i></i></p>
<p><i>“Cố tình hoạt động bên ngoài tầm theo dõi của Ủy Hội Sông Mekong, Thái Lan và Lào đã gây tổn thương cho tinh thần hợp tác vùng và những nguyên tắc của Hiệp định Sông Mekong 1995; và cũng không có gì ngạc nhiên về sự vận động mạnh mẽ của công ty xây đập Ch.Karnchang để tiến tới, và cũng là điều khó có thể chấp nhận được khi chánh phủ Thái đã cúi mình trước tập đoàn xây đập thay vì phải bảo vệ quyền lợi của dân chúng.” </i></p>
<p>Phillip Hirsch, giám đốc Úc Châu của Trung Tâm Tài Nguyên Mekong, thuộc Đại học Sydney cho rằng <i>“Không chỉ có những mất mát về hệ sinh thái; những con đập còn có những ảnh hưởng tác hại to lớn về phương diện kinh tế. Theo một cuộc khảo sát mới đây, cái giá về kinh tế phải trả cho tổn thất về môi trường có thể lên tới 274 tỉ MK.” </i>[8]<i> </i><i></i></p>
<p>Không những thế, Lào còn thông báo cho Ủy hội Sông Mekong / MRC dự định tiến hành các dự án khác trên dòng chính và phụ lưu sông Mekong. Tưởng như rất vô lý nhưng điều ấy thì vẫn cứ xảy ra !</p>
<p>Và rõ ràng, như một mẫu ứng sử riêng lẻ của nhà nước Lào, nhưng có tính cách liên tục và nhất quán: <i>Không nghe, không hồi đáp, vẫn tiến hành</i>: đó là cách hành xử không thể gọi là văn minh trong bang giao quốc tế ở thế kỷ 21 này. Chánh phủ Lào đã chứng tỏ là không tôn trọng tinh thần của <i>Điều 7 trong &quot;Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong&quot; 1995 </i>đã ký kết và đơn phương chọn quyền lợi riêng tư ngắn hạn nhưng với cái giá phải trả của các nước lân bang. Cho đến nay những khuyến cáo và khả năng điều hợp của MRC đã hơn một lần tỏ ra vô hiệu.</p>
<p><strong>TỪ NGHIÊN CỨU “LƯỚI BẮT VÀ NUÔI CẤY 2008” </strong></p>
<p>Cách đây hơn 3 năm [12/2008] Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong cho ấn hành bản nghiên cứu với nhan đề “Lưới Bắt và Nuôi Cấy / Catch and Culture” đã nêu ra 5 câu hỏi vấn nạn như sau:</p>
<p>(1) Đặc tính và tầm quan trọng của các đoàn di ngư / fish migration trên sông Mekong ra sao? (2) Ảnh hưởng rào chắn của những con đập trên các đoàn di ngư ra sao? (3) Hiệu quả của các đường dẫn cá / fish-passage facilities ra sao với các đoàn di ngư lội ngược dòng? (4) Hiệu quả của các đường dẫn cá / fish-passage facilities ra sao với các đoàn di ngư xuôi dòng? (5) Làm sao đền bù thiệt hại cho ngư dân bị mất mát nguồn cá do những con đập?</p>
<p>Giải đáp và cũng là kết luận của bản nghiên cứu cho rằng: (a) Nguồn cá và tài nguyên con sông Mekong có tầm quan trọng cơ bản đối với nền kinh tế và xã hội của các quốc gia Mekong và những cộng đồng cư dân vùng hạ lưu; (b) Khác với những con đập phụ lưu, những con đập dòng chính sông Mekong nhất là với những con đập nơi khúc giữa và khúc dưới sông Mekong vùng hạ lưu sẽ có ảnh hưởng tác hại lớn lao hơn nhiều; (c) Các chuyên gia của nhóm nghiên cứu cho rằng khả năng chế tạo loại “turbines thân thiện với cá / fish friendly turbines” hay đường dẫn cho cá cho dù với tên gọi gì đi nữa [ như bậc thang cá / fish ladders, thang nâng cá / fish lifts, hay đường dẫn cá / fish passages ] thì hiệu quả chỉ có trên lý thuyết do tầm vóc quá lớn lao của các đoàn di ngư trên dòng chính sông Mekong. Một ví dụ về thử nghiệm thang cá đã thất bại nơi đập Pak Mun [Thái Lan] vào thập niên 90 cho dù các đoàn di ngư nhỏ hơn rất nhiều, nguyên do cá sông Mekong không phải là chủng loại cá Salmon như ở Bắc Mỹ nên không có khả năng nhảy đập để về nguồn. [2]</p>
<p><strong>TỚI BẢNG LƯỢNG GIÁ MÔI SINH CHIẾN LƯỢC 2010 </strong></p>
<p>Tiếp theo tài liệu <i>“Lưới Bắt và Nuôi Cấy”,</i> Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong đã yêu cầu Trung tâm Quốc tế Quản lý Môi trường / ICEM / <i>International Centre for Environmental Management</i> [là một cơ quan tham vấn độc lập của Úc] hỗ trợ cho Ban Thư ký Ủy Hội Sông Mekong thực hiện một cuộc khảo sát <i>“Lượng giá Môi trường Chiến lược/ SEA / Strategic Environment Assessment”</i> đối với các dự án thủy điện dòng chính Sông Mekong vùng hạ lưu. Công trình được thực hiện qua những cuộc nghiên cứu kéo dài hơn 14 tháng, với sự cộng tác mở rộng của Ban Thư ký Ủy Hội Sông Mekong, Ủy ban Mekong Quốc gia của 4 nước thành viên, các nhóm xã hội dân sự, khu vực tư nhân và các nhóm lợi ích khác, nhằm hỗ trợ Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong một tập hợp những thông tin cần thiết.</p>
<p>Bản báo cáo có nói tới những lợi ích từ nguồn thủy điện khoảng 13,500 MW cho các chương trình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, và vấn đề giảm phát thải khí CO2 so với các dự án khai thác nhiên liệu hóa thạch. Nhưng SEA đồng thời cũng nêu ra những ảnh hưởng lâu dài cùng với những nguy hiểm tích lũy / cumulative risks của các con đập dòng chính. Những con đập ấy có thể gây tác hại sâu rộng trong bước phát triển bền vững và những <i>“ảnh hưởng không thể hồi phục”</i> trên đời sống của nhiều triệu cư dân trong lưu vực / basin. [1]</p>
<p><strong>NHỮNG ẢNH HƯỞNG CHUỖI ĐẬP HẠ LƯU / SEA</strong> :</p>
<p>1/ Biến đổi Dòng Chảy và Bản chất của con Sông:</p>
<p>Những con đập sẽ biến hơn nửa chiều dài của con sông vùng hạ lưu thành một chuỗi những hồ chứa tù đọng và gây biến động dòng chảy ở những khúc sông phía dưới các con đập. Và con sông sẽ không còn giữ được “nhịp đập / flood pulse” theo mùa, cũng là yếu tố sinh tử của Biển Hồ và con sông Tonlé Sap.</p>
<p>2/ Ảnh hưởng tới Nguồn Cá và An toàn Thực phẩm:</p>
<p>Những con đập sẽ ngăn chặn các đoàn di ngư / migratory fishes, thu hẹp diện tích các vùng đất ngập / wetland areas và làm biến đổi và hủy hoại sinh cảnh thiết yếu của các loài cá sông Mekong. Những biến động này sẽ làm mất tới 42% lượng cá tương đương với 500 triệu MK mỗi năm. Với hậu quả là ảnh hưởng tiêu cực tới phẩm chất cuộc sống và sự an toàn thực phẩm bị đe dọa nhất là với Cam Bốt do cá là nguồn protein chính của đa số người dân Cam Bốt. Toán Lượng giá Môi Trường Chiến lược SEA đã cho rằng không có kỹ thuật nào có thể thay thế hay bù đắp tổn thất nguồn cá thiên nhiên phong phú này. Bằng chứng hiển nhiên về sự hoàn toàn thất bại của các thang cá nơi đập Pak Mun trên sông Mun, một phụ lưu lớn của sông Mekong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H3_-Annual-Catch.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H3_-Annual-Catch" border="0" alt="H3_-Annual-Catch" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H3_-Annual-Catch_thumb.jpg" width="282" height="379" /></a></p>
<p align="center"><i>Lượng cá lưới bắt khoảng 3 triệu tấn một năm trong Lưu Vực Dưới Sông Mekong [nguồn: MRC 09-2008] </i></p>
<p>3/ Đe dọa tính Đa dạng của hệ Thủy sinh:</p>
<p>Do những thay đổi làm biến dạng con sông, gây rối loạn dòng chảy và cả môi trường nước, tính phong phú và đa dạng của hệ thủy sinh sông Mekong bị đe dọa, với hơn 100 loài cá bị lâm nguy / endangered species, trong đó có các chủng loại quan trọng / flagships species biểu tượng cho hệ sinh thái lành mạnh của sông Mekong như loài cá Irrawaddy Dolphin, cá Pla Beuk khổng lồ / Giant Mekong Catfish nặng tới hơn 300 kg – cả hai đang có nguy cơ bị tuyệt chủng / extinction. <b></b></p>
<p>4/ Thay đổi hệ Sinh thái Trái đất:</p>
<p>Với gần nửa diện tích đất đai trồng trọt và các khu rừng vùng hạ lưu sông Mekong được công nhận là Vùng Đa dạng Sinh thái Chủ yếu / Key Biodiversity Zones; với trong đó 5% là Khu Bảo tồn Quốc gia / National Protected Areas và các Vùng Đất Ngập / Wetlands site được bảo vệ theo Quy ước Ramsar. Những con đập gây lũ lụt sẽ nhận chìm những vùng đất ngập gây ảnh hưởng trên hệ sinh thái động vật và thực vật / fauna and flora của hành tinh này. Cộng thêm với hệ thống trụ cáp dẫn điện và những mạng lưới đường xá cũng gây hủy hoại thêm cho sinh cảnh trong vùng.</p>
<p>5/ Tổn thất Nông nghiệp:</p>
<p>Sản xuất nông nghiệp sẽ tổn thất hơn 5 triệu MK/ năm do đất ngập lụt từ các con đập, do mất phù sa vì bị giữ lại trong các hồ chứa làm tăng nhu cầu xử dụng phân bón hóa học tổn thất thêm 24 triệu MK/ năm; mất nguồn canh tác vườn tược ven sông / riverbanks gardens tổn thất 21 triệu MK/ năm trong khi dự án dẫn thủy chỉ bù đắp được 15 triệu MK/ năm trên 50 triệu MK thất thoát về kinh tế nông nghiệp.</p>
<p>6/ Giảm Trữ lượng Phù sa:</p>
<p>Nồng độ phù sa trong dòng chảy giảm 50% sẽ gây hậu quả nghiêm trọng trong tiến trình chuyển tải các dưỡng chất thiết yếu như phốt phát / phosphorous và đạm chất / nitrogen tưới bón cho các dẻo đất ven sông và các vùng châu thổ [ Tonle Sap Cam Bốt, Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam], ảnh hưởng sút giảm trong sản xuất nông nghiệp, tới nguồn cá trên sông và cá vùng cận duyên. Giảm lượng phù sa cũng làm mất cân bằng dòng chảy, gây sạt lở các bờ sông, các vùng ven biển vốn đã bị thay đổi đáng kể do thay đổi khí hậu/ climate change.</p>
<p>7/ Đe dọa cuộc sống ổn định, Văn hóa cổ truyền và Dân cư:</p>
<p>Những con đập sẽ gây bất ổn cho cuộc sống và đe dọa an toàn thực phẩm của hơn 40 triệu cư dân phụ thuộc vào nguồn cá phong phú của con sông Mekong; cộng thêm với ảnh hưởng mất đất đai nông nghiệp cùng với ảnh hưởng tích lũy của biến đổi khí hậu càng làm trầm trọng thêm tình trạng an ninh về lương thực trong toàn vùng. Những con đập có thể làm thay đổi vĩnh viễn nếp sống văn hóa cổ truyền, gia tăng sự bất bình đẳng dẫn tới nghèo khó, ảnh hưởng tới mục tiêu thiên niên kỷ là xóa đói giảm nghèo từ mọi quốc gia.</p>
<p>8/ Và Các Đề xuất: Tạm Hoãn 10 Năm</p>
<p>SEA cũng đưa ra những đề xuất làm cách nào để triển khai một cách tối ưu các dự án đập trong phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong lưu vực. Và do những bất trắc chưa lường được của các dự án, SEA đã đề nghị tạm hoãn trong 10 năm [ 2010-2020 ] để có thời gian nghiên cứu thêm và bổ xung những khiếm khuyết. [1]</p>
<p>Kết luận của SEA / Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược không thể không gây ngạc nhiên. Đó là, nhóm hưởng những lợi ích kinh tế của các dự án trước hết không phải là dân chúng mà là một thiểu số các tài phiệt và công ty xây đập. [6] Một dòng chính Mekong không bị nghẽn mạch vì những con đập ít nhất trong vòng một thập niên theo yêu cầu của toán đặc nhiệm SEA / Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược phải được coi là một một thành quả thắng lợi cho mọi phía / Win-Win Strategy, cho mọi quốc gia trong lưu vực. Khoảng thời gian 10 năm ấy sẽ được vận dụng để khảo sát thêm nhằm gia tăng sự hiểu biết về hệ sinh thái phức tạp và cũng rất mong manh của lưu vực sông Mekong cùng với ảnh hưởng tác hại của những dự án đập có thể gây ra. Xa hơn nữa, là có thể tìm được giải pháp thay thế cung ứng nguồn điện mà không cần tới những con đập dòng chính / mainstream dams với những tác hại nghiêm trọng như vậy.</p>
<p>Theo Jeremy Bird, nguyên Giám đốc điều hành Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong, thì bản tường trình SEA này là <i>một trong những báo cáo phức tạp nhất</i> được tiến hành cho một Lưu Vực Sông Quốc Tế, và đã cho thấy giá trị của việc hợp tác giữa các nước thành viên MRC trong những vấn đề rất nhạy cảm. Thêm một điều ngạc nhiên nữa là khi cuộc nghiên cứu SEA hoàn tất thì MRC vẫn rất dè dặt khi phổ biến và cho rằng các kết luận và khuyến cáo của SEA không phải là quan điểm của Ủy hội Sông Mekong. [Sic]</p>
<p><strong>2012 ỦY HỘI MEKONG TRƯỚC KHÚC RẼ THỬ THÁCH</strong></p>
<p>Mekong là một con Sông Quốc Tế / International River, với nguồn tài nguyên mà tất cả các quốc gia ven sông đều có quyền cùng chia xẻ chứ không chỉ để phục vụ cho các nhóm tài phiệt hay một quốc gia riêng lẻ nào. Nhưng trong thực tế, cùng là những nước ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau với những quyền lợi mâu thuẫn. Có thể thấy trước được rằng, Trung Quốc trước sau sẽ tiếp tục hoàn tất chuỗi 14 con đập Bậc thềm Vân Nam / Mekong Cascade của họ, cho dù hậu quả ra sao đối với lưu vực dưới sông Mekong / Lower Mekong Basin. Nay tới giai đoạn <i>“nổ bùng thủy điện”</i> với 12 dự án đập trên dòng chính sông Mekong vùng hạ lưu, cho thấy toàn hệ sinh thái thái của con sông Mekong đang lâm nguy.</p>
<p>Trong quá khứ, Ủy Hội Sông Mekong đã khá thụ động trước sự tái phục hoạt của các dự án đập thủy điện Hạ Lưu. Các nhà hoạt động môi sinh kêu gọi tinh thần trách của tổ chức liên chánh phủ này. “<i>Ủy Hội cần chứng tỏ là một tổ chức hữu ích cho quần chúng, chứ không phải là cho các nhà đầu tư,</i>” Surichai Wankaew, giám đốc Viện Nghiên cứu Xã hội Đại học Chulalongkorn, Thái Lan nói tiếp “<i>Nhiệm vụ Ủy Hội thay đổi, thay vì ‘tạo thuận/ facilitation’ cho việc xây đập, thì nay phải là ‘diễn đàn / platform’ cho cư dân bị ảnh hưởng nói lên mối quan tâm của họ</i>”. Cũng trước đó, đã có hơn 200 tổ chức môi sinh từ 30 quốc gia yêu cầu Ủy Hội và các nhà tài trợ ngưng ngay các dự án xây đập.</p>
<p>Nay qua công trình <i>“Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược / SEA”,</i> những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế xã hội và môi sinh của các con đập dòng chính hạ lưu đã được xác định và công khai hóa, cũng đã có thêm nhiều tổ chức hoạt động môi sinh lên tiếng, nêu rõ những tác hại nghiêm trọng và lâu dài trên hàng triệu cư dân sống bằng nguồn nước, nguồn cá của dòng sông Mekong.</p>
<p>Trong một giai đoạn và hoàn cảnh cực đoan như hiện nay, như một tin vui là sau Jeremy Bird đã mãn nhiệm, Ủy Hội Sông Mekong vừa bổ nhiệm Hans Guttman, một công dân Thụy Điển làm Giám đốc điều hành mới tại Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H4_-Hans-Guttman.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H4_-Hans-Guttman" border="0" alt="H4_-Hans-Guttman" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H4_-Hans-Guttman_thumb.jpg" width="269" height="208" /></a></p>
<p align="center"><i>Hans Guttman, tân Giám đốc Điều hành, Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong [nguồn: MRC] </i></p>
<p>Guttman, được đánh giá là có khả năng quản trị, với 20 năm sống trong khu vực, từng điều hợp 50 cơ quan phát triển tại các quốc gia Mekong khác nhau đồng thời cũng làm việc với Liên minh các Vùng đất Ngập / Wetlands Alliance, từng là người đứng đầu Chương trình Môi trường trong 6 năm từ 2001 đến 2007. Với hơn một chục bài viết đã được công bố, ông còn được biết đến trong vùng là một chuyên gia hàng đầu về quản lý các nguồn tài nguyên nước ở Lưu vực Mekong.</p>
<p>Guttman bắt đầu đảm nhận nhiệm kỳ 3 năm từ ngày 14 tháng 11 năm 2011, để lãnh đạo một đội ngũ gồm 150 nhân viên và giám sát 2 văn phòng của Ban Thư ký ở Vạn Tượng và Nam Vang giữa một thời kỳ đang ngổn ngang những áp lực và thử thách. [10]</p>
<p><strong>MỘT TINH THẦN SÔNG MEKONG</strong></p>
<p>Người ta hy vọng với những kinh nghiệm đã có từ Ủy hội Sông Mekong từ nhiều năm, bảo đảm cho Guttman có được sự hiểu biết về những vấn đề mang tính quyết định đối với tổ chức này, sẽ giúp ông lãnh đạo một cách hiệu quả vào thời điểm cam go trên một vùng <i>chính trị địa dư / geopolitics</i> đang có rất nhiều biến động và cả phân hóa như hiện nay.</p>
<p>Hai thử thách trước mắt và bước thứ ba lâu dài của Guttman, cũng là của toàn cơ chế Ủy Hội Sông Mekong sau quá trình hoạt động hơn 16 năm [1995-2012] là làm sao:</p>
<p>(1) Thuyết phục các quốc gia thành viên Ủy Hội Sông Mekong tôn trọng tinh thần &quot;Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong&quot; 1995 <i>“Các quốc gia thành viên ký kết đồng ý là “bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.” </i>Theo Điều 7 Mekong 1995.</p>
<p>(2) Thuyết phục được chánh phủ Lào tôn trọng một trật tự vùng, bằng cách tuân thủ theo đề nghị của SEA là tạm hoãn tất cả các dự án đập dòng chính trong 10 năm để có thời gian nghiên cứu thêm và bổ xung những khiếm khuyết. (3) Hiện thực “Kế hoạch Chiến lược 2011-2015 / MRC Strategic Plan”, tăng cường và mở rộng hợp tác với các quốc gia thượng nguồn Lancang-Mekong trên quy mô “Toàn Lưu Vực /Whole of basin approach”, chủ yếu là Trung Quốc, nước sở hữu gần nửa chiều dài con sông Mekong nhưng lại từ chối làm thành viên của Ủy Hội Sông Mekong mở rộng. [9]</p>
<p>Thực hiện và vượt được qua được các bước thử thách trên sẽ là một thành quả to lớn không phải chỉ của cá nhân ông Hans Guttman, mà cũng là “<i>lý do hiện hữu / raison d’être”</i> của tổ chức có danh xưng là Ủy Hội Sông Mekong.</p>
<p>Nhiệm vụ của Guttman cũng sẽ dễ dàng hơn nếu có thêm nhiều tiếng nói của các các nhóm xã hội dân sự. Ngoại trừ Thái Lan, tiếng nói các nhóm xã hội dân sự của 3 quốc gia Mekong còn lại phải nói là rất yếu ớt. Riêng với Việt Nam, tuy phải gánh chịu tất cả hậu quả suy thoái của con Sông Mekong vì là quốc gia cuối nguồn, nếu vận động để có được một triệu chữ ký trong số ngót 20 triệu cư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long, thì đó sẽ là <i>“một chấn động trong toàn vùng”</i>. Nhưng đến bao giờ thì những người dân Miền Tây quanh năm cực nhọc, sống dưới mức nghèo khó ấy ấy mới cất lên được tiếng nói và đến bao giờ thì tiếng nói của họ mới được lắng nghe.</p>
<p>Con Sông Mekong sẽ là một sợi dây nối kết các quốc gia chứ không phải là nguyên nhân gây chia rẽ. Năm 2012, sẽ là một năm của ước vọng hàn gắn/ healing process những đổ vỡ, phục hồi niềm tin, tiến tới triển vọng hợp tác trong “Tinh Thần Sông Mekong / Mekong Spirit” như một mẫu số chung để cùng nhau phát triển, cùng nhau hướng tới một tương lai thịnh vượng chung và hòa bình cho toàn vùng.</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>California 27/01/2012</em></p>
<p><strong>Tham Khảo</strong>:</p>
<p>1/ Strategic Environmental Assessment of Mainstream Dams, MRC, Vientiane, Lao PDR, 17th Aug 2010 &#8211; 31st Dec 2010, <a href="http://www.mrcmekong.org/news-and-events/consultations/strategic-environmental-assessment-of-mainstream-dams/"><i>http://www.mrcmekong.org/news-and-events/consultations/strategic-environmental-assessment-of-mainstream-dams/</i></a></p>
<p>2/ Catch and Culture – Fisheries Research and Development in the Mekong Region; MRC Vol 14, N.3; Dec 2008</p>
<p><a href="http://ns1.mrcmekong.org/download/programmes/fisheries/Catch_Culture_vol14.3.pdf"><i>http://ns1.mrcmekong.org/download/programmes/fisheries/Catch_Culture_vol14.3.pdf</i></a><i></i></p>
<p>3/ <a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf">Modeling The Cumulative Barrier And Passage Effects Of Mainstream Hydro Power Dams On Migratory Fish Populations In The LMB</a></p>
<p><a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf">MRC Technical Paper No. 25</a>; Dec 2009</p>
<p><a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf"><i>http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf</i></a><i></i></p>
<p>4/ The Don Sahong Dam: Potential Impacts on Regional Fish Migrations, Livelihoods and Human Health; Ian G. Baird, PhD – POLIS Project on Ecological Governance, University of Victoria, August, 2009</p>
<p><a href="http://polisproject.org/PDFs/Baird%202009_Don%20Sahong.pdf"><i>http://polisproject.org/PDFs/Baird%202009_Don%20Sahong.pdf</i></a><i></i></p>
<p>5/ The Mekong, River Under Threat; Milton Osborne, Lowy Institute for Internationa; Policy 2009 <a href="http://www.lowyinstitute.org/Publication.asp?pid=1188"><i>http://www.lowyinstitute.org/Publication.asp?pid=1188</i></a></p>
<p>6/ Testimony of Aviva Imhof, Campaign Director, International Rivers Before the Senate Committee on “Challenge to Water and Security in Southeast Asia”, Sept 23, 2010 <a href="http://foreign.senate.gov/imo/media/doc/Imhof.pdf"><i>http://foreign.senate.gov/imo/media/doc/Imhof.pdf</i></a><i></i></p>
<p>7 / Foretelling the Mekong River’s Fate: Key Findings of the MRC’s Strategic Environmental Assessment on Mekong Mainstream Dams; IRN January 21, 2011<i> </i><a href="http://www.internationalrivers.org/en/node/6129"><i>http://www.internationalrivers.org/en/node/6129</i></a><i><u></u></i></p>
<p>8/ Mekong Battle Delayed; Tom Fawthrop, The Diplomat, December 31, 2011 <a href="http://the-diplomat.com/2011/12/31/mekong-battle-delayed/"><i>http://the-diplomat.com/2011/12/31/mekong-battle-delayed/</i></a><i></i></p>
<p>9/ MRC Annual Report 2010, MRC 2011 <a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/governance/Annual-Report-2010.pdf">http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/governance/Annual-Report-2010.pdf</a></p>
<p>10/ MRC appoints new Chief Executive Officer; Vientiane, Lao PDR, 14th Nov 2011 <a href="http://www.mrcmekong.org/news-and-events/news/mrc-appoints-new-chief-executive-officer/"><i>http://www.mrcmekong.org/news-and-events/news/mrc-appoints-new-chief-executive-officer/</i></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23247/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Robert Frost: Dừng ch&#226;n tuyết xuống rừng chiều</title>
		<link>http://damau.org/archives/23086</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23086#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 13 Jan 2012 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Đức Tùng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23086</guid>
		<description><![CDATA[Không một lý tưởng nào, một lập trường nào, lại không thường xuyên bị khuynh hướng tự ý thức này thách thức mỗi ngày, ở mỗi sự kiện, trước mỗi khúc quanh của lịch sử cá nhân và dân tộc.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><em>(Bài thứ bảy trong loạt bài “Thơ Cần Thiết Cho Ai”)</em></p>
<p><strong></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<h2>Dừng Chân Tuyết Xuống Rừng Chiều</h2>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Cánh rừng này tôi nghĩ mình biết của ai      <br /></em><em>Nhà anh trong xóm nhỏ xa xôi      <br /></em><em>Anh không hề thấy tôi dừng lại      <br /></em><em>Ngắm cảnh rừng chiều tuyết trắng bay.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Con ngựa nhỏ chắc nghĩ tôi kỳ quặc      <br /></em><em>Dừng nơi đây không một mái nhà      <br /></em><em>Giữa cánh rừng và mặt hồ băng giá      <br /></em><em>Buổi chiều mờ tối nhất trong năm.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Con ngựa khẽ lắc mình rung chuông      <br /></em><em>Hỏi ông chủ có nhầm không chứ      <br /></em><em>Tiếng động khác là lời của gió      <br /></em><em>Bay dịu dàng, tuyết nõn như bông. </em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Cảnh rừng đẹp tuyệt, tối và sâu      <br /></em><em>Nhưng tôi còn đây lời ước hẹn ban đầu      <br /></em><em>Và những dặm đường trước khi đi ngủ      <br /></em><em>Những dặm đường dài trước giấc ngủ sâu. </em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em></em></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<h2>Stopping by Woods on a Snowy Evening</h2>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Whose woods these are I think I know.      <br /></em><em>His house is in the village though;      <br /></em><em>He will not see me stopping here      <br /></em><em>To watch his woods fill up with snow.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>My little horse must think it queer      <br /></em><em>To stop without a farmhouse near      <br /></em><em>Between the woods and frozen lake      <br /></em><em>The darkest evening of the year.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>He gives his harness bells a shake      <br /></em><em>To ask if there is some mistake.      <br /></em><em>The only other sound’s the sweep      <br /></em><em>Of easy wind and downy flake.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>The woods are lovely, dark and deep,      <br /></em><em>But I have promises to keep,      <br /></em><em>And miles to go before I sleep,      <br /></em><em>And miles to go before I sleep. </em></p>
<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Mỗi khi đọc bài thơ của Robert Frost, tôi đều hình dung những ngày vào rừng tập chơi ski lúc mới đến Canada. Rừng liễu, đồi bạch dương, tuyết bay mờ ảo ngùn ngụt đất trời. Đối với người từ nhiệt đới đến xứ lạnh, ngày đầu gặp tuyết là may mắn. Lúc tâm hồn và thân xác bạn mặc nhiên mở rộng để thiên nhiên ùa vào. Người sống lâu nơi ấm áp sợ cái lạnh mùa đông, nhưng càng lại gần, càng yêu mến nó. Với ít chi tiết mô tả, không gian bài thơ vẫn phủ đầy cảnh rừng tuyết xuống, và trong nỗi cô độc, bạn nghe ra tiếng động của tịch mịch. Frost được xem là người dùng ngôn ngữ giản dị, mặc dù vậy thơ ông có thể đi rất xa, xuyên thấu những bức tường bí ẩn của đời sống, phát hiện tình yêu sâu thẳm của chúng ta trước cảnh vật, mùa màng.</p>
<p>Thơ giúp một người sống đến cùng các giới hạn của cuộc đời. Di chuyển giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thành công và thất bại, anh ta bắt đầu nhận ra những mơ ước của mình chỉ là ký ức đến từ tương lai. Sinh 1874, mất 1963, sáng chói cùng những tên tuổi khác trong buổi bình minh của nền thơ Hoa Kỳ, Frost sống tám mươi chín năm, vắt qua hai thế kỷ. Được gọi là nhà thơ của nhân dân. Tuy vậy thơ ông chứa đầy bí mật cá nhân, hầu hết không phải là thơ đọc trên quảng trường. Khi còn sống, Frost nhận nhiều giải thưởng, lời ca tụng, khi mất, được quốc gia thương tiếc, nhưng sự nghiệp thơ ca của ông lại bắt đầu từ nước Anh, nơi sau này ông cũng gọi là đất mẹ. Cùng với vợ và bốn đứa con, chàng thanh niên ba mươi tám tuổi chưa có sự nghiệp quyết định đến Anh, và ở lại gần ba năm trời. Trước đó, anh làm việc quần quật như một người nông dân, một thầy giáo, một kẻ giúp việc, làm những thứ lao động nặng nề để nuôi vợ con. Nhờ một khoảng tiền thừa kế nhỏ bất ngờ, anh đưa được gia đình đến Anh, ở đó anh đã gặp W. Yeats lừng lẫy, Ezra Pound lớn lao, Robert Graves nồng nàn, và nhiều người khác nữa, những người hết sức giúp đỡ chàng thi sĩ trẻ tuổi. Một năm sau, 1913, tập thơ đầu tiên xuất bản. Rồi năm 1914, tập thứ hai, tập hợp các bài thơ tự sự, có tên <em>Phía bắc Boston</em>, đã làm anh nổi tiếng. Lúc đó Frost bốn mươi tuổi. Suốt đời, dành mọi sức lực, thời gian, tâm huyết cho thơ ca. Tuy vậy, lao động nặng nhọc khó khăn của nhà thơ hoàn toàn biến mất trên trang giấy, giữa những dòng chữ đẹp lung linh giản dị. Người đọc khó lòng tìm thấy ở đó mồ hôi, sự đen tối, thậm chí những bi kịch sâu xa của ông. Thế nhưng mỗi bài thơ là một câu trả lời đối với các tra vấn của đời sống.</p>
<p><em>Tôi chưa học được cách nào để thả buông tay      <br /></em><em>Chưa biết làm gì để trái tim nhẹ bay </em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>I had not learned to let go with the hands,      <br /></em><em>As still I have not learned to with the heart</em></p>
<p>Bài thơ <em>Dừng chân tuyết xuống rừng chiều</em> dễ hiểu sáng sủa, nhưng trong nhiều năm tôi đọc lại nhiều lần, có lẽ vì cái trôi chảy và vẻ ngập ngừng của nó. Đọc Frost, bạn nên đọc lớn lên thành lời như ông từng khuyên; dừng lại ở cuối câu thơ, dừng ngắn hơn ở dấu phẩy, dài hơn ở dấu chấm.</p>
<p>Đọc như thế nhiều lần, bạn nghiệm ra rằng thơ trước hết là, nhưng không chỉ là, những chữ. Ngôn ngữ không phải là phương tiện nhưng cũng không là cứu cánh. Nếu cần chọn một nhà thơ dễ hiểu mà vẫn khó hiểu, giản dị mà phức tạp, tôi sẽ chọn Frost. Nhạc điệu, sự lập đi lập lại của một số chữ và vần làm cho bài thơ có một nhịp tiến (tempo) thong thả, nhẹ nhõm mà rất trầm tư.</p>
<p>Một không gian trầm tư.</p>
<p>Bạn chú ý đến chữ dùng, ngay nhan đề cũng được chọn kỹ. <em>Stopping by woods on a snowy evening, </em>khó có cách nào ngắn và đầy đủ hơn.</p>
<p><em>Cánh rừng này tôi nghĩ mình biết của ai</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Whose woods these are I think I know.</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Chúng ta dừng lại trước nhóm chữ <em>I think I know</em> và thử nghĩ ngợi về nó. <em>Tôi nghĩ </em>chúng ta ngày nay vẫn có thể học được cách nói của tác giả, học sự thận trọng tinh tế, cái khiêm tốn sang cả trong cách tiếp cận sự vật của một nhà thơ từ ngôn ngữ khác. <em></em></p>
<p>Frost là người theo phong cách cổ điển, ông dùng vần nhưng không cưỡng ép. Để mô tả cảnh rừng đẹp ông chỉ dùng mấy chữ: <em>lovely (đáng yêu, đẹp tuyệt), dark (tối, tối đen), deep (sâu, sâu thẳm). </em>Chúng ta đọc lại:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>The woods are lovely, dark and deep</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Cảnh rừng đẹp tuyệt, tối và sâu</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Tôi cố gắng dịch sát vì chỉ cần đổi vị trí các chữ là câu thơ thay đổi. Câu được viết ở dạng văn phạm sơ đẳng, gần lối hành văn “học trò”. Các chữ cũng thông dụng, thoạt trông không tài hoa, bay bướm như cách dùng chữ của các tác giả Mỹ đương đại. Tôi chú ý đến chữ <em>and (và), </em>vốn là một loại chữ rất ít được dùng trong thơ, nhất là trong vị trí giữa câu (còn chữ này nằm ở đầu câu thì lại được dùng nhiều trong thơ phương Tây, với một hàm ý khác). Chúng ta cũng chú ý đến cách luyến chữ, hai chữ <em>l </em>trong <em>lovely, </em>hai chữ <em>d </em>trong <em>dark, deep. N</em>gay sau đó tác giả dùng một loại vần rất mạnh, ngắn: <em>but I have promises to keep </em>(nhưng tôi có những lời hứa cần phải giữ),<em> </em>gây cảm giác như nhát cắt, lời hứa đinh ninh, hay như lời hẹn từng đơn sai, huyền ảo, thiêng liêng.</p>
<p>Hay như mối tình đầu.</p>
<p>Thơ Frost biểu lộ khuynh hướng tự ý thức của chủ thể. Chủ thể là người phát ngôn (speaker), thường là nhà thơ, mặc dù không phải bao giờ cũng vậy. Dù ông viết về cây cối, thời tiết hay muông thú, bao giờ người đọc cũng nhìn ra nhân vật. Con người hòa nhập vào thiên nhiên nhưng không biến mất trong đó như các nhà thơ Haiku. Dưới ảnh hưởng của khuynh hướng tự ý thức, giọng điệu của bài thơ là giọng phân vân, lưỡng lự. Mặt khác, sự hoài nghi, tiến thoái lưỡng nan, là thái độ của người trí thức mọi thời đại. Về bản chất, người trí thức chân chính không phải là người trung thành với một lý tưởng. Không một lý tưởng nào, một lập trường nào, lại không thường xuyên bị khuynh hướng tự ý thức này thách thức mỗi ngày, ở mỗi sự kiện, trước mỗi khúc quanh của lịch sử cá nhân và dân tộc.</p>
<p>Nhưng Frost phân vân về điều gì?</p>
<p>Muốn dừng lại lâu ngắm cảnh đẹp nhưng cũng muốn đi tiếp, thực hiện xong bổn phận. Dừng giữa rừng không bóng người sẽ làm người bình thường khác ngạc nhiên. Con ngựa nhỏ là biểu tượng của cuộc đời bình thường. Không một <em>người đọc của thơ</em> nào mà không có lúc hiện ra như những kẻ kỳ quặc trong đời. Xung đột thứ hai là giữa ý tưởng muốn nghỉ ngơi, tìm một mái nhà ấm áp (nhà bạn tôi ở cuối thôn xa), và con đường dằng dặc phía trước.</p>
<p>Bài thơ cũng chạm đến xung đột thứ ba. Giữa niềm vui cuộc sống và sự vô nghĩa của cuộc đời. Câu thơ cuối:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>And miles to go before I sleep</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Những dặm đường trước khi đi ngủ</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Đọc câu đầu tiên, chúng ta nhận ra khuynh hướng nghỉ ngơi và hoàn tất nhiệm vụ của mình. Nhưng đọc lại lần thứ hai, và đọc câu thứ hai, chúng ta nhận ra thêm đi ngủ không phải chỉ là giấc ngủ qua một đêm.</p>
<p><em>And miles to go before I sleep</em></p>
<p>Mà có thể là giấc ngủ suốt đời. Nỗi lòng thầm kín, niềm ước ao lặng lẽ được rơi vào hư vô như đứa con đi hoang trở về nhà xưa, đứa trẻ rơi vào lòng mẹ. Sự an nghỉ tuyệt đối, vĩnh hằng.</p>
<p>Mặt khác, thơ Frost cũng đầy niềm vui và sự hài hước.</p>
<p>Niềm vui của thơ ca nằm ở đâu? Ở hệ tọa độ của các cảm giác dương tính, khỏe khoắn như: yêu thương, hòa hợp, lòng chung thủy, khen ngợi, lòng tin. Ngược lại, những người nào tin vào các khuynh hướng ngược lại, đi lạc trong các lối mòn của thù hận, tranh đoạt, của các thay đổi có tính chất thực dụng, chia rẽ, mãi mãi sẽ không tìm được niềm vui; chỉ có nước mắt và máu ở cuối đường chờ họ. Nếu bạn không tin điều ấy, hãy quan sát một đứa trẻ. Niềm vui chiếm hữu nó, tràn ngập tâm hồn nó, lộ ra trong cử chỉ, lời nói, ánh mắt. Vì niềm vui là bản tính tự nhiên của con người. Và một trong những nguồn gốc lớn của niềm vui là cái đẹp.</p>
<p><em>To watch his woods fill up with snow.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Ngắm cảnh rừng chiều tuyết trắng bay</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Đó là cái đẹp thanh khiết, hùng vĩ, nhưng hoang dại: tối và sâu, phủ đầy, <em>fill</em>. Như chính tâm hồn của người đứng đó, tâm cảnh huyền bí. Nhà thơ nhắc hai lần câu thơ về lời hứa và giấc ngủ, không chỉ là điệp khúc về mặt âm nhạc, mà còn là sự nhắc lại lời hứa, nguyện vọng, ý chí, sự ám ảnh, nhắc lại xung đột trong cuộc đấu tranh miên viễn của con người trước thế giới. Frost làm chủ nghệ thuật hình ảnh. Cánh rừng, tuyết trắng, khung cảnh buổi chiều, người bạn không có mặt là những chi tiết dễ nhận ra. Nhưng:</p>
<p><em>Con ngựa nhỏ chắc nghĩ tôi kỳ quặc</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Là biểu tượng của cuộc đời. Một con ngựa khi đứng nghỉ chờ chủ bao giờ cũng làm động tác lắc người, lắc chuông. Nhưng đưa hành động đó vào bài thơ, Frost muốn nói điều gì? Nhà thơ không phải là con ngựa nên tất nhiên không thể biết nó nghĩ gì. Vì vậy ông chỉ có thể dùng chữ <em>must </em>trong tiếng Anh. Hai lần hoài nghi.</p>
<p><em>He gives his harness bells a shake      <br /></em><em>To ask if there is some mistake.</em></p>
<p>Hiện nay, thơ có vần ngày càng ít được sử dụng, nhưng đọc Frost, chúng ta hiểu rằng bất cứ hình thức nào cũng có thể mang lại hiệu quả thẩm mỹ. Rất giàu âm nhạc, nếu bạn đọc kỹ. Chỉ trong hai câu thơ, ngoài hai vần cuối câu <em>shake/mistake, </em>rất nhiều âm <em>s </em>(<em>gives, his, harness, bells, shake, ask, is, some, misake</em>), gần như mỗi chữ là một âm, nghe như tiếng rì rào của lá bên đường, tuyết trong không gian mù tối. <em></em></p>
<p>Frost cũng không dùng nhiều từ vựng. Mục đích của ông là chính xác, với cách mô tả giản lược, tiêu biểu. Ngôn ngữ là hình thức giao tiếp, tương thông (communication), nhưng lời nói không có nghĩa tuyệt đối, mà là bản thỏa hiệp từ hai phía, người nói và người nghe, người viết và người đọc. Lời thơ càng chính xác thì càng mô tả được cảm xúc, ý tưởng của người viết. Càng nhiều khả năng mô tả, ngôn ngữ càng có sức phơi bày tính hoài nghi, hiển lộ tính song đôi của lịch sử, phân rã trong thời gian của chân lý.</p>
<p>Thơ trữ tình, giàu âm nhạc, khó dịch qua một ngôn ngữ khác. Thế nhưng những bản dịch thơ đôi khi vẫn truyền đi được tài năng của một nhà thơ, là nhờ ở điều gì? Trong nguyên tác tiếng Anh, bài thơ có nhiều âm <em>th</em>, <em>v</em>, <em>l</em>. Khi phát âm chúng vang lên như những tiếng thầm khe khẽ. Tôi vừa nói rằng bài thơ tuy viết về thiên nhiên nhưng không ngụ ý tả cảnh. Mặt khác trong bài thơ gồm bốn đoạn, mười sáu câu, đã có đến sáu câu nói về những chuyện liên quan đến một nhân vật đặc biệt, con ngựa nhỏ. Chúng ta tham dự vào câu chuyện trong bức tranh, lắng nghe cuộc trò chuyện im lặng diễn ra giữa chủ và con ngựa, câu hỏi của nó, sự thắc mắc, lời độc thoại. Câu mở đầu của khổ thơ thứ hai là hành vi duy nhất trong tĩnh lặng:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>Con ngựa khẽ lắc mình rung chuông</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>He gives his harness bells a shake</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Như một câu hỏi khẽ vang lên. Nhưng câu trả lời không đến trực tiếp. Nhà thơ quay lại với ấn tượng ban đầu khi vừa đến giữa rừng:</p>
<p><em>Cảnh rừng đẹp tuyệt, tối và sâu</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>The woods are lovely, dark and deep,</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Các chữ <em>dark </em>và<em> deep </em>đều là các chữ không luyến, gây cảm giác cắt đứt. Nhờ điều này, chúng có thể chuyển ta qua một tâm cảnh mới, ở đó lời hứa hôm qua, ngày xưa cũ, lại trở về, biến thành trung tâm của sự chú ý. Hay có khi không phải một lời hứa nào, mà chỉ là con đường bạn đã chọn và sẽ đi đến cùng, con đường ấy làm chúng ta trở nên khác biệt với đồng loại.</p>
<p>Chữ <em>sleep </em>(ngủ, giấc ngủ, đi ngủ) ám ảnh tôi nhiều. Đó cũng là một chữ có lối phát âm ngắn. Tại sao tác giả chọn chữ này để kết thúc một bài thơ có nhiều âm thì thào mơ màng. Có một điều gì gần như tâm sự sâu hút, bờ vực, giữa sáng và tối, ngày và đêm, giữa nhiệt huyết nồng nàn và lặng yên tĩnh mịch. Giữa sự sống và cái chết.</p>
<p>Một bài thơ có nhiều cách đọc khác nhau. Mỗi cách đọc và mỗi lần đọc đem lại một ý nghĩa khác, ở những tâm trạng khác. Sở dĩ như thế là vì ngôn ngữ vốn chứa đựng nhiều hơn một khả năng diễn dịch. Điều cần chú ý là không phải sự diễn dịch nào cũng thích hợp, không phải số lần diễn dịch là vô tận, hay nói dễ hiểu hơn, không phải cách đọc nào cũng đúng.</p>
<p><em></em></p>
<p><em>Khi nào cô cũng phải thắp đèn lên      <br /></em><em>Bên chiếc giường trên gác xép đêm đêm</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>She always has to burn a light      <br /></em><em>Beside her attic bed at night</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ phát hiện chứ không phải là ngôn ngữ biểu hiện. <em></em></p>
<p>Thắp đèn lên làm gì? Vì sợ hãi, hay cô nhớ một người xa xăm? Mỗi khi tôi lặng lẽ hỏi lại câu hỏi này, thì hình ảnh ngọn đèn trên căn gác kia liền sáng lên một lúc trong đêm khuya tâm tưởng của mình.</p>
<p>Trong hai năm sống ở nước Anh (1914-1916), Frost đã viết một số trong những bài thơ hay nhất của ông như Con Đường Không Chọn (The Road Not Taken), Cây Bạch Dương (Birches), Nỗi Sợ Hãi (The Fear), Cánh Đồng (The Pasture), trong các tập North Of Boston, Mountain Interval. Ông là người yêu gia đình, yêu đất nước, nơi chốn từ đó ông đã sinh ra, nhưng cuộc đời riêng lại đầy những nỗi buồn, đau đớn, mất mát. Ví dụ, chỉ một trong số sáu người con của ông là sống cuộc đời khỏe mạnh bình thường. Tuy vậy, ông được biết là một người cha nhân hậu, thương con. Trong thời gian Frost và gia đình ở trong một nông trại ở Derry, New Hampshire, ông thường vui đùa cùng các con (Lesley, Carol, Irma, Marjorie), kể cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích mà ông nghe kể lại hoặc là tưởng tượng ra, về sau chúng được ông viết lại thành một tuyển tập. Khi được tổng thống J. F. Kennedy mời đọc thơ trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức tổng thống ngày 20 tháng giêng năm 1961, Frost đã tám mươi bảy tuổi. Mới đầu ông dự định đọc bài thơ <em>Dedication </em>in sẵn trên giấy, nhưng khi đứng trên bục, do ngược nguồn nắng chói, mắt ông bị nhòa đi, sau đó mù hẳn, Frost đã đọc bài thơ <em>The Gift Outright </em>mà ông thuộc hơn. Bài thơ nói về đất nước Hoa kỳ. Công việc, thơ ca, sự nổi tiếng, lòng yêu mến của công chúng không bao giờ ngưng cạn, như Dana Gioia nhận xét, trở thành nơi trú ẩn của nhà thơ. Cho đến cuối đời, ông vẫn không ngừng làm việc:</p>
<p><em>Cái thang của tôi vẫn còn xuyên qua ngọn cây      <br /></em><em>Hướng về bầu trời      <br /></em><em>Có một thùng phuy tôi chưa đổ đầy      <br /></em><em>Và nữa, có hai hoặc ba      <br /></em><em>Trái táo tôi không kịp hái trên cây</em></p>
<p><em>My long two-pointed ladder’s sticking through a tree      <br /></em><em>Toward heaven still,      <br /></em><em>And there’s a barrel that I didn’t fill      <br /></em><em>Beside it, and there may be two or three      <br /></em><em>Apples I didn’t pick upon some bough.</em></p>
<p>Như thể cái thang vẫn còn rung động.</p>
<p>Frost viết về nhiều đề tài, thành công ở cả hai thể tự sự và trữ tình. Trong bài thơ Dừng Chân Tuyết Xuống Rừng Chiều, hai nghệ thuật ấy đều được thể hiện. Đặc điểm của thơ ông là sự quan sát tinh tế, lối mô tả đầy kịch tính:</p>
<p><em>Hắn nhìn thấy cô ngay từ dưới cầu thang      <br /></em><em>Trước khi cô nhìn thấy hắn. Bắt đầu đi xuống      <br /></em><em>Cô lại quay ra sau, mơ hồ sợ hãi      <br /></em><em>Rồi bước xuống ngập ngừng, bỗng lại bước lui</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>He saw her from the bottom of the stairs      <br /></em><em>Before she saw him. She was staring down,      <br /></em><em>Looking back over her shoulder at some fear.      <br /></em><em>She took a doubtful step and then undid it</em></p>
<p>Thơ ca còn là sự giao tiếp xã hội, nhưng Frost là người có quan điểm độc lập.Ví dụ trong khi tình bạn giữa ông và Eliot (1888-1965) để lại dấn ấn sâu xa trong nền văn học Mỹ thì Frost cũng nói: tôi rất thích đọc thơ Eliot vì thực là thú vị khi nhìn anh ấy sáng tạo, nhưng tôi lại hài lòng khi thấy cách của anh chẳng phải cách của tôi. Không viết nhiều thơ chính trị, Frost vẫn có thái độ rõ ràng về các vấn đề thời sự. Theo ông, phong cách của một nhà thơ, chứ không phải đề tài, chính là bằng chứng về việc anh ta phản ứng trước các vấn đề xã hội hay triết học như thế nào. Hãy nghe một bài thơ phong cảnh của ông với giọng điệu khác thường.</p>
<p><em>Bạn chọn cái hồ. Tôi nhìn xuống nó.      <br /></em><em>Tôi thấy nó đẹp, làn nước trong xanh.      <br /></em><em>Tôi đứng hồi lâu, lớn tiếng lập lại mình</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>You take the lake. I look at it.      <br /></em><em>I see it’s a fair, pretty sheet of water.      <br /></em><em>I stand and make myself repeat out loud</em></p>
<p>Thơ là một hình thái của sự tập trung chú ý. Nghệ thuật chú ý là nghệ thuật sống, là một hình thức của lòng tử tế. Ngược lại, sự không chú ý, tức là sự lãnh đạm, là biểu hiện của trạng thái tinh thần không lành mạnh, thậm chí bệnh hoạn, của một cá nhân hay của một cộng đồng, dân tộc. Sự không chú ý ở mức cực đoan trở thành sự ngược đãi. Cùng với nó, khái niệm phục vụ cũng thường được hiểu sai, đôi khi bị nâng lên thành một chuyện to tát hơn như lòng yêu nước, sự hy sinh ngoài chiến trường, các sự tích anh hùng. Thật ra tinh thần phục vụ giản dị hơn thế, đó là sự mở một cánh cửa cho người lạ, nhường một người sắp hàng sau có việc bận đi lên trước, khom người xuống đặt đồng tiền vào tay kẻ ăn xin lúc bạn đang vội vội vàng vàng. Là không dành phần hơn về phía mình, chia sẻ hạnh phúc được tồn tại trong cuộc đời này một cách an tĩnh với người khác. Sự tử tế nhỏ bé, hàng ngày, của mỗi người có thể không làm nên các cuộc cách mạng, các ngọn lửa bùng cháy trong một đêm của lịch sử. Nhưng nhân loại không cần đến các cuộc thay đổi qua một đêm. Nhân loại cần thay đổi trong từng giây từng phút, ngày này tháng nọ, từng người một, từng tế bào, ngọn cây lá cỏ. Đó là sự thay đổi đẹp đẽ, trọn vẹn, không phải là ngọn lửa tiêu hủy của các cuộc chiến tranh và cách mạng bạo lực vốn được kêu gào khắp nơi trong suốt một thế kỷ vừa qua. Tuyệt đối tin tưởng vào một điều gì, đi một mạch con đường từ đầu đến cuối đời, không ngoảnh lại: đó là bản chất của sự phản trí thức. Khái niệm tương ứng trong văn học của sự hoài nghi chính là cái mờ ảo. Những câu thơ đẹp là một tập hợp các hình ảnh so le, chồng lên nhau. Cũng như:</p>
<p><em>Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy      <br /></em><em>Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu      <br /></em>(Chinh Phụ Ngâm)</p>
<p>Các chữ thuần Việt, chỉ một chữ cũ (những), một chữ văn chương (ngàn), mà vẫn trang nhã và nhòe, một phần nhờ sự lập lại, láy lại, xuyên tới xuyên lui. Có cảm giác các hình ảnh ấy có thể sắp xếp lại nhưng thật ra bạn không làm được. Vì sao? Vì đó là một hiện thực khác. Tại sao sự phân vân là cốt lõi của thơ và gần với cái đẹp? Vì bản chất của con người là hoài nghi, xem xét lại, nói cho cùng là tìm cách chống lại các huyền thoại.</p>
<p>Chống lại thói nô lệ tinh thần, sự phân liệt, đầy rẫy trong cuộc đời.</p>
<p>Bằng cách nào? Bằng thái độ hài hước của một người trầm tĩnh:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>Tôi không bao giờ dám nổi loạn khi còn trẻ      <br /></em><em>Vì sợ lúc già nó làm tôi trở nên bảo thủ</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>I never dared to be radical when young      <br /></em><em>For fear it would make me conservative when old.</em></p>
<p>Đối thoại trong cô độc là đối thoại phổ biến, được chia sẻ nhiều nhất. Các diễn văn bị quên đi mau chóng, nhưng các bài hát tình yêu, một câu ca dao trữ tình trở lại với một người. Độc thoại của một bài thơ cũng là đối thoại, vì nhà thơ biết rằng có một người đang lắng nghe mình. Không phải chỉ có thế giới đang nghe, mà chính là một phần của anh, phần lắng nghe ấy trong phân tâm học gọi là <em>siêu ngã</em>. Những nhà thơ tài năng sử dụng năng lực của siêu ngã trong quá trình sáng tạo, có thể hoàn toàn không tự biết. Đó là sự điều chỉnh ngoài ý thức đối với các chữ, có tác dụng lập tức. Mặc dù nhận xét rằng sự chọn chữ trong bài thơ của Frost cẩn thận và chính xác, cũng như trong các bài thơ hay của bất kì một ai khác, tôi không có ý cho rằng ông đã tính toán như một cái máy, hay nhất thiết phải ngồi viết đi viết lại bài thơ trăm lần. Sự lựa chọn đôi khi xảy ra chớp mắt, dưới tương tác của cảm hứng tức thì và soi xét siêu ngã. Vì vậy những nhà thơ khi viết quá để ý đến sự hài lòng của người đọc, rơi vào hai trường hợp: những kẻ có tài, tạo ra vài tác phẩm được yêu mến một thời nhưng không phải là tác phẩm lớn. Trường hợp khác thì ngược lại, họ không tạo ra điều gì cả. Trong quá trình sáng tạo, chỉ nên lắng nghe chính mình, tức là cái phần kiểm tra siêu ngã của chính mình. Đến từ thiên nhiên.</p>
<p>Thiên nhiên tạo thành ba loại khung cảnh trong văn học: văn minh; thiên nhiên thuần hóa; và thiên nhiên hoang dã. Hay có thể gọi là: phố thị; thôn quê; và rừng núi. Một nhà thơ chọn cho mình một khung cảnh riêng biệt, đặc thù, bao giờ cũng từ tiểu sử xuất thân và khuynh hướng tâm linh. Thơ Frost đi xuyên qua các khung cảnh khác nhau không phải chỉ bằng các chuyển động không gian mà còn trong thời gian. Nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà thơ về thiên nhiên không phải là mô tả chúng mà là xác nhận rằng có một thế giới, một vũ trụ thực hữu bên ngoài tâm trí chúng ta. Mà chúng ta cần kính trọng, thương yêu, gìn giữ.</p>
<p>Bởi vì con người không phải là những ông chủ của thiên nhiên.</p>
<p>Những bất hạnh quá khứ đối chiếu với hạnh phúc hôm nay; hình ảnh lý tưởng của dĩ vãng êm đềm so sánh với ngày nay đen tối; nỗi buồn thảm điêu tàn của hôm qua tiếp theo sau vẻ rực rỡ của ngày trước đó nữa; sự tương ứng, phản chiếu, lập lại, sự đối kháng của các mặt cắt khác nhau. Các mặt cắt thời gian này của thơ Frost di chuyển liên tục qua ba khung cảnh thiên nhiên, tạo nên một chuyển động phức hợp, có thể ghi nhận trên nhiều tọa độ rất khác nhau.</p>
<p>Tôi thường mơ trở lại thăm rừng liễu xanh, đồi bạch dương trắng phía bắc Edmonton, chạy trong tuyết rơi xuống lả tả, tuyết bay qua lất phất, như ngày nào mấy mươi năm trước cùng người thiếu nữ nhỏ xinh, nhưng không làm được. Mỗi người chúng ta đều biết đến những nỗi niềm nhớ tiếc giống như của tôi. Nhưng nhớ về thiên nhiên hoang sơ không phải chỉ là hoài niệm; chúng còn là mặc khải, chuyển thể, là dự phóng.</p>
<p><em>Khi nhìn những cành bạch dương uốn qua trái rồi qua phải      <br /></em><em>Trên nền hàng cây thẳng tắp hơn tối đen hơn      <br /></em><em>Tôi nghĩ đến một đứa trẻ chơi đùa lắc lư chúng</em></p>
<p><em>When I see birches bend to left and right      <br /></em><em>Across the lines of straighter darker trees,      <br /></em><em>I like to think some boy’s been swinging them.</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Đọc những câu thơ như thế người ta phải nhắm mắt một lát mà nghĩ đến tuổi thơ của mình, tung tăng trên đường nhỏ sớm mai, cặp sách trên vai, hay biến mất trong ngõ chiều sương sau chùm lá hạnh ký ức. Có một kẻ nào dùng tay lắc những cành cây trong trí nhớ chúng ta. Kẻ ấy trở đi trở lại nhiều lần, dù không ai thấy nhưng vẫn trở lại, lắc mỗi ngày một ít cho đến khi nhánh cành của đời sống mất dần sự cứng cỏi, trở nên mềm mại hơn, trở nên biết uốn lượn.</p>
<p><em>Mùa đông rồi mùa hè, đứa trẻ chơi một mình      <br /></em><em>Giữa hàng cây của cha mình, chú uốn nắn từng cây một      <br /></em><em>Bằng cách kéo chúng xuống, kéo xuống nữa, nhiều lần      <br /></em><em>Cho đến khi rút hết sự cứng cỏi ra khỏi chúng</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Summer or winter, and could play alone.      <br /></em><em>One by one he subdued his father’s trees      <br /></em><em>By riding them down over and over again      <br /></em><em>Until he took the stiffness out of them.</em></p>
<p>Rút hết sự cứng cỏi nào? Ở đâu?</p>
<p>Ở trong từng đường vân thớ gỗ, trong sự giận dữ của trái tim mỗi chúng ta.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>Tài liệu tham khảo:</strong></p>
<p>- Edward Connery Lathem and Lawrance Thompson,<em> Robert Frost: Peotry &amp; Prose </em>(First Owl Book Edition, 1984)</p>
<p>- Hellen Vendler, <em>Voices and Visions</em> (Random House, 1987)</p>
<p>- Dana Gioia, David Mason and Meg Schoerke,<em> Twentieth-Century American Poetry</em> (Mcgraw-Hill, 2004)</p>
<p>- David Lehman,<em> The Oxford Book of American Poetry</em> (Oxford, 2006)</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23086/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>XAYABURI: CON CỜ DOMINO TRONG CHUỖI ĐẬP MEKONG HẠ LƯU</title>
		<link>http://damau.org/archives/22470</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22470#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 06 Dec 2011 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Thế Vinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tế]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22470</guid>
		<description><![CDATA[Đại Học Cần Thơ – từng được mệnh danh là Ngọn Hải Đăng của Đồng Bằng Sông Cửu Long, rất cần có Phân Khoa Sông Mekong như một “think tank” một trung tâm nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="right"><em>Gửi Nhóm Bạn Cửu Long &amp; VN2020 Mekong Group </em></p>
<blockquote><p><i>Nếu không trì hoãn được ít nhất một thập niên, Xayaburi như con cờ Domino đầu tiên đổ xuống, sẽ kéo theo những bước khai thác ồ ạt các con đập hạ lưu khác và hậu quả tác hại trước mắt và lâu dài ra sao trên toàn hệ sinh thái Sông Mekong và Đồng Bằng Sông Cửu Long là không sao lường trước được. </i></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p><strong>LỊCH SỬ CHUỖI ĐẬP MEKONG HẠ LƯU</strong></p>
<p>Từ những thập niên 40s, các nhà xây đập Mỹ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mekong. Năm 1957, giữa thời kỳ chiến tranh lạnh, với bảo trợ của Liên Hiệp Quốc, một Ủy Ban Sông Mekong [Mekong River Committee] được thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Nam Việt Nam với văn phòng thường trực đặt tại Bangkok. Ủy Ban Sông Mekong thời đó đã có một kế hoạch vĩ mô phát triển toàn diện nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực, trong đó phải kể tới chuỗi những con đập thủy điện trên vùng Hạ Lưu sông Mekong. Cho dù có một nửa chiều dài sông Mekong chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó còn là một quốc gia khép kín và đã không được nhắc tới.</p>
<p>Nhưng rồi, Chiến Tranh Việt Nam đã lan rộng ra cả ba nước Đông Dương qua hơn ba thập niên, nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn chắn ngang sông Mekong vùng Hạ Lưu và các chương trình khai thác khác đã phải gián đoạn, khiến cho con sông Mekong còn giữ được sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.</p>
<p>Ngày 05 tháng 04 năm 1995, tại Chiang Rai Thái Lan, Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đại diện cho Việt Nam đã là người đặt bút ký tên trên bản <i>“Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Hạ Lưu Sông Mekong”</i> với một danh xưng mới là Ủy Hội Sông Mekong / Mekong River Commission thay vì Ủy Ban/Mekong River Committee như trước đây. [9]</p>
<p>Có một điều lệ thay đổi cơ bản của Ủy Hội Sông Mekong, là không một quốc gia nào có <i>quyền phủ quyết / veto power</i> như quy định của Ủy Ban Sông Mekong trước kia. Người viết cũng đã đưa ra nhận định cách đây hơn một thập niên là Ủy Hội Sông Mekong có thể coi là một <i>“biến thể và xuống cấp”</i> so với Ủy Ban Sông Mekong. [10]</p>
<p>Sau đó những con đập Hạ Lưu từ thời Ủy Ban Sông Mekong đã được các cơ quan tham vấn Canada và Pháp tái đề xuất và được Ban Thư Ký Sông Mekong ấn hành năm 1994. Nhưng rồi toàn thể các dự án ấy bị gác lại vì quá tốn kém và cả do mối e ngại về tác hại rộng rãi trên môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới các cộng đồng cư dân ven sông.    <br />Kể từ đầu năm 2006, các công ty Thái Lan, Mã Lai và Trung Quốc lại được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi / feasibility của những con “đập dòng chảy / run-of-river” thuộc Lưu Vực Dưới sông Mekong; thứ tự những dự án đập ấy từ bắc xuống nam:</p>
<p>1. Đập Pak Beng, Lào 1,320 MW; bảo trợ dự án: công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co. và chánh phủ Lào.</p>
<p>2. Đập Luang Prabang, Lào 1,410 MW; bảo trợ bởi PetroVietnam Power Co. và chánh phủ Lào.</p>
<p><b>3. </b><b>Đập Xayaburi, 1.260 MW, tỉnh Xayaburi, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Ch. Karnchang và chánh phủ Lào.</b></p>
<p>4. Đập Pak Lay, Lào, 1,320 MW tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Sinohydro Co. tháng 6, 2007 để khảo sát của dự án.</p>
<p>5. Đập Xanakham, Lào, 1,000MW; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co.</p>
<p>6. Đập Pak Chom, biên giới Lào Thái, 1,079 MW</p>
<p>7. Đập Ban Koum, biên giới Lào Thái, 2,230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani; bảo trợ bởi Italian-Thai Development Co., Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. và chánh phủ Lào.</p>
<p>8. Đập Lat Sua, Lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd. /Thái Lan và chánh phủ Lào.</p>
<p>9. Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: được bảo trợ bởi công ty Mã Lai Mega First Berhad Co.</p>
<p>10. Đập Stung Treng, Cam Bốt, 980 MW; bảo trợ bởi chánh phủ Nga</p>
<p>11. Đập Sambor, Cam Bốt; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc”/ China Southern Power Grid Co./ CSGP.</p>
<p>Bắc Kinh đã sở hữu 14 con đập Vân Nam thuộc Lưu Vực Trên, nay lại có mặt thêm nơi trong 4 dự án thuộc vùng Hạ Lưu. Chính công ty Trung Quốc Datang International Power Generation Co. đã có liên hệ trong công trình xây con đập Myitsone 6,000 MW Miến Điện trên sông Irrawaddy lớn nhất Đông Nam Á gây rất nhiều tranh cãi. Riêng Việt Nam là quốc gia ở cuối nguồn nhưng vì lợi lộc, cũng bảo trợ cho dự án đập Luang Prabang 1,410 MW lớn hơn con đập Xayaburi. [1]</p>
<p><strong>XAYABURI CON ĐẬP ĐẦU TIÊN </strong></p>
<p>Là con đập dòng chính đầu tiên vùng hạ lưu sông Mekong, cách thủ đô Vạn Tượng 350 km về phía bắc và cách con đập Cảnh Hồng / Jinhong trong chuỗi đập bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc 770 km và cách cố đô Luang Prabang 150 km về phía nam. Xayaburi được coi là một trong số 300 con đập lớn của toàn cầu.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/HNH-I_-Nhng-Con-p-Dng-Chnh-Mekong.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="HNH-I_-Nhng-Con-p-Dng-Chnh-Mekong" border="0" alt="HNH-I_-Nhng-Con-p-Dng-Chnh-Mekong" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/HNH-I_-Nhng-Con-p-Dng-Chnh-Mekong_thumb.jpg" width="300" height="477" /></a></p>
<p align="center"><i>Những Con Đập Dòng Chính Sông Mekong      <br />(</i><i>Source: Stimson Center) </i></p>
<p>Xayaburi có chiều rộng 830m, cao 49m, với hồ chứa diện tích 49 km2, dự trù có thêm 2 thang cá / <i>fishes passes</i> và một trạm giang chuyển <i>/ navigation lock</i>. Tổn phí xây đập là 3.5 tỉ MK với công xuất 1,260 MW, dự trù hoạt động vào năm 2019 với 95% lượng điện sản xuất sẽ được chuyển về tỉnh Loei Thái Lan qua một đường dẫn dây cáp dài 200km. Tiềm năng hoạt động lâu dài của đập Xayaburi đang còn là một dấu hỏi lớn do lượng phù sa quá lớn bị giữ lại có thể mau chóng làm cạn hồ chứa. Diễn tiến các bước triển khai dự án Xayaburi:</p>
<p>_ Tháng 05, 2007 chánh phủ Lào ký kết với công ty Ch. Karchang Thái Lan để thực hiện dự án đập Xayaburi.</p>
<p>_ Tháng 11, 2008 công ty AF Calenco Thụy Sĩ kết hợp với toán tham vấn Thái khảo sát tính khả thi của con đập.</p>
<p>_ Tháng 02, 2010 bản tường trình EIA / Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh được đệ trình cho Chánh phủ Lào.</p>
<p>_ Tháng 07, 2010 Chánh phủ Lào chính thức ký kết hợp đồng bán điện từ đập Xayaburi cho Thái Lan qua công ty EGAT / Electricity Generating Authority of Thailand.</p>
<p>_ Tháng 04, 2011 Ủy Ban Liên Hợp Ủy Hội Sông Mekong / MRC Joint Committee ra thông cáo báo chí là các thành viên chưa đạt được một thỏa thuận để tiến hành dự án Xayaburi. [8]</p>
<p>_ Tháng 06, 2011 chánh phủ Lào đơn phương “bật đèn xanh” cho công ty Thái Lan Ch.Karnchang triển khai dự án.</p>
<p>_ Khởi đầu một khủng khoảng niềm tin trong nỗ lực hợp tác vùng giữa các thành viên để bảo vệ hệ sinh thái của con sông Mekong.</p>
<p>Theo nội dung của Hiệp Định 1995 của Ủy Hội Sông Mekong / MRC tuy không một thành viên nào còn có quyền phủ quyết [ như quy định của Ủy Ban Sông Mekong trước kia ] nhưng các dự án trên sông Mekong cũng phải trải qua ba giai đoạn PNPCA như: (1) Thủ tục Thông báo / <i>Procedures for Notification</i>, (2) Tham vấn trước / <i>Prior Consultation</i>, (3) Chuẩn thuận / <i>Agreement</i>. Có thể nói, Xayaburi thực sự là dự án đầu tiên phải trải qua tiến trình quyết định PNPCA trên quy mô vùng / <i>a regional decision-making process</i>.</p>
<p>Tưởng cũng nên nói thêm về những quy định và khung thời gian / time frame cho từng bước trong tiến tình PNCPA theo tinh thần Hiệp Định Ủy Hội Sông Mekong 1995: khi có một dự án Sông Mekong, quốc gia thành viên sẽ phải đệ nạp và thông báo cho Ủy Hội Sông Mekong để khởi đầu tiến trình PNPCA; (1) Ủy Hội Sông Mekong đã được chánh phủ Lào Thông Báo chính thức về dự án Xayaburi <i>/ PN/ Procedures for Notification</i> từ tháng 09, 2010. (2) Bước thứ hai là Tham-Vấn- Trước / <i>PC / Prior Consultation.</i>. Theo điều lệ 5.5.1 thì thời gian dành cho Tham Vấn Trước là 6 tháng kể từ ngày nhận được Thông Báo. Nhưng cũng có thêm một điều khoản khác 5.5.2 là nếu các nước thành viên chưa đạt được sự đồng thuận thì khung thời gian 6 tháng này có thể được Ủy Ban Liên Hợp Ủy Hội Sông Mekong gia hạn thêm.</p>
<p>Chánh phủ Lào thì cho rằng các tác động xuyên biên giới / transboundary impacts của đập Xayaburi đối với các quốc gia hạ lưu là không chắc sẽ xảy ra nên không cũng không thực tế và cần thiết khi yêu cầu kéo dài thời gian Tham-Khảo-Trước và cho dù có thêm thời gian lâu hơn nữa, thì cũng không thể nào thỏa mãn hết các mối quan tâm của mỗi thành viên.</p>
<p>Viraphonh Viravong, trưởng phái đoàn Lào phát biểu: <i>“Chúng tôi ghi nhận mọi ý kiến đóng góp, chúng tôi sẽ xem xét nhằm có thể đáp ứng tất cả những mối quan ngại.”</i> và phái đoàn đại diện Lào đã đưa ra cam kết: Sẽ tuân thủ những hướng dẫn thiết kế sơ khởi của Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong – MRC Secretariat, và sẽ thực hiện tối ưu theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng tác động trên mọi khía cạnh như thủy lộ giao thông, các đoàn di ngư, lượng phù sa, phẩm chất nước, hệ sinh thái nước và cả mức an toàn của con đập ở mức độ có thể chấp nhận được <i>/ at acceptable levels</i>.</p>
<p>Nhưng với các quốc gia thành viên khác như Việt Nam, Cam Bốt và cả Thái Lan thì vẫn bày tỏ mối quan ngại về những khiếm khuyết kỹ thuật của dự án, chưa tiên liệu được ảnh hưởng ra sao trên môi trường và trên đời sống của các cộng đồng cư dân trong lưu vực; do đó cần có thêm những cuộc tham khảo rộng rãi trong quần chúng.</p>
<p>Phái đoàn Việt Nam thì cho rằng chưa có những lượng giá thỏa đáng về những tác động tích lũy và xuyên biên giới trên vùng hạ lưu, đặc biệt là nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long. Do đó thời gian 6 tháng là không đủ để các quốc gia ven sông có thể tiến hành những cuộc nghiên cứu toàn diện và mang tính định lượng về những tác hại tích lũy có thể có từ con đập Xayaburi. Và Việt Nam đã đưa ra đề nghị hoãn lại dự án Xayaburi cùng với những dự án đập hạ lưu khác ít nhất là 10 năm.</p>
<p>Phái đoàn Cam Bốt cũng cho rằng phải cần nhiều thời gian hơn nữa cho giai đoạn Tham-Vấn-Trước với các nước thành viên và cả với các cộng đồng cư dân sao cho cách hiệu quả. Ngoài phần phát biểu về sự cần thiết có những cuộc nghiên cứu và đánh giá toàn diện về tác động trên môi trường và ảnh hưởng tích lũy của con đập Xayaburi; điểm rất đặc biệt mà phía Cam Bốt nêu ra là <i>“phần chia xẻ lợi nhuận – benefit sharing” </i>từ con đập đối với các quốc gia bị ảnh hưởng, cho vấn đề bảo vệ môi trường liên quốc gia cũng như lập những <i>quỹ xã hội – social funds.</i></p>
<p>Phái đoàn Thái Lan, tuy cùng với Lào hưởng lợi nguồn điện từ con đập Xayaburi, nhận định rằng đập thủy điện Xayaburi có tầm quan trọng trong kế hoạch phát triển của quốc gia Lào, nhưng đồng thời cũng gây mối quan ngại về suy thoái môi trường với các vùng đất ngập và mất đi nguồn cá và như vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các cộng đồng cư dân sống ven sông Mekong. Jatuporn Buruspat, Tổng Giám Đốc Vụ Tài Nguyên Nước Thái Lan đã có một phát biểu thể hiện mối quan tâm tới xã hội công dân Thái : <i>“Chúng tôi muốn biết tới quan điểm quần chúng và đặc biệt chú ý tới những mối quan tâm của họ.” </i>[8]</p>
<p>Xayaburi là dự án đập được khởi động đầu tiên trong chuỗi 12 con đập hạ lưu trên dòng chính sông Mekong, cũng là con đập thứ nhất nằm bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Theo lượng giá rất sơ khởi thì sẽ có hơn 200,000 người trực tiếp bị ảnh hưởng vì con đập, trong đó có 2,100 dân làng trên vùng xây đập bị cưỡng bách di dời và phải tái định cư. Chưa kể tới ảnh hưởng trên hàng chục triệu cư dân Lào, Cam Bốt và Việt Nam từ bấy lâu phụ thuộc vào nguồn nước, nguồn cá của sông Mekong như mạch sống của họ.</p>
<p>Trước những bất trắc và thiệt hại hiển nhiên ấy, câu hỏi được đặt ra là ai đứng phía sau thúc đẩy dự án Xayaburi tiến tới? Đó chính là các thế lực tài phiệt và các công ty năng lượng Thái Lan. Thế lực tài chánh thì gồm 4 ngân hàng lớn: Kasikorn Bank, Bangkok Bank, Krung Thai Bank và Siam Commercial Bank. Công ty xây đập là Thai Construction Company Ch. Karnchang. Khi con đập hoàn tất, thì 95% lượng điện sẽ chuyển về Thái Lan bán cho công ty EGAT / <i>Electricity Generating Authority of Thailand. </i></p>
<p><strong>SAVE THE MEKONG VÀ NHỮNG PETITIONS</strong></p>
<p>Tháng 03, 2011: quyết liệt nhất phải kể tới thỉnh nguyện thư của tổ chức <i>SavetheMekong.org</i> gửi tới 2 Thủ tướng Lào và Thái Lan với yêu cầu “hủy bỏ / cancel” – chứ không phải trì hoãn, toàn dự án đập Xayaburi với mối quan ngại về sự hủy hoại hệ sinh thái trong vùng, và những tàn phá do con đập Xayaburi gây ra sẽ là một tổn thất vĩnh viễn / permanent loss đối với nguồn sống của cư dân trong vùng và cũng là đối với một trong những con sông quý giá nhất của hành tinh này.</p>
<p>Nguồn cá phong phú của con sông Mekong chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon, với hơn 1,000 chủng loại cá, và con đập Xayaburi sẽ ngăn chặn các đoàn di ngư / migratory fishes [ hơn 23 chủng loại], đe dọa tuyệt chủng thêm 41 loại cá khác, trong đó phải kể tới cá Pla Beuk – Mekong Giant Catfish, cùng với loại cá Irrawaddy Dophin, được coi là <i>chủng loại quan trọng / flagship species </i>biểu tượng cho sự lành mạnh của hệ sinh thái sông Mekong.</p>
<p>Ame Trandem, Giám Đốc Chương trình Đông Nam Á của tổ chức IRN / Mạng Sông Quốc Tế cũng có một nhận định tương tự: <i>“Nếu đập Xayaburi được xây xong , nó sẽ mở cửa cho hàng loạt cho những con đập dòng chính khác gây tổn hại không thể đảo nghịch trên toàn hệ sinh thái của con sông.”</i> [4]</p>
<p>Tháng 04, 2011: do sự chống đối rộng rãi của cư dân trong cùng hạ lưu sông Mekong và cả các tổ chức môi sinh địa phương và quốc tế, khiến các chánh phủ trong vùng đã phải hoãn đi tới quyết định về con đập Xayaburi. Nhưng từ đó tới nay, Lào và công ty xây đập Thái Lan vẫn cứ âm thầm đơn phương cho tiến hành dự án.</p>
<p>Bằng chứng là chỉ mới đây thôi [ 09-19-2011], phóng viên Bangkok Post khi trở lại viếng thăm hiện trường xây đập Xayaburi, để thấy rằng mọi trang thiết bị nặng kể cả những giàn máy đào xới / backhoes vẫn liên tục hoạt động, với hơn 90% công trình làm con đường dẫn tới vùng xây đập đã hoàn tất.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/HNH-II_-Cng-Trng-p-Xayaburi-vn-hot-ng.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="HNH-II_-Cng-Trng-p-Xayaburi-vn-hot-ng" border="0" alt="HNH-II_-Cng-Trng-p-Xayaburi-vn-hot-ng" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/HNH-II_-Cng-Trng-p-Xayaburi-vn-hot-ng_thumb.jpg" width="429" height="293" /></a></p>
<p align="center"><i>Công trường xây Đập Xayaburi vẫn không ngưng hoạt động      <br />(</i><i>Source: International River Network)</i><i>&#160;</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Viraphonh Viravong Tổng Giám đốc Điện Lực Nhà nước Lào đã cố gắng giải thích và bào chữa cho sự kiện rất nghịch lý và như một vi phạm này: <i>“ Dĩ nhiên là chỉ khi nào công trình đập Xayaburi được khởi động, con đường dẫn mới được xử dụng. Bằng không thì mọi tiện nghi sẽ thuộc về chánh quyền sở tại, giúp họ có đường xá đi tới những làng mạc thôn bản.”</i> [3]</p>
<p><strong>LƯỢNG GIÁ MÔI SINH THIÊN LỆCH</strong></p>
<p>Chỉ mới đây thôi, vào tháng 5, 2011 chánh phủ Lào đã lại thuê công ty Thụy Sĩ có tên là Poyry Energy AG thực hiện “chỉ trong vòng 3 tháng”, một cuộc khảo sát Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh / EIA của con đập Xayaburi – như thêm một đáp ứng chiếu lệ theo yêu cầu của MRC / Ủy Hội Sông Mekong, chuẩn bị cho bước “quyết định cấp vùng” nên hay không nên khởi công xây con đập Xayaburi vào cuối năm nay. Số phận con đập Xayaburi sẽ được quyết định trong hội nghị Ủy Hội Sông Mekong tại Siem Reap, Cam Bốt trong 3 ngày 7, 8, 9 tháng 12, 2011.</p>
<p>Chỉ trong thời gian ngắn ngủi ấy, tuy phải đối đầu với bao nhiêu bất trắc, với những vấn nạn chưa có câu trả lời nhưng Poyry đã đi tới ngay kết luận mang tính phỏng đoán rằng ảnh hưởng tác hại của con đập là không đáng kể trên cư dân Lào và cả các quốc gia kế cận và cho rằng Lào có thể tiến hành xây con đập.</p>
<p>Poyry đã tự quảng cáo là một công ty tham vấn và kỹ thuật toàn cầu <i>/ global consulting and engineering company</i>, với phẩm chất cao nhất đưa tới giải pháp toàn diện; có khả năng chuyên sâu trong các lãnh vực năng lượng, kỹ nghệ, thiết kế đô thị, nước và môi trường. Poyry có tới 7,000 chuyên viên với mạng lưới văn phòng trên 50 quốc gia. Cổ phiếu trị giá của công ty năm 2010 lên tới 682 triệu Euro.</p>
<p>Lào chọn thuê Poyry do công ty này đã có một quá trình liên hệ với các dự án đập trong vùng hạ lưu sông Mekong. Poyry cũng đã và đang có liên hệ với công ty xây đập Thái Lan Ch. Karnchang trong dự án đập Nam Ngum-2 và cũng dễ hiểu là tại sao, Poyry luôn luôn đưa ra những<i> “lượng giá thuận lợi”</i> cho cho người bạn đối tác làm ăn lâu dài của mình, cho dù có những bằng chứng hiển nhiên là trái ngược. [4]</p>
<p>Nam Ngum-2 là con đập thứ hai trên sông Nam Ngum, một phụ lưu chính của sông Mekong, công suất 615 MW, cách con đập Nam Ngum-1 35 km về phía thượng nguồn, cũng do công ty Poyry lượng giá ảnh hưởng môi sinh và tính khả thi / feasibility của con đập. Toàn thể lượng điện từ Nam Ngum-2 cũng sẽ được chuyển nhượng cho Thái Lan / EGAT / Electricity Generating Authority of Thailand.</p>
<p>Năm 1971, đập Nam Ngum-1 hoàn tất: có thể nói Lào là quốc gia đầu tiên và sớm nhất có đập thủy điện trong lưu vực Sông Mekong giữa những năm giông bão của cuộc chiến tranh Việt Nam.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/HNH-III_-p-Nam-Ngum-1-1971.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="HNH-III_-p-Nam-Ngum-1-1971" border="0" alt="HNH-III_-p-Nam-Ngum-1-1971" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/HNH-III_-p-Nam-Ngum-1-1971_thumb.jpg" width="429" height="287" /></a></p>
<p align="center"><i>Nam Ngum-1 Đập Thủy Điện đầu tiên của Lào 1971 trên một phụ lưu chính sông Mekong      <br />(Source: photo by Ngô Thế Vinh 12/2000)</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Bốn mươi năm sau đập Nam Ngum-1 [ 1971- 2011 ] Lào vẫn là một đất nước kém phát triển và nghẻo nhất so với các quốc gia trong vùng. Chiến lược của Lào là sẽ trở thành một <i>“xứ Kuwait thủy điện Đông Nam Á.” </i></p>
<p>Nam Viyaketh, Bột trưởng Công Thương của chánh phủ Lào tuyên bố: <i>“Nếu mọi nguồn năng lượng được khai thác, Lào sẽ trở thành Chuỗi Bình Phát Điện của Đông Nam Á – Battery of Southeast Asia, chúng tôi sẽ bán nguồn điện ấy cho các nước láng giềng và Lào sẽ trở nên giàu có.”</i> [11] Nhưng còn rủi ro thì ra sao đối với Con Sông Mẹ – <i>Mae Nam Khong </i>như mạch sống của người dân Lào thì vẫn còn là những ẩn số.</p>
<p><strong>XAYABURI VÀ HIỆU ỨNG DOMINO </strong></p>
<p>Hiệu ứng Domino là một chuỗi phản ứng tiếp theo một biến động đầu tiên tạo nên những chuyển biến tương tự nơi vùng kế cận và cứ tiếp tục phản ứng như vậy theo chuỗi / in linear sequence. Tượng hình là một chuỗi những con cờ Dominoes, được xếp thẳng đứng và khi quân cờ Domino đầu tiên bị đổ xuống sẽ tạo hiệu ứng xô ngã con cờ tiếp theo và cứ tiếp tục một chuỗi phản ứng như vậy cho tới con cờ Domino đứng chót.</p>
<p>Đập Xayaburi sẽ là quân cờ Domino đầu tiên ấy, nếu không trì hoãn được ít nhất một thập niên tới năm 2020, theo như khuyến cáo của Ủy Hội Sông Mekong / Mekong River Commission [ 1995 – Present ], sẽ có hiệu ứng kéo theo những bước khai triển ồ ạt của chuỗi những con đập hạ lưu khác và hậu quả ra sao trên hệ sinh thái sông Mekong và nơi Đồng Bằng Sông Cửu Long phải nói là không lường trước được.</p>
<p><strong>LÀM GÌ TRONG MƯỜI NĂM TỚI 2010 – 2020?</strong></p>
<p>Một năm qua đi kể từ ngày Ủy Hội Sông Mekong ra khuyến cáo về Lượng Giá Môi Trường Chiến Lược / Strategic Environmental Assessment 2010 : sẽ không có con đập hạ lưu nào khởi công trong vòng 10 năm tới để có thêm thời gian cho những cuộc khảo sát nghiên cứu. Ts Lê Đức Trung, trưởng đoàn Việt Nam trong thông cáo báo chí 14-04-2011, cũng chính thức đề nghị trì hoãn dự án Xayaburi và các dự án thủy điện khác trên dòng chính sông Mekong ít nhất là 10 năm cho dù chánh phủ Lào vẫn nhấn mạnh quá trình PNPCA đã hoàn chỉnh.</p>
<p>Mười năm ấy 2010-2020 chẳng phải là một thời gian dài cho một chiến lược môi sinh nhằm bảo vệ sông Mekong và Đồng bằng Sông Cửu Long. Cách đây ngót một thập niên, khi viết về Đại Học Cần Thơ [14], người viết đã có nhận định là không thể thụ động ngồi chờ nguồn thông tin do bên ngoài tùy tiện cung cấp mà vì lý do sống còn, chúng ta phải hết sức tích cực và trực tiếp đi tìm kiếm những gì mà chúng ta cần biết – đó là những dữ kiện khách quan. Điều ấy đòi hỏi cho một chiến lược bảo vệ môi sinh với tầm nhìn xa, với một đội ngũ chuyên viên không những chỉ có trình độ mà còn có lòng thiết tha với công việc chuyên môn của họ.</p>
<p>Người viết tiếp sau đó cũng đưa ra những đề xuất – đến nay tuy đã hơn 10 năm nhưng vẫn còn nguyên tính thời sự và khẩn trương đối với tình hình hiện tại.</p>
<p>Đại Học Cần Thơ – từng được mệnh danh là Ngọn Hải Đăng của Đồng Bằng Sông Cửu Long, rất cần có Phân Khoa Sông Mekong như một <i>“think tank” </i>một trung tâm nghiên cứu giảng dạy và là nguồn cung cấp chất xám. Ban giảng huấn ngoài thành phần cơ hữu của nhà trường, sẽ bao gồm các chuyên gia của Ủy Hội Sông Mekong, Ủy Hội Sông Mississippi, nhóm Chuyên Viên Tham vấn Quốc tế bên cạnh MRC. Họ sẽ được mời như những Giáo Sư Thỉnh Giảng. Tài liệu giảng của họ sẽ là nguồn thông tin vô cùng quý giá do từ những đúc kết qua thực tiễn.</p>
<p>Chọn lọc tuyển sinh không phải chỉ có Việt Nam mà cả từ các quốc gia trong lưu vực, hướng tới đào tạo các kỹ sư môi sinh [trình độ Master of Science] được tiếp cận với thực tiễn bằng những chuyến du khảo / fieldtrips qua các trọng điểm của con sông Mekong, qua các con đập, và không thể thiếu một thời gian thực tập <i>“on-the-job training”</i> tại các cơ sở của Ủy Hội Sông Mekong. Họ sẽ ra trường với một tiểu luận tốt nghiệp về những đề tài khác nhau liên quan tới hệ sinh thái của con sông Mekong.</p>
<p>Về phương diện chánh quyền, cần thiết lập ngay một mạng lưới <i>“Tùy viên Môi sinh”</i> [Đã có những tùy viên quân sự, tùy viên văn hóa, tại sao không thể có tùy viên môi sinh ]<i> </i>đặc trách sông Mekong trong các Tòa Đại sứ và Sứ quán tại các quốc gia trong lưu vực: như tòa lãnh sự Việt Nam ở Côn Minh Vân Nam, bốn tòa đại sứ Việt Nam ở Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt. Họ sẽ là tai mắt, là những trạm quan sát sống cho Phân Khoa Sông Mekong, Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam và Bộ Bảo Vệ Môi Trường.</p>
<p>Trong một cuộc phỏng vấn 02-10- 2011 của đài Á Châu Tự Do/RFA [13], trả lời câu hỏi là chánh phủ các nước hạ nguồn sông Mekong cần phải làm gì để cứu vãn môi sinh và sinh kế cho toàn bộ dân cư trong khu vực hạ lưu?</p>
<p>Kỹ sư Phạm Phan Long, thuộc Hội Sinh Thái Việt/Viet Ecology Foundation đã phát biểu: là ngoài quyết định ngưng xây đập Xayaburi và các con đập khác trên sông Mekong, cần thêm những biện pháp khác mà các nước hạ lưu có thể làm, bao gồm: <i>thiết lập quỹ “Mekong Fund” bảo vệ môi trường và cứu trợ hạn hán, lũ lụt; phục hồi rừng và thảm thực vật; phát triển nông ngư nghiệp, sống với hạn hán và sống với mặn như đã sống với phèn và sống với lũ; phát triển hoạt động kinh tế huấn nghệ bớt dựa vào thiên nhiên sông hồ; trong 10 năm tới nghiên cứu thủy điện theo tiêu chuẩn quốc tế và cần có dung tích hồ chứa dành riêng cho ưu tiên chống lụt và giảm hạn.</i> [13]</p>
<p>Đây cũng là quan điểm của phái đoàn Cam Bốt khi nói tới <i>“chia xẻ lợi nhuận – benefits sharing”</i> từ các con đập như một đền bù cho những thiệt hại trên các cộng đồng cư dân ven sông. <i>“Mekong Fund”</i> sẽ là một quỹ bảo hiểm cho mọi rủi ro cho dù lớn hay nhỏ, trong tiến trình khai thác nguồn tài nguyên từ con Sông Mekong, trong đó có tài nguyên nước và những con đập thủy điện.</p>
<p>Một câu hỏi cấp thiết đặt ra cho Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam: làm sao để kịp thời đưa ra những <i>tiêu chuẩn cơ bản – baseline criteria</i>, những <i>thông số khoa học – scientific parameters</i> &#8211; không phải chỉ riêng cho con đập Xayaburi mà cả những con đập khác trong tiến trình PNPCA như (1) bảo đảm lưu lượng tối thiểu trong mùa khô hạn, (2) lưu lượng tối đa trong mùa mưa lũ với con sông Tonle Sap chảy hai chiều, (3) bảo đảm nguồn cá và đường di chuyển của các đoàn di ngư, (4) phẩm chất nước và trữ lượng phù sa cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, (5) và quan trọng là sự cam kết tuân thủ cùng với những biện pháp theo dõi và chế tài khi bất cứ một thành viên nào <i>vi phạm – out of line</i> các tiêu chuẩn cơ bản ấy.</p>
<p>Cũng vẫn câu hỏi ấy, đặt ra cho Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam là: tiến trình PNPCA sẽ diễn tiến ra sao nếu đó là dự án đập Luang Prabang 1,410 MW của PetroVietnam Power Co. – thay vì là con đập Xayaburi với công ty Ch. Karnchang Thái Lan; người viết cho rằng Việt Nam cũng đang liều lĩnh <i>đi trên những tảng băng mỏng – walks on thin ice</i>, và với tiêu chuẩn nước đôi – <i>double standard</i>, Việt Nam sẽ không dễ dàng gì để có những câu trả lời thuyết phục và thỏa đáng.</p>
<p><em>NGÔ THẾ VINH     <br />21 – 11 – 2011</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22470/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NG&#192;Y MỚI TR&#202;N S&#212;NG IRRAWADDY: Từ Con Đập Myitsone Tới Chuỗi Đập S&#244;ng Mekong</title>
		<link>http://damau.org/archives/22002</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22002#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 31 Oct 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Thế Vinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22002</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 30 tháng 09, 2011, ổng Thống dân sự Thein Sein đã ra lệnh hoãn công trình xây con đập thủy điện khổng lồ Myitsone của Trung Quốc trên sông Irrawady .... Tổng Thống Thein Sein cho rằng dự án đập Myitsone “đã đi ngược lại nguyện vọng của dân chúng.” Đây có thể coi là bước tiến đột phá trên đường “dân chủ hóa” biểu tượng nhất.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="right">(<em>Gửi Nhóm Bạn Cửu Long&#160; và VN 2020 Mekong Group</em>)</p>
<p align="right">&#160;</p>
<p align="right"><i>Hủy hoại môi trường sống, cho dù ở đâu và bao giờ,      <br />là </i><i>một hình thái khác của bạo động và vi phạm nhân quyền</i></p>
<p align="right"><em></em></p>
<p align="left"><b>Một Thoáng Miến Điện</b></p>
<p>Miến Điện từng được biết tới như một vùng Đất Vàng – Shwe Pyidaw, một đất nước rất giàu có về tài nguyên thiên nhiên với gỗ quý, đá kim quý, dầu khí, đất đai phì nhiêu nhất Á Châu như vùng châu thổ Irrawaddy diện tích 255,000 km2 là cả một vựa lúa trù phú và thêm một vựa cá khổng lồ ngoài khơi vịnh Andaman. Một đất nước đẹp đẽ như vậy với cả ngàn ngôi chùa vàng lấp lánh nhưng lại là một đất nước của nghèo khổ với ba phần tư dân chúng thất học và thiếu ăn, còn tệ hơn dưới thời thực dân Anh. Với dân số gần 54 triệu, diện tích 676 552km2 gấp đôi Việt Nam, bằng diện tích nước Pháp và Anh cộng lại. Tây và tây bắc giáp với Ấn Độ và Bangladesh, bắc và đông bắc giáp với Trung Quốc và Lào, đông và đông nam giáp với Thái Lan. Có hai con sông chính chảy từ bắc xuống nam tạo nên những thung lũng và đồng bằng đẫm phù sa. Con sông Irrawaddy dài nhất xuất phát từ cao nguyên Tây Tạng băng qua vùng đồi núi Kachin phía đông bắc Miến rồi chảy dài suốt 2000 km về hướng nam với chặng cuối chia ra làm nhiều nhánh trước khi đổ ra biển khơi Ấn Độ Dương.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/10/myanmar_dsg_037_thumb.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="myanmar_dsg_037_thumb" border="0" alt="myanmar_dsg_037_thumb" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/10/myanmar_dsg_037_thumb_thumb.jpg" width="285" height="409" /></a></p>
<p align="center"><em><font size="2" face="Times New Roman">Chùa Kuthodaw, Mandalay, Miến Điện        <br /></font></em></p>
<p>Là mạch sống và cũng là thủy lộ giao thông chính của Miến từ thời thực dân Anh. <i>“Con đường tới Mandalay”</i> đã đi vào vần thơ bất hủ của Rudyard Kipling, văn hào Anh đầu tiên được giải Nobel văn chương, được mọi người biết tới như một nhà văn của thời kỳ thuộc địa. <i>“The Ballad of East and West”</i> (1892) vẫn còn luôn luôn được trích dẫn<i>: Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet!</i> Đông là Đông, và Tây là Tây, và hai ngả ấy chẳng bao giờ gặp nhau!</p>
<p>Mandalay theo huyền thoại Miến Điện được coi là vùng đất Phật. Tương truyền rằng Đức Phật Thích Ca và môn đồ Ananda khi viếng thăm đồi Mandalay đã tiên tri rằng tới năm Phật lịch 2400, thì Mandalay sẽ trở thành một trung tâm truyền bá Phật học. Do đó vào năm 1857 vua Miến Điện Mindon đã di chuyển cung điện tới gần đồi Mandalay nơi khúc quanh của con sông Irrawaddy và tiếp sau đó rất nhiều Phật học viện tráng lệ được xây cất, đó là các công trình nghệ thuật kiến trúc bằng gỗ quý được trạm trổ vô cùng tinh vi. Mandalay nghiễm nhiên trở thành một trung tâm văn hóa Phật giáo. Nhưng rồi sau đó Mandalay rơi vào tay người Anh và tiếp đến Thế Chiến Thứ Hai, tất cả đã trở thành tro than. Mandalay đã điêu tàn và ngày nay trở thành cái bóng của quá khứ.</p>
<p>Miến Điện từng được kể là một trong những thuộc địa đem lại lợi lộc nhất cho đế quốc Anh. Kyaw Nyein đã mô tả đất nước Miến Điện dưới thời Anh đô hộ như sau: <i>“Đó là một xã hội hình tháp – social pyramid với dưới đáy là bao nhiêu triệu người dân Miến nghèo khổ, ngu dốt và bị bóc lột, và trên đỉnh là một thiểu số người ngoại quốc Anh, Ấn và Hoa&#8230;” </i></p>
<p>Để rồi hơn một nửa thế kỷ sau tình hình không có gì đổi khác, cho dù người Anh đã ra đi, nhưng cũng vẫn là xã hội hình tháp ấy với nguyên dưới đáy là hàng chục triệu những người Miến Điện nghèo khổ ngu dốt và bị bóc lột, chỉ có khác là bị bóc lột triệt để hơn bởi chính đồng bào của họ: đám tướng lãnh quân phiệt Miến.</p>
<p>Năm 1989, chánh quyền quân phiệt đổi tên nước Miến Điện là Myanmar theo chế độ Cộng Hòa Xã Hội Liên Bang. Thư từ nước ngoài gửi về với tên Miến Điện – Burma sẽ bị đóng dấu phát hoàn với lý do: “Burma, country unknown”. [5]</p>
<p><b>Hoàng Hôn trên Sông Irrawaddy [2007 - 2011]</b></p>
<p>Từ tháng 5 năm 2007, theo <i>The New Light of Myanmar</i> tờ báo nhà nước Miến Điện, thì chánh quyền quân phiệt Rangoon và Trung Quốc đã hoàn tất 7 dự án thủy điện lớn trên sông Irrawaddy với tổng công suất 13,360 MW, đi tới một ký kết giữa Công Ty Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc (CPI / China Power Investment Co.) và Bộ Điện Lực Miến Điện.</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/10/Nhng-Con-p-Thy-in-Min-in.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Những Con Đập Thủy Điện Miến Điện" border="0" alt="Những Con Đập Thủy Điện Miến Điện" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/10/Nhng-Con-p-Thy-in-Min-in_thumb.jpg" width="252" height="443" /></a></p>
<p>Từ cuối năm 2007, cho dù bản tường trình EIA / Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh chưa hoàn tất, Trung Quốc đã cho khởi công xây con đập thủy điện Myitsone lớn nhất Miến Điện cũng là lớn nhất Đông Nam Á, công suất dự trù lúc ban đầu là 3,600 MW trên sông Irrawaddy [ gấp 3 lần con đập Cảnh Hồng / Jinghong Dam trên dòng chính sông Mekong] . Nhưng đến tháng 12, 2009 trong chuyến viếng thăm của Phó Thủ Tướng Trung Quốc Tập Cận Bình / Xi Jinping, công suất con đập Myitsone đã được tăng từ 3,600 MW lên tới 6.000 MW [ gấp 4 con đập Mạn Loan/ Manwan, Vân Nam.]</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/10/Cng-trng-xy-p-Myitsone.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Công trường xây đâp Myitsone" border="0" alt="Công trường xây đâp Myitsone" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/10/Cng-trng-xy-p-Myitsone_thumb.jpg" width="439" height="241" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Công trường xây Đập Myitsone</em></font></p>
<p>Vị trí con đập nằm ngay trên hợp lưu của hai nhánh sông Mayhka và Malihka, cách Myitsone thủ phủ của bang Kachin 42 km về hướng bắc [Bản Đồ I]. Theo IRN/ International Rivers Network, trụ sở ở Berkeley California thì nếu không gặp trắc trở, con đập Myitsone sẽ hoạt động phát điện vào năm 2018, với 90% lượng điện sản xuất sẽ được chuyển về Trung Quốc và chỉ riêng công ty Quốc Doanh Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc CPI / China Power Investment Corp. được hưởng tới 70% phần lợi nhuận.</p>
<p>[Tập Cận Bình/Xi Jinping, theo dự đoán, sang năm 2012 sẽ thay thế Hồ Cẩm Đào trong chức vụ Tổng Bí Thư Đảng CS và Chủ Tịch nhà nước Trung Quốc.]</p>
<p><b>Mọi Lượng Giá Ảnh Hưởng Môi Sinh Bị Che Dấu</b></p>
<p>Chỉ sau khi thỏa ước hai nước đã ký kết, như một chiếu lệ, công ty điện lực Trung Quốc CPI mới có kế hoạch đề cử một tổ chức phi chánh phủ có tên BANCA / <i>Biodiversity and Nature Conservation Association</i> thực hiện một cuộc khảo sát về ảnh hưởng môi sinh [EIA / Environment Impact Assessment] của con đập Myitsone. BANCA đã báo động về tình trạng nguy hiểm khi vị trí con đập xây gần <i>rãnh nứt động đất / earthquake fault line;</i> cùng với tác hại phá rừng khai quang khu xây đập, sẽ không còn rừng để ngăn lũ, gây ngập lụt các vùng cư dân như thị trấn Myitkyina. Họ đề nghị thay thế dự án đập Myitsone bằng 2 con đập nhỏ hơn nhưng đã bị các công ty Trung Quốc và giới quân phiệt Miến Điện bác bỏ. Không những thế họ còn bị áp lực bắt tổ chức này phải im tiếng. Nhưng rồi thông tin của bản tường trình ấy cũng bị tiết lộ, mở màn cho một phong trào vận động rộng lớn hơn của giới trí thức và các nhóm hoạt động môi sinh nhằm <i>“Cứu Con Sông Irrawaddy!”</i> như huyết mạch và cũng là cái nôi của nền văn hóa Miến Điện.</p>
<p>Ngày 19 tháng 09, 2011 là một dấu mốc đáng ghi nhớ, đây là lần đầu tiên có một cuộc hội thảo quy mô với hơn 400 người tham dự, trong số đó có cả các chức sắc của chánh phủ Miến Điện về “Những Thuận Lợi và Bất cập của Công trình Myitsone”.</p>
<p>Tiến Sĩ Tun Lwin, nguyên Tổng Giám Đốc Khí Tượng Thủy Văn phát biểu ông chống dự án đập vì hậu quả làm thay đổi khí hậu, gây bão lụt và mực nước sông trồi sụt.</p>
<p>Win Myo Thu, Giám Đốc Quản lý Phát triển Hệ Sinh Thái/EcoDev tại Rangoon cũng có quan điểm chống dự án đập. “Không còn hoài nghi là con đập sẽ hủy hoại môi trường và câu hỏi đặt ra là con đập ấy có thực sự mang lại lợi ích cho cho nền kinh tế Miến Điện hay không?” [8]</p>
<p>Cho dù phong trào chống đối con đập Myitsone gia tăng nhưng các công ty xây đập Trung Quốc và đối tác là các tay tài phiệt Miến vẫn cứ ngạo nghễ cho tiến hành công trình xây đập.</p>
<p>Theo Tổ Chức Môi Sinh Kachin có trụ sở ở Chiang Mai Thái Lan, thì tình trạng vi phạm nhân quyền và cả đàn áp cư dân địa phương đã luôn luôn diễn ra trên vùng xây đập. Cảnh quan thiên nhiên và di sản văn hóa của sắc tộc Kachin đang từng ngày bị hủy hoại, với 40 ngôi làng quanh vùng xây đập sẽ hoàn toàn bị ngập lụt và hơn 10 ngàn cư dân sẽ mất hết nhà cửa và bị cưỡng bách phải di dời. Chưa kể đến trường hợp nếu con đập bị vỡ do động đất thì sẽ là thảm họa cho hàng triệu cư dân hạ nguồn. Ai cũng biết Bắc Miến cũng như Vân Nam và các tỉnh tây nam Trung Quốc là vùng động đất đang hoạt động / <i>seismically active zone</i>) [9]</p>
<p>Tháng 6 năm 2010, sau Tập Cận Bình là Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo / Wen Jiabao đã tới thăm giới lãnh đạo quân phiệt Miến Điện để <i>“thảo luận về các vấn đề năng lượng”</i> cũng có nghĩa là hai nước sẽ phải tiến hành nhanh và đẩy mạnh kế hoạch xây chuỗi đập thủy điện trên lãnh thổ Miến. Đập Myitsone trên sông Irrawaddy chỉ là một trong 7 dự án và ngoài Công Ty Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc CPI thì nay đã có thêm một công ty xây đập lớn khác nữa cũng của Trung Quốc CDC / Datang International Power Generation Co. tham dự vào.</p>
<p><i>[Tưởng cũng nên ghi lại ở đây là chính Công Ty Datang này đã nhận thầu xây cất hai con đập trong một chuỗi 11 dự án đập trên dòng chính Sông Mekong vùng Hạ Lưu đang gây rất nhiều tranh cãi: đập Pak Beng 1,320 MW và đập Xanakham 1,000 MW cả hai nằm trong lãnh thổ Lào.] </i></p>
<p>Cho dù gặp sự chống đối mạnh mẽ của sắc dân Kachin, cả đụng độ võ trang với cư dân địa phương chống cưỡng bách di tản, với cả các vụ nổ bom (17/04/2010) nơi công trình xây đập đã khiến 4 công nhân Trung Quốc chết và nhiều người khác bị thương, thì ngay sau đó cư dân sắc tộc Kachin bị quân đội Miến Điện bắt bớ, tra tấn và đàn áp dữ dội hơn. Kế hoạch cưỡng bách tái định cư / forcibly relocated và tiến độ xây đập vẫn không hề bị chậm lại. [10]</p>
<p><b>_ Vẫn Một Trung Quốc Cao Ngạo Không Chấp Nhận Đối Thoại</b></p>
<p>Rất sớm, từ 2006 đã có một tổ chức chánh trị mang tên <i>Kachin Independence Organization / </i>KIO lên tiếng chống lại dự án đập Myitsone. Đây không phải chỉ là tiếng nói giới hạn trong quần chúng vùng xây đập, ảnh hưởng của họ đã vươn xa tới thủ đô Rangoon, tới cả Bắc Kinh. Họ đã nhiều lần viết thư cho chánh phủ Trung Quốc cho rằng ảnh hưởng tác hại không thể hồi phục của con đập Myitsone là không thể chấp nhận được, đặc biệt trên vùng châu thổ Irrawaddy cũng là vựa lúa nuôi sống cư dân Miến Điện. KIO cũng đã tiên liệu khả năng bộc phát những cuộc tranh chấp vũ trang với cư dân địa phương nếu dự án vẫn cứ tiến hành. Nhưng như từ bao giờ, chánh quyền Bắc Kinh và cả các công ty xây đập Trung Quốc thì vẫn cao ngạo, họ không thèm trả lời và từ chối mọi cuộc đối thoại.</p>
<p>Cùng với nhóm KIO, đồng bộ từ thủ đô Rangoon cũng hình thành những nhóm môi sinh khác hoạt động rất tích cực – đặc biệt là có thêm cả tiếng nói hỗ trợ của lãnh tụ dân chủ đối lập rất uy tín, bà Aung San Sui Ky, cùng với các tổ chức môi sinh quốc tế có thanh thế như International Rivers Networks / IRN – đã khiến cho chánh phủ Miến Điện không thể không lắng nghe. Quyết định ngưng xây con đập Myitsone trên sông Irrawady của Tổng thống dân sự Thein Sein như vén bức màn đêm và mở ra một ngày mới trên đất nước Miến Điện bấy lâu chưa hề có sinh hoạt dân chủ. Đây được xem là một đối đầu can đảm của một chánh quyền dân sự còn rất non trẻ với người láng giềng khổng lồ Phương Bắc, thủ đoạn và nham hiểm với ảnh hưởng còn bao trùm trên đất nước Miến Điện trong nhiều thập niên. Quyết định ấy cũng tạo ra một “tiền lệ” rất ngoạn mục và đáng quan tâm đối với các dự án đập thủy điện của Trung Quốc, vượt cả ra ngoài lãnh thổ Miến Điện, để thấy rằng <i>“tiếng nói của xã hội công dân”</i> cho dù ở bất cứ đâu, cũng phải được lắng nghe.</p>
<p>Tiền lệ Myitsone đã “như một bài học” cho Việt Nam và các quốc gia khác trong Lưu Vực Sông Mekong và cũng để thấy rằng những con đập <i>“Made in China”</i> ấy cho dù ở đâu, nếu cứ tiến hành “với bất cứ giá nào” chỉ để phục vụ nhu cầu năng lượng và quyền lợi của Trung Quốc mà không kể gì tới những tàn phá về sinh cảnh môi trường và cả xáo trộn cuộc sống các cộng đồng cư dân trên các vùng xây đập là điều không thể chấp nhận được. Một câu hỏi được đặt ra là liệu đến bao giờ người dân Việt Nam – những cư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long mới cất được tiếng nói, và tiếng nói ấy đến bao giờ mới được lắng nghe?</p>
<p>Và như vậy cũng dễ hiểu tại sao Trung Quốc vẫn chuộng ký kết hợp đồng làm ăn với các thể chế độc tài, trong đó có Việt Nam – nhân danh ổn định chánh trị nhưng là một thứ “chánh trị cơ hội”, chỉ tồn tại được bằng bạo lực đàn áp.</p>
<p><b>Bình Minh và Ngày Mới trên Sông Irrawaddy</b></p>
<p>Ngày 30 tháng 09, 2011, như một chuyển biến rất đáng ngạc nhiên trong tình hình chánh trị của Miến Điện, khi Tổng Thống dân sự Thein Sein đã ra lệnh hoãn công trình xây con đập thủy điện khổng lồ Myitsone của Trung Quốc trên sông Irrawady, từ bấy lâu đã gây rất nhiều tranh cãi. Với tổn phí ban đầu lên tới $US 3.6 tỉ MK có thể còn lớn hơn rất nhiều khi tăng công suất con đập lên tới 6,000 MW, và chỉ riêng hồ chứa cũng làm ngập một diện tích đất đai lớn hơn đảo quốc Singapore (khoảng 700 Km2), gây mất cân bằng hệ sinh thái vốn đã mong manh của lưu vực sông Irrawady, đồng thời cũng dìm sâu nhiều di tích đền đài như cái nôi của nền văn hóa Miến Điện.</p>
<p>Trong một thông điệp gửi Quốc hội Miến Điện, Tổng Thống Thein Sein cho rằng dự án đập Myitsone <i>“đã đi ngược lại nguyện vọng của dân chúng”</i>. Đây có thể coi là bước tiến đột phá trên đường “dân chủ hóa” biểu tượng nhất.</p>
<p>Tưởng cũng nên nhắc lại là cách đây hơn một năm, khi chế độ quân phiệt hỗ trợ cho cuộc bầu cử để đưa tới hình thành một chánh phủ dân sự nhưng ban đầu đã bị các giới chức Phương Tây đánh giá là “trình diễn giả tạo”. Nhưng qua thực tế, chánh quyền dân sự ấy đã có từng bước tiến tới dân chủ hóa như: bớt kiểm duyệt báo chí, nới lỏng việc xử dụng internet, và quyền được hội họp, thả các tù nhân chính trị và đáng kể hơn nữa là mở rộng bang giao với các nước đối tác khác nhằm phát triển một đất nước Miến Điện lạc hậu với nền kinh tế trì trệ từ nhiều thập niên qua. Tiếng nói của dân chúng bắt đầu được lắng nghe, kể cả từ các thành phần dân chủ đối lập.</p>
<p>Sau nhiều năm bị giam cầm và cả 7 năm quản thúc tại gia, lãnh tụ dân chủ đối lập bà Aung San Suu Kyi được thả ra. Ngay sau đó, từ tháng 8 năm 2011, bà đã mạnh dạn lên tiếng kêu gọi phong trào quần chúng hãy bảo vệ con sông Irrawaddy cùng với yêu cầu phải tái lượng giá ảnh hưởng môi sinh / Environmental Impact Assessment/ EIA của toàn dự án con đập Myitsone. Ảnh hưởng tiếng nói của bà Aung San Suu Kyi đã gây tiếng vang rộng rãi trên diễn đàn quốc tế. Bà cũng đã mau chóng tỏ ý hoan nghênh và hậu thuẫn quyết định hoãn xây con đập Myitsone của Tổng Thống Thein Sein và cho rằng mọi chánh quyền nên lắng nghe tiếng nói của người dân. Các nhà hoạt động môi sinh thì hân hoan, coi đây một thắng lợi.</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/10/Aung-San-Suu-Ky-vi-7-nm-qun-thc-ti-gia.jpg"><img style="border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Aung San Suu Ky với 7 năm quản thúc tại gia" border="0" alt="Aung San Suu Ky với 7 năm quản thúc tại gia" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/10/Aung-San-Suu-Ky-vi-7-nm-qun-thc-ti-gia_thumb.jpg" width="255" height="350" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Nhà tranh đấu nhân quyền Aung San Suu Kyi&#160; với 7 năm quản thúc tại gia</em></font></p>
<p>Giới quan sát am hiểu tình hình cho đây như một khúc rẽ mới <i>“như một cử chỉ quay lưng lại với Bắc Kinh”</i> và giúp Miến Điện thoát khỏi vòng kiềm tỏa bấy lâu của Trung Quốc. Nó cũng có tác dụng xoa dịu nỗi bất mãn của dân chúng đặc biệt là với các sắc dân thiểu số Kachin sẽ bị tác hại trực tiếp bởi chuỗi dự án đập thủy điện trên sông Irrawady.</p>
<p>Các nhóm hoạt động môi sinh thì vẫn hy vọng rằng chánh quyền Rangoon sẽ giữ lời cam kết ấy, ít nhất là trong nhiệm kỳ 5 năm của vị Tổng Thống đương nhiệm, [bắt đầu từ tháng 3, 2011 tới năm 2015].</p>
<p>Nhưng cũng để thấy rằng <i>“Bài học Myitsone”</i> chưa thể gọi là qua trang và dừng lại ở đây vì đang có áp lực rất mạnh mẽ từ Bắc Kinh để đảo nghịch quyết định đột biến này. Ngày 14 tháng 10, 2011 tức là 2 tuần lễ sau ngày thông báo chính thức của chánh quyền Rangoon ra lệnh ngưng xây đập thì dân làng Kachin vẫn chưa thấy có biểu hiện nào là dự án bị ngưng lại.</p>
<p>Theo thông cáo báo chí của <i>KDNG / Kachin Development Networking Group</i> [14/10/2011] cho biết thì mọi trang thiết bị vẫn còn nguyên vẹn tại chỗ, công trình phá mỏ vàng cho hồ chứa đập Myitsone vẫn cứ tiếp tục. Công nhân Trung Quốc vẫn tiến hành cuộc khảo sát trắc địa phía nam con đập, và công trình làm con đường tiếp vận nối Myitsone tới thị trấn Tenchong biên giới Trung Quốc thì vẫn tiến hành. Mặc dầu đã có lệnh đình hoãn từ chánh quyền Rangoon, nhưng ban tham mưu Công Ty Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc / CPI đã ra lệnh giữ nguyên các trang thiết bị tại chỗ vì dự án sẽ tiếp tục khi mùa mưa qua đi.</p>
<p>Trước thực tế ấy, dân làng Kachin không thể không hoài nghi về quyền hạn thực sự của Tổng Thống họ đối với các Đại Công Ty Xây Đập Trung Quốc. Tin vui đến với họ cũng thật ngắn ngủi và họ vẫn cảm thấy lo ngại về một tương lai bất chắc. Để thấy rằng, giữa ánh sáng và bóng tối, họ vẫn phải tiếp tục cuộc tranh đấu, nếu không muốn bóng đêm sẽ lại phủ chụp, bởi vì cánh tay của Bắc Kinh thì rất dài kết hợp với quyền lợi của giới quân phiệt Miến Điện vẫn là một sức cản đáng sợ.</p>
<p>Qua “Bài học Myitsone”, ý dân Miến Điện thì đã rất rõ, nhưng ý đồ của “thiên tử” Trung Quốc thì chưa biết ra sao vả người viết sẽ tiếp tục tường trình và theo dõi.</p>
<p><b>Một Bất Ngờ và Bài Học Đắt Giá cho Trung Quốc</b></p>
<p>Khi ký kết được các thỏa ước với những chánh quyền độc tài như với chánh phủ quân phiệt Miến Điện, như từ bao giờ Trung Quốc hết sức vững tâm trong công việc hợp tác làm ăn với các bộ máy đàn áp. Do đó quyết định ngưng xây con đập Myitsone phải nói là vô cùng bất ngờ, như một đòn giáng choáng váng đối với Bắc Kinh.</p>
<p>Trong cuộc phỏng vấn với Tân Hoa Xã, Lu Qizhou Chủ Tịch Tập Đoàn Đầu Tư Điện Lực Trung Quốc CPI, nói rằng ông ta đã <i>“hoàn toàn sửng sốt”</i> về quyết định của Rangoon. Chính cái triết lý làm ăn bấy lâu tưởng là thành công của Trung Quốc chỉ dựa vào sức mạnh đàn áp của nhà cầm quyền địa phương bất kể tới tiếng nói và mối quan tâm của xã hội dân sự đã tạo nên sức mạnh nối kết của các phong trào quần chúng. Đứng trước tình hình mới như “một sự đã rồi” này, Trung Quốc đã phải tạm thời xuống giọng nói tới những cuộc thảo luận công khai – open discussions. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giaoTrung Quốc Hong Lei đã phát biểu: <i>“Các vấn đề chánh đáng liên quan tới dự án con đập nên được giải quyết qua các cuộc tham khảo hữu nghị giữa hai phía.” </i></p>
<p>Tiền lệ Myitsone đã đặt Trung Quốc trước những mối lo. Bởi vì còn bao nhiêu dự án làm ăn khác giữa Trung Quốc và Miến Điện liệu ngày mai sẽ ra sao?</p>
<p>Điển hình là công trình chiến lược <i>“Đường Ống Dẫn Dầu CNPC – China Myanmar Oil &amp; Gas Pipeline”</i> đã được Bắc Kinh âm thầm ký kết với chánh quyền quân phiệt Miến Điện vào tháng 4 / 2006 một thỏa ước xây dựng ống dẫn dầu từ cảng Sittwee vịnh Bengal vượt đồi núi băng qua các vùng sắc tộc đông dân cư để lên thẳng tới thủ phủ Côn Minh Vân Nam thay vì phải diệu vợi đi qua eo biển Malacca. Ảnh hưởng phá hủy của đại công trình này trên môi sinh và đời sống của cư dân phải di dời ra sao là điều chưa được xét tới. Chắc chắn cũng sẽ gặp sự chống đối của nhân dân Miến Điện. [11]</p>
<p><b>Nhân Quyền và Những Con Đập “Made in China” </b></p>
<p>Bắc Kinh hiện đang là chủ nhân các đại công ty xây đập lớn nhất thế giới. Chỉ mấy thập niên trước đây thôi, một Trung Quốc còn non yếu phải cần tới yểm trợ kỹ thuật xây đập của các công ty ngoại quốc khi thực hiện dự án đập Tam Hợp (Three Gorges projects). Cũng ngay từ lúc đó, Trung Quốc đã rất khôn ngoan có ngay một chiến lược <i>“thu hút kỹ thuật cao” của Tây Phương vào Trung Quốc</i> trong một thời gian ngắn với giá rẻ. Họ yêu cầu các công ty đối tác ngoại quốc phải chấp nhận cho sản xuất phân nửa những giàn turbines phát điện ngay trong nội địa Trung Quốc với sự tham gia trực tiếp của các kỹ sư và công nhân kỹ thuật người Hoa. Với mối lợi nhuận trước mắt hàng tỉ Mỹ kim, các đại công ty Tây Phương như ABB, Alstom, General Electric and Siemens đã dễ dàng chấp nhận giải pháp này – cũng có nghĩa đồng ý chuyển giao quy trình công nghệ xây đập cho Trung Quốc. Và các nhóm kỹ sư trẻ Trung Quốc đã không bỏ lỡ cơ hội, rất mau chóng học hỏi và làm chủ các khâu kỹ thuật xây đập của ngoại quốc và rồi không lâu sau đó, Trung Quốc đã có thể tự chế tạo và sản xuất mọi trang bị từ A tới Z cho kỹ nghệ xây đập ngay tại Hoa Lục.</p>
<p>Để rồi ngày nay, Trung Quốc vượt qua các bậc thầy, thống lĩnh thị trường xây đập toàn cầu. Nhưng ngoài vấn đề Hoa Lục làm chủ được kỹ thuật xây đập, nhiều người đã tự hỏi bằng cách nào Trung Quốc đạt được những thành tựu “<em>xuất cảng kỹ nghệ xây đập</em>” nhanh như vậy sang rất nhiều quốc gia khác ?</p>
<p>Giám đốc chánh trị Mạng Lưới Sông Thế giới (IRN/ International River Network), Peter Bosshard đã tìm được lời giải đáp. Đó là, trong khi các đối tác Tây Phương tuy có nhiều kinh nghiệm và kỹ thuật cao hơn nhưng cũng vì biết quan tâm nhiều hơn tới ảnh hưởng môi trường và tác động xã hội của từng con đập nói chung vì “tôn trọng nhân quyền” họ đã rất “dè dặt và bảo thủ” , trong khi đó phía Trung Quốc không có cùng mức độ quan tâm như vậy nếu không muốn nói là “bất chấp” và Bắc Kinh chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội thủ lợi, cứ thế nhận đấu thầu mọi dự án cho dù đa số không đáp ứng được những tiêu chuẩn môi sinh quốc tế. [8]</p>
<p>Cũng theo IRN / Mạng Lưới Sông Quốc Tế thì Myitsone chỉ là một trong số hơn 300 dự án đập thủy điện lớn trên các con sông huyết mạch của 78 quốc gia mà các công ty xây đập Trung Quốc có trực tiếp liên hệ: như sông Irrawaddy và Salween ở Miến Điện, Sông Mekong, con Sông Nile / Sudan và con Sông Omo / Ethiopa… Tất cả các dự án đập vĩ mô ấy có một mẫu số chung, giống như trường hợp con đập Myitsone Miến Điện là thiếu tiêu chuẩn lượng giá ảnh hưởng môi sinh / EIA, do đó không ngạc nhiên khi thấy bất cứ ở đâu Trung Quốc đã gặp phải sự chống đối mạnh mẽ của các cộng đồng cư dân địa phương do <i>“cái giá quá cao về xã hội và môi sinh”</i> mà họ phải gánh chịu khi mà mối lợi chính thì không phải phía quốc gia họ mà lại về tay các đại công ty xây đập nhà nước Trung Quốc. [7]</p>
<p>Nhưng rồi ra, trước công luận thế giới, với một Trung Quốc hối hả đi tìm lợi nhuận, không thể nói là hoàn toàn vô can trước tác hại của không chỉ những con đập thủy điện mà cả những dự án khác như khai thác Bauxite trên Tây Nguyên Việt Nam, Đường Ống Dẫn Dầu ở Miến Điện, phá rừng lấy gỗ và tận khai thác nguồn khoáng sản ở Phi Châu… hầu như trên khắp thế giới, quốc gia nào cũng có Trung Quốc trực tiếp đầu tư vào. Những gì tệ hại đang diễn ra trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong (GMS/ Greater Mekong Subregion); đã từng <a name="_GoBack"></a>được báo chí đã đưa ra một ví von rất gợi hình là Trung Quốc đang liều lĩnh bước đi trên trên những tảng băng mỏng / <i>China walks on thin ice.</i> Một hình ảnh nước lớn Trung Quốc chắc chắn sẽ xấu xí hơn nếu cứ tiếp tục với những công trình xây dựng thiếu bền vững như vậy trên khắp hành tinh này.</p>
<p>Hủy hoại môi trường sống, cho dù ở đâu và bao giờ cũng là một hình thái khác của bạo động và vi phạm nhân quyền. Và cũng rõ ràng là nếu không có dân chủ thì cũng không thể có một hệ sinh thái khỏe mạnh và trong lành.</p>
<p><strong>NGÔ THẾ VINH</strong></p>
<p>31-10-2011</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>THAM KHẢO:</strong></p>
<p>1/ Myanmar Halts China Dams; Celine Fernandez, Brian Speglele – The Wall Street Journal, Oct 1-2, 2011</p>
<p>2/ Myanmar: Blocked Dam Project Raises Hopes – Rangoon Oct 5, 2011, IRIN / <a href="http://www.irinnews.org/report.aspx?ReportId=93891">http://www.irinnews.org/report.aspx?ReportId=93891</a></p>
<p>3/ Lessons from Myitsone Dam in Burma; Grace Mang – International River Network, Sept 30, 2011 <a href="http://www.internationalrivers.org/en/node/6886">http://www.internationalrivers.org/en/node/6886</a></p>
<p>4/ Global Ecology And the “Made in China” Dam; Ngo The Vinh – Viet Ecology Foundation, July 20, 2010 <a href="http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/62">http://www.vietecology.org/Article.aspx/Article/62</a></p>
<p>5/ Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Chương 4 – Ngô Thế Vinh, Nxb Văn Nghệ California 2000. <a href="http://www.vietecology.org/">http://www.vietecology.org/</a></p>
<p>6/ Good News, But the Story Isn’t Over – Paul Stuart, The Irrawady, Oct 1, 2011.</p>
<p>7/ A Turning Point for Chinese Dam Builders – Grace Mang, International River Network, Oct 14, 2011</p>
<p>8/ Burma’s Burning Issue : The Myitsone Dam Project – Wai Moe, The Irrawady, Friday September 16, 2011</p>
<p>9/ Irrawady Dam Construction Begins, Human Rights Abuses Begin. Saw Yan Naing. The Irrawady News Magazine, Jan 29, 2008.</p>
<p>10/ Kachins Anxious Wen’s visit will boost Irrawady Dam construction. Jun 3, 2010. <a href="http://www.kachinnews.com/News/Kachins-anxious-Wen&rsquo;s-visit-will-boost-Irrawaddy-dam-contruction/">www.kachinnews.com/News/Kachins-anxious-Wen’s-visit-will-boost-Irrawaddy-dam-contruction/</a></p>
<p>11/ Construction of Sino-Myanmar Gas Pipeline to Start in Yuxi, Yunnan Province in July 2011; In Kunming Time: 2011/4/7.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22002/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tuổi trẻ, Nước mắt, m&#225;u, v&#224; nụ cười ưu uất trong truyện TRẦN HO&#192;I THƯ</title>
		<link>http://damau.org/archives/20839</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20839#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Jul 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Lệ Uyên</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20839</guid>
		<description><![CDATA[Với mức cận thị 7 độ thì [Trần Hoài Thư] tưởng có thể giải ngũ hoặc xếp loại 2, nghĩa là không phải tác chiến. Đằng này không những ông phải cầm súng như bao nhiêu chiến binh khác, mà còn cầm súng ở một đơn vị luôn đối mặt với sự sống và cái chết rất mong manh ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/tranhoaithu.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="tranhoaithu" border="0" alt="tranhoaithu" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/tranhoaithu_thumb.jpg" width="233" height="281" /></a> </p>
<p><i>(</i><i>Anh đang viết, cuống cuồng hối hả. Anh sợ sẽ không còn được dịp để viết thêm nữa. THT)</i></p>
<p><em></em></p>
<p>Trần Hoài Thư đến với văn chương rất sớm, sớm hơn truyện ngắn đầu tay <i>Nước Mắt Tuổi Thơ </i>đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1965. Và nếu phân chia các giai đoạn văn học miền Nam theo cách của Võ Phiến (xem Văn Học Miền Nam, tập tổng quan, nxb Văn Nghệ, Hoa Kỳ 2000) thì Trần Hoài Thư được xếp vào (<i>Những Cây Bút Trẻ</i>, theo cách gọi thời đó) giai đoạn 1964-1975; giai đoạn mà chiến cuộc bắt đầu bùng nổ dữ dội. “<i>Tháng 8-64, sau vụ tàu Maddox bị tấn công, Mỹ oanh tạc miền Bắc, trực tiếp nhảy vào vòng chiến…Đầu năm 1968 miền Bắc mở cuộc tấn công nhân dịp tết, hi sinh ngót nửa quân số, đánh khắp các tỉnh lỵ và thành phố lớn để gây tiếng vang đến tận Mỹ. Sau vụ tết Mậu Thân, lại một vụ Mùa Hè Đỏ Lửa, quân miền Bắc vượt giới tuyến tràn vào…”</i> (Võ Phiến, sđd, trg 255-256).</p>
<p>Với một bối cảnh như vậy, hầu hết nguồn tài nguyên nhân lực ở cả hai miền đều đổ dồn vào cuộc tranh chấp dưới mỹ từ <i>ý thức hệ</i>. Hàng lớp lớp thanh niên lên đường. Lên đường và ngã xuống. Nước mắt và máu và khăn tang, lên đường và <i>xương trắng tràn lan khắp núi rừng!</i> để sau đó có một Hoàng Yên Trang tử trận ở vùng sình lầy Chương Thiện; một Nguyễn Phương Loan bỏ mình trên ĐăkTô, Kon Tum; một Y Uyên chết thảm ở đồi Nora dưới chân núi Tà Lơn, Phan Thiết… là những tiêu biểu của thế hệ nhà văn trẻ trong thời loạn ly 1964-1975.</p>
<p>Trong hàng hàng lớp lớp những bất hạnh, đau thương không cùng đó, có đầy đủ những thanh niên ở các lớp trước sau terminales, ở các giảng đường, là những công chức cùng hàng ngàn thanh niên nông dân, lao động khác. Những Phan Nhật Nam, Thảo Trường, Du Tử Lê, Trang Châu, Thế Uyên, Dương Kiền, Lê Văn Thiện, Hà Thúc Sinh, Lâm Chương, Hồ Minh Dũng, Lê Bá Lăng, Luân Hoán… không đếm xuể, không phải là những trường hợp riêng biệt. Nó là những tử số đông đảo quay cuồng trong mẫu số chung khổng lồ: <i>Chiến Tranh</i>! Những tử số ấy không phải để chung tay xây dựng đất nước mà bỗng chốc trở thành nguồn nhân lực quan trọng, cung cấp cho cỗ máy nghiền thịt xương một cách phi lý và dơ bẩn nhất trong lịch sử dân tộc.</p>
<p>Trần Hoài Thư nằm trong số đó. Từ một giáo sư toán ở trường trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ, ông đã phải từ giã đồng nghiệp, học trò, viên phấn, bảng đen, nhập ngũ khoá 24 SQTB Thủ Đức, để làm một cuộc <i>góp phần đông đảo</i> cho sứ mệnh thiêng liêng và đẹp đẽ kia, được sử dụng như những tấm đệm lót cho mưu đồ tranh giành quyền lực của hai miền Nam &#8211; Bắc.</p>
<p>Anh em miền Nam và anh em miền Bắc lên đường. Anh em trên núi và anh em dưới biển vung mã tấu súng đạn bắn nhau: Đó là những bất hạnh và bi thảm nhất của dân tộc mà chúng ta đã phải đưa vai gánh chịu. Nhưng, trong những bất hạnh và bi thương kia, các nhà văn trẻ miền Nam chưa hề nghĩ và viết những gì xảy ra quanh mình theo <i>đường một chiều</i>, mà ngược lại: “<i>…cho đến khi lớn lên, đầu óc đã tạm đủ để suy xét thì khổ một nỗi, hệ thống tuyên truyền của VNCH lại có giá trị phản tuyên truyền nhiều hơn là tuyên truyền” </i>(Cao Xuân Huy, tựa, <em>Tháng ba gãy súng</em>). Dẫn tự sự này của nhà văn quá cố Cao Xuân Huy để thấy rằng các nhà văn trẻ miền Nam khi cầm súng ra mặt trận không phải là không có ý thức về vị trí, hành động và trách nhiệm trong cuộc chiến không do mình chọn lựa, trước sự tồn vong của dân tộc và sự lừa mị của những kẻ cầm quyền!</p>
<p>Với những khả năng, sự tỉnh táo, mẫn tiệp và ý thức, về trách nhiệm như vậy, Trần Hoài Thư chấp nhận vị trí chiến đấu oan nghiệt nhất mà không kêu gào, phẫn nộ, bình thản bước tới, nhập cuộc với trò chơi súng đạn: Ông được phiên chế vào Đại đội 405 Thám kích Sư đoàn 22/BB với chức vụ Trung đội trưởng. Đây có lẽ là trường hợp kỳ cục nhất trong quân sử VNCH. Bởi vì với mức cận thị 7 độ thì ông có thể giải ngũ hoặc xếp loại 2, nghĩa là không phải tác chiến. Đằng này không những ông phải cầm súng như bao nhiêu chiến binh khác, mà còn cầm súng ở một đơn vị luôn đối mặt với sự sống và cái chết rất mong manh, chỉ trong đường tơ kẽ tóc (!?). Phải chăng đây là định mệnh vạch sẵn cho ông, cầm sẵn trong tay sự sống chết có thể nhìn thấy rất rõ ràng? Nói chuyện với Du Tử Lê, ông thản nhiên: “<i>Không thể ngờ chỉ trong vòng hơn ba năm, tôi đã trải qua hai trào Đại đội trưởng ở đơn vị Thám kích. Xin giải thích rõ, chỉ vùng II, mới có Thám Kích. Nó được thành lập do sự đòi hỏi của chiến trường miền núi. Cần người có kinh nghiệm chẳng những về chiến trường, mà còn thông hiểu tiếng thiểu số. Đa số những người lính này, gốc Thượng và Nùng. Sau thêm những người Kinh được tuyển chọn từ các trung đoàn</i>&#8230;” (dutule.com) . Đó là một đơn vị mà: &quot;<i>tính mệnh của mọi cấp trong Đại đội/Thám kích</i><i> như “chỉ mành treo chuông” mỗi một khi được sử dụng. Ai vào thám kích mà ra khỏi được, không chết, ít nhất cũng mang theo vài chiếc thẹo trên mình</i>.&quot; như qua bài viết của Văn Nguyên Dưỡng nguyên cựu trưởng phòng 2/SĐ22BB. (Tạp chí <em>Thư Quán Bản Thảo</em> số 46 tháng 4-2011)</p>
<p>Nhưng chính trong thời gian đơn vị ông đóng quân ở cầu Bà Gi (Bình Định) lại là thời gian ông viết được nhiều nhất: Hàng chục truyện ngắn và thơ của ông đều đặn xuất hiện trên các tạp chí văn nghệ Sài Gòn. Ông viết dễ dàng còn hơn đưa ly rượu lên miệng: Viết dưới hầm; trùm poncho dưới giao thông hào, bật đèn pin để viết; viết trong lúc dừng quân, trong quán cà phê; viết khi chân, ngực băng kín trong quân y viện… nghĩa là ông thể thể viết trong bất kỳ tư thế, không gian và thời gian nào ông cảm thấy mạch văn đang có dấu hiệu chảy trào ra khỏi con người ông, trườn qua cây bút và mảnh giấy tựa như con suối màu xuân.</p>
<p>Tôi vẫn luôn tự hỏi và tự trả lời, rằng tại sao trong khoảng cách sống chết cận kề bên nhau mà ông vẫn tỉnh táo để viết truyện, làm thơ, không phải loại tầm tầm, mà luôn gây ấn tượng mạnh cho người đọc? Bút lực mạnh mẽ chăng? Là một con tằm theo đúng nghĩa rút ruột nhả tơ chăng? Hay hơn thế nữa, tài năng vượt giới hạn? Không, theo tôi, tất cả là một trong Trần Hoài Thư. Đọc lai Nỗi <i>bơ vơ của bầy ngựa hoang</i> xuất bản năm 1968, <i>Những vì sao vĩnh biệt</i> năm 1970 hay những truyện ông viết ở xứ người, vẫn một chất giọng, tâm cảm ẩn đầy những cảm xúc chân thật. Chính tâm hồn và trái tim nhạy cảm nơi ông khi chạm vào đời sống, như một khúc xạ sống động, giúp cho ông có cái nhìn lung linh đa chiều. Nôm na, là ông sống (theo nghĩa rộng) hết mình với ngoại cảnh và nhân vật của ông. Ông và chúng đã hoà tan vào nhau để tạo ra những khúc đồng vọng đầy ắp cả “thế giới ta bà” quanh mình. Thứ đến, trong một truyện ngắn của ông (quên mất tên), có một đoạn có thể giải thích tại sao ông viết, tỉnh tảo để viết: “<i>Anh đang viết, cuống cuồng hối hả. Anh sợ sẽ không còn dịp để viết thêm được nữa</i>”. Đó là cái chết như cái bóng chập chờn, lay lắt sát bên ông, rình rập bên cạnh ông!</p>
<p>Và, hơn hết, tuổi thơ của Trần Hoài Thư không suôn sẻ như bao đứa trẻ khác: gia đình ly tán, phải sống mấy năm trong trại mồ côi Nha Trang, có vẻ như khiến trái tim và tâm hồn ông trở nên nhạy cảm hơn khi nhìn ra thế giới bên ngoài. Điều này khiến người đọc dễ nhận ra trong hầu hết những truyện ngắn của ông, từ bối cảnh đến nhân vật, lời thoại luôn có chất giọng nghẹn ngào nhưng không rên rỉ, than oán, chỉ còn lại là sự hiện hữu cái bóng chông chênh của chính mình. Những sự vật, khung cảnh ông miêu tả, thường cô độc, trơ trọi; hoặc giữa sự thanh thoát tưởng như đang bước trên đường trăng thì liền sau đó người đọc chợt khám phá ra nỗi cô đơn chảy tràn, đau xoáy, như hai đoạn văn dẫn sau đây: “<i>Tôi đã rót đầy cốc rượu mạ­nh. Chai rượu chơ vơ giữa bàn tiệc, không ai màng đến. Nhưng chỉ có một mình tôi. Tôi nốc vào. Cho say một chút. Cho ấm đời thêm một chút. Cho tuổi mình lai láng thêm một chút. Cho tôi can đảm thêm một chút</i>…. <i>Không có trăng sao thì tôi sẽ tưởng tượng một bầu trời trăng sao, để tôi còn nhớ về một đêm nào ở Huế</i>” (“Người về trăm năm”).</p>
<p><i>“Người bạn nhỏ Péry. Người bạn nhỏ xa cách ngàn trùng. Mùa hoa muồng đã lại, mùa hoa cà phê đã nở, mùa hoa cúc rừng đã báo hiệu dưới ánh nắng tháng hè, nhưng đối với tôi, lúc này, những mùa ấy là những mùa kỷ niệm đau đớn nhất đời người</i>” (“Thị trấn cà phê hoa,” <em>Thời Tập</em> số 23 ngày 15 tháng 4 năm 1975).</p>
<p>Đây là hai truyện ngắn viết trong khoảng thời gian cách xa nhau đến 20 năm, một hoài nhớ về mối tình lỡ, và truyện kia là bối cảnh vùng đất cao nguyên, tình cờ gặp cô gái Thượng. Cái đẹp đến bất ngờ với ông trộn lẫn vào thời điểm lửa đạn lan rộng, khiến giọng văn của ông luôn có chút tức tưởi, tấy lên nỗi đau xé lòng.</p>
<p>Thời thơ ấu, ông đã không có cái may mắn, hạnh phúc bé nhỏ, nhưng khi lớn lên, bước vào đời, ông cũng không tìm đâu ra chút thanh thản, bình yên. Đời đối với ông luôn là những xô đẩy vật vờ. Có thể ví thân phận ông như chiếc lá bị cuốn trôi, nhấn chìm trong dòng nước xoáy mùa lũ. Sự tàn khốc, khốn cùng kia như một định mệnh đã an bài, đã đóng đinh câu rút cuộc đời ông. May và rủi là hai khái niệm vô hình trên bình diện chữ nghĩa. Còn với cá nhân ông, nó đã cụ thể hoá bằng hình hài có tay có chân, mặt mũi; thậm chí cả đến gào thét, phẫn uất. “<i>Nhưng ba không biết, con đang ở trong thế hệ trẻ tuổi mà ba đã kết án. Ba không biết tuổi trẻ của con đang nổi loạn, bất mãn, thao thức. Tuổi trẻ của con đầy những xâu xé, giành giựt từ ý thức. Ba đã chối bỏ ý thức. Nhưng còn con. Qua sách vở con đọc, qua lịch sử mà con đã sống và lớn lên, qua xứ Huế mà con đã cô đơn, qua tình yêu mà con đã vấp phải, qua mấy bức tường thành mà con bị giam hãm</i>” (“Bên trời”)</p>
<p>Sau biến cố 75, những người như ông đều chịu chung số phận của “những kẻ trừng giới” nhưng không thong dong ca hát như khi Tô Đông Pha thuở xưa trên đường đi biếm trích (từ Lĩnh Nam qua Hoàng Châu, Quảng Châu, Lô Sơn), mà là những xiềng xích, gông cùm:</p>
<p>“- <i>Nhưng còn anh, không ai săn sóc anh?</i></p>
<p><i>-Anh là tù nhân rồi, cần gì săn sóc. Có cảnh vệ quản giáo và cả trung đoàn bảo vệ cho anh rồi</i>” (“Đà Nẵng quê em”).</p>
<p>Cảnh xiềng xích kia, qua lời thoại, người đọc không tìm đâu ra vẻ hằn học, than oán, đau thương, đổ lỗi. Cả 23 từ thốt ra từ cửa miệng nhân vật Anh một cách bình thản, như chân dung của gã lữ hành cô độc, lầm lũi bước về phía khốn luỵ. Và chỉ chừng đó thôi, cũng đủ vẽ ra trọn vẹn cảnh sống ở trại trừng giới rồi, người đọc dẫu khó tính đến đâu, theo tôi, không thể đòi hỏi gì hơn. Chỉ chừng đó. Đọc và tưởng tượng. Đọc và rợn người, đau xót cho thân phận những tù binh như ông. Câu nói của anh chàng tù nhân kia, đọc lướt có vẻ bình thường như bao câu nói bình thường khác. Nhưng ngừng một lát, nghỉ hơi một chút, lắng nghe những con chữ xộc xệch thấm vào trí não, tôi thấy có cái gì đó, sền sệt, nhão nhoét. Nó trần trụi một cách thê thảm. Mà con hơn cả thê thảm nữa, nó đụng gần đến sự nứt toát, tự huỷ như những chiếc hầm tự huỷ bốc mùi. Bốn năm trong trại tù giam, hẳn nhiên ông phải gánh chịu và chứng kiến lắm cảnh đau đớn, ê chề, và không ít những tủi nhục. Đó là một ông Giang hoá điên: “<i>Người đàn ông, bây giờ, như một con thú quái dị, dù y vẫn có hai chân và bộ phận sinh dục. Y trần truồng, đầu tóc như thể một ổ rạ ổ rơm trên ấy chí rận, đất, cát làm đồn làm lũy. Đôi mắt sâu hun hút, hình như chẳng còn nhìn ra đôi võng mô. Cả thân thể y thì khô đét, trơ những khúc ba sườn. Y vẫn cố gắng la:</i></p>
<p><i>- Tại sao bọn mày lại bắt tao? Tao là Hoàng minh Giang, Trường Chinh ngày xưa còn sợ tao&#8230; </i></p>
<p><i>- Thôi đủ rồi, chúng tôi lạy ông. Bọn nó đến kia kìa&#8230; </i></p>
<p><i>- Tao là bạn của Hồ chí Minh, tại sao bọn mày không nể tao hả?</i>” (“Người và Quỷ”)</p>
<p>Sau điên là bệnh tật, là đói khát, là những gì ngoài đời không ai tưởng tượng nổi. Chỉ có thể xảy ra trong thời điểm đó, ở khung cảnh đó, nơi chỉ có một thế giới duy nhất trên trần gian mới có: trại trừng giới! Ở đây, chất người tự hạ thấp xuống và miếng ăn được nâng lên cao. Nhân phẩm và đạo đức như cái pitton sút ốc: “<i>Thịt. Ông liên tưởng đến miếng thịt nướng bốc mùi thơm ngậy mà nước miếng như chực tuôn trào. Lần đầu tiên nhai miếng thịt chuột cống, miệng ông vẫn còn lợm khi nhớ đến những mảnh da loét đỏ lòm hay sần sùi những vết ghẻ lở. Nhưng bây giờ, ông đã khám phá, bên trong lớp lông xám xịt và hôi thúi là cả một thức ăn tuyệt diệu. Khỏi cần nhổ lông, cứ thui từ từ, lớp da sẽ bốc ra, để lộ lớp mỡ trắng. Ông sẽ xé ra từng miếng nhỏ, vừa chấm muối vừa nhai thật chậm rãi. Lúc ấy hình như những bắp cơ của ông cũng chuyển động theo. Và máu trong người ông hình như cũng chảy mạnh</i>” (“Người và quỷ”).</p>
<p>Đọc đoạn văn trên không khiến chúng ta buồn nôn mà gần như một thứ men rượu cồn lan toả rất nhanh trong cơ thể khiến ta say, không phải cái say cơ học mà say bởi dậy men chua xót, đau đớn đến bùi ngùi như có kẻ cầm lưỡi dao bén ngọt lóc từng mảnh da thịt trên người, từng lát, từng chút một!</p>
<p><b><i></i></b>Hầu hết những truyện ngắn của Trần Hoài Thư đều có loại men khác thường đó, chỉ riêng mình ông mới sở hữu một cách tài hoa, đến nỗi sau khi đọc bản thảo “Nhật ký hành quân”, từ quân y viện gửỉ về, thư ký toà soạn Văn quyết định làm một số đặc biệt về những cây bút trẻ, và dưới truyện ngắn này, ông Trần Phong Giao nhận xét: “<i>Nhật ký trên được viết tại quân y viện, sau lần bị thương thứ hai. Mặc dù bị cận thị rất nặng, Trần Hoài Thư hiện vẫn đang chiến đấu trong một đơn vị thám sát miền duyên hải Trung phần. Trong văn có nghẹn ngào hơi rượu, nhưng người đọc tinh ý chắc sẽ còn bắt gặp nhiều hơn thế nữa…</i>” (<em>Văn</em>, số 114).</p>
<p>Điều mà ông Trần Phong Giao gọi là “<i>nghẹn ngào hơi rượu</i>” chính là sự bất lực của con người trước một thực tế phi lý và phũ phàng nhất. Và ở bất kỳ truyện nào, những nhân vật của ông dường như cũng đều quay quắt trong cảnh khốn cùng đó: Tiếng nấc nghẹn ngào tiếc nuối trong mối tình đổ vỡ, cảnh lênh đênh giữa đại dương mênh mông mà tiếng sóng vỗ nghe như tiếng rên thảm của những người phụ nữa bị hãm hiếp trước mắt những người đàn ông bị bắt trói, đánh đập. Hay những xao xác nơi xứ người khi gặp lại đồng đội cũ, với cô bạn Trung Hoa vừa mới quen trong lớp học…</p>
<p>Truyện viết về chiến tranh cũng thế. Không hề thấy ông gắn những nụ cười lên môi các nhân vật ông tạo ra, nếu có cũng chỉ là nụ cười méo xệch như nhân vật Năm Râu, Ba Cận Thị, Y Đao, Nay Lát… như trong truyện Thư về người đồng đội cũ sau 25 năm thất lạc: “<i>Lúc này, chúng ta có quyền thẩm định về giá trị của chiến tranh và lịch sử. Nhưng tôi không thể bình an khi cái cuồng điên kia đã trở thành thú tính. Họ rõ ràng hơn chúng ta. Bởi vì họ có cả một khối thép thành trì bên ngoài và khối thép căm thù bên trong đầu óc, và con tim họ. Còn chúng ta thì cô đơn. Qua xứ Mỹ anh đã hiểu về nỗi cô đơn ấy. Chúng ta đã chiến đấu trong nỗi cô đơn và quả cảm. Và chết cũng quả cảm và cô đơn. Như bao nhiêu đứa con của một đại đội bộ binh</i>”. Thay vì những đồng đội cũ liên lạc được với nhau, ôm nhau mừng tủi, thì ông lại đẩy bút pháp của mình qua ngã hồi tưởng về những trận đánh năm xưa ở ĐăkTô, Buôn Ma Thuột, Gành Ráng… với những thây người cháy đen, cong queo… và tan hàng… và tù binh!</p>
<p>Những truyện ngắn trước kia, ngay ngoài mặt trận cũng vậy, ông viết y như những thước phim hành động rất thật, rất sống động: Nhân vật Tôi chính là ông, người chỉ huy Trung đội Thám Kích, trong tình thế cả Trung đội bị phục kích, bị chết và bị thương gần hết, kể cả ông. Ông đã chiến đấu bên cạnh những người lính của mình, trong hoàn cảnh, đến sỏi đá cũng nát nhừ như cám ở Trung đội ông, để cuối cùng phải thốt lên những lời tuyệt vọng, đau đớn, phi lý nhất: “Q<i>uá hèn</i>!”:</p>
<p>“<i>… Ngồi nghe họ nói nhiều về anh, nhớ anh rưng rưng nước mắt. Làm sao tôi quên, anh mặc bộ đồ rằn, vác trên vai thằng lính bị thương, chạy như bay… nhìn rõ ràng anh té xuống, hai tay buông ra và nằm sấp. Thiếu uý Chấn chết… một vợ năm con. Tôi thì quá hèn. Hèn. Đến thằng truyền tin, bị thương ở chân và tay, không lết nữa, tôi cũng chả khiêng được, như lời kêu cứu của nó vào buổi trưa địa ngục. Tôi khóc… Hường ơi, rán bò sau bụi, lết đi… Tao cũng bị thương, xích ra bị bắn… Mày xem, xung quanh đâu có ai. Luông bị thương, Phong bị thương, tao nữa… Tao ra thì bị bắn. Nó canh sẵn…</i></p>
<p><i>-Đ.m. Thiếu uý !</i></p>
<p><i>Tôi úp mặt vào đất sỏi, khóc như đứa trẻ</i>” (“Nhật ký hành quân,” <em>Văn</em>, số 114).</p>
<p>Biết làm sao hơn trong tình cảnh bi thảm như vậy. Sự bất lực đã trở thành hèn nhát. Nhưng chính cái hèn nhát đang bao phủ khắp người, có được lôi ra, thừa nhận rằng tôi hèn nhát hay cố tình cất giấu, biện minh để giũ bỏ trách nhiệm trước đồng đội? Đâu là sự hy sinh cao cả và đâu là trốn chạy chính là nỗi dằn xé tâm can đến “nghẹn ngào hơi rượu” như ông Trần Phong Giao nhận xét ở trên.</p>
<p>Trở lại với trốn chạy và hy sinh, hèn nhát và can đảm cùng trách nhiệm của người chỉ huy ngoài mặt trận khi “<i>Tôi úp mặt vào đất sỏi, khóc như một đứa trẻ</i>” sau khi nghe thuộc cấp ngắc ngoải la lên: “<i>Đ.m. Thiếu uý!”</i> tôi chắc đã có hàng ngàn trường hợp như vậy ngoài chiến trường, như nhân vật Trần Viết Gián của Lê Văn Thiện trong truyện ngắn <i>Trong lớp khói màu</i>: Nhân vật ấy bị thương, ngã xuống chỉ cách đồng đội mấy bước chạy từ lề đường, nhưng không cứu được. Lớp khói màu bắn ra muộn màng, chỉ có thể vây bọc lấy thi thể đồng đội, để sau đó anh ta không bị bắn bồi đến nát ngứu ra thôi. Trách ai?</p>
<p>Có đọc <i>Tháng ba gãy súng</i> và phần tựa tập hồi ký này của Cao Xuân Huy, mới thấy hết nỗi đau đớn của Trần Hoài Thư “<i>khóc như một đứa trẻ con</i>”. Ông viết: “<i>Chúng ta thua không phải vì kẻ địch mạnh mà vì trong hàng ngũ chúng ta có quá nhiều kẻ phản bội và hèn nhát. Chính vì lòng thù hận sự hèn nhát và vô trách nhiệm của cấp chỉ huy nên hình ảnh và diễn tiến những ngày cuối cùng trước khi cả Lữ đoàn tan rã và bị bắt bởi hơn một Đại đội du kích VC…” </i>(Cao Xuân Huy, <em>Tháng ba gãy súng</em>).</p>
<p>Sự vô trách nhiệm và hèn nhát của những ông tướng chỉ huy của Cao Xuân Huy và nhân vật Tôi của Trần Hoài Thư khác nhau xa. Vì vậy, khi dẫn ra, không cố ý so sánh, mà trên hết là để nhìn lại một cách rõ ràng bộ mặt nhếch nhác của cuộc chiến tương tàn từ nhiều góc độ khác nhau, lón nhỏ khác nhau… ở đó có một Đại đội quái dị Thám kích 405 với một nhiệm vụ cũng quái dị là đẩy các binh lính vào tử lộ?</p>
<p>Đã đành, có rất nhiều nhà văn miền Nam viết về chiến tranh, nhưng mỗi người mỗi vẻ. Bộ mặt chiến tranh trong những tác phẩm của Phan Nhật Nam mang đậm tính chiến đấu, của Thế Uyên có chút bi hài chua xót, của Trang Châu thì chừng mực, Y Uyên thì lạnh lùng… Với riêng Trần Hoài Thư, cái mạch văn ngắn, dồn dập khiến người đọc phải nín thở, giống những thước phim quay nhanh để người xem luôn phải dán mắt vào màn ảnh, bởi diễn biến luôn thay đổi: “<i>Tiếng đạn trọng pháo vẫn tiếp tục câu đi dưới bầu trời nắng lửa. Chiếc cầu Nam Ổ quằn quại dưới bánh xích chiến xa. Những chiếc xe quân đội tiếp tục chuyển quân về hướng Bắc. Không gian mịt mù khói và bụi. Mặt trận vẫn miệt mài. Không dám nhớ nhưng vẫn nhớ. Không dám nghĩ nhưng vẫn nghĩ. Nghĩ gì, nhớ gì. Những tín hiệu cứ đánh về. Binh đoàn Bắc quân xe tăng đại pháo. Những đoàn xe Nga sô theo đường mòn HCM tiếp tục chuyển quân về miền Nam. Những tin tình báo cho biết có một cuộc tập trung tại ngả ba biên giới. Nghĩ gì nhớ gì. Trực thăng không còn ưu tiên, phản lực mõi mòn chờ đợi, pháo binh bắn yểm trợ cầm chừng&#8230; Thế giới đã quay lưng. Mùa mưa và mặt trận. Vòng kiểm soát thu hẹp. Làng xóm cũng thu hẹp. Thành phố vẫn ăn chơi. Đài Hà Nội vẫn gào vẫn thét. Quân đội ta trung với đảng hiếu với dân&#8230; Hay là thời điểm cuối cùng của một trận chiến. Hay là người khôn còn sống, người dại ra đi. Hay là bắt đầu cho một cơn đại hồng thủy để Thượng Đế động lòng bảo ông Noah đóng tàu cứu độ. Bởi vậy, anh phải về chờ chiếc tàu của ông Noah. Rồi anh sẽ dẫn em đi, bến bờ sẽ bỏ lại, sống thêm trăm năm như người tiền sử</i>” (“Đà Nẵng quê em”).</p>
<p>Ông quan sát thật kỹ, suy ngẫm thật kỹ bộ mặt gớm ghiếc và tàn nhẫn của chiến tranh, nên đôi khi, có vẻ như ông vừa là người trực tiếp tham dự, vừa là kẻ bàng quang đứng bên lề ngắm nhìn một cách sắc gọn: “<i>Như con chó tật nguyền của đại đội này. Nó cũng tự biết dù phải sống ở một nơi khác &#8211; bình an cách mấy &#8211; nhưng làm sao nó thấy được những người chủ đã để dành cho nó từng miếng bánh, miếng cơm, đã dẫn nó xuống đồi săn thỏ săn chồn. Bởi vì, ít ra nó đã tìm được mái nhà</i>” (“Đà Nẵng quê em”).</p>
<p>Trong chiến tranh luôn có sự phi lý và điên rồ. Nhưng càng phi lý và điên rồ hơn khi mà cấp chỉ huy ngồi ở những nơi an toàn, có máy điều hoà, một tay bưng ly rượu champagne, tay kia cầm chiếc que inox chỉ lên sa bàn, điều khiển trận đánh cách xa họ đến hàng chục, thậm chí hàng trăm cây số. Sự thật ngoài mặt trận và cái giả tưởng trên sa bàn được họ đánh đồng rồi ra lệnh; cấp dưới phải tuân lệnh: “<i>Rõ ràng đây là một cuộc thí quân. Họ ra lệnh chúng tôi phải chiếm đồi với M16, và lựu đạn, trong khi địch ẩn núp trong những hang kiên cố, với lợi thế là thấy rõ chúng tôi, còn chúng tôi thì như những kẻ đui mù. Họ không hiểu chiến trường chó má này vì họ ở trên trời hay ở đàng sau. Họ làm sao hiểu chúng tôi làm sao có đủ khứu giác của lũ chó săn để có thể đánh hơi địch hay có đôi mắt thần để biết địch đang làm gì. Chúng tôi chỉ biết tuân lệnh, không cần biết địch đã dọn sẵn mâm, chờ chúng tôi có mặt là đại liên hai bên sườn nả xuống như mưa để cả bọn ngã nhào lăn lộn đủ kiểu mà bị thương mà chết. Tư ơi! Thế nào cũng có quân tiếp viện. Tôi đã cố an ủi thằng bạn trung đội trưởng trung đội bốn. Nhưng Tư cứ một chặp lại rên rỉ. Cả hai chân tao,bụng tao bị trúng đạn. Trời ơi, tao đau quá. Tao chịu không nổi. Cho tao một viên đạn. Tao van mày hãy bắn tao đi. Nó van tôi, van một thằng bạn</i>” (“Chiến tranh”).</p>
<p>Kết quả của cái gọi là chiến tranh, là đánh nhau ấy là gì? Chết. Những cái chết vô duyên, tức tưởi cùng nỗi đau nát ruột của những người sống sót: “<i>Thiếu úy ơi, thiếu úy tại sao không giữ gìn chồng em để ảnh phải chết thảm như vầy hả thiếu úy. Anh ơi, sao anh lại bỏ mẹ con em. Anh chết gì mà thảm quá hở anh&quot;.Chị rống lên. Thằng bé cũng khóc thét. Tôi mất hết bình tĩnh. Bây giờ tôi có ý nghĩ là làm loạn. Tôi điên khùng chụp súng chạy ra ngoài, nhắm phía ngọn đồi chó đẻ và bắn cuồng điên…</i>” (“Chiến tranh”).</p>
<p>Trong hồi ký <em>Tháng ba gãy súng</em> của Cao Xuân Huy, ông đã phẫn nộ với cấp chỉ huy ở đâu đó vì cái kiểu điều động di tản chiến thuật một cách ngớ ngẩn, khiến cả Lữ đoàn TQLC bị vây đánh tơi tả, tự chết nước (tranh nhau ra tàu, lộn vào bờ), tổn thất gần hết ở cửa biển Thuận An trong những ngày cuối cùng, thì ở Chiến Tranh của Trần Hoài Thư cũng có cái không khí từa tựa như vậy. Một đằng là toàn cảnh một đằng là cận cảnh nhưng đều có kết cục bi thảm vì “<i>họ không hiểu chiến trường chó má này</i>”!</p>
<p>“Chiến trường chó má” của Trần Hoài Thư thật phức tạp: Ta, địch, đồng bào ruột thịt đều lẫn vào nhau, gần gũi nhau. Chỉ mới hôm qua thôi còn gặp nhau, thân mật, thì hôm sau đã là phía bên kia, chết banh ruột như Lài trong Nhật ký hành quân. Đến thiên tài quân sự cỡ Napoléon có sống dậy điều khiển cuộc chiến này hẳn ông cũng giơ tay bất lực: Bởi họ là đồng bào của ta, mũi không cao, mắt không xanh, tóc không vàng, cùng một giọng nói, làm sao phân biệt, như sự mô tả đến trần trụi sau đây: “<i>Lính bắt một nhóm người gồm ông già, bà già, đàn bà và trẻ con từ dưới hầm lên. Nhóm người khốn khổ đang ngồi trên nền gạch khóc lóc. Bên họ là những gói vải lớn hay va li thiếc. Tôi bảo lính khám đồ đạc của họ. Mụ đàn bà có chiếc va li thiếc, run rẩy không cho lính mở. Hắn tức mình đá và chửi: Đến đâu, đàn ông thanh niên không có, sao mụ lại có bầu. Chồng mụ nhảy núi phải không? Tôi nhìn suốt các gương mặt. Các gương mặt đang vươn lên từ những đống tro tàn, đang co ro nhăn nhúm cùng những đôi mắt van lơn sợ hãi</i>” (“Nhật ký hành quân”).</p>
<p>Và từ sự bất lực, chuyển đến trạng thái giận dữ: “<i>Vâng, tôi không thể hiểu. Tôi hét, giận dữ: Tại sao đồng bào lại ở đây, hở hở. Đồng bào không biết đây là vùng oanh kích tự do hay sao?</i>”.</p>
<p>Chính những người dân vô tội kia, trong thời điểm đó, hoặc chấp nhận bên này hoặc bên kia, không có sự chọn lựa thứ hai. Nhưng ở bên nào thì cũng đụng mặt những bất toàn, để sau đó là những cô đơn, ưu uất vây chặt lấy cuộc sống trước mặt, như ông già Tư chèo đò: “<i>Trong khi bom đạn đuổi đàn con cháu của ông ra những cánh đồng lúa để giết nhau, thì ông vẫn còn ngồi lại để mỗi ngày ra bờ sông nghe tiếng gọi đò</i>”<i> </i>(“Khu chiến,” <em>Văn </em>số 181, năm 1971).</p>
<p>Tất cả chỉ vì nguyên cớ: “<i>Núi đã vô tình quyến rũ một lớp người. Sông cũng đã mang đi một lớp người, về bên kia sông, về thành phố. Anh đi lính. Dì Quít thì làm gái bán bar, và chị Thanh thì lạc loài đâu đó sau khi người chồng tử trận.</i>”(“Sông Cái,” <em>Văn, </em>1971)</p>
<p>Mệt mỏi, tuyệt vọng đan xen giữa những niềm hy vọng, mơ ước nhỏ bé đều là tâm trạng chung cho tất cả mọi người trong thời điểm khắc nghiệt nhất của lửa đạn trùng trùng, không phân biệt là thường dân, binh lính bên này hay bên kia, ngoại trừ những kẻ cầm đầu luôn miệng hô hào “Bình Long anh dũng, KonTum kiên cường, Bình Định… đốt cháy cả dãy Trường Sơn…”. Nhưng những ước mơ nhỏ bé long lanh sáng như hạt sương ban mai liệu “<i>có về được không?</i>” Câu hỏi có vẻ tầm thường này, dường như ông đặt ra vấn đề lương tâm cho những người cao nhất: “<i>Con sông Gò bồi vẫn yên chảy. Anh bỏ súng xuống, nhìn con đường mà anh bảo vệ hằng ngày, mà nghĩ đến một buổi mai nào đó, anh có thể trở về bình yên nơi chốn cũ bằng một chuyến xe lam, để thăm lại ngôi giáo đường có cần an ten cao vút, có những nhánh sứ, khô tróc vỏ nỗi lên trên nền trời mây trắng. Không biết anh có về được không?</i>” (“Gò Bồi bên kia sông”).</p>
<p>Như viết ở trên, hiếm khi bắt gặp những nụ cười trong truyện Trần Hoài Thư; có chăng cũng chỉ là những nụ cười bợt nhạt, móp méo. Đó là những nụ cười không hình dạng, chới với, chập chờn như từ tầng sâu địa ngục trồi lên, thọc tay kéo nhếch môi ra: cười như mếu! Duy nhất, tôi đọc được trong truyện Viễn Thám và khám phá ra ông có một nụ cười thật trọn vẹn, nụ cười của hạnh phúc vô bờ, mà ngay từ thuở ấu thơ đến giờ ông mới hé lộ ra, như thể một loài hoa hiếm quí trăm năm mới nở một lần. Một nụ cười đẹp tựa bức tranh La Joconde, như đôi môi thuần khiết của Đức mẹ Đồng trinh, mang đầy chất nhân văn. Đọc kỹ đoạn văn này, tôi tự hỏi, nếu tất cả Trăm con trên Núi dưới Biển đều “có những con tim của tuổi trẻ Việt Nam” trong thời điểm kinh hoàng lửa đạn đó, liệu tất cả có đồng loạt bỏ súng xuống, ôm chầm lấy nhau mà khóc, mà tủi thẹn với tổ tông, hối hận để dẹp tắt đống lửa hận thù cao ngút tầng xanh kia?: “<i>Trung đội thám kích đang săn tin về một đơn vị Bắc quân mới xâm nhập vùng Trường sơn, đã không ngờ gặp một cặp bộ đội đang hát bên bờ suối. Quân thù đó nhưng người lính đã không bắn. &quot;Tôi không thể chơi cái trò dã man như vậy. Tôi muốn người thanh niên kia, ít ra, có một giờ phút vĩnh cửu (&#8230;) Tiếng hát như nói lên những điều câm nín từ những con tim của tuổi trẻ Việt Nam&#8230;. Tiếng hát như dậy khỏi mồ, bạt cả gió, khiến rừng như thể im phăng phắc lá như thể thôi lay động trên cành. Và ít ra, tôi vẫn còn hiểu rằng, mỗi người đều có trái tim. Và trái tim thì lúc nào cũng sống vĩnh cửu&quot; </i>(“Viễn thám”). Đó cũng là một lý do tại sao, góp một phần nhỏ, khiến sau thời gian không lâu, ông bỏ ngũ. Nhưng lý do gần nhất, như trong lá thư ông gởi về cho Mai Thảo, và tạp chí Vấn Đề đăng lên khoảng đầu năm 1971, giải thích tại sao ông lại bỏ ngũ cũng như quyết định của ông trở lại quân ngũ: « <i>Từ Nha Trang,… Tôi đã bỏ đơn vị. Tôi muốn có một thái độ, nhất là trong lúc này : tham nhũng, bất công, thối nát, tranh giành. Đại đội tôi chỉ 50 người. Lính một số biệt phái nhà mấy quan lớn. Tôi bỏ ra đi khi nghe tin Hà Thúc Nhơn chết. Tôi mong các anh để ý đến những người viết miền Trung. Tôi mong Vấn Đề nói lên được nỗi khốn khổ của chúng tôi.</i></p>
<p><i>…Bây giờ tôi chỉ còn chờ ngày ra tòa. Có điều chắc chắn là tôi sẽ trở lại quân ngũ: tôi muốn như vậy.</i></p>
<p><i>T.</i></p>
<p><i>18.11.70</i> (<em>Tạp chí Vấn Đề</em>, 1971). (*)</p>
<p>Dẫn ra đoạn này để thấy thái độ và trách nhiệm của Trần Hoài Thư, với sự chọn lựa duy nhất lúc đó : Đào tẩu khỏi ĐĐ 405 tử thần! Chấp nhận quân lao, giáng cấp; để sau đó ông thực hiện đúng điều ông tự hứa « <i>chắc chắn tôi sẽ trở lại quân ngũ »</i>. Chưa đầy tháng sau kể từ khi nằm trong quân lao, ông lại bị tống ra SĐ23/BB và tiếp tục hành quân ở đâu đó trên DăkTo.</p>
<p>Ngày ông quyết định rời bỏ ĐĐ 405 Thám kích, “<i>Đại Bàng”</i> đã dùng xe jeep đơn vị Quân y đưa ông qua bên kia đèo Cù Mông, vĩnh biệt chảo lửa Bình Định. Sự chọn lựa của ông cũng xuất phát từ « những con tim của tuổi trẻ Việt Nam ». Ông có cái lý của mình. (Và dẫu sao, nhân đây tôi cũng xin cảm ơn, dù muộn màng, đến anh bạn « <i>Đại Bàng</i> » thân thiết đã cứu sống được một nhà văn, vì nếu không, với tình hình chiến trường sôi bỏng lúc đó, biết đâu lại không xảy ra một Y Uyên, Hoàng Yên Trang&#8230; thứ hai?) : “<i>Tôi nói với Cầm: Anh nghĩ rồi đây chiến tranh sẽ chấm dứt. Miền Nam và miền Bắc sẽ sum họp. Mọi người sẽ ngồi lại và tha thứ lẫn nhau. Rồi em về Nha Trang. Anh cũng trở lại cùng Nha Trang. Anh sẽ xin dạy trở lại. Rồi anh sẽ xin cưới em&#8230;</i>” (Nha Trang).</p>
<p>Ông sẽ và đã không cưới được nhân vật trong truyện, nhưng có một nhân vật khác thế chỗ, trở thành nhân vật chính cho truyện dài đời ông, nâng ông đứng dậy suốt quãng thời gian còn lại, sau ngày bi thảm của dân tộc!<i> </i></p>
<p>Nụ cười trên môi ông hiếm hoi, bởi máu ông đã đổ ra nhiều lần thế chỗ. Còn nước mắt thì trải dài suốt cả cuộc đời, từ khi xa “người cha mặc áo lương đen”, mẹ đưa ông vào trại mồ côi cho đến khi ra chiến trường, chứng kiến ngày tan hàng nhão nhoẹt cộng với 4 năm tù giam, vượt biển, định cư… Nhân thân ông giống như kẻ tội đồ Chúa bắt phải hứng chịu mọi tai ách. Ông có vẻ như những nhân vật “dân Do Thái” trước năm 1948, là gã hành khất của đời suốt tuổi ấu thơ đến lúc trưởng thành, là cái bóng chập chờn, tiếng hát ma quái trên nóc tháp Hời hoang phế!</p>
<p>Thân phận ông là thân phận của kẻ lưu đày. Ra khỏi trại tù, ông lại mang một tư thế lưu đày khác, bị xô ra khỏi lề xã hội mới, xã hội mà ở đó luôn luôn đố kỵ, ngờ vực như thể chính những con người bị đố kỵ kia không phải là đồng bào, máu mủ.</p>
<p>Đó là những công chức, quân nhân bên này mà người anh em bên kia gán cho cái tên mỹ miều Nguỵ quân, Nguỵ quyền, may mắn được sống sót trở về từ trại giam. Hầu hết trong số họ đều phải bắt đầu lại từ đầu một cách khó khăn, tất nhiên không phải là những vị trí cũ, dẫu bọt bèo, mà đa phần là “chạy chợ”, làm bất cứ nghề lương thiện nào, ngoại trừ những tên giả trá, trơ trẽn. “Nhân vật” của Trần Hoài Thư trong truyện Người về trăm năm cũng vậy: Bán cà rem dạo. Trong bối cảnh xã hội ngày đó, ai cũng thông cảm chia sẻ nhau về chuyện mưu sinh. Bán cà rem vẫn là một nghề kiếm sống, không ăn giựt ai, không chiếm đoạt tài sản, ruộng vườn của ai, không trá hình xua đuổi người dân ra khỏi nơi chôn nhau cắt rún đi đến “thiên đường kinh tế mới” như một ngục tù thứ hai: “<i>Chiếc xe đạp. Thùng cà rem</i><i>. Chiếc chuông đồng. Chiếc mũ rơm. Và chiếc áo lính cũ. Đó là gia tài của một kẻ trở về. Tôi sẽ mặc lại chiếc áo của một thời mà may mắn còn sót lại trong xó tủ nào</i>” (“Người bán cà rem dạo”).</p>
<p>Nhưng, điều kỳ lạ, thay vì những que cà rem kia là một phần ngàn từng hạt gạo kiếm được trong ngày để nuôi sống vợ con, thì ông lại coi đó như là những món quà kỳ diệu cho các em bé Cần Thơ, là những phiên ảnh của tuổi thơ có quá nhiều mất mát nơi ông. Những hình ảnh và suy nghĩ ở đoạn dẫn sau không hề hư cấu. Nó thật đến hơn trăm phần trăm, khi Hạc Thành Hoa tình cờ nhìn thấy ông ở Cần Thơ trong tình cảnh này. Và lại những giọt nước mắt, nghẹn ngào, đau xót tuôn trào…: “<i>Tôi sẽ tặng em một cây. Một cây đâu có nghĩa lý gì. Bởi vì tôi biết người cha của em cũng như tôi, cũng mang chiếc áo lính này. Còn nữa. Còn những em bé mà tôi gặp từ Bình Minh về Phụng Hiệp, từ Tân Quới về Phong Điền, hai chân em khẳng khiu, đôi mắt nai ngơ ngác, trong manh áo vá, mà đời của em bị mang thêm cái ách làm con ngụy, các em cứ đến bên thùng cà rem của tôi, cứ lựa cây nào em ưa thích, cà rem đường chảy, kem chuối, kem màu&#8230; Cứ chạy theo xe tôi, cứ la hò: Ông bán cà rem cho không bọn bây ơi</i>” (“Người bán cà rem dạo”).</p>
<p>Thân phận của tên bán cà rem hình như cũng không yên ổn: bị gọi lên một cơ quan văn nghệ nghe thuyết giảng, phỉnh dụ và đe nẹt: “<i>Ngày xưa tuổi trẻ của tôi chỉ dệt bằng mơ ước. Yêu thương và tha thứ. Tôi gọi tôi gào người ta, bên này và bên kia, hãy trả lại tuổi trẻ cho chúng tôi, nhưng bây giờ chẳng có yêu thương tha thứ, mà trái lại là căm thù</i>” (“Người bán cà rem dạo”).</p>
<p>Đứng trước thực trạng xã hội sau ngày “giải phóng,” có quá nhiều chệch choạc ở cả hai miền, mâu thuẫn nảy sinh âm ỉ từ việc nhà cầm quyền không thực hiện đúng lời hứa “hoà giải hoà hợp” mà trước đó đã trương trong 10 Điểm… của Măt Trận DTGPMNVN, khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, hàng ngàn người chìm sâu dưới “Thuỷ mộ quan”, bị hãm hiếp… Điều này giải thích tại sao nhiều trí thức, thân hào nhân sĩ phải lên tiếng. Người trong cuộc, đã bỏ hơn nửa đời người theo lý tưởng cộng sản, là bộ đội tập kết năm 1954 phải kêu lên: “<i>Thảm kịch của đảng cộng sản thực ra đã bắt đầu ngay từ ngày 30-4-1975. Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. &quot;Tính hơn hẳn&quot; của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.</i>(Châu Hiển Lý, Bộ đội tập kết năm 1954 – nguồn: nhungsukien/blog).</p>
<p>Sau đó ông đặt ra nhiều câu hỏi tại sao. Và đây là một trong những “tại sao” kia: “<i>Tại sao sau khi được &quot;giải phóng&quot; khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông?</i>” (“Châu Hải Lý”).</p>
<p>Trần Hoài Thư cũng như bao nhiêu người khác, có điều kiện (hoặc không) đều tìm cách trốn ra nước ngoài, bằng thuyền nan, vượt rừng qua Cambodge tới Thái Lan… Nghĩa là bằng mọi cách để không phải chịu cảnh trả thù, dằn xóc, mặc dù họ biết mọi bất trắc đang nằm sẵn trong lòng tay: “<i>Bao nhiêu người đã không may. Bao nhiêu người đã nằm dưới lòng biển. Bao nhiêu người con gái đã bị hãm hiếp và bị bắt cóc. Mắt tôi thấy chúng thay phiên, lưng trần đen bóng mồ hôi, và có người con gái tóc dài tung tóe, nhảy ào xuống biển</i>”(“Những ngày ở đảo”).<b> </b></p>
<p>Sau những tháng ngày khổ nạn, cuối cùng những người ra đi và may măn cũng tìm được bến bờ tự do như mong đợi. Nhưng thực tế không phải là thiên đường dẫu tự do thì dư thừa như rác thải. Mọi người rất vất vả để hoà nhập vào xã hội mới. Họ hối hả leo lên metro, bus, hối hả lái xe trên đường cao tốc; chúi đầu làm việc, làm overtime, làm như con quay, bất cứ trời giá lạnh hay tuyết phủ trắng đường: “<i>Đời sống Mỹ là thế đấy. Bằng mồ hôi và cả tủi nhục. Nhưng mình có thể nhận được phần thưởng từ những giọt mồ hôi của mình</i>” (“Ngày đầu ở xứ người”).</p>
<p>Đó mới chỉ là cái riêng tư, còn xã hội, đời sống bên ngoài thì sao? Lại thêm một bi kịch thứ hai: “<i>Đôi khi anh bắt gặp một vài người mà anh biết chắc là đồng hương, nhưng anh không dám mở miệng. Hình như họ không muốn tiếp xúc. Đó là bản chất của người Việt Nam hay là vì chúng ta đang sống trong một thời đại nghi kỵ, chia rẽ và tị hiềm</i>” (“Ngày đầu ở xứ người”).</p>
<p>Và: <i>“Bỗng dưng có một tên Việt Nam ngồi thu mình trong toa tàu vào một ngày đầu năm ở xứ người. Hắn câm, điếc. Hắn có nhà nhưng không có nhà. Hắn có vợ con nhưng </i><i>không có vợ con. Hắn trở về, nhưng không biết đâu là mái nhà của hắn” </i>(“Ngày đầu ở xứ người”).</p>
<p>Bức tranh toàn cảnh này, ông vẽ ra với một giọng văn thổn thức, hoài nhớ đến nao lòng. Và hình như đây chính là phong cách của ông, văn phong của chính riêng ông. Dù sau đó ông có gặp một Chi Ming Wang, hay một cô gái Việt trong lớp học …. ông luôn mơ ngóng về khung trời viễn xứ, nơi xa xôi đó đang bầu trời xanh thẳm, tầng mây trắng bay, là mùa xuân, cành mai, nồi bánh chưng, hay hình ảnh người vợ bên thềm giếng ngày nào. Nhưng tất cả đều xa lắc. Mộng tan thì còn lại nỗi bất hạnh chổng chơ trên mặt đất trắng tuyết: “<i>Tôi ngần ngại. Hình như có một khoảng cách vô hình ngăn chia giữa tôi và nàng. Có lẽ đầu óc tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi lịch sử. Nhưng nàng đã nói một câu mà tôi không thể tin nổi:</i></p>
<p><i>- Việt Nam và Trung Quốc đều có nỗi bất hạnh chung.</i></p>
<p><i>Tôi thật sự xúc động. Thì ra chúng tôi cũng vẫn có cùng chung cảnh ngộ. Việt Nam, Trung Quốc, Liên Sô, Cao Miên, Cuba, và các nước Đông Âu.</i></p>
<p><i>Tôi nhìn thẳng mắt nàng rồi nói:</i></p>
<p><i>- Vâng. Cả hai</i>” (“Chi Ming Wang”).</p>
<p><i>Đoạn cuối</i>: Vâng, thế hệ chúng tôi là thế hệ bất hạnh nhất, bi thảm nhất. Tuổi trẻ chúng tôi đã hứng đủ mọi lằn roi đến từ nhiều phía khác nhau. Những khuôn mặt và thân người phải oằn lưng gánh đỡ. Trong ngục tù hay bên ngoài, nơi được xưng tụng bằng nhiều mỹ từ nhất trên thế gian này và cả sự cô đơn của kẻ lạc loài xa xứ, thảy đều có “nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang.” Cắm đầu chạy. Miệt mài chạy mà đường đi thì không đến!</p>
<p>Đoạn kết của thế hệ này sẽ vẫn phải còn thở hồng hộc như trâu cày đồng, thở bằng mũi, miệng, tai; thở bằng mông đít và các đầu ngón tay chân, trên từng sợi tóc mặn đắng mồ hôi của tủi nhục, không phân biệt đó là những kẻ đang ngụ tạm quê người, hay còn ở quê nhà thở khói chiều vi vu bên anh Cuội dưới gốc da, ru ta những mộng mị hoang tưởng trên đời, rung bã, mệt mỏi, ê chề.</p>
<p>Trần Hoài Thư bên bờ đại dương chắc cũng vậy. Nhưng có điều may mắn hơn là bên cạnh còn có nhân vật chính của ông, lái xe đi về hơn 10 tiếng trong mưa tuyết đến thư viện Cornell để ông ngồi sau tranh thủ khâu từng tay sách. Có lúc ông tự lái, xe choài trên tuyết trơn, lật ngang đường chắc ông cũng không hay? Vợ vào shopping còn ông thì ngồi ngoài parking, tiếp tục đưa mũi kim luồn qua từng trang sách mà ông nâng niu quí trọng. Cảm ơn người chị một thời cưu mang tôi những năm tháng long đong ở Cần Thơ (trong tâm khảm, tôi luôn coi chị như người chị ruột của mình). Món bún bò Huế tôi đãi chị ở quán ông Ba Bụng, Bình Thuỷ khi nhận được nhuận bút, lúc đó chị kêu cay, nước mắt chị chảy. Vị cay và một chút nước mắt ngày nào như một định mệnh báo trước khi chị hỏi tôi về Trần Hoài Thư: “Em thân với ông nhà văn này, hỏi thật, ngoài đời ổng có dữ dội như những nhân vật trong truyện của ổng không?” Tôi không nhớ đã trả lời chị ra sao, nhưng giữa năm 1971, bất ngờ chị gửi thư vào quân trường Thủ Đức “…ráng kiếm cái phép về ăn cưới chị và anh Thư”. Thật trọn vẹn, thật ngọt ngào. Định mệnh đã trói chị vào nước mắt và nụ cười cùng cay đắng của Trần Hoài Thư, là thềm giếng, cành mai, và mùi thơm bánh chưng sôi ùng ục trong nồi chiều giao thừa. Như vậy có nghĩa rằng, Trần Hoài Thư sẽ còn có những tác phẩm văn học để đời, mà công lớn thuộc về chị.</p>
<p><b></b></p>
<blockquote><p><u><strong>Tiểu sử:</strong></u></p>
<p><b>Trần Hoài Thư</b>, tên thật Trần Quý Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt, hiện cư ngụ tại New Jersey, Hoa Kỳ.</p>
<p><strong>1964</strong>: Giáo sư Trường Trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ. Khởi sự viết văn, truyện ngắn đầu tay: <i>Nước Mắt Tuổi Thơ</i> đăng trên tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn.       <br />Cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức &#8230;       <br /><strong>1966</strong>: Nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Đức. Nhận giải thưởng Sinh Viên Sĩ Quan Báo Chí xuất sắc của Khóa 24.       <br />Trung đội trưởng thám kích Đại đội 405 TK/SĐ 22 BB.       <br />Phóng viên chiến trường tại QĐ4.       <br /><strong>1975</strong>: Tù &quot;cải tạo&quot; 4 năm.       <br /><strong>1980</strong>: Vượt biển, định cư tại Hoa Kỳ.       <br />Viết truyện đăng trên các tạp chí <em>Nhân Văn</em>, <em>Hồn Việt</em>, <em>Dân Quyền</em>, <em>Diễn Đàn</em>,<em> Sóng</em>, <em>Văn Học</em>, <em>Quê Mẹ</em>, <em>Đời Mới</em>.</p>
<p><strong>2001</strong>: Cùng các bạn văn chủ trương tạp chí Thư Quán Bản Thảo và thành lập Cơ sở xuất bản Thư Ấn Quán in lại các tác phẩm văn học miền Nam trước 75.</p>
<p><u><strong>Trước năm 1975</strong></u>:</p>
<p><strong>1974</strong>: <em>Một Nơi Nào Để Nhớ</em> (Truyện, Nxb Con Đuông)       <br /><strong>1971</strong>: <em>Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi</em> (Truyện, Nxb Ý Thức       <br /><strong>1970</strong>: <em>Những Vì Sao Vĩnh Biệt</em> (Truyện, Nxb Ý Thức)       <br /><strong>1968</strong>: <em>Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang</em> (Truyện, Nxb Ý Thức)</p>
<p><u><strong>Sau năm 1975</strong></u>:</p>
<p><strong>Truyện:</strong></p>
<p><strong>1998</strong>: <em>Về Hướng Mặt Trời Lặn</em> (Tập truyện)       <br /><strong>1997</strong>: <em>Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối</em> (Tập truyện)       <br /><strong>1995:</strong> <em>Ra Biển Gọi Thầm</em> (Tập truyện)       <br /><em>       <br />Đại Đội Cũ, Trang Sách Cũ&#160; <br /></em><em>Thế Hệ Chiến Tranh</em> (Tập truyện)       <br /><em>Đánh Giặc Ở Bình Định&#160; <br /></em><em>Đêm Rừng Tràm&#160; <br /></em><em>Hành Trình Của Một Cổ Trắng&#160; <br /></em><em>Mặc Niệm Chiến Tranh</em> (Tập truyện)&#160; <br /><em>Thủ Đức Gọi Ta Về</em> (Hồi ức).</p>
<p><strong>Các Tập Thơ:</strong></p>
<p><strong>2010</strong>: <em>Xa Xứ        <br /></em><strong>2008</strong>: <em>Quán        <br /></em><strong>1998</strong><em>: Thơ Trần Hoài Thư        <br />&#160; <br />Qua Sông Mùa Mận Chín         <br />Tháng Bảy Hành Quân Xa         <br />Hố Xa         <br />Ngày Vàng         <br />Ô Cửa</em> </p>
</blockquote>
<p><strong>___________________________________________________</strong></p>
<p><strong>Chú thích:</strong></p>
<p>(*) trang chụp lại từ bản gốc trên Vấn Đề, năm 1971</p>
<p><i><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/07/clip_image0029.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002_thumb7.jpg" width="327" height="456" /></a></i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20839/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

