<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Nghiên Cứu</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/nghiencuu/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Lời tự sự của rừng gi&#224; nh&#226;n ng&#224;y tr&#225;i đất</title>
		<link>http://damau.org/archives/24127</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24127#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 11 May 2012 07:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lương Thư Trung</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chụp và Chép]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24127</guid>
		<description><![CDATA[Cây trăm năm đã hiếm, cây chết trong rừng trăm năm mà vẫn còn ghi lại dấu vết màu thời gian càng hiếm biết bao! Bạn có thấy thân gỗ mục ấy có nói gì đâu, nhưng những bài học từ những thân gỗ im lìm ấy đã nói với bạn biết bao điều !]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/swamp-view.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="swamp view" border="0" alt="swamp view" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/swamp-view_thumb.jpg" width="447" height="336" /></a></p>
<p align="center"><em>Đầm lầy trong rừng nguyên sinh Aboretum, thành phố Houston (Nguồn: <a href="http://www.gardentourist.org/houston_arboretum/houston_arboretum.html" target="_blank">The Garden Tourist</a>)</em></p>
<p>Bạn ơi, chúng tôi là thông, là dây cổ rùa, là bông súng, là rau ngổ, là cá, là rùa, là bươm bướm cùng nhiều loài cây cỏ sinh vật khác hiện đang có mặt tại vùng rừng bách thảo này từ nhiều đời nhiều kiếp lâu lắm rồi, nhiều lúc không còn nhớ nổi tổ tiên mình có mặt tại đây từ hồi nào! Chúng tôi là cháu chắt nhiều đời mà có đứa nay có màu da trên trăm tuổi, nhất là những thân cây cổ thụ đang sừng sững giữa trời dường như không còn biết tuổi của mình là mấy trăm năm nữa, thưa bạn!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Hnh-bng-v-cy-1475-1.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Hình bông và cây 1475-1" border="0" alt="Hình bông và cây 1475-1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Hnh-bng-v-cy-1475-1_thumb.jpg" width="287" height="382" /></a></p>
<p align="center"><em>Cây cao trong rừng nguyên sinh</em></p>
<p align="left">Bạn có bao giờ nghe ai nói về khu rừng nguyên sinh Aboretum mà tên gọi trọn vẹn của nơi chúng tôi đang ở là “Houston Arboretum &amp; Nature Center” lần nào chưa?</p>
<p>Nếu bạn đang đi trên xa lộ 610 về hướng bắc trước khi đi ngang qua thành phố Houston, còn vài chục cây số nữa, bạn nhìn qua tay mặt của bạn, bạn sẽ thấy những rừng cây bạt ngàn đang đứng im lìm bên dòng xe cộ rì rầm chạy qua vùn vụt suốt ngày đêm. Rừng cây ấy chính là khu rừng nguyên sinh mà chúng tôi đã ngụ cư từ nhiều đời cho mãi tận đến ngày trái đất hôm nay vậy!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Dau-da-cua-hinh-tren-da-cam-thach.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Dau da cua hinh tren da cam thach" border="0" alt="Dau da cua hinh tren da cam thach" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Dau-da-cua-hinh-tren-da-cam-thach_thumb.jpg" width="347" height="261" /></a></p>
<p align="left">Bạn ơi, khu rừng này nằm về hướng tây công viên Memorial và dường như nó rộng nhứt so với nhiều công viên trong thành phố. Vào khoảng những năm 1917-1923, nơi đây là trại binh Logan, nơi để huấn luyện các chiến binh thời kỳ đệ nhất thế chiến. Do vậy, mà khu rừng này nằm liền với công viên Memorial cũng là để tưởng nhớ đến các chiến binh của trận đại thế chiến ấy.<em></em></p>
<p>Việc bảo vệ cái nét nguyên sinh của khu rừng này là do nhà kinh tế kiêm nhà giáo dục Robert A.Vines nghĩ ra, và gia đình ông muốn hiến tặng khu đất rừng 265 mẫu tây này cho thành phố thay vì bán cho cư dân hoặc các nhà địa ốc thì họ sẽ phá cây rừng và xây cất nhà cửa, lúc bấy giờ còn gì là nét xanh tươi trầm mặc của rừng già nữa<em>. </em>Do vậy mà dáng vẻ thiên nhiên nguyên thủy ở đây còn khá đậm dù ngày nay có thêm vài công trình xây cất khác nhằm mời gọi du khách đến thăm, nhưng cái nét đẹp bẩm sinh của rừng vẫn là nét hấp dẫn vô cùng của khu rừng này.</p>
<p>Nếu bạn thích ngắm nhìn những thân cây rừng già cỗi, và để đặt chân lên biết bao lá rụng chồng chất dày lên qua những năm dài, bạn phải đi bộ khoảng chừng hơn 10 cây số đường mòn mới giáp một vòng khu rừng. Qua những bước chân ấy, bạn sẽ bắt gặp biết bao đời sống của cỏ cây hoa lá chim muông đang có một đời sống rất bình yên giữa đất trời làm xanh mát thêm dáng vẻ vốn đã xanh mát của thiên nhiên. Ở đây, không ai dặn ai nhưng tuyệt nhiên con người khi bước chân vào khu rừng này, là người ta rất trân trọng đời sống của mọi sinh vật của rừng. Không ai dám bắt một con bướm đang bay, không ai dám nhổ một cọng cỏ hoang đang sống nơi bờ bụi nào đó và dĩ nhiên rồi, không ai muốn làm bất cứ cử chỉ nào mang tính khiếm nhã đối với cỏ cây trong rừng nguyên sinh này…</p>
<p>Nơi đó không thiếu thứ cây gì, từ các loại cây danh mộc như gõ, trắc, tùng, bách, thông và nhiều loài cây đại mộc khác có hơn cả trăm năm đang sống nơi này.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Mat-cat-cua-cay.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Mat cat cua cay" border="0" alt="Mat cat cua cay" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Mat-cat-cua-cay_thumb.jpg" width="277" height="335" /></a></p>
<p align="center"><em>Mặt cắt của một trong những loại danh mộc trên mấy trăm năm nơi rừng này</em></p>
<p>Rồi nào là dây cổ rùa, cùng những loài dây leo khác lớp lớp sống cùng nhau trong cảnh rừng già. Theo quan niệm xưa của người Trung Hoa về cái đẹp của thiên nhiên là phải thích hợp. Chẳng hạn như: <em>“Hoa không thể không có bướm, núi không thể không có suối, đá không thể không có rêu, nước không thể không có rong, cây lớn không thể không có dây leo, và ngưới không thể không nghiền một thứ gì.”</em> (1). Ở đây, bạn sẽ thấy dây cổ rùa leo quanh những thân cây già làm xanh tươi thêm đời sống của các loài đại mộc và quan niệm ấy ngày nay vẫn còn đúng lắm!</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/cy-v-dy-leo.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="cây và dây leo" border="0" alt="cây và dây leo" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/cy-v-dy-leo_thumb.jpg" width="302" height="402" /></a></p>
<p align="center"><em>Cây rừng và những dây leo</em></p>
<p>Bạn thử nhìn ngắm bất cứ chòm cây cổ thụ nào nơi đây, dường như các thân cây cao vút lên trời xanh ấy cũng đều bao quanh bởi những chùm dây leo uốn lượn như những con rồng xanh đang bay bay trong gió giữa mây trời. Hình ảnh ấy làm rừng già thêm xanh và quyến rũ biết bao! Nhưng có lẽ khi bạn thấy thân cây rừng lâu năm với lớp da cây sần sùi và nứt nẻ thành những vảy con rùa, chắc bạn cũng đoán biết được chúng tôi già nua đến bực nào rối ! Sở dĩ da chúng tôi sần sùi và nứt nẻ ấy, một phần vì mình già, vì tuổi tác cao đã đành nhưng phần khác cũng vì do thiên nhiên thay đổi nữa.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/old-tree-bark.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="old tree bark" border="0" alt="old tree bark" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/old-tree-bark_thumb.jpg" width="287" height="382" /></a></p>
<p align="center"><em>Nhìn da cây nổi những vảy rùa, bạn chắc biết cây nay cũng đã già lắm rồi!</em></p>
<p>Hồi tưởng lại những năm chúng tôi còn bé nhỏ, trái đất đâu có nóng dữ dội như ngày nay. Hồi đó con người còn rất ít, đất hoang vu nhiều, mọi sinh vật cỏ cây trong vũ trụ này sống là sống tự nhiên theo từng căn gốc của mình, nên không ai biết thế nào là ô nhiểm, là khói độc bay lù lù trong không khí như ngày nay trên trái đất này mà bạn đang sống. Hồi đó chúng tôi lớn lên trong môi trường mát lành ấy nên cũng ung dung lớn lên dần mà it lo nghĩ gì nhiều. Dĩ nhiên rồi, tuổi trẻ mà gặp thời thái bình của không khí sạch nữa thì cây cối nào mà chẳng mừng. Còn ngày nay, như bạn thấy trên thân chúng tôi rải rác trong rừng nguyên sinh này có đứa dính vết sơn gạch chéo màu vàng vàng như hình chụp bên cạnh là coi như đời mình cũng sắp kết liễu rồi vậy!</p>
<p align="center"><em><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/yellow-mark-on-tree.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="yellow mark on tree" border="0" alt="yellow mark on tree" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/yellow-mark-on-tree_thumb.jpg" width="287" height="382" /></a></em></p>
<p align="center"><em>Vệt sơn màu vàng gạch chéo, là dấu hiệu của một bản án tử hình đối với loại cây rừng trăm năm</em></p>
<p>Bạn ơi, khi mấy người có bổn phận chăm lo cho rừng họ chờ nhiều mùa mà da chúng tôi không xanh tươi lại, lá chúng tôi rụng đã lâu quá rồi mà không thấy đâm ra những chồi non mới là họ bắt đầu đem nước sơn vàng làm dấu để chờ một ngày đinh mệnh nào đó tới nơi họ sẽ dùng cưa hạ chúng tôi nằm xuống đất như tấm hình những khúc gỗ cắt lìa từng đoạn, từng đoạn nằm bên gốc chết.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/tree-logs.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="tree logs" border="0" alt="tree logs" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/tree-logs_thumb.jpg" width="352" height="264" /></a></p>
<p align="center"><em>Hết rồi, một đời cây!</em></p>
<p>Tuy vậy, chúng tôi, trong lớp lớp rừng cây trăm năm này cũng có rất nhiều đứa lại được chết già, rồi như bạn thấy những mảng rêu màu xanh đọt chuối non hơi lợt bám đầy lên thân gỗ mục làm thành màu thời gian đằng đẵng biết bao mùa!</p>
<p>May mắn thay, hôm nay là ngày trái đất, có một ông già nhà quê, khi đi ngang tôi, ông tách khỏi đoàn người cùng đi với ông và rồi ông ngồi xuống mân mê những thân rêu màu xanh đọt chuối bám đầy trên tấm thân bị quên lãng ấy, và rồi dường như ông muốn nhắc cùng bạn nơi đây đang có chúng tôi, đứa đang sống, đứa đang chết khô giữa rừng và đứa đang nằm sát đất từ nhiều đời kiếp nào rồi mà ít có người để ý bước lại gần. Nhìn gốc cây già cỗi nằm giữa rừng phủ lớp rêu xanh với bao nghĩ ngợi về sự biến hoá của trời đất, dường như, trên gương mặt xương xương ấy ông già nhà quê rất bất bình về câu thơ mà ông đã nghe ai đó đọc một đôi lần bên tai ông:<em> “Những thân củi mục, thuyền không đáy …”</em></p>
<p>Không, thưa nhà nhà thi sĩ, nếu nhà thi sĩ được làm thân gỗ mục<em> </em>bám đầy những lớp rêu xanh như chúng tôi , thì đó cũng chưa hẳn là những gì vô dụng! Nếu bạn là người chìm nổi giữa dòng đời tang thương dâu biền nhiều phen rồi, bạn sẽ nhận ra từ những thân cây nứt nẻ ấy với những thớ gỗ vặn vẹo và nằm từ năm này qua năm khác với bao mùa nắng mưa dông bão giữa rừng già, bạn sẽ không dám xem nhẹ những thân gỗ mục như câu thơ mà ông già nhà quê vừa nhớ lại. Cây trăm năm đã hiếm, cây chết trong rừng trăm năm mà vẫn còn ghi lại dấu vết màu thời gian càng hiếm biết bao! Bạn có thấy thân gỗ mục ấy có nói gì đâu, nhưng những bài học từ những thân gỗ im lìm ấy đã nói với bạn biết bao điều ! Cái giá trị của một đời cây chết lâu năm trên rừng già lúc bấy giờ không phài chúng tôi thuộc là loại gỗ gì mà chính là rêu xanh nói với bạn về điều ấy!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/lichen-on-old-tree.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="lichen on old tree" border="0" alt="lichen on old tree" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/lichen-on-old-tree_thumb.jpg" width="297" height="395" /></a></p>
<p align="center"><em>Màu thời gian qua lớp rêu phủ đầy lên thân một cây cổ thụ nằm giữa rừng</em></p>
<p>Chúng tôi nghe nói các nhà khoa học đã tìm được một cây thông có tên Methuselah thuộc vùng núi White Mountains có tuổi thọ gần năm ngàn năm tuổi mà nay vẫn còn sống…</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/methuselah.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="methuselah" border="0" alt="methuselah" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/methuselah_thumb.jpg" width="402" height="320" /></a></p>
<p align="center"><em>Cây thông có tên Methuselah có tuổi khoảng 4.841năm (Ảnh:sina.com.cn)(2)</em></p>
<p>Thưa bạn,</p>
<p>Điều đó rất mừng cho một đời cây giữa vùng núi khô cằn ít nước ấy, nhưng nơi đây, nơi khu rừng nguyên sinh mà chúng tôi đang sống, thiệt tình mà nói, chúng tôi thấy tuổi già cỡ trăm năm là đã thấy mình già dữ lắm rồi. So với các bậc tiền bối ấy, có lẽ ít ai trong chúng tôi dám khoe mình là có thể sống tới ngàn năm …. Bởi trong lớp lớp cây già nơi đây nhiều đứa trong chúng tôi cũng gặp nhiều gian truân của thời kỳ trái đất dường như mỗi lúc một nóng bức nhiều hơn, trong lòng đất những mạch nước ngầm cũng cạn kiệt lắm rồi nên cây chết giữa rừng mà bạn thấy hình bên cạnh, cây đâu đã già lão gì cho lắm!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dead-tree-with-lesion.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="dead tree with lesion" border="0" alt="dead tree with lesion" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dead-tree-with-lesion_thumb.jpg" width="254" height="433" /></a></p>
<p align="center"><em>Cây chết bị trốc da</em></p>
<p align="center"><em><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dead-tree-in-forest.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="dead tree in forest" border="0" alt="dead tree in forest" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dead-tree-in-forest_thumb.jpg" width="335" height="363" /></a></em></p>
<p align="center"><em>Cây non chết giữa rừng</em></p>
<p>Bạn ơi, bạn có biết nơi đây có một loại cây vừa là cây mọc vừa là dây leo, mà các nhà thực vật học gọi các bạn ấy là Dalbergia Cadenatensis (dây cẩm lai một hột), hoặc có loại cũng được gọi là Dalbergia Multiflora (dây cẩm lai nhiều hoa) (3), nhưng hôm nay sao chúng tôi thấy các loại dây này được ông già nhà quê gọi chúng là dây cổ rùa và ông còn kể với những người cùng đi với ông là loại dây leo này dân quê thường dùng làm vành lọp, vảnh thúng, vành rổ thông dụng trong nhà vào những năm mới khai hoang đất lâm làm ruộng nơi vùng tây Nam nước Việt. Chúng tôi thấy các bạn ấy dù nay đã khá già, thân dây như cằn cỗi qua biết bao năm tháng nắng mưa giữa trời mà chừng như vui lên và đang mỉm miệng cười với cụ già nhà quê từ phương nào mới tới khu rừng này. Niềm vui của các bạn dây leo già ấy có lẽ nhờ có người gọi đúng tên của chúng. Chúng tôi cũng cảm thấy vui vui khi các bạn ấy vui vì từ bấy lâu nay các bạn ấy dường như giấu kín một nỗi buồn là không ai gọi trúng tên mình trên mặt đất này như tự thân mình có cái tên quê mùa ấy!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/cy-c-ra-gi.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="cây cổ rùa già" border="0" alt="cây cổ rùa già" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/cy-c-ra-gi_thumb.jpg" width="282" height="375" /></a></p>
<p align="center"><em>Dây cổ rùa già khắng khít với cây cổ thụ qua biết bao mùa nắng mưa giông bão</em></p>
<p>Điều đó cho chúng tôi hiểu rõ việc gọi trúng tên một vật là điều tối quan trọng. Nếu không phải thế thì làm sao có một vị Thiền sư làm bài thơ <em>“<a href="http://www.quietspaces.com/poemHanh.html" target="_blank">Please Call Me By My True Names</a>” (4)</em></p>
<p>Thưa bạn, đó là nói về cách gọi tên dù là bình thường như việc xảy ra mỗi ngày như mọi ngày nhưng gọi trên trúng thi bao giờ cũng hợp với lẽ tự nhiên của trời đất hơn. Phải thế không bạn ?</p>
<p>Tiện đây cũng xin kể bạn nghe vài loài thú rừng khác có trong khu rừng nguyên sinh này. Như bạn thấy hình chụp một chú chó sói đang rình bắt cặp chim rằn, rồi còn có biết bao rắn rít khác kể cả loài rắn mái gầm khoan đen khoan vàng; rồi còn có trăn, rùa, cá sấu, kỳ đà cùng chim chóc đủ loại, không thiếu thứ gì.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/wolf-and-birds.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="wolf and birds" border="0" alt="wolf and birds" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/wolf-and-birds_thumb.jpg" width="402" height="247" /></a></p>
<p align="center"><em>Chó sói và chim trong rừng</em></p>
<p>Nhiều lớp da thú rừng có mặt nơi rừng này được phơi khô và trưng bày nơi phòng sưu tập nhằm giới thiệu với du khách. Bạn vào đó bạn sẽ thấy đủ loại, từ da beo, da chồn, da nai và nhiều, nhiều lắm các loài thú hoang có mặt nơi này từ thời kỳ nguyên sơ tới giờ không kể xiết.</p>
<p>Còn các loại cỏ thủy sinh và các loài nê thực vật thì hàng hàng lớp lớp sống quanh năm nơi các đầm lầy và ao hồ thiên nhiên nơi đây và các bạn ấy đã phần nào góp phần làm dịu bớt cái nóng của rừng già giữa mùa nắng nóng phần nào!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/image.png"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="image" border="0" alt="image" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/image_thumb.png" width="402" height="294" /></a></p>
<p align="center"><em>Ao thiên nhiên với bông súng và rau chàng (một loại cỏ thủy sinh)</em></p>
<p>Dĩ nhiên rồi, nét đẹp nào cũng có cái dáng vẻ riêng của nó và cũng tùy theo cách nhìn của mỗi người nữa. Nhưng chắc chắn một điều là dù cây rừng cổ thụ già cỗi bao nhiêu trăm năm đi nữa lại đứng một mình thì chưa thể gọi là đẹp, giống như hồ nước trong leo lẻo mà thiếu những loài cá, loài rùa cùng các giống cỏ thủy sinh hay các loại cỏ sống trong bùn, hồ mới chỉ đẹp một phần nào thôi chứ chưa là đẹp trọn vẹn được! Điều đó, cho thấy nét đẹp thiên nhiên của rừng không chỉ là những loài cây cổ thụ già nua vươn cao lên nền trời xanh biếc mà còn là nhờ vào mọi loài cây cỏ và các chim chóc cùng nhiều loài thú hoang khác nữa; ở đây không có sự phân biệt loài cây này danh giá hơn loài cây khác, loài thú này đẹp hơn loài thú kia mà chỉ có sự cọng sinh trong một toàn khối của thiên nhiên mới thực sự làm nên vẻ đẹp của thiên nhiên…</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/turtle-in-pond.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="turtle in pond" border="0" alt="turtle in pond" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/turtle-in-pond_thumb.jpg" width="387" height="291" /></a></p>
<p align="center"><em>Rùa bơi trong hồ giữa rừng</em></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/water-lilies.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="water lilies" border="0" alt="water lilies" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/water-lilies_thumb.jpg" width="387" height="291" /></a></p>
<p align="center"><em>Rau chàng, một loại cỏ đa niên sống trong hồ với cuống hoa nở ngay trên nách lá      <br /></em></p>
<p align="left">Đi giữa rừng, bạn sẽ nghe tiếng chim hót trên cây, bạn sẽ nhìn ngắm những loài chim gõ kiến đang chuyền từ nhánh cây này qua cành cây khác kiếm mồi với những bước chân nhảy nhót rất nhà nghề&#8230; Và bạn sẽ bắt gặp những ổ chim giữa rừng, như dấu tích của một mái nhà ấm cúng của những loài chim chóc giữa rừng già này.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/bird-nest.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="bird nest" border="0" alt="bird nest" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/bird-nest_thumb.jpg" width="402" height="269" /></a></p>
<p align="center"><em>Ổ chim trên ngọn cây cao</em></p>
<p align="center"><em><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/resting-stork.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="resting stork" border="0" alt="resting stork" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/resting-stork_thumb.jpg" width="387" height="291" /></a></em></p>
<p align="center"><em>Cò đang nghỉ cánh</em></p>
<p>Thấp thoáng nơi những đầm lầy xa xa bạn sẽ thấy cò, diệc và nhiều giống chim lớn khác nữa đang lặng lẽ tìm mồi, hoặc nghỉ chân nhìn khoảng trời xa xăm với những đám mây bay xa xa màu xanh lợt hay chúng đang từ những khoảng trời xa nào lũ lượt bay về rừng&#8230; Mỗi mỗi sinh vật trong khu rừng này chúng đang sống một đời sống rất ý nghĩa của chúng.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/birds-in-pond.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="birds in pond" border="0" alt="birds in pond" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/birds-in-pond_thumb.jpg" width="487" height="220" /></a></p>
<p align="center"><em>Các loài chim đang tìm mồi trên hồ nằm giữa rừng</em></p>
<p align="center"><em><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/birds-flying-back-to-forest.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="birds flying back to forest" border="0" alt="birds flying back to forest" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/birds-flying-back-to-forest_thumb.jpg" width="475" height="281" /></a></em></p>
<p align="center"><em>Chim bay về rừng</em></p>
<p>Có một điều nữa cũng xin thưa cùng bạn là ở rừng này có nhiều cây đang sống và có cây đã chết lâu rồi nhưng không có bất cứ loài cây cỏ nào tự nhận mình đẹp hơn những loài cây cỏ nào khác cả. Nhớ thuở xưa, ở đây chúng tôi rất ngại mùa thu và mùa đông, những ngày mùa làm cây rừng mau thay lá và mau già; nhưng ngày nay chúng tôi lại thêm ngại cả mùa hè vì thời tiết bây giờ trên mặt trái đất này dường như có những thay đổi bất thường làm trời đất nóng gay gắt hơn, nhưng chúng tôi vẫn lặng thinh, không muốn kêu ca gì. Tất cả dường như âm thầm sống giữa thiên nhiên và tự mình làm cho thiên nhiên xanh mát hài hòa hầu mang lại cho chính mình cũng như cho loài người sự êm đềm thơ thới trong lòng mỗi khi họ có dịp ghé lại thăm rừng!</p>
<p>Có lẽ nhờ sự im lặng của tất cả các loài cây cỏ ấy mà rừng mới thực sự là một thiên nhiên có ích cho con người giữa thời buổi văn minh thời này, và chính sự trầm mặc của rừng tự nó đã nói với bạn về những gì mà bạn đang đi tìm dưới những tàn cây cao vút trên cao…</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/resting-butterfly.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="resting butterfly" border="0" alt="resting butterfly" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/resting-butterfly_thumb.jpg" width="387" height="291" /></a></p>
<p align="center"><em>Bướm đang nghỉ cánh trên lá cỏ giữa rừng già (6)</em></p>
<p>Bạn ơi, ngày xưa Trương Trào, một thi sĩ ở giữa thế kỷ XVII, bên Trung Hoa, có nói: <em>“Phải có duyên mới được du ngoạn thắng cảnh; nếu duyên chưa tới thì dù ở cách thắng cảnh chỉ vài chục dặm cũng không nhàn nhã mà đi được.”(5)</em> Do vậy, nếu bạn chưa đến rừng này lần nào không phải vì bạn ở xa rừng mà vì bạn chưa có duyên với rừng đó thôi! Phải thế không bạn?</p>
<p><strong>LTT</strong></p>
<p>Houston, Ngày trái đất, 14 tháng 04 năm 2012.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>Cước chú:</strong></p>
<p><em>1/”Một quan niệm về sống đẹp” của Lâm Ngữ Đường, do Nguyễn Hiến Lê dịch, Sài Gòn 1964, trang 236.</em></p>
<p><em>2/ Theo VnExpress và Khoahoc.com.vn.</em></p>
<p><em>3/ “Cây Cỏ Miền Nam Việt Nam” của giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Bộ Giáo Dục-Trung Tâm Học Liệu xuất bản, Sài Gòn, năm 1970, trang 852.</em></p>
<p><em>4/ Bài thơ “<a href="http://www.quietspaces.com/poemHanh.html" target="_blank">Please Call Me By My True Names</a>” trong cuốn Being Peace của Thiền sư Thích Nhất Hạnh do Parallax Press xuất bản, Berkeley, California (Hoa kỳ), năm 1987, trang 63.</em></p>
<p><em>5/ “Một Quan Niệm Sống Đẹp”, Sđd, trang 239.</em></p>
<p><em>6/ Ngoài ra, ngoài hình đầm lầy trong rừng nguyên sinh của <a href="http://www.gardentourist.org/houston_arboretum/houston_arboretum.html" target="_blank">The Garden Tourist</a> và hình gốc cây thông Methuselah 4.841 năm tuổi, tất cả các hình còn lại trong bài do tác giả chụp ngày 14-04-2012.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24127/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>LƯU VỰC S&#212;NG MEKONG: ĐỊA B&#192;N TH&#193;CH ĐỐ CỦA HOA KỲ</title>
		<link>http://damau.org/archives/23979</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23979#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 19 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Thế Vinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn Tròn: Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23979</guid>
		<description><![CDATA[Thiếu thực chất / short on substance là thực trạng hiện nay của Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong. Các viên chức Hoa Kỳ từ Hành Pháp tới Lập Pháp đã nói nhiều về cam kết với vai trò mở rộng của Hoa Kỳ trong Lưu Vực Sông Mekong nhưng “tổng số đầu tư thì chưa đáng kể” để có thể hỗ trợ cho các cuộc nghiên cứu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="right"><em>Gửi Nhóm Bạn Cửu Long &amp; VN 2020 Mekong Group</em></p>
<blockquote><p><i>“Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á. Tổng Thống Obama và tôi tin rằng khu vực này là thiết yếu cho tiến trình toàn cầu, cho hòa bình và thịnh vượng và chúng tôi mở rộng cam kết với các thành viên thuộc Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á trên mọi thách đố trong tương lai.” </i>Ngoại trưởng Hillary Clinton, ASEAN Summit 07/ 28/ 2009</p>
<p><i></i></p>
<p><i>“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh của cư dân sống phụ thuộc vào con Sông Mekong với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.” </i>Thượng nghị sĩ Jim Webb’s Press Releases 12/ 08/ 2011</p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p><font size="3"><strong>SỰ TRỞ LẠI MUỘN MÀNG CỦA HOA KỲ </strong></font></p>
<p>Sau Chiến Tranh Việt Nam, sự vắng bóng của Hoa Kỳ trong khu vực Đông Nam Á đã để lại một khoảng trống về địa dư chánh trị, và đây cũng chính là vận hội để một Trung Quốc với tham vọng mau chóng lấp đầy. Với sức bành trướng của Trung Quốc từ kinh tế tới quân sự ngày càng đè nặng trên 5 quốc gia trong lưu vực sông Mekong, cộng thêm với những động thái hung hãn của Bắc Kinh nhằm <i>“Tây Tạng Hóa vùng Biển Đông/ Tibetization of South China Sea”, nói theo ngôn từ rất tượng hình của B.A. Hamzak, thuộc Viện Hàng hải Mã Lai / Malaysian Institute of Maritime Affairs,</i> đang trực tiếp đe dọa tới những quyền lợi thiết thân của chính nước Mỹ, đã đến lúc chánh quyền Tổng thống Obama không thể không quan tâm tới sự thách đố của Trung Quốc, một quốc gia đông dân nhất thế giới đang nhanh chóng vươn lên như một siêu cường cả về kinh tế lẫn quân sự. Bắc Kinh không chỉ cạnh tranh ráo riết mà còn với tham vọng vượt qua Mỹ trong thập niên tới của thế kỷ này. Nguy hiểm hơn nữa, nói theo ngôn từ của Jane Perlez, báo New York Time, đó là một <i>“cạnh tranh mất-còn / zero-sum game.”</i> [9] Do đó, một chiến lược trở lại với khu vực Đông Nam Á của Hoa Kỳ là một tiến trình tất yếu chứ không phải là ngẫu nhiên.</p>
<p>Hoa Kỳ là một trong những nước tài trợ cho Ủy Hội Sông Mekong, đồng thời cũng đã từng viện trợ cho các quốc gia Mekong, lại có tiếng nói đầy quyền uy trên các tổ chức ngân hàng lớn của thế giới như World Bank/ WB và Asian Development bank/ ADB… với tư thế đó cùng với hành động tích cực dấn thân, Hoa Kỳ hy vọng có thể tìm lại thế đứng, với “vai trò đối trọng” hạn chế được phần nào sức bành trướng của Trung Quốc trong lưu vực.</p>
<p><font size="3"><strong>KHỞI ĐẦU TỪ HÀNH PHÁP </strong></font></p>
<p>Từ Hội nghị ASEAN [Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á], ngày 23-07-2009, theo yêu cầu của Mỹ đã có thêm một cuộc họp bên lề của Ngoại trưởng 5 nước: phía Mỹ là Hillary Rodham Clinton, cùng với 4 Ngoại trưởng vùng Hạ Lưu Sông Mekong bao gồm có Thái , Lào, Cam Bốt và Việt Nam tại Phuket, Thái Lan. Đại diện cho Việt Nam lúc đó là Ngoại trưởng Phạm Gia Khiêm kiêm Phó Thủ tướng.</p>
<p>Ngoại trưởng Mỹ đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vùng Hạ Lưu Sông Mekong/ Lower Mekong Basin và mỗi quốc gia đối với Hoa Kỳ, cùng với cam kết hỗ trợ nhằm thăng tiến hòa bình và thịnh vượng cho khu vực ASEAN như một toàn thể. Ngoại trưởng 4 nước Thái , Lào, Cam Bốt và Việt Nam hoan nghênh sự hợp tác chặt chẽ hơn của Hoa Kỳ với các quốc gia Hạ Lưu trong những lãnh vực có ý nghĩa hỗ tương nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững trong vùng.</p>
<p>Tiếp theo đó là một tuyên cáo, liên quan tới những vấn đề quan tâm chung, đặc biệt là trong các lãnh vực Môi trường, Y tế, Giáo dục, và Phát triển Hạ tầng/ infrastructure development trong khu vực.</p>
<p>Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đã lên tiếng bày tỏ mối quan tâm về ảnh hưởng tác hại từ những con đập đối với “An Ninh Lương Thực” trong vùng, trong đó phải kể tới tầm quan trọng của nguồn cá sông Mekong là nguồn protein chính đối với cư dân trong lưu vực.</p>
<p>Tưởng cũng nên nói thêm, chính Trung Quốc là quốc gia đầu tiên đã và đang xây chuỗi 15 con đập thủy điện dòng chính sông trên khúc sông Lancang-Mekong thượng nguồn, và còn sở hữu thêm 4 dự án đập dòng chính trong số 11 dự án Hạ Lưu sông Mekong.</p>
<p>Ngoại trưởng 5 nước đã thảo luận về các lãnh vực bao gồm biến đổi khí hậu và làm thế nào để đáp ứng có hiệu quả; phòng chống bệnh truyền nhiễm; mở rộng ứng dụng kỹ thuật cho giáo dục và đặc biệt quan tâm đến vùng nông thôn; cũng như phát triển hạ tầng. Các Ngoại trưởng đã xét duyệt những nỗ lực đang tiến hành, và đồng ý mở ra những lãnh vực hợp tác mới; và đặc biệt hoan nghênh sáng kiến <i>“Kết Nghĩa Giữa Hai Ủy Hội Sông Mekong và Sông Mississippi / Sister-River Partnership ”</i> nhằm chia xẻ kinh nghiệm chuyên môn trong các lãnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu, đương đầu với lũ lụt và hạn hán, khai thác thủy điện và lượng giá ảnh hưởng, quản lý nguồn nước và quan tâm tới an ninh lương thực.</p>
<p>Với Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ <i>Lower Mekong Initiative</i> / LMI của Ngoại trưởng Hillary Clinton, mục đích là tạo thuận và phối hợp cách ứng xử với những thách đố trong phát triển của toàn vùng qua các hội nghị trao đổi thông tin kỹ thuật, những cuộc hội thảo huấn luyện, và những những thăm viếng khảo sát,. Các quốc gia Mekong đều bày tỏ thái độ tích cực đón nhận Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/HINH-I_-CLINTON-AT-NEWS-CONFERENCE.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="HINH-I_-CLINTON-AT-NEWS-CONFERENCE" border="0" alt="HINH-I_-CLINTON-AT-NEWS-CONFERENCE" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/HINH-I_-CLINTON-AT-NEWS-CONFERENCE_thumb.jpg" width="402" height="277" /></a></p>
<p><i></i></p>
<p align="center"><i>Tại Hội Nghị ASEAN vào tháng 7, 2009, Phuket, Thái Lan,     <br />Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã khẳng định “Hoa Kỳ trở lại khu vực Đông Nam Á”      <br />[Nguồn: AP Photo/Apichart Weerawong] </i></p>
<p>Với 22 triệu MK dự chi cho các chương trình môi sinh của 4 quốc gia Hạ Lưu sông Mekong; một phần ngân khoản ấy cũng được xử dụng cho việc <i>“Kết Nghĩa giữa hai Ủy Hội Sông Mekong và Mississippi”</i> nhằm thăng tiến quản lý nguồn nước xuyên quốc gia / trans-boundary water resources, qua kinh nghiệm từ Lưu vực Sông Mississippi. Số tiền ấy cũng được dùng qua cơ quan USAID/ US Agency for International Development cho việc nghiên cứu ảnh hưởng thay đổi khí hậu trên nguồn nước, an ninh lương thực và trên cuộc sống cư dân trong lưu vực.</p>
<p>Theo Aviva Imhof, Giám Đốc truyền thông của Mạng Lưới Sông Quốc Tế / International River Network thì qua Cơ Quan Khảo Sát Địa Chất Mỹ / US Geological Survey / USGS, Hoa Kỳ có thể đóng góp phần hỗ trợ kỹ thuật trong việc thu thập dữ kiện về thủy văn/ hydrology, sinh thái/ ecology, lưu lượng phù sa / sediment flows và phẩm chất nước với bảo đảm rằng những thông tin ấy cũng được phổ biến rộng rãi tới quần chúng. [2]</p>
<p>Sáng kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI được xem là có phần nào ảnh hưởng tới động lực phát triển trong lưu vực/ regional dynamics, và gây sự chú ý tới những vấn đề địa dư chánh trị/ geopolitics issues đang bị thử thách.</p>
<p>Bộ Ngoại Giao Mỹ cũng đã tiến tới thành lập một “Nhóm Bạn Mekong/ Friends of the Mekong” hợp tác song phương với các cơ quan tài trợ như ADB và WB. Như vậy, LMI đã bước đầu kết hợp cả hai “quyền lực mềm và khôn ngoan / soft &amp; smart power”. [3]</p>
<p>Cho dù thực chất ban đầu còn là chưa đáng kể, nhưng dấu hiệu tái cam kết của Mỹ với các quốc gia Mekong và ASEAN đã bắt đầu khiến Trung Quốc đã phải quan tâm nhiều hơn tới các cộng đồng cư dân và các chánh phủ hạ lưu sông Mekong. Gần đây, Trung Quốc đồng ý chia xẻ phần <i>“thông tin vận hành/ operational data”</i> nhiều hơn với Ủy Hội Sông Mekong và cũng rất tượng trưng, cho phép một số viên chức tới thăm 2 con đập Tiểu Loan/ Xiaowan [ 4,200 MW] và Cảnh Hồng/ Jinhong [1,350 MW] trong số những con đập thủy điện dòng chính thượng nguồn đang hoạt động thuộc tỉnh Vân Nam.</p>
<p><font size="3"><strong>TỚI GIỚI LẬP PHÁP HOA KỲ </strong></font></p>
<p>Cùng với tiếng nói bên Hành Pháp, đã có sự cộng hưởng của cả giới Lập Pháp nhất là từ Thượng viện Hoa Kỳ. Thượng Nghị Sĩ Jim Webb với tư cách là chủ tịch <i>Tiểu Ban Đông Á và Thái Bình Dương Sự vụ của Thượng viện/ Senate East Asian and Pacific Affairs Subcommittee</i>, đã rất năng động từ nhiều năm nhằm ngăn ngừa những tổn hại không thể đảo nghịch về môi trường / irreversible damages do hậu quả của các đập thủy điện trên sông Mekong.</p>
<p>Là Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ tiểu bang Virginia từ 2006, tốt nghiệp Học viện Hải Quân 1968, từng phục vụ trong đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam tới 1972 với nhiều thành tích và huy chương. Sau đó là một luật sư, thời chính quyền Tổng Thống Reagan, ông từng là Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, sau đó là Bộ Trưởng Hải Quân. Jim Webb còn là tác giả của 9 cuốn sách, đoạt giải Emmy về báo chí, là một nhà làm phim. Ông nói được tiếng Việt. Jim Webb là một tiếng nói rất năng động, được báo Washingtonian Magazine bầu chọn là một “Ngôi Sao Đang Lên/ Rising Star” tại Thượng viện Hoa Kỳ.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/HunSen-JimWebb.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="HunSen-JimWebb" border="0" alt="HunSen-JimWebb" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/HunSen-JimWebb_thumb.jpg" width="447" height="296" /></a></p>
<p align="center"><i>Thủ Tướng Hun Sen tiếp Thượng Nghị Sĩ Jim Webb vào ngày 19/08/2009     <br />trong chuyến du hành qua 5 quốc gia Đông Nam Á.      <br />[Nguồn: Office of Senator Jim Webb] </i></p>
<p>Năm 2009, TNS Webb đã thực hiện chuyến du hành 2 tuần qua 5 quốc gia Đông Nam Á để khảo sát các dự án phát triển sông Mekong và các phương thức xử dụng nước xuyên lưu vực. Ông cũng vận động lôi kéo được nhiều viên chức ngoại giao Hoa Kỳ, các chánh trị gia hoạch định chánh sách, các chuyên gia môi trường và giới học giả quan tâm tới những nguy cơ phá vỡ sự cân bằng hệ sinh thái của của con Sông Mekong và tầm quan trọng của Sông Mekong đối với phát triển kinh tế và xã hội của vùng Đông Nam Á.</p>
<p>Ngày 12/08/2012, Ủy Hội Sông Mekong/ MRC thông báo về quyết định từ Hội Nghị Cấp Bộ Trưởng tại Siem Reap là hoãn xây con đập Xayaburi, cũng là con đập dòng chính đầu tiên thuộc Lưu Vực Dưới Sông Mekong, bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, với lý do để có thêm thời gian nghiên cứu về tác hại môi trường của con đập. Ngay cùng ngày, từ thủ đô Washington, TNS Jim Webb đã phát biểu <i>“Đây là bước quan trọng hướng tới một chánh sách trách nhiệm / responsible policy nhằm bảo vệ những điều kiện kinh tế và môi trường cho hơn 60 triệu cư dân trong lưu vực.”</i> TNS Webb tiếp: “Những nỗ lực của MRC để duy trì sự ổn định môi trường và kinh tế của vùng Hạ Lưu Mekong chứng tỏ ước muốn tôn trọng quyền hạn về nguồn nước của các quốc gia trong lưu vực và đồng thời cũng quan tâm tới <i>“những tiêu chuẩn chính đáng về môi trường / proper environment standards”</i> khi đánh giá <i>những dự án xây đập thủy điện/ construction projects.” </i>[4]<i> </i></p>
<p>Trước đó, TNS Jim Webb cũng đã tổ chức một buổi điều trần ngày 23 tháng 09, 2010 trước Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện với đề tài: <i>“Thách Đố về Nước và An Ninh Khu Vực Đông Nam Á/ Challenge to Water and Security in Southeast Asia”</i> ngoài tiếng nói của Joseph Yun Phụ tá Thứ Trưởng Ngoại giao đặc trách Đông Nam Á/ Deputy Assistant Secretary of State for Southeast Asia phía Hành pháp, còn có những tiếng nói thẩm quyền và uy tín từ các tổ chức Phi Chánh phủ/ NGOs như Richard Cronin [The Stimson Center], Aviva Imhof [International Rivers Network], Dekila Chungyalpa [Greater Mekong Program World Wildlife Fund for Nature] [1]</p>
<p>Ủy Ban Ngoại giao Thượng viện sau đó đã chuẩn thuận nghị quyết của TNS Webb kêu gọi các đại diện Hoa Kỳ nơi các ngân hàng phát triển đa quốc gia/ multilateral development banks cần tuân thủ triệt để/ strict adherence <i>“những tiêu chuẩn quốc tế về môi trường”</i> trong bất cứ một tài trợ ngân sách nào cho dự án đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Nghị quyết này như một hỗ trợ cho MRC tuân hành theo thủ tục <i>“tham khảo trước / prior consultation process”</i> cho mỗi dự án xây đập và đồng thời cũng kêu gọi cả Miến Điện và Trung Quốc gia tăng hợp tác với MRC.</p>
<p>Nghị quyết ấy cũng kêu gọi hoãn xây các con đập dòng chính sông Mekong đồng thời thuyết phục chánh quyền Tổng Thống Obama tăng thêm ngân sách cho Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI, hỗ trợ cho <i>“các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở / infrastructures projects”</i> và tìm giải pháp bền vững thay thế cho các dự án đập thủy điện dòng chính Mekong.</p>
<p>Trong một lá thơ gửi Ngoại trưởng Hillary Clinton vào ngày 27 tháng 10, 2010, TSN Webb đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao tiến xa hơn nữa trong tăng cường hợp tác và thăng tiến phát triển bền vững đối với các dự án đập thủy điện dòng chính Sông Mekong.</p>
<p>TNS Webb phát biểu: <i>“Là một thành viên tài trợ cho MRC, Hoa Kỳ chuẩn bị xem xét việc rút lại ngân khoản đóng góp nếu như các chương trình về con đập không đạt được tiêu chuẩn môi trường được quốc tế chấp nhận.”</i> Và ông đề nghị Ngoại trưởng Hillary Clinton nêu lên các vấn đề ở mọi cập bậc, vói tất cả các quốc gia thành viên, bao gồm cả Thái Lan và Trung Quốc – là hai quốc gia tài trợ chính cho các dự án đập dòng chính Hạ Lưu Mekong.</p>
<p><i>“Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới có một cam kết chiến lược và nghĩa vụ tinh thần / strategic and moral obligation nhằm bảo vệ sức khỏe và an sinh / wellbeing của cư dân sống phụ thuộc vào con sông Mekong cùng với nguồn tài nguyên và nếp sống của họ.” </i>[5]</p>
<p>Người viết thấy cần ghi chú thêm ở đây là ngân khoản Hoa Kỳ đóng góp hàng năm cho MRC không phải là lớn so với các quốc gia khác, hơn thế nữa phải thấy rằng MRC không có chức năng của một cơ quan điều hợp / regulatory agency, ngoài khả năng tích lũy những hiểu biết và có kỹ thuật để hỗ trợ và tham vấn các quốc gia thành viên.</p>
<p><b>Toàn văn bản Nghị quyết 227 của Thượng viện</b> [thông qua 07/07/2011], và được đồng bảo trợ của các TNS John Kerry, <a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Massachusetts">Massachusetts</a>, Chủ tịch Ủy ban Ngoại Giao Thượng Viện, TNS Richard Lugar, Indiana và TNS James Inhofe, Oklahoma với toàn văn bản nội dung như sau [6]:</p>
<p>Mekong là con sông dài thứ 12 trên thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và chảy suốt 3 ngàn dặm qua Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam. Khúc Sông Mekong Hạ Lưu là nguồn nước ngọt, nguồn thực phẩm và cơ hội kinh tế cho hơn 60 triệu dân lưu vực.</p>
<p>Sự đa dạng sinh học của sông Mekong chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon, với khoảng 1,500 chủng loại cá trong số đó có hơn 1/3 thuộc loại di ngư/ migratory fish, ngược dòng Mekong và các phụ lưu trong chu kỳ sinh sản và tăng trưởng; đa số thuộc loại cá đánh bắt trao đổi thương mại.</p>
<p>Sông Mekong cũng là cái nôi của 2 quốc gia xuất cảng gạo lớn nhất là Thái Lan và Việt Nam <i>[Ghi chú của người viết: vựa lúa của Thái Lan chủ yếu phụ thuộc vào đồng bằng châu thổ sông Chao Phraya chứ không phải sông Mekong]</i> và là vựa cá nước ngọt lớn nhất với 4 triệu tấn mỗi năm trị giá lên tới 9 tỉ MK và cũng chiếm tới 80% lượng protein động vật của cư dân lưu vực.</p>
<p>Trung Quốc đã và đang xây 15 con đập trên dòng chính Mekong thượng lưu; Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam cũng đang hoạch định xây hoặc tài trợ cho 11 con đập dòng chính trên khúc sông Mekong hạ lưu. Các cuộc nghiên cứu khoa học đã rất quan tâm tới ảnh hưởng tác hại của các con đập dòng chính trên dòng chảy, nguồn cá và sinh vật hoang dã.</p>
<p>MRC là một tổ chức bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam qua một Hiệp Định Hợp Tác Phát Triển Bền Vững được ký kết tại Chiang Rai tháng 04, 1995 với thỏa thuận hợp tác quản lý con sông Mekong, phát triển theo hướng bền vững, mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia trong lưu vực.</p>
<p>Mọi thành viên MRC cùng đồng ý <i>“bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường, đặc biệt với lượng và phẩm chất nước, hệ sinh thái nước / aquatic ecosystem, và sự cân bằng sinh thái của toàn con sông/ river system, do phát triển và xử dụng các nguồn nước Lưu vực Sông Mekong.”</i> [Điều 7, Mekong Agreement 1995]</p>
<p>MRC đã bảo trợ cho công trình Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược/ Strategic Environment Assessment/ SEA đối với dự án các con đập dòng chính hạ lưu sông Mekong, và đã đi tới kết luận là các con đập có thể gây hậu quả nghiêm trọng về môi sinh bất khả phục hồi, cùng với những tổn thất lâu dài về tính đa dạng sinh học và sự lành mạnh của toàn hệ sinh thái sông Mekong.</p>
<p>Những thay đổi ấy có thể đe dọa tới “An Ninh Lương Thực” trong vùng, ngăn chặn nguồn di ngư, gây tổn thất trên tính đa dạng sinh học, giảm dòng chảy phù sa, gia tăng nạn nhiễm mặn, giảm lượng nông phẩm, và gây bất ổn cho các nhánh sông rạch và cả gây xạt lở vùng cận duyên Đồng Bằng Sông Cửu Long.</p>
<p>Hoa Kỳ có những quyền lợi đáng kể cả về kinh tế và chiến lược trong lưu vực sông Mekong và những quyền lợi ấy có thể bị đe dọa nếu như việc xây những con đập dòng chính ấy có thể gây bất ổn chánh trị trong vùng/ region&#8217;s political stability at risk.</p>
<p>Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI do Bộ Ngoại Giao Mỹ khởi xướng vào tháng 7, 2009 liên kết 4 quốc gia Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Việt Nam trong những “vấn đề an ninh về nước/ water securities issues”, xây dựng tiềm năng vùng, và tạo thuận cho hợp tác đa phương trong vấn đề quản trị hữu hiệu các nguồn nước.</p>
<p>Tài trợ cho Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong khởi đầu chú tâm tới tới ba trụ/ pillars: môi trường, y tế và giáo dục_ riêng trụ thứ 4/ fourth pillar, cơ sở hạ tầng / infrastructure thì hầu như bỏ ngỏ và không có ngân khoản/ largely unfunded. Trong khi cơ sở hạ tầng là yếu tố thiết yếu/ critical element thăng tiến khả năng điều hợp việc xây dựng các công trình thủy điện trong vùng.</p>
<p>Ngày 22 tháng 9, 2010, Lào gửi tới MRC dự án đập Xayaburi để dược xét duyệt/ review; đây là con đập hạ lưu đầu tiên trong chuỗi 9 con đập dòng chính trong lãnh thổ Lào <i>[Ghi chú của người viết: 2 con đập kia là Stung Treng và Sambor trong lãnh thổ Cam Bốt].</i></p>
<p>Ngày 19 tháng 4 năm 2011, các đại diện Ủy Ban Liên Hợp / Joint Committee MRC họp để thảo luận về dự án đập Xayaburi đã không đạt được sự đồng thuận nhưng cũng đồng ý với nhau rằng quyết định sẽ được hoãn lại cho tới kỳ họp cấp Bộ trưởng của 4 nước sắp tới.</p>
<p>Ngày 8 tháng 5, 2011, chánh phủ Lào đồng ý tạm hoãn công trình Xayaburi với kế hoạch khảo sát thêm về lượng giá môi trường/ environmental assessment, nhằm đáp ứng mối quan tâm của các quốc gia láng giềng.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/AseanBaliSummit.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="AseanBaliSummit" border="0" alt="AseanBaliSummit" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/AseanBaliSummit_thumb.jpg" width="427" height="288" /></a></p>
<p align="center"><i>Hội Nghị Thượng đỉnh ASEAN vào ngày 17/ 11/ 2011 tại Bali, Indonesia,     <br />với chủ đề “Cộng Đồng ASEAN trong Cộng Đồng Thế Giới”:      <br />Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đứng cạnh Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama      <br />nhưng mỗi người đang nhìn về một hướng [Nguồn: Photo Reuters] </i></p>
<p>Từ những dữ kiện trên, Thượng Viện Hoa Kỳ&#8211;</p>
<p>(1) kêu gọi chánh phủ Mỹ nhận định rõ sự khác biệt hoàn cảnh giữa các quốc gia ven sông Mekong, bao gồm các khía cạnh năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, và đồng thời hỗ trợ cho nền tảng phát triển hiệu quả/ cost-effective đáp ứng được nhu cầu sản xuất điện, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo khó.</p>
<p>(2) kêu gọi các đại diện của Hoa Kỳ trong các ngân hàng phát triển đa quốc gia vận dụng tiếng nói và quyền đầu phiếu đề chống lại việc hỗ trợ tài chính cho các dự án đập thủy điện dòng chính Mekong nếu chưa được phối hợp đầy đủ trong phạm vi vùng và có thể gây những tác hại đáng kể về môi trường, đời sông cư dân, và phát triển kinh tế ven sông và trong lưu vực.</p>
<p>(3) khuyến khích Hoa Kỳ gia tăng cam kết với các quốc gia Mekong qua Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI và gia tăng hỗ trợ “năng lượng và an ninh nước” thuộc vùng Đông Nam Á.</p>
<p>(4) kêu gọi chánh phủ Hoa Kỳ lãnh đạo Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI quan tâm nhiều hơn tới khả năng xây dựng các dự án về năng lượng và cơ sở hạ tầng nước.</p>
<p>(5) hoan nghênh quyết định của chánh phủ Lào tạm hoãn xây công trình đập Xaburi để đáp lại mối quan tâm của các quốc gia lân bang.</p>
<p>(6) hỗ trợ hoãn xây chuỗi các con đập dòng chính Mekong cho tới khi các cuộc lượng giá môi sinh hoàn chỉnh, đồng thời với kế hoạch điều hợp đa phương được hoàn tất.</p>
<p>(7) kêu gọi mọi quốc gia ven sông Mekong, bao gồm cả Trung Quốc tôn trọng quyền của các quốc gia khác trong lưu vực và cần quan tâm tới bất cứ sự bất đồng hay mối e ngại nào đối với các dự án đập sông Mekong.</p>
<p>(8) khuyến khích các thành viên của MRC tôn trọng thủ tục “tham vấn trước/ prior consultation” qua tiến trình xây đập trải với các giai đoạn như: Thủ tục Thông báo / Procedures for Notification, Tham vấn trước / Prior Consultation, Chuẩn thuận / Agreement.</p>
<p>(9) Kêu gọi các chánh phủ Miến Điện và Trung Quốc cải thiện hợp tác với MRC, chia xẻ thông tin về lưu lượng nước và tham dự vào các tiến trình quyết định trong vùng/ regional decision-making processes, trong phát triển và xử dụng sông Mekong. Và:</p>
<p>(10) hỗ trợ các quốc gia hạ lưu Mekong thu thập dữ kiện và phân tích ảnh hưởng các dự án phát triển dọc theo sông Mekong.</p>
<p><font size="3"><strong>MỘT KHỞI ĐẦU RẤT TƯỢNG TRƯNG CỦA HOA KỲ</strong></font></p>
<p>Sự trở lại khu vực Đông Nam Á của Hoa Kỳ qua Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI, còn mang tính cách rất tượng trưng với một ngân khoản đầu tư chưa tương xứng so với tầm vóc của chánh sách và nhu cầu của các quốc gia trong lưu vực. Lại càng chưa thể nói là có khả năng “đối trọng” đối với áp lực bành trướng ngày càng gia tăng của Trung Quốc, khi mà Bắc Kinh đang ở thế thượng phong trong Lưu Vực Lớn Sông Mekong / Greater Mekong Subregion/ GMS so với Hoa Kỳ trong nhiều lãnh vực:</p>
<p>_ TQ có một địa dư tiếp cận, sở hữu một nửa chiều dài con sông Lancang-Mekong chảy xuyên suốt qua 6 quốc gia thay vì là cả một khoảng cách đại dương.</p>
<p>_ TQ đang và sẽ sở hữu thêm những con đập dòng chính khổng lồ trên thượng nguồn khiến con sông Mekong trở “thành tháp nước và nhà máy điện” của Trung Quốc. [8]</p>
<p>_ TQ đã và đang mở rộng những đặc khu kinh tế SEZs/ Special Economic Zones “Made in China” trong lưu vực [ Lào, Cam Bốt, Việt Nam] với nhân lực tài lực và các hạ tầng cơ sở có khả năng bám trụ lâu dài.</p>
<p>_ TQ có một lực lượng quân sự được quyền ngang nhiên tuần tra trên sông Mekong bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc từ tháng 12, 2011 nhằm bảo vệ an ninh và những đặc quyền kinh tế. [7]</p>
<p>_ TQ đang tận khai thác tình trạng phân hóa khối ASEAN và các quốc gia Mekong, điển hình là sự rạn vỡ của ba nước Đông Dương với Cam Bốt và tiếp theo là Lào đang tách rời Việt Nam đi dần vào quỹ đạo của Bắc Kinh.</p>
<p>_ TQ có một nguồn tiền gần như vô hạn, là chủ nợ của Hoa Kỳ, và dư khả năng để tài trợ cho các công trình cơ sở hạ tầng và cả những con đập hạ lưu sông Mekong.</p>
<p>Ngay cả chưa nói tới nguồn tiền từ Trung Quốc, khai thác thủy điện sông Mekong nay có phần dễ dàng hơn nhiều khi mà số vốn đầu tư có thể đến từ những ngân hàng thương mại địa phương [như Thái Lan, Mã Lai, Việt Nam…] thay vì như trước đây phải được tài trợ từ các tổ chức tài chánh quốc tế lớn mà Mỹ rất có ảnh hưởng như Ngân hàng Thế giới / World Bank, Ngân hàng Phát triển Á châu / ADB.</p>
<p>Thiếu thực chất / <i>short on substance</i> là thực trạng hiện nay của Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI. Các viên chức Hoa Kỳ từ Hành Pháp tới Lập Pháp thì đã nói nhiều về cam kết với vai trò mở rộng của Hoa Kỳ trong Lưu Vực Sông Mekong nhưng “tổng số đầu tư thì chưa đáng kể” để có thể hỗ trợ cho các cuộc nghiên cứu về lượng giá ảnh hưởng tích lũy của các dự án đập trên dòng chính sông Mekong. Dĩ nhiên, có một cái giá tương xứng phải trả để Hoa Kỳ có thể trở lại khu vực Đông Nam Á với thế mạnh và có khả năng đối trọng với Trung Quốc.</p>
<p>Trong bài kế tiếp, người viết sẽ bàn về những bước triển khai và hiện thực của <i>Sáng Kiến Hạ Lưu Mekong/ LMI</i> cùng với những đề xuất.</p>
<p><strong>NGÔ THẾ VINH, M.D.      <br /></strong>California, 04/ 11 / 2012</p>
<p>THAM KHẢO:</p>
<p>1/ <i>Challenge to Water and Security in Southeast Asia; </i><i>U.S. Senate Committee on Foreign Relations; Presiding: Senator Webb, Thursday, September 23, 2010; </i><a href="http://www.foreign.senate.gov/hearings/hearing/?id=4c2fd291-5056-a032-52fd-414f26c49704"><i>http://www.foreign.senate.gov/hearings/hearing/?id=4c2fd291-5056-a032-52fd-414f26c49704</i></a><i></i></p>
<p><i>2/ Testimony of Aviva Imhof, Campaign Director, International Rivers Before the Senate Committee on “Challenge to Water and Security in Southeast Asia”, Sept 23, 2010 </i><a href="http://foreign.senate.gov/imo/media/doc/Imhof.pdf"><i>http://foreign.senate.gov/imo/media/doc/Imhof.pdf</i></a><i></i></p>
<p><i>3/ Mekong, Tipping Point: Hydropower Dams, Human Security and Regional Stability; Richard Cronin, Timothy Hamlin; The Henry Stimson Center 2010; </i><a href="http://www.stimson.org"><i>www.stimson.org</i></a><i> </i></p>
<p><i>4/ Press Releases: Senator Webb: Mekong River Commission Announcement on Xayaburi Dam “Important Step Toward Responsible Policy”; December 8, 2011; </i><a href="http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/2011-12-08-02.cfm"><i>http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/2011-12-08-02.cfm</i></a><i><u></u></i></p>
<p><i>5/ </i><i>Sen. Webb Calls on Sec. Clinton to Strengthen Cooperation to Avert Crisis in Mekong River Region of Southeast Asia. Says U.S. should consider withdrawing funding for Mekong River Commission if environmental standards are not met. </i><a href="http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/10-27-2010-02.cfm"><i>http://webb.senate.gov/newsroom/pressreleases/10-27-2010-02.cfm</i></a><i>. </i></p>
<p><i>6/ </i><i>In The Senate of The United Stated,; The full text of S.Res. 227 (as passed July 7, 2011), (Mr. Webb, Mr. Inhofe, and Mr. Lugar) A resolution calling for the protection of the Mekong River Basin and increased United States support for delaying the construction of mainstream dams along the Mekong River.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>7/ Mekong River Patrols in Full Swing but Challenges Remain, </i><i>Publication: China Brief Volume: 12 Issue: 4,</i><i>February 21, 2012; By: Ian Storey</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>8/ The Damming of the Mekong: Major Blow to an Epic River; Yale Environment 360 by Fred Pearce, June 16, 2009 </i><a href="http://e360.yale.edu/feature/the_damming_of_the_mekong_major_blow_to_an_epic_river/2162/"><i>http://e360.yale.edu/feature/the_damming_of_the_mekong_major_blow_to_an_epic_river/2162/</i></a><i></i></p>
<p><i>9/ China Sees U.S. as Competitor and Declining Power, Insider Says; By </i><a href="http://topics.nytimes.com/top/reference/timestopics/people/p/jane_perlez/index.html?inline=nyt-per"><i>Jane Perlez</i></a><i>, April 2, 2012; </i><a href="http://www.nytimes.com/2012/04/03/world/asia/chinese-insider-offers-rare-glimpse-of-us-china-frictions.html?_r=1&amp;hp"><i>http://www.nytimes.com/2012/04/03/world/asia/chinese-insider-offers-rare-glimpse-of-us-china-frictions.html?_r=1&amp;hp</i></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23979/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chữ nghĩa: chữ v&#224; nghĩa (phần 2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23955</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23955#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 17 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Hữu Thục</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23955</guid>
		<description><![CDATA[Derrida cũng cho rằng tất cả mọi ngôn ngữ đều là ẩn dụ, bao giờ cũng sử dụng nghĩa bóng và dụ pháp. Tác phẩm văn chương là ít lừa dối hơn những hình thức diễn ngôn khác vì chúng nhận biết tính chất tu từ của riêng chúng.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/ceci-n-est-pas-une-pipe.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="ceci-n-est-pas-une-pipe" border="0" alt="ceci-n-est-pas-une-pipe" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/ceci-n-est-pas-une-pipe_thumb.jpg" width="417" height="291" /></a></p>
<p align="center"><font size="2"><em>René Magritte, “Ceci n’est pas une pipe” (“Đây không phải là ống píp”)</em></font></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4">&#160;</font></b></p>
<p><b><font size="4">Nghĩa đen và nghĩa bóng</font></b></p>
<p>Dựa theo nghĩa hiện có sẵn của một từ đa nghĩa, người ta phân loại chúng: nghĩa gốc/nghĩa phái sinh; nghĩa tự do/ nghĩa hạn chế; nghĩa thường trực (nghĩa đã ổn định tức là nghĩa từ vựng)/nghĩa không thường trực (nghĩa ngữ cảnh trong nghệ thuật). Thực tế, một từ có nghĩa mới, bao giờ nó cũng mới lạ, và dường như chẳng dựa trên một tiêu chuẩn nào cả. Nó xuất hiện từ một sự kiện xã hội hay tâm lý hoàn toàn tình cờ. Nhất là từ trong sáng tạo thơ văn. Nghĩa mới thêm vào, do đó, dường như có một sự khác biệt nào đó so với nghĩa đã được biết, được gọi là nghĩa bóng. Thành thử, theo một sự phân loại tổng quát cổ điển, từ đa nghĩa có thể phân thành hai: nghĩa đen và nghĩa bóng. Theo <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân, “</strong>đây chỉ là cách gọi khác của nghĩa cơ bản và nghĩa mở rộng, chỉ có điều khái niệm nghĩa bóng theo cách hiểu thông thường có nội hàm hẹp hơn nghĩa mở rộng, và do đó, người ta thường nói tới nghĩa bóng trong những trường hợp nghĩa mở rộng gợi ra sự liên tưởng nước đôi hay hiệu quả văn học.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_9605" name="_ftnref1_9605">[1]</a></p>
<p>Khái niệm nghĩa đen và nghĩa bóng đã được Aristotle đề cập đến trong khi bàn về ẩn dụ trong hai tác phẩm <i>Poetics</i> và <i>Rhetoric</i>. Ông phân biệt ra những chữ thông thường được sử dụng trong cách dùng hàng ngày và những chữ xa lạ, tức là chữ đặc biệt, nói tóm lại là tất cả những gì khác với cách dùng thông thường, là chữ có nghĩa thoát ra khỏi sự tầm thường, dung tục, được dùng trong ẩn dụ.</p>
<p>César Chesneau Dumarsais, trong tác phẩm “Tropes” (dụ pháp), cho nghĩa bóng thuộc về “dụ thái” (figures) là hình thái trong đó, “người ta cho một chữ một nghĩa rõ ràng không thuộc về chữ đó”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn2_9605" name="_ftnref2_9605">[2]</a>. Tiếp nối Dumarsais, Fontanier mở rộng thêm và đi sâu hơn vào bản chất của không những “những dụ thái mà tất cả dụ thái”. Với lý thuyết về dụ thái, Fontanier phân biệt rõ ràng vai trò của nghĩa bóng và nghĩa đen trong ngôn ngữ.</p>
<p>Theo Fontanier, ý tưởng của con người được biểu hiện ở chữ. Chữ thì dính liền với nghĩa. Ông phân ra ba loại nghĩa:<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn3_9605" name="_ftnref3_9605">[3]</a></p>
<p>- Nghĩa khách quan (sens objectif) (của một mệnh đề): là nghĩa mà nó có một cách tương đối về sự vật mà dựa vào đó nó hình thành. Có nhiều loại nghĩa khách quan: thể từ hay tĩnh từ, hoạt động hay thụ động, tuyệt đối hay tương đối…Nói tóm lại, nghĩa khách quan là loại nghĩa có tính cách ngữ pháp.</p>
<p>- Nghĩa đen (sens littéral): là nghĩa xuất phát từ chữ hiểu sát theo chữ (à la lettre), nghĩa là những chữ được hiểu theo cách tiếp nhận chúng trong cách dùng thông thường, là nghĩa trực tiếp đến với tinh thần của những người thông hiểu thứ ngôn ngữ đó.</p>
<p>Nghĩa đen chỉ lệ thuộc vào một chữ duy nhất, hoặc là nguyên thủy (primitif), tự nhiên và riêng (naturel et propre), hoặc là từ phát sinh (dérivé) và có thể chuyển nghĩa (tropologique). Phép chuyển nghĩa xảy ra, hoặc do nhu cầu và do sự mở rộng, để bổ sung cho những chữ thiếu một số ý tưởng nào đó trong ngôn ngữ; hoặc do sự chọn lựa và do dụ thái, để trình bày những ý tưởng dưới những hình ảnh sống động hơn và gây ấn tượng hơn các ký hiệu riêng của chúng.</p>
<p>- Nghĩa tinh thần (sens spirituel): còn gọi là nghĩa quanh co (détourné) hay nghĩa bóng (figuré) là <i>nghĩa mà nghĩa đen làm phát sinh trong tinh thần do tình huống diễn ngôn</i>, do giọng nói hay do liên hệ giữa những ý tưởng được diễn tả ra với những ý tưởng không được diễn tả. Gọi là tinh thần vì tất cả đều thuộc về tinh thần và vì tinh thần tạo nên nó hay tìm thấy nó . Nó không hiện hữu đối với những ai chỉ hiểu sát theo từng chữ, đối với những ai không hề biết rằng chữ (lettre) thì làm mất đi còn tinh thần thì làm sống lại.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn4_9605" name="_ftnref4_9605">[4]</a></p>
<p>Trong lời tựa cho <i>Les figures du discours</i> được tái bản hơn 200 năm sau ngày Fontanier mất, Gérard Genette viết: “Dụ thái”, tức là nghĩa bóng, “chỉ hiện hữu chừng nào mà người ta đối nghịch với nó một ý tưởng nghĩa đen”.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn5_9605" name="_ftnref5_9605">[5]</a> Nói cách khác, đen/bóng là hai mặt đối lập của nghĩa.</p>
<p>Có lẽ nếu không có hiện tượng đa nghĩa thì sự phân chia đen/bóng không gây ra một hậu quả gì trầm trọng. Đơn giản là vì, ai thích loại nghĩa nào thì cứ thoải mái sử dụng chữ liên hệ. Không có gì dính dáng đến cái gì. Cái phiền là cả hai (hoặc nhiều) nghĩa đều cùng dùng chung một chữ. Tưởng tượng cái cảnh hai (hay nhiều) người đàn ông có cùng chung một vợ hay nhiều người đàn bà có cùng chung một chồng. Nó khiến nghĩa này chen lộn với nghĩa kia, tạo nên một sự nhập nhòe. Sự chen lộn được tận dụng để biến thành một nghệ thuật: nghệ thuật tu từ. Vào các thế kỷ 17, 18, xuất phát từ sự tranh cãi ở toà án và ngoài quần chúng, nghệ thuật tu từ được hệ thống hóa thành các quy luật, được soạn thành sách, là bản chỉ nam cho các môn sinh muốn trở thành những tay hùng biện. Do dính líu đến chuyện giáo dục, nơi cần phải xem xét thử có nên được cho phép dạy dỗ hay không, dạy ở đâu và lúc nào, sự tách bạch đen/bóng lại càng quan trọng và cần thiết. <strong>Thomas Hobbes khẳng định: h</strong>ệ thống ý niệm con người chủ yếu là nghĩa đen. Ngôn ngữ nghĩa đen là phương tiện thích hợp duy nhất để diễn tả nghĩa của nó một cách rõ ràng và xác lập chân lý, giúp cho các triết gia lý luận đúng, còn nghĩa bóng là một sự lệch ra khỏi tiêu phạm. Nó trở thành một điều độc hại.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn6_9605" name="_ftnref6_9605">[6]</a></p>
<p>Khuynh hướng tôn sùng nghĩa đen trong lịch sử tu từ học như cách nhìn của Hobbes được Richards gọi một cách hình tượng là sự “mê tín nghĩa đen” (proper meaning superstition). Mê tín nghĩa đen là niềm tin sai lầm cho rằng mỗi một chữ có một ý nghĩa đặc thù, rõ ràng mà mọi người đều có thể hiểu một cách dễ dàng. Theo Richards, nghĩa không hiện hữu trong chữ, nhưng trong con người như là kết quả của kinh nghiệm mà họ đã có về cuộc đời. Xem quan niệm nghĩa đen là mê tín, Richards tấn công trực tiếp vào lý thuyết quả quyết rằng chữ chứa đựng nghĩa và khi người ta sử dụng chữ, chúng có thể truyền đạt có hiệu quả. <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn7_9605" name="_ftnref7_9605">[7]</a> Là những biểu tượng quy ước có tính cách độc đoán, chữ không hề có nghĩa vốn sẵn. Giống như những con kỳ nhông thường đổi màu sắc tùy theo môi trường chung quanh, chữ, theo Richards, nhận cái nghĩa của ngữ cảnh trong đó một cá nhân gặp phải. Điều này cho thấy rằng “hầu hết chữ, khi chúng chuyển từ ngữ cảnh này đến ngữ cảnh khác, thay đổi nghĩa của chúng.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn8_9605" name="_ftnref8_9605">[8]</a> Nói một cách khác, nghĩa của chữ là hoàn toàn tương đối.</p>
<p>Saussure bàn về nghĩa đen và nghĩa bóng với một cái nhìn khác. Cũng trong cùng tài liệu đã đề cập ở trên<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn9_9605" name="_ftnref9_9605">[9]</a>, đoạn 23 tựa đề “Sens propre et sens figuré”, Saussure xác định “Nếu chữ không gợi nên ý tưởng của một sự vật vật chất, thì tuyệt đối không có gì có thể định rõ ý nghĩa một cách khác hơn là bằng con đường tiêu cực”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn10_9605" name="_ftnref10_9605">[10]</a><i>.</i> Sao gọi là tiêu cực? Tiêu cực, nghĩa là một chữ không thể tự đứng một mình nếu không có những chữ khác với nó kết hợp nhau trong một hệ thống tương quan bổ sung và đối nghịch. Khi tên của một sự vật được sử dụng cho nhiều điều khác nhau, “ánh sáng” chẳng hạn: “ánh sáng” của mặt trời, “ánh sáng” của lịch sử, “ánh sáng” của đất nước, thì người ta thường cho rằng có một nghĩa mới (gọi là nghĩa bóng) được tạo ra. Thực ra, nghĩa nào cũng là kết quả của tương quan. Chỉ có thể có nghĩa bóng nếu nghĩa của chữ là “xác định” (positif), nghĩa là khi nào chữ có một giá trị tuyệt đối do mang trong chính nó những “đặc tính của sự vật” (propriétés de choses), những đặc tính tự chúng hiện hữu hoàn toàn độc lập với ngôn ngữ. Ví dụ như những chữ mặt trăng, mặt trời, đàn bà phải được kiến tạo bằng những đặc tính xác định của mặt trăng, mặt trời, đàn bà là những sự vật mà chúng tượng trưng. Nhưng điều đó là hoàn toàn bất khả. Vậy thì, “Không có sự khác biệt giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của chữ (hoặc là: chữ không hề có nghĩa bóng nào khác hơn nghĩa đen), bởi vì nghĩa của chúng là hoàn toàn tiêu cực”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn11_9605" name="_ftnref11_9605">[11]</a>, theo Saussure.</p>
<p>Khác với Saussure bàn về nghĩa trên quan điểm ký hiệu học, Lakoff bài bác nghĩa đen trên quan điểm “ngữ học nhận thức” (cognitive linguistics). Nhìn qua dòng lịch sử, Lakoff nhận thấy rằng cái gọi là nghĩa đen được người ta xem như là hiển nhiên, và vì là hiển nhiên nên không ai mất công bàn cãi. Rốt cuộc, theo ông, có một thứ “lý thuyết về nghĩa đen” tiềm ẩn trong mọi cách lý luận về ngôn ngữ, dù trong thực tế, không có ai tự nhận mình là tác giả của một lý thuyết như thế <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn12_9605" name="_ftnref12_9605">[12]</a>. Khái niệm đầu tiên và căn bản của lý thuyết này là tính tự trị ngữ nghĩa (semantic autonomy). Một diễn đạt ngôn ngữ là tự trị nếu nghĩa của nó hoàn toàn là của riêng nó, không có một ý nghĩa nào xuất phát từ ẩn dụ, cũng chẳng có tương quan nào với những ý niệm khác nằm ngoài nghĩa cũ. Tự trị ngữ nghĩa cũng là tự trị vô ý niệm (nonconceptional autonomy), cho rằng hoặc là không có ý niệm hoặc là ý niệm chẳng có vai trò gì trong việc hình thành ý nghĩa. Chữ và câu chỉ có nghĩa xuyên qua cái chúng chỉ định ở ngoại giới, không qua nhận thức con người (mind-free).</p>
<p>Lakoff ghi nhận ba điểm chính được bao hàm trong quan niệm về nghĩa đen:</p>
<p>- Nếu một diễn đạt ngôn ngữ là ngôn ngữ có tính quy ước và thông thường, thì nó có tính chất tự trị về mặt ngữ nghĩa và do đó, có thể quy chiếu với hiện thực.</p>
<p>- Không một ngôn ngữ quy ước và thông thường nào là có tính chất ẩn dụ.</p>
<p>- Không ẩn dụ nào là nghĩa đen.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn13_9605" name="_ftnref13_9605">[13]</a></p>
<p>Trong trường hợp đó, một câu chỉ có thể có nghĩa nếu nó diễn tả một mệnh đề có thể đúng hay sai, nghĩa là có thể biểu trưng một trạng thái sự việc (state of affairs) trong một thế giới khách quan, vô niệm. Hiện thực khách quan bao gồm những trạng thái trong thế giới hoàn toàn độc lập với tư duy con người. Thế giới đó gồm những sự vật, đặc tính sự vật, tương quan giữa các vật, loại sự vật. Những ý tưởng trong ngôn ngữ quy ước diễn tả được tất cả những điều đó. Do đó, chân lý hay sai lầm là tuyệt đối.</p>
<p>Lakoff gọi quan điểm này là khách quan chủ nghĩa, theo đó, một ý tưởng ẩn dụ có thể chỉ có nghĩa nếu nó có thể được cải tả (paraphrase) thành một ngôn ngữ phi-ẩn dụ, nghĩa là nghĩa đen. Khách quan chủ nghĩa, theo ông, là một “ngụy luận”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn14_9605" name="_ftnref14_9605">[14]</a>, vì nó không thừa nhận chân lý hay sai lầm liên quan đến hệ thống ý niệm. Khái niệm nghĩa đen là hoàn toàn sai lầm, không thích hợp với sự phân tích ngôn ngữ tự nhiên thực sự.</p>
<p>Sự bài bác nghĩa đen, theo tôi, không có nghĩa là bài bác sự hiện hữu của một nghĩa đầu tiên, nghĩa gốc của chữ. Và lại càng không có nghĩa là để đề cao nghĩa bóng. Nói đúng hơn, bài bác nghĩa đen có nghĩa là bài bác một quan niệm cho rằng nghĩa đen là nghĩa tiêu chuẩn mà từ đó các nghĩa khác đều dựa vào. Nhiều nghĩa khác – nghĩa bóng &#8211; của chữ xuất hiện do mối tương quan với những chữ khác trong cấu trúc và do mối tương quan vói hiện thực, chứ không chỉ “dựa” vào nghĩa đen. Từ “nghĩa đen”, thực ra, là một hình thức “ẩn dụ chết”, vì từ lâu đã biến thành từ vựng. Nghĩa đen của một chữ cũng chỉ là một nghĩa trong nhiều nghĩa khác, nằm trong hiện tượng từ đa nghĩa.</p>
<p>Lakoff cho rằng hạn từ “nghĩa đen” đã có mặt và không thể biến mất, nên ông đề nghị sử dụng từ “nghĩa đen” như một chức năng hữu ích dùng như một hạn từ phi-kỹ thuật, tiện dụng hoặc như là nguồn của một ẩn dụ.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn15_9605" name="_ftnref15_9605">[15]</a></p>
<p><i></i></p>
<p><b><font size="4">Chữ/nghĩa mới</font></b></p>
<p><b></b></p>
<p>Ngôn ngữ là dụng cụ năng động nhất trực tiếp liên quan đến mọi sinh hoạt hàng ngày của con người. Đó là một vật sống, chịu ảnh hưởng của các biến động diễn ra trong hiện thực. Theo thời gian, một số chữ đi vào bóng tối, bị quên lãng và có thể biến mất. Một số chữ khác có thể vẫn còn, nhưng biến nghĩa. Trong lúc đó, nhiều chữ mới được khai sinh, tăng cường thêm số lượng từ vựng để đáp ứng với nhu cầu thông tin và các nhu cầu khác. Có những chữ do con người (nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học, nhà báo&#8230;) chủ động sáng tạo nhằm diễn tả những khái niệm, sự kiện hay những ý tưởng mới. Nhưng cũng có nhiều chữ tự động khai sinh, đôi khi khai sinh một cách đột ngột, do những biến cố lớn gây chấn động và làm xáo trộn đời sống mọi người. Năm 2000 chẳng hạn, trong cuộc bầu cử tổng thống gây ra nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử bầu cử ở Mỹ, &quot;chad&quot; là từ nổi bật hàng đầu, kéo theo nhiều từ khác được khai sinh do việc đếm phiếu ở bang Florida: <i>hanging chad</i> (chéc treo), <i>bulging chad</i> (chéc lồi), <i>dimpled chad</i> (chéc lõm), <i>pregnant chad</i> (chéc có bầu) hay <i>hand recount</i> (đếm phiếu bằng tay), <i>butterfly ballot</i> (phiếu bướm)&#8230; Năm 2001, biến cố 11/9 khai sinh một loạt từ, từ những từ cũ được thêm nghĩa cho đến những từ hoàn toàn mới. Chúng được trui rèn trong biến cố và những hậu quả tất yếu của nó để từ trong bóng tối, chúng bắn vọt vào sinh hoạt hàng ngày. Và rồi, qua tay những nhà biên soạn tự điển (lexicographers), chúng từng bước trở thành ngôn ngữ chính thức được ghi vào tự điển.</p>
<p>Hàng năm, người ta ước tính có chừng 800 từ vựng mới gọi là <i>neologism </i>thêm vào trong tiếng Anh. Để có từ mới, Peter Sokolowski, cộng tác viên biên tập của Công ty biên soạn tự điển <i>Merriam-Webster&#8217;s Collegiate® Dictionary, </i>cho biết: “Chúng tôi theo dấu những con chữ (…) năm này qua năm khác cho đến khi chúng tôi cảm thấy nghĩa của chúng đã ổn định đủ để cho chúng vào trong tự điển”. Hãy thử xem một số chữ mới đã được đưa vào tự điển <i>Merriam-Webster&#8217;s Collegiate® Dictionary</i> năm 2011<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn16_9605" name="_ftnref16_9605">[16]</a>:</p>
<p><i>crowdsourcing</i>:<b><i> </i></b>the practice of obtaining information from a large group of people who contribute online (thực hành tìm kiếm thông tin từ một nhóm đông người trên mạng).</p>
<p><i>m-commerce</i>: a business transaction conducted using a mobile electronic device (một dịch vụ kinh doanh được thực hiện bằng một thiết bị điện tử di động).</p>
<p><i>bromance</i> (ghép bro (ther) và romance): a close nonsexual friendship between men (tình bạn thân thiết lành mạnh giữa những người đàn ông)</p>
<p><i>boomerang child</i>: a young adult who returns to live at his or her family home especially for financial reasons (một thiếu niên trở về sống với cha mẹ vì có khó khăn về tài chánh/<i>hồi gia</i>).</p>
<p><i>helicopter parent</i>: a parent who is overly involved in the life of his or her child (một người cha hay mẹ dính dáng quá mức đến cuộc sống của con cái, như chiếc máy bay trực thăng bay vòng vòng trên đầu đứa con)</p>
<p>Từ tiếng Anh hay Pháp đa âm nên có thể ghép âm, thêm tiếp đầu ngữ hay tiếp vĩ ngữ vào một từ cũ, nên có một số chữ có hình thức ký hiệu mới, giống như một từ hoàn toàn mới.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn17_9605" name="_ftnref17_9605">[17]</a> Trong thực tế, rất hiếm khi có một từ hoàn toàn mới. Chủ yếu vẫn là thêm nghĩa mới vào từ cũ. Như đã đề cập ở trên, đó là hiện tượng tích lũy nghĩa, hiện tượng đa nghĩa. Trên đây, ta thấy những chữ như <i>boomerang</i> hay <i>helicopter </i>đã có thêm nghĩa mới trong lúc nghĩa cũ vẫn còn đó. Từ chỗ là một vũ khí của người thổ dân, <i>boomerang </i>có nghĩa là “đòn bật lại” bây giờ có nghĩa mới là “hồi gia” ; từ chỗ là tên của một chiếc máy bay cất cánh thẳng, dùng để bay vòng vòng với mục đích quan sát bên dưới, <i>helicopter</i> có thêm nghĩa mới là sự “quan tâm quá mức”.</p>
<p>Tiếng Việt đơn âm, nên không thể tạo ra hình thức mới của từ, mà chỉ bằng cách ghép các chữ riêng lẻ lại với nhau. Trong nước, trong thời gian vừa qua, ta tìm thấy trên báo chí một số từ mới: <i>diễn biến hòa bình, lề phải, lề trái, thế hệ a còng, dân oan, tàu lạ, lộ hàng, </i><i>khúc ruột ngàn dặm</i>… “Diễn tiến hòa bình” chỉ sự thay đổi chế độ mà không dùng bạo lực (tương đương với “regime change” trong tiếng Anh), “lề trái” chỉ những nhà báo viết bài không đi theo sự chỉ đạo của đảng Cộng Sản cầm quyền. Trong số này, <i>t</i><i>àu lạ </i>có một lai lịch khác thường. “Lạ” có nghĩa là “không quen”, nhưng theo Nguyễn Hưng Quốc, “…đến năm 2009 vừa qua, chữ “lạ” này lại được sử dụng một cách vô cùng khác lạ, nếu không nói là quái lạ. Quái, vì nó được dùng để chỉ một điều hầu như ai cũng biết. Từ vị thế phản nghĩa, nó bỗng dưng trở thành đồng nghĩa với chữ “quen”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn18_9605" name="_ftnref18_9605">[18]</a>. <i>Tàu lạ</i> hóa ra là “tàu quen”, tức tàu Trung Quốc.</p>
<p>Ở hải ngoại, ta cũng tìm thấy một số từ mới:<i> cưỡng chiếm, thuyền nhân, tháng Tư Đen, ăn oeo-phe (welfare), cờ máu, cộng đồng, đón gió trở cờ…</i> “Tháng Tư Đen” chỉ ngày Sài Gòn rơi vào tay quân Cộng Sản; “ăn oeo-phe”, từ ghép Việt-Mỹ, có ý nghĩa tiêu cực ám chỉ những cư dân Mỹ sống nhờ trợ cấp xã hội; “đón gió trở cờ” chỉ những thành phần chống Cộng thay đổi lập trường, chủ trương hòa hợp hòa giải với nhà cầm quyền trong nước…vân vân. <i></i></p>
<p>Ta nhận thấy trước hết, nghĩa của từ mới chỉ có thể được hiểu bên trong ngữ cảnh của nền văn hóa mà nó phát sinh hay qua bối cảnh mà một sự kiện đặc thù nào đó diễn ra. Ta không thể hiểu được hai chữ “tàu lạ” nếu không hiểu về chính sách nước đôi kỳ quặc của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam đối với thái độ hung hăng của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp biển Đông. Ta không thể hiểu “khúc ruột ngàn dặm” nếu không hiểu được chính sách của nhà cầm quyền Việt Nam muốn dụ khị những người vượt biên, tị nạn Cộng Sản quay về ủng hộ nhà nước Cộng Sản. Ngược lại, ta không thể hiểu những chữ “cưỡng chiếm” (miền Nam) hay “tháng Tư Đen” hay “cờ máu” (chỉ cờ đỏ sao vàng) nếu không sống trong tâm cảm của những người miền Nam bỏ nước ra đi vì căm ghét Cộng Sản.</p>
<p>Cũng thế, ta không thể hiểu từ <i>nipplegate</i> (tai tiếng núm vú) nếu không nắm vững được sự kiện ca sĩ Janet Jackson bất ngờ để lộ một bên ngực trong lần trình diễn tại Superbowl năm 2004: <i>nipple</i> ghép với tiếp vĩ ngữ <i>gate</i>. <i>Gate</i>, cách nói gọn từ chữ “Watergate” là tên một cao ốc, nơi xảy ra vụ tai tiếng lớn làm tổng thống Richard Nixon phải từ chức năm 1974. Từ một danh từ riêng, “gate” thêm một nghĩa mới là “tai tiếng” (scandal). Chữ <i>lộ hàng</i> hiện đang được sử dụng nhiều trên báo chí Việt Nam trong nước có cùng một ý nghĩa như (và có thể dùng để dịch) “nipplegate” hay “wardrobe malfunction”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn19_9605" name="_ftnref19_9605">[19]</a>. <i>Hàng</i> ở đây có thêm nghĩa mới: những bộ phận “nhạy cảm” trên thân thể người phụ nữ.</p>
<p>Dò tìm cơ cấu của ẩn dụ ý niệm nối hai lãnh vực khác nhau cho chúng ta biết một ý niệm mới hay ý niệm chưa biết dựa theo ý niệm cũ như thế nào. Như thế, hàm nghĩa của từ mới thường vuột hẳn khỏi nghĩa đã từng biết (không hẳn là nghĩa đen), và được thúc đẩy bởi liên tưởng trừu tượng. Có thể nói, nghĩa mới bao giờ cũng là “dụ ngữ”, nghĩa là có tính cách bóng bẩy.</p>
<p>Những không đâu mà nghĩa mới tràn ngập bằng trong văn chương, nhất là trong thơ. Có thể nói, văn chương là một nguồn suối vô tận của nghĩa mới. Bằng cách thêm nghĩa vào ngôn ngữ, văn chương giúp chúng ta khám phá ra trong thế giới những điều gì vốn chưa hề được nhìn thấy trước đó. Nó không thể thay đổi hiện thực, dĩ nhiên, nhưng làm thay đổi cách nhìn, cách quan hệ với hiện thực, nghĩa là, cách chúng ta cư ngụ trong thế giới.</p>
<p><i>Ta nhặt từng trang sách rách toang      <br /></i><i>Đứa ngu đã xé vứt ra đường      <br /></i><i>Ta gom từng hạt cây luân lạc      <br /></i><i>Mong mỏi gầy lên một địa đàng</i> (Tô Thùy Yên)</p>
<p>Bốn câu thơ cho thấy một cách nhìn <i>tuy quen mà rất lạ</i> hình ảnh miền Nam trong chính sách gọi là bài trừ văn hóa đồi trụy rất đỗi sai lầm của nhà cầm quyền Cộng Sản đối với nền văn hóa miền Nam, sau ngày 30/4/1975.</p>
<p align="center">*</p>
<p><strong>Xin lập lại</strong>: chữ là ký hiệu. Bản thân của một ký hiệu là hoàn toàn hình thức và nghĩa của nó được hình thành là do tương quan. Ngay cái nghĩa đầu tiên, nghĩa gốc của một chữ, cũng hình thành trên tương quan: tương quan giữa vật, ý thức và ký hiệu. Gọi đó là nghĩa gốc, nghĩa đen thì cũng được. Nhưng gọi đó là nghĩa bóng thì cũng không có gì sai vì bóng bẩy chỉ là dùng cái này để ví von cái khác. Trong lúc không thể gọi sự vật bằng chính hiện hữu của bản thân nó, ta đành phải vay mượn một ký hiệu. Chữ, nói cho cùng, là một cách ví von: ví sự vật với một ký hiệu. Phần đông những chữ hay từ vựng là sản phẩm của những ẩn dụ bị quên lãng.<b> </b>Nhiều ngôn ngữ khác nhau, nếu được đặt cạnh nhau, ta sẽ thấy ngay tính chất quan trọng đối với chữ không bao giờ là chân lý, không bao giờ là một diễn đạt hoàn toàn. Với Nietzsche, không có nghĩa đen tự nó.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn20_9605" name="_ftnref20_9605">[20]</a> Nghĩa chỉ là một sự áp đặt. Derida cho rằng, khi ta đọc một ký hiệu, nghĩa của nó không rõ ràng ngay đối với ta. Nghĩa luôn luôn di chuyển dọc theo một chuỗi những ký hiệu và ta không biết rõ nơi nào là “trú sở” của nó. Ký hiệu luôn luôn dẫn đến ký hiệu. Để nhận biết chữ này ta phải dùng đến chữ khác. Để hiểu nghĩa của một chữ, ta lại phải dùng đến nghĩa khác của nó. Cứ thế. Derrida cũng cho rằng tất cả mọi ngôn ngữ đều là ẩn dụ, bao giờ cũng sử dụng nghĩa bóng và dụ pháp. Tác phẩm văn chương là ít lừa dối hơn những hình thức diễn ngôn khác vì chúng nhận biết tính chất tu từ của riêng chúng.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn21_9605" name="_ftnref21_9605">[21]</a></p>
<p>Thay vì phân biệt đen/bóng, Beardsley phân biệt ý nghĩa sơ cấp và ý nghĩa thứ cấp. Nghĩa sơ cấp là nghĩa rõ ràng, tỏ lộ. Nghĩa thứ cấp là nghĩa gợi ra, không đóng vai trò chính như nghĩa sơ cấp. Nó ẩn tàng. Tất cả mọi loại câu, ở những mức độ khác nhau, đều chứa đựng nghĩa ẩn tàng. Chữ, trong tình trạng cô lập, có ý nghĩa, nhưng là một phần của câu. Người ta chỉ hiểu chữ nếu nó nằm trong câu. Nghĩa tỏ lộ của một chữ là tên gọi, là sự chỉ định của nó (désignation). Ý nghĩa ẩn tàng là hàm nghĩa (connotation). Trong một số ngữ cảnh nào đó, như trong các tài lìệu khoa học, kỹ thuật, chữ loại bỏ hoàn toàn hàm nghĩa không cần của một chữ đã cho. Trong một số ngữ cảnh, hàm nghĩa được giải thoát; đó là thứ hàm nghĩa, ở đó, ngôn ngữ trở nên bóng bẩy và mang tính ẩn dụ. Có thể nói trong một diễn ngôn như thế, nó vừa bao gồm nghĩa sơ cấp và nghĩa thứ cấp, do đó, thành ra đa nghĩa. Đa nghĩa, theo cách hiểu của Bearsley, không đồng nghĩa với mơ hồ. Chỉ có sự mơ hồ khi nào chỉ có một nghĩa là cần, nhưng ngữ cảnh lại không cung cấp lý do để nhận biết nghĩa đó. Văn chương đặt chúng ta vào một diễn ngôn, ở đó, có nhiều điều có ý nghĩa cùng một lúc và người đọc không cần phải chọn lựa giữa chúng.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn22_9605" name="_ftnref22_9605">[22]</a></p>
<p><b>Trần Hữu Thục      <br /></b>(4/2012)</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref1_9605" name="_ftn1_9605">[1]</a> <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân, bài đã dẫn</strong></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref2_9605" name="_ftn2_9605">[2]</a> <i>On fait prendre à&#160; un mot une signification qui n&#8217;est pas précisément la signification de ce mot</i>/Dẫn theo Jan Plug, <i>Figurative language, </i></p>
<p><i></i>Xem ở: <i></i>http://www.flsh.unilim.fr/ditl/Fahey/LANGAGEFIGURFigurativelanguage_n.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref3_9605" name="_ftn3_9605">[3]</a> Pierre Fontanier, <i>Les figures du discours, </i>tr. 55-59</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref4_9605" name="_ftn4_9605">[4]</a> <i>lettre tue, esprit vivifie</i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref5_9605" name="_ftn5_9605">[5]</a> Gérard Genette, lời tựa cho “<i>Les figures du discours</i>”, Pierre Fontanier, sách đã dẫn, trang 10</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref6_9605" name="_ftn6_9605">[6]</a> Xem Trần Hữu Thục, “Ẩn dụ/qua dòng lịch sử” trang mạng Da Màu: http://damau.org/archives/23596</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref7_9605" name="_ftn7_9605">[7]</a> C.K. Ogden and I.A. Richards, The meaning of meaning, trong “Semantic Triangle”, Harcourt, Brace &amp; World, NY, 1946, dẫn lại theo Allie Cahill,<i> </i><i>&quot;Proper Meaning Superstition&quot; I. A. Richards, </i><a href="http://www.colorado.edu/communication/meta-discourses/Papers/App_Papers/Cahill.htm">http://www.colorado.edu/communication/meta-discourses/Papers/App_Papers/Cahill.htm</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref8_9605" name="_ftn8_9605">[8]</a> Em Griffin nhận định rằng, Richards dùng chữ ngữ cảnh (context) để quy cho nhiều biến cố xảy ra, không chỉ là một câu hay ngay cả tình hình trong đó chữ được nói ra. Ngữ cảnh ở đây là toàn thể lãnh vực kinh nghiệm có thể gắn liền với một biến cố, kể cả những tư tưởng về những biến cố tương tự. Griffin phê phán Richards chỉ chú trọng đến nghĩa từng chữ một mà không chú ý đến cú pháp (syntactics), Cú pháp liên quan đến quan hệ giữa các chữ. Richards quên rằng hầu hết các chữ cá nhân có rất ít ý nghĩa từ bản thân chúng. Nghĩa của chúng tùy thuộc vào vị trí nằm trong câu.</p>
<p><i></i>(Dẫn theo Em Griffin,<i> A First Look at Communication Theory,</i> McGraw-Hill, Inc. 1997. Xem ở:</p>
<p><u>http://highered.mcgraw-hill.com/sites/dl/free/0073385026/228359/meanmean2.html</u></p>
<p>Ricoeur bênh vực Richards, cho rằng ngữ cảnh ở đây là diễn ngôn. Chỉ có diễn ngôn xem như một toàn thể mới có ý nghĩa, mang ý nghĩa một cách không thể phân chia. Con người là những sự vật (choses) đáp ứng với những sự vật khác. Sự vật không phải là chữ mà là ngữ cảnh (context). Ngữ cảnh của một diễn ngôn chính là một phần của một ngữ cảnh rộng lớn hơn. (Xem Métaphore vive, trang 101)</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref9_9605" name="_ftn9_9605"></a>[9] Ferdinand de Saussure, <i>Ecrits de linguistique générale</i>.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref10_9605" name="_ftn10_9605">[10]</a><i>Autrement dit, si le mot n&#8217;évoque pas l&#8217;idée d&#8217;un objet matériel, il n&#8217;y a absolument rien qui puisse en préciser le sens autrement que par voie négative.&quot; </i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref11_9605" name="_ftn11_9605">[11]</a> <i>Il n&#8217;y a pas de différence entre le sens propre et le sens figuré des mots (ou: les mots n&#8217;ont pas plus de sens figuré que de sens propre), parce que leur sens est éminemment négatif. </i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref12_9605" name="_ftn12_9605">[12]</a> George Lakoff and Mark Turner, <i>More than cool reason, </i>The University of Chicago Press, 1989, trang 136</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref13_9605" name="_ftn13_9605">[13]</a> George Lakoff and Mark Turner, <i>More than cool reason, </i>The University of Chicago Press, 1989, trang 118</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref14_9605" name="_ftn14_9605">[14]</a> George Lakoff and Mark Turner, trang 118</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref15_9605" name="_ftn15_9605">[15]</a> Như trên, 119</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref16_9605" name="_ftn16_9605">[16]</a> <a href="http://www.merriam-webster.com/info/newwords11.htm">http://www.merriam-webster.com/info/newwords11.htm</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref17_9605" name="_ftn17_9605">[17]</a> Nhưng cũng có những từ có hình thức “mới” hoàn toàn, không giống bất cứ hình thức cũ nào. Những từ này thường được tạo ra bằng cách kết hợp những từ hiện có hay bằng cách thêm vào chữ có sẵn những tiếp vĩ ngữ hay tiếp đầu ngữ (brunch = breakfast + lunch), cũng có thể được tạo thành bởi viết tắt hay nối những chữ cái đầu tiên của mỗi chữ (Nato, Laser…) <b>L</b>ight <b>A</b>mplification by <b>S</b>timulated <b>E</b>mission of <b>R</b>adiation.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref18_9605" name="_ftn18_9605">[18]</a> Nguyễn Hưng Quốc, <i>2009: Năm hoành hành của những “kẻ lạ”</i></p>
<p>http://www.voanews.com/vietnamese/news/a-19-2009-12-31-voa32-82745312.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref19_9605" name="_ftn19_9605">[19]</a> an unanticipated exposure of bodily parts = một sự để lộ bất ngờ những phần kín đáo trên cơ thể.</p>
<p><a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Wardrobe_malfunction">http://en.wikipedia.org/wiki/Wardrobe_malfunction</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref20_9605" name="_ftn20_9605">[20]</a> Nietzsche, <i>On Truth and Lie in an Extra-Moral Sense</i>, xem ở <u><a href="http://www.geocities.com/thenietzschechannel/tls.htm#2">http://www.geocities.com/thenietzschechannel/tls.htm#2</a> </u></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref21_9605" name="_ftn21_9605">[21]</a> Dẫn theo Madan Sarup, <i>An introductory Guide to Post-Structuralism and Post-modernism</i>, The University of Georgia Press, Athens, GA 1993,</p>
<p>tr. 46</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref22_9605" name="_ftn22_9605">[22]</a> Monroe Beardsley, <i>Aesthethics</i>, Hartcourt, Brace &amp; World, New York 1958, dẫn theo Paul Ricoeur, Métaphore vive, tr. 117-118</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23955/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chữ nghĩa: chữ v&#224; nghĩa (phần 1)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23939</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23939#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 16 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Hữu Thục</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Ngôn ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23939</guid>
		<description><![CDATA[Chữ ... chỉ là những đường nét vô nghĩa vẽ ra trên giấy .... Nó sẽ chỉ hiện hữu đối với chủ thể dựa vào cái ý tưởng mà chủ thể gắn vào đó. Ngược lại, ý nghĩa chỉ hiện hữu bằng và xuyên qua ký hiệu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/the-poet.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="the-poet" border="0" alt="the-poet" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/the-poet_thumb.jpg" width="383" height="291" /></a></p>
<p align="center"><span style="font-size: x-small"><em>Nhà Thơ (nguồn: </em><a href="http://thejesuitpost.org/site/2012/01/words-words-words-our-shabby-equipment-part-1/" target="_blank"><em>The Jesuit Post</em></a><em>)</em></span></p>
<p><span style="font-size: medium">&#160;</span></p>
<p><span style="font-size: medium">&#160;</span></p>
<p><span style="font-size: medium"><strong>Chữ </strong></span></p>
<p>Theo Arild Utaker, trong một bài bàn về Saussure, <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_5806" name="_ftnref1_5806">[1]</a> khi nói đến chữ<strong>, </strong>ta thường nghĩ ngay đến chữ viết. Từ lâu, đó là cách chúng ta suy nghĩ về ngôn ngữ. Theo mẫu tự, chữ viết tự phân cách ra khỏi sự vật, đưa đến sự khác nhau giữa chữ và vật. Nhưng nhờ thế mà ngôn ngữ tách khỏi thế giới và trở thành một lãnh vực tự động, một lãnh vực có thể suy nghĩ. Từ đó, ta có ngữ học, một khoa học về chữ viết gắn liền với nghệ thuật viết và đọc. Và cũng vì thế, ngôn ngữ trở thành một vấn nạn triết lý: tương quan giữa chữ và sự vật hay nói khác đi, tương quan giữa chữ và thế giới. Mặt khác, chữ viết được xem như là tượng trưng cho lời vì nó có thể được phát âm. Do được thị giác hóa, nghĩa là bị khách thể hóa, lời tự biểu lộ ra trong chữ. Lời có chữ như một tấm gương. Nhưng nếu lời là chìa khóa của chữ thì nó lại bị lệ thuộc vào chữ. Ngữ pháp xem chữ vừa là phân tích vừa là tiêu phạm của lời. Rốt cuộc, sự đúng sai của lời chỉ có thể tìm thấy trong chữ.</p>
<p>Saussure nhìn vấn đề một cách khác hẳn. Trong tiếng Pháp, Saussure phân biệt <em>langage</em> (“hoạt động ngôn ngữ” hay ngôn ngữ nói chung) với <em>langue</em> (ngôn ngữ nói riêng)<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_5324" name="_ftnref1_5324"></a>[2]. “Hoạt động ngôn ngữ” là khả năng của con người có thể tự diễn đạt qua hình thức ký hiệu. Khả năng này không chỉ dành riêng cho ngôn ngữ tự nhiên nhưng mà cho tất cả mọi hình thức giao tiếp của con người. Còn “ngôn ngữ” (hay “tiếng”) là tập hợp những ký hiệu được sử dụng bởi một cộng đồng để truyền đạt với nhau: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt. Ngoài ra, Saussure còn phân biệt ngôn ngữ và lời nói [3]. Ngôn ngữ có tính chất xã hội và độc lập với cá nhân. Lời nói là sự sử dụng cụ thể những ký hiệu ngữ học, có tính cách cá nhân. Cả hai lệ thuộc lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của lời nói. Với khái niệm này, Saussure phân biệt cách sử dụng ngôn ngữ với chính ngôn ngữ được hiểu như là toàn thể các ký hiệu.</p>
<p>Chữ viết, theo ông, tự nó không phải là thành phần của hệ thống nội tại của ngôn ngữ. Ngôn ngữ và hình thức chữ viết của nó xây dựng nên hai hệ thống ký hiệu tách biệt nhau. Nhưng người ta vẫn xem như chữ viết là tượng trưng cho ngôn ngữ. Vì “chữ viết gắn với lời nói mà nó tượng trưng chặt chẽ đến độ nó tìm cách cưỡng đoạt vai trò chính” của lời nói. Một ngôn ngữ có một truyền thống nói độc lập với chữ viết thì ổn định hơn, nhưng ưu thế của chữ viết khiến ta không thấy được điều đó. “Người ta thường cho rằng một ngôn ngữ bị mất đi nhanh hơn nếu không có chữ viết. Điều này hoàn toàn sai.” Trong một số trường hợp, chữ viết rất có thể làm trì hoãn những sự thay đổi trong một ngôn ngữ. Nhưng mặt khác, “sự vắng mặt của hình thức chữ viết” chẳng ảnh hưởng gì đến sự ổn định ngôn ngữ cả<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn3_5324" name="_ftnref3_5324"></a> [4].</p>
<p>Nhưng do đâu mà chữ viết có ưu thế như vậy? Saussure cho rằng: vì hình thức chữ viết cho ta ấn tượng của một cái gì bền vững và thích hợp hơn âm thanh qua thời gian; “đối với hầu hết mọi người, ấn tượng nhìn thì rõ ràng hơn và kéo dài hơn ấn tượng âm thanh.” (…) “Ngôn ngữ văn chương giúp làm nổi bật hơn sự quan trọng không thích đáng dành cho chữ viết.” Ngôn ngữ văn chương có tự điển và có ngữ pháp. Nó được giảng dạy ở trường ốc từ hết cuốn sách này đến cuốn sách khác. (…) những điều đó khiến cho chữ viết trở nên ưu tiên khiến ta quên đi rằng ta học nói trước khi học viết <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn4_5324" name="_ftnref4_5324"></a>[5]. Nhưng “Sự độc tài của chữ viết còn đi xa hơn.” Điều này xảy ra ở những nơi mà các tài liệu viết đóng vai trò chủ đạo, là nơi mà hình thức viết đưa đến các phát âm sai lầm. Đó là một “hiện tượng hoàn toàn bệnh hoạn”. Nếu ta thử xóa bỏ hình thức chữ viết khỏi đầu óc, và đồng thời vứt bỏ đi hình ảnh thị giác, ta có nguy cơ bị bỏ lại với một vật vô hình thù khó mà nắm bắt. “Không có ký hiệu viết, một âm thanh chỉ còn là cái gì rất mơ hồ” khiến “chúng ta cảm thấy bị lạc lõng”, đến nỗi đối với những nhà ngữ học đầu tiên chưa biết đến môn sinh lý học âm thanh, “buông chữ cái đi có nghĩa là mất đất đứng”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn5_5324" name="_ftnref5_5324"></a>[6]. Chả thế mà tục ngữ Việt Nam có câu: “bút sa gà chết” hay “lời nói bay đi, chữ viết để lại.” Ký một chữ trên giấy là khẳng định sự hiện hữu và đồng thời khẳng định trách nhiệm của người ký.</p>
<p>Saussure đặt vấn đề: làm sao để nghĩ về chữ mà không cần qua lời và nghĩ về lời mà không cần qua chữ. Muốn vậy, phải tách lời ra khỏi chữ, mới có thể nhìn thấy được bản lai diện mục của ngôn ngữ. Điều kiện để cho nỗ lực tách lời khỏi chữ là nhờ hai biến cố: sự ra đời của môn sinh lý học âm thanh (<em>physiologie du son</em>) và sự phát minh ra máy hát (<em>phonographe</em>). Máy hát lần đầu tiên giúp cho giọng nói được giữ lại và được khách thể hóa mà không cần thông qua chữ viết. Lời nói chiếm lại chức năng đã bị tước mất. Giọng nói có thể được nghe mà không cần sự hiện diện của người nói, cũng như một chữ có thể đọc mà không cần sự hiện diện của người viết. Cũng như chữ viết, giọng nói được khách thể hóa và do đó, hiện diện một cách độc lập.</p>
<p>Dẫu vậy, ưu thế của chữ viết vẫn không hề mất. Nhất là hình thức chữ in. Do nằm trong một hình thức ổn định với cùng một khổ (trên giấy hay về sau này, trên màn hình máy vi tính), chữ không thể chen trước chen sau một cách tùy tiện, rườm rà như khi nói mà là một thứ ngôn ngữ sắp xếp theo tuyến tính, được bố trí theo chức năng, biến chúng thành câu kéo với các từ loại được phân bố, tách bạch rõ ràng khiến cho những ý tưởng vô hình trở nên dễ hiểu và dễ truyền đạt: ngôn ngữ trở thành tiêu chuẩn hóa. Chúng trở nên một biểu tượng bền vững, tách khỏi cái mà nó biểu tượng, thuộc về một thế giới khác có tính cách khách quan gọi là “thế giới chữ ghĩa”. Các bản in được xem như một thứ chân lý ướp lại để dành cho hậu thế.</p>
<p>Nhu cầu học tập, nghiên cứu, lưu trữ, truyền đạt và giao lưu giữa ngôn ngữ này và ngôn ngữ khác khiến cho chữ viết, dù không phản ảnh hoàn toàn lời nói, vẫn là hình thức thuận tiện nhất. Internet là một bằng chứng. Không những thế, với các phương tiện kỹ thuật hiện đại về kỹ nghệ thu, phát âm lại khiến cho chữ viết càng lúc càng gần với lời nói và ngược lại. Trên truyền hình, những lời phát biểu trực tiếp của bất cứ cá nhân nào cũng có thể biến thành chữ ngay lập tức sau đó. Cũng thế, với một số loại iPhone đời mới, ta có thể nói ngay ra…chữ (speech to text). Qua các <em>chatroom </em>trên Internet, đối thoại bằng chữ viết trực tiếp qua, lại có kèm thêm các xúc hình (<em>emoticons</em>) tượng trưng cho đủ thứ cảm xúc khác nhau, khiến cho người đối thoại có cảm giác như đang sử dụng lời nói bằng chữ.</p>
<p>John Lyons nhận xét: “Do những nguyên nhân lịch sử và văn hóa, mức độ tương ứng giữa ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói biến đổi đáng kể từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Nhưng trong tiếng Anh và các ngôn ngữ khác vốn gắn bó với hệ thống chữ ghi âm, thì hầu hết, nếu không nói là tất cả, các câu được nói ra đều có thể được đặt trong một quan hệ tương ứng với các câu được viết ra.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn6_5324" name="_ftnref6_5324"></a>[7]</p>
<p>Trong phạm hạn hẹp của đề tài, khi đề cập đến “chữ” ở đây, chúng ta sẽ hiểu vừa chỉ chữ viết vừa chỉ lời nói.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn7_5324" name="_ftnref7_5324"></a>[8]</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong><span style="font-size: medium">Nghĩa</span></strong></p>
<p>Dù là băng âm thanh hay bằng đồ hình (graphic), chữ là những ký hiệu. Tự bản thân, chúng chỉ là hình thức chứ không phải là chất liệu. Nếu mỗi chữ tượng trưng cho chỉ một điều nào đó và chỉ điều đó mà thôi thì chữ là nghĩa/nghĩa là chữ. Nghĩa, trong trường hợp này, là cái chứa đựng trong chữ đã được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và tương đối ổn định. Nghĩa là, chữ đã trở thành từ vựng, được ghi vào trong tự điển. Thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay trong cái “tương đối ổn định” đó, nghĩa lắm khi không hề đi đôi với chữ. Chẳng hạn như chữ “<em>đi</em>”. <em>Đi</em> là động tác di chuyển bằng chân hướng về phía trước, nhưng có nhiều chữ <em>đi</em> lại có nghĩa khác, thậm chí khác hẳn: đi đêm, đi khách…Hay chữ “<em>ăn</em>”: từ chỗ là động tác bỏ thực phẩm vào trong miệng, ta có những chữ <em>ăn</em> như ăn cánh, ăn ảnh, ăn gian… mà ý nghĩa của chúng dường như chẳng có liên hệ gì mấy đến chuyện “ăn”.</p>
<p>Đi vào lãnh vực sử dụng như trong báo chí, chính trị, quảng cáo và nhất là trong văn chương, thì biên giới giữa chữ và nghĩa lại càng mập mờ, bất định.</p>
<p>- Tin tức: The storm <em>played a role</em> in three deaths, two in a car accident and one because of a power line downed by the storm, officials said.(Cơn bão “<em>đóng vai trò</em>” trong ba cái chết)</p>
<p>- Xã luận: Western Europe is <em>a patient in an iron lung</em>. <em>American economic and military aids provide with oxygen, but it cannot live and breathe by itself</em>. (<em>Tây Âu là một con bệnh thở bằng phổi nhân tạo. Viện trợ kinh tế và quân sự Mỹ cung cấp cho nó dưỡng khí, nhưng nó không thể tự sống và thở một mình</em>/Arthur Koestler, New York Times, 1950):</p>
<p>- Thơ: <em>Còn tương lai kia anh mang bỏ giữa rừng/nàng nhỏ xuống trí nhớ/một khung trời mưng mủ, chàng đặt giữa vũng tay nàng/tôi vuốt ve vết thương</em> (Nh. Tay Ngàn)</p>
<p>- Văn: …tiếng hát <em>truyền nhiễm</em> sang phòng bên kia, những âm thanh vỡ bờ từ hai phía, những lời <em>chuyển động</em> <em>rầm rộ</em>, dồn dập <em>xoáy vào</em> không gian hạn hẹp <em>trào ra</em> bên ngoài hành lang (Đặng Phùng Quân)</p>
<p>Trong những câu vừa trích dẫn, chữ và nghĩa không những không đi đôi, mà còn tương phản nhau, va chạm nhau, đụng độ nhau, đến độ chữ dường như theo đàng chữ, nghĩa theo đàng nghĩa.</p>
<p>Tương quan chữ/nghĩa quả là một tương quan vô cùng lỏng lẻo!</p>
<p>Lợi dụng đặc điểm đó, người ta tạo ra tu từ học, là khoa truyền đạt nghệ thuật thuyết phục, nghệ thuật nói hay, tức là khoa hùng biện. Trong một xã hội có tổ chức, sức mạnh thể chất không còn chỗ dứng trong những cuộc tranh chấp thì chữ là vũ khí duy nhất để gây ảnh hưởng đến người khác, trong tòa án hay giữa đám đông. Theo định nghĩa xưa cũ của người Sicilien, “Nghệ thuật tu từ là người thợ (mà cũng là người thầy) của sự thuyết phục”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn8_5324" name="_ftnref8_5324"></a>[9]. Đó là nghệ thuật sắp đặt chữ để điều khiển, để chinh phục người khác.</p>
<p>Và cũng từ đặc điểm đó mà có văn chương.</p>
<p>Nói chung, hoạt động ngôn ngữ, tức là đưa ngôn ngữ vào đời sống, chẳng có gì khác hơn là sự vận dụng <em>nghĩa</em> của <em>chữ</em>, đưa đến hiện tượng biến đổi nghĩa. “Sự biến đổi ý nghĩa của từ là một trong những hình thức hoạt động cơ bản của hệ thống từ vựng để đáp ứng nhu cầu về các phương tiện biểu đạt”, theo cách nói của <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân.</strong><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn9_5324" name="_ftnref9_5324"></a>[10]<strong> </strong></p>
<p>Nhưng nghĩa là gì? Nghĩa của một chữ là sự thống nhất kép của tên, tức là ký hiệu (sign), và nghĩa. Một tương quan hỗ tương giữa tên và nghĩa. Nhờ đó mà người ta có thể biên soạn từ điển dựa theo chữ cái và ý niệm. Theo Saussure, trong một tài liệu mới được tìm thấy và xuất bản vào năm 1996 “<em>Ecrits de linguistique générale”</em><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn10_5324" name="_ftnref10_5324"></a>[11]<em>,</em><em> </em>chữ và ý tưởng, tức là nghĩa của nó, không thể khảo sát như là những “thực thể” độc lập đối với nhau. Một ký hiệu chỉ thực sự hiện hữu đối với người nói xét như một toàn thể, nghĩa là xét như chữ <em>kèm theo</em> với nghĩa của nó. Để làm rõ nghĩa, có thể so sánh chữ, ký hiệu ngữ học, với các hệ thống ký hiệu khác. Chẳng hạn như hệ thống ký hiệu hàng hải: đó là những cờ hiệu với màu sắc khác nhau. Khi một lá cờ hiệu bay giữa nhiều lá cờ khác trên cột buồm, thì chỉ có hai “hiện hữu”: đầu tiên là một mảnh vải đỏ hay xanh, thứ hai đó là một ký hiệu hay là một vật được người nhận thấy nó gán cho một ý nghĩa nào đó. Nói một cách khác, một mảnh vải chỉ hiện hữu độc lập như là một sự vật vật chất “vô nghĩa”. Đây cũng là quan điểm của Kant về sự-vật-tự-nó (noumène): sự-vật-tự-nó là bất khả tri. Nó chỉ là một cách xuất hiện qua giác quan, nghĩa là một hiện tượng, chỉ là một cách nhìn.</p>
<p>Chữ cũng thế, chỉ là những đường nét vô nghĩa vẽ ra trên giấy. Hãy hình dung như khi ta nhìn thấy một văn bản viết bằng tiếng Á Rập hay một văn bản cổ khắc trên đá. Nó sẽ chỉ hiện hữu đối với chủ thể dựa vào cái ý tưởng mà chủ thể gắn vào đó. Ngược lại, ý nghĩa chỉ hiện hữu bằng và xuyên qua ký hiệu. Do đó, “ý nghĩa không tách rời khỏi ký hiệu”, còn ký hiệu thì “không xứng đáng mang tên của chúng nếu không có ý nghĩa.”</p>
<p>Ta có thể hình dung quan hệ giữa ký hiệu (chữ), ý tưởng và sự vật ngoại giới như sau:</p>
<p>Chữ&#160; -&gt; nghĩa -&gt; sự vật</p>
<p>Như thế, không phải là những đặc tính cố hữu của sự vật, nhưng chính những ý tưởng mà chúng ta tự tạo ra, kiến tạo nên nghĩa của chữ. Ý tưởng không hề nằm ngoài chữ. Chữ không phải là một thực thể năm ngoài (ý thức) chúng ta. Cần nhấn mạnh, khi nói quan hệ giữa ký hiệu và ý tưởng không có nghĩa đó là quan hệ cá nhân, là ý định chủ quan của mỗi cá nhân. Nếu cá nhân nào cũng tự đặt cho mình một ý nghĩa riêng thì không có ngôn ngữ. “Nghĩa là những liên hệ, không phải là những liên hệ tất yếu mà là liên hệ phản ảnh, là quy ước được xây dựng trong cộng đồng bản ngữ. Nghĩa là những liên hệ được xác lập trong nhận thức những cái mà nó làm tín hiệu (ký hiệu).”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn11_5324" name="_ftnref11_5324"></a>[12]</p>
<p>Mặt khác, theo Stephen Ullman, thì “tương quan tên – nghĩa” không phải là tương quan đơn giản từ với từ, nghĩa là một tên cho một nghĩa. Thực ra thì ta có:</p>
<p>- một nghĩa cho nhiều tên: hiện tượng đồng nghĩa (<em>synonymy</em>)</p>
<p>- nhiều nghĩa cho một tên: hiện tượng đồng âm (<em>homonymy</em>)</p>
<p>- nhiều nghĩa cho một tên: hiện tượng đa nghĩa (<em>polysemy</em>)</p>
<p>trong đó, hiện tượng đa nghĩa là hiện tượng then chốt của tất cả ngữ nghĩa luận về chữ.[13]</p>
<p>Cần lưu ý: rất dễ lẫn lộn giữa từ đồng âm và từ đa nghĩa. Theo Ullman, giữa từ đồng âm và từ đa nghĩa, có một sự nhập nhòe. Cả hai đều dựa trên nguyên tắc tổng hợp của một chữ mà có nhiều nghĩa. Trong lúc chữ đồng âm bao gồm <em>sự khác nhau giữa hai chữ</em> và ngữ nghĩa hoàn chỉnh của chúng thì đa nghĩa <em>nằm bên trong</em> một chữ và nó tách ra nhiều nghĩa khác nhau.</p>
<p>Đa nghĩa có thể hiểu theo hai cách:</p>
<p>- đồng đại (<em>synchronic</em>): một chữ có hơn một nghĩa</p>
<p>- lịch đại (<em>diachronic</em>): một chữ có thể duy trì nghĩa cũ trong lúc vẫn có thể mang thêm nghĩa mới.</p>
<p>Michel Bréal (1832-1915), người tạo ra hạn từ “semantics” (ngữ nghĩa luận), giải nghĩa nguyên nhân của hiện tượng đa nghĩa: Nghĩa mới, dù thuộc loại nào, không chấm dứt nghĩa cũ, cả hai đều tồn tại bên cạnh nhau. Ngay khi một nghĩa mới thêm vào một chữ, nó tự tăng lên và sản xuất những ví dụ mới, về hình thức thì tương tự, nhưng khác nhau về giá trị.<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn13_5324" name="_ftnref13_5324"></a>[14]</p>
<p>Chính cái khả năng đặc thù đó của chữ khiến cho nghĩa trở nên mơ hồ, bất xác. Và tính mơ hồ này là hiện tượng trung tâm của ngữ nghĩa diễn giải. Vận dụng nghĩa của chữ, như đề cập ở đoạn trên, chính là vận dụng tính mơ hồ này, nghĩa là vận dụng hiện tượng đa nghĩa. Theo W. M. Urban<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn14_5324" name="_ftnref14_5324"></a> [15], sự kiện một ký hiệu, tức là một chữ, có thể nói về một sự vật đồng thời vẫn không ngừng nói về một sự vật khác khiến cho ngôn ngữ trở thành một dụng cụ sắc bén cho vấn đề tri thức. Sự tích lũy nghĩa trong chữ, “sự tăng cường chồng chất” (accumulated intension) ý nghĩa tạo nên sự bất xác nhưng đồng thời cũng là nguồn suối và quyền năng của ngôn ngữ. Nó khiến cho ngôn ngữ có thể diễn tả bất cứ một hiện thực nào. Trong ngôn ngữ tự nhiên, mỗi một từ có một căn cước riêng tách biệt với các từ khác nhưng đồng thời mang một dị tính nội tại (<em>internal heterogeneity</em>), tính đa dạng (<em>plurality</em>), nghĩa là cùng một chữ lại có nhiều nghĩa khác nhau tùy theo từng ngữ cảnh. Khác với từ đồng âm, dị tính này không phá hủy tính đồng nhất của chữ, bởi vì ý nghĩa của chúng có thể được sắp xếp và ý thức ngữ học của người nói tiếp tục nhận biết một ý nghĩa nào đó trong nhiều ý nghĩa.</p>
<p>Vậy, đa nghĩa không phải là một hiện tượng bệnh lý, mà trái lại, là hiện tượng khỏe mạnh của ngôn ngữ. Một ngôn ngữ không có từ đa nghĩa sẽ là một bảng từ vựng vô cùng tận. Chúng ta cần một hệ thống từ vựng thuận tiện, mềm dẻo, co dãn để truyền đạt, trao đổi nhiều biến dạng của kinh nghiệm nhân sinh. Nói khác đi, bản chất của hệ thống từ vựng cho phép sự chuyển nghĩa. Điều này giúp ngôn ngữ dễ tiếp nhận sự cách tân, dễ dàng cho sự đổi mới<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn15_5324" name="_ftnref15_5324"></a> [16].</p>
<p>Sự đa nghĩa xác định tính cách mở của kết cấu chữ. Dung lượng nghĩa của mỗi một chữ là không xác định.</p>
<p><em>Cánh</em> là để chỉ b<a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/b%E1%BB%99_ph%E1%BA%ADn">ộ phận</a> trong <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/th%C3%A2n_th%E1%BB%83">thân thể</a> <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/chim">chim</a> và một <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/s%E1%BB%91">số</a> <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/c%C3%B4n_tr%C3%B9ng">côn trùng</a>, dùng để <a href="http://vi.wiktionary.org/wiki/bay">bay</a>. Nhưng rồi nghĩa của nó mở rộng ra thành <em>cánh máy bay</em>, <em>cánh hoa</em>, <em>cánh cửa</em>, <em>cánh tủ</em>, <em>cánh ngôi sao</em>, <em>cánh quạt</em>, <em>cánh tay</em>; xa hơn là <em>cánh rừng</em>, <em>cánh đồng</em>; xa hơn nữa là <em>cánh tả</em>, <em>cánh hữu</em>, <em>phe cánh</em>, <em>cánh đàn ông</em>…Tóm lại, từ chỗ chỉ mở rộng ra với những gì có đôi chút tương tự nào đó, chữ “cánh” được dùng để chỉ những gì có mối liên hệ rất mờ nhạt và đến chỗ dường như không có chút liên hệ nào với nghĩa nguyên thủy. Nó hoàn toàn trừu tượng. Chưa hết, nghĩa của chữ cánh vẫn chưa (hoặc) không hề chấm dứt. Tuy chưa ai dùng, chưa ai cảm nhận, chưa ai khám phá, vô số khả năng vẫn còn trước mặt: <em>cánh biển, cánh tình, cánh gió, cánh trời, cánh đêm, cánh</em> vân vân…</p>
<p>Chữ <em>đi</em>: <em>đi bộ, đi chệch, đi cống, đi đêm, đi đứt, đi phép, đi khách, đi kèm, đi mây về gió…</em>Theo Lê Quang Thiêm, động từ “đi” có đến 18 nghĩa khác nhau; trợ từ “đi” có 4 nghĩa; chỉ có phó từ “đi” là một nghĩa <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn16_5324" name="_ftnref16_5324"></a>[17].</p>
<p>Chữ “ăn”: <em>ă</em><em>n cưới, ăn Tết, ăn nhậu, ăn nằm, ăn sương, ăn hiếp, ăn quỵt, ăn gian, ăn thua, ăn khớp, ăn ảnh…</em>Ngô Nguyên Dũng có một bài phân tích rất thú vị về chữ ăn <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn17_5324" name="_ftnref17_5324"></a>[18].</p>
<p>Chưa hết, nghĩa của chữ<em> cánh</em> hay<em> đi </em>hay <em>ăn</em> vẫn chưa (hoặc) không hề chấm dứt. Tuy chưa ai dùng, chưa ai cảm nhận, chưa ai khám phá, vô số khả năng vẫn còn trước mặt: <em>cánh biển, cánh tình, cánh gió, cánh trời, cánh đêm, cánh</em> vân vân…; <em>đi trời, đi sáng, đi ngoan, đi vui, đi </em>vân vân<em>…</em>; <em>ăn gió, ăn nương, ăn phiến, ăn đỏ, ăn vàng…ăn </em>vân vân.</p>
<p><strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân nhận xét: </strong>“Sự biến đổi ý nghĩa của từ thực chất là lấy một từ để biểu đạt một số loại sự vật có quan hệ gần gũi với nhau về một phương diện nào đấy, cho nên giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa vẫn có những mối liên quan nhất định. Sự khác nhau giữa các nghĩa của từ nhiều nghĩa không phải là sự khác nhau hoàn toàn: sự biến đổi ý nghĩa ở đây thường đi theo xu hướng làm thay đổi một thành phần ý nghĩa nào đấy của từ.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn18_5324" name="_ftnref18_5324"></a>[19]</p>
<p>Nhận định này không có gì sai nếu xét trên những nghĩa mà ta hiện có về một từ, tức là tính cách lịch đại, như đã được ghi trong tự điển. Sở dĩ ta tìm thấy giữa “cánh chim” và “cánh cửa” có sự quan hệ gần gũi hay tương tự, không phải vốn chúng đã gần gũi hay tương tự sẵn trước khi có chữ cánh cửa. Ta chỉ tìm thấy sự liên hệ khi chữ “cánh cửa” đã ổn định, nghĩa là đã biến thành từ vựng. Nghĩa là tương quan đến sau sự sáng tạo. Điều đó cho thấy, không phải có một số loại từ nào đó có bản chất đa nghĩa hình thành “từ đa nghĩa” còn những từ khác thì không. Đa nghĩa là một hiện tượng ngữ nghĩa, trừ một số rất giới hạn các thuật ngữ khoa học, <em>dường như</em> có thể rơi vào bất cứ từ ngữ nào. Nhờ thế mà với một số lượng âm thanh và ký hiệu hữu hạn, con người có thể diễn tả một số lượng vô hạn các hiện tượng ngoại giới và tâm giới. Thế giới của chữ và nghĩa, do vậy, mà cứ tăng lên không ngừng và không có chỗ kết thúc. <strong></strong></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p>[1] Arild Utaker, <i>L</i><i>e problème philosophique du son chez Ferdinand de Saussure et son enjeu pour la philosophie du langage</i>, University of Bergen (Texte paru dans<i> Les papiers du Collège international de philosophie</i>, 1996, n° 23, p. 41-58)</p>
<p>[2] Ferdinand de Saussure, <em>Course in General Linguistics</em>, Open Court, La Salle, Illinois, 1986, Roy Harris dịch và chú giải từ bảng tiếng Pháp. <em>Langage</em> trong tiếng Pháp được dịch là “language” và <em>langue</em> được dịch là “linguistic structure” (cấu trúc ngôn ngữ) (tr. 9); Tổ ngôn ngữ học Khoa Ngữ văn, <em>Giáo trình ngôn ngữ học đại cương</em>, Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1973, dịch <em>langage </em>là hoạt động ngôn ngữ và <em>langue</em> là ngôn ngữ. (tr. 30). Một số trích dẫn từ Saussure trong bài, tác giả sử dụng bản tiếng Anh“<em>Course in General Linguistics”, </em>có tham khảo thêm bản tiếng Việt<em> </em>“<em>Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”.</em></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref2_5324" name="_ftn2_5324"></a>[3] Lời nói = parole (Pháp), speech (Anh)</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref3_5324" name="_ftn3_5324"></a>[4] Ferdinand de Saussure, sđd, tr. 25</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref4_5324" name="_ftn4_5324"></a>[5] Ferdinand de Saussure, sđd, tr. 26</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref5_5324" name="_ftn5_5324"></a>[6] Ferdinand de Saussure, sđd, tr. 31,32</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref6_5324" name="_ftn6_5324"></a>[7] John Lyons<em> , </em><em>Linguistic Semantics: An Introduction</em> (Ngữ nghĩa học dẫn luận)<em> </em>Nguyễn Văn Hiệp dịch<em></em></p>
<p><em></em>Xem ở:<em> </em><a href="http://ngonngu.net/index.php?p=150">http://ngonngu.net/index.php?p=150</a>, tr. 19</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref7_5324" name="_ftn7_5324"></a>[8] Written words/spoken words; langage écrit/langage parlé</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref8_5324" name="_ftn8_5324"></a>[9] <em>Peithous dêmiourgos</em>, dẫn theo Ricoeur, <em>La métaphore vive</em>, tr 14. Sicilien = người dân thuộc đảo Sicile, Ý</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref9_5324" name="_ftn9_5324"></a>[10] <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân, <em>Sự biển đổi nghĩa của từ</em>, </strong></p>
<p>Xem ở: <span style="text-decoration: underline">http://vi.wordpress.com/tag/ng%E1%BB%AF-nghia-t%E1%BB%AB-v%E1%BB%B1ng-h%E1%BB%8Dc/</span></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref10_5324" name="_ftn10_5324"></a>[11] Ferdinand de Saussure, 2002, <em>Ecrits de linguistique générale, </em>Paris, Gallimard. Dẫn theo Patricia Schulz, <em>Saussure et le sens figuré</em>, 2003, Université de Paris 7, UFR E.I.LA. Xem ở trang mạng “<a href="http://www.info-metaphore.com/articles/schulz-saussure-sens-figure-ou-pourquoi-la-metaphore-n-existe-pas.html" target="_blank">Plan du site”/La métaphore en question</a>    <br />Trong bài viết “<em>Saussure ou la poétique interrompue</em>”, Revue Langages 3/2005, Henri Meschonnic nhận định: “<em>Écrits de linguistique générale” </em>mới được khám phá gần đây cho phép ta đọc một Saussure khác hơn Saussure của “Cours de linguistique générale” của Bally và Séchehaye (1916), một Saussure khác hơn “Sources” của Godel (1957) và khác hơn ấn bản của Engler (1967-1974). Đó là một nhà tư tưởng của ưu thế của diễn ngôn mà người ta khám phá, trước cả Benveniste và những người khác.” Xem ở: <span style="text-decoration: underline">http://www.cairn.info/revue-langages-2005-3.htm</span></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref11_5324" name="_ftn11_5324"></a>[12] Theo Mai Ngọc Chữ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến/<em>Cơ sở ngôn ngữ học tiếng Việt</em>, nxb Giáo Dục, 1997, trang 166-171</p>
<p>Xem ở: <a href="http://ngonngu.net/index.php?p=201">http://ngonngu.net/index.php?p=201</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref12_5324" name="_ftn12_5324"></a>[13] Stephen Ullman, <em>The Principles of Semantics</em>/Barnes and Noble, Inc, NY 1957, tr. 119</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref13_5324" name="_ftn13_5324"></a>[14] Dẫn theo Yong-Ho Choi, <a href="http://www.reference-global.com/doi/pdfplusdirect/10.1515/SEM.2008.015" target="_blank"><em>Ricoeur and Saussure: On meaning and time</em></a></p>
<p>[15] W. M. Urban, <em>Language and Reality</em>, dẫn theo Ullmann, sđd, trang 117</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref15_5324" name="_ftn15_5324"></a>[16] Xem Paul Ricoeur, sđd, tr. 150</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref16_5324" name="_ftn16_5324"></a>[17] Lê Quang Thiêm, <em>Ngữ nghĩa học,</em> nxb Giáo Dục, Hà Nội 2008, trang 117</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref17_5324" name="_ftn17_5324"></a>[18] Xem Ngô Nguyên Dũng, <em>Tặng phẩm của ngôn ngữ: Thói &quot;ăn&quot; nếp &quot;ở&quot; của người Việt qua cách nói</em></p>
<p>http://damau.org/archives/9278</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref18_5324" name="_ftn18_5324"></a>[19] <strong>Lê Đình Tư &amp; Vũ Ngọc Cân</strong>, bài đã dẫn.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23939/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>B&#224;i Sử Kh&#225;c Cho Việt Nam&#8211;Chương XX (Kết)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23910</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23910#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 11 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23910</guid>
		<description><![CDATA[Vậy là bắt đầu của dân tộc Việt không có rồng Lạc, tiên Âu gì hết. Sống ở thời đại văn minh thì hãy nhìn sự vật ở mức độ bình thường dù rằng cứ tưởng đó là tầm thường. Để khỏi sống bằng ảo tưởng, hoang tưởng, khỏi phải lừa mình, dối người, gồng xác lên gân che giấu mặc cảm tự ti lâu dài...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2 align="center"><em>CHƯƠNG XX (Kết):</em></h2>
<p> <strong></strong><br />
<h2 align="center"><strong>TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH VIỆT NAM</strong></h2>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Vậy là bắt đầu của dân tộc Việt không có rồng Lạc, tiên Âu gì hết. Sống ở thời đại văn minh thì hãy nhìn sự vật ở mức độ bình thường dù rằng cứ tưởng đó là tầm thường. Để khỏi sống bằng ảo tưởng, hoang tưởng, khỏi phải lừa mình, dối người, gồng xác lên gân che giấu mặc cảm tự ti lâu dài đến trở thành bản chất tập thể, khó tẩy xoá. Những con người sống trên vùng đất nay là Việt Nam, cũng như tất cả những ai khác trên đời này, cũng phải bắt đầu từ thấp lên cao, từ tối tăm ra chỗ sáng sủa, chèn lấn huỷ diệt tập thành theo với hoàn cảnh và thời cơ thúc đẩy, chuyện thật bình thường mà sao có lúc, có người tưởng chừng không thể nào hiểu nổi.</p>
<p>Vậy là bắt đầu trên phần đất nay là Việt Nam, hay nói rộng hơn, trên phần đất Đông Dương, Ấn-đọ-Chi-na khi chưa có các tên đó, những con người nguyên thuỷ đến, sống như họ đã lưu lạc tới, sinh ra, không cần biết rằng nhiều ngàn vạn năm sau sẽ được dò hỏi, phân loại, xếp hạng những gì là Mongoloid, Negritos, Indonesian&#8230; có lúc còn tranh cãi. Ngay cả khi mới có chữ viết để ghi chép thì dòng dõi của họ, hay của những người khác đến lấn chiếm, cũng được gọi tên tuỳ thuộc vào kẻ “có chữ” mà không có ý kiến của họ. Tiếp giáp với kẻ có chữ phương Bắc thì họ là Man / Nam Man, chi li hơn, là Lạc, là Hùng, là Việt, là Chiêm, Phù Nam&#8230; (theo lối đọc, viết “quốc ngữ” ngày nay), phần lớn với cách biểu hiện chứng tỏ có một chút gì mù mờ lúc khởi đầu mà nay đành chỉ còn là thắc mắc. Từ phía tây, muộn hơn, họ được gọi với các tên Yavana/Yuon, Kamvuja/Kambudesa, Kirita, Randaiy (Rhade?), Mada (Mạ?)&#8230; cho đến khi tiếp xúc với một tập đoàn văn minh đòi hỏi nhiều chi tiết chính xác hơn với những dò hỏi tận tình tại chỗ, dẫn đến hàng loạt tên 54 tộc người được công nhận, riêng trong nước Việt Nam ngày nay. Bởi sự mù mờ của thời tiền sử, phải nhờ vào lối tiếp cận quá khứ theo chuyên ngành, các học giả còn chia người theo nhóm ngôn ngữ austroasiatic / Nam Á, austronesian / Nam Đảo, theo tập họp đặc trưng vật chất phát hiện mà có những nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo, chưa kể đến những tên gọi chi li hơn theo đà phát hiện tiếp theo, hay theo với kiến thức, tâm thức người, chủ thể đặc trách, tác động đến chuyên môn đó.</p>
<p>Bắt đầu ngay khi có ghi chép, trên phần đất nay là Việt Nam đã có tác động của hai nền văn hoá lớn đương thời để nổi lên, với thời gian xê xích không là quan trọng của thời mù mờ trì trậm xưa, có ba trung tâm tạo hình cho ba tập đoàn càng lúc càng rõ dạng. Phía Bắc, những người Lạc/Việt dưới sự đô hộ của nhà Hán, phía Nam có sự xuất hiện của tập họp, tên được gọi là Phù Nam theo nhân chứng Hán nhưng lại mang nguồn gốc phát xuất phối hợp của địa phương và lưu dân từ bán đảo Ấn. Ở giữa, một bộ phận dân bản xứ chịu quyền đô hộ của người Hán nhưng sinh hoạt lại mang nặng sự riêng biệt tại chỗ, hải đảo như chứng tỏ ở văn hoá khảo cổ Sa Huỳnh, ở tên những người nổi dậy: Khu Liên (Riên) ghi bằng Hán ngữ mà còn giữ âm vang kurung (thủ lãnh) của ngôn ngữ Nam Á. Nhân dịp người chủ quản suy yếu họ đã nổi dậy, tách ra (137, 190) thành lập bộ phận riêng được gọi là Lâm Ấp. May mắn đã đến với thành phần cuối đường thuộc địa này bởi vì như sẽ thấy, một bộ phận dân của “vua Đen” phía bắc, trên vùng Nghệ Tĩnh ngày nay, đã trỗi dậy mà không thành công (722). Cái thế bị chèn lấn, ảnh hưởng của phần đất giữa này của hai cực Hoa Ấn sẽ xuất hiện càng rõ rệt hơn với thời đại lịch sử về sau.</p>
<p>Từ khi có những nghiên cứu của người phương Tây về vùng đất nằm giữa hai khối Ấn Độ, Trung Hoa, các chữ Ấn hoá, Hoa hoá đã gây những cuộc tranh luận học thuật để rồi dần dần có sự công nhận vai trò của các dân tộc bản xứ Đông Nam Á trong sự lập thành quốc gia, văn minh của họ, nhất là khi họ giành lại được quyền độc lập, thoát khỏi sự cai trị của các quốc gia chủ thể những học giả kia. Tuy nhiên không thể vì đó mà quên được ảnh hưởng của hai nền văn minh Ấn Hoa trên vùng lục địa hải đảo này. Tự ái của tập thể, sự ương ngạnh của người cầm quyền một thời đại không thể là yếu tố xoá bỏ được những gì đã xảy ra.</p>
<p>Vậy thì ngoài sự xa cách khởi đầu, vùng đất được Chu Ứng, Khang Thái đến vào khoảng năm 250 đó đã nhiều phần liên hệ với biển, với phía tây nên ảnh hưởng Ấn Độ được rõ nét với các phong tục ghi lại hay trên các kiến trúc thờ tự, di vật của văn hoá Óc Eo (tên của địa điểm thuộc tỉnh An Giang ngày nay). Lâm Ấp từ chối mà mang ảnh hưởng Hán, vì phải chống đối nó cho sự tồn tại của mình nên rõ ràng dễ tiếp nhận ảnh hưởng Ấn Độ theo với vị trí gần cận, hay với phong trào thương mại biển mà địa thế nhô ra trên biển Đông / Giao Hải đã dành sẵn cho nó. Cuộc sống như thế hẳn là nhộn nhịp nhưng không được hiểu biết nhiều, bởi nó đã tách rời khu vực thuộc địa Giao Chỉ có truyền thống ghi chép của quyền lực Hán, cái ưu thế mà phần đất rủi ro còn lại sẽ được may mắn nhận lãnh.</p>
<p>Trước khi nhà Hán chiếm lĩnh phần đất này thì Triệu Đà, viên tướng li khai của đế quốc Tần, đã cho thấy bằng chứng về các nhóm dân bản xứ mang tên Lạc, Việt, Âu với ảnh hưởng quan niệm Hán về người chủ tể: “Có kẻ ở trần mà cũng xưng Vương”. Vì thế đã có tên một nước Việt chen vào lịch sử tranh chấp quyền bính của tộc Hoa Hạ từ thế kỉ V tCn., cái tên “việt” còn lưu lại với hai lối viết chữ Hán nhưng cũng là dấu ấn lịch sử để Triệu Đà vin lấy, mở nước cho mình, tạo dựng một quá khứ có oai danh khác cho các tập họp dựng nước về sau bắt chước theo, trong đó có những kẻ kế tục quyền bính từ chính những người sinh sống ở trung châu sông Hồng (tên mới ngày nay) thuộc Giao Chỉ Bộ của nhà Hán.</p>
<p>Một ngàn năm Bắc thuộc (nói tròn) đã khuôn nắn những con người ở đây theo thời gian để tạo dựng một xã hội khác hẳn lúc đầu. Đầu tiên là những Lạc hầu, Lạc tướng, chủ nhân các trống đồng mang hình ảnh khắc vạch (khác với nhóm Điền Việt có trống đính khối tượng) đã chịu nhập vào người chủ Hán một khi tránh được sự huỷ diệt hay lưu đày. Không thể biết gì về biến động dân cư bản thổ, hay gần cận, trong vùng nhưng hẳn là vẫn có như từng được ghi nhận cho đến gần đây. Thấy chứng cớ nhiều nhất, bởi vì có sự đồng dạng tộc hệ, là sự nhập cư của những người từ phía Bắc thuộc liên hệ chính trị, văn hoá, chủng tộc với người cai trị. Tất nhiên họ giữ được sự trên trước đối với dân bản thổ nhưng không tránh khỏi khuynh hướng địa phương hoá, như có thể thấy trên cấp cao nhất với cảnh Triệu Đà ngồi chồm hổm, với mả Triệu Văn Vương có tường vách mang dấu hiệu khắc vạch như trên trống Đông Sơn. Con cháu họ thay đổi theo với chừng mực nghiêng về gốc gác cũ nếu chính quyền còn vững, hay mau chóng tìm cách hoà nhập với nơi ở mới khi chính quyền suy yếu, đến có thể tự xưng là dân bản thổ khi thuộc địa tan biến. Dân bản thổ lúc đầu, hay người nhập cư từ vùng lân cận, qua thời gian cũng phải thay đổi, chịu đựng theo tổ chức của người cầm quyền đến từ một trung ương xa lơ xa lắc nào đó, đang hiện diện ở hai trung tâm trên vùng đồng bằng với tên “quận”: Giao Chỉ, Cửu Chân (sau thêm Nhật Nam). Nhưng dù bị cưỡng ép hay chịu tuân phục, những người cầm đầu các tộc nhóm địa phương cũng theo kịp sinh hoạt được dắt dẫn để chen chân vào các cấp bực cai trị, từ thấp lần mò lên cao, có khi gần đến tột đỉnh để gây tham vọng tranh quyền, hay ít ra cũng thay thế được địa vị của những người cai trị cũ phải ra đi.</p>
<p>Người Hán (gọi chung cho tập thể phương Bắc) cũng đem đến cho thuộc địa phương Nam hình thức tổ chức chính trị, xã hội theo cách họ được đào luyện và hoàn thiện qua thời gian với các triều đại. Tính chất cai trị chặt chịa bằng đàn áp và sinh hoạt thu hút đã khiến cho các thủ phủ, quận/huyện lị trở thành đỉnh cao của văn minh trong vùng, làm điểm ngưỡng vọng để cho kẻ nào nắm quyền ở đó đương nhiên được hưởng sự quy tụ, thần phục, trước khi bị thực tế quyền lực của kẻ ở vùng khác tước đoạt. Từ rất sớm, thuộc địa phương Nam của người Hán có hai, rồi ba quận nhưng quận Giao Chỉ / châu Giao trên vùng đồng bằng rộng lớn, trù phú trở thành quạn/châu trung tâm, ở đó lị sở từ địa điểm Liên Lâu / Luy Lâu, Long Uyên / Long Biên trên sông nhỏ tiến dần ra sông lớn với tên Tống Bình, La Thành, Đại La trở thành thủ phủ của chung thuộc địa An Nam Đô Hộ vào lúc cuối giai đoạn chiếm đóng. Cho nên từ khi trung ương Nam Triều của người Hán không đủ sức bao quát thuộc địa thì thấy có các hào trưởng, thủ lãnh địa phương tranh chiếm địa điểm Đại La để làm Tiết độ sứ (danh xưng quyền lực trung ương đương thời) trước khi bị người khác đuổi đi: họ Khúc và Nam Hán, rồi họ Dương, họ Kiểu, họ Ngô, né tránh với Đinh, Lê nơi hang hốc Hoa Lư trước khi trở về với họ Lí vững bền mà thành Thăng Long, Đông Kinh / Tonkin&#8230;</p>
<p>Quyền lực tập trung dẫn đến nhu cầu tiếp xúc rộng lớn khiến phát sinh một thứ ngôn ngữ chung ngoài ý định của người cầm quyền, bởi vì họ đã có chữ Hán – một thứ văn tự chung để nhà cầm quyền dùng làm phương tiện kết hợp cai trị thật thuận tiện trên một vùng đất quá lớn, bao gồm nhiều dân tộc, nhiều tiếng nói khác nhau. Nhà ngữ học ngày nay cố tìm nguồn gốc tiếng Việt, nhận định trên sự liên quan của các tập đoàn hiện tại mà cho rằng có thể là từ những nhóm người vùng (đại khái) Quảng Bình, Thanh Nghệ, Thượng Lào “do sự hấp dẫn của nền văn minh lúa nước”, đi vào trung châu sông Hồng, phối hợp với dân tại chỗ mà hình thành tiếng nói chung. Song không những không thể tìm ra dấu vết dòng di cư đó mà cũng khó hiểu tại sao những người sống trên vùng heo hút, rõ ràng được công nhận là lạc hậu kia, lại có thể mang ảnh hưởng vào tiếng nói của vùng văn minh sang cả được. Có vẻ cái nhóm ngôn ngữ proto Việt Chứt có 2 500 năm tuổi đó, cũng chỉ là một hệ thống khoa học của nhà ngữ học thấy ra, khi làm việc định hình tiếng nói của các dân tộc cùng mang một khung ngữ pháp vào thời gian xác định kia. Bởi vì dấu vết tiêu cực là báo cáo của Tiết Tổng (231) về việc không có tiếng nói chung ở Giao Chỉ, dấu vết tích cực là bằng chứng của Trương Tịch (thế kỉ VIII) gặp “Nhật Nam tăng” cuối đường thuộc địa, nói “Man ngữ”, không có vẻ là của một khu vực hạn hẹp trên phủ Đô hộ An Nam của đế quốc Đường đương thời. Ta cũng biết Lê Hoàn dùng song ngữ, nghĩa là có tiếng nói riêng với dân chúng, quần thần: “Man ngữ” vùng kinh đô Hoa Lư Ninh Bình, có thể là chung với dân đất Thanh Hoá phía nam, trung châu phía bắc, các nơi nương tựa và tổ quán của ông. Ông giao tiếp với sứ thần bằng Hoa ngữ, chắc là quan thoại vùng Ngô Việt. Tiếng Việt hẳn phải phát xuất ngay tại vùng thuộc địa theo nhu cầu tiếp xúc chung như ta đã nói, không cần phải từ đâu đến. Nó sẽ còn giữ lại một số từ gốc của các tập đoàn xưa cũ rồi được làm giàu thêm với tiếng Hán Việt của các nho sĩ chuyển qua như ta còn thấy các nho sĩ cuối mùa nho học, đầu thế kỉ XX còn sử dụng cho tầng lớp mình: “<em>Vọng chi bất tợ”/</em> ngó sao chẳng giống (ai / cái gì hết!), khi nhân sĩ Quảng Nam chê lén cái đầu không búi tóc của Thành Thái. Lại cũng thường xuyên thấy trong các bản tuồng hát bội của thế kỉ XIX, các bản văn tế đình, lời phù thuỷ, trong các bài hát nói được Huình Tịnh Của sưu tầm. Lối nói này có lẽ đã được sử dụng ngay từ khởi đầu mà chứng cớ của thế kỉ XII là ở lời phẩm bình chính trị: <em>“Ngô Phụ quốc thị lồn, Lê Đô quan thị cứt” </em>được sử gia ghi lại, dễ thấy là xác thực vì không xa thực tế biến động, cũng như tâm tình bức xúc tự nhiên. Lối nói có người cho là ba rọi ấy còn thấy xuất hiện gần cùng một cấu trúc, trong lời nhà nho ngạc nhiên thấy cái đầu không búi tóc của Phan Châu Trinh: <em>“Cửu bất kiến quân, quân dĩ trọc”. </em>Từ khởi đầu có một tiếng nói riêng, nền độc lập đem lại sự phát triển tiếp tục khiến loại man ngữ kia trở thành chủ thể trong vùng, đi theo với tập đoàn quyền lực ngự trị ở đây mà lan xa về phía nam.</p>
<p>Tuy nhà cầm quyền nào cũng muốn quyền uy của mình được lan đến mọi hang cùng ngõ hẻm nhưng chuyện đời vẫn là lực bất tòng tâm. Chính quyền thuộc địa Giao Chỉ từng khoe khoang vai trò vương hoá của các thái thú Tích Quang, Nhâm Diên vào đầu Công nguyên nhưng lại cũng Tiết Tổng cho biết ảnh hưởng Hán chỉ ở quanh các lị sở, không thâm nhập được các vùng xa. Ngay như vấn đề giá thú dẫn đến quan niệm tông phả mà người Hán hãnh diện thì vùng Mê Linh của Giao Châu, Đô Lung của Ái Châu vẫn còn tục levirat, phong tục dây dưa mãi đến thời VN DCCH, còn thấy rơi rớt trong việc đặt tên họ cho gái, trai khác nhau, làm rối rắm vấn đề hộ tịch trong vùng (Nguyễn Duy Hinh 2005). Quyền lực “trung ương” không lan khắp cũng chứng tỏ có những thành phần thủ lãnh địa phương độc lập, hay chỉ chịu sự ràng buộc lỏng lẻo / “ki mi” cho nên khi các lãnh tụ địa phương lên nắm quyền, họ phải liên kết với nhau bằng sự kết tập liên minh mà hình thức thông thường vẫn là các cuộc thông hôn giữa những tộc đoàn, có khi mang dấu vết riêng biệt chủng tộc, được gọi là “quốc”, không thấy chênh lệch địa vị. Người cầm quyền các nhóm địa phương vẫn xuất hiện qua nhiều thế kỉ, trong <em>TT,</em> dưới danh vị “thủ lãnh”, rõ rệt từ thời Lí với các tranh chấp biên giới phía bắc, kéo dài đến thời các tập đoàn phụ giúp nhóm Lê Lam Sơn quản lí vùng trung châu.</p>
<p>Cho nên không lấy làm lạ về tình hình đã xảy ra với bộ phận tách rời thuộc địa trước. Trong tiến trình thành lập nước Champa, dấu vết riêng biệt “vùng” xuất hiện lâu dài với hai nhóm Cau, Dừa nam và bắc. Thực tế địa hình chia cắt cũng cho thấy, trong lúc một thế lực vùng nổi bật vào thời kì mang danh “vua của các vua Champa” thì vẫn còn những tập nhóm địa phương chen vào tranh chấp, đi tìm viện trợ từ nước ngoài (Cambodge, Đại Việt) hay tôn giáo khác (Hồi). Từ những khác biệt có bằng cớ cũ, gần đây với ảnh hưởng của các trí thức Chàm xuất hiện qua các biến cố 1954-75, người ta lại nhấn mạnh đến một nước Chàm liên kết đậm nét với những tộc đoàn Tây Nguyên. Tuy nhiên nếu vin vào các ông vua Chàm, con các bà hoàng người Bru, Koho&#8230; hay với sự hiện diện các tháp trên Tây Nguyên, nếu dựa vào bằng cớ của thế kỉ XX về những người (Mọi) Hạ trên vùng biển Khánh Hoà, thì tình hình chắc cũng giống như Đại Cồ Việt có hai ông vua gốc Chàm để cho người nay có thể gán thêm một tên Campapura cho Hoa Lư. Hay cũng giống như có ai nhắc đến tập nhóm Chàm tù binh đông đảo phức tạp trên đất Đại Việt quanh Thăng Long, tồn tại riêng biệt sinh động đến hơn ba thế kỉ, quấy đảo triều đình chủ nô, xây tháp Trung Hoa mà mang hồn Ấn Độ, luồn lọt dáng hình Siva vào lời xưng tụng ông hoàng Trần Ích Tắc tranh chấp ngôi vua chông chênh của nhà Trần vừa tạo dựng.</p>
<p>Tình hình chung mang tính cốt lỏi, là bộ phận dân (các) nước Champa dưới đồng bằng đông đảo có đặc tính chủng tộc, nhất là tiếng nói riêng biệt, có sinh hoạt tiếp xúc với bên ngoài trên trường giao thương quốc tế, tạo dựng được một hệ thống chính trị, văn hoá có bằng chứng vật chất, để lại dấu ấn qua thời gian. Thành quả đó dựa vào nền tảng ý thức Ấn Độ, mang đậm tính tôn giáo nên sinh hoạt quy tụ quanh các đền tháp được xây cất theo tin tưởng đó, tạo ra ý niệm lãnh vực đất đai là của các thần bảo trợ, do đó không mang tính cách lãnh địa liên kết bao trùm. Champa, cũng như Cambodge đồng dạng kế tục Phù Nam, không hề có một bản đồ cho đất nước mình. Đất đai nghèo cực, sinh hoạt biển bất thường, kể cả việc cướp biển, cũng là một thế yếu khác trước bộ phận đồng dạng xa xưa thoát khỏi quyền lực chủ cũ mà đậm tính chất chủ, lấy cái ưu thế đó mà tràn lấn, bành trướng&#8230; Các vùng mang ảnh hưởng Ấn với tính chất thần thuyết tôn giáo đè nặng, tuy thất thế về mặt chính trị nhưng lại có những xây cất bền vững, lưu dấu vết nhiều hơn so với của những người chiến thắng họ: những tháp Chàm ở Mĩ Sơn, dọc Miền Trung, chưa kể các di tích khuất lấp trên vùng đất phía Nam (Óc Eo), trên cao nguyên (Cát Tiên)&#8230;</p>
<p>Sự tranh chiến giữa hai phần thuộc địa của phương Bắc nay đã trở thành độc lập vẫn có dáng dấp cũ, không là điều phải lấy làm lạ. Phần phía bắc mang danh xưng, niên hiệu của thủ lãnh lấy từ các “trung ương” cũ, cả tên nước cho riêng mình hay mang tính quốc tế (Đại [Cồ] Việt, An Nam) cũng không thoát nền nếp đó. Ngô Quyền hẳn lấy quân lính, binh thuyền đánh thắng Nam Hán là từ lực lượng có sẵn của Đại La. Các cuộc tấn công xuôi nam của Lê, Lí vẫn mang tính cách của các thứ sử Đàn Hoà Chi (436), Lưu Phương (605)&#8230; với cái khác là ngoài việc cung cấp nhân vật, tài lực cấp thời cho Hoa Lư, Thăng Long lại còn phát sinh các phó sản không toan tính trước từ một tập họp dị chủng phức tạp đem lại ảnh hưởng sâu xa, lâu dài trên phần đất của kẻ thắng trận. Tuy nhiên chiến tranh khu vực giữa những thành phần không chênh lệch nhiều về lực lượng cũng nảy sinh các vấn đề riêng tiếp theo. Giới hạn khả năng điều hành khu vực khiến không có những trận đánh quyết định chiếm đất mà chỉ có các thành quả cướp bóc từng thời điểm, từng giai đoạn như Lí được nhường hai châu Ô, Lí mà không giữ được. Cách trở địa hình khiến cho kẻ thực hiện sự lấn lướt mang tính khai thác chiếm đóng là một người có gốc xa hơn Thăng Long về phía Nam: Hồ Quý Li. Và cũng để vượt qua cách trở địa hình, các trận chiến phải phụ thuộc vào mùa gió trước khi yếu tố này được nâng lên tầm mức chiến lược với một lực lượng thuỷ quân khác, cao cấp hơn ở thế kỉ XVIII. Tuy nhiên từ sự hiểu biết về địa lí các vùng tận biên giới Chiêm Miên của họ Hồ mà ta đoán rằng họ này đã có dịp tiếp xúc với các tập đoàn Hồi Giáo để mua sắm trang bị các “hoả pháo” cho quân đội mình khiến cho Hồ Nguyên Trừng thoát nạn và làm quan triều Minh.</p>
<p>Thắng bại ngã ngũ với vương triều Lê mới của nước Việt, từ căn bản lực lượng hùng mạnh của tập đoàn Mường Thái Thanh Hoá, kết hợp các thủ lãnh thiểu số đi xuống trung châu, đánh thắng quân Minh đô hộ khắc nghiệt mà chưa đủ thời gian để vững chân. Khuất lấp dưới ngọn bút của sử quan triều đại vẫn cho thấy có một cuộc di chuyển lớn lao của các tộc đoàn rừng núi tràn ngập dưới đồng bằng. Lại cũng như tình hình hậu thuộc địa trước xa, sự quản trị đất nước Việt lần này cũng phải nhờ đến khuôn thức tổ chức của kẻ xâm lược phương Bắc. Lê Thánh Tông mượn thể thức của nhà Minh ít nhiều gì cũng để lại khi phải ra đi, áp dụng để xoa dịu đám văn quan trung châu bất mãn, đè ép đám binh tướng vùng cao trong chiến thắng, tuy đã bớt kiêu căng qua tranh chấp nội bộ nhưng vẫn còn thế lực tiềm tàng với các thực tế chức vụ quản lĩnh, thủ lĩnh đặt để nhằm đền đáp công lao liên minh. Tổ chức đem lại ổn định, dân số tăng gia rõ rệt đủ cho Thánh Tông “bắt lính” đánh thắng quân dưới quyền Trà Toàn “giống nòi rất đông&#8230; như ổ kiến” trên đất Chà Bàn, có chiến luỹ Cổ Lũy bị miệt thị là “hang cầy cáo”.</p>
<p>Ý thức quốc gia, dân tộc lớn của Đại Việt mang tính độc tôn trong vùng, rõ rệt từ thế kỉ XV với Hoàng triều Quan chế của Lê Thánh Tông, át hẳn quan niệm tông tộc khu vực của Lí, Trần. Tính chất Hoàng đế điền chủ của Lí mang tính chủ thể một liên minh mà mình là đơn vị lớn, thấy rõ ngay trong chiến tranh với Tống có cả già trẻ lớn bé đi theo đánh trận (để chia chiến lợi phẩm). Tuy nhiên quyền lực dàn trải trên 200 năm cũng khiến người dưới ý thức về một vùng riêng biệt, khi bị đe doạ mất chủ quyền, lộ ra trong than thở của Lê Văn Hưu, nơi lời khẳng khái của Trần (Lê) Bình Trọng. Ý thức đó không có trong tập đoàn sông nước Trần (xem Hịch tướng sĩ, thái độ Trần Ích Tắc). Cho đến khi chiếm được đất Lí, bỏ thuyền lên điện 20 năm sau, Trần Thái Tông mới nhận ra để buộc dân gọi vua là “quốc gia”.</p>
<p>Ý thức quốc gia lớn của Lê tạo được một sự hoà hợp, cưỡng bách đám dân chúng phức tạp dưới quyền thành một khối bắt đầu mang dạng đồng nhất cao cấp, chịu ràng buộc bởi các luật lệ mang tính phổ cập chứ không phải chỉ là sự tương nhượng, ép buộc qua những cọ xát tập nhóm. Các khác biệt tập nhóm mang tính chủng tộc từng lúc phải mất đi với sự phối hợp Miền Trên (Lí và phụ thuộc) Miền Dưới (Trần và liên minh sông nước) trong chiến đấu chống Nguyên Mông. Cuối Trần thêm có lệnh cấm nói tiếng Chiêm, Lào hẳn khiến làm biến mất các tập nhóm tù binh Chàm xưa còn lại, và các con cháu những dòng Thái: Trịnh Quốc, Ngưu Hống, riêng biệt với Cử Long đi sâu dưới đồng bằng Thanh Nghệ. Ngược lại, quyết định cũng khiến các tập họp bên lề trung châu như nhóm Mường Thái Thanh Hoá, dễ chen vào biến động toàn vùng. Ngôn ngữ Việt trở thành chủ thể khiến con cháu Lê nói tiếng Việt ở Thăng Long trở về tế lễ ở Lam Kinh, phải khấn tiếng Thái ông bà mới hiểu. Ông chúa Thái xuống đồng đã buộc thần dân bỏ vết tích cũ, rút gọn tên đa âm thành nhị âm là nhiều nhất, như thói quen mới của ông và con cháu ông. Cho nên có thể nói người dân Đại Việt là “dân nói tiếng Việt” (K.W. Taylor), và điều này trở thành điểm thống nhất xuyên suốt trong tiến trình lịch sử tiếp nối. Tổ chức của Lê Thánh Tông theo Minh đến độ giết cả cận thần từ hồi luân lạc, chìm lấp, đã đem lại sự cố kết từ trên với một ông “quốc tổ” – của vua, rồi sẽ được hiểu là của nước, đến cơ sở hành chính cấp căn bản là làng xã, mang biểu tượng chung là cái đình làng với ông thần phù hộ vừa vặn với tập thể nhỏ dân chúng nói tiếng Việt nơi ấy. Cái tế bào xã hội mang vừa đủ dạng thế tục, thần thánh ấy thật gọn nhẹ để di chuyển, rồi sẽ tồn tại trên đất lạ mà không phải mất nhiều bản sắc.</p>
<p>Nhưng cũng bởi sự tranh chiến kéo dằng dai qua nhiều thế kỉ trên những vùng đất dài nên có thể nói có những tập nhóm dân Việt, chông chênh giữa các thế lực Thăng Long và Vijaya, phải sống theo thực tế quyền lực trút đổ lên đầu mình, nghĩa là cũng trải qua trong một đời, hay nhiều thế hệ phải chuyển đổi qua lại tiếng nói, phong tục mà sống. Họ thành những nhóm địa phương mang dạng thế lực vùng, khuất lấp trong sử mà người tinh ý vẫn có thể nhận ra qua các dòng chữ tránh né hay ghi chép hời hợt. Dân xứ Nghệ từng bị sử quan chê là phản phúc, dân Tân Bình, Thuận Hoá bị tố cáo là huà theo quân Chế Bồng Nga, còn lớp người được Hồ Quý Li đẩy vào xa trong cuộc lấn chiếm có tổ chức cuối thế kỉ XIV, lại phải “chụm chân mà kêu than”, chịu “khốn khó” dưới các lệnh khắc nghiệt của Trà Toàn. Với kết quả cuối cùng, những con cháu tù binh Chàm trên đất Bắc có thể đã đem thể thức vần điệu lục bát của họ chuyển nhuần nhuyễn sang tiếng Việt, bởi vì không thể thấy dạng hình văn thể này từ gốc Hán tuy có người đã gắng gượng moi vài câu kinh Dịch ra làm chứng. Lục bát của văn thần Đàng Trong, với tiếp xúc ngắn ngủi hơn nên vụng về hơn của danh thần Lê Trịnh cũng là một minh chứng khác. Các chùa Bà Đanh / Bà Banh chuyển dạng thành những tên Bà Già, Bà Ả, Thiên Phúc, có những họ Trà, họ Chế, họ Ma&#8230; trên các tỉnh Miền Trung, được quan chức Pháp thấy cả ở Nghệ An nhưng không ai nghĩ đến các “dân Trời” của Lê Thánh Tông có lúc phải bỏ cúng tế ông bà, thành hoàng để theo chân các đoàn người lên tháp hành lễ Katê, múa bóng! Nói gì ngay đến những dấu vết Chiêm Thành trên đất Lí Lê mà tính chất Khổng Nho đã che lấp những ảnh hưởng của tầng lớp tù binh trên hai trăm năm ở đó, những dấu vết chỉ được hé lộ chút ít với thời đại văn minh mà vẫn còn phải chật vật tỏ bày. Bởi vì không ai chỉ rõ có bao nhiêu phong tục, sinh hoạt mà dân miền núi, thiểu số đã đem xuống đồng bằng, cải biến sinh hoạt nơi đây trước khi theo dòng tiến triển chung của thời gian? Họ Phan Huy đầy danh vọng với khoa cử, quan chức khi còn là Phan Văn đã lộ ra dấu vết thầy mo lãnh đạo của một tập họp thiểu số “phiên” trên vùng Hải Tây Đạo của triều đình Thăng Long. Tục séc-pùa mang đầy tính chất ma thuật nơi cỗi gốc đã theo chân họ Nguyễn quang vinh đến tận phía nam đất nước, mang dạng “tân tiến” hơn mà vẫn còn níu kéo quá khứ phù thuỷ trong tục sắc-bùa Đạo giáo.</p>
<p>Và như đã thấy, khả năng quản lĩnh đất nước yếu kém đã phát sinh hai kinh: Đông và Tây Đô cuối thế kỉ XIV thì với sự bành trướng về nam của Đại Việt tất yếu cũng dẫn đến sự phân chia Đàng Ngoài, Đàng Trong. Thế là người-nói-tiếng-Việt lại có thêm nhân số. Họ Nguyễn mang một trung tâm Việt vào Nam đã đem lại cho Việt Nam về sau một nửa lãnh địa chỉ trong vòng hai trăm năm. Vương quốc Chàm lay lắt không cản trở được một tập nhóm từ khởi đầu chỉ là đi tìm đất sống, đến chỗ giành được quyền lực tranh bá đồ vương khiến cả tập họp Khmer, dân thiểu số trên vùng Cửu Long, Đồng Nai cũng bị đe doạ. Trong khi đế quyền Angkor khai thác vùng Biển Hồ tương đối bình lặng nên không đủ khả năng xoay chuyển trên lưu vực Cửu Long còn dữ dội khiến tập nhóm Khmer nơi này chỉ dồn tụ trên các giồng đất sông biển thì lưu dân Việt có lưu vực Đồng Nai nhỏ hơn, vừa vặn cho những kinh nghiệm đối phó với thiên nhiên dữ dội trên các vùng Thuận Quảng, để rồi từ đó bung rộng ra. Tàn binh Minh, thường dân Thanh tuông chạy dưới biến loạn trên đất nước họ, thường cố tạo cho mình một lí tưởng để giữ gìn riêng biệt nơi đất mới nhưng gặp họ Nguyễn đang lấn lướt nơi đây, đang tự coi mình là chủ dân “Hán” chính cống, nên đành phải chịu làm một loại dân Hán khác: “Đường nhân”, thần dân của các ông chúa đất mới này<em>.</em> Thay thế chính quyền Chiêm tiếp nhận vùng đất có ưu thế thương mãi, chúa Nguyễn mời gọi thương nhân Hoa, Nhật thành lập Hội An, có cửa Cách Thử thay thế Chiêm Thành Cảng để các giáo sĩ đến học tiếng Việt ở Nước Mặn (Bình Định), Thanh Chiêm (Quảng Nam) dạy cho ông Alex. de Rhodes tập thành tự điển “quốc ngữ”. Dấu hiệu thiên trọng thuỷ quân ở các đơn vị chiến đấu được gọi là “thuyền” nên họ có thể tiến ra biển lớn, thăm dò khai thác các Bãi Cát Vàng / Hoàng Sa.</p>
<p>Trong lúc các ông Ốc nha / Okya thay mặt vua Miên ở Phnom Penh, quản lĩnh một vùng dân bản xứ theo lối cống nạp, không thể hiểu tại sao phải trưng tuyển dân binh có hạn kì, sao phải đo đạc đất ruộng phân minh thì đám dân lang bạt từ phương Bắc kia cung cấp cho họ Nguyễn hơn cả sự mong ước, không chỉ là sự điều hành ruộng đất, cửa biển tàu bè mà cả kiến thức đương thời của Trung Hoa, những kiến thức mang tính thực dụng, hiện đại không có trên đất Đông Kinh. Họ chịu làm tướng cực nhọc cầm quân, đi thi làm quan cho chúa, buôn bán, khai phá đất đai, lấy người đồng hương cũ mới, lấy cùng chủng tộc, lấy Miên / Phiên dân, lấy “Mọi” / Man dân không nề hà, rốt cục lại cũng phát sinh một lớp người Việt mới, góp phần khai thác một vùng tuy còn chừa tiềm năng cho người Pháp đến sau nhưng cũng đủ sung túc, giàu có làm đất phát nghiệp trung hưng cho họ chúa Phú Xuân lên ngôi, ngự trị trên một đất nước chưa từng lúc nào lớn hơn.</p>
<p>Thế nhưng cũng với thực tế tràn lấn chiếm lĩnh của các thế lực trên cao đó mà phát sinh những tồn tại khác, khuất lấp hơn, thường hay bị né tránh. Sự hạn chế của một quyền lực trung ương vững vàng theo với khả năng tổ chức diện địa, có thêm phần nguyên cớ ý thức hệ vay mượn để tổ chức lãnh thổ, khiến có những xung đột mang tính khu vực, lẫn lộn chủng loại, tuỳ thời điểm, yếu tố nào thiên lệch vào lúc phát xuất. Đã thấy hình thức liên minh biển với gia tộc mở rộng ở Bình Than, liên minh đồng biển ở Diên Hồng. Thấy ông vua Trần ngồi đánh bạc với các nhà giàu có thể đoán là con cháu triều trước (Đình Bảng, Lí), là gốc tù binh nắm giữ ruộng đất mà thoát địa vị đó nhờ chủ cũ thất thế (dân Quốc Oai). Sự xung đột hai vùng Kinh, Trại dẫn đến hai kinh đô Đông, Tây chia bớt danh vọng Thăng Long, kéo dài ra với Kiêu binh thời Trung hưng, ít nhiều gì cũng còn lưu dấu vết phân rẽ chủng tộc khởi đầu nơi tính khu vực Đông/Tây Việt trong tranh chấp Mạc, Lê Trịnh. Bên trong khu vực lớn, ông Quốc tổ của vua còn bị ông thần gần bên tranh cướp bè gỗ đưa về xây đền Hùng của ông. Trên thừa tuyên thứ 13 Thuận Quảng, các hào tộc không kiêng nể quan chức của triều đình, tổ chức tấn công các thế lực thù địch được phái đến, như với Nguyễn Hoàng lúc khởi đầu. Lịch sử Đàng Trong cũng là tiến trình bào mòn các xung đột tập nhóm cũ, mới trong vùng. Đất nước thống nhất tạo dựng một trung tâm phân phát quyền lực có tác động lan toả đồng tâm, vẫn phát sinh lời nhận định phê phán mỉa mai: “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co, Bình Định hay lo, Thừa Thiên ních hết”. Gia Long làm chủ nước mà phải phân trần với người dưới về sự không phân biệt Nam, Bắc. Sự phân biệt lắng đọng, sẽ chuyển qua tay chủ nhân một nền văn minh khác rồi “trở về với dân tộc” ngày nay, trở về với đầu mối kinh đô xưa, tranh giành quyền sở hữu tên nước (Việt Nam) mới – cho là có từ thế kỉ XIV, cho thấy dai dẳng một nỗi hậm hực “mất Thăng Long” đã gây ra sự căm thù nhà Nguyễn, làm nền tảng chính nghĩa cho sự thống nhất đất nước trong thế kỉ XX, với những lễ hội tốn kém để chứng minh cho sự hiện diện trường tồn qua thời gian.</p>
<p>Sự thu nhận ý thức hệ Nho Giáo cho tổ chức cai trị đất nước cũng mang lại hình thức chia cách khác. Văn chương phát xuất từ tầng lớp nho sĩ đầy tính chất ca tụng viễn mơ về danh vọng của tầng lớp mình, gợi sự ước muốn thành đạt từ những người đứng ngoài, những kẻ háo hức ngày nay nhưng lại không cho thấy những sự thật không mấy vui về con đường gian khổ trước mắt những người đồng thời. Họ chỉ là những “tay biên chép ở nhà trong” quản lí ruộng đất, trông coi kho thóc, kho lụa cho ông hoàng đế điền chủ Lí. Họ có thể là con cháu những hào tộc độc lập nhưng về với chúa lớn thì chỉ là “người trong nhà” / “thằng bé biên chép” của vương hầu Trần, có làm quan thì nếu không lấy của nhà ra phục vụ để đổi chức tước (Phạm Ngũ Lão), cũng chỉ lãnh một ít lương nhà nước (Đinh Củng Viên), không bằng một anh bị thiến không biết chữ (Hán) nhưng được trông coi cơ ngơi Thiên Trường của chủ (Lê Tông Giáo). Khả năng “biết chữ” cũng là hãnh diện cho nho sĩ quan chức, khiến cho họ hay “nói chữ”, vung vẩy văn chương hoa hoè, biện biệt lí thuyết cao vời thật nhiều mà phần phát hiện cụ thể, sáng tạo thì rất ít. Sự nghiệp Lê Quý Đôn cũng có phần rất lớn là từ việc gom thẻ, chép lời người xưa, chắc có ảnh hưởng không nhỏ đến tận lớp hậu sinh ngày nay. Thế mà từ ưu thế trí thức, quyền chức có giới hạn ấy, nhà nho vẫn tự đặt họ ở địa vị cách biệt với dân chúng bên dưới nặng nề sinh hoạt bản xứ (mẫu hệ lan đến tầng lớp cầm quyền, “dâm từ” là phổ biến&#8230;), nên tạo ra trong xã hội sự kiêu ngạo một phía và sự ganh ghét chối bỏ phía kia. Sử ghi lại (1305) trường hợp Trần Cụ có mối hận với làng Cửu Liên, hẳn là làng gốc, vì thấy ông vẫn phải đi về dù đã thề không chạm đất làng! Ông Trần Quốc Vượng (<em>Dạm dài đất nước </em>2006) có nhiều bằng chứng khác, của thời hưng thịnh văn học về sau. Sự xung đột đó làm nổi bật tính chất kiêu ngạo không phải chỉ cá nhân mà là của tập thể văn thân, nho sĩ lấy từ niềm kiêu hãnh vương hoá, kì thị Di Man nơi cỗi gốc, đem ra áp dụng trong nước mà vẫn không thể cải đổi được thân phận của tầng lớp mình.</p>
<p>Tình trạng trí thức và người cầm quyền không phát sinh từ một gốc đã hiện diện trong suốt lịch sử Đại Việt. “Trí thức” bị chủ đè nén không vươn lên được mà lại kiêu ngạo với dân đen, lằng nhằng không lớn không nhỏ nên không có dịp bày tỏ ý thức sáng tạo nào, đành chịu bằng lòng sống với tình trạng làng nhàng của xứ sở, tự bản thân thấy chủ đích “bảng vàng bia đá” còn lại theo sự may mắn của thời thế, hay bị đục bỏ theo oai vũ sấm sét của triều đình, cũng đã là đầy đủ cho ước mơ. Vì thế lại thấy có sự cách biệt của những người sống ở đồng bằng với những người nơi rừng núi, những người chưa nói tiếng Việt của “Hán nhân”. Đó là sự phân biệt giữa người trên vùng trung châu Đàng Ngoài với các tập đoàn thiểu số nhà sàn “trâu đeo mõ, chó leo thang” được gọi là Thổ, Mường, Mán&#8230; Đó là cách nhìn những tù binh Chàm bắt được từ phía “tây”, tên gọi những phiên liêu để được mang họ Kim, hay lâu dần thành họ Phan. Đó là nguồn gốc hình thành luỹ Trấn Man dọc theo Quảng Ngãi, Bình Định chia cắt Mọi Đá Vách và dân “Hán”, dấu vết của sự cách biệt tranh chấp qua chiến tranh trường kì mà phần thắng không phải lúc nào cũng ở phía dân Trời. Đó là dấu vết kết thành địa danh của những Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Man&#8230; Trấn Tây Thành trên đường lấn chiếm của Lê, Nguyễn.</p>
<p>Tuy nhiên không phải chỉ có sự lấn lướt về mặt chính quyền mà không có tiếp nhận ngược lại. Với thời cận đại, lớp người Khmer Phiên dân bị vòng tròn quyền bính Phú Xuân thu làm thần dân, đã tiếp xúc với những nhà sư Việt Hoa phái Lâm Tế cũng đang phát triển nhiệm vụ hoằng pháp trên đất Đàng Trong, từ Sài Gòn xuống châu thổ Cửu Long. Sự tương hợp một chừng mực của hai nhánh Đại, Tiểu thừa tuy gây cạnh tranh nhưng hẳn cũng khiến sự giao tiếp giữa hai khối dân dễ dàng hơn, so với sự đối kháng Việt Chiêm. Thế là có sự tiếp nhận ý tưởng đảo lộn ghê gớm của các thần Tevoda để nói về một thời thượng nguơn sắp đến, thay thế cho thời hạ nguơn đang tàn, đúng vào lúc chúa Nguyễn trên đà phát triển tột đỉnh đang muốn tìm danh hiệu cho mình, cho vùng đất mình cai quản không phụ thuộc vào Đông Kinh xa vời nữa. Thế là có tuyên xưng vương hiệu, cải cách xứ sở của Nguyễn Phúc Khoát nhưng lại không ngăn chận được sự đòi hỏi thay đổi đã thành hình, âm ỉ rồi bùng phát với “loạn” Tây Sơn, xô đổ cả vương triều cũ kĩ Lê Trịnh, tưởng chừng có thể đặt tương quan thiên triều phiên thuộc – cũng cũ kĩ, lên một căn bản mới.</p>
<p>Ý thức vương hoá vay mượn đăt để trên trước đối với các dân tộc yếu kém, ngược lại cũng gây hệ luỵ với các vương triều Việt khi phải tuỳ thuộc vào đường hướng vương hoá từ phương Bắc. Trong thế yếu về binh lực và thấp thỏi về sinh hoạt, họ phải chịu sắc phong của các triều đại Trung Quốc, từ đó là hệ luỵ kéo dài cả ngàn năm, không những không dứt ra được mà còn ẩn khuất trì níu nặng nề, có thể mượn một danh hiệu y chứng hiện đại để nói về một thứ <em>Hội chứng phiên thuộc</em> lấp ló đâu đó, chỉ chờ được dịp là bùng ra. Vui thì được làm Quốc vương một nước An Nam, buồn thì chỉ là Đô thống sứ của một Ti, năn nỉ mãi được lên cấp thì vẫn phải lạy một tờ giấy đóng dấu son khác! Ông vua ngang ngạnh muốn tránh cũng không thể thẳng thừng từ chối mà lại nại cớ ngã ngựa đau chân. Lâu dần lạy thành thói quen, chỉ có thể kìm chút tự ái, lấy sĩ diện bằng việc tranh chấp lạy bao nhiêu, kiểu nào theo cách “của ta”. Bản chất cai trị là áp bức nhưng có phải sự thua thiệt với bên ngoài đã khiến cho tầng lớp cầm quyền tìm cách đền bù bằng sự tai ác với dân chúng bên trong, cũng là một cách che lấp cái uy thế mỏng manh của mình? Tuy có nghi ngờ sử Nguyễn che giấu nhưng chắc chắn Gia Long không thể lạy chiếu Càn Long trên đất Bắc Thành giữa hào quang chiến thắng, giữa các tướng từng phải lạy vợ ông mỗi lúc ra quân nhưng rõ ràng Tự Đức đã phải quỳ mọp lạy chiếu, dù đã ép sứ đi thêm đoạn đường đến Phú Xuân. Tội nghiệp cho chút thành quả đạt được trong giao tiếp với phương Bắc. Bởi vì không phải chỉ từ áp lực bên ngoài mà còn có cả sự thần phục lâu ngày đến thành sức ép vô thức từ bên trong: Khi Gia Long muốn tiếp nhận sắc phong ở biên giới (không để thần dân thấy sự thua thiêt của mình) thì nhóm Phan Huy Ích “từng quen đi sứ Bắc” lại cho rằng “xưa nay chưa từng có như thế”.</p>
<p>Uy thế phương Bắc sa sút chưa được nhận rõ nhưng cũng đã bị chuyển hướng qua các nước phương Tây từ xa đem lại, không những với các trang bị vật chất gợi ước muốn cho tầng lớp trên mà còn có cả một sinh hoạt tinh thần, thu hút đám dân chúng cùng khổ bên dưới ngóng chờ sự cứu rỗi qua tôn giáo mới, tạo nên một nền tảng quần chúng mới phải chịu đựng bức bách từng thời điểm mà càng lúc càng vững mạnh. Điều tiếng di man trong giai đoạn này vẫn có đấy nhưng chỉ xuất hiện từng chặp, khi khách phương xa không đền đáp đủ cho chủ nhân vùng đất. Hai họ Trịnh Nguyễn trong những năm dài tranh chấp đã đồng thời hưởng lợi và chịu luỵ khi muốn lôi kéo phe phía từ những con người xa lạ ấy. Và tác động từ phương Tây tuy chưa sâu đâm nhưng lại có phần nghiêng ảnh hưởng trên phần đất phía nam. Trong lúc Trịnh loay hoay với rối loạn nội bộ từ các “phong trào nông dân khởi nghĩa” thì Nguyễn chịu đựng những quấy đảo của thương nhân trong ngoài, lớn nhỏ: những “Minh dân” 1679 trên vùng Tiền Giang, nhóm Mạc Cửu kéo theo tranh chấp với Xiêm, những “Thanh nhân” xúi giục Phiên vương Chàm lay lắt, hay tự mình làm giặc&#8230; Quan trọng nhất là những thương nhân sinh hoạt bên rìa đồng bằng rừng núi, thu lợi từ sản phẩm các nguồn sông suối, được tăng giá trị thặng dư theo hoạt động của tàu thuyền Tây phương ngang dọc trên các biển trong vùng. Thế là có một vương triều các lái Tây Sơn, dũng mãnh theo bản chất mới mà không được tiếp sức để thành hình một hệ thống vượt thoát khỏi sức ép của truyền thống khu vực. Rốt lại hệ thống cũ vẫn thắng, với sự tiếp nhận vừa đủ các yếu tố mới, để thêm nanh vuốt cho Nguyễn Ánh thống nhất đất nước.</p>
<p>Hệ thống chính trị xã hội của phương Đông mà Nguyễn Ánh không thể rời bỏ được, càng thêm sức mạnh hỗn độn khi ông phải tiếp nhận một nước An Nam của nhà Lê lớn bằng đất nước của ông, đông hơn dân của ông mà lại thấm nhuần tinh thần Á Đông căn bản đậm nét hơn dân vùng của ông. Ông chịu để họ phô trương uy thế tinh thần trước đám thần tử lổn nhổn đủ thứ hạng, vốn chỉ có một niềm kiêu hãnh là biết sử dụng súng đạn trong khi thời chiến tranh bức thiết đã trôi qua. Chỉ gần hai mươi năm sau, khách ngoại quốc đến Gia Định đã thấy ra tình trạng vũ khí mới bỏ lăn lóc, hư hỏng ở nơi khởi nghiệp của triều đại mới. Gia Long đem lại một tên nước riêng cho quốc gia của mình, không phụ thuộc vào sự ban cấp phương Bắc nhưng vẫn phải cúi đầu chịu thụ phong theo lời chỉ dẫn của các nho thần quen thuộc giao tiếp về hướng đó. Minh Mạng chê dân Gia Định ít học (Nho) nhưng cũng hoảng lên vì thấy dân khoa bảng mới cũ của đất cựu Lê tràn ngập triều đình, tuy có người nhận ra rằng họ đỗ nhiều chỉ vì có thầy dạy cách thi cử thành công (tiếp nối Vũ Thạnh, Nguyễn Đình Trụ) chứ không phải vì giỏi dang – họ chỉ học sách đến thế kỉ XIII là nhiều nhất. Thế mà với áp lực đó, để tránh xa sự đe doạ từ tôn giáo mới, Minh Mạng lại nhiệt thành khuyến khích học Nho đến mức độ chê cả thầy Minh, Thanh. Một chính quyền chuyên chế mang dạng tập trung, mở rộng biên cương ra cả ngoài biển, thanh toán quá khứ chiến tranh, chia tỉnh, huỷ bỏ chức vụ Tổng trấn hai đầu Nam Bắc, xoá sổ nước Đại Việt, giải quyết tàn dư Lê triều, động đến cả hệ thống tộc đoàn thiểu số cai trị biên cương từ lâu vẫn giữ một chừng mực thế tập. Quan lại triều đình thay thế các tộc trưởng Nùng, Mường&#8230; mở rộng quyền lực, củng cố thế tập trung của Huế.</p>
<p>Bành trướng lấn lướt thì cũng phải có nhường bước thoả hiệp. Nguyễn rời bỏ sự hãnh diện riêng biệt: “Nhà ta phát xuất từ Ô Châu” để lập gia phả lôi ông Nguyễn Bặc của họ Đinh, ông Nguyễn Nộn cuối Lí đầu Trần vào làm ông tổ nhà mình, kèm thêm những nhân vật có thể là thật với chức vụ bịa đặt mà chừa ông Nguyễn Trãi (tội thần triều Lê) để người sau, với thời gian xoa dịu, sẽ đem vào tiếp! Ở tầng cấp công tột đỉnh, họ cho lập miếu Lịch đại Đế vương với nhân vật Hoa Việt bát nháo, hồn ma vật vờ phù thuỷ, theo thời gian, trở thành thần thiêng kinh truyện nhưng tất cả đều mang tính văn hoá khu vực phương Đông, để Tự Đức gắng gượng lấy tự tín, đẩy các ông Kinh Dương Vương vào địa vị thứ yếu lịch sử, từ đó tách ra ông Quốc tổ Hùng Vương mở đầu mang uy thế, địa vị to lớn đến ngày nay, tưởng chừng không thể nào suy suyển. Tình hình quay trở về “truyền thống” đó làm nổi lên ý thức khinh miệt di man xưa cũ nay mang dạng Dương Di, làm cản trở những ý muốn đổi thay, dù là từ trên bậc cao của quyền bính. Rốt lại thì chỉ có những tương quan lực lượng cụ thể là giải quyết được mâu thuẫn mà thôi.</p>
<p>Người Pháp vẫn hãnh diện với thuộc địa Đông Dương còm cõi của mình, bởi vì dù sao cũng có được một vùng đất ở châu Á xa xôi để cạnh tranh kịp thời với các nước khác đang xâu xé con rồng Trung Hoa bẹnh hoạn. Ông thiên tử không lo nổi thân mình thì phiên thần phải lọt vào tay người khác không phải là điều đáng ngạc nhiên. Lịch sử Pháp thuộc ở Việt Nam chỉ là một giai đoạn của sự tranh chấp Đông Tây ở cuối đường phát triển của các nước châu Âu trên đà kĩ nghệ hoá. Vì vậy phải coi đây là cả một sự đảo lộn to lớn: một cuộc “cách mạng”, nếu hiểu theo nguyên ngữ của từ “đổi mạng trời”. Người Pháp khi chặn ra một thuộc địa Đông Dương cho mình đã làm tách phần đất đó ra khỏi thế giới cũ, thế giới của vương mệnh Trung Hoa, của hệ thống thần quyền phương Đông, để đưa vào sinh hoạt tư bản chủ nghĩa đang muốn chiếm lĩnh toàn thế giới. Hiệp ước Fournier 1884 rồi Thiên Tân 1985 giữa đại diện Pháp và Thanh triều đã cắt đứt tương quan Thiên triều / thuộc quốc giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam kéo dài cả ngàn năm. Sự đổi thay trên cam kết quốc tế đó được cụ thể hoá bằng những cuộc đo đạc, xác định đường biên giới rành rẽ giữa hai nước Trung Việt, rồi tiếp theo là những xác định biên giới Việt với các thành phần khác bên trong thuộc địa. Một bộ mặt đất nước mới mang tính <em>định lượng</em> không phải là không có lợi cho Việt Nam trong tình cảnh mất chủ quyền: các quản binh, nhà thám hiểm Pháp tách ra khỏi ảnh hưởng Lào Miên, mang lại một vùng Cao nguyên cho Trung Kì khiến trường luỹ Trấn Man của nhà Nguyễn trở thành hoang phế; thực lực hải quân Pháp đẩy biên giới phía đông đến sát Philippin, Mã Lai gây tranh chấp với người Anh, Tây Ban Nha trên các nhóm đảo họ cho lính Thủ hộ Nam Kì (tổ chức Garde civile locale) trấn đóng, không hề có trong ý tưởng của vua quan nhà Thanh, Trung Hoa.</p>
<p>Tất nhiên sự cách biệt quá quắt về thực lực quân sự mà Nguyễn Bá Nghi chứng kiến đã là yếu tố quyết định trong suốt tiến trình xâm lăng nhưng tính chất lí tưởng trong việc bảo vệ tôn giáo của họ từ những nhân vật của Phái đoàn truyền giáo riêng biệt Pháp, cùng sự chần chừ trong chiếm lĩnh cũng đưa lại nét riêng biệt cho từng thành phần thuộc địa của họ. Đất Nam Kì chiếm đóng đầu tiên có diện tích nhỏ, đủ cho tham vọng của một toán thực dân tiền phong, ít nhiều gì cũng hành động vượt trên toan tính của chính quốc. Nam Kì như Trịnh Hoài Đức vẽ ra còn mang tính chất dân cư xôi đậu Đông Nam Á, có trải qua những biến loạn, đánh dẹp của triều đình Huế cũng không mang sự kết tập chặt chẽ của một khối quần chúng làm e dè kẻ xâm lăng. Đứng ngoài nhìn chiến trận là những tập họp người Thanh đến ở ào ạt mà triều đình chưa gom góp được, là những người Miên còn hằn dấu chống đối gây nên sự tan rã Trấn Tây Thành, chưa kể nhóm giáo dân bị bức đạo sẵn sàng hợp tác với người mới. Chống với người Pháp, có binh tướng triều đình từ xa phái tới, còn dân binh cố kết với chủ quyền đất nước chỉ là những thành phần khai thác đồn điền, cũng vẫn là những tập họp đang chiếm đất! Với kinh nghiệm từ các thuộc địa Bắc Phi, người Pháp phải cần giữ lại ở Việt Nam / Đại Nam một tầng lớp cai trị bản xứ mà quyền hành tuỳ thuộc vào khả năng sâu sát của các viên chức được phái đến theo từng tình thế. Nam Kì là đất trực trị, chỉ được giữ lại hàng tổng xã bản xứ, để những nhân vật cai trị lớp trên không còn là “quan” mà chỉ là viên chức, với danh xưng có hơi hướng Đàng Cựu: Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ. Bắc, Trung Kì còn vua, quan nguyên vẹn với hệ thống cũ nhưng vua mờ mịt ở Bắc hơn ở Trung cho nên quan Bắc cũng chỉ là viên chức của ông Thống sứ, chưa kể toàn hệ thống cũng chỉ mang dáng dấp quản trị hành chính là căn bản, dưới quyền những ông Công sứ đầu tỉnh, và nằm ngoài cả hệ thống cai trị mới về kinh tế, tài chính, thương mại&#8230; của người Pháp đăt để.</p>
<p>Tình hình cai trị như thế khiến cho người dân ở tầng cấp thấp trong xã hội, ở vùng đất cách xa các thành phố, thị trấn – điểm mới của thời thuộc địa, còn giữ lại những tâm tình, sinh hoạt truyền thống mang tính chống đối chính quyền, ngay trên cả những đổi thay mà họ hưởng thụ trong thời mới, dù muốn hay không. Cho nên các tập họp chống đối được Sở Mật thám Đông Dương ghép chung vào nhóm từ “hội kín”, thật không oan uổng, vì mang dạng thần quyền và có khuynh hướng thần quyền đủ cung bực. Cơ sở của hội kín không đánh mất trong thời gian khai triển qua nhiều danh xưng, là từ các nhóm Hoa dân lưu vong, nổi bật là Thiên Địa Hội có pha thêm màu anh chị của tập họp thành phố, thị trấn mà cũng lộ ra hơi hướng biển: hải tặc. Chính dạng đề kháng văn hoá nằm trong các cuộc vận động độc lập đã có sức mạnh đáng kể, khiến cho những hình thức kết hợp kiểu “Pháp Việt đề huề” đã bị đẩy về phía phục vụ thực dân đế quốc, không chừa lối cho những vân động tiến về phía văn minh mới mang tính công khai, vốn chỉ được coi là những ép uổng về phía người cai trị khác màu da. Các phong trào Cần vương, Văn thân giương cờ Bình Tây đi theo Sát Tả, với ý thức giữ lại ông vua của khuôn mẫu quá khứ (với dạng quá khứ ám ảnh, có lúc là loại trừ nhà Nguyễn). Những người phản kháng coi sự khai thác thuộc địa là hành động tội ác của đế quốc đối với dân nước, dù rằng có khi họ chống đối chỉ vì họ không muốn thay đổi, vì sự đổi thay đem lại bất lợi cho họ. Mọi ý thức bảo thủ, thù hận được bào chữa bằng tiêu chí cao nhất: giành độc lập cho Tổ quốc. Cứ thế mà tinh thần ái quốc được nâng đỡ mạnh mẽ trong vô thức, cùng lúc với một ý thức kì thị Di Man còn sót lại, qua thời gian được làm mới, giấu kín dưới những dạng hình khác.</p>
<p>Con đường giành độc lập là con đường lấy lại bản thân, nhưng dù sao cũng phải bao gồm những nhân tố mới được tạo thành theo với thời gian chung đụng giữa bị trị và thực dân. Sự kết hợp ép uổng khiến quá khứ được dựng dậy, tô vẽ thêm từ cả hai phía. Trong những lời than vãn kêu khóc của Phan Bội Châu có nhóm từ “con Rồng cháu Tiên”, “con cháu Lạc Hồng”&#8230; gợi được sự cách biệt với hiện tại tủi nhục. Lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc chưa phải e dè nhắc nhở nên Bà Trưng, Bà Triệu&#8230; được gán ghép với nhân vật ngày nay để có nhân vật Ấu Triệu của cụ Phan đưa ra so sánh. Trên vùng biên giới có Nguyễn Ái Quốc / Hồ Chí Minh vấn vương câu chuyện Sách ước của thần Tản Viên, đăt vài câu vè về vua Hùng, rồi sẽ là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt cho thế hệ nghiên cứu cổ sử nước nhà vào thời độc lập. Nhưng người Pháp cũng đâu có chịu kém.</p>
<p>Khung trí nhớ của con người vẫn thường là ngắn cho nên trong khi Ngô Sĩ Liên đem Hùng Vương vào sách, đặt vào phần Ngoại kỉ là để “dĩ nghi truyền nghi”, thì các sử quan của Tự Đức lại chỉ bắt đầu từ quyển sách có quá khứ 300 năm đó, viết bởi các danh thần dưới đời một ông vua của tột đỉnh văn minh, để coi sự hiện diện của ông Quốc Tổ là đương nhiên, không thể bàn cãi. Họ không thắc mắc sao ông Quốc tổ chỉ có một tên kèm với các thứ hạng ngẫu nhiên 3, 6, 18, cả tình cờ ngớ ngẩn: 13. Có chịu khó thêm trâu ma rắn thần thì bằng lòng với hai thuỵ hiệu từ Nguyễn Bính vẽ ra (1572). Thế mà với người Pháp chịu o bế dân thuộc địa thì sẽ có tên đủ 18 ông vua. Chỉ vì với nhu cầu cần cứu Mẫu quốc, họ đã cho con rồng An Nam uốn mình phun bạc Đông Dương, đem so sánh hình ảnh chiếc phi cơ của “quan ba tàu bay Đỗ Hữu Vị” như con Rồng văn minh phun lửa giết bọn man di Nhật Nhĩ Man! Cần nâng cao uy thế triều đình cũ trong lúc lực lượng giữ thuộc địa phải căng mỏng vì ảnh hưởng trước/sau Thế chiến I, người ta cho xây dựng đền Hùng Phú Thọ, đặt ngày lễ 10 tháng 3 âm lịch (1917) cũng như tổ chức biểu diễn tế đàn Nam Giao (1917)&#8230; Ngày sau Tổng thống Ngô Đình Diệm không chịu có ngày Quốc lễ 10 tháng 3 âl. hẳn là vì ông cựu Thượng thư biết cái ngày đó có gốc tích từ đâu mà ra. Thế chiến II với phong trào thể thao Ducouroy, có các khẩu hiệu “(Cần Lao, Gia Đình) Tổ quốc” của Thống chế Pétain cũng gợi sự bao dung cho đất nước An Nam, có các tranh cổ động khắc cảnh cạu bé Đinh Bộ Lĩnh tập trận cờ lau với nhóm trẻ mục đồng Hoa Lư thổi kèn tây, cảnh Trần Hưng Đạo phá trận Bạch Đằng, Hai Bà Trưng báo thù chồng, Bà Triệu cưỡi voi bành vàng nghênh ngang như Bà Thánh Jeanne d’Arc phất cờ! Thế là đủ cho Tản Đà than vãn “nước bốn ngàn năm”, cho phong trào Hướng Đạo nói chuyện Lễ hội đền Hùng, và tập thể tác giả Hoàng (Huỳnh) Mai Lưu nổi lên với những bài thơ nhạc yêu nước ồn ào ở Hà Nội, mời gọi dân Nam Kì đi thăm đất Bắc. Đây lại là thời điểm khởi đầu cho ý tưởng huênh hoang về nguồn gốc dân tộc xuyên qua hai luồng quen thuộc, một của nhà nước như sẽ thấy với chính phủ Hồ Chí Minh, và một của cá nhân Kim Định với thuyết Việt nho, đã phát triển ra ngoài nước với người di tản, và thật ngược đời, được giấu diếm ngóc đầu dậy trong nước không người cản trở, đã xuất hiện trên giảng đường Đại học tạo nên phe nhóm khoa bảng, trên tạp chí chuyên ngành phồn tạp&#8230; khó cãi, vì mang một chừng mực đồng dạng với thời đại, với của nhà nước.</p>
<p>Quá khứ trở về trong tâm cảm những con người mới sẽ dẫn dắt hành động cứu nước trượt dài trong vô thức trên vết mòn cũ. Rõ ràng người dân thuộc địa thấy tự mình không đủ sức chống đối với kẻ cai trị. Phan Bội Châu đã làm một thứ Thân Bao Tư khác, một thời gian ở Nhật. Phan Châu Trinh cũng phải vịn vào Hội Nhân Quyền và cả sự bao dung của viên chức thuộc địa. Các đảng viên cộng sản Việt núp bóng đảng Cộng Sản Pháp, và Nguyễn Ái Quốc đi Liên Xô, để cuối cùng khởi đầu danh vọng vang lừng trên biên giới Trung-Việt! Trong sự dẫn dắt của một chủ nghĩa cho là của tương lai, người cộng sản Việt hiểu qua sự hướng dẫn của vang vọng quá khứ về một chủ nghĩa đại đồng mới học từ phương Bắc, thế là hình ảnh di man chống đối, đã và sẽ trở lại trong đầu óc khi họ nắm chính quyền, với những cán bộ trong nước hay trở về nước, lún sâu vào khung cảnh và nhân tâm “truyền thống” được đề cao trong chiến đấu. Và như đã thấy, chiến đấu đến mức độ làm rúng động thế giới chỉ vì có sự phối hợp của chủ nghĩa dân tộc mang tính kì thị di man không khoan nhượng, và ước vọng xoay đổi thế giới đầy kiêu căng, có sự tiếp sức nhân lực, kĩ thuật của một thành phần nhân loại không nhỏ. Nhưng tiến trình chiến đấu không phải là không tạo ra những xoay đổi khác chực chờ. Các nhà lãnh đạo kháng chiến, từ địa vị những tù nhân, nhân viên cấp thấp thuộc địa&#8230; lúc đầu chỉ lấy niềm kiêu hãnh cứu nước làm điểm tựa chiến đấu, qua thời gian có yểm trợ vật chất, tinh thần vượt biên giới, chống đối được với những thế lực to lớn nên tự nâng tầm ước vọng cao quá khả năng lúc chưa vay mượn, để không lường trước được sự hụt hẫng hồi sau. Nhưng dù sao thì chiến thắng cuối cùng cũng đưa Việt Nam vào quyền lực không tranh cãi của tập họp Đảng được xây dựng bền chặt qua chiến tranh, theo với tính chất của tổ chức, lại dồn vào một tập nhóm nhỏ tạo thành qua chèn lấn tranh chấp hay thoả thuận chia chác với nhau.</p>
<p>Trở về với truyền thống dân tộc là nhắc nhở một quá khứ Việt Nam chia xẻ văn minh Á Đông với chủ thể Trung Hoa mà cũng là quá khứ chịu luỵ, có khi chịu nhục vì người khổng lồ phương Bắc đó. Về mặt lí thuyết, người Cộng sản Việt hiểu các ông Mác, Ănghen, Lênin như là anh học trò nhỏ đọc tiếng Tây! Muốn dễ dàng hơn thì cứ nhìn người bạn Trung Quốc mà làm. Cũng là lặp lại, giống như những người lớp trước họ học Mạnh-đức-tư-cưu, Lư-thoa qua <em>Tân thư!</em> Cho nên ông Đặng Xuân Khu lấy tên Trường Chinh khi làm Tổng bí thư, đeo đuổi Cải cách ruộng đất, không bỏ tên đó đến khi chết, kéo theo cả một tầng lớp người không bỏ lí thuyết xã hội chủ nghĩa theo ông hiểu, cho đến khi thấy “không đổi mới là chết”, nghĩa là chỉ đổi thay khi thấy phải mất bản thân, mất công lao thu tóm suốt cuộc đời.</p>
<p>Lại trở về với nội bộ dân nước. Khi các lãnh tụ khoe rằng chính “Đảng” đã lãnh đạo đất nước, với “nhân dân một lòng theo Đảng&#8230; đánh thắng bao đế quốc sừng sỏ” thì họ cũng có lí một phần. Về mặt dân chúng, ý thức cương cường chống đối người ngoại quốc đã che lấp được nỗi tủi nhục dưới sự áp bức của người trong nước, chưa kể đó là thói quen ngàn đời trỗi dậy trước thực tế phải chịu đựng dai dẳng. Bởi vì suốt thời kì thành lập nước từ 1945, chỉ có Đảng Cộng Sản với nhiều tên đổi màu da cắc ké, mới là kẻ điều hành đất nước, có số đông dân chúng ủng hộ và tuân phục. Nếu muốn sử dụng ngôn từ chính trị của họ, thì chuyện các đảng, các mặt trận, hiến pháp, chính phủ&#8230; học từ hồi chịu làm dân thuộc địa, nghe từ đám dân của các “chế độ thực dân kiểu mới”, từ khách vãng lai tình cờ đưa đẩy, từ người đi xa đem về như một thứ quà kiến thức, tất cả có được thu dụng cũng chỉ là những hình thức chiến thuật trên con đường tiến chiếm và giữ gìn quyền lực của Đảng mà thôi.</p>
<p>Vẫn phải nhắc chuyện ông Trần Độ từ chiến khu trở về, trông thấy dân chúng từng che chở ông lại khúm núm trước y quan con người cách mạng, nay là quan chức nắm quyền. “Đảng xuống lịnh&#8230;”, “Bác” đã “nói”, đã “dạy”&#8230; cho thấy con người thuần phục ngàn năm cũ đã trở về, dễ dàng chịu tuân thủ bởi vì chính người ban phát chân lí, nắm vận mạng họ là người của dân tộc, mang phần tâm tính xưa cũ như của đất nước hồi nào. Nghĩa là, nếu mơn trớn vỗ về thì cũng đủ ngọt ngào viện dẫn mà trở mặt quyền uy thì không có sấm sét nào hơn. Tận xa cùng phía nam, người ta nghe Đảng xuống lịnh khởi nghĩa, che giấu thằng Tư, anh Ba (nguyên thứ bực hội kín) Uỷ viên&#8230; Đảng trong hầm bí mật sau hè, và cũng từ chối ruộng chia “Của người ta ai lại lấy kì dậy” từ những người “du côn” đồng chí của ông Bộ trưởng Ung Văn Khiêm, nhưng chống đối mất đất thì có xúm lại tự thiêu tập thể như 12 tăng ni chùa Dược Sư ở Phụng Hiệp (Cần Thơ, 2-11-1975), cũng không ai đoái hoài! Tính chất “du côn” thành thật thú nhận kia, được áp dụng tiếp trong cách hành xử giữ an ninh thời nắm quyền, trấn áp “phản động” để bảo vệ Đảng, tỏ lộ một dáng hình quyền lực lạ lùng, khác biệt với của thời văn minh hiện đại, vì thu tóm cả hai mặt: chính quyền công khai và thảo khấu. Những người kia chết đi để khỏi nghe lời Mai Chí Thọ bảo thẳng Thích Quảng Độ (đại khái): “Theo chúng tôi thì cái gì cũng được hết, mà chống đối thì chỉ có chết mà thôi”. Lời nói chứng minh bằng việc cô lập Trí Quang, lưu đày Huyền Quang, để ông cựu Tăng thống này chết mòn trong chùa nhỏ trong khi đăng cai tổ chức tưng bừng Lễ hội Phật giáo thế giới có một cựu thiền sư tử tù cũ của Đảng chủ trì, và với tiền bạc thời mới khoa trương bằng hệ thống chùa Bái Đính không thể nào hoành tráng hơn.</p>
<p>Sự nhẫn nhục chịu đựng của người dân từ thực tế sát thân phải đối phó, được vuốt ve bằng những lí tưởng cao vời che lấp tủi hổ, trở thành thói quen của một nếp sống có quá khứ tiếp tay như thế, đã khiến người bên ngoài không hiểu nổi. Các đảng viên cấp thấp không hi vọng gì nhiều với thành quả thấy ở người trên cao, chỉ có chút ảo tưởng được dặn bảo là thành phần ưu tú của dân tộc, mà thực tế phải chịu đựng là những kềm kẹp của họp hành thúc bách, học hành vẩn vơ, phải sống theo mẫu đạo đức giai cấp, dân tộc gì đó với những màn phê bình khắc nghiệt, dai dẳng thế mà vẫn tỏ ra là thành phần cốt cán giữ yên xóm làng, phường khóm&#8230; trong từng động tĩnh khuất lấp hàng ngày, hay dàn ra đường phố trong tính “nhân dân” khi cần biểu dương lực lượng: “Biểu tình là việc của nhà nước&#8230; Đã có Đảng lo&#8230;” (tháng 6-2011). Khung trời kiến thức, tâm ý của họ chỉ có một tổ chức được gọi là Đảng, phải được tuân phục và bảo vệ, không thể là thứ gì khác. Cực nhọc không đủ bù với sự che chắn mỏng manh của Luật Bát nghị thời đại mới, đặt riêng họ làm thành phần không phải chịu pháp luật chung – họ chỉ phải ra toà sau khi bị khai trừ Đảng. Thế mà họ cũng không tìm cách vượt thoát, chỉ vì ngay bên ngoài cái khung đó là cả một thế giới xa lạ, không dung chứa họ, mang tính đe doạ còn hơn khung cảnh cũ nên họ an tâm lặp lại những điều được dạy bảo, ít ra là trong những buổi hội họp, ở chốn đông người. Hội-kín-Đảng của thời mới không mất tính chất thần thánh cũ bởi vì đã có Đảng, Tổ chức viết-hoa, thay thế cả ngay trong những khẩu hiệu không giấu diếm: Mừng Đảng, mừng Xuân / (Ba/Năm/Bảy mươi năm) đời ta có Đảng&#8230; Vị thế đó cho phép người lãnh đạo coi việc hưởng đăc quyền là đương nhiên, còn người dưới cũng không thắc mắc. Quyền uy làm cách biệt người lãnh đạo với dân-chúng-không-phân-biệt khiến cho không thể tái diễn câu chuyện thần tiên ngày xưa về anh Văn Ba nhờ cậy Toàn quyền Đông Dương can thiệp khi Khâm sứ Trung Kì không tìm ra người cha Phó bảng lưu lạc để chuyển lương thuỷ thủ của anh! Cho nên không lấy làm lạ rằng tính chất kềm kẹp của thời hội kín đi theo chiến đấu, chiến thắng, khi mở rộng đến tầm mức quốc gia trong liên hệ với thế giới, đã khiến cho đất nước mang nếp sống bình lặng một cách khủng khiếp lạ thường.</p>
<p>Đảng lãnh đạo đã thành công. Trong quá khứ, người ta quen với học vấn phương Tây, thấy có những hành động chính trị xoay đổi liền nhắc đến Machiavelli với tiêu chí rút gọn: Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Cũng như, chịu ảnh hưởng macxít mà không biết, người ta cho rằng cứ để Đảng đổi mới kinh tế thì sẽ có biến chuyển chính trị theo kiểu “huỷ thể”&#8230; Rốt lại ảo tưởng cho rằng tầng lớp tư sản tạo ra trong đổi mới kinh tế sẽ làm đổi thay đường lối của Đảng đã không xuất hiện, vì các lí thuyết gia không tính được rằng ở phương Đông ngày xưa, quan lại và thương nhân có chèn lấn giành giật là để chia quyền, thủ lợi chứ không huỷ diệt nhau, trừ phi động đến quyền lợi căn bản. Thương nhân làm giàu, đút lót, mua ruộng rồi cũng cho con cháu học hành đỗ đạt làm quan, bóc lột thế hệ tiếp theo chứ không lo kiến thiết một xã hội tư bản! Với thời mới, họ đã tìm ra phương thức Quốc doanh để nắm chắc lợi và quyền, lớn và vững hơn cả người xưa. Cả khi các cơ quan truyền thông chịu nghe lời “một Tổng biên tập”, tuy có phần là theo phép tắc “dân chủ tập trung” nhưng phần khác, thật ra họ cũng thủ lợi phía khác qua những hình thức kinh doanh bên lề, phối hợp uy thế từ ngành chính hiệu. Các lãnh tụ Đảng đã hành động như người thuộc sách vở Xuân Thu Chiến Quốc, của những kẻ ngày xưa tìm cách tiến thân với bất cứ giá nào, với bất cứ ông chủ nào, không chừa sự giẫm đạp lên bất cứ tiêu chuẩn đạo lí thông thường nào. Đúng ra thì nhìn trình độ học vấn khi xuất thân của các lãnh tụ, ta thấy chắc họ cũng không thuộc lịch sử của giai đoạn tranh chiếm Tiên Tần kia nhưng với với mớ kiến thức Thành chung, Tú tài Pháp họ cũng có thể vận dụng hiểu biết từ trong gia đình khoa bảng, theo truyền thống kể “truyện xưa tích cũ”, để đem ứng dụng vào đời sống chính trị những giai thoại nghe được từ sự tranh chiếm địa vị Tướng quốc của các Tô Tần, Trương Nghi, Thương Ưởng&#8230; Thêm vào đó là những cách ứng xử mưu mô ranh vặt nơi chốn đình trung, xóm làng ẩn khuất, được nâng cấp khi phải đối phó trốn chạy người cai trị, chuyển qua tình trạng chống đối ngang hàng có thời cơ hiếm hoi, đã đưa họ đến thành công.</p>
<p>Lề lối tiến thân mang tính hội kín (dù không được thừa nhận) của Đảng làm nảy nở ra những chuyện thâm cung bí sử thời mới, dụ khị hay doạ dẫm phổng tay trên tình nhân của lãnh tụ, những chuyện con rơi con rớt, con bất hợp pháp mà hợp pháp lộ ra ở tình trạng nối nghiệp khác họ mà đồng tông, chuyện chèn lấn tranh đoạt đưa người lên tột đỉnh quyền hành, đẩy người đến chỗ sa cơ thất thế, loại trừ tàn nhẫn, di hại đến đời sau, như khi con cái ngoại hôn của Lê Duẩn lo sợ cho an ninh bản thân lúc ông Tổng bí thư qua đời. Sự việc nổi bật lên khi có sự đối chiếu liên quan đến vùng sinh hoạt. Gia đình ông Lê Đức Thọ phải lo lắng giữ vệ sinh cho mả ông Trưởng ban Tổ chức Đảng trong khi anh em ông Diệm, Nhu vẫn lặng lẽ yên nghỉ trong nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi râm mát trước khi bị cậu bé Lê Văn Tám huyền thoại của phe chiến thắng đuổi đi.</p>
<p>Tính khép kín riêng biệt đã đem lại sự hạn chế về kiến thức cần thiết cho việc lãnh đạo. Từ bí thư tổ Đảng, thôn xã, khóm phường (trùm nhỏ) lên bí thư huyện, bí thư tỉnh (đã là trùm một phương), lên tột đỉnh (Tổng) bí thư nước thì con đường thu nhận kiến thức hẳn là không nhiều nhặn gì mấy. Không lấy làm lạ là vẫn thấy xuất hiện trên cấp bực quốc gia những cách hành xử xa lạ với thế giới hiện đại nói chung. Với thời đại thống nhất yên bình thì tình hình kia cũng có phần không thể nào khác hơn những lúc thăng quan tiến chức của thời xưa. Một bộ phận lớn cán bộ vẫn là những ông quan trầy trật trên bước thang danh vọng, chừa chỗ cho bậc cuối cùng, với chữ nghĩa thời đại là tuân phục tính chất Dân chủ tập trung. Nói như lời thú nhận thực thà của ông cựu Trưởng ban Khoa Giáo Nguyễn Khoa Điềm: “Có chi mô!” khi được hỏi về tình trạng tiếp thu kiến thức bên ngoài ở nhóm người lãnh đạo cao cấp. Ông bí thư Phú Yên trong thời kì hơi đổi mới, có chút áy náy liền chịu núp bóng làm nhân viên một phái đoàn thương mại được mời đi ngoại quốc, và bị báo chí (Đảng) móc moi, chê trách. Đó là bằng chứng về một người lãnh đạo tự nhận ra sự xa rời với thế giới bên ngoài nhưng quyền lực độc tôn của Đảng đã không cho phép bên ngoài chỉ dẫn, dù là sau đó thì ra tay thực hiện, lúc trừng phạt xong tên phản động nào đã rủi ro lên tiếng.</p>
<p>Cho nên công cuộc Đổi mới sau 1975, tách rời cơn mê muội xã hội chủ nghĩa là của các lãnh tụ nhỏ phía Nam, nơi tiếp xúc với “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” ở Sài Gòn. Cuộc đổi mới được nhạo báng: “Lấy lại cái cũ bị thù ghét” thật ra là một cuộc đảo chính nội bộ, cũng cho thấy một tình hình khác của chế độ Đảng trị. Những người thực hiện đổi mới khởi đầu, khi nhớ lại, đã dùng ý niệm “phá rào cản”, “xé rào”, “đột phá tư duy”&#8230; nhẹ nhàng kể lể công tích muộn màng mà không dám tỏ ý phạm thượng đối với ông Tổng bí thư Lê Duẩn còn ngồi đó, nhăn nhó “không muốn nghe chuyện khó khăn, tiêu cực&#8230;” cùng với ông Tổng bí thư nhiều lần khác, Trường Chinh, được dắt tận tay, chỉ tận chỗ thành quả đổi mới lén lút để thuận tình không trách phạt bóng hình ông Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phú nữa&#8230; “Công trình sư” đổi mới thật ra là các chuyên viên VNCH cũ, những người ra Bắc nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhắn nhủ: “Ra chơi thôi chớ đừng bắt chước họ (?) làm bậy, dân rên lắm!” (Không biết ông Thủ tướng làm việc gì ở chức vụ đó?) Đổi mới đúng là làm lén, trái với nghị quyết của Đảng, vi phạm pháp luật nhà nước, vậy mà được tiến hành. Đây là một chứng tích về lề lối cai trị mới, xuyên suốt của Đảng trị, có khi lại được coi là thể hiện sự linh động, sáng suốt của Đảng, mặc kệ những tác hại trước đó. Thế nhưng không phải ai trong Đảng cũng “phá rào” được. Thành uỷ Hồ Chí Minh có thể đem ghe thuyền ra điểm zero trên biển nhận hàng mua lén qua tay thương nhân Chợ Lớn, Hongkong nhưng huyện uỷ Bình Đại (Bến Tre) làm vậy thì bị cảnh cáo, còn tỉnh uỷ viên Minh Hải buôn bán lén với Lào chỉ bị tù treo trong lúc cựu dân biểu Dương Văn Ba của VNCH, cố vấn chui, bị tù chung thân, không nói ra nhưng chắc với tội âm mưu phá hoại chế độ XHCN từ bên trong! Vì Đổi mới phát sinh trong tình trạng bất đắc dĩ như thế nên con đường hội nhập của Việt Nam vào thế giới mới thật là khó khăn, cực nhọc, quanh quất có khi đến mức độ kì quái&#8230;</p>
<p>Một chút thời gian bị bắt buộc lạc lối – 80 năm không là gì so với 1 000 năm – vẫn phải để cho người ngoại quốc, gần nhất lại là một nguời gốc Hoa (Li Tana), nhận ra tính khác biệt của Đàng Trong để cho lịch sử Việt Nam mang tính dồi dào sinh đọng hơn, trong khi sử gia quốc nội vẫn nhiệt thành theo hướng dẫn của nhà cầm quyền tuyên xưng vương hoá Kinh Việt, nói về một tính dân tộc đơn sắc, vẽ vời thêm với ông Quang Trung phía Nam, có tiên cảm về sứ mạng thống nhất đất nước, chống xâm lăng! Mà sự hãnh diện chiến thắng rồi cũng phải tàn lụi nhanh chóng với sự đe dọa dẫn đến chiến tranh trên biên giới phía Bắc, với sự lùi bước ở Kampuchia có 180 000 quân sa lầy ở đấy, dù vẫn với cách thức can thiệp từ trên chóp bu chính quyền nước sở tại, như việc bắt Tổng bí thư được dàn dựng Pen Soven nhốt ở nhà cầu Tổng Y viện Cộng hoà (cũ), giống y Minh Mạng cho bắt Công chúa Ang Mei / Ngọc Vân xưa!</p>
<p>Thế mà khi Đổi mới “thành công” người ta lại quên những khích động khác, cứ tưởng là không ăn nhập gì với sự phủ nhận tính chân lí của chế độ vốn được cho là nền tảng của chiến thắng vừa qua. Phong trào vượt biên đem lại cho từ điển thế giới nhóm từ Boat People / Thuyền Nhân, với thảm cảnh ăn thịt người (1982) vang vọng vào văn chương (Elisabeth D., <em>L’Ogre capitaine, petit roman pour la jeunesse </em>1987) không phải chỉ là “vì Chính phủ không lo được cho (dân Miền Nam) một li cà phê sữa mỗi buổi sáng” như lời ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tuyên bố. Sự đóng góp của thế giới để giải quyết vấn đề, những thùng hàng dồn dập gởi về Việt Nam dù được nặn bóp cả từ cây kem đánh răng, cũng vẫn là những tín hiệu giải đáp đến từ thế giới to rộng hơn cho những người cầm quyền “dân tộc” say đắm kinh sách mới, cứ tưởng có thể xoay đổi dân chúng, lịch sử theo ý mình bằng một thứ mê muội còn dư vang đến nay qua những lời huênh hoang về “tính cách dân tộc riêng biệt”, về “đường lối phát triển của riêng ta”, không cần biết gì đến những cách ứng xử hợp với thời đại chung. Li cà phê sữa buổi sáng ngày nay đã có không thể đến từ các tổ chức công hữu, hợp tác hoá là điều hiển nhiên được chứng minh.</p>
<p>Tuy nhiên Đổi mới, qua cơn lo sợ mất Đảng đầu tiên, lại cho những thế hệ cầm quyền tiếp theo thấy ra mình là một ông địa chủ lớn đến mức độ kinh hoàng, với quyền hành không ai tranh cãi, được làm chủ vài chục triệu mẫu đất rừng núi sông suối biển cả, mang giá trị tăng tiến tột bực trong giao tiếp với bên ngoài. Loại giá trị thặng dư đó của thời mở cửa đã sản sinh những tỉ phú kinh doanh địa ốc, nháo nhào đào bới tài nguyên mà mù tịt sự tàn phá môi trường. Họ là lớp người vốn chỉ biết “đi làm Cách mạng”, sống thực tế bằng tiêu chuẩn phân phối của binh trạm hay hợp tác xã mà được nuôi dưỡng với lời kinh nhật tụng “Đất nước ta rừng vàng biển bạc”, nay hiển nhiên lại thấy rừng biển rơi vào tay&#8230; Thế là với danh nghĩa phát triển, họ cho thuê trên rừng khuất lấp không màng đến an ninh tổ quốc, dụ hoặc đồng thời với cưỡng bức theo cung cách đánh/đàm đắc thế trong chiến tranh, để giành đất với nông dân, tạo ra khuất lấp vô vàn vụ Ninh Thạnh Lợi (1927) của thời mới, mới nhất là vụ Tiên Lãng (Hải Phòng 1-2012), hay sắp xảy ra với các nông dân Nông trường Sông Hậu, sau khi lãnh đạo dọn đường kết tội nhân vật khai sáng cũ để chuẩn bị bước thu hồi cuối cùng.</p>
<p>Cai trị tất nhiên phải cần đến trí thức. Ngoài những trí thức xuất thân cựu thuộc địa, được ca tụng vì nhu cầu dàn mặt chính trị mà không làm gì hơn với cái chức tượng trưng, cũng có những trí thức góp phần vào kháng chiến ở những vị trí cần thiết cho chiến thắng có các tay thư lại mới đua nhau tô vẽ, bốc cao hơn thực tế rất nhiều. Đã nói, trí thức Việt từ bản chất, thành phần xuất thân, mãi mãi chỉ được coi là tay sai. Dù là với thời mới được nhẹ nhàng ghép theo lời thân thương: Con em Công Nông, họ vẫn phải được chỉ bảo tận tình đến từng cách viết văn, lí luận, làm việc nghiên cứu&#8230; trong một khuôn khổ chỉ định có lúc không cần giấu diếm. Chưa đủ cho người cầm quyền, cả từ địa phương, xác định tính chất “phản động” của một tác phẩm, kết tội “tiết lộ bí mật (lịch sử) quốc gia” của một nghiên cứu, người ta còn muốn làm luật để duy trì kỉ cương. Chút văn từ “phản biện” được trí thức thời mới dùng để rửa mặt cho tầng lớp mình vẫn không được vượt quá lằn mức “cãi lại”.</p>
<p>Nhưng vẫn phải cần đến trí thức mà không có cách nào khác hơn, là lấy lớp trí thức được Đảng ra tay đào tạo để cai trị, vì không thể nghe lời Lí Quang Diệu cho các công thần về vườn được. Họ là cả một thế giới làm nên chiến thắng, đủ sức đe doạ cả Lê Đức Thọ khi ông “lệch hướng” tán thưởng bài thơ “phản động” của Phạm Thị Xuân Khải, dám chê bai hiện thực (1986). Thế cho nên có những lớp học bổ túc, tại chức với những chuyện khôi hài cười ra nước mắt trong thời kì còn vướng víu tinh thần nhạo báng, nảy nở bởi quá khứ VNCH chưa phai lạt để có điều so sánh. Rồi cũng qua, để tới lớp người mới nữa của các trường Đại học, Cao đẳng chuyên môn mở ra theo nhu cầu “ra biển lớn”, theo sự cần thiết ghìm giữ tình trạng thất nghiệp của thanh niên vào trường học, cả từ nhu cầu địa phương cạnh tranh mở trường lấy danh, nhận tiền phân cấp của trung ương hay chia phần từ các trường dân lập rồi tư thục rối mù, đến mức cả thứ trưởng cũng chen vào cướp đoạt.</p>
<p>Người ta than vãn về tình trạng xuống cấp của giáo dục nhưng với loại giáo dục “cơm chấm cơm” của Miền Bắc vào Nam sử dụng giáo trình 3, 40 năm cũ rồi tiếp theo, của các nhà giáo VNCH tự nâng cấp cho bắt kịp đời mới “làm giàu” mà vẫn còn thấy hãnh diện có lí, thì không thể nào khác được. Nó chỉ là tình trạng Việt Nam hoá / “dân tộc hoá” / “bảo tồn truyền thống dân tộc” sau chiến tranh chống đối ngoại xâm, thế tất phải kéo theo dạng phủ nhận văn hoá từ phía kia tuy không thể dứt bỏ được. Trí thức Miền Bắc bị bó rọ trong quan điểm duy vật lịch sử pha chế tinh thần dân tộc vốn không có nhiều sách vở bên ngoài, nên khi vào Miền Nam tiếp xúc với tài liệu mới – dù là qua bản dịch, tha hồ vồ vập như khi ba hoa về cấu trúc luận, ngập ngừng với lí thuyết hiện sinh chính tông. Tiếp xúc với lập luận khác trong khi thực tế bào mòn lối văn từ cả vú lấp miệng em, người ta lặng lẽ quên chuyện Quang Trung thống nhất đất nước rồi nhường bước cho Nguyễn Ánh mà còn giữ sĩ diện cho tập thể chiến thắng, với vai trò người anh hùng ưa thích dọn đường cho tên vua phong kiến thừa hưởng vinh quang. Thế rồi, chỉ vì chìm ngập quá lâu trong sự theo đuôi, chưa từng nghĩ đến chuyện sáng tạo, người ta lại giấu diếm “làm mới” cả những loại kiến thức tồi tệ của Miền Nam như lí thuyết Kim Định mà không thấy ngượng ngùng&#8230; Tư tưởng dân tộc quá khích từng được thúc đẩy trong chiến tranh nay có thêm đà nở rộ đến tầm mức quốc gia mà không mặc cảm, vì thêm những dạng hình tân tiến có tiền bạc ngập tràn bào chữa: phong thuỷ, ngoại cảm và các hội hè đình đám thúc đẩy bởi các đồng ngoại hối du lịch, che lấp nguyện vọng thăng quan tiến chức đưa đẩy với cõi thiêng liêng. Con đường “tìm về dân tộc” trong ước mơ, thực hiện bằng súng đạn rốt lại vẫn có một chút gì giông giống với thế kỉ XIX.</p>
<p>Rồi cũng giống như thời Đàng Cựu, giống ông quan, nhà khoa bảng có danh phận trí thức Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng, kể cả có lúc là Trạng nguyên&#8230; ngoài việc vặn vẹo câu cú trong trường thi, chết đi giỏi lắm là để lại các sáng tác dạy con cháu, điểm vài bài thơ, câu đối thù tạc, đưa tiễn, điếu tang&#8230; Cái làng nhàng kiến thức đó xuất hiện lại ở thời đại ngày nay, với những dự định khoanh vùng to tát lập bia Tiến sĩ thời hiện đại, bị la ó nhưng vẫn là ước mong của những nhà lãnh đạo thủ đô Hà Nội mở rộng để cạnh tranh diện tích với Thành phố Hồ Chí Minh mà thu hút đầu tư, nâng mặt bằng giá trị đất đai. Và cũng đủ cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thấy mình có dân khoa bảng điều hành qua chủ trương “chuẩn hoá” lập “khung cán bộ có bằng cấp tương đương chức vụ”, nên giải tán nhóm Cố vấn của các thủ tướng trước, và ra lệnh kiểm soát các tập họp trí thức ngoài luồng. Một Viện Cơ mật của thời mới cũng là đủ rồi. Không kể đến hơn 600 tờ báo và các cơ quan truyền thông khác, sự thụt lùi thảm hại của tờ báo <em>Tuổi Trẻ (Tp. Hồ Chí Minh) </em>là minh chứng cho thế hệ sôi nổi sau chiến tranh được đi vào “định hướng” dân tộc, định hướng “xã hội chủ nghĩa” khiến cho một người con của Lê Duẩn, dù được hưởng ưu thế, cũng phải lên tiếng phàn nàn. Và do đó, thành phần thiểu số chính trị, tộc đoàn, lại có phần cũng như ngày xưa, đi tìm vây cánh, tìm sự an ủi tinh thần ở đạo giáo, khuất lấp trong nước với nhóm Hoà Hảo không quốc doanh, với các ông đạo mới kiểu Ân Đàn Đại Đạo / Hội Đồng Công Luật Công Án Bia Sơn vừa bị phác giác (5-2-2012), với sự tiếp nhận các tông đồ của Thanh Hải Vô Thượng Sư từ Mĩ không còn xa lạ, và những người tu theo Pháp Luân Công từ Trung Hoa quen thuộc, vẫn thấy tập luyện lẻ loi an lành trên công viên Tp. Hồ Chí Minh khi không có lệnh ra toà, chắc là để vừa lòng đàn anh&#8230; Nhưng với thời thế mới thì ước vọng ít tuyệt vọng hơn, là ở người xa: Tin Lành, Công Giáo, báo hiệu một sự dồn nén nổ bùng mới. Có sự “trở lại đạo” của những người chống đối, có sự bền bỉ tìm ơn phước không thấy ở đời này của những tập nhóm dân tộc thiểu số bị bỏ rơi&#8230; Và tuy đã thấy có những “thắng lợi” khuất lấp của giáo dân vài địa phương, có những buổi cầu nguyện hiệp thông với nạn nhân tranh đấu do nhà thờ tổ chức nhưng Đảng vẫn còn vững vàng qua các biến động ở Hà Nội, Đà Nẵng&#8230; buộc được Giáo hội Công Giáo địa phương lùi bước bằng những nhóm “quần chúng tự phát”, đối chọi với bổn đạo thời mới “vác thánh giá” chờ chực làm Thánh tử đạo cho ngày sau.</p>
<p>Tính<em> nhất thể hoá,</em> nói theo lối văn minh của chủ trương Đảng trị trên đường tìm kiếm sự đồng nhất Đảng và Nhà nước, càng lúc càng đạt được đỉnh cao để Đảng vượt qua những khó khăn, nhấn chìm những đổ vỡ khác. Đất nước thông thương với thế giới, dù lẹt đẹt đàng sau cũng hưởng lây được tình trạng phát triển chung, để người dân chịu bằng lòng với cuộc sống khi không có cách nào thoát khỏi sự hướng dẫn chung. Sự đồng tình thụ động đó làm thui chột những bất bình, ngăn cản tiếp viện cho những phản đối vốn là thường tình ở những xứ sở khác. Sự đè nén chính trị có chuyển qua các bất ổn xã hội thì người dân vẫn chịu đựng được, vì “đã quen rồi”. Một bộ phận lớn dân chúng chưa quen phải phủ nhận chế độ do chính mình nồng nhiệt tạo dựng hay được thừa hưởng thành quả từ đó. Trên phần đất còn nhiều khác biệt, với kiến thức thấp kém của người lãnh đạo không cần giấu diếm, người ta áp dụng phương thức tập thể lãnh đạo theo cách chia một chừng mực tự trị địa phương (dù có khi dẫn đến lộng hành) với các ông bí thư tỉnh là uỷ viên trung ương Đảng, với sự chia quyền trên cấp cao cho những người xuất thân từ các vùng miền lớn: Tổng bí thư là của Miền Bắc, Chủ tịch nước của Miền Trung (hay ở “phía Nam”), Thủ tướng của Miền Nam.</p>
<p>Điều thể hiện dấu vết quá khứ đó, dù có là một sự khôn ngoan chính trị thì cũng đè nặng lên đường hướng phát triển của quốc gia theo một cách thế không đáng hãnh diện mấy. Hai ông Chủ tịch nước từng tỏ lộ sự bất lực của mình, nghĩa là sự kém thế của địa phương mình: Tôn Đức Thắng (“Tao cũng sợ bọn nó”), Nguyễn Minh Triết (lặp lại lời thầy cò văn học ngớ ngẩn). Trương Tấn Sang như người tị nạn ở đất Bắc vì mắc cái rớp Năm Cam. Ông thủ tướng được lấy từ một vùng cho là có khuynh hướng phóng khoáng thì cũng không thoát khỏi những kềm kẹp của thực tế chính trị chung để lợi dụng thăng tiến cho bản thân. Có đem văn chương xu phụ rổn rảng ra kêu gào tình tự dân tộc thì cuộc chiến vừa qua cũng vẫn là thắng lợi của phần phía Bắc, đã đưa đến một tình trạng Nam tiến tràn ngập chưa từng có trong lịch sử, mang cả cây cối như cây hoa sữa nồng nặc “mùi thơm” trên các tỉnh Miền Trung, tràn lên Tây Nguyên, xuống đến Trà Vinh, lấn lướt khiến dân Nam Kì chịu phận đàn em mà vẫn ấm ức. Nghe Lê Văn Tám của địa phương bị đánh đổ để chứng minh cho tinh thần trung thực của sử học thời đại có Đảng mà không dám đề cập tới Phan Đình Giót, La Văn Cầu. Lũ “con cháu mấy đời hoang” không thường nghe nhắc “Ta nhớ người xưa, ôi Nguyễn Hoàng”, không thể đòi lại tên đường, tên trường đã bị Tổng Bí thư Trần Phú, uỷ viên Đệ Tam Quốc tế Lê Hồng Phong chiếm đoạt nên cầy cục vận động một phong trào Thế kỉ XXI nhìn lại Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, nhà Nguyễn&#8230; để có những tên trường nơi khuất lấp hơn, hay né tránh chen vào nơi ở mới những Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Phúc Nguyên&#8230; khá khuất lấp.</p>
<p>Sự tràn lấn còn đe doạ diệt vong cho cả những tập thể xa khuất trên Tây Nguyên, những người dù đã mất tiếng Man/Mọi/Thượng vẫn không được đối xử khá hơn. Những nhóm di dân 1954 vào các khu trù mật, dinh điền tuy làm nổi lên phong trào FULRO nhưng chưa đủ làm xáo trộn phần đất này như tình trạng không ai ngăn chặn được bàn tay Đảng sau 1975, lúc đầu với những cuộc di dân khai hoang vỡ hoá kiểu truyền thống: “Đấy, cứ vào mà chặt, bao nhiêu thì nhiêu , để lấy đất làm ruộng, trồng khoai”. Rồi văn minh hơn, với rừng cà phê đưa mức sản xuất chỉ sau Brazil, với mỏ bauxit đứng hàng thứ ba (?) trên thế giới. Tê giác tuyệt giống, voi nhà tàn tạ không có voi rừng kế tục mà còn bị săn đuổi cả những nhúm lông đuôi. Cồng chiêng bị đem ra rao bán dù cũng có những tổ chức hội thảo xin được bằng cấp UNESCO, thực hiện được tính cách vừa phô trương chính sách vừa thoả mãn tính hiếu danh truyền thống. Công thần các tộc thiểu số trong cuộc chiến được Đảng hoá, chỉ còn chờ chết để được ma chay rình rang.</p>
<p>Dấu vết sông Gianh với sự đoạt chiếm hai kinh đô sau 1975, tuy làm cho Huế ngỡ ngàng nhưng khiến “Miền Trung” chỉ còn là phía nam đèo Hải Vân thôi. Ông Võ Chí Công còn hãnh diện vì công tích vào sinh ra tử nhưng ông Trần Đức Lương quả là “đẻ bọc điều”. Sự phát triển của phần phía Nam, nhất là phần cuối chỉ có nghĩa là một sự cung phụng cho phần phía Bắc hãnh diện cố giữ “nếp nhà”, “truyền thống”, “tính dân tộc xã hội chủ nghĩa”&#8230; thực tế là ghìm phát triển nên cũng góp phần đẩy lớp di dân tự do, cuối thế kỉ XX tràn ngập các thành phố phía nam, hay lén lút phá rừng trên núi đồi phía tây. Vét cạn kiệt than đá ở Quảng Ninh cho Trung Quốc thì người ta cào bới bauxit trên Tây Nguyên, bùn đỏ có lan tràn thì ngập lưu vực Đồng Nai chứ không đổ xuống đồng bằng sông Hồng. Lập vài nhà máy nguyên tử (biết rằng) không an toàn thì đặt ở xứ Ninh Thuận của Chàm cũ chứ không trên đất Hà Nội để hưởng nguồn điện lực văn minh gần gũi. Cho mãi đến năm 2009, một chuyên viên còn cho thấy sự phân phối chênh lệch không che giấu về nghiên cứu (83/14 đề tài) dành cho các trường Hà Nội so với các trường Huế, Cần Thơ, và Sài Gòn, nơi được coi là hãnh diện mang tên người sáng lập đất nước hiên tại. Cả vùng đồng bằng Cửu Long cung cấp đến 90% lượng lúa gạo xuất khẩu mà không được hoàn trả đúng mức, khiến cho mực sống của dân chúng chỉ được đứng vào hàng trên vùng Tây Bắc (thượng du Miền Bắc). Việc điều chỉnh các quan điểm chính trị về nhân vật, sự kiện xảy ra ở phần đất phía Nam thật là chật vật, có khi phản ứng chống đối lại đùn đẩy cho thành phần kiên định bảo thủ ở địa phương cho có vẻ công bình, dân chủ mà thật mang tính chất quyết định nếu không có quyền lợi phía Bắc chen vào. (Ví dụ vấn đề nhà Nguyễn). Có phải đàn áp dân chúng thì việc thi hành ở phía Nam cũng thực hiện dễ dàng, suôn sẻ hơn vì vướng vất ưu thế chống “nguỵ” đâu đó. Chỉ nhìn vào tình hình biểu tình trong các tháng 6-8/2011 ở hai thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội là thấy dấu vết rơi rớt bạn thù ở nơi nào rồi. Có nghĩa là đường hướng điều hành lãnh đạo vẫn đến từ phía Bắc theo đúng vị trí dành cho Tổng bí thư. Cho đất nước giẫm trên vết mòn cũ được mở thành đại lộ thênh thang, tít tắp mù khơi.</p>
<p>Với thời mới thì sức mạnh vẫn có dáng dấp đạo lí kèm theo. Cho nên tuyên truyền về Hùng Vương cao rao từ ông Chủ tịch đầu tiên, được phụ hoạ khoa học đeo theo trống đồng Đông Sơn bao phủ khắp nước, với sao bản khu đền Nghĩa Lĩnh ở Đà Lạt, với các đền Hùng nằm ở các tỉnh, có khi cố gắng kèm theo đền Quốc mẫu Âu Cơ tận Đất Mũi Cà Mau, hình như là từ một miếu Bà Thiên Hậu của đám người Hoa phỉnh nịnh địa phương, khôn ngoan cầu đất sống! Các ông vua Hùng chính thức không những có thêm niên hiệu, mà 98 “lang” đầu tiên (Lang Liêu có tên rồi!) cũng được vẽ tên đẹp đẽ trong sách Bộ Giáo dục dạy thành phần lãnh đạo tương lai. Quốc tổ, Quốc mẫu đội mũ Đường tăng, ông vua Hùng ngự trong Kim Điện hoành tráng của khu vui chơi ở Bình Dương mang dáng truyện tích phim ảnh Trung Quốc (Lục địa, Hongkong, Đài Loan), có các nhân vật đứng đầu nước, không thiếu một ai, đến chiêm bái, gộp cả Đại sứ Mĩ M. Michalak như cầu chứng quốc tế. Với sự ép uổng chèo kéo, chắc là cuối cùng Phú Thọ cũng lãnh được bằng UNESCO để có sự chuẩn nhận là Đất Tổ của dân tộc. Vậy là bởi thiếu một lí thuyết chính trị mà chưa có thể bỏ giáo trình mac-lênin nhồi nhét cho học trò, đảng viên vì còn cần phải gắn bó với công tích mới đây, người ta mơ hồ xây dựng một <em>chủ nghĩa</em> <em>Huyết thống tập thể</em> cho tính chính nghĩa của thời thống nhất mới. Cho nên dù là hết chiến tranh, với những đầu óc mang đầy tính truyền thống địa phương như thế, con đường hướng về phương Bắc xa là dĩ nhiên, dù mới có xung đột nổ bùng, xung đột mang hãnh diện ban đầu nhưng càng về lâu càng thấy thấm đòn bất ngờ. Nhất là với tầng lớp thừa hưởng sự sung túc của hậu chiến, thay thế lớp người dày dạn cực nhọc trong chiến tranh.</p>
<p>Mơn trớn vỗ về và cúi đầu tuân phục, giận dữ mắng nhiếc và giả lả làm thân là chuyện muôn đời của hai nước Trung Việt. Điều đó không thể nào không trở lại trong thời kì có “tiến trình vương hoá mới (1949-?)” xảy ra trong cuộc chiến giành độc lập, với thời kì xoay đổi “gió Đông thổi bạt gió Tây” trên tầm diện địa toàn cầu. Hết chiến tranh, cái thế dựa dẫm đa phương chấm dứt, sự chọn lựa thiên lệch đã thành hình, gió Đông trở thành gió Bấc lạnh căm căm, triền miên để quá khứ trỗi dậy thúc đẩy hành động đã trở thành tự nhiên. Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh khi bị Nguyễn Huệ xua đuổi, Quang Toản cũng gởi sứ bộ qua Thanh khi bị Nguyễn Ánh truy bức, rồi đến Tự Đức đang khó khăn nhiều năm với dư đảng Thái Bình Thiên Quốc mà cũng mời quân Thanh đối phó với quân Pháp. Trước hoàn cảnh đe dọa mất địa vị, bản thân tinh thần dân tộc không còn chỗ đứng thì lại được tính chất đồng văn ngày xưa – thêm tình đồng chí ve vản bây giờ, mời gọi phân bua cho hành động cầu viện, có di chứng kì thị Di Man “chống diễn biến hoà bình” vơ vào chính nghĩa cho sự kết hợp. Đã nói: “Giữ chính quyền còn khó hơn&#8230;”, mà đã chiếm chính quyền bằng bất cứ giá nào thì đương nhiên cũng phải giữ chính quyền với bất cứ giá nào, huống là nay đã có thêm quyền lợi thủ đắc to lớn có triển vọng vô chừng không thể đánh mất, để tưởng tượng ra thảm cảnh “nằm gầm cầu Thăng Long” một khi bị hất cẳng, như nhà lãnh đạo đã tiên liệu cho tầng lớp mình.</p>
<p>Cho nên cũng là chuyện thường tình khi Liên Xô trên đà sụp đổ, dù bị pháo biên giới sẵn sàng nhả đạn, người ta kéo nhau qua Thành Đô cầu hoà (1990). Những người chủ trương cũng thật là kẻ tiêu biểu của tình thế: ông Đỗ Mười níu kéo thời ân tình xã hội chủ nghĩa say đắm thà mất đất cho bạn chứ không đành để cho nguỵ, tư bản chiếm đoạt, kết hợp đúng cơ hội với ông Nguyễn Văn Linh, người một lúc sau năm 1986, hăng hái “cần làm ngay” để rồi thấy nguy cơ của đổi mới là làm đánh mất công tích lao khổ mấy mươi năm của mình, của Đảng. Tuy nhiên về mặt thực tế, đây là một chiến thuật đúng đắn, có nền tảng tồn tại dài lâu khiến cho những kẻ muốn tranh chiếm quyền hành, vốn không cần đến tiếng nói của dân chúng, thấy có thể vượt qua được các sự kèn cựa bên trong tập thể chóp bu bằng cách hướng sự vận động ngay từ Bắc Kinh xa. Và thấy thành công. Trong thời gian xung đột biển Đông nổ bùng vì người anh lớn chèn ép thái quá, gây những cuộc biểu tình tưởng chừng không còn có thể xảy ra ở đất nước này, quan sát viên ngoại quốc đã đoán là tình hình sẽ dịu đi vì có Tổng bí thư thân với Trung Quốc, với một bộ sậu cai trị mới trình làng, biểu lộ một quyền lực không suy suyển bên trong, chấp nhận cầu thân không màng tăm tiếng!</p>
<p>Các lãnh tụ đã không phải cô độc trong hành động cứu Đảng như thế. Quang Trung, Nguyễn Ánh cả hai đều mới chiến thắng mà phải cầu hoà, cầu phong chỉ vì lớp sĩ phu Bắc Hà các ông nhờ cậy chỉ thấy có mỗi một con đường đó. Người ta nhắc đến “bài học lịch sử” thâm nhiễm từ trong cốt tuỷ mà không thấy rằng <em>lịch sử là chuyện của quá khứ mà tương lai thì nằm trong tay người hiện tại, </em>cho nên không thể có bài học lịch sử nào phải lặp lại hết. Ấy thế mà người ta vẫn nhắc: “Từ ngày xưa, ta vẫn phải cầu phong&#8230;” Và nhà ngoại giao viện dẫn tục ngữ ca dao quen thuộc trong vùng của thời xưa cũ, áp dụng cho đời mới: “Một câu nhịn là chín câu lành / Lạt mềm buộc chặt”&#8230; để biện minh cho cách hành xử thậm thụt ở tương quan quốc gia, dù thật là lạc lõng với thế giới ngày nay. “Đảng”, tự bản chất, và qua chiến tranh cũng chưa từng biết được một đường lối ngoại giao giữa quốc gia với quốc gia thì hành xử như thế không phải là chuyện xa lạ.</p>
<p>Chưa nói đến sự đe doạ tổng thể, cả miền Bắc (rồi vào tận tột cùng phía Nam) rõ là đang tiêu thụ hàng hoá Trung Quốc như một cách thế hối lộ triều cống, đang sống trở thành thói quen theo các cơn sổ mũi, ấm đầu, dở chứng tinh nghịch của các tỉnh bên kia biên giới. Sự lệ thuộc kinh tế thật không cần giấu diếm, nói gì đến lệ thuộc tinh thần. Hãy nhìn các dãy phố treo đèn lồng đỏ trên vài tỉnh Miền Bắc vào dịp Tết, ngày kỉ niệm, theo lệnh phát xuất từ chính quyền địa phương để thấy kẻ nội thù đông đúc êm dịu bên mình. Sự sợ hãi có cái thân tình nằm bên trong nên che lấp được sự phân vân. Việc xoá bỏ các dấu tích “chống Tàu” trong quá khứ, thực hiện từ bên trên làm cho anh công an xã coi việc nể nang người công nhân nước bạn quậy phá xóm làng chỉ là làm đúng chủ trương của thời mới, không thấy là chạm đến quyền uy ngày thường của anh để anh khỏi nặng tay như khi dẫn đến tai vạ chết người dân cùng nước.</p>
<p>Rõ là không phải chỉ nhà ngoại giao bị kềm hãm với quá khứ. Các tay làm ăn trong nước, ngay cả trước thời vào WTO, cũng thấy giao thiệp với người Trung Hoa là theo được một nền nếp quen thuộc, là thuận lợi hơn với các công ti Âu Mĩ phải chịu nhiều ràng buộc pháp luật, có tính cả điều khoản đạo lí kinh doanh, như đã thấy với các công ti Nhật Bản, Australia. Thời đại mới, chính trị không còn là thống soái miễn là không phạm đến quyền uy của Đảng, nhất là với tình trạng có các cơ quan chủ quản mà sự yếu kém năng lực quản lí còn là do bởi sự khích động tiền bạc thu tóm, đi theo với tính bẩn chật bòn rút có gốc rễ từ trong quá khứ xa, thật xa. Các nhà kinh doanh Hongkong, Đài Loan đắc thế ở phía Nam, núp bóng các nhân vật Việt, cơ sở Việt bao chiếm công việc, thu tóm tài nguyên đâu có cần phải giương cao cờ đỏ, sao tua chùm! Có sẵn đất để các thầy cò xúi giục cho mướn nên không biết, và không cần tạo dựng cơ sở cho nền kĩ nghệ nội địa để vượt thoát giai đoạn vét của nhà ra ăn. Sợ mất quyền lực nên chỉ để tư nhân góp phần nuôi sống chế độ qua chừng mực nuôi sống bản thân họ, được sao hay vậy, chừa tổng lực cho hệ thống doanh nghiệp nhà nước chủ đạo nằm dưới sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng với kiến thức như đã biết. Vì thế, vì không thực chất nên tàu Vinashin chưa “ra biển lớn” đã chìm, chưa kể là biển Đông đã bị ngăn chận với 9 hải lí được chỉ định, khiến tầng lớp lãnh đạo né tránh, nhẫn nhịn không che giấu, thẳng tay đàn áp phản ứng bên trong dù biết là có hại cho uy tín của mình. Có những ngăn chận hội bàn về biển đảo. Trong các trưng bày biểu diễn hội lễ đã không thấy bóng dáng Hoàng Sa, chỉ còn Trường Sa gượng gạo. Họ “sợ” thấy rõ nhưng chút máu mặt hiện lại nhờ sự thúc đẩy của quần chúng, lại phải chuyển qua trấn áp để dành ưu tiên cho sự tồn tại (may ra) vững bền của Tổ chức. Hai thực thể Triều đình và Đất nước của truyền thống vẫn còn đó để có những ứng xử co rút, dùng dằng, bất chợt phản ứng&#8230; xuất hiện trên xứ sở Việt Nam của tình thế độc lập, hậu thống nhất.</p>
<p>Đây không phải là định mệnh, mà là chặng đường lịch sử của con người Việt Nam cụ thể thời hiện đại, tạo dựng ra. Và thế kỉ XXI đã khác. Đã qua rồi, thế hệ (19)75 hồ hởi phấn khởi hay ngậm ngùi cay đắng, tất cả nay chỉ còn là vang bóng gượng gạo. Đường cầu vượt sông, xuyên núi, lấn biển. Thành phố ngợp người với các cao ốc muốn cạnh tranh ở tầm mức thế giới nhưng cũng còn chừa chỗ cho danh xưng “dinh” của các Thị uỷ, Tỉnh uỷ với cờ phướn ngập đường, phần phật tung bay đầy uy thế. Thế hệ hiện tại hưởng thành quả 1975 với Mercedes, cellphone, internet&#8230; đã định hình khá rõ, rõ ràng thờ ơ với các vấn đề chính trị dù vẫn còn dáng dấp hiện diện qua các biến động năm 2011 của các tân cựu hương chức, trưởng họ, trưởng ngõ và tuần đinh Đại Việt trên đất Đại làng Hà Nội (Lady Borton), thủ đô của Triều đại Đảng cường ngạnh vững vàng bám trụ. Sự xoay chiều Đổi mới thu thập kĩ thuật phương Tây, trong tình thế của sự ru ngủ hãnh diện “trở về với dân tộc / truyền thống”, đã làm đà cho “tiến trình vương hoá mới” có cơ sở vững chắc thêm. Chút ảnh hưởng từ phía đối ứng di man chỉ là dấu vết phản ứng theo “lề trái”, chìm lấp trong xầm xì, lạc loài trên mạng toàn cầu, đẩy đưa một tình hình chuyển biến về một xã hội dân sự tiến triển rất chậm chạp và cực nhọc, đổ tội tình xuống đầu một vài cá nhân lạc loài, nhiệt thành hứng chịu. Trong khi đó một nước Trung Hoa lớn mạnh, tự phụ với nền văn minh cổ truyền của mình, muốn tìm thêm dạng mới, một thứ Pax Sinica vương hoá mới có hướng vọng toàn cầu, mở rộng ngay ở vòng trong với chủ trương “một nước ba chế độ” thì cũng cần giữ một đàn em ngoan ngoãn bất định ở vòng ngoài, như đã có một đàn em ươn ngạnh ngông nghênh phía đông bắc. Cho nên, có thể là về lâu về dài vì bị ép đến kiệt lực, sẽ chỉ mất / buông bỏ “các bãi chim ỉa” chứ nước không mất đâu, bởi vì nếu có đe doạ mất thì sẽ có tận lực chống đánh. Sự lấn lướt của Trung Quốc vốn cũng là một yếu tố giữ gìn quyền lực, tiêu cực là mong mỏi các nước liên quan (Mĩ, Đông Nam Á) thấy động chen vào, tích cực là dân chúng vẫn phải né tránh chuyện xô đổ Đảng. Sẽ vẫn còn ghế ngồi ở Liên Hiệp Quốc để lên tiếng, còn cờ để phất, còn dân chúng để vuốt ve và trấn áp, còn ban bệ chính quyền cho lịch sử đang đi tới&#8230; Phần còn lại vẫn sẽ đủ cho cuộc sống làng nhàng, vất vưởng có thứ bậc để mà hãnh diện với nhau, như ngày xưa. Vì thế chỉ e là phải nhẫn nhịn tuỳ thuộc dài lâu dù có những trái chứng bất chợt. Cũng như ngày xưa.</p>
<p><em>sau Tết Nhâm Thìn 2012</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>SÁCH BÁO THAM KHẢO</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Phần Một</strong></p>
<p>Borri, Cristophoro, <em>Xứ Đàng Trong năm 1621,</em> Nguyễn Khắc Xuyên, Nguyễn Nghị dịch, Nxb. TP. HCM 1997. Có lẽ vì ảnh hưởng “thời thế” mà người ta đã sử dụng một bản gốc quá sơ lược. Có thể xem một bản khác cũng dễ tìm, nơi <em>BAVH </em>1931/3-4.</p>
<p>Chu Thuấn Thuỷ, <em>Kí sự đến Việt Nam năm 1657 </em>(bản dịch<em> An Nam cung dịch kỉ sự </em>của Vĩnh Sính), Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, H. 1999.</p>
<p>Dương Văn An, <em>Ô Châu cận lục,</em> Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc dịch, chú, Nxb. Thuận Hoá, Huế 2001.</p>
<p><em>Đại Việt sử kí toàn thư,</em> Bốn tập, bản dịch và nguyên văn, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1993.</p>
<p><em>Đại Việt sử lược,</em> Trần Quốc Vượng dịch, Đinh Khắc Thuân đối chiếu, chỉnh lí, Nxb. Thuận Hoá 2005. Khác với bản dịch 1960, điều nổi bật rõ rệt của bản in lần này là có kèm theo nguyên văn chữ Hán, chỉ tiếc là người chỉnh lí không chịu giữ nguyên cách trình bày theo bản văn cổ mà lại xếp các trang theo lối tân thời bây giờ trong khi không thể đổi cách thu xếp các dòng chữ bên trong trang (từ trên xuống dưới, rồi trở lên đầu từ phải sang trái) nên gây lúng túng cho người đọc. Không hiểu từ đâu có cảm hứng “cải cách” này bởi vì đã thấy xuất hiện đều đặn trong trong các bản văn cổ của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học cũng như nơi bản in lại <em>An Nam chí lược</em> của Nxb. Lao Động và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây 2009, từ bản dịch của Viện Đại học Huế 1961.</p>
<p>Dampier, W., <em>Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài năm 1688,</em> Hoàng Anh Tuấn dịch, chú, Nxb. Thế Giới, H. 2006.</p>
<p><em>Đặng gia phả hệ toản chính thực lục và Đặng gia phả kí tục biên,</em> Ngô Thế Long dịch, Nxb. Thế Giới 2006.</p>
<p><em>Hà Tiên trấn Hiệp trấn, Mạc thị gia phả, Hà Tiên – Kiên Giang,</em> Nguyễn Văn Nguyên dịch và chú thích, Nxb. Thế Giới 2006.</p>
<p>Hồ Nguyên Trừng, “Nam Ông mộng lục” trong <em>Nam Ông mộng lục và các truyện khác, </em>Nxb. Văn học, H. 2001. Cũng có in trong <em>Thơ văn Lí Trần</em> tập III.</p>
<p><em>Hồng Đức thiện chính thư,</em> Nguyễn Sĩ Giác phiên dịch, Vũ Văn Mẫu đề tựa, Nam Hà Ấn quán, Sài Gòn 1959.</p>
<p>Lê Quý Đôn, <em>Kiến văn tiểu lục,</em> quyển nhất, Lê Mạnh Liêu dịch, tập nhì Đàm Duy Tạo dịch, Bộ QGGD xb., Sài Gòn 1963, 1965.</p>
<p>Lê Quý Đôn, <em>Phủ biên tạp lục,</em> Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Trọng Hân, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa Học, H. 1964.</p>
<p>Lê Quý Đôn, <em>Vân Đài loại ngữ,</em> Trần Văn Giáp dịch, Nxb. Văn hoá Thông tin, H. 2006.</p>
<p>Lê Tắc, <em>An Nam chí lược, </em>bản dịch Viện Đại học Huế 1961. Như đã nói, hiện có bản mới 2009.<em> </em></p>
<p>Lí Tế Xuyên, <em>Việt điện u linh tập,</em> bản dịch của Lê Hữu Mục 1960, Cơ sở xuất bản Đại Nam in lại ở Hoa Kì, không năm.</p>
<p><em>Lê triều chiếu lịnh thiện chính, </em>Nguyễn Sĩ Giác dịch, Nhà in Bình Minh, Sài Gòn 1961.</p>
<p>Ngô Cao Lãng, <em>Lịch triều tạp kỉ,</em> Hoa Bằng, Hoàng Văn Lâu dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1995.</p>
<p>Ngô Thì Chí, <em>Hoàng Lê nhất thống chí, </em>Ngô Tất Tố dịch, Tự Do tái bản, Sài Gòn 1958. Có các bản dịch mới hơn nhưng không tiếp cận được.</p>
<p>Nguyễn Khoa Chiêm, <em>Nam triều công nghiệp diễn chí, </em>Ngô Đức Thọ &amp; Nguyễn Thúy Nga dịch, chú, giới thiệu, Nxb. Hội Nhà Văn 2003.</p>
<p><em>Phan gia công phả, Gia Thiện &#8211; Hà Tĩnh, </em>Nguyễn Ngọc Nhuận dịch và chú giải, Phan Huy Lê hiệu đính, Nxb. Thế giới 2006.</p>
<p>Phan Huy Chú, <em>Lịch triều hiến chương loại chí, </em>bản dịch Ba tập, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1992.</p>
<p>Phan Thúc Trực, <em>Quốc sử di biên, </em>bản dịch Viện Sử Học, H. 2009.</p>
<p>Quốc sử quán Nguyễn, <em>Đại Nam thực lục</em> <em>(tiền biên và chính biên),</em> Mười tập, Nxb. Giáo Dục, từ 2002.</p>
<p>Quốc sử quán Nguyễn, <em>Đại Nam liệt truyện (tiền biên và chính biên),</em> Bốn tập. Nxb. Thuận Hoá 1993. Đáng lưu ý, trong các sách dịch từ chữ Hán chuyển qua chữ quốc ngữ, việc coi sóc in ấn không được kĩ lắm (cả trong sách của Bộ GD xuất bản) nên phát sinh những sai sót mà phải có chữ Hán kèm theo thì mới tránh được lầm lạc. Mỗi một dấu của chữ Việt ngày nay là thêm hay bớt một chữ, mang nghĩa hoàn toàn khác mà người ta hình như không quan tâm lắm, ví dụ đã thấy nơi sách của một sử gia được tán tụng, có tên Đỗ THÀNH Nhân thay vì Đỗ THANH Nhân!</p>
<p>Quốc sử quán Nguyễn, <em>Đại Nam nhất thống chí,</em> 5 tập, bản dịch Viện Sử Học Việt Nam, Nxb. Thuận Hoá 2006.</p>
<p><em>Quốc triều hình luật (Hình luật triều Lê),</em> Lưỡng Thần Cao Nãi Quang dịch, Nhà in Nguyễn Văn Của, Sài Gòn 1956.</p>
<p>Tavernier, Jean-Baptiste, <em>Tập du kí mới và kì thú về Vương quốc Đàng Ngoài, </em>Lê Tư Lành dịch, Nxb. Thế Giới, 2005.</p>
<p>Trần Thế Pháp, <em>Lĩnh Nam chích quái, </em>Lê Hữu Mục dịch, Nxb. Khai Trí. Sài Gòn 1961.</p>
<p>Trung tâm Khoa học Xã hội &amp; Nhân văn Quốc gia – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, [Ngô Thì Sĩ] <em>Đại Việt sử kí toàn thư tiền biên, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1997.</p>
<p>Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, <em>Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, </em>Ba tập, Nxb. Văn Học 2001. Cũng như các tập cùng loại, sách này có tính cách bề thế, công phu, với bản chữ Hán kèm theo nhưng có rất nhiều khuyết điểm về mặt nghiên cứu vì những sơ hở phương pháp học, nhất là vì vướng phải tinh thần bảo thủ chặt chẽ của người chủ trương khiến cho đến thế kỉ XXI mà đọc vẫn tưởng như ở những năm 60 của thế kỉ XX.</p>
<p>Trương Như Tảng with David Chanoff and Doan Van Toai, <em>A Vietcong Memoir,</em> Harcourt Brace Jovanovitch Publishers, San Diego, New York 1985.</p>
<p>Vũ Đình Hoè, <em>Thanh Nghị, </em>Hồi kí, Nxb. Văn học, H. 2000.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong>Phần Hai</strong></p>
<p>Barker, R. Allan, Dr., <em>The Historical Cash Coins of Việt Nam, Part I: Official and Semi-Official Coins, </em>Singapore 2004.</p>
<p>Chandler, D., <em>A History of Cambodia, </em>2<sup>nd</sup> edition, Silkworm Books, Bangkok 1993.</p>
<p>Chiêm Toàn Hữu, <em>Văn hoá Nam Chiếu Đại Lí </em>(bản dịch), Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2004.</p>
<p>Coedes, G., <em>Les peuples de la péninsule indochinoise,</em> Dunod, Paris 1962.</p>
<p><em>Commerce et navigation en Asie du Sud-Est (XIVe-XIXe siècle), </em>Nguyên Thê Anh &#8211; Yoghiaki Ishizawa eds., L’Harmattan, Paris 1999.</p>
<p>Đào Duy Anh, <em>Chữ nôm, nguồn gốc – cấu tạo – diễn biến,</em> Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1975.</p>
<p>Đào Duy Anh, <em>Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 2003.</p>
<p>Đỗ Quang Chính, <em>Lịch sử chữ quốc ngữ (1620-1659), </em>Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1972.</p>
<p>Fairbank, John King, <em>China, a New History, </em>Harvard University Press, Cambridge Massachusetts, London 1992.</p>
<p>Groslier, Bernard Phillippe, <em>Indochine – Carrefour des arts,</em> Ed. A. Michel, Paris 1961.</p>
<p>Guillemot, Francois, “Trực diện với cái chết và nỗi đau: vấn đề Thanh niên Xung phong trong chiến tranh Việt Nam (1950-1975)”, Talawas blog, tháng 4-2010.</p>
<p>Hà Văn Tấn – Phạm Thị Tâm,<em> Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông – Thế kỉ XIII, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1975.</p>
<p>Hồ Sơn Diệp, <em>Trí thức Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp, 1945-1954,</em> Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2003.</p>
<p>Hall, Kenneth, R., <em>Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia,</em> University of Hawaii Press, Honolulu 1985.</p>
<p>Higham, Ch., <em>The Bronze Age of SEA,</em> Cambridge University Press 1996.</p>
<p>Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương, Nguyễn Đại Phúc, <em>Đặc khảo về hát sắc bùa, </em>Trung tâm Văn hoá Tp. Hồ Chí Minh xb. 2000.</p>
<p>Inrasara, <em>Văn học Chăm. Khái luận – Văn tuyển, </em>Nxb. Văn hoá Dân tộc 1994.<em> </em></p>
<p>Inrasara, <em>Ariya, </em>Nxb. Văn Nghệ 2006.</p>
<p>Inrasara, <em>Ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố Chăm, </em>Nxb. Văn hoá Dân tộc 2006.</p>
<p>Jacques, Roland, <em>Les misionnaires portugais et les débuts de l’Eglise catholique au Viet-nam – Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kì đầu của Giáo hội Công giáo Việt nam, </em>Bilingue, tome I, Định Hướng Tùng thư, 2004.</p>
<p>Khuất Đẩu, <em>Những tháng năm cuồng nộ,</em> Thư Ấn Quán (Mĩ) xuất bản, 2009. Tuy đề là “truyện dài” nhưng là thuật lại diễn biến rất sát với thực tế xảy ra ở một vùng quê hương Bình Định của tác giả, qua hai cuộc chiến tiếp nối 1945-1975. Tính chất của một địa phương khuất lấp cho ta thấy những sự kiện thật thà, trần trụi thường là được tô vẽ ồn ào ở những trang sách của các địa phương lớn, nói về các nhân vật lớn.</p>
<p><em>La frontière du Vietnam – Histoire des frontières de la péninsule indochinoise, </em>L’Harmattan, Paris 1989.</p>
<p><em>La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (1908-1996),</em> Hữu Ngọc – Nguyễn Đức Hiền sưu tập, biên soạn, Nxb. Giáo Dục, H. 1998; tập I: Con người và trước tác (Phần I); tập II: Trước tác (Phần II: Lịch sử); tập III: Trước tác (phần III: Văn học).</p>
<p>Lại Nguyên Ân, <em>Phan Khôi – Tác phẩm đăng báo 1929, </em>Nxb. Đà Nẵng &#8211; Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây 2005.</p>
<p>Lê Thành Khôi, <em>Histoire du Viet Nam des origines à 1858,</em> Sudestasie1982.</p>
<p>Lê Trung Hoa, <em>Họ và tên người Việt Nam, </em>Nxb. Khoa học Xã hội 2005.<em> </em></p>
<p>Lê Trung Hoa, <em>Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học, </em>Nxb. Khoa học Xã hội 2005.</p>
<p>Li Tana, <em>Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18,</em> Nguyễn Nghị dịch, Nxb. Trẻ 1999.</p>
<p>Li Tana, “A View from the Sea: Perspectives on the Northern and Central Vietnamese Coast”, <em>Journal of Southeast Asian Studies, </em>37(1), February 2006, pp. 83-102, The National University of Singapore 2006.</p>
<p>Lương Ninh, <em>Lịch sử Vương quốc Champa,</em> Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội 2004.</p>
<p>Lương Ninh, <em>Vương quốc Phù Nam – Lịch sử và văn hoá,</em> Viện Văn Hóa &amp; Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2005.</p>
<p>Lý Chánh Trung, <em>Một thời đạn bom, một thời hoà bình, </em>Nxb. Tổng hợp Đồng Nai 2005. Dù là loại “tuyển tập”, dấu vết còn lại cũng cho thấy “một thời thành thực ngây thơ” để cho Nguyễn Văn Linh khen “Lý Chánh Trung là một người cộng sản không Đảng”, và một thời rụt rè giác ngộ để cũng ông Tổng bí thư mắng là “kẻ cơ hội” khi thấy Liên Xô tan rã, đòi Đảng thôi dạy Mácxít trong trường học.</p>
<p>Maybon, Charles B., <em>Những người châu Âu ở nước An Nam, </em>Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Nxb. Thế Giới, 2006.</p>
<p>Nguyễn Duy Hinh, <em>Văn minh Lạc Việt,</em> Viện Văn Hoá &amp; Nxb. Văn hoá Thông tin, H. 2004.</p>
<p>Nguyễn Duy Hinh, <em>Văn minh Đại Việt,</em> Viện Văn Hoá &amp; Nxb. Văn hoá Thông tin 2005.</p>
<p>Nguyễn Đình Đầu, <em>Việt Nam, Quốc hiệu và cương vực qua các triều đại,</em> Nxb. Trẻ 2007.</p>
<p>Nguyễn Đình Lê, <em>Lịch sử Việt Nam 1954-1975, </em>Nxb. Giáo Dục Việt Nam 2010. Với áp lực của thời đại trên lớp sử gia công chức, quyển sách cũng nhắc đến tên hai thực thể tương đương: Việt Nam Cộng hoà và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng có gắng gượng lắm thì cũng chỉ đến thế mà thôi. Các bước tiến triển của lịch sử được trình bày trong thời gian đó vẫn không qua cái khung được vẽ trong Văn kiện Đảng, của các bài học thấy thường xuyên sau 1975, do đó các sự biến chính trị, kinh tế, xã hội&#8230; chen vào trong sách dù của thế giới, dù của VNCH cũng vẫn lổn nhổn không hồn vía, không cho thấy có tác động gì trong tình thế chung của đương thời, của tương lai gần, ngoài lí do hiện diện để giải thích chiến thắng 1975. Mà điều này thì lại không cần một quyển sử mới của Hà Nội.</p>
<p>Nguyễn Đình Tư, <em>Non nước Ninh Tbuận, </em>Nxb. Thanh Niên 2003.</p>
<p>Nguyễn Kỳ Phong, <em>Từ điển chiến tranh Việt Nam, </em>Nhà sách Tự Lực xb., Garden Grove, CA 2009.</p>
<p>Nguyễn Ngọc San. <em>Tìm hiểu lịch sử tiếng Việt,</em> Nxb. Đại học Sư phạm, 2003.</p>
<p>Nguyễn Tài Cẩn, <em>Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt,</em> Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1979.</p>
<p>Nguyễn Thế Anh, <em>Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn,</em> bản in lần thứ nhì, Nxb. Lửa Thiêng, Sài Gòn 1951.</p>
<p>Nguyễn Thế Anh, <em>Việt Nam dưới thời Pháp đô hộ, </em>Nxb. Văn Học tái bản, Hà Nội 2008.</p>
<p>Nguyễn Văn Huyên, <em>Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, </em>“Góp phần nghiên cứu văn hoá Việt Nam”<em>,</em> tập 1, Nxb. Khoa Học &amp; Xã Hội, H. 2003; tập 2: “Văn minh Việt Nam” (1939).</p>
<p>Nguyễn Văn Trung, Tập họp rải rác những thu gom tài liệu thời chiến tranh, các hồi kí của tác giả về tình hình đương thời trong đó có sự tham gia của tác giả. Chúng tôi cũng được sao hay vậy, như thói quen trong tình thế của riêng mình.</p>
<p>Nhà Bảo tàng Đồng Nai, <em>Lịch sử Cù lao Phố, </em>Nxb. Tổng hợp Đồng Nai 2007.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Đại cương lịch sử Việt Nam, </em>Ba tập. Nxb. Giáo Dục, H. 2000.<em></em></p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Lịch sử Việt Nam, </em>Nxb. Trẻ, Tp. HCM. Dự định gồm 6 tập, đến giữa năm 2007 thấy xuất hiện ba tập và có vẻ không có kết thúc. Hình như đây là một dự tính viết lịch sử Việt Nam khác với trung ương nhưng cuối cùng đuối sức.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Tiến trình lịch sử Việt Nam, </em>Nxb. Giáo dục, H. 2004.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Những vấn đề lịch sử Việt Nam, </em>Nguyệt san Xưa &amp; Nay, Nxb. Trẻ, 2001.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>“Đêm trước” Đổi mới, </em>Báo Tuổi Trẻ &#8211; Nxb. Trẻ, Tp. HCM. 2006.</p>
<p>Nhiều tác giả, <em>Bài thơ gây chấn động dư luận &amp; “Đêm trước” Đổi mới, </em>Báo Tiền Phong – Nxb. Thông Tấn, H. 2006.</p>
<p>Papin, Philippe, <em>Việt Nam, Hành trình một dân tộc,</em> (nguyên tác: <em>Việt Nam – Parcours d’une nation</em>), <em></em>Nguyễn Khánh Long dịch, Toronto 2001.</p>
<p>Phạm Hồng Tung, <em>Nội các Trần Trọng Kim – Bản chất, vai trò và vị trí lịch sử, </em>Nxb. Chính trị Quốc gia, H. 2009.</p>
<p>Phan Khoang, <em>Việt Nam Pháp thuộc sử (1862-1945), </em>in lần thứ hai, Tủ sách Sử học, Phủ Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hoá, S. 1971.</p>
<p><em>Southeast Asia in the 9<sup>th</sup> to 14<sup>th</sup> Centuries, </em>David G. Marr and A.C. Milner eds, Singapore 1986.</p>
<p>Taylor, K.W. <em>The Birth of Vietnam,</em> Berkeley 1983.</p>
<p>Tchang, Mathias, <em>Synchronismes chinois &#8211; Chronologie complète et concordance avec l’ère chrétienne de toute les dates concernant l’histoire de l’Extrême-Orient (Chine, Japon, Corée, Annam, Mongolie, etc.), 2357 av. J.C. – 1904 apr. J.C., </em>Imprimerie de la Mission Catholique, Chang-Hai 1905.</p>
<p><em>Tập bản đồ hành chính Việt Nam, </em>Nxb. Bản Đồ, H. 2003</p>
<p><em>The Cambridge History of Southeast Asia, </em>Vol. I,<em> From Early Times to c. 1500, </em>Nicolas Tarling ed., Cambridge University Press 1999.</p>
<p><em>Thơ văn Lí Trần, </em>tập II, quyển Thượng, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1989</p>
<p><em>Thơ văn Lí Trần, </em>tập III,<em> </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H.1978.</p>
<p>Tô Hoài, <em>Ba người khác, </em>Nxb. Đà Nẵng, 2007. Sách mượn danh “tiểu thuyết”, có lẽ một phần để tránh né tự ái người cầm quyền tuy khác thế hệ nhưng cùng một xuyên suốt quyền lực, do đó vẫn dính dáng tới trách nhiệm về biến động cải cách ruộng đất được vẽ lại ở đây. Phần khác cũng có lẽ chính là sự tự phủ nhận quá khứ của tác giả vì Tô Hoài cũng từng tham gia tích cực vào biến cố với vai trò Đội phó đội cải cách, Chánh toà án đội, và tiếp theo cũng từng được hưởng nhiều ưu thế dành cho nhân vật trong giới văn nghệ phục vụ tích cực cho chế độ.</p>
<p>Trần Trọng Kim, <em>Việt Nam sử lược, </em>Nxb. Văn hoá Thông tin tái bản, H. 1999.</p>
<p>Trung tâm nghiên cứu Khảo cổ học, <em>Một số vấn đề khảo cổ học ở Miền Nam Việt Nam, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 2004.</p>
<p>Trương Hữu Quýnh, <em>Chế độ ruộng đất ở Việt Nam – Thế kỉ XI-XVIII, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, tập I: Thế kỉ XI-XIV, 1982, tập II: Thế kỉ XV-XVIII, 1983.</p>
<p>Tsuboi, Yoshiharu, <em>Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa,</em> (bản dịch của Nguyễn Đình Đầu và ctv.), Hội Sử học Việt Nam, H. 1993. Đến 2011 sách đã có 4 lần xuất hiện ở Việt Nam.</p>
<p>Viện Dân tộc học, <em>Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc),</em> Nxb. Khoa học Xã hội 1978.</p>
<p>Viện Dân tộc học, <em>Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam),</em> Nxb. Khoa học Xã hội 1984.</p>
<p>Viện Văn học, <em>Hoàng đế Lê Thánh Tông – nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, </em>Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1998.</p>
<p>Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, <em>Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, </em>Nguyễn Quang Hồng chủ biên, Nxb. Khoa học Xã hội, H. 1993</p>
<p>Wheeler, Ch., “Re-thinking the Sea in Vietnamese History: Littoral Society in the Integration of Thuận Quảng, Seventeen-Eighteen Centuries, <em>Journal of Southeast Asian Studies,</em> 37(1), February 2006, pp. 123-153, The National University of Singapore 2006.</p>
<p>Whitmore, John K., “The Rise of the Coast: Trade, State and Culture of Early Đại Việt”, <em>Journal of Southeast Asian Studies,</em> 37(1), February 2006, pp. 103-122, The National University of Singapore 2006.</p>
<p>Võ Bá Cường, <em>Chuyện tướng Độ, </em>Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2007.</p>
<p>Vũ Thư Hiên, <em>Đêm giữa ban ngày (hồi kí chính trị của một người không làm chính trị),</em> Văn Nghệ xb. California 1997.</p>
<p>Cũng từng tham khảo bài viết từ các tâp họp có định kì hay không mà người viết may mắn có dưới tay:</p>
<p><em>Khảo cổ học,</em></p>
<p><em>Nam Bộ, đất và người,</em></p>
<p><em>Nghiên cứu Huế.</em></p>
<p><em>Nghiên cứu Lịch sử,</em></p>
<p><em>Những phát hiện Khảo cổ học mới, năm..,</em></p>
<p><em>Xưa và Nay,</em></p>
<p>Riêng biệt: CD-ROM <em>Bulletin des Amis du Vieux Hue.</em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Lại cũng phải kể thêm các bài, sách của Tạ Chí Đại Trường liên hệ đến những vấn đề riêng biệt về sử Việt Nam, xuất hiện bất thường nơi này nơi nọ.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>SÁCH DẪN</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Đáng lẽ là phải xếp những mục từ theo đề tài nhưng không kham nổi     <br /></em><em>thôi đành ghi đơn giản vậy.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>A </strong>Adam, E. A Nỗ / Chao Anou Ả Rập adhipati Ái Châu Ái Tử akayat Alexandre VI (Giáo hoàng) Amaravati An Dương Vương An Giang An Khê An Lộc An Lộc Sơn An Nam, A Nam / Hà Nam, <em>An Nam chí, An Nam chí lược, An Nam sử lược, </em>An Nam Đô hộ phủ / Phủ Đô hộ An Nam, An Nam Đô thống sứ (ti), An Nam Quốc Vương, An Nam Phó Quốc Vương annamite An Tây An Tôn An Tượng Angkor, Angkor Borei, Angkor Thom, Angkor Vat Ang Mei / Quận chúa Ngọc Vân Ang Sor / Sô Anh (người, xứ) / Hồng Mao Antonius Pius Ao bà Om ariya Ân/Thương Ân đàn Đại Đạo / Hội đồng Công luật Công án Bia Sơn Ấn, Ấn Độ, Ấn Độ Giáo Ấn-độ-Chi-na Ấp Chiến lược Ấp Đời mới / Ấp Dân sinh Âu, Âu Châu (người, xứ) Âu Lạc Aubaret Ấu Triệu Auriol, V. Aurousseau, L. Australia Austroasiatic/ique Autronesian/en</p>
<p><strong>B</strong> Ba (sông) Ba Bình Ba Cụt (Lê Quang Vinh) Ba Đích Lai / Indravarman V Ba Điểm Ba Lạt Ba Phủ Ba Tơ Bá Đa Lộc, Pierre Joseph Georges Pigneau (de) Béhaine, Pedro, Pe-to-(r)lo Bà Ả Bà La Môn Bà Chúa Ngựa Bà Chúa Xứ Bà Banh / Bà Đanh Bà Điểm Bà Già (chùa, thôn) Bà Mađalêna Bà Maria Bà Rịa Bà Tấm / Po Nrop Bà Tím Bà Tranh / Po Thot Bà Triệu Babut, E. Bạc Liêu Bắc Hà, Nam Hà Bắc Kì Bắc Kinh / Yên Kinh Bắc Lệ Bắc Ninh Bắc Sơn (Văn hoá) Bắc Thành Bắc Thuận <em>Bách Khoa</em> Bách Việt Bạch Đằng Bạch Hạc Bạch Liêu Bạch Long Vĩ Bạch Mã / Bạch Mã Thái giám Bạch Sa (cồn) Bạch Xuân Nguyên Badravarma Bái Trời/Nhật / Bái Ân Bajaraka (Mặt trận) Balaha Bai Debare / Plei Bocan / Catlin / Chung Mĩ Ban Kan Luang Ban Mê Thuộc / Buôn Ma Thuột Bàn Lân / blaang (bằng lăng?) Bàn Than (đá) Bàn Văn Nhị (Cờ Trắng) Bana Bạng (cửa) Bàng Hà Bánh Ít (tháp) Banteay Bảo (Đô đốc, Đại Đô đốc) Bảo Đại Bảo Định (rạch) Bảo Lạc Bảo tàng Quang Trung Baron, Samuel bắp/ngô Barizy, L. / Ba-la-di Barrow, Jh. Batavia/Jakarta Batumriachia Bayon Bê Mi Thuế Bế Khắc Thiệu Beau, P. Bento Thiện Bến Hải Bến Nghé / Kas Krobei Bến Súc Bhadresvaravarman / Bạt đa la thư la bạt la / Ba đơ rét va ra vác man Bí Cai Bia Út <em>Bích Câu kì ngộ kí</em> Bích Quan / Quan Bích Biên Hoà Biển Hồ Bình Dương Bình Giã Bình Đa Bình Định (địa phương), (thành trì) Bình Khang Bình lệ (phép) Bình Nam đồ Bình Ngãi / Boh Pălriya Bình Nguyên Lộc Bình Than Bình Thuận Bình Xuyên Blao / Bảo Lộc Bolaert (Cao uỷ) Bonard (Đô đốc) Boat People Bố Cái / Vua Cái Đại Vương Bố Chính (Nam), (Bắc) Bố Đa La Bố Điền Bố Đông / Kim Trung Liệt Bố Hải Khẩu / cửa Bố Bồ / Bồ Đào Nha, vua Bồ Bộc (chùa) Bối Lí Bồn Man / Mường Bồn / Mọi Chum / Cổ Bồn Man Bombo (sóc) Borri, Ch. Bouet (Thiếu tướng) Bowyear, Thomas Bùi Bá Kì Bùi Chu Phát Diệm Bùi Dương Lịch Bùi Đắc Tuyên Bùi Hành Lập Bùi Nguyên Hựu Bùi Phổ Bùi Quang Chiêu Bùi Quốc Hưng Bùi Tá Hán Bùi Thế Đạt Bùi Thị Mè Bùi Thị Xuân Bùi Văn Khuê Buôn Chu Bửu Dưỡng (Lm.) Bửu Lộc Bửu Sơn Kì Hương</p>
<p><strong>C</strong> Ca Da ca trù cá Ông (tục thờ) / cá voi cá sấu Cà Mau Cà Tráp / Choah? Cả (đèo) Cả (sông) các lái <em>Cách Mạng Quốc Gia </em>(nhật báo) Cách mạng Tân Hợi (Trung Hoa) Cách mạng tháng Mười (Nga) Cách mạng tháng Tám Cai Lậy Cải cách ruộng đất Calcutta Cam Lộ Campapura Canada (Kiểm soát đình chiến) Cầm (họ); Cầm Bành, Cầm Lạn, Cầm Quỳ Cẩm Sa Càn Long Canh Hãn (xã) / Cảnh Hàng Cánh đồng Chum Cao Bằng Cao Biền, Cao Vương Cao Đài Cao Hồng Lãnh Cao La Hâm Sâm Cao Lỗ Cao Man / Cao Miên , <em>Cao Miên kỉ lược</em> <em></em>Cao Triều Phát Cao Tự Thanh cáp Duồng Caravelle (nhóm chính trị) cargo-cult cát bá / cổ bối / cát bối / kapok Cát Hanh Long Catinat (tàu chiến) Catroux (Toàn quyền) Cau (thị tộc) Cauchechina, (Basse, Haute) Cochinchine Cauchigu / Giao Chỉ quốc cày Tịch điền Cần Giờ Cần Lao Nhân Vị (đảng) / Công Nông Chánh Đảng Cần vương Câu Chiêm Câu Tiễn Cầu Kiệu Cầu ngư (lễ) Cầu Sơn Cedar Fall (Hành quân) Cơ mật (viện) Cố Du / Phú Hoài Nhân / Marchand (giáo sĩ) Cố Khải Chi Cồ Quốc Cổ Hoành (giáp) Cổ Loa (thành); (trống) Cổ Luỹ Cổ Pháp Cổ Trai Coedès, G. Commerce d’Inde en Inde Côn Lôn / Côn Đảo Côn Man Côn Nường (c/chúa) Cồn Tiên Cờn (cửa) <em>Công dư tiệp kí </em>Công sứ, Khâm sứ, Thống sứ Công tào Công ti Đông Ấn Cọng hoà Nhân dân Trung Quốc Cộng Sản An Nam, Đông Dương, Việt Nam (đảng) Courbet (Đô đốc) Crawford, Jh. Cù lao Phố Cù Mông Củ Chi (địa đạo) Cường Để, Kì Ngoại hầu Cử Long Cứu Quốc Quân Cửu Chân Cửu Đức (thái giám) Cửu Long Cựu Châu <em>Cựu Đường thư</em></p>
<p><strong>Ch</strong> Chaigneau, J.B. / Ba Nê Ô Nguyễn Văn Thắng Chà Bàn thành Hoàng Đế Chà Và / Chà Bà / Đồ Bà Champa, Ciampa, Chamba, Chàm, (tù binh), Chăm, Chăm H’roi, Chăm Bà La Môn / Cam / Cam Jat, Cam Cuh (thiêu) / Cam Kaphir (vô đạo), Cam Bini / Chăm Bà Ni Chân Bôn / Chantaboun Chân Lạp Chân Tín (Lm.) Chao Praya Chất Đa Tư Na / Sitrasena / Mahendravarman Châu Ấn thuyền Châu/Chu Diên Châu Đạt Quan Châu Đốc Châu Lâm (viện) / Phúc Lâm (chùa) Châu muội nương (Đậu) Châu Tâm Luân Châu (Chu) Văn Tiếp Chế Bồng Nga Chế Chí Chế Củ Chế Đa Da Chế độ Lưỡng đầu Lê Trịnh Chế Mạn Chế Mân Chế Mỗ/mỗ Chế Sơn Nô Chevreuil (giáo sĩ) Chey Chetta Chí Hoà Chí Linh Chiêm / Chiêm Thành; Kẻ Chiêm Chiên Đàn (Chandra) Chiên Đàn (tháp) Chiến Quốc Sách Chiến tranh Lạnh Chiến tranh Lí Tống Chiếu bình Phục Lễ Chiite <em>Chinh phụ ngâm (khúc) </em>Chợ Lớn Chợ Quán Chu (Tổng đốc) Chu An Chu Ân Lai Chu Bá Chu Bỉnh Khuê Chu Đậu Chu Lai Chu Khẩu Điếm Chu Kình Chu Nhai Chu Thuấn Thuỷ Chu Trang Vương Chu Tử Chu Tử / Chu Văn Bình (nhà văn) Chu Ứng Chủ đô Chúa Bầu/Biều Chúa Chổm Churu/Ch’ru<em> </em><em>Chư phiên chí </em>chữ nôm (truyện, thơ), quốc ngữ, quốc ngữ (la tinh) Chun Do Hoan Chương Dương Chương trình Phát triển Sinh hoạt Học đường (CPS) Claeys, J.Y.</p>
<p><strong>D </strong>Dã Tượng / “voi rừng” Dạ Lang Dạ Xoa Vương Dân Chủ (đảng) dân số Dân Tôn Tử (Trần Văn Vi) Dâu Diên Hồng Diên Khánh Diên Ninh Diễn Châu Diệp Mậu Diệp Văn Kì Dóng/Gióng, Đống/Đổng dòng Tên (Jésuite) Dốc Chùa Du ca Dục Đức Duy Tân (vua) Duy Tân (phong trào) <em>Dư địa chí </em>Dừa (thị tộc) Dựng Tú Dương Anh Nhĩ Dương Bạch Mai Dương Cát Lợi Dương Chủ tướng / “tam kha” / Tam Kha / Bình Vương Dương Diên/Đình Nghệ Dương Huy Dương Khuê Dương Kinh Dương Long Dương Minh Châu (chiến khu) Dương Ngạn Địch (binh Long Môn) Dương Nhật Lễ Dương Quỳnh Hoa Dương Thái hậu Dương Thu Hương Dương Tiến Lộc Dương Tố Dương Tuệ Dương Tự Hưng Dương Tự Minh Dương Văn An Dương Văn Ba Dương Văn Đức Dương Văn Minh Dưỡng Chân</p>
<p><strong>Đ </strong>Đa Bang Da Cruz, Joan Đa Cương / Tinh Cương / Long Hưng / ấp Biển Đa Gia Li Đa Giá Thượng Đá Trắng (núi) Đà Giang Đà Nẵng Đà Rằng Đài Loan Đại Châu Đại Điên Đại Đồng Đại đồng (chủ nghĩa) Đại Hoàng (sông, tập nhóm) Đại học Đông Dương đại la (thành), Đại La Đại Lại Đại Làng Đại Lào Đại Lí Đại Lộc Đại Nam (nước), Đại Nam hoạ quốc toàn đồ, <em>Đại Nam liệt truyện tiền biên, chính biên; Đại Nam thực lục tiền biên, chính biên</em> Đại Ngu Đại Tần Đại Trị Đại Vân Đại Việt, Đại Cồ Việt, Đại Việt Quốc Vương, <em>Đại Việt sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư / Toàn thư / TT, Đại Việt sử lược</em> Đại Việt Duy Dân / Dân Chính / Quốc Dân / Quốc xã (đảng) Dak Son Đam Manh Đàm (thôn, họ) Đàm Dĩ Mông d’Amaral, Gaspar Dampier, W. Đan Gia Đàn Hoà Chi Đản / Đản Gia Lão / Đan, Soisang-yan / Thuỷ Sinh Nhân Đàng Cựu Đàng Ngoài, chương XII Đàng Trên Đàng Trong, chương XII Đanh (thôn Bắc Ninh), Đanh Xá, Đinh Xá (thôn xã Hà Nam) Đăng Châu Đặng Chất Đặng Dung Đặng Huấn Đặng Như Mai Đặng Tất Đặng Tiến Đông Đặng Tiểu Bình Đặng Trần Côn Đăng Trần Thường Đặng Văn Chân Đặng Thuỳ Trâm Đào Cam Mộc Đào Duy Anh Đào Duy Từ Đào Hoàng Đào Thịnh Đào Trí Phú đảo chính 9-3-1945, 11-11-1960, 1-10-1960 đạo (Đinh, Tiền Lê) (Hậu Lê) “đạo”, Thiên Chúa Giáo, Giáo hội La Mã Đạo Dung Đạo Giáo d’Amedo Đạt Lỗ Hoa Xích Dayot, Jean Marie / Đa Đột Đáy (sông) Đập Đá Đầu Bào / Đồng Bào (giặc) de Forcan, Alexir Olivier / Lê (Nguyễn) Văn Lăng De Genouilly, Rigauld De la Baume (giáo sĩ) De Lattre de Tassigny De Puynamel, Alexis Olivier / Ô Li Vi / Ông Tín De Rhodes, Alex. Đê, Eđê, Rhade đê điều Đệ Tam Quốc tế Đệ Tứ Quốc tế Đèo Cát Hãn deva raja Di Pina, F. Địa Lí Điền (Văn minh), Điền Việt điền nhi “điền Tây” Điện Phi (tàu) điện phủ Điện Biên Phủ Điều Khiển (dinh) Đinh (họ) Đinh Bàng Đức Đinh Bộ Lĩnh / Tiên Hoàng Đinh Công Trứ Đinh Công Tuyết Đinh Điền Đinh Đạo Đinh Kiến Đinh Liễn / Khuông Liễn Đinh Lộc Đinh Phiên Đinh Toàn/Tuệ/Triển, Vệ Vương Đính Noa Tăng Noa (Đại đức) đình làng Định Phiên Định Viễn Đò Mè / Doumea Đọ (núi) Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung Đoàn kết (binh) Đoàn Nhữ Hài Đoàn Thượng Đoàn Trưng Đoàn Văn Toại Đô Dương Dohamide Đô hộ (phủ), Đô Hộ (nước) / Đô Quốc Đô Lỗ Đô Lung Đô Lương Đô uý Đô sát viện Đồ Gia Bạt Ma Đồ Sơn Đỗ (họ) Đỗ Anh Hàn Đỗ Anh Sách Đỗ Anh Triệt Đỗ Anh Vũ / Đỗ Thái uý Đỗ Cảnh Thạc Đỗ Chiêu Linh (thái hậu) Đỗ Chú Đỗ Động Giang Đỗ Giản Đỗ Hưng Đỗ Hữu Phương Đỗ Hữu Vị Đỗ Hưng Viễn Đỗ Nhạc Đỗ Pháp Thuận Đỗ Quang Chính Đỗ (Năng) Tế Đỗ Thanh Nhân Đỗ Thích Đỗ Thiện Đỗ Thủ Trừng Đỗ Tồn Thành Đỗ Trình Thoại Đỗ Tuệ Độ Đỗ Tùng Đỗ Tử Bình Đỗ Văn Dự Đỗ Viện Đốc phủ sứ Đọi (núi) Đội Sơn Đội Cung Đôn Vương đồn điền Đông Du Đông Dương Đông Hán, Đông Hán Đại Vương Đông Kinh (Nam Chiếu) Đông Kinh, Đông Đô, Đông Quan, Trung Đô Đông Kinh Nghĩa Thục Đông Phố, Đông Phố Đại Vương Đông Sơn (quân) Đông Sơn (Văn minh) Đông Việt Doumer (cầu, Toàn quyền P.) Đống Đa Đống Quất Đồng Cổ Đồng Dương / đồng Giàng/yang Đồng Đậu Đồng Khánh Đồng Khởi Đồng Nai, Đạ Đờng (sông) Đồng Tháp, đồng/ Đồng Tháp Mười, bia Đồng Tuyên Đồng Xoài động/đồng/Đồng (họ) Doudart de Lagrée Dubois, E. Dupuis, J. Đường An Đường (triều đại), Đường nhân Đường Đức Tông Đường, Nguyễn (thôn) Đường Trung Tông</p>
<p><strong>E </strong>Emmanuel / Mãn Noài Engels, F. Eo (cửa) Eisenhower, D.</p>
<p><strong>F </strong>Falacci, O. Ferry, J. Fonda, J. FULRO</p>
<p><strong>G</strong> Gandhi, M. Garaudy, R. Gia Định, <em>Gia Định Báo, Gia Định thành thông chí </em>Gia Lâm Gia Long Gia Miêu / Gia Miêu Ngoại trang / Bái Trang Gia Ninh gia thần Gia Tô (đạo) Già Nàng Giác Hoàng Giải Phóng (xứ uỷ) Giải Tấn Giám ban, nội giám Giạm/ Dạm (chùa, cột đá) Giản Định Đế Giản Phố Trại Giản Tu công Oánh/Dinh Gianh (sông) Giao (tế) Giao Châu, <em>Giao Châu ngoại vực kí</em> Giao Chỉ, Giao Chỉ Quận Vương, Giao Hải giao long thuồng luồng Giao tử vụ Giáo Hiến Giáo phường giáp, quản giáp giông / kì nhông giồng Giồng Phệt Gò Mun Gò Sành Goa Guiness (kỉ lục) Gươm (hồ)</p>
<p><strong>H</strong> Hà Công Phụ Hà đê sứ Hà Huy Tập Hà Lan, Olane ,“Hoà Lan” (đạo) Hà Mẫu Độ Hà Nội Hà Ngại <em>Hà Thành thất thủ </em>(vè) Hà Thị Cầu Hà Tiên Hà Tĩnh Hà Văn Tấn Hạ/(mọi) Hạ Hạ Long (vịnh) (thoả ước) Hai Bà (Trưng) Trưng Trắc Trưng Nhị Hải Dương Hải Lăng Hải Nam Hải Tây đạo Hải Vân Hàm Nghi Hàm Tử Hán (người, triều đại, chữ), Tây Hán, Đông Hán, <em>Hán thư </em>Hán nhân, dân (người Việt) Hàn Triệu Hang Hùm Hàng Gòn Hạng Lang / Chàng Lớn Hành khiển hào trưởng / hào sĩ Harivarman I, Harvarman II, Harivarman IV Harmand (Bác sĩ) Harrimand W.A. Hát cửa đình (tiền) Hầu Nhân Bảo Hậu (sông) Hậu thổ Heger (phân loại) Hi Lạp Hịch tướng sĩ Hiến chương Vũng Tàu <em>Hiện Đại</em> Hiệp định Genève (Việt Pháp, Trung lập Lào) Hiệp định Paris Hiệp Hoà Hiệu Khả Hình thư họ, tông phả Hoa (người) Hoa Anh Hoa Lang đạo Hoa Lư <em>Hoa văn cáo thị </em>Hoá Châu Hoà Bình Hoà Hảo (làng, Phật Giáo) Hoà ước Fournier, Hoà ước Giáp Tuất, Hoà ước Harmand, Hoà ước Nhâm Tuất, Patenôtre, Hoà ước Thiên Tân Hoả Xá / Hoả Quốc Hoài Đức Hoài Nhơn <em>Hoài Nam khúc </em>Hoan Châu, <em>Hoan Châu kí </em>Hoàn Vương Hoàng (sông) Hoàng (họ) Hoàng bà Hoàng Bôi Hoàng Cao Khải Hoàng Công/Văn Chất Hoàng Công Kì Hoàng Công Lí Hoàng Công Phụ Hoàng/Huỳnh Diệu Hoàng đế điền chủ Hoàng Đình Ái Hoàng Đình Bảo Hoàng Động (man) Hoàng Hạ (trống) Hoàng Hoa Thám / Đề Thám <em>Hoàng Lê nhất thống chí</em> Hoàng Nghĩa Hiền Hoàng Ngũ Phúc Hoàng Phủ Ngọc Phan, Hoàng Phủ Ngọc Tường Hoàng Phùng Cơ Hoàng Quốc Việt Hoàng Quỳnh (Lm.) Hoàng Sa / Tây Sa Hoàng Sào “Hoàng thành Thăng Long” Hoàng Thị Châu Hoàng Thọ Hoàng Thuỵ Năm (Đại tá) Hoàng triều Luật lệ Hoàng triều Quan chế Hoàng tử Cảnh Hoàng Sùng Anh, Cờ Vàng Hoàng Văn Hoan Hoàng Xuân Hãn hoành đầu (tiền thưởng) Hoành Sơn Hoằng Tháo Hô (Đô đốc), Hô Hổ hầu Homo sapiens Hồ (thành, An Nghiệp) Hồ Chí Minh (chủ tịch, giải thưởng, thời đại) Hồ Đồ Hồ Đồng Hồ Hán Thương Hồ Hữu Nhựt Hồ Hữu Tường Hồ Hựu Hồ Nguyên Trừng Hồ Quý Li Hồ Sĩ Dương Hồ Tôn tinh Hồ Tông Thốc/Xác Hồ Văn Mai Hồ Văn Ngà Hồ Văn Nghị Hồ Văn Vạn Hồ Xá Hồ Xuân Hương <em>Hổ trướng khu/xu cơ</em> Hồi, Hồi Giáo, Hồi Hột Hồi Lương Hội An Hội đồng Cải cách Giáo dục Hội đồng Hàng tỉnh Hội đồng Quân nhân Cách mạng Hội đồng Tư vấn Bắc Kì, Trung Kì Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Hội Nhân Quyền Hội Thừa Sai Paris, Hội Truyền giáo Ngoại quốc Pháp Hỗn Điền / Hỗn Hội Hồng (sông) Hồng Bàng Hồng Bảo Hồng Châu Hồng Đức <em>Hồng Đức quốc âm thi tập </em>Hồng Hiến Hồng Phúc Hốt Tất Liệt, Nguyên Thế Tổ Hợp Phố Hua Panh Huế, trà Huế Huệ Đức Vương Huình Tịnh Của Hung Nô Hùng: Vương (nhân vật, thời đại, đền, hệ thống), tướng, hầu, điền, <em>Hùng Vương dựng nước </em>Huyền Khê Huyền Quang (Tăng thống) Huyền Trân Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt) Huỳnh Cự Huỳnh Minh Huỳnh Tấn Huỳnh Tấn Mẫm Huỳnh Tấn Phát Huỳnh Văn Nghệ Huỳnh Văn Tiểng Huỳnh Thúc Kháng Hưng Hoá Hưng Nguyên Hưng Phúc / Phước Hưng Hưng Thạnh (tháp) hương, hương ấp quan, hương chức, hương ước, ngôi hương ẩm</p>
<p><strong>I </strong>Ia Drang I Bih Aleo I-nê-xu / Ignatio Ibn Batutah Ieng Sary Ignesico Văn Tín Indrapura Indravarman IV, Indravarman V Inrasara Islam Issara/la Issarak / Khmer Tự Do Itu Aba / Ba Bình</p>
<p><strong>J</strong> Java Jaya Harivarman / Chế Bì La Bút Jaya Paramesvaravarman II Jaya Shinhavarman II / Sạ Đẩu Jayashinhavarman IV / Harijit / Chế Mân Johnson, L.B. (Tổng thống) Junction City (Hành quân) Junfa</p>
<p><strong>K </strong>Kambudesa/Kampujâs/Camboye/Cambodia/Cambodge/Kamphuchia Karnow, E. Katê (lễ) Kaudinya Kiều Trần Như Kauthara Kẻ Chợ / Cachu Kelantan Kennedy, R.F. Kéo Lèng Khe Sanh Khmer Khmer Krom Kiên Thành Kiển Thành / thành Kén Kiểu Công Hãn Kiểu/Kiều Công Tiện Kiểu Hiền Kiểu Quốc (Lương) Kim Định Kim Lân Kim Ổ Kim Sa / sông Dương Tử Kim Sơn Kim Thành Kinh (người) Kinh Ấp Kinh Bắc Kinh Cựu Kinh phủ Kiritas Kissinger, H. Koffler, Jh. Koho Koshichang Kra krek</p>
<p><strong>Kh</strong> Khả Lam Khai nguyên (tiền) Khái Hưng (Trần Khánh Giư) Khải Định Khang Thái và Chu Ứng khao giáp Khánh Hoà Khắc Xương / Cung Vương Khâm Châu <em>Khâm định Việt sử thông giám cương mục / Cương mục Khoá hư lục</em> Khoái Châu Khổng Tử “khởi nghĩa nông dân” Khu Dinh điền Khu Liên/“riên” / kurung Khu Trù mật Khu Túc (ông) Khù / Guru Khúc Hạo, Khúc Thừa Dụ, Khúc Thừa Mĩ Khuyến nông Khương Công Phụ, Khương Công Phục Khương Mĩ Kim Trang (Yeng Sary)</p>
<p><strong>L</strong> La Cochinchine francaise <em>La Cloche Fêlée</em> Lady Borton La Hai <em>La Lutte</em> La Mã, Đông La Mã La Ngai / Jaya Shimhavarman V La Rivière de Tonkin la thành, La Thành La Văn Cầu lá buông (giấy) Lã Thuần Dương Lạc: Vương, hầu, tướng, dân, điền, (chim) Lạc Biên Lạc Hoá (phủ) Lạc Tân Vương Lafont (Thống đốc) Lai Châu Lại Giang Lam (sông) Lam Sơn, Lam Kinh, <em>Lam Sơn thực lục </em>Lam Sơn 719 (Hành quân) / Deway Canyon II Lâm Văn Tết Landes Lan Khai Lan Kham Deng Lan Xang / xứ Triệu Voi Langbiang / Lâm Viên Lang Chánh Lang Tủng Lãng Bạc Lạng Sơn lánh/lính, lánh tráng / lính tráng Lao Bảo Lao Động Việt Nam (đảng) Lào Ai Lao Lão Qua Lạy xác (tục thờ Ông Bà) Lâm Ấp, <em>Lâm Ấp kí </em>Lâm Duy Hiệp/Phát/Nghĩa Lâm Văn Phát Lập Bạo Lập Giáo (Hoàng hậu) lập hậu Le Brun / Cai đội Thạch Oai hầu Le Myre de Vilers Leaky, R. Lefèbre (giáo sĩ) Lenin, Vl. Les Kosem Lévêque (Khâm sứ) levirat / tục “nối ruột” Lê (họ) Lê Anh Tông / Bang Lê Anh Tuấn Lê Anh Xuân Lê Bá Li Lê Bá Minh Lê Bá Ngọc Lê Bằng Lê Bôi Lê Bổng Lê Cảnh Tuân Lê Cập Đệ Lê Cơ Lê Chất Lê Chiêu Thống Lê Chiêu Tông Lê Duẩn Lê Duy Hoán Lê Duy Lương Lê Duy Mật Lê Duy Thanh Lê Duy Vĩ (Thái tử) Lê Đắc Ninh Lê Đình Chính Lê Đình Lí Lê Đức Thọ Lê Hi Lê Hiến Tông Lê Hiển Tông Lê Hoàn / Đại Hành Lê Hồng Phong Lê Hữu Bôi Lê Khắc Sinh Nhật Lê Khuyển Lê Lai Lê Lăng Lê Long Đĩnh / Ngoạ Triều Lê Long Mang / Nam Quốc Vương Lê Long Việt / Nam Phong Vương / Trung Tông Lê Lợi / Thái Tổ Lê Lương Lê Minh Xưởng Lê Năng Trường Lê Ngã Lê Ngọc Bình Lê Nhân Tông / Bang Cơ Lê Niệm Lê Phi Thừa Lê Phụng Hiểu Lê Quý Đôn Lê Tắc/Trắc Lê Tần / Phụ Trần Lê Tung Lê Tương Dực / “vua Lợn” Lê Thạch Lê Thái Tông / Nguyên Long Lê Thánh Tông / Tư Thành Lê Thần Tông Lê Thọ Vực Lê Trang Tông / Ninh Lê Trọng Thứ Lê Trừ Lê Uy Mục / “vua Quỷ” Lê Văn An Lê Văn Duyệt Lê Văn Đức Lê Văn Hảo Lê Văn Hưu Lê Văn Khôi / Nguyễn Hựu Khôi Lê/Tạ Văn Phụng Lê Văn Quân Lê Văn Tám Lê Văn Viên (con LVKhôi) Lê Xuân Chuyên Lễ tiết Trần Lệ Khai Li Tana Lí (tộc, họ, triều đại) Lí Anh Tông Lí Bí/Bôn Lí Bồ / Khai Quốc Vương Lí Cao Tông Lí Công Bình Lí Chánh Trung Lí Do Độc Lí Đạo Thành Lí Đông A Lí Giác Lí Hiến Lí Hộ (Đô hộ) Lí Hoảng / Nhật Quang Lí Huệ Tông / Sảm Lí Khai Ba Lí Khuê Lí Nguyên Cát Lí Nguyên Khải Lí Nhân Nghĩa Lí Nhân Tông Lí Ông Trọng Lí Phật Tử Lí Phục Man Lí Quang Diệu Lí Sùng Phúc Lí Tài (Hòa Nghĩa quân) Lí Tắc Lí Tư Lí Tử Tấn Lí Tự Tiên Lí Thái Tổ / Công Uẩn Lí Thái Tông Lí Thánh Tông Lí Thần Tông Lí Thiên Bảo Lí Thúc Hiến Lí Thường Kiệt / “thằng Cặt” Lí Thượng Cát / “thằng Cứt” Lí Tích Lí Tiên Lí Trác Lí Trần Quán Lí Triều Tiên Lí Trường Nhân Lí Văn Quang Lí Xuân Lị Nhân Lía, vè chàng Lía, <em>thơ Văn Doan Lịch sử Đàng Ngoài Lịch triều hiến chương loại chí Lịch triều tạp kỉ </em>Liêm Châu Liên Hiệp Quốc Liên Xô Liễu Hạnh Vân Cát Thần nữ Liễu Thăng linga Linh/Linh Vương Lĩnh Nam <em>Lĩnh Nam chích quái Lĩnh ngoại đại đáp</em> Lisbonne Lỗ Hạnh Lỗ Khê lộ ông Lộ Văn Luật Lokesvara / Quan Âm lồn cứt Long (Đô đốc), Mưu Long Biên / Long Uyên Long Đỗ Long Giao Long Hồ Lonnol Lovek Long Xuyên Lonnol Luang Prabang Luông Pha Bang Lục Đầu Lung Leng Luro Luy Lâu luỹ: Luỹ Thầy / Trường Dục, An Náu, Trường Sa, Trấn Ninh Lũng Nhai Lư Tổ Thượng Lữ Phương Lương / Hậu Lương Lương Đăng Lương Giang Lương Nguyên Bưu Lương Nhữ Hốt Lương Ninh Lương Thạc Lương Thế Vinh Lương Văn Chánh Lương Xá Lưu Ẩn Lưu Cơ Lưu Cung Lưu Diên Hựu Lưu Hằng Tín Lưu Hữu Phương / Huỳnh Minh Siêng Lưu Kế Tông Lưu Khánh Đàm Lưu Nhân Chú Lưu Phương Lưu Tống (triều đại) Lưu Vĩnh Phúc, Cờ Đen Lữ Đường Lữ Tống Lý Đông A / Nguyễn Ngọc (Hữu) Thanh</p>
<p><strong>M </strong>Macao, Mã Cao Ma Linh Ma Sa Ma Vân Trường Mã (sông) Mã Đoan Lâm Mã Lai Mã Lai Á / Malaysia mã tà / matamata Mã Viện Mạ, “vương quốc Mạ” Mạc (họ, nhiều họ) MAACV / Bộ Tư lệnh Quân viện Việt Nam Mạc Cảnh (Kính) Huống Mạc Cửu Mạc Đăng Dung Mạc Đỉnh Chi Mạc Hiền Mạc Hiển Tích Mạc Kính Chỉ Mạc Kính Cung Mạc Kính Điển Mạc Kính Khoan Mạc Mậu Hợp Mạc Ngọc Ỷ Mạc Thiên Tứ Mai Cầu Mai Chân Mai Thúc Loan / Thúc Yên / Thành Lập / Hắc Đế, Vua Đen Mai Vạn Long Mai Xá Mái Đá Nguờm Malacca / Mãn Thích Gia Malleret, L. Man (cao, thượng, hạ) Man Nương Mang (đèo), Mang Giang/yang, Cửa Trời Mansfield, M. Mao Trạch Đông Marchand (Lm.) Marco Polo Marcus Aurelius Marini (giáo sĩ) Martin Luther King Jr. Marx, K. Maspéro, H. Mắm (tháp) Mặt trận Giải Phóng Dân Tộc Cao Nguyên, Mặt trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam Mặt trận Liên Tôn Chống Cộng Mặt trận Quốc Gia Thống Nhứt (1946) Mặt trận Việt Minh Mân, Mân Việt Mân Thít Mâu Du Đô Mật Tông Mekong Menam Menras A., (Hồ Cương Quyết) Meru Mê Linh Michalak, M. (đại sứ) Miche (Gm.) Mĩ / Hoa Kì Mĩ Lai / Sơn Mĩ Mĩ Lương Mĩ Sơn Mĩ Tho Mị Nương, Mị Châu Miến, Miến Điện Minh (người, triều đại) Minh Hương Minh đạo (hiệu tiền) Minh kinh Minh Mạng Minh Nghĩa (vệ) Minh Thành Tổ Mnong Mọi, Mọi hoang, Mọi thuộc, Kẻ Mọi Mọi Xoài / Mỗi Xuy Mọi Đá Vách Mộc Châu / Mường Mộc Mộc Thạnh Mộc trụ Thần xà Môn-Khmer Môn Lai Phù Tử, Thôn Ba Hú, Bô Kha Đáo Mông Cổ Mông Kha Montesquieu Morelli, Phúc Châu Mounier, E. Mùa Hè Đỏ Lửa Mukha/Mecca Mười hai / Thập nhị Sứ quân Mường Mường Thái (tập họp)</p>
<p><strong>N</strong> Naga Nam Bộ, Nam Kì, Nam Kì tự trị Nam Chiếu Nam Chưởng Nam Dương, Indonesia Nam Giao Nam Hán Nam Kinh <em>Nam Phong tạp chí </em>Nam Phương (thiền phái) Nam Phương Hoàng hậu Nam Quan, Trấn Nam Quan, Mục Nam Quan “Nam Quốc sơn hà&#8230;” Nam Sách Nam tiến Nam triều Bắc triều <em>Nam triều công nghiệp diễn chí</em> Nam Việt, Nam Việt Vương, Nam Việt Đế, <em>Nam Việt chí</em> Napoléon III Nàng Tía Nặc Chân Nặc Nộn / An Non Nặc Ông Chân / Ramiathipdei Nặc Ông Đài / Bô Tâm Nặc Thu Nậm U nậu, nẫu Nậu Lạt Đinh Navarre (tướng) New Zeeland Ninh Bình Ninh dân thông bảo Ninh Thuận Ninh Xá Nịnh Trường Chân Nixon, R. Nội (đạo) Nội các Nội thư gia nội thuộc / ngoại thuộc Nông trường Sông Hậu Nông Văn Vân Norodom Nùng Tồn Phúc Nùng Trí Cao Nước Mặn (cửa, vùng), Chiêm Thành cảng / Sri Banoi / Vinaya / Thi Lị Bì Nại Tì Ni / Kẻ Thử / Cách Thử “nước Stiêng”</p>
<p><strong>Ng</strong> Nga Lạc Nga Vương Ngân Già Ngân hàng Đông Dương Nghênh Phúc Nghệ An, Ngean Nghi Dân Nghi Vệ Nghiêm Kế Tổ Nghị quyết Vịnh Bắc Việt <em>Nghĩa khuyến giáo dân tân cựu ca</em> Ngọc Hồi Ngọc Lũ Ngọc Ma Ngọc Tháp Ngọc Tú Ngọc Vạn / Ang Cuv / Đam Sat Ngô (nước) Ngô Bá Thành (Bà) / Phạm Thị Thanh Vân Ngô Bệ Ngô Chân Lưu / Khuông Việt Đại sư Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu Ngô Đức Đệ Ngô Đức Kế Ngô Gia Tự Ngô Kha Ngô Lí Tín Ngô Lợi Ngô Mân Ngô Ngọc Lâm Ngô Nhật Khánh / An Vương Ngô Quyền, Ngô Tiên Chủ Ngô Sĩ Liên Ngô Thế Lân Ngô Thì Nhiệm, Ngô Thời Nhiệm Ngô Thì Sĩ Ngô Thuận Đế Ngô Tòng Châu Ngô Tôn Quyền Ngô Vương Toại Ngô Xương Ngập / Thiên Sách Vương Ngô Xương Văn / Nam Tấn Vương Ngô Xương Xí Ngô Xử Bình Ngột Lương Hợp Thai Ngũ Đại nguồn Nguyên (triều đại), <em>Nguyên sử</em> Nguyên Phong Nguyễn (họ dân, chúa, vua) Nguyễn Ái Quốc / Nguyễn Tất Thành Nguyễn An Ninh (nhân vật, Hội kín) Nguyễn (Phúc) Ánh Nguyễn Bá Nghi Nguyễn Bá Xuyến Nguyễn Bảo (nhân vật, Tiểu triều) Nguyễn Bảo Hoá / Tô Nguyệt Đình Nguyễn Bặc Nguyễn Biểu Nguyễn Bính Nguyễn Bình Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyễn Cao Kỳ Nguyễn Chế Nguyễn Chích Nguyễn Công Hãng Nguyễn Công Trứ Nguyễn Cư Trinh Nguyễn Cửu Quý Nguyễn Cửu Thông Nguyễn Cửu Vân Nguyễn Danh Phương / Quận Hẻo Nguyễn Diên Nguyễn Du Nguyễn Du Dịch Nguyễn Duy Hinh Nguyễn Duy Trinh Nguyễn Đa Phương Nguyễn Đại Nguyễn Đại Phạp Nguyễn Đăng Thịnh Nguyễn Đăng Vân Nguyễn Đê Nguyễn Đính / Trần Vàng Sao Nguyễn Đình Chiểu Nguyễn Đình Đầu Nguyễn Đình Tán Nguyễn Đình Tân Nguyễn Đình Trụ Nguyễn Đức Trung Nguyễn Đức Xuyên Nguyễn Gia Phan Nguyễn Gia Thiều Nguyễn Hải Thần Nguyễn Hàng Nguyễn Hiến Lê Nguyễn Hiền Nguyễn Hoàng Nguyễn Hoằng Dụ Nguyễn (Văn) Huệ, Đức ông Tám, Bắc Bình Vương, Quang Trung Nguyễn Huỳnh Đức / Huỳnh Đức Nguyễn Hữu Cảnh/Kính Nguyễn Hữu Cầu / Quận He Nguyễn Hữu Chỉnh Nguyễn Hữu Dật Nguyễn Hữu Đang Nguyễn Hữu Hào Nguyễn Hữu Huân / Thủ khoa Huân Nguyễn Hữu Thận Nguyễn Hữu Thọ Nguyễn Hữu Thuỵ Nguyễn Hữu Tiến Nguyễn Khản/Lệ Nguyễn Khánh Nguyễn Khắc Tuyên Nguyễn Khoa Chiêm Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Thuyên Nguyễn Khoan Nguyễn Kim, Huân Tĩnh công Nguyễn Kim Phẩm Nguyễn Liễu Nguyễn (Phúc) Long Nguyễn (Văn) Lữ, “Bảy”, Đức ông Bảy, Pháp sư / Đại pháp sư&#8230;, Đông Định Vương Nguyễn Lương Bằng Nguyễn Mại Nguyễn Minh Triết Nguyễn Nghiễm Nguyễn Ngọc Lan (Lm.) Nguyễn Ngọc Nhựt Nguyễn Ngọc San Nguyễn Ngọc Tương Nguyễn (Văn) Nhạc, Biện Nhạc, Thư Nhạc,Yin Yac, Thượng sư / Thầy cả, Thái Đức Đế, Trung Ương Hoàng Đế Nguyễn Nhữ Cái Nguyễn Nộn Nguyễn Phan Nguyễn Phan Long Nguyễn Phi Khanh Nguyễn Phu Nguyễn Phú Trọng Nguyễn Phúc Anh Nguyễn Phúc Chu / Quốc Chúa Nguyễn Phúc Cự Nguyễn Phúc Dương, Hoàng tôn Dương, Tân Chính Vương, “quân Hoàng tôn” Nguyễn Phúc Hiệp Nguyễn Phúc Khoát Võ Vương Nguyễn Phúc Kiều Nguyễn Phúc Lan / Chúa Thượng Nguyễn Phúc Luân Nguyễn Phúc Nguyên / Chúa Sãi Nguyễn Phúc Quang Nguyễn Phúc Quân Nguyễn Phúc Tần / Chúa Hiền Nguyễn Phúc Thái / Chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Thụ Nguyễn Phúc Thuần, Duệ Tông Nguyễn Phúc Tĩnh Nguyễn Phúc Văn Nguyễn Phúc Vinh / Hữu Vinh Nguyễn Quang Bích Nguyễn Quang Tiền Nguyễn Quang Toản, Cảnh Thịnh, Bảo Hưng Nguyễn Quốc Trinh (1623) (Nguyễn) Quốc Trinh, Bồi tụng Nguyễn Quý Cảnh Nguyễn Quyền Nguyễn Quyện Nguyễn Rỗ Nguyễn Sĩ Cố Nguyễn Siêu Nguyễn Sơn / Vũ Nguyên Bác Nguyễn Sư Hồi Nguyễn Tạo Nguyễn Tăng Minh Nguyễn Tấn Dũng Nguyễn Thái Bình Nguyễn Thái Học Nguyễn Thánh Huấn Nguyễn Thân Nguyễn Thận / đạo Mục Nguyễn Thế Chuẩn Nguyễn Thế Chung Nguyễn Thế Truyền Nguyễn Thi Nguyễn Thị Bình Nguyễn Thị Đồng Nguyễn Thị Lộ Nguyễn Thị Ngọc Vịnh Nguyễn Thị Thuyết / Bà Bổi Nguyễn Thiếp Nguyễn Thông Nguyễn Thung Nguyễn Thuyên Nguyễn Thủ Tiệp Nguyễn Thường Nguyễn Thường Xuân Nguyễn Tiến Lãng Nguyễn Tiến Lâm Nguyễn Trãi Nguyễn Tri Phương Nguyễn Triều Vân Nguyễn Triệu Hồng Nguyễn Trung Ngạn Nguyễn Trung Trực Nguyễn Trực Nguyễn Trương Hiệu Nguyễn Trường Tộ Nguyễn Tuyển Nguyễn Tường Tam, Tự Lực Văn Đoàn, <em>Phong Hoá, Ngày Nay</em> Nguyễn Uông Nguyễn Ư Dĩ Nguyễn Văn Bé (dũng sĩ diệt Mĩ) Nguyễn Văn Bông Nguyễn Văn Bột Nguyễn Văn Cừ Nguyễn Văn Duệ Nguyễn Văn Dụng Nguyễn Văn Hinh Nguyễn Văn Huyên Nguyễn Văn Hưng Nguyễn Văn Kiên Nguyễn Văn Lang Nguyễn Văn Nghĩa Nguyễn Văn Ngũ / giặc Du Bao Nguyễn Văn Sâm Nguyễn Văn Tạo Nguyễn Văn Tâm Nguyễn Văn Thành Nguyễn Văn Thinh Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Văn Tồn Nguyễn Văn Trắm/Chắm Nguyễn Văn Trung Nguyễn Văn Trương Nguyễn Văn Tường Nguyễn Văn Xuân (triều Nguyễn) Nguyễn Văn Xuân (Thủ tướng) Nguyễn Viên Nguyễn Viết Thứ Nguyễn Vỹ Nguyễn Xí Nguyễn Xuân Nguyệt Ấn người khổng lồ “người Java” Ngưu Hống Ngự sử đài</p>
<p><strong>Nh</strong> Nha Hầu Nha Trang Nhà Bè Nhà nước / Quốc gia, Quốc chủ (Vua) Nhâm Diên <em>Nhân Dân </em>Nhân Văn Giai phẩm (vụ án) Nhất binh Nhật, Nhật Bản Nhật Bản Đại Quốc Vương (đảo chính 9-3-1945) cầu Nhật bản / Lai Viễn Kiều Nhật Lệ Nhật Nam, Nhật Nam tăng Nho Giáo Nho sĩ Nhồi (làng) Như Hồng Nhữ Đình Toản</p>
<p><strong>O</strong> Óc Eo (Văn hoá) Ô Châu, Ô Lí/Rí <em>Ô Châu cận lục </em>Odendh’al Ô Mã Nhi Ốc Nha / Okya Odoric de Pordenone Ôn Như Hầu (vụ án phố) “ông Nghè” Ong Vangsaraja / Ung Minh Ta Điệp Oudong</p>
<p><strong>P </strong>Palembang Palei Thươn (Hậu Sanh) Pandanan (Philippin) Panduranga / Panran, Phan Rang Paramesvari Paramesvaravarman Paris, M.C. Parmentier, H. Pasquier (Toàn quyền) Pathet Lào Pellerin (Gm.) Pelliot, P. Pen Soven Pétain, P. Petit Laos (Bồn Man) Pha Ngum Phát triển Sắc tộc (Bộ) Phạm (họ Thái), (họ Tây Sơn) Phạm Chí / Phạn Chí Phạm Chiên Phạm Chuỳ/Trĩ Phạm Bạch Hổ / Phòng Át Phạm Công Trị Phạm Công Trứ Phạm Dao Phạm Dật Phạm Duy (nhạc sĩ) Phạm Dương Mại Phạm Đăng Hưng Phạm Đình Chi Phạm Đình Hổ Phạm Đình Trọng Phạm Hạp Phạm Hồ Đạt Phạm Hoàng hậu Phạm Hùng (Chàm) Phạm Hùng (CS) Phạm Huy Thông Phạm Hữu Lễ Phạm Hữu Nhật Phạm Hữu Tâm Phạm Khắc Hoè Phạm Kính Ân Phạm Ngạn Phạm Ngọc Chúc Phạm Ngọc Thảo Phạm Ngũ Lão Phạm Phật Phạm Quỳnh (Mạc) Phạm Quỳnh (Nguyễn) Phạm Sư Man Phạm Sư Ôn Phạm Tầm Phạm Thành Đại Phạm Thế Căng Phạm Thị Thuỳ Vinh Phạm Thị Xuân Khải Phạm Thị Yên Phạm Văn Phạm Văn Điển Phạm Văn Đồng Phạm Văn Hưng Phạm Văn Nghị Phạm Văn Sâm Phạm Văn Sĩ Phạm Văn Xảo Phạm Vấn Phạm Xuân Ẩn Phạm Võ Phan (họ) Phan Bá Vành Phan Bội Châu Phan Châu Trinh Phan Đình Giót Phan Đình Phùng Phan Hâm Phan Hiển Đạo Phan Huy Ích Phan Huy Quát Phan Huy Thực Phan Kế Toại Phan Khắc Sửu Phan Khôi Phan Kiệt Phan Lâm Phan Lân Phan Liêu Phan Ma Lôi Phan Mãnh Phan Mĩ Phan Ngạn Phan Phu Tiên Phan Quang Đán Phan Rí Phan Thanh Giản Phan Thị Lương Phan Thiết Phan Thúc Trực Phan Trần Chúc Phan Trung Phan Xích Long / Phan Phát Sanh / Nguyễn Văn Lạc Phàn Tiếp phản chiến Mĩ Phao Sơn Pháp (người, xứ), Phú Lãng Sa Pháp Loa Pháp Luân Công Phật Giáo/đạo, Phật Vương, “Phật”, giặc Phật Phật Mã Phật Thệ Phiên, phiên dân Phiên An Phiên lễ Phiên Trấn Philastre, P. phnom, bnam, Phnom Penh Phong Châu Phong Khê Phong Sa Lỵ <em>Phong thần</em> Phò Lê (làng) Phố/Phú Hài Phố Hiến, Phố (Vạn) Lai Triều Phú Chánh Phú Hoà Phú Lâm Phú Lợi (đầu độc) Phú Lương Phú Thọ Phú Yên Phú Xuân Phù Đổng (hương, thần) Phù Lê Phù Li Phù Nam, Phù Nam Đại Vương, <em>Phù Nam kí Phủ biên tạp lục </em>phụ tử liên danh <em>ví dụ: </em>Pen Saloth có các con Loth Suong (anh), Saloth Roeumh (gái) và Saloth Sar (em) nổi danh với tên hiệu Pol Pot Phúc, Hồ Phi Phúc Phúc Châu Phúc Kiến Phục Quốc (đảng, quân) Phùng (họ) Phùng An Phùng Chân Phùng Hưng Phùng Lộc Phùng Nguyên Phùng Tá Chu Phùng Trí Năng Phương cơ Phường/Thợ Đúc Pleime Pignon, L. Po Aly Po Binosur / Po Bil Thuôr Po Nagar / Tháp Bà Po Rayak/Riyak Po Rome, vua Mê Po Yan Dari Po Sah Po Yan Ino Nưga Poivre, H. Pondichéry pơtao/bôtao Prabhasadarma / Phạm Trấn Long pramana (đơn vị hành chính) Praya Bodin Proh (di tích)</p>
<p><strong>Q</strong> Quan Âm Quan Da Quách Kình Nhật Quách Hữu Nghiêm Quách Ngang/Mão Quách Phúc Thành Quách Quỳ Quách Thị Trang Quách Thịnh Ích/Dật Quách Tuấn (Lí Thường Kiệt) quan điền quản lãnh Quang Thuận Quảng Châu (cảng, đơn vị hành chính), <em>Quảng châu kí,</em> Quảng Đông, Quảng Tây Quảng Nam, “nước Quảng Nam” Quảng Ngãi Quảng Nguyên Quảng Trị Quảng Yên/Ninh Quắc Hương quân điền Quần Ngựa “quận” <em>Quế hải ngu hành chí </em>Quế Lâm Quốc Gia Độc Lập (đảng) Quốc hội VN DCCH quốc thần, quốc tính (Lê) (Nguyễn), hệ tính (Nguyễn) <em>Quốc/Lê triều hình luật, </em>luật Hồng Đức Quy Hợp Quy Ninh Quy Nhơn Quý Huyện / Tống Sơn Quý Hương / Bái Trang / Gia Miêu / Gia Miêu Ngoại trang Quỳnh Lâm</p>
<p><strong>R</strong> Rama I <em>Ramayana </em>Ran Ran Rạch Gầm Xoài Mút Rạch Giá Retord (Gm.) Rheinart (Ksứ) Rivière, H. Roh Tae Woo Rossard, Antonio Vicenti Roubaud, R. Rusk, D.</p>
<p><strong>S</strong> Sa Đec Sa Huỳnh (Văn hoá) Sạ Đẩu (Chàm) Sạ Đẩu (Lào)/P’ot’isarat Sai Chakrap’at Sailendra Sài Gòn, Prey Kor Sài Thung <em>Sãi Vãi </em>Sách (sắc tộc) / sách Sắc bùa / nậu Sắc bùa Salwen Sambhuvarman / Phạm Chí / Phạn Chí Samrong Sen Sầm Nghi Đống Sầm Nứa, Sầm Thượng, Sầm Hạ San Francisco (hội nghị) Sankah <em>Sáng Tạo</em> Sarraut, A. Satyavarman shaman thầy mo Sharpa (buôn) Siem Reap Sihanouk N., Sihanoukville Shiite Singapore/pour / Hạ Châu Siva/Civa Sĩ Nhiếp Soái phủ Sài Gòn Sóc Trăng Soma <em>Song tinh </em>(truyện) Sòng (đền), Sùng Sơn sông Bé / Đạ Glung, Sông Bé Shinhapura Sơn Nam (nhà văn) Sơn Nam, Sơn Nam Hạ Sơn Ngọc Minh Sơn Ngọc Thành Sơn phòng (Nha) Sơn Tây Sơn Tinh Thuỷ Tinh Sơn Vi (Văn hoá) Spellman (Hồng y) Spratley / (đảo) Trường Sa Sri Mara Stieng Sukarno Sultan Sùng Hiền hầu Sùng Thiện Diên Linh Sunni Suryavarman I Suryavarman II <em>Sử kí </em>Đỗ Thiện, Tư Mã Thiên</p>
<p><strong>T</strong> Tá (Chàm) Tá Quốc (Hoàng hậu) Tạ Quang Cự Tạ Thiên Huân Tạ Thu Thâu Tạ Tri Hiển Tạ Văn Phụng / Lê Duy Phụng Tam Đảo Tam Giác Sắt Tam Giáo Tam Ích Tam phủ / Ưu binh <em>Tam Quốc chí, Tam quốc chí diễn nghĩa</em> Tam ti Tam Vương (loạn) Tám Hà Tạm ước 16-9-1946 Taylor, K.W. Tản Viên (núi, thần), Ba Vì Tăng Cổ Tăng lục Tân An Tân Bình Tân Châu Tân Lộc Tân Sở Tân Việt Nam Hội Tây (hồ) Tây Âu Lạc Tây Ban Nha Tây Đô, Tây Kinh Tây Giai Tây Giang Tây Nguyên / Cao nguyên Trung Phần Tây Kết Tây Sơn, “cách mạng Tây Sơn”, quân Ó Tây Việt Tây Vu, Tây Vu Vương <em>Tấn thư </em>Tần <em>Tập san Sử Địa</em> Tập Đình (Trung Nghĩa quân) Tề (loạn) Tề ngôi (cướp biển) Tết Mậu Thân Thomas, A. Tích Quang Tiên Điền Tiên Lãng Tiến quân ca Tiền (sông) tiền: đồng, kẽm, tiền giấy Tiền Hải Tiền Phong (xứ uỷ) <em>Tiếng Dân</em> Tiết độ sứ Tiết Tổng Tin Lành Tín phiếu Tiêu Tư Tiêu Văn Tiểu Đồng Nai Tinh Thiều Tĩnh Hải Quân Toa Đô Toà án Stockholm Toà Bố Toàn Phù Toàn Thắng (hành quân) toát (tiểu, đại) Tô Định Tô Hậu Tô Hiến Thành Tô Lịch (sông) Tố Hữu Tồi Ôi Tôn Đức Thắng Tôn Sĩ Nghị Tôn Thất (họ) Tôn Thất Bật Tôn Thất Dương Kỵ Tôn Thất Dương Tiềm Tôn Thất Thuyết Tonkin/Tonchino/Tonkin/Tonqeen/Tonqium(n) Tông Đản Tống (họ Đàng Trong) Tống (triều đại), dân lưu vong, Nam Tống Tống Bình Tống Cao Tông Tống Cảo Tống Đức Minh Tống Hữu Đại Tống Hữu Thận Tống Huy Tông Tống Khâm Tông Tống Lê Chân Tống Phúc Đạm Tống Phúc Hiệp Tống Phúc Thông Tống Phúc Trị Tống Phúc Trung Tống Sơn, Quý Huyện Tống Sơn Quạn quân, Quận chúa, Tống thị (vợ Nguyễn Phúc Kì), Tống Thiên Vương Tụ Long <em>Tụng Tây hồ</em> Tư Dung Tư Lăng Tư Mã Thiên Tư Tề Tứ Ân Hiếu Nghĩa Tứ Kiệt Tứ Linh Tứ sương quân Tứ trấn / Nhất binh Tức Mặc Từ Bá Tường Từ Chung Từ Diên Húc <em>Từ điển Việt Bồ La </em>Từ Đạo Hạnh Từ Vinh Tự Đức Tuyên Quang Tuỳ (triều đại) Tương Dương Tường Long Tưởng Giới Thạch Tượng (núi) Tượng Lâm, Tượng Lâm Ấp</p>
<p><strong>Th</strong> Thác Đông (chủ trương) Thạch Thất Thái (tộc người), Thái Trắng, Thái Lan Thái Bình (tỉnh, niên hiệu) Thái bình hưng bảo (tiền) Thái Bình Thiên Quốc Thái Công Triều Thái Đình Lan Thái Khang Thái Nguyên (xứ, khởi nghĩa) Thái Phiên Thái thú Thái thượng hoàng (Trần, Mạc) Tham biện, Tham biện Chủ tỉnh Tham tụng Thang Thượng, Thang Hạ Thang Trông Thanh (người, triều đại) Thanh Chiêm Thanh Hà Thanh Hải Vô Thượng Sư Thanh Hoá, Tenehoa Thanh Mai Thanh Nghệ <em>Thanh Nghị</em> Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội Thanh Niên Tiền Phong, Thanh Niên Tiền Tuyến Thanh Niên Xung Phong Thanh Trì Thau (Thái tử) “Thánh địa Cát Tiên” Thành Cát Tư Hãn Thăng Long thằng: Cặt/Cứt, Ái, Hàm, Chạy, Tạo, thằng Suy / ông Thân Lợi Thân (họ) Thân Vương ban Thẩm Khuyên Thập bát La Hán Thất Sơn Thập đạo Tướng quân Thầy (chùa) Thầy Cả Dairo The Young Turks Thế Lại Thi Thi Nại Thị Hoả Thị Nghè Thị Tứ / Thitu / Pagasa Thích Đại Sán, Thạch Liêm Hoà thượng Thích Đôn Hậu Thích Quảng Độ Thích Quảng Đức Thích Tâm Châu Thích Trí Quang (Phạm Văn Bồng) Thiên Chúa Giáo Thiên Địa Hội Thiên Đức Thiên Khánh Thiên Mụ Thiên phúc trấn bảo (tiền) thiên táng Thiên Tôn Thiên triều – Phiên thuộc, tâm thức phiên thuộc Thiên Trúc Thiên Trường Thiên tử binh <em>Thiền uyển tập anh</em> Thiết đột Thiết lâm Thiếu Sơn Thiệu Phong Thiệu Trị Thoát Hoan Thomson (Tđốc) <em>Thơ Nam Kì, Thơ tiếp theo Thơ Nam Kì</em> Thu Vật Thủ hộ (lính) Thủ lãnh Thuận Hoá Thuận Lưu Thuận Quảng Thuận Thành Thuận Thành Vương Thục (vua) Thục Phán thuốc lá / thuốc lào, tạm-ba-cô thuộc Thuỷ hoả kí tế <em>Thuỷ Kinh chú</em> “Thuỷ thiên tự” Thuỷ Xá Thuyền Nhân Thư gia thư nhi Thứ sử Thừa Thiên Thương bạc (sở) Thượng (người, xứ) thượng/hạ nguơn Thượng Dương “Thượng tướng”</p>
<p><strong>Tr</strong> Trà Kiệu Trà Hương Trà Lai / Jarai, Raglai Trà Lân Trà Toại Trà Toàn Trà Vang/Vinh, trapeang Trai Lang Trại/Kinh <em>Trạng Quỳnh,</em> Nguyễn Quỳnh Trấn Biên (Phú Yên) (Gia Định) Trấn Định (châu) Trấn Man (châu, luỹ) Trấn Ninh (xứ, châu) Trấn Tây Thành Trần (họ, triều đại) Trần Anh Trần Anh Tông Trần Bá Lộc Trần Bá Thọ Trần Bạch Đằng / Trương Quang Triều Trần Bửu Kiếm Trần Cảnh/Bồ, Thái Tông Trần Cảo (đầu Lê sơ) (cuối Lê sơ) Trần Chân Trần Chu Phổ/Tấn Trần Công Ninh Trần Công Xán Trần Cụ Trần Dần Trần Di Ái Trần Doãn Trần Dụ Tông Trần Duệ Tông Trần Đại Luật Trần Đại Thức Trần Đạo Tái Trần Đình Long Trần Đức Hoà Trần Đức Huy Trần Đức Lương Trần Đức Thảo Trần Đức Việp Trần Hiến Tông Trần Húc / Ngự Câu Vương Trần Huy Liệu Trần Ích Tắc Trần Khánh Dư Trần Khát Chân Trần Khắc Chung Trần Kiện Trần Kim Thạch Trần Lãm Trần Lão (lão?) Trần Lăng Trần Liên Trần Liễn Trần Lục Trần Lựu Trần Minh Tông Trần Nam Trung / Trần Lương Trần Nghệ Tông Trần Ngọc Liễng Trần Ngỗi / Giản Định Đế Trần Nguyên Diệu Trần Nguyên Đán Trần Nguyên Đỉnh Trần Nguyên Hãn Trần Nguyên Huy Trần (/Nguyên) Khang / Trần Thiêm Bình Trần Nhân Tông, Giác hoàng Điều ngự Trần Nhật Duật Trần Nhật Hiệu Trần Phế Đế Trần Phó Duyệt Trần Phong Trần Phú Trần Quang Diệu Trần Quang Khải Trần Quang Long Trần Quang Xưởng Trần Quốc Chẩn Trần Quốc Hoàn Trần Quốc Khang Trần Quốc Kiệt Trần Quốc Tảng Trần Quốc Tuấn / Hưng Đạo Vương, Đức Thánh Trần Trần Quốc Vượng Trần Quý Khoáng / Trùng Quang Đế Trần Quý Nha Trần Tấn Trần Thánh Tông Trần Thiên Lại Trần Thủ Độ Trần Thừa Trần Thượng Xuyên / Thắng Tài Trần Tôn Trần Trọng Kim Trần Tuân Trần Tung Trần Tự Khánh Trần Văn Đỗ Trần Văn Giáp Trần Văn Giàu Trần Văn Học Trần Văn Hương Trần Văn Hữu Trần Văn Kỉ Trần Văn Lai Trần Văn Lũ Trần Văn Ơn Trần Văn Thạch (CS) Trần Văn Thành (Đức Cố Quản) Trần Văn Tình Trần Văn Trạc Trần Văn Trung Trần Vàng Sao (Nguyễn Đính) Trần Xá Trần Xuân Trạch Trâu Canh Trâu Tôn <em>Tri Tân tạp chí</em> Triều Tiên / Đại Hàn Triệu (triều đại), Triệu Đà / Vũ Đế, Triệu Mạt / Văn Vương Triệu Nhữ Quát Triệu Quá Triệu Quang Phục / Việt Vương Triệu Tiết Triệu Túc Triệu Xương Trinh Minh Trình (Trần) Nguyên Bá Trình (Trần) Nguyên Đỉnh Trịnh (họ dân, chúa) Trịnh Bách Trịnh Cán Trịnh Căn Trịnh Cối Trịnh Công Năng Trịnh Công Sơn Trịnh Cương/Chù Trịnh Doanh Trịnh Duy Liêu Trịnh Đình Thảo Trịnh Đồ Trịnh Đỗ Trịnh Giác Mật Trịnh Giang/Khương Trịnh Hàng Trịnh Hoài Đức Trịnh Khả Trịnh Khải Trịnh Khắc Phục Trịnh Kì / Đào Quang Huy Trịnh Kiểm Trịnh Lãm / Hoàng Nhân Dũng Trịnh Lệ, Trịnh Lịch, Trịnh Luân, Trịnh Phất Trịnh Quốc (Hoàng hậu) Trịnh Sâm Trịnh Tạc Trịnh Toàn Trịnh Tráng Trịnh Trọng Tử Trịnh Tuy Trịnh Tùng, Bình An Vương Trịnh Xuân Trịnh Viên Trọng Thuỷ Trotsky, L. trống đồng Trúc Lâm Trung lập chế Trung Hậu hầu <em>Trung nghĩa ca</em> Trung Quốc / Trung Hoa, người Hoa Trung hưng (Lê) Trừng Quốc công Trương (họ Lê Bá Ngọc), họ Đàng Trong Trương Bá Cần Trương Bá Nghi Trương Bội Công Trương Chu Trương Công Da/Gia Trương Đăng Quế Trương (Công) Định Trương Hán Siêu Trương Hát Trương Hiển Trương Hống Trương Hữu Quýnh Trương Lập Đạo Trương Ma Ni, (Ni sư) Trương Ma Trương Minh Giảng Trương Như Tảng Trương Phát Khuê Trương Phụ Trương Phúc Loan, “quân Quốc phó” Trương Phúc Phấn Trương Phúc Phượng Trương Quyền Trương Tấn Sang Trương Thị Ngọc Lãnh Trương Tịch Trương Trà Trương Tử Anh Trương Văn Hạnh Trương Văn Hổ Trương Văn Sáng Trương Vĩnh Ký Trường Châu Trường Chinh / Đặng Xuân Khu Trường Giang Trường Kì / Nagasaki Trường Lưu Trường Sa (quần đảo) / Nam Sa Trường Tiền / Tràng Tiền Trường Viễn Đông Bác Cổ / EFEO Tùng Thiện Vương</p>
<p><strong>U</strong> U Thant Um Mưrup Ung Bảo Toàn Ung Châu Ung Văn Khiêm Urdurgia Uy (Tư khấu) Uỷ ban Xô viết Nghệ An (phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh) Ưu binh Ứng Phong Ứng Thiên</p>
<p><strong>V</strong> Vachet, B. Vannier, P. / Nguyễn Văn Chấn Vạn Gia Bá Vạn Kiếp Vạn Lại Vạn Tượng Vạn Xuân Văn Cao <em>Văn hiến thông khảo</em> Văn Khuông Văn Lang Văn Lương Văn Phong Vân Đồn (Tây Sơn) Vân Đồn (thương cảng) Vân Nam (trống) (tỉnh), Vân Nam Vương Varenne (Toàn quyền) Vauban Versailles (Hiệp ước) Vệ Quốc Đoàn Vị Long Vị Xuyên Vial, P. Viên Kiệu / Vân Kiều Viên ngoại lang Việt (cửa) <em>Việt chí</em> Việt Chứt (ngôn ngữ) <em>Việt điện u linh tập </em>Việt Khê Việt Nam, <em>Việt Nam sử lược</em> (Trần Trọng Kim), <em>Việt nam sử lược</em> (Từ Diên Húc), <em>Việt Nam thế chí, Việt sử cương mục</em> Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội / Việt Cách Việt Nam Quốc Dân Đảng / Việt Quốc Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng Việt Nam Quang Phục Hội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân Việt Thường vijaya (đơn vị hành chính) Vijaya (nước, người) Vinh Li Ma Vĩnh Khang Vĩnh Tế Vĩnh Long Vinitaruci / Tì Ni Đa Lưu Chi Viollis, A. Virapura Võ Cạnh Võ Nguyên Giáp Võ Phiến Võ Tánh Võ Thành Minh Võ Văn Kiệt Võ Văn Lượng Võ Xán Voltaire Vọng Các / Bangkok, Công thần Vọng Các Vọng Thê Vũ Chân Vũ Công Đức Vũ Công Tuấn / “BaoTan”, Tiểu Giao Cương Vương Vũ Duy Chí Vũ Đái/”Cứt” Vũ Đình Hoè Vũ Đức Cát Vũ Đức Cung (Long Bình Vương) Vũ Hạnh Vũ Hồng Khanh Vũ Mọng Uyên Vũ Như Tô Vũ Quốc Thúc Vũ Thạnh Vũ thắng (binh) Vũ Thư Hiên <em>Vũ trung tuỳ bút </em>Vũ Văn Dũng, Chiêu Viễn hầu Vũ Văn Mật Vũ Văn Nhậm / Võ Văn Nhiệm Vũ Văn Uyên Vũ Xuân Cẩn Vụ “Gián điệp Bình Định” Vua Lửa, Euil At Vua Núi / Sơn Vương Vua Nước Vũng Long / Neak Luong Vũng Tàu Vương An Thạch Vương Mãng Vương Nhữ Chu Vương Thông</p>
<p><strong>W</strong> White, Jh. Woodside, A.</p>
<p><strong>X</strong> Xa Khả Tham xã (tiểu, đại) Xã Hội (đảng Pháp, Việt) Xã tắc (thần) Xak Pakei Xiêm La, Tiêm / Tiêm La, “Xiêm”, Xiêm binh Xít-ta-lin Xuân Đài Xuân Lộc (địa điểm, trận chiến) Xuân Thuỷ Xứ Châu</p>
<p><strong>Y</strong> Ỷ Lan Yan Pu Nagara Yang Mun Yang Po Ku Vijaya Sri / Đức vua Tôn Quý Thắng lợi Yang Prong Yavana/Youn Yên Báy (xứ, khởi nghĩa) Yên Phi (tàu) Yên Sở Yên Tử Yeng Sary Yersin, A. Yogi Aoyagi Yoni Yuvaraya</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23910/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

