Bài thuộc thể loại: Nghiên Cứu
Thật ra Giao Châu đã không trải qua một nền hành chánh rập khuôn theo kiểu Trung Quốc vì Trung Quốc chỉ luôn coi Giao Châu như là một địa hạt ở biên giới mà dân cư toàn là “bọn man di” không phải là người Trung Quốc; nhưng Giao Châu lại học được các kinh nghiệm của Trung Quốc nhiều hơn bất cứ châu nào khác …
Khi đi tìm ý nghĩa của thế kỷ 6 đối với lịch sử Việt Nam chúng ta cần phải nhìn vào cả quá khứ lẫn tương lai …. Việc chuyển cái móng từ người này qua người khác là theo một khuôn mẫu huyền tích sẵn có về hôn nhân và phản bội.
Đọc xong cuốn “Hương vị ngày xưa” của tác giả Nam Sơn Trần Văn Chi, tôi mới nghiệm ra một điều là viết về nhà quê coi đơn giản vậy mà rất khó viết vì nó đòi hỏi cái chất liệu thật nhiều hơn là hư cấu, nó cần cái vốn trải nghiệm của chính tác giả ….
Tác giả làm “phá sản” chính mình và tự xây dựng lại trên những đổ nát này để rồi lại tự huỷ diệt sau đó, quá trình này tiếp tục cho đến hết tác phẩm …. Nhưng tự huỷ diệt chính mình bằng hành động viết là một cách để đi vào vĩnh cửu : viết là những gì còn lại của một ai đó, của một cái tôi, những gì sẽ giúp nó tiếp tục tồn tại sau khi chết ….
Chia ra một loại tứ thiên vê tạo hình, một loại tứ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng cũng là cách phân biệt giản đơn cho tiện trình bày. Thông thường các nhà thơ thường thể hiện một tứ lớn bằng cách sử dụng xen kẽ các biện pháp tạo hình và biện pháp biểu hiện nên khó có sự phân chia rạch ròi.
Việt Nam chưa có và có lẽ không cần lắm phải có một Neruda. Nhưng rất cần một thái độ sám hối và hòa giải chân thành từ nhà cầm quyền Cộng Sản, biến nó thành một lễ hội quốc gia. Như nước Chile đang làm, chẳng hạn. Hãy thử quên đi những kiêu hãnh phù du về quá khứ. Vì bất kỳ một chiến thắng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó vô số bi kịch.
Phái Tỳ Ni hay còn gọi là Thiền Tông Phái là phái thứ nhất trong ba tông phái Thiền Phật Giáo chính trong lịch sử Việt Nam. Ba tông phái Phật Giáo Việt Nam này [Thiền Tông, Tịnh Tông, và Mật Tông] đã đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ độc lập sơ khai và kéo dài mãi cho tới thế kỷ 13.
Triều đại Triệu Quang Phục đã để lại ấn tượng sâu đậm trên tâm tư người dân bản xứ nhưng chỉ có Lý Bí và Lý Phật Tử được sử Trung Quốc nhắc đến, còn Triệu Quang Phục thì không. Họ Lý được Trung Quốc nói đến vì tổ tiên là người Trung Quốc và đã được Bắc Triều chính thức bổ nhiệm. Vì họ Triệu đã đi sát với văn hoá bình dân bản địa và mang sắc thái riêng của Phật Giáo Giao Chỉ nên Trung Quốc không muốn nhắc đến.
Mùa hè năm rồi nhà văn Nguyễn Tường Thiết, nhân chuyến nghỉ hè ở nhà tôi cùng với vợ, chị Thái Vân, và nhà thơ Trần Mộng Tú và chồng, anh Frank, đã đặt tên cho hòn đá này là Hòn Vua, khi tôi chỉ cho anh xem và nói cảm tưởng của tôi về hòn đá có dáng giống như một ông quan An Nam ngồi lặng lẽ ngóng ra biển trông về quê mẹ bên kia bờ Thái Bình.
Theo Helen Cixous, bản dịch Pháp ngữ Ullysses của Gallimard năm 2004 không chỉ là một dịch phẩm mà là một “siêu dịch” (ultraduction), vì các dịch giả trong bản Pháp dịch mới đã “dám Joyce-hóa văn bản” (oser joycer le texte), nghĩa là dám đưa vào bản dịch tất cả những sắc thái mà trong nguyên bản Joyce cố tình tạo nên, sáng tác một tác phẩm hết sức khó đọc, đã từng bị tố cáo là dâm đãng và tục tĩu và cũng được coi là vĩ đại nhất của thế kỷ 20.
Một buổi tối mùa Thu năm Nhâm Dần, cùng với vài người bạn họp nhau trong phòng sách: áp vào bốn bức tường là những giá sách uy nghi: những rặng sách chuyên môn còn thơm mùi giấy mới vững vàng đứng với những kinh truyện cổ xưa; triết lý sát cánh cùng khoa học, văn nghệ sánh vai với học thuật. Câu chuyện tự nhiên cũng lên tới những vùng cao rộng…
Thời gian ở trường Y khoa, đó thực sự là những năm xanh của một đời người. Không phải chỉ có học, chúng tôi còn có những bận rộn ngoài chuyên môn y khoa như hoạt động sinh viên và cùng với các bạn trông nom tờ báo Tình Thương. Tờ báo ấy ra đời trong một hoàn cảnh và thời điểm đặc biệt ngay sau biến động tháng 11 năm 1963.
Chúng ta có thể kết luận rằng vào thời ấy, sau hơn 5 thế kỷ dưới ảnh hưởng Trung Quốc, chủ đề độc lập tự chủ đã có từ thời tiền Trung Quốc vẫn mang những ý nghĩa sống còn cho dân tộc Việt.
Sự thật hiển nhiên là khi tham gia một phong trào cách mạng đang mọc lên, nhiều người đã bị thu hút vào đó vì viễn tượng của sự thay đổi đột ngột và hoành tráng trên những điều kiện sống của họ. Phong trào cách mạng vốn là công cụ dễ nhận thấy của biến chuyển.
Tổ tiên Lý Bí thuộc trong số những người Trung Quốc di cư tị nạn xuống miền Nam để trốn những rối ren bất ổn do loạn Vương Mãng (9-23 SCN). Đến thế kỷ thứ 6, thì họ Lý đến định cư ở bờ Bắc sông Hồng, tại Vũ Bình gần Tân Xương, dưới chân núi Tam Đảo.
Buổi sáng hôm đó, hiệu trưởng không được phép vắng mặt. Khi thầy đồ lên lớp “Phải có người giám sát sao cho việc dạy chữ Nho của thầy đồ đúng với phương pháp dạy chữ Nho đã được Tổng thanh tra học chính thông qua”. Về phía học sinh, học hay không, không bắt buộc.
Vì hay ngủ gật trong xuất hát ba, bốn màn dài thậm thượt, nên tôi không nhớ gì nhiều, ngoài một vài vai chính. Còn những vai phụ, tôi quên tuốt.
Đó là chuyện tuồng tích cải lương, còn chuyện ngôn ngữ? Việt ngữ cũng có những vai phụ như vậy.
Tôi nhớ, thuở nhỏ, đọc được ở đâu đó một bài viết về mạo từ trong tiếng Việt. Tác giả, không nhớ là ai, cho biết, Việt ngữ chỉ có một mạo tự giống đực duy nhất là “đực rựa”, còn lại rặt giống “cái”. Không hiểu bài tiểu luận ngôn ngữ ấy được viết theo khuynh hướng nào…
Bài viết này muốn đóng góp một vài ý nhỏ vào câu chuyện ngôn ngữ được thảo luận trong thời gian qua trên diễn đàn Da Màu. Đặc biệt, tôi cũng muốn chia sẻ và bổ túc một số những suy nghĩ được trình bày trong bài “Ngôn Ngữ Ngậm Ngùi” của anh Lê Hữu.
mỹ rộng quá biết đâu
mà hỏi em đẹp thế
biết sao mà hỏi cũng
vì ta đã có bàn
chân đã có con tim
Bài này viết cho mạng Da Màu, trả lời thắc mắc của vài bạn đọc Da Màu về ngôn ngữ. Nó chỉ có nội dung ngôn ngữ học thuần túy, từ tốn đóng khung trong việc chữ nghĩa. Vô bổ cho nhiều người.
Muốn trở thành một Bồ tát mà không vướng víu khát vọng trở thành Bồ Tát trông hơi giống như một trò đùa. Nói thế cũng chẳng khác gì nói: để biết một điều gì thì phải quan sát nó, nhưng ngay khi ta đang quan sát thì nó thay đổi và đó là một điều phi lý.
Bao nhiêu hùng tâm tráng chí, biết bao ngạo khí của kẻ hùng tài đại lược đều bị cơn lốc vô thường của cõi thế cuốn bạt đi tất cả, chỉ còn để lại những mảnh xương thơm của một người nổi tiếng dung nhan tuyệt đại một thời. Bá lăng Phi Yến mai hương cốt !
Một người đọc có ý thức và có sự cẩn trọng có lẽ cũng nên chú ý đến những cái vắng mặt khá hiển nhiên trong một văn bản văn học, để thử lý giải những sự vắng mặt đó, trước khi lên tiếng phản đối hay đưa ra phán quyết của mình. Đúng như Macherey đã nói: một tác phẩm không bao giờ thổ lộ được hết tất cả những gì tác giả muốn nói ….
… bất cứ điều gì con người hiện đại cũng lấy khoa học làm cơ sở để chứng minh; nhìn về lãnh vực tôn giáo, ngay cả trong những sự kiện gọi là phép lạ của các vị thánh, giáo hội cũng cần khoa học nhúng tay vào, để căn cứ vào đó mà thẩm định xem phép lạ có thật hay không.
Đã đến lúc các nước Đông Nam Á phải duyệt xét lại mình và phải nhận chân rằng: có triệt tiêu được những ý hướng dựa vào đế quốc mới thực sự xây dựng được một thế đứng tự lập. Tự lập chứ không phải cô lập, vì cô lập thì dễ bị đế quốc khuynh loát.
Trải qua bao nhiêu dự phóng, dàn xếp, vận động, việc kết khối Đông Nam Á cho tới nay có thể nói là vẫn chưa đạt được nền móng cụ thể nào, mặc dầu ý chí kết khối vẫn ngày càng được vun bồi mạnh mẽ hơn. Lý do chính yếu là vì nhiều quốc gia trong khu vực vẫn chưa tự gạt bỏ được liên hệ với các đế quốc bên ngoài. Ngoài ra còn có những suý đồ khuynh đảo riêng tư, những ganh ghét, e ngại lâu ngày đến nỗi đã trở thành tập quán
Người Malay vùng Đông Nam Á hải đảo là một trong những nhóm dân Bách Việt đã từ Hoa Lục thiên di xuống Đông Nam Á sớm nhất (Malay đợt 1 và Malay đợt 2). Qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi của lịch sử, những cái tên như Srivijaya, Majapahit vẫn luôn luôn là âm hưởng của một dĩ vãng vàng son ám ảnh tâm hồn người Malay và nung nấu một ý chí kết hợp bất diệt.


Men Da