<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Giới thiệu tác phẩm</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-tac-ph%e1%ba%a9m/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Kiếp Ch&#243;</title>
		<link>http://damau.org/archives/24282</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24282#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 15 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đặng Đình Túy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24282</guid>
		<description><![CDATA[Bùi Ngọc Tấn viết chuyện tù rất sống. “Người Chăn Kiến” là câu chuyện của ông giám đốc xí nghiệp chẳng may bị tù oan và còn là nạn nhân bị các tay anh chị trong tù tuyển chọn làm "nữ thần tự do," phải ở truồng trùng trục, tay giữ một vật tượng trưng cây đuốc và đứng bất động trên cao ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dophan_buingoctan.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="dophan_buingoctan" border="0" alt="dophan_buingoctan" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/dophan_buingoctan_thumb.jpg" width="287" height="335" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Chân dung nhà văn Bùi Ngọc Tấn (họa sĩ Đỗ Phấn, 2008)</em></font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Nghe Bùi Ngọc Tấn (BNT) nhận <a href="http://buingoctan.wordpress.com/2012/04/06/bui-ng%E1%BB%8Dc-t%E1%BA%A5n-do%E1%BA%A1i-gi%E1%BA%A3i-th%C6%B0%E1%BB%9Fng-l%E1%BB%9Bn/" target="_blank">giải thưởng của Tây</a> tôi bèn lục lạo số sách mình có xem thử có gì liên quan đến ông không. Gần như là không. Năm nọ có đọc một bài giới thiệu về <em>Chuyện Kể Năm 2000</em> do Nguyễn thị Hải Hà viết tôi cũng có ý định tìm xem thêm nhưng có lẽ trong thâm tâm hơi chán nghe chuyện đàn áp, bắt bớ và tù tội xảy ra như chuyện-thường-ngày-ở-huyện nên dù tự nhủ vậy mà tôi đã lờ đi (do phần phản đối từ trong tiềm thức tôi chăng?) Do vậy mà tôi cứ đinh ninh BNT là “chuyên viên ở tù” kiểu nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, cho đến hôm nay, nhân buổi vinh quang của ông (vừa nhận giải Henri Queffélec của Pháp với cuốn truyện Biển và chim bói cá) tôi mới xem qua tiểu sử và phát giác ra rằng ông chỉ “có thể” có ở tù (không chắc lắm) vài năm không rõ lý do. Và hiện nay thì ông vẫn sống đàng hoàng ở Việt-Nam, lại thêm được phép dong chơi hải ngoại. Thời đại này chỉ những người chính thức ngồi trong tù của Cộng Sản mới được xem là chống đối; những người ở ngoài vẫn phải mang cái ê-ti-két rất lờ mờ bởi họ sống dưới một chế độ lờ mờ có hành tung lờ mờ danh nghĩa lờ mờ…     </p>
<p>Nhưng chúng ta đang nói chuyện văn chương, đâu phải chuyện chính trị thì chống đối hay không chống đối có nhằm nhò gì? Hơn nữa, những truyện của BNT mà tôi đã đọc thì phần nhiều là …chuyện tù. Chắc là ông phải ở tù mới kể được chuyện tù một cách sống động như vậy chứ!</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tn.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Bui-Ngoc-Tn" border="0" alt="Bui-Ngoc-Tn" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tn_thumb.jpg" width="512" height="388" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Dấu tay in của Bùi Ngọc Tấn        <br />(Nguồn: </em></font><a href="http://phannguyenartist.blogspot.com/2011_05_01_archive.html" target="_blank"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Emprunt Empreinte – Trang Mượn Dấu Thời Gian</em></font></a>&#160;<em><font size="2" face="Times New Roman">của Phan Nguyên)</font></em></p>
<p align="left">&#160;</p>
<p align="left">Lại phải “nhưng” một lần nữa rằng cuốn sách duy nhất của BNT mà tôi đã đọc chỉ là một cuốn truyện được dịch ra tiếng nước ngoài chứ không phải là nguyên bản. Truyện dịch có cái hay và cái dở của nó, đặc biệt là dịch từ Việt ngữ. Ngôn ngữ ta “hào nhoáng” quá nên đâm ra thiếu chính xác. Lại thêm cái tâm hồn thơ của người Việt nữa –bất cứ người Việt nào– nên viết văn thật chẳng khác làm thơ. Vì vậy chỉ riêng chúng ta thích văn ta chứ chưa chắc người ngoại quốc đã thích được. Nói vậy không có nghĩa là các nhà văn ngoại quốc không dùng mỹ từ nhưng họ chỉ sử dụng có giới hạn và cách diễn tả của họ thiên về ý tưởng nhiều hơn trong khi ta lại thiên về <i>từ</i> hơn là <i>ý</i>, do đó rất khó dịch trừ khi người viết có tinh thần viết văn giản dị nhưng súc tích. Câu văn việt ngữ hầu hết đọc lên nghe rất “kêu” nhưng nếu được chuyển ra một ngôn ngữ khác có khi nó trở nên trần truồng trơ khất đáng buồn, tựa bộ lông con công khi bị vặt trụi. Hãy tưởng tượng tới văn phong của một Mai Thảo chẳng hạn…     </p>
<p>Bởi lẽ tôi đọc văn BNT bằng tiếng nước ngoài nên tôi sẽ dịch sai hoặc gần gần chứ không đúng chóc tựa các truyện, xin bạn đọc bỏ qua cho. Tập truyện của ông tôi đồ rằng nó mang tên là “Kiếp Chó” vì những mẫu nhân vật toàn chịu đựng điêu đứng khổ nhục như … chó, trừ truyện đầu tác phẩm mà tôi cho là đẹp nhất, có tên là “Khói” (sợi khói, đám khói?) nhẹ nhàng hơn hết và không thành… truyện vì không nhiều sự việc, thiếu kịch tính, chỉ để mô tả một trạng thái tâm hồn. Nhân vật Thân, mười chín tuổi là trưởng toán bảo vệ có nhiệm vụ canh gác đám tù thường phạm. Truyện xảy ra khi một người tù bị kết án tám năm vì tội đánh lộn (!) bỏ trốn trong khi anh ta chỉ còn một năm nữa là ra tù. Thân và cả toán đổ ra truy nã kẻ trốn thoát. Đôi mắt quan sát của nhà văn chỉ dồn vào có mỗi Thân chứ không hề đả động đến những người khác. Không gian là cánh rừng nơi đội tù chịu hình phạt cải tạo lao động. Nói đến rừng, nói đến buổi trời chiều, đến cái lạnh, cái trơ vơ mênh mông, người đọc đã thông cảm ngay được tâm trạng của chàng tuổi trẻ tên Thân ấy. May mắn trời không mưa hôm ấy, nhưng những hôm khác thì tầm tã, đội bảo vệ ướt sũng, đỉa vắt bấu lên da, lạnh và đói khiến người chỉ huy cáu kỉnh, chàng nguyện sẽ bắt tên trốn thoát trả giá cho những ngày dò tìm khốn khổ này. Vì trách nhiệm chàng phải cố gắng tìm kiếm kẻ vượt ngục nhưng trong không gian ấy, vào thời điểm ấy, con ngưòi rồi sẽ hành động khác đi, nếu không hoàn toàn tắc trách thì cũng có chút lơ là chễnh mãng. Chàng lần dò trong tiếng róc rách luôn lỉ của những giòng suối, mắt đưa tìm tia sáng cuối của mặt trời bị cắt bởi hình dáng thon thả của ngọn núi nhô cao (như chiếc vú mẩy! –mối liên tưởng của thân xác rạo rực đôi mươi), chợt nhận ra một sợi khói vươn lên hòa mình vào làn sương chiều tỏa ra từ những chòm cây. Một dấu hiệu hiện diện của con người nhưng chắc không phải là kẻ tẩu thoát; không ai trên đường tẩu thoát lại dại dột đốt lửa khi ngày chưa tắt. Nhưng biết đâu. Chàng lần theo. Và nghĩ về mối đam mê nhóm lửa của bọn tù, thắc mắc không hiểu tại sao chúng thích nhóm lửa đến thế. Sao chàng lại không tự hỏi chính mình vì chàng cũng đang thèm ngọn lửa mà? Chàng tiến về phía ngọn lửa, có người ăn mặc quần áo tù ngồi quay lưng lại nhưng không phải là kẻ chàng tìm kiếm. Đây là tên tù được hưởng ưu quyền chăn bò cho trại. Y nhóm lửa không để làm gì, chỉ để sưởi ấm. Đột nhiên chàng cũng thèm sưởi ấm thèm chuyện trò với một người. Chàng đến bên, trao đổi vài câu với người tù, muốn thăm hỏi bày tỏ đôi điều nhưng vị trí của chàng trong trường hợp này không cho phép chàng gần gũi. Tên tù sau vài câu đối đáp đứng lên sửa soạn về trại khi nghe tiếng còi báo hiệu của trại giam. Còn một mình chàng ngồi lại chất củi cho ngọn lửa cao thêm, mặt dấu vào hai bàn tay, nghĩ đến quá khứ ấu thơ, nhớ gia đình, nhớ bè bạn …     </p>
<p>Tiếp đến là chuyện kể về mấy người bạn đồng lứa cùng làm việc với nhau ngày xưa ngoài Bắc, giờ tình cờ bắt được tin tức nhau vì cùng tình cờ có mặt ở Sài Gòn và ngay lý do của sự có mặt cũng tương tự: giúp đỡ con cái đang đi làm bằng cách chăm sóc các đứa cháu, nói khác đi là đóng vai con sen, người hầu cho con. Ngày xưa họ nghèo khổ, thiếu thốn; ngày nay lớp con cái họ lớn lên có công ăn việc làm tốt hơn, mực sống vật chất cao hơn nhưng phần họ thì vẫn tiếp tục vật lộn với những tủm mủn cuộc đời tuy tự cho rằng đấy là bổn phận của mình nhưng đã hoàn thành với cảm giác chua cay pha nhiều phần mỉa mai hý lộng. Có hai đối cực, một bên là thiếu thốn, khao khát ngày xưa, một bên là no chán thừa mứa bây giờ. Ông Hào ngày xưa thèm thịt lợn đến nỗi đánh cược với mọi người để ăn cả cân thịt mà không cần ướp mặn; cũng ông Hào đó ngày hôm nay ở với vợ chồng con trai không thèm gì hơn chút mắm cáy (?) chấm với rau dền.     </p>
<p>Truyện “Kiếp Chó” kể về cuộc đời ngắn ngủi của con Kiki, rơi vào nhà của một ông làm nghề mật vụ bị thất sủng. Chính vì bị thất sủng nên chủ và tớ mới sống thân thương mật thiết và ngày ông chủ ra đi cố vận động cấp trên để tự minh oan cho mình nhưng thất bại ông bèn bỏ nhà luôn, con chó vì quá thương chủ đã lặn lội đi tìm và bị tai nạn. Nó lết về nhà khi hai chân sau đã quị và bị bán cho người xẻ thịt.     </p>
<p>Có lẽ truyền thống sáng tác của các nhà văn được đào tạo dưới chế độ miền Bắc là ca tụng cuộc tranh đấu hào hùng của những chiến sĩ cộng sản, nếu không thì phải vẽ ra những bần hàn xã hội trong ý hướng kêu gọi san bằng giai cấp. BNT không thoát ra khỏi quan điểm đã học tập đó. Ông viết về đời cô Sỏi (?) một cô gái ăn sương có trái tim lớn. Sỏi lăn lộn với đám người mạt hạng của xã hội trong ngõ cụt, đàng sau là nhà vệ sinh công cộng. Cô vừa bán hàng vừa bán thân. Trong giao tiếp hàng ngày cô chinh phục được lòng tin cậy của một bà cụ ăn xin có gánh nặng là nuôi dưỡng hai đứa cháu gái còn dưới quê. Bà cụ kiếm được đồng nào là về đưa cô giữ dùm chờ khi có được khoản tiền lớn thì lại mang về cho hai cháu. Rồi một lần bà đi quá lâu không về nữa Sỏi tiên đoán bước cuối cuộc đời của bà cụ ăn xin người gập làm đôi trên chiếc gậy, nóng lòng, tự lãnh nhận trách nhiệm mang tiền đi dò tìm trao cho hai cô bé mặc kệ việc sáng hôm ấy người ta đến phá nhà vệ sinh, dấu hiệu cho thấy “sự nghiệp” làm ăn của cô sẽ sụp đổ. Một cử chỉ “hiệp sĩ” mà tất nhiên theo lý thuyết tiến bộ của giai cấp, chỉ có thể xảy ra nơi những người khốn khó nhưng lòng vàng.     </p>
<p>Tôi gọi BNT là chuyên viên ở tù vì ông viết chuyện tù rất sống. “Người Chăn Kiến” (đầu đề không do tôi dịch mà do tôi bắt chước cô phóng viên trên BBC Việt ngữ) là câu chuyện của ông giám đốc xí nghiệp chẳng may bị tù oan. Đã bị tù oan ông còn là nạn nhân được tuyển chọn của tay anh chị trong đám tù. Thông thường một tay thảo khấu rơi lưới pháp luật chẳng hề chịu thất thế, ngoài đời nhờ liều lĩnh mà hắn sống thì vào tù hắn cũng dùng cái hung bạo nghề nghiệp đê xử sự. Vớ được tên tù mới nhập trại có vẻ công tử, tay anh chị thích thú nghĩ ngay ra cách hành hạ: ông ta có nhiệm vụ giả dạng nữ thần tự do cho sếp giải trí. Làm tượng nữ thần tự do thì phải ở truồng trùng trục, tay giữ một vật tượng trưng cây đuốc và đứng bất động trên cao. Với một người có địa vị và biết giữ nhân cách, không có sự sỉ nhục nào hơn. Vì vậy ngày mà ông ta thấy tay anh chị sau hồi xuất trại lao động trở về, mở gói thuốc lá rỗng tháo ra mấy con kiến, bày trò cho quần thần chăn bầy kiến, thay nhau gìữ kiến không cho chúng bò ra khỏi những vòng tròn vẽ trên giấy thì ông đâm thèm thuồng công tác ấy – tất nhiên là còn danh giá hơn làm tượng thần tự do nhiều– bèn nhân ra ngoài kiếm được con kiến về dâng lên cho chủ tướng tỏ lòng muốn tham gia công tác, nhưng tay anh chị kia thì diễn dịch ý kiến ông ra cách khác, bèn nổi giận ra lệnh phạt mới. Lần này ông không làm thần tự do nữa mà làm con chim đậu trên cành cao cho người ta bắn. Ông trèo lên thang vẫn trần truồng chờ cú đạn bắn tới và phải giả vờ ngã lăn xuống. Sợ té đau, ông không đóng trọn vai trò, bị bắt làm đi làm lại… cho kỳ đúng mới được. Cuối cùng được minh oan, ông giám đốc trở về giữ chức vụ mình tại một xí nghiệp khác ở miền Nam. Thế là qua cơn ác mộng chăng? –Không, trí óc ông hằn khắc dấu ấn của thời gian tù đày nên những buổi nghỉ trưa của xí nghiệp, ông giám đốc khóa trái cửa, sống một mình trong phòng với mấy con kiến mà ông dùng mấy tấm <em>cartes de visite</em> của khách hàng ngăn không cho chúng bò ra khỏi vòng vẽ bằng bút trên giấy. Có khi ông còn đánh truồng trèo lên bàn tay giang lên trần như thuở còn đóng vai tượng thần tư do dưới lệnh của tay anh chị trong tù! Có ai trong chúng ta tưởng tượng được vết chấn thương tâm hồn của kẻ khốn khổ ấy sâu đậm đến chừng kia không?     </p>
<p>“Ngày Dài Bất Tận” cũng là một chuyện tù khác với cách khai thác tâm lý đậm đặc khiến câu chuyện kể thêm duyên dáng. Chỉ là cuộc chuyển tù từ trại tù này sang trại tù khác. Nhân vật tù duy nhất bị nhốt trong xe chịu sự căng thẳng tâm lý: y cố gắng dò đoán xem người ta sẽ mang mình đi đâu một cách bất lực vì xe chở kín bưng, chật ních; y đã phải trải qua một ngày rất mệt mỏi trong khi những kẻ canh tù chỉ lợi dụng công tác để đi bắn chim giải trí. Mối mâu thuẫn giữa lo âu tuyệt vọng của người tù và vẻ nhởn nhơ của mấy chàng bảo vệ ham hưởng thụ riêng được triệt để khai thác cho thấy số phận oái oăm của kẻ bị tước mất quyền làm người cùng vẻ “vô tâm” của các ông mật vụ hưởng thú “sa-đích” (<em>sadisme</em>) qua việc thi hành nhiệm vụ chuyển tù.</p>
<p align="left">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tan_dau-tay.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Bui-Ngoc-Tan_dau-tay" border="0" alt="Bui-Ngoc-Tan_dau-tay" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Bui-Ngoc-Tan_dau-tay_thumb.jpg" width="514" height="388" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>(Nguồn: </em></font><a href="http://phannguyenartist.blogspot.com/2011_05_01_archive.html" target="_blank"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Emprunt Empreinte – Trang Mượn Dấu Thời Gian</em></font></a><font face="Times New Roman"></font><font size="2">&#160;</font><font face="Times New Roman"><em>của Phan Nguyên</em></font><em>)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Chỉ đọc có độc một cuốn sách, lại là cuốn sách dịch, tôi chẳng dám nói gì nhiều hơn. Mục đích chỉ để gợi tí xíu về tác giả qua sự việc ông được trao tặng giải thưởng. Dù vậy cũng chắc rằng cách viết của BNT giản dị, minh bạch, thích hợp cho việc chuyển ngữ. Những chuyện tù của ông rất thú vị. Tôi tự hứa là khi thuận tiện sẽ tìm đọc tập <em>Biển và Chim Bói Cá</em>. Nghệ thuật viết và lách của những văn nghệ sĩ trong nước đôi khi đạt tới tầm cao, có lẽ nhờ những trăn trở lâu ngày trong cố gắng mô tả những điều không nói được, một thứ “ý tại ngôn ngoại” mà chỉ khi nào người ta có một tay bút già dặn mới mong đạt tới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24282/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hiện tượng Katherine Pancol</title>
		<link>http://damau.org/archives/24036</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24036#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 25 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đặng Đình Túy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24036</guid>
		<description><![CDATA[Có những tác phẩm ngay lần ra mắt đầu tiên đã được tập thể văn giới chấp nhận không hề cò kè và những tác phẩm khác, trái lại, được quần chúng đón tiếp niềm nở nhưng lại bị phe cầm bút dửng dưng, [xếp vào thành phần "sách sến."] Trường hợp Pancol là một.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Pancol.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Pancol" border="0" alt="Pancol" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Pancol_thumb.jpg" width="271" height="419" /></a></p>
<p align="center"><font face="Times New Roman"></font><font size="2">Chân dung nhà văn Kathérine Pancol trên bìa sau của quyển     <br /><i>Les écureuils de Central Park sont tristes le lundi        <br /></i></font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thú thật tôi thấy sách cô bày nhan nhản trên sạp mà chẳng bao giờ để ý. Tất nhiên tên tuổi cô được nói đến nhiều nhưng với một quốc gia có truyền thống văn học lâu đời như Pháp, quan niệm về giá trị của một tác phẩm là đề tài cho những cãi cọ dai dẳng. Có những tác phẩm ngay lần ra mắt đầu tiên đã được tập thể văn giới chấp nhận không hề cò kè và những tác phẩm khác, trái lại, được quần chúng đón tiếp niềm nở nhưng lại bị phe cầm bút dửng dưng. Và càng ngày càng dửng dưng thêm. Trường hợp Pancol là một.    </p>
<p>Chẳng qua chỉ là sự khác biệt về một thẩm mỹ quan. Có lời đùa của một nhân vật (sâu sắc) nào đó khi quả quyết rằng tác phẩm lớn là tác phẩm mà ai ai cũng đều muốn bàn đến (để tỏ rằng ta thông thái!) nhưng thực sự thì chẳng ai đọc đến đầu đến đuôi cả! Như vậy vấn đề thưởng ngoạn trở thành khoảng không gian đầy tính kỳ thị nghiêm trọng, một bên là phe chữ nghĩa cùng mình (chưa chắc nhé nhưng cũng nên nhận đại, gồm thành phần chuyên môn, thành phần –phần lớn– tạo ra tác phẩm) còn bên kia là quần chúng hồn nhiên, tiếp nhận tác phẩm và chấp nhận/ không chấp nhận chúng khi trong đầu không cần có mớ lý luận căn bản làm tiêu chuẩn cho những phán xét và xác định giá trị.     </p>
<p>Ngày nay, trên lĩnh vực truyền thông mà dẫn đầu là ngành truyền hình, người ta bất chấp <i>giá trị thực</i> của con người cũng như kết quả lao tác nơi hắn ; điều người ta chú trọng là sau lưng hắn có bao nhiêu quần chúng ngóng chờ, cái gọi là célébrité. Phương danh hay xú danh không đáng kể, miễn là số đông. Vì vậy có kiều nữ nọ nhờ làm tình trong bồn tắm bị (được) quay phim mà từ đó mọi người thích ngang cô ta. Hiện tượng blog cũng là một minh chứng. Có những blogs có đến hàng triệu độc giả nhờ kể điều gì đó mà mọi người chú ý… nhưng chắc tôi lầm vì kẻ đầu tiên quan niệm về <em>blog</em> không nhằm nói chuyện cao siêu văn chương triết lý chăng. Nói thêm như vậy chỉ để chứng minh rằng quần chúng có thị hiếu của họ trong khi giới <em>élite</em> thì chỉ muốn hướng quần chúng về với …lẽ phải!     </p>
<p>Trở lại với Katherine Pancol: cô viết nhiều, sách cô bán chạy như tôm tươi (hôm nọ tôi thấy mấy cuốn sau cùng của cô được gom lại dưới hình thức sách bỏ túi, trang trọng không kém loại “collection” dành cho các nhà văn lớn trong loạt ấn phẩm của Pléiade). Năm 2011 qua bảng xếp hạng của báo Figaro thì cô được xếp hàng thứ ba trong số các tác giả có sách bán chạy nhất trong năm (1,213,000 cuốn; xin đừng so với sách Anh ngữ, thử tính với con số độc giả <em>francophone</em> thì như vậy đã nhiều lắm).     </p>
<p>Tuy nhiên không hiểu ai sao chứ tôi thì thượng vàng hạ cám lắm. Tôi biết thưởng thức những tác phẩm lớn nhưng cùng lúc tình cờ vẫn theo dõi những <em>feuilleton</em> kiểu <i>Sex in the City</i>, hay <em>Desperate Housewives</em> được. Vì vậy mà tôi ít “kỳ thị” hơn người khác. Và vì vậy mà một hôm trông thấy cuốn sách nhỏ của cô (loại bó túi, rẻ tiền) thử lật vài trang, nhận ra có chỗ lãng mạn thích hợp cho tâm hồn những người nhạy cảm, tôi bèn mua về đọc và dịch cho riêng một người, làm quà.     </p>
<p>Đó là cuốn <em>Un Homme à distance</em>– một người trong cách ngăn. Kẻ đọc bản dịch đề nghị với tôi một tên khác: <em>Người Cuối Chân Mây</em>, xa xôi thêm và trữ tình hơn! Xin vâng vậy, ta cũng nên đẩy hắn tới tận cuối trời.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Katherine-Pancol-Un-homme-distance.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Katherine-Pancol-Un-homme-distance" border="0" alt="Katherine-Pancol-Un-homme-distance" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/Katherine-Pancol-Un-homme-distance_thumb.jpg" width="264" height="398" /></a></p>
<p align="left">Cuốn truyện được viết dưới hình thức những bức thư từ đầu đến cuối. Ngày nay mà nói chuyện thư tín kiểu <i>mầu mực xanh thơm ngát ý mong chờ, tình hé nụ bừng thơm trên nếp giấy</i> như nhà thơ họ Vũ ngày xưa thì mới nghe qua chúng ta đã bồi hồi cả dạ. Định nghĩa của bức thư ngày nay khác hẳn với tinh thần bức thư ngày trước. Hồi đó mỗi bức thư là một cuốn tiểu thuyết được giản lược. Hình như không chỉ không gian ngày xưa mênh mông hơn bây giờ mà thời gian ngày xưa cũng dài, rộng không kém. Liệu chẳng biết những kẻ sống trước chúng ta có sở hữu đúng hai mươi bốn giờ trong một ngày hay có khi giữa hai múi ngày tiếp nối quả đất bỗng lén ngừng quay một lát, ăn gian để tặng nhân giới thêm vài giọt thời giờ làm chút quà nhỏ cho vui? Trong những công trình tập thể quả thật, thế kỷ chúng ta có những công trình lớn nhưng nếu tách ra chuyện cá nhân thì sao? Có khi tôi tự hỏi chúng ta sống như những kẻ chạy nước rút nhưng nếu mang đời sống của từng cá nhân ngày nay để so với ngày xưa thì đời sống chúng ta liệu có phong phú hơn không về mặt tri thức, tinh thần?&#8230; Ấy chết, nói nhiều chỉ tổ lạc đề. Kể bạn nghe câu chuyện anh chàng “nơi cuối trời”:     </p>
<p>Cô chủ hiệu sách tỉnh nhỏ, một ngày nhận thư đặt hàng từ một kẻ xa lạ, một người Mỹ nhưng viết được Pháp văn, tỏ ra yêu đọc và sành đọc sách. Hôm nhân vật này đến hiệu sách là lúc cô vắng mặt (tình cờ hay nhân vật ấy cố ý lựa chọn?) y để lại một món tiền đặt cọc và yêu cầu nhà sách gửi theo địa chỉ y. Theo lời y thì y là một kẻ đi du lịch và được một nhà xuất bản bên Mỹ đặt một khoảng tiền để y viết loạt bài hướng dẫn du lịch trên đất Pháp. Chúng ta đang ở vào cuối năm 1997 khi mà internet đã bắt đầu được sử dụng, chưa sâu rộng nhưng đã có người dùng. Anh chàng người Mỹ có tên là Jonathan Shields có đầy đủ phương tiện liên lạc cho một kẻ đang di chuyển trên đất người với tư cách ký giả nhưng cô nàng chủ hiệu sách, Kay Bartholdi thì không. Cô từ chối các phương tiện mới với riêng cô, từ điện thoại, truyền hình đến vi tính. Vì vậy, cô viết thư tay khi anh chàng đã dùng mail (cũng có thể là cách sắp đặt để che dấu tuồng chữ). Ban đầu thư tín chỉ có mục đích trao đổi tin tức gìữa cô chủ hiệu sách và ông khách sộp đặt tiền cọc trước khi cần mua hàng, nhưng dần dần lời lẽ trong thư có bề ấm áp hơn nhờ chỗ ông khách tỏ ra thông minh đủ trình độ thưởng thức những tác phẩm nhiếu khi không đến do sự đòi hỏi của ông mà từ sáng kiến của cô chủ, tuy đề nghị nhưng có chỗ như áp đặt. Càng hay! Người khách hàng đọc thấy qua cử chỉ đó niềm tha thiết muốn chia xẻ lạc thú của sách vở mà cũng phản ảnh được sở thích đồng điệu giữa hai người. Theo lời cô nhân viên làm trong tiệm, ông khách được mô tả là một người đã già. Hình như điều đó không khiến cô chủ quan tâm. Cô viết thường xuyên cho ông khách tỏ bày ý kiến cô về mỗi cuốn sách, nhiều khi với rất nhiều đam mê được ghi nhận qua nội dung. Cô không thú nhận là cô sắp vị trí ông khách nơi nào trong lòng cô nhưng quả là dần dần cô đâm ghiền những lá thư ông viết từ trên nhiều nẻo đường của xứ Pháp. Rồi một lúc nào đó, ông đến miền Đông Nam và, như một tình cờ oái oăm, vào ngụ tại khách sạn nơi mà mười lăm năm trước cô trải qua mối tình lớn ở đấy và sau đó đánh mất nó vĩnh viễn. Cô chỉ mới lên mười lăm tuổi vào thuở ấy, người tình cô gần gấp đôi. Anh là một kẻ có tài, hiểu biết và nhiều tham vọng mặc dù yêu cô tha thiết, một ngày anh đã xuống tàu ra đi bỏ lại cô trên bến. Anh theo tiếng gọi của Hollywood không phải để làm tài tử mà thực hiện phim. Cô thất điên bát đảo với mất mát, tưởng có thể chết đi được nhưng cuối cùng đã gượng dậy tập sống cuộc sống khác. Cô trở thành cô chủ hiệu sách. Cô phản đối việc ông khách ngụ tại chốn kỷ niệm của cô, còn ông thì làm như vô tình và lì lợm nán lại. Rồi một hôm, ông bảo rằng nghe theo lời kể của người chủ khách sạn, ông mách lại cho cô chuyện cũ. Bức thư là quả bóng thăm dò vì người khách kia không phải là ai xa lạ, ông chính là người tình cũ của cô, người anh hùng thấm mệt đã trở về, muốn nối lại tình cũ nhưng ngại ngùng nên đã tự che dấu dưới mặt nạ mang tên Mỹ Jonathan Shields và vai trò giả làm du khách. Tình yêu lẽ ra có thể được phục sinh dưới thái độ thẳng thắn thú nhận lỗi lầm một cách quang minh chính đại nhưng nó khó chấp nhận qua lối tiếp cận ngòng ngoèo nhất là với người thiếu nữ non dại mười lăm tuổi yêu bằng dâng hiến toàn vẹn, đam mê vũ bão như Kay Bartholdi ….</p>
<p>Cuốn sách là một chuyện kể khéo với cách sắp đặt có kỹ thuật, một thứ <i>story-telling</i> không hơn không kém. Tôi nghĩ đó là lý do mà giới văn chương Pháp đã làm ra tai ngơ mắt điếc trước hiện tượng. Ở đâu cũng vậy, người ta phân chia ra hai loại văn chương. Tùy theo trình độ văn hóa của quần chúng, có những xã hội mà loại sách như thế này được chấp nhận dễ hơn trong khi những xã hội khác người ta khắt khe hơn. Chung qui thì dù dưới hình thức diễn dịch nào, cái gọi là văn chương cũng đòi hỏi đi kèm cùng tư tưởng, không chỉ đơn thuần dùng để mua vui trong vài trống canh mà thôi. Trong truyền thống văn chương Pháp, những tác phẩm mang theo cả một căn bản suy tư tạo thành triết lý đã từ lâu được xem như có tầm vóc đích thực, kiểu truyện của Jean-Paul Sartre hay kịch bản của Ionesco, Beckett. Ở xứ ta ngày trước, Vũ Ngọc Phan xếp vào loại tiểu thuyết luận đề. Nhóm Tự Lực văn đoàn được khai sinh với mục đích cải cách xã hội nên những tác phẩm của họ nhằm đả phá nếp sống cũ của họ được xếp vào nhóm tiểu thuyết luận đề như <i>Đôi Bạn</i> của Nhất Linh hay <i>Con Đường Sáng</i> của Hoàng Đạo. Vũ Khắc Khoan sau này khi viết <i>Thần Tháp Rùa</i> cũng ôm ấp những luận đề liên quan đến việc tranh biện về ý thức hệ chính trị. Có khi sự canh tân trong kỹ thuật cũng được đón nhận. Ít ra nếu không mang được một nội dung đòi hỏi suy tư thì những cố gắng làm mới trong hình thức cũng góp được giá trị cho việc sáng tạo. Bằng không thì mời bạn sang ngồi chiếu khác, nơi đó có <i>Chú Tư Cầu</i> của Lê Xuyên, <i>Sống</i>, <i>Yêu</i> của Chu Tử, toàn bộ sách của Lê Văn Trương hay tiểu thuyết của bà Tùng Long… Tiếp tục truyền thống chấp nhận văn chương bình dân, ngày nay ở Việt-Nam người ta dịch những nhà văn « best-sellers » Marc Lévy, Guillaume Musso bên cạnh Houellebecq và Kundera. Chưa biết mèo nào cắn miễu nào. Tưởng cũng nên nói thêm Marc Lévy, Guillaume Musso và Kathérine Pancol đều là những người viết đã sinh sống bằng những nghề chuyên môn khác trước khi theo đuổi nghề viết. (Marc Lévy theo học ngành vi tính; Guillaume Musso có bằng cử nhân kinh tế; Pancol xuất thân là nhà báo). Nghe đâu cuốn <i>Les yeux jaunes des crocodiles (Những đôi mắt vàng của bọn cá sấu</i>), một trong ba cuốn trong bộ của Kathérine Pancol cũng được dịch sang Việt ngữ. Một nhà văn, Patrick Besson, đã nhạo báng cách Pancol đặt những tựa đề cho hai tác phẩm tiếp nối quyển <i>Les yeux jaunes des crocodiles</i>, là quyển <i>La valse lente des tortue</i>s (<i>Điệu luân vũ chậm của loài rùa</i>) và <i>Les écureuils de Central Park sont tristes le lundi</i> (<i>những chú sóc ở công viên Central Park u sầu mỗi sáng thứ hai</i>)… mà ông cho là lố bịch. Về phía Pancol, bà cũng lên tiếng chống chế cho cách kể chuyện của mình, nhấn mạnh rằng bà xuất thân là ký giả (chắc là méo mó nghề nghiệp, chỉ nghĩ đến chi tiết và sát với sự thực, mà lờ mất phần mà người Mỹ gọi là <em>fiction</em>.)</p>
<p>Cũng nên nói thêm về Pancol: bà sinh năm 1954 tại Casablanca (Maroc) vì thân phụ là kỹ sư lúc ấy đang góp công xây dựng đập nước và các công trình xây cất nơi này. Khi bà lên năm tuổi cả gia đình mới dọn về Paris. Bà đi học và xuất thân làm báo, viết cho <i>Paris Match</i> và <i>Cosmopolitain</i>. Năm 1979 có người gợi ý bà nên viết tiểu thuyết, kết quả là cuốn <i>Moi d’abord</i> (<i>Tôi trước tiên</i>) ra đời, số bán lên tới 300,000 cuốn. Nhờ tiền bán sách, bà bỏ nước sang Mỹ ghi tên vào Columbia University học khóa viết văn. Cùng lúc sáng tác một số tác phẩm. Năm 1991 bà quay về cố quốc tiếp tục viết. <i>Un homme à distanc</i>e ra mắt sau thời gian này. Hiện bà đã có vài chục cuốn dưới giòng ghi “cùng một tác giả”. Hiện tượng Pancol cho thấy trong bất cứ xã hội nào cũng có hai giòng văn học, một cho giai cấp tinh hoa và một cho người ngoài phố, mỉa mai thay chính thành phần này mới là thành phần nuôi sống văn chương!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24036/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khắc khoải &#194;u Thị Phục An</title>
		<link>http://damau.org/archives/23921</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23921#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 12 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Lệ Uyên</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23921</guid>
		<description><![CDATA[Bề ngoài ngôn ngữ mang đầy chất phồn thực, lớp lớp những khoái cảm của tính dục là “những khắc khoải, thao thức về thân phận, khát vọng làm người của một con người” như Âu thị Phục An đã từng tâm sự.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/au-thi-phuc-an-foto.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="au-thi-phuc-an-foto" border="0" alt="au-thi-phuc-an-foto" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/au-thi-phuc-an-foto_thumb.jpg" width="169" height="208" /></a></p>
<p align="center">Nhà văn Âu thị Phục An</p>
<p>&#160;</p>
<p>Truyện ngắn đầu tay của Âu Thị Phục An có tựa Những ngày không định trước, do Nguyễn Xuân Hoàng chọn đăng trên giai phẩm Văn số ra ngày 19.10.1974. (Sau truyện ngắn này, tạp chí Văn liên tục đăng 3 truyện khác của chị: Thăm viếng, Màu áo hẹn và Bên kia mùa hè). Trước đó, chị có thơ, văn đăng rải rác trên Tuổi Ngọc, nhật báo Dân Chủ và các báo văn nghệ ở Sài Gòn, nhưng phải đợi đến lần xuất hiện này, độc giả mới biết thêm một cây bút nữ còn trẻ là Âu Thị Phục An. Nói biết thêm, bởi cách viết của cô sinh viên ban Triết, Đại học Văn khoa Sài Gòn không có kiểu cách làm dáng, khô cứng thường thấy ở các cây bút mang khuynh hướng dùng ngôn ngữ “triết học tra tấn văn chương”. Văn chị cứ “tỉnh queo” đến lạnh lùng trong những tình huống mà lẽ ra là đón đợi những vồn vập, rực cháy, những háo hức nồng nàn… Đọc những truyện ngắn của chị, nhiều khi tôi nghĩ, chị như một kẻ lữ hành trên con đường vắng, không có người đồng hành để trò chuyện, đành phải dồn nén lại. Sự dồn nén đó cứ lướt thướt trôi theo dòng suy nghĩ chảy xọc vào ngòi bút, giống như một thỏi băng tan chảy.</p>
<p>Truyện ngắn đầu tay: Những ngày không định trước có cấu trúc dạng nhật ký nhằm giải bày tâm trạng của một cô gái trẻ, chính xác là một nữ sinh bậc cuối trung học đang vào những ngày cuối cùng của kỳ thi thi Tú Tài và đang đợi người sẽ là chồng tương lai. Lẫn lộn giữa chuyện thi cử, đậu rớt “<i>chẳng mừng lắm</i>” và “<i>chẳng hề buồn hoặc toan tính</i>…” là tâm trạng chờ đợi và chẳng chờ đợi gì về chuyến gặp mặt người yêu, ở một nơi đóng quân nào đó, sẽ đến nhà thăm gia đình nàng. Tình yêu của cô nữ sinh trung học với anh chàng quân nhân tên Thăng lơ lửng một cách lạnh lẽo. Họ gần bên nhau mà như xa cách nhau, không hề biểu lộ một tình cảm đặc biệt của những kẻ khao khát yêu, khắc khoải đợi chờ những nụ hôn cháy bỏng. Cứ giả định rằng, nếu Thăng không đến, hẳn cô gái kia cũng chẳng băn khoăn đặt những câu hỏi tại sao. Bởi có gặp hay không thì cũng như chuyện đậu và rớt Tú Tài vậy thôi trong suy nghĩ của cô trước đó mà thôi.</p>
<p>Trong khoảng thời gian chờ đợi, quanh quẩn trong đầu óc nàng là những hoài nghi. Nàng cố gắng lý giải về mối tình đầu. Mối tình này có “tồn tại” hay không “tồn tại” trong cô. Thăng có thật là chồng tương lai? Và cô, cuối cùng chỉ còn lại mối hoài nghi cứ ngày càng trương phình lên: “<i>Tôi chịu không biết ra sao cả cũng như nhiều lần tự hỏi tôi yêu Thăng, chúng tôi có thật yêu nhau hay mỗi đứa chỉ yêu những điều lý thú do cuộc tình này mang lại.</i>”</p>
<p>Cách lý luận, suy nghĩ của cô gái hơi lạ và ngược đời khi tách tình yêu thành hai mảnh thật và kh.ông thật. Hai mảnh đó nảy sinh ra “những điều lý thú do cuộc tình này mang lại” như là mệnh đề tiên quyết để biết “có thật yêu nhau”. Như vậy, cô gái trẻ đã phân thân với những thắc mắc, những cật vấn về mối tình, mà ngay cả chính bản thân cô ta cũng không chắc chắn lắm!</p>
<p>Trong truyện không hề thấy có một dòng chữ nào, theo dạng “lỡ mai anh chết em có buồn không,” hay: “Mai anh về trên đôi nạng gỗ / Bại tướng về làm gã cụt chân – Linh Phương”. Các chi tiết trong truyện không đẩy lên theo kết cấu kịch. Nó cứ lặng lẽ chảy như một dòng nước nhỏ, vừa vặn cho kích thước tra hỏi. Bóng dáng vật vờ giữa yêu hay chưa yêu luôn xuất hiện trong đầu cô gái trẻ, đôi lúc như một trò chơi, có cũng được, nếu không cũng chẳng mất gì. Mà cũng đúng thôi, bởi truyện được viết xong vào tháng 7 năm 1974 tại Bạc Liêu, khi mà bối cảnh cuộc chiến miền Nam đang lúc cao trào cho những đợt tấn công, phản kích sau khi hiệp định Paris bị vất sang bên để cả hai phía bắt tay nói với nhau bằng súng đạn. Tâm trạng hoài nghi, nỗi thất vọng, mệt mỏi có dịp bùng lên ở cách sống, cách ăn nói, suy nghĩ của thanh niên thời bấy giờ. Ngay chính những tình cảm liên quan đến cuộc sống và bản thân, họ cũng không hề tin là có thật: “<i>Thăng vẫn không thay đổi thế ngồi, thế ngồi làm chúng tôi gần như đưa lưng về nhau</i>”. Thế hệ trẻ thời đó đã đánh mất niềm tin chăng? Họ mệt mỏi chán ngán chăng? Họ lúng túng một cách khá vất vả khi tìm kiếm và đối mặt với những sự thật chăng? Có thể là vậy, bởi đời sống bên ngoài đã lấy đi của họ tất cả, chỉ chừa lại nỗi hoài nghi sưng tấy lên, ngày mỗi đầy trong đầu óc: “<i>Có phải yêu nhau là tổ chức những đuổi bắt miệt mài là tìm kiếm một điều đã gặp nhưng không cho là điều tìm kiếm. Tôi chợt rùng mình sợ hãi khi chợt nhận thấy mình như một con kiến bò quanh quẩn mãi trong một vòng tròn rất rộng</i>”.</p>
<p>Truyện không có gì mới, vẫn theo motif chàng là quân nhân, nàng là nữ sinh, yêu nhau. Nhưng có cái lạ là sự lạnh lùng ở cả hai nhân vật cân bằng nhau, đến độ gần như dửng dưng, tàn nhẫn. Họ có vẻ như già trước tuổi. Già ở tính cách và già cả tâm hồn! Đọc lại lần nữa, mới hay chị luôn đặt bên cạnh ngòi bút của mình những dấu hỏi to tướng, chẳng có câu trả lời: “<i>Đậu, rớt , những tên gọi, những dấu hỏi vẽ lên không hề đem theo được một hình ảnh vui buồn nào. Lạ không?</i>”</p>
<p>Nhưng phải đợi đến 4 tháng sau, khi truyện ngắn Thăm viếng đăng trên giai phẩm Văn, số đặc biệt Văn Chương Nữ Giới ra ngày 1.2.1975, cùng với các đàn chị Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị Tuệ Mai, Hoàng Hương Trang, Trùng Dương, Nguyễn Thị Ngọc Minh, Trần Thị NgH. thì độc giả mới thực sự chú ý đến cái tên Âu Thị Phục An. Nói chú ý bởi cấu trúc và nội dung câu truyện càng lạnh hơn; lạnh như một thỏi thép bỏ vãi đâu đó sau chái nhà.</p>
<p>Thăm viếng thuộc thể văn kể chuyện. Nhân vật chính xưng tôi (cùng em gái người yêu) đi thăm vị hôn phu đang thụ huấn tại quân trường Thủ Đức. Ngay những dòng đầu tiên của truyện, dường như chị đã báo trước cho người đọc sẽ có điều gì đó khác hẳn những cuộc thăm viếng thông thường của những cặp tình nhân với bao nỗi chờ mong, khao khát, nhớ nhung… bằng những dòng chữ tỉnh táo đến sắc lạnh: “<i>Lần</i> <i>đầu tiên, cùng với Viên lên thăm Vị ở quân trường ngày chủ nhật, lúc ấy tôi đã là vợ chưa cưới của chàng rồi</i>”. Tính cách của “tôi”, hoặc vì quá thông minh, hoặc được thụ hưởng tính cách giáo dục của một gia đình nền nếp, nên “tôi” chỉ quan sát, đứng ngoài mà quan sát, rồi để cho cảm xúc trườn qua sự quan sát ấy với một ý thức xẻ ngang giữa tỉnh táo và đông cứng, đôi khi như tách biệt, đứng hẳn ra ngoài rìa sự thăng hoa của loại tình cảm bị dồn ứ của các nhân vật phụ “<i>tôi chỉ thấy tội nghiệp cho mọi người</i>”, khi tận mắt nhìn thấy: “…<i>những bóng mát tạm bợ và một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che dấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy</i>”. Ngoại cảnh đã tạt gáo nước lạnh buốt vào tâm giới “tôi”, để nảy bật ra thứ tình cảm không mấy thân thiện. “Tôi” bị nhìn thấy về mọi sự diễn ra bên ngoài cho đến lúc “tôi” tự nhìn lại “tôi” trong một khung cảnh đầy bất ngờ không kém. Đó là lúc Vị tách “tôi” ra khỏi em gái anh ta, đưa vào một gian buồng và “tôi” đã dùng sức mạnh lý trí đên mức tối đa để làm co quắp tình cảm đang cháy bùng trong người. Bởi “<i>tôi đủ thông minh hiểu để không hỏi han gì</i>”. Có thể và không hẳn là mặc cảm phạm tội, nhưng trước đó “tôi” đã nhìn thấy cảnh phô diễn thứ tình cảm “nhếch nhác” rất tự nhiên ngoài khu tiếp tân khoá sinh, khiến sự liên tưởng càng mạnh hơn với chỗ hai người đang đứng: “<i>Một căn phòng tắm lộ thiên, có thùng đựng nước, có quần áo lót của đàn bà vắt bừa bãi trên dây</i>”. Cú chạm mặt hơi bất ngờ vào vị trí hai người sắp yêu nhau khiến “tôi” càng lúc càng rơi vào trạng thái căng cứng đến khó chịu. Ngay cả khi hai người đang hôn nhau nơi không mấy sạch sẽ và thơ mộng kia, thì sự tỉnh táo trong con người “tôi” vẫn luôn chiếm ưu thế. Những rung động thân xác khi trao đổi nhau những nụ hôn khắc khoải đợi chờ của Vị đã bị “tôi” đẩy xuống, nằm bẹp dí ở chỗ cái khoá soutien. Cảm giác đau nổi lên thật mạnh mẽ, thế chỗ cho những ngọt ngào, nồng cháy&#8230; Nó lấn át cả sự háo hức, đón đợi nơi người bạn trai để cuối cùng tạo thành mối tương quan cộng hưởng giả tạo ở động tác “dướn người”: “<i>Vị quay lại. Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách</i>”.</p>
<p>Viết một cách trần trụi như thế này, nhất là một nhà văn nữ, hẳn nhiên sẽ gợi sự tò mò đối với người đọc. Nhưng để cho sự trần trụi không làm “tổn thương” đến các nhân vật trong truyện, chị đã khéo léo che giấu đi những nhục cảm khi “tôi dướn người về phía trước.” Động tác ấy không phải là sự cộng hưởng, đáp trả mà tác động bới khoá móc <em>soutien</em>. Vị thì không nhận biết ở chỗ một đàng cái khoái cảm bị đè xuống, đằng kia thì cứ bốc cao lên. Một sự lừa dối ngọt ngào!</p>
<p>Trong quyển <em>Văn Học Miền Nam</em>, tập Tổng quan, Võ Phiến có nhắc nhiều lần cái <i>cynique </i>trong văn học và ông cho <i>trâng tráo</i> là cách viết, cách nói cực đoan của tinh thần hoài nghi, thể hiện rất rõ thông qua các nhân vật của Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thuỵ Vũ, Trần Thị NgH, Lệ Hằng… Và, đấy là hậu quả của “<i>chiến tranh và hỗn loạn, hoàn cảnh xã hội của giai đoạn 64-75 tạo cho người ta một lối sống khác hẳn trước</i>” (sđd, trg 292). Nhận xét này cũng có phần có cái lý của nó, khi mà tầng lớp thanh niên có học luôn tự dằn vặt về những tha nhân, thượng đế, tồn tại hay không tồn tại, những khách thể và chủ thể, sống và chết… trong bối cảnh đất nước loạn lạc, đều ít nhiều ảnh hưởng bởi trào lưu triết học hiện sinh của Pháp từ giữa thế kỷ XX.</p>
<p>Hiện tượng này cũng dần lấp ló nơi một Âu Thị Phục An bắt đầu bước chân vào làng văn với cái <i>cynique</i> đầu tiên trong truyện ngắn đầu tiên của chị, tuy có nhẹ nhàng hơn, kín đáo hơn các nhà văn nữ đi trước. Mà cũng có thể là chị biết điểm dừng, biết kềm chế, không để cho sự “nổi loạn”, cái <i>trâng tráo</i> của bản thân đi quá xa, khiến người đọc (thuở đó) bỗng có chút giật mình như cái kết ở truyện thứ hai này? “<i>Thăm viếng lần nữa? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quẫn trong đầu… Không bao giờ. Tôi im lặng nghe Viên an ủi. Im lặng vì không biết phải phân bày như thế nào. Mà dù có phân bày chắc Viên cũng không thể nào tin được việc ấy đã xảy ra.</i>”</p>
<p>Cả giới văn nghệ lẫn độc giả chờ đợi ở sự bứt phá của Phục An, như họ đã từng trông đợi sự thành công của những Tuý Hồng, Trùng Dương, Nhã Ca… và gần hơn là Trần Thị NgH. Lệ Hằng. Nhưng tất cả đều đặt dấu chấm hết, kể cả người viết mới lẫn những nhà văn đã thành danh, sau ngày 30.4. Một quãng lặng khá dài, không ai cầm nổi bút, ngoại trừ một số rất ít…<i> </i></p>
<p>Phục An cũng nằm trong số đó và chị chỉ viết trở lại chừng 5, 3 năm nay với hơn 10 truyện ngắn, nhưng phong cách thì không còn giữ được như trước 75! Tất cả các truyện ở giai đoạn này, hầu như nói về bạn bè một thời. Vị trí của họ bị thay đổi. Họ lao vào các công việc chân tay để mưu sinh; họ thất chí, rượu chè bệnh tật và cái chết (“Dù chỉ một lần cũng không thể,” “Trạm cuối”), hoặc về mối tình lỡ kể chuyện người thì chồng chết vì tai nạn, kẻ thì tự ái về cách đối xử của vợ, bỏ nhà ra đi. Họ tình cờ gặp nhau, tìm đến với nhau, chia sẻ nỗi bất hạnh, cô đơn và rồi hạnh phúc bên nhau (“Mùa thu ẩm ướt”)…</p>
<p><i></i></p>
<p>Nhưng thay vào chỗ khuyết trên, Phục An chuyển sang làm thơ, với một bút lực khá mạnh mẽ. Thơ chị xuất hiện khá đều đặn trên các trang mạng văn học. Yếu tính trong thơ chị vẫn là phận người, nỗi cô đơn chồng chất, những bất hạnh, sự bất lực và chút hạnh phúc mong manh. Đọc những dòng thơ của Âu Thị Phục An, tôi có cảm giác như đang ngồi thiu thiu nghe những khúc nhạc đồng quê theo dòng Bluegrass, bởi chị luôn lồng vào đó là những câu chuyện, đôi khi như một truyện ngắn rút gọn: <b></b></p>
<blockquote><p><i>Nàng đang tắm. </i></p>
<p><i>Nàng đang khỏa thân trong phòng tắm.</i></p>
<p><i>Nàng đang ngồn ngộn sức sống trong kia.</i></p>
<p><i>Chàng đẩy cửa bước vô.</i></p>
<p><i>Nàng đang kỳ cọ liền khựng lại. Anh muốn tắm? Không, anh muốn nhìn em thôi, em cứ tắm đi. Nàng nói. Coi chừng ướt anh. Không sao mà. Nàng cười rồi vô tư tắm táp.</i></p>
<p><i>Bỗng dưng nàng quay lại nhìn chàng. Anh muốn… không? Chàng ngập ngừng.</i> <i>Nếu có thể.</i></p>
<p><i>Nàng chống hai tay vào tường, đưa lưng về phía chàng. Nếu anh muốn, thì có thể mà.</i></p>
<p><i>Chàng lả đi trên giường. Cơn mệt lại đến.</i></p>
<p><i>Bất lực trước cái chết , hai dòng nước mắt trào ra, ngoằn ngoèo chảy loang trên khuôn mặt hốc hác của chàng.</i></p>
<p><i>Nàng đã cố gắng giúp đỡ chàng thật nhiều</i>.</p>
<p>(“Lần cuối cùng trong phòng tắm.”)</p>
</blockquote>
<p>Có dịp ngồi bàn về thơ Âu Thị Phục An, nhiều bạn trẻ và nhiều trung niên cho rằng chị khai thác sex đến mức tối đa. Sex như là hơi thở trong thơ chị. Tôi không nghĩ vậy. Bởi sau khi đọc những bài thơ chị đăng trên các trang mạng, sex chỉ là cái cớ để chị bày tỏ thái độ, cảm xúc của cá nhân trước những vòng xoáy thời cuộc. Vì ngay chính chị cũng phải hứng chịu cảnh ngộ cay đắng đó. Chị không sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh sex như một thứ <i>tình dục luôn đắt hàng</i> (chữ dùng của Nguyễn Thị Hải Hà trên <a href="http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&amp;action=detail&amp;id=18148" target="_blank">website văn chương việt</a>, rằng: “<em>Sex Sells. Người Mỹ thường hay nói thế. Cái gì có dính líu đến chuyện chăn gối thường dễ hấp dẫn người nghe người xem người mua bán, như tôm tươi thường đắt hàng. Các nhà văn Hoa Kỳ khá dạn tay khi viết về tình dục. John Updike, Philip Roth, Paul Auster, Joyce Carol Oates đều mang tình dục vào tác phẩm.”</em></p>
<p>Thơ Phục An cũng không dung tục như Vệ Tuệ trong tác phẩm <em>Điên cuồng như Vệ Tuệ</em> (Trung Quốc), hay sàm sỡ thô bỉ như <em>Sợi xích</em> của Lê Kiều Như. Đó là những thứ cặn bã, rác rưởi của loại văn chương hạ cấp!</p>
<p>Tính dục trong thơ Phục An trong veo như giọt sơn mai, chỉ để diễn đạt nội tâm, giải bày những ẩn ức về mặt tâm lý, không hề có sự ức chế sinh lý. Những hình ảnh chúng ta bắt gặp trong thơ, thông qua từ ngữ mang tính ẩn dụ nhiều hơn. Chị không dùng ngôn ngữ nhằm phô diễn sức nặng vốn có của hình ảnh thông thường, mà hơn hết là để chuyển tải tứ thơ. Vì, theo ông Đặng Tiến: “<i>Nói đến lời trong thơ là nói đến từ ngữ, hình ảnh và nhịp điệu, nói đến cả khoảng im lặng bên trong câu thơ, hoặc chung quanh bài thơ</i>…” (Đặng Tiến, Thơ, thi pháp và chân dung, trg 58, nxb Phụ Nữ, HN, 2009). Và: “<i>Ý trong thơ, khác với ý trong văn xuôi, ở chỗ nó không có giới hạn,, không có kích thước. Tạm nói là nó mông lung, bất định</i>” (sách đd, trg 60).</p>
<p>Đọc nhiều lần, cảm quan của tôi về thơ Phục An vẫn là: sex phi sex. Xin dẫn một bài thơ của chị:</p>
<blockquote><p><i>bám vào lềnh bềnh vỉa hè        <br /></i><i>những bộ xương người cúi xuống nâng ly        <br />bám vào phù hoa         <br />những bộ xương người cúi xuống nâng bi         <br />da thịt em trắng ngần         <br />ướp nhầy nhụa máu trinh         <br />dâng anh một lần         <br />toang hoác bình minh         <br />con gái         <br />run rẩy lột xác trên những mép giường         <br />em trượt trên chất nhờn         <br />cay đắng         <br />của em         <br />nụ cười em hóa đá         <br />cứng đờ lút vào dung nham         <br />cơn hứng lậm vào khuya         <br />chờ giờ hóa thạch         <br />em muốn bám vào cội nguồn         <br />lần nữa tái sinh         <br />vỉa hè ủ em         <br />hằng đêm         <br />và anh đẩy em         <br />tuột trôi vào lỗ cống muộn phiền         <br />em muốn ngậm vào em         <br />con vật nào         <br />có thật</i>.       </p>
<p>(“Thả Trôi.”)</p>
</blockquote>
<p>Cách dùng từ ngữ (<em>langue</em>) như lời nói (<em>parole</em>) để diễn đạt ý như kiểu bài thơ Thả trôi trên đây rất dễ gây ngộ nhận, hiểu lầm, chỉ vì chị mượn những thực thể, những hình tượng ngoại giới tạo chất liệu cho cái tứ sâu xa bên trong, là những phiền muộn, đau đớn không cùng của một kiếp người là thân phận bị xô dạt một góc “lỗ cống” nào đó chỉ có mình chị mới bị trói chặt chân tay?</p>
<p>Rồi đến cái nhếch nhác ở một góc phố nhỏ trong thành phố chị đang sống có những cái “phình phịch, hổn hển, leng keng” giữa một bên là thánh thiện và bên kia là sự trần trụi đến nao lòng. Nỗi buồn cuộn lên từ ngoại cảnh “bị nhìn thấy” là con đường nhỏ Huyền Trân “tai tiếng”, dội ngược vào trí não tạo thành những sắc màu, những âm thanh:</p>
<blockquote><p><i>cái đầu chó gặm mất rồi        <br />não văng tứ phía         <br />mạch đập ở cổ còn phình phịch         <br />cái lưỡi tuột lại le ra         <br />trái tim tím tái còn thở hổn hển         <br />hai cái chuông đồng treo hai đầu vú nhỏ         <br />đung đưa bài thánh ca trên những sợi lông tơ         <br />núp sau gốc cây đường huyền trân công chúa         <br />áo xống tuồng tích hoa lá cành         <br />nghiễm nhiên kiếm sống         <br />phố chảy cuồn cuộn ánh đèn đêm         <br />những con rắn lửa nhảy múa dưới háng         <br />nàng và trong miệng nàng         <br />cỏ ướt đẫm tinh trùng         <br />người ta vẫn thấy khoái         <br />khi ngồi tuốt trên gác chuông         <br />nhà thờ đức bà         <br />làm dáng         <br />với những hình nhân cục cựa dưới chân đèn         <br />luôn nẩy ngược và rên         <br />thành phố không buồn ngủ         <br />thành phố nằm ngửa nàng lại lắc leng keng         <br />hai cái chuông treo trên hai đầu vú         <br />nhỏ         <br />muộn phiền </i></p>
<p>(“Lắc Chuông.”)</p>
</blockquote>
<p>Đọc những câu thơ này, nghe ra thơ không phải là thơ, càng không phải văn xuôi. Nó là sự sắp đặt cố ý của người viết, như trong các thập niên 50, 70 của thế kỷ trước, Thanh Tâm Tuyền đã cách tân thơ bằng cách “<i>phá vỡ cái vỏ ngữ âm của câu, hay bài thơ… tháo gỡ guồng máy ngôn ngữ ra từng bộ phận rồi lắp ghép lại thành những chức năng mới, trong văn bản mới</i>” (nguồn: <a href="http://www.diendantheky.net/2012/03/ang-tien-thanh-tam-tuyen.html" target="_blank">Đặng Tiến</a>).</p>
<p>Không thể nói Phục An chịu hay không chịu ảnh hưởng của Thanh Tâm Tuyền, nhưng chắc chắn một điều là chị đã chọn lựa thơ tự do như là môi trường tốt nhất cho sự sáng tạo của mình, để hoàn thành chức năng “tra vấn và trả lời” như nhà văn Alein Robbet Grillet đã từng khẳng định, rằng đó chính là thiên chức của nhà văn.</p>
<p>Không ai có thể ngăn cấm nhà văn: thôi đừng phẫn nộ, đừng chua chát, rời xa bi kịch đã rồi của dân tộc. Cái ngóc ngách đau đớn cùng tận kia, trước nhãn quan của nhà văn là thượng đế trên chính mảnh đất mình, được Phục An giải mã bởi những hình ảnh chồng chất nhau, níu kéo nhau, tạo thành những chuỗi âm thanh bi phẫn:</p>
<blockquote><p><i>nàng xõa tóc        <br />chạy dưới nắng tháng tư         <br />hai cái mông tròn huyền hoặc         <br />đung đưa         <br />bình minh rọi những tia nắng đen         <br />điên cuồng qua nách         <br />cát nhảy dưới gót chân bất hạnh         <br />máu ứa từ môi thâm         <br />tháng tư đuổi từ sau lưng         <br />xương rồng đâm lên vú         <br />biển ôm nàng ngất ngư         <br />nắng của tháng tư rơi từ một bình minh đen tối         <br />nắng cũng rơi từ âm cung mê lối         <br />chạy đi tìm bóng của ảo tưởng xưa xa         <br />ngày về rất vội         <br />về dù dòng sông quê hương chật chội&#8230;         <br />chỉ muốn trần truồng gào khóc những điêu linh.</i></p>
<p>(“Bình minh đen”)</p>
</blockquote>
<p>Và, dẫn thêm bài thơ khác để nhấn mạnh thiên chức nhà văn trong ngòi bút chị:</p>
<blockquote><p><i>tôi rất buồn        <br />khi đi trên những con đường không còn vỉa hè         <br />khi         <br />(…) ngồi rung đùi trong nhiều biệt thự         <br />spa, resort, hotel năm sao, du lịch Thái Lan, Sing, Trung Quốc         <br />những cái chợ tự phát bên lề đường không cần đóng thuế         <br />những “gái chợ đông” ôm thúng co giò chạy khi thấy công an         <br />những “trai giữa chốn ba quân” trơ mặt chạy xe ôm nám đen khuôn mặt</i></p>
<p><i>tôi rất buồn        <br />khi đất nước tôi         <br />chạy theo (…)         <br />20 năm máu lửa chết chóc xảy ra. </i></p>
<p>(“Năm mới vẫn không có gì mới”)</p>
</blockquote>
<p>Thế giới thơ của Phục An đa chiều, rộng nghĩa. Chị đã phá bỏ những luật lệ trong thơ cổ điển (như nhiều nhà thơ đi trước đã từng làm) để tìm kiếm cái đẹp, dẫu cho cái đẹp ấy hàm chứa bao nỗi nhục nhằn của một kiếp người. Tuy nhiên, khi đến với thế giới thơ Phục An, nếu chỉ lướt qua, một lần thì dễ bị những ẩn ngữ kia đánh lừa, bởi bề ngoài ngôn ngữ mang đầy chất phồn thực, lớp lớp những khoái cảm của tính dục là “những khắc khoải, thao thức về thân phận, khát vọng làm người của một con người” như chị đã từng tâm sự.</p>
<p>Đa chiều và rộng nghĩa chỉ khi nào người đọc chịu khó đào xới ở dưới tầng sâu để thấy được cái ý ẩn nấp trong lời, như một vì sao lạ giữa muôn ngàn tinh tú giữa tầng không mênh mông.</p>
<p>(tháng 3/2012)<i></i></p>
<blockquote><p><strong></strong></p>
<p><strong>Âu Thị Phục An</strong>: Tên thật là Âu Thị Nguyệt Thu, sinh năm 1954, từng đoạt giải thưởng truyện ngắn do báo Dân Chủ tổ chức, 1974. Cựu Sinh viên Văn Khoa Sài gòn. Có thơ văn đăng trên các báo trước 1975, và trên trietvan.com, damau.org, tienve.org, vanchuongviet.org, sangtao.org, litviet.com, hopluu.net&#8230; &#8230;sau 1975. Hiện sinh sống tại Sàigòn.</p>
<p>Tác phẩm đã in:</p>
<p>- <em>Nguyệt Thực</em>, thơ, 2009, nxb Lưu Ly</p>
<p>- <em>Im lặng và nghe</em>, 48 tác giả nữ, 2009, nxb Lao động</p>
<p>- <em>Văn miền Na</em>m, in chung, 2009, Thư ấn Quán, HK</p>
<p>- Tác giả tác phẩm <em>Người Đồng Hành Quanh Tôi</em>, in chung, tập 3, 35 tác giả, Thanh Niên, 2011.</p>
</blockquote>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23921/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>CHINH BA v&#224; niềm tin m&#227;nh liệt</title>
		<link>http://damau.org/archives/23870</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23870#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 04 Apr 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Lệ Uyên</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23870</guid>
		<description><![CDATA[Các nhân vật của Chinh Ba vừa là người mà không phải người, vừa là bóng ma mang khuôn mặt quỷ nhưng lại là con người thật đang hiện hữu giữa mộ huyệt sâu, không rõ tự bao giờ và tại sao phải như vậy, không tên không tuổi, vật vờ  ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/chinhba.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="chinhba" border="0" alt="chinhba" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/chinhba_thumb.jpg" width="148" height="212" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Khoảng những năm 1964 trở về sau, báo chí miền Nam thường xuyên bị đục trắng, bị bôi đen. Cầm các tờ nhật báo, tạp chí trên tay nhìn những ô đen trắng đó như nhìn thấy sự bất toàn bắt đầu xâm chiếm, ngự trị lên các hoạt động báo chí ở một miền đất được mệnh danh tự do, dân chủ! Đệ tứ quyền đang lần hồi bị bức hiếp một cách thô bạo. Rất nhiều bài chính luận đã lên tiếng đả kích cách “cai trị” này của chính quyền, của Bộ Thông Tin Chiêu Hồi miền Nam. Đến cuối tháng 10 năm 1965, đọc truyện ngắn “<a href="http://trenews.net/Article.aspx?id=7635" target="_blank">Bài thơ trên xương cụt</a>,” đăng trên tạp chí <em>Giữ Thơm Quê Mẹ</em> số 4 (1), tôi mới nhận ra, theo cảm tính chủ quan, tính chất phản kháng thâm thúy của nhà văn. Tôi hả hê với cách hành xử của Út Lệ. Nhưng mọi chuyện rồi cũng qua đi, không ai làm gì được ai. Ngay cả ông Võ Phiến đang ngồi ở cái bộ ấy cũng chỉ biết thế và hay thế.</p>
<p>Thời cuộc biến đổi như một cơn lốc.</p>
<p>Mãi đến năm 2008, Trần Hoài Thư ngỏ ý với anh em, tập hợp những truyện ngắn tiêu biểu của các nhà văn miền Nam để in lại trong tủ sách Di sản văn chương miền Nam. Ngồi nói chuyện với Nguyên Minh, anh ấy nhắc: “Ông có nhớ truyện “<a href="http://trenews.net/Article.aspx?id=7635" target="_blank">Bài thơ trên xương cụt</a>” không? Tôi nói có, đọc nhiều lần. Tìm đâu ra nhỉ? Tôi nói, tôi còn giữ bộ <em>Giữ Thơm Quê Mẹ</em>, truyện đó đăng trên số 4. Vậy ông đánh máy đi. Trả lời: Tôi đã đánh từ lâu và lưu trong máy”. Về, tôi chuyển ngay cho Trần Hoài Thư cùng vài truyện ngắn của các nhà văn khác, coi như đóng góp một phần nhỏ cho công sức quá lớn lao của ông chủ Thư Ấn Quán. (Nhắc lại là đánh máy chớ không phải chép tay (2) như lời đề tặng của Chinh Ba ghi ngày 19.1.2011, lúc ông về SG in và ra mắt tập truyện <em>Bài thơ trên xương cụt</em> (3).</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/BTTXC-cover.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="BTTXC-cover" border="0" alt="BTTXC-cover" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/BTTXC-cover_thumb.jpg" width="271" height="336" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Mặc dầu nhận được sách và giấy mời phát hành do chính tay Chinh Ba viết, nhưng rất tiếc, cả thư và sách đến chậm hơn tuần lễ! Đành lòng vậy.</p>
<p>Không thể tham dự buổi ra mắt sách, không nhìn thấy ông bằng xương bằng thịt thì ngồi nhà đọc tập truyện ông vừa gửi ra, và nhìn chân dung trên bìa gấp và bìa 4, đọc hết 14 truyện cầm bằng như đã ngồi cạnh ông, tâm tình cùng ông; cần chi phải kể lể dài dòng công sá? Vì nói như Nguyễn Bắc Sơn: “Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ. Ba ngàn thế giới cũng không to”.</p>
<p>Tập truyện ngắn kèm theo những tranh minh họa của Đinh Cường, Thân Trọng Minh, Phạm Cung, Hồ hữu Thủ… làm cho tập truyện sang trọng hẳn lên. Tuy nhiên, cốt lõi của tập truyện <em>Bài thơ trên xương cụt</em> không phải dựng lên từ màu sắc và đường nét minh hoạ của các hoạ sĩ tên tuổi, mà hơn hết là những dòng chữ phơi trần những ưu tư của nhà văn về thân phận con người, về sự sống và cái chết; sự trái ngược và tương phản giữa màu sắc, âm thanh; giữa niềm đam mê rực rỡ và sự tàn bạo giấu mặt đến phi nhân tính; giữa người chân thật và ma quỷ luôn rình rập bên cạnh!&#8230; Ông vẽ lên những mảnh đời có thật, đâu đó quanh ta; về thân phận con người trong bối cảnh xã hội bị hất tung lên, mọi giá trị đạo đức văn hoá bị bổ nhào cùng những hệ lụy của chiến tranh tàn khốc, để cuối cùng kết lại là nỗi khát khao được làm người theo đúng nghĩa con người.</p>
<p>Những nhân vật trong truyện, không phải là những anh trưởng giả, những nàng tiểu thư khuê các, là tầng lớp thượng, trung lưu sống trong những ngôi biệt thự tráng lệ, vung tiền ở các hộp đêm… mà tất cả đều thuộc tầng lớp dưới, những người lao động nghèo khổ, những nông dân chất phác với những không gian mở rộng là cánh đồng nước mênh mông, một vùng lau lách sông rạch hay một vùng quê nghèo; hẹp hơn là bốn bức tường giam, nhưng thảy đều ngập ngụa bóng tối đầy dẫy những khổ đau và tủi nhục “<i>… dấu tích còn lại chỉ là dăm ba hàng cừ đơn lẻ bằng cây tràm, in xuống mặt nước vàng ngầu những nét khẳng khiu buồn bã. Người ta lớp chết, lớp bị bắt làm tù binh, lớp bị còng tay đưa đi làm lính, số còn lại thì chỉ riêng mỗi người biết được chỗ ẩn náu của mình” </i>(Mồ sống, trg 69).</p>
<p>Thân phận làm người ở các nhân vật của Chinh Ba có cái gì đó thật tàn nhẫn. Nó không bình thường, bởi nỗi đau phải chịu đựng cùng những nghịch cảnh phải đối mặt trong đời sống, được ông đẩy đến tận cùng số phận hẩm hiu, đến tận rìa mép bờ vực sâu, đen ngòm. Nhân vật ấy vừa là người mà không phải người, vừa là bóng ma mang khuôn mặt quỷ nhưng lại là con người thật đang hiện hữu giữa mộ huyệt sâu, không rõ tự bao giờ và tại sao phải như vậy, không tên không tuổi, vật vờ giữa bãi tha ma, trong bóng tối: “<i>Thật là kinh khiếp! Cả cái hàm dưới rơi đâu mất, lưỡi dài và nước dãi chảy lòng thòng xuống cổ, môi trên và mũi cũng bị sứt đi, bày ra một hàm răng trắng hếu, các bắp thịt trên mặt bị vết thương kéo chừng xuống làm cho đôi mắt xoạc to ra</i>” (Mồ sống, trg 85)</p>
<p>Những số phận đó là những “hắn”, những “lão” với nhân dạng kỳ quái: “<i>Da lão xanh, mồ hôi sương ửng sáng như có chất lân tinh” </i>(Khát nắng, trg 5). Đôi khi cũng có tên, có tuổi, như Hoà, như anh của Hoà nhưng ngoại hình thì thuộc loại “ma chê quỷ hờn” (4): “<i>anh nó…mặt đen và khô, mũi nhọn mỏ két, đôi mắt sáng đỏ như hai cái tàn thuốc đang ngún cháy, trán đùn thấp xuống như cố làm cái đà thật chắc cho những sợi tóc bàn chải chỉa ngược lên trời</i>” (Tóc, trg 44-45). Còn thằng Hoà thì: “<i>Người nó tong teo như được kết bằng những que củi, da nó trắng xanh, mỏng và bủn. Mặt nó dường như đặt trong một cái khung hình thang: trán cao và hẹp, đôi má bạnh ra và trệ xuống… Lông mày thưa, lỗ chỗ như hai bờ cỏ tiết tháng bảy… Cái mũi to và hơi hỉnh của nó cố trườn ra xa hơn cặp môi dày</i>” (Tóc, trg 45).</p>
<p>Những hình thù kỳ quái kia, dưới ngòi bút Chinh Ba, không ai khác hơn là đồng bào của chúng ta. Họ phải mang một số phận nghiệt ngã, không do họ tự chọn lựa. Và đó là hệ quả của chiến tranh, của xã hội tha hoá. Cảnh đời bên ngoài cô đúc lại thành những con người như “lão” trong buồng giam; là đứa con nít, là một chàng thanh niên bị chiến tranh hất tung ra ngoài rìa cuộc sống bình thường, hay một chàng viết văn cố gắng đi tìm giá trị đích thực của đời sống anh ta đang mở trừng đôi mắt với cái giá bằng “hai mươi lọ pé-ni-ci-lin”; Tất cả đều là sự kết tụ của những khổ đau chồng chất trong một thời đại loạn lạc, nhiễu nhương, chẳng khác gì thời mạt vận!</p>
<p>“Lão”, chính xác là một tù nhân trong buồng giam. Lão biết số phận sớm muộn gì cũng sẽ đi tới cái chết, như những người bạn tù của lão. Lão biết trước phần số dành cho mình: “<i>Rồi mình sẽ thúi ình ra để người ta cho mình một nấm mồ kín trên miếng đất của Ông Cha mình</i>” (“Khát nắng,” trg 7). Và rồi: “<i>Trong lão, cái chết đang kết tụ</i>” (trg 9). Người tù ấy, ý thức về cái chết đến với mình một cách rất rõ ràng, như thể ông ta nhìn thấu suốt cái chết đang đậu trong mắt mình. Nó như một định mệnh được an bài, không chút hối hận, không thấy luyến tiếc sau những lần có ý định vượt ngục không thành. Niềm khao khát mãnh liệt nhất đối với ông ta lúc này, không phải là được thoát ra bên ngoài cảnh tù ngục, mà là một chút ánh sáng, như thời thơ ấu, lão nghe mẹ lão nói: “<i>Cha mày theo nghĩa quân bị Tây bắn chết, nhà mình bị đốt. Tao đẻ mày dưới gầm cầu, sát mé nước. Làm gì có lửa có củi! Nhờ trời nắng dữ lắm tao mới nuôi sống mày…” </i>(trg 10). Ngay từ thuở lọt lòng lão đã được sống sót nhờ có nắng. Vậy thì can cớ gì, trước khi chết và thậm chí khi chết lại không có được chút nắng phủ lên người? Tận sâu trong tiềm thức, lão tin nắng luôn mang đến sự sống, là sự phục sinh từ cõi chết và trong cái chết rất dịu dàng. Niềm tin ấy, trong phút chốc biến thành niềm khao khát, bùng cháy lên, thật dữ dội, thật mãnh liệt, tuồng như đó là cánh cửa cuối cùng tiếp cận với thiên đàng, là niềm hy vọng, dẫu mong manh để có được chính danh làm người trước khi gục ngã trên các bậc đá lạnh ngắt trong hầm ngục tối, chỉ vì: “<i>…một phần đời người sau cùng của lão đã không có nắng rọi vào. Nên trước khi chết, lão thèm một tia nắng chiếu vào mặt, chiếu vào đôi mắt ngập bóng tối của lão; để da mặt lão nóng dậy lên, để mắt lão nhìn thẳng được mặt trời</i>” (trg 12). Ước mơ nhỏ bé mà cũng to lớn vô cùng, qua thời gian khắc khoải đợi chờ, cuối cùng cũng đến được với lão, khi Chinh Ba kết thúc câu chuyện: “<i>Lão xoay mình, ngửa thẳng mặt về phía mặt trời. Nắng rực rỡ dội tràn lên mặt lão. Đôi mắt gần mười năm xa mặt trời hoa lên với vô vàn những màu sắc chói chang huy hoàng. Thân lão dịu nhũn lại, rồi té sấp xuống nền đá. Mắt lão vẫn mở… Hôm sau, người ta thay vào chỗ ở của lão một người sống</i>”. (tr 14).</p>
<p>Bóng tối và nỗi nhục nhằn về thân phận làm người được Chinh Ba đẩy lên cao hơn ở truyện “Mồ sống,” mà theo ghi chú của ông là đã đăng trên các báo Pháp, Ba Lan, Canada trong các năm 1968 – 1969. Nhân vật chính trong truyện không phải là lão Tư hay Chót, mà là một người đàn ông nào đó không tên không tuổi, ẩn hiện đâu đó giữa cánh đồng hiu quạnh, có một khuôn mặt kỳ dị, ma quái: “…<i> cái hàm dưới rơi đâu mất, lưỡi dài và nước dãi chảy lòng thòng xuống cổ, môi trên và mũi cũng bị sứt đi, bày ra một hàm răng trắng hếu, các bắp thịt trên mặt bị vết thương kéo chằng xuống làm cho đôi mắt xoạc to ra</i>” (“Mồ sống,” trg 85).</p>
<p>Chinh Ba dừng lại ở đó, để nhân vật tự do lơ lửng trong một khoảng trống, để người đọc phải tự đặt ra câu hỏi, nhân vật ấy là ai? Phải chăng là Vàng, con lão Tư? Hay là một anh du kích, cũng có thể là tay anh chị giang hồ bại trận?</p>
<p>Cái cách Chinh Ba xô đẩy nhân vật xuất hiện khá mập mờ và cũng khá đột ngột, theo kết cấu cổ điển, khởi đi từ ông lão chèo chiếc xuồng ba lá đi tìm thằng con trai tên Vàng đã mất tích trong một trận càn: “<i>Trên trời có ba mươi chiếc máy bay, dưới nước có 60 chiếc xe lội nước, hôm đó con lão dậy sớm chống xuồng đi cắt bàng. Nó lọt vào giữa trận địa</i>” (trg 70); cho tới những hồi ức về chuyện kết xui gia với bà Chánh Sáu. Rồi ông chèo xuồng, lang thang giữa cánh đồng nước mênh mông, chỉ có những lá dừa nước và những dề lục bình bao quanh, như thể đó là bố cục của một bức tranh tối màu với một nhân vật duy nhất: ông già chèo xuồng. Bức tranh ấy, nhìn xa, nhìn gần đều tấy lên nỗi cô đơn sáng tối niềm hy vọng và vô vọng trong từng động tác chèo xuồng, cái nhìn hoảng hốt và những suy nghĩ rối tung của ông già.</p>
<p>“<i>Dưới ánh hoàng hôn nhập nhoà từ trời cao hắt xuống mặt nước, lão thấy loáng thoáng trước mũi thuyền một vật đen như đầu tóc đàn bà và một bàn tay chới với bám vào khoảng không. Lão đứng thẳng dậy, chiếc xuồng trờ tới. Nước quặn hình trôn ốc đảo tròn những tăm nước trắng phau, rồi tất cả tan chìm lặng lẽ, mặt nước khép kín lại như không hề có một hiện tượng lạ nào vừa mới xảy ra</i>” (trg 71).</p>
<p>Ở truyện “Mồ sống” này, chủ đích của Chinh Ba là lên án chiến tranh bằng một giọng văn cay độc. Ông không gào thét, không phẫn nộ. Nhưng qua cách miêu tả hết sức bình thản các hiện tượng xảy ra chung quanh, người đọc cảm thấy có chút se lòng, một chút ngậm ngùi. Bởi sinh phần của bà Chánh Sáu không còn dành cho bà vì “<i>bà đã đã chết như cái tan vỡ của một đám bụi, không còn để lại một chút xương cho Chót đem đặt vào ngôi sinh phần có lắp khung kính</i>” (trg 75). Cái trớ trêu, là nơi dành cho người chết lại là chỗ để ươm mầm cho một sinh linh mới chào đời dưới lòng mộ huyệt. Đó là đứa con của Chót, kết quả của một trận càn thảm khốc, giữa Chót và một hình nhân dị dạng, dưới lòng mộ huyệt bà Chánh Sáu!</p>
<p>Đau khổ và hạnh phúc của một kiếp người chính là lúc lão Tư “<i>hớt hải bước xuống ruộng, lội đùng đùng… réo gọi tên con như một người điên</i>” (trg 92) giữa một không gian lạnh ngắt để đón đợi những đợt phi cơ “<i>dội bom xuống mục tiêu suốt mấy giờ đồng hồ liền.</i>”</p>
<p>Chinh Ba đã mở đầu truyện bằng “<i>tiếng máy bay ầm ù không ngớt</i>” và khép lại cũng bằng tiếng phi cơ phản lực dội bom, nhưng chỉ phác họa theo kiểu chấm phá để người đọc suy nghĩ sâu hơn về thân phận làm người của các nhân vật có mặt hay không có mặt trong truyện.</p>
<p>Cũng viết về đề tài chiến tranh như: “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng” hay “Thằng Chằng”… nhưng chỉ dừng lại ở mức độ miêu tả sơ lược, các nhân vật trong truyện đều “bảng lảng bóng hoàng hôn” chứ thật sự không làm người đọc phải rùng mình, gai lạnh sống lưng như Mộ Sống: Bởi truyện có dư thừa sự tàn nhẫn của chiến tranh nhìn từ các nhân vật đến ngoại cảnh.</p>
<p>Những truyện khác như “Hai vì sao lạc,” “Kẽ hở bàn tay,” “Lạc đường” hay “Một lứa cá mè” … cách xây dựng cốt truyện và nội dung mang hơi hớm của phong cách Tự lực văn đoàn hay Vũ Trọng Phụng. Đó là những mối tình đẹp nhưng không thiếu cảnh trái ngang, nhất là Một lứa cá mè khiến ta liên tưởng đến <em>Làm đĩ</em>, <em>Số đỏ</em> (4) trong thời kỳ văn học lãng mạn Việt Nam trong thập niên 40 ở thế kỷ trước. Nhưng ở đó (các truyện này, người đọc cũng cảm thấy an lòng, vì người sáng tạo ra chúng luôn đặt niềm tin, sự lạc quan có thừa để tạo nên những cái kết có hậu, nhất là truyện “Đóa sen vàng.”</p>
<p><a href="http://trenews.net/Article.aspx?id=7635" target="_blank">Bài thơ trên xương cụt</a> là truyện ngắn để đời của ông, bởi nó xuất hiện cách đây gần nửa thế kỷ nhưng chất văn học và tính hiện thực xã hội thì không hề mai một, cứ sáng lấp lánh như vì sao trên bầu trời trong xanh, mỗi khi ta ngước mắt lên và nhìn thấy. Truyện được viết trong trại Chí Hoà, sau đó bí mật chuyển ra ngoài, sau đó Hoài Khanh chọn đăng trên Giữ Thơm Quê Mẹ số 4, tháng 10 năm 1965 (Khi viết đến đoạn này, tôi gọi đến anh Hoài Khanh, hỏi anh còn nhớ ai mang truyện <a href="http://trenews.net/Article.aspx?id=7635" target="_blank">Bài thơ trên xương cụt</a> đến anh? Anh Hoài Khanh nói: Chinh Văn mang đến, vì tôi có chọn và đăng một số bài thơ Chinh Văn trên GTQM, nên có quen nhau. Sau này mới biết Chinh Văn là em ruột của Chinh Ba). Ít ai biết vì sao ông bị chính quyền VNCH bắt giam 3 năm tại nhà lao Chí Hoà, cũng như bằng cách nào ông có thể dễ dàng viết truyện này trong trại tù và chuyển ra ngoài an toàn? Phần việc này xin để dành cho các nhà viết văn học sử.</p>
<p>Chinh Ba viết <a href="http://trenews.net/Article.aspx?id=7635" target="_blank">Bài thơ trên xương cụt</a> theo lối kể chuyện để dẫn dắt người đọc đi từ sự ngạc nhiên này tới nỗi kinh ngạc khác, bằng một giọng văn chua cay, sắc ngọt. Ông đã vẽ lên sự tha hoá về nhân cách con người, và mặt nào đó là xã hội đang bị sức thống trị tuyệt đối của những thứ quyền lực thô lỗ tục tằn ngày càng trương phình lên: Tiêu biểu là Ba Lò Heo. Con người dung tục ấy đã chen chân vào thế giới mà hắn không mảy may rung cảm và cũng chẳng cần rung cảm trước cái đẹp của nghệ thuật. Hắn nắm toàn quyền “sáng tạo” và chỉ đạo “nền văn nghệ gia đình” phải hò hát theo ý riêng.</p>
<p>Út Lệ vốn dĩ là một cô đào ở một gánh hát, là hiện thân của niềm đam nghệ thuật (hò hát) bởi vì “… <i>nàng sống để hát, và sống bằng chính tiếng hát của mình</i>” (trg 128). Nàng sở hữu một giọng hát, theo như mô tả là “<i>ấm áp, đằm thắm, ngọt ngào,</i>” chí ít là với người dẫn truyện, sau khi nghe giọng hát Út Lệ đã nhận ra rằng: “<i>Những cáu bẩn làm nhơ bợn tâm hồn tôi từ khi bon chen vào cuộc sống bỗng quyện lấy nhau mà trầm lắng xuống đáy thẳm trong vực lòng</i>” (trg 127).</p>
<p>Từ chỗ Út Lệ mới đặt chân lên căn gác trọ, đêm đầu tiên cất lên lời ca u buồn đến nỗi người ngoài cuộc không thể giấu giếm được nỗi lòng: “<i>Ánh đèn thì tù mù, tiếng hát thì buồn. Tôi tưởng như sự tối tăm, vắng lạnh của căn nhà hoang đã được mở mắt và lên tiếng. Điệu hành vân áo não u trầm, mang cái buồn cổ kính của dĩ vãng, rỉ ngấm qua vách lá, làm ẩm ướt những dòng cảm nghĩ của tôi về cuộc sống</i>” (trg 125) sự “làm ẩm ướt những dòng cảm nghĩ” sau khi được lắng nghe Út Lệ “…<i>phô diễn bằng những âm hưởng trong trẻo, dịu ngọt, thanh thoát, hồn nhiên và cởi mở…</i>” (trg 126). Nhưng đó chỉ là những khoảnh khắc “tự do” còn ít ỏi của Út Lệ, khi chưa có sự can thiệp thô bạo. Chỉ đợi đến lúc, sự thao túng lên tới đỉnh điểm, thì người nghệ sĩ “…<i>phải vừa đọc vừa khóc vì tủi nhục, ấy là bài thơ trên xương cụt của Ba Lò Heo.</i>” (trg 141).</p>
<p>Cuộc chiến giữa nàng Út Lệ và Ba Lò Heo là cuộc đấu tranh không cân sức, giữa một bên là người nghệ sĩ và bên kia là tên đồ tể; giữa nghệ thuật và dao phay; giữa kềm toả, trói buộc và Tự Do! Hắn ta đã chen chân vào đời sống tinh thần của vợ. Hắn uốn nắn niềm đam mê của nàng bằng những “tiếng dao cheng chẻng chém xuống thanh giường” bằng cả những tiếng la hét, hằn học. Nói khác, ẩn ngữ “ghen bóng ghen gió” của Chinh Ba có thể hiểu đồng thời là sự áp đặt có hệ thống, có mưu đồ tính toán hẳn hòi, mà mục đích cuối cùng là nhằm triệt tiêu Tự Do và niềm đam mê cháy bỏng của người nghệ sĩ.</p>
<p>Những “lệnh” của Ba Lò Heo liên tiếp đưa ra từ thấp lên cao: “<i>Mày hát mửng gì mà đâm gan người ta quá vậy! Có câm họng lại không? Tao lột lưỡi mày bây giờ!</i>”. Hay: “… <i>tao biểu mày im thì mày phải im</i>. <i>Lý sự thì tao vặn họng</i>” (trg 135). Út Lệ im, không hát nữa, nhưng không phải là nàng đầu hàng. Người thay nàng lên tiếng chống đối lại mệnh lệnh trái khoáy kia lại là đứa nhỏ “<i>ngoe ngoé khóc lên</i>”. Trò áp đặt quyền lực và sự phản kháng giống như cảnh nước nổi bèo nổi, để sau đó Út Lệ vặt lông tất cả những con vật hiện ra trong đầu óc nàng. Chúng lần lượt bị thay thế cho đến khi không còn con vật nào chịu thế chân vào tình cảnh đau lòng kia, thì Út Lệ phải cất lên: “<i>Chiều chiều bắt ấy nhổ lông/Ấy kêu bớ chị</i>…”. Và, một khi kẻ bị trị không chịu thi hành lệnh hay thi hành theo chiều hướng phản kháng, ngấm ngầm chống đối; thế tất kẻ thống trị phải nghĩ ra cách khác. Cách mà Ba Lò Heo nghĩ ra là giành lấy quyền sáng tạo tuyệt đối, tự đặt thơ và cho xăm trên lưng, một loại thơ lấc cấc, quái dị xưng tụng cho thứ chủ nghĩa vị kỷ, hẹp hòi, trác táng nhằm lăng nhục kẻ khác: “<i>Men lên chí cả thêm hừng/ Công danh ta túm trong quần ta chơi</i>” (trg 138). Đây có thể coi là khởi đầu cho bi kịch chỉ huy nghệ thuật và nghệ thuật bị chỉ huy giữa Ba Lò Heo và nàng Út Lệ. Về mặt nào đó, trò chơi tởm lợm này, do Ba Lò Heo đặt ra, bước đầu xem ra thắng thế, bởi quyền lực hắn đang nắm trong tay. Nhưng xem ra cái ưu thế kia bị lung lay dữ dội khi nàng đánh đúng vào chỗ nhược của hắn: “<i>Anh Ba nè, sao đọc mấy câu này tôi nhớ ba thằng Bình quá hà!</i>” (trg 139).</p>
<p>Sự mâu thuẫn ban đầu biến thành sự xung đột có dao búa; có cả nước mắt và sự im lặng, nhẫn nhục chịu đựng. Câu chuyện kể bỗng dưng biến thành vở kịch có đầy đủ các yếu tố bi hài: Một khi kẻ nắm quyền thống trị bị đối phương chọt ngoáy đúng vào ý thức “ghen bóng ghen gió”, để cuối cùng Ba Lò Heo phải dùng tới hạ sách cực kỳ dung tục mang dáng dấp một tay anh chị máu lạnh, tàn nhẫn ở lò mổ Chánh Hưng, chợ cầu Ông Lãnh, Khánh Hội…: thuở xa xưa: “… <i>em trịch cái quần anh xuống một chút… Em thấy chưa? Ở trên chỗ xương cụt đó… tao biểu mày đọc, không đọc thì bay đầu!</i>” (trg 140).</p>
<p>Không ai biết bài thơ “nằm ở chỗ kém sạch sẽ đó” có nội dung ra sao, chỉ nghe Út Lệ “nghẹn ngào”, điều này có nghĩa rằng, Ba Lò Heo, người đại diện cho cho kẻ thống trị văn nghệ đã làm được những gì hắn nghĩ, quyết thực hiện bằng bất kỳ giá nào, miễn đạt được mục đích tối ưu, có lợi cho hắn. “Nền văn nghệ gia đình” chân chính bị xoá sổ để thay thế bằng “văn nghệ xương cụt”, một loại văn nghệ được hình thành bởi những “tư duy” đố kỵ, một chiều và hẹp hòi bắt đầu hãnh tiến lên ngôi, thống lĩnh! “<i>…thì Ba Lò Heo đã định nghĩa văn nghệ là sự tẩm quất dục vọng hoặc là sự làm-đã-ngứa chỗ xương cụt, nên lão đã đặt cơ sở nền văn nghệ trên chiếc xương cụt của lão</i>” (trg 141).</p>
<p>Tôi nghĩ, truyện dừng ở đoạn này thì cũng đủ nói lên tính hiện thực xã hội. Nhưng chừng như để cho độc giả khỏi phải nhọc công suy diễn, so sánh, đối chiếu, Chinh Ba cố công viết thêm đoạn ngắn như là cách giãi bày tâm sự, một cách biểu tỏ thái độ của người nghệ sĩ: Đó là quyền Tự Do tuyệt đối, quyền Tự Do sáng tạo: “<i>Kể từ đó, hễ nhìn bất cứ vào cái gì có hình chữ nhật – nhất là những trang giấy trắng trên bàn viết của tôi – thì tôi nghĩ đến tấm gương soi của lão Ba Lò Heo, và thấy nguyên cả một sự tục tĩu kèm với bài thơ trên xương cụt, thấy nguyên cả hiện tình văn nghệ tồi tàn của gia đình lão. Những đêm khuya, nhìn tấm vách lá, tôi lại nhớ tới tiếng hát của Út Lệ. Tôi tin rằng trong một thôn xóm nghèo nàn nào đó, dù đang đói rách, người nghệ sĩ ấy cũng đang được tự do hát những bài hát mà mình ưa thích/ Rốt cuộc Út Lệ đã thắng</i>” (trg 142-143).<i> </i></p>
<p>Đó cũng chính là niềm tin của người nghệ sĩ.</p>
<p>Chinh Ba đã để cho nàng Út Lệ chiến thắng trong cuộc rượt đuổi hụt hơi và trốn chạy đi tìm cái Đẹp. Niềm tin ấy thật mãnh liệt. Và chỉ có lòng đam mê và niềm tin không bị lung lay, rơi rớt thì tiếng hát mới thật ngọt ngào, ấm áp. Cái giá trị đích thực có đến được với nghệ thuật hay không chỉ khi nào Tự Do sáng tạo không bị tước đoạt thô bạo!</p>
<p>&#160; <br /><em>Nguyễn Lệ Uyên     <br />(xứ Xương Rồng, tháng 3/2012)</em></p>
<p><strong>_____________________________</strong></p>
<p><strong>Chú Thích</strong>:</p>
<p>(1) <em>Giữ Thơm Quê Mẹ</em>, tập san văn nghệ do Lá Bối xuất bản, Hoài Khanh coi sóc, số đầu tiên phát hành tháng 7/1965.</p>
<p>(2) Thủ bút và chữ ký của Chinh Ba.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/detangNLU.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="detangNLU" border="0" alt="detangNLU" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/04/detangNLU_thumb.jpg" width="270" height="272" /></a></p>
<p>(3) Chinh Ba, <em>Bài thơ trên xương cụt</em>, nxb Trẻ, SG 2011</p>
<p>(4) Chí Phèo, Nam Cao</p>
<p>(5) Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng</p>
<p>Chinh Ba tên thật Phan Tân Nhựt.    <br />Sinh năm 1934 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, Quảng Nam.     <br />Học tiểu học ở Bảo An, trung học ở Tam Kỳ rồi Quảng Ngãi. Đại học Sorbonnne, Pháp.     <br />Hiện sinh sống tại Pháp.</p>
<p>Cộng tác với các báo: Nhân Loại, Lẽ Sống, Bông Lúa, Ngày Mới, Giữ Thơm Quê Mẹ, chủ biên tờ Mã Thượng…</p>
<p>Dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Phan Phong Chinh, Trọng Cưu, Thông Mai, Thảo Nguyên, Cước Nguyên, Kiều Mỹ Vân, Hà Thời Đán.</p>
<p>Ông có khoảng 50 truyện ngắn đã đăng báo. Truyện <a href="http://trenews.net/Article.aspx?id=7635" target="_blank">Bài thơ trên xương cụt</a> in chung trong tập <em>Ảo Tượng</em> cùng với Hồ Hữu Tường, Thiều Chi, Võ Phiến, Sơn Nam, Nhất Hạnh, Tuệ Uyển do nhà Lá Bối xuất bản lần đầu 1966 và tái bản năm 1971.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23870/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một phong c&#225;ch viết: La D&#233;licatesse của David Foenkinos</title>
		<link>http://damau.org/archives/23787</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23787#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 27 Mar 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đặng Đình Túy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23787</guid>
		<description><![CDATA[Hồn-nhiên-như- trẻ-con có cái tế nhị của nó. [Sự hồn nhiên này] đụng đến những vấn nạn quan trọng nhưng với vẻ ngây thơ không ần ý. “Tôi muốn hỏi tại sao cô hôn tôi?” Nàng chẳng biết trả lời sao.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="left">&#160;</p>
<p> <a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/La-delicatesse1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="La-delicatesse" border="0" alt="La-delicatesse" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/La-delicatesse_thumb1.jpg" width="360" height="270" /></a>
<p>&#160;</p>
<p>Sự tế nhị, nét tế nhị… chẳng biết dịch sao cho phải, bởi vì ngay trong nguyên văn, tác giả cũng phải phân bua bằng cách chép lại cách định nghĩa trong tự điển. Có đến hai ba nghĩa khác nhau. Bởi danh từ tự nó cũng đứng rất gần biên giới. Vâng, đúng vậy, cái tế nhị là ở chỗ biết đâu là biên giới mà dừng, dừng đúng lúc đúng nơi. Quá một chút bên này, bạn thành lạnh nhạt, nhưng quá một chút bên kia thì coi chừng bạn sắp thô lỗ đến nơi. Những qui luật thành văn trong cách đối xử với người có thể dạy cho chúng ta khỏi phạm những hành động quá tệ hại, một cách chung chung. Như vậy chưa đáng gọi là tế nhị. Thật ra chẳng có qui luật, chỉ có khôn khéo từ trong tâm mà ra. Và tùy hoàn cảnh nữa. Có câu chuyện kể ở đây rằng ngày xưa xứ Pháp có vô khối các thuộc địa Phi châu. Một hôm một vì vương xứ ấy được mời thăm viếng nước Đại Pháp. Mục khoản đãi rượu chè là mục không thể thiếu. Trong tiệc cứ mỗi khi xong một món, bồi bàn lại dâng chiếc thau nhỏ để thực khách rửa tay. Vị vương chúa châu Phi tưởng được dâng nước uống ngài bèn bưng thau húp! Mọi thực khách thấy vậy, không ai bảo ai đều tuần tự bưng thau húp theo. Húp như vậy để tránh cho vương chúa kia nhận ra là mình hành động sai. Tế nhị là thế, là hành động xê dịch một chiếc bình cồng kềnh bằng thủy tinh dễ vỡ trong ngôi nhà chật chội. Chẳng có bao nhiêu không gian mà múa may!    </p>
<p>Trong tình yêu, theo ý nhà văn, thường thì do thân xác ta quyết định hơn là tâm trí <a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ftn1_6292" name="_ftnref1_6292">[1]</a>. Đó là một câu nói của ông trong khi giới thiệu và giải thích về cuốn truyện mình viết với người phỏng vấn trên truyền hình. Ấy thế mà David Foenkinos (tên ông) khi viết cuốn <i>La Délicatesse</i> đã cho nhân vật nữ của ông chọn người tình có một vóc dáng hết sức … <em>ingrat </em>–thiệt “dô diên”!</p>
<p>Nhưng đó là chuyện sau, giờ phải bắt đầu từ chỗ bắt đầu. Đời cô Nathalie trong <em>La Délicatesse</em> được chia làm ba chặng: chặng đầu, cô say mê một anh chàng gặp ngoài phố tình cờ và yêu anh ta tức khắc. Theo cách mô tả của tác giả thì anh chàng François ấy thật hoàn hảo. Họ yêu nhau và làm đám cưới, sống với nhau đầm ấm, chàng đi làm, nàng đi làm (sau khi ra trường đại học kinh tế), sau giờ làm việc cùng đi chơi với nhau, thưởng thức nhạc, đọc sách, xem phim và du lịch xa gần. Một buối sáng nghỉ việc, François ra ngoài tập thể dục, anh hôn vợ, rời nhà, chạy một vòng. Cô vợ thì đang đọc sách, khi chồng chào cô để đi tập thể dục thì cuốn sách cô đọc đã đến trang 321 (cô có làm dấu), sau đó François không trở về nữa, anh bị xe tung chết. Nathalie đau đớn nghĩ rằng đời cô cũng đứt ngang ở trang 321 ấy. Nathalie bước vào chặng thứ hai của đời cô như thế, ở trang 321 cuốn sách mà cô không buồn đọc tiếp. Cô yêu chồng quá và chắc chắn rằng sau François cô không còn khả năng tái lập đời sống với một người nào khác. Cô mang tang chế vào đời làm việc, cô hoạt động tận tình với chức vụ sếp nhỏ trong một hãng do người Thụy Điển cai quản. Làm để khuây khỏa nguôi quên. Mọi người chung quanh ái ngại và tôn trọng niềm đau nơi cô. Trừ một người là ông giám đốc, sếp lớn của cô. Ông này coi như dịp may khi người chồng François của cô lìa đời là bởi, dù có vợ ông vẫn từ lâu thầm lặng thèm muốn chiếm đoạt cô.</p>
<p>Tác giả mô tả người Thụy Điển là những kẻ chỉ muốn rời xa quê mẹ lạnh, xám xịt, mù sương gây cho họ bệnh trầm cảm để tìm về nơi ấm áp. Chiếc bánh <em>krispoll</em> chỉ là một loại bánh mì dùng trong buổi điểm tâm là tượng trưng cho thành công thương mại của họ vì vậy trong phòng ông giám đôc của cô luôn luôn bày bánh <em>krispoll</em> mời khách. Một hình ảnh được lập lại nhiều lần nhiệm ý trào lộng. Chúng ta thấy người viết đã âm thầm dựng lên những vật chắn chung quanh cô Nathalie như cố tình ngăn cản cô tái tham dự vào đời sống bình thường của một người đàn bà trẻ đẹp và đầy sức sống. Mang nó tiêu dùng vào hoạt động nghề nghiệp, Nathalie vẫn không tận dụng được phần còn lại của tình cảm và nhục tính; nó chỉ đưa cô đến gần ông giám đốc thêm một chút. Việc thăng thưởng do ông tổ chức cho cô với lý do là cô hết lòng cùng công việc nghe ra tất yếu nhưng đàng sau nó còn che dấu lòng mong ước được đến gần Nathalie. Được khen thưởng dẫn đến việc ăn mừng. Ông giám đốc mượn cớ ấy để mời Nathalie dùng bữa. Bất hạnh thay ông thiếu mất cái tế nhị trong cơ hội độc nhất chinh phục Nathalie, và cùng lúc vô tình giúp Nathalie cái cớ để cắt đứt một cách dứt khoát những òn ỉ của ông.</p>
<p>Dựng đủ mọi lá chắn để ly gián hoàn toàn Nathalie ra khỏi đời sống quân bình của mọi con người trong đời mà chúng ta cho là tất yếu (thật ra nó chẳng tất yếu chút nào : chúng ta sống, cứ tưởng là bình thường nhưng đang chịu đựng những trống vắng ghê gớm! Xin bạn hãy cúi xuống nhìn mình) tác giả chuẩn bị đẩy Nathalie sang chặng đời thứ ba của cô.</p>
<p>Tưởng tượng bạn là kẻ sáng tạo. Làm thế nào chuyển cuộc sống thụ động của Nathalie sang chủ động? Làm thế nào để Nathalie dẹp được chế độ tang chế đang duy trì trong cô chuyển sang chế độ tự do tích cực, kiểu “người dân làm chủ” đời mình? Hết hợp tác xã nông nghiệp, hết công đoàn lãnh đạo? Khó nhé! Bạn tưởng tượng phải có sự xuất hiện của một ông Brad Pitt hay George Clooney, cộng với hiểu biết, cộng với lãng mạn, cộng với tài ba, cộng với hào hoa chải chuốt và cộng với… tế nhị. Anh chàng Markus, một nhân viên dưới quyền cô, người Thụy Điển, không hề có mảy may nào những của quí báu ấy. Anh ta chỉ có tuổi trẻ. (Lợi thế!) VÀ (tôi gõ chữ hoa đấy chứ chẳng nhầm đâu) lòng không tin nơi mình lẫn nơi người. Thế gian đãi kẻ thiệt thà. Hoàn cảnh có cái đặc biệt của nó, Nathalie (đúng ra là tác giả) đã nghĩ vậy : tang tóc gồm trong nó hai sức mạnh đối nghịch, một sức mạnh tuyệt đối đẩy đến sự cần thiết phải đổi thay và một kéo níu bệnh hoạn bắt ta trung thành với quá khứ <a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ftn2_6292" name="_ftnref2_6292">[2]</a> Nhưng cái nghị lực được mang ra đốt đi trong công việc sở vẫn còn quá thừa, thừa ấy không dùng được trong công việc mà phải dùng vào điều khác. Có cô bé mới được thu nhận vào sở và được đặt duới quyền quản trị của Nathalie, cô bé Chloé. Cô này lóc chóc (dấu hiệu của thanh xuân), lắm mồm, dùng cô sếp như cái lỗ tai để cô đổ vào những tâm tình vụn giữa cô với người bạn trai và thỉnh thoảng, tỏ ra ngạc nhiên thấy Nathalie vẫn còn ôm chặt quá khứ đau buồn. Chính thứ lý lẽ trẻ con ngớ ngẩn ấy lại có hiệu quả ngược giúp Nathalie thỏa hiệp dần với hiện tại. Ý thức sống với hiện tại dần được tái tạo.</p>
<p>Cũng đúng vào lúc cô “thấy” Markus lần đầu mặc dù anh ta là một trong sáu người phục vụ dưới trướng cô từ lâu nay. Markus gõ cửa phòng sếp xin được trình bày về một hồ sơ mà anh có trách nhiệm hoàn thành. Tới đây thì tôi cảm thấy bất lực dùng ngôn ngữ kẻ thuật chuyện vì chắc là nó “dô diên” lắm. Thôi thì chép lại lời nhà văn vậy:</p>
<blockquote><p><i>Có người gõ cửa. Một cách kín đáo chỉ bằng hai ngón tay, không hơn. Nathalie giật nẩy mình làm như những giây phút vừa qua khiến cô tin cô là kẻ duy nhất trên cõi đời. Cô bảo : “Mời vào! ” và Markus bước vô. Đó là người đồng nghiệp gốc Uppsala, một thành phố của Thụy Điển không được nhiều người chú ý đến. Ngay người dân Uppsala cũng áy náy : tên thành phố họ đọc lên nghe như một lời xin lỗi. Nước Thụy Điển chiếm một tỷ suất người tự tử cao nhất thế giới. Cách tránh tự tử là di cư sang Pháp, chắc Markus nghĩ vậy. Anh ta có ngoại dáng gần như xốn mắt nhưng người ta cũng không thể nói là anh ta xấu. Cách ăn mặc của anh ta thì có cái gì hơi đặc biệt. Người ta không rõ anh ta có nhặt lại áo quần của ông nội anh, ở Emmaüs, hay tìm chúng nơi các quán bán quần áo cũ. Tấc cả y phục họp lại ít thuần nhất.        </p>
<p>“Tôi vào trình cô về hồ sơ 114”, anh ta bảo. Với cái dáng kỳ cục của anh coi bộ anh còn muốn thêm vào bằng câu nói ngu xuẩn như thế sao? Nathalie không buồn làm việc hôm nay. Lần đầu sau thời gian khá lâu. Cô cảm thấy gần như tuyệt vọng : đáng ra cô nên đi du lịch, chẳng hạn ở Uppsala. Cô quan sát Markus bất động. Anh ta thì nhìn cô với vẻ thán phục. Đối với anh, Nathalie điển hình cho thứ nữ giới không xúc phạm được, cộng với ao ước huyễn hoặc mà có ngưòi cảm thấy khi đứng trước cấp trên chiếm vị thế thượng phong. Cô bèn quyết định tiến về phía anh, đi chậm, thật chậm. Người ta gần như có đủ thời giờ đọc hết một cuốn truyện trong cái bước tới đó. Dường như cô ta không muốn dừng lại, nên gần đến nổi sát mặt Markus, gần đến nỗi mũi họ chạm nhau. Anh chàng Thụy Điển ngưng thở. Cô ta muốn gì vậy? Anh ta không có thời</i> <i>giờ lâu hơn để đặt câu hỏi ấy trong trí, bởi cô đã ôm hôn anh ta một cách mạnh bạo. Một chiếc hôn nồng nàn, cái nồng nàn của tuổi mới lớn. Rồi bất thình lình, cô lui ra:        </p>
<p>“Về hồ sơ 114, chúng ta sẽ xét sau.”         </p>
<p>Cô mở cửa mời Markus bước ra. Điều đó anh ta th</i><i>ực hiện</i><i> một cách khó khăn. Anh ta là Armstrong trên mặt</i><i> trăng. Chiếc hôn ấy là bước lớn của nhân loại. Anh ta đứng sững một lúc lâu trước văn phòng. Phần Nathalie thì đã quên bẵ</i><i>ng điều mới vừa xảy ra. Hành động của cô chẳng dính dáng gì với chuỗi các hành động khác trong đời cô. Chiếc hôn ấy là biểu hiện của một tình trạng vô chủ bất ngờ trong hệ thần kinh cô, điều mà ta có thể gọi là hành vi vô cớ</i><i>.</i>” (<i>La Délicatesse</i>, trang 74)</p>
</blockquote>
<p>Đừng tưởng đoạn vừa qua đã là cái chốt cửa mở ra chặng thứ ba của đời cô Nathalie; không, cửa vẫn còn đóng, nếu bạn tiếp tục giả đò làm người viết cuốn sách bạn sẽ thắc mắc dài dài muốn làm thế nào cho hai đứa nó xáp gần hơn nữa. Nhà văn đời nay có cách viết hơi …ngang ngược nhưng rất có duyên. Ở cuối đoạn tôi vừa dịch trên đây, David Foenkinos cho xuống hàng, đánh dấu chéo, ngụ ý một chương khác sẽ mở ra. “Chương sách” tiếp chỉ gồm cái tựa và hai giòng:    </p>
<p><i>Sự phát minh ra tấm thảm</i>.     <br /><i>Có vẻ khó biết rằng ai đã phát minh ra tấm thảm. Theo tự điển Larousse, tấm thảm chỉ là tấm lót sàn mà người ta bán từng thước một.      <br />Đây là một lối mô tả đã cho thấy vẻ bần hàn về sự hiện diện của nó</i><i>.      <br /></i>    <br />Không quen đọc các tác giả trẻ ở Tây phương, bạn sẽ lấy làm khó chịu khi thấy cách chuyển mạch kỳ cục. Không đâu. Chính tâm trạng hoang mang của Markus sau khi nhận chiếc hôn “không tốn tiền” (<em>gratuit</em>) của Nathalie đấy : anh ta đang nhìn xuống chân mình!     </p>
<p>Cũng như trong đoạn tiếp sau, vẫn còn mô tả tâm trạng hoang mang của Markus khi về đến nhà. Anh ta bối rối tột độ đến không biết dùng con số nào để mở cửa phòng. Với đời sống ngày nay chúng ta phải ghi trong bộ nhớ nhiều con số : số điện thoại di động, số thẻ tín dụng ngân hàng, số mật để vào internet, số an sinh xã hội… gặp khi bấn loạn thì hết biết. Cuối cùng nhờ có một người cùng chung cư vào nên may quá, Markus vào theo. Chấm dứt đoạn này, tác giả cẩn thận xuống hàng mở ra đoạn khác với chỉ một giòng chữ: “dưới đây là mật số để vào cửa chung cư” với đầy đủ những con số!     </p>
<p>Sự tế nhị cũng có khi là những hành động bất thường ; hành động thông thường thì dễ đánh giá nhưng hành động bất thường thì đối thủ không biết phản ứng ra sao. Tâm lý của Markus ta chưa rõ nhưng với cái bề ngoài như vậy, chúng ta đều đoán rằng anh ta sẽ nhút nhát lắm. Hậu quả: anh ta sẽ làm như không có việc gì xảy ra, thậm chí trốn tránh không muốn gặp lại Nathalie chứ gì? Anh ta không nhút nhát, anh ta hồn nhiên. Như đứa trẻ con. Hồn-nhiên-như- trẻ-con có cái tế nhị của nó. Nó đụng đến những vấn nạn quan trọng nhưng với vẻ ngây thơ không ần ý. “Tôi muốn hỏi tại sao cô hôn tôi?” Nàng chẳng biết trả lời sao. Nàng cố tìm cách giải thích mà không nói được nhưng dù sao cũng phải đáp lời : “Tôi không biết” “Cô không biết ư?” “Không, tôi không biết” “Cô không thể buông trôi như vậy. Phải giải thích.”     </p>
<p>Không có gì để giải thích cả.     <br /><i>Chiếc hôn ấy tựa như nghệ thuật hiện đại</i>.     </p>
<p>Người viết lại xuống hàng bước vào đoạn khác:     </p>
<p><i>Tựa đề một bức tranh của Kazimir Malevitch:      <br />Vuông trắng trên khung trắng (1918) </i><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ftn3_6292" name="_ftnref3_6292">[3]</a>     </p>
<p>Bạn hiểu rồi chứ? Cái hôn như nghệ thuật hiện đại, chỉ là vuông trắng trên khung trắng. Ta chẳng thấy gì đâu, chẳng hiểu gì đâu.</p>
<p>Bắt đầu bây giờ thì tương đối dễ (tôi vẫn còn giả sử là ta đóng vai người viết để cố hoàn thành cuốn truyện). Sắp xếp cho những nhì nhằng qua lại giữa chàng và nàng cho đến lúc chàng bước hẳn vào đời nàng lúc nào mà nàng không hay. Tâm trạng của người đàn bà mất chồng ngang như vậy khiến nàng sợ hãi rằng sẽ có một kẻ khác tiến chiếm vai trò người chồng cũ một cách hùng hổ quá. (May phước cho anh chồng chết sớm nhé! Anh mà sống dài thêm thì mọi điều đẹp đẽ mà nàng cảm thấy sẽ bay tuốt mất). Nàng không định làm phụ nữ trinh liệt nhưng anh nào có tài lấn tới một cách lặng lẽ tất sẽ thắng. Kết luận, điều phải chứng minh: <i>La Délicatesse</i>!</p>
<p align="center">*</p>
<p>Vào hiệu sách chọn mua ở xứ văn học này thật khó. Thấy cuốn nào cũng lấy thì khuân cả làng về nhà à? Mùa văn chương, người ta trình làng trên dưới nghìn cuốn. Bạn tưởng dựa trên một tiêu chuẩn là đủ? Tiêu chuẩn ấy là giải văn học? –Chưa chắc. Còn chuyện thẩm mỹ quan có hợp với tâm thức bạn không đã. Những giải thưởng lớn và có tiếng, như vậy vẫn chưa đảm bảo “chất lượng” (chữ này tức lỗ tai lắm nhé, nhưng mọi người đều dùng thì tôi cũng phải tập nói cho quen –tôi thích chữ phẩm chất hơn ; làm gì có lượng trong đó?). Trường hợp tôi đọc David Foenkinos vì thấy sách ông do nhà xuất bản Gallimard đảm trách. Đó là một nhà xuất bản uy tín. Ông không nhận giải Goncourt danh tiếng nhưng có hàng chục giải khác mà tôi không biết. Ông được liệt vào vòng 5 tác giả có số sách bán chạy nhất năm 2011, tổng số tiêu thụ là 700 000 cuốn. Xin đừng so sánh với sách Anh ngữ vì anh ngữ có tầm phổ biến rộng hơn nhiều. Cuốn tôi có là một cuốn bỏ túi, pocket’s book, rẻ tiền, ngụ ý con số sách còn vượt hơn con số trên kia. Khoe thế để nếu bạn thích thì xin mời.    </p>
<p>Tôi không thích việc phóng tác thành phim những câu chuyện không tình tiết như thế, nhưng người em David là Stéphane đã chót mang lên màn bạc cuốn sách của ông anh rồi. Bạn có thể xem phim để “bớt” phải bỏ công đọc cuốn sách, nhưng tôi thì cố chấp lắm, chẳng thèm xem phim đâu!</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center">
<div style="padding-bottom: 0px; padding-left: 0px; width: 640px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; margin-right: auto; padding-top: 0px" id="scid:5737277B-5D6D-4f48-ABFC-DD9C333F4C5D:ccf76f19-5768-49c1-bb5a-9c243c609fd9" class="wlWriterSmartContent">
<div style="padding-bottom: 0px; margin: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px" id="0e2e0e22-921f-4106-b3c3-441ba72c9e92">
<div><a href="http://www.youtube.com/watch?v=MpgkLGDGt8w" target="_new"><img style="border-bottom-style: none; border-left-style: none; border-top-style: none; border-right-style: none" onload="var downlevelDiv = document.getElementById(&#39;0e2e0e22-921f-4106-b3c3-441ba72c9e92&#39;); downlevelDiv.innerHTML = &quot;&lt;div&gt;&lt;object width=\&quot;640\&quot; height=\&quot;360\&quot;&gt;&lt;param name=\&quot;movie\&quot; value=\&quot;http://www.youtube.com/v/MpgkLGDGt8w?hl=en&amp;hd=1\&quot;&gt;&lt;\/param&gt;&lt;embed src=\&quot;http://www.youtube.com/v/MpgkLGDGt8w?hl=en&amp;hd=1\&quot; type=\&quot;application/x-shockwave-flash\&quot; width=\&quot;640\&quot; height=\&quot;360\&quot;&gt;&lt;\/embed&gt;&lt;\/object&gt;&lt;\/div&gt;&quot;;" alt="" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/03/videob3a9218966ac2.jpg" galleryimg="no" /></a></div>
</p></div>
<div style="width: 640px; clear: both; font-size: 0.8em">Tác giả David Foenkinos giới thiệu tác phẩm La Délicatesse (Gallimard: 2009)</div>
</p></div>
</p>
<p align="left">À quên, trong sách, hình như David cũng đã có “ý đồ” làm thành phim. Có một đoạn nhỏ trong truyện ông đã viết dưới hình thức ấy (trang 67).</p>
<p>Vài hàng về tác giả: David Foenkinos sinh năm1974, học văn chương tại đại học Sorbonne, cùng lúc học âm nhạc và là giáo sư dạy tây ban cầm. Cuốn <i>Délicatesse </i>là tác phẩm thứ tám của ông. Ông nhận được khá nhiều giải thưởng văn chương và mới đây cuốn sách này khi quay thành phim đã được chọn khen về cách phóng tác từ truyện sang phim.<b></b></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ftnref1_6292" name="_ftn1_6292">[1]</a> …<i>c’est le corps qui décide, non l’esprit</i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ftnref2_6292" name="_ftn2_6292">[2]</a> Nguyên văn : <i>“Il y a dans le deuil une puissance contradictoire, une puissance absolue qui propulse tout autant vers la nécessité du changement que vers la tentation morbide à la fidélité au passé”</i></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ftnref3_6292" name="_ftn3_6292">[3]</a> Carré blanc sur fond blanc, một bức tranh rất nổi tiếng của Malevitch vẽ năm 1915, sau vẽ lại năm 1918</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23787/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

