<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Giới thiệu tác phẩm</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-tac-ph%e1%ba%a9m/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>H&#227;y thử d&#225;n lại những hạnh ph&#250;c cũ (*)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23200</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23200#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi Vĩnh Phúc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23200</guid>
		<description><![CDATA[Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. A shadow of your smile ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="bird-in-the-foliage-1961" border="0" alt="bird-in-the-foliage-1961" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961_thumb.jpg" width="484" height="368" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Georges Braque,&#160; <em>L&#8217;Oiseau dans le feuillage</em> (</font><font size="2" face="Times New Roman"><em>Chim trong tán lá</em>) (lithographe/collage, 80.5 x 105 cm, 1961)</font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Có rất nhiều định nghĩa về thơ. Tất cả mọi định nghĩa đều phản ánh, một cách nào đó, cách nhìn cuộc đời hay cách tiếp cận cuộc đời của người định nghĩa nó.</p>
<p>Nói như thế có nghĩa thơ là một vật thể—hay một sinh thể—đa dạng và có nhiều chiều kích. Nó có thể lạ mà cũng có thể quen, có thể gây hưng phấn, hạnh phúc mà cũng có thể làm buồn bã, chán chường. Nó có thể ngắn mà cũng có thể dài. Có thể mang vần điệu lằng nhằng hoặc thiết tha, tạo nên những cái ôm ghì cuống quýt hay những cái quấn xiết lả lơi. Tạo nên một cái mặt bằng địa lý phức tạp. Hoặc nó cũng có thể, thẳng tuột một cái, lái ngay đâm thẳng vào giữa trái tim người.</p>
<p>Có nghĩa, thơ có thể tạo nên những hiệu ứng, những phản ứng, những hô ứng, thậm chí những “cuồng ứng” khác nhau.</p>
<p>Hay nói như Nguyễn Bá Trạc:</p>
<p><i>Thơ nghĩa là thơ nghĩa là thơ      <br /></i><i>Nghĩa là một buổi thấy bơ vơ      <br /></i><i>Một tay cái bút tay tờ giấy      <br /></i><i>Ta giết ta đâm hết thì giờ&#8230;</i></p>
<p>Thơ, như thế, cũng có thể là do hoàn cảnh. Hoàn cảnh trong cuộc sống hay hoàn cảnh của tâm hồn. Tâm cảnh. Đúng, nó phản ánh cái địa lý của tâm hồn con người. Thơ có thể uốn quanh, hiền và mềm như một dòng sông lờ lững, mà nó, chính cái dòng sông ấy, cũng có thể có lúc cuộn xiết và tuôn chảy ào ạt qua bao ghềnh đá của địa dư tâm hồn người viết.</p>
<p>Đọc thơ của Đán, tôi nhận thấy trong mình có những hiệu ứng, phản ứng, hô ứng, “cuồng ứng” khác nhau. Trần Nguyên Đán là một một người làm thơ đem được cảm xúc đến cho người đọc. Thơ ấy đi đứng, nói cười, thở dài, ngồi lặng, chạy nhảy, và đôi khi cũng để chảy ra một vài dòng lệ. Có lúc ông làm cho ta có được một cảm nhận mát mẻ và muốn bay lên. Thơ gắn với sự mơ mộng và với thiên nhiên:</p>
<p><i>tôi sẽ vẽ một cơn mưa      <br /></i><i>trên cánh bay của một cơn gió      </p>
<p></i>Có khi nhà thơ nhìn vào cuộc đời. Rồi tự quán chiếu lại minh:</p>
<p><i>có những lúc tôi mệt như gió bay      <br /></i><i>hoài không thể ngơi nghỉ      <br /></i><i>muốn dừng lại một quán trọ nào      <br /></i><i>đó mà không thể dừng      <br /></i><i>chân vẫn phải bước như      <br /></i><i>con lạc đã phải bước      <br /></i><i>mà miệng vẫn phải cười      <br /></i><i>cợt và nói một vài câu dí dỏm      <br /></i><i>để yêu đời      <br /></i><i>dù đời chẳng thể yêu mình      <br /></i><i>có khi mưa rơi trong những ly cà      <br /></i><i>phê bỏ quên ngoài hiên      <br /></i><i>có khi mây bay qua tâm hồn trống trơn như chiếc      <br /></i><i>vỏ đậu khô héo quắt quéo      <br /></i><i>có khi nắng&#8230;</i></p>
<p>Tự quán chiếu, buồn bã, nhưng rồi Đán vẫn mỉm cười bước tới, bắt tay với đời sống.</p>
<p>Tôi sẽ thử rủ rê người đọc, dẫn họ đi dạo trong địa lý ngôn ngữ của nhà thơ. Thử nhìn ngắm và cảm nhận cái hơi lạnh cũng như nỗi buồn và niềm vui trong không gian của một người. Tôi sẽ thử trích dẫn một số câu thơ của Đán (và cố tình không cho biết tên của các bài thơ) để thử nhìn vào trong đó xem mình có thể bắt gặp được những điều gì. Hay có khi, ta lại bắt gặp được khuôn mặt của một người nào đó, rất giống khuôn mặt riêng của mình, đang nhìn ngược lại ta:</p>
<p><i>bỗng nhớ một điều gì đó      <br /></i><i>bỗng thấy một cái gì đó      <br /></i><i>bỗng nghe một tiếng nào đó      <br /></i><i>bỗng ngửi được mùi của hoa dạ lan bên vườn      <br /></i><i>khu vườn nhỏ ngày xa xưa      <br /></i><i>khu vườn có một chiếc ghế gẫy một chân      <br /></i><i>những con bướm đang vỗ cánh nhỏ      <br /></i><i>tiếng hát của bầy ong dưới nắng      <br /></i><i>&#8230;      <br /></i><i>thôi thì đóng mặt phẳng ô vuông cửa lại      <br /></i><i>mở ra một ngăn tủ ký ức      <br /></i><i>nhìn vào đó      <br /></i><i>cả một rừng mưa đang khóc lóc thảm thiết</i></p>
<p>Có phải tâm hồn và trái tim con người luôn luôn bị giằng kéo bởi những giấc mơ cũ. Những giấc mơ cũ càng nhưng vẫn còn vương vất đâu đó mà ta chưa thể nói lời tận tuyệt với chúng. Những tiếng động mơ hồ, những âm thanh vẫy gọi về những chân trời cũ kỹ, những không gian đựng đầy sương mù. Đổ xuống thành một rừng mưa. Hay là một rừng hoa:</p>
<p><i>có một rừng hoa, hoa trắng      <br /></i><i>mây trắng      <br /></i><i>thỉnh thoảng thấy một vài hoa hồng      <br /></i><i>xen lẫn trong hơi thở      <br /></i><i>của bão </i></p>
<p>Nhà thơ vẫn thấy giữa những cơn bão (những cơn bão lửa hay những cơn bão tuyết giữa đời) một rừng hoa. Và mây. Trắng. Trắng thao thiết và thơ mộng. Cùng với một vài “nhất điểm hồng”. Của những nét yêu. Của những niềm tin vào cuộc đời, vào con người. Và vào cuộc sống.</p>
<p>Trần Nguyên Đán cũng là một người thơ thường xuyên tự nhắc nhở mình. Nhắc nhở, bảo ban. Và lau nước mắt. Cho chính cái ta. Đó là một kiểu “hôn lên tay mình”, như cái cách của một người nhạc sĩ đã nói, “Em hôn lên tay mình / Để chua sót tình trần” (TCS).</p>
<p><i>chẳng hạn như khi không còn một ai cả      <br /></i><i>cũng đừng nói gì với mình      <br /></i><i>tập cắt vài bông hoa dại ngoài đường      <br /></i><i>cắm vào một lọ nhỏ      <br /></i><i>chẳng hạn như chẳng hạn như      <br /></i><i>có một lúc nào đó thấy mình bị xé rách      <br /></i><i>hãy dùng keo dán lại      <br /></i><i>tình yêu đã chết rồi vẫn có thể hàn gắn được      <br /></i><i>phải tập quen với những điều không tốt      <br /></i><i>tập cười khi thấy mình sắp chảy nước mắt      <br /></i><i>trong những cái chậu gỗ mục nát      <br /></i><i>vẫn còn một giọt đang rơi </i></p>
<p>Dán. Dán lại mình. Đó là một cách nói khác. Lạ hơn. Mới hơn. Và cũng thẳng và thật hơn. Như người ta vẫn nói, theo một lối ẩn dụ vẫn quen dùng, chỉ có điều là cũ và mòn hơn cách nói của thi sĩ: tự băng bó (những vết thương). Nhưng khi “tự băng bó”, anh còn có những vật dụng cần thiết và (có vẻ) thích hợp để tự cứu chữa mình. Còn khi tâm hồn người ta bị rách, “dùng keo dán lại” là một cung cách tự cứu chữa thật tội nghiệp! Có lẽ vì người ta không có đủ thời giờ để tìm kiếm những vật liệu cần thiết cho một sự băng bó đúng nghĩa, hoặc là vì người ta lóng ngóng, không hiểu rõ về thao tác “tự cứu” bằng cách băng bó cẩn thận. Nhưng, dù có thế nào đi nữa, chính cái khát vọng tự tồn, không chịu bó tay, thua cuộc, đầu hàng trước cuộc đời, trước những nghịch cảnh, mà người ta phải làm một điều gì đó. Để tiếp tục sống. Để tiếp tục nở một nụ cười trước cuộc đời đắng cay và nhiều nước mắt. Người ta tự dán mình lại.</p>
<p>Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. <i>A shadow of your smile. </i>Tên một bài hát cũ, một cung điệu lạc loài còn lênh đênh như một vài sợi sóng nhỏ trong tim. Một nụ cười của em. Một nụ cười của người. Nụ cười như một bóng mây quá vãng.<i> </i>Hãy dán lại mọi điều. Và dán lại cả những bài thơ:</p>
<p><i>có những bài thơ viết riêng cho gió      <br /></i><i>cũng có vài bài viết riêng cho người      <br /></i><i>khi những bông tuyết rơi đầy trên cỏ      <br /></i><i>khi những mùa xuân về ở giữa đời      <br /></i><i>chỉ là cơn gió một lần ngừng lại      <br /></i><i>ghé qua dòng sông đã cụt hai bờ      <br /></i><i>trên sông còn vọng tiếng người hoang dại      <br /></i><i>và những đêm này dán lại đêm xưa</i></p>
<p>Khi còn khả năng dán lại mọi điều như thế, người ta chưa chịu thua. Hay, đúng hơn, không chịu thua. <i>A man can be destroyed, but not defeated</i>. Con người có thể bị tiêu diệt, nhưng nó không thể chịu thua, không thể để cho bị hạ gục. Nó không được phép để bị đánh bại. Hình như bóng ma của Hemingway đang lẩn quất đâu đây.</p>
<p><i>chiến đấu với một cái lòng đỏ trứng      <br /></i><i>chói lọi dưới chân trời      <br /></i><i>hắt những cụm mây vỡ tan      <br /></i><i>rạn nứt buổi chiều</i></p>
<p>Chiến đấu với mặt trời buổi chiều như thế, con người tiếp tục bước đi. Tiếp tục đi tới, cho dù nó có tự thấy mình như một con ngựa bị thương:</p>
<p><i>tôi vốn dĩ đã chậm chạp trong quá khứ      <br /></i><i>đến mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào nước mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào văn chương cũng chậm chạp      <br /></i><i>chậm chạp, ngay cả chữ này      <br /></i><i>cũng gợi lên một hình ảnh chậm chạp      <br /></i><i>như một con ngựa bị thương      <br /></i><i>khập khiễng đi qua núi</i></p>
<p>Một con ngựa bị thương. Thật ra, tất cả chúng ta đều mang thương tích, nhưng không phải ai cũng tự ý thức được điều đó. Thương tích làm cho chúng ta gập, gẫy, nứt rạn, hay vỡ toác. Thương tích có thể làm cho chúng ta gục ngã, nhưng chúng cũng có thể thách thức nghị lực của một con người. Chúng ta là những con chim, những con sóc, những con cá, v.v., đang hồn nhiên tung tẩy trong đời thì bị một mũi tên, một mô đá, hay một cái móc câu, v.v., tập kích, làm cho bị thương tổn. Và chúng ta dần dà mất đi niềm tin vào cuộc đời. Nhưng hình ảnh con ngựa bị thương ở đây thật đáng tội nghiệp. Chân nó khập khiễng. Và nó lại còn phải tiếp tục đi qua núi. Mà núi non thì trùng điệp. Mà cuộc đi thì còn dài. Vết thương có lẽ vẫn còn xước máu và làm cho đau đớn. Nhưng con ngựa vẫn tiếp tục đi tới, cho dù khập khiễng, và cho dù nó biết là con đường qua núi không phải là sẽ dẫn ngay đến đích.</p>
<p><b></b></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Đôi khi, để sống còn, con người cũng phải giấu đi những cái nhìn. Chỉ còn nhìn bằng một con mắt. Nhưng con mắt bị giấu đi ấy không hề nhắm lại. Nó vẫn mở chong chong và ghi nhận mọi hình ảnh cuộc đời. Rồi một ngày nào đó, những cái nhìn ấy sẽ lại mách bảo cho chúng ta về những nếp gấp khác của đời sống. Hay của chính lòng mình. Hãy thử nhìn lại chính ta trong ly cà phê đen:</p>
<p><i>tôi thường hay cố gắng      <br /></i><i>cách tuyệt vọng      <br /></i><i>dấu con mắt còn lại      <br /></i><i>trong ly cà phê đen      <br /></i><i>người ta gọi tôi là      <br /></i><i>chân dung của dĩ vãng      <br /></i><i>trên vách của quán xưa      <br /></i><i>con mắt tôi còn đó</i></p>
<p>Nhìn lại như thế, người ta có thể bắt gặp lại được nhiều điều. Bắt gặp lại những mảnh của đời ta đã bị xé rách, tả tơi. Những “mảnh ta” đứng sững hoặc bay đầy trong không gian đã tưởng là xa lắc, mịt mù. Thật ra, thời gian vẫn còn lưu dấu tất cả mọi điều trong cái hộp đen vĩ đại của nó. Chỉ cần tìm được một cái mã, một cái mã bí mật, bạn sẽ mở lại được chiếc hộp kia. Và rồi bạn sẽ tha hồ “dán”. Dán ngày vào đêm. Dán giọt nước mắt vào một nụ cười. Hay ngược lại. Dán em vào anh. Dán anh vào những lỡ lầm, mất mát. Dán mặt trời buổi chiều vào con mắt ướt. Dán mắt nhìn khát vọng vào một ánh sao đêm. Mỗi người chúng ta tự định nghĩa mình, tự tìm ra hoặc tự gọi tên mình qua những cuộc dán ấy. Chính thao tác làm nên con người. Anh “dán” ra sao, anh “dán” cái gì, thì con người anh sẽ hiển lộ ra đấy.</p>
<p><i>tôi nhớ nó, khu rừng đó      <br /></i><i>khu rừng có những vệt sáng cắt đứt từ những kẽ hở      <br /></i><i>của lá      <br /></i><i>tôi còn nhớ đã loay hoay làm một chuyện ngớ ngẩn trên cỏ      <br /></i><i>và khi nhìn qua vai      <br /></i><i>tôi đã hổ thẹn với một con sóc      </p>
<p></i><i>có nhiều khu rừng tôi đã đi qua      <br /></i><i>tôi cố gắng quên nó, tôi lại nhớ nó      <br /></i><i>khu rừng với những hôn mê bất tận      <br /></i><i>làm rách toang đường bay của bướm trắng      <br /></i><i>khu rừng tôi đã chạy tơi bời dưới lửa đạn      <br /></i><i>mà lửa đạn ngày đó cũng giống một hành động ái ân      </p>
<p></i><i>đôi khi, cuối rừng có một dòng sông      <br /></i><i>không biết ai để đó từ bao giờ      <br /></i><i>dòng sông in bóng rừng hoang dại      <br /></i><i>ngút mắt những đại ngàn      <br /></i><i>tiếng chó sủa lùng bùng những vạt nắng lửa      <br /></i><i>dăm ba con chim cụt cánh đứng trong trời vắng ngắt</i></p>
<p>Và hãy dán tiếp quá khứ vào với hiện tại trong một lần trở về. Sài gòn. Sài gòn thơm, mềm mại, cũng như Sài gòn ồn, gẫy:</p>
<p><i>sài gòn đêm tiếng ồn      <br /></i><i>người thức dậy trên sông      <br /></i><i>dưới khoảng tối nồng nàn      <br /></i><i>mùi dạ lý bay thoảng</i></p>
<p><i>sài gòn đường phố gẫy      <br /></i><i>người khom lưng ngoái nhìn      <br /></i><i>cầm cây đàn quay lại      <br /></i><i>xa tít mù quán trọ</i></p>
<p><i>sài gòn về qua cầu      <br /></i><i>bóng người trong bóng nước      <br /></i><i>chiếc xuồng tan sương khuya      <br /></i><i>người quăng mình thiên thu</i></p>
<p><i>sài gòn còn đây tôi      <br /></i><i>xé rách vài tờ giấy      <br /></i><i>áo vàng mầu hoàng hôn      <br /></i><i>đêm tơi bời thức dậy</i></p>
<p>Dán và mơ. Dán và nhìn thấy các hình ảnh lay động. Và thấy ta hoá thành bướm, thành trận mưa cuồng. Và thấy đêm mở ra, thân mật:</p>
<p><i>em có bao giờ mơ thấy bướm      <br /></i><i>trong mùa lũ lụt rán bay về      <br /></i><i>giữa trận mưa cuồng không dứt hột      <br /></i><i>tôi khoả thân từng chiếc nút khuya</i></p>
<p>Thế rồi sau một cuộc mưa như vậy, con người bừng thức. Nó nhìn trở lại vào ly cà phê của ngày xưa. Thấy trở lại những giọt mưa cũ. Những giọt long lanh những mảnh tôi rạng rỡ, thiết tha và tội nghiệp. Và trái tim khô hạn cũng thấm đẫm những hạt mưa:</p>
<p><i>mưa, nghe rầm rộ mạnh bạo thế      <br /></i><i>mà đã chấm dứt rồi      <br /></i><i>còn những giọt mưa rơi vào ly cà phê tôi      <br /></i><i>thì vẫn còn đó      <br /></i><i>thậm chí có những giọt      <br /></i><i>rơi vào trái tim khô      <br /></i><i>làm cho nó ướt át trở lại</i></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Thơ của Đán là một cuộc trần thuật về con người. Con người nhà thơ. Và, có lẽ, về cả những con người như tôi, như anh, như chị. Những con người luôn trăn trở với cả những giấc mơ, với những mảnh hiện tại và quá khứ không toàn vẹn của mình. Chúng ta loay hoay và chúng ta lật giở cuộc sống. Cuộc sống với những trang giấy, với những mảnh vụn đã bị gió đời xáo trộn và xé rách, thổi bay tung toé khắp nơi. Cuộc sống có những hình ảnh hiện tại, cái thì sắc nét, cái lại nhoà nhạt dáng hình. Nhưng tất cả vẫn còn ở đó. Trong chiếc “hộp đen” ấy. Chiếc “hộp đen” của thời gian. Và của trí nhớ.</p>
<p>Chỉ những người nhậy cảm và thiết tha mới có được cái mật mã để mở lại những trang đời kia. Trần Nguyên Đán là một nhà thơ, lại là một người nhậy cảm như thế. Ông có cái thiết tha và mơ mộng ngay từ những ngày tuổi trẻ khi ông hồi nhớ lại tác động của những dòng thơ Tagore trong hồn mình:</p>
<p><i>Rabindranath Tagore, người đã chinh phục trái tim còn nông nổi của một thiếu niên 16 tuổi, </i></p>
<p><i>trên mặt còn đầy những vệt lông tơ, nhưng sự khao khát đi tìm thơ thì dầy hơn túm lông đuôi của ngựa. Trong những ngày ấy, tôi kinh ngạc đọc những dòng sữa trắng chảy ra dưới bầu vú      <br /></i><i>     <br /></i><i>của những con bò cái, và hoa hồng lúc nào cũng có mặt, như thể bầu trời bị lật úp chiếc thúng lớn đầy hoa, đổ tràn lan trên mặt đất.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tagore, tôi lần dở lại trang sách của người làm vườn cần mẫn, và dù Rabindranath đã đi khuất vào lịch sử 70 năm rồi, tôi lại thấy cầu vồng mọc sau cơn mưa,</i></p>
<p><i>và cô gái Ấn mở cửa ra vườn với váy dài loạt xoạt, thúng bên hông, với những trái cà chua mới cắt,      <br /></i><i>&#160; <br /></i><i>chàng trai khăn quấn ngang đầu nay đã già, tóc phai mầu, mắt cúi xuống ngó vào tĩnh lặng chiều tà, dường như không nói gì nữa.</i></p>
<p><i>Nhưng mà dòng sông vẫn trôi, chuyện tình vẫn còn đấy, chuyện tình nho nhỏ thôi, nhưng đầy những con thuyền giấy xếp bằng giấy xé ra từ trang sách cổ có pha chút mơ mộng của đôi môi dầy và lồng ngực lép. Tagore lại đứng dậy và bước đi (&#8230;)</i></p>
<p>Cũng thế, bao nhiêu nhà thơ của nhân loại vẫn đang tiếp tục bước tới. Họ bước đi. Họ ngắm nhìn. Và trên hành trình của mình, họ tường trình cho con người về đời sống, về những vùng địa lý, đất đai nằm ngay trong tâm hồn mỗi một chúng ta mà chúng ta đã không từng để ý hay biết đến. Và, qua thơ của mình, họ cũng mời gọi chúng ta cùng cất bước.</p>
<p>Trần Nguyên Đán vẫn đang bước đi. Dù sao, mỗi người viết, mỗi nhà thơ có một cách bước đi riêng, một cách nhìn ngắm cuộc đời riêng của mình. Đọc thơ ông, tôi nhìn rõ cuộc đời hơn và nhận thấy trái tim cuộc sống máy đập. Những máy đập ấy phản ánh những rung động của chính nhà thơ với đời sống. Hẳn thế. Nhưng, có lẽ, chúng cũng phản ánh những cảm xúc của tôi, cũng như của những người khác, khi đến với thơ ông.</p>
<p>Xin cám ơn những dòng thơ của Đán.</p>
<p>Nhà thơ ơi, xin hãy tiếp tục bước tới.</p>
<p>Và xin hãy để tôi gửi những nụ cười và những giọt lệ của mình trong ánh mắt anh.</p>
<p>&#160;</p>
<p>16. VII. 2011   <br /><i>Tustin Ranch, Calif</i><i>.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p>_______________________________________________</p>
<p>(*) Tựa cho tập thơ <i>Tôi Chạy Vòng Quanh Một Khoảng Trống </i>của Trần Nguyên Đán. Tập thơ sẽ được Kệ Sách của Da Màu ebook xuất bản trong những ngày sắp tới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23200/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>L&#8217;&#233;legance du h&#233;risson: Từ một cuốn s&#225;ch đến cuốn phim</title>
		<link>http://damau.org/archives/23187</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23187#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 24 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đặng Đình Túy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nghệ Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Điện Ảnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23187</guid>
		<description><![CDATA[Như con khỉ của Trang Tử đã ăn hết phần chuối dành cho nó, ta còn chờ đợi gì trong cuộc sống: René Michel đã ngốn ngấu những quả chuối ... của đời bà hơi vội vã nhưng hãy còn may mắn hơn chán vạn phần số khác.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/herisson.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="herisson" border="0" alt="herisson" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/herisson_thumb.jpg" width="166" height="276" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Cuốn phim mà tôi mới xem có tên <em>Le</em> <i>Hérisson</i> (con nhím), được quay thành phim dựa trên cuốn truyện của Muriel Barbery với tựa <i>L’Elégance du Hérisson</i> (Vẻ lịch lãm của con nhím). Nhà thực hiện là Mona Achache (sinh năm 1981) với thành tích là làm diễn viên vai phụ vài lần và cũng có làm một phim tài liệu cùng hai phim ngắn. Chỉ có thế! Người ta không hiểu tại sao có sự thỏa thuận giữa tác giả với nhà làm phim dễ dàng như vậy nếu không là mối đồng cảm chớp nhoáng bắt gặp ngay phút đầu. Nên biết là việc điều đình đã xảy ra khá sớm nhưng lúc ấy theo báo Figaro thì cuốn sách đã bán được đến 700 000 cuốn! Và một ngạc nhiên khác: nhà thực hiện chỉ mua bản quyền sách với giá 35 000€ thôi (theo Figaro; nhưng một nguồn tin khác thì bảo là 100 000€, dù sao món tiền cũng còn cứ quá thấp). Suy việc, chúng tôi phỏng đoán là có một mối cảm thông sâu sắc và tin cậy nào đó giữa tác giả và Mona Achache chăng. Một điều đáng nói khác là tác giả Muriel Barbery nghe bảo là một người ngại tiếng tăm, cô trốn kỹ trong khi sách của cô bán chạy như tôm tươi, con số cuối cùng là trên một triệu cuốn chưa kể 250,000 cuốn tung ra sau đó dưới dạng sách bỏ túi. Còn cô Mona Achache thì tuy mới chập chững trong nghề nhưng theo thiển ý cô đã tạo một phim xem được, những sửa đổi từ cuốn sách sang cuốn phim cũng hợp lý thôi –vì lý do kỹ thuật.     <br /><i></i></p>
<p><i><font size="3"><strong>*Từ cuốn sách…</strong></font></i></p>
<p>Cuốn <i>L’Elegance du Hérisson</i> do nhà Gallimard xuất bản năm 2006. Tác giả là một người đàn bà trẻ (sinh năm 1969) cựu học sinh trường sư phạm danh tiếng ENS, có bằng thạc sĩ, một học vị riêng trong hệ thống giáo dục Pháp, về triết học. Bắt đầu viết cuốn sách đầu năm 2000, mãi đến sáu năm sau bà mới cho ra mắt cuốn này, cuốn thứ hai. Là một kẻ kín đáo, mặc dù tác phẩm được dư luận chú ý, bà không là khuôn mặt của đám đông. Sau khi ra mắt cuốn sách, bà sang Nhật cư ngụ cùng với chồng, vì qua cuốn sách ta cũng thấy bà bày tỏ mối hâm mộ đặc biệt đối với văn hóa Nhật Bản.</p>
<p>Câu chuyện xoay quanh ba nhân vật chính: bà gác dan chung cư sang trọng của giới trưởng giả tọa lạc ở số 7 đường Grenelle, tên Renée Michel năm mươi bốn tuổi, chỉ học hết bậc tiểu học nhưng mê đọc sách và nhờ đó có một hiểu biết văn chương đáng kể; cô bé Paloma Josse mười hai tuổi rưỡi, thông minh quán chúng, con một gia đình trong chung cư, bố là dân biểu, mẹ cũng có học nhưng không cần làm việc, chỉ ở nhà và chăm lo thứ “bệnh tưởng” của mình, một mẫu nhân vật Molière hiện đại; ông Nhật giàu có Kakuro Ozu (bà con xa gần của nhà điện ảnh nổi tiếng Nhật, Yasujiro Ozu) tượng trưng cho những người Nhật vừa giàu vừa có văn hóa. Cấu trúc của cuốn sách được sắp xếp bằng những độc thoại xen kẽ giữa bà gác dan Renée và cô bé Paloma. Bà Renée kể về đời mình từ nhỏ đến khi lấy chồng rồi chồng chết và bà vào làm chân gác dan. Công việc của người gác dan là phục vụ cho việc lên xuống cầu thang máy của người trong chung cư, phát nhận thư tín, bưu phẩm và vài việc lặt vặt khác; ngoài ra, đời sống riêng của bà là con mèo mập Léon và một góc khuất có cửa khóa, sào huyệt của bà trong đó chứa sách và là chốn trú ẩn yên bình mà không ai biết, nơi bà đánh bạn với tác phẩm của các nhà văn lớn.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/josiah-balasko-herisson.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="josiah-balasko-herisson" border="0" alt="josiah-balasko-herisson" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/josiah-balasko-herisson_thumb.jpg" width="429" height="261" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Josiane Balasko trong vai Renée, bà gác dan trí thức với con mèo Léon</font></p>
<p>Renée cố tạo cho mình một bề ngoài hoàn toàn ăn khớp với vai trò người gác dan một cách gần như quá đáng bởi bà không muốn cho ai hiểu rằng bà có một sinh hoạt tinh thần vượt khỏi trình độ của giai cấp xã hội đáng phải có. Bên cạnh đó, bà cũng là kẻ nặng mặc cảm tự ti. Bà tự giới thiệu mình ngay trong phần đầu cuốn sách y như các nhân vật hát bội kiểu Tàu, <i>như ta đây là</i>… “Renée năm mươi bốn tuổi. Từ hai mươi bảy năm nay tôi là kẻ gác dan của nhà số 7 đường Grenelle, một khách sạn đẹp, tư nhân có sân và vườn bên trong, chia thành tám gian nhà ở loại thượng hạng, tất cả đều có người ở, tất cả đều sang trọng. Tôi, góa chồng, thấp bé, xấu xí, mập ú, có mụn chai đầy bàn chân, và có những buổi sáng có hơi thở của giống ma-mút. Tôi không học hành nhiều, luôn luôn nghèo khổ, che dấu, vô nghĩa. Tôi sống một mình với con mèo bự… Nó cũng như tôi không muốn cố gắng gia nhập vào đám đồng loại. Vì tôi hiếm khi dễ thương, tuy rằng luôn luôn lễ độ, nên người ta chẳng thương tôi nhưng họ vẫn khoan thứ bởi tôi ăn nhập với dạng thức xã hội mẫu của một đứa gác dan”…</p>
<p>Mỗi tuần hai lần vào buổi xế, Renée có người bạn đến viếng cùng uống trà với nhau, bà Manuela, một người đàn bà người Bồ Đào Nha, gốc trưởng giả thất thời, giờ cũng làm người đi lau quét nhà cửa cho người. Câu chuyện trao đổi giữa họ thuộc về công việc tủm mủn mà họ cáng đáng hàng ngày. Bà này không “thông thái” như Renée đến nỗi khi bà nghe lỏm chuyện người về kể cho bạn, chuyện hai con mèo một con tên Kitty còn con kia bà không rõ thì Renée vọt miệng: có phải Lévine không? (tên hai nhân vật trong Anna Karénine). Bà bạn gật gật ra chiều có thể là đúng nhưng gặng: liệu có dính dáng gì với… cộng sản không. Thì ra <i>Lévine</i> nghe thành <i>Lénine</i>!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Manuela.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Manuela" border="0" alt="Manuela" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Manuela_thumb.jpg" width="404" height="271" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Ariane Ascaride trong vai Manuela, bạn của Renée</font></p>
<p>Cô bé Paloma Josse vì quá thông minh đã thấy trước cái lẩn quẩn chật hẹp ngu muội của đời sống vô nghĩa được tượng trưng qua hình ảnh con cá đỏ trong bình thủy tinh, đã quyết định sẽ tự tử vào ngày sinh nhật mười ba tuổi của cô. Sự lựa chọn đó không mang ý nghĩa bi thảm mà có chất <i>absurdité</i> của Albert Camus cho nên cô vẫn hăng hái sống, hăng hái ghi chép những suy nghĩ của cô vào nhật ký mà cô lấy tựa là những “suy tưởng sâu xa” và “nhật ký về sự chuyển biến trần thế”. Nhưng với những kẻ “bình thường” việc sống tách rời cộng đồng là một điều bất thường. Bố cô, một hôm tỏ vẻ khó chịu: “Tại sao con trốn?” Cô lý luận với mình rằng cô không đi trốn, cô chỉ tách xa mọi người để quan sát và suy nghĩ. Nhưng không biết trả lời sao với bố, cô không thể bảo tại vì các người làm tôi điên đầu và vì tôi còn một công việc trọng đại phải ghi chép trước khi chết; cô bèn nửa đùa nửa thật: “tại con nghe muôn thứ tiếng trong đầu.” Tai họa! Bố cô trợn trừng đến muốn lọt mắt ra ngoài và bà mẹ làm ra bộ tỉnh táo, vỗ về: “Không sao đâu con!” rồi lập tức gọi điện thoại cho ông tâm lý gia; còn Colombe, chị cô: “Em nghe bao nhiêu thứ giọng?…” Cuối cùng cô phải ngoan ngoãn cùng mẹ đến thăm nhà tâm lý mà cô chê rằng chẳng hơn gì cô. Cô đã dùng giọng văn hài hước để mô tả ông cùng câu chuyện đối đáp giữa hai người. Cô vạch mặt thứ trò chơi gian lận của nhà tâm lý và đạt được thỏa thuận với ông ta. Ông ta sẽ tuyên bố với mẹ cô rằng trạng thái tâm lý của cô bình thường để cô không cần đến gặp ông ta nữa.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Paloma-with-goldfish.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Paloma-with-goldfish" border="0" alt="Paloma-with-goldfish" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Paloma-with-goldfish_thumb.jpg" width="404" height="271" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Garance Le Guillermic trong vai Paloma đang suy nghiệm “cái lẩn quẩn chật hẹp” của đời sống như bao nước đựng con cá đỏ</font></p>
<p>Cuộc sống của hai nhân vật vừa nêu ra đáng lẽ cứ tiến triển lặng lẽ như vậy nếu không có một biến cố mới. Bà Renée làm công việc hàng ngày và khi rỗi thì chui vào sào huyệt mà đọc sách và thỉnh thoảng cười thầm một mình về một lỗi văn phạm, một cách sử dụng từ ngữ sai lầm của những kẻ tự cho là ở trên bà, đồng thời lại đóng vai dốt nát khi tiếp xúc với họ. Cô bé Paloma thì cắm cúi một mình trong phòng, chống đối cô chị, dửng dưng với bố mẹ, rình rập quan sát mọi người, và nếu cần, sửa sai bố mẹ khách khứa khiến ông bố quát : “nếu sự hiện diện của mày chỉ để làm mất mặt khách thì tốt hơn mày cút đi nơi khác,” vì quả thật cô biết nhiều, hiểu thấu. Cô đang học tiếng Nhật vì cô rất yêu văn hóa Nhật Bản, và thích đọc sách tranh <i>manga</i>.     </p>
<p>Đừng ai hòng len chân vào chung cư số 7 đường Grenelle vì chẳng gia đình nào muốn bán nhà, họ chỉ làm việc cha truyền con nối, nhưng sự lạ đã xẩy ra khi một ông làm nghề viết phê bình về món ăn bỗng ngã ra chết bất đắc vì bệnh tim. Bà vợ không muốn nán lại nên rao bán nhà. Khách mua nhà là ông Nhật Kakuro Ozu: một biến động lớn trong chung cư khi ông này dọn nhà đến và đưa thợ vào sửa chữa. Ozu trở thành hiện tượng cho mọi quan sát của đám người trú ngụ. Không thể khinh khi ông ta được vì ông ta giàu, chứng cớ là ông đã không bằng lòng với cách xây cất một bin-đinh hạng cao như vậy mà còn cho thợ đến sửa chữa cho vừa ý; cũng không thể có ác cảm với ông ta được khi ông ta ung dung bặt thiệp lễ độ với tất cả mọi người.</p>
<p>Đặc biệt là với Renée Michel, bà gác dan. Việc đưa khách mới đến để giới thiệu với bà là điều tự nhiên để bà hay rằng có thêm người đến ở tức thêm nhiệm vụ phải gánh vác. Nhưng thái độ của khách mới rất đặc biệt. Ozu chào bà kính cẩn, sự kính cẩn thành thật chứ không phải thứ lịch sự nhằm tăng tư cách mình hơn là kẻ kia của đám người lâu nay trong chung cư. Cũng trong thời gian đó, có hôm một người trong chung cư đã vô ý đánh đổ giỏ thức ăn mà bà Renée đang giữ trên tay khi ở chợ về. Cô bé Paloma có mặt lúc đó và chứng kiến trong số thực phẩm có cả một cuốn sách nội dung khá nặng nề. Cô phân vân không biết bà làm gì với cuốn sách ấy. Mang chuyện kể với ông Nhật (cô đã làm quen được ông trước nhất và được ông mời lên phòng ông chơi), ông này thì quyết đoán rằng bà gác dan là một loại “nữ hoàng nhập nội bất hợp pháp có trình độ văn hóa lỗi lạc”. Họ đồng ý cùng nhau điều tra về bà, và sau đó cô bé Paloma đã tóm tắt nhận định của cô bằng công thức “Vẻ lịch lãm của con nhím.” Đó là con vật luôn thủ thế với chùm lông nhọn, chẳng ai biết bên trong da thịt, lòng dạ nó ra sao; họa chăng chỉ có Kakuro, thủ đắc một truyền thống văn hóa thâm trầm và tinh thần nhân bản cho phép ông khám phá ra cái phong phú bên trong của con vật xấu xí ấy chăng?    </p>
<p>Rồi bà Michel nhận gói bưu phẩm đưa đến mang tên người nhận là chính bà, cuốn <i>Anna Karénine</i> của Léon Tolstoï với giòng chữ ngắn: “Thưa Bà, Để nhớ đến con mèo (vì bà đặt tên nó là Léon) của bà, Thân mến, Kakuro Ozu”. Vẫn còn trong thế tự vệ bà đã viết lời cám ơn Ozu với mọi cách mà bà cho là đủ để hóa trang che đậy con người bà. Nhưng chỉ vài hôm sau, Ozu lại đến gõ cửa, nói về cuốn sách. Bà lại cám ơn lần nữa nhưng Ozu đáp không phải ông đến để được bà cám ơn mà là để mời bà dùng cơm tối với ông.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Kakuro.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Kakuro" border="0" alt="Kakuro" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Kakuro_thumb.jpg" width="429" height="287" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Togo Igawa trong vai Kakuro Ozu, mộr người bạn hào phóng của Renée</font></p>
<p>Phải chăng cuộc sống tối tăm xám xịt của bà gác dan từ đây đã nhận được chút lóe sáng qua vài cuộc chuyện trò về văn chương, nghệ thuật với Kakuro dưới hình thức những bữa <i>goûter</i> hay ăn tối khi tại nhà ông, khi ngoài nhà hàng sang trọng. Sự giàu sang của ông Nhật đã cho phép ông hào phóng –hào phóng mà vẫn thanh cao– khi tặng cuốn sách, khi tặng bộ áo quần để bà có thể ra đường <i>như mọi người.</i> Chỉ cần một mẩu đối đáp ngắn giữa hai người để đủ cho ta thấy cái thâm trầm của ông Nhật: ông đến mời bà đi ăn tối để mừng sinh nhật ông. Bà diện bộ quần áo mà ông biếu. Họ khoác tay nhau bước ra cửa khi hai phụ nữ ở trong chung cư vừa đi đâu về, nhìn thấy hai người và lên tiếng chào. Trong cung cách chào cho ta thấy là họ không nhận ra bà gác dan đi bên ông Nhật mà chỉ là một người phụ nữ nào đó khiến Renée Michel thắc mắc. Bà bảo với ông bạn: “họ <i>không nhận ra</i> tôi ông ạ!” Ông Kakura thâm trầm: “Họ không nhận ra bà vì họ <i>chưa bao giờ thấy</i> bà”. Ý tưởng chủ đạo của truyện ta có thể nói chỉ gồm trong hai đoạn, một do cô bé Paloma nói về bà gác dan (ví bà như con nhím), và một của Kakuro trên đây.</p>
<p>Người đọc, trong tinh thần truy tìm tinh hoa của tư tưởng tác giả, có thể không cần đi xa hơn; dừng lại ở đây cũng đã vừa.    </p>
<p>Đoạn kết như thủ tục cần phải có của một cuốn truyện là cái chết của bà gác dan. Trong cảm giác lâng lâng nhờ dư vị đêm trước đi ăn tối với ông Nhật, sáng sau bà thức giấc, trở lại với công việc thường nhật của người gác dan là đẩy mấy thùng rác của chung cư ra tận vỉa hè chờ xe đến lấy và ra chợ. Bà nhìn thấy ông ăn xin vẫn lây lất hè đường quen thuộc hôm ấy đang múa may bất chấp xe cộ qua lại, bèn bỏ giỏ hàng chợ đến kéo ông vào lề. Một chiếc xe giao hàng buổi sớm ngang qua đấy đã xô vào bà. Renée Michel ngã xuống mắt còn đọc được giòng chữ sơn trên xe : “Giặt ủi Malavoin.”     </p>
<p>Như con khỉ của Trang Tử đã ăn hết phần chuối dành cho nó, ta còn chờ đợi gì trong cuộc sống: René Michel đã ngốn ngấu những quả chuối cuối cùng của đời bà hơi vội vã nhưng hãy còn may mắn hơn chán vạn phần số khác. Phút cuối trong ngắc ngoải bà nghĩ đến cô bé Paloma, ông Kakuro, bà Manuela là những người bạn đích thật của bà và thầm vĩnh biệt chú mèo ú Léon! Phần Paloma, cô đã bỏ ý định tự tử và đốt chung cư; cô nguyện rằng từ nay cô sẽ đi tìm cái đẹp khi đã thấu rõ ý nghĩa của chữ “luôn luôn” và chữ “không bao giờ nữa.”</p>
<p><strong><font size="3">… <i>đến việc thực hiện cuốn phim</i></font></strong><i>      <br /></i></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/le-herisson-the-hedgehog-movie-poster.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="le-herisson-the-hedgehog-movie-poster" border="0" alt="le-herisson-the-hedgehog-movie-poster" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/le-herisson-the-hedgehog-movie-poster_thumb.jpg" width="297" height="402" /></a></p>
<p>Ngôn ngữ viết không thể là ngôn ngữ điện ảnh. Với hai mẩu độc thoại xen kẽ nhà làm phim phải tìm cách thay thế. Người ta nghĩ ra cách giao cho cô bé Paloma chiếc máy quay phim để thu vào ống kính mọi ghi chép trên giấy của cô. Người ta cũng bỏ bớt đi vài nhân vật không cần thiết lắm, thí dụ chàng thư ký riêng của ông Kakuro là Paul Nguyễn, và sắp đặt cho ông này thêm một số việc do Paul đảm nhận trong sách. Tuy nhiên cuốn phim đã tương đối chấp hành đầy đủ công tác chuyển đạt chủ đích tác phẩm. Nó không bề thế, không đề nghị được cái khắc khoải của nỗi đời trong lời kể của bà gác dan qua các trang sách; nó khiêm tốn hơn nhưng người xem có cảm tưởng nhà làm phim có chỗ ngại ngùng sợ không dám làm đổ vỡ nét tế nhị của con nhím e có khi lầm lạc khiến nó xú lông ra chăng?</p>
<p>Rốt cuộc, như tôi đã nói một lần, đọc bài tóm tắt một cuốn sách (và cuốn phim) chẳng khác nghe trực tiếp truyền thanh trận bóng đá. Tốt hơn nên mua vé đi xem…</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23187/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>V&#224;o Nẻo V&#244; Bi&#234;n với Ba Ti&#234;u</title>
		<link>http://damau.org/archives/22965</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22965#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 Jan 2012 21:40:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Bích Thúy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22965</guid>
		<description><![CDATA[Khái niệm rộng, hẹp, xa, gần, hàm chứa trong tựa đề Oku của Basho cũng có thể áp dụng cho hành trình dịch thuật. Các đôc giả thấm nhuần văn chương Đông Phương có lẽ sẽ cảm thấy gần gũi  khi đọc thơ Basho. Ngược lại, các độc giả ... như người dịch, vì lớn lên ở ngoài nước - sẽ ngạc nhiên và thích thú khi tìm thấy trong Basho nét sáng tạo rất hiện đại.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Utsu-Mountain-Okabe-Museum-of-Fine-Arts-Boston.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Utsu Mountain, Okabe Museum of Fine Arts, Boston" border="0" alt="Utsu Mountain, Okabe Museum of Fine Arts, Boston" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Utsu-Mountain-Okabe-Museum-of-Fine-Arts-Boston_thumb.jpg" width="526" height="354" /></a></p>
<p align="center">Núi Utsu, tỉnh Okabe (tranh Utagawa Hiroshige [1797-1858])</p>
<p>&#160;</p>
<p><font size="4"><strong>Phi Lộ</strong></font></p>
<p><strong><font size="4">       <br /></font></strong>Trong bài thơ “<a href="http://damau.org/archives/22648" target="_blank">Từ Tháng 3-79</a>” của Tomas Tranströmer, nhà thơ nói về hành trình đạt đến “ngôn ngữ không phải chữ.” Ngôn ngữ, theo ý của nhà thơ, có lẽ là sự thật, hoặc vẻ đẹp được hiển hiện qua bài thơ, một vẻ đẹp thanh thoát, vững chãi và “phây phây” không mất nét quyến rũ qua mọi bản dịch, qua mọi cấu trúc và thể hiện của “chữ,” qua mọi cách nhìn của mỗi dịch giả và người đọc, qua thời gian và không gian.</p>
<p>Đối với một người dịch, hành trình đạt đến ngôn ngữ (không phải chữ) luôn luôn là một thử thách gay go &#8211; có thể làm thiệt mạng &#8211; như “con đường hẹp” của Matsuo Basho (1644-1694) trong tựa tác phẩm du ký nổi tiếng của thi hào, <i>Oku No Hosomichi (</i><i>おくのほそ道), </i>tạm dịch là <i>Lối Hẹp vào Cõi Trong</i>, phóng tác thành “nẻo vào vô biên”—làm tựa bài trước mặt<i>.</i></p>
<p>Tựa <i>Oku No Hosomichi</i> của Basho, như tên của nhà thơ [Matsuo Basho -(松 尾 笆 焦 - ghép tên họ Tùng Vĩ (松 尾)– cây thông cao - với bút hiệu Ba Tiêu (芭蕉)-chuối vườn nhà] bao hàm nhiều ý nghĩa gần như đối nghịch, giữa “bên ngoài, chỗ xa” với “bên trong, cõi gần.”</p>
<p>Nhà văn Lý Lan dịch tựa tác phẩm là <i><a href="http://haiku.punbb-hosting.com/viewtopic.php?id=42463" target="_blank">Về Miền Sâu Thẳm</a></i>. Dịch giả Vĩnh Sính dịch là <i><a href="http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-086/vinhsinh-dich-basho/" target="_blank">Lối Lên Miền Oku</a></i> (nxb Thế Giới: 1999). Trong những bản dịch Anh ngữ (hiện có khoảng 9 bản), tác phẩm mang hai tựa, <i>Narrow Road to the Far North</i>, hoặc <i>Narrow Road to the Interior</i>. <i>Oku</i> (奥) trong tựa của Basho vì vậy được hiểu theo hai nghĩa chính: (1) chuyến hành hương lên miền Bắc nước Nhật, hoặc (2) hành trình vào những vùng đất trong nội địa nuớc Nhật. </p>
<p>Về địa lý, Oku bao gồm những vùng nằm phía bắc đảo Honshū – Mutsu (Fukushima, Miyagi, Iwate và Aomori), cùng Dewa (Yamagata và Akita). Theo giáo sư <a href="http://apdl.kcc.hawaii.edu/roads/basho_oku_no_hosomichi.html" target="_blank">Dennis Kawaharada</a>, <i>Oku</i> cũng mang nghĩa “sâu,” “xa,” “bên trong”, “tâm.” <i>Oku-san </i>(người vợ, người nội trợ) là “người ngự trị trong tâm điểm căn nhà,” với trách nhiệm bảo toàn sức khỏe vật chất và tinh thần của gia đình. <em>Oku</em> cũng được dùng như tiền tố bên cạnh các địa danh Nhật bản như cách định nghĩa vị trí. <i>Oku-Noto </i>là “<i>viễn</i> Noto” hay “Noto <i>xa tít.</i>” <i>Oku-Iya</i>, trái lại, là “nằm sâu trong [thung lũng] Iya.”</p>
<p>Khái niệm <i>rộng, hẹp, xa, gần</i> hàm chứa trong từ <i>Oku</i> cũng có thể áp dụng cho hành trình dịch thuật. Tuy người dịch không đọc được tiếng Nhật, sau khi tham khảo những bản dịch của <i>Oku No Hosomichi</i> trong tiếng Anh và tiếng Việt, đoán rằng văn phong của Basho có nhiều khoảng cưu mang<i> ở giữa</i> (<a href="http://en.wiktionary.org/wiki/%E9%96%93">間</a>)(<i>ma</i>). Trong những đoạn văn xuôi <i>haibun</i> (<a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Haibun" target="_blank">俳文</a>) đi kèm với thơ hài cú, Basho, như những nhà thơ đi trước ông, thường lấy ý từ những điển tích Trung Hoa, hoặc từ những bài thơ nổi tiếng của các nhà thơ Trung Hoa như Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Bạch …. Các độc giả sinh trưởng ở Việt Nam và thấm nhuần văn chương Đông Phương có lẽ sẽ cảm thấy gần gũi, quen thuộc khi đọc thơ Basho. Ngược lại, các độc giả Tây Phương, hoặc như người dịch, vì lớn lên ở ngoài nước—sẽ ngạc nhiên và thích thú khi tìm thấy trong Basho nét sáng tạo rất <em>mới, </em>rất<em> fresh.</em></p>
<p>Hãy đọc câu mở đầu của tác phẩm, “<i>Những tháng ngày chở lữ hành vào vĩnh cửu. Những năm trôi đèo bòng kẻ lang thang…. Mọi ngày là mỗi hành trình và mỗi hành trình là nhà. Đã có bao người chết trên cuộc hành trình chưa tới đích. Những cụm mây theo gió luôn nảy sinh trong ta một đam mê rong ruổi. ….”</i> Đây là câu mở đầu mà người dịch đã nghĩ là rất <i>thơ</i>, rất <i>lạ, </i>rất <i>mới. </i>Nhưng sau khi tra cứu, mới biết rằng Basho đề cập đến bài <i>Xuân dạ yến đào lý viên tự (</i><i>春夜宴桃李園序)</i><b><i> </i></b><i>(</i><i>Đêm xuân uống rượu trong vườn đào mận)</i> của Lý Bạch:</p>
<blockquote><p>夫天地者, 萬物之逆旅      <br />光陰者, 百代之過客       <br />而浮生若夢       <br />爲歡幾何？</p>
<p><em>Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ        <br />Quang âm giả, bách đại chi quá khách         <br />Nhi phù sinh nhược mộng         <br />Vi hoan ki hà? </em></p>
<p><em>Trời đất là quán trọ của vạn vật;        <br />Quang âm là khách qua đường của trăm đời,         <br />Mà kiếp phù sinh như mộng         <br />Lúc vui được bao?</em></p>
<p>(<b>Nguyễn Hiến Lê</b>, <i>Cổ văn Trung Quốc </i>(nxb Xuân Thu, Houston, USA (in lại từ bản phát hành năm 1966 miền Nam VN)</p>
</blockquote>
<p>Trong trường hợp Basho, nhà thơ là một thiền sư và thi sĩ thực hành triết lý <i>fueki ryuko</i> (不易流行) trong đời sống cũng như trong thơ hài cú, bằng cách kết hợp khái niệm <i>bất biến</i> với <em>thời thượng/thời thế. </em>Thiết nghĩ,<i> </i>một dịch giả cũng nên ghi nhớ khái niệm <em>bất biến/thời thượng</em> khi đọc và dịch thơ của Basho, tuy điều thử thách vẫn là những cách trở ngôn ngữ, văn hóa, tạo ra nhiều cạm bẫy dọc đường, vô số ảo ảnh. Con đường hẹp hứa hẹn nhiều cảnh đẹp ở phía trước, nhưng cũng là một con đường gian nan, nơi hồ ly và tuớng cướp trà trộn với giáo sĩ im tiếng và kẻ hành hương nhẹ dạ. Dù sao, “<i>tâm</i> vẫn là tất cả”—như lời Hamlet trăn trối lúc thảm kịch hạ màn, “<i>The readiness is all</i>.”</p>
<p>Cái bất biến của <em>Oku No Hosomichi</em> là những mùa đời, là Thiên Nhiên, cùng tinh túy trong những lời thơ, ý tưởng của Basho. Yếu tố thời thế là sự ngắn ngủi bất trắc của kiếp người, là những thiên tai: hỏa hoạn, động đất, lụt lội. Nhiều nơi trên hành trình về phương Bắc của Basho đã bị tan tác, phá hủy bởi trận động đất và sóng thần vào tháng Ba năm 2011. Hiểu theo Thiền, sự chết, những chuyển hoán dâu biển, âu cũng là một khái niệm bất diệt trong đời người cũng như trong nghệ thuật.</p>
<p>Chuyến hành trình của Basho kéo dài 5 tháng, vào năm nhà thơ 45 tuổi: bắt đầu từ Edo (ngày nay là Tokyo), vào tháng 3 âm lịch năm thứ hai triều Nguyên Lộc (Genroku 元禄) (1689) và kết thúc vào tháng 8 âm lịch tại Ogaki, thuộc tỉnh Kì Phụ (Gifu). Tuy vậy, Basho mất gần 5 năm tu sửa tác phẩm, và chỉ hoàn tất <em>Oku No Hosomichi</em> mấy tháng trước khi từ trần, vào năm 1694. Lúc đó nhà thơ 50 tuổi, đang trên đường xuống miền Nam Nhật bản, trong một cuộc hành trình khác.</p>
<p><b><i>Chú thích về thể thơ hài cú</i></b>: Thể thơ hài cú của Basho trong nguyên bản đi cùng với văn xuôi, hoặc liên kết với những câu hài cú khác. Hài cú của Basho, như cách kết thúc một đoạn văn, thường được viết như một câu văn trong một, hai dòng, thường có 17 âm tiết, nhưng đôi lúc cũng có thể có 18, 19 âm tiết. Khi dịch sang tiếng Việt, người dịch theo thể thức thông dụng hiện nay, là giữ 3 dòng: 5 chữ (câu đầu), 7 chữ (câu giữa), 5 chữ (câu cuối). Trong đoạn hài cú về mũ chiến binh của dũng sĩ Sanemori, người dịch đã đổi qua thể lục bát (trại vần) trong tiếng Việt, vì thấy thể lục bát có thể cũng hợp với tinh thần <em>haikai</em>.</p>
<p><b><i>Thực vật trong thơ Basho</i></b>: thực vật trong thế giới thiên nhiên của Basho có lẽ là những “bất biến,” đòi hỏi người dịch phải tra cứu cặn kẽ. Trong đoạn mở đầu, Basho nói rằng ông phải dùng <i>moxa</i> thoa lên chân như cách sửa soạn lên đường. <em>Moxa</em> là ngải nhung, còn được gọi là ngải diệp hoặc ngải cứu (<i><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BA%A3i_c%E1%BB%A9u" target="_blank">Artemisia vulgaris</a></i>), thường dùng để chữa các bệnh liên hệ đến máu, thần kinh, và xương khớp.</p>
<p>Trong đoạn hài cú nói về hai cô gái làng chơi gặp ở Ichiburi, Basho đề cập đến cây hồ chì, còn được gọi là cây đậu mắt gà (<a href="http://en.wikipedia.org/wiki/Lespedeza" target="_blank"><em>Lespedeza</em></a>), mà nhiều bản dịch tiếng Anh gọi là “bush clover.” Một bản dịch Việt ngữ của <i><a href="http://vietbao.vn/Van-hoa/Thi-si-Basho-va-con-duong-hep-thien-ly-phan-cuoi/20521207/184/" target="_blank">Oku no Hosomichi</a></i> đăng trên tờ Việt Báo trong nước, đã dịch là “cỏ ba lá.” “Cỏ ba lá,” từ “clover” có lẽ không đúng, vì clover (<em>Trifolium</em>) khác giống với loại “bush clover” (<em>Lespedeza</em>) của Nhật bản.</p>
<p>Các đoạn dịch cũng được đối chiếu ngay ở dưới với <a href="http://etext.virginia.edu/japanese/basho/MatOkun.html" target="_blank">nguyên bản</a> tiếng Nhật, hầu mong các độc giả biết đọc tiếng Nhật giúp người dịch sửa chữa những sai lầm, nếu có.&#160; Trong quá trình dịch sang Việt ngữ, tôi đã ảnh hưởng nhiều nhất từ bản <em>The Narrow Road to the Deep North and Other Travel Sketches </em>của Nobuyuki Yuasa (Penguin: 1966), và bản <em>Basho’s Narrow Road: Spring and Autumn Passages</em> của Hiroaki Sato (Stone Bridge Press: 1996).</p>
<p>Các chú thích của người dịch được đánh dấu * hoặc ** trong ngoặc []</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><font size="4"><i>Trích Đoạn <strong>Oku No Hosomichi</strong></i> <i>(</i><i><strong>おくのほそ道</strong>)</i></font></p>
<p align="center"><strong><em><font size="4"></font></em></strong></p>
<p align="center"><font size="3">Matsuo Basho (松 尾 笆 焦)</font></p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Basho-and-companion.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Basho and companion" border="0" alt="Basho and companion" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Basho-and-companion_thumb.jpg" width="549" height="283" /></a></p>
<p align="center"><em>Basho (Ba Tiêu) và bạn đồng hành Sora trên đường lên Oku</em></p>
<p><b></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><font size="4"><strong></strong></font></p>
<p><font size="4"><strong>Khai Bút</strong></font></p>
<p>Những tháng ngày chở lữ hành vào vĩnh cửu. Những năm trôi đèo bòng kẻ lang thang. Những ai lờ lững trên thuyền bè, hay lam lũ bên ngựa đến khi cạn kiệt với tháng năm, mọi ngày là mỗi hành trình và mỗi hành trình là nhà. Đã có bao người chết trên cuộc hành trình chưa tới đích. Những cụm mây theo gió luôn nảy sinh trong ta một đam mê rong ruổi.</p>
<p>Cuối thu năm ngoái ta quay về căn lều vẹo nát bên sông Shumida sau cuộc hành trình dọc biển. Đến lúc quét sạch những màng nhện thì một năm đã trôi vèo.</p>
<p>Khi mùa xuân đến với vòm trời sụt sùi, ta lại muốn lên đường qua ải Shirakawa. Những thần lãng tử như ám ảnh hồn ta, những quang cảnh phù du quyến rũ ta từ mọi phía, nên ta không còn muốn duỗi cẳng nằm nhà.</p>
<p>Ngay cả những lúc ta sửa soạn, vá víu mấy cái quần rách, thay quai nón, và xoa ngải nhung vào đầu gối chân để dưỡng khớp, ta mơ trăng sáng vịnh Matsushima. Cuối cùng ta bán căn nhà, dọn tạm tới phòng trọ ở gia thất Sampu. Trên cột nhà cũ, ta lưu lại bài liên ca tám đoạn,</p>
<p>với đoạn đầu:</p>
<p><i>Sau cánh cửa nay khuất      <br />vùi trong cỏ, một thế hệ khác       <br />đón lễ hội búp bê       </p>
<p></i></p>
<blockquote><p><a name="出発まで"><font style="font-weight: bold">出発まで</font></a></p>
<p>月日は百代の過客にして行かふ年も又旅人也。舟の上に生涯をうかべ、馬の口とらえて老をむかふる物は日々旅にして旅を栖とす。古人も多く旅に死せるあり。予もいづれの年よりか片雲の風にさそはれて、漂白の思ひやまず、海濱にさすらへ、去年の秋江上の破屋に蜘の古巣をはらひてやゝ年も暮、春立る霞の空に白川の関こえんと、そゞろ神の物につきて心をくるはせ、道祖神のまねきにあひて、取もの手につかず。もゝ引の破をつゞり、笠の緒付かえて、三里に灸すゆるより、松嶋の月先心にかゝりて、住る方は人に譲り、杉風が別墅に移るに、</p>
<p>草の戸も住替る代ぞひなの家</p>
<p>面八句を庵の柱に懸置。</p>
</blockquote>
<p><b></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4">Tử Thạch ở Sesshoseki        <br /></font></b></p>
<p><strong><font size="4"></font></strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/SekienSessho-seki1.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px 10px 7px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="SekienSessho-seki" border="0" alt="SekienSessho-seki" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/SekienSessho-seki_thumb1.jpg" width="305" height="437" /></a></p>
<p>Rời người bạn ở Kurobane, ta hướng nẻo Tử Thạch, tên gọi mỏm đá giết bất kể chim chóc và côn trùng nào dám mon men cận kề. Đang thong dong trên lưng ngựa (mà người bạn đã cho ta mượn), thì người tá điền dẫn ngựa xin ta một bài thơ. Lời yêu cầu của y chợt làm ta vui lai láng.</p>
<p><i>Quay đầu ngựa ngang ruộng      <br />Ta lắng nghe tiếng chim cúc cu       <br />chim hót vời vợi xa</i></p>
<p>Tử Thạch nằm trong hóc tối của một trái núi gần giòng suối nóng, bao trùm bởi khí độc bốc lên từ đá. Hàng vạn xác ong, bướm, và các côn trùng khác phủ kín mặt đất, đến nỗi không nhìn ra màu cát phía dưới.</p>
<p>Ta đi tìm cây liễu mà Saigyo đã ca tụng trong bài thơ của người, qua câu thơ, “bóng liễu tỏa rộng khắp giòng nước pha lê.” Ta thấy liễu đứng gần làng Ashino bên bờ đê giáp ruộng. Ta đã từng mơ về địa danh của liễu từ khi lãnh chúa của vùng giục mời ta đến xem liễu. Hôm nay là lần đầu tiên trong đời ta được nghỉ chân dưới bóng mát của liễu.</p>
<p><i>Vuông ruộng vừa cấy xong      <br />ta rời khuôn tịnh tâm êm mát       <br />dấn thân qua bóng liễu       <br /></i></p>
<p><em></em></p>
<p><em></em><b></b></p>
<blockquote><p><b>殺生岩・蘆野</b><b></b></p>
<p>是より殺生石に行。館代より馬にて送らる。此口付のおのこ、短冊得させよと乞。やさしき事を望侍るものかなと、</p>
<p>野を横に馬牽むけよほとゝぎす</p>
<p>殺生石は温泉の出る山陰にあり。石の毒気いまだほろびず。蜂蝶のたぐひ真砂の色の見えぬほどかさなり死す。</p>
<p>又、清水ながるゝの柳は蘆野の里にありて田の畔に残る。此所の郡守戸部某の此柳みせばやなど、折々にの給ひ聞え給ふを、いづくのほどにやと思ひしを、今日此柳のかげにこそ立より侍つれ。</p>
<p>田一枚植て立去る柳かな</p>
</blockquote>
<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4">Vịnh Matsushima        <br /></font></b></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/View-of-Matshusima-Mutsu-province-hiroshige.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="View of Matshusima, Mutsu province hiroshige" border="0" alt="View of Matshusima, Mutsu province hiroshige" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/View-of-Matshusima-Mutsu-province-hiroshige_thumb.jpg" width="329" height="497" /></a></p>
<p align="center"><em>Vịnh Matshushima, nhìn từ mỏm Tomi (tranh Hiroshige)</em></p>
<p align="left">Vẻ đẹp của Matsushima đã được ca ngợi bao lần. Nếu thêm lời tôn vinh chẳng là thừa, thì ta có thể nói rằng nơi đây là địa danh đẹp nhất của nước Nhật, và vẻ đẹp của Matsushima không thua kém Hồ Động Đình hoặc Tây Hồ của Trung Quốc. Những hòn đảo nằm trong con vịnh rộng dài cỡ ba dặm, thông ra biển từ nhánh hẹp hướng Đông Nam. Như nước sông Tiền Đường của Trung Quốc dâng cao theo thủy triều, con vịnh ngập trào nước biển, với vô số những hòn đảo nằm rải rác từ đầu vịnh tới cuối vịnh. Vài hòn cao nghều nghệu chọc thẳng lên trời, vài hòn thấp lè tè chúi sấp trên những con sóng, lại có vài hòn túm tụm thành từng đụn, hoặc nối liền hai bên thành dải. Có hòn như cõng các hòn khác trên lưng, có hòn như ôm những hòn bé hơn trước ngực, chẳng khác gì cảnh ông bà, cha mẹ âu yếm con cháu mình. Những hàng thông hòa nhuốm trong muôn sắc xanh ngọc, với cành cong oằn dưới làn gió mặn như thể tự tạo cho chúng hình thể uốn éo đặc thù.</p>
<p align="left">Vẻ đẹp của cảnh tượng chỉ có thể so sánh với chân dung tuyệt trần của một tố nữ,* vì còn ai ngoài Tạo Hóa mới có thể chế tạo một vẻ đẹp như vầy? Bút ta bất lực trước tạo tác siêu phàm này.</p>
<p>Hòn Ojima nơi ta đặt chân thật ra là một dải đất chạy dài ra biển. Đây là nơi thiền sư Ungo chọn cuộc đời ẩn dật, và mỏm đá nơi ông tịnh thiền vẫn còn đó. Ta thấy vài túp lều tranh lác đác sau những rặng thông và làn khói xanh xanh bốc lên từ chúng. Ta tò mò muốn biết ai sống trong những căn nhà hoang dã này, phân vân định dừng chân trước một căn nhà. Bỗng chợt, mặt trăng chóe sáng khắp mặt biển, cho ta thấy một hình ảnh khác hẳn với ban ngày. Ta quay về bến và thuê một phòng trọ, với tầng trên có cửa sổ nhìn ra biển. Nằm trên giường nghe tiếng gió gầm và nhìn những cụm mây chu du, ta thấy mình như chơi vơi trong một không gian khác hẳn với thế giới thường ngày. Bác Sora phóng bút:</p>
<p><i>Ới chim cu lanh lảnh      <br />mày cũng cần đôi cánh hạc xoải       <br />dài Matsushima </i></p>
<p>Ta cố chợp mắt, đè nén cảm xúc muốn dâng trào, nhưng nao nao không thể. Cuối cùng, ta lôi quyển sổ tay từ cái bị mang theo và đọc những bài thơ những người bạn đã đề tặng trước khi ta lên đường – một bài thơ tiếng Hán của Sodo, một bản hòa ca của Hara Anteki, hài cú của Sampu và Dakushi, mọi bài đều miêu tả những hòn đảo trong vịnh Matshushima ….</p>
<p>[*Ở đây Basho ám chỉ bài thơ của Tô Đông Pha so sánh nét đẹp trầm ngư của Tây Thi với Tây Hồ:</p>
<p><em>Thủy quang liễm diễm tình phương hảo      <br />Sơn sắc không mông vũ diệc kỳ       <br />Dục bá Tây Hồ tỉ Tây Tử       <br />Đạm tran nồng mật tổn tương nghi       </p>
<p>Nước dập dờn bừng khi nắng dọi       <br />Nước nhạt nhòa xanh buổi mưa về       <br />Tây Hồ ví tựa Tây Thi       <br />Điểm trang đậm nhạt vẻ gì cũng xinh</em></p>
<p>(bản dịch tiếng Việt của <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_Thi" target="_blank">Ông Văn Tùng</a>)]</p>
<p><b></b></p>
<blockquote><p><b>松島</b><b></b></p>
<p>抑ことふりにたれど、松嶋は扶桑第一の好風にして、凡洞庭西湖を恥ず。東南より海を入て、江の中三里、浙江の 湖をたゝふ。嶋／＼の数を尽して、欹ものは天を指、ふすものは波に 葡蔔。あるは二重にかさなり三重に畳みて、左にわかれ右につらなる。負るあり抱るあり、児孫愛すがごとし。松の緑こまやかに、枝葉汐風に吹たはめて、屈曲をのづからためたるがごとし。其景色えう然として美人の顔を粧ふ。ちはや振神のむかし、大山ずみのなせるわざにや。造化の天工、いづれの人か筆をふるひ詞を尽さむ。</p>
<p>雄嶋が磯は地つゞきて海に出たる嶋也。雲居禅師の別室の跡、坐禅石など有。将松の木陰に世をいとふ人も稀／＼見え侍りて、落穂松笠など打けぶりたる草の庵閑に住なし、いかなる人とはしられずながら、先なつかしく立寄ほどに、月海にうつりて昼のながめ又あらたむ。江上に帰りて宿を求れば、窓をひらき二階を作て、風雲の中に旅寝するこそ、あやしきまで妙なる心地はせらるれ。</p>
<p>松嶋や鶴に身をかれほとゝぎす 曾良</p>
<p>予は口をとぢて眠らんとしていねられず。旧庵をわかるゝ時、素堂松嶋の詩あり。原安適松がうらしまの和哥を贈らる。袋を解てこよひの友とす。且杉風濁子が発句あり。</p>
<p>十一日、瑞岩寺に詣。当寺三十二世の昔、真壁の平四郎出家して、入唐帰朝の後開山す。其後に雲居禅師の徳化に依て、七堂甍改りて、金壁荘厳光を輝、仏土成就の大伽藍とはなれりける。彼見仏聖の寺はいづくにやとしたはる。</p>
</blockquote>
<p><b></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4">Ichiburi </font></b></p>
<p><strong><font size="4"></font></strong></p>
<p><strong><font size="4"></font></strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/women-met-in-ichiburi.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="women met in ichiburi" border="0" alt="women met in ichiburi" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/women-met-in-ichiburi_thumb.jpg" width="504" height="273" /></a></p>
<p align="center"><em>Hai kỹ nữ du hành</em></p>
<p>Kiệt sức do phải lần qua những nẻo đá chênh vênh mé biển với những tên rợn người như <em>Chốn Lìa Mẹ Cha</em>, <em>Chỗ Bỏ Con</em>, <em>Chặng Chó Lùi</em>, <em>Khúc Ngựa Quay Đầu</em>, ta mong đi ngủ sơm sớm sau lần qua cửa ải Ichiburi. Nhưng tiếng rù rì của phụ nữ từ phòng bên cứ lởn vởn bên tai. Hai cô gái làng chơi đang thì thầm trò chuyện với một lão khách. Nghe lõm bõm ta biết được hai ả này quê thành Niigata thuộc tỉnh Echigo, và lão khách, người hộ tống hai ả trên đường hành hương tới Đền Ise, sẽ quay trở về với những thông tin mà hai ả muốn chuyển đến bạn bè và gia đình. Ta thấy thương hai ả, vì như hai ả tâm sự qua những lời thầm thì, cuộc đời hai ả nổi trôi bạc thếch như bọt biển vỡ bờ, đêm đêm làm vợ hờ của đám lữ khách, đổi chác tình ái để rồi giam hãm mình trong vòng nhân quả. Ta lắng nghe những lời thầm thì của hai ả cho tới lúc nỗi mệt dìu ta vào giấc ngủ.</p>
<p>Sáng hôm sau, vừa dợm bước lên đường, ta gặp hai ả, rơm rớm hai cặp mắt ngấn lệ nài nỉ, “Chúng cháu là những lữ hành bơ vơ, không có ai bầu bạn. Nếu ngài thương tình xin cho chúng cháu theo chân ngài. Nếu ngài là một thiền sư như chúng cháu thấy qua áo chùng đen của ngài, xin thương xót chúng cháu và dẫn dắt chúng cháu vào đường Từ Bi của Nhà Phật.” Ta đáp lời, sau một phút tư lự, “Kẻ này rất cảm kích chân tình của hai cô, nhưng chúng tôi sẽ phải dừng lại nhiều chỗ trên đường nên rất tiếc là không thể giúp hai cô. Hãy cứ đi như những kẻ lữ hành đã đi. Nếu hai cô tin tưởng lòng quảng đại của Đức Phật, hai cô sẽ luôn luôn được Ngài bảo trì.”</p>
<p>Chào hai nàng tạm biệt, lòng ta chùng đầy nỗi xót thương.</p>
<p><i>Dưới mái túp lều tranh&#160; <br />ta, người, các vợ hờ say ngủ       <br />bụi đậu mắt gà, trăng       <br /></i></p>
<p><em></em></p>
<p><b></b></p>
<blockquote><p><b>市振</b><b></b></p>
<p>今日は親しらず子しらず犬もどり駒返しなど云北国一の難所を越てつかれ侍れば、枕引よせて寝たるに、一間隔て面の方に若き女の声二人計ときこゆ。年老たるおのこの声も交て物語するをきけば、越後の国新潟と云所の遊女成し。伊勢参宮するとて、此関までおのこの送りて、あすは古郷にかへす文したゝめてはかなき言伝などしやる也。白浪のよする汀に身をはふらかし、あまのこの世をあさましう下りて、定めなき契、日々の業因いかにつたなしと、物云をきく／＼寝入て、あした旅立に、我々にむかひて、行衛しらぬ旅路のうさ、あまり覚束なう悲しく侍れば、見えがくれにも御跡をしたひ侍ん。衣の上の御情に大慈のめぐみをたれて結縁せさせ給へと泪を落す。不便の事には侍れども、我／＼は所〃にてとゞまる方おほし。只人の行にまかせて行べし。神明の加護かならず恙なかるべしと云捨て出つゝ、哀さしばらくやまざりけらし。</p>
<p>一家に遊女もねたり萩と月</p>
<p>曾良にかたれば、書とゞめ侍る。</p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><b><font size="4">Komatsu </font></b></p>
<p><strong></strong></p>
<p align="center"><b><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/kabuto.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="kabuto" border="0" alt="kabuto" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/kabuto_thumb.jpg" width="404" height="284" /></a></b></p>
<p align="center"><em>Mũ chiến binh của Sanemori, Đền Tada (Komatsu)</em></p>
<p>Ta viếng thăm Đền Tada trong vùng, nơi ta chiêm ngưỡng mũ chiến binh của Chúa Sanemori và giải gấm đỏ mà người đã mặc lót dưới áo giáp. Theo truyền thuyết, mũ chiến binh và giải gấm đỏ là tặng vật Chúa Yoshimoto trao thưởng Sanemori khi người còn phục vụ trong gia tộc Minamoto. </p>
<p>Mũ chiến binh quả là một di vật tuyệt diệu, với những đóa cúc chạm vàng uốn quanh vòm che mắt và chỗ bịt tai, đỉnh mũ tạc rồng oai vệ, với hai sừng cong chỉ thiên. Sách sử của Đền thuật lại chuyện Ngài Yoshinaka sai người phó là Jiro thành Higuchi đến Đền Tada để hiến tặng mũ chiến binh của dũng sĩ tử trận cùng bản kinh cầu.</p>
<p><i>Sững sờ,* tiếng dế **hát vang&#160; <br />trong vòm đen thẳm mũ xưa ai màng</i></p>
<p>[*Chữ “Muzanya” (無残) có nghĩa là sự xúc động, lòng thương cảm, ở đây được hiểu là nỗi sững sờ, ân hận. Trong vở kịch Noh có tựa “Sanemori,” nhân vật Jiro Higuchi, kẻ chém đầu Sanemori, thảng thốt kêu &quot;muzanya&quot; khi nhận ra rằng Sanemori dưới mũ chiến binh chính là người bạn nối khố lúc thiếu thời.</p>
<p>**Có những bản dịch Anh ngữ viết là “châu chấu.”]</p>
<blockquote><p><strong>大田神社</strong></p>
<p>小松と云所にて</p>
<p>しほらしき名や小松吹萩すゝき</p>
<p>此所太田の神社に詣。真盛が甲錦の切あり。往昔源氏に属せし時、義朝公より給はらせ給とかや。げにも平士のものにあらず。目庇より吹返しまで、菊から草のほりもの金をちりばめ龍頭に鍬形打たり。真盛討死の後、木曾義仲願状にそへて此社にこめられ侍よし、樋口の次郎が使せし事共、まのあたり縁記にみえたり。</p>
<p>むざんやな甲の下のきり％＼す</p>
</blockquote>
<p><b></b></p>
<p><b><font size="4"></font></b></p>
<p><font size="3"><strong></strong></font></p>
<p><font size="3"><strong></strong></font></p>
<p><font size="3"><strong>Lời Bạt </strong>(<font size="2"><em>Soryu, bạn Thiền của Basho, viết Lời Bạt vào năm 1694, cũng là năm Basho từ trần ở Osaka, trong chuyến du hành xuống các tỉnh miền Nam Nhật Bản</em></font>)</font></p>
<p><strong><font size="4"></font></strong></p>
<p>Trong quyển nhật ký du hành nho nhỏ này là muôn vật trên thế gian – những điều cổ lỗ khô khan đối chiếu với các ý niệm tươi trẻ, đầy màu sắc, những tư tưởng vĩnh hằng đi cùng với cảm xúc cho thân kiếp phù du. Ở từng khúc quanh trên nẻo đường thiên lý, chúng ta có lúc đứng hiên ngang như thờ ơ trước mọi khích lệ, có lúc quỵ ngã trong nỗi đau thấu tim. Có lúc chúng ta chỉ muốn đi, cứ đi, mặc vội lên người cái áo mưa ai để hờ hững cạnh bên, có lúc chúng ta chỉ thích ngồi đến khi chân thời bắt rễ, nghiền ngẫm thắng cảnh được tạo ra trước mắt. Vẻ đẹp đa nguyên của thế gian nằm gọn trong quyển sách này, sự từng trải của tác phẩm giống như những hạt trai kết cấu từ nước mắt các mỹ ngư biển cả. Quả là một chuyến đi để đời. Quả là một nhân tài người lữ hành cầm bút. Tiếc thay, tác giả quyển nhật ký, một con người thông thái, qua bao năm đã suy bại vì tuổi già, với đôi mày nhuộm trắng màu sương.</p>
<p>Đầu Hạ, năm thứ Bảy triều Nguyên Lộc&#160; – Soryu.    </p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Basho-epilogue.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Basho epilogue" border="0" alt="Basho epilogue" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Basho-epilogue_thumb.jpg" width="375" height="303" /></a></p>
<p align="center"><em>Lời Bạt của Soryu     <br /></em></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Ba-Tiu-Am-hiroshige.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Ba Tiêu Am hiroshige" border="0" alt="Ba Tiêu Am hiroshige" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Ba-Tiu-Am-hiroshige_thumb.jpg" width="329" height="485" /></a></p>
<p align="center"><em>Nhà Ba Tiêu trên Đồi Trà Hoa (tranh Hiroshige)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22965/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Giới thiệu ebook Thơ Đến Từ Đ&#226;u</title>
		<link>http://damau.org/archives/22697</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22697#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 26 Dec 2011 16:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>BĐH Kệ Sách</dc:creator>
				<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22697</guid>
		<description><![CDATA[Trong vòng hai năm trời, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng phỏng vấn 24 đồng nghiệp của mình về nguyên ủy của Thơ. Công trình của anh được phổ biến trước hết trên diễn đàn talawas.org từ năm 2006 cho đến đầu năm 2008.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="http://www.smashwords.com/books/view/55850" target="_blank"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="tho-den-tu-dau-thumb" border="0" alt="tho-den-tu-dau-thumb" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/tho-den-tu-dau-thumb1.jpg" width="169" height="244" /></a>Thơ Đến Từ Đâu       <br /></strong><em>tập phỏng vấn 24 nhà thơ      <br /></em><strong>Nguyễn Đức Tùng</strong></p>
<p>ấn bản <em>ebook đặc biệt – 12.2011      <br />eISBN: 978-1-4524-5958-5 </em></p>
<p><em>Nguyễn Đức Tùng </em>giữ bản quyền     <br />Trung tâm Ấn hành eBook <em>Kệ Sách</em> xuất bản &#8211; 2011     <br /><em>smashwords </em>phát hành</p>
<p>Trong vòng hai năm trời, nhà thơ Nguyễn Đức Tùng phỏng vấn 24 đồng nghiệp của mình về nguyên ủy của Thơ. Công trình của anh được phổ biến trước hết trên diễn đàn talawas.org từ năm 2006 cho đến đầu năm 2008. Tập phỏng vấn sau đó được nhà xuất bản Lao Động ấn hành trong dạng sách in trong đó nội dung phần trả lời của các thi nhân Hải ngoại và ngoài luồng bị cắt xén hoặc loại bỏ hẳn (như trường hợp của Lý Đợi). Điều này đưa đến những phản ứng bất lợi từ giới làm và thưởng ngoạn văn học, phần lớn đến từ việc cuốn sách không phản ánh chính xác những điều mà các tác giả góp mặt muốn bày tỏ cùng độc giả. </p>
<p>Ấn bản đặc biệt trong dạng ebook do Kệ Sách eBook thực hiện cho bạn đọc cơ hội tiếp cận một cách trung thực tư duy và cảm xúc của các nhà thơ góp mặt trong tập phỏng vấn này bằng cách loại bỏ mọi hình thức kiểm duyệt áp đặt lên tác phẩm. Trong ấn bản này, chữ nghĩa đến với bạn đọc trực tiếp từ ngòi bút của các tác giả.</p>
<p><strong>Thơ Đến Từ Đâu phát hành miễn phí cho bạn đọc trong nước và Hải ngoại cho đến hết ngày 31.01.2012      <br /></strong><strong>Xin dùng coupon code “VL23T” để nhận sách miễn phí ở kênh phát hành smashwords.com ở link dưới đây:      <br /></strong><a title="http://www.smashwords.com/books/view/55850" href="http://www.smashwords.com/books/view/55850" target="_blank">http://www.smashwords.com/books/view/55850</a></p>
<p>Bạn đọc có thể đặt mua ebook do Kệ Sách eBook phát hành ở kênh phát hành quốc tế <a href="https://www.smashwords.com/profile/view/phungnguyen/popular#published" target="_blank">Smashwords.com</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22697/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lời C&#225;m Ơn Nh&#226;n Lần Ph&#225;t H&#224;nh Thơ Đến Từ Đ&#226;u Trong Dạng Ebook</title>
		<link>http://damau.org/archives/22701</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22701#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 26 Dec 2011 16:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Đức Tùng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22701</guid>
		<description><![CDATA[<p>Loạt bài Thơ Đến Từ Đâu khởi đăng trên Talawas từ tháng 6 năm 2006, kéo dài hai năm, đã để lại ít nhiều dư âm trong lòng bạn đọc. Hôm nay nhìn lại, tôi ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Loạt bài <i>Thơ Đến Từ Đâu</i> khởi đăng trên Talawas từ tháng 6 năm 2006, kéo dài hai năm, đã để lại ít nhiều dư âm trong lòng bạn đọc. Hôm nay nhìn lại, tôi vẫn tin rằng những cuộc trò chuyện ấy của các nhà thơ là những thảo luận văn chương thú vị, những tài liệu cần thiết về một thời kỳ hoạt động văn học. </p>
<p>Hiện nay, sách e-book là khuynh hướng ngày càng phổ biến, một phần vì tác phẩm “đến tay” người đọc khắp nơi dễ dàng hơn, do đó ý tưởng xuất bản được đưa ra bởi một số anh chị em từ đầu năm nay đã mau chóng nhận được ủng hộ. Những nhà thơ tham gia phỏng vấn, trừ những vị khuất bóng, đều có dịp đọc qua bản thảo cuối cùng, vốn xuất phát từ Talawas, với một vài sửa đổi trong một số trường hợp. </p>
<p>Nhân dịp này tôi xin được gởi lời cám ơn đến: </p>
<ul>
<li>Các nhà thơ có mặt trong tác phẩm. </li>
<li>Nhà văn Phùng Nguyễn, nhóm chủ trương và biên tập <i>Kệ Sách eBook, </i>một dự án phi lợi nhuận, đã làm việc hết sức mình để cuốn sách ra đời sớm. </li>
<li>Nhà văn Phạm Phương từ Hà Nội, một người nhờ đọc cuốn sách in Thơ Đến Từ Đâu, yêu mến nó, mà khởi xướng rất sớm ý tưởng thực hiện Thơ Đến Từ Đâu trong dạng e-book với tôi và nhà văn Phùng Nguyễn. </li>
<li>Nhà văn Phạm Thị Hoài và ban biên tập Talawas đã làm việc cẩn trọng cho các văn bản điện tử. </li>
<li>Những nhà văn nhà thơ bạn bè của tôi, đã hết lòng ủng hộ ý tưởng xuất bản TĐTĐ từ những ngày đầu. </li>
</ul>
<p>Hôm nay, đọc lại cuốn sách, và trở vào các trang mạng để kiểm tra một số chi tiết, thấy lại những dòng chữ cũ, những cuộc trò chuyện đầu tiên với các nhà thơ Nguyễn Viện, Inrasara, bài của hai nhà thơ quá cố Hoàng Cầm và Lê Đạt, hai bài bổ sung của Lý Đợi và Đinh Thị Như Thúy mà sách in không có, các bài tham luận liên quan, bài khép lại bằng cuộc gặp gỡ ở Sài Gòn <i>Mừng Vui Còn Có Hôm Nay</i>, và biết bao hình ảnh khác, lòng tôi dâng đầy cảm xúc như chuyện mới hôm qua. </p>
<p>Vì vậy, xin cám ơn tất cả các anh chị một lần nữa, vì sự nồng nhiệt và sự bao dung, vì tấm lòng của các anh chị đối với văn chương Việt Nam.</p>
<p><i>Vancouver ngày 18 tháng 12, năm 2011</i></p>
<p><i>Nguyễn Đức Tùng</i></p>
<p><strong>Thơ Đến Từ Đâu phát hành miễn phí cho bạn đọc trong nước và Hải ngoại cho đến hết ngày 31.01.2012      <br /></strong><strong>Xin dùng coupon code “VL23T” để nhận sách miễn phí ở kênh phát hành smashwords.com ở link dưới đây:      <br /></strong><a title="http://www.smashwords.com/books/view/55850" href="http://www.smashwords.com/books/view/55850" target="_blank">http://www.smashwords.com/books/view/55850</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22701/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

