<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Giới thiệu tác giả</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-tac-gi%e1%ba%a3/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>H&#227;y thử d&#225;n lại những hạnh ph&#250;c cũ (*)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23200</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23200#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi Vĩnh Phúc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23200</guid>
		<description><![CDATA[Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. A shadow of your smile ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="bird-in-the-foliage-1961" border="0" alt="bird-in-the-foliage-1961" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961_thumb.jpg" width="484" height="368" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Georges Braque,&#160; <em>L&#8217;Oiseau dans le feuillage</em> (</font><font size="2" face="Times New Roman"><em>Chim trong tán lá</em>) (lithographe/collage, 80.5 x 105 cm, 1961)</font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Có rất nhiều định nghĩa về thơ. Tất cả mọi định nghĩa đều phản ánh, một cách nào đó, cách nhìn cuộc đời hay cách tiếp cận cuộc đời của người định nghĩa nó.</p>
<p>Nói như thế có nghĩa thơ là một vật thể—hay một sinh thể—đa dạng và có nhiều chiều kích. Nó có thể lạ mà cũng có thể quen, có thể gây hưng phấn, hạnh phúc mà cũng có thể làm buồn bã, chán chường. Nó có thể ngắn mà cũng có thể dài. Có thể mang vần điệu lằng nhằng hoặc thiết tha, tạo nên những cái ôm ghì cuống quýt hay những cái quấn xiết lả lơi. Tạo nên một cái mặt bằng địa lý phức tạp. Hoặc nó cũng có thể, thẳng tuột một cái, lái ngay đâm thẳng vào giữa trái tim người.</p>
<p>Có nghĩa, thơ có thể tạo nên những hiệu ứng, những phản ứng, những hô ứng, thậm chí những “cuồng ứng” khác nhau.</p>
<p>Hay nói như Nguyễn Bá Trạc:</p>
<p><i>Thơ nghĩa là thơ nghĩa là thơ      <br /></i><i>Nghĩa là một buổi thấy bơ vơ      <br /></i><i>Một tay cái bút tay tờ giấy      <br /></i><i>Ta giết ta đâm hết thì giờ&#8230;</i></p>
<p>Thơ, như thế, cũng có thể là do hoàn cảnh. Hoàn cảnh trong cuộc sống hay hoàn cảnh của tâm hồn. Tâm cảnh. Đúng, nó phản ánh cái địa lý của tâm hồn con người. Thơ có thể uốn quanh, hiền và mềm như một dòng sông lờ lững, mà nó, chính cái dòng sông ấy, cũng có thể có lúc cuộn xiết và tuôn chảy ào ạt qua bao ghềnh đá của địa dư tâm hồn người viết.</p>
<p>Đọc thơ của Đán, tôi nhận thấy trong mình có những hiệu ứng, phản ứng, hô ứng, “cuồng ứng” khác nhau. Trần Nguyên Đán là một một người làm thơ đem được cảm xúc đến cho người đọc. Thơ ấy đi đứng, nói cười, thở dài, ngồi lặng, chạy nhảy, và đôi khi cũng để chảy ra một vài dòng lệ. Có lúc ông làm cho ta có được một cảm nhận mát mẻ và muốn bay lên. Thơ gắn với sự mơ mộng và với thiên nhiên:</p>
<p><i>tôi sẽ vẽ một cơn mưa      <br /></i><i>trên cánh bay của một cơn gió      </p>
<p></i>Có khi nhà thơ nhìn vào cuộc đời. Rồi tự quán chiếu lại minh:</p>
<p><i>có những lúc tôi mệt như gió bay      <br /></i><i>hoài không thể ngơi nghỉ      <br /></i><i>muốn dừng lại một quán trọ nào      <br /></i><i>đó mà không thể dừng      <br /></i><i>chân vẫn phải bước như      <br /></i><i>con lạc đã phải bước      <br /></i><i>mà miệng vẫn phải cười      <br /></i><i>cợt và nói một vài câu dí dỏm      <br /></i><i>để yêu đời      <br /></i><i>dù đời chẳng thể yêu mình      <br /></i><i>có khi mưa rơi trong những ly cà      <br /></i><i>phê bỏ quên ngoài hiên      <br /></i><i>có khi mây bay qua tâm hồn trống trơn như chiếc      <br /></i><i>vỏ đậu khô héo quắt quéo      <br /></i><i>có khi nắng&#8230;</i></p>
<p>Tự quán chiếu, buồn bã, nhưng rồi Đán vẫn mỉm cười bước tới, bắt tay với đời sống.</p>
<p>Tôi sẽ thử rủ rê người đọc, dẫn họ đi dạo trong địa lý ngôn ngữ của nhà thơ. Thử nhìn ngắm và cảm nhận cái hơi lạnh cũng như nỗi buồn và niềm vui trong không gian của một người. Tôi sẽ thử trích dẫn một số câu thơ của Đán (và cố tình không cho biết tên của các bài thơ) để thử nhìn vào trong đó xem mình có thể bắt gặp được những điều gì. Hay có khi, ta lại bắt gặp được khuôn mặt của một người nào đó, rất giống khuôn mặt riêng của mình, đang nhìn ngược lại ta:</p>
<p><i>bỗng nhớ một điều gì đó      <br /></i><i>bỗng thấy một cái gì đó      <br /></i><i>bỗng nghe một tiếng nào đó      <br /></i><i>bỗng ngửi được mùi của hoa dạ lan bên vườn      <br /></i><i>khu vườn nhỏ ngày xa xưa      <br /></i><i>khu vườn có một chiếc ghế gẫy một chân      <br /></i><i>những con bướm đang vỗ cánh nhỏ      <br /></i><i>tiếng hát của bầy ong dưới nắng      <br /></i><i>&#8230;      <br /></i><i>thôi thì đóng mặt phẳng ô vuông cửa lại      <br /></i><i>mở ra một ngăn tủ ký ức      <br /></i><i>nhìn vào đó      <br /></i><i>cả một rừng mưa đang khóc lóc thảm thiết</i></p>
<p>Có phải tâm hồn và trái tim con người luôn luôn bị giằng kéo bởi những giấc mơ cũ. Những giấc mơ cũ càng nhưng vẫn còn vương vất đâu đó mà ta chưa thể nói lời tận tuyệt với chúng. Những tiếng động mơ hồ, những âm thanh vẫy gọi về những chân trời cũ kỹ, những không gian đựng đầy sương mù. Đổ xuống thành một rừng mưa. Hay là một rừng hoa:</p>
<p><i>có một rừng hoa, hoa trắng      <br /></i><i>mây trắng      <br /></i><i>thỉnh thoảng thấy một vài hoa hồng      <br /></i><i>xen lẫn trong hơi thở      <br /></i><i>của bão </i></p>
<p>Nhà thơ vẫn thấy giữa những cơn bão (những cơn bão lửa hay những cơn bão tuyết giữa đời) một rừng hoa. Và mây. Trắng. Trắng thao thiết và thơ mộng. Cùng với một vài “nhất điểm hồng”. Của những nét yêu. Của những niềm tin vào cuộc đời, vào con người. Và vào cuộc sống.</p>
<p>Trần Nguyên Đán cũng là một người thơ thường xuyên tự nhắc nhở mình. Nhắc nhở, bảo ban. Và lau nước mắt. Cho chính cái ta. Đó là một kiểu “hôn lên tay mình”, như cái cách của một người nhạc sĩ đã nói, “Em hôn lên tay mình / Để chua sót tình trần” (TCS).</p>
<p><i>chẳng hạn như khi không còn một ai cả      <br /></i><i>cũng đừng nói gì với mình      <br /></i><i>tập cắt vài bông hoa dại ngoài đường      <br /></i><i>cắm vào một lọ nhỏ      <br /></i><i>chẳng hạn như chẳng hạn như      <br /></i><i>có một lúc nào đó thấy mình bị xé rách      <br /></i><i>hãy dùng keo dán lại      <br /></i><i>tình yêu đã chết rồi vẫn có thể hàn gắn được      <br /></i><i>phải tập quen với những điều không tốt      <br /></i><i>tập cười khi thấy mình sắp chảy nước mắt      <br /></i><i>trong những cái chậu gỗ mục nát      <br /></i><i>vẫn còn một giọt đang rơi </i></p>
<p>Dán. Dán lại mình. Đó là một cách nói khác. Lạ hơn. Mới hơn. Và cũng thẳng và thật hơn. Như người ta vẫn nói, theo một lối ẩn dụ vẫn quen dùng, chỉ có điều là cũ và mòn hơn cách nói của thi sĩ: tự băng bó (những vết thương). Nhưng khi “tự băng bó”, anh còn có những vật dụng cần thiết và (có vẻ) thích hợp để tự cứu chữa mình. Còn khi tâm hồn người ta bị rách, “dùng keo dán lại” là một cung cách tự cứu chữa thật tội nghiệp! Có lẽ vì người ta không có đủ thời giờ để tìm kiếm những vật liệu cần thiết cho một sự băng bó đúng nghĩa, hoặc là vì người ta lóng ngóng, không hiểu rõ về thao tác “tự cứu” bằng cách băng bó cẩn thận. Nhưng, dù có thế nào đi nữa, chính cái khát vọng tự tồn, không chịu bó tay, thua cuộc, đầu hàng trước cuộc đời, trước những nghịch cảnh, mà người ta phải làm một điều gì đó. Để tiếp tục sống. Để tiếp tục nở một nụ cười trước cuộc đời đắng cay và nhiều nước mắt. Người ta tự dán mình lại.</p>
<p>Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. <i>A shadow of your smile. </i>Tên một bài hát cũ, một cung điệu lạc loài còn lênh đênh như một vài sợi sóng nhỏ trong tim. Một nụ cười của em. Một nụ cười của người. Nụ cười như một bóng mây quá vãng.<i> </i>Hãy dán lại mọi điều. Và dán lại cả những bài thơ:</p>
<p><i>có những bài thơ viết riêng cho gió      <br /></i><i>cũng có vài bài viết riêng cho người      <br /></i><i>khi những bông tuyết rơi đầy trên cỏ      <br /></i><i>khi những mùa xuân về ở giữa đời      <br /></i><i>chỉ là cơn gió một lần ngừng lại      <br /></i><i>ghé qua dòng sông đã cụt hai bờ      <br /></i><i>trên sông còn vọng tiếng người hoang dại      <br /></i><i>và những đêm này dán lại đêm xưa</i></p>
<p>Khi còn khả năng dán lại mọi điều như thế, người ta chưa chịu thua. Hay, đúng hơn, không chịu thua. <i>A man can be destroyed, but not defeated</i>. Con người có thể bị tiêu diệt, nhưng nó không thể chịu thua, không thể để cho bị hạ gục. Nó không được phép để bị đánh bại. Hình như bóng ma của Hemingway đang lẩn quất đâu đây.</p>
<p><i>chiến đấu với một cái lòng đỏ trứng      <br /></i><i>chói lọi dưới chân trời      <br /></i><i>hắt những cụm mây vỡ tan      <br /></i><i>rạn nứt buổi chiều</i></p>
<p>Chiến đấu với mặt trời buổi chiều như thế, con người tiếp tục bước đi. Tiếp tục đi tới, cho dù nó có tự thấy mình như một con ngựa bị thương:</p>
<p><i>tôi vốn dĩ đã chậm chạp trong quá khứ      <br /></i><i>đến mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào nước mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào văn chương cũng chậm chạp      <br /></i><i>chậm chạp, ngay cả chữ này      <br /></i><i>cũng gợi lên một hình ảnh chậm chạp      <br /></i><i>như một con ngựa bị thương      <br /></i><i>khập khiễng đi qua núi</i></p>
<p>Một con ngựa bị thương. Thật ra, tất cả chúng ta đều mang thương tích, nhưng không phải ai cũng tự ý thức được điều đó. Thương tích làm cho chúng ta gập, gẫy, nứt rạn, hay vỡ toác. Thương tích có thể làm cho chúng ta gục ngã, nhưng chúng cũng có thể thách thức nghị lực của một con người. Chúng ta là những con chim, những con sóc, những con cá, v.v., đang hồn nhiên tung tẩy trong đời thì bị một mũi tên, một mô đá, hay một cái móc câu, v.v., tập kích, làm cho bị thương tổn. Và chúng ta dần dà mất đi niềm tin vào cuộc đời. Nhưng hình ảnh con ngựa bị thương ở đây thật đáng tội nghiệp. Chân nó khập khiễng. Và nó lại còn phải tiếp tục đi qua núi. Mà núi non thì trùng điệp. Mà cuộc đi thì còn dài. Vết thương có lẽ vẫn còn xước máu và làm cho đau đớn. Nhưng con ngựa vẫn tiếp tục đi tới, cho dù khập khiễng, và cho dù nó biết là con đường qua núi không phải là sẽ dẫn ngay đến đích.</p>
<p><b></b></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Đôi khi, để sống còn, con người cũng phải giấu đi những cái nhìn. Chỉ còn nhìn bằng một con mắt. Nhưng con mắt bị giấu đi ấy không hề nhắm lại. Nó vẫn mở chong chong và ghi nhận mọi hình ảnh cuộc đời. Rồi một ngày nào đó, những cái nhìn ấy sẽ lại mách bảo cho chúng ta về những nếp gấp khác của đời sống. Hay của chính lòng mình. Hãy thử nhìn lại chính ta trong ly cà phê đen:</p>
<p><i>tôi thường hay cố gắng      <br /></i><i>cách tuyệt vọng      <br /></i><i>dấu con mắt còn lại      <br /></i><i>trong ly cà phê đen      <br /></i><i>người ta gọi tôi là      <br /></i><i>chân dung của dĩ vãng      <br /></i><i>trên vách của quán xưa      <br /></i><i>con mắt tôi còn đó</i></p>
<p>Nhìn lại như thế, người ta có thể bắt gặp lại được nhiều điều. Bắt gặp lại những mảnh của đời ta đã bị xé rách, tả tơi. Những “mảnh ta” đứng sững hoặc bay đầy trong không gian đã tưởng là xa lắc, mịt mù. Thật ra, thời gian vẫn còn lưu dấu tất cả mọi điều trong cái hộp đen vĩ đại của nó. Chỉ cần tìm được một cái mã, một cái mã bí mật, bạn sẽ mở lại được chiếc hộp kia. Và rồi bạn sẽ tha hồ “dán”. Dán ngày vào đêm. Dán giọt nước mắt vào một nụ cười. Hay ngược lại. Dán em vào anh. Dán anh vào những lỡ lầm, mất mát. Dán mặt trời buổi chiều vào con mắt ướt. Dán mắt nhìn khát vọng vào một ánh sao đêm. Mỗi người chúng ta tự định nghĩa mình, tự tìm ra hoặc tự gọi tên mình qua những cuộc dán ấy. Chính thao tác làm nên con người. Anh “dán” ra sao, anh “dán” cái gì, thì con người anh sẽ hiển lộ ra đấy.</p>
<p><i>tôi nhớ nó, khu rừng đó      <br /></i><i>khu rừng có những vệt sáng cắt đứt từ những kẽ hở      <br /></i><i>của lá      <br /></i><i>tôi còn nhớ đã loay hoay làm một chuyện ngớ ngẩn trên cỏ      <br /></i><i>và khi nhìn qua vai      <br /></i><i>tôi đã hổ thẹn với một con sóc      </p>
<p></i><i>có nhiều khu rừng tôi đã đi qua      <br /></i><i>tôi cố gắng quên nó, tôi lại nhớ nó      <br /></i><i>khu rừng với những hôn mê bất tận      <br /></i><i>làm rách toang đường bay của bướm trắng      <br /></i><i>khu rừng tôi đã chạy tơi bời dưới lửa đạn      <br /></i><i>mà lửa đạn ngày đó cũng giống một hành động ái ân      </p>
<p></i><i>đôi khi, cuối rừng có một dòng sông      <br /></i><i>không biết ai để đó từ bao giờ      <br /></i><i>dòng sông in bóng rừng hoang dại      <br /></i><i>ngút mắt những đại ngàn      <br /></i><i>tiếng chó sủa lùng bùng những vạt nắng lửa      <br /></i><i>dăm ba con chim cụt cánh đứng trong trời vắng ngắt</i></p>
<p>Và hãy dán tiếp quá khứ vào với hiện tại trong một lần trở về. Sài gòn. Sài gòn thơm, mềm mại, cũng như Sài gòn ồn, gẫy:</p>
<p><i>sài gòn đêm tiếng ồn      <br /></i><i>người thức dậy trên sông      <br /></i><i>dưới khoảng tối nồng nàn      <br /></i><i>mùi dạ lý bay thoảng</i></p>
<p><i>sài gòn đường phố gẫy      <br /></i><i>người khom lưng ngoái nhìn      <br /></i><i>cầm cây đàn quay lại      <br /></i><i>xa tít mù quán trọ</i></p>
<p><i>sài gòn về qua cầu      <br /></i><i>bóng người trong bóng nước      <br /></i><i>chiếc xuồng tan sương khuya      <br /></i><i>người quăng mình thiên thu</i></p>
<p><i>sài gòn còn đây tôi      <br /></i><i>xé rách vài tờ giấy      <br /></i><i>áo vàng mầu hoàng hôn      <br /></i><i>đêm tơi bời thức dậy</i></p>
<p>Dán và mơ. Dán và nhìn thấy các hình ảnh lay động. Và thấy ta hoá thành bướm, thành trận mưa cuồng. Và thấy đêm mở ra, thân mật:</p>
<p><i>em có bao giờ mơ thấy bướm      <br /></i><i>trong mùa lũ lụt rán bay về      <br /></i><i>giữa trận mưa cuồng không dứt hột      <br /></i><i>tôi khoả thân từng chiếc nút khuya</i></p>
<p>Thế rồi sau một cuộc mưa như vậy, con người bừng thức. Nó nhìn trở lại vào ly cà phê của ngày xưa. Thấy trở lại những giọt mưa cũ. Những giọt long lanh những mảnh tôi rạng rỡ, thiết tha và tội nghiệp. Và trái tim khô hạn cũng thấm đẫm những hạt mưa:</p>
<p><i>mưa, nghe rầm rộ mạnh bạo thế      <br /></i><i>mà đã chấm dứt rồi      <br /></i><i>còn những giọt mưa rơi vào ly cà phê tôi      <br /></i><i>thì vẫn còn đó      <br /></i><i>thậm chí có những giọt      <br /></i><i>rơi vào trái tim khô      <br /></i><i>làm cho nó ướt át trở lại</i></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Thơ của Đán là một cuộc trần thuật về con người. Con người nhà thơ. Và, có lẽ, về cả những con người như tôi, như anh, như chị. Những con người luôn trăn trở với cả những giấc mơ, với những mảnh hiện tại và quá khứ không toàn vẹn của mình. Chúng ta loay hoay và chúng ta lật giở cuộc sống. Cuộc sống với những trang giấy, với những mảnh vụn đã bị gió đời xáo trộn và xé rách, thổi bay tung toé khắp nơi. Cuộc sống có những hình ảnh hiện tại, cái thì sắc nét, cái lại nhoà nhạt dáng hình. Nhưng tất cả vẫn còn ở đó. Trong chiếc “hộp đen” ấy. Chiếc “hộp đen” của thời gian. Và của trí nhớ.</p>
<p>Chỉ những người nhậy cảm và thiết tha mới có được cái mật mã để mở lại những trang đời kia. Trần Nguyên Đán là một nhà thơ, lại là một người nhậy cảm như thế. Ông có cái thiết tha và mơ mộng ngay từ những ngày tuổi trẻ khi ông hồi nhớ lại tác động của những dòng thơ Tagore trong hồn mình:</p>
<p><i>Rabindranath Tagore, người đã chinh phục trái tim còn nông nổi của một thiếu niên 16 tuổi, </i></p>
<p><i>trên mặt còn đầy những vệt lông tơ, nhưng sự khao khát đi tìm thơ thì dầy hơn túm lông đuôi của ngựa. Trong những ngày ấy, tôi kinh ngạc đọc những dòng sữa trắng chảy ra dưới bầu vú      <br /></i><i>     <br /></i><i>của những con bò cái, và hoa hồng lúc nào cũng có mặt, như thể bầu trời bị lật úp chiếc thúng lớn đầy hoa, đổ tràn lan trên mặt đất.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tagore, tôi lần dở lại trang sách của người làm vườn cần mẫn, và dù Rabindranath đã đi khuất vào lịch sử 70 năm rồi, tôi lại thấy cầu vồng mọc sau cơn mưa,</i></p>
<p><i>và cô gái Ấn mở cửa ra vườn với váy dài loạt xoạt, thúng bên hông, với những trái cà chua mới cắt,      <br /></i><i>&#160; <br /></i><i>chàng trai khăn quấn ngang đầu nay đã già, tóc phai mầu, mắt cúi xuống ngó vào tĩnh lặng chiều tà, dường như không nói gì nữa.</i></p>
<p><i>Nhưng mà dòng sông vẫn trôi, chuyện tình vẫn còn đấy, chuyện tình nho nhỏ thôi, nhưng đầy những con thuyền giấy xếp bằng giấy xé ra từ trang sách cổ có pha chút mơ mộng của đôi môi dầy và lồng ngực lép. Tagore lại đứng dậy và bước đi (&#8230;)</i></p>
<p>Cũng thế, bao nhiêu nhà thơ của nhân loại vẫn đang tiếp tục bước tới. Họ bước đi. Họ ngắm nhìn. Và trên hành trình của mình, họ tường trình cho con người về đời sống, về những vùng địa lý, đất đai nằm ngay trong tâm hồn mỗi một chúng ta mà chúng ta đã không từng để ý hay biết đến. Và, qua thơ của mình, họ cũng mời gọi chúng ta cùng cất bước.</p>
<p>Trần Nguyên Đán vẫn đang bước đi. Dù sao, mỗi người viết, mỗi nhà thơ có một cách bước đi riêng, một cách nhìn ngắm cuộc đời riêng của mình. Đọc thơ ông, tôi nhìn rõ cuộc đời hơn và nhận thấy trái tim cuộc sống máy đập. Những máy đập ấy phản ánh những rung động của chính nhà thơ với đời sống. Hẳn thế. Nhưng, có lẽ, chúng cũng phản ánh những cảm xúc của tôi, cũng như của những người khác, khi đến với thơ ông.</p>
<p>Xin cám ơn những dòng thơ của Đán.</p>
<p>Nhà thơ ơi, xin hãy tiếp tục bước tới.</p>
<p>Và xin hãy để tôi gửi những nụ cười và những giọt lệ của mình trong ánh mắt anh.</p>
<p>&#160;</p>
<p>16. VII. 2011   <br /><i>Tustin Ranch, Calif</i><i>.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p>_______________________________________________</p>
<p>(*) Tựa cho tập thơ <i>Tôi Chạy Vòng Quanh Một Khoảng Trống </i>của Trần Nguyên Đán. Tập thơ sẽ được Kệ Sách của Da Màu ebook xuất bản trong những ngày sắp tới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23200/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Robert Frost: Dừng ch&#226;n tuyết xuống rừng chiều</title>
		<link>http://damau.org/archives/23086</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23086#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 13 Jan 2012 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Đức Tùng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23086</guid>
		<description><![CDATA[Không một lý tưởng nào, một lập trường nào, lại không thường xuyên bị khuynh hướng tự ý thức này thách thức mỗi ngày, ở mỗi sự kiện, trước mỗi khúc quanh của lịch sử cá nhân và dân tộc.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><em>(Bài thứ bảy trong loạt bài “Thơ Cần Thiết Cho Ai”)</em></p>
<p><strong></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<h2>Dừng Chân Tuyết Xuống Rừng Chiều</h2>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Cánh rừng này tôi nghĩ mình biết của ai      <br /></em><em>Nhà anh trong xóm nhỏ xa xôi      <br /></em><em>Anh không hề thấy tôi dừng lại      <br /></em><em>Ngắm cảnh rừng chiều tuyết trắng bay.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Con ngựa nhỏ chắc nghĩ tôi kỳ quặc      <br /></em><em>Dừng nơi đây không một mái nhà      <br /></em><em>Giữa cánh rừng và mặt hồ băng giá      <br /></em><em>Buổi chiều mờ tối nhất trong năm.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Con ngựa khẽ lắc mình rung chuông      <br /></em><em>Hỏi ông chủ có nhầm không chứ      <br /></em><em>Tiếng động khác là lời của gió      <br /></em><em>Bay dịu dàng, tuyết nõn như bông. </em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Cảnh rừng đẹp tuyệt, tối và sâu      <br /></em><em>Nhưng tôi còn đây lời ước hẹn ban đầu      <br /></em><em>Và những dặm đường trước khi đi ngủ      <br /></em><em>Những dặm đường dài trước giấc ngủ sâu. </em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em></em></p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<h2>Stopping by Woods on a Snowy Evening</h2>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Whose woods these are I think I know.      <br /></em><em>His house is in the village though;      <br /></em><em>He will not see me stopping here      <br /></em><em>To watch his woods fill up with snow.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>My little horse must think it queer      <br /></em><em>To stop without a farmhouse near      <br /></em><em>Between the woods and frozen lake      <br /></em><em>The darkest evening of the year.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>He gives his harness bells a shake      <br /></em><em>To ask if there is some mistake.      <br /></em><em>The only other sound’s the sweep      <br /></em><em>Of easy wind and downy flake.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>The woods are lovely, dark and deep,      <br /></em><em>But I have promises to keep,      <br /></em><em>And miles to go before I sleep,      <br /></em><em>And miles to go before I sleep. </em></p>
<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Mỗi khi đọc bài thơ của Robert Frost, tôi đều hình dung những ngày vào rừng tập chơi ski lúc mới đến Canada. Rừng liễu, đồi bạch dương, tuyết bay mờ ảo ngùn ngụt đất trời. Đối với người từ nhiệt đới đến xứ lạnh, ngày đầu gặp tuyết là may mắn. Lúc tâm hồn và thân xác bạn mặc nhiên mở rộng để thiên nhiên ùa vào. Người sống lâu nơi ấm áp sợ cái lạnh mùa đông, nhưng càng lại gần, càng yêu mến nó. Với ít chi tiết mô tả, không gian bài thơ vẫn phủ đầy cảnh rừng tuyết xuống, và trong nỗi cô độc, bạn nghe ra tiếng động của tịch mịch. Frost được xem là người dùng ngôn ngữ giản dị, mặc dù vậy thơ ông có thể đi rất xa, xuyên thấu những bức tường bí ẩn của đời sống, phát hiện tình yêu sâu thẳm của chúng ta trước cảnh vật, mùa màng.</p>
<p>Thơ giúp một người sống đến cùng các giới hạn của cuộc đời. Di chuyển giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thành công và thất bại, anh ta bắt đầu nhận ra những mơ ước của mình chỉ là ký ức đến từ tương lai. Sinh 1874, mất 1963, sáng chói cùng những tên tuổi khác trong buổi bình minh của nền thơ Hoa Kỳ, Frost sống tám mươi chín năm, vắt qua hai thế kỷ. Được gọi là nhà thơ của nhân dân. Tuy vậy thơ ông chứa đầy bí mật cá nhân, hầu hết không phải là thơ đọc trên quảng trường. Khi còn sống, Frost nhận nhiều giải thưởng, lời ca tụng, khi mất, được quốc gia thương tiếc, nhưng sự nghiệp thơ ca của ông lại bắt đầu từ nước Anh, nơi sau này ông cũng gọi là đất mẹ. Cùng với vợ và bốn đứa con, chàng thanh niên ba mươi tám tuổi chưa có sự nghiệp quyết định đến Anh, và ở lại gần ba năm trời. Trước đó, anh làm việc quần quật như một người nông dân, một thầy giáo, một kẻ giúp việc, làm những thứ lao động nặng nề để nuôi vợ con. Nhờ một khoảng tiền thừa kế nhỏ bất ngờ, anh đưa được gia đình đến Anh, ở đó anh đã gặp W. Yeats lừng lẫy, Ezra Pound lớn lao, Robert Graves nồng nàn, và nhiều người khác nữa, những người hết sức giúp đỡ chàng thi sĩ trẻ tuổi. Một năm sau, 1913, tập thơ đầu tiên xuất bản. Rồi năm 1914, tập thứ hai, tập hợp các bài thơ tự sự, có tên <em>Phía bắc Boston</em>, đã làm anh nổi tiếng. Lúc đó Frost bốn mươi tuổi. Suốt đời, dành mọi sức lực, thời gian, tâm huyết cho thơ ca. Tuy vậy, lao động nặng nhọc khó khăn của nhà thơ hoàn toàn biến mất trên trang giấy, giữa những dòng chữ đẹp lung linh giản dị. Người đọc khó lòng tìm thấy ở đó mồ hôi, sự đen tối, thậm chí những bi kịch sâu xa của ông. Thế nhưng mỗi bài thơ là một câu trả lời đối với các tra vấn của đời sống.</p>
<p><em>Tôi chưa học được cách nào để thả buông tay      <br /></em><em>Chưa biết làm gì để trái tim nhẹ bay </em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>I had not learned to let go with the hands,      <br /></em><em>As still I have not learned to with the heart</em></p>
<p>Bài thơ <em>Dừng chân tuyết xuống rừng chiều</em> dễ hiểu sáng sủa, nhưng trong nhiều năm tôi đọc lại nhiều lần, có lẽ vì cái trôi chảy và vẻ ngập ngừng của nó. Đọc Frost, bạn nên đọc lớn lên thành lời như ông từng khuyên; dừng lại ở cuối câu thơ, dừng ngắn hơn ở dấu phẩy, dài hơn ở dấu chấm.</p>
<p>Đọc như thế nhiều lần, bạn nghiệm ra rằng thơ trước hết là, nhưng không chỉ là, những chữ. Ngôn ngữ không phải là phương tiện nhưng cũng không là cứu cánh. Nếu cần chọn một nhà thơ dễ hiểu mà vẫn khó hiểu, giản dị mà phức tạp, tôi sẽ chọn Frost. Nhạc điệu, sự lập đi lập lại của một số chữ và vần làm cho bài thơ có một nhịp tiến (tempo) thong thả, nhẹ nhõm mà rất trầm tư.</p>
<p>Một không gian trầm tư.</p>
<p>Bạn chú ý đến chữ dùng, ngay nhan đề cũng được chọn kỹ. <em>Stopping by woods on a snowy evening, </em>khó có cách nào ngắn và đầy đủ hơn.</p>
<p><em>Cánh rừng này tôi nghĩ mình biết của ai</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Whose woods these are I think I know.</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Chúng ta dừng lại trước nhóm chữ <em>I think I know</em> và thử nghĩ ngợi về nó. <em>Tôi nghĩ </em>chúng ta ngày nay vẫn có thể học được cách nói của tác giả, học sự thận trọng tinh tế, cái khiêm tốn sang cả trong cách tiếp cận sự vật của một nhà thơ từ ngôn ngữ khác. <em></em></p>
<p>Frost là người theo phong cách cổ điển, ông dùng vần nhưng không cưỡng ép. Để mô tả cảnh rừng đẹp ông chỉ dùng mấy chữ: <em>lovely (đáng yêu, đẹp tuyệt), dark (tối, tối đen), deep (sâu, sâu thẳm). </em>Chúng ta đọc lại:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>The woods are lovely, dark and deep</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Cảnh rừng đẹp tuyệt, tối và sâu</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Tôi cố gắng dịch sát vì chỉ cần đổi vị trí các chữ là câu thơ thay đổi. Câu được viết ở dạng văn phạm sơ đẳng, gần lối hành văn “học trò”. Các chữ cũng thông dụng, thoạt trông không tài hoa, bay bướm như cách dùng chữ của các tác giả Mỹ đương đại. Tôi chú ý đến chữ <em>and (và), </em>vốn là một loại chữ rất ít được dùng trong thơ, nhất là trong vị trí giữa câu (còn chữ này nằm ở đầu câu thì lại được dùng nhiều trong thơ phương Tây, với một hàm ý khác). Chúng ta cũng chú ý đến cách luyến chữ, hai chữ <em>l </em>trong <em>lovely, </em>hai chữ <em>d </em>trong <em>dark, deep. N</em>gay sau đó tác giả dùng một loại vần rất mạnh, ngắn: <em>but I have promises to keep </em>(nhưng tôi có những lời hứa cần phải giữ),<em> </em>gây cảm giác như nhát cắt, lời hứa đinh ninh, hay như lời hẹn từng đơn sai, huyền ảo, thiêng liêng.</p>
<p>Hay như mối tình đầu.</p>
<p>Thơ Frost biểu lộ khuynh hướng tự ý thức của chủ thể. Chủ thể là người phát ngôn (speaker), thường là nhà thơ, mặc dù không phải bao giờ cũng vậy. Dù ông viết về cây cối, thời tiết hay muông thú, bao giờ người đọc cũng nhìn ra nhân vật. Con người hòa nhập vào thiên nhiên nhưng không biến mất trong đó như các nhà thơ Haiku. Dưới ảnh hưởng của khuynh hướng tự ý thức, giọng điệu của bài thơ là giọng phân vân, lưỡng lự. Mặt khác, sự hoài nghi, tiến thoái lưỡng nan, là thái độ của người trí thức mọi thời đại. Về bản chất, người trí thức chân chính không phải là người trung thành với một lý tưởng. Không một lý tưởng nào, một lập trường nào, lại không thường xuyên bị khuynh hướng tự ý thức này thách thức mỗi ngày, ở mỗi sự kiện, trước mỗi khúc quanh của lịch sử cá nhân và dân tộc.</p>
<p>Nhưng Frost phân vân về điều gì?</p>
<p>Muốn dừng lại lâu ngắm cảnh đẹp nhưng cũng muốn đi tiếp, thực hiện xong bổn phận. Dừng giữa rừng không bóng người sẽ làm người bình thường khác ngạc nhiên. Con ngựa nhỏ là biểu tượng của cuộc đời bình thường. Không một <em>người đọc của thơ</em> nào mà không có lúc hiện ra như những kẻ kỳ quặc trong đời. Xung đột thứ hai là giữa ý tưởng muốn nghỉ ngơi, tìm một mái nhà ấm áp (nhà bạn tôi ở cuối thôn xa), và con đường dằng dặc phía trước.</p>
<p>Bài thơ cũng chạm đến xung đột thứ ba. Giữa niềm vui cuộc sống và sự vô nghĩa của cuộc đời. Câu thơ cuối:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>And miles to go before I sleep</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Những dặm đường trước khi đi ngủ</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Đọc câu đầu tiên, chúng ta nhận ra khuynh hướng nghỉ ngơi và hoàn tất nhiệm vụ của mình. Nhưng đọc lại lần thứ hai, và đọc câu thứ hai, chúng ta nhận ra thêm đi ngủ không phải chỉ là giấc ngủ qua một đêm.</p>
<p><em>And miles to go before I sleep</em></p>
<p>Mà có thể là giấc ngủ suốt đời. Nỗi lòng thầm kín, niềm ước ao lặng lẽ được rơi vào hư vô như đứa con đi hoang trở về nhà xưa, đứa trẻ rơi vào lòng mẹ. Sự an nghỉ tuyệt đối, vĩnh hằng.</p>
<p>Mặt khác, thơ Frost cũng đầy niềm vui và sự hài hước.</p>
<p>Niềm vui của thơ ca nằm ở đâu? Ở hệ tọa độ của các cảm giác dương tính, khỏe khoắn như: yêu thương, hòa hợp, lòng chung thủy, khen ngợi, lòng tin. Ngược lại, những người nào tin vào các khuynh hướng ngược lại, đi lạc trong các lối mòn của thù hận, tranh đoạt, của các thay đổi có tính chất thực dụng, chia rẽ, mãi mãi sẽ không tìm được niềm vui; chỉ có nước mắt và máu ở cuối đường chờ họ. Nếu bạn không tin điều ấy, hãy quan sát một đứa trẻ. Niềm vui chiếm hữu nó, tràn ngập tâm hồn nó, lộ ra trong cử chỉ, lời nói, ánh mắt. Vì niềm vui là bản tính tự nhiên của con người. Và một trong những nguồn gốc lớn của niềm vui là cái đẹp.</p>
<p><em>To watch his woods fill up with snow.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Ngắm cảnh rừng chiều tuyết trắng bay</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Đó là cái đẹp thanh khiết, hùng vĩ, nhưng hoang dại: tối và sâu, phủ đầy, <em>fill</em>. Như chính tâm hồn của người đứng đó, tâm cảnh huyền bí. Nhà thơ nhắc hai lần câu thơ về lời hứa và giấc ngủ, không chỉ là điệp khúc về mặt âm nhạc, mà còn là sự nhắc lại lời hứa, nguyện vọng, ý chí, sự ám ảnh, nhắc lại xung đột trong cuộc đấu tranh miên viễn của con người trước thế giới. Frost làm chủ nghệ thuật hình ảnh. Cánh rừng, tuyết trắng, khung cảnh buổi chiều, người bạn không có mặt là những chi tiết dễ nhận ra. Nhưng:</p>
<p><em>Con ngựa nhỏ chắc nghĩ tôi kỳ quặc</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Là biểu tượng của cuộc đời. Một con ngựa khi đứng nghỉ chờ chủ bao giờ cũng làm động tác lắc người, lắc chuông. Nhưng đưa hành động đó vào bài thơ, Frost muốn nói điều gì? Nhà thơ không phải là con ngựa nên tất nhiên không thể biết nó nghĩ gì. Vì vậy ông chỉ có thể dùng chữ <em>must </em>trong tiếng Anh. Hai lần hoài nghi.</p>
<p><em>He gives his harness bells a shake      <br /></em><em>To ask if there is some mistake.</em></p>
<p>Hiện nay, thơ có vần ngày càng ít được sử dụng, nhưng đọc Frost, chúng ta hiểu rằng bất cứ hình thức nào cũng có thể mang lại hiệu quả thẩm mỹ. Rất giàu âm nhạc, nếu bạn đọc kỹ. Chỉ trong hai câu thơ, ngoài hai vần cuối câu <em>shake/mistake, </em>rất nhiều âm <em>s </em>(<em>gives, his, harness, bells, shake, ask, is, some, misake</em>), gần như mỗi chữ là một âm, nghe như tiếng rì rào của lá bên đường, tuyết trong không gian mù tối. <em></em></p>
<p>Frost cũng không dùng nhiều từ vựng. Mục đích của ông là chính xác, với cách mô tả giản lược, tiêu biểu. Ngôn ngữ là hình thức giao tiếp, tương thông (communication), nhưng lời nói không có nghĩa tuyệt đối, mà là bản thỏa hiệp từ hai phía, người nói và người nghe, người viết và người đọc. Lời thơ càng chính xác thì càng mô tả được cảm xúc, ý tưởng của người viết. Càng nhiều khả năng mô tả, ngôn ngữ càng có sức phơi bày tính hoài nghi, hiển lộ tính song đôi của lịch sử, phân rã trong thời gian của chân lý.</p>
<p>Thơ trữ tình, giàu âm nhạc, khó dịch qua một ngôn ngữ khác. Thế nhưng những bản dịch thơ đôi khi vẫn truyền đi được tài năng của một nhà thơ, là nhờ ở điều gì? Trong nguyên tác tiếng Anh, bài thơ có nhiều âm <em>th</em>, <em>v</em>, <em>l</em>. Khi phát âm chúng vang lên như những tiếng thầm khe khẽ. Tôi vừa nói rằng bài thơ tuy viết về thiên nhiên nhưng không ngụ ý tả cảnh. Mặt khác trong bài thơ gồm bốn đoạn, mười sáu câu, đã có đến sáu câu nói về những chuyện liên quan đến một nhân vật đặc biệt, con ngựa nhỏ. Chúng ta tham dự vào câu chuyện trong bức tranh, lắng nghe cuộc trò chuyện im lặng diễn ra giữa chủ và con ngựa, câu hỏi của nó, sự thắc mắc, lời độc thoại. Câu mở đầu của khổ thơ thứ hai là hành vi duy nhất trong tĩnh lặng:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>Con ngựa khẽ lắc mình rung chuông</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>He gives his harness bells a shake</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Như một câu hỏi khẽ vang lên. Nhưng câu trả lời không đến trực tiếp. Nhà thơ quay lại với ấn tượng ban đầu khi vừa đến giữa rừng:</p>
<p><em>Cảnh rừng đẹp tuyệt, tối và sâu</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>The woods are lovely, dark and deep,</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Các chữ <em>dark </em>và<em> deep </em>đều là các chữ không luyến, gây cảm giác cắt đứt. Nhờ điều này, chúng có thể chuyển ta qua một tâm cảnh mới, ở đó lời hứa hôm qua, ngày xưa cũ, lại trở về, biến thành trung tâm của sự chú ý. Hay có khi không phải một lời hứa nào, mà chỉ là con đường bạn đã chọn và sẽ đi đến cùng, con đường ấy làm chúng ta trở nên khác biệt với đồng loại.</p>
<p>Chữ <em>sleep </em>(ngủ, giấc ngủ, đi ngủ) ám ảnh tôi nhiều. Đó cũng là một chữ có lối phát âm ngắn. Tại sao tác giả chọn chữ này để kết thúc một bài thơ có nhiều âm thì thào mơ màng. Có một điều gì gần như tâm sự sâu hút, bờ vực, giữa sáng và tối, ngày và đêm, giữa nhiệt huyết nồng nàn và lặng yên tĩnh mịch. Giữa sự sống và cái chết.</p>
<p>Một bài thơ có nhiều cách đọc khác nhau. Mỗi cách đọc và mỗi lần đọc đem lại một ý nghĩa khác, ở những tâm trạng khác. Sở dĩ như thế là vì ngôn ngữ vốn chứa đựng nhiều hơn một khả năng diễn dịch. Điều cần chú ý là không phải sự diễn dịch nào cũng thích hợp, không phải số lần diễn dịch là vô tận, hay nói dễ hiểu hơn, không phải cách đọc nào cũng đúng.</p>
<p><em></em></p>
<p><em>Khi nào cô cũng phải thắp đèn lên      <br /></em><em>Bên chiếc giường trên gác xép đêm đêm</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>She always has to burn a light      <br /></em><em>Beside her attic bed at night</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ phát hiện chứ không phải là ngôn ngữ biểu hiện. <em></em></p>
<p>Thắp đèn lên làm gì? Vì sợ hãi, hay cô nhớ một người xa xăm? Mỗi khi tôi lặng lẽ hỏi lại câu hỏi này, thì hình ảnh ngọn đèn trên căn gác kia liền sáng lên một lúc trong đêm khuya tâm tưởng của mình.</p>
<p>Trong hai năm sống ở nước Anh (1914-1916), Frost đã viết một số trong những bài thơ hay nhất của ông như Con Đường Không Chọn (The Road Not Taken), Cây Bạch Dương (Birches), Nỗi Sợ Hãi (The Fear), Cánh Đồng (The Pasture), trong các tập North Of Boston, Mountain Interval. Ông là người yêu gia đình, yêu đất nước, nơi chốn từ đó ông đã sinh ra, nhưng cuộc đời riêng lại đầy những nỗi buồn, đau đớn, mất mát. Ví dụ, chỉ một trong số sáu người con của ông là sống cuộc đời khỏe mạnh bình thường. Tuy vậy, ông được biết là một người cha nhân hậu, thương con. Trong thời gian Frost và gia đình ở trong một nông trại ở Derry, New Hampshire, ông thường vui đùa cùng các con (Lesley, Carol, Irma, Marjorie), kể cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích mà ông nghe kể lại hoặc là tưởng tượng ra, về sau chúng được ông viết lại thành một tuyển tập. Khi được tổng thống J. F. Kennedy mời đọc thơ trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức tổng thống ngày 20 tháng giêng năm 1961, Frost đã tám mươi bảy tuổi. Mới đầu ông dự định đọc bài thơ <em>Dedication </em>in sẵn trên giấy, nhưng khi đứng trên bục, do ngược nguồn nắng chói, mắt ông bị nhòa đi, sau đó mù hẳn, Frost đã đọc bài thơ <em>The Gift Outright </em>mà ông thuộc hơn. Bài thơ nói về đất nước Hoa kỳ. Công việc, thơ ca, sự nổi tiếng, lòng yêu mến của công chúng không bao giờ ngưng cạn, như Dana Gioia nhận xét, trở thành nơi trú ẩn của nhà thơ. Cho đến cuối đời, ông vẫn không ngừng làm việc:</p>
<p><em>Cái thang của tôi vẫn còn xuyên qua ngọn cây      <br /></em><em>Hướng về bầu trời      <br /></em><em>Có một thùng phuy tôi chưa đổ đầy      <br /></em><em>Và nữa, có hai hoặc ba      <br /></em><em>Trái táo tôi không kịp hái trên cây</em></p>
<p><em>My long two-pointed ladder’s sticking through a tree      <br /></em><em>Toward heaven still,      <br /></em><em>And there’s a barrel that I didn’t fill      <br /></em><em>Beside it, and there may be two or three      <br /></em><em>Apples I didn’t pick upon some bough.</em></p>
<p>Như thể cái thang vẫn còn rung động.</p>
<p>Frost viết về nhiều đề tài, thành công ở cả hai thể tự sự và trữ tình. Trong bài thơ Dừng Chân Tuyết Xuống Rừng Chiều, hai nghệ thuật ấy đều được thể hiện. Đặc điểm của thơ ông là sự quan sát tinh tế, lối mô tả đầy kịch tính:</p>
<p><em>Hắn nhìn thấy cô ngay từ dưới cầu thang      <br /></em><em>Trước khi cô nhìn thấy hắn. Bắt đầu đi xuống      <br /></em><em>Cô lại quay ra sau, mơ hồ sợ hãi      <br /></em><em>Rồi bước xuống ngập ngừng, bỗng lại bước lui</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>He saw her from the bottom of the stairs      <br /></em><em>Before she saw him. She was staring down,      <br /></em><em>Looking back over her shoulder at some fear.      <br /></em><em>She took a doubtful step and then undid it</em></p>
<p>Thơ ca còn là sự giao tiếp xã hội, nhưng Frost là người có quan điểm độc lập.Ví dụ trong khi tình bạn giữa ông và Eliot (1888-1965) để lại dấn ấn sâu xa trong nền văn học Mỹ thì Frost cũng nói: tôi rất thích đọc thơ Eliot vì thực là thú vị khi nhìn anh ấy sáng tạo, nhưng tôi lại hài lòng khi thấy cách của anh chẳng phải cách của tôi. Không viết nhiều thơ chính trị, Frost vẫn có thái độ rõ ràng về các vấn đề thời sự. Theo ông, phong cách của một nhà thơ, chứ không phải đề tài, chính là bằng chứng về việc anh ta phản ứng trước các vấn đề xã hội hay triết học như thế nào. Hãy nghe một bài thơ phong cảnh của ông với giọng điệu khác thường.</p>
<p><em>Bạn chọn cái hồ. Tôi nhìn xuống nó.      <br /></em><em>Tôi thấy nó đẹp, làn nước trong xanh.      <br /></em><em>Tôi đứng hồi lâu, lớn tiếng lập lại mình</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>You take the lake. I look at it.      <br /></em><em>I see it’s a fair, pretty sheet of water.      <br /></em><em>I stand and make myself repeat out loud</em></p>
<p>Thơ là một hình thái của sự tập trung chú ý. Nghệ thuật chú ý là nghệ thuật sống, là một hình thức của lòng tử tế. Ngược lại, sự không chú ý, tức là sự lãnh đạm, là biểu hiện của trạng thái tinh thần không lành mạnh, thậm chí bệnh hoạn, của một cá nhân hay của một cộng đồng, dân tộc. Sự không chú ý ở mức cực đoan trở thành sự ngược đãi. Cùng với nó, khái niệm phục vụ cũng thường được hiểu sai, đôi khi bị nâng lên thành một chuyện to tát hơn như lòng yêu nước, sự hy sinh ngoài chiến trường, các sự tích anh hùng. Thật ra tinh thần phục vụ giản dị hơn thế, đó là sự mở một cánh cửa cho người lạ, nhường một người sắp hàng sau có việc bận đi lên trước, khom người xuống đặt đồng tiền vào tay kẻ ăn xin lúc bạn đang vội vội vàng vàng. Là không dành phần hơn về phía mình, chia sẻ hạnh phúc được tồn tại trong cuộc đời này một cách an tĩnh với người khác. Sự tử tế nhỏ bé, hàng ngày, của mỗi người có thể không làm nên các cuộc cách mạng, các ngọn lửa bùng cháy trong một đêm của lịch sử. Nhưng nhân loại không cần đến các cuộc thay đổi qua một đêm. Nhân loại cần thay đổi trong từng giây từng phút, ngày này tháng nọ, từng người một, từng tế bào, ngọn cây lá cỏ. Đó là sự thay đổi đẹp đẽ, trọn vẹn, không phải là ngọn lửa tiêu hủy của các cuộc chiến tranh và cách mạng bạo lực vốn được kêu gào khắp nơi trong suốt một thế kỷ vừa qua. Tuyệt đối tin tưởng vào một điều gì, đi một mạch con đường từ đầu đến cuối đời, không ngoảnh lại: đó là bản chất của sự phản trí thức. Khái niệm tương ứng trong văn học của sự hoài nghi chính là cái mờ ảo. Những câu thơ đẹp là một tập hợp các hình ảnh so le, chồng lên nhau. Cũng như:</p>
<p><em>Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy      <br /></em><em>Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu      <br /></em>(Chinh Phụ Ngâm)</p>
<p>Các chữ thuần Việt, chỉ một chữ cũ (những), một chữ văn chương (ngàn), mà vẫn trang nhã và nhòe, một phần nhờ sự lập lại, láy lại, xuyên tới xuyên lui. Có cảm giác các hình ảnh ấy có thể sắp xếp lại nhưng thật ra bạn không làm được. Vì sao? Vì đó là một hiện thực khác. Tại sao sự phân vân là cốt lõi của thơ và gần với cái đẹp? Vì bản chất của con người là hoài nghi, xem xét lại, nói cho cùng là tìm cách chống lại các huyền thoại.</p>
<p>Chống lại thói nô lệ tinh thần, sự phân liệt, đầy rẫy trong cuộc đời.</p>
<p>Bằng cách nào? Bằng thái độ hài hước của một người trầm tĩnh:</p>
<p><em></em></p>
<p><em>Tôi không bao giờ dám nổi loạn khi còn trẻ      <br /></em><em>Vì sợ lúc già nó làm tôi trở nên bảo thủ</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>I never dared to be radical when young      <br /></em><em>For fear it would make me conservative when old.</em></p>
<p>Đối thoại trong cô độc là đối thoại phổ biến, được chia sẻ nhiều nhất. Các diễn văn bị quên đi mau chóng, nhưng các bài hát tình yêu, một câu ca dao trữ tình trở lại với một người. Độc thoại của một bài thơ cũng là đối thoại, vì nhà thơ biết rằng có một người đang lắng nghe mình. Không phải chỉ có thế giới đang nghe, mà chính là một phần của anh, phần lắng nghe ấy trong phân tâm học gọi là <em>siêu ngã</em>. Những nhà thơ tài năng sử dụng năng lực của siêu ngã trong quá trình sáng tạo, có thể hoàn toàn không tự biết. Đó là sự điều chỉnh ngoài ý thức đối với các chữ, có tác dụng lập tức. Mặc dù nhận xét rằng sự chọn chữ trong bài thơ của Frost cẩn thận và chính xác, cũng như trong các bài thơ hay của bất kì một ai khác, tôi không có ý cho rằng ông đã tính toán như một cái máy, hay nhất thiết phải ngồi viết đi viết lại bài thơ trăm lần. Sự lựa chọn đôi khi xảy ra chớp mắt, dưới tương tác của cảm hứng tức thì và soi xét siêu ngã. Vì vậy những nhà thơ khi viết quá để ý đến sự hài lòng của người đọc, rơi vào hai trường hợp: những kẻ có tài, tạo ra vài tác phẩm được yêu mến một thời nhưng không phải là tác phẩm lớn. Trường hợp khác thì ngược lại, họ không tạo ra điều gì cả. Trong quá trình sáng tạo, chỉ nên lắng nghe chính mình, tức là cái phần kiểm tra siêu ngã của chính mình. Đến từ thiên nhiên.</p>
<p>Thiên nhiên tạo thành ba loại khung cảnh trong văn học: văn minh; thiên nhiên thuần hóa; và thiên nhiên hoang dã. Hay có thể gọi là: phố thị; thôn quê; và rừng núi. Một nhà thơ chọn cho mình một khung cảnh riêng biệt, đặc thù, bao giờ cũng từ tiểu sử xuất thân và khuynh hướng tâm linh. Thơ Frost đi xuyên qua các khung cảnh khác nhau không phải chỉ bằng các chuyển động không gian mà còn trong thời gian. Nhiệm vụ quan trọng nhất của các nhà thơ về thiên nhiên không phải là mô tả chúng mà là xác nhận rằng có một thế giới, một vũ trụ thực hữu bên ngoài tâm trí chúng ta. Mà chúng ta cần kính trọng, thương yêu, gìn giữ.</p>
<p>Bởi vì con người không phải là những ông chủ của thiên nhiên.</p>
<p>Những bất hạnh quá khứ đối chiếu với hạnh phúc hôm nay; hình ảnh lý tưởng của dĩ vãng êm đềm so sánh với ngày nay đen tối; nỗi buồn thảm điêu tàn của hôm qua tiếp theo sau vẻ rực rỡ của ngày trước đó nữa; sự tương ứng, phản chiếu, lập lại, sự đối kháng của các mặt cắt khác nhau. Các mặt cắt thời gian này của thơ Frost di chuyển liên tục qua ba khung cảnh thiên nhiên, tạo nên một chuyển động phức hợp, có thể ghi nhận trên nhiều tọa độ rất khác nhau.</p>
<p>Tôi thường mơ trở lại thăm rừng liễu xanh, đồi bạch dương trắng phía bắc Edmonton, chạy trong tuyết rơi xuống lả tả, tuyết bay qua lất phất, như ngày nào mấy mươi năm trước cùng người thiếu nữ nhỏ xinh, nhưng không làm được. Mỗi người chúng ta đều biết đến những nỗi niềm nhớ tiếc giống như của tôi. Nhưng nhớ về thiên nhiên hoang sơ không phải chỉ là hoài niệm; chúng còn là mặc khải, chuyển thể, là dự phóng.</p>
<p><em>Khi nhìn những cành bạch dương uốn qua trái rồi qua phải      <br /></em><em>Trên nền hàng cây thẳng tắp hơn tối đen hơn      <br /></em><em>Tôi nghĩ đến một đứa trẻ chơi đùa lắc lư chúng</em></p>
<p><em>When I see birches bend to left and right      <br /></em><em>Across the lines of straighter darker trees,      <br /></em><em>I like to think some boy’s been swinging them.</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Đọc những câu thơ như thế người ta phải nhắm mắt một lát mà nghĩ đến tuổi thơ của mình, tung tăng trên đường nhỏ sớm mai, cặp sách trên vai, hay biến mất trong ngõ chiều sương sau chùm lá hạnh ký ức. Có một kẻ nào dùng tay lắc những cành cây trong trí nhớ chúng ta. Kẻ ấy trở đi trở lại nhiều lần, dù không ai thấy nhưng vẫn trở lại, lắc mỗi ngày một ít cho đến khi nhánh cành của đời sống mất dần sự cứng cỏi, trở nên mềm mại hơn, trở nên biết uốn lượn.</p>
<p><em>Mùa đông rồi mùa hè, đứa trẻ chơi một mình      <br /></em><em>Giữa hàng cây của cha mình, chú uốn nắn từng cây một      <br /></em><em>Bằng cách kéo chúng xuống, kéo xuống nữa, nhiều lần      <br /></em><em>Cho đến khi rút hết sự cứng cỏi ra khỏi chúng</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Summer or winter, and could play alone.      <br /></em><em>One by one he subdued his father’s trees      <br /></em><em>By riding them down over and over again      <br /></em><em>Until he took the stiffness out of them.</em></p>
<p>Rút hết sự cứng cỏi nào? Ở đâu?</p>
<p>Ở trong từng đường vân thớ gỗ, trong sự giận dữ của trái tim mỗi chúng ta.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>Tài liệu tham khảo:</strong></p>
<p>- Edward Connery Lathem and Lawrance Thompson,<em> Robert Frost: Peotry &amp; Prose </em>(First Owl Book Edition, 1984)</p>
<p>- Hellen Vendler, <em>Voices and Visions</em> (Random House, 1987)</p>
<p>- Dana Gioia, David Mason and Meg Schoerke,<em> Twentieth-Century American Poetry</em> (Mcgraw-Hill, 2004)</p>
<p>- David Lehman,<em> The Oxford Book of American Poetry</em> (Oxford, 2006)</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23086/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thanhha Lai: x&#250;c động bởi c&#225;i đẹp trong thơ Nguyễn Du</title>
		<link>http://damau.org/archives/22535</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22535#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 15 Dec 2011 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nina Hòa Bình Lê</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Phỏng vấn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22535</guid>
		<description><![CDATA[Tôi đọc bản Truyện Kiều song ngữ với phần dịch thuật của Huỳnh Sanh Thông. Tôi đã run vì xúc động với cái đẹp trong thơ Nguyễn Du. Khi đọc đến dòng “Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ,” tôi gần té ngã vì rung động.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/2011_nbawinners.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="2011_nbawinners" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/2011_nbawinners_thumb.jpg" alt="2011_nbawinners" width="477" height="320" border="0" /></a></p>
<p align="center"> <em>Các tác giả thắng giải National Book Award 2011 (từ trái sang phải):<br />
học giả Stephen Greenblatt (</em>The Swerve<em>, phi hư cấu),<br />
nhà văn Thanhha Lai (</em>Inside Out and Back Again<em>, văn chương thiếu niên),<br />
nhà thơ Nikky Finney (</em>Head Off and Split<em>, thơ),<br />
và nhà văn Jesmyn Ward (</em>Salvage the Bones<em>, tiểu thuyết).<br />
[Ảnh của National Book Foundation] </em></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><strong>LTS</strong>: Vào ngày 18 tháng 10 vừa qua, Thanhha Lai thắng giải National Book Award 2011 của Mỹ với tập thơ <em>Inside Out &amp; Back Again </em>(<em>Từ Trong Ra Ngoài và Bắt Đầu Lại</em> ) (HarperCollins: 2011), trong thể loại Văn Chương Cho Người Trẻ (Young People’s Literature). Tác phẩm đầu tay của Thanhha Lai được coi như tiểu thuyết kể bằng thơ tự do. Trong tính cách của một cô bé 10 tuổi trải qua cuộc biến động của thời cuộc tại Việt Nam năm 1975 và cuộc di cư sang Mỹ sau đó, tác giả kể lại những kỷ niệm thời thơ ấu và những sự bỡ ngỡ nơi các vùng đất mới với nhiều hài hước và cảm xúc chân thật.</p>
<p>Bài phỏng vấn sau đây được thực hiện bởi Nina Hòa Bình Lê, thứ nữ của nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca, được cho phép đăng trên Da Màu trước khi xuất hiện trên Việt Báo số Xuân Nhâm Thìn 2012.</p>
<p>Đồng thời, Nina Hòa Bình Lê được nhà xuất bản HarperCollins cho phép dịch sang Việt ngữ một số bài thơ trong tác phẩm <em>Inside Out &amp; Back Again</em> của Thanhha Lai.  Xin mời quý độc giả đọc bản dịch của Nina Hòa Bình Lê cho bài thơ “Không Biết Cha” (“Unknown Father”) cũng xuất hiện trên Da Màu hôm nay. Bản dịch bài “Không Biết Cha,” và cho các bài thơ khác trong <em>Từ Trong Ra Ngoài và Bắt Đầu Lại</em> cũng sẽ xuất hiện trong Việt báo số Xuân Nhâm Thìn 2012.</p>
<p>Để biết thêm chi tiết, xin quý độc giả vui lòng liên lạc với tòa soạn Việt Báo, 14841 Moran Street, Westminster, CA 92683, Phone: 714.894.2500, Fax: 714.766.6171. Email: <a href="mailto:quyentran@viebao.com">quyentran@viebao.com</a></p>
<p>Da Màu chân thành cảm ơn Thanhha Lai, Nina Hòa Bình Lê và tòa soạn Việt Báo đã có nhã ý cho phép chúng tôi đăng bài phỏng vấn dưới đây, cùng bản dịch của Nina Hòa Bình Lê cho bài thơ “Không Biết Cha” (“Unknown Father”) của Thanhha Lai.</p></blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<p> <br />
<strong>1. Xin cho biết về bản thân tác giả, công việc hiện tại, và dự định trong tương lai, tác phẩm mới?</strong></p>
<p>Gia đình tôi rời Việt Nam trên một chuyến tàu hải quân vào đêm trước khi mất Sài Gòn và cuối cùng, chúng tôi đã đặt chân vào đất liền và đến định cư tại một trại tỵ nạn ở Florida. Người bảo trợ cho chúng tôi là một ông chủ đại lý xe từ Montgomery, Alabama. Câu chuyện tái định cư và bắt đầu lại cuộc sống của chúng tôi là một câu chuyện quen thuộc đối với bất cứ gia đình người Việt nào. Sau hai năm ở Alabama, chúng tôi dọn đến Texas, và sau đó, phần lớn mọi người trong gia đình dọn xuống miền Nam California để gia nhập với hàng ngàn người Việt khác đã sinh sống tại đây. Tôi nghĩ có lẽ lý do là ai cũng muốn được ăn một tô phở ngon!</p>
<p>Tôi tốt nghiệp Cử Nhân Báo Chí từ trường đại học University of Texas ở Austin. Tôi cũng đã dọn về phía Tây và làm việc cho tờ Orange County Register từ năm 1988 đến 1990. Sau đó, tôi ngứa tay thèm viết tiểu thuyết nên tôi dời về lại miền Đông đến Boston, và sau đó dọn về New York City, nơi tôi tốt nghiệp cao học MFA chuyên về Văn Chương Sáng Tạo từ Đại Học New York University. Tôi bỏ ra 15 năm để viết truyện cho người lớn mà chẳng đi đến đâu. Bỗng một ngày tôi ôn lại các hình ảnh những ngày cuối ở Sài Gòn, và những hình ảnh này chuyển biến trở thành hình thể thực thụ của chúng, thành một thể thức thật đẹp mà người ta gọi là thơ. Tôi không phải là một nhà thơ, nhưng tôi biết rằng văn bản chặt chẽ, hình ảnh nhanh gọn có sức phát nổ thành những nguyên liệu, cảm xúc thật sự là cách duy nhất để có thể bước vào tâm trí một bé gái 10 tuổi có suy nghĩ bằng tiếng Việt, không suy nghĩ bằng tiếng Anh.</p>
<p>Tôi đã hoàn tất bản thảo TỪ TRONG RA NGOÀI &amp; BẮT ĐẦU LẠI trong vòng sáu tháng, nhưng thời gian tôi dành để đếm những cuốn sách không thành công cũng bằng với thời gian viết cuốn sách này. Nghĩ cho cùng, tất cả những kinh nghiệm viết lách này đều hữu ích cả. Tôi đã bắt đầu với cuốn sách thứ hai. Tôi đã có sẵn các nhân vật và cốt truyện, nhưng như thường lệ, tôi chưa tìm ra tiếng nói thực sự phù hợp. Khi tôi định rõ được tiếng nói này, mọi chuyện còn lại chỉ là tiếp tục công việc.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>2. Tác giả có nói hay đọc tiếng Việt được không? Nếu đọc được tiếng Việt, Thanh Hà đã đọc tác phẩm, tác giả nào? </strong></em></p>
<p>Tôi đọc tiếng Việt với trình độ của một học sinh lớp bốn. Tôi viết tiếng Việt với trình độ của một học sinh lớp hai. Tôi viết thơ cho mẹ tôi bằng tiếng Việt, và chữ nghĩa tiếng Việt trong thơ của tôi luôn là thứ giải trí cho mẹ. Hẳn là vì tôi đánh vần sai và dùng chữ sai liên tục. Nhưng Mẹ luôn hiểu tôi, cho nên chắc là tôi viết tiếng Việt cũng không đến nỗi tệ.</p>
<p>Tôi đã đọc Nhất Linh hồi còn ở Việt Nam. Dự án đọc tiếng Việt lớn nhất của tôi là Truyện Kiều. Đây là lý do thứ hai thúc đẩy tôi học tiếng Việt. Lý do thứ nhất là để có thể nói chuyện với Mẹ. Tôi đọc bản Truyện Kiều song ngữ với phần dịch thuật của Huỳnh Sanh Thông. Tôi đã run vì xúc động bởi cái đẹp trong thơ Nguyễn Du. Khi đọc đến dòng “Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ,” tôi gần té ngã vì rung động. Tôi thuộc hai câu “Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.” Hai câu này chính là lời tụng nguyện bí mật của tôi. Khi tôi lo lắng, tụng đi tụng lại hai câu thơ này giúp tôi bình tĩnh lại, có lẽ nhờ vào vần điệu và các từ ngữ âm vang đối nhau.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/Lai_Finalists-Reading-440.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="Photograph © Beowulf Sheehan +1 917 450 2345 mail@beowulfsheehan.com" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/Lai_Finalists-Reading-440_thumb.jpg" alt="Photograph © Beowulf Sheehan +1 917 450 2345 mail@beowulfsheehan.com" width="436" height="300" border="0" /></a></p>
<p align="center"><em>Giáo sư trường New School (New York) và Tác giả thắng giải NBA<br />
đọc “Từ Trong Ra Ngoài và Bắt Đầu Lại” trên sân khấu<br />
trong buổi đọc sách của các tác giả chung kết phần thưởng NBA<br />
</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>3. Là một người Việt tỵ nạn, Thanh Hà nghĩ người Mỹ gốc Việt ở Hoa Kỳ (thế hệ của tác giả và thế hệ của ba mẹ tác giả) đã có những tiến triển gì trong 36 năm qua và trong tương lai?</em></strong></p>
<p>Tôi không đủ tư cách để có nhận định chung về người Việt ở Hoa Kỳ. Tôi tin rằng bất kỳ dân tộc nào cũng có những câu chuyện thành công và những câu chuyện không được bóng bẩy mấy. Đối với tôi, nhân vật đằng sau những câu chuyện này mới là quan trọng và hấp dẫn. Vì vậy cái nhìn của tôi đối với người Việt gốc Mỹ không theo kiểu tổng thể, mà theo mỗi cá nhân.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>4. Trong cuốn sách, Tác Giả bắt đầu với Tết Con Mèo và kết thúc với Tết Con Rồng. Tết Con Rồng sắp đến, Tác giả đón Tết như thế nào? Vài lời chúc Tết đến độc giả Việt Báo, đặc biệt là các độc giả thiếu nhi người Mỹ gốc Việt đang đọc về Tết từ cuốn sách của tác giả.</strong></em></p>
<p>Tôi ở thành phố New York, và lúc nào thời tiết cũng lạnh cóng ở mức đông đá khi Tết đến. Trong những năm trước, vợ chồng tôi đưa con gái tôi xuống San Diego nơi cả làng tụ họp. Nhưng năm tới đây chúng tôi sẽ không đi được. Chúng tôi sẽ ghé phố Tàu, ăn bánh chưng và con gái tôi sẽ được mặc áo đầm đỏ đón Tết.</p>
<p>Tôi nhờ Mẹ giúp tôi viết lời chúc Tết đến các em, và Mẹ nói rằng theo truyền thống chúc Tết, ai cũng phải chúc: “Năm mới chúc các em học giỏi và chóng lớn, nghe lời cha mẹ và ông bà.” Vì vậy tôi sẽ chúc các em điều này, vì sợ rằng nếu không, bầu trời sẽ sụp đổ.</p>
<p>Nhưng tôi cũng mong ước rằng mỗi năm, mỗi em sẽ tràn ngập niềm vui khi đọc sách, không cần phải đọc sách từ trường hay để được điểm ở trường, nhưng từ những cuốn sách đem lại cho các em hứng khởi tung bay. Những cuốn sách vui nhộn, ý nghĩa và câu chuyện sẽ ở lại với các em trong nhiều năm tới. Làm sao kiếm được những cuốn sách này? Hãy hỏi thầy cô và chuyên viên ở thư viện. Và cũng thử đọc đủ loại sách, mở sách ra, và nếu hai trang sách lựa đọc lôi cuốn bạn, nhiều phần là bạn sẽ thích cuốn sách này. Hãy tìm chỗ ngồi đọc và đọc, đọc, đọc. Khi đọc xong một cuốn sách, hãy mở cuốn sách kế tiếp.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>5. Còn điều gì khác? </strong></em></p>
<p>Tôi thật là thiếu chuẩn bị khi tên tôi được gọi lên lãnh Giải Sách Toàn Quốc (National Book Award), vì vậy tôi chỉ phát biểu vài lời ngắn gọn và chưa có dịp cám ơn Mẹ và anh chị em tôi. Tôi biết là Mẹ tôi sẽ đọc Việt Báo, vì vậy xin cho tôi cơ hội để bày tỏ cảm xúc của tôi.</p>
<p>Tôi xin cảm ơn Mẹ tôi vì Mẹ đã là chính “Me”. Nhiều nhân vật trong TỪ TRONG RA NGOÀI VÀ BẮT ĐẦU LẠI là giả tưởng, nhưng nhân vật giữ đúng bản chất thật là nhân vật Mẹ tôi. Nếu chiến tranh đã lấy mất đi người Cha của tôi, thì cuộc đời đền bù lại khi ban cho tôi một người Mẹ vô cùng tuyệt vời. Tôi cũng xin cảm ơn sáu người anh em trai và hai chị em gái của tôi. Có được những tình tiết hài hước trong cuốn sách này, đó là vì tôi được sinh ra và lớn lên trong gia đình đầy những tiếng cười. Nếu tôi có thể vượt qua được những ký ức buồn, đó là nhờ các anh chị em tôi đã luôn có mặt để xoa dịu mọi vết thương. Và xin cảm ơn toà soạn của quý báo đã hỗ trợ tôi. Chúc quý vị một năm mới Nhâm Thìn nhiều gặt hái tốt đẹp.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22535/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>V&#224;i ph&#250;t với nh&#224; văn Song Thao nh&#226;n dịp PHIẾM 10 ch&#224;o đời</title>
		<link>http://damau.org/archives/22435</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22435#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Dec 2011 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lương Thư Trung</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22435</guid>
		<description><![CDATA[Các nhà phê bình liệt tôi vào loại tác giả “hội nhập”. Như nhà văn Nguyễn Mộng Giác ... đã nhận xét: “ [Đ]iều ... độc đáo nhất ... là nhân vật chính người Việt của Song Thao  không còn là tù nhân của bất cứ thứ ghetto nào .... Ra khỏi cái ghetto quá khứ Việt Nam, nhân vật truyện Song Thao mới ý thức được rằng nỗi đau Việt Nam không phải là nỗi đau ... chỉ có dân tộc chúng ta phải gánh chịu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote><p><b>LTS</b>: Cùng với bài phỏng vấn sau đây do anh Lương Thư Trung thực hiện, Da Màu mời quý độc giả vào thăm trang nhà của nhà văn Song Thao ở <a href="http://www.songthao.com/">http://www.songthao.com/</a> để thưởng thức các bài Phiếm và truyện ngắn của ông. Thêm một điều thú vị: xin đọc bài phỏng vấn về ông qua cái nhìn của bà Lê Diệu Hương, hiền thê của nhà văn, ở <a href="http://www.songthao.com/phongvan-ledieuhuong.htm">http://www.songthao.com/phongvan-ledieuhuong.htm</a>.</p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Kinh chào anh Song Thao,</p>
<p>Gặp anh hồi tháng Tám ở Katy và Houston (Texas), được biết anh có PHIẾM 9, nay tháng 11, anh lại cho chào đời PHIẾM 10, như vậy anh còn độ bao nhiêu PHIẾM nữa, thưa anh?</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong><strong></strong></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/Phiem-10-cover.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Phiem-10-cover" border="0" alt="Phiem-10-cover" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/Phiem-10-cover_thumb.jpg" width="204" height="322" /></a></p>
<p align="center"><em>Bìa PHIẾM 10, nxb Nhân Ảnh: Canada (11-2011)</em></p>
<p><strong></strong><strong></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><em>Đường đi của Phiếm tôi cũng không lường được anh ơi. Chỉ biết trước mắt là cuốn Phiếm 11 sẽ phát hành vào mùa hè năm 2012.</em></p>
<p><em>Chuyện nhìn vào tương lai là chuyện của mấy ông bà thầy bói mà tôi lại không có chút khiếu nào về cách nhìn vào những thứ ở phía trước mình cả.</em></p>
<p><em>Nhân câu hỏi của anh tôi nghĩ tới câu hỏi cho các bà bầu. Bà sẽ sanh bao nhiêu con tất cả? Câu hỏi còn tùy vào nhiều cái nếu, các bà chẳng bao giờ có thể trả lời dứt khoát được. Anh cứ coi tôi như một bà bầu đi! </em></p>
<p><em>     <br /></em><strong>LTT:</strong><em> </em></p>
<p>Tính sơ sơ mười cuốn PHIẾM của anh, mỗi cuốn khoảng 400 trang, như vậy anh đã có trên 4.000 trang sách phiếm rồi, vậy kể luôn các tập truyện, anh đã có được mấy ngàn trang chứ ít ỏi gì và do đâu mà anh viết được nhiều như vậy?</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><em>Chuyện viết tới 4000 trang Phiếm và khoảng 1500 trang truyện, nghĩ lại tôi cũng không hiểu tại sao tôi làm được. Đối với nhiểu tác giả, chuyện dài hơi còn dài hơn tôi nhiều, tôi còn…ngắn lắm. Nhưng có lẽ nhờ những người thích đọc như anh chị nên tôi cứ cặm cụi gõ lên bàn phím. Cái cách anh chị trân trọng những cuốn Phiếm của tôi trong dịp gặp anh chị vừa qua làm tôi hứng khởi thêm nhiều. À thì ra những gì mình làm cũng có người nồng nhiệt hưởng ứng!</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>     <br /></em><strong>LTT:</strong></p>
<p>Trở lại PHIẾM của anh, tôi có cảm tưởng qua hơn bốn ngàn trang sách Phiếm với tựa đề vỏn vẹn có một chữ, nếu người đọc chịu khó sắp xếp các tựa ấy theo mẫu tự ABC&#8230;, thì quả đây là một bộ &quot;<em>Tự Điển Về Điển Cố, Nhân Văn Hiện Đại&quot;</em> vô cùng hữu ích mà từ xưa tới nay chưa từng có, vì nếu ai muốn cần biết một sự kiện gì liên quan tới một chữ nào đó, người đọc cứ lần tìm chữ đó trong 10 cuốn Phiếm của nhà văn Song Thao là biết tường tận về nghĩa lý, về sự kiện xưa nay liên quan tới chữ đó qua mọi nơi, mọi thời&#8230; Anh có nghĩ vậy không?</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><em>Thực ra cũng khó coi Phiếm là một cuốn từ điển. Có những chữ tên bài mà nếu chưa đọc vào bài thì cũng không biết tác giả nói tới chuyện gì. Vậy thì tôi nghĩ nếu độc giả &quot;mua vui cũng được một vài trống canh&quot; là quý rồi. Khi viết Phiếm tôi chỉ cốt làm sao để cho người đọc cười được, tốt cho sức khỏe tâm thần và thể xác và nếu đi xa hơn chút xíu nữa, suy nghĩ về cái kết mà bài Phiếm muốn gửi tới độc giả là coi như bài phiếm thành công rồi. Phiếm chỉ là… phiếm thôi, thưa anh.</em></p>
<p><em>     <br /></em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Tôi đã đọc lại hết các bài phỏng vấn trên trang nhà Song Thao, qua các tên tuổi như Nguyễn Mạnh Trinh, Lê Quỳnh Mai, Quỳnh My, Hồ Đình Nghiêm…, dường như anh chưa lần nào nhắc đến bút hiệu Song Thao mà anh đã in trên các tác phẩm của anh. Vậy anh có thể nói sơ qua một chút về bút hiệu này ?</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Đó chỉ là một cái tên. May ra thì còn được mọi người nhớ tới. Tôi chọn bút hiệu này từ ngày mới viết, lúc mới 21 tuổi, bây giờ có lúc không vừa ý nhưng cũng phải chịu thôi. Dù sao nó cũng đã ăn ở với mình hơn nửa thế kỷ rồi!</em></p>
<p><em>“Dẫu từ lâu bỏ việc văn chương      <br /></em><em>Thiệt tình tên bạn ta không nhớ      <br /></em><em>Nhưng mà trông mặt thấy quen quen      <br /></em><em>Hề chi, ta uống cho say đã      <br /></em><em>Nào có ra gì một cái tên”.</em></p>
<p>Thơ Tô Thuỳ Yên đó anh Trung.</p>
<p><em></em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Cũng qua các bài phỏng vấn vừa nhắc, được biết anh đã viết Phiếm luận từ trước 1975 ở Sài Gòn, lúc bấy giờ anh thường viết về những đề tài nào?&#160; Chẳng hạn như “Tuổi trẻ và chiến tranh”, “Chiến tranh và đời sống nơi thành thị”, “Chiến tranh và hòa bình” hoặc “Nông thôn và chiến tranh” vân…vân..Sau này, anh có còn lưu giữ lại được vài ba bài nào để làm kỷ niệm không? Ngoài ra, so với những bài phiếm luận trước năm 1975 và những bài phiếm hiện nay, thì thời nào anh viết hứng thú nhất? Vì sao?</p>
<p><strong>ST: </strong></p>
<p><em>Trước 1975, tôi có viết những bài gọi là “phim” cho các báo hàng ngày, hàng tuần và mỗi nửa tháng như Dân Ý, Tìm Hiểu, Thời Nay, Thời Việt…Đó là những tờ mà tôi viết thường xuyên mỗi kỳ báo ra. </em><em>Thực ra những bài viết của tôi thời đó không hẳn là phiếm như những bài tôi viết tại hải ngoại bây giờ. Bây giờ viết tương đối thoải mái hơn. Mình sống kiểu sống nhờ tại một quốc gia mà mình bắt buộc phải nhận mình là công dân của quốc gia đó. Nó không là máu mủ của mình nên mình cũng không nợ nhiều như mình nợ đất nước mình. Ngày xưa những bài viết của tôi nặng về phần chỉ trích, chế giễu, đòi hỏi và có ý hướng cải thiện xã hội hơn. Chúng có cái vẻ…trâu đánh hơn. Ngày nay viết là viết lấy vui, cười với nhau, ngẫm nghĩ với nhau một cách chung chung, ba lơn ba cợt. Như vậy anh thấy cái tinh thần và mục đích của bài viết ngày trước và bây giờ đã khác nhau, khác xa lắm. Ngày xưa tôi viết khi còn đang đi làm, bận tíu tít. Có nhiều lần ông tùy phái của tòa báo phải tới sở làm của tôi đợi bài để mang về cho thợ sắp chữ gấp kẻo báo ra trễ. Ngày nay, hưu rồi, tiền sinh sống đã có chính phủ lo, tâm trí mình thảnh thơi hơn nhiều. Viết như một cái thú, thích thì viết, hứng thì viết, chẳng ai bắt, chẳng vội vàng chi. Cứ như rong chơi vậy anh ạ.</em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Trong PHIẾM 10 của anh, có cả thảy 31 tựa đề, từ An, Bẫy, Bít, Cãi, Cầu, Chơi, Gật, Giúp, Hỏi, Khác, Khiếm, Liệt, Mảnh, Mới, Ngã, Ngẫu, Ngọc, Nguyên, Nhân, Nước, Phở, Phofan, Quậy, Sinh, Thai, Thiêu, Thời, Tí, Xả, Xâm và sau cùng là Xoàn. Trong 31 tựa đề ấy, anh còn nhớ bài nào anh viết nhanh nhất và bài nào anh viết cực nhất, và vì sao, thưa anh?</p>
<p><strong>ST: </strong></p>
<p><em>Thường trước khi đặt bút viết (quen miệng nói vậy chứ thực ra cây bút chằng ăn nhậu gì tới việc viết cả, phải gọi là gõ mới đúng!) tôi đã thu thập đủ tài liệu và phân định dàn bài rồi. Khi viết là cứ việc…gõ thôi. Việc nhanh hay chậm là tùy cái hứng lúc gõ. Có bài tôi gõ trong một ngày, có bài lai rai vài ngày. Khi thấy trong người mỏi mệt, ngại động não, dòng văn không còn mượt mà vui tươi nữa thì tôi ngừng, kiếm ly nước, loanh quanh nghỉ ngơi, hay có khi lai rai cái bánh cái kẹo, rồi mới viết tiếp. Nhưng cũng có khi tới hẹn giao bài cho tòa báo, ngừng không được thì cũng cứ viết. Một chặp thì cái hứng nó cũng tới. Hóa ra cái hứng nó nằm vùng trong mình rồi, khi nó tạm lánh mặt là vì cái lười, cái mệt nó lấn áp. Nhưng thường thì tôi viết nhẩn nha thoải mái. Vậy nên chẳng bao giờ tính thời gian cả. Có đi làm đâu mà tính giờ ăn tiền! Con cái tôi là con đàn con đống, biết đứa nào làm mình cực hơn đứa nào được!</em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Ngoài ra, trong mạch phiếm của anh nói chung và Phiếm 10 nói riêng, có cái nét rất đặc biệt là đang khi giống như anh muốn làm cho người đọc giải trí một chút qua những ý tưởng dí dỏm, tức cười rồi bỗng nhiên giọng văn của anh lại nghiêm trang trở lại tức thời với những kết luận quan trọng hết biết chứ không phải chỉ là chuyện giỡn chơi với những chứng cứ, bút lục không ai có thể bắt bẻ được.</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><em>Tôi còn nhớ khi học với Linh Mục Thanh Lãng tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn về môn “Văn Chương Miền Nam” cha luôn nhấn mạnh đến một đặc tính của văn chương miền này. Đó là lối viết “trơn tuột như lời nói”. Tôi lại nhớ là hồi đó tôi rất thích văn chương miền Nam và sau khi hoàn tất văn bằng Cử Nhân tôi đã khởi sự làm luận án Cao Học với đề tài Hồ Biểu Chánh. Rất tiếc là sau đó, vì công ăn việc làm, tôi đã không đi tới cùng của công việc này. Khi viết phiếm tôi cũng cố viết theo kiểu “trơn tuột như lời nói”. Như trò chuyện với độc giả. Tính tôi lại ưa cà giỡn, ít nghiêm trang nên những trang viết của tôi cũng ba lơn rất không vừa lòng ông Khổng Tử. Những lúc anh nhận thấy văn của tôi “nghiêm trang” có lẽ vì khi đó tôi đang đề cập tới chuyện gai góc làm mình hết ba lơn ba cợt được. Nhưng theo tôi cảm thấy khi viết thì khi nào tôi thấy những con chữ có vẻ ít …phiếm là tôi trở lại lối viết ít nghiêm trang liền. Tôi luôn muốn gửi tới người đọc những lông hồng chứ không muốn đè họ bằng một tảng đá.</em></p>
<p><em>Sẵn anh hỏi, tôi cũng nói luôn, là khi viết truyện hay viết phiếm hoặc viết bất cứ thể loại nào, tôi cũng nắm lấy cái kết trước. Tôi nghĩ tới cái kết trước khi bắt đầu gõ. Chưa có cái kết là chưa chín để viết. Như một thứ trà ngon thì phải có cái hậu vị! Có lẽ vì vậy nên rất nhiều độc giả đã nói với tôi là những bài viết của tôi không chấm dứt khi họ buông cuốn sách. Người đọc còn phải vấn vương sau khi đọc xong.</em></p>
<p><em>Nhận xét của anh chứng tỏ là anh đọc tôi rất kỹ. Có được một người đọc như anh thật sướng!</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Đọc Phiếm của anh làm tôi chợt nhớ lại trong &quot;<em>Cổ Văn Trung Quốc</em>&quot; có bài nghị luận &quot;<em>Tránh Thần Luận&quot;</em> của Hàn Dũ, Nguyễn Hiến Lê dịch là <em>&quot;Luận Về Nhiệm Vụ Của Chức Gián Nghị&quot;, </em>và cảm tưởng của dịch giả Nguyễn Hiến Lê ở cuối bài: &quot;<em>Thắt rồi cởi, bao khắp phía rồi mở cho một lối thoát, nhờ thuật đó mà bài này được nhà Nho cho là một áng văn kiểu mẫu trong thể nghị luận. Mỗi khi bác bẻ, Hàn Dũ đều dẫn lời trong sách cổ (lời Kinh Dịch, lời Mạnh Tử, lời Kinh Thư, lời trong Truyện); điểm đó cũng được cổ nhân khen lắm.&quot;(1). </em></p>
<p><em></em>Phương pháp vừa dí dỏm vừa nghiêm trang đó do anh tự sáng chế lấy khi mới bắt đầu viết Phiếm luận trên các báo trước năm 1975 hay anh mới áp dụng khi bắt đầu trở lại Phiếm sau này ?<em> </em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><em>Trước năm 1975, những trang viết của tôi khác bây giờ rất nhiều. Có lẽ vì hồi đó tôi còn trẻ, máu còn nóng và còn rất mật thiết với những vấn đề xã hội. Khi mình sống trong đất nước của mình, mình tự cảm thấy mình là một phần máu mủ của xã hội. Khi thấy những bất công, sai trái, mình dễ nhào vô ăn thua đủ. Vì vậy, như tôi đã trình bày ở trên, những bài viết hồi đó …trâu đánh hơn. Ngày nay, tuổi đã cứng, sống trong xã hội dù sao cũng của người ta, mình tự cảm thấy lạc lõng hơn. Thế giới chung quanh hình như không phải của mình, hình như máu mủ của mình không nằm ở nơi đây, hình như mình không thấy thoải mái với người và cảnh nơi đây. Không có sự liên quan mật thiết nên mình quay về với mình, với cộng đồng riêng của mình, chuyện viết lách là một cách thế để mình thoát ra khỏi sự tù túng. Vậy nên những con chữ nằm thảnh thơi hơn. Nếu khi nó dí dỏm, khi nghiêm trang thì cũng tại lòng mình không phân định được vị trí của mình trong cái không gian mình sống thôi. Ngày trước, trong không gian cũ, tôi nghĩ là tôi không có cái thắt mở như anh thấy. Hay tại bây giờ mình… sinh tật!</em></p>
<p><strong>LTT: </strong></p>
<p>Đó là nói về Phiếm. Giờ xin nhắc qua một chút về Truyện của nhà văn Song Thao. Ngoài bảy tập truyện ngắn <em>Bỏ Chốn Mù Sương (Kinh Đô, Houston, 1993), Đong Đưa Cuộc Tình (Ngày Nay, Houston, 1996), Còn Đó Bóng Hình (Văn Mới, California, 1997), Chân Mang Giày Số 6 (Văn Mới, California, 1999), Cuối Ngày, Một Lần Ngồi Lại (Văn Mới, California, 2000), Bên Lưng Những Con Chữ (Văn Mới, California, 2003) và Chốn Cũ (Nhân Ảnh, Toronto, 2006)</em> anh có dự định sẽ cho chào đời thêm tập truyện nào nữa không ? Và nếu có, những truyện ấy chắc anh cũng đã viết trong vòng gần bốn năm năm nay rồi (từ 2006 tới nay), như vậy có lẽ sẽ có nhiều cái mới như cốt truyện, không gian, tâm lý nhân vật và chủ đích của tác giả nữa bởi lẽ mỗi thời đại những sự việc diễn ra mỗi khác, và nhất là tâm lý các nhân vật cũng cùng với thời đại mà thay đổi đi nhiều, phải thế không anh ?</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BCMS-cover.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BCMS-cover" border="0" alt="BCMS-cover" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BCMS-cover_thumb.jpg" width="224" height="351" /></a></p>
<p align="center"><em>Bỏ Chốn Mù Sương, nxb Kinh Đô: Hoa Kỳ (1993)</em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Tôi có một nỗi buồn: từ khi xuất bản tập truyện thứ bảy “Chốn Cũ”, tôi không viết thêm được truyện ngắn nào nữa. Đã nhiều lần tôi muốn viết lại, dựng truyện trong đầu, tưởng chỉ việc ngồi gõ bàn phím là xong, nhưng cũng không xong. Trong một lần gặp nhà văn Huy Phương ở Little Saigon, anh có than với tôi “Tay phiếm giết chết tay truyện”. Hồi đó, chắc cũng bảy tám năm trước, tôi vừa bắt đầu viết phiếm, chưa thấy anh phiếm ra tay sát thủ nên nghe là nghe vậy thôi. Nhưng sau đó, lậm vào phiếm mới thấy cái tay viết truyện rời rã. Cho tới khi về lại Hà Nội vài ngày, thăm lại chốn cũ, đi bộ lại đoạn đường mình vẫn đi học ngày xưa, la cà tới những chỗ mình vẫn nô đùa với bạn bè ngày cũ như thảm cỏ trước Nhà Bác Cổ, sân nhà thờ Hàm Long, hông nhà thờ Lớn, những rạp chớp bóng trên phố Huế, lề đường trước căn nhà cũ… tôi bỗng xúc động và viết thêm được cả một cuốn truyện. Sau đó, cái hứng lại bỏ tôi đi. Từ đó tới nay chẳng viết được thêm truyện nào nữa. Tiếc chứ! Tiếc ngẩn tiếc ngơ, lòng dặn lòng nhất định có ngày sẽ lại trở về với truyện. Cho tới nay ngày đó vẫn chưa thấy ở cuối chân trời!</em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BLNCC.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BLNCC" border="0" alt="BLNCC" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BLNCC_thumb.jpg" width="204" height="318" /></a></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p align="center"><em>Bên Lưng Những Con Chữ, </em><em>nxb Văn Mới:&#160; California (2003)</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Về bút pháp, qua các truyện ngắn của anh mà tôi đã đọc khá lâu và nay đọc lại trong hai cuốn <em>“Bỏ Chốn Mù Sương”(2) và “Bên Lưng Những Con Chữ”(3), </em>tôi có mấy ghi nhận truyện của anh, trước nhất về cốt truyện rất hạp với tình và cảnh, chẳng hạn trong truyện ngắn <em>Bỏ Chốn Mù Sương</em> tả về đời sống những nữ sinh viên nội trú trong một ký túc xá nữ sinh trên Đà Lạt vừa muốn học mà cũng vừa mong chờ những cuộc tình. Thế rồi cô sinh viên ngành khoa học, nhân vật xưng tôi ấy, mới 20 tuổi từ Nha Trang lên Đà Lạt học cứng cỏi với cái nhìn và nhận định chính xác như toán học, không chọn lựa ai, thế mà vẫn muốn có người yêu và rồi đành bỏ Đà Lạt về Sài Gòn để theo tiếng gọi con tim của cái thời đang âm ấp lửa yêu đương ấy. Hoặc như truyện ngắn <em>Theo Dòng Thác</em> (4), nhân vật nam là Cảnh gốc Đà Lạt và người con gái Ba Tây lai Đức có tên Kristina trong một khóa tu nghiệp chuyên môn quốc tế về hành chánh tại Hoa Kỳ, họ có chung niềm đam mê là thích nghe tiếng róc rách của những dòng suối len lỏi qua những bờ đá thấp và tiếng nước chảy của những dòng thác khi đổ từ trên cao xuống vực sâu và rồi như một định mệnh, họ lại có dịp đến thác Niagara nằm giữa bên này và bên kia của biên giới Hoa Kỳ và Canada khi ban tổ chức khoá tu nghiệp có một thay đổi thời khoá biểu nên có mấy ngày họ từ Hoa Thịnh Đốn được đưa về Buffalo thuộc tiểu bang New York để dự lễ bế mạc khóa tu nghiệp về Công Tác Xã Hội tại đây và rồi hai con người cùng ý thích ấy họ có những giờ phút tuyệt diệu thực hiện một triết lý sống mà Kristina từng ấp ủ<em>:”Cuộc sống như một dòng thác, đời người như chiếc lá theo dòng. Biết lúc tĩnh, biết lúc động, đó là biết sống.”(5) </em>Và cả trong <em>Đà Lạt Nhớ (6) </em>nữa, mỗi mỗi truyện của anh, khi anh tả cảnh thì cảnh chìm trong lòng bàng bạc những sắc trời, khi anh tả nỗi nhớ thì ôi thôi nhớ ơi là nhớ; khi anh tả nỗi đau như trong <em>Người Thay Áo (7), Chuyến Đi Không Hẹn (8) </em>thì nỗi đau tím ngắt con tim…</p>
<p>Nhờ đâu mà anh có những bút pháp như vậy, thưa anh?</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Khi viết truyện tôi đặt tất cả con người tôi vào truyện. Thường thì tôi sống với nhân vật một thời gian rồi mới đặt bút viết (hồi đó còn viết trên giấy chứ chưa gõ thẳng trên bàn phím). Vậy nên khi viết, tôi đã sống nhuyễn với nhân vật rồi. Tất cả những tình cảm, lối cư xử, cách ăn nói đều là của nhân vật. Rất nhiều lần, cốt truyện tôi phác ra trước bị chính nhân vật dẫn dắt tôi đi theo một lối khác. Hiện tượng…tha hóa này tôi đã có lúc đọc được trong các hồi ký hay tự sự của các nhà văn Việt Nam cũng như ngoại quốc và tôi không tin. Làm chi có chuyện các nhân vật trong truyện “quyền năng” đến thế! Nhưng đúng như vậy anh Trung ạ, có những lúc nhân vật nổi loạn dắt tác giả đi theo.</em></p>
<p><em>Trở lại câu hỏi của anh, tôi nghĩ có lẽ vì sống hết lòng với nhân vật nên bút pháp cũng theo đó mà đi. Cái ma lực của ngòi bút khó cưỡng nổi lắm anh ạ. Mà cưỡng làm chi anh nhỉ?</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Đọc một truyện nào đó, tôi thường không quan tâm nhiều đên nhân vật đó có thật hay không thật, bởi lẽ nhân vật chỉ là một cơ hội, chỉ mang tính tượng trưng để từ đó tác giả giải bày kiến thức mình, gởi gấm tâm sự mình và điều chính yếu là người đọc phải tìm hiểu tư tưởng của tác giả, ý nghĩa cao siêu của tác phẩm chứ không phải chỉ là tâm lý cá biệt của nhân vật ấy. Do đó, tác giả dễ có xu hướng can thiệp vào nhân vật và rồi đôi lúc anh lại bị <em>“nhân vật nổi loạn dắt tác giả”</em>, nghĩ cũng là một cái thú của tác giả mà người thường như tôi làm sao có được. Như vậy văn hay hoặc dở đâu phải là do nhân vật đó có thật hay không thật phải thế không anh?</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Nhân vật do tác giả tạo ra nhưng chúng có đời sống của chúng. Chúng phải sống trong hoàn cảnh cũng do chính tác giả dựng nên. Nhưng tác giả không phải là ông trời muốn bẻ cong nhân vật hay muốn vẽ vời ra cái hoàn cảnh thế nào cũng được. Nhân vật và cảnh giới trong truyện phải xứng với đời thường trong cách cư xử, ăn nói. Nếu bắt nhân vật lên gân giảng giải những tư tưởng của tác giả, nhân vật sẽ cứng, không thiệt, tính thuyết phục sẽ mất. Tôi thấy có nhiều tác giả muốn “tải đạo” một cách say sưa quá đã làm chết nhân vật. Nhân vật “con” không thể nói như nhân vật “bố”, nhân vật “chủ” không có tư tuờng và ngôn ngữ như nhân vật “người làm”, thí dụ như vậy. Vậy nên, như tôi đã đề cập ở trên, tác giả cần sống với nhân vật trước khi cho chúng…múa may.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Thấp thoáng trong các truyện của anh có thời tuổi trẻ, có chiến tranh, có lúc lao đao khốn cùng vì những biến thiên của thời cuộc, của dòng đời&#8230; Ở mỗi mỗi thời khắc trôi qua ấy, truyện của anh diễn lại gần hết những cảnh đời vui lẫn buồn, hạnh phúc lẫn âu lo, đợi mong lẫn tuyệt vọng… Thưa anh Song Thao, phải chăng nhà văn là người luôn luôn muốn phác họa lại hoàn cảnh xã hội một thời mà mình đã và đang sống không?&quot;</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Trong các bài điểm sách hoặc phê bình truyện của tôi, tôi được liệt vào loại tác giả “hội nhập”. Nghĩa là vứt vào đâu cũng sống được! Như nhà văn Nguyễn Mộng Giác, trong bài Tựa của tập truyện “Chân Mang Giầy Số 6” đã nhận xét:</em></p>
<blockquote><p>Nhưng điều quan trọng nhất, độc đáo nhất trong cách viết của Song Thao, là nhân vật chính người Việt của ông không còn là tù nhân của bất cứ thứ ghetto nào, bất cứ thứ mặc cảm nào, bất cứ thứ hoang tưởng nào. Ra khỏi cái ghetto quá khứ Việt Nam, nhân vật truyện Song Thao mới ý thức được rằng nỗi đau Việt Nam không phải là nỗi đau duy nhất chỉ có dân tộc chúng ta phải gánh chịu. Khi chấm dứt trò chơi nuôi sẹo và ngắm sẹo, chúng ta sẽ thấy những người di dân thuộc các sắc tộc khác sống chung quanh chúng ta cũng có những bi kịch riêng của họ, nhiều khi bi kịch của họ còn khốc liệt hơn cả những gì chúng ta đã trải qua…Ra khỏi cái ghetto quá khứ Việt Nam, nhân vật truyện Song Thao mới thấy những người cùng làm việc ở sở, những người láng giềng, những khách qua đường khác chủng tộc với mình cũng &quot;hiện diện&quot;, có những nỗi lo riêng, nỗi buồn riêng, có tiếng cười tiếng khóc của riêng họ, và xét đến cùng thì tiếng khóc tiếng cười của họ không khác tiếng khóc tiếng cười của chúng ta bao nhiêu.</p>
</blockquote>
<p><em>Nhà phê bình trong nước Hoàng Ngọc Hiến, trong bài “Đọc Văn Học Hải Ngoại”, đã phân tích sự “hội nhập” của hai nhân vật trong truyện của tôi:</em></p>
<blockquote><p>Nhân cách của Loan và Ngạn biểu lộ khá rõ trong cuộc liên hoan tạm biệt ngẫu hứng, đặc biệt được thể hiện trong cách ứng xử của họ với những người thợ Tây khác, với ông chủ người Mỹ và trong quan hệ của hai người với nhau. Họ không giống như những người ngụ cư rụt rè, khép nép ngồi lủi sang một bên, trong khi đám quan viên làng tự do ăn nói. Loan đã xóa bỏ được hàng rào ngôn ngữ, không có mặc cảm, mỉm cười thoải mái với những người bạn Tây, sẵn sàng đùa giỡn, đối đáp… Một tác phong rất Tây, theo nghĩa tốt đẹp của từ này. Diễn đạt một cách triết học, thì đây là “cá tính tự do”. Một nét đẹp của nhân cách con người trong xã hội dân chủ.</p>
</blockquote>
<p><em>Nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh, trong bài “Những Chốn Cũ Của Song Thao”, cũng đã có nhận xét về sự hội nhập trong các truyện của tôi:</em></p>
<blockquote><p>Song Thao có thể sinh sống trong môi trường đa văn-hóa hơn và chịu khó quan sát, đã viết về một hội-nhập tích cực, đa diện hơn, ông đã tài tình dùng kinh-nghiệm, quan sát và hiểu biết riêng để khai thác tâm lý của các nhân vật và sắp xếp các diễn tiến.. Người kể Song Thao đa mang truy tìm trong kho chất liệu quá khứ nhưng không hẳn để tái tạo lại dĩ vãng dù có thể vàng son đến mấy, nhưng từ đó, tác-giả, cùng với những chi tiết ngoài, tạo dựng nên đời sống tiểu-thuyết, văn-chương. Có thể nói Song Thao chạy đuổi theo đời sống tiểu-thuyết với quá khứ của ông và cả của thế hệ ông, như một người thông suốt mỗi khi đặt chúng vào ngoại cảnh hôm nay”.</p>
</blockquote>
<p><em>Viết về một hoàn cảnh nào, tôi thường sống trong hoàn cảnh đó. Rất nhiều trang truyện của tôi là trong hoàn cảnh thực nhưng cũng rất nhiều hoàn cảnh chỉ là hư cấu. Nhưng dù thực hay được hư cấu, tôi cũng đã dùng óc quan sát để dựng chúng lại một cách trung thực nhất có thể được trong truyện. Truyện của tôi có chân đứng trong hoàn cảnh thực nên câu hỏi của anh “phải chăng nhà văn là người luôn luôn muốn phác họa lại hoàn cảnh xã hội một thời mà mình đã và đang sống” rất thích hợp với truyện của tôi.</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Qua các bài phỏng vấn của các vị phỏng vấn chuyên nghiệp mà tôi có nhắc bên trên, được biết quan niệm của anh là nhà văn không có mang một “<em>sứ mệnh”</em> nào cả, viết chỉ vì mình thích viết, vậy thôi; nhưng những trang sách của anh dù muốn dù không nó cũng mang đến cho người đọc những nhung nhớ về một thời kỳ mà họ có dịp sống cùng thời với tác giả, về phương diện rất riêng của một người viết rất nhiều như anh, anh có thấy mình có trách nhiệm gì về những trang sách ấy không ?</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Đúng như anh vừa nhắc tới: viết đối với tôi chỉ là mình thích viết, chẳng bắt những trang chữ khệ nệ vác một “sứ mệnh” nào cả. Nghe thấy chữ “sứ mệnh” tôi đã thấy sợ! Ông bạn tôi, nhà thơ Luân Hoán, trong một cuộc phỏng vấn của báo Văn Học, California, vào năm 1996, trả lời câu hỏi ngắn ngủn: “Tại sao viết?”, ông Luân Hoán nói là “vì thích nổi tiếng”. Nghe thật thà biết bao. Cũng trong cuộc phỏng vấn đó, trả lời cùng một câu hỏi, tôi cũng ngắn gọn: “Không cách gì mà không viết được! Viết là một cách giải thoát!”.</em></p>
<p><em>“Văn dĩ tải đạo” là ý niệm xa lạ với tôi. Khi tôi viết tôi chẳng nghĩ mình “tải” cái gì cả. Thích thì viết. Viết xong thấy như vơi được những chất chứa trong lòng. Khoái lắm chứ! Nếu truyện hay phiếm của mình được đón nhận nồng nhiệt thì còn khoái hơn nữa. Nếu chẳng may mình “nổi tiếng” thì còn khoái thêm một bậc nữa. Ông Luân Hoán nổi tiếng từ lâu chắc có kinh nghiệm nên chẳng cần giấu giếm cái thú…nổi tiếng. Nhưng dù những trang viết của mình được đón nhận như thế nào, cũng cứ viết. Bởi vì viết, trước hết, là viết cho mình. Viết cho mình nhưng không phải muốn viết chi thì viết. Cần tôn trọng những người khác, những người đã hy sinh thời giờ, tiền bạc ra để mua và đọc những gì mình viết. Vậy nên tôi nghĩ muốn viết chi cũng phải viết với trách nhiệm của mình. Với độc giả, với xã hội và với lương tâm của chính mình.</em></p>
<p><em>Viết cũng như đi giây làm xiếc. Không những cần vững tay để khỏi té mà còn phải trình diễn cho hay. </em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p>Nhà văn Nguyễn Hiến Lê có lần nhận định: <em>“Cho hay văn cốt để cảm người, mà khi cảm xúc đã cực mạnh thì cứ bình dị, tự nhiên diễn nỗi lòng của mình ra là đủ. Kỹ thuật lúc đó không còn cần thiết nữa.” (9)</em>. Và rồi tôi lại được anh chia sẻ: “<em>Khi viết phiếm tôi cũng cố viết theo kiểu “trơn tuột như lời nói”. Như trò chuyện với độc giả.”</em>, như vậy, có được văn phong <em>“trơn tuột như lời nói”</em> cũng đã là một kỹ thuật khó khăn lắm rồi! Phải thế không anh Song Thao?<em>. </em></p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Tôi thấy vấn đề không phải là kỹ thuật. Văn phong là con người tác giả. Cứ thành thật khi viết là ló ra cái văn phong riêng của mình. Nếu điệu đà bắt chước lối viết của người này người kia thì độc giả biết ngay là…đồ giả! Nhưng xây dựng truyện thì quả có kỹ thuật xen vào. Đó là cách đóng mở, thêm gia vị tiêu hành tỏi mắm vào một cách vừa phải, không lạt quá mà cũng không mặn quá.</em></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Ngoài Phiếm và Truyện, anh có lần nào mê dịch thuật không? Nếu có, anh thường dịch các tác phẩm văn chương hay báo chí và sách tiếng Pháp hay sách tiếng Anh? Công việc dịch thuật ấy có giúp cho công việc trước tác của anh nhiều lắm không ? Nhà văn Nguyễn Hiến Lê có lần cho rằng “<em>Dịch văn cũng là một cách luyện văn”</em> (10), theo anh có đúng vậy không?</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Trước đây, khi làm báo ở Sài Gòn, tôi cũng thường hay dịch, nhất là dịch truyện ngắn trên báo Văn Học do Dương Kiền và Phan Kim Thịnh chủ trương. Nhưng từ lúc sang bên đây, khi còn đi làm thì kiếm ra giờ để viết cũng không đủ lấy đâu giờ để dịch. Bây giờ nghỉ làm thì lại lậm vào chuyện viết phiếm. Phiếm đã lấy hết thời giờ của tôi.</em></p>
<p><em>Dịch có cái thú của dịch, chỉ hơi mỏi tay khi đánh vật với những cuốn từ điển! Đó là nói về những dịch giả cẩn tắc, thận trọng trong công việc của mình. Nếu dịch qua quít theo kiểu…mắc dịch thì lại khác, ít mỏi tay hơn. Cho tới bây giờ, tôi luôn luôn quý trọng những dịch giả. Họ là những người nối hai đầu cấu của ngôn ngữ làm phong phú thêm cho văn học và làm cho những người không cùng chung một ngôn ngữ có thể xáp lại gần nhau hơn.</em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>LTT:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Trước khi dừng lại ở đây, tôi vẫn mơ có một ngày nào đó được đọc thêm truyện mới của anh, bởi lẽ, với cái nhìn rất chủ quan và thô thiển của tôi, Phiếm của Song Thao là sự đời muôn mặt và Truyện của Song Thao là tâm hồn của một nhà văn trôi bếnh bồng trên những trang sách dễ thương biết bao!</p>
<p>Xin chân thành cảm ơn anh đã bỏ thì giờ chia sẻ cùng bạn đọc về Phiếm, về Truyện rất chí tình. Kính chúc anh chị dồi dào sức khoẻ, vạn an, hạnh phúc.</p>
<p>Trân trọng,</p>
<p><strong>ST:</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><em>Tôi vẫn còn mê chữ nghĩa lắm và chắc không bao giờ hết mê. Hai thể loại mà tôi thường viết là truyện và phiếm tôi đều mê cả. Không hiểu tại sao tôi lại đa mang như vậy. Bởi thế nên tôi cũng hy vọng một lúc nào đó, khi các nhân vật truyện tới đòi nợ tôi, tôi sẽ có truyện mới để anh đọc. Anh cứ xúi các nhân vật truyện đi, vẻ chân thật và nhiệt thành của anh coi bộ cũng được việc lắm đấy!</em></p>
<p><em>Xin cám ơn anh đã đặt ra cho tôi những câu hỏi mà tôi chắc anh cũng phải dày công nghĩ ngợi. Cám ơn anh đã cho tôi cơ hội để có dịp trò chuyện với anh và với các độc giả.</em></p>
<p><em>Xin cám ơn quý vị đã chịu khó theo dõi cuộc chuyện trò của anh em chúng tôi.</em></p>
<p>&#160; <br />Houston, ngày 20 tháng 11 năm 2011.</p>
<p><em></em></p>
<p><strong>Phụ chú:</strong></p>
<p><em>1/ &quot;Cổ Văn Trung Quốc&quot;, Nguyễn Hiến Lê dịch, nhà Tao Đàn xuất bản, Sài Gòn, 1966, trang 252.</em></p>
<p><em>2/ Tập truyện Bỏ Chốn Mù Sương của Song Thao, nhà xuất bản Kinh Đô, Hoa Kỳ, năm 1993.</em></p>
<p><em>3/ Bên Lưng Những Con Chữ của Song Thao, nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ, năm 2003.</em></p>
<p><em>4/ Theo Dòng Thác trong tập truyện Bỏ chốn Mù Sương (sđd), trang 51.</em></p>
<p><em>5/Tập truyện “Bỏ Chốn Mù Sương , sđd, trang 63.</em></p>
<p><em>6/ Tập Truyện “Bên Lưng Những Con Chữ”,sđd, trang 187.</em></p>
<p><em>7/ Tập truyện Bỏ Chốn Mù Sương”, sđd, trang 167.</em></p>
<p><em>8/ Tập truyện Bên Lưng Những Con Chữ, sđd, trang 123.</em></p>
<p><em>9/ Cổ Văn Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, sđd, trang 272.</em></p>
<p><em>10/ Luyện Văn của Nguyễn Hiến Lê, quyển 3, nhà xuất bản Nguyễn Hiến Lê, Sài </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22435/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thanhha Lai: từ trong ra ngo&#224;i rồi bắt đầu lại</title>
		<link>http://damau.org/archives/22116</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22116#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Nov 2011 08:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanhha Lai</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22116</guid>
		<description><![CDATA[Tôi không biết đọc một quyển sách nhi đồng / Có ai tin rằng tôi đã đọc Nhất Linh? / Nhưng rồi ai đây biết ông là ai?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/Thanhha-portrait.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="Thanhha-portrait" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/Thanhha-portrait_thumb.jpg" alt="Thanhha-portrait" width="182" height="222" border="0" /></a></p>
<p align="center"><span style="font-family: 'Times New Roman'; font-size: x-small;"><em>Thanhha Lai</em></span> </p>
<blockquote><p><strong>Lời Giới Thiệu:</strong> Tiểu thuyết thơ <em>Inside Out and Back Again (Từ Trong Ra Ngoài Rồi Bắt Đầu Lại) </em>(nxb HarperCollins:<em> </em>2011) của Thanhha Lai vừa được chọn vào danh sách chung kết của National Book Award (Giải Thưởng Toàn Quốc), thành phần sách Thiếu Niên (Young Adults). Những bài thơ trong “tiểu thuyết” này được tác giả ghi ngày, tháng, năm, bắt đầu với ngày đầu xuân năm 1975 ở Sàigòn, Việt Nam và kết thúc vào một năm sau, là ngày Mùng Một Tết năm 1976 tại Montgomery, Alabama, qua cái nhìn của nhân vật kể chuyện, một cô bé 10 tuổi tên Hà.</p>
<p>Theo <em><a href="http://www.publishersweekly.com/pw/by-topic/authors/interviews/article/47651-spring-2011-flying-starts-thanhha-lai.html">Publishers Weekly</a></em>, Lai đã sáng tác <em>Từ Trong Ra Ngoài Rồi Bắt Đầu Lại</em> với lời thơ đơn sơ nhưng tượng hình, để diễn tả bằng tiếng Anh cách một đứa trẻ suy nghĩ trong tiếng Việt. &#8220;Việt Nam là một ngôn ngữ đa cảm, và 80% của nó có nguồn gốc từ tiếng Trung Hoa &#8211; một ngôn ngữ được cấu trúc với ký hiệu khai triển từ những hình ảnh không lời.” Kết quả của nỗ lực này là một câu chuyện lập thân (<em>bilsdungroman</em>) với cấu trúc giản dị nhưng hàm súc, khai phá kinh nghiệm di dân của Hà, cùng ba anh em và một bà mẹ góa.</p>
<p>&#8220;Cấu trúc đại cương của tiểu thuyết thơ cũng tương tự như đời sống thật của tôi, nhưng tôi đã thay đổi một vài sự kiện để tạo sự hồi hộp,&#8221; Thanhha Lai phát biểu. Cô cô đọng hóa sự kiện, thêm thắt kịch tính cho một vài nhân vật và giảm sáu người anh của cô xuống thành ba người. Cô cũng loại bỏ hai người chị và biến Hà thành đứa con gái duy nhất trong gia đình, để nhấn mạnh chuyện các anh trai của Hà được ưu đãi vì họ là phái nam. Trong suốt tác phẩm, tác giả cố duy trì những cảm xúc đã trải qua trong đời thực của mình. &#8220;Khi gia đình chúng tôi đến Alabama và tôi bị trêu ghẹo, lúc đó, như nhân vật Hà, tôi rất tức tối và cảm thấy bị lạc lõng. Như Hà, tôi cũng chán nản và trải qua nhiều khó khăn khi mới học tiếng Anh.&#8221;</p>
<p>Thanhha Lai hiện là giảng viên khoa viết văn và phê bình văn chương tại trường Thiết Kế Parsons, thành phố New York.</p>
<p>-<strong>Đinh Từ Bích Thúy </strong></p>
<p>&nbsp;</p></blockquote>
<p><em><strong>Chân dung của Thanhha Lai (theo chính lời tác giả</strong>):<br />
</em><br />
“Tôi sinh ra đời ở Việt Nam vào năm 1965 (năm Tỵ), nơi tôi có một đời sống ấu thơ khá êm đẹp. Tôi đi học, thích ăn vặt, được thầy giáo cưng nhất lớp, và là con út trong một gia đình có chín người con. Vâng, tôi biết &#8230; chín anh chị em. Nhưng đó là thời chiến, và người ta được khuyến khích là nên đẻ nhiều con.</p>
<p>Ngày 30 tháng Tư 1975, người miền Bắc thắng trận, nên cả gia đình tôi [trừ ông bố đã mất tích trong chiến tranh] chen nhau lên một con tàu hải quân và sau đó định cư ở Montgomery, Alabama. Chúng tôi không biết tí gì về Alabama để lựa chọn nơi này, nhưng để nhập cảnh vào Hoa Kỳ, dân tị nạn phải được người bản xứ bảo lãnh. Một người đàn ông từ tiểu bang Alabama lúc đó đã dám bảo lãnh 10 người trong gia đình tôi là mẹ tôi và chín anh chị em tôi.</p>
<p>Cuộc sống lúc đó trở nên phức tạp hơn, vì tôi không biết nói tiếng Anh và chưa lần nào trong đời ăn bánh mì kẹp <em>hot dog</em>. Thêm vào đó là khuôn mặt của tôi. Tôi là học sinh Á Đông đầu tiên mà các bạn học cùng lớp đã tận mắt thấy trong đời. Phải mất gần 10 năm sau tôi mới hội nhập được vào xã hội Mỹ và học tiếng Anh đúng ngữ pháp.</p>
<p>Sau khi rời Alabama chúng tôi dọn đến Ft. Worth, Texas, nơi tôi theo học trung học. Tôi tốt nghiệp với bằng cử nhân báo chí từ Đại học Texas, Austin.</p>
<p>Sau đó tôi làm phóng viên khoảng hai năm cho tờ <em>Orange Register</em> ở miền Nam Cali, tường trình về những sinh hoạt của cảnh sát địa phương. Rồi tôi có một ý định ngông cuồng là tôi phải nghỉ việc để sáng tác văn chương. Sau nhiều thất bại và với bằng Cao Học Nghệ Thuật (Master of Fine Arts) về ngành viết văn từ Đại học New York, tôi đã có trong tay quyển tiểu thuyết đầu tay.</p>
<p><em><strong>Sở thích, đam mê, và sinh hoạt hàng ngày</strong></em>:</p>
<p>Tôi cố gắng đọc một quyển tiểu thuyết mỗi đêm. Tôi đọc sau khi con gái tôi đi ngủ. Nếu tôi thích quyển nào, tôi sẽ đọc từng chữ cho đến khi tôi đọc hết truyện. Nếu tôi không thích gì mấy, tôi sẽ lật nhanh truyện để cảm nhận nội dung/bản chất của một tác giả.</p>
<p>Tôi có cơ hội viết từ thứ Ba đến thứ Sáu trong tuần, thông thường là vậy. Luôn luôn sẽ có một cái gì đó làm gián đoạn quá trình viết của tôi, nhưng tôi có khoảng 15 giờ một tuần để ngồi và coi chuyện gì sẽ nảy ra từ đầu mình.</p>
<p>Tôi có một khu vườn. Tôi ném hạt giống xuống để xem những thứ gì sẽ mọc lên. Thông thường, cà chua và cải xoăn (<em>kale</em>) thắng thế. Và tôi cũng có những bụi cây mâm xôi ngâm trong chậu &#8211; để dễ tưới nước.</p>
<p>Tôi rất thèm có một chuồng gà. Chỉ cần ba con gà mái, hiền hòa và chăm chỉ. Nhưng cho đến nay tôi chỉ đọc về những người nuôi gà trong thành phố, hoặc ở ngoại ô. Tôi đang mưu đồ .…</p>
<p>Tôi tập thể dục bởi vì tôi thực sự không thể ngồi yên một chỗ, tuy hiện nay chuyện sáng tác đòi hỏi tôi phải ngồi yên một chỗ. Tôi đi xe đạp 10 dặm đến trường [Parsons] vào những ngày phải dạy học. Còn không thì tôi chạy bộ chút đỉnh. Sau đó, tôi về nhà và ăn quá nhiều.”</p>
<p>[<em>Theo</em> <em>tiểu sử tác giả ở trang </em><em>nhà của <a href="http://www.harpercollins.com/author/microsite/About.aspx?authorid=36544" target="_blank">HarperCollins</a></em>]</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/thanhha_lai_inside_out_and_back_again1.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="thanhha_lai_inside_out_and_back_again1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/thanhha_lai_inside_out_and_back_again1_thumb.jpg" alt="thanhha_lai_inside_out_and_back_again1" width="180" height="236" border="0" /></a></p>
<h2 align="left"> </h2>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Trứng</h2>
<p>&nbsp;</p>
<p>Anh Khôi<br />
giận mẹ<br />
vì Mẹ lấy<br />
trứng<br />
gà anh nuôi.</p>
<p>Gà đẻ<br />
một quả trứng<br />
cách ngày rưỡi.</p>
<p>Chúng tôi<br />
thay phiên<br />
ăn trứng gà.</p>
<p>Anh Khôi<br />
nhất định không ăn<br />
trứng,<br />
anh ấp từng quả trứng<br />
dưới đèn<br />
mong trứng nở.</p>
<p>Tôi thương anh, vì<br />
anh hiền nhất nhà,<br />
nhưng tôi thích ăn bánh<br />
mì chấm lòng đỏ.</p>
<p>Mẹ nói<br />
nếu giá trứng<br />
không bằng giá gạo,<br />
nếu giá gạo<br />
không bằng giá xăng,<br />
nếu giá xăng<br />
không bằng giá vàng,<br />
thì chắc chắn<br />
thằng Khôi<br />
sẽ được phép cho<br />
trứng nở.</p>
<p>Mẹ xin lỗi.</p>
<p><em><br />
<strong>17 Tháng Ba 1975 </strong></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h2>Chờ Thời</h2>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi học quyển tự điển<br />
Vì cây cỏ ngoài kia<br />
không mọc nhanh hơn<br />
cho dù tôi<br />
hau háu nhìn.</p>
<p>Tôi kiếm<br />
chữ <em>Jane</em>: không có<br />
<em>sees</em>: để mắt vào<br />
<em>spot</em>: vết nhơ<br />
<em>run: </em>di động nhanh<br />
Toàn câu có nghĩa là: ______để mắt vào vết nhơ<br />
di động</p>
<p>Tôi vứt quyển tự điển,<br />
quay hỏi anh Quang.</p>
<p><em>Jane </em>là danh từ riêng,<br />
không có trong tự điển.</p>
<p><em>Spot</em> là tên thường gọi<br />
một con chó</p>
<p><em>(Đứa con gái tên) Jane nhìn (con chó tên) Spot<br />
đang chạy</em>.</p>
<p>Tôi không biết đọc<br />
một quyển sách nhi đồng</p>
<p>Có ai tin rằng<br />
tôi đã đọc<br />
Nhất Linh?</p>
<p>Nhưng rồi ai<br />
đây biết<br />
ông là ai?</p>
<p> <br />
<strong><em>27 tháng 8 1975</em></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: medium;"> </span></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: medium;">  </span></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: medium;"> <br />
</span></strong></p>
<h2>Cầu vồng</h2>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi đối diện lớp học<br />
Cô giáo Scott nói gì đó<br />
Học trò cùng lớp cũng nói<br />
gì gì đó</p>
<p>Tôi không hiểu<br />
nhưng tôi thấy.</p>
<p>Tóc lửa trên da lấm tấm những vệt loang<br />
Tóc xoăn trên da láng như sơn mài<br />
Tóc khoai lang trên da nước cốt dừa<br />
Bím tóc trên da cà phê sữa<br />
Tóc trắng trên thằng da hồng<br />
Tóc mật ong thắt ruy băng cam trên<br />
da trong như bánh tráng<br />
Tóc cài kẹp muôn sắc trên<br />
da màu đồng</p>
<p>Tôi là đứa con gái duy nhất<br />
với mái tóc thẳng, đen<br />
trên da màu ô liu.</p>
<p> <br />
<strong><em>2 Tháng Chín 1975</em></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: medium;"> </span></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: medium;"> </span></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: medium;"><br />
</span></strong></p>
<h2>Chiến Tranh và Hòa Bình</h2>
<p>&nbsp;</p>
<p>Cô giáo Scott<br />
cho cả lớp xem<br />
hình</p>
<p>Một bé gái bị phỏng<br />
trần truồng<br />
chạy khóc<br />
trên con đường đất</p>
<p>Đám người lấn hét<br />
cố chen vào máy bay trực thăng<br />
cuối cùng<br />
rời Sàigòn</p>
<p>Những thuyền nhân trơ xương,<br />
dồn chèn<br />
trên thuyền đánh cá sắp chìm,<br />
tay chới với trời cao<br />
kêu cứu</p>
<p>Đụn giày nhà binh<br />
bỏ chơ vơ bởi nhóm lính<br />
thất trận</p>
<p>Cô Scott giảng cho cả lớp<br />
về nơi sinh của tôi</p>
<p>Đáng lẽ cô cũng nên biết<br />
chút gì về<br />
Tết và đu đủ.</p>
<p>Sẽ không ai tin rằng<br />
có những lúc tôi thà<br />
sống trong<br />
thời chiến ở Sàigòn<br />
hơn<br />
thời bình ở Alabama.</p>
<p> <br />
<strong><em>29 tháng 10 năm 1975</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22116/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

