<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Biên Khảo</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Người Việt v&#224; nem, phở ở ch&#226;u Phi</title>
		<link>http://damau.org/archives/23299</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23299#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Feb 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi văn Phú</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Phiếm luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23299</guid>
		<description><![CDATA[Chúng tôi đến Accra lúc ở đó đang bừng lên không khí chống Mỹ với biểu tình hàng ngày trước toà đại sứ Hoa Kỳ. Từ vài năm qua, sau khi Trung úy Jerry Rawlings lên nắm quyền lãnh đạo bằng đảo chính, tình hình chính trị trở nên bất ổn với nghi ngờ có người Mỹ nhúng tay.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho_thumb.jpg" width="474" height="290" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Nem. Nhưng không phải nem chua. Phở và người Việt hai tiếng tự nó đã đầy đủ ý nghĩa. Châu Phi đây là ở Xứ Ngà, nước Côte d’Ivoire, có thành phố Abidjan là trung tâm kinh tế tài chính. Abidjan là thủ đô từ 1933, đến năm 1983 Tổng thống Félix Houphouet-Boigny cho rời thủ đô chính trị và hành chánh lên Yamoussoukro, nơi sinh của ông.</p>
<p>Những năm dạy học ở Togo, tôi có đi chơi vài nước lân bang cho biết thêm về đời sống quanh vùng. Dịp nghỉ lễ Phục Sinh năm 1985, tôi đi chơi hai nước Ghana và Côte d’Ivoire.</p>
<p>Đi cùng với một người bạn qua xứ Ghana. Quãng đường từ Lomé qua Accra dài chừng 200 cây số nhưng mất năm giờ xe.</p>
<p>Đã quen với cuộc sống ở đây, nơi mọi thứ trôi qua chầm chậm, mỗi lần đi xe đò là trong túi đeo lưng đều có vài cuốn sách để đọc vì xe chạy lâu hay mau, bao giờ đến nơi thì mới rõ.</p>
<p>Lúc còn ở Mỹ, có một tài tử đóng phim hài, tôi đã quên tên mà chỉ nhớ cái mũi to như quả cà chua và chiếc mũ dạ, ông quảng cáo cho thẻ tín dụng American Express với khẩu hiệu: “Don’t leave home without it”, diễn nghĩa tiếng Việt là “Đừng rời nhà nếu không có nó”. Từ ngày sang châu Phi, trước khi rời nhà đi chơi xa chúng tôi hay dùng khẩu hiệu này để nhắc nhở nhau đừng quên mang theo bên mình, không phải thẻ tín dụng, mà là hai thứ quan trọng hơn: sách truyện và giấy đi cầu. Đặc biệt là giấy đi cầu: “Don’t leave home without it” vì ăn uống lạ nước lạ cái nên bụng dễ bị biến chứng. Ra đi khó biết bao lâu mới đến nơi đã định. Có khi phải đợi ở bến cho đến khi đầy khách xe mới chạy. Có thể xe hư dọc đường, khi đó nếu phải đại tiện ở một góc rừng hay bờ đường thì có giấy mà dùng.</p>
<p>Chúng tôi đến Accra lúc ở đó đang bừng lên không khí chống Mỹ với biểu tình hàng ngày trước toà đại sứ Hoa Kỳ. Từ vài năm qua, sau khi Trung úy Jerry Rawlings lên nắm quyền lãnh đạo bằng đảo chính, tình hình chính trị trở nên bất ổn với nghi ngờ có người Mỹ nhúng tay. Hai năm trước chính phủ Ghana đã yêu cầu Hoa Kỳ rút về vài tình nguyện viên Peace Corps vì có những phát biểu chống chính phủ ở đây. Đời sống dân chúng khó khăn, đồng cedis mất giá. Du khách đi tắc-xi tài xế đòi trả bằng đô-la Mỹ chứ không nhận tiền điạ phương vì đổi chợ đen được giá gấp mấy lần hơn giá chính thức (1 USD = 50 cedis, giá chợ đen gấp ba hay bốn)</p>
<p>Khi nhập cảnh vào Ghana, du khách phải khai báo đem bao nhiêu tiền, khi ra phải chứng minh đã tiêu bao nhiêu, còn lại bao nhiêu, với biên nhận đầy đủ. Là những tình nguyện viên, sang đây chơi chúng tôi được ở miễn phí tại nhà trọ của Peace Corps nên không phải đổi tiền nhiều. Với kinh nghiệm gửi tiền về Việt Nam cho gia đình trong những năm qua, tôi giấu được ít tờ trăm cho mình và bạn, đem vào Ghana đổi chợ đen nên cũng đủ tiêu trong mấy ngày. Với tình hình như thế, văn phòng khuyên chúng tôi cẩn thận khi ra đường, không nên chụp hình, tránh đi lại trong khu vực quanh sứ quán. Chuyện chụp ảnh trên đường bị cảnh sát tịch thu hết phim thì chúng tôi đã có kinh nghiệm.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem_thumb.jpg" width="305" height="384" /></a></p>
<p>Rời Accra sau vài hôm ở đó, tôi đi chơi xứ Ngà một mình, bằng xe đò lớn như Greyhound có máy lạnh. Giá vé một chiều 2,500 cedis.</p>
<p>Từ Accra đi Abidjan nếu theo đường dọc biển khoảng cách chỉ hơn 400 cây số, nhưng vì có xung đột giữa hai quốc gia, cửa biên giới phía nam không cho qua lại nên xe phải chạy lên hướng bắc, đến Kumasi là cố đô và nôi của văn hoá Ashanti, trước khi rẽ trái qua biên giới. Đường đi xa hơn nhiều, dài gần gấp đôi.</p>
<p>Xem bản đồ, mạn trên thành phổ cổ Kumasi có công viên quốc gia với tên gọi như họ của tôi &#8211; Bui National Park &#8211; nằm sát biên giới với xứ Ngà. Hai năm sống ở Togo cho tôi hiểu biết thêm về văn hoá, lịch sử khu vực. Nhiều quốc gia sau thời gian bị phương Tây đô hộ, được độc lập, dùng ngôn ngữ chính là tiếng Anh như ở Ghana, Nigeria hay tiếng Pháp như Bénin, Togo, Burkina Faso nhưng những bộ lạc vẫn giữ tiếng nói riêng của họ. Togo có người Ewe, Mina, Kabye với ngôn ngữ riêng cho từng bộ lạc. Bui ở Ghana gốc có thể là tiếng của người Ashanti chăng?</p>
<p>Khởi hành từ 6 giờ sáng. Đường đi băng ngang những đồn điền đất đỏ. Có lúc thấy xe hư nằm dọc đường trong rừng, hành khách đứng ngồi phe phẩy cho bớt cơn nóng. Tôi hơi lo. Nếu xe của mình cũng rơi vào tình cảnh đó thì không biết bao giờ mới đến nơi.</p>
<p>Gần đến Abidjan xe vào xa lộ rộng hơn với nhiều hàng xe chạy, ánh đèn điện toả sáng. Tôi ngạc nhiên khi thấy đường xá tân tiến ở đây vì đã đi qua mấy nước chung quanh nhưng không nơi nào có hệ thống giao thông tiến bộ như xứ Ngà. Nghe nói đây là khu đô thị phát triển nhất của châu Phi da đen.</p>
<p>Nằm bên một cù lao, thành phố về đêm rực sáng phản chiếu ánh đèn trên mặt nước cho tôi cảm tưởng như mình đang trở lại cuộc sống văn minh, gợi nhớ cho tôi San Francisco, Singapore. Ở góc độ so sánh Lomé của Togo với Abidjan thì như vừa từ quê lên tỉnh.</p>
<p>Sau hành trình dài 20 tiếng, đến khách sạn đã quá nửa khuya. Mệt mỏi. Tôi vùi đầu ngay vào giấc ngủ để lấy lại sức, mai còn đi chơi.</p>
<p>Buổi sáng đầu tiên tôi đón buýt xuống khu thương mại chính. Xe tiến vào trung tâm thành phố, Abidjan hiện ra với những toà bin-đinh trong ánh nắng ban mai. Boulevard de la République là đại lộ chính, nhiều chỗ khuất bóng mặt trời dưới những hàng cây xanh lá.</p>
<p>Xuống xe ở một trạm ngay trung tâm thành phố. Đi bộ vài bước, nơi góc đường thấy hai chú bé da đen đứng bán hàng sau một tủ kính phiá trước có sơn những chữ: “NEM 75F, Beignet de crevette 50F”. Thấy chữ như tiếng Việt, tôi tò mò đứng lại xem. Trong tủ kính nửa trên là những chiếc chả giò bằng độ hai ngón tay được xếp chồng lên nhau như kim tự tháp. Thì ra nem ở đây là chả giò. Nửa dưới tủ có bánh bột chiên vàng lớn bằng nửa nắm tay, như loại bánh cống đậu xanh ăn cùng bánh cuốn. Theo tên món ăn ghi bằng tiếng Pháp trên tủ thì đó bánh tôm tẩm bột chiên.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan_thumb.jpg" width="567" height="283" /></a></p>
<p>Tôi mua hai nem, 150F (1 USD = 500 CFA franc) coi như ăn điểm tâm. Cắn một miếng. Mùi thơm ngon quen thuộc mà lâu rồi chưa ăn làm tôi hít ha. Nhưng hương vị chưa trọn vẹn vì thiếu sà-lát, rau thơm và nước mắm như tôi thường ăn. Vừa đến xứ xa lạ mà lại gặp món ăn Việt ngay trên phố làm tôi tự hỏi từ đâu thức ăn quê hương lại lan trải đến đây. Cũng như tôi đã hết sức ngạc nhiên khi mới đến Togo thấy trong một siêu thị có bán nước mắm, có nhà hàng Việt để rồi thất vọng khi ăn phở ở đó vì quá dở.</p>
<p>Đi bộ về phiá những toà nhà cao tìm văn phòng hãng Air Afrique để mua vé cho chuyến về lại Lomé vì đi đường bộ quá xa và mệt mỏi. Rảo bước qua những con phố, ở một vài góc đường khác tôi cũng thấy những tủ kính bày bán hai món ăn Việt cạnh quầy bánh mì pa-tê, cà-phê. Tôi mua bánh tôm chiên ăn thử. Hỏi người bán hàng cho chắc là trong đó có tôm và bao nhiêu con. Anh ta trả lời hai ba con. Tôi thắc mắc vì so với giá nem, chiếc bánh tôm to mà lại rẻ hơn, 50F một chiếc. Ăn thử chỉ thấy vỏn vẹn một con tôm nhỏ, còn toàn bột.</p>
<p>Rong chơi Abidjan tôi đi qua một rạp xi-nê mang tên quen thuộc như ở Sài Gòn: Rex. Vào một quán có bàn ngoài hiên bên cạnh, gọi li cà-phê sữa nóng, ăn bánh croa-săng quyệt bơ và mứt trái cây. Ngày ở quê nhà, con nhà nghèo nên tôi chẳng được uống cà-phê, ăn sáng dưới trung tâm thành phố mà chỉ hay dạo chơi, ăn bò bía trước bưu điện hay vào Khai Trí đọc cọp sách. Sau bao năm xa cách quê nhà hôm nay nhìn quanh đây sao giống như Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự Do năm nào. Abidjan được gọi là Petit Paris của miền tây châu Phi. Có lẽ đúng. Cũng như Sài Gòn từng được gọi như thế của miền Viễn Đông.</p>
<p>Thành phố nhiều bóng cây xanh, bin-đinh cao tầng với kiến trúc tân kì. Gần toà nhà kim tự tháp có ngân hàng CitiBank bên cạnh những cửa hàng quần áo, túi xách, mỹ phẩm. Đông người qua lại trên phố, âu phục có, trang phục địa phương cũng có, nhiều người mặc áo trắng dài, đội nón trắng theo phong tục Hồi giáo. Phụ nữ váy dài như tu-nic hay quấn sà-rông mầu sắc rực rỡ, đẹp mắt. Giữa buổi sáng của một ngày trong tuần nhưng tôi thấy nơi đây mang vẻ tưng bừng, nhộn nhịp lạ thường. Hay tại hai năm qua sống ở một tỉnh nhỏ hiu quạnh, thiếu điện nước, nay có dịp du lịch thành phố lớn nên cho tôi cảm nhận như thế?</p>
<p>Uống cà-phê xong, qua bưu điện mua bưu thiếp gửi cho bạn bè phương xa. Mở xem niên giám điện thoại tìm tên người Việt. Họ Nguyễn có 5. Họ Trần 4 và Phạm 3. Không ai họ Bùi. Tìm nhà hàng bán thức ăn Việt có dăm bảy cái, tên Việt cũng có mà tên Pháp cũng có. Tôi ghi địa chỉ vài tiệm ở khu Plateau để dễ tìm đến khi đói.</p>
<p>Sau khi viết thư, gửi bưu thiếp xong, tiếp tục lang thang. Trời nắng nóng nhưng nhờ đường phố nhiều cây xanh bóng mát nên tôi thư thả đi bộ được lâu.</p>
<p>Boulevard de la République tràn ngập người đứng đón xe buýt vì đang là giờ tan sở giấc trưa. Nhìn những chuyến xe táp vào bến liên tục tôi thấy hệ thống chuyên chở công cộng ở đây rất hữu hiệu. Cứ đôi ba phút một chuyến, xe nào cũng đông khách đứng ngồi chen chúc. Bên đường nhảy múa sắc mầu của trang phục. Trong đời, ngoại trừ vài lần xem diễn hành dịp lễ hội ở Togo, có lẽ tôi chưa bao giờ thấy đường phố ở đâu rực rỡ đẹp như nơi đây. Những thiếu nữ, những thanh niên mặc y phục mang đặc tính địa phương nhiều mầu sặc sỡ, nổi bật.</p>
<p>Tôi ghé vào một trạm xe, đưa địa chỉ hỏi thăm tìm đường đến nhà hàng Le Dalat, 12 Rue Paris-Village. Một thanh niên chỉ hướng cho biết cũng gần đây, có thể đi bộ.</p>
<p>Theo lời chỉ đường, vào lại khu thương mại chính. Đi ngang Trung tâm Văn hoá Pháp thấy nhiều biểu ngữ, bích chương quảng bá cho thảo luận, diễn kịch, chiếu phim về Victor Hugo nhân dịp kỉ niệm 100 năm húy nhật đại văn hào Pháp. Tôi ghé xem có gì lạ nhưng đang giờ nghỉ trưa nên trung tâm đóng cửa.</p>
<p>Ngoài sân nhiều người ngồi bên bậc thang và ghế dài trên sân cỏ ăn trưa. Tìm bóng mát dưới một tàn cây để dừng chân, dò lại địa chỉ nhà hàng. Hỏi một người xem còn cách bao xa, anh cho biết cũng gần thôi.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat_thumb.jpg" width="544" height="299" /></a></p>
<p>Rời trung tâm văn hoá, đi vài chục bước thấy một nhà hàng Việt, nhưng không phải tiệm đang muốn đến. Tên Kim Hoa thật to trên bảng hiệu đập vào mắt. Dưới là tủ kính bày nhiều chậu hoa che khuất phía trong. Vì đã đói nên tôi vào tiệm này thay vì tiếp tục đi tìm nhà hàng Le Dalat.</p>
<p>Bước vào trong. Người đàn ông đang ngồi ở quầy bán rượu ra đón đưa tôi vào một bàn. Lối trang trí vừa mang vẻ Việt Nam, mấy búp bê thiếu nữ đội nón lá; vừa vẻ Nhật, những chậu bonsai và vừa có nét Trung Hoa là tranh sơn thuỷ. Tờ thực đơn thuần món Việt: phở, hủ tiếu, các món rau, món sào nhưng giá khá đắt so với lương tình nguyện của tôi.</p>
<p>Tôi gọi tô hủ tiếu, 1400F và nước đá lạnh. Quán có dăm bảy khách. Nghe những người làm việc nói tiếng Việt, tôi biết là gia đình người miền Nam.</p>
<p>Người hầu bàn da đen bưng ra tô hủ tiếu nóng hổi. Nước trong, bánh trắng đục lờ lờ, phiá trên có hai con tôm trắng hồng, vài miếng thịt, ít cải bắc thảo vàng, lác đác mấy cọng hành xanh trông đẹp mắt. Như thế là đầy đủ hương vị quê nhà nơi Phi Châu xa xôi.</p>
<p>Ngon. Nhưng giá hơi đắt. Khi trả tiền tôi hỏi thăm và được biết tiệm mới mở được gần hai năm.</p>
<p>Chiều đón xe buýt qua khu Cocody. Theo sách hướng dẫn du lịch khu này có ngôi chợ nổi tiếng với nhiều trái cây nhiệt đới và những gian hàng bán đổ kỉ niệm bằng ngà, đá và đồng.</p>
<p>Xe dừng ngay trước chợ. Vừa bước xuống tôi đã bị một đám bạn hàng lôi kéo chào mua. Biết tôi là du khách, vì da vàng, nên ai cũng muốn kéo vào quầy hàng của họ để giới thiệu những món quà kỉ niệm. Tôi không ghé ngay mà rẽ vào nơi bán trái cây, rau cải. Nhiều nhất là soài cát chín. Bên cạnh có măng cầu xiêm vỏ có gai, đu đủ vàng, roi hồng. Tôi mua bốn trái roi vì từ ngày rời Việt Nam chưa được ăn lại và một trái soài, tất cả 200F.</p>
<p>Trở lại nơi bán đồ kỉ niệm lại bị níu kéo bởi năm bảy người bán. Chung quanh thấp thoáng có du khách Pháp, Nhật, Đức cũng đang bị mời mua hàng. Vô số đồ kỉ niệm bày bán la liệt dưới đất, trên kệ và dọc theo hành lang. Tôi chỉ muốn mua đồ đá hay đồng ở đây vì tay nghề mỹ thuật cao hơn những nước khác. Đồ ngà voi không biết thật giả và bị cấm mang vào Mỹ nên tôi không muốn mua.</p>
<p>Đi mua hàng ở đây, cũng như ở các nước chung quanh, là phải biết trả giá. Nghệ thuật này tôi học được từ ngày đến Togo làm việc. Hỏi giá một vài mặt nạ gỗ và tượng đồng hợp ý, người bán hàng ra giá từ 12,000F đến 20,000F. Du khách phương Tây thường không quen mặc cả nên trả giá cao. Nhất là mua đồ kỉ niệm mà trả một nửa là coi như hớ rồi, trả một phần ba có khi vẫn còn cao.</p>
<p>Một tượng đồng ông lão đang chơi nhạc cụ được ra giá 15,000F. Tôi trả 3,000. Người bán phân trần làm sao có thể bán một tượng to và đẹp thế này với giá đó. 14,000, anh ta xuống giá. Tôi lắc đầu. Giá chót 13,000. Người bán hàng xuống giá một lần nữa. Bỏ đi. Anh ta kéo lại. Giá chót của anh là bao nhiêu? Tôi trả 3,500. 12,000 là giá chót, chót, chót. Anh nhấn mạnh. Bỏ đi lần nữa. Người bán hàng nắm tay kéo lại, lấy tượng đặt vào tay tôi, kèm theo một câu: 10,000 tôi bán ngay, giá này rẻ nhất chợ. Tôi nhất định từ chối rồi qua một gian hàng khác. Như thế là không thể mua được tượng với giá 3,500F.</p>
<p>Qua nhiều quầy hàng, mặc cả tới lui tôi mua được ít món quà kỉ niệm. Hai tượng đồng cao 30 phân là một người đàn ông săn bắn và một phụ nữ phơi ngực đội thúng ra chợ rất đặc thù châu Phi, giá 8,000F. Thêm ba sâu chuỗi bằng đá giá cũng 8,000 sau khi trả giá từ 21,000F.</p>
<p>Ra khỏi chợ Cocody, ngó quanh tìm trạm xe buýt cho chuyến về thì gặp một ki-ốt đặt bên hông chợ với chữ NEM thật to. Thấy người bán là Á đông, hỏi thăm được biết là người Việt. Anh Vương Tường làm chủ ki-ốt, tuổi độ trung niên. Không như mấy tủ nem dưới phố, ki-ốt có bếp ga để chiên nóng tại chỗ và cả nước mắm chua cay ngọt phục vụ khách.</p>
<p>Nem ở đây to hơn. Bánh tôm chiên nhỏ hơn nhưng đích thực là tôm chiên tẩm bột vì chỉ có đầu con tôm nhúng vào bột với đuôi tôm lòi ra. Tôi mua 4 nem và 2 tôm, 400F.</p>
<p>Với nước mắm, vừa ăn và trò chuyện với anh Tường vì muốn biết ít nhiều về người Việt sinh sống ở đây. Anh kể món nem và tôm chiên nguyên thủy do một người Hoa sống ở Nam Vang qua Việt Nam làm ăn, sau khi cộng sản vào, ông kẹt lại đến năm 1980 qua đây và sống bằng nghề làm chả giò và tôm chiên. Những người da đen bán hàng bên khu Plateau là làm công cho ông. Theo lời anh, bánh tôm chiên nhiều bột là kiểu châu Phi vì người địa phương thích ăn nhiều bột như thế. Còn bánh của anh đúng mốt Việt Nam, bán cho khách đa số là người Pháp cư ngụ trong khu Cocody. Hỏi thăm về người Việt anh cho biết bên khu Marcory có tiệm chạp-phô Sunky, bên Plateau có nhà hàng Hoà Bình là của người Việt làm chủ.</p>
<p>Anh Tường trước có cửa tiệm trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn, gần toà hoà giải. Cộng sản vào anh kẹt lại đến năm 1980 được bảo trợ qua đây. Anh tưởng Côte d’Ivoire là một tỉnh ở miền nam nước Pháp chứ không biết đây là một xứ châu Phi.</p>
<p>Lúc mới qua anh cũng đi làm mướn, ít lâu sau sang lại ki-ốt để tự do buôn bán. Ngày mở cửa từ 8 giờ sáng đến 1 giờ trưa và chiều từ 4 đến 8 giờ tối. Công việc không vất vả lắm. Ngày đắt khách bán 300 nem và 100 tôm chiên. Ít khách cũng được 200 nem, dăm chục tôm. Sau gần năm năm định cư anh đã mua được chiếc xe hơi Toyota.</p>
<p>Khách hàng đa dạng như tôi quan sát thấy. Có cặp vợ chồng người Phi Luật Tân mua 100 cái chả giò. Vài bà đầm mỗi người năm, bảy cái. Trẻ con cũng thích món ăn vặt này, có 75F là chạy đến mua ngay nem. Mấy em phát âm chữ “nem” nghe rõ ràng. Mấy cô gái Algérie, mấy cô học trò bản xứ hay ăn quà cũng ghé vào mua đôi ba cái. Trong khoảng một giờ tại ki-ốt tôi ước chừng anh bán được đến hai trăm cái vừa nem rán và tôm.</p>
<p>Quá chiều tôi từ giã anh Vương lên xe buýt về nhà trọ. Khi xe dừng ở một trạm, có hành khách ngồi cạnh cửa sổ đập nhẹ vào tay tôi, rồi chỉ ra phiá ngoài. Ngó ra, qua ánh đèn là những người da đen bản xứ. Bỗng nghe từ đám đông có người hỏi lớn: “Anh người Việt Nam hả?” bằng tiếng Việt chính gốc, nghe không lơ lớ, lai lai. Tôi ngạc nhiên thấy có người da đen nói tiếng Việt sõi quá, rồi trả lời ngay: “Vâng. Tôi người Việt. Anh cũng người Việt hả?”. Thế là câu chuyện giữa hai chúng tôi bắt đầu. Anh hỏi tôi từ đâu đến, làm việc ở đây hay đi du lịch. Hành khách trên xe thấy chúng tôi nói ngôn ngữ lạ nên cười quá trời. Mọi người đã lên xuống hết nhưng tài xế vẫn chưa chạy để hai chúng tôi tiếp tục câu chuyện. Anh nhảy lên xe, nói chuyện tiếp, mời tôi lại nhà chơi vào ngày mai. Tôi nhận lời ngay và được anh chỉ cách cho tôi đón xe buýt đến nhà anh vào sáng mai, lúc 9 giờ. Trước khi từ giã, chúng tôi giới thiệu cho nhau biết tên. Đó là anh Hùng, làm việc soát vé cho công ti xe buýt, vì thế mà tài xế biết anh và đã không chạy khi chúng tôi còn đang nói chuyện với nhau.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao_thumb.jpg" width="280" height="411" /></a></p>
<p>Treichville là khu lao động, nhiều nhà trọ, khách sạn rẻ. Hai bên những con đường quanh khu vực tràn ngập hàng quán. Tối về ra quán bên đường ngồi ăn thịt gà, bò hay dê nướng than, vừa uống bia vừa thưởng thức nhạc vang vang trong ánh đèn chỗ mờ chỗ tỏ, trong ánh lửa phập phồng của bếp than, nhìn ngắm cuộc sống của cư dân cũng vui say, nhộn nhịp. Đủ loại nhạc: châu Phi với những điệu dễ làm làm người nghe nhún nhảy, nhạc Pháp tình tứ lãng mạn và nhạc Mỹ đem đến cho tôi nỗi nhớ nhà, nhất là bài “Hotel California” thịnh hành lúc tôi rời Mỹ, giờ đang vọng ra từ một quán, vang vang bên tai.</p>
<p>Sáng hôm sau tôi qua khu Adjamé gặp anh Hùng như đã hẹn. Anh sống trong một khu dân cư trông xập xệ, nghèo. Lề đường cũng có hàng quán nhưng không nhiều như bên Treichville. Vào khu xóm này tôi như thấy mình đang trở lại khu Bàn Cờ hay Khánh Hội.</p>
<p>Anh dẫn tôi trở lại Treichville ăn sáng kiểu châu Phi. Theo sách du lịch đây là khu bình dân. Ngồi quán ngoài đường uống cà-phê, ăn bánh mì bên cạnh lò than nóng hổi đang đun nước sôi. Chúng tôi kể cho nhau nghe về đời sống. Anh Hùng mang hai dòng máu, Việt và Côte d’Ivoire. Bố theo lính Pháp sang chiến đấu tại Việt Nam thời thập niên 1950. Anh mới được bảo trợ qua xứ này từ năm 1980. Nghĩa là anh Hùng đã sống ở Việt Nam có đến ba chục năm. Nhìn nước da đen của anh tôi nhớ bạn Phước học cùng lớp thời trung học ở trường Nguyễn Bá Tòng. Phước cũng là đứa con lai da đen, vui tính, rất thích kể chuyện và nhất là thích xướng giọng nhiều bài hát cộng đồng. Như thế anh Hùng hơn tôi vài tuổi, sống ở Việt Nam lâu hơn tôi vì năm 1975 tôi đã qua Mỹ và giờ làm việc ở châu lục này. Hai năm qua tôi không có dịp nói tiếng Việt nhiều như hôm nay.</p>
<p>Nghe kể về bố và cuộc đời anh, tôi liên tưởng đến một thời dư luận Sài Gòn xôn xao khi Tổng thống Cộng hoà Trung Phi Bokassa đi tìm con gái mà ông bỏ lại Việt Nam thời lính đã trở thành câu chuyện “cô bé lọ lem”. Anh Hùng không có phúc như thế, nhưng nay cũng đã ra khỏi Việt Nam là điều may mắn cho anh. Các lãnh đạo ở châu Phi tôi biết còn có Tổng thống Gnassingbé Eyadéma của Togo cũng là lính viễn từng chinh phục vụ ở Đông Dương.</p>
<p>Ăn sáng xong anh Hùng đưa tôi đi quanh chợ. Đây là khu chợ bình dân nổi tiếng buôn bán sầm uất nhất thành phố. Nhiều cửa hàng quần áo. Anh chỉ cho thấy mấy tiệm tạp hoá và thực phẩm của người Việt, một tiệm tên Nam Định với nhiều đồ gia dụng nhôm nhựa treo phiá trước.</p>
<p>Tôi mời anh đi ăn trưa và đề nghị nhà hàng Le Dalat mà anh có biết.</p>
<p>Lên xe buýt. Đến nơi mới thấy Le Dalat không xa Kim Hoa chỗ ăn trưa hôm qua, chỉ cách nhau mươi bước.</p>
<p>Ngoài hiên có người đàn ông gốc Á đang phì phào thuốc lá. Chưa đến giờ mở cửa nhưng ông mời chúng tôi vào sân trò chuyện. Khi biết tôi là người Việt đến từ Hoa Kỳ, ông kể cho nghe về những chuyến đi Mỹ của ông, đến San Francisco, ghé San Jose ăn Phở Saigon, xuống nam California ăn Phở 79. Biết tôi thích phở và là người đến từ California, ông lên tiếng bảo đảm: “Nhà hàng của tôi không quảng cáo rầm rộ, nhưng bảo đảm với anh là ngon và rẻ vô địch. Không ai bì được.” Xin phép hỏi tên. Ông giới thiệu quý danh Đỗ Đắc Lộc, nguyên tổng lãnh sự Việt Nam Cộng Hoà tại đây trước năm 1975. Sau khi miền Nam đầu hàng ông và gia đình chọn ở lại đây định cư và mở quán ăn vài năm nay.</p>
<p>Nhà hàng bên trong không lớn lắm. Trang nhã với mấy bình sứ Việt, ít lồng đèn Tầu, vài bức tranh trên tường, hoa trên bàn.</p>
<p>Tôi muốn ăn phở. Anh Hùng cũng thế. Tôi gọi hai phở bắc và dĩa bì cuốn ăn thêm. Bác Lộc cho biết không như những quán ăn Việt khác với thực phẩm nhập cảng từ Pháp, còn Le Dalat nhập cảng từ Hoa Kỳ. Mỗi năm bác đều qua California nghỉ hè, khi về đem theo nhiều tấn hàng.</p>
<p>Trên tờ thực đơn, phiá sau có bài báo New York Times năm 1982 giới thiệu nhà hàng, nội dung khen Le Dalat thuần túy Việt, ngon và rẻ. Tác giả cũng dùng chữ “nem” trong bài để nói về món chả giò của quán và cách ăn là cuốn với sa-lát, rau thơm, chấm nước mắm là ngon hết ý.</p>
<p>Hỏi về lịch sử món nem trên đường phố bác Lộc nói do mấy ông lính Lê Dương đem về nước sau thời gian phục vụ ở Đông Dương.</p>
<p>Người con của bác bưng ra hai tô phở tái bốc khói, thơm phức. Anh Hùng hỏi giá sống, bác nói mấy bữa nay nóng không làm giá được. Tôi hỏi rau thơm thì có húng quế. Tôi chầm chậm thưởng thức món quốc hồn quốc tuý của quê hương nơi vùng đất lạ. Phải công nhận phở Le Dalat vừa rẻ, 900F một tô lớn, thơm ngon không thua gì phở 13 ở San Jose. Bì cuốn giá 730F cũng ngon, nhất là mùi húng rất đượm, chắc do bởi khí hậu nhiệt đới giống ở Việt Nam.</p>
<p>Rời quán Le Dalat chúng tôi chia tay nhau vì đến giờ anh Hùng phải đi làm. Tôi cám ơn anh đã bỏ thời giờ đón tiếp và hướng dẫn tham quan ít nơi ở xứ Ngà, cho tôi hiểu biết hơn về đời sống thường nhật, về người Việt ở đây. Tôi hẹn anh có dịp gặp nhau bên Mỹ.</p>
<p>Mấy ngày du lịch Abidjan tôi còn gặp mấy nhà hàng bán thức ăn Việt nữa: Baguette d’Or, Kim Sơn, Hoà Bình, Santal, Mekong và ghé ăn thử vài nơi với các món cơm, sào. Nhưng ngon, rẻ và đầy hương vị Việt Nam nhất là Le Dalat.</p>
<p>Lúc ăn ở Le Dalat, đọc bài trên <em>New York Times</em> có ghi nhận số người Việt sinh sống ở đây hơn 3 nghìn.</p>
<p>Ở một nơi rất xa quê hương, chỉ có vài nghìn người Việt trong số hơn một triệu cư dân mà Abidjan cũng có đến chục nhà hàng, nhiều ki-ốt bán nem, bánh tôm chiên bên đường, có vài tiệm thực phẩm Việt. Món ăn Việt như thế cũng hấp dẫn và được phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới đấy chứ.</p>
<p>(Mùa Xuân 1985)</p>
<p>© damau.org, Buivanphu</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong_thumb.jpg" width="200" height="282" /></a></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>Hình:</strong></p>
<p>H01: Thành phố Abidjan năm 1985 (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H02: Ki-ốt bán nem rán và tôm chiên của anh Vương Tường (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H03: Khu buôn bán bên đường (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H04: Nhà hàng Le Dalat (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H05: Đền thờ hồi giáo (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H06: Cặp tượng đồng là đồ kỉ niệm tác giả còn giữ đến nay (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23299/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>B&#224;i viết, b&#224;i g&#245;, b&#224;i vẽ</title>
		<link>http://damau.org/archives/23263</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23263#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Feb 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Lê Hữu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Phiếm luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23263</guid>
		<description><![CDATA[Trước năm 1975, những từ “bài viết”, “bài nói” hầu như không thấy sử dụng ở miền Nam (chỉ có “bài”, “bài văn”, “bài nói chuyện”) .... Cách gọi chung chung “bài viết” như thế chỉ có làm nghèo đi chứ khó mà gọi là “làm giàu thêm kho tàng tiếng Việt”.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="left">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/ChoiDan-JacquelynNgo.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="ChoiDan-JacquelynNgo" border="0" alt="ChoiDan-JacquelynNgo" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/ChoiDan-JacquelynNgo_thumb.jpg" width="450" height="318" /></a></p>
<p align="center"><i>Chơi đàn</i>, “bài vẽ” của bé Jacquelyn Ngo (6 tuổi)</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>“Bài viết dưới đây của giáo sư X gửi ra từ trong nước”.</p>
<p>“Bên dưới là bài viết của một em học sinh trường Việt ngữ Văn Lang ở Seattle”.</p>
<p>Trong số các <i>từ</i> ở trong nước được người Việt ở ngoài nước sử dụng với <i>tần suất</i> khá cao có từ “bài viết”. Bài này xin <i>tản mạn</i> chút chút về cái từ lâu nay đã trở nên quen thuộc (đặc biệt trong giới truyền thông, báo chí) cả trong lẫn ngoài nước.</p>
<p><b><i>Bài viết, vừa nghèo vừa lười </i></b></p>
<p>Trước hết cần tìm hiểu xem cái từ “bài viết” này ở đâu ra. Truy tầm nguồn gốc của từ này là việc không dễ dàng chút nào. Một người bạn tôi nói rằng từ “bài viết” được phổ biến kể từ khi một loạt… bài viết gọi là “Những việc cần làm ngay” của tác giả ký tên NVL xuất hiện trên một tờ báo lớn ở trong nước vào giữa năm 1987. Một bạn khác lại nói rằng từ này đã có từ thời… Nhân Văn-Giai Phẩm (trong loạt bài công kích các văn nghệ sĩ tham gia phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm có thấy lác đác từ này), hoặc trước đó nữa. Thật khó mà xác quyết, chỉ biết rằng từ này không thấy sử dụng ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, hoặc nếu có thì cũng hiếm khi chứ không tràn lan vô tội vạ trong cả nước như ngày nay.</p>
<p>“Bài viết”, tùy trường hợp được sử dụng hiện nay, có thể được hiểu là:</p>
<p>1. Bài văn hoặc bài văn xuôi (phân biệt với văn vần) nói chung.</p>
<p>“Bài viết” ở đây chỉ đơn giản là bài văn, bất luận đề tài gì. Có khi là những mẩu chuyện, những ghi chép vụn vặt, có khi là những cảm nghĩ về con người, sự việc, có khi chỉ là một bài “tập làm văn” hoặc luận văn của học sinh. Vài mẫu câu đọc được trên báo chí trong và ngoài nước:</p>
<p>“Tổng hợp những <i>bài viết</i> hay nhất về tình yêu, tình bạn”.</p>
<p>“Những <i>bài viết</i> của học sinh các trường Việt ngữ”.</p>
<p>“Giải thưởng cho các <i>bài viết</i> hay về Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông”.</p>
<p>2. Bài vở (những bài đăng tải, phổ biến trên báo chí).</p>
<p>Các bài vở gửi cho báo chí gọi chung là “bài viết”, khi đăng tải sẽ xếp loại theo thể loại của bài. Vài mẫu câu:</p>
<p>“<i>Bài viết</i> có thể đánh máy hoặc viết tay trên một mặt giấy và gửi về tòa soạn”.</p>
<p>“Khi gửi <i>bài viết</i> xin sử dụng dạng chữ unicode”.</p>
<p>“Trả lời chung về <i>bài viết</i> tham dự giải thưởng ‘Viết về nước Mỹ’”.</p>
<p>3. Như là một thể văn:</p>
<p>Thay vì gọi tên thể loại của bài văn thì gọi là “bài viết”. Vài mẫu câu:</p>
<p>“<i>Bài viết</i> ‘Một chuyến Mỹ du’” (thay vì gọi là “Bài ký sự/phóng sự ‘Một chuyến Mỹ du’”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> tường thuật trận đấu chung kết World Cup 2010” (thay vì “Bài tường thuật…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> có tựa ‘Kinh tế Mỹ đi về đâu?’” (thay vì “Bài nhận định…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> của bình luận gia X về vấn đề dân chủ hóa toàn cầu” (thay vì “Bài bình luận…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> về nguồn gốc và sự hình thành nền tân nhạc Việt” (thay vì “Bài biên khảo…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> vạch rõ những sai lầm của giới lãnh đạo” (thay vì “Bài phê bình…”).</p>
<p>“<i>Bài viết</i> của tiến sĩ X về tình hình Biển Đông” (thay vì “Bài phân tích…”).</p>
<p>“Một loạt <i>bài viết</i> tên là ‘Những việc cần làm ngay’ đăng trên trang nhất báo <i>Nhân Dân</i>” (thay vì “Một loạt bài báo…”).</p>
<p>Cứ theo cách gọi như trên, có lẽ chỉ trừ truyện dài, thơ, kịch, thư từ, đơn từ, bài phỏng vấn, bài dịch thuật, còn lại tất cả những bài văn về mọi đề tài mọi thể loại, từ ký sự, phóng sự, bài báo, bài góp ý, bài tường thuật, bài nhận định, bài nghiên cứu, bài phê bình, bài bình luận, bài tham luận, bài nghị luận, bài xã luận, bài tiểu luận, bài phiếm luận, bài khảo cứu, bài khảo luận, bài biên khảo, bài sưu tầm, đến những bài luận văn, tạp văn, tạp ghi, tạp bút, tùy bút… vân vân thảy đều gọi là “bài viết”. Thậm chí, truyện ngắn đôi khi cũng được gọi là “bài viết”.</p>
<p>Cách gọi bài viết “như là một thể văn” trong các ví dụ trên vừa có vẻ “nghèo” vừa có vẻ “lười”.</p>
<p>(1) Sao gọi là nghèo? Nghèo vì thiếu chữ, không nghĩ ra được tên một thể loại văn xuôi nào để gọi bài văn ấy. Gọi “bài viết” vì… không biết gọi là bài gì.</p>
<p>Trước năm 1975, những từ “bài viết”, “bài nói” hầu như không thấy sử dụng ở miền Nam (chỉ có “bài”, “bài văn”, “bài nói chuyện”), và hầu như không có bài văn xuôi nào mà không có được cái tên thể loại, cho dù người viết muốn viết kiểu nào. Viết linh tinh lang tang, viết chuyện trên trời dưới đất, chuyện không đầu không đuôi, chuyện nọ xọ chuyện kia… vẫn được gọi là “tạp bút”, “tạp ghi”, “tạp văn”, “tạp luận”, “tản văn”, “đoản văn”… Viết tả tình tả cảnh, viết tùy hứng, tùy nghi, tùy tiện, vẫn được gọi là… “tùy bút”.</p>
<p>Cách gọi <i>chung chung</i> “bài viết” như thế chỉ có làm nghèo đi chứ khó mà gọi là “làm giàu thêm kho tàng tiếng Việt”.</p>
<p>Cái “nghèo” này còn thể hiện ở không ít từ khác. Tính từ “tốt” chẳng hạn, được sử dụng vô tội vạ: người tốt, việc tốt, lao động tốt, học tập tốt, vệ sinh tốt, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt, chấp hành tốt, tham gia tốt, phấn đấu tốt, tự giác tốt, kiểm điểm tốt, tiếp thu tốt, công tác tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt…, cái gì cũng tốt, tốt, tốt, mà không rõ là “tốt”… như thế nào, “tốt” ra làm sao(?) Chỉ độc nhất có một chữ “tốt”, muốn hiểu sao thì hiểu (trong lúc tiếng Việt mình không thiếu chữ). Cũng chả cần phân biệt tính từ với trạng từ (nói “học giỏi”, “thi đấu giỏi”, “lãnh&#160; đạo giỏi”, chứ không thể nói “học tốt”, “thi đấu tốt”, “lãnh đạo tốt”…). Hoặc, một thời các bài viết, các sách nghiên cứu, lý luận, phê bình ở miền Bắc thường có cái tựa bắt đầu bằng chữ “Về”, nói về một sự kiện, biến cố, chủ thuyết…, như “Về chủ nghĩa thực dân mới”, “Về chủ nghĩa tư bản hiện đại”, “Về phong trào thơ mới”, “Về văn hóa văn nghệ”, “Về Tự Lực Văn Đoàn”&#8230; Hoặc, các bài bài viết lan man thường có cái tựa bắt đầu bằng “Tản mạn về…”, như “Tản mạn về tiếng Việt”, “Tản mạn về bóng đá”, “Tản mạn về rượu vang”, “Tản mạn về mùa thu”, “Tản mạn về tình yêu”, “Tản mạn về thư pháp ngày xuân”… Cách đặt tựa “Tản mạn về…” này cũng được người Việt ngoài nước <i>tiếp thu</i> và ưa chuộng, mặc dầu “tản mạn” (tính từ) chỉ có nghĩa tương tự “rải rác”, “rời rạc”, chứ không có nghĩa như “mạn đàm”, “chuyện trò” (động từ). Nói “ý nghĩ tản mạn”&#160; hoặc “câu chuyện tản mạn” thì hợp nghĩa hơn.</p>
<p>(2) Sao gọi là lười? Lười đến mức không cho nổi bài văn ấy một cái tên thể loại.</p>
<p>Lười vì không muốn/không chịu <i>động não</i>. Từ một bài tập làm văn của một học sinh tiểu học đến những bài nghiên cứu, lý luận, phê bình của các học giả, các nhà khoa bảng, hoặc nhà văn, nhà báo, người cầm bút chuyên nghiệp đều là… “bài viết” tuốt.</p>
<p>Lười vì gọi thế cho… xong chuyện, không phải mất thì giờ tìm kiếm cái tên gọi thích hợp. Lười vì ai gọi sao thì mình gọi vậy.</p>
<p>Cách gọi “nghèo” và “lười” ấy không cho người đọc có chút khái niệm nào về bài gọi là “bài viết”. Ai lại chả biết là bài viết, nhưng mà là bài… gì mới được chứ? Cái từ “bài viết” nghe rất <i>chung chung</i>, rất “huề vốn”.</p>
<p>Cách tốt nhất vẫn là chịu khó cho “bài viết” ấy một cái tên thể loại đàng hoàng.</p>
<p><b><i>Bài gõ, tại sao không?</i></b></p>
<p>Cần hiểu như thế nào về từ “bài viết” hiện nay? Liệu có thể định nghĩa tổng quát: <i>nói chung</i>, “bài” gì được “viết” ra trên giấy đều có thể gọi là “bài viết” được.</p>
<p>Thực tế, ngày nay nhiều bài viết được gõ ra trên bàn phím computer hơn là viết ra trên giấy. Như thế chắc phải gọi là “bài gõ” thì chính xác hơn. “Bài gõ”, tại sao không? Trước lạ, sau quen. Như các “từ lạ” khác, thoạt đầu nghe lạ tai, dùng riết thành quen tai.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/hands-typing-on-a-computer.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="hands-typing-on-a-computer" border="0" alt="hands-typing-on-a-computer" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/hands-typing-on-a-computer_thumb.jpg" width="349" height="263" /></a></p>
<p>Viết loăng quăng trên giấy gọi là “bài viết”, gõ lóc cóc trên bàn phím gọi là “bài gõ”. Tương tự, vẽ lăng nhăng trên giấy gọi là “bài vẽ” (thay cho “họa phẩm”, “bức họa”, “bức tranh”, “bức vẽ”). “Bài vẽ”, cũng như “bài viết”, không cần phải nêu rõ thể loại, thể tài (sơn dầu, màu nước, màu bột, lập thể, trừu tượng, siêu thực, chân dung, phong cảnh, tĩnh vật…). “Bài vẽ”, thế thôi, muốn hiểu sao hiểu.</p>
<p>Cứ theo cách ấy, ta còn có thêm những “bài nói” (thay cho “bài nói chuyện”, “bài phát biểu”, “bài diễn thuyết”, “bài thuyết trình”, “bài thuyết giảng”, “bài thuyết pháp”), “bài đọc” (thay cho “bài diễn văn”, “bài diễn từ”, “bài tham luận”), “bài múa” (thay cho “vũ khúc”, “màn vũ”), “bài ngâm” (thay cho “thi phẩm”, “bài thơ”). Tại sao không? Bài nhạc gọi là “bài hát” thì bài thơ cũng gọi là “bài ngâm” được vậy.</p>
<p>Những từ “bài nói”, “bài vẽ”, “bài múa” vẫn được sử dụng trong nước (và ngoài nước, đôi khi). Vài mẫu câu:</p>
<p>“<i>Bài nói</i> của Steve Jobs tại trường đại học Stanford rất lôi cuốn”.</p>
<p>“Ban giám khảo đã chọn ra ba <i>bài vẽ</i> xuất sắc nhất”.</p>
<p>“<i>Bài múa</i> ‘Chiều lên bản thượng’ vào chung kết”.</p>
<p>Cách dùng này có thể <i>triển khai</i> dựa trên “công thức” khá đơn giản: đi sau chữ “bài” là một động từ (như: viết/vẽ/gõ/khắc/nói/đọc/hát/ngâm/múa/chụp/quay/diễn…).</p>
<p>Vì sao từ “bài viết” lại được phổ biến rộng rãi từ trong nước ra đến ngoài nước? Có thể là khởi đầu <i>báo, đài</i> ở trong nước đăng tải, phát đi một “bài viết” của nhân vật nào đó và báo, đài ở ngoài nước khi trích dẫn đã lặp lại nguyên văn (“bài viết của…”). Từ chỗ quen nghe, quen đọc đến chỗ <i>tiếp thu</i> và trở thành thói quen sử dụng đến mức có muốn thay cũng chẳng biết thay bằng… từ gì. Hơn nữa, gọi “bài viết” thì cũng … tiện, đơn giản hóa và đỡ <i>phức tạp</i>.</p>
<p>“Bài viết”, thôi thì cũng được đi, nếu gọi chung những “bài” viết ra trên giấy (hay gõ ra trên bàn phím), thế nhưng khi… gọi riêng thì cũng nên cho biết bài ấy là… bài gì.</p>
<p>Dẫu sao việc trong nước, ngoài nước đều sính dùng từ “bài viết” này (như đều sính dùng các từ ca từ, đặc trưng, đăng ký, đứng lớp, phát hiện, tâm đắc, tham gia, tranh cãi…) rất là <i>vô tư</i>, mà không gọi “từ” này “từ” kia, không thắc mắc khiếu nại ai dùng “từ” của ai, cũng cho thấy là người Việt trong nước và ngoài nước, trong một nghĩa nào đó, đã “gần nhau trong tiếng nói”.</p>
<p><b><i>Bài viết của tác giả XYZ </i></b></p>
<p>Chuyện “<i>Tản mạn về từ </i>‘bài viết’” có thể ngừng ở đây nếu “bài viết” chỉ là… bài viết mà không cần gắn thêm cái đuôi “của tác giả…” Nói “bài viết” thôi thì e không được cụ thể, không có đầu đuôi, gốc gác rõ ràng, vì vậy mới có thêm <i>cụm từ</i> “bài viết của tác giả (tên tác giả)” để <i>làm rõ</i> <i>vụ việc</i>, cung cấp thêm <i>thông tin</i> về bài viết ấy.</p>
<p>Một vài mẫu câu đọc được trên báo trong, ngoài nước:</p>
<p>“<i>Bài viết của tác giả</i> TC rất công phu, cung cấp nhiều tư liệu có giá trị”.</p>
<p>“<i>Bài viết của tác giả</i> NHQ một phần nào trả lời câu hỏi ấy”.</p>
<p>“<i>Bài viết của tác giả</i> DTL đăng trong báo Xuân <i>Người Việt</i>”.</p>
<p>(Đôi lúc ta còn gặp những “bài viết của tác giả nhà văn/nhà thơ XYZ”).</p>
<p>Đây cũng là lối viết <i>đặc trưng</i> của người Việt trong và ngoài nước từ sau năm 1975 (cũng được không ít “những người viết cũ” của miền Nam <i>tiếp thu</i> và ưa chuộng).</p>
<p>Vì sao lại cần phải có thêm từ “tác giả” đứng trước tên của… tác giả? Có thể hiểu hoặc suy luận (đúng/sai) một trong những lý do thế này:</p>
<p>- Ghi rõ như thế cho cẩn thận và… chắc ăn (có thừa một chút cũng không sao), vì có khi bài viết ghi tên tác giả nhưng tác giả… thật lại là người nào khác.</p>
<p>- “Tác giả” ở đây không chỉ là… tác giả hiểu theo nghĩa thông thường mà còn là một danh xưng, danh hiệu (title), cũng tựa như “học giả”, “diễn giả”, “soạn giả”, “dịch giả”.</p>
<p>- “Tác giả” này không phải là nhà văn, nhà báo, nhà thơ… hay “nhà” gì chuyên nghiệp, hoặc là nhiều “nhà” quá không biết gọi sao cho đúng, bèn gọi là “tác giả” cho… gọn.</p>
<p>Cho dù hiểu theo nghĩa nào thì việc đặt hai chữ “tác giả” trước tên tác giả là thừa và… vô nghĩa, không khác nào nói “nhà sử gia”, “nhà tâm lý gia”, “nhà phê bình gia” (thay vì “nhà sử học”, “nhà tâm lý học”, “nhà phê bình”), hoặc “quý thính giả nghe đài”, “quý khán thính giả xem đài”. Cách dùng hợp lý bao giờ cũng là đặt hai chữ “tác giả” trước tên tác phẩm, chứ không phải trước tên tác giả. Ví dụ: nói “tác giả Cô Gái Đồ Long” chứ không nói “tác giả Kim Dung” (hoặc “tác giả nhà văn Kim Dung”), nói “tác giả Buồn Ơi, Chào Mi!” chứ không nói “tác giả Francoise Sagan”, nói “tác giả Bướm Trắng” chứ không nói “tác giả Nhất Linh”, nói “tác giả Vòng Tay Học Trò” chứ không nói “tác giả Nguyễn Thị Hoàng”…</p>
<p>Đề nghị vài cách điều chỉnh: ví dụ, thay vì nói/viết “Bài viết của tác giả Kim Dung”:</p>
<p>1. Thay tên tác giả bằng tên tác phẩm: “Bài viết của tác giả Cô Gái Đồ Long”.</p>
<p>2. Thay “tác giả” bằng danh hiệu (title) đứng trước tên người viết (nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà nghiên cứu, nhà phê bình, nhà biên khảo…): “Bài viết của nhà văn Kim Dung”.</p>
<p>3. Không ghi “tác giả”, ghi “ông/bà/anh/chị/cô…” trước tên người viết, hoặc chỉ ghi tên người viết: “Bài viết của ông Kim Dung” hoặc “Bài viết của Kim Dung”.</p>
<p>Có thể ghi “Bài viết của tác giả” (không ghi tên người viết sau từ “tác giả) nếu tên tác giả (Kim Dung) đã được đề cập trước đó. Ví dụ: “Bài viết của tác giả rất lý thú”.</p>
<p>Trở lại với từ “bài viết”, thiết nghĩ nếu từ này được ưa chuộng vì đơn giản và… thuần Việt thì từ “tác giả” cũng nên đổi thành từ “người viết” (hay “người gõ”, “người vẽ”, “người chụp”…), vừa tương ứng với từ “bài viết” vừa thể hiện được tinh thần “ta về ta tắm ao ta” và “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Thay vì nói “Bài viết của tác giả ABC” hoặc “Bài vẽ của tác giả XYZ”, nói “Bài viết của người viết ABC” hoặc “Bài vẽ của người vẽ XYZ”. Thoạt nghe hơi lạ tai, nghe mãi cũng thành quen tai. Trước lạ, sau quen. (Từ “người viết” về sau này cũng thấy khá phổ biến, một số tác giả xưng mình là “người viết” trong các “bài viết”).</p>
<p>Sau hết, để kết thúc bài này, xin dẫn ra hai bài viết “mẫu” đọc được trong các báo mạng (online):</p>
<p>* “Bài viết” thứ nhất của một em học sinh tiểu học, viết về “ông nội của em”:</p>
<blockquote><p>Nhà em có nuôi một ông nội. Ông không có răng. Sáng sáng mẹ em cho ông nội ăn. Trưa trưa ba em cho ông nội ăn. Hôm nào không có ba và mẹ ở nhà thì ông nhịn đói. Ông nội trông nhà rất giỏi. Tuy ông già nhưng rất ít khi ngủ vì bị lao phổi, ho suốt cả đêm. Vì vậy nhà em suốt mấy chục năm nay không bị mất trộm vì chúng tưởng trong nhà em lúc nào cũng có người còn thức.</p>
</blockquote>
<p>* “Bài viết” thứ hai của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, “Mọi chuyện đều là trò đùa” (<i>trích đoạn</i> bài “Bệnh của chữ, bệnh của người”):</p>
<blockquote><p>Có một cách nói chỉ mới nảy sinh vài chục năm nay song được mọi người bình thường đón nhận khá hào hứng, đó là khi nói về những cái hay, cái tử tế, người nói thường kèm thêm hai chữ ‘hơi bị’ ở đằng trước: ‘Cái áo này hơi bị vừa’, ‘Cái nhà kia hơi bị nổi trong khung cảnh’, ‘Em hơi bị đẹp, anh hơi bị buồn’ (thơ Nguyễn Duy). Thử phân tích kỹ một chút: chữ ‘bị’ trong tiếng Việt vốn chỉ cái điều thụ động, không thích làm không thích nhận, hoặc đơn giản là cái gì kém, hỏng, lạc điệu. Nay nó lại được dùng cho những phẩm chất tích cực. Một quá trình tâm lý nào đã xảy ra ở đây? Tôi muốn đẩy cho ý nghĩ lan man một chút, đi tới cùng trên cái hướng mà nhiều người đã dừng. Phải chăng nay là lúc sự đời nhuế nhóa, nhiều sự việc đến với chúng ta trong cái vẻ không thuần nhất, bảo là vui cũng được, bảo là buồn cũng được? Cái tốt đẹp lại mang trong nó mầm tai họa? Cái xấu xí hóa ra lại ở với mình lâu dài? Trong đùa cợt ở đây có cả sự ê chề của kẻ bị lừa quá nhiều nên thiếu niềm tin lẫn nhận thức sâu xa về cuộc đời hỗn loạn, suy đến cùng là một cái gì giống như cảm giác về thế giới lộn ngược, và người ta phải đùa để xả hơi. Phong cách đùa bỡn trở thành ngôn ngữ chủ yếu của đời sống?</p>
</blockquote>
<p>Xin cám ơn <i>các quý độc giả</i> đã dành thì giờ đọc qua <i>bài viết của tác giả</i>…</p>
<p><strong>Lê Hữu </strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p>*Những chữ in <i>nghiêng</i> trong bài là từ ngữ hoặc cách dùng chữ ở trong nước.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23263/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>S&#212;NG MEKONG TRƯỚC NGUY CƠ 2012: C&#217;NG PH&#193;T TRIỂN VỚI &#8220;TINH THẦN MEKONG&#8221;</title>
		<link>http://damau.org/archives/23247</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23247#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Jan 2012 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Thế Vinh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Kinh Tế]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23247</guid>
		<description><![CDATA[Con Sông Mekong sẽ là một sợi dây nối kết các quốc gia chứ không phải là nguyên nhân gây chia rẽ. Năm 2012, sẽ là một năm của ước vọng hàn gắn/ healing process những đổ vỡ, phục hồi niềm tin, tiến tới triển vọng hợp tác trong “Tinh Thần Sông Mekong / Mekong Spirit” như một mẫu số chung ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="right">Gửi Nhóm Bạn Cửu Long &amp; VN 2020 Mekong Group</p>
<p>&#160;</p>
<blockquote><p><i>Các quốc gia thành viên ký kết cùng đồng ý là “bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.” </i>Điều 7 trong &quot;Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong&quot; 1995<i> </i></p>
<p><i>“Sông Mekong đang bị đe dọa nghiêm trọng vì sự lạm dụng nguồn nước và hậu quả của biến đổi khí hậu. Nếu không có một chính sách khai thác thận trọng và hợp lý các nguồn tài nguyên sông Mekong, con sông hùng vĩ này không thể nào sống còn”. </i>Abhisit Vejjajiva, Hua Hin MRC Summit 2010</p>
</blockquote>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>     <br />NỔ BÙNG THỦY ĐIỆN VÙNG HẠ LƯU </strong></p>
<p>Khai thác thủy điện không phải chỉ có trên con sông Lancang – tên nửa chiều dài sông Mekong thuộc lãnh thổ Trung Quốc, mà ngay vùng hạ lưu cũng đang có hiện tượng <i>“nổ bùng thủy điện / explosion of hydropower”</i>. Chỉ riêng nước Lào nhỏ bé [diện tích chỉ lớn hơn tiểu bang Utah của Mỹ, dân số khoảng 6.5 triệu, ít hơn cả dân số thành phố Sài Gòn] vậy mà đã có hơn 77 dự án đập trên các phụ lưu và dòng chính sông Mekong, hoặc đã hoàn tất, hoặc đang xây hoặc sắp được triển khai. Phần lớn lượng điện sản xuất từ xứ Triệu Thớt Voi <i>“Lane Xang – the land of a million elephants”</i> này là nhằm thu về ngoại tệ, đồng thời đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng [10-15% mỗi năm] của hai nước láng giềng là Thái Lan và Việt Nam.</p>
<p>So với trước đây, khai thác thủy điện sông Mekong nay có phần dễ dàng hơn khi mà nguồn tiền đầu tư có thể đến từ những ngân hàng thương mại địa phương thay vì phải được tài trợ từ các tổ chức tài chánh quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới / World Bank, Ngân hàng Phát triển Á châu / ADB.</p>
<p>Nhưng rõ ràng vẫn có rất nhiều khiếm khuyết trong các dự án đập hạ lưu trên dòng chính sông Mekong. Thứ nhất là khả năng điều hợp xử dụng nước ra sao cùng với chuỗi đập thượng nguồn của Trung Quốc, và không ai trả lời được là liệu có đủ nước hay không để vận hành các turbines quanh năm nhằm bảo đảm công suất cho mỗi con đập [ cũng là bảo đảm lợi nhuận ]; khi mà công ty xây đập chỉ biết về xây dựng nhưng lại không có kỹ năng về thủy điện.</p>
<p>Giới lãnh đạo các quốc gia Mekong, phần do thiếu hiểu biết hoặc cố tình không biết / <i>wilful ignorance </i>– theo ngôn từ của Milton Osborne, [5] nên chỉ thấy những lợi nhuận trước mắt, mà không quan tâm gì tới hậu quả nghiêm trọng lâu dài mai sau. Cư dân trong lưu vực sông Mekong liệu có hạnh phúc hơn không với những bước phát triển không bền vững / <i>unsustainable development</i> như hiện nay. Như với người dân Lào hiền hòa, từ bao nhiêu ngàn năm nay – Con Sông Mẹ / Mea Nam Khong [ tên Lào Thái của con sông Mekong ] luôn luôn là mạch sống của họ với phong phú nguồn cá và lúa gạo. Nay thì nếp sống cổ truyền và an bình ấy bị đảo lộn, đang bị các chánh trị gia / hay đúng hơn là thiểu số lãnh đạo xem dân họ như quá lạc hậu, nên cần mau chóng “canh tân”, bằng tận khai thác nguồn thủy điện cho dù có những bằng chứng là họ đang giết chết Con Sông Mẹ ấy. Nông và ngư dân Lào thì không được biết về mối hiểm họa, họ lại không có tiếng nói và nếu có thì với một chánh quyền “không dân chủ” tiếng nói ấy cũng chẳng được lắng nghe.</p>
<p><strong>TỪ CON ĐẬP XAYABURI TỚI DON SAHONG</strong></p>
<p>Xayaburi đã và đang gây nhiều tranh cãi vì là con đập dòng chính đầu tiên vùng hạ lưu đang được Lào và Thái Lan xây dựng. Tưởng cũng nên ghi lại đây là cho dù Hội Nghị Ủy Hội Sông Mekong ở Siem Reap [ 12/08/2011 ] đã có quyết định tạm hoãn dự án đập Xayaburi, nhưng Lào thì không bày tỏ một cam kết là sẽ ngưng xây con đập này. Surasak Glahan, phát ngôn viên của Ủy Hội Sông Mekong / MRC cho biết là : “Trong Hội nghị Siem Reap, phái đoàn Lào đã không đề cập gì tới dự án đập Xayaburi.” Và Ủy Hội Sông Mekong và các quốc gia thành viên khác đã chính thức gửi văn thư tới chánh phủ Lào yêu cầu cung cấp thông tin về con đập Xayaburi nhưng <i>không được một hồi âm.</i></p>
<p>Nay tên con đập Don Sahong cũng đang rất được lưu ý và nhắc tới; tuy là con đập nhỏ nơi cực nam của đất Lào, sát biên giới Cam Bốt khoảng cách chỉ hơn 1 km, nhưng lại được xây dựng ngay trên thác Khone, nơi được coi như một khu bảo tồn sinh thái phong phú nhất / global diversity value, nơi có triển vọng được xem là vùng <i>Đất ngập Ramsar / Ramsar Wetlands</i> có tầm quan trọng toàn cầu [Ramsar Convention on Wetlands là một thỏa ước liên quốc gia được ký kết tại Ramsar [02/ 02/ 1971] bờ nam biển Caspian của Iran, với mục đích bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập qua sự hợp tác từ các cấp địa phương, cấp vùng, quốc gia và quốc tế ]. Và hơn thế nữa, thác Khone cũng là trọng điểm của các loài di ngư từ Biển Hồ Cam Bốt ngược dòng lên rất xa trên khúc sông Mekong thượng nguồn Lào Thái để sinh sản. Để qua thác, các loài cá phải bơi qua các kênh nước /channels thác Khone – nơi có hàng ngàn đảo nhỏ với chằng chịt những kênh rạch nhưng chỉ có vài kênh nước chính là cá có thể lội qua được để lên thượng nguồn, trong đó quan trọng nhất phải kể tới con kênh Hou Sahong dài 7 km từ đảo Don Sahong đến đảo Don Sadam, vì kênh nước này rộng và cũng đủ nước quanh năm để cá có thể lội ngược dòng ngay cả trong mùa khô. Dự án Don Sahong cũng có thể làm tuyệt chủng / extinction hai loài cá hiếm qúy Pla Beuk / Pangasianodon gigas và Irrawaddy Dolphin, được coi là hai chủng loại quan trọng / <i>flagship species </i>biểu tượng cho sự lành mạnh của hệ sinh thái Sông Mekong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1A_-Pla-Beuk-Catfish.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H1A_-Pla-Beuk-Catfish" border="0" alt="H1A_-Pla-Beuk-Catfish" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1A_-Pla-Beuk-Catfish_thumb.jpg" width="349" height="234" /></a></p>
<p align="center"><i>Cá Pla Beuk / Pangasianodon gigas [nguồn: Tan S. Bunwath / WWF Cambodia] </i></p>
<p><i></i></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1B_-Mekong-Dolphin.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H1B_-Mekong-Dolphin" border="0" alt="H1B_-Mekong-Dolphin" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H1B_-Mekong-Dolphin_thumb.jpg" width="379" height="213" /></a></p>
<p align="center"><i>Cá Irrawaddy Dolphin Mekong [nguồn: Kratie Province Government, Cambodia] </i></p>
<p><i></i></p>
<p>Đã có rất nhiều chứng cớ là con đập thủy điện Don Sahong, tuy chỉ cao khoảng 30-32 m với công suất 240-360 MW [nhỏ nhất so với 11 dự án dòng chính vùng hạ lưu] nhưng lại có tác hại vô lường trên toàn hệ thủy sinh thái nhất là đối với nguồn cá phong phú của con sông Mekong, vì đây là điểm quy tụ tối đa của các đoàn di ngư / migratory fish trên sông Mekong. Phần lớn lượng cá mà ngư dân Lào và Thái lưới bắt được trên thượng nguồn cũng là từ các đoàn di ngư lội ngược dòng từ thác Khone. Kể cả nguồn cá của các phụ lưu lớn sông Mekong như sông Mun [Thái], sông Xedon, sông Xebanghieng [Lào] cũng phụ thuộc vào các đoàn di ngư từ vùng ghềnh thác này. [4]</p>
<p>Giới am hiểu và theo dõi tình hình nước Lào, nhận định trường hợp con đập Don Sahong có một lịch sử lâu dài hơn nhiều, phản ánh một nền cai trị rất phức tạp theo lãnh địa của xứ Lào. Nhà nước Lào tuy là một chánh quyền Đảng trị, đảng Cộng Sản Lào, giống mô hình Việt Nam – nhưng vẫn không tránh được nét phong kiến gia đình trị trong hệ thống ấy. Điển hình là quyền lực của gia đình Siphadone phía Nam Lào. Khamtay Siphadone tuy không còn là tổng thống Lào [1998 – 2006], nhưng gia đình ông thì từ trước đó và cả sau này vẫn cứ thống lĩnh một tiểu vương quốc phía Nam, trong đó có vùng thác Khone hay còn có tên gọi là Tứ Thiên Đảo / See Phan Done thuộc tỉnh Champasak. Rất sớm, vào giữa thập niên 90s, gia đình Siphadone đã cho phép công ty Mã Lai xây dựng một trung tâm du lịch tráng lệ phía trên vùng thác Khone: bao gồm một khách sạn 5 sao với 2,000 buồng, một sân Golf 18 lỗ với hai sòng bài và cả một sân bay có thể đón loại phản lực cơ Boeing 737. Dự án ấy phải tạm ngưng do cuộc khủng hoảng tài chánh Á Châu 1997. Nhưng rồi một kế hoạch khác cũng có liên hệ tới dự án khu du lịch, do người con trai của Khamtay Siphadone, nguyên thống đốc tỉnh Champasak, ký kết với một công ty Mã Lai khác có tên là Mega First Corporation Berhad, tiến hành xây đập thủy điện Don Sahong ngay trên thác Khone nhằm cung cấp điện cho khu du lịch mà phần lớn sở hữu là của gia đình Siphadone và cả bán điện cho Cam Bốt và Thái Lan.</p>
<p>Thấy được mối hiểm nguy của con đập Don Sahong trực tiếp đối với vựa cá của Cam Bốt nên cuối năm 2007, Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt / <i>Cambodian National Committee</i> đã gửi thư phản đối tới chánh phủ Lào, nhưng <i>hoàn toàn “không được hồi âm”.</i> Tháng 11, cũng năm 2007 tại Hội nghị Siem Reap, phái đoàn Cam Bốt và các tổ chức NGO một lần nữa lên tiếng phản đối dự án đập Don Sahong, và yêu cầu đáp ứng từ Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong / MRC Secretariat, và sau đó thì MRC cũng gửi bản lượng giá với <i>“những nhận định chỉ trích / critical”</i> về con đập Don Sahong tới chánh phủ Lào, và một lần nữa bị chánh phủ Lào <i>“coi như không có”</i> và vẫn cứ tiến hành ký kết bản Hợp đồng Dự án Phát triển / Project Development Agreement với công ty Mã Lai Mega First để tiếp trục triển khai con đập thủy điện Don Sahong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H2_-Don-Sahong-Dam.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H2_-Don-Sahong-Dam" border="0" alt="H2_-Don-Sahong-Dam" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H2_-Don-Sahong-Dam_thumb.jpg" width="270" height="439" /></a></p>
<p align="center"><i>Đập Thủy Điện Don Sahong 240-360 MW trên Thác Khone [nguồn: Milton Osborne, The Mekong River Under Threat] </i></p>
<p>Thủ tướng Cam Bốt Hun Sen cũng đã tới Lào [03/2008] để thảo luận về dự án đập Don Sahong do ảnh hưởng di hại trực tiếp tới Cam Bốt. Nhưng sau đó, theo Milton Osborne với lý do thật khó hiểu là Ủy ban Quốc gia Mekong Cam Bốt nhận được chỉ thị là phải ngưng chỉ trích công khai / public criticism dự án đập Don Sahong [5].</p>
<p><i>[Tưởng cũng nên ghi lại ở đây là Cam Bốt cũng có dự án đập thủy điện Sambor – cùng với Don Sahong, được coi như một trong hai “tử huyệt” đối với các loài cá sông Mekong] </i></p>
<p>Điều đó có nghĩa là dự án đập Don Sahong sẽ vẫn cứ được tiến hành và chánh phủ Lào thì được chia 20% cổ phần / shares của dự án. Don Sahong tuy nhỏ hơn cả những con đập phụ lưu trên đất Lào, nhưng lại có tầm quan trọng của một <i>“phát súng thi ân / coup de grâce”</i> đối với cả một nguồn cá nước ngọt phong phú nhất của hành tinh này, có nghĩa làm mất 80% nguồn protein của hàng triệu cư dân phụ thuộc vào nguồn cá [3 triệu tấn/ năm], và sẽ ảnh hưởng lâu dài hơn nữa tới tình trạng dinh dưỡng vốn đã thiếu thốn từ bao năm rồi.</p>
<p><i>“Cho dù các quốc gia Mekong khác nói gì đi nữa, thì họ – đây là Lào và Thái, vẫn quyết tâm tiến tới trong năm 2012 này.”</i> Một cựu viên chức trong phân bộ thủy điện Lào, phát biểu với yêu cầu được ẩn danh, là chánh phủ Lào đã dứt khoát có quyết định xây con đập Xayaburi. <i></i></p>
<p>Piaporn Deetes, điều hợp viên truyền thông Thái Lan của tổ chức Mạng lưới Sông Quốc tế / IRN đã nhận định: <i></i></p>
<p><i>“Cố tình hoạt động bên ngoài tầm theo dõi của Ủy Hội Sông Mekong, Thái Lan và Lào đã gây tổn thương cho tinh thần hợp tác vùng và những nguyên tắc của Hiệp định Sông Mekong 1995; và cũng không có gì ngạc nhiên về sự vận động mạnh mẽ của công ty xây đập Ch.Karnchang để tiến tới, và cũng là điều khó có thể chấp nhận được khi chánh phủ Thái đã cúi mình trước tập đoàn xây đập thay vì phải bảo vệ quyền lợi của dân chúng.” </i></p>
<p>Phillip Hirsch, giám đốc Úc Châu của Trung Tâm Tài Nguyên Mekong, thuộc Đại học Sydney cho rằng <i>“Không chỉ có những mất mát về hệ sinh thái; những con đập còn có những ảnh hưởng tác hại to lớn về phương diện kinh tế. Theo một cuộc khảo sát mới đây, cái giá về kinh tế phải trả cho tổn thất về môi trường có thể lên tới 274 tỉ MK.” </i>[8]<i> </i><i></i></p>
<p>Không những thế, Lào còn thông báo cho Ủy hội Sông Mekong / MRC dự định tiến hành các dự án khác trên dòng chính và phụ lưu sông Mekong. Tưởng như rất vô lý nhưng điều ấy thì vẫn cứ xảy ra !</p>
<p>Và rõ ràng, như một mẫu ứng sử riêng lẻ của nhà nước Lào, nhưng có tính cách liên tục và nhất quán: <i>Không nghe, không hồi đáp, vẫn tiến hành</i>: đó là cách hành xử không thể gọi là văn minh trong bang giao quốc tế ở thế kỷ 21 này. Chánh phủ Lào đã chứng tỏ là không tôn trọng tinh thần của <i>Điều 7 trong &quot;Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong&quot; 1995 </i>đã ký kết và đơn phương chọn quyền lợi riêng tư ngắn hạn nhưng với cái giá phải trả của các nước lân bang. Cho đến nay những khuyến cáo và khả năng điều hợp của MRC đã hơn một lần tỏ ra vô hiệu.</p>
<p><strong>TỪ NGHIÊN CỨU “LƯỚI BẮT VÀ NUÔI CẤY 2008” </strong></p>
<p>Cách đây hơn 3 năm [12/2008] Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong cho ấn hành bản nghiên cứu với nhan đề “Lưới Bắt và Nuôi Cấy / Catch and Culture” đã nêu ra 5 câu hỏi vấn nạn như sau:</p>
<p>(1) Đặc tính và tầm quan trọng của các đoàn di ngư / fish migration trên sông Mekong ra sao? (2) Ảnh hưởng rào chắn của những con đập trên các đoàn di ngư ra sao? (3) Hiệu quả của các đường dẫn cá / fish-passage facilities ra sao với các đoàn di ngư lội ngược dòng? (4) Hiệu quả của các đường dẫn cá / fish-passage facilities ra sao với các đoàn di ngư xuôi dòng? (5) Làm sao đền bù thiệt hại cho ngư dân bị mất mát nguồn cá do những con đập?</p>
<p>Giải đáp và cũng là kết luận của bản nghiên cứu cho rằng: (a) Nguồn cá và tài nguyên con sông Mekong có tầm quan trọng cơ bản đối với nền kinh tế và xã hội của các quốc gia Mekong và những cộng đồng cư dân vùng hạ lưu; (b) Khác với những con đập phụ lưu, những con đập dòng chính sông Mekong nhất là với những con đập nơi khúc giữa và khúc dưới sông Mekong vùng hạ lưu sẽ có ảnh hưởng tác hại lớn lao hơn nhiều; (c) Các chuyên gia của nhóm nghiên cứu cho rằng khả năng chế tạo loại “turbines thân thiện với cá / fish friendly turbines” hay đường dẫn cho cá cho dù với tên gọi gì đi nữa [ như bậc thang cá / fish ladders, thang nâng cá / fish lifts, hay đường dẫn cá / fish passages ] thì hiệu quả chỉ có trên lý thuyết do tầm vóc quá lớn lao của các đoàn di ngư trên dòng chính sông Mekong. Một ví dụ về thử nghiệm thang cá đã thất bại nơi đập Pak Mun [Thái Lan] vào thập niên 90 cho dù các đoàn di ngư nhỏ hơn rất nhiều, nguyên do cá sông Mekong không phải là chủng loại cá Salmon như ở Bắc Mỹ nên không có khả năng nhảy đập để về nguồn. [2]</p>
<p><strong>TỚI BẢNG LƯỢNG GIÁ MÔI SINH CHIẾN LƯỢC 2010 </strong></p>
<p>Tiếp theo tài liệu <i>“Lưới Bắt và Nuôi Cấy”,</i> Ban Thư Ký Ủy Hội Sông Mekong đã yêu cầu Trung tâm Quốc tế Quản lý Môi trường / ICEM / <i>International Centre for Environmental Management</i> [là một cơ quan tham vấn độc lập của Úc] hỗ trợ cho Ban Thư ký Ủy Hội Sông Mekong thực hiện một cuộc khảo sát <i>“Lượng giá Môi trường Chiến lược/ SEA / Strategic Environment Assessment”</i> đối với các dự án thủy điện dòng chính Sông Mekong vùng hạ lưu. Công trình được thực hiện qua những cuộc nghiên cứu kéo dài hơn 14 tháng, với sự cộng tác mở rộng của Ban Thư ký Ủy Hội Sông Mekong, Ủy ban Mekong Quốc gia của 4 nước thành viên, các nhóm xã hội dân sự, khu vực tư nhân và các nhóm lợi ích khác, nhằm hỗ trợ Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong một tập hợp những thông tin cần thiết.</p>
<p>Bản báo cáo có nói tới những lợi ích từ nguồn thủy điện khoảng 13,500 MW cho các chương trình phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, và vấn đề giảm phát thải khí CO2 so với các dự án khai thác nhiên liệu hóa thạch. Nhưng SEA đồng thời cũng nêu ra những ảnh hưởng lâu dài cùng với những nguy hiểm tích lũy / cumulative risks của các con đập dòng chính. Những con đập ấy có thể gây tác hại sâu rộng trong bước phát triển bền vững và những <i>“ảnh hưởng không thể hồi phục”</i> trên đời sống của nhiều triệu cư dân trong lưu vực / basin. [1]</p>
<p><strong>NHỮNG ẢNH HƯỞNG CHUỖI ĐẬP HẠ LƯU / SEA</strong> :</p>
<p>1/ Biến đổi Dòng Chảy và Bản chất của con Sông:</p>
<p>Những con đập sẽ biến hơn nửa chiều dài của con sông vùng hạ lưu thành một chuỗi những hồ chứa tù đọng và gây biến động dòng chảy ở những khúc sông phía dưới các con đập. Và con sông sẽ không còn giữ được “nhịp đập / flood pulse” theo mùa, cũng là yếu tố sinh tử của Biển Hồ và con sông Tonlé Sap.</p>
<p>2/ Ảnh hưởng tới Nguồn Cá và An toàn Thực phẩm:</p>
<p>Những con đập sẽ ngăn chặn các đoàn di ngư / migratory fishes, thu hẹp diện tích các vùng đất ngập / wetland areas và làm biến đổi và hủy hoại sinh cảnh thiết yếu của các loài cá sông Mekong. Những biến động này sẽ làm mất tới 42% lượng cá tương đương với 500 triệu MK mỗi năm. Với hậu quả là ảnh hưởng tiêu cực tới phẩm chất cuộc sống và sự an toàn thực phẩm bị đe dọa nhất là với Cam Bốt do cá là nguồn protein chính của đa số người dân Cam Bốt. Toán Lượng giá Môi Trường Chiến lược SEA đã cho rằng không có kỹ thuật nào có thể thay thế hay bù đắp tổn thất nguồn cá thiên nhiên phong phú này. Bằng chứng hiển nhiên về sự hoàn toàn thất bại của các thang cá nơi đập Pak Mun trên sông Mun, một phụ lưu lớn của sông Mekong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H3_-Annual-Catch.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H3_-Annual-Catch" border="0" alt="H3_-Annual-Catch" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H3_-Annual-Catch_thumb.jpg" width="282" height="379" /></a></p>
<p align="center"><i>Lượng cá lưới bắt khoảng 3 triệu tấn một năm trong Lưu Vực Dưới Sông Mekong [nguồn: MRC 09-2008] </i></p>
<p>3/ Đe dọa tính Đa dạng của hệ Thủy sinh:</p>
<p>Do những thay đổi làm biến dạng con sông, gây rối loạn dòng chảy và cả môi trường nước, tính phong phú và đa dạng của hệ thủy sinh sông Mekong bị đe dọa, với hơn 100 loài cá bị lâm nguy / endangered species, trong đó có các chủng loại quan trọng / flagships species biểu tượng cho hệ sinh thái lành mạnh của sông Mekong như loài cá Irrawaddy Dolphin, cá Pla Beuk khổng lồ / Giant Mekong Catfish nặng tới hơn 300 kg – cả hai đang có nguy cơ bị tuyệt chủng / extinction. <b></b></p>
<p>4/ Thay đổi hệ Sinh thái Trái đất:</p>
<p>Với gần nửa diện tích đất đai trồng trọt và các khu rừng vùng hạ lưu sông Mekong được công nhận là Vùng Đa dạng Sinh thái Chủ yếu / Key Biodiversity Zones; với trong đó 5% là Khu Bảo tồn Quốc gia / National Protected Areas và các Vùng Đất Ngập / Wetlands site được bảo vệ theo Quy ước Ramsar. Những con đập gây lũ lụt sẽ nhận chìm những vùng đất ngập gây ảnh hưởng trên hệ sinh thái động vật và thực vật / fauna and flora của hành tinh này. Cộng thêm với hệ thống trụ cáp dẫn điện và những mạng lưới đường xá cũng gây hủy hoại thêm cho sinh cảnh trong vùng.</p>
<p>5/ Tổn thất Nông nghiệp:</p>
<p>Sản xuất nông nghiệp sẽ tổn thất hơn 5 triệu MK/ năm do đất ngập lụt từ các con đập, do mất phù sa vì bị giữ lại trong các hồ chứa làm tăng nhu cầu xử dụng phân bón hóa học tổn thất thêm 24 triệu MK/ năm; mất nguồn canh tác vườn tược ven sông / riverbanks gardens tổn thất 21 triệu MK/ năm trong khi dự án dẫn thủy chỉ bù đắp được 15 triệu MK/ năm trên 50 triệu MK thất thoát về kinh tế nông nghiệp.</p>
<p>6/ Giảm Trữ lượng Phù sa:</p>
<p>Nồng độ phù sa trong dòng chảy giảm 50% sẽ gây hậu quả nghiêm trọng trong tiến trình chuyển tải các dưỡng chất thiết yếu như phốt phát / phosphorous và đạm chất / nitrogen tưới bón cho các dẻo đất ven sông và các vùng châu thổ [ Tonle Sap Cam Bốt, Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam], ảnh hưởng sút giảm trong sản xuất nông nghiệp, tới nguồn cá trên sông và cá vùng cận duyên. Giảm lượng phù sa cũng làm mất cân bằng dòng chảy, gây sạt lở các bờ sông, các vùng ven biển vốn đã bị thay đổi đáng kể do thay đổi khí hậu/ climate change.</p>
<p>7/ Đe dọa cuộc sống ổn định, Văn hóa cổ truyền và Dân cư:</p>
<p>Những con đập sẽ gây bất ổn cho cuộc sống và đe dọa an toàn thực phẩm của hơn 40 triệu cư dân phụ thuộc vào nguồn cá phong phú của con sông Mekong; cộng thêm với ảnh hưởng mất đất đai nông nghiệp cùng với ảnh hưởng tích lũy của biến đổi khí hậu càng làm trầm trọng thêm tình trạng an ninh về lương thực trong toàn vùng. Những con đập có thể làm thay đổi vĩnh viễn nếp sống văn hóa cổ truyền, gia tăng sự bất bình đẳng dẫn tới nghèo khó, ảnh hưởng tới mục tiêu thiên niên kỷ là xóa đói giảm nghèo từ mọi quốc gia.</p>
<p>8/ Và Các Đề xuất: Tạm Hoãn 10 Năm</p>
<p>SEA cũng đưa ra những đề xuất làm cách nào để triển khai một cách tối ưu các dự án đập trong phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong lưu vực. Và do những bất trắc chưa lường được của các dự án, SEA đã đề nghị tạm hoãn trong 10 năm [ 2010-2020 ] để có thời gian nghiên cứu thêm và bổ xung những khiếm khuyết. [1]</p>
<p>Kết luận của SEA / Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược không thể không gây ngạc nhiên. Đó là, nhóm hưởng những lợi ích kinh tế của các dự án trước hết không phải là dân chúng mà là một thiểu số các tài phiệt và công ty xây đập. [6] Một dòng chính Mekong không bị nghẽn mạch vì những con đập ít nhất trong vòng một thập niên theo yêu cầu của toán đặc nhiệm SEA / Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược phải được coi là một một thành quả thắng lợi cho mọi phía / Win-Win Strategy, cho mọi quốc gia trong lưu vực. Khoảng thời gian 10 năm ấy sẽ được vận dụng để khảo sát thêm nhằm gia tăng sự hiểu biết về hệ sinh thái phức tạp và cũng rất mong manh của lưu vực sông Mekong cùng với ảnh hưởng tác hại của những dự án đập có thể gây ra. Xa hơn nữa, là có thể tìm được giải pháp thay thế cung ứng nguồn điện mà không cần tới những con đập dòng chính / mainstream dams với những tác hại nghiêm trọng như vậy.</p>
<p>Theo Jeremy Bird, nguyên Giám đốc điều hành Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong, thì bản tường trình SEA này là <i>một trong những báo cáo phức tạp nhất</i> được tiến hành cho một Lưu Vực Sông Quốc Tế, và đã cho thấy giá trị của việc hợp tác giữa các nước thành viên MRC trong những vấn đề rất nhạy cảm. Thêm một điều ngạc nhiên nữa là khi cuộc nghiên cứu SEA hoàn tất thì MRC vẫn rất dè dặt khi phổ biến và cho rằng các kết luận và khuyến cáo của SEA không phải là quan điểm của Ủy hội Sông Mekong. [Sic]</p>
<p><strong>2012 ỦY HỘI MEKONG TRƯỚC KHÚC RẼ THỬ THÁCH</strong></p>
<p>Mekong là một con Sông Quốc Tế / International River, với nguồn tài nguyên mà tất cả các quốc gia ven sông đều có quyền cùng chia xẻ chứ không chỉ để phục vụ cho các nhóm tài phiệt hay một quốc gia riêng lẻ nào. Nhưng trong thực tế, cùng là những nước ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau với những quyền lợi mâu thuẫn. Có thể thấy trước được rằng, Trung Quốc trước sau sẽ tiếp tục hoàn tất chuỗi 14 con đập Bậc thềm Vân Nam / Mekong Cascade của họ, cho dù hậu quả ra sao đối với lưu vực dưới sông Mekong / Lower Mekong Basin. Nay tới giai đoạn <i>“nổ bùng thủy điện”</i> với 12 dự án đập trên dòng chính sông Mekong vùng hạ lưu, cho thấy toàn hệ sinh thái thái của con sông Mekong đang lâm nguy.</p>
<p>Trong quá khứ, Ủy Hội Sông Mekong đã khá thụ động trước sự tái phục hoạt của các dự án đập thủy điện Hạ Lưu. Các nhà hoạt động môi sinh kêu gọi tinh thần trách của tổ chức liên chánh phủ này. “<i>Ủy Hội cần chứng tỏ là một tổ chức hữu ích cho quần chúng, chứ không phải là cho các nhà đầu tư,</i>” Surichai Wankaew, giám đốc Viện Nghiên cứu Xã hội Đại học Chulalongkorn, Thái Lan nói tiếp “<i>Nhiệm vụ Ủy Hội thay đổi, thay vì ‘tạo thuận/ facilitation’ cho việc xây đập, thì nay phải là ‘diễn đàn / platform’ cho cư dân bị ảnh hưởng nói lên mối quan tâm của họ</i>”. Cũng trước đó, đã có hơn 200 tổ chức môi sinh từ 30 quốc gia yêu cầu Ủy Hội và các nhà tài trợ ngưng ngay các dự án xây đập.</p>
<p>Nay qua công trình <i>“Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược / SEA”,</i> những ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế xã hội và môi sinh của các con đập dòng chính hạ lưu đã được xác định và công khai hóa, cũng đã có thêm nhiều tổ chức hoạt động môi sinh lên tiếng, nêu rõ những tác hại nghiêm trọng và lâu dài trên hàng triệu cư dân sống bằng nguồn nước, nguồn cá của dòng sông Mekong.</p>
<p>Trong một giai đoạn và hoàn cảnh cực đoan như hiện nay, như một tin vui là sau Jeremy Bird đã mãn nhiệm, Ủy Hội Sông Mekong vừa bổ nhiệm Hans Guttman, một công dân Thụy Điển làm Giám đốc điều hành mới tại Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H4_-Hans-Guttman.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="H4_-Hans-Guttman" border="0" alt="H4_-Hans-Guttman" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/H4_-Hans-Guttman_thumb.jpg" width="269" height="208" /></a></p>
<p align="center"><i>Hans Guttman, tân Giám đốc Điều hành, Ban Thư ký Ủy hội Sông Mekong [nguồn: MRC] </i></p>
<p>Guttman, được đánh giá là có khả năng quản trị, với 20 năm sống trong khu vực, từng điều hợp 50 cơ quan phát triển tại các quốc gia Mekong khác nhau đồng thời cũng làm việc với Liên minh các Vùng đất Ngập / Wetlands Alliance, từng là người đứng đầu Chương trình Môi trường trong 6 năm từ 2001 đến 2007. Với hơn một chục bài viết đã được công bố, ông còn được biết đến trong vùng là một chuyên gia hàng đầu về quản lý các nguồn tài nguyên nước ở Lưu vực Mekong.</p>
<p>Guttman bắt đầu đảm nhận nhiệm kỳ 3 năm từ ngày 14 tháng 11 năm 2011, để lãnh đạo một đội ngũ gồm 150 nhân viên và giám sát 2 văn phòng của Ban Thư ký ở Vạn Tượng và Nam Vang giữa một thời kỳ đang ngổn ngang những áp lực và thử thách. [10]</p>
<p><strong>MỘT TINH THẦN SÔNG MEKONG</strong></p>
<p>Người ta hy vọng với những kinh nghiệm đã có từ Ủy hội Sông Mekong từ nhiều năm, bảo đảm cho Guttman có được sự hiểu biết về những vấn đề mang tính quyết định đối với tổ chức này, sẽ giúp ông lãnh đạo một cách hiệu quả vào thời điểm cam go trên một vùng <i>chính trị địa dư / geopolitics</i> đang có rất nhiều biến động và cả phân hóa như hiện nay.</p>
<p>Hai thử thách trước mắt và bước thứ ba lâu dài của Guttman, cũng là của toàn cơ chế Ủy Hội Sông Mekong sau quá trình hoạt động hơn 16 năm [1995-2012] là làm sao:</p>
<p>(1) Thuyết phục các quốc gia thành viên Ủy Hội Sông Mekong tôn trọng tinh thần &quot;Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong&quot; 1995 <i>“Các quốc gia thành viên ký kết đồng ý là “bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.” </i>Theo Điều 7 Mekong 1995.</p>
<p>(2) Thuyết phục được chánh phủ Lào tôn trọng một trật tự vùng, bằng cách tuân thủ theo đề nghị của SEA là tạm hoãn tất cả các dự án đập dòng chính trong 10 năm để có thời gian nghiên cứu thêm và bổ xung những khiếm khuyết. (3) Hiện thực “Kế hoạch Chiến lược 2011-2015 / MRC Strategic Plan”, tăng cường và mở rộng hợp tác với các quốc gia thượng nguồn Lancang-Mekong trên quy mô “Toàn Lưu Vực /Whole of basin approach”, chủ yếu là Trung Quốc, nước sở hữu gần nửa chiều dài con sông Mekong nhưng lại từ chối làm thành viên của Ủy Hội Sông Mekong mở rộng. [9]</p>
<p>Thực hiện và vượt được qua được các bước thử thách trên sẽ là một thành quả to lớn không phải chỉ của cá nhân ông Hans Guttman, mà cũng là “<i>lý do hiện hữu / raison d’être”</i> của tổ chức có danh xưng là Ủy Hội Sông Mekong.</p>
<p>Nhiệm vụ của Guttman cũng sẽ dễ dàng hơn nếu có thêm nhiều tiếng nói của các các nhóm xã hội dân sự. Ngoại trừ Thái Lan, tiếng nói các nhóm xã hội dân sự của 3 quốc gia Mekong còn lại phải nói là rất yếu ớt. Riêng với Việt Nam, tuy phải gánh chịu tất cả hậu quả suy thoái của con Sông Mekong vì là quốc gia cuối nguồn, nếu vận động để có được một triệu chữ ký trong số ngót 20 triệu cư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long, thì đó sẽ là <i>“một chấn động trong toàn vùng”</i>. Nhưng đến bao giờ thì những người dân Miền Tây quanh năm cực nhọc, sống dưới mức nghèo khó ấy ấy mới cất lên được tiếng nói và đến bao giờ thì tiếng nói của họ mới được lắng nghe.</p>
<p>Con Sông Mekong sẽ là một sợi dây nối kết các quốc gia chứ không phải là nguyên nhân gây chia rẽ. Năm 2012, sẽ là một năm của ước vọng hàn gắn/ healing process những đổ vỡ, phục hồi niềm tin, tiến tới triển vọng hợp tác trong “Tinh Thần Sông Mekong / Mekong Spirit” như một mẫu số chung để cùng nhau phát triển, cùng nhau hướng tới một tương lai thịnh vượng chung và hòa bình cho toàn vùng.</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>California 27/01/2012</em></p>
<p><strong>Tham Khảo</strong>:</p>
<p>1/ Strategic Environmental Assessment of Mainstream Dams, MRC, Vientiane, Lao PDR, 17th Aug 2010 &#8211; 31st Dec 2010, <a href="http://www.mrcmekong.org/news-and-events/consultations/strategic-environmental-assessment-of-mainstream-dams/"><i>http://www.mrcmekong.org/news-and-events/consultations/strategic-environmental-assessment-of-mainstream-dams/</i></a></p>
<p>2/ Catch and Culture – Fisheries Research and Development in the Mekong Region; MRC Vol 14, N.3; Dec 2008</p>
<p><a href="http://ns1.mrcmekong.org/download/programmes/fisheries/Catch_Culture_vol14.3.pdf"><i>http://ns1.mrcmekong.org/download/programmes/fisheries/Catch_Culture_vol14.3.pdf</i></a><i></i></p>
<p>3/ <a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf">Modeling The Cumulative Barrier And Passage Effects Of Mainstream Hydro Power Dams On Migratory Fish Populations In The LMB</a></p>
<p><a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf">MRC Technical Paper No. 25</a>; Dec 2009</p>
<p><a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf"><i>http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/technical/tech-No25-modelling-cumulative-barrier.pdf</i></a><i></i></p>
<p>4/ The Don Sahong Dam: Potential Impacts on Regional Fish Migrations, Livelihoods and Human Health; Ian G. Baird, PhD – POLIS Project on Ecological Governance, University of Victoria, August, 2009</p>
<p><a href="http://polisproject.org/PDFs/Baird%202009_Don%20Sahong.pdf"><i>http://polisproject.org/PDFs/Baird%202009_Don%20Sahong.pdf</i></a><i></i></p>
<p>5/ The Mekong, River Under Threat; Milton Osborne, Lowy Institute for Internationa; Policy 2009 <a href="http://www.lowyinstitute.org/Publication.asp?pid=1188"><i>http://www.lowyinstitute.org/Publication.asp?pid=1188</i></a></p>
<p>6/ Testimony of Aviva Imhof, Campaign Director, International Rivers Before the Senate Committee on “Challenge to Water and Security in Southeast Asia”, Sept 23, 2010 <a href="http://foreign.senate.gov/imo/media/doc/Imhof.pdf"><i>http://foreign.senate.gov/imo/media/doc/Imhof.pdf</i></a><i></i></p>
<p>7 / Foretelling the Mekong River’s Fate: Key Findings of the MRC’s Strategic Environmental Assessment on Mekong Mainstream Dams; IRN January 21, 2011<i> </i><a href="http://www.internationalrivers.org/en/node/6129"><i>http://www.internationalrivers.org/en/node/6129</i></a><i><u></u></i></p>
<p>8/ Mekong Battle Delayed; Tom Fawthrop, The Diplomat, December 31, 2011 <a href="http://the-diplomat.com/2011/12/31/mekong-battle-delayed/"><i>http://the-diplomat.com/2011/12/31/mekong-battle-delayed/</i></a><i></i></p>
<p>9/ MRC Annual Report 2010, MRC 2011 <a href="http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/governance/Annual-Report-2010.pdf">http://www.mrcmekong.org/assets/Publications/governance/Annual-Report-2010.pdf</a></p>
<p>10/ MRC appoints new Chief Executive Officer; Vientiane, Lao PDR, 14th Nov 2011 <a href="http://www.mrcmekong.org/news-and-events/news/mrc-appoints-new-chief-executive-officer/"><i>http://www.mrcmekong.org/news-and-events/news/mrc-appoints-new-chief-executive-officer/</i></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23247/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>ĐINH LINH: NH&#192; TU TRONG THẾ GIỚI MỞ</title>
		<link>http://damau.org/archives/23208</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23208#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Bích Thúy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23208</guid>
		<description><![CDATA[“Sự xấu xí” của Đinh Linh đồng nghĩa với “tự do”, vì “sự xấu xí” luôn luôn “sáng tạo, bồn chồn, mạo hiểm, phóng đãng.” “Sự xấu xí” nằm bên ngoài khuôn phép, nhưng nó cần được mọi người chứng nhận, như bề trái của sự hiện hữu.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="right"><i>Đăng lần đầu trên Việt Báo (bản in) số Xuân Nhâm Thìn, Tháng Giêng 2012</i></p>
<p align="right"><em></em></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Linh-Dinh.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Linh-Dinh" border="0" alt="Linh-Dinh" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Linh-Dinh_thumb.jpg" width="454" height="304" /></a></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>Tôi đã đọc, <a href="http://www.google.com/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=2&amp;ved=0CDEQFjAB&amp;url=http%3A%2F%2Ftieulun.hopto.org%2Fdownload.php%3Ffile%3DLuuDayVaDeQuocTrongBoiCanhNhaNguy&amp;ei=K44RT7KQIuX30gHKn4ihAw&amp;usg=AFQjCNGL47XcF4QG6wVVbvb-vPz3AfJFHA" target="_blank">viết nhiều</a> về Đinh Linh, và cũng đã trích dịch nhiều <a href="http://damau.org/archives/5109" target="_blank">truyện ngắn</a>, <a href="http://damau.org/archives/14921" target="_blank">thơ</a>, các bài <a href="http://damau.org/archives/18381" target="_blank">nhận định</a>, <a href="http://damau.org/archives/21734" target="_blank">phỏng vấn</a> của anh. Tuy cùng họ Đinh, tôi không có liên hệ họ hàng gì với anh. Ở một khía cạnh nào đó, anh biểu hiệu cho khái niệm độc lập và tự do mà tôi luôn mong muốn cho chính mình.</p>
<p>Đinh Linh là một mâu thuẫn: anh độc lập trong cách nhìn và hoàn toàn tự do trong nếp sống anh đã tự chọn cho mình, chính vì anh là một nhà tu công giáo, theo đúng nghĩa nguyên thủy của chữ <i>catholic.</i></p>
<p>Tự điển Merriam-Webster định nghĩa chữ “catholic” (không viết hoa) là “Including or concerning all humankind; universal”—bao gồm hoặc liên hệ đến nhân loại, phổ quát.”</p>
<p>Khái niệm phổ quát về những con người bất hạnh có lẽ đã thúc đẩy Đinh Linh đề tặng <i>Nhà Ngụy</i> (Fake House, 2000)- tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của anh- cho “những kẻ không được chọn” (“for the unchosen”). Anh chủ tâm chọn những phần tử đã bị “Chúa”- chính quyền, xã hội, văn hóa, diễm phúc &#8211; khước từ. Sự chọn lựa của Đinh Linh là một hành động chống trả: đó là cách anh thể hiện quyền công dân ở xứ sở thứ hai của mình. Đó cũng là cách anh thể hiện quyền làm người trong một thế giới tuyệt đối mở, nơi ngay những kẻ thua cuộc cũng có cơ hội được bẻ bánh và dự vào <em>đêm tiệc trần gian.</em> <a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn1" name="_ednref1"><b>[1]</b></a></p>
<p>Trong bài phỏng vấn với Andrew Cox trên Tạp chí Da Màu về “<a href="http://damau.org/archives/21734" target="_blank">Những Kẻ Khốn Cùng và Sự Vô Dụng của Thi Ca</a>,” Đinh Linh khẳng định,</p>
<blockquote><p><i>Lúc nào tôi cũng quan tâm đến bọn người bị coi là thua cuộc, hay không được ai chọn, bởi vì đó là tình trạng chung của con người, nếu không thua trong lúc này, thì thế nào mai mốt cũng thua. Chúng ta tất cả sẽ thua cuộc, nhưng trong sự thua cuộc cũng hàm chứa phẩm giá và nghị lực.</i></p>
</blockquote>
<p>Hành động chống trả của Đinh Linh cũng là một cách chất vấn mọi nề nếp tự mãn, mọi hệ thống phè phỡn, hủ lậu. Nối tiếp <i>Nhà Ngụy</i> là các tuyển tập truyện ngắn <i>Máu và Xà Phòng </i>(<i>Blood and Soap, </i>2004), <i>Thư Lạ</i>, 2007 (bản dịch Việt ngữ của Phan Nhiên Hạo), tiểu thuyết <i>Yêu Như Ghét</i> (<i>Love Like Hate</i>, 2010); các tập thơ <i>Chung Quanh Mọi Tuôn Trào</i> (<i>All Around What Empties Out</i>, Tinfish: 2003), <i>Xăm Mỹ</i> (American Tatts, Chax Press: 2005), <i>Những Hình Thể Vô Biên </i>(<em><a href="http://lime-tree.blogspot.com/2006/03/linh-dinhs-borderless-bodies.html" target="_blank">Borderless Bodies</a></em>), Factory School, 2006), <i>Những Ứng Tấu Nhiễu Động (</i><a href="http://www.chax.org/poets/dinh.htm#jam"><i>Jam Alerts</i></a>, Chax: 2007<i>), Lĩnh Đinh Chích Khoái</i> &#8211; tuyển tập thơ đầu tay trong tiếng Việt (Giấy Vụn: 2007), <i>Cuộc Truy Hoan Trơ Tráo</i> (<a href="http://www.chax.org/poets/dinh.htm"><i>Some Kind of Cheese Orgy</i></a><i>, </i>Chax Press: 2009). Qua những tác phẩm trên, Đinh Linh vinh danh <i>đạo </i>của người nghệ sĩ: anh chính là sự phối hợp giữa Narcissus và Goldmund<i>. </i>Anh hiểu rằng trác táng và khổ hạnh là hai khía cạnh đi đôi trong hành trình siêu thoát, không những cho <i>Siddhartha</i> mà cũng áp dụng cho mọi nghệ sĩ chân chính. Qua những tác phẩm của Đinh Linh, cuối cùng tôi đã hiểu nỗi băn khoăn sâu kín của Hermann Hesse. Hesse bị phân tán bởi hai thế cực, giữa xác thịt và tâm hồn, vì ông mang dòng máu của một sắc tộc <i>Baltic</i> Đức lâu đời bén rễ trong lãnh thổ của Đế quốc Nga, đày ải bởi sự cô lập của văn hóa Đức, và đồng thời bị thu hút bởi sắc thái linh hoạt của phong tục Estonia.</p>
<p>Đối với Đinh Linh, khái niệm về Việt Nam là một khái niệm quảng bá, mơ hồ, không có hình dáng hay bờ cõi rõ rệt: Việt Nam có thể là Mỹ, là Anh quốc, là Ý Đại Lợi, là Philadelphia, hoặc với địa thế cũng na ná như một Estonia trần tục của Hesse.</p>
<p>Tôi nghĩ mỗi nhà văn di dân vừa là một hòn đảo, vừa là một đại dương. Mỗi một đại dương chuyển hóa, di động, xen kẽ, hòa mình, hợp lưu với hình thể vô biên của vô vàn đại dương khác, đã hiện hữu từ những thời đại xa lắc xa lơ.</p>
<p>Cũng cùng trong bài phỏng vấn với <a href="http://damau.org/archives/21734" target="_blank">Andrew Cox</a>, Đinh Linh thố lộ,</p>
<blockquote><p><i>Dù sao, tôi luôn luôn là một người thích lang thang, một tên thích đi bộ. Lúc bé ở Sài Gòn, tôi đi khắp nơi. Khi tôi sống ở Ý và Anh, tôi thường đi thăm viếng nhiều thành phố, thị xã, làng ấp xa lạ và chỉ đi bộ. Dự án [Tình trạng Liên Bang] hiện nay cũng là cách tăng cường một thúc đẩy mà tôi vẫn hằng có.</i></p>
</blockquote>
<p>Đinh Linh nói với tôi rằng không có gì <i>thật </i>trong văn chương của anh, vì viết văn là một trò chơi chú trọng trên hết vào sự bấp bênh và giả tạo của ngôn ngữ. Có lẽ trò chơi này cũng không khác gì cỗ quan tài rỗng trong “<a href="http://litviet.com/2009/05/30/dinh-linh-th%E1%BB%8B-tr%E1%BA%A5n-c%E1%BB%97-quan-tai-bi-%E1%BA%A9n/" target="_blank">Thị Trấn Cỗ Quan Tài Bí Ẩn</a>” (“The Town of the Hidden Coffin”) luôn luôn đi lùng xác người nhưng lại “không muốn có thai”(!)<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn2" name="_ednref2">[2]</a> Tuy vậy, Đinh Linh chất vấn mọi khái niệm nghệ thuật và lập luận chính trị đã ly thân ra khỏi trải nghiệm. Trong “A Cultured Boy” (“Thằng Lịch Lãm”), nhân vật kể truyện, một nữ sinh viên đại học, quyết định dùng dao “thiến” người tình của mình vì “thằng bồ lịch lãm” của cô tuy am tường về nghệ thuật nhưng không nhận thức được sự tương quan mật thiết giữa thể xác và tâm hồn.<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn3" name="_ednref3">[3]</a></p>
<p>Thật ra, chính đặc tính bấp bênh và <i>có vẻ giả tạo</i> trong văn chương Đinh Linh đã giúp tôi cảm nhận được những <i>sự thật</i> về anh. “Ông Nội Ngoại Hạng”(“My Grandfather the Exceptional”) là chân dung tự họa, đồng thời là quá khứ, hiện tại, và tương lai của nhà văn hoàn vũ:</p>
<blockquote><p><i>Đây là chuyện có thật về ông nội tôi: bỏ làng đi bộ một ngàn dặm. Ông không định đi xa. Lúc đầu chỉ vài dặm, cuối cùng không ngờ đã đi cách làng ngàn dặm. Cứ vài dặm lại gặp làng mới, hoàn toàn khác làng trước đó. Đến đâu ông cũng ở lại cho tới khi bị đe dọa hoặc lễ độ yêu cầu rời khỏi làng &#8230;. Ở một làng khác ông được phong tước nhà thơ công huân mặc dù không biết ngôn ngữ của họ &#8230;. </i></p>
<p><em>Cuối cùng ông đến một làng, nhìn quanh cảm thấy nhẹ nhàng vì mình không còn khác biệt. Tất cả lão già đều giống hệt nhau, kinh tởm và bị kinh tởm, ông được đón chào vào hội những kẻ chờ chết</em>.<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn4" name="_ednref4"><b>[4]</b></a></p>
</blockquote>
<p>“Ngoại hạng” (dịch từ chữ “exceptional” trong tiếng Anh) là một từ đa nghĩa, rất tiêu biểu &#8230; Đinh Linh: nó vừa là cái ở ngoài tầng lớp chỉ định, không được chọn vào cùng nhóm, vừa là cái vượt bậc, xuất chúng. Do đó, một sinh vật ngoại hạng có thể là một hình thể / tiềm năng vô giới hạn.</p>
<p>Nhưng lý tưởng “ngoại hạng” bắt buộc người nghệ sĩ lúc nào cũng phải di chuyển/biến thể (có lẽ cũng không khác nhân vật trong tác phẩm du ký <i><a href="http://damau.org/archives/16134" target="_blank">Đi Tây</a></i> của Nhất Linh, trở nên dạn dĩ và quên đi trạng thái nô lệ của mình khi con tàu càng gần <i>phía Tây, </i>nhưng lại trở thành nhút nhát, ngô nghê như một đứa trẻ khi tàu càng xa hải cảng Tây Phương đi <i>về hướng Đông)</i>. Sự di chuyển/biến thể này dĩ nhiên gây hậu quả không mấy khả quan về phần vật chất.</p>
<p>Tôi tôn trọng Đinh Linh như một thầy tu vì anh có vẻ chai lì với sự khắc khổ đi liền với sáng tạo, hay dù sao anh đã khắc phục phần nào những yếu tố vật chất. Vào cuối thập niên 1990, khi còn làm phóng viên thiện nguyện cho tờ báo song ngữ <i>Viet Magnet</i> (hiện đã đình bản), tôi được tòa soạn giao cho việc phỏng vấn Đinh Linh-lúc đó vừa bắt đầu khuấy động làng văn Mỹ ở ba mặt: thơ (anh nhận giải Pew Fellowship vào năm 1993); dịch thuật (vì anh vừa hoàn tất công trình dịch tuyển tập <i>Night, Again</i> &#8211;lấy hứng từ tựa truyện “Đêm Đêm” của Võ Phiến) bao gồm những truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam trong thời đổi mới); sáng tác&#8211;một vài truyện ngắn “rất ấn tượng” của Đinh Linh được xuất bản trên các tạp chí văn học Anh ngữ có tiếng như <i>Three Penny Review, New American Writing </i>và<i> New York Stories</i>. Tôi gọi cho Linh qua số điện thoại với area code khu Philadelphia nhiều lần, nhưng không gặp, và hơi ngạc nhiên là anh không có máy thu message. Bẵng đi nhiều hôm, tôi gọi lại. Sau độ 10 lần chuông kêu, anh nhắc máy, nói xin lỗi vì anh mệt nên ngủ say quá, không nghe chuông reo. Cho dù mới gặp, và lúc đầu chỉ đối thoại qua điện thoại, Đinh Linh rất cởi mở, vui vẻ. Anh nói rằng anh làm nghề thợ sơn nhà vào ban ngày, nhiều khi túng quá thì hãng telephone cúp điện thoại. Khi nào có ít tiền, anh lại nhờ hãng “mở” điện thoại. Anh kể rằng để tiết kiệm tiền nhà, anh đã có lúc ở trong một căn phòng thuê không có hệ thống dẫn nước. Muốn đi tắm, anh đứng trong một cái thùng rác nhựa lớn và xối nước lên người.</p>
<p>Lúc đó vì chưa có máy vi tính, anh đánh máy những truyện ngắn –sau này xuất hiện trong <i>Nhà Ngụy—</i>dán nhiều tem<i> </i>và gửi Priority Mail đến địa chỉ tôi ở Washington DC. Có lẽ lúc đó anh tưởng lầm tôi là một nhà phê bình điêu luyện, nhưng thật ra tôi chỉ là dân tài tử cũng mới vào nghề viết. Ban ngày tôi vào sở “đội lốt” luật sư. Buổi tối tôi về nhà đọc đi đọc lại những truyện của anh như “<a href="http://www.talachu.org/tacphamdich.php?bai=246" target="_blank">555</a>,” “<a href="http://ccat.sas.upenn.edu/xconnect/v3/i3/t/dinh.html" target="_blank">Fritz Glatman</a>,” và “<a href="http://litviet.com/2009/05/30/dinh-linh-boo-hoo-hoo/" target="_blank">Boo Hoo Hoo</a>.” Tôi hoàn toàn không hiểu anh muốn nói gì, vì những trải nghiệm lô gích từ nghề nghiệp trở nên vô dụng trước văn phong của anh. Tôi cũng bị sốc vì cách viết <i>coi bộ rất thẳng thừng</i> về thể xác của anh. Tôi lo anh tiêu hết tiền lương sơn nhà mua tem gửi truyện cho tôi đọc, rồi cũng thành &#8230; công cốc. Sự thất bại <em>trong cách đọc Đinh Linh</em> kéo tôi về quá khứ, làm tôi nhớ lại hết những lần tôi đã hoàn toàn bất lực trước ngôn ngữ, ngay cả sau thời mà Anh ngữ không còn là một thử thách. Một sự thất bại đầy đe dọa, vì nó tước đi mọi thứ mà tôi tưởng mình đã hiểu, đã biết rõ.</p>
<p>Mãi hằng chục năm sau, tôi mới dần dà giải được những ẩn dụ trong văn chương Đinh Linh, và phát hiện rằng những điều mà tôi tưởng rất thẳng thừng về thể xác thực ra liên hệ đến lĩnh vực <i>metaphysics</i>. Đinh Linh là một nghệ sĩ nối gót Rimbaud, nhưng anh lại ngụy trang như một nhà <i>realist. </i>Đọc văn của anh người đọc lúc nào cũng phải ở trong tình trạng cảnh báo, với hai con mắt mở căng.</p>
<p>Một nhà tu chân chính, ở một khía cạnh nào đó, sẽ trở nên một <i><a href="http://damau.org/archives/2430" target="_blank">tên tù với quyển tự điển</a></i> nếu y nhất định không chịu phá giới. Đó cũng là một mâu thuẫn rất ư Đinh Linh. Tôi luôn luôn bị/được ngạc nhiên về những hành vi phá giới của anh. Từ hội họa, anh chuyển sang thi ca, văn chương, video, và hiện nay chuyên về nhiếp ảnh. Tuyên bố rằng thi ca đã trở thành vô dụng vì không thể đáp ứng những nhu cầu của xã hội hiện đại, Đinh Linh trở thành một nhân chứng cho thời kỳ khải huyền –thời anh gọi “là sự tận cùng của nền kinh tế chính trị Hoa kỳ.” Tuy tôi hy vọng lời tiên đoán của anh sẽ không trở thành sự thực, tôi cảm kích trách nhiệm cảnh giác của anh—đó là trách nhiệm của một nhà tu, cũng là trách nhiệm của một người viết theo đúng nghĩa “viết.”</p>
<p>“Đứa Con Gái Xấu Nhất” (“The Ugliest Girl”) đã nói thay cho Đinh Linh từ hơn một thập kỷ trước:</p>
<blockquote><p><i>Nếu tôi không có ở đó [một đứa con gái xấu xí khác] sẽ có cơ hội được quên đi, trong khoảnh khắc, cái nhan </i><i>sắc [dưới trung bình] </i><i>của nó. Trong đám người diễm kiều, đứa con gái có thể lầm tưởng rằng nó là một người trong bọn họ, rằng nó thuộc về họ thay vì thuộc về chính cái dung diện xấu xí của nó.</i></p>
<p><em>Nhưng với tôi trong phòng, ảo tưởng này sẽ bị dập tắt. Bỗng nhiên có một nhóm, một thiểu số với hai mạng người, một hiệp hội [đề xướng] sự xấu xí.</em><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn5" name="_ednref5"><b>[5]</b></a></p>
</blockquote>
<p>“Sự xấu xí” của Đinh Linh đồng nghĩa với “Tự do”, vì “sự xấu xí” luôn luôn “sáng tạo, bồn chồn, mạo hiểm, phóng đãng.”<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn6" name="_ednref6">[6]</a> “Sự xấu xí” nằm bên ngoài khuôn phép, nhưng nó cần được mọi người chứng nhận, như bề trái của sự hiện hữu.</p>
<p>Như Rimbaud, Đinh Linh “dấn thân” mọi ngày. Anh tin thuốc độc sẽ trị độc. Như một nhà tiên tri, anh cảnh báo thời của những kẻ giết lén.<a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_edn7" name="_ednref7">[7]</a></p>
<p>&#160;</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref1" name="_edn1">[1]</a> Mượn tựa truyện của Nguyễn Đức Sơn, một nhà thơ/nhà tu chính trực mà người viết cũng ngưỡng mộ.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref2" name="_edn2">[2]</a> Đinh Linh, “Thị Trấn Cỗ Quan Tài Bí Ẩn,” bản dịch Phan Nhiên Hạo, từ tuyển tập <i>Thư Lạ</i> (Văn Mới: 2007), tr. 144.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref3" name="_edn3">[3]</a> Đinh Linh, “A Cultured Boy,” từ tuyển tập <i>Fake House</i> (Seven Stories Press: 2000), tr. 31.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref4" name="_edn4">[4]</a> Đinh Linh, “Ông Nội Ngoại Hạng,” bản dịch Phan Nhiên Hạo, từ tuyển tập <i>Thư Lạ</i>, tr. 105.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref5" name="_edn5">[5]</a> Đinh Linh, “The Ugliest Girl,” từ tuyển tập <i>Fake House</i>, tr. 31-32 (người viết trích dịch sang tiếng Việt).</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref6" name="_edn6">[6]</a> Như trên, p. 32.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/Documents/#_ednref7" name="_edn7">[7]</a> Rimbaud, trích từ “Matinée D’ivresse” (“Sáng Say”) trong <i>Illuminations</i> (đi cùng với bản dịch Anh ngữ của John Ashberry) (Norton: 2011): “<i>Nous avons foi au poison. Nous savons donner notre vie tout </i><i>entire</i><i> tous les </i><i>jours. Voici le temps des Assassins.</i>”</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23208/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>7</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>H&#227;y thử d&#225;n lại những hạnh ph&#250;c cũ (*)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23200</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23200#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi Vĩnh Phúc</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23200</guid>
		<description><![CDATA[Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. A shadow of your smile ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="bird-in-the-foliage-1961" border="0" alt="bird-in-the-foliage-1961" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bird-in-the-foliage-1961_thumb.jpg" width="484" height="368" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman">Georges Braque,&#160; <em>L&#8217;Oiseau dans le feuillage</em> (</font><font size="2" face="Times New Roman"><em>Chim trong tán lá</em>) (lithographe/collage, 80.5 x 105 cm, 1961)</font></p>
<p>&#160;</p>
<p>Có rất nhiều định nghĩa về thơ. Tất cả mọi định nghĩa đều phản ánh, một cách nào đó, cách nhìn cuộc đời hay cách tiếp cận cuộc đời của người định nghĩa nó.</p>
<p>Nói như thế có nghĩa thơ là một vật thể—hay một sinh thể—đa dạng và có nhiều chiều kích. Nó có thể lạ mà cũng có thể quen, có thể gây hưng phấn, hạnh phúc mà cũng có thể làm buồn bã, chán chường. Nó có thể ngắn mà cũng có thể dài. Có thể mang vần điệu lằng nhằng hoặc thiết tha, tạo nên những cái ôm ghì cuống quýt hay những cái quấn xiết lả lơi. Tạo nên một cái mặt bằng địa lý phức tạp. Hoặc nó cũng có thể, thẳng tuột một cái, lái ngay đâm thẳng vào giữa trái tim người.</p>
<p>Có nghĩa, thơ có thể tạo nên những hiệu ứng, những phản ứng, những hô ứng, thậm chí những “cuồng ứng” khác nhau.</p>
<p>Hay nói như Nguyễn Bá Trạc:</p>
<p><i>Thơ nghĩa là thơ nghĩa là thơ      <br /></i><i>Nghĩa là một buổi thấy bơ vơ      <br /></i><i>Một tay cái bút tay tờ giấy      <br /></i><i>Ta giết ta đâm hết thì giờ&#8230;</i></p>
<p>Thơ, như thế, cũng có thể là do hoàn cảnh. Hoàn cảnh trong cuộc sống hay hoàn cảnh của tâm hồn. Tâm cảnh. Đúng, nó phản ánh cái địa lý của tâm hồn con người. Thơ có thể uốn quanh, hiền và mềm như một dòng sông lờ lững, mà nó, chính cái dòng sông ấy, cũng có thể có lúc cuộn xiết và tuôn chảy ào ạt qua bao ghềnh đá của địa dư tâm hồn người viết.</p>
<p>Đọc thơ của Đán, tôi nhận thấy trong mình có những hiệu ứng, phản ứng, hô ứng, “cuồng ứng” khác nhau. Trần Nguyên Đán là một một người làm thơ đem được cảm xúc đến cho người đọc. Thơ ấy đi đứng, nói cười, thở dài, ngồi lặng, chạy nhảy, và đôi khi cũng để chảy ra một vài dòng lệ. Có lúc ông làm cho ta có được một cảm nhận mát mẻ và muốn bay lên. Thơ gắn với sự mơ mộng và với thiên nhiên:</p>
<p><i>tôi sẽ vẽ một cơn mưa      <br /></i><i>trên cánh bay của một cơn gió      </p>
<p></i>Có khi nhà thơ nhìn vào cuộc đời. Rồi tự quán chiếu lại minh:</p>
<p><i>có những lúc tôi mệt như gió bay      <br /></i><i>hoài không thể ngơi nghỉ      <br /></i><i>muốn dừng lại một quán trọ nào      <br /></i><i>đó mà không thể dừng      <br /></i><i>chân vẫn phải bước như      <br /></i><i>con lạc đã phải bước      <br /></i><i>mà miệng vẫn phải cười      <br /></i><i>cợt và nói một vài câu dí dỏm      <br /></i><i>để yêu đời      <br /></i><i>dù đời chẳng thể yêu mình      <br /></i><i>có khi mưa rơi trong những ly cà      <br /></i><i>phê bỏ quên ngoài hiên      <br /></i><i>có khi mây bay qua tâm hồn trống trơn như chiếc      <br /></i><i>vỏ đậu khô héo quắt quéo      <br /></i><i>có khi nắng&#8230;</i></p>
<p>Tự quán chiếu, buồn bã, nhưng rồi Đán vẫn mỉm cười bước tới, bắt tay với đời sống.</p>
<p>Tôi sẽ thử rủ rê người đọc, dẫn họ đi dạo trong địa lý ngôn ngữ của nhà thơ. Thử nhìn ngắm và cảm nhận cái hơi lạnh cũng như nỗi buồn và niềm vui trong không gian của một người. Tôi sẽ thử trích dẫn một số câu thơ của Đán (và cố tình không cho biết tên của các bài thơ) để thử nhìn vào trong đó xem mình có thể bắt gặp được những điều gì. Hay có khi, ta lại bắt gặp được khuôn mặt của một người nào đó, rất giống khuôn mặt riêng của mình, đang nhìn ngược lại ta:</p>
<p><i>bỗng nhớ một điều gì đó      <br /></i><i>bỗng thấy một cái gì đó      <br /></i><i>bỗng nghe một tiếng nào đó      <br /></i><i>bỗng ngửi được mùi của hoa dạ lan bên vườn      <br /></i><i>khu vườn nhỏ ngày xa xưa      <br /></i><i>khu vườn có một chiếc ghế gẫy một chân      <br /></i><i>những con bướm đang vỗ cánh nhỏ      <br /></i><i>tiếng hát của bầy ong dưới nắng      <br /></i><i>&#8230;      <br /></i><i>thôi thì đóng mặt phẳng ô vuông cửa lại      <br /></i><i>mở ra một ngăn tủ ký ức      <br /></i><i>nhìn vào đó      <br /></i><i>cả một rừng mưa đang khóc lóc thảm thiết</i></p>
<p>Có phải tâm hồn và trái tim con người luôn luôn bị giằng kéo bởi những giấc mơ cũ. Những giấc mơ cũ càng nhưng vẫn còn vương vất đâu đó mà ta chưa thể nói lời tận tuyệt với chúng. Những tiếng động mơ hồ, những âm thanh vẫy gọi về những chân trời cũ kỹ, những không gian đựng đầy sương mù. Đổ xuống thành một rừng mưa. Hay là một rừng hoa:</p>
<p><i>có một rừng hoa, hoa trắng      <br /></i><i>mây trắng      <br /></i><i>thỉnh thoảng thấy một vài hoa hồng      <br /></i><i>xen lẫn trong hơi thở      <br /></i><i>của bão </i></p>
<p>Nhà thơ vẫn thấy giữa những cơn bão (những cơn bão lửa hay những cơn bão tuyết giữa đời) một rừng hoa. Và mây. Trắng. Trắng thao thiết và thơ mộng. Cùng với một vài “nhất điểm hồng”. Của những nét yêu. Của những niềm tin vào cuộc đời, vào con người. Và vào cuộc sống.</p>
<p>Trần Nguyên Đán cũng là một người thơ thường xuyên tự nhắc nhở mình. Nhắc nhở, bảo ban. Và lau nước mắt. Cho chính cái ta. Đó là một kiểu “hôn lên tay mình”, như cái cách của một người nhạc sĩ đã nói, “Em hôn lên tay mình / Để chua sót tình trần” (TCS).</p>
<p><i>chẳng hạn như khi không còn một ai cả      <br /></i><i>cũng đừng nói gì với mình      <br /></i><i>tập cắt vài bông hoa dại ngoài đường      <br /></i><i>cắm vào một lọ nhỏ      <br /></i><i>chẳng hạn như chẳng hạn như      <br /></i><i>có một lúc nào đó thấy mình bị xé rách      <br /></i><i>hãy dùng keo dán lại      <br /></i><i>tình yêu đã chết rồi vẫn có thể hàn gắn được      <br /></i><i>phải tập quen với những điều không tốt      <br /></i><i>tập cười khi thấy mình sắp chảy nước mắt      <br /></i><i>trong những cái chậu gỗ mục nát      <br /></i><i>vẫn còn một giọt đang rơi </i></p>
<p>Dán. Dán lại mình. Đó là một cách nói khác. Lạ hơn. Mới hơn. Và cũng thẳng và thật hơn. Như người ta vẫn nói, theo một lối ẩn dụ vẫn quen dùng, chỉ có điều là cũ và mòn hơn cách nói của thi sĩ: tự băng bó (những vết thương). Nhưng khi “tự băng bó”, anh còn có những vật dụng cần thiết và (có vẻ) thích hợp để tự cứu chữa mình. Còn khi tâm hồn người ta bị rách, “dùng keo dán lại” là một cung cách tự cứu chữa thật tội nghiệp! Có lẽ vì người ta không có đủ thời giờ để tìm kiếm những vật liệu cần thiết cho một sự băng bó đúng nghĩa, hoặc là vì người ta lóng ngóng, không hiểu rõ về thao tác “tự cứu” bằng cách băng bó cẩn thận. Nhưng, dù có thế nào đi nữa, chính cái khát vọng tự tồn, không chịu bó tay, thua cuộc, đầu hàng trước cuộc đời, trước những nghịch cảnh, mà người ta phải làm một điều gì đó. Để tiếp tục sống. Để tiếp tục nở một nụ cười trước cuộc đời đắng cay và nhiều nước mắt. Người ta tự dán mình lại.</p>
<p>Không phải chỉ là “dán” lại chính mình, người ta còn có thể “dán” lại cuộc đời, “dán” đêm này vào đêm khác, “dán” ngày này vào ngày kia. Dán lại, để hy vọng tìm lại được một chút âm hao cũ, một chút tuổi trẻ ngày xưa. Hay để tìm lại bóng dáng của một nụ cười. <i>A shadow of your smile. </i>Tên một bài hát cũ, một cung điệu lạc loài còn lênh đênh như một vài sợi sóng nhỏ trong tim. Một nụ cười của em. Một nụ cười của người. Nụ cười như một bóng mây quá vãng.<i> </i>Hãy dán lại mọi điều. Và dán lại cả những bài thơ:</p>
<p><i>có những bài thơ viết riêng cho gió      <br /></i><i>cũng có vài bài viết riêng cho người      <br /></i><i>khi những bông tuyết rơi đầy trên cỏ      <br /></i><i>khi những mùa xuân về ở giữa đời      <br /></i><i>chỉ là cơn gió một lần ngừng lại      <br /></i><i>ghé qua dòng sông đã cụt hai bờ      <br /></i><i>trên sông còn vọng tiếng người hoang dại      <br /></i><i>và những đêm này dán lại đêm xưa</i></p>
<p>Khi còn khả năng dán lại mọi điều như thế, người ta chưa chịu thua. Hay, đúng hơn, không chịu thua. <i>A man can be destroyed, but not defeated</i>. Con người có thể bị tiêu diệt, nhưng nó không thể chịu thua, không thể để cho bị hạ gục. Nó không được phép để bị đánh bại. Hình như bóng ma của Hemingway đang lẩn quất đâu đây.</p>
<p><i>chiến đấu với một cái lòng đỏ trứng      <br /></i><i>chói lọi dưới chân trời      <br /></i><i>hắt những cụm mây vỡ tan      <br /></i><i>rạn nứt buổi chiều</i></p>
<p>Chiến đấu với mặt trời buổi chiều như thế, con người tiếp tục bước đi. Tiếp tục đi tới, cho dù nó có tự thấy mình như một con ngựa bị thương:</p>
<p><i>tôi vốn dĩ đã chậm chạp trong quá khứ      <br /></i><i>đến mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào nước mỹ chậm chạp      <br /></i><i>đi vào văn chương cũng chậm chạp      <br /></i><i>chậm chạp, ngay cả chữ này      <br /></i><i>cũng gợi lên một hình ảnh chậm chạp      <br /></i><i>như một con ngựa bị thương      <br /></i><i>khập khiễng đi qua núi</i></p>
<p>Một con ngựa bị thương. Thật ra, tất cả chúng ta đều mang thương tích, nhưng không phải ai cũng tự ý thức được điều đó. Thương tích làm cho chúng ta gập, gẫy, nứt rạn, hay vỡ toác. Thương tích có thể làm cho chúng ta gục ngã, nhưng chúng cũng có thể thách thức nghị lực của một con người. Chúng ta là những con chim, những con sóc, những con cá, v.v., đang hồn nhiên tung tẩy trong đời thì bị một mũi tên, một mô đá, hay một cái móc câu, v.v., tập kích, làm cho bị thương tổn. Và chúng ta dần dà mất đi niềm tin vào cuộc đời. Nhưng hình ảnh con ngựa bị thương ở đây thật đáng tội nghiệp. Chân nó khập khiễng. Và nó lại còn phải tiếp tục đi qua núi. Mà núi non thì trùng điệp. Mà cuộc đi thì còn dài. Vết thương có lẽ vẫn còn xước máu và làm cho đau đớn. Nhưng con ngựa vẫn tiếp tục đi tới, cho dù khập khiễng, và cho dù nó biết là con đường qua núi không phải là sẽ dẫn ngay đến đích.</p>
<p><b></b></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Đôi khi, để sống còn, con người cũng phải giấu đi những cái nhìn. Chỉ còn nhìn bằng một con mắt. Nhưng con mắt bị giấu đi ấy không hề nhắm lại. Nó vẫn mở chong chong và ghi nhận mọi hình ảnh cuộc đời. Rồi một ngày nào đó, những cái nhìn ấy sẽ lại mách bảo cho chúng ta về những nếp gấp khác của đời sống. Hay của chính lòng mình. Hãy thử nhìn lại chính ta trong ly cà phê đen:</p>
<p><i>tôi thường hay cố gắng      <br /></i><i>cách tuyệt vọng      <br /></i><i>dấu con mắt còn lại      <br /></i><i>trong ly cà phê đen      <br /></i><i>người ta gọi tôi là      <br /></i><i>chân dung của dĩ vãng      <br /></i><i>trên vách của quán xưa      <br /></i><i>con mắt tôi còn đó</i></p>
<p>Nhìn lại như thế, người ta có thể bắt gặp lại được nhiều điều. Bắt gặp lại những mảnh của đời ta đã bị xé rách, tả tơi. Những “mảnh ta” đứng sững hoặc bay đầy trong không gian đã tưởng là xa lắc, mịt mù. Thật ra, thời gian vẫn còn lưu dấu tất cả mọi điều trong cái hộp đen vĩ đại của nó. Chỉ cần tìm được một cái mã, một cái mã bí mật, bạn sẽ mở lại được chiếc hộp kia. Và rồi bạn sẽ tha hồ “dán”. Dán ngày vào đêm. Dán giọt nước mắt vào một nụ cười. Hay ngược lại. Dán em vào anh. Dán anh vào những lỡ lầm, mất mát. Dán mặt trời buổi chiều vào con mắt ướt. Dán mắt nhìn khát vọng vào một ánh sao đêm. Mỗi người chúng ta tự định nghĩa mình, tự tìm ra hoặc tự gọi tên mình qua những cuộc dán ấy. Chính thao tác làm nên con người. Anh “dán” ra sao, anh “dán” cái gì, thì con người anh sẽ hiển lộ ra đấy.</p>
<p><i>tôi nhớ nó, khu rừng đó      <br /></i><i>khu rừng có những vệt sáng cắt đứt từ những kẽ hở      <br /></i><i>của lá      <br /></i><i>tôi còn nhớ đã loay hoay làm một chuyện ngớ ngẩn trên cỏ      <br /></i><i>và khi nhìn qua vai      <br /></i><i>tôi đã hổ thẹn với một con sóc      </p>
<p></i><i>có nhiều khu rừng tôi đã đi qua      <br /></i><i>tôi cố gắng quên nó, tôi lại nhớ nó      <br /></i><i>khu rừng với những hôn mê bất tận      <br /></i><i>làm rách toang đường bay của bướm trắng      <br /></i><i>khu rừng tôi đã chạy tơi bời dưới lửa đạn      <br /></i><i>mà lửa đạn ngày đó cũng giống một hành động ái ân      </p>
<p></i><i>đôi khi, cuối rừng có một dòng sông      <br /></i><i>không biết ai để đó từ bao giờ      <br /></i><i>dòng sông in bóng rừng hoang dại      <br /></i><i>ngút mắt những đại ngàn      <br /></i><i>tiếng chó sủa lùng bùng những vạt nắng lửa      <br /></i><i>dăm ba con chim cụt cánh đứng trong trời vắng ngắt</i></p>
<p>Và hãy dán tiếp quá khứ vào với hiện tại trong một lần trở về. Sài gòn. Sài gòn thơm, mềm mại, cũng như Sài gòn ồn, gẫy:</p>
<p><i>sài gòn đêm tiếng ồn      <br /></i><i>người thức dậy trên sông      <br /></i><i>dưới khoảng tối nồng nàn      <br /></i><i>mùi dạ lý bay thoảng</i></p>
<p><i>sài gòn đường phố gẫy      <br /></i><i>người khom lưng ngoái nhìn      <br /></i><i>cầm cây đàn quay lại      <br /></i><i>xa tít mù quán trọ</i></p>
<p><i>sài gòn về qua cầu      <br /></i><i>bóng người trong bóng nước      <br /></i><i>chiếc xuồng tan sương khuya      <br /></i><i>người quăng mình thiên thu</i></p>
<p><i>sài gòn còn đây tôi      <br /></i><i>xé rách vài tờ giấy      <br /></i><i>áo vàng mầu hoàng hôn      <br /></i><i>đêm tơi bời thức dậy</i></p>
<p>Dán và mơ. Dán và nhìn thấy các hình ảnh lay động. Và thấy ta hoá thành bướm, thành trận mưa cuồng. Và thấy đêm mở ra, thân mật:</p>
<p><i>em có bao giờ mơ thấy bướm      <br /></i><i>trong mùa lũ lụt rán bay về      <br /></i><i>giữa trận mưa cuồng không dứt hột      <br /></i><i>tôi khoả thân từng chiếc nút khuya</i></p>
<p>Thế rồi sau một cuộc mưa như vậy, con người bừng thức. Nó nhìn trở lại vào ly cà phê của ngày xưa. Thấy trở lại những giọt mưa cũ. Những giọt long lanh những mảnh tôi rạng rỡ, thiết tha và tội nghiệp. Và trái tim khô hạn cũng thấm đẫm những hạt mưa:</p>
<p><i>mưa, nghe rầm rộ mạnh bạo thế      <br /></i><i>mà đã chấm dứt rồi      <br /></i><i>còn những giọt mưa rơi vào ly cà phê tôi      <br /></i><i>thì vẫn còn đó      <br /></i><i>thậm chí có những giọt      <br /></i><i>rơi vào trái tim khô      <br /></i><i>làm cho nó ướt át trở lại</i></p>
<p align="center"><b>*</b></p>
<p>Thơ của Đán là một cuộc trần thuật về con người. Con người nhà thơ. Và, có lẽ, về cả những con người như tôi, như anh, như chị. Những con người luôn trăn trở với cả những giấc mơ, với những mảnh hiện tại và quá khứ không toàn vẹn của mình. Chúng ta loay hoay và chúng ta lật giở cuộc sống. Cuộc sống với những trang giấy, với những mảnh vụn đã bị gió đời xáo trộn và xé rách, thổi bay tung toé khắp nơi. Cuộc sống có những hình ảnh hiện tại, cái thì sắc nét, cái lại nhoà nhạt dáng hình. Nhưng tất cả vẫn còn ở đó. Trong chiếc “hộp đen” ấy. Chiếc “hộp đen” của thời gian. Và của trí nhớ.</p>
<p>Chỉ những người nhậy cảm và thiết tha mới có được cái mật mã để mở lại những trang đời kia. Trần Nguyên Đán là một nhà thơ, lại là một người nhậy cảm như thế. Ông có cái thiết tha và mơ mộng ngay từ những ngày tuổi trẻ khi ông hồi nhớ lại tác động của những dòng thơ Tagore trong hồn mình:</p>
<p><i>Rabindranath Tagore, người đã chinh phục trái tim còn nông nổi của một thiếu niên 16 tuổi, </i></p>
<p><i>trên mặt còn đầy những vệt lông tơ, nhưng sự khao khát đi tìm thơ thì dầy hơn túm lông đuôi của ngựa. Trong những ngày ấy, tôi kinh ngạc đọc những dòng sữa trắng chảy ra dưới bầu vú      <br /></i><i>     <br /></i><i>của những con bò cái, và hoa hồng lúc nào cũng có mặt, như thể bầu trời bị lật úp chiếc thúng lớn đầy hoa, đổ tràn lan trên mặt đất.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tagore, tôi lần dở lại trang sách của người làm vườn cần mẫn, và dù Rabindranath đã đi khuất vào lịch sử 70 năm rồi, tôi lại thấy cầu vồng mọc sau cơn mưa,</i></p>
<p><i>và cô gái Ấn mở cửa ra vườn với váy dài loạt xoạt, thúng bên hông, với những trái cà chua mới cắt,      <br /></i><i>&#160; <br /></i><i>chàng trai khăn quấn ngang đầu nay đã già, tóc phai mầu, mắt cúi xuống ngó vào tĩnh lặng chiều tà, dường như không nói gì nữa.</i></p>
<p><i>Nhưng mà dòng sông vẫn trôi, chuyện tình vẫn còn đấy, chuyện tình nho nhỏ thôi, nhưng đầy những con thuyền giấy xếp bằng giấy xé ra từ trang sách cổ có pha chút mơ mộng của đôi môi dầy và lồng ngực lép. Tagore lại đứng dậy và bước đi (&#8230;)</i></p>
<p>Cũng thế, bao nhiêu nhà thơ của nhân loại vẫn đang tiếp tục bước tới. Họ bước đi. Họ ngắm nhìn. Và trên hành trình của mình, họ tường trình cho con người về đời sống, về những vùng địa lý, đất đai nằm ngay trong tâm hồn mỗi một chúng ta mà chúng ta đã không từng để ý hay biết đến. Và, qua thơ của mình, họ cũng mời gọi chúng ta cùng cất bước.</p>
<p>Trần Nguyên Đán vẫn đang bước đi. Dù sao, mỗi người viết, mỗi nhà thơ có một cách bước đi riêng, một cách nhìn ngắm cuộc đời riêng của mình. Đọc thơ ông, tôi nhìn rõ cuộc đời hơn và nhận thấy trái tim cuộc sống máy đập. Những máy đập ấy phản ánh những rung động của chính nhà thơ với đời sống. Hẳn thế. Nhưng, có lẽ, chúng cũng phản ánh những cảm xúc của tôi, cũng như của những người khác, khi đến với thơ ông.</p>
<p>Xin cám ơn những dòng thơ của Đán.</p>
<p>Nhà thơ ơi, xin hãy tiếp tục bước tới.</p>
<p>Và xin hãy để tôi gửi những nụ cười và những giọt lệ của mình trong ánh mắt anh.</p>
<p>&#160;</p>
<p>16. VII. 2011   <br /><i>Tustin Ranch, Calif</i><i>.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p>_______________________________________________</p>
<p>(*) Tựa cho tập thơ <i>Tôi Chạy Vòng Quanh Một Khoảng Trống </i>của Trần Nguyên Đán. Tập thơ sẽ được Kệ Sách của Da Màu ebook xuất bản trong những ngày sắp tới.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23200/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

