<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Đọc và Đọc lại</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/category/bienkhao/d%e1%bb%8dc-va-d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>đọc NEFELEJCS &#8211; ĐỪNG QU&#202;N EM của Nguyễn Hồng Nhung</title>
		<link>http://damau.org/archives/22103</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22103#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 08 Nov 2011 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Quỳnh</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Đọc và Đọc lại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22103</guid>
		<description><![CDATA[Thơ là âm-nhạc trong ngôn-ngữ rất tự-nhiên (a priori) của con người, mặc zù không fải ai cũng là thi-sĩ. Thơ hay (tuyệt vời) là đỉnh cao nhất của ngôn-ngữ, và thi-nhân đúng là một vũ-trụ nhỏ có trong tâm-hồn mình nhiều sợi “tơ” va vào cảm-jác để thành thơ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>A. MỞ</strong></p>
<p>Thơ là âm-nhạc trong ngôn-ngữ rất tự-nhiên (<em>a priori</em>) của con người, mặc zù không fải ai cũng là thi-sĩ. Thơ hay (tuyệt vời) là đỉnh cao nhất của ngôn-ngữ, và thi-nhân đúng là một vũ-trụ nhỏ có trong tâm-hồn mình nhiều sợi “tơ” va vào cảm-jác để thành thơ.</p>
<p>Bài thơ sau đây của Szabó Lőrinc có cái tên <em>Nefelejcs</em> mà Hồng Nhung chuyển sang Việt-ngữ gọi là <em>Nefelejcs</em> -<em>Đừng Quên Em</em>.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>B. </strong><strong>NEFELEJCS – ĐỪNG QUÊN EM</strong></p>
<p>Trong các loài hoa tôi yêu trước nhất Nefelejcs – Đừng Quên Em    <br />xanh biếc: ôi cái tên xinh, biết trò chuyện thỏ thẻ     <br />như muốn thổ lộ í ngĩa đóa hoa xinh:     <br />như muốn van nài người khác lắng nghe     <br />em muốn thế (chắc em cần như thế, đúng không     <br />khi đã van nài?) rằng ĐỪNG QUÊN EM! Anh nghe     <br />rất rõ, tiếng bầu trời trăm sắc, để đôi khi thì thầm     <br />anh tự nhủ, hay anh không thì thầm nhỉ, chỉ     <br />chờ đợi, vô cùng chờ đợi, tiếng tim anh nói hộ, hay từ tai anh:     <br />anh không biết, có phải anh mường tượng?     <br />hay anh đánh lừa hoa bằng thảng thốt tên hoa? … Nhưng     <br />cho zù đánh lừa đi chăng nữa, anh đã tự yên lòng, bởi chút     <br />giải bày chẳng là jì cả &#8211; bởi anh rất yêu hoa     <br />sao quên được, anh, không bao giờ quên em được.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>C. ĐỌC</strong></p>
<p>Không thể nói tôi đọc thơ của Szabó Lőrinc. Thật jản-zị tôi không biết tiếng Hung.</p>
<p>Tôi đọc thơ của Hồng Nhung, vì ngôn-ngữ và chữ viết là tiếng Việt, và ngay cả tâm-tình, zù cho cảm-ứng của Hồng Nhung đến từ tác-fẩm của Lőrinc.</p>
<p>Chúng ta đọc <em>Chinh-fụ Ngâm-khúc</em> của Fan Huy-Ích (theo Hoàng Xuân Hãn), hay Đoàn thị Điểm, chứ chúng ta không đọc tác-fẩm đó bằng chữ Nho của Đặng Trần Côn. Hơn nữa, chính Fan Huy-Ích cũng đã xác-nhận là: “Nhân khi thanh nhàn ta fiên thành khúc mới.”</p>
<p>Thực tình chúng ta không biết ngôn-ngữ và tình-cảm của Lőrinc và Hồng Nhung gần-gũi và xa cách nhau thế nào trong bài <em>Nefelejcs</em>. Đây không fải là bản zịch trong lớp học để trắc-ngiệm khả-năng tiếng Hung. Đây là sáng-tạo.</p>
<p>Chúng ta nói về THƠ trong mọi ngôn-ngữ (languages), nhưng chúng ta không thể bảo THƠ trong ngôn-ngữ A jống THƠ trong ngôn-ngữ B. Cho nên câu nói “zịch là jiệt” rất đúng trong thơ. Zịch đúng là vô tình hay cố-í xóa bỏ Identity của chính-bản và thay thế bằng một Identity khác. Người zịch thơ bỗng nhiên trở thành tác-jả một bài thơ, nhất là bản-zịch là một tuyệt-fẩm.</p>
<p>Tôi thích tiếng thơ (âm-điệu) và cách jeo chữ trong bài <em>Nefelejcs</em> &#8211; <em>Đừng Quên Em</em> của Hồng Nhung. Tôi thích luôn cả bố-cục của bài thơ. Không hiểu vì sao, ngay cái đầu đề bài thơ cũng đã làm tôi lưu í.</p>
<p>Đầu-đề này có mấy vần? Xin thưa ngay nó có có sáu vần. Nếu tôi đặt nó vào thể “Lục Bát”, chúng ta sẽ thấy ngay:</p>
<p><em>Nefelejcs – Đừng Quên Em      <br /></em><em>Zù năm tháng đã khuây zần nhớ mong!<sup>1</sup></em></p>
<p>Chữ “Nefelejcs” có ba âm hợp với ba âm Việt “Đừng quên em”. Thế nên, theo jai-điệu thơ Việt đầu đề đã là một câu thơ.</p>
<p>“Nefelejcs” là một chữ trong tiếng Hung, chúng ta nge chắc fải lạ tai, nhưng “Nefelejcs” nge ra độc-đáo. Nó gây cho người đọc một cảm-jác bâng-khuâng về cái tên. Chẳng hạn, tên của một người đẹp chưa bao jờ thấy ở cõi trần. Đúng thế! Họa may chỉ có những người như Hồng Nhung ở Hungary, và fải để í đến hoa, đến Nefelejcs, mới biết mà thôi.</p>
<p>Đối với chúng ta, Nefelejcs là một bí mật trở nên mông-lung và huyền hoặc rất tâm-đắc với cái mông-lung và huyền-hoặc của thơ – đặc-biệt trong bài “Đừng Quên Em” tiếng thơ thì thầm: “độc-thoại” hay “với ai” cũng chỉ là lối nói của tâm-tình.</p>
<p>Câu nói nào cũng có jai-điệu thấp cao – tôi ngĩ rằng ngay cả ở những ngôn-ngữ nge ra rất oái-oăm và lỗ mãng, Người Tầu trong thời Tiền Lê nhận xét rằng tiếng Việt nói nge “ríu rít như chim”, còn ngày nay người Anh-Mĩ lại liên-tưởng tiếng Việt nói ra như ca-hát (sing song).</p>
<p>Thế thì trong “Nefelejcs –Đừng Quên Em”, “Nefelejcs” là cung bậc cao, còn “Đừng Quên Em” là cung bậc thấp. Âm-hưởng nge rất riêng-tư nên rất trữ-tình. Có fải Hồng Nhung muốn thế không?</p>
<p>Í-muốn có thể ở trong thời-jan khoảnh-khắc lúc này, tức là kinh-ngiệm hay í-thức; hoặc í-muốn là vận-hành tiềm tàng chảy trong vô-thức. Nếu vậy, í-muốn fải là của một người. Trong í-muốn ấy có biết bao nhiêu biểu-trưng của người ấy (xin xem <em>Đọc và Fê-bình Sein und Zeit</em> của Heidegger, kì thứ tư, zo Nguyễn Quỳnh đề-án trên VCV).</p>
<p>Câu tiếp theo bắt đầu là hai âm “xanh biếc”. “Xanh biếc” rồi có hai chấm (:) thế thì những jì sau đó sẽ bổ ngĩa cho hình-zung từ “xanh biếc” – trong cảm-jác xa gần, trực-tiếp và ján-tiếp, biểu-thị, biểu-tượng, siêu-thực hay trừu-tượng?</p>
<p>“Xanh biếc” là quán-ngữ miêu-tả “tính-từ” và “trạng-từ”. Khi ta nói: “Trời xanh biếc” thì “xanh biếc” là tính-từ”. Nhưng nếu ta chỉ nói bâng-quơ: “rất là xanh biếc”; thì “xanh biếc” là trạng-từ chỉ sự mơ-hồ, thiên về cảm-xúc (emotive) hơn là mầu sắc.</p>
<p>“Xanh biếc:” trong bài thơ này là một gợi-í hơn là chỉ vào tính-chất, cho nên “xanh biếc” ở đây là “trạng-từ”.Trạng-từ trong tiếng Việt thường có hai tiếng (chữ) rất lung-linh. Bởi vậy fải nhìn vào nội-zung để biết hai tiếng (chữ) lung-linh ấy là tính-từ hay là trạng-từ, hay là nó thay đổi, bất-thường, qua lại như con thoi trong tai ta, rồi trở thành suy-tưởng của chúng ta. Tiếng thơ là tiếng đầy ám-ảnh, và bất-thường.<sup>2</sup></p>
<p>“Xinh” và “đẹp” là hai vẻ ưa nhìn, nhưng không luôn luôn chỉ vào cùng một đối-tượng. Có đối-tượng “xinh” nhưng không “đẹp” và ngược lại. Vẻ “xinh” là vẻ zễ-thương hay đáng mến. Vẻ “đẹp” quyến rũ cái nhìn nhưng có loại “đẹp” xa cách và không gây cảm-jác êm đềm. Ta có thể nói “<em>Xinh không <span style="text-decoration: underline">ác</span> </em>và <em>đẹp không <span style="text-decoration: underline">hiền</span></em>.”</p>
<p>“Xanh biếc” có hai chấm (:) đưa người đọc đến cái ji sau đó? Đến “xinh” (záng vẻ), đến “thỏ-thẻ” (âm-thanh). Điều này khiến tôi tự hỏi những động-từ và tính-từ ở đoạn này là nguyên-ngữ tiếng Hung của Lőrinc hay là chữ-ngĩa của Hồng Nhung?</p>
<p>Bản-chất của mỗi ngôn-ngữ khác nhau, cho nên zù cùng một ngĩa, hai chữ trong hai ngôn-ngữ rất khác nhau. Chúng ta chỉ cần đọc lên hay nhìn vào hai chữ “beautiful” (Anh) và “đẹp” (Việt) sẽ rõ là ở vào hoàn-cảnh cao hơn trong thẩm-mĩ hai chữ này đòi hỏi vị-trí khác nhau trong tương quan với những chữ đứng gần chúng và với những âm bên cạnh chúng. Có như thế, “xinh” hay “đẹp” mới đưa ta tới một fương-trời thẩm-mĩ khiến ta đọc thơ hay nge thơ cảm ra một thứ tính tình.</p>
<p>Bây jờ chúng ta hãy bàn đến vài tiếng (chữ) khác trong bài <em>Nefelejcs </em>- <em>Đừng Quên Em</em> của Hồng Nhung.</p>
<p><em>tiếng bầu trời trăm sắc</em>. Làm sao có thể nge được tiếng trong không-jan, ngoại trừ những tiếng như sấm nổ hay tiếng chim kêu, mặc zù ở lúc hoàng-hôn là thời điểm có khi mầu sắc vô cùng rực rỡ. Thế thì chỉ là mường-tượng khi chính tiếng nói của người trong cuộc vang ra rồi lại vọng về.</p>
<p>Nếu vậy những tiếng như: “<em>Ôi cái tên xinh…trò chuyện, thỏ thẻ …ĐỪNG QUÊN EM</em> trong mộng lung zù độc-thoại nhưng tỏa khắp không-jan của người trong cuộc. Chính ở điểm của không-jan và cũng là thời-jan như thế âm-thanh và mầu-sắc mới rộn-ràng trong cái tâm siêu-thực (surrealistic) để thấy fi-lí (absurdity) lúc này chính là thực-tại.</p>
<p><em>mường tượng?</em> Phải ở trong trạng-thái “có” và “không” lung-linh đến độ lí-trí “thấy” và cũng “không thấy” mới khiến cho người trong cuộc tự hỏi “có hay không?”</p>
<p>Nếu chỉ là tưởng-tượng thì có khi người trong cuộc không cần đặt câu hỏi, và cũng không cần đến câu trả lời. Ví-zụ có người nói thế này: “Tôi tưởng-tượng tôi là con thuyền đi đến cung-trăng.” Nói như thế tức là hành-động của lí-trí đang ngụy tạo ra một cái jì không-thực.</p>
<p>Trong ngôn-ngữ, “mường-tượng” vừa là “trạng-từ” vừa là “động-từ” và cũng có thể là ‘zanh-từ”. Trong khi ấy, “tưởng-tượng” không có ngĩa “trạng-từ”. “Trạng-từ” là chữ rất ưu-việt trong thi-ca, nhưng thường vắng mặt trong thế-jan zuy-lí.</p>
<p><em>thảng thốt tên hoa</em>? Có lẽ đây là một câu hay nhất trong bài.</p>
<p>Vì văn-fạm trong thơ không theo qui-luật tất-định (deterministic), nên câu thơ sẽ có thể lướt rất nhanh để nắm bắt “mường-tượng” hay sẽ ngừng lại chập-chờn bất-định (indetermnistic) để người đọc “nhâm-nhi”.</p>
<p>Vậy thì, “thảng-thốt” có thể gợi lên một khoảng trống sau hai chữ đó, để hiểu ngầm có tiếng “gọi” như: “thảng thốt [gọi] tên hoa?” Nhưng vì “thảng thốt” là tính-từ kép, qúa mông-lung, nên người đọc có thể loay xoay xếp đặt theo tình cảm của mình. Theo đó: “thảng thốt tên hoa” có thể trở thành “hốt-hoảng [khi biết] tên hoa”, hay “bất ngờ gọi tên hoa”.</p>
<p>Zù thế nào cả bốn chữ “thảng thốt tên hoa” là một ziễn-tả lung-linh, mà người đọc nge xong cần iên-lặng. Từ iên-lặng lại trở về … lẩn thà lẩn thẩn. Có người bảo “say thơ” là thế.</p>
<p>Nói chung, <em>Nefelejcs – Đừng Quên Em</em> là bài thơ mềm mại với tâm-tình, lúc nhắn nhủ, lúc thỏ thẻ, lúc băn-khoăn. Đây là tình iêu đẹp và ngây thơ như bông hoa vừa nở, một thứ ần zụ thế này “có nhiều hoa, nhưng chỉ có một bông-hoa là đáng iêu thôi. Và rất mong-manh!”</p>
<p>Bài thơ tiếng Hung thế nào chúng ta không biết, và có khi ngay cả rất nhiều người Hung đọc <em>Nefelejcs</em> nhưng không cảm thấy mãnh-liệt trong lòng.</p>
<p>Nhưng <em>Nefelejcs – Đừng Quên Em</em> thực sự là của Hồng Nhung và là một bài thơ tuyệt-vời.</p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><strong>Gi-chú: </strong></p>
<p><em>1. Câu thứ hai là chữ của tôi, để làm ví-zu.</em></p>
<p><em>2. Trong khi trạng-từ trong tiếng Anh, Fáp, Đức được nói hay viết theo thể khác nhau rõ ràng, ví-zụ: “profound” (tính-tự) “profoundly” (trạng-từ). Hai chữ “bâng-khuâng” trong tiếng Việt chỉ có một thể, được fân-biệt là tính-từ hay trạng-từ tùy vào nội-zung ziễn-tả. “Tâm-trạng bâng-khuâng.” (tính-từ). “Lòng nhẹ bâng-khuâng” (trạng-từ). Trong câu này “nhẹ” là tính-từ, còn “bâng-khuâng” là trạng-từ.      <br />&#160;</em></p>
<p><em>(El Paso. 2011.09.17)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22103/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>&#8216;&#8230; nhưng kh&#244;ng nhiều lắm những chữ nghĩa th&#224;nh thơ&#8217;</title>
		<link>http://damau.org/archives/21980</link>
		<comments>http://damau.org/archives/21980#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 26 Oct 2011 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Lương Vỵ</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>
		<category><![CDATA[Đọc và Đọc lại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/21980</guid>
		<description><![CDATA[Thơ, đối với ông, như một đóa Thạch Hoa. Thi sĩ, đối với ông, như một Thuật Sĩ luyện kim, hứng trọn Lộc Khổ Đau ở chốn trần gian nầy, trầm mình trong hồn cốt của Chữ, âm vang và sắc màu, để thấy, nghe, cảm ứng với cái Đẹp trầm thống, bi thiết và u uẩn của kiếp người.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="right">Giới thiệu thi tập    <br /><em>Thơ Joseph Huỳnh Văn      <br /></em>(Giấy Vụn, 2011)</p>
<p align="right"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/10/bia-Jo-1.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="" border="0" alt="" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/10/bia-Jo-1_thumb.jpg" width="159" height="244" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Đầu tháng 10.2011, tại Sài Gòn, NXB Giấy Vụn và gia đình, đã ấn hành (lần thứ Nhất) thi tập <b>Thơ Joseph</b> <b>Huỳnh Văn</b>, bao gồm toàn bộ những thi phẩm của thi sĩ Joseph Huỳnh Văn đã đăng tải trên đặc san Nhã Tập và Tập San Văn Chương tại Sài Gòn vào những năm 1972-1974 và một số bài thơ khác, do gia đình của thi sĩ cung cấp. Đặc biệt, một số bài thơ có thủ bút tác giả hiệu đính trước khi từ trần, cũng đã được Giấy Vụn in lại đúng theo bản gốc ấy. Sách dày 112 trang, khổ 13&#215;20,5cm. Chịu trách nhiệm xuất bản: Bùi Chát – Chịu trách nhiệm bản thảo: Nguyễn Tiến Văn – Trình bày bìa: Nghi Thủy.</p>
<p>Nhã Tập (tiền thân của Tập San Văn Chương) và Tập San Văn Chương, do một nhóm thân hữu chủ trương: Nguyễn Tường Giang, Phạm Hoán, Nguyễn Tử Lộc, Phạm Kiều Tùng và Joseph Huỳnh Văn. Cộng tác viên thường xuyên: Nguyễn Đạt, Nguyễn Nghiệp Nhượng, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Quốc Trụ, Đỗ Long Vân. Tuy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi (2 năm,) nhưng đã để lại ấn tượng rất đặc biệt trong văn giới Sài Gòn lúc bấy giờ.</p>
<p>Thi sĩ Joseph Huỳnh Văn (1942-1995,) tên thật là Huỳnh Văn Hiến, quê quán: Thừa Thiên, Huế. Định cư tại Sài Gòn vào giữa thập niên 60, dạy học tại Thủ Đức, Biên Hòa. Sau tháng 4.1975, làm thợ mộc và hầu như không còn làm thơ nữa. (Vào khoảng cuối năm 1993, trong một lần uống rượu tay đôi với ông, thi sĩ, lúc đã ngấm rượu, cao hứng “khoe” và đọc cho tôi nghe một bài thơ ông mới sáng tác về Hà Nội với một giọng rất trầm ấm, khinh khoái. Hôm sau, đến thăm ông tại nhà, tôi xin ông được đọc lại bài thơ ấy, ông bảo, bài thơ vẫn còn nằm ở trong đầu, chưa vừa ý lắm, nên chưa viết ra. Sau nầy, hỏi gia đình ông, cũng cho biết, không tìm thấy bài thơ ấy trong di cảo!) Ông từ trần tại Sài Gòn ngày 28.02.1995 sau một cơn đột quỵ. Joseph Huỳnh Văn làm thơ từ thời còn là học sinh trường Quốc Học &#8211; Huế, nhưng, thơ của ông chỉ xuất hiện duy nhất trên Nhã Tập và Tập San Văn Chương. Ngay sau đó, đã tạo được sự quý mến, trân trọng của bằng hữu trong giới văn nghệ Sài Gòn và độc giả yêu chuộng văn chương.</p>
<p><i>“Có quá nhiều chữ nghĩa làm thơ, nhưng không nhiều lắm những chữ nghĩa thành thơ.”</i> Thi sĩ Joseph Huỳnh Văn đã viết như vậy trong Lời Bạt cho tập thơ Hòa Âm Cuộc Lữ của Trần Hữu Dũng (ấn hành bằng photocopy năm 1994 – Sài Gòn.) Tôi nghĩ, đó cũng là điều khái quát nhất trong quan niệm sáng tạo thi ca của Joseph Huỳnh Văn. Di sản thơ, cũng là di cảo, thi tập “Thơ Joseph Huỳnh Văn” chỉ có khoảng trên dưới 30 bài thơ, được thể hiện rất cô đọng trong 5 chủ đề: Mỹ Từ Pháp – Viễn Xứ &#8211; Hòa Âm Bên Khổ Tu Viện Xitô (gồm: Hòa Âm Trầm Ngữ &#8211; Hòa Âm Thu Rừng – Hòa Âm Mùa Cầm Xanh.) – Gởi Cho Chiều Hơi Thở Đất Sâu – Lộc Khổ Đau, Thạch Ngữ Khắc Vách Ngục. Ngôn ngữ, hình ảnh, nhạc điệu, cấu trúc trong thi pháp Joseph Huỳnh Văn mang phẩm cách rất riêng, nhất là sức nén rất sâu, sức ngân rất xa của Chữ. Thơ, đối với ông, như một đóa Thạch Hoa. Thi sĩ, đối với ông, như một Thuật Sĩ luyện kim, hứng trọn Lộc Khổ Đau ở chốn trần gian nầy, trầm mình trong hồn cốt của Chữ, âm vang và sắc màu, để thấy, nghe, cảm ứng với cái Đẹp trầm thống, bi thiết và u uẩn của kiếp người. Vì thế, số lượng thơ không nhiều, của đời thơ Joseph Huỳnh Văn, là điều dễ hiểu. Cũng vì thế, thơ Joseph Huỳnh Văn rất kén người đọc do tính cô đọng, hàm súc; tính ẩn dụ, biểu tượng đa tầng đa nghĩa của ngôn ngữ, cấu trúc thi pháp trong thơ ông.</p>
<p align="center">* * *</p>
<p>Khoảng giữa năm 1973, tôi đang là sinh viên năm thứ 3, ban triết học, viện đại học Vạn Hạnh – Sài Gòn. Một hôm, tình cờ ghé vào sạp báo ở đường Trương Minh Giảng, thấy có bày bán Tập San Văn Chương, hình bìa trình bày lạ và đẹp. Không cần phải xem trang trong, tôi mua ngay và mang về căn gác trọ, mở ra đọc một hơi mấy trang thơ của Joseph Huỳnh Văn. Đọc xong, tôi buột miệng nhủ thầm: Thơ rất hay và rất lạ! Tên thi sĩ cũng rất lạ, tôi chưa từng thấy xuất hiện trên bất cứ tạp chí văn học nghệ thuật nào ở Sài Gòn lúc đó. Theo địa chỉ tòa soạn có in ở bìa trong tập san, tôi cao hứng, đánh bạo gửi một bài thơ khá dài &#8211; có nhan đề “Âm Nhạc” viết năm 1970 để tưởng nhớ Ludwig van Beethoven, nhạc sĩ cổ điển người Đức mà tôi rất yêu thích, có ảnh hưởng rất mạnh trong thơ tôi lúc bấy giờ – đến Tập San Văn Chương. Không ngờ, hơn hai tháng sau, bài thơ của tôi được chọn đăng trong Tập San Văn Chương số tiếp theo. Thi sĩ Joseph Huỳnh Văn đã đến tìm và gặp tôi tại hành lang viện đại học Vạn Hạnh. Từ đó, tôi có thiện duyên được làm người bạn vong niên của anh. Tôi rất quí trọng anh và anh cũng rất thương tôi như một người em. Lệ thường, mỗi chiều thứ Bảy hàng tuần, đã có hẹn trước, tôi ngồi đợi anh ở quán cà phê Nắng Mới, cạnh cổng trường viện đại học Vạn Hạnh. Anh dạy học ở Biên Hòa, đi tàu lửa về Sài Gòn khoảng 4, 5 giờ chiều. Hai anh em gặp nhau, ngồi uống cà phê cho đến lúc trời sẩm tối thì chia tay. Thời ấy, tôi vốn rụt rè, sống cô độc, ít nói. Anh cũng rất trầm tĩnh, kiệm lời. Lắm khi, hai anh em khi gặp nhau, chỉ vui vẻ cười chào, hỏi thăm nhau bâng quơ vài câu, rồi im lặng ngồi nhìn vạt nắng chiều đang dần sẫm lại, uống cà phê và đốt thuốc liên tục. </p>
<p>Sau nầy, khi khá thân thiết, tôi được biết anh đam mê cõi văn chương, nhất là thơ, từ khi còn rất trẻ. Giao tình và tri tình với anh ngày càng sâu đậm, tôi càng cảm nhận phẩm cách thi sĩ hiếm thấy nơi anh. Joseph Huỳnh Văn, thơ, người thơ và đời thơ: Nhất quán. Tầm kiến thức, tư duy về thơ của anh khá sâu rộng, lịch lãm. Sức sáng tạo trong thơ anh cuồn cuộn những mạch ngầm của biểu tượng và ẩn dụ với âm sắc rất đẹp rất lạ trong hồn cốt chữ nghĩa. Tôi hiểu một cách thâm thiết rằng: Thơ, với Joseph Huỳnh Văn, chính là Đạo Sống và Chết. Tận Hiến và Tuẫn Đạo.</p>
<p>Thi sĩ, kẻ thọ mệnh điêu linh, cô độc ngút ngàn. Thi sĩ không có bạn. Thi sĩ làm bạn với chính họ – hiểu theo nghĩa rốt ráo nhất. Nhưng, Chữ của thi sĩ thì vẫn có đồng vọng tri âm. Tôi tin một cách rất thơ mộng như thế! Tháng 2 năm 2005, mượn âm sắc, chất giọng thơ Joseph Huỳnh Văn, tôi đã viết bài thơ Hòa Âm Cầm Dương Xanh (đã in trong tập thơ Hòa Âm Âm Âm Âm…, 2007,) tưởng nhớ 10 năm thi sĩ đã về với cõi Tịch Mịch, xem như niềm tri ân đối với Thơ Joseph Huỳnh Văn. Xin được trích lại bài thơ dưới bài viết nầy, để thay lời chúc mừng thi tập Thơ Joseph Huỳnh Văn đã đến với thân hữu và bạn đọc yêu thơ, để thay lời cảm tạ NXB Giấy Vụn và gia đình của thi sĩ, đã vượt qua mọi khó khăn để thực hiện được một ấn bản thơ rất đẹp, rất quý.    <br />&#160;</p>
<p><em>Calif., 10.2011</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><i></i></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Nguyễn Lương Vỵ</em></p>
<h2>Hòa âm cầm dương xanh</h2>
<p>&#160;</p>
<p><em>&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Em hỡi! Khi tay ngà rỏ máu      <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Thì mộ lòng tôi cỏ xanh rồi…       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; (Thơ Joseph Huỳnh Văn)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>I.</strong></p>
<p>Mộ lòng âm âm    <br />Thương máu lá cầm dương biếc nắng     <br />Trôi hết bóng chiều câm</p>
<p>Khóc biệt ly trầm đàn    <br />Trầm lá. Trầm thi     <br />Trầm đá xanh máu nở biệt ly     <br />Trầm thương đau khép mắt     <br />Trầm gót phai chiều đi!</p>
<p>Khi ngón tay rỏ máu đàn    <br />Đàn tan trong huyết hoa     <br />Tình tang thơm huyết hoa</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>II.</strong></p>
<p>Mộ lòng ta khóc cầm dương    <br />Em không về cùng ta thương máu lá     <br />Đời quá lạnh</p>
<p>Dầm câu thơ buốt nguyệt    <br />Có chút tình sương tan     <br />Hồn cỏ lau     <br />Hoa ngõ hạnh chìm đàn     <br />Chìm nát tan môi nắng quái</p>
<p>Hái vài tiếng ca xang trên mộ cỏ    <br />Nghe hết mùa điêu linh     <br />Tình tang thơm huyết hoa</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>III.</strong></p>
<p>Ôi máu thắm đẹp vì em    <br />Vì lớp lớp hồn hoa xanh tiếng nói     <br />Gọi điêu linh ngàn năm!</p>
<p>Ta đã phơi hết áo trầm thi    <br />Phơi máu ngực     <br />Nghe oán hờn xao xác     <br />Hồn cầm dương níu tiếng vọng ngàn mây     <br />Âm âm nghe máu nở</p>
<p>Nhớ nhau chiều thu không    <br />Cầm dương xanh đón người về     <br />Tình tang thơm huyết hoa…     <br />&#160; </p>
<p><em>Calif., 2004 (hiệu đính, 02.2005.)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/21980/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một tho&#225;ng mắt buồn</title>
		<link>http://damau.org/archives/21133</link>
		<comments>http://damau.org/archives/21133#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 31 Aug 2011 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hanh Chi</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Đọc và Đọc lại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/21133</guid>
		<description><![CDATA[Còn hai con mắt khóc người một con 
Còn hai con mắt một con khóc người…

Không biết ý Trịnh Công Sơn có trùng ý với Bùi Giáng hay không? Hay họ Trịnh cũng chỉ mượn hai câu thơ này để chuyển vận một ý khác ....
]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/08/jeanmakela-zen.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="jeanmakela-zen" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/08/jeanmakela-zen_thumb.jpg" alt="jeanmakela-zen" width="379" height="356" border="0" /></a></p>
<p align="center"><em>Suy Thiền (Zen Meditation) (họa sĩ: Jean Makela)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>“Mắt Buồn” là một trong những bài thơ được tuyển chọn và được đánh giá là bài thơ hay nhất trên thi đàn hiện đại. Thơ ca và tư tưởng Bùi Giáng tôi đọc khá nhiều nhưng thú thật chẳng hiểu là bao. Khi nghe bài thơ “Mắt Buồn” được đánh giá cao tôi thật sự háo hức muốn tìm hiểu ý nghĩa gì hàm ẩn trong bài thơ mà hay thế.</p>
<blockquote>
<h2>Mắt buồn</h2>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>“Dặm khuya ngất tạnh mù khơi”<br />
–Nguyễn Du</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Bóng mây trời cũ hao mòn<br />
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay<br />
Tấm thân với mảnh hình hài<br />
Tấm thân thể với canh dài <span style="font-size: small; font-family: Times New Roman;">bão </span>giông<br />
Cá khe nước cõng lên đồng<br />
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng<br />
Ta từ tháng chạp quay nghiêng<br />
Ấm trang sử lịch thu triền miên trôi<br />
Bỏ trăng gió lại cho đời<br />
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa<br />
Bỏ người yêu bỏ bóng ma<br />
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời<br />
Bây giờ riêng đối diện tôi<br />
Còn hai con mắt khóc người một con.</p>
<p>–Bùi Giáng</p></blockquote>
<p>Đọc đi đọc lại nhiều lần tôi chẳng hiểu <em>Bùi </em>tiên sinh muốn gởi gắm tâm sự gì trong đôi mắt? Tôi chưa gặp Bùi Giáng nhưng qua hình ảnh, chân dung và những người bạn đã từng sống với ông kể lại, ông có hai đặc điểm nổi bật đó là bàn chân to bạnh giao chỉ và cặp mắt rực sáng lạ thường. Nhìn vào chân dung tôi ấn tượng nhất là đôi mắt sáng quắc, cái nhìn như xuyên thủng thấu tận ruột gan. Thật ra tôi cũng không muốn đề cập đến chân dung của ông, nhưng qua bài thơ “Mắt Buồn” tôi có ngay sự liên tưởng về đôi mắt để tìm hiểu ý nghĩa của bài.</p>
<p>Mười bốn câu thơ lục bát gởi gắm và chia sẻ tâm sự buồn của ông qua ánh mắt chăng? Đọc từ đầu tới cuối tôi chỉ thấy hai câu kết là có sự xuất hiện của đôi mắt mà thôi.</p>
<p><em>Bây giờ riêng đối diện tôi<br />
Còn hai con mắt khóc người một con</em></p>
<p>Các văn nhân thi sĩ cũng đề cập hai câu thơ này rất nhiều, nhưng tôi chỉ thấy sự ca ngợi thôi, chẳng thấy ai bình giải ý nghĩa hai câu thơ có liên quan đến mắt buồn mà Bùi Tiên Sinh đã kết lại bài thơ. Trịnh Công Sơn cũng mượn hai câu thơ này để chuyển tải tâm sự.</p>
<p><em>Còn hai con mắt khóc người một con<br />
Còn hai con mắt một con khóc người…</em></p>
<p>Và không biết ý Trịnh Công Sơn có trùng ý với Bùi Giáng hay không? Hay họ Trịnh cũng chỉ mượn hai câu thơ này để chuyển vận một ý khác. Điều này tôi cũng chào thua.</p>
<p>Trở lại bài thơ “Mắt buồn” đọc đi đọc lại tôi không hiểu bài thơ muốn nói gì. Nhớ lại lời Bùi Giáng nhắc nhở “vấn đề không dễ hiểu như tinh thần trưởng giả học giả quan niệm, cái gì cũng đòi dễ hiểu – Đó là tính kỳ dị kỳ khu của người không thể biết chuyện kỳ bí. Bóng lãng đãng nhị bội. Bàn tay trưởng giả không thể ghì ôm vớ vào trong đâu được.” Thật vậy, lối học và lối đọc của trưởng giả, học giả cái gì cũng đòi hiểu, nhưng hiểu là sao? Anh hiểu giống như anh biết dò theo con suối ra khỏi rừng, anh hiểu như trồng lúa trồng rau. Anh hiểu như làm bài văn bài toán vân vân…. Hiểu như vậy thì có học có hiểu. Có học là thu vào trong não óc, truyền trao chữ nghĩa những con số cộng trừ, những câu chữ loằng ngoằng nối đuôi. Ôm một mớ bong bong vô tích sự chờ ai hỏi câu gì đốp lại câu đó, ai đố cái gì thì phong phóc trả lời ngay. Hiểu là vậy ư? Nhưng Bùi Giáng lại khác. Đối với ông như vậy là không hiểu gì cả mà đó chỉ là cuộc chơi thi tài trí nhớ mà thôi, ông thì nghĩ ngược lại càng học càng không hiểu. Thật tình, lối nói này của Bùi Giáng cũng làm tôi mỏi mệt ngao ngán. Hình như thơ văn của ông rặt theo thể loại nghịch suy, đầy dẫy lối nói cà ngẳng cà tàng, không đầu đuôi trên dưới.</p>
<p>Tôi để bài thơ “Mắt buồn” lưu chảy trong tôi, tôi không suy nghĩ, không buồn tìm hiểu, bài thơ cứ qua qua lại lại trong cái đầu rỗng tuếch, đến tôi không mời đi tôi không tiễn, cứ như vậy một hôm ngồi nhìn ra đường, cộ xe um sùm người qua kẻ lại, bỗng dưng tôi đọc lên “Dặm khuya ngất tạnh mù khơi.” Câu thơ của cụ Du mà Bùi Tiên Sinh đã ghi ngay dưới tựa đề “Mắt Buồn.” Tôi sững người. Ôi! Bùi Giáng ông thật là thánh triết, ông thật sự là kẻ thong dong trời phương ngoại. Đôi mắt tôi cay cay, tôi chợt hỏi. Ta về đâu nhỉ, người qua kẻ lại đang đi về đâu nhỉ? Ôi hãi hùng dặm khuya! Ôi hãi hùng mù khơi ngất tạnh! Tôi thấy mắt buồn đang dáo dác nhìn quanh. Tôi thấy mắt buồn đang tràn lung linh đầy kỷ niệm, đang rạo rực náo nức chuyện thần tiên và mắt buồn thật buồn nhìn lại hai bàn tay trắng xóa.</p>
<p><em>Bóng mây trời cũ hao mòn<br />
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay</em></p>
<p>Tôi, một lữ khách một bóng ma vô định, tôi nhìn tôi bằng thân với thể bằng hình hài với tuổi và tên, đó là những gì mà tôi biết, những gì định hình định thể cho tôi. Tôi đã cố gắng làm hết chuyện của tôi dưới gầm trời nắng mưa cơm áo, nhưng nào định phận có tha thứ cho ai. Cuộc dâu bể cứ trôi xộc vào bức bách tường lũy kiên cố mà tôi đã kiên trì dựng lập, rồi cái lạnh tê cóng của hư vô lầm lũi bước vào. Ôi! Sao linh hồn và nhận thức lại nấp trong tấm hình hài mong manh đến thế? Ai, ai bày ra cuộc chơi chông chênh quá. Ai bày cuộc đời mạo hiểm thế ni? Chuyện này ông Giáng biết rõ mười mươi.</p>
<p><em>Tấm thân với mảnh hình hài</em></p>
<p>Tại sao tấm thân rồi lại mảnh hình hài? Ông Giáng muốn nói gì đây? Thật vậy, cái ngôn ngữ đa đoan đã hướng hồn ta về một nẻo, xuôi ta về cuối tận hôn mê, thế mà ta cứ nói rằng ta tỉnh táo lắm lắm, ta là thân là hình hài ấy ấy là tuổi tên là danh phận tót vời. Ông Bùi ngộ thật, ông vẽ chỗ này ra nghe rối thật, tấm thân cứ nói tấm thân tại sao nói hình hài vô đây? Thì cũng như bàn tay có úp có ngửa có nắm có xòe. Để phân biệt để định dạng cái gì của bàn tay. Bỗng dưng một thành ba thành bốn, chụp lấy cái ba cái bốn rồi quên rằng cái một ngu ngơ. Có trời đất thánh thần hoặc có con ma nào bảo chìa tay ra mà ông lại nắm với xòe. Sự quên bẵng bàn tay là cố tật của tri thức, của sự toan tính lăm le bảo quản hình hài. Hình hài là sự phản chiếu của <em>tấm thân</em> đã bị ngộ nhận thành hình và thể, ý niệm đã trượt dài đánh mất nguyên tính của <em>thân</em> và đã biến chiêm bao mộng mị thành cuộc dâu bể, <em>thể</em>, náo động.</p>
<p><em>Tấm thân thể với canh dài bão giông</em></p>
<p>Một sự thật đớn đau đang trùm xuống bờ mê cõi mộng, con mắt buồn liêu xiêu thấy một thành hai thấy gà hóa cút, ngồi giữa quê hương mà dáo dác đường về. Càng tăng tầm học hỏi càng nghiêm túc tư suy thì càng thêm sa mạc nỗi đau xé lòng. Là do đâu vậy? Câu hỏi là thực thể hiện sinh, là nắng đổ lửa trên đầu, là mưa dập dồn tơi tả lá gió và linh hồn tuyệt vọng giữa hư vô. Heidegger thốt lên rằng “cuộc sống chân chính thiết tha nằm trong tuyệt vọng.” Thật vậy. Chỉ ngay lúc tuyệt vọng chới với mới hiểu ra rằng:</p>
<p><em>Cá khe nước cõng lên đồng<br />
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng<br />
Ta từ tháng chạp quay nghiêng<br />
Ấm trang sử lịch thu triền miên trôi</em></p>
<p>Ông Giáng lại dùng dụ ngôn “cá khe nước cõng lên đồng” để muốn nói lên điều gì? Cá theo nước lên đồng là chuyện quá hiển nhiên có gì phải suy luận? Nhưng hình như ông Giáng muốn hỏi rằng “nếu không có nước khe làm sao cá lên đồng cho đặng?” Sự có mặt của cá ở đồng là do có nước khe, nước khe đóng vai trò cực kỳ quan trọng cho sự hiện thể của cá trên đồng. Nhưng nghiệt thay khi nói đến cá đồng con người lại không nhất thiết quan tâm đến “nước khe.” Sự hiện hữu của cá đồng có thật sự là cá đồng khi không kèm theo nước khe? Có thật sự là có thế giới có cuộc đời khi không có tôi? Có thực là thế giới ôm tôi vào lòng hay tôi ôm thế giới vào lòng? Ông Giáng đáp: “Đôi bên cùng góp phần vào cuộc phôi dựng mộng song đôi.” Đây có thể là đạo lộ duy nhất mà xưa nay những bậc hiền triết đã dùng ngôn ngữ để truy nguyên thế giới biểu tượng, trong quá trình định thức số phận con người. Sự mổ xẻ tư duy triết học tràn đầy trong sử lịch. Nhưng thật oái oăm vì tác dụng của ngôn ngữ đã được nhìn nhận như dụng cụ làm béo bở cho tư tưởng, và tư tưởng càng ngày càng thấy mình mang dấu ấn tiên phong chinh phục thực tại. Đây là một trong những sai lầm mà Bùi Tiên Sinh đã cảnh báo “nếu kẻ học cứ nằng nặc đo đếm, chưa suy tư chân chính mà đã vội vồ nuốt lý luận ồn ào thì bậc thánh đành thở dài im lặng, thà lặng lẽ và mang tiếng dốt còn hơn trả lời trên bình diện náo động, làm tan vỡ TÍNH THỂ SUY TƯ.  Do đó việc giáo huấn là điều cao nhã và cũng chênh vênh lắm thay.”</p>
<p>Ngôn ngữ thi ca thường không vào thẳng vấn đề mà tùy ở độ rung cảm của thi nhân ngân lên những giai điệu dao động cõi lòng. Sự giao cảm là đặc tính của thi ca, khi TÍNH THỂ SUY TƯ TAN VỠ cũng là lúc thời gian xuất hiện, thời tính bắt đầu chuyển dịch phập phù theo “mắt buồn” và bắt đầu xuất hiện sự hoang mang nhung nhớ mà Bùi Tiên Sinh đã vận vào bằng giai điệu.</p>
<p><em>Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng<br />
Ta từ tháng chạp quay nghiêng<br />
Ấm trang sử lịch thu triền miên trôi</em></p>
<p>Một chiếc then cài của sử lịch, của thời gian đặt đâu đó trong dòng biến dịch lại chính là nguyên nhân của sự hiện hữu vô thường. Chiếc then cài bên tả hay hữu, bên này hay bên kia, nước khe hay cá đồng???&#8230; Một động tác cuối cùng của chính bạn để bắt đầu một cuộc hành trình:</p>
<p><em>Bỏ trăng gió lại cho đời<br />
Bỏ ngang ngửa sóng những lời hẹn hoa<br />
Bỏ người yêu bỏ bóng ma<br />
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời</em></p>
<p>Sự phát hiện về thời tính lại làm nên một dòng chảy lặng lờ thơ mộng, sự phát hiện ngôn tính làm tàn úa rụng rơi những bóng hình ma quái dị và trả lại cho con tâm một niềm đam mê tư lự, một cuộc thánh tẩy bằng điệp khúc nhấn nhá gởi lại trăng gió cho đời, gởi con sóng tình cho những lời hẹn hoa bướm.</p>
<p>Sự ra đi là trở về với vĩnh cửu, sự ra đi là trở lại với chính mình, một cõi riêng ấy chỉ còn lại ta với ta:</p>
<p><em>Bây giờ riêng đối diện tôi<br />
Còn hai con mắt khóc người một con.</em></p>
<p>Và đây sự chuyển động ngoạn mục của cuộc hiện sinh trả lại cho chính bạn sự tròn đầy thể dụng, một cõi lòng man mác rực sáng đầy thông cảm yêu thương và thông tri cho đời bằng những giọt nước mắt pha lê ngập xóa nỗi tủi buồn nhân thế.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/21133/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>CĂN NH&#192; NG&#211;I ĐỎ: Nguyễn Xu&#226;n Ho&#224;ng giữa trập tr&#249;ng tiềm thức</title>
		<link>http://damau.org/archives/20899</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20899#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 01 Aug 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trangđài Glassey-Trầnguyễn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Đọc và Đọc lại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20899</guid>
		<description><![CDATA[Vài năm sau, tôi trở lại. Tôi đã đi qua những miền đất cổ của Việt Nam cận đại, đã thu nhận chứng từ của người Việt tha hương cho các dự án nghiên cứu. Tôi đã lưu vong, không tự toại với sự dễ chịu của Little Saigon. Tôi đủ can đảm để đối diện với cái ảm đạm của “Căn nhà ngói đỏ”...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p>Nguyễn Xuân Hoàng, người thật, là một con người vui vẻ, ý tứ, kín đáo. Ít ra là trong lần duy nhất tôi gặp ông. Ngoài ra, tôi chỉ thỉnh thoảng giữ liên lạc với ông qua điện thư. Nhưng ông luôn là một người thân thiện, vui vẻ, và lịch sự. Chưa bao giờ ông chậm hồi âm. Chỉ trừ khi tôi gửi email đến địa chỉ đã rơi khỏi quỹ đạo sinh hoạt của ông.</p>
<p>Bẵng sáu năm mất liên lạc. Tôi vẫn giữ những tác phẩm của ông ký tặng. Ông tặng cho tôi những tác phẩm in của ông, như tất cả những tác giả muốn tìm cha mẹ nuôi cho những đứa con tinh thần của mình. Và tôi nuôi ba đứa con của ông thật kỹ. Chúng vẫn tinh tươi, nõn nà, như những quyển sách tặng khác, ngay cả trong những khi tôi phải chống chọi với ba đào.</p>
<p>Tôi có thử đến “Căn nhà ngói đỏ.” Lần đầu đi ngang, ngập ngừng chưa dám vào. Có vẻ ảm đạm quá. Tâm hồn trẻ con của tôi lưỡng lự. Thời khóa biểu của tôi quá đầy. Tôi không gõ cửa.</p>
<p>Vài năm sau, tôi trở lại. Tôi đã đi qua những miền đất cổ của Việt Nam cận đại, đã thu nhận chứng từ của người Việt tha hương cho các dự án nghiên cứu. Tôi đã lưu vong, không tự toại với sự dễ chịu của Little Saigon. Tôi đủ can đảm để đối diện với cái ảm đạm của “Căn nhà ngói đỏ,” mà trong đó, NXH-nhà-văn ẩn hiện như một bóng ma: khi thì là người kể chuyện, khi thì là kẻ chứng kiến, lúc thì là triết nhân rách óc để thấu đời, và cũng là một sử gia, ghi lại cái manh mún của người và đất Việt giữa bể dầu sôi lịch sử.</p>
<p>NXH-nhà-văn viết từ tiềm thức, một tiềm thức khá cô đơn ‘và buồn thảm’ (cái chữ buồn thảm này, ông đã bao nhiêu lần lạm dụng nó?). Có phải NXH đã cố tình chọn cho mình cái tâm thức cô đơn, để làm một người viết đúng nghĩa? Vì để viết, thì người cầm bút cần một khoảng trống tâm linh và tâm thức. Để cho chữ thở. Để được một mình.</p>
<p>Tôi chưa bao giờ đọc các tiểu thuyết ghê rợn của Stephen King, vì tôi không quan tâm đến thể loại này, nhưng tôi đã tham khảo quyển “On Writing” và đồng ý với ông về điều tiên quyết của quá trình viết. Đóng cửa để viết.</p>
<p>NXH-nhà-văn đóng cửa, dựng cô đơn, tránh tiếng động của nhân gian. Ông viết.</p>
<p>Ông viết. Từ đổ nát của đời sống xung quanh. Từ thất vọng với cuộc đời, với thế sự, với ngòi nổ của chết chóc. Ông viết, với cái chân thành của trẻ thơ, và cái xót xa của người lớn. Cái nhãn quan lưỡng mạch ấy cho ông giàu có trong nhận xét và vô hạn trong cảm xúc.</p>
<p>Tôi tự hỏi, có phải khi viết về cái đổ nát, thì chính ông tìm được sự thanh thản nào đó? Viết về hy vọng, là tìm được cho mình niềm hy vọng trên trang sách. Viết về tình yêu (mà ông gọi là ‘một xa xí phẩm’ giữa thời chiến), là nắm lấy tình yêu vốn đang bị “con yêu quái ăn thịt người” mang tên Chiến Tranh thắt cổ?</p>
<p>Ông viết. Viết từ những gót chân của quá khứ, xiêu vẹo trong chiến tranh, rổn rảng mùi cay đắng. Văn của ông có thể là người ở chỗ ông đặt mình vào hoàn cảnh, tâm trạng của nhiều người khác. Người = bản thân ông. Người = tha nhân. Ông dám đi vào những “Căn nhà ngói đỏ” không quen, và ở lỳ trong đó, cho dù có những bóng ma hay yêu quái đang làm ông kinh động.</p>
<p>“Tự Truyện” chẳng hạn, bắt người đọc phải giật mình. Bất cứ người đọc nào. Vì ông thiết kế bao tấm gương soi mà trong đó, bất cứ ai cũng có thể tìm thấy một mảnh đời mình. Những bức tranh tả thực não nuột. Những ảnh soi rợn người. Những ảo ảnh mập mờ giữa mong và mất.</p>
<p>“Giáng Sinh, hãy chờ” là một vũ điệu héo hắt của hy vọng đi vào bể tuyệt vọng, đắm đuối trong một tình yêu tức tưởi, một quyết liệt gãy cánh. Thời gian có thể giết người ta bằng cái mòn mỏi và vô vọng. “hãy chờ.” Đến bao giờ? Chờ cho đến khi hy vọng và tình yêu đều đã trầm mình giữa rừng cao su đô hộ?</p>
<p>Còn “Barbara,” ôi, cái lãng đãng buông chùng của điệu thơ, cái chới với hốt hoảng của đất sập người tan. Người ta yêu nhau khi có thể, và ‘hẹn hò’ nhau trong tâm thức khi thế cuộc bắt phải biệt tin. Náo nức tìm, chỉ để hụt hẫng. Hớn hở mong, chỉ được di thư. Cán nát cái nhớ mong, thì chỉ còn một lời “xin mãi mãi chia tay…”</p>
<p>Là một triết nhân, NXH-nhà-văn luôn xây mỗi căn-nhà-truyện của ông với bao giai tầng suy nghĩ, lợp mái ngói đỏ nhưng lại phả sương mù và ném lựu đạn lên nó, để ở cuối nhiều câu truyện, căn-nhà-truyện của ông cũng tan thành mây khói. Có phải đây chính là hệ quả trực tiếp, tàn khốc, mãnh liệt nhất của chiến tranh lên tâm-hồn-nhà-văn-triết-nhân?</p>
<p>Tôi sinh sau chiến tranh, nhưng luôn sống giữa chiến tranh, không chỉ chiến tranh như một ký ức, mà chiến tranh như một thực thể, đã thoát thai từ bom đạn, giờ đang hiện diện trên thân thể, tâm khảm, tư tưởng của những người đã sống trong binh lửa. Tôi không thể tách rời tôi với họ, vì họ là quá khứ và hiện tại của tôi. Họ là tiềm thức của tôi. Là kiếp trước của tôi.</p>
<p>NXH-nhà-văn đã bắt tôi sống với chiến tranh trong “Căn nhà ngói đỏ,” xô tôi vào tuyệt vọng của cái sống đang cố bấu víu vào vạt đất sạt trên vực thẳm chết chóc, phá sập cái bức tường hôm-qua và buộc tôi chứng kiến cái kinh hoàng mà dân tộc tôi đã chịu trong suốt bao năm.</p>
<p>Đi vào “Căn nhà ngói đỏ” là đi vào một Việt Nam đầy binh đao, ly tán, ngậm ngùi, hấp hối. Ở lại “Căn nhà ngói đỏ” là đối mặt với một quá khứ mà thế hệ hậu 1975 chưa từng đối diện khi ở quê nhà, và sẽ không đối diện nếu không có can đảm đi vào những “Căn nhà ngói đỏ” như căn mà NXH-kiến-trúc-sư đã xây (và biết rằng, thời gian và hoàn cảnh sẽ làm cho chúng tàn sập).</p>
<p>Nhưng trong cái bế tắc ấy, NXH-nhà-văn lại được chính NXH-triết-nhân giải thoát. Ông dám nhìn vào hiện thực của chiến tranh, nhưng cũng dám nhìn tới miền nắng lành đất ấm ở bên kia chân trời, nơi mà bom đạn không bay tới được. Một con tằm trong kén mơ. Ông không đánh mất cái di sản quý nhất của một người làm công việc sáng tạo: viễn ảnh.</p>
<p>Ông đóng cửa để viết. Và tuy NXH-nhà-văn đóng cửa, cánh cửa ấy lại chính là thông lộ giữa trái tim nhạy cảm của ông và vạn cảnh đời thật. Cho nên, ông cô đơn vì ông nhuốm cái cô đơn của kiếp người đang hiển lộng trong muôn trùng cuộc đời quanh ông. Ông tránh tiếng động của nhân gian, nhưng lại nghe rất rõ tiếng gào thét từ trong mỗi nhân linh đang cố bay ngược con-gió-chiến-tranh, dấn bước giữa bão-tố-chết-chóc.</p>
<p>NXH đi nhiều, viết về nhiều nơi như viết về chính một phần cơ thể của ông. Ông có lối diễn tả dầy đặc, dính chặt như kẹo kéo, sánh như nhựa đường. Ông trãi những lối đi lạ, vạch những đường mòn chưa có vết chân người. Ông là người cô độc. Nhà-văn-cô-độc. Trên những quang lộ cô độc của riêng ông. Cho đến khi người đọc ghé “Căn nhà ngói đỏ,” thì sự cô độc của ông bị phá vỡ. Ông đã tìm được người chịu lắng nghe những lời tâm sự ngút lòng của ông. Giọng văn của ông luôn là một lời tâm sự. Một lời tâm sự khẩn thiết.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20899/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>SAO ANH KH&#212;NG VỀ CHƠI TH&#212;N VĨ?</title>
		<link>http://damau.org/archives/19615</link>
		<comments>http://damau.org/archives/19615#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Apr 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Mai</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Phê Bình]]></category>
		<category><![CDATA[Đọc và Đọc lại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/19615</guid>
		<description><![CDATA[Văn chương theo đất nước rẽ vào những nhánh sông đổi mới, tuy chưa ra biển lớn .... Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay từng là thân phận của “Đây thôn Vĩ dạ”, ngày nay, đã được giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/hmactu43.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="hmactu43" border="0" alt="hmactu43" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/hmactu43_thumb.jpg" width="228" height="331" /></a> </p>
<p align="center"><em>(1)</em> (<em>Nguồn: blog </em><a href="http://vanhoavn.blogspot.com/2010/11/gia-hoi-danh-nhan-mien-trung.html" target="_blank"><em>Văn Hóa Việt Nam</em></a>)</p>
<p>70 năm trôi qua kể từ khi Hàn Mặc Tử – thi sĩ của “ <i>Trường thơ</i> <i>Loạn</i> “ đi vào cõi vĩnh hằng, người đời vẫn không nguôi nhắc về ông. Ông là một hiện tượng độc đáo, một tài năng kỳ lạ bất thường trong phong trào Thơ Mới.</p>
<p>Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 mất ngày 11/11/1940. Quê ở làng Lệ Mỹ (Đồng Hới), Quảng Bình. Ngay từ nhỏ gia đình ông chuyển vào sống tại Quy Nhơn. Nhà nghèo, cha mất sớm, học trường Quy Nhơn đến năm thứ ba. Làm việc ở Sở Đạc điền Quy Nhơn một thời gian bị đau rồi mất việc. Vào Nam làm báo ở Sài gòn ít lâu lại trở về Quy Nhơn. Sau đó bị bệnh hủi, đưa vào bệnh viện phong Quy Hoà ở Quy Nhơn rồi mất ở đó. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 16 tuổi (lấy hiệu Phong Trần rồi Lệ Thanh). Đến năm 1936, khi phụ trách phụ trương văn chương báo Sàigòn mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử. [1; 196]</p>
<p>Là một tài thơ lớn của phong trào Thơ Mới, Hàn Mặc Tử sáng tạo nhiều bài thơ tuyệt hay như “<i>Mùa xuân chín</i>”, “<i>Đây thôn vĩ dạ</i>”…. Bên cạnh những vần thơ hết sức trong sáng, là một thế giới hình tượng kỳ lạ đầy ghê sợ, thể hiện một tâm hồn thơ đau đớn, điên loạn, những dòng thơ viết bằng máu và nước mắt. Hàn Mặc Tử chết sớm năm 28 tuổi. Thơ ông là bằng chứng của một chàng trai trẻ tài hoa có tâm hồn luôn yêu đời, khao khát cuộc sống, nhưng cuộc đời cay nghiệt đã bắt ông phải lìa bỏ sớm. Cho nên trong thơ Hàn Mặc Tử, ta có thể cảm và nghe được cả một thế giới bên trong vô hình đang lâm vào niềm tuyệt vọng, là tiếng nói vô vọng của một thân phận bị dồn đẩy đến cùng cực, chới với bên bờ miệng vực của thần chết mà ngoái nhìn, nuối tiếc cuộc đời.</p>
<p>Sinh thời, Hàn Mặc Tử đã từng được Phan Bội Châu khen ngợi: “ <i>Từ về nước đến nay được xem nhiều thơ văn quốc âm song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng Nam nhạn Bắc ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười to một tiếng ấy là thỏa hồn thơ đó</i>”. Có lẽ <i>ông già bến ngự </i>là người đầu tiên giới thiệu Hàn Mặc Tử với công chúng, động viên nhà thơ trẻ tự tin trên con đường sáng tạo.[16; 76]</p>
<p>Năm 1936, với tập “Gái quê”, thi nhân họ Hàn đã làm xôn xao dư luận trong phong trào Thơ Mới, đặc biệt khi <i>Trường thơ Loạn </i>và tập <i>Thơ Điên</i> xuất hiện, giới phê bình lắm kẻ khen chê. Ta hãy xem tác giả Thi nhân Việt Nam nhận xét: “<i>Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo Hàn Mặc Tử, thơ với thẩn gì! Toàn nói nhảm. Có người nghiêm khắc hơn nữa: Thơ gì mà rắc rối thế! Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc hoài, thì ra nó lừa mình…</i>” [1; 196]</p>
<p>Trong báo Ngày nay số 122 ( chủ nhật ngày 7/8/ 1938) Xuân Diệu viết bài <i>Thơ của Người</i> có lẽ cũng nhằm ám chỉ các thi sĩ “<i>Trường thơ Loạn</i>” ở Bình Định bằng một thái độ phủ nhận: “<i>Hãy so sánh thái độ can đảm kia, thái độ của những nhà chân thi sỹ, với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống</i>”. [1; 197]</p>
<p>Nhưng cũng lắm người ca tụng. Nhận xét về Hàn Mặc Tử, tài năng lạ của một thời, Chế Lan Viên viết: “<i>Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan và còn lại của các thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử.</i>” [1; 197]</p>
<p>Tỉnh táo và sâu sắc, Trần Tái Phùng đã không ngần ngại phô bày vẻ đẹp tuyệt mỹ của thơ ca Hàn Mặc Tử : “<i>Nghệ thuật chàng tựa một con sông dài đi xuyên qua thế kỷ chúng ta và hai bờ sông dàn bày không biết bao nhiêu cảnh sắc khác nhau đẹp đẽ đến say ngợp, đến tê liệt cả lòng người</i>”[2]. Trần Tái Phùng đã ví thơ Tử với những khung cảnh thần tiên của thời thượng cổ theo hội họa của Poussin, Millet và Murillo…[16; 77]</p>
<p>Bước vào thơ Hàn Mặc Tử, người đọc không khỏi có cảm giác phân tâm, bởi mạch thơ ông luôn là một mạch kết cấu của một dòng thơ bất định, tuôn chảy theo niềm cảm xúc phản ảnh một tâm trạng luôn bất ổn trong cuộc sống. Bài thơ “<i>Đây thôn vĩ dạ</i>” trong tập <i>Thơ Điên</i> là một tác phẩm nổi bật phần nào tiêu biểu cho dòng thơ ông.</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image0016.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image001" border="0" alt="clip_image001" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image001_thumb4.jpg" width="344" height="259" /></a></p>
<p align="center">(2)</p>
<p>Vĩ dạ là một thôn gần sát ngay cố đô Huế, làng ấy ngày xưa là nơi các vương hầu hoàng tộc và các gia đình quyền quí cư trú. Vĩ dạ là một làng khá tiêu biểu cho phong cách sống trầm mặc khép kín của xứ Huế. Nhà nào cũng có hàng rào dâm bụt, cắt xén gọn, tươm tất. Vào sân vườn là những chồi cây cảnh, xen kẽ hoa trái. Sau vườn là các khóm rau, có khi cả vạt bắp, và bậc cấp xuống mé sông Hương. Nhà vườn và tính chất an nhiên là một nét tiêu biểu của thôn Vĩ dạ.</p>
<p>Hồi ở Quy Nhơn những năm 1932 –1933 Hàn Mặc Tử có một mối tình với cô Hoàng Thị Kim Cúc. Cha cô Cúc làm ở Sở Đạc Điền và Hàn Mặc Tử cũng làm việc ở đó, thời gian sau ông bỏ vào Sàigòn làm báo, khi trở về Quy nhơn thì gia đình cô Cúc đã chuyển về Huế, ở thôn Vĩ dạ. Ít lâu sau, biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh nan y, đang đau đớn và cô đơn tại bệnh viện phong Quy Hòa, người em họ gợi ý cô Cúc gửi một bưu thiếp thăm hỏi sức khỏe cho Mặc Tử. Hàn Mặc Tử làm bài thơ này đáp lại như một lời cảm ơn.[3]</p>
<blockquote><p><b><i>Đây thôn Vĩ dạ</i></b></p>
<p><i>Sao anh không về chơi thôn Vĩ?        <br /></i><i>Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.        <br /></i><i>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,        <br /></i><i>Lá trúc che ngang mặt chữ điền.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Gió theo lối gió, mây đường mây,        <br /></i><i>Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.        <br /></i><i>Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,        <br /></i><i>Có chở trăng về kịp tối nay?</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Mơ khách đường xa, khách đường xa.        <br /></i><i>Áo em trắng quá nhìn không ra.        <br /></i><i>Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,        <br /></i><i>Ai biết tình ai có đậm đà!</i></p>
</blockquote>
<p>Toàn bài thơ là những câu hỏi phiếm chỉ, thể hiện tâm trạng bất an, bất định của tác giả, làm cho không khí bài thơ mang âm hưởng buồn.</p>
<p>Ngay đầu đề bài thơ, thi nhân đã cho người đọc một cảm giác lạ. Tại sao không gọi bài thơ là “<i>Thôn Vĩ dạ</i>”, mà phải là “<i>Đây thôn Vĩ dạ</i>”. Từ “đây” có một cái gì đó giới thiệu rất trân trọng. Hàn Mặc Tử trân trọng một làng quê mà ở đó có người con gái ông hết lòng yêu mến. Ở đây, thi nhân muốn thể hiện tình cảm của mình với cô gái qua cách giới thiệu. Trân trọng làng quê của người mình yêu cũng là trân trọng người yêu.</p>
<p>Mở đầu bài thơ là một câu hỏi nhưng cũng có thể là lời hờn trách của cô gái “ <i>Sao anh không về chơi thôn Vĩ</i>”. “ <i>Sao anh</i>…” đại từ nhân xưng “<i>anh</i>” ngọt ngào đã biểu lộ được mối quan hệ thân mật giữa thi nhân và cô gái. Sao anh không về chơi quê em, hay là sao anh không về đây thăm em. Dường như có một <i>thôn Vĩ</i> mà chỉ cần một lời mời đầu môi thì nó đã đủ cho hai người ngầm hiểu nhau rồi. Cả một câu thơ bảy chữ thì đã có sáu chữ đầu là thanh bằng, tạo nên một âm hưởng dịu êm mang đậm phong cách nhẹ nhàng của các cô gái Huế.</p>
<p>Về đây thăm quê em để ngắm hàng cau vươn mình trong nắng mai, để thả hồn chan hòa trong thiên nhiên xanh ngát, để ngắm nhìn ai tha thướt, thấp thoáng dưới hàng cây. Cảnh vật chỉ đơn sơ vậy thôi, nhưng đã đủ làm xôn xao, sầu nặng hồn ai. Cũng là cảnh làng quê, nhưng có người thích ngắm trong nắng trưa, hay buổi chiều tà, ở đây Hàn Mặc Tử muốn ngắm làng quê dưới ánh nắng ban mai của một ngày mới. “<i>Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên</i>”, câu thơ tả cảnh của ông có một nhịp điệu khác thường, hai từ “ nắng” trong cùng một câu thơ tạo nên cái tâm trạng xôn xao, háo hức của một thanh niên trẻ trung yêu đời. Và cuối cùng là một lời reo “ <i>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</i>”, vườn ai mà đẹp quá như vậy, có phải là vườn nhà nàng chăng? Người ta có thể nói xanh biếc, xanh mơn mởn, xanh mướt để tả màu xanh. Ở đây, Hàn Mặc Tử rất tài tình khi không dùng hai từ “ <i>xanh mướt</i>” đi kề nhau, bởi “ <i>xanh mướt</i>” có một vẻ gì đó yếu ớt, ít sinh khí. Vì thế, Hàn Mặc Tử đã tách ra, hoán đổi trật tự từ và thay bằng lời reo “<i>mướt quá”</i> rõ ràng câu thơ cũng tả về màu xanh nhưng lại tràn đầy sức sống, dồi dào sinh khí hơn. Do vậy, từ “<i>xanh như ngọc</i>” gieo vào lòng người đọc một cảm nhận đầy ấn tượng. Vườn của ai mà đẹp quá, quí giá quá, xanh quá, trong suốt như ngọc. Đứng trước thiên nhiên đầy sức sống như thế, ai lại không thấy yêu đời, yêu cuộc sống. Và kìa, thấp thoáng sau những khóm tre, khóm trúc là khuôn mặt của một người. “<i>Lá trúc che ngang mặt chữ điền”</i>. Thơ xưa thường ca ngợi cái đẹp “<i>thanh mai trúc mã</i>”, nét mảnh mai của cô gái bên cạnh cái cứng cỏi của một chàng trai. Hàn Mặc Tử muốn tả trong một khoảnh khắc nào đó, hình ảnh của một “ai đó” qua khóm trúc đã gây cho Hàn một ấn tượng mạnh, nên đã in dấu trong hồn thi sĩ và khi đặt bút đề thơ ông đã tạo ra một hình tượng thơ bí ẩn.[4]</p>
<p>Ở đây, chúng ta không cần phải tách bạch, “ khuôn mặt chữ điền” ấy là của ai. Bởi lẽ, đó cũng là một chi tiết thoáng qua, một đường nét đẹp nằm trong cái tổng thể.</p>
<p>Trên toàn cảnh của khổ thơ đầu là bút pháp tả thực của Hàn Mặc Tử về một miền quê xanh tươi tràn đầy sức sống, và đó cũng chính là lòng ham sống, lòng yêu đời của thi nhân. Vì nếu không ham sống, không yêu đời thì làm sao có thể tả được một khung cảnh bình dị mà đắm say lòng người đến thế.</p>
<p>Nhưng sang khổ thơ thứ hai, người đọc đột ngột rơi vào một tâm trạng buồn, chia cách khi nghe một nhạc điệu khác thường, lạnh lẽo, vô tình đến nghiệt ngã.</p>
<p><i>Gió theo lối gió, mây đường mây      <br /></i><i>Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay</i></p>
<p>Thiên nhiên cũng có gió, có mây, có nước, có hoa, nhưng sao rời rạc, nhạt nhẽo. Gió mây chia đường, tách ngã, và sông thì lặng im không buồn chảy trong khi đó hoa bắp lại vô tình lay. Mới vừa đây, thi nhân đang rạo rực trước sự sống thì nay tâm trạng bỗng buồn bã, nát tan. Bởi vì Hàn Mặc Tử có yêu đời mãnh liệt như thế nào, cũng bằng không &#8211; khi bản thân ông biết mình đang tan rữa từng ngày. Từng ngày là từng ngày bước dần vào cõi chết. Đó chính là mâu thuẫn trong tâm hồn của Hàn. Yêu đời nhưng tuyệt vọng.</p>
<p>Cuộc đời đã ngoảnh mặt quay lưng, nắng hình như đã tắt, trời đã chuyển hoàng hôn. Thi nhân tan nát cõi lòng, tuyệt vọng có thể chấm dứt hy vọng nhưng không thể chấm dứt tình yêu. Đối với Hàn Mặc Tử giờ đây tình yêu là lối thoát cuối cùng mà ông đang cố bám víu để hy vọng sống.</p>
<p><i>Thuyền ai đậu bến sông trăng đó      <br /></i><i>Có chở trăng về kịp tối nay?</i></p>
<p>Trong thơ ca dân gian Việt Nam, hình tượng thuyền và bến thường xuất hiện trong những bài ca về tình yêu để bộc lộ nỗi lòng và tâm trạng đôi lứa. Con thuyền là sự vật chuyển động không ngừng trên sông biển và thuyền mang ý nghĩa biểu trưng cho hình ảnh người con trai. Còn bến, bờ là điểm đến hay rời đi của thuyền thường biểu trưng cho hình ảnh người con gái. Sự kết hợp giữa thuyền và bến được khai thác bởi các yếu tố động – tĩnh, bởi hành trình và yên nghỉ … qua đó biểu hiện hoặc gợi lên những trạng thái tình cảm tương ứng.</p>
<p><i>Thuyền ơi có nhớ bến chăng      <br /></i><i>Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền</i></p>
<p>Tuy nhiên, cũng có lúc trong ca dao thuyền lại được ví như thân phận long đong của người con gái:</p>
<p><i>Tròng trành như nón không quai&#160; <br />Như thuyền không lái, như ai không chồng</i></p>
<p>hay thân gái lênh đênh mười hai bến nước:</p>
<p><i>Thân em như chiếc thuyền tình      <br /></i><i>Mười hai bến nước biết gửi phận mình nơi nao</i></p>
<p>Cũng giống như thơ ca dân gian, Hàn Mặc Tử kế thừa truyền thống dân tộc lấy hình ảnh thuyền và bến làm biểu trưng cho tình yêu đôi lứa. Hồn thơ Hàn tuyệt đẹp khi liên tưởng thuyền trăng, bến trăng, sông trăng. Trong đêm trăng kỳ ảo tràn ngập ánh vàng, thuyền em có kịp chở trăng về với anh trong đêm nay. Anh đang cô độc, đang cô đơn, đang tuyệt vọng, làm sao em đến được với anh trong lúc này. Câu hỏi “ <i>Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay?</i>” là một câu hỏi khẩn thiết của một người đang quằn quại trong đau đớn. Lúc này đây, ngay “ tối nay” đây, em có kịp về không? Tình yêu của em có đến kịp không? Anh cần em, tình yêu là niềm tin cuối cùng anh đang bấu víu để sống. Còn yêu là còn sống.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image0023.jpg"><img style="border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image002_thumb3.jpg" width="382" height="263" /></a></p>
<p align="center">(3)</p>
<p>Trăng là một trong những hình ảnh nổi bật trong thơ Hàn Mặc Tử, có lẽ ông là một trong ít thi nhân có những câu thơ nói về trăng lạ lùng, kinh dị và độc đáo nhất. Ông nhân hóa trăng như người con gái:</p>
<p><i>Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu      <br /></i><i>Đợi gió đông về để lả lơi</i></p>
<p><i>(Bẽn lẽn)</i></p>
<p>Trăng cũng có mùi vị:</p>
<p><i>Mới lớn lên trăng đã thẹn thò      <br /></i><i>Thơm như tình ái của ni cô</i></p>
<p><i>(Huyền ảo)</i></p>
<p>Ông xem trăng như tài sản của riêng mình, trăng là của mình, nên tự ý rao bán:</p>
<p><i>Ai mua trăng tôi bán trăng cho      <br /></i><i>Không bán đoàn viên, ước hẹn hò      </p>
<p></i><i>(Trăng vàng trăng ngọc)</i></p>
<p>Hàn Mặc Tử đang tự hỏi lòng, vẫn biết câu hỏi sẽ rơi vào hư vô, hy vọng của mình là hy vọng hão huyền nhưng ông vẫn ước:</p>
<p><i>Mơ khách đường xa, khách đường xa.      <br /></i><i>Áo em trắng quá nhìn không ra.      <br /></i><i>Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,      <br /></i><i>Ai biết tình ai có đậm đà!</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Bây giờ, Hàn Mặc Tử đã rơi vào mộng thật rồi, Hàn đang tưởng tượng có người phương xa đến thăm chàng, mơ “ <i>khách đường xa, khách đường xa</i>” được lặp lại hai lần trong một câu diễn tả tâm trạng thiết tha mong ngóng đến độ khẩn thiết. Nơi chàng ở, cô liêu quá, người đời hắt hủi chàng, xa lánh chàng, ghê sợ chàng, chàng đang sống cô lập ở một nơi xung quanh bạt ngàn đồi cát trắng, trên một bờ biển hoang vắng ít dấu chân người, bạn của chàng là tiếng sóng vỗ, là tiếng thông reo, tri kỷ của chàng là ánh trăng đêm. Đêm nay, mơ thấy em về nhưng em mờ ảo quá, anh không thấy gì cả. “<i>Áo em trắng quá nhìn không ra</i>” hay vì anh nhìn em từ một cõi xa xăm nào. Bởi vì, trong đời sống bình thường làm gì có màu trắng nào là màu trắng không thể nhìn thấy được. Bút pháp của Hàn Mặc Tử lúc này đã rơi vào tâm linh, siêu thực.</p>
<p><i>Ai biết tình ai có đậm đà!</i></p>
<p>Từ hy vọng Hàn Mặc Tử đã rơi vào niềm tuyệt vọng, câu cảm thán cuối cùng của Hàn cũng vừa là một câu hỏi, vừa khẳng định vừa nghi vấn. “<i>Ai biết tình ai</i>” là một cặp từ phiếm chỉ nhiều tầng nghĩa, vừa gần gũi vừa xa vời. Có phải Hàn Mặc Tử đang muốn biết tình cảm của cô gái đối với mình có còn không? Hay Hàn đang muốn người phương xa biết tình mình vẫn ngày đêm mong ngóng? Một câu hỏi không có hồi âm, nó thiết tha mà nghẹn ngào xót tủi như cái ngơ ngác của kẻ đứng trước ngã ba đường tiến thoái lưỡng nan, đi về phía nào cũng thấy cụt đường, không còn phương hướng nữa.</p>
<p>Chu Văn Sơn đã từng bình thật hay: <i>Khép lại bài thơ, người đọc có thể thấy rõ mạch liên tưởng “cóc nhảy” đứt đoạn, bất định trong ba khổ thơ. Khổ đầu: một ước ao thầm kín ngấm ngầm bên trong lại cất lên như một lời mời mọc từ bên ngoài, nỗi hoài niệm âm u lại mang gương mặt sáng sủa của khát khao rực rỡ. Khổ hai: một ước mong khẩn thiết dâng lên thoắt trở thành một hoài vọng chới với nghẹn ngào. Khổ ba: một niềm mong ngóng vừa ló dạng hướng ra thế giới bên ngoài đã vội biến thành mối hoài nghi hướng vào nơi đang tồn tại. Mối u hoài nối ba khổ thơ tách biệt ấy còn được thể hiện bằng một “sợi dây” liên kết khác nữa: Ba khổ thơ đều ngầm chứa ba câu hỏi với bốn chữ ai dãi đều trong lòng bài thơ (Vườn ai? Thuyền ai? Ai biết tình ai?) khiến chúng vang lên thành giọng điệu da diết khắc khoải. Vậy là, nếu lối liên tưởng “cóc nhảy” tạo ra một văn bản hình tượng đầu Ngô mình Sở, thì dòng lưu chuyển cảm xúc đau thương dưới dạng u hoài khắc khoải kia lại tạo ra một âm điệu nhất quán, liền mạch. Phi logic ở bề mặt, nguyên phiến, nguyên điệu ở bề sâu, đó chính là siêu logic, đây là nét thi pháp điển hình của “ Đây thôn Vĩ dạ”.</i>[13]</p>
<p>Chế Lan Viên, trong khi chỉ ra cách đọc thơ Hàn Mặc Tử cũng đã từng viết rằng Hàn Mặc Tử thuộc týp thi sĩ bị thơ làm. “<i>Bị truy kích bởi cái chết, Tử hối hả, dồn dập sáng tạo chứ đâu có làm văn! Anh trút đời mình, lòng mình từng trận, từng hơi chứ đâu có ngồi điêu khắc, chạm trổ từng câu, từng chữ. Ta hiểu anh không phải từng câu, từng chữ, mà từng hơi</i>.”[5]</p>
<p>Trong bài “Đây thôn Vĩ dạ” Hàn Mặc Tử đã viết theo thể thơ Đường luật thất ngôn tứ tuyệt gồm 3 khổ 12 dòng, mỗi khổ 4 câu 7 chữ nhưng với phong cách sáng tác hoàn toàn mới, nhà thơ đi từ bút pháp tả thực, đến tượng trưng, rồi siêu thực.</p>
<p>Hai câu thơ:</p>
<p>&#160;<em>Áo em trắng quá nhìn không ra      <br />Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”…</em></p>
<p>Mang màu sắc tâm linh, kinh dị. Thực ra, như Chu Văn Sơn nhận xét: “…vẻ kinh dị trong thơ Hàn không quá xa lạ. Chúng ta đã từng tiếp nhận trong truyền thống ở những chuyện ma quái dân gian như “ <i>Lĩnh nam chích quái</i>, “ <i>Việt điện U linh</i>”, “ <i>Truyền kỳ mạn</i> <i>lục</i>” cả đây đó trong “<i>Truyện Kiều</i>” của Nguyễn Du… và đương thời Hàn Mặc Tử cũng có nhiều đồng minh trên con đường phiêu lưu vào thế giới của cái kinh dị như Chế Lan Viên, Thế Lữ, Vũ Bằng… song, có thể nói “<i>Quyết đi tìm sự lạ</i>” chính là động cơ lớn chi phối hành trình sáng tạo của Hàn Mặc Tử”. [13; 43] Trong tiểu luận “Nghệ thuật là gì?” Hàn Mặc Tử đã viết: “ <i>Quăng mình đi giữa cái vũ trụ mênh mông, vượt ra theo những nguyện vọng cao xa, những cái ý nghĩa, ấy là do cái năng lực tinh thần mạnh mẽ nó thúc giục mình (…) Bồn chồn, ta quyết đi tìm sự lạ</i>” [6]</p>
<p>Có người cho rằng Hàn Mặc Tử chịu ảnh hưởng lớn chủ nghĩa siêu thực của Baudelaire.[20] Ông đã thụ lĩnh từ tác giả&#160; <em>Hoa ác</em> một cảm quan ma quái để đi vào thế giới đau thương, rồi cứ bị thôi miên bởi vẻ đẹp kỳ lạ, kinh dị.[13] Tuy nhiên, theo tôi chúng ta cần lý giải theo chiều hướng khác, dưới góc nhìn của văn học so sánh. Đây chính là hiện tượng tương đồng khi có cùng hoàn cảnh sáng tác trong sáng tạo nghệ thuật. Thật vậy, Hàn Mặc Tử mang bệnh nan y, ông luôn ở trong tình trạng cô đơn, ám ảnh từ cái chết nên thế giới ông đầy ma quái, nhất là những đêm trăng tròn bệnh “hủi” phát tán mãnh liệt gây đau đớn quằn quại, trong lúc nửa mê nửa tỉnh như vậy thơ ông tuôn ra mang hình ảnh siêu thực là điều đương nhiên, không thể nói thơ ông lúc ấy làm do ảnh hưởng Baudelaire. Có chăng, thơ Hàn Mặc Tử là sự kết hợp tâm hồn đặc biệt của ông và nền văn hóa Pháp trong bối cảnh phong trào Thơ Mới những năm 30 của thế kỷ 20.</p>
<p>Bài thơ “Đây thôn Vĩ dạ” từ khi mới ra đời đã được người đọc đón nhận một cách nồng nhiệt và trân trọng, thi phẩm được đánh giá là một trong ít bài thơ tả cảnh làng quê xinh đẹp, nên thơ hay nhất trong phong trào Thơ Mới lúc bấy giờ.</p>
<p>Đây cũng là bài thơ nổi tiếng, tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử đi từ tả thực – tượng trưng đến siêu thực.</p>
<p>Bài thơ “Đây thôn vĩ dạ” thực chất không phải là một bài thơ tả cảnh làng quê của Hàn Mặc Tử, thi nhân đã mượn cảnh để nói cái tình của mình. Nhân bức bưu ảnh gửi tặng của người xưa, ông hoài niệm về một mối tình đã qua. Bài thơ bắt đầu bằng một câu hỏi và cuối cùng kết thúc như một câu hỏi, thi nhân hy vọng vào tình yêu nhưng không dám tin vào tình yêu, bởi vì Hàn Mặc Tử biết đó là mối tình tuyệt vọng, mâu thuẫn ấy là một tâm trạng đau thương, bởi Hàn biết mình đang đi dần vào cõi chết. Bài thơ này làm trong giai đoạn cuối của cuộc đời ông.</p>
<p>Bài thơ khép lại nhưng câu thơ “<i>Ai biết tình ai có đậm đà</i>!” như vẫn còn rung mãi trong lòng người đọc như tiếng ngân của một điệu hò. Tứ thơ và lời thơ tuy buồn lay hiu hắt đã sắc đậm màu lục của lá trúc cắt vào lòng khách thơ, đến nỗi, không ít khách phương xa về qua Huế, không ai lại không muốn đến thăm “<i>miền thôn Vĩ dạ ấy</i>” để được tận mắt chứng kiến một lần <i>thôn vỹ</i> của Hàn Mạc Tử, được tận mắt nhìn thấy những nhà vườn Huế ẩn khuất bóng dáng của một đôi mắt và được sống dưới hàng cau mướt xanh đậm tình người…</p>
<p>Văn chương, cũng như cuộc đời, mang thăng trầm của giông bão chịu những định kiến từ quan điểm giai cấp hay phê phán hữu khuynh, từ sau 1945 đến năm 1986 dòng văn chương lãng mạn đã không được chấp nhận. Tài liệu hướng dẫn giảng dạy Văn học lớp 12 năm 1983 của Nhà xuất bản Giáo dục đã từng ghi: “<i>Về nội dung, đây là dòng văn học bạc nhược, suy đồi, tiêu cực, có tính chất phản động, tuy có ít nhiều yếu tố tích cực. Do đó, sau bài khái quát này, chương trình hiện hành không đưa tác phẩm cụ thể vào kế hoạch học giảng văn, tuy sách giáo khoa có giới thiệu bài thơ</i> “<i>Cây đàn muôn điệu của”của Thế Lữ để học sinh đọc thêm. Chúng ta cũng nên khuyên học sinh không nên đọc sách báo lãng mạn</i>…” [7], với quan niệm trên, thi ca Hàn Mặc Tử càng bị bài xích vì tư tưỏng siêu thực, thoát ly ngoài cuộc sống, “Đây thôn Vĩ dạ” cũng nằm trong tình trạng ấy. Chính cách đánh giá lạc hậu này từ một nền thẩm mỹ đóng khung, đã làm cho bao thế hệ học sinh bị thiệt thòi trong việc tiếp cận những áng văn thơ tuyệt tác của đất nước.</p>
<p>Văn chương theo đất nước rẽ vào những nhánh sông <i>đổi mới</i>, tuy chưa ra biển lớn. “Đây thôn Vĩ dạ” đã tìm lại vị trí xứng đáng của một thi phẩm tuyệt tác của một tài thơ lớn trên thi đàn Việt Nam. <i>Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay</i> từng là thân phận của “Đây thôn Vĩ dạ”, ngày nay, đã được giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông.</p>
<p>Một tiếng thơ lớn, là một tiếng thơ mà lịch sử không xóa được.</p>
<p>BAN MAI</p>
<p>24/4/2011</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p><b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b></p>
<p>[1] <i>Thi nhân Việt Nam</i> &#8211; Hoài Thanh – Hoài Chân (NXB. VH: 2000).</p>
<p>[2] Chuyển dẫn theo Phan Cự Đệ – <em>Thơ văn Hàn Mặc Tử phê bình và tưởng niệm,</em> tr. 343. (NXBGD Huế: 1993).</p>
<p>[3] Theo tài liệu của Trần Thanh Địch, nhà văn, bạn thân của Hàn Mặc Tử.</p>
<p>[4] Hình tượng bí ẩn này đã có quá nhiều suy diễn và tranh cãi, đến nỗi có một lần Chế lan Viên phải thốt lên: “<i>Con gái mặt chữ điền thì đẹp gì mà Hàn Mặc Tử phải ca ngợi.</i>” Thôi thì, người cho rằng gương mặt ấy là của chính nhà thơ. Bình giảng bài thơ này, ông Lê Trí Viễn cho rằng: “<i>mặt chữ điền, theo dân gian Huế là khuôn mặt phúc hậu của các cô gái.</i>” Còn các nhà nghiên cứu thì cho rằng hình tượng mặt chữ điền trong Văn học Việt Nam thường dùng để chỉ gương mặt cương nghị của các chàng trai.</p>
<p>[5] Chế Lan Viên – <i>Lời giới thiệu tuyển tập Hàn Mặc Tử</i> (NXBVH: 1987).</p>
<p>[6] Hàn Mặc Tử – <i>Nghệ thuật là gì?</i> Báo Sài gòn 26/10/1935.</p>
<p>[7] Tài liệu hướng dẫn giảng dạy Văn học lớp 12 phổ thông, tập I, tr. 11 (NXBGD: 1983).</p>
<p>[8] <i>Văn học và thời gian</i> – Trần Đình Sử (NXBVH: 2000).</p>
<p>[9] <i>Đọc văn và học văn</i> – Trần Đình Sử (NXBGD: 2002).</p>
<p>[10] <i>Một thời đại trong thi ca</i> – Hà Minh Đức (NXB.ĐHQG Hà Nội: 2002).</p>
<p>[11] <i>Tác phẩm văn chương trong trường phổ thông – những con đường khám phá</i>- Vũ Dương Qúy – Lê Bảo (NXBGD: 2002).</p>
<p>[12] <i>Đến với thơ hay</i> – Lê Trí Viễn</p>
<p>[13] <i>Thơ Điên của Hàn Mặc Tử thi học của cái “ tột cùng”</i> – Chu Văn Sơn, TCVH số 11/2000.</p>
<p>[14<i>] Con mắt tâm linh văn hóa phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử</i> – Đoàn Thi Hương Giang, TCVH số 11/2000.</p>
<p>[15] <i>Chữ và nghĩa trong thơ</i> – Mã Giang Lân, TCVH số 4/2000.</p>
<p>[16] <i>Hàn Mặc Tử trong đời sống phê bình trước 1945</i> – Nguyễn Toàn Thắng, TCVH số 4/2001.</p>
<p>[17] <i>Ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp đối với phong trào Thơ Mới Việt</i> <i>Nam</i><i> 1932 – 1945</i> – Trần Huyền Sâm, TCVH số 12/2001.</p>
<p>[18] <i>Các lý thuyết thi pháp học cấu trúc</i> – Trịnh Bá Đĩnh, TCVH số 8/2002.</p>
<p>[19] <i>Lý luận văn học</i> <i>tập 3.</i> – Phương Lựu(chủ biên)- NXBGD, 1988.</p>
<p>[20] Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa. Baudelaire sinh tại Paris, mồ côi cha lúc 6 tuổi, mẹ tái giá và đã gửi ông vào một ký túc xá. Ông theo gia đình sang Ấn Độ vào năm 1841, sau đó trở về Paris, sống cuộc đời kham khổ, thiếu thốn và bắt đầu sáng tác. Thi sĩ đã gặp vài kiều nữ như Jeanne Duval, Marie Daubrun, Apollonie Sabatier, và chính những người phụ nữ đẹp này đã đem nhiều cảm xúc, cuồng nhiệt và thi hứng cho những dòng thơ chập chờn mộng ảo của ông , năm 1867 ông bị bệnh ốm nặng, qua đời sau một thời gian bị bại liệt tàn phế. Thi phẩm <b><i>Les fleurs du mal</i></b> (<i>Hoa khổ đau</i> hay còn dịch <i>Hoa ác</i>, xuất bản 1857) là một thi phẩm nổi tiếng của ông.</p>
<p><b>Ảnh</b> (2) và (3) mang tính minh họa không rõ tác giả.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/19615/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

