<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Trần Trung Sáng</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/trantrungsang/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Nhớ t&#225;c giả &#8220;C&#243; phải em m&#249;a thu H&#224; Nội&#8221;</title>
		<link>http://damau.org/archives/16505</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16505#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 22 Oct 2010 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Trung Sáng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16505</guid>
		<description><![CDATA[Vào khoảng năm 1995, một buổi sáng, bỗng dưng xuất hiện trước cửa văn phòng nơi tôi làm việc, một người đàn ông dựng chiếc xe đạp cũ kỹ, cà tàng bước vào. Anh ta trang phục áo thun, quần jean, gương mặt rắn rỏi, phong trần, khó đoán tuổi. Sau mấy lời chào hỏi, anh ngỏ lời, muốn tham gia một chân bỏ báo...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<blockquote><p><i>Những ngày vừa qua, giữa niềm vui của đại lễ “1000 năm Thăng Long – Hà Nội”, trong những khúc hát hân hoan vang lừng trên phố phường Hà Nội, hẳn rằng không thể thiếu những câu hát: “ Có chắc mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi/ Lệ mừng gặp nhau xôn xao phím dương cầm/ Có phải em là mùa thu Hà Nội/ Nghìn năm sau ta níu bóng quay về&#8230;”. Thế nhưng, mấy ai biết: người viết nên những lời thơ của bài ca ấy &#8211; nhà thơ Tô Như Châu trước lúc qua đời cách đây gần 10 năm, vẫn chưa một lần được đặt chân đến thủ đô&#8230;</i></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>Vào khoảng năm 1995, một buổi sáng, bỗng dưng xuất hiện trước cửa văn phòng nơi tôi làm việc, một người đàn ông dựng chiếc xe đạp cũ kỹ, cà tàng bước vào. Anh ta trang phục áo thun, quần jean, gương mặt rắn rỏi, phong trần, khó đoán tuổi. Sau mấy lời chào hỏi, anh ngỏ lời, muốn tham gia một chân bỏ báo (một dịch vụ phát báo tận nơi trực thuộc cơ quan báo do tôi đang làm đại diện). Hỏi chuyện một hồi, mới biết: anh là Tô Như Châu, nguyên công nhân điện lực – tác giả bài thơ “Có phải em mùa thu Hà Nội” được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ thành ca khúc nhiều người yêu chuộng lâu nay. Ngờ đâu, từ đó định mệnh đã gắn liền nhà thơ Tô Như Châu với công việc của chúng tôi đến phút kỳ cùng(!).</p>
<p>Trên thực tế, ca khúc “Có phải em mùa thu Hà Nội” từng có mặt trong một băng nhạc tại miền Nam trước 1975, từ 1990 được chính thức phổ biến trở lại với giọng hát Hồng Nhung, rồi Thu Phương&#8230; khiến nhiều người ngỡ là bài hát mới. Đáng nói hơn, ngay thời điểm anh Tô Như Châu bắt đầu nhận công việc đi bỏ báo thì bài hát này bỗng dưng rộ lên trở thành ca khúc Top 10 về Hà Nội. Hầu như mọi lúc mọi nơi, hang cùng ngõ hẻm nào cũng thường xuyên vang lên những lời ca: “<i>Có phải em là mùa thu Hà Nội/ Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm&#8230;”</i> .</p>
<p>Tô Như Châu tên thật là Đặng Hữu Có, vốn sinh sống và làm thơ ở một xóm nhỏ cạnh bến đò An Hải, Sơn Trà, Đà Nẵng. Theo anh, bài thơ nói trên được anh viết từ thời còn rất trẻ. Cũng giống như nhiều thanh niên miền Nam thời đó, anh rất mê những cô gái Bắc di cư, và đã mơ mộng về mùa thu Hà Nội qua hình ảnh một cô gái Bắc xỏa tóc thề ngồi bên phím dương cầm. Bài thơ được Trần Quang Lộc – một nhạc sĩ trong những nhóm thân hữu thường đàn đúm với anh thời đó đã đồng cảm phổ thành ca khúc hát chơi với bạn bè. Cả hai mơ ước ngày thống nhất cùng về đất Thăng Long, nhưng khi hòa bình đến thì mỗi người thất tán mỗi nơi&#8230;</p>
<p>Từ nỗi khát vọng chưa thành tựu ấy, có lần khi vòng quanh bỏ báo trên mọi ngã phố trở về, sau khi nghe lại tác phẩm của mình, trán còn lấm tâm mồ hôi, Tô Như Châu đã bày tỏ hạnh phúc không kiềm được qua bài thơ “Đi bỏ báo nghe thơ phổ nhạc”:</p>
<p>“<i>Anh con ngựa già chưa mỏi vó      <br /></i><i>Vẫn thênh thang bước nhẹ quanh đời      <br /></i><i>Đi tung bờm tóc gió      <br /></i><i>Quẳng gánh hương xa lên tiếng gọi mời&#8230;</i>”</p>
<p>Có lẽ đây là một bài thơ hay, xúc động thứ hai, sau “mùa thu Hà Nội” của anh. Trong đó, nhiều đoạn anh viết :</p>
<p>“<i>Nghe em hát mùa thu vàng rực rỡ      <br /></i><i>Bỗng xôn xao nghiêng ngã đường chiều      <br /></i><i>Răng khễnh, soi hồ Gươm yêu dấu      <br /></i><i>Đà Nẵng tung hê một trời yêu</i>”</p>
<p>Hoặc:</p>
<p>“<i>Có phải em Mùa thu Hà Nội      <br /></i><i>Mùa thu trong veo mùa thu tuyệt vời      <br /></i><i>Sống đẹp âm thầm và khát vọng      <br /></i><i>Bỏ báo đọc thơ nghe nhạc đã đời</i>”</p>
<p>Thế nhưng, niềm vui ấy chắng được bao lâu, thì Tô Như Châu phát hiện ra: trên tất cả các phương tiện đem ca khúc “Có phải em mùa thu Hà Nội” đến với công chúng, hầu như chỉ có tên người viết nhạc, mà không có tên tác giả lời thơ. Nỗi bức xúc chính đáng của anh dần dà được bạn bè thân hữu thấu hiểu, sẻ chia và phản ánh trên một số tờ báo cả nước. Đầu tiên, nhạc sĩ Trần Quang Lộc giải trình lấp liếm, đại khái: “ chưa hề biết Tô Như Châu là ai, chỉ nhớ thời trai trẻ ở Đà Nẵng gặp một người tên là Có đem đến một bài thơ dài, phải sửa chửa lại nhiều đoạn phổ thành bài hát như bấy giờ&#8230;”(*). Dù vậy, trước những chứng cứ rõ ràng về tình bạn giữa hai người, nhất là việc bài bài hát đã được phổ biến ghi rõ tác giả lời và nhạc từ trước 1975, nên một thời gian sau, vị trí của Tô Như Châu được trả lại đúng chỗ trên tác phẩm. Các đơn vị phát hành ca khúc cũng liên hệ hứa sẽ giải quyết nhuận bút bản quyền cho anh theo quy định (dù vậy, lời hứa đó vẫn chỉ là lời hứa&#8230;cho đến tận ngày nhà thơ vĩnh viễn ra đi).</p>
<p>Năm 1998, Nhà xuất bản Đà Nẵng đã ấn hành tập thơ “Có phải em mùa thu Hà Nội”, gồm 36 tác phẩm chọn lọc, kể cả đầu tiên và mới nhất của Tô Như Châu. Được sự ủng hộ của nhiều bạn đọc, bạn bè, không lâu sau đó, Tô Như Châu dự định chuẩn bị ấn hành thêm một tác phẩm mới gồm một số bài thơ tươi trẻ về Đà Nẵng, Bà Nà, bóng đá&#8230;Và nhân đó, sẽ một lần thực hiện chuyến thăm “Hà Nội &#8230;mùa thu của ước mơ”.</p>
<p>Thế nhưng, khoảng giữa năm 2002, khi những niềm hưng phấn còn đang dâng tràn, một cơn bạo bệnh bất ngờ ập xuống cắt đứt mọi hoài bão của Tô Như Châu &#8211; từ khát vọng “mùa thu lá rơi vàng tiếng gọi” đến những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi “là hạnh phúc quán vỉa hè chút rượu”, và kể cả “bỏ báo đọc thơ nghe nhạc đã đời”&#8230; Song với những người yêu thơ, những người yêu Hà Nội, cái tên Tô Như Châu chắc hẳn sẽ chẳng bao giờ bị lãng quên.</p>
<p>&#160;<a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/10/tonhuchau.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="tonhuchau" border="0" alt="tonhuchau" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/10/tonhuchau_thumb.jpg" width="467" height="318" /></a> </p>
<p align="center">&#160; <em>Nhà thơ Tô Như Châu (áo vét đen, đứng giữa)      <br />bên cạnh các đồng nghiệp PHV báo chí tại Đà Nẵng</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p>(*): Mới đây (13/9/2010), trả lời phóng vấn trên báo ĐS và PL, nhạc sĩ Trần Quang Lộc đã xác nhận:</p>
<p><em>“hồi đang còn là sinh viên Trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn, khoa sáng tác, gia đình tôi khi đó ở Đà Nẵng. Năm đó, tôi nghỉ hè về Đà Nẵng thăm nhà, gặp một người bạn tên là Tô Như Châu có sáng tác một bài thơ về Hà Nội. Bài thơ đó dài lắm, cỡ 3 &#8211; 4 trang giấy gì đó. Khi đọc xong bài thơ, tôi chợt thấy một sự đồng cảm len lói trong lòng. Tôi nhớ lại những năm còn ấu thơ, khi ấy trong xóm có nhiều gia đình người gốc Bắc sinh sống. Tôi thích nghe cái giọng nhẹ nhàng mà ngọt ngào của những thiếu nữ Hà Nội. Đọc văn chương, tôi thường tưởng tượng đến những thiếu nữ Hà Nội xõa tóc đứng bên hàng dương liễu nói cười. &quot;Có phải em mùa thu Hà Nội&quot; của tôi phổ thơ của Tô Như Châu và ra đời ngay sau đó”.</em> Ngoài ra, nhạc sĩ cho biết thêm, mãi đến hiện nay, cũng giống Tô Như Châu, ông chưa lần nào có cơ duyên đến Hà Nội.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16505/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>&#8220;NHỮNG NGƯỜI L&#205;NH THỢ&#8221; &#8211; c&#226;u chuyện kh&#244;ng thể bị l&#227;ng qu&#234;n</title>
		<link>http://damau.org/archives/13944</link>
		<comments>http://damau.org/archives/13944#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 29 Jul 2010 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Trung Sáng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/13944</guid>
		<description><![CDATA[NHỮNG NGƯỜI LÍNH THỢ là một tập sách viết về những người Việt Nam bị chế độ bảo hộ trưng dụng làm lính thợ trên đất Pháp. Tập sách nhằm để người Việt thế hệ hiện nay biết những đồng bào ra đi trong các cuộc hành trình ấy đã bị rơi vào hoàn cảnh như thế nào. Đồng thời, để lịch sử nước Pháp không quên những người lính thợ này...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>NHỮNG NGƯỜI LÍNH THỢ ( Travaillers Indochinois requis) là tập sách song ngữ Pháp &#8211; Việt của tác giả Luguern Liêm Khê. Phần ảnh của cố họa sĩ Từ Duy. Bản dịch của Phan thị Hồng Hạnh. Sách dày 256 trang, do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành vào đầu tháng 6/2010. </em></p>
<p>&#160;</p>
<p><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="ttsang" border="0" alt="ttsang" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/NHNGNGILNHTHcuchuynkhngthblngqun_9ED1/ttsang.jpg" width="264" height="385" /></p>
<p>&#160;</p>
<p>NHỮNG NGƯỜI LÍNH THỢ là một tập sách viết về những người Việt Nam bị chế độ bảo hộ trưng dụng làm lính thợ trên đất Pháp. Tập sách nhằm để người Việt thế hệ hiện nay biết những đồng bào ra đi trong các cuộc hành trình ấy đã bị rơi vào hoàn cảnh như thế nào. Đồng thời, để lịch sử nước Pháp không quên những người lính thợ này, không quên những đau khổ và những bất công mà họ đã chịu đựng, ngay cả giờ đây họ đã không nhận được một khoản hưu bổng nào của chính phủ Pháp trong những năm mà họ đã làm việc trên đất Pháp.</p>
<p>Họ ở vào tuổi từ 19 đến 20. Ngạn, Thịnh, Vy, Mười Oanh, Cân, Định, Thiêm, Duyệt, Liên, Quy, San, Tề, Quý, Giao, Tiên, Nam, Khâu là những người lính thợ không chuyên, gọi tắt là ONS (ouvier non spécialisé) của xứ Đông Dương bị tập trung vào những năm 1930-1940 làm nhân công để hổ trợ cho nền kinh tế Pháp trong thời chiến và phần lớn được tuyển chọn từ những tỉnh nghèo khó và đông dân nhất của các tỉnh miền Trung, miền Bắc Việt Nam. Nay họ đứng ra làm chứng là nhờ cuộc điều tra của tác giả Liêm Khê Luguern, để được lên tiếng trước khi vĩnh viễn đi xa. Bởi một phần trong số họ, được hồi hương vào khoảng 1940 đến 1954, còn độ gần vài chục người, ở tuổi “gần đất xa trời”. Những mẩu ký ức của họ không đồng đều vì họ đã già nua và yếu ốm. Nếu không có tập sách nhỏ này ra đời, không có một dấu tích của một văn bản nào viết về quá khứ đó.</p>
<p>Theo Hiệp hội hỗ trợ những người lính thợ và lính chiến tại Pháp, vào năm 1990, ước lượng danh sách những người lính thợ còn sống tại Việt Nam có từ 500 đến 600 người. (nhưng theo phát ngôn viên của Hội tại Việt Nam thì lúc này, danh sách có khoảng 227 người). Hiệp hội cho rằng, phần lớn họ không nhận được đồng nào khi trở về Đông dương. Năm 1997, do trở ngại về pháp lý, Hiệp hội gởi thỉnh cầu đến Tổng thống Chirac, thay vì đòi hỏi quyền được trợ cấp bằng một đền bù dưới hình thức tặng vật như một dấu hiệu tượng trưng cho số cựu lính thợ sống sót trong thời gian đó. Nhưng đòi hỏi này cũng không được đáp lại. Đến nay, Hội đã ngừng hoạt động, do những người cáng đáng công việc đã qua đời. Họ chỉ còn lại một nhóm nhỏ nhoi các cụ già và vẫn luôn chờ đợi một cử chỉ biết ơn từ phía nước Pháp.</p>
<p>Có thể dẫn điển một số lời tự sự của các nhân chứng còn sống:</p>
<p>Ông Chu văn Ngạn (sinh năm 1915 tại Diễn Châu, Nghệ An): “ Kỷ niệm đẹp nhất mà tôi còn giữ lại trong những ngày sống trên đất Pháp là lúc chúng tôi đón tiếp cụ Hồ Chí Minh đến Pháp để dự hội nghị Fontainbleau và kỷ niệm xấu nhất là giai đoạn mà người ta cấm chúng tôi kéo cờ Việt Nam trong các trại lính thợ”</p>
<p>Ông Nguyễn Liên ( sinh năm 1918 tại Phù Mỹ, Bình Định): “Trong hồ sơ cá nhân của chúng tôi, bắt buộc chúng tôi phải ghi chú những năm mà chúng tôi đã sống ở Pháp. Nhưng điều đó chẳng dùng vào việc gì. Hình như nước Pháp cố tình quên chúng tôi. Ngày nay, chúng tôi chỉ có thể nhận lãnh số phận của chúng tôi. Tôi tiếc những gì mà tôi đã làm cho nước Pháp”.</p>
<p>Ông Nguyễn văn Tê (sinh năm 1911 tại Hà Nam): “Tôi chưa bao giờ nhận lãnh được tiền bồi thường hoặc hưu trí từ ngày tôi trở về. Tôi vẫn còn đau ở chân. Tôi sẽ không bao giờ đi đứng đàng hoàng lại được như trước, nhưng tôi chẳng đòi hỏi gì chính phủ Pháp cả. Ngày ấy đã xa quá rồi. Tôi chẳng muốn nghĩ gì đến thời đó nữa, điều đó chỉ làm tôi thêm đau lòng”.</p>
<p>Ông Lê Hữu Đinh ( sinh năm 1907 tại Thanh Hóa): “ Mười năm sống ở Pháp là cả một phí phạm lớn: khi trở về, chúng tôi phải làm lại tất cả. Vì vậy cho nên tôi ao ước chính phủ Pháp nghiên cứu về tình trạng của chúng tôi và bồi thường cho chúng tôi. Họ không nên quên rằng chúng tôi đã bị bắt buộc phải ra đi và tất cả tài sản của chúng tôi đều bị tịch thu”.</p>
<p>Tác giả Liêm Khê cho biết: ”Lời của những người lính thợ ONS được trực tiếp viết bằng tiếng Pháp thông qua các lời chứng ( các cuộc phỏng vấn, các câu hỏi, thư từ và các cuộc hội thoại) được thu thập bằng tiếng Việt. Là người lấy lời chứng, tuy nói và đọc được tiếng Việt, nhưng tôi đã phải viết kết quả công việc của mình ra tiếng Pháp hiện là ngôn ngữ của tôi, sau đó lời chứng được dịch tiếp ra tiếng Việt. Hơn nữa, mục đích ban đầu là để xuất bản sách ở Pháp ( do đó có bản gốc bằng tiếng Pháp), nhưng tôi đã không tìm thấy một nhà xuất bản nào ở đây chấp nhận xuất bản một tác phẩm song ngữ”.</p>
<p>Về phía Nhà xuất bản Đà Nẵng, Ban biên tập nêu rõ:” Xuất bản những mẫu chuyện của họ bằng tiếng Việt và tiếng Pháp trong cùng một tác phẩm, điều đó muốn nói lên ý chí của chúng tôi trong việc thiết lập một chiếc cầu nối giữa hai quốc gia mà từ lâu đã có cùng một giai đoạn lịch sử ràng buộc lẫn nhau: lịch sử những người thợ này thuộc về lịch sử của nước Việt Nam cũng như đã thuộc về lịch sử nước Pháp. Vượt trên những tàn bạo của đẳng cấp thực dân và vượt trên những đau khổ dạn dày của những người lính thợ, ở một quốc gia đang trong thời chiến, những nhân chứng cũng cho thấy được các cuộc gặp gỡ giữa những người nông dân Việt nam và giới thợ thuyền Pháp, có nhiều gia đình Pháp đã mở rộng cửa nhà để mời đón họ”.</p>
<p>Tác phẩm này cũng là luận án cao học của Liêm Khê. Chủ đề DEA của Liêm Khê là người Việt di dân tại Pháp. Luận án Tiến sĩ cũng lấy cùng một đề tài với Cao học, nhưng đi sâu hơn, vì nhờ Liêm Khê gặp gỡ những người lính thợ còn sống tại Pháp cũng như tại Việt Nam.</p>
<p>Liêm Khê sinh tại Huế và cùng gia đình sang Pháp vào năm 1973. Cô tốt nghiệp Cao học vào năm 1988 và bằng DEA về môn sử. Hiện cô đang tiếp tục chương trình Tiến sĩ.</p>
<p>Từ năm 1991 Liêm Khê là giáo sư sử địa tại trường học Gaillac, trong địa hạt Tarn ( miền Nam nước Pháp), gần Toulouse- nơi gia đình cô sinh sống với chồng và hai con.</p>
<p>Liêm Khê cũng chính là chị ruột của diễn viên Trần Nữ Yên Khê (diễn viên chính của phim Mùi đu đủ xanh) và là con gái của bà Phan thị Hồng Hạnh- một Việt kiều quê tại Đà Nẵng, thường xuyên có nhiều hoạt động văn hóa xã hội đóng góp quê nhà./.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/13944/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>H&#227;y tưởng tượng&#8230; c&#249;ng Ho&#224;ng Ngọc Tuấn</title>
		<link>http://damau.org/archives/13452</link>
		<comments>http://damau.org/archives/13452#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Jul 2010 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Trung Sáng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/13452</guid>
		<description><![CDATA[Lần đầu tiên, tôi biết đến Hoàng Ngọc Tuấn qua một truyện dài mang tên “Tuổi trẻ hư không” in nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa (không rõ vì sao truyện này sau đó không in thành sách). Nội dung truyện chỉ quanh quẩn nói về tâm trạng một chàng trai trẻ vừa rời bỏ lục tỉnh đến Sài Gòn...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><b>&#160;</b></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="chandunghnt" border="0" alt="chandunghnt" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/HYTNGTNG.CNGHONGNGCTUN_60D7/chandunghnt.jpg" width="326" height="435" /></p>
<p align="center"><em>Chân dung nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn qua nét vẽ Hoàng Đặng</em></p>
<blockquote><p>Hoàng Ngọc Tuấn sinh năm 1947 tại TP Huế. Từ năm 1967, ông phiêu bạt vào Nam sinh sống, theo học trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, và bắt đầu bước vào nghề cầm bút từ thời gian này. Ông được giới trẻ miền Nam đặc biệt yêu thích, đón nhận như một “hiện tượng văn học” từ trước 1975 với các tác phẩm: <b>Hình như là tình yêu, Cô bé treo mùng, Ở một nơi ai cũng quen nhau, Tôi và em&#8230; </b></p>
<p>Từ năm 1989 đến 2005, các tác phẩm Hoàng Ngọc Tuấn được NXB Trẻ tái bản nhiều lần qua các tựa sách: Tuyển tập Hoàng Ngọc Tuấn (3 tập), Lời cầu hôn, Hình như là tình yêu&#8230; Thế nhưng, Hoàng Ngọc Tuấn vẫn ít được công chúng biết nhiều, bởi ông có đời sống riêng khá lập dị, kín đáo và lặng lẽ. Ngoài công việc cộng tác với các trang văn hoá nghệ thuật, thể thao trên một số tờ báo tại TP.HCM dưới các bút danh: Nhị Ngọc, Hoàng Ngọc, Huấn Toàn, Mây Biếc&#8230; hầu như ông không có sáng tác nào mới, cho đến khi qua đời, do lâm bạo bệnh vào tháng 7-2005.</p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>Từ những cơn mưa rả rích của mùa đông xứ Huế, chàng trai ấy đã lớn lên “đi trên con đường vắng, một bên là hàng cây nặng trĩu me chua, một bên là con sông nhỏ”, và trong lòng không ngừng âm ỉ cháy bỏng giấc mộng giang hồ&#8230;, để rồi một ngày kia, sau những năm tháng phiêu bạt trên những con phố nhộn nhàng của Sài Gòn là sự xuất hiện cái tên tác giả Hoàng Ngọc Tuấn với hàng loạt truyện ngắn tuyệt vời, như những khúc hát ngân nga một thời bật từ trái tim tuổi trẻ: <b><i>Nhà có hoa Mimosa vàng, Thư gởi Đường sơn cúc, Cô bé treo mùng, Buổi chiều Hạ Lan&#8230;</i></b></p>
<p>Khác với những nhà văn đi trước, có nhiều ảnh hưởng với thế hệ trẻ tại miền Nam thời trước 1975 như: Duyên Anh, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn&#8230;, Hoàng Ngọc Tuấn đến với bạn đọc bằng một thế giới hiền hòa, chẳng mảy may thù hận, chừng như nơi đó, ông nỗ lực xây dựng một không gian trú ngụ cho những khát vọng thương yêu, bình an và thơ mộng bên cạnh thực tại chiến tranh tàn khốc.</p>
<p>Với giọng văn trong sáng, giàu tình cảm và đầy tinh tế, những trang văn của Hoàng Ngọc Tuấn thường say sưa dẫn dắt độc giả về mảnh đất thần kinh mơ mộng – nơi những cô nàng nữ sinh yêu kiều chập chờn tà áo trắng bên dòng sông Hương – nơi có những khu vườn thanh vắng xào xạc tiếng những tàu lá chuối xanh mềm tựa lời ca dao – nơi luôn gợi nhớ đến những gương mặt yêu thương: bà ngoại, bà mợ, bà dì, người chị họ&#8230; cùng biết bao kỷ niệm thần tiên suốt quãng đời thơ ấu. Bởi theo Hoàng Ngọc Tuấn: ”Huế không chỉ đơn thuần là quê hương mà Huế là kết tinh của những gì đã từng gắn bó thân thương máu thịt. Huế là tất cả tuổi thơ và một phần tuổi trẻ”.</p>
<p>Dù khi chính thức bước vào con đường văn chương, Hoàng Ngọc Tuấn đã rời xa Huế, song những ký ức về miền quê hương này vẫn không ngừng âm ỉ hiện diện trên từng trang viết của ông: ”Người ta không yêu Huế vì mùa hạ. Mùa hạ nắng cháy trên da người như đè nặng cả một khung trời lửa. Tôi yêu Huế vì mùa đông mặc dầu mùa thu là mùa dễ thương nhất, mùa thu lá vàng rụng nhiều làm buồn lòng người phu quét đường còm cõi. Tôi sẽ nhớ mãi hình ảnh mơ màng của mùa đông ở Huế” (<b><i>Mưa Huế</i></b>). Ở một đoạn khác: “Anh đã ăn năm cái Tết xa nhà, điều ấy thật buồn. Ở những thành phố xa lạ, những thành phố không phải Huế của anh, cái tết thật vô duyên và trống rỗng” (<b><i>Thuở ấy có nhà</i></b>).</p>
<p>Bên cạnh đó, ngoài Huế và trong Huế, dĩ nhiên đậm nét trong những trang văn Hoàng Ngọc Tuấn là chân dung những thiếu nữ. Đó là Hạ Lan, Sao Mây, Bích Câu, Tiểu Muội, Út, Ngâu, Lục&#8230; mà tác giả thường gọi nôm na là “nàng”. Những “nàng” ấy, có lúc làm cho nhà văn vùi dập trong đớn đau và nước mắt, có lúc lại đem đến cho ông đỉnh cao hạnh phúc, như ánh hào quang rạng rỡ, dù chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi của cuộc đời. Nhưng chung quy, bao giờ ông cũng viết về họ bằng những lời lẽ dịu dàng, êm đềm nhất, bởi với ông “họ là những người đã tô điểm, đã làm thanh khiết lại cõi trần gian vốn có nhiều tục lụy này”.</p>
<p>Lần đầu tiên, tôi biết đến Hoàng Ngọc Tuấn qua một truyện dài mang tên “<b><i>Tuổi trẻ hư không</i></b>” in nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa (không rõ vì sao truyện này sau đó không in thành sách). Nội dung truyện chỉ quanh quẩn nói về tâm trạng một chàng trai trẻ vừa rời bỏ lục tỉnh đến Sài Gòn mưu tính chuyện tương lai. Mỗi ngày chàng trai đứng bên cột đèn, miệng nhai những hạt bắp rang trố mắt nhìn cuộc sống nhộn nhịp diễn ra trên đường phố, lòng ngập tràn háo hức&#8230; nhưng cũng đầy lo sợ, chẳng biết bước về đâu trước muôn nẻo đường định mệnh. Tôi nhận ra, đó là một câu chuyện chẳng hề có cốt chuyện, đề tài cũng chẳng có gì mới lạ, nhưng lời văn thật hồn nhiên, phóng túng, thu hút đến ma mị từng câu, từng chữ.</p>
<p>Về sau, đọc kỹ các tập truyện Hoàng Ngọc Tuấn được ấn hành, ấn tượng lần đầu của tôi về ông lại càng rõ ràng hơn: có lẽ nếu không viết văn, chắc hẳn Hoàng Ngọc Tuấn phải là người làm thơ. Bởi vì những truyện ngắn của ông chỉ là những câu chuyện êm ái, mong manh, cứ bềnh bồng như những tản văn hoặc những dòng thơ xuôi trau chuốt.</p>
<p>Trước 1975, Hoàng Ngọc Tuấn từng được bình chọn là 1 trong 5 nhà văn được yêu thích nhất của tuổi trẻ miền Nam, do tuần báo Khởi Hành (nhà thơ Viên Linh làm chủ biên) trưng cầu ý kiến bạn đọc. Có lẽ, ông là nhà văn hiếm hoi đã bắt trúng ngôn ngữ và tâm trạng của lớp trẻ vào thời điểm ấy.</p>
<p>Những tác phẩm của Hoàng Ngọc Tuấn luôn khẳng định một phong cách rất riêng: dí dỏm, yêu đời, bay bổng trí tưởng tượng&#8230;Nơi đó, người đọc thường xuyên gặp những câu văn: “ Hình như là&#8230;”, “chỉ có trong tưởng tượng của anh”, “Thí dụ 1: Hôn&#8230;Thí dụ 2: Viết thư tình&#8230; Thí dụ 3: đám cưới..”, “Hãy tưởng tượng, và chỉ là tưởng tượng&#8230;”&#8230; Trong một lần như thế, ông kể lại câu chuyện: sau một cuộc hẹn hò với người bạn gái thân yêu tại một quán cà phê để vẽ vời một tương lai tươi sáng, chàng trai cầm theo một tờ báo đọc qua loa cho đỡ buồn, và “anh sẽ thích thú ghê lắm nếu bất ngờ đọc thấy tên anh trang trọng trong một khung cáo phó viền đen:</p>
<blockquote><p>Đau đớn báo tin: Ông Nguyễn &#8211; văn – X</p>
<p>Nghề nghiệp: thỉnh thoảng là sinh viên</p>
<p>Đã từ trần tại Sài Gòn ngày&#8230;.</p>
<p>Vì bệnh tê liệt ở quán cà phê. Hưởng thọ 23 tuổi (tính theo trong căn cước thì trẻ hơn một chút)</p>
<p>Nhưng dĩ nhiên là không thấy tên anh. Anh vẫn còn yêu đời chán vì còn có nàng&#8230;”</p>
<p>&#160;</p>
</blockquote>
<p><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="hnt2" border="0" alt="hnt2" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/HYTNGTNG.CNGHONGNGCTUN_60D7/hnt2.jpg" width="283" height="313" /></p>
<p align="center"><em>Hoàng Ngọc Tuấn những ngày cuối cùng năm 2005</em></p>
<p>Cái khung cáo phó viền đen đã xuất hiện trong truyện ngắn <b><i>Vĩnh biệt phố</i></b> của Ngọc Tuấn cách đây đã 40 năm (1970), ai ngờ vào 3 năm trước nó đã tái hiện trên nhiều trang báo với nội dung tương tự (chỉ điều chỉnh lại danh tánh: Hoàng Ngọc Tuấn và độ tuổi: gần 60).</p>
<p>Nhưng liệu bạn đọc nên tin vào điều ấy không? Đến giờ này, tôi vẫn mong muốn, điều ấy chỉ “hãy tưởng tượng, và chỉ là tưởng tượng”. Bởi tận đáy tim tôi, Hoàng Ngọc Tuấn vẫn mãi là nhà văn số một của tuổi trẻ và tình yêu.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/13452/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>hội chứng &quot;Xu&#226;n T&#243;c Đỏ&quot;</title>
		<link>http://damau.org/archives/9553</link>
		<comments>http://damau.org/archives/9553#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 16 Oct 2009 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Trung Sáng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/9553</guid>
		<description><![CDATA[Đúng vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày mất nhà văn Vũ Trọng Phụng, thời gian gần đây lại rộ lên thông tin trên các trang báo về việc một người có tên Vũ Trọng Khanh tự xưng là con trai duy nhất của nhà văn còn sống tại nước ngoài. Sự kiện này đã làm cho ông Nghiêm Xuân Sơn là chồng của bà Vũ Mỵ Hằng - con gái độc nhất của nhà văn Vũ Trọng Phụng hết sức tức giận...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><i><u><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/hichngXunTc_AB13/VuTrongPhungimage.jpg"><img style="border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" border="0" alt="Vu Trong Phung image" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/hichngXunTc_AB13/VuTrongPhungimage_thumb.jpg" width="360" height="275" /></a> </u></i></p>
<p align="center">Chân Dung Vũ Trọng Phụng (Chóe)</p>
<p><i><u></u></i>&#160;</p>
<p>Đúng vào dịp kỷ niệm 70 năm ngày mất nhà văn Vũ Trọng Phụng, thời gian gần đây lại rộ lên thông tin trên các trang báo về việc một người có tên Vũ Trọng Khanh tự xưng là con trai duy nhất của nhà văn còn sống tại nước ngoài. S<strong>ự kiện này đã làm cho ông Nghiêm Xuân Sơn</strong> là chồng của bà Vũ Mỵ Hằng &#8211; con gái độc nhất của nhà văn Vũ Trọng Phụng hết sức tức giận và trưng ra nhiều chứng cứ chi tiết, để chứng tỏ thông tin trên là không đúng sự thật. Một vài nhà nghiên cứu văn học cũng vào cuộc, ngỏ ý sang tận nước Mỹ để làm rõ trắng đen.</p>
<p>Thế nhưng, bình tĩnh mà nói, câu chuyện về “người con trai” Vũ Trọng Phụng không có gì mới mẻ. Bởi, đây có thể được xem là một hội chứng xã hội &#8211; khi mà xung quanh chúng ta còn có rất nhiều ”Xuân tóc đó” vẫn đang thản nhiên chen chân, khống chế trên mọi trật tự đời sống, trong bối cảnh đầy nhiễu nhương, thì những trường hợp như vậy đã, đang và sẽ không ngừng tiếp tục lây lan&#8230;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center">* * *</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>Lần thứ nhất, trên tạp chí Văn Học số 114 (Sài Gòn cũ), dành kỷ niệm ngày giỗ thứ 31 nhà văn Vũ Trọng Phụng (13-10-1970), nhà văn Vũ Bằng có bài viết kể về “người con trai độc nhất” của nhà văn Vũ Trọng Phụng sống cầu bơ cầu bấc trên mảnh đất Sài Gòn. Câu chuyện như sau: “ Ông bạn tôi ghiền á phiện. Trong những ngày ra vào tiệm hút ông có gặp một thanh niên chừng hai mươi lăm, hai mươi sáu cũng ghiền, mặt mũi phương phi, lúc hút tạm đủ rồi thường nằm bắt chân chữ ngũ ngâm thơ chửi đời, chửi xã hội. Gạn hỏi thì thanh niên cho biết anh chửi đời, chửi xã hội như thế là do truyền thống của bố anh để lại cho, mà bố anh là ai? &#8211; Thế mà các cậu không biết sao? Các cậu quê một cục. Cả Sài Gòn này, còn ai không biết tôi là con trai Vũ Trọng Phụng&#8230;”. Nghe câu chuyện, người bạn đã vô cùng xúc động, tìm gặp Vũ Bằng để sỉ vả cá nhân ông nói riêng và chửi cả lớp văn nhân, ký giả Sài Gòn nói chung, vì đã thờ ơ với hoàn cảnh “người con trai độc nhất” của một nhà văn tài năng như vậy.</p>
<p>Thế nhưng, Vũ Bằng chẳng những là bạn chơi thân với Vũ Trọng Phụng từ thuở nhỏ, mà ông còn là người có mặt bên cạnh nhà văn khi hấp hối, “thấy quanh đi quẩn lại không có ai ngoài người vợ hiền và đứa con gái còn nhỏ tuổi&#8230;”. Do đó, khi nghe câu chuyện, Vũ Bằng biết ngay là một tên bịp để làm chuyện xấu xa. Ông hẹn gặp mặt“người con trai độc nhất” của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Khi vừa nghe ông nói toạc ra sự thật và những ý nghĩ giận dữ không kìm chế được, thì người thanh niên này lập tức biến mất.</p>
<p>Lần thứ hai, theo nhà văn Hoàng Hải Thuỷ , vào những năm đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất, có lần, Phù Hư &#8211; một người bạn văn nghệ ghé nhà ông nói:</p>
<p>- Anh có muốn gặp con trai ông Vũ Trọng Phụng không? Anh ta mới ở Hà Nội vào. Muốn gặp thì sáng mai đi với tôi.</p>
<p>Tại một tiệm cà phê trên vỉa hè, đúng giờ hẹn, người tự nhận là con trai của nhà văn Vũ Trọng Phụng đến. Người thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, mặt mũi sáng sủa, bận bộ đồ bà ba đen mới may. Nhìn qua, Hoàng Hải Thuỷ đoán biết, chắc anh không phải là dân Sài Gòn. Ông nói với anh thanh niên :</p>
<p>- Tôi tưởng ông Vũ Trọng Phụng không có con trai ?</p>
<p>Rất lễ phép, và có vẻ đầy đủ thẩm quyền, anh ta nói :</p>
<p>- Thưa bác&#8230; Bố cháu có cháu và em gái cháu. Tên cháu là Vũ Trọng Khanh.</p>
<p>Sau ly cà phê, vài điếu thuốc lá, rồi chia tay với Vũ Trọng Khanh. Hoàng Hải Thuỷ chỉ nhận xét : “ngoài việc xưng là con trai Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, người nói tên mình là Vũ Trọng Khanh không ba hoa chích chòe khoe khoang, không nói lời gì với ý định lừa gạt hay lợi dụng. Anh cũng không hỏi nhà chúng tôi, không nói chỗ anh ở, công tác anh làm, không hẹn gặp lại. Từ đấy tôi không gặp lại anh, tôi cũng không nghe ai nói đến anh”. Tuy nhiên, Hoàng Hải Thuỷ cũng chú ý một điều:”Năm 1975, 1976 tôi 40 tuổi, người tự nhận là Vũ Trọng Khanh, con trai nhà văn Vũ Trọng Phụng, trạc 30 tuổi. Nếu anh là con ông Vũ, anh phải ra đời trước năm 1939 là năm ông Vũ từ trần, ít nhất anh phải ra đời trong những năm 1934, 1935, năm 1975 anh phải gần 40 tuổi, anh phải già, phải via tông-keng bằng tôi, anh không thể trẻ đến như thế. Tôi không tin anh là con nhà văn Vũ Trọng Phụng nhưng tôi chẳng bắt bẻ anh làm gì&#8230;”.</p>
<p>Lần thứ ba, về trường hợp của ông Vũ Trọng Khanh đang được dư luận bàn tán hiện nay, cũng chính Hoàng Hải Thủy đang ở hải ngoại cho biết: “Những năm 2000, 2001, tôi nghe nói : ở San José có người nhận là con trai Nhà Văn Vũ Trọng Phụng, tên là Vũ Trọng Khanh. Tôi nghe qua rồi bỏ. Tự nhiên tôi không tin nhân vật Vũ Trọng Khanh San José 2000 là nhân vật Vũ Trọng Khanh tôi gặp năm 1975, 1976 trên vỉa hè đường Gia Long, Sài Gòn”.</p>
<p>Đến tháng 2 năm 2008, Hoàng Hải Thuỷ lại nghe nói nhiều đến ông Vũ Trọng Khanh. Song trên màn ảnh truyền hình SBTN năm 2008 không phải là anh thanh niên Bắc Kỳ đẹp trai Vũ Trọng Khanh mà ông đã gặp ở Sài Gòn đầu năm 1976. Ông nói : “trước sau, trong vòng 40 năm, tôi thấy cuộc đời này có hai ông Vũ Trọng Khanh. Ông Vũ Trọng Khanh thứ nhất tôi được gặp, được nói chuyện ở Sài Gòn sau năm 1975 không có chức vụ, không cấp bậc gì cả, ông Vũ Trọng Khanh thứ hai tôi chỉ được nhìn thấy dung nhan trên màn hình Internet trong cuộc phỏng vấn của hệ thống Truyền Thông SBTN được giới thiệu bằng cái tên có cấp bậc quân đội là Đại Tá Vũ Lăng”.</p>
<p>Ngoài việc giới thiệu lộn tròng trật tự thời gian từ nhà thơ Nguy ễn Bính cho đến nhiều nhân vật khác, khi Vũ Trọng Khanh tự giới thiệu về mình, chỉ riêng về cái hàm “đại tá“, theo Hoàng Hải Thuỷ :”ông đi học khóa Sĩ Quan Đà Lạt, năm 1961 ông ra Bắc, bị tù trên đất Bắc 22 năm. Sau 22 năm tù ông trở về Sài Gòn năm 1982, ai phong cấp Tá cho ông? Thôi thì ông tự phong cấp Tá cho ông cũng được đi, kỳ cục là chuyện mấy ông TV SBTN phây phây giới thiệu ông là Đại Tá”.</p>
<p>Vậy thì có nên bàn nữa chăng về cái gia thế “người con trai độc nhất” mới toanh của Vũ Trọng Phụng? Hay chỉ nên nói rằng: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”</p>
<p>&#160;</p>
<p><b>Số đỏ</b> là một <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%83u_thuy%E1%BA%BFt">tiểu thuyết</a> văn học của <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_v%C4%83n">nhà văn</a> <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C5%A9_Tr%E1%BB%8Dng_Ph%E1%BB%A5ng">Vũ Trọng Phụng</a>, đăng ở <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%C3%A0_N%E1%BB%99i_b%C3%A1o&amp;action=edit&amp;redlink=1">Hà Nội báo</a> từ số 40 ngày <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/7_th%C3%A1ng_10">7 tháng 10</a> <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1936">1936</a> và được in thành <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A1ch">sách</a> lần đầu vào năm <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1938">1938</a>. Nhiều <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nh%C3%A2n_v%E1%BA%ADt&amp;action=edit&amp;redlink=1">nhân vật</a> và câu nói trong <a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C3%A1c_ph%E1%BA%A9m&amp;action=edit&amp;redlink=1">tác phẩm</a> đã đi vào cuộc sống đời thường và tác phẩm đã được dựng thành <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BB%8Bch">kịch</a>, <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Phim">phim</a>. Nhân vật chính của <i>Số đỏ</i> là Xuân &#8211; biệt danh là Xuân Tóc đỏ, từ chỗ là một kẻ bị coi là <i><a href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=H%E1%BA%A1_l%C6%B0u&amp;action=edit&amp;redlink=1">hạ lưu</a></i>, bỗng nhảy lên tầng lớp <i>danh giá</i> của xã hội nhờ trào lưu <i>Âu hóa</i> của giới tiểu tư sản Hà Nội khi đó.</p>
<p align="left"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/hichngXunTc_AB13/dumbluckcover.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 5px; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" border="0" alt="dumb luck cover" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/hichngXunTc_AB13/dumbluckcover_thumb.jpg" width="114" height="170" /></a> Số đỏ với ấn bản tiếng Anh mang tên Dumb Luck do giáo sư Nguyễn Nguyệt Cầm và TS Zinoman dịch đã xuất hiện từ năm 2002, nằm trong danh sách 50 quyển sách hay nhất năm 2003 tại Mỹ.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/9553/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhớ người mấy độ phong sương</title>
		<link>http://damau.org/archives/8122</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8122#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 15 Aug 2009 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Trung Sáng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8122</guid>
		<description><![CDATA[Nhiều người cho rằng, khi còn sống, nhà văn Sơn Nam là người nghèo, nhưng khi mất đi, ông trở thành nhà giàu với phần mộ lên đến hơn cả tỉ đồng. Cứ y như trúng số!]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="left"><em>Nhân ngày giỗ đầu nhà văn Sơn Nam (13/8/2008 -13/8/2009)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p> <i>
<p align="right">”<em>Phong sương mấy độ qua đường phố        <br /></em><em>Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”        <br /></em><em>Sơn Nam</em></p>
<p> </i>
<p>Giới thiệu về Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc có lần đã viết: “Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc tuýt. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp không biết bao nhiêu, đẹp cái vẻ đẹp của lọ sứ Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây (có khác lọ hoa Ý Đại Lợi ngày nay), và ít được người đời thưởng thức hơn là họ đã thưởng thức một tiểu thuyết gia chuyên viết về chuyện tình chẳng hạn. Nhưng phải nhìn nhận rằng, cái đẹp Sơn Nam bất hủ&#8230;”</p>
<p><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="sonnam-phamvanchau" border="0" alt="sonnam-phamvanchau" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Nhngimyphongsng_67B3/sonnamphamvanchau.jpg" width="361" height="287" /> </p>
<p align="center"><em>Chân dung nhà văn Sơn Nam (tranh Phạm văn Châu)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thực vậy, bên cạnh những trang viết giản dị, nhân hậu, thấm đậm dấu ấn vùng văn hóa Nam Bộ qua các tác phẩm: <em>Hương Rừng Cà Mau, Vọc Nước Giỡn Trăng, Bà Chúa Hòn, Ngôi Nhà Mặt Tiền, Một Mảnh Tình Riêng, Dạo Chơi,</em>&#8230; hoặc những công trình nghiên cứu, tìm hiểu văn hóa dân gian như: <em>Văn Minh Miệt Vườn, Gia Ðịnh Xưa, Bến Nghé Xưa, Người Sài Gòn, Gia Định Xưa, Phong Trào Duy Tân Bắc-Trung-Nam,</em>&#8230; nhà văn Sơn Nam còn có không ít những truyện ngắn và tản văn ẩn chứa nỗi niềm cô tịch, lạc lõng như ông đã thố lộ trong bài thơ duy nhất của mình (bài thơ không tên, được viết làm lời tựa cho tập truyện <em>Hương Rừng Cà Mau</em> xuất bản ở Sài Gòn năm 1961): </p>
<p>&#8230;<em>      <br />Năm tháng đã trôi qua       <br /></em>&#160;<em>Ray rứt mãi đời ta      <br /></em><em>Nắng mưa miền cố thổ      <br /></em><em>Phong sương mấy độ qua đường phố      <br /></em><em>Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê</em></p>
<p><em></em></p>
<p><b>Giấc mơ th</b><b>ầm kín</b></p>
<p>Là một người dành nhiều năm tháng rong chơi phong sương trên đường phố, đến mức được định danh là “ông già đi bộ”, do đó, khi đọc những trang văn của Sơn Nam, chúng ta sẽ không ngạc nhiên, khi hầu như luôn gặp gỡ ông phác hoạ những con phố nghèo nàn; những phận người bươn chải trong cuộc mưu sinh trầy trụa; những đứa bé trần như nhộng, nô giỡn giữa vũng bùn lầy&#8230; Phải chăng, chính từ cái thực tế lầm than như vậy, mà rải rác những nhân vật của ông thường nhen nhúm một giấc mơ thầm kín, nuôi khát vọng đổi đời. Đó là: giấc mơ trúng số!. </p>
<p>Điển hình nhất, chỉ với một tập truyện <em>Người Bạn Triệu Phú</em> (Nxb Khai Trí, 1971), gồm 10 truyện ngắn, thì đã có hơn 5 lần ông nhắc đến chuyện trúng số.</p>
<p>Trong truyện “Nhớ Năm thìn”, khi nhắc đến cảnh lụt lội tang tóc ở miền Trung, nhà văn Sơn Nam mong muốn làm một điều gì đó để chia sẻ cùng người hoạn nạn. Ông viết: “Người đang uống rượu, người đang hát, người đang đắp mền, người đang thất nghiệp đều muốn giúp đồng bào. Chỉ cần tổ chức đừng câu nệ hình thức. Kẻ hoang phí đang muốn mua vé số”.</p>
<p>Ổ truyện “Một kiểu làm ăn”, gặp lại người quen cũ trở nên thành đạt, giàu có, ông có đoạn:</p>
<p><em>- Làm nghề gì vậy? Trúng số độc đắc?      <br />Anh ta im lặng hồi lâu:       <br />- Tôi đâu có mua giấy số.</em></p>
<p>Trong truyện “Người bạn triệu phú”, nhà văn Sơn Nam kể lại: khi đến thăm một người bạn ở một xóm nhỏ lao động, tình cờ một bà hàng xóm báo tin ông hay: “Ổng trúng số độc đắc!”, thế là Sơn Nam nửa ngờ nửa tin, vừa muốn ghé vào thăm, vừa thấy phân vân. Cuối cùng, ông mạnh dạn mở cửa vào gặp bạn, thấy chẳng hề có chút biểu hiện nào vui mừng đặc biệt. Cảnh sinh hoạt gia đình của bạn cũng thể hiện vẻ túng quẩn, cơ cực như mọi ngày. Nói bóng gió chuyện “trúng số”, người bạn vẫn thản nhiên&#8230;</p>
<p>Về sau, khi đọc tin trên báo (lúc ấy, người trúng độc đắc phải in hình và tên trên báo) biết chính xác là bạn đã trở thành triệu phú, ông mới nghiệm ra một quy luật: “Hễ trúng số 1 ngàn, mình hò hét, khoe khoang với anh em chòm xóm, niềm vui của mình được trọn vẹn, cởi mở. Còn nếu trúng một đôi triệu, mình trở nên con người khác&#8230; vừa lo lắng, vừa sợ sệt cho tương lai”.</p>
<p>Cảm động nhất là ở câu chuyện “Con gà què”.</p>
<p>Một hôm, Sơn Nam gặp một anh đồng hương làm nghề đạp xích lô, cứ nằng nặc đòi chở ông đi. Anh ta cứ chở đi lòng vòng mãi, mà không nói rõ mục đích làm gì. Hồi lâu, đến lúc dừng lại, anh ta mới ấp úng lật từ nệm xe, khoe với Sơn Nam 3 tấm vé số cặp ba, cùng tờ giấy dò, để biết rằng đó là 3 tờ vé trật. Thế nhưng, anh phu xe nói: “Người ta số 1, còn tôi số ‘dia rô’. Nói thiệt cho thầy thương, hồi tối rồi, tôi thức suốt đêm, không dám báo tin cho vợ tôi biết, sợ vợ tôi buồn rồi tức tối, gia đình tôi đã nghèo lại gặp thêm chuyện buồn thảm. Tôi uống rượu liên miên. Tôi mua cái bao thơ, để dành 3 tấm giấy số đó làm kỷ niệm cuộc đời. Nhích một chút là đời tôi đâu phải như vầy. Từ số ‘dia rô’ nhích qua số 1. Trời ơi! Có một chút xíu mà sao coi bộ khó quá”.</p>
<p>Sau 1975, ông vẫn tiếp tục liền mạch qua nhiều tác phẩm với phong cách độc đáo rất “Sơn Nam”. Và chừng như giấc mơ trúng số của ông vẫn không ngừng nghỉ. </p>
<p>Chẳng hạn, ở tập sách <em>Tuổi Già</em> (Nxb Văn học, 1997) &#8211; một trong những tác phẩm cuối cùng của Sơn Nam, ông có những đoạn: “Mua giấy số lai rai, nhưng mươi năm qua chưa thấy ai trúng được bạc triệu! Người giàu nhất ở ven xóm Hố này là&#8230; ông chủ trại hòm, ta gọi đó là mặt hàng mua không cần trả giá” (tr. 113), hoặc: “Gần Bích, khi thằng bé bán giấy số đến, người nọ mượn quyển xổ số tỉnh Tây Ninh từ hai ngày trước. Xem sơ qua, xé nát hơn hai chục tấm, ném xuống đất, mua cho thằng bé hai tấm, gọi là xã giao”(tr.123). Một đoạn khá thú vị, khi nhắc đến sự việc thi sĩ Bùi Giáng xuất hiện ở một xóm nhỏ: “Có người nảy ra sáng kiến ‘Giáng’cũng đồng âm với con gián, con rệp. Con gián tương ứng với con nhền nhện, bèn đánh đề lấy số 33, nhưng lại trật lất! Bà con bảo rằng mấy ông thi sĩ làm thơ quá cao siêu, nhưng chẳng ích lợi cụ thể gì cho dân nghèo cả” (tr.113).</p>
<p><strong>Tấm giấy số đời người</strong></p>
<p><strong><u></u></strong></p>
<p><em>Nhiều người cho rằng, khi còn sống, nhà văn Sơn Nam là người nghèo, nhưng khi mất đi, ông trở thành nhà giàu với phần mộ lên đến hơn cả tỉ đồng.</em> Cứ y như trúng số!</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Nhngimyphongsng_67B3/sonnambuttich.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="sonnam-buttich" border="0" alt="sonnam-buttich" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Nhngimyphongsng_67B3/sonnambuttich_thumb.jpg" width="244" height="173" /></a> Thực vậy, tọa lạc ở vị trí đắc địa nhất của khu Nghĩa trang công viên Bình Dương, ngôi mộ của nhà văn Sơn Nam rất bình dị mà độc đáo như tính cách của ông. Toàn bộ đá xây mộ được mua từ Bình Định. Trên phần bia, bên cạnh chữ “Sơn Nam 1926 – 2008”, những người thực hiện đã khắc khuôn mặt của Sơn Nam bằng đá. Theo ông Nguyễn Văn Thiền &#8211; Chủ tịch Hội đồng quản trị Nghĩa trang công viên tỉnh Bình Dương, chân dung của nhà văn Sơn Nam được lấy từ một tờ báo có in hình nhà văn đang đi thực tế, mang túi balô nhỏ có ổ bánh mì. Bên ngoài phần mộ, có hai tảng đá to với hai câu thơ: bên trái là “Phong sương mấy độ qua đường phố”, bên phải là “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”.</p>
<p>&#160;</p>
<p>Sinh thời, nhà văn Sơn Nam đã đồng ý ký tặng xác mình cho Nghĩa trang công viên tỉnh Bình Dương với lý do: “Người ta quý mình thì mình nhận lời thôi”. Để có được “hợp đồng” lạ lùng này, ông Nguyễn Văn Thiền đã gặp nhà văn Sơn Nam và gia đình ông trước ngày ông mất hơn một năm. Ông Nguyễn Văn Thiền không phải là người hâm mộ văn chương của Sơn Nam, chưa từng đọc qua <i>Hương Rừng Cà Mau</i>. Ông chỉ đọc rất ít tác phẩm của Sơn Nam nhưng một số truyện ngắn, một số bài báo của nhà văn đã để lại trong ông một ấn tượng sâu sắc về một con người không cầu vinh lợi, sống giản dị toát ra trong từng câu chữ mộc mạc. Ông Thiền nói: “Khi sống, ông ấy vì mọi người thì khi mất đi, mọi người phải vì ông ấy. Những người như nhà văn Sơn Nam xứng đáng được yên nghỉ ở nơi đàng hoàng tử tế. Đó không chỉ là tâm huyết của tôi mà còn của tập thể mọi người ở Nghĩa trang công viên Bình Dương”. </p>
<p>Phải chăng, đó là tấm giấy số đời người, sinh thời nhà văn Sơn Nam thường đợi chờ, chừ đây mới có được?</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>Phụ Lục: Sơn nam ở xứ Quảng</strong></p>
<p><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px auto; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="sonam-nguyenvanxuan" border="0" alt="sonam-nguyenvanxuan" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Nhngimyphongsng_67B3/sonamnguyenvanxuan.jpg" width="294" height="195" /> </p>
<p align="center"><em>Sơn Nam và nhà văn Nguyễn Văn Xuân ở Đà Nẵng</em></p>
<p>Một trong những lần hiếm hoi nhà văn Sơn Nam ghé đến miền Trung và quê hương đất Quảng (cách đây đã hơn 10 năm ) chủ yếu là hành hương, tìm thăm cội nguồn, nền tảng sự nghiệp các chúa Nguyễn và những công thần khai khẩn đất phương Nam.Dù vậy, ông đã dành khá nhiều thời gian riêng tư với người bạn vong niên là nhà “Quảng Nam học” Nguyễn văn Xuân. Tôi không biết, hồi trước 1975 hai nhà văn đã từng gặp gỡ nhau nhiểu lần chưa, nhưng quả nhiên, lúc hai tác giả<em> Khi Những Lưu Dân Trở Lại</em> và <em>Hương Rừng Cà Mau</em> ngồi bên nhau, ngẫu nhiên chúng ta như được nhìn thấy những trang sách lớn đồ sộ liền mạch, đầy sống động về công cuộc mở rộng, khai khẩn đất đai của người dân nước Việt.</p>
<p>May mắn được tiếp kiến ông, tôi tò mò hỏi: thỉnh thoảng có những bài báo phác họa nên một chân dung Sơn Nam có vẻ nhếch nhác, khổ sở…, điều đó có đúng lắm không? Lúc ấy, nhà văn Sơn Nam cười khà khà bảo: “Hỏi ông Xuân thử!” rồi nói tiếp: “Họ thường viết về tôi như vậy, có lẽ cũng từ lòng tốt mà thôi. Thực ra, họ không hiểu hết về tôi&#8230;”.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Nhngimyphongsng_67B3/sonamtrantrungsang.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px auto; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="sonam-trantrungsang" border="0" alt="sonam-trantrungsang" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Nhngimyphongsng_67B3/sonamtrantrungsang_thumb.jpg" width="285" height="243" /></a></p>
<p align="center"><em>Sơn Nam và tác giả Trần Trung Sáng</em></p>
<p>Hôm ấy, ngồi ở một quán nhỏ ở đường Lê Lai ( TP Đà Nẵng), bên cạnh nhà văn Sơn Nam, nhà văn Nguyễn văn Xuân cũng cười khà khà khà như ông. Hai ông không bàn thêm về những “ khổ đau” và “hạnh phúc” cuộc đời riêng nữa, mà tán gẫu về những chuyện nguồn gốc phong tục, tập quán, văn hoá, ẩm thực… phát triển từ thời khai mở Đàng Trong đến ngày nay. Chúng tôi mời nhà văn Sơn Nam thưởng thức món ăn bánh nậm của một chị bán hàng rong. Ông thích thú khen ngon, bảo nó rất đặc trưng Quảng Nam và hẹn lần sau trở lại sẽ ăn nữa. Nhưng đâu ai biết được, đó là lần cuối cùng ông ghé đến miền đất này.</p>
<p>Giờ đây, nhà văn Sơn Nam đã về cõi vĩnh hằng. Nhà văn Nguyễn văn Xuân cũng đã ra đi trước đó không xa. </p>
<p><u></u></p>
<p><u></u></p>
<p><em>TTS</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8122/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

