<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Trần Thiện Huy</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/tranthienhuy/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Người Lặng Lẽ Nhất Đời</title>
		<link>http://damau.org/archives/19724</link>
		<comments>http://damau.org/archives/19724#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 29 Apr 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Angie Châu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Song ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/19724</guid>
		<description><![CDATA[Việt cảm thấy ngộp thở. Nỗi lo sợ có mùi vị của một nắm bạc cắc tọng vào mồm anh. Anh biết vợ anh sẽ không từ bỏ vật gia truyền một cách dễ dàng. Chị đẩy cái áo khoác vào ngực tên chó bun. Chị lấy tay chỉ vào những thỏi vàng và nữ trang chị đã khâu vào giữa hai lần lớp áo.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/QATC_BookCover1.jpg"><img style="display: block; float: none; margin-left: auto; margin-right: auto; border-width: 0px;" title="QATC_BookCover1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/QATC_BookCover1_thumb.jpg" border="0" alt="QATC_BookCover1" width="179" height="256" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<blockquote><p><em><span style="font-size: x-small;">Bản dịch &#8220;Người Lặng Lẽ Nhất Đời&#8221; của Trần Thiện Huy, từ nguyên bản Anh ngữ &#8220;Quiet As They Come,&#8221; trong tuyển tập truyện ngắn Quiet As They Come của Angie Châu. Copyright (c) 2010 Angie Châu.  Đăng trên Da Màu với sự chấp thuận của Ig Publishing. Mọi trường hợp đăng trích sau này cần được sự chấp thuận của </span></em><em><span style="font-size: x-small;">Ig Publishing, tác giả Angie Châu, Tạp chí Da Màu và dịch giả Trần Thiện Huy.<br />
</span></em></p></blockquote>
<p>&nbsp;</p>
<p>Việt Trần nhấc cùi chỏ, dang rộng đôi tay và đang thư thả, chậm rãi chuyển sang thủ thức Bạch Hạc Lượng Xí thì chợt nhận ra dòng hô hấp còn bị kìm lại. Anh đã cố tập trung hết sức để giữ cho động tác tuôn chảy đều đặn, nhưng vẫn thiếu bình tĩnh và phải tự nhắc mới nhớ phải thở ra. Anh thực hiện tư thế Kim Kê Độc Lập, loạng choạng mất thăng bằng phải bám vào ghế sô pha. Một đợt choáng váng lùa qua khắp người anh, kèm theo là tiếng ù ù trong lỗ tai. Tiếng này gợi lại những đợt gầm gừ của sóng biển. Nó nhắc anh nhớ lại sự xuất hiện có vẻ như thường xuyên của người đã chết trong các giấc mơ của anh như thế nào. Là con người hai mươi năm trước từng giữ chức vụ khoa trưởng đại học, bây giờ anh chấp nhận hài lòng với một chân kế toán, có một bàn giấy để ngồi và một đồng lương khả dĩ.</p>
<p>Trên đời này không ai tin nổi Việt đã giết người. Bạn bè bên Việt Nam thường tả anh như một người tử tế, hiền hòa, học thức, cuồng nhiệt vì cờ tướng, một gia trưởng mẫu mực. Đồng nghiệp ở bưu điện có lẽ coi anh thuộc loại người đơn giản, làm việc cần cù, biết lắng nghe. Chắc hẳn không có ai nghĩ thể chất hay sức mạnh của Việt có chỗ nào đáng nhắc đến. Thế mà đã có một thời khắc trong lịch sử, ở giữa các lục địa, anh đã tay không lấy đi tính mạng của một người.</p>
<p>Khoa tay vạch ngang khoảng không, Việt nạp khí vào đan điền, dẫn năng lượng đi theo chiều kim đồng hồ, cứ mỗi lần luân lưu lại mở rộng vòng xoay thêm ra. Đầu ngón tay anh đã bắt đầu thấy rậm rật, và anh vừa bắt vào được một nhịp độ đều đặn thì lại nghe tiếng giũ khăn trải giường, tiếng rung lách cách của màn treo cửa, và dép lẹp kẹp của vợ anh trên tấm thảm nhựa lót nền nhà.</p>
<p>Sự khuấy phá làm anh thoáng khó chịu, nhưng anh bảo lòng, thôi thì hãy nhớ mình may mắn tới mức nào. Anh tự nhắc mình chuyện mới một năm trước, làm gì có cách tập Thái Cực quyền được khi cả anh, vợ và hai cô con gái bị nhồi chung vào giữa bốn bức vách của một căn phòng.</p>
<p>“Anh nên tập phỏng vấn mới đúng, chứ không phải Thái Cực quyền” Hương nói.</p>
<p>Việt đáp, “Chuyện đó tập không được đâu”.</p>
<p>“Em nhuộm tóc cho anh nhé,” chị nói.</p>
<p>“Em mới nhuộm hồi tháng trước mà.”</p>
<p>Chị luồn những ngón tay qua tóc anh, làm anh bỏ ngang tư thế tập. “Sao em thức dậy sớm quá vậy?” anh hỏi. Chị không nghe anh nói. Hương đã đi vào trong bếp và đang xay cà phê.</p>
<p>Vợ anh là con người nhạy cảm. Chị hay lo lắng và bị chứng mất ngủ. Những cơn mất ngủ đội lên hai quầng bán nguyệt ảm đạm dưới đôi mắt lóng lánh của chị. Việt muốn xin chị để cho anh tập thêm ba mươi phút, nhưng lại thôi. Anh không muốn chị ủ rũ rút vào phòng ngủ, buông màn kín mít. Kể từ khi Cơ Quan Bảo Vệ Trẻ Em đến viếng vào mùa đông trước, Hương càng chú ý nhiều hơn về các sinh hoạt hằng ngày của mọi người trong gia đình. Chị đổi ca làm việc ở công ty điện tử từ ban đêm sang ban ngày. Theo lời chị, ở Mỹ này “Ma quỷ không ám mình vào ban đêm mà ám ban ngày, lúc mình đơn độc và yếu đuối.”</p>
<p>Hương xem cuộc viếng thăm của Cơ Quan Bảo Vệ Trẻ Em là một cuộc tấn công, một nỗi nhục mà chị mang trên người như một vết thương còn mới. Kể từ sau chuyện ấy, không có gì báo trước, chị có thể rút vào khép chặt con người mình lại chỉ vì một chuyện động chạm nhỏ vô tình. Đôi khi Hương cửa đóng then gài ngay với cả anh và lũ con gái đến mấy ngày liên tiếp. Việt quay lại thế võ đang dở. Anh quyết chí bỏ ngoài tai hết bao nhiêu tiếng ồn, nhưng vẫn cứ nghe bên này nhạc rock dộng ầm ầm, còn bên kia thì máy sấy tóc. Hai đứa nhỏ cũng đã dậy rồi. Hương cầm thiết bị điều khiển tivi gõ nhẹ vào anh. “Bố, làm ơn nhích ra một tí, em coi không được.”</p>
<p>Trong phòng chờ của công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn Linkenheimer, Việt gặp bốn người xin việc khác. Họ ăn mặc chững chạc, đẹp đẽ, gọn gàng, và có lẽ chỉ chừng phân nửa tuổi anh. Họ gợi anh nhớ đến lũ học sinh của anh vào mùa thu, mùa tựu trường, tươi rói và hăng hái, giữa lúc học đường là lời hứa hẹn trí thức và dậy mùi sách mới in. Việt vuốt tóc, hy vọng che đi những chỗ ngả màu. Anh sắp xếp lại mớ giấy tờ bên trong cái bìa cứng màu vàng nhạt. Người giúp anh làm hồ sơ lý lịch đã nói, “Anh không cần mang theo bằng cấp gì của Việt Nam đâu.” Tuy vậy, Việt cứ lôi chúng ra khỏi những khung kính dùng để trưng bày trong phòng khách. Anh vẫn tiếp tục mang các tấm bằng đã ngả màu vàng này đi phỏng vấn, những gì nhắc nhớ anh là ai và đã từng thành đạt như thế nào.</p>
<p>Người phụ nữ trao cho anh những bài thi viết nói, “Ông Trần, ông có bằng Tiến sĩ Triết, còn cả bằng Luật nữa. Ông không nghĩ là trình độ của ông cao quá mức so với công việc này sao?” Vẻ mặt của cô chân thật và cách cô hỏi không kèm theo sự ngờ vực mà đôi khi anh phải nghe thấy.</p>
<p>“Được làm nhân viên thuế vụ ở đây đối với tôi là tốt lắm rồi, thưa cô.”</p>
<p>Cô cười và nói, “Chúc ông may mắn,” rồi khép cửa lại quay ra. Cô để anh ngồi đấy xoay trở với các thứ luật lệ thuế vụ, thuế hàng bán và thuế tiêu thụ, thuế bất động sản, những giải pháp cho tranh chấp thuế, rồi cả thuế tín dụng. Từ lâu rồi anh đã hiểu, là số liệu, không khác gì chữ nghĩa, có thể được diễn dịch và uốn nắn, chỉ cần tùy theo góc nhìn. Cây bút chì loại số hai của anh lướt trên những bài thi. Việt làm xong rất sớm. Anh đẩy ghế trở lại dưới bàn và đứng dậy để ra về. Nhưng nghĩ đến việc Hương tha thiết mong mỏi anh có được công việc này, anh ngồi xuống trở lại, nhớ lại câu nói của chị khi hai người gặp nhau lần đầu. “Nhân giả kỳ ngôn dã nhẫn. Người có nhân thì điềm tĩnh và cẩn trọng về lời lẽ.”</p>
<p>Ngày ấy anh là giáo sư năm đầu tiên và chị là nữ sinh đại học. Họ cùng đứng sắp hàng ở một quán ăn gần trường và Việt đi cùng với người bạn thân, giáo sư kinh tế. Người bạn thân nói rất nhiều, ý cố gây ấn tượng với nàng sinh viên trong khi Việt giữ im lặng, không biết mình nên nói gì cho phải. Anh bị choáng ngợp trước vẻ đẹp của Hương, ánh mắt ám ảnh, làn da trong vắt, sắc xanh của những mạch máu trên cổ tay nàng. Bỗng đôi mắt ấy hướng sang anh, nàng mở lời, trích dẫn lời dạy trên của Khổng tử. Nhiều năm sau, nàng thú thật là nàng đã biết trước anh là giáo sư triết, “người mà nghe đồn là đam mê cổ học Trung Hoa.”</p>
<p>Vậy mà giờ đây, ngồi trên tầng thứ 29 của ngôi nhà chọc trời ở trung tâm thành phố nhìn xuống những dấu chấm li ti phía dưới, Việt lại đang nghiêm chỉnh tuân theo lời khuyên mà cô gái trẻ khôn khéo đã dùng để làm duyên. Anh xem lại những câu đáp án của mình. Thời gian còn thừa, anh dùng để chép xuống những dụ ngôn của Khổng Tử anh ưa thích trên mặt sau của tấm hóa đơn thực phẩm cũ.</p>
<p>Ở bưu điện, đám bạn đồng nghiệp của anh, “quân ta,” như cách họ thích tự xưng, đang đứng trước mấy cái thùng phân loại thư theo số khu vực.</p>
<p>“Đi đâu về đấy, ông lùn?” David hỏi.</p>
<p>Anh gật đầu chào. Anh đã có lần bảo David là ở xứ anh, những người trẻ tuổi phải chào những người lớn tuổi hơn một cách kính trọng nhưng thằng nhóc hoặc là cố tình không nghe hoặc đã quên bẵng đi. Việt nghĩ kiểu ăn nói bừa bãi, nói xong rồi cũng không nhận thấy thật là đáng xấu hổ.</p>
<p>Melvin nói “Khỏe không, bác lùn?” và tiếp tục câu chuyện của anh ta. “Đúng vậy, chuyện đang kể là, hôm tối thứ Bảy tao gặp một em ngon lành.” Việt bước vào và cầm lấy cái thùng chứa thư duy nhất còn lại, ở giữa thằng nhóc sinh viên làm việc bán thời gian và ông thần chơi bời.</p>
<p>“Ngon lành đến đâu?” David hỏi.</p>
<p>Melvin ngừng giây lâu và liếm môi. “Ngon lành vô cùng tận, con nhỏ như là viên kẹo đã bóc giấy bao. Cái áo mở cúc ra là cả đường cả mật trào ra hết.”</p>
<p>Việt thấy tội cho hai người phụ nữ trong toán. Họ là thiểu số và phải chịu nghe chuyện một đám đàn ông phóng đãng nói với nhau. Một người phụ nữ lườm và tặc lưỡi vào miếng kẹo cao su đánh cắc. “Mày tởm thật đấy, Melvin.” Nhưng người phụ nữ kia bước tới trước. Cô ta ửng hồng một thứ mặc cảm tội lỗi trên mặt, rồi lau hơi nước đọng trên cặp mắt kính.</p>
<p>Có lẽ mình cũng nhạy cảm quá chăng, Việt nghĩ.</p>
<p>Việt không nói nhiều vì vốn tiếng Anh của anh làm anh ngượng. Những người làm việc chung với anh cũng chẳng có nhiều chuyện cần đến anh. Họ kể chuyện với nhau và thầm thì những chuyện kín mà anh giả vờ như không nghe không biết. Có lần anh nghe một người làm chung tả rằng anh thuộc hạng “lặng lẽ nhất đời.” Lúc ấy họ đang nói chung về những đợt người Á châu họ thấy đổ đến San Francisco mấy năm gần đây. Họ nhận xét rằng những người này thật thụ động, lặng lẽ, thế mà Việt còn lặng lẽ nhất trong đám, đúng như vô hình không khác.</p>
<p>Việt nhận ra được ai cũng có niềm hy vọng hay nỗi sợ hãi riêng. Nhưng ngày lại ngày, vẫn chỉ là câu chuyện phiếm quen thuộc được tiếp tục. Một bà thì luôn than thở về người tình bội bạc của bà. Còn bà kia thì thích buôn chuyện nhảm nhí về những người nổi tiếng đọc được trên báo. David thì nói về chiếc xe Chevy Malibu hắn đang độ và những chỗ hắn sẽ đến. Melvin nói về gái, những thân hình vô danh sắp thành hàng dài bất tận với những cái đầu có thể đem đổi lẫn nhau.</p>
<p>Anh để mặc chuyện của họ trôi theo giờ làm việc. Nó cũng giống như những chiếc phi cơ vận tải của Pháp khi anh còn trẻ, tiếng ồn vang như sấm đến nỗi nghe thành một điệu đều đều không phân biệt nổi. Công việc ở bưu điện rất tẻ nhạt và Việt giữ đầu óc hoạt động bằng cách làm thơ thầm trong óc tặng lũ con gái của anh. Trong giờ giải lao, anh chép từng dòng lên giấy nháp và trong đêm vắng lặng, khi tất cả phụ nữ trong nhà đã ngủ say, anh sao các bài thơ lại trên vải cuộn theo thư pháp. Anh để dành chúng làm quà cưới cho các con.</p>
<p>Giờ ăn trưa hôm ấy, con bé đầu lòng của anh nghênh ngang đi vào bưu điện. Anh thật không vui khi thấy con bé đến đây, giữa ban ngày, trong giờ học. Nhưng phải nói là nhìn nó thật bắt mắt, nụ cười tươi, tay chân uyển chuyển nhịp nhàng. Mái tóc dài đến thắt lưng của Elle được thắt thành nhiều bím nhỏ và đều. Những cái bím thắt thật sát trên da đầu làm cho cô bé có dáng vẻ giống như loài mèo.</p>
<p>“Không có chuyện gì chứ? Tại sao con không đi học?” Việt hỏi.</p>
<p>“Vâng ạ, con cũng chào bố<sup>1</sup>.” Con bé đang nhai kẹo cao su.</p>
<p>“Trả lời bố đã.” Anh ngừng một chút nhìn cái bím tóc, nhìn màu đen trên đó; quyết định là cô bé vẫn còn rất xinh, anh dằn lại không nhận xét gì.</p>
<p>“Mẹ bảo con mang thức ăn trưa cho bố hôm nay.” Cô bé đưa cho anh một bọc giấy cỡ bằng bao hàng chợ màu nâu. Con bé mới vừa mười ba tuổi mà đã cao bằng anh. Nó nghiêng người hỏi nhỏ, “Cuộc phỏng vấn của bố thế nào?”</p>
<p>“Tốt,” anh nói, “tốt.” Anh nhìn vào trong bao và thấy một chai sữa đậu nành tự làm ở nhà. Thêm một hộp cơm trắng và hình như có miếng thịt bò (chắc đúng là thịt bò vì Hương luôn nấu những món ăn anh thích vào những dịp đặc biệt). Một cái nĩa và một con dao được cuốn bằng khăn giấy và cột bằng dây thun.</p>
<p>Melvin đến gần rồi nói, “Việt, ông bạn, sao trước giờ bác chưa từng giới thiệu người nhà với tôi?”</p>
<p>“Đây là con gái tôi, Elle,” Việt nói. Anh định nói với con gái đây là bạn đồng nghiệp của ba, Melvin. Nhưng khi Việt nhìn lên, Melvin đã chìa tay ra chào.</p>
<p>Melvin ngoác mồm ra cười, hàm răng trắng nhởn. “Thật là hân hạnh được gặp một cô gái trẻ đẹp. Anh là Melvin. Em gọi anh là Mel thôi, nhá?” Hắn nheo mắt.</p>
<p>Cô bé bắt tay hắn và nói, “Rất vui được gặp anh, Mel.” Rồi cô bước tránh ra, quay sang Việt và nói, “Bạn con đang chờ ngoài kia.”</p>
<p>Việt đưa cô ra đến cửa và nhìn cô đi nhung nhăng dọc hành lang, vung vẩy đôi tay khuấy động không gian lặng ngắt. Việt phải phục các con mình, chúng có trí óc nhanh nhẹn và khả năng thích ứng đời sống mới. Anh thán phục những cái lưỡi nữ giới dễ uốn ra những câu nói nhảy múa quay cuồng trong cơn bão bổng trầm của tiếng Anh. Anh thán phục nét duyên dáng và sự can đảm của các con, lũ trẻ bị bắt buộc phải trưởng thành trước tuổi. Vợ anh luôn giáo huấn các con, “Phải biết ơn là mình đã đến được xứ này. Ở Việt Nam, người ta còn không có cái để mà ăn.”</p>
<p>Những lúc như thế, Việt thường nghĩ rằng các con anh chẳng làm gì để phải chịu đựng cơn điêu tàn do những người lớn, hay cuộc chiến tranh tàn tệ của họ Khi người ta luôn phải biết ơn vì những nỗi bất hạnh họ chưa phải trải qua, có vẻ như tâm hồn con người cũng bị khinh khi coi rẻ. Dĩ nhiên anh không bao giờ nói ra những ý nghĩ này với Hương. Chị sẵn đã cho rằng anh quá dễ dãi với các con. Thay vào đó, anh để Hương ngồi một mình trên ghế sô pha, với thiết bị điều khiển tivi, chăm chú xem đài tin tức phát hình suốt ngày, đợi chờ cú giáng tàn nhẫn kế tiếp rơi xuống.</p>
<p>Không ai để ý thấy Việt trở lại với những bước lặng lẽ và vững. Melvin đã lại bắt đầu một chuyện khác. Hắn nói, “Ô, cục k., các em chịu cái máy Mel này lắm.” Việt tiếp tục làm những việc cuối giờ. Anh không mấy chú ý trong khi bọn đàn ông vây quanh Melvin hồ hởi nghe hắn nói. “Tụi con gái bây giờ, nhìn thì tưởng nữ sinh nhà lành ngoan ngoãn, nhưng khi lên giường thì đứa nào cũng tục.” Đám đàn ông đồng tình, cái kiểu bôi son bôi phấn vào mặt là thế quái nào, nhìn mãi chẳng biết chúng nó bao nhiêu tuổi. Chỉ có thằng nhóc David lừ mắt và lầm bầm không thành tiếng.</p>
<p>Việt mặc áo khoác và với lấy lon đựng bánh mì khô anh để dành cho lũ chim mà anh sẽ rắc khi ngồi ghế công viên bên kia đường. Vừa dợm bước đi thì anh nghe thấy, “Cái con bé Elle đó, nó mà lên giường với tao thì còn lâu tao mới chê.”</p>
<p>Việt không thể nào tin được anh nghe tên con gái anh thốt ra từ cửa miệng của Melvin. “Ai mà tưởng nổi? Của quý như vậy lại lò ra từ …” Melvin tiếp tục.</p>
<p>Gian phòng trương phồng ra. Tầm nhìn của Việt cùng một lúc bị đè bẹp và nhòe đi. Tai anh nghe như có âm thanh như những viên bi trong ổ, lăn lốc và nghiến ken két vào nhau. Việt cảm thấy nóng hừng hực đến độ những đầu ngón tay bốc cháy. Anh cảm nhận được cái ẩm ướt giữa những ngón chân. Anh phải nắm lấy một cái lưng ghế để đứng được vững. Khi anh ngồi xuống, cái lạnh của chiếc ghế xếp kim loại làm anh giật mình. Anh cố hít thở thật sâu và còn thử tưởng tượng anh đang tập Thái Cực quyền trong phòng khách của mình. Tất cả đều vô hiệu. Việt đặt cái lon bánh mì khô và bao giấy xuống nền nhà bên cạnh chân anh. Anh ngã người rồi xoa bóp thái dương. Giữa những tiếng cười nói om sòm, anh nghe rõ cái giọng trầm khoe khoang với tiếng cười khẩy, “Cuối cùng, con bé nói Mel, làm cái kiểu vừa ngọt ngào vừa bồ bịch lắm.”</p>
<p>Việt ước lượng kích thước căn phòng. Anh nhìn những bao vải đen như bồ hóng căng phồng bưu phẩm, những cái thùng chứa đầy ngập bao thư, và những cái ngăn tủ bẩn thỉu. Melvin và cái mồm của hắn cách anh đúng mười bước. Việt đếm. Chân của Melvin đặt trên cái ghế gỗ nằm ở ngay giữa phòng. Hắn đang cúi người, khuỷu tay chống trên đầu gối. Bọn đàn ông bu quanh hắn như lũ kiến đang ngấu nghiến những mảnh vụn. Việt cầm bọc chứa thức ăn lên. Bên trong, mũi dao ló ra khỏi miếng khăn giấy.</p>
<p>Thuyền của họ trôi lênh đênh một ngày một đêm trên biển Đông. Anh đang ở dưới khoang thuyền với đứa con út. Cả hai đang vắt cơm bằng lòng bàn tay và anh đang dạy con bé học đếm. Chưa gì mà con bé nhớ được những con số rất nhanh và anh thấy ngay là đến cuối ngày nó sẽ biết đếm ít nhất là đến số hai mươi sáu, số người mà họ đang phải cho ăn.</p>
<p>Con bé kêu lên “Mười hai!” thật to bằng hết sức bình sinh.</p>
<p>Việt nghiêng sang vỗ đầu con bé vừa lúc ấy chiếc thuyền tròng trành và anh sẩy chân. “Chắc là có sóng to,” anh nói. Con bé cười khúc khích vòng tay ôm bụng nhưng im thít khi nghe tiếng phụ nữ hét từ tầng trên.</p>
<p>“Bố ơi, gì vậy?”</p>
<p>Có tiếng chân chạy sầm sập vội vã dọc trên boong thuyền. “Câm mồm! Câm mồm!” Gã đàn ông nói bằng thứ tiếng Việt thô kệch, ngấn giọng sai bét ở những nguyên âm.</p>
<p>Việt đặt ngón tay lên môi. Anh quỳ xuống đặt vắt cơm vào tay con bé. “Mình giả vờ chơi trốn tìm nhé? Nằm dưới tấm chăn chờ bố trở lại với con.” Anh hôn trán nó và đóng cửa tủ chứa đồ.</p>
<p>Việt chộp lấy con dao, leo năm bậc thang, không cần nhìn cũng biết trước mình sẽ gặp cảnh tượng gì. Việt nhớ lại lời cảnh cáo của người bạn thân, chàng giáo sư kinh tế nóng nảy, “Cầm chắc là tự tử. Đừng có đi. Cộng sản mà không bắt mày thì mày cũng có cơ bị chìm tàu, nếu tàu không chìm thì bọn hải tặc cũng chờ sẵn để giết mày.”</p>
<p>Xuyên qua cái lỗ của tấm kim loại rỉ sét, Việt nhìn thấy hai người đàn ông mặc đồ âu phục cũ kỹ nhàu nát. Tên cao hơn gầy nhom đến dễ sợ. Hắn mặc quần ống loe. Đôi mắt hắn ẩn sau cặp kính đen loại phi công có gương chiếu hậu và một nùi tóc bờm xờm. Hắn có thể dễ dàng là một trong những đứa học trò của Việt, lừ đừ, thiếu ăn, mơ mơ màng màng, theo cái kiểu thời thượng mà các cô gái bắt đầu yêu chuộng. Gã thời thượng đuổi tất cả mọi gia đình ra trước mũi thuyền và ra hiệu bằng con dao làm như đấy là cây đũa thần. Hắn la hét bằng giọng Việt xòng xõng, “Đi! Nhanh lên! Nhanh lên!”</p>
<p>Gã thấp hơn trông giống con chó bun với bờ vai rộng, hàm răng dữ tợn và mí mắt húp híp. Hắn mặc cái áo lót ngả màu nhựa thuốc lá và cái quần sọc màu nâu đã từng là nửa phần dưới của một bộ com lê lịch lãm. Việt không thể xác định rõ ràng chúng là dân xứ nào cho đến khi tên giống con chó bun nói, “Sau này không làm nữa. Đáng lẽ mình thôi đi rồi là phải. Chúng nó càng lúc càng nghèo, mấy đứa tị nạn chết tiệt này.” Hắn nói tiếng Tàu. Thằng ăn mặc đỏm dáng nghiến răng trèo trẹo, Việt nghĩ hàm răng của nó sắp mài mòn thành bột. Thằng chó bun nói, “Đồ chó, mày lại say thuốc phải không?”</p>
<p>Thằng thấp này lớn tuổi hơn và rõ ràng là thủ lãnh. Hắn đi dọc theo boong tàu, xem xét đánh giá từng hành khách một. Cuối cùng hắn chọn Già Phúc. Việt nghĩ thầm, thằng ngu, thả ổng ra. Ổng không có cái gì mầy muốn đâu. Già Phúc không màng chuyện tiền bạc. Ông là nhà thơ, bỏ xứ ra đi chỉ mang theo một tuyển tập gồm những bài thơ bị kiểm duyệt. Ông đọc những bài thơ này cho mọi người nghe khi đêm xuống, những kỷ niệm về dòng sông Cửu Long, bờ đất phì nhiêu sẫm màu của nó, và những nữ sinh trong tà áo dài trắng về từng lượt như chim bồ nông khi ông còn trai trẻ. Ông già giơ hai tay lên đầu hàng khi tên chó bun lướt dao, bén ngót, nhẹ nhàng cắt một đường cảnh cáo trơn tru ngang cổ ông.</p>
<p>Khi máu trồi lên rồi nhỏ xuống cổ áo ông, vợ ông chen lấn lách ra khỏi đám đông. “Lấy đi,” bà la khóc và tụt quần xuống. Phía dưới cái bụng bệu mỡ, trắng nhợt nhạt của bà lão và phía trên cái mu, bà đã gói bảy sợi dây chuyền vàng vào cái khăn tay và dùng băng keo dán tất cả tiền dành dụm suốt đời của hai vợ chồng quanh xương chậu của bà.</p>
<p>Chỉ có hai tên cướp và hai con dao tuy nhiên Việt hiểu tại sao đám bạn của anh không kháng cự. Họ là thuyền nhân, nửa sống nửa chết, không còn tinh thần chiến đấu, và vì thế họ bỏ vàng và tất cả những mảnh hy vọng vào mấy cái bao tải bẩn thỉu. Hai tên hải tặc đi lại trong đám đông một cách dễ dàng. Những gia đình này đều đã thuần thục việc nằm xuống, nhắm mắt, chấp nhận, và chờ đợi cuộc hành hạ trôi qua.</p>
<p>Khi bọn cướp đến chỗ Hương, chị cởi áo khoác ngoài và nắm cổ áo đưa cho chúng. Việt nghĩ, tốt đấy, nó muốn gì thì đưa ra cho xong. Nhưng tên hải tặc dừng lại. Hắn cầm con dao chĩa vào cằm chị. Chị lấy tay che cần cổ. Hắn dùng dao ra hiệu chị lấy tay ra. Chị né tránh mũi dao nhưng ngay sau đó lại che cổ. Hương đang tìm cách dấu cái tượng Phật bằng cẩm thạch ở ngay chỗ hõm trên cổ.</p>
<p>Những người hành khách trên thuyền van nài chị. “Bỏ đi mà!” “Đưa cho nó đi!” “Đưa ra!”</p>
<p>Việt cảm thấy ngộp thở. Nỗi lo sợ có mùi vị của một nắm bạc cắc tọng vào mồm anh. Anh biết vợ anh sẽ không từ bỏ vật gia truyền một cách dễ dàng. Chị đẩy cái áo khoác vào ngực tên chó bun. Chị lấy tay chỉ vào những thỏi vàng và nữ trang chị đã khâu vào giữa hai lần lớp áo.</p>
<p>Tên chó bun quát mắng chị cho đến khi một bợt nước dãi của hắn bắn lên cằm chị. Về sau Hương kể lại hắn có hơi thở hôi thối vô cùng và vì chị thấy nó thối tha quá chị không thể giữ miệng. “Chúng bây là đồ thú vật, đồ chó.” Chị cười nhạo báng vào mặt hắn, “Chúng bây hãm hiếp cả những người đã bị hãm hiếp.”</p>
<p>Hắn không hiểu lời chị nói, nhưng biết là chị đang nguyền rủa hắn. Hắn túm tóc chị và dúi mặt chị xuống sàn thuyền. Những người hành khách nao núng. Hiển nhiên, ai cũng nhận ra Hương từ những đoạn phim quảng cáo chị đã đóng khi còn là người mẫu. Một người đàn ông về sau kể lại, “Chỉ nghĩ làm hư hỏng bộ mặt ấy cũng đủ tội lỗi rồi.”</p>
<p>Ở phía dưới thuyền, Việt nhìn tên cướp kéo tuột quần ngoài và quần lót của chị xuống đến đầu gối. Hương vùng vẫy và giẫy đạp từ bên dưới người hắn, nhưng hắn kẹp cứng chị. Khi hắn tụt quần hắn xuống thì dây gài bị kẹt. Gã chó bun cố dùng một tay gỡ ra để tay kia vẫn cầm giữ được lưỡi dao.</p>
<p>Việt biết là anh chỉ có khoảnh khắc này mà thôi. Anh tìm thấy mục tiêu để tấn công, tĩnh mạch cổ. Anh đếm nhẩm là gã cướp ở cách anh chừng mười một bước nhưng anh lo ngại vì mắt yếu, và kính anh mờ, tròng kính bị trầy trụa khi anh dúi mặt vào cái lỗ rỉ sét của cái cửa làm bằng tấm kim loại.</p>
<p>Trong tủ chứa đồ, đứa con gái than van, “Bố ơi, con không muốn chơi nữa đâu.”</p>
<p>Anh nói, “Trò chơi sắp xong rồi,” Việt cứ niệm đi niệm lại trong đầu, ra tay trước, ra tay trước. Với con dao kẹp vào đùi, anh nghĩ, nếu mình thất bại thì hai đứa con gái không chỉ mất một mà cả hai cha mẹ.</p>
<p>Việt nắm chặt cán dao hơn, lần tay kia trên nắm cửa, hít vào, thở ra, và cuối cùng lao tới. Khi ra đến bên ngoài, anh tấn công tên chó bun từ phía sau, và bẻ ngược cằm hắn. Lúc đầu thì lưỡi dao bị cản trở. Việt cắm mạnh nó vào. Anh ấn lút cán và vặn tréo lưỡi dao. Vết cắt sâu và nhanh. Máu túa như trút nước.</p>
<p>Lây can đảm nhờ sự gan dạ của chàng giáo sư, những người đàn ông kia cùng tấn công tên cướp cao hơn. Gã cướp thời thượng đang say thuốc nên hoàn toàn chẳng có sức kháng cự mặc dù hắn có vũ khí.</p>
<p>Việt bỏ mặc xác mấy tên cướp trên mui tàu, để cho những người đàn ông khác xử lý chúng và đi tìm bé Mai đang trốn trong tủ dưới mui ghe.</p>
<p>Việt trở thành anh hùng chính thức của cả thuyền, thế nhưng anh rút vào sự im lặng.</p>
<p>Hương nói, “Bố làm vậy rất chính đáng. Tại sao lại phải buồn?”</p>
<p>“Anh đã làm chuyện yếu hèn,” anh đáp. “Gây thương tích cho kẻ khác là chuyện dễ dàng. Không hay ho gì cũng làm như vậy được.”</p>
<p>“Anh làm như vậy vì cả nhà. Vì Gia Đình,” chị nói. Hương hôn trán anh và ôm lấy anh.</p>
<p>Chị ru anh trong vòng tay chị, chồng chị, cái người mà khi còn ở quê nhà cả con nhện cũng không chịu giết, mặc cho chị van nài cỡ nào. Con nhện cũng đáng được sống, anh nói như thế trước khi phóng thích nó từ túm giấy vệ sinh thả lên bụi hoa sơn chi của chị.</p>
<p>Những ngày tiếp theo Việt khóc rưng rức cho nỗi mong manh của kiếp người, cho cuộc đời đã bị anh cướp đi và cuộc đời anh đã cứu. Anh khóc vì đã chứng kiến sự hèn yếu của loài người, những kẻ săn đuổi người vô tội và nghèo khốn. Anh gục đầu trong bàn tay đã nhuộm máu, tin là mình đã thua cuộc bởi anh đã làm cái việc không dám nghĩ tới và giết đi một người. Anh là người tầm thường, thô thiển như bao nhiêu người khác, không thể sống cuộc sống bất bạo động mà anh thường thuyết giảng, anh không phải là mẫu người đạo đức mà anh cố gắng vươn đến.</p>
<p>Việt gục đầu giữa hai cánh tay. Dưới nách của chiếc áo đồng phục bưu điện ngắn tay của anh có vết loang mồ hôi. Bao chứa thức ăn trưa đặt trên đùi.</p>
<p>“Con nhóc thắt bím kiểu như thế thì đủ biết ý nó thích các anh da đen,” Melvin tiếp tục nói.</p>
<p>Trái tim của Việt chỉ muốn một điều và thân hình của anh chỉ hướng theo một mục tiêu duy nhất. Anh cần phải bắt gã kia im mồm. Anh ngồi đó run rẩy, cả cánh tay của anh ẩn bên trong cái bao giấy chứa thực phẩm màu nâu. Trong ấy, tay anh nắm chặt con dao. David quay người lại, nhìn thấy Việt, và ra dấu với các người kia.</p>
<p>Melvin cuối cùng cũng nhận ra. Hắn nói, “Mẹ kiếp Việt, sao bác lại cứ nghe trộm với lại cái cục k. gì nữa thế? Ngồi đó im ỉm, trời đất, tôi có biết đâu, cục k..”</p>
<p>“Chú mày người không đàng hoàng,” Việt nói, cằm ngước cao. “Con gái tôi, nó mười ba tuổi, nó con gái tốt.”</p>
<p>“Thì tôi nói chuyện tốt không mà, bác. Rất tốt.”</p>
<p>Vài ba gã thanh niên cố nén cười rồi nói, Mẹ mầy Melvin, mầy khùng quá.</p>
<p>Việt đứng dậy và cái ghế xếp kêu ken két trên nền nhà. Anh ôm cái bọc giấy nâu bằng một tay còn tay kia vẫn nắm chặt con dao bên trong bao giấy. “Chú mày khinh con tôi,” anh nói. Anh cảm thấy gân máu ở giữa trán anh co thắt. Máu chạy rần rật về tai anh. Nó mang anh trở lại cái trống rỗng của biển cả, và những đợt sóng cuồng bạo. Thị giác anh chập chờn. Nhưng sau khi chớp mắt và chú mục lại, mắt anh bắt gặp mắt của Melvin. Cái nhìn chăm chú của gã da đen ngừng lại ở cái áo của Việt. Nó ướt đẫm đến độ nó trở nên trong suốt, và lộ ra cả áo may ô của anh. Thế rồi cặp mắt hắn di chuyển đến bao giấy màu nâu và ngừng ở chỗ đấy. Nó nhấp nháy, cố sức nhìn thấu cái gì ở bên trong. Việt cố kiểm soát sự run rẩy và tự nhủ; bắt hắn phải câm mồm, ra tay trước, ra tay trước.</p>
<p>Melvin nói, “Tôi xin lỗi, bác.”</p>
<p>Việt không để cho hắn dứt lời. “Chú khinh nó,” anh nói. “Chú nói chuyện nó, mới mười ba, như con điếm.” Việt nghe giọng nói vang dội của mình lạ lẫm không nhận ra nổi..</p>
<p>“Đừng làm chuyện điên khùng nhé,” Melvin nói.</p>
<p>“Chú khinh tôi!”</p>
<p>“Tôi chỉ nói đùa nhưng đáng lẽ tôi không nên nói năng như thế,” Melvin đưa hai bàn tay lên ngang ngực, lòng bàn tay hướng ra ngoài. “Đừng nổi điên, thôi mà.”</p>
<p>Việt lại lẩm bẩm không thành tiếng; chú khinh tôi, và thở ra thật mạnh trước khi buông cán dao.</p>
<p>Melvin, hai tay dang rộng nói, “Tôi rất mến bác, bác là con mèo nhỏ tốt tính. Tôi không có ý xấu. Tôi thề, tôi không có ý khinh bác đâu.”</p>
<p>“Chú gặp lại nó, chú xin lỗi.” Việt nói, bỏ cái bao giấy xuống.</p>
<p>Cái chai thủy tinh vỡ dưới chân anh. Sữa đậu nành thấm qua lớp giấy nâu. Không ai chú ý. Mắt của họ dán vào đôi cánh tay to rộng của Melvin đang quàng chung quanh thân hình của Việt, ôm chặt anh.</p>
<p>“Lần sau, bác cứ bảo tôi câm mồm nhé?” Melvin cười to. Bị ngạt thở vì cái ôm huynh đệ vui vẻ quá mức của Melvin, Việt nhớ một câu châm ngôn của Khổng Tử và lập lại nó trong đầu. “Bất hoạn nhân chi bất kỷ tri, hoạn bất tri nhân dã. Đừng sợ người không nhận biết cái đức của ta, hãy sợ ta không nhận biết cái đức của người.”</p>
<p>Melvin vỗ lưng anh và nói, trân trọng và chân thành, “Này, sao bác không cùng đi với chúng tôi hôm nay? Vui chơi với đám anh em.” Việt tự thấy ngu xuẩn khi nhìn xuống đôi giày nâu của mình và cái góc ướt mềm của cái bao giấy nâu. Anh biết ơn họ đã dễ dàng bỏ qua mọi chuyện, nhưng vẫn từ chối. Anh không muốn gì hơn là được ngồi một mình, trên băng ghế với đàn chim, và ăn bữa trưa của mình trong yên lặng.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&#8212;-</p>
<p>[1] Đây là kiểu đối đáp đặc biệt của người Mỹ, giả vờ như trả lời cho một câu chào, hay câu cảm ơn, để nhắc khéo là người đối diện chưa chào hay cảm ơn mình.</p>
<p><span style="font-size: small;"><em> </em></span></p>
<p><em>Truyện xuất hiện lần đầu trên báo Santa Clara Reviews với tựa đề “Người đưa thư” 94:2 (2007): 2-11</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="font-size: small;"> </span></p>
<p><span style="font-size: x-small;"> </span></p>
<p><span style="text-decoration: underline;"> </span></p>
<h2><strong> </strong></h2>
<h2><strong> </strong></h2>
<h2><strong>Quiet As They Come</strong></h2>
<blockquote><p>&nbsp;</p></blockquote>
<p>Viet Tran raised his elbows, spread his wings, and was gliding through the white crane movement when he caught himself holding his breath. He tried his best to concentrate on a slow steady flow but was anxious and had to remember to exhale. He attempted his one-legged rooster posture, lost his balance, and had to brace himself on the couch’s end. A wave of vertigo washed over him accompanied by a static buzzing in his ears. It imitated the roaring lull of the seas. It reminded him of how the dead always seemed to surface along with his dreams. Twenty years ago, Viet had seen himself as Chancellor at a University. Today, he would be content as an accountant, with a desk to sit at, a respectable salary.</p>
<p><span style="text-decoration: underline;"> </span></p>
<p>Nobody would believe that Viet Tran had ever killed a man. His friends in Vietnam often described him as gentle, kind, a man of letters, fanatical about chess, a good family man. His co-workers from the post office would probably say he was a simple man, a hard worker, a great listener. Viet’s physicality and bodily strength wouldn’t be mentioned. And yet there was a time in history, between continents, when he had taken a man’s life with his bare hands.</p>
<p>Slicing his palms through the air, Viet guided his chi into the golden platter, directing the energy clockwise and allowing the circle to grow with each rotation. His fingertips began to tingle and he’d just entered into a rhythm when he heard the flapping of sheets, the clacking of blinds, and then the patter of his wife’s slippers on the plastic mats covering their floors.</p>
<p>The distraction ticked at him but he told himself, count your blessings. He reminded himself that just a year ago the tai chi was impossible when he, his wife, and their two daughters were all contained inside the four walls of one bedroom.</p>
<p>Huong said, “You should practice interviewing, not tai chi.”</p>
<p>Viet said, “You can’t practice for it.”</p>
<p>“I can dye your hair,” she said.</p>
<p>“You did it last month.”</p>
<p>She combed her fingers though his hair. He lost his posture. “Why are you up so early?” he asked. She didn’t hear him. Huong had moved on to the kitchen and was grinding her coffee beans.</p>
<p>His wife was a sensitive creature. She was a worrier and suffered from insomnia. The lack of sleep curled up in sulky half moons beneath her luminous eyes. Viet wanted to ask her for another thirty minutes for his practice, but he didn’t. He didn’t want her sullen, tucked away in her bedroom with the blinds drawn. Ever since the visit from Child Protective Services this past winter, Huong seemed to have grown even more tentative about the day-to-day activities of their lives. She had changed her work schedule at the electronics firm from nights to days. She claimed that in America, “The devil visits you not at night but in the daytime, when you’re alone and vulnerable.”</p>
<p>Huong remembered the CPS visit as an attack, an insult that she wore like a raw wound. Ever since the incident, without warning, an unforeseen slight could cause her to withdraw inside herself. Sometimes, Huong fortressed off from him and the girls for what could be days at a time.</p>
<p>Viet returned to his postures. He was determined to shut out the busy noise but heard rock music blaring from one room and a blow dryer firing from another. The girls were up now too. Huong tapped him with the TV remote. “Father, can you move over a little? I can’t see.”</p>
<p>In the waiting room at Linkenheimer LLP, Viet saw four other applicants. They were nicely dressed, attractive, well-groomed, and perhaps half his age. They reminded him of his students in the fall, at the start of the term, fresh-faced and eager, when school meant the promise of knowledge and smelled like a new book. Viet patted his hair, hoping to shift the gray into hiding. He shuffled the papers inside his manila folder. The person who had helped him put his resume together said, “You don’t need to bring those diplomas from Vietnam.” Nonetheless, Viet had taken them out from behind the glass frames in which they usually were displayed in his living room. He continued carrying these yellowed fading certificates to the interviews, reminders of who he was and what he’d once achieved.</p>
<p>The woman who gave him the written tests said, “Mr. Tran, you have a PhD in philosophy and a law degree too. Are you sure you’re not overqualified?” Her expression was sincere and she asked it without the skepticism he sometimes heard.</p>
<p>“I be fortunate as state tax associate here, Miss.”</p>
<p>She smiled and said, “Good luck, sir,” and closed the door behind her. She left him with tax laws to manipulate, sales and use taxes, property taxes, state tax controversy resolutions, and credit taxes too. He understood long ago that numbers, like letters, were interpretable and malleable, dependent solely on perspective. His number two pencil swam through the test sheets.</p>
<p>Viet finished early. He pushed his chair back and stood to leave.<strong> </strong>But when he thought about how desperately Huong wanted him to get this job, he sat down again, remembering what she’d said the first time they met. “The man of perfect virtue is cautious and slow in speech.”</p>
<p>He was a first year professor and she was a student at the University. They were in line at a deli near campus and Viet was with his best friend, an economics professor. The best friend was talking too much trying to impress the co-ed while Viet remained quiet, not sure what to say. He was unnerved by Huong’s beauty, the haunting eyes, the see-through skin, the blue of the veins on her wrists. And then those eyes turned to him, her mouth opened, and she quoted the Confucian saying. Years later, Huong confessed that she’d known all along that he was a philosophy professor, “the one rumored to be obsessive about the ancient Chinese.”</p>
<p>Yet as he sat on the 29<sup>th</sup> floor of a downtown skyscraper looking down at the tiny dots below, Viet held on to the advice of the clever young flirt. He double-checked his answers. The remaining time he spent writing down his favorite Confucian anecdotes on the back of an old grocery receipt.</p>
<p>Back at the post office, his co-workers, “the crew,” they liked to call themselves, stood over their bins sorting mail by zip code.</p>
<p>“Where you been, little guy?” asked David.</p>
<p>Viet nodded a hello. He had told David before that in his country younger persons greeted elders with respect but the boy either chose to ignore it or had already forgotten. Viet thought how embarrassing it must be, to throw about careless words and not even realize it.</p>
<p>Melvin said “What’s up, little man?” and continued with his story. “Yep, like I was saying met me a sweet baby Saturday night.” Viet stepped in and took the only bin available between the part-time student and the playboy.</p>
<p>“How sweet?” asked David.</p>
<p>Melvin paused and licked his lips. “So sweet, she was like unwrapped candy. Sugar and molasses spilling outta her unbuttoned shirt.”</p>
<p>Viet felt sorry for the two women in the group. They were outnumbered and had to listen in on the talk of depraved men. One woman rolled her eyes and smacked her gum saying, “You’re so gross, Melvin.”But the other woman stepped forward. She blushed a guilty rouge color and wiped the steam from her glasses.</p>
<p>Perhaps I am too sensitive, Viet thought.</p>
<p>Viet didn’t talk much because his English embarrassed him. His co-workers didn’t ask much of him either. They told stories amongst themselves and whispered secrets he pretended he was oblivious to. He once heard a co-worker describe him by saying he was as “quiet as they come.” They were talking in general terms about the droves of Asians they noticed arriving in San Francisco over the past few years. They noted how passive they were and quiet too and how Viet topped them all by being the quietest of all, practically invisible.</p>
<p>Viet realized that each person possessed his own hopes and fears. But every day, it was the same continual banter. One woman always talked about her unfaithful boyfriend. The other gushed about the celebrity gossip she read in the news. David talked about the Chevy Malibu he was fixing up and the places he’d go. Melvin talked about the girls, the endless line of anonymous bodies with interchangeable heads.</p>
<p>He let their words pass with the hours. It was like the French cargo planes of his youth, white noise so thunderously loud it became an indistinguishable drone. The postal work was tedious and Viet kept his mind alive by composing poems in his head for his daughters. During breaks, he’d write out the lines on scratch paper and then in the solitude of night when all the women in the house were sleeping, he recopied the poems on a linen scroll in calligraphy. He was saving them as wedding gifts for the girls.</p>
<p>At lunchtime that day, his oldest daughter strutted into the post-office. It upset him to see her, mid-day, out of class. She made a striking impression though, big smile and lithe limbs swinging. Elle had her waist length hair braided into cornrows. They pulled so tight on her scalp it gave her a feline-like appearance.</p>
<p>“Everything ok? Why you not in school?” Viet asked.</p>
<p>“Hi to you too, Dad.” She was chewing bubble gum.</p>
<p>“Answer me.” He paused to look over the braids, the blackness of it; decided she still looked pretty, refrained from comment.</p>
<p>“Mom asked me to bring you lunch today.” She handed over a grocery-sized brown paper bag. She had recently turned thirteen and already stood his height. She leaned in and whispered, “How was your interview?”</p>
<p>“Good,” he said, “good.” He looked in the bag and saw a glass jar of homemade soymilk. There was also a Tupperware container with white rice and what looked like steak (and probably was because Huong always made his favorite dishes on special occasions). A fork and knife were rolled and rubber-banded in a paper-towel.</p>
<p>Melvin came up and said, “Viet, man, how come you never introduce me to your family before?”</p>
<p>“This my daughter, Elle,” said Viet. He was about to tell his daughter that this was his co-worker, Melvin. But when Viet looked up, Melvin already had his hand reaching out at the girl.</p>
<p>Melvin was smiling, all mouth, and big white teeth. “Pleasure meeting such a beautiful young lady. I’m Melvin. You call me Mel, alright?” He winked.</p>
<p>She shook his hand and said, “Good meeting you, Mel.” Then she stepped away, turned to Viet and said, “My friends are waiting outside.”</p>
<p>Viet walked her to the doorway and watched her clicking down the halls, stirring up dead air with her swinging arms. Viet was in awe of his daughters, their quick minds, their ability to adapt in this new world. He admired their pliable female tongues that danced and twirled in a storm of lyrical English. He marveled at their grace and courage, forced to age beyond their years. His wife always lectured them, “Be thankful we made it here. In Vietnam, they don’t even have food to eat.”</p>
<p>In such moments, Viet often thought his daughters did nothing to deserve their adult mess, their ugly wars. It seemed to belittle the human spirit, to always be grateful that things could be worse. Of course he’d never speak these thoughts to Huong. She already thought he was too easy on the girls. Instead, he left Huong to her couch, with her remote control, vigilantly watching the twenty-four hour news channel, waiting for the next cruel blow to hit.</p>
<p>When Viet returned with his sure quiet steps, nobody noticed. Melvin was at it with another one of his stories. He said, “Shit, the girls be lovin’ the Mel machine.” Viet went about his last-minute chores. He barely listened while the other men surrounded Melvin with their eager attention. “Girls these days, might be lookin’ like nice little schoolgirls but you know they be all nasty in the bed.” The other men agreed, what with the make-up these girls wore, all done up, difficult to tell their age. Only young David rolled his eyes and mumbled something beneath his breath.</p>
<p>Viet put on his jacket and grabbed the can of stale breadcrumbs for the birds he’d feed from the park bench across the street. He was about to leave when he heard, “That Elle, wouldn’t mind having baby in bed.”</p>
<p>Viet couldn’t believe he heard his daughter’s name come out of Melvin’s mouth. “Who would’ve thought? Fine little thing coming outta…” Melvin continued on.</p>
<p>The room bulged. Viet’s vision flattened out and grew fuzzy all at once. In his ears there was a sound like ball bearings rolling and grinding against each other. Viet grew so hot his fingertips burned. He could feel the wet between his toes. He held on to the back of a chair to brace himself. When he took a seat, the cool of the metal folding chair shocked him. He tried taking deep breaths and even imagined himself back in his living room doing tai chi. None of it helped. Viet put the can and the bag on the floor by his feet. He leaned over and massaged his temples. Over the roar, he heard the bragging baritone voice saying with a chuckle, “Then at the end, she said Mel, playing all sweet and cozy like.”</p>
<p>Viet sized up the room. He looked at the sooty cloth bags bulging with mail, the bins overflowing with envelopes, and the dingy lockers. Melvin and his mouth stood exactly ten steps away. Viet counted. Melvin’s foot rested on the wood bench in the center of the room. He was bent over with his elbow on his knee. The other men hovered around him like ants devouring dead debris. Viet picked up his lunch bag. Inside, the blade poked out from the paper towel.</p>
<p>Their boat had been drifting for a night and a day on the South China Sea. He was below deck with his youngest. They were molding rice balls with their palms and he was teaching her how to count. Already, his daughter was quick with numbers and he knew that by the end of the day, she’d be able to count to at least twenty-six for each of the mouths they had to feed.</p>
<p>She yelled “Twelve!” at the top of her lungs.</p>
<p>Viet reached over to pat her head just as the boat swayed forward and he lost his footing. “That must have been a big wave,” he said. She giggled holding her belly but stopped when they heard a woman screaming overhead.</p>
<p>“Papa, what’s that?”</p>
<p>A stampede of footsteps rushed to the side of the deck. “Shut up! Shut up!” The man spoke in a crude Vietnamese placing the emphasis on all the wrong vowels.</p>
<p>Viet put his finger to his lips. He kneeled down and placed a rice ball in her hand. “It’s like playing hide-n-go-seek okay? Stay under this blanket until I come back for you.” He kissed her forehead and closed the closet door.</p>
<p>Viet grabbed a knife and climbed the five steps knowing what he’d see before he even looked. Viet remembered his best friend, the brash economics professor warning, “It’s suicide. Don’t go. If the Communists don’t catch you, you risk the boat sinking, if the boat doesn’t sink, the pirates are there to kill you.”</p>
<p>Through the hole of the rusted sheet metal Viet saw two men in shabby western dress. The taller one was unbearably thin. He wore bell-bottoms. His eyes were hidden behind a pair of mirrored aviator sunglasses and a mop of shaggy hair. He could have easily been one of Viet’s students, languid, underfed, dreamy, with that fashionable look the girls were beginning to favor. Fashion boy shoved the families to the front and gestured with his knife like it was a wand. He yelled in his stilted Vietnamese, “Move! Faster! Faster!”</p>
<p>The shorter one looked like a bulldog with thick shoulders, a ferocious under-bite, and puffy eyelids. He wore a faded nicotine-white undershirt and brown pinstriped pants from the bottom half of a once nice suit. Viet couldn’t identify their origin until the bulldog said, “We’re never doing this again. We should have stopped. They have less and less, these fucking refugees.” He spoke Chinese. Fashion boy was grinding his jaw at such a rate, Viet thought he’d wear his teeth down to a paste. The bulldog said, “Bitch, did you get high again?”</p>
<p>The short one was older and clearly the brains. He walked along the deck, assessing each passenger one by one. Finally, he picked old man Phuc. Viet thought, you fool let him go. He has nothing you’d want. Old man Phuc didn’t care about money. He was a poet who’d fled his homeland with only a book of his own censored poems. He would read to the others at nightfall; memories of the Mekong, its dark fertile soil, and the pelican-like tides of schoolgirls in the white áo dài from his youth. The old man had his arms raised in surrender when the bulldog slid the knife sweetly, gently, in a smooth line, as a warning slit across his throat.</p>
<p>When the blood rose and dripped down his collar, his wife finally broke through the crowd. “Take it,” she cried and pulled down her pants. Beneath the roll of the old woman’s pale belly and above her pubic mound, she had wrapped seven gold necklaces in a handkerchief, and duct-taped the couple’s life savings on her pelvis.</p>
<p>Only two men and two knives and yet Viet knew why his friends didn’t fight. They were boat people, half dead, no fight left, and so they dropped their gold and any fragments of hope into the dirty burlap sacks. The pirates moved through the crowd with ease. These families were already trained to lie down, close their eyes, take it, and wait for the abuse to pass.</p>
<p>When the men reached Huong, she took off her jacket and held it out by the collar. Viet thought, good girl, give them what they want. But the pirate stopped. He took his knife and pointed it at her chin. She covered her throat with her hand. He used his knife to wave her hand away. She dodged the blade but immediately slapped her hand back. Huong was covering the jade Buddha at the hollow of her throat.</p>
<p>The other passengers pleaded with her. “Forget it!” “Give it to him!” “Hand it over!”</p>
<p>Viet could hardly breathe. His fear tasted like a fist full of coins jammed in his mouth. He knew his wife wouldn’t give him up the family heirloom without a fight. Instead she pushed her jacket into the bulldog’s chest. With her hands she showed him the hard nuggets of gold and jewelry she had hand sewn into the quilted lining of the fabric.</p>
<p>The bulldog screamed at her until a wad of spit landed on her chin. Huong would later say he had horrible decaying breath and because she found this so foul she couldn’t stop her tongue. “You are animals, dogs.” She sneered in his face, “You rape the raped.”</p>
<p>He didn’t understand her, but he knew she’d cursed him.<strong> </strong>He grabbed her hair and shoved her face into the deck. The other passengers flinched. They all of course recognized Huong from the commercials of her modeling days. One man later recounted, “The thought of damaging that face was criminal.”</p>
<p>From below, Viet watched as the bulldog yanked her pants and panties down to her knees. Huong struggled and kicked beneath him, but he had her pinned. When he pulled his pants down, his zipper got caught. The bulldog tried to free himself with just one hand so he could hold on to his blade.</p>
<p>Viet knew this moment was all he had. He found the spot to aim for, the jugular. He counted the man about eleven paces away but he was nervous because his eyesight was poor, his glasses were foggy, and his lenses were scratched from wedging his face against the rusted hole of the sheet metal door.</p>
<p>From the closet, his daughter whined, “Papa, I don’t want to play anymore.”</p>
<p>He said, “The game’s almost over.” Viet chanted over and over in his mind, Strike first, strike first. With his knife pressed against his thigh, he thought, if I fail my girls will lose not just one but two.</p>
<p>Viet tightened his grip on the blade handle, slid his other hand on the door knob, inhaled, exhaled, and finally pounced. Once outside, he attacked the bulldog from behind and snapped his chin back. The knife met resistance at first. Viet plunged in the blade. He worked it through and twisted it. The cut was deep and swift. The blood came flooding out.</p>
<p>Finding courage in the professor’s bravery, the other men attacked the taller one. Fashion boy was so high he was practically defenseless despite his weapon.</p>
<p>Viet left the dead pirates on the deck, let the other men dispose of them, and went to retrieve Mai from the closet below deck.</p>
<p>Viet was the boat’s official hero, but he retreated into silence.</p>
<p>Huong said, “You did the right thing. Why are you sad, Father?”</p>
<p>“I did the weak thing,” he said. “It’s easy to inflict harm. It takes nothing.”</p>
<p>“You did it for us. Family,” she said. Huong kissed his forehead and held him. She rocked him in her arms, her husband, who at home refused to kill a spider no matter how she begged. It too deserves life, he’d say before setting it free from his toilet paper grasp into her gardenia bushes.</p>
<p>Viet sobbed for days over the fragility of life, for the life he had taken, and the one he was given. He cried for having witnessed the weakness of men, who preyed on the innocent and the poor. He held his head in stained hands, believing he’d failed himself because he’d done the unthinkable and killed a man. He was common, crude as the rest, unable to live up to the non-violence he preached, wasn’t the gentleman he always aspired to be.</p>
<p>Viet held his head in his hands. He had sweat stains under the armpits of his regulation short-sleeved postal shirt. His sack lunch was perched on his lap.</p>
<p>“She had her hair all braided up so you know she be liking the brothers,” Melvin said carrying on.</p>
<p>Viet’s heart had only had one desire and his body was moved to only one goal. He needed to shut this man up. He sat trembling with his entire arm hidden inside the brown grocery bag. Inside, he gripped the knife in his hand. David turned around, saw Viet, and signaled the others.</p>
<p>Melvin finally caught on. He said, “Damn Viet, why you be all eavesdropping and shit? Sitting there all quiet, man, I didn’t know. Shit.”</p>
<p>“You not a good man,” Viet said his chin up. “My daughter, she thirteen-years-old, she a nice girl.”</p>
<p>“I was only saying nice things about her, man. Real nice.”</p>
<p>A couple guys laughed under their breath, saying, Damn Melvin, you’re a nut.</p>
<p>Viet stood up and the folding chair squeaked across the floor. He cradled the paper bag with one hand while the other still clutched the knife inside. “You disrespect her,” he said. He felt the vein in the middle of his forehead pumping. It rushed blood to his ears. It brought him back to the emptiness of the seas, its violent waves. His vision swayed. But when he blinked and refocused, it was Melvin’s eyes that he tracked. The black man’s gaze stopped at Viet’s shirt. It was so wet it was now transparent and Viet’s ribbed undershirt showed through. Then the eyes moved to the brown paper bag and stayed there. They squinted, straining to understand what was inside. Viet tried to control his trembling and told himself; shut him up, strike first, strike first.</p>
<p>Melvin said, “I’m sorry, man.”</p>
<p>Viet wouldn’t let him finish. “You disrespect her,” he said. “You talk about her, only thirteen, like whore.” Viet found his amplified voice almost unrecognizable.</p>
<p>“Don’t do nothing crazy,” Melvin said.</p>
<p>“You disrespect me!”</p>
<p>“I was just foolin’ around but I shouldn’t a been talking like that.” Melvin held his hands up in front of his chest, palms out. “Don’t be mad now, come on.”</p>
<p>Viet whispered it again; you disrespect me, beneath his breath, and exhaled before letting go of the knife.</p>
<p>Melvin, arms wide-open said, “I like you, you a cool little cat. I didn’t mean nothin’. I swear. I didn’t mean no disrespect.”</p>
<p>“You see her again, you apologize,” Viet said, dropping the bag.</p>
<p>The glass jar cracked at his feet. The soymilk leaked through the brown paper. Nobody noticed. Their eyes were fixed on big Melvin’s arms wrapped around Viet, hugging him tight.</p>
<p>“Next time, just tell me to shut up al’right?” Melvin laughed. Smothered in Melvin’s overly jovial embrace of brotherhood, Viet remembered a Confucian saying and repeated it in his head. Don’t worry if people don’t recognize your merits; worry that you may not recognize theirs.</p>
<p>Melvin slapped him on the back and said, solemn and concerned, “Man, why don’t you come with us today? Chill with the boys.” Viet felt foolish looking down at his brown shoes and the soggy corners of the brown bag. He was thankful for their easy forgiveness, but declined. He wanted more than anything to sit alone, at the bench with the birds, and eat his lunch quietly.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&#8212;&#8211;</p>
<p><em>Originally appeared in Santa Clara Review as “The Mailman” 94:2 (2007): 2-11.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/19724/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nổi loạn c&#243; phải l&#224; v&#244; &#237;ch?</title>
		<link>http://damau.org/archives/10531</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10531#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 11 Jan 2010 16:50:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Michel Foucault</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn tròn]]></category>
		<category><![CDATA[Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị]]></category>
		<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Lý Luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10531</guid>
		<description><![CDATA[Nếu các xã hội đứng vững và sống còn được, hay nói khác đi, nếu quyền lực trong những xã hội đó không phải “tuyệt đối một cách tuyệt đối”, đó là vì đằng sau mọi sự đồng thuận và ép buộc, vuợt trên mọi doạ dẫm, trên bạo lực, và sự thuyết phục, còn có khả năng dẫn đến khoảnh khắc này, khi mà cuộc sống không thể bị đánh đổi, khi quyền lực trở nên bất lực, và con người đứng thẳng dậy đối diện giá treo cổ và họng súng máy.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong> </strong></p>
<p><strong>  <br />
 </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Theo bản dịch Anh ngữ của James Bernauer</p>
<p><em><strong>Philosophy &amp; Social Criticism</strong></em>, Vol. 8, No. 1, 2-4 (1981)</p>
<p> </p>
<p><strong> </strong></p>
<blockquote><p><strong>Lời người dịch</strong>: <em>Đây là</em> <em>một bài báo mà Foucault đã viết với bút pháp khá văn hoa và cầu kỳ, nhất là so với cách hành văn trong Việt ngữ. Dù là khi dịch, tôi đã cố gắng “diễn nôm” ý tưởng của ông ra, thay vì hoàn toàn trung thành với lời lẽ nguyên bản, nhưng có lẽ một sự trình bày ngắn gọn về bài viết vẫn là cần thiết đối với một số độc giả.</em></p>
<p><em>Năm 1978, Foucault tới Iran để chứng kiến cuộc nổi dậy của toàn dân lật đổ chế độ Sa hoàng ở đây. Ông đã gửi về Pháp những bài tường thuật nồng nhiệt về ý nghĩa của những biến cố ở Iran, đóng góp vào sự theo dõi của thế giới với tình hình nước này. Theo Foucault, đây là một thời điểm cá biệt trong lịch sử, một sự</em> <em>phủ nhận những công thức quy luật hoá theo thói quen của phương Tây, bị nhốt cứng trong cái lồng của chủ nghĩa duy lý và trọng công dụng.</em></p>
<p><em>Foucault chỉ ra rằng cuộc nổi dậy của người dân Iran không thể giản lược xuống thành kết quả hay tập hợp của những yếu tố khách quan, không thể xếp vào các cách phân loại và định nghĩa tổng quát giành cho biến cố chính trị. Để cảm nhận được hết những ý nghĩa của cuộc nổi dậy, người ta phải coi nó như một hiện tượng biệt lập, có sức sống và lý lẽ của riêng nó. Đối với ông, lý lẽ thúc đẩy những người Iran tiến tới đối diện với họng súng, vượt qua bản năng sinh tồn một cách khẳng khái, cương quyết như đang tham dự một nghi lễ tôn giáo, một sự thánh tế bản thân, đã đặt lại vấn đề về định nghĩa bản thể con người. Tính cách tâm linh của những xung động trong cuộc nổi dậy Iran đã phủ định và đặt nó ra ngoài cái được gọi là “kỷ nguyên của cách mạng”, thời đại độc quyền sự phản kháng của những nhà cách mạng và những tầng lớp nổi dậy được khai sáng bởi “quy luật vận động” của lịch sử, cũng như của những động cơ và phương pháp “cấp tiến”.</em></p>
<p><em>Bài viết này Foucault đã gửi đăng vào khoảng năm 1981, khi ấy chính quyền giáo sĩ ở Iran đã vững vàng và áp dụng lề lối cai trị độc đoán, khắc nghiệt. Để đáp lại thời trang chung của các trí thức châu Âu, trách móc ông đã ủng hộ một ý thức hệ cổ hủ và &#8220;phản động&#8221;, và qua đó, phủ nhận bạo lực cách mạng như phản tiến bộ và phi trí thức, Foucault qua bài viết này trình bày rõ quan điểm của ông: con người sẽ luôn luôn có những cuộc nổi dậy, vì nó thể hiện một phần sâu thẳm và kỳ bí thuộc về bản thể của họ, ý chí của họ. (Đây là một sự thật căn bản, tồn tại không lệ thuộc vào trình độ &#8220;tiến bộ&#8221; của lịch sử). Đó là cái mà những người Iran đã bộc lộ qua khát vọng tâm linh và sự thử thách cái chết. Ngôn ngữ của tôn giáo là một công cụ tốt hơn hẳn ngôn ngữ duy lý để mời gọi và diễn giải ý chí đó. Với tư cách là một triết gia, dù có đồng tình với bạo lực hay không, ông cũng hoan nghênh khía cạnh này trong bản chất con người, coi như vật cản tối hậu cho sự bành trướng vô tận của quyền lực. Khi con người còn có khả năng thách thức cái chết trong một hành động có ý nghĩa, con người sẽ không bao giờ bị tuyệt đối nô lệ.</em></p></blockquote>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>“Để đuổi Sa hoàng đi, chúng ta sẵn sàng chết đến hàng ngàn nguời,” dân Iran đã nói thế vào mùa hè năm ngoái. Giờ đây, vị Ayatollah (giáo chủ) nói, “Cứ để Iran đổ máu cho cách mạng được mạnh mẽ lên”.</p>
<p>Có một sự cộng hưởng kỳ lạ giữa hai câu nói dường như nối kết với nhau này. Sự kinh hoàng của chúng ta với câu thứ hai có kết tội niềm say sưa ngây ngất trong câu thứ nhất?</p>
<p>Những cuộc nổi dậy đều thuộc về lịch sử, nhưng một cách riêng biệt, chúng thoát ra khỏi lịch sử. Sự chuyển biến mà qua đó, một người đơn độc, một nhóm, một thiểu số, hay một dân tộc tuyên bố, “Ta không còn tuân lệnh nữa”, và sẵn sàng liều tính mạng trước loại quyền thế mà họ cho là bất công, trong mắt tôi có vẻ như không phải là một hiện tượng có thể dùng cách nào giản lược đi được. Đó là vì không quyền lực nào tuyệt đối ngăn ngừa được không cho nó xảy ra. Những khu ổ chuột của Warsaw sẽ cứ mãi nổi loạn và trong cống rãnh của nó sẽ luôn có những nguời kháng chiến<a name="_ftnref1_3042" href="#_ftn1_3042">[1]</a>. Nói đến tận cùng, về con người nổi loạn, chúng ta thật chịu không thể giải thích. Phải có một sự tróc rễ nào đó cắt ngang diễn biến tuần tự của lịch sử và chuỗi dài những nguyên cớ của nó, để cho một người “thật sự” ưa chuộng nguy cơ phải chết hơn sự tất yếu phải tuân lệnh.</p>
<p>Tất cả mọi hình thức tự do con người đạt đuợc hay yêu cầu, mọi quyền lợi họ đòi hỏi, kể cả liên quan đến những thứ có vẻ kém quan trọng nhất, có lẽ tìm thấy chỗ trụ cuối cùng ở đây, ở một cái gì rõ ràng và xác thực hơn “quyền tự nhiên”. Nếu các xã hội đứng vững và sống còn được, hay nói khác đi, nếu quyền lực trong những xã hội đó không phải “tuyệt đối một cách tuyệt đối”, đó là vì đằng sau mọi sự đồng thuận và ép buộc, vuợt trên mọi doạ dẫm, trên bạo lực, và sự thuyết phục, còn có khả năng dẫn đến khoảnh khắc này, khi mà cuộc sống không thể bị đánh đổi, khi quyền lực trở nên bất lực, và con người đứng thẳng dậy đối diện giá treo cổ và họng súng máy.</p>
<p>Bởi vì cuộc nổi dậy đứng cả “bên ngoài lịch sử” và bên trong lịch sử như trên đã nói, bởi vì sự sinh tử của mỗi người phải đem ra đánh cuộc, ta dễ hiểu vì sao những cuộc nổi dậy luôn tìm thấy sự diễn đạt và kịch tính của chúng ngay từ những hình thức tôn giáo. Qua nhiều thế kỷ, tất cả những hứa hẹn về cõi sau này hay sự tái sinh của thời gian, dù liên quan đến đấng cứu thế được mong ngóng, vuơng quốc của những ngày cuối cùng, hay sự trị vì của cái tận thiện cũng vậy, không tạo thành một lớp áo ý thức hệ. Thay vào đó, chúng chỉ định cách thức người ta sống và hành động ở trong cuộc nổi dậy, ít nhất là ở những nơi khi hình thức tôn giáo cho phép điều đó xảy ra.</p>
<p>Thế rồi chuyển sang thời đại của “cách mạng”. Hai thế kỷ qua, nó che lơ lửng<a name="_ftnref2_3042" href="#_ftn2_3042">[2]</a> bên trên lịch sử, sắp xếp nhận thức của chúng ta về thời gian, và chia rẽ những hy vọng ra thành các thái cực. Thời đại cách mạng đã tạo nên một nỗ lực phi thuờng để thích nghi các cuộc nổi dậy vào trong một lịch sử hợp lý và kiểm soát đuợc. “Cách mạng” đem lại một sự hợp pháp cho cuộc nổi dậy, phân loại những hình thức tốt và xấu, và ấn định những quy luật phát triển cho nó. Cách mạng thiết lập cho cuộc nổi dậy những điều kiện tiên quyết, mục tiêu, và cách thức kết thúc. Kể cả ngành chuyên môn đi làm cách mạng cũng đuợc ấn định. Nguời ta cho rằng, bằng cách trả nổi loạn vào trong vị trí đúng của nó giữa lý luận cách mạng, những chân lý của cuộc nổi dậy sẽ hiện ra và nó sẽ tiếp diễn đến kết cục thật của mình. Đó quả là một hứa hẹn tuyệt vời. Một số người sẽ nói là cuộc nổi loạn như thế coi như đã bị thống trị dưới nền chính trị thực tiễn (realpolitik). Số người khác sẽ nói là một chiều kích của lịch sử hợp lý đã mở ra cho nó. Tôi thì ưa thích câu hỏi của Horkheimer ngày truớc, một câu hỏi rất ngây thơ và hơi nóng nảy: “Nhưng có thật nó đáng ao ước đến thế không, cái cuộc cách mạng này?”</p>
<p>Nói đến sự bí ẩn của cuộc nổi dậy, đối với những người nhìn vào Iran không phải để thấy những “lý do sâu sắc” của đợt chuyển biến, nhưng để thấy cung cách người ta đã sống với nó; đối với những người cố tìm hiểu điều gì đã đến trong tâm trí những người đàn ông và đàn bà này khi họ liều tính mạng của mình, một điều nổi bật lên đập vào mắt họ. Họ đã khắc lên, trên đuờng biên giữa trời và đất, trong một lịch sử-giấc mộng (ND: ở chỗ này Foucault dùng một từ nối để diễn tả bản chất song trùng) mang nhiều tính tôn giáo ngang với tính chính trị, tất cả sự đói khổ, tủi nhục, sự thù hận đối với chế độ và ý chí triệt hạ nó của họ. Họ đối mặt với gia tộc Pahlavi, trong một cuộc chơi mà mỗi người phải tự đem tính mạng và cái chết ra đánh cuộc, cuộc chơi đồng thời có ý nghĩa nhờ vào sự hy sinh và những hứa hẹn thay trời chuyển đất. Và cứ thế mà dẫn đến những cuộc biểu tình đang được tuởng niệm ngày nay, lúc ấy đã có ngay một vai trò vô cùng quan trọng. Những cuộc biểu tình này cùng một lúc vừa phản ứng đanh thép với sự đe doạ từ quân đội (tới mức độ tê liệt hoá nó), vừa diễn tiến theo đúng nhịp điệu của những nghi thức tôn giáo, và sau cùng, quy về một tấn kịch bất tử từ muôn đời trong đó quyền lực luôn luôn bị nguyền rủa. Tấn kịch này tạo ra một sự song trùng bất ngờ trong khung cảnh giữa thế kỷ 20: một phong trào đủ mạnh để lật đổ được một chế độ nhìn có vẻ được vũ trang rất tốt, lại cũng đồng thời nối kết với một giấc mơ xa xưa mà có thời đã rất quen thuộc với phương Tây, cái thời mà ở đây người ta cũng từng muốn khắc chạm những biểu trưng tâm linh lên nền tảng chính trị học.</p>
<p>Sau bao năm bị kiểm duyệt và đàn áp, tầng lớp chính trị thì bị xỏ mũi, các đảng phái chính trị bị cấm đoán, và các nhóm cách mạng bị tàn sát, nếu không phải là tôn giáo, thì sự hỗn loạn và cuộc nổi dậy của khối dân chúng bị tổn thương vì những thứ “phát triển”, “cải cách”, “đô thị hoá” và những thất bại khác của chế độ còn dựa vào cái gì? Điểm này thì đúng, nhưng ta có thể trông đợi yếu tố tôn giáo tự lu mờ đi để nhường chỗ cho các lực lượng thiết thực hơn và các ý thức hệ đỡ “cổ xưa” hơn chăng? Có lẽ là không, vì một số lý do.</p>
<p>Đầu tiên, phải xét đến sự thành công nhanh chóng của phong trào, đã làm cho sự lựa chọn hình thức của nó được củng cố thêm. Có một sự đoàn kết xuất xứ từ cơ cấu của giới tăng lữ, những người có sức nắm quần chúng rất mạnh, và có những tham vọng to tát về chính trị. Phải xét đến bối cảnh toàn thể của phong trào Hồi giáo. Nhờ những vị trí chiến lược mà Hồi giáo nắm giữ, nhờ sự quan trọng về kinh tế của các quốc gia Hồi, và nhờ sức mạnh của phong trào khiến cho nó lan rộng ra hai lục địa, trong khu vực bao quanh Iran, nó tạo thành một thứ thực tại riêng quan trọng và phức tạp. Vì vậy, phần nội dung có tính biểu trưng của cuộc nổi dậy không tan biến vào ánh sáng ban ngày của cuộc cách mạng. Nó được du nhập ngay lập tức vào một khung cảnh chính trị có vẻ như dễ dàng tiếp nhận nó, nhưng trên thực tế lại có một bản chất hoàn toàn khác biệt. Tại khung cảnh này, những gì quan trọng nhất và những gì tồi tệ nhất trộn lẫn vào nhau – niềm hy vọng phi thường mong cải biến Hồi giáo thành một nền văn minh đương thời vĩ đại, với những lối bài ngoại độc địa, và cả những đe doạ quyền lợi toàn cầu, cũng như những tranh chấp khu vực. Rồi vấn đề chủ nghĩa đế quốc. Rồi vấn đề áp chế phụ nữ. Vân vân và vân vân.</p>
<p>Phong trào của người Iran đã không phải trải nghiệm “quy luật” của các cuộc cách mạng qua đó sự độc tài ngấm ngầm nằm ẩn sẵn trong mỗi cuộc cách mạng sẽ xuất đầu lộ diện từ đằng sau cơn cuồng nhiệt mù quáng của đám đông. [Tôn giáo,] cái tạo ra phần cốt lõi ở tận cùng bên trong, cũng như phần được tham gia hăng say và khích động nhất của cuộc khởi loạn, có tác động theo một cách tự phát, không hoạch định lên bàn cờ chính trị vốn đã đông nghẹt sẵn, nhưng tác động đó không làm thành lai lịch [của cuộc nổi dậy]. Ý hướng tâm linh của những người dấn bước đến với cái chết không có gì tương tự như một chế độ đẫm máu của các giáo sĩ cực đoan. Giới tăng lữ Iran muốn dùng những ý nghĩa mà cuộc nổi dậy đã viết nên để chứng thực cho chế độ của họ. Nếu bây giờ đi bác bỏ sự thật về cuộc nổi dậy ấy với cái cớ là ngày hôm nay đang tồn tại một chính quyền của các giáo sĩ thì cũng chẳng khác gì. Trong cả hai trường hợp, tồn tại một nỗi “sợ hãi”, nỗi sợ cái vừa mới xảy ra mùa thu năm ngoái tại Iran, cái mà đã từ rất lâu thế giới chưa từng nhìn thấy lại một trường hợp nào.</p>
<p>Chính tại điểm này, vì vậy, đặt ra sự cần thiết phải nhận chân những gì không thể giản lược đi được trong một phong trào như vậy, cũng như những gì là nguy cơ đe doạ nổi bật đối với mọi hình thức chuyên quyền, của ngày hôm nay lẫn ngày hôm qua.</p>
<p>Chắc chắn là không có gì đáng xấu hổ khi phải thay đổi quan điểm của mình, nhưng không có lý do gì coi đấy là một sự thay đổi quan điểm khi ta phản đối hình phạt chặt tay hôm nay sau khi đã chống lại những ngón nghề tra tấn của cơ quan SAVAK (mật vụ Iran cũ – ND) ngày hôm qua.</p>
<p>Không ai có quyền nói “Hãy nổi dậy cho tôi, tự do tối hậu cho mỗi người kéo theo đó”. Nhưng tôi không đồng ý với những ai cho rằng “Nổi loạn không ích gì cả, cuối cùng cũng sẽ trở lại y như cũ”. Người ta không thể kìm hãm những người đem tính mạng mình ra đối diện với quyền lực. Nổi loạn có phải là một việc đúng đắn hay không? Chúng ta hẵng để ngỏ câu hỏi này. Sự thật là con người vẫn nổi loạn, và qua việc này mà một tính chất chủ quan (không phải của những vĩ nhân, mà là của bất cứ ai) tự lộ diện trong lịch sử. Một người tù liều mạng chống lại cách trừng phạt bạo ngược, một người điên không không thể chịu nổi cảnh bị nhốt kín và đè áp thêm nữa, hay một dân tộc phản kháng một chế độ áp bức họ. Nổi loạn không làm cho loại thứ nhất thành vô tội, điều trị cho loại thứ hai, hay bảo đảm cho loại thứ ba những thành quả như đã hứa hẹn được. Cũng phải nói, không ai bị bắt buộc phải đứng ra đoàn kết với họ. Không ai bị bắt buộc phải cho rằng những giọng hát đang rối trí này hát hay hơn người khác, và nói lên được chân lý ở chiều sâu tận cùng của nó. Chỉ cần biết rằng họ tồn tại và họ bị bấy nhiêu thứ chống lại họ, tìm cách bịt miệng họ, là đủ cho việc lắng nghe họ và phát hiện điều họ muốn nói trở thành có ý nghĩa rồi. Một vấn đề luân lý chăng? Có lẽ vậy. Một vấn đề thực tiễn, chắc chắn. Tất cả những thất vọng, chán nản với lịch sử không thay đổi được điều này. Chính vì những tiếng nói này mà thời gian của nhân loại không mang dạng thức sự tiến hóa, mà là “lịch sử”.</p>
<p>Điều này gắn liền không tách ra được khỏi một nguyên tắc khác. Quyền lực mà người này áp đặt trên người kia luôn luôn nguy hiểm. Tôi không cho rằng quyền lực về bản chất là ác. Tôi muốn nói rằng quyền lực, do cơ chế của nó, là vô giới hạn (nhưng không phải vì thế mà vạn năng). Những luật lệ hạn chế nó không bao giờ có đủ sự cương quyết. Những nguyên tắc phổ quát không bao giờ đủ khắt khe để tước đoạt của nó tất cả những cơ hội mà nó chiếm giữ. Những điều luật tuyệt đối không được vi phạm và những quyền tuyệt đối không được giới hạn phải luôn luôn đối kháng lại với quyền lực.</p>
<p>Thời nay, các trí thức đã mất đi “thế giá” khá nhiều. Tôi nghĩ mình có thể dùng chữ này một cách khá chính xác. Vì thế, bây giờ không phải là lúc tuyên bố mình không phải là trí thức. Hơn nữa, nói ra như vậy sẽ làm bạn đọc cười. Tôi là một trí thức. Nếu có ai hỏi tôi quan niệm công việc mình làm như thế nào, tôi sẽ trả lời thế này. Con người chiến lược là kẻ sẽ hỏi “Cái chết này, tiếng kêu gào này, hay vụ nổi loạn này có quan hệ gì đến nhu cầu của tất cả mọi người, và đến cái nguyên tắc tổng thể này kia, trong hoàn cảnh đặc thù của chúng ta bây giờ?” Đối với tôi, con người chiến lược ấy là chính khách, là sử gia, là nhà cách mạng, là người theo phe Sa hoàng hay phe giáo chủ cũng như nhau, vì lý thuyết luân lý của tôi hoàn toàn trái ngược lại. Luân lý của tôi là “phản chiến lược”. Ta phải có sự tôn trọng mỗi khi một sự việc độc dị nổi lên, và sự cương trực ngay lập tức khi nhà nước vi phạm những điều phổ quát. Đây là một lựa chọn giản dị, nhưng công việc thì nặng nề: người ta phải tìm, ở phía dưới lịch sử một chút, để thấy những gì gián đoạn và kích động nó, và canh giữ, vào phía sau chính trị một chút, những gì giới hạn nó vô điều kiện. Nói gì đi nữa, đây là công việc của tôi. Tôi không phải người duy nhất hay đầu tiên làm việc này, nhưng tôi đã chọn lấy nó.</p>
<p> </p>
<p> </p>
<hr size="1" /><a name="_ftn1_3042" href="#_ftnref1_3042">[1]</a> Câu này có ý nhắc đến cuộc nổi loạn của khu ổ chuột Warsaw năm 1943 chống lại quân Đức quốc xã.</p>
<p><a name="_ftn2_3042" href="#_ftnref2_3042">[2]</a> Chú thích của Bernauer: động từ mà Foucault dùng, surplombé, có nghĩa xa gần liên hệ với khái niệm “thuợng tầng cơ sở” trong lý thuyết Marxist. Nó đồng thời còn có thể dịch là “đè nặng xuống”.</p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10531/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Kẻ s&#249;ng t&#237;n &#8211; chương 1</title>
		<link>http://damau.org/archives/10520</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10520#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 09 Jan 2010 08:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Eric Hoffer</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10520</guid>
		<description><![CDATA[Sự thật hiển nhiên là khi tham gia một phong trào cách mạng đang mọc lên, nhiều người đã bị thu hút vào đó vì viễn tượng của sự thay đổi đột ngột và hoành tráng trên những điều kiện sống của họ. Phong trào cách mạng vốn là công cụ dễ nhận thấy của biến chuyển.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em></em></p>
<p style="text-align: right"><em>Con người sẽ cố trở nên vĩ đại để rồi thấy mình nhỏ nhoi; cố hạnh phúc để thấy mình khốn khổ; cố hoàn hảo để thấy mình đầy khiếm khuyết; cố được người khác tin yêu để thấy những lỗi lầm của mình chỉ đem lại sự thù địch và khinh ghét. Nỗi hổ thẹn mà trong đó hắn tự nhìn thấy mình tạo ra trong hắn những khát vọng bất công và tội lỗi nhất có thể tưởng tượng ra được, bởi vì hắn nhận thức một nỗi thù hận đến mức sống chết với cái sự thật đã kết tội hắn và chứng minh cho hắn thấy những yếu kém của mình.</em></p>
<p style="text-align: right">PASCAL, <em>Tư tưởng      <br />&#160;</em></p>
<p style="text-align: right"><em>Và họ dùng chất nhựa để làm hồ vữa</em></p>
<p style="text-align: right">SÁNG THẾ KÝ, đoạn 11</p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>PHẦN 1 – SỰ HẤP DẪN CỦA CÁC PHONG TRÀO QUẦN CHÚNG</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>CHƯƠNG 1 – ƯỚC NGUYỆN MONG CÓ BIẾN CHUYỂN</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p>1. Sự thật hiển nhiên là khi tham gia một phong trào cách mạng đang mọc lên, nhiều người đã bị thu hút vào đó vì viễn tượng của sự thay đổi đột ngột và hoành tráng trên những điều kiện sống của họ. Phong trào cách mạng vốn là công cụ dễ nhận thấy của biến chuyển.</p>
<p>Kém hiển nhiên hơn, là việc những phong trào tôn giáo và dân tộc cũng có thể là những phương tiện đem lại thay đổi. Một sự hăng hái hay kích động nào đó lan rộng trong dân chúng rõ ràng là cần thiết để thực hiện được sự thay đổi rộng lớn và chóng vánh, và có lẽ không có gì khác biệt khi sự phấn khích xuất xứ từ hy vọng tìm thấy những của cải chưa từng ai biết đến, hay được gợi lên bằng một phong trào quần chúng đang tích cực hoạt động. Trên đất nước này (Mỹ), những thay đổi hoành tráng từ sau Nội chiến đã diễn ra trong một không khí nô nức hăng hái trước những cơ hội tiến thân tuyệt vời. Khi sự tiến thân không thể, hay không được phép, đóng vai trò động lực, những nguyên do làm cho người ta hăng hái khác phải được tìm ra, nếu muốn các thay đổi lũy tiến, tỉ như sự tỉnh thức và canh tân một xã hội trì trệ hay sự cải tổ từ gốc rễ những lề lối và tính cách của một cộng đồng, được thực hiện và duy trì. Các phong trào tôn giáo, cách mạng và dân tộc chính là những lò đốt nóng sự hăng hái của đại chúng theo kiểu đó.</p>
<p>Trong quá khứ, các phong trào tôn giáo đã là những công cụ nổi bật nhất đem lại thay đổi. Sự bảo thủ của một tôn giáo – phần chính thống của nó – chính là cặn bã tù túng của một thứ nhựa đã có thời vô cùng năng động. Một phong trào tôn giáo đang mọc lên thuần túy bao gồm thay đổi và thử nghiệm – rộng mở để tiếp nhận những quan điểm và kỹ năng mới từ khắp mọi nguồn. Hồi giáo khi mới xuất hiện là một trung gian cho việc tổ chức và hiện đại hoá. Thiên Chúa giáo từng là một ảnh hưởng văn minh hoá và hiện đại hoá cho những bộ lạc man rợ của châu Âu. Các cuộc Thánh chiến và cuộc Cải cách đều là yếu tố quan trọng trong việc làm phương Tây rung chuyển ra khỏi sự trì trệ của thời Trung cổ.</p>
<p>Trong thời hiện đại, những phong trào có liên quan đến việc những thay đổi rộng rãi và chóng vánh được thực hiện lại mang tính cách mạng hoặc dân tộc – hoặc đơn lẻ, hoặc tập hợp cả hai. Peter Đại đế có lẽ sánh ngang được, về mặt cương quyết, mạnh mẽ và tàn nhẫn, với nhiều lãnh tụ cách mạng hay dân tộc thành công nhất. Thế mà ông ta đã thất bại trong mục đích chính của mình, là biến nước Nga thành một quốc gia Tây phương. Và lý do ông ta thất bại là vì đã không bơm được vào cho dân chúng Nga một thứ nhiệt tình náo nức nào cả. Hoặc là ông không cho đó là cần thiết, hoặc ông đã không biết cách biến mục tiêu của mình thành một nghĩa vụ thiêng liêng. Không lạ lùng gì khi những người cách mạng Bolshevik đã quét sạch các Sa hoàng và con cháu Romanov lại cảm thấy một sự đồng điệu với Peter – một Sa hoàng và người họ Romanov. Chính vì mục tiêu của ông giờ cũng là của họ, và họ hy vọng thành công trong công cuộc mà ông đã thất bại. Trong lịch sử, cuộc cách mạng Bolshevik có thể được ghi nhận bằng hai cách có ý nghĩa tương đương với nhau: như ý tưởng muốn hiện đại hoá 1/6 địa cầu hoặc như ý tưởng muốn xây dựng một nền kinh tế Cộng sản.</p>
<p>Việc cả hai cuộc cách mạng Pháp và Nga đều chuyển sang thành các phong trào quốc gia chủ nghĩa dường như cho ta thấy rằng trong thời hiện đại, chủ nghĩa quốc gia là nguyên cớ phổ biến và bền vững nhất để khơi động sự nhiệt thành của quần chúng, và ngọn lửa quốc gia chủ nghĩa phải được khêu lên nếu muốn thực hiện được những sự thay đổi mãnh liệt từ gốc rễ đã được sự nhiệt thành cách mạng dự phóng và khởi xướng. Ta tự hỏi có phải những khó khăn mà nội các Lao động ở Anh quốc đang gặp phải, có phần nào là vì ý định thay đổi nền kinh tế quốc gia và cách sống của 49 triệu con người đã được khởi xướng lên trong một không khí tuyệt nhiên không còn chút gì là nhiệt huyết, hứng khởi và kỳ vọng. Sự phản cảm đối với những tai hoạ tái diễn do các phong trào quần chúng mới đây nhất đã làm các lãnh đạo văn minh và tử tế của đảng Lao động e ngại sự nhiệt tình cách mạng. Tuy nhiên, khả năng vẫn còn đó là các biến cố rồi cũng sẽ buộc họ phải dùng đến một dạng chủ nghĩa sô-vanh nhẹ, để cho ngay cả đối với nước Anh, “việc xã hội hóa quốc gia sẽ mặc nhiên có hệ quả là việc quốc gia hóa chủ nghĩa xã hội”<a href="#_ftn1_7687" name="_ftnref1_7687">[1]</a>.</p>
<p>Cuộc hiện đại hóa hiếm thấy trong lịch sử như của Nhật bản hẳn đã không thực hiện nổi nếu không có tinh thần phục sinh chủ nghĩa quốc gia Nhật. Có lẽ cũng đúng sự thật nếu nói rằng cuộc hiện đại hóa nhanh chóng trên vài quốc gia châu Âu (cụ thể là Đức) cũng được dọn đường tới một mức nào đó nhờ sự bộc phát và lan tràn cùng khắp cơn sốt chủ nghĩa quốc gia. Nhìn vào những dấu chỉ hiện tại, có thể đoán là sự hồi phục của châu Á sẽ thực hiện được nhờ tính công cụ của chủ nghĩa quốc gia hơn là bất cứ phương tiện nào khác. Chính nhờ cao trào chủ nghĩa quốc gia đúng nghĩa mà Kemal Atatũrk hiện đại hóa được Thổ Nhĩ Kỳ trong một sớm một chiều. Tại Ai Cập, [vì] không dính dáng đến phong trào quần chúng nào, cuộc hiện đại hoá thật chậm và lung lay, mặc dù những người cai trị, từ thời Mehmed Ali trở đi, đã đón nhận những ý tưởng của phương Tây, và các quan hệ của nước này với phương Tây đã có rất nhiều và rất mật thiết. Chủ nghĩa Zion (chủ nghĩa quốc gia Do Thái) là phương tiện đã canh tân một đất nước lạc hậu và chuyển hoá những chủ tiệm và người lao động trí óc thành người trồng trọt, công nhân và chiến binh. Nếu Tưởng Giới Thạch biết cách làm sao ra được một phong trào quần chúng đúng nghĩa, hay ít nhất, duy trì được cơn nhiệt thành chủ nghĩa quốc gia được sự xâm lăng của Nhật bản thắp lên, có lẽ bây giờ ông ta đang là người đảm nhiệm việc canh tân hóa Trung Hoa. Chính vì không biết cách, ông đã bị đẩy qua một bên dễ dàng bởi những bậc thầy trong nghệ thuật “tôn giáo hóa” – nghệ thuật biến những mục tiêu thực tiễn thành cứu cánh thiêng liêng. Không có gì khó hiểu trong việc Mỹ và Anh quốc (hay bất cứ nước dân chủ phương Tây nào) không thể có vai trò trực tiếp và hướng dẫn trong việc vực dậy những nước châu Á khỏi lạc hậu và tăm tối: các nền dân chủ không có cả khuynh hướng lẫn khả năng, có lẽ vậy, thắp lên một tinh thần phục sinh trên con số hàng triệu người châu Á. Sự đóng góp của các nền dân chủ phương Tây vào cuộc thức tỉnh của phương Đông thật ra chỉ có tính cách gián tiếp và rõ rệt là ngoài chủ ý. Họ đã thắp lên một sự hăng say oán ghét phương Tây, và chính cơn sốt chống phương Tây hiện nay đang vực phương Đông dậy sau hàng thế kỷ trì trệ<a href="#_ftn2_7687" name="_ftnref2_7687">[2]</a>.</p>
<p>Dù nguyện vọng muốn thay đổi không phải hiếm khi chỉ là một động cơ bề mặt, vẫn đáng cho chúng ta xem thử xem đào sâu vào ý hướng này có rọi thêm tia sáng nào lên những vận động nội tại của các phong trào quần chúng hay không. Vì vậy, chúng ta sẽ khảo sát tính chất của nguyện vọng này.</p>
<p>2. Trong chúng ta có một khuynh hướng muốn tìm thấy những tác động tạo ra tình trạng hiện hữu của mình ở bên ngoài bản thân. Khó tránh khỏi việc trong đầu chúng ta, thành công và thất bại bị liên hệ với hoàn cảnh sự việc xung quanh. Chính vì thế, những người đang thoả mãn nghĩ rằng đây là một thế giới tốt đẹp, và muốn giữ nó nguyên trạng, trong khi những người phẫn chí ủng hộ sự thay đổi. Khuynh hướng đi tìm tất cả lý do ở bên ngoài con người chúng ta vẫn hiện diện ngay cả trong những trường hợp mà rõ ràng tình trạng của chúng ta chính là do những phẩm chất cá nhân như khả năng, tâm tính, diện mạo, sức khoẻ, v.v. tạo ra. “Khi bất cứ cái gì dày vò con người,” Thoreau nói, “khiến anh ta không thể thực hiện những chức năng của mình, thậm chí cả khi anh ta đau bụng thôi chẳng hạn&#8230; anh ta liền hướng đến việc cải tạo cả thế giới”<a href="#_ftn3_7687" name="_ftnref3_7687">[3]</a>.</p>
<p>Chuyện những người thua thiệt đổ lỗi tại cuộc đời là điều dễ hiểu. Đáng nói ở chỗ là những kẻ thành công, dù hãnh diện đến đâu về tầm nhìn xa, nghị lực, sự tiết kiệm và những “chân giá trị” của mình đi nữa, ở tận đáy lòng cũng tin rằng thành công của họ là kết quả một sự kết hợp may mắn giữa các tình huống hoàn cảnh. Ngay cả với kẻ luôn luôn thành công, sự tự tin của họ cũng không bao giờ tuyệt đối. Họ không bao giờ tin chắc rằng mình nắm được tất cả mọi thành phần của công thức thành công. Đối với họ, thế giới bên ngoài giống như một bộ máy có thăng bằng rất bấp bênh, và khi nào nó còn chạy theo hướng có lợi cho họ thì họ rất lo sợ phải động chạm đến nó. Vì thế, sự cưỡng lại với thay đổi và ý nguyện cuồng nhiệt muốn có thay đổi thật ra có cùng một nguồn gốc, và cái nào cũng có thể mãnh liệt hệt như nhau.</p>
<p>3. Sự bất mãn tự nó cũng không nhất thiết tạo ra nguyện vọng đòi hỏi sự thay đổi. Còn phải có thêm những yếu tố khác, trước khi sự bất mãn đổi sang thành chống đối. Một yếu tố là sự cảm nhận được quyền lực.</p>
<p>Những kẻ lo sợ môi trường xung quanh không nghĩ đến chuyện thay đổi, dù hoàn cảnh có khốn khổ đến đâu đi nữa. Khi cuộc sống quá gieo neo đến mức người ta thấy rõ không có cách nào điều khiển được những tình cảnh hiện hữu của mình, chúng ta sẽ có khuynh hướng gắn vào với cái gì đã quen thuộc và hiểu rõ. Chúng ta hóa giải cảm giác bất an, bất trắc bằng cách biến cả cuộc đời mình thành một nề nếp, lối mòn cố định. Nhờ đó, ta có được cái ảo tưởng là đã thuần phục được cái bất thường. Các ngư dân, người du mục và dân cày đã quen được với thiên nhiên ngang ngạnh, người làm công việc sáng tạo lệ thuộc vào cảm hứng, kẻ man rợ khiếp sợ môi trường xung quanh – họ đều sợ thay đổi. Họ nhìn cuộc đời như nhìn một đoàn bồi thẩm có quyền tác phúc tác hoạ mặc tình. Kẻ nghèo mạt cũng vậy, nhìn cuộc sống với sự lo sợ và không mặn mà gì với thay đổi. Cuộc sống thật sự nguy hiểm khi ta luôn phải cận kề với đói và rét. Vì vậy, có một thứ tinh thần bảo thủ ở những kẻ khốn cùng hệt như ở những kẻ được ưu đãi, cái trước là một yếu tố đóng góp vào việc duy trì trật tự xã hội cũ cũng hệt như cái sau vậy.</p>
<p>Những kẻ lao vào việc thực thi các thay đổi to tát thường có cảm giác mình đang sở hữu một thứ quyền lực không thể cưỡng chống. Thế hệ đã làm nên Cách mạng Pháp có một ý niệm ngông cuồng về sự toàn năng của lý trí con người, và tầm vóc vô giới hạn của trí thông minh. Chưa có khi nào, de Tocqueville nhận xét, con người tự hào hơn thế về mình hay có nhiều niềm tin như thế về quyền năng của mình. Và hợp với niềm tự tin khuếch đại này là sự khao khát chung mong có biến chuyển tự động nổi lên trong lòng mọi người<a href="#_ftn4_7687" name="_ftnref4_7687">[4]</a>. Lenin và những người Bolshevik đã liều lĩnh lao đầu vào sự hỗn loạn của công cuộc xây dựng một thế giới mới đã mang theo niềm tin mù quáng vào sự vạn năng của chủ thuyết Marxist. Những người Quốc xã không có chủ thuyết nào có uy lực như vậy, nhưng họ đã có niềm tin vào một lãnh tụ bất khả bại, và niềm tin vào phương thức mới. Bởi vì khó tin được là chủ nghĩa Quốc xã đã có thể phát triển nhanh đến thế nếu không nhờ vào sự xác tín rúng động lòng người là những phương thức tốc chiến và tuyên truyền mới mẻ đã biến nước Đức thành vô địch.</p>
<p>Ngay cả ước vọng tỉnh táo mong muốn tiến bộ cũng được nuôi dưỡng nhờ vào niềm tin – niềm tin vào bản chất tốt đẹp tự nhiên của con người và vào quyền năng quảng đại của khoa học. Đây là thứ niềm tin ngạo mạn và báng bổ, không khác lắm với những người đã bắt tay vào “xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời” và những người tin rằng “chẳng có gì chúng định làm mà không làm được”<a href="#_ftn5_7687" name="_ftnref5_7687">[5]</a>.</p>
<p>4. Mới nhìn, ta có thể giả định là chỉ cần sở hữu quyền lực, con người tự nhiên sẽ sinh ra một cái nhìn tự mãn về cuộc sống và dễ chấp nhận thay đổi. Nhưng không phải lúc nào cũng thế. Kẻ hùng mạnh cũng có thể nhút nhát hệt như kẻ yếu thế. Cái có vẻ quan trọng hơn không phải là công cụ quyền lực mà là niềm tin vào tương lai. Những lúc quyền lực không đi chung với niềm tin vào tương lai, chủ yếu nó được dùng để xua đuổi cái mới và bảo toàn nguyên trạng các quyền lợi. Ngược lại, hy vọng to tát, kể cả khi không được quyền lực thực tế hỗ trợ, nhiều khả năng có thể dẫn đến hành động liều lĩnh bậc nhất. Đó là vì kẻ mang hy vọng tìm được sức mạnh từ những nguồn vớ vẩn nhất – một câu khẩu hiệu, một lời nói, một cái phù hiệu đeo trên áo. Không niềm tin nào có sức tác động nếu đó không phải là niềm tin về tương lai; nếu nó không đề cập đến một thứ thời đại hoàng kim. Một chủ thuyết có hiệu quả cũng thế: ngoài việc là nguồn sức mạnh, nó còn phải tự nhận mình là chìa khoá mở ra cuốn sách của tương lai<a href="#_ftn6_7687" name="_ftnref6_7687">[6]</a>.</p>
<p>Những người chuyển hoá một quốc gia hay thế giới không thể dùng cách khuấy động và dẫn dắt sự bất mãn hay cách trình bày sự hợp lý và ích lợi của những thay đổi đang nhắm đến, hay cưỡng bức người ta vào lối sống mới. Họ phải biết cách nhóm lên và thổi bùng một hy vọng to tát. Không cần biết đó là hy vọng về nước trời, về của cải và chiến lợi phẩm, về thành tựu rực rỡ hay sự thống trị thế giới. Nếu những người Cộng sản thắng được ở châu Âu và một phần lớn của thế giới, đó không phải vì họ biết cách khuấy động sự bất mãn hay lan truyền thù hận, mà là vì họ biết cách rao giảng hy vọng.</p>
<p>5. Như vậy, sự khác biệt giữa kẻ bảo thủ và kẻ đấu tranh nảy sinh chủ yếu từ thái độ họ đối với tương lai. Nỗi sợ đối với tương lai đẩy ta đến chỗ dựa vào và bám víu lấy hiện tại, trong khi niềm tin vào tương lai giúp ta dễ đón nhận chuyển biến. Cả giàu lẫn nghèo, mạnh lẫn yếu, kẻ đã thành đạt nhiều hay ít đều có thể sợ hãi tương lai như nhau. Khi hiện tại có vẻ hoàn hảo tới mức chúng ta chỉ còn nước mong muốn cho nó cứ tiếp diễn vào đến tương lai, thay đổi chỉ báo hiệu sự đi xuống. Vì thế, những người đạt được thành tựu vượt bậc và những người có cuộc đời toại nguyện, hạnh phúc thường ra mặt chống lại sự canh tân quyết liệt. Tính cách bảo thủ của những người tàn phế hay quá tuổi trung niên cũng mọc ra từ nỗi sợ tương lai. Họ luôn để tâm phát hiện những dấu hiệu của sự suy đồi, và cho rằng mọi thứ thay đổi đều đem lại điều xấu hơn chứ không phải tốt hơn. Kẻ nghèo mạt cũng không có niềm tin gì vào tương lai. Tương lai đối với họ giống như một thứ bẫy sập chôn trên con đường trước mặt. Đi trên đó phải bước một cách rón rén. Thay đổi sự việc đồng nghĩa với mời gọi thêm phiền phức.</p>
<p>Về phía những người đầy hy vọng: có vẻ như không có gì khác biệt giữa những loại người bị thâu tóm trong một thứ hy vọng cuồng nhiệt. Đó có thể là người trí thức phấn khích, người nông dân khao khát đất đai, tay đầu cơ làm giàu mau chóng, người nhà buôn hay kỹ nghệ gia tỉnh táo, người lao động tầm thường hay nhà quý phái – họ đều hành động một cách liều lĩnh bất cẩn đối với hiện tại, đập tan nó nếu cần thiết và tạo ra một thế giới mới. Có thể có cả cách mạng của giới có đặc quyền lẫn giới bị thua kém. Phong trào rào đất ở nước Anh vào thế kỷ 17 và 18 là cách mạng của người giàu. Kỹ nghệ làm len nổi lên đến một mức sinh lợi vượt bậc, và nuôi cừu đem lại lợi nhuận cao hơn trồng trọt. Các chủ đất đuổi tá điền đi, rào kín đất bỏ ngỏ cho công cộng và gây ra những biến chuyển nổi bật trên bình diện xã hội và kinh tế của đất nước. “Các lãnh chúa và quý tộc gây rối loạn trật tự xã hội, phá vỡ những luật và lệ cổ xưa, đôi khi bằng vũ lực, thường là bằng cách đe doạ và áp lực”<a href="#_ftn7_7687" name="_ftnref7_7687">[7]</a>. Một cuộc cách mạng khác của nước Anh xảy ra vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Đó chính là cách mạng Kỹ nghệ. Thứ hiệu năng làm người ta hoảng hồn của việc cơ giới hóa làm cháy bùng ngọn lửa trong đầu óc của các nhà buôn và nhà sản xuất. Họ khởi sự một cuộc cách mạng “cực đoan và quyết liệt ngang với bất cứ cuộc cách mạng nào khác do các bè phái bị kích động”<a href="#_ftn8_7687" name="_ftnref8_7687">[8]</a>, và chỉ trong một thời gian tương đối ngắn, những công dân đáng trọng vọng, kính sợ Chúa này đã biến đổi bộ mặt nước Anh ngoài sức nhận ra.</p>
<p>Khi các hy vọng và giấc mơ tung hoành trên đường phố, những người nhút nhát có lý khi đóng chặt cửa, kéo kín rèm và nằm yên chờ cơn bạo động đi qua. Bởi vì lúc nào cũng vậy, có một sự bất tương xứng ghê gớm giữa các ước vọng, dù là tử tế và cao cả đến đâu đi nữa, với hành động đi sau chúng. Cảnh này giống như những kim đồng ngọc nữ (nguyên văn: <em>các nàng trinh nữ trên đầu dắt lá trường xuân và các chàng trai đội vòng hoa</em>) đi mở đường tiên báo cho bốn kỵ mã ngày tận thế.</p>
<p>6. Để đi đến chỗ lao mình vào thực hiện những biến chuyển rộng lớn, con người phải ở trong tình trạng bất mãn cao độ, nhưng lại không phải khốn cùng, và họ phải có cái cảm thức là nhờ có được một chủ thuyết đủ thực lực, một lãnh tụ bất khả bại, hay một phương pháp mới nào đó, họ đã chạm được vào một nguồn sức mạnh không ai cưỡng chống nổi. Họ cũng còn phải có một ý niệm thật ngông cuồng về viễn ảnh và những khả năng của tương lai. Cuối cùng, họ phải mù tịt hoàn toàn về những khó khăn liên quan đến dự định to tát của họ. Kinh nghiệm là một thứ bó buộc hành động. Những người khởi xướng cách mạng Pháp chẳng ai có kinh nghiệm chính trị gì cả. Người Bolshevik, Quốc xã, hay các nhà cách mạng châu Á cũng thế. Con người có kinh nghiệm về công việc là kẻ sẽ đến sau. Anh ta tham gia vào phong trào khi nó đã trở thành một công cuộc trên đà diễn tiến. Có lẽ là vì kinh nghiệm chính trị đã làm người Anh ngại ngần với những phong trào quần chúng.</p>
</p>
<hr size="1" /><a href="#_ftnref1_7687" name="_ftn1_7687">[1]</a> E.H.Carr, <em>Chủ nghĩa quốc gia và Tiếp theo nó</em>. (New York, Công ty MacMillan, 1945) trang 20.
</p>
<p><a href="#_ftnref2_7687" name="_ftn2_7687">[2]</a> Coi cuối phần số 104.</p>
<p><a href="#_ftnref3_7687" name="_ftn3_7687">[3]</a> Henry David Thoreau, <em>Walden</em>, ấn bản Thư viện Hiện đại. (New York: Nhà Random, 1937), trang 69.</p>
<p><a href="#_ftnref4_7687" name="_ftn4_7687">[4]</a> Alexis de Tocqueville, <em>Về tình trạng xã hội Pháp trước Cách mạng 1789</em>. (London: John Murray, 1888) trang 198-199.</p>
<p><a href="#_ftnref5_7687" name="_ftn5_7687">[5]</a> Sáng thế ký, đoạn 11, câu 4, 6.</p>
<p><a href="#_ftnref6_7687" name="_ftn6_7687">[6]</a> Coi đoạn 58</p>
<p><a href="#_ftnref7_7687" name="_ftn7_7687">[7]</a> Karl Polanyi, <em>Cuộc chuyển hoá vĩ đại</em>. (New York, Công ty Farrar và Rinehart, 1944) trang 35</p>
<p><a href="#_ftnref8_7687" name="_ftn8_7687">[8]</a> Như trên, trang 40.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10520/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tấm thẻ ghi gi&#225;</title>
		<link>http://damau.org/archives/10471</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10471#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 04 Jan 2010 08:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Thiện Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện chớp]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10471</guid>
		<description><![CDATA[Đáng lẽ cô phải hiểu ra từ lúc nãy. Nhưng dù sao cô vẫn là người thông minh.<br />Tấm thẻ ấy đã được chỉ định cho cô. Nó trở thành một thứ tên thánh thị trường ban cho cô tại đây, lúc này. Cho một trò chơi, một nghi lễ trình diễn mới.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Máu nóng dồn lên mặt, cô ném chiếc hộp rỗng xuống bàn. Tấm thẻ ghi giá lăn ra ngoài, chiếu lấp lánh lên mặt cô, khiêu khích.</p>
<p>Cô đẹp, lịch lãm và giỏi ngoại ngữ. Bằng vào những cái đó, cô không cho phép ai trong công ty này cư xử như vậy với mình. Sáng nay vừa bước vào văn phòng, trên mặt bàn của cô đã thấy để sẵn một chiếc hộp, dáng rất thanh nhã. Cầm nó lên, các ngón tay cô thoang thoảng một loại hương thơm. Chiếc hộp nhẹ bỗng một cách đáng ngờ. Mở ra, y như rằng nó trống rỗng.</p>
<p>Sự trống rỗng làm cô cảm thấy mình bị xúc phạm đến nghẹn giọng. Đến mức không thể nhìn cái hộp thêm một giây nào. Giải thích thế nào cho một cô gái sinh trưởng trong gia đình khá giả hơn, quen được nhận quà hơn cô hiểu được? Nó bẽ bàng như khi được chào hỏi bằng nụ cười đầy cảm tình và liền theo là cái nhăn mặt kín đáo (nhất là trong nghề này). Như cái bong bóng đẹp đẽ bị chọc thủng thành xác tả tơi, nó chọc vào chỗ nhạy cảm của cô. Đối với cô, nó là hình bóng xa xưa của một thời hứng chịu nhiều thiếu thốn bất công và trò đùa tai quái.</p>
<p>Trong cái hộp chỉ còn tấm thẻ ghi giá, và mảnh giấy, nét chữ viết tay, của xếp cô “Tôi nghĩ em nên đeo nó hôm nay”. Hôm nay. Hẳn nhiên rồi, công ty đã hao tốn như vậy là muốn cô được chói sáng trong buổi tiếp tân thượng khách. Đã cố tạm thời không nghĩ đến nữa, nhưng ý nghĩ không biết vật bị lấy đi là cái gì chờ chực để hành hạ cô. Chắc hẳn tên xếp nổi tiếng sành điệu đã đích thân chọn lựa. Cái giá tiền có thể nói là một gia tài nhỏ. Sự quan trọng “chết người” (lời tên xếp) của vụ làm ăn này. Chỉ lỡ vài phút mà có thể cô đã vuột mất một trong những khoảnh khắc sáng chói của cuộc đời mình. Mà đời mình thì có được mấy lần sáng chói. Chẳng lẽ tất cả phù du đến vậy sao?</p>
<p>Việc làm thông minh nhất lúc này là giữ cho ý nghĩ mình tập trung vào việc đoán ra thủ phạm. Vả lại, cảm giác thù hận dù sao cũng dễ chịu hơn tiếc xót. “Mình không có kẻ thù nào; vô số người ghét mình, nhưng không nhiều hơn ở đây họ vẫn ghét nhau”. Chỉ còn khả năng những kẻ tình cờ đi ngang, và các bạn cô thường tạt vào chơi… “Đồ gian tham!” (ấy là loại thứ nhất) và “Đồ phản phúc!” (số còn lại). Những cái tên tiếp tục hiện lên, phân loại của chúng càng lúc càng lộn xộn… Chẳng bao lâu sau “đến nửa cái công ty này, không biết nên gọi là đồ gian tham hay phản phúc!”</p>
<p>Cô xô đổ nháo nhào cái mớ tình nghi trong đầu mình một cách hung bạo, ước ao giá chúng thật sự đang bò lổm nhổm trên mặt đất để mình có thể dùng chân dày xéo. Mệt mỏi, cô ngồi phịch xuống ghế, đầu gục lên bàn. Chẳng cần biết nó là cái gì nữa, chẳng cần biết ai lấy trộm nữa. Giờ phút này cô chỉ muốn cả thế giới hãy tránh ra cho xa, hãy quên đi sự hiện diện của cô, để cô lại một mình nơi này. Cô không còn đủ can đảm gặp mặt thêm bất cứ người nào.</p>
<p>Gã xếp đã ghé sang phòng cô chuyện gẫu. Đây không phải lệ phổ biến. Gã chỉ biệt đãi ai làm được việc.</p>
<p>Đáp lại cái chào uể oải, gã đưa mắt nhìn vào chiếc hộp, giọng ấm áp, quan tâm:</p>
<p>- Em sao thế? Chắc là vì cái này?</p>
<p>- …. (cô tìm chưa ra hơi).</p>
<p>- Em cũng thông cảm. (Gã nắm nhẹ lấy hai bàn tay cô), đối tác lần này là loại bổ củi, dân cự phú ở bên họ, nhưng vẫn còn ưa hống hách ỷ tiền và chủ cả lắm. Họ chưa tập được thói quen ăn chơi phong nhã, trân trọng phụ nữ đâu. Thôi thì đã đi với ma… Tôi hứa sẽ có cách đền bù cho sự khó chịu của em.</p>
<p>Trầm và chậm hơn – khi gã muốn chém đinh chặt sắt:</p>
<p>- Mình là nơi làm ăn, cái gì ra tiền được cũng phải làm hết, nói gì là mặt mũi, để sau. Cả một gia tài nhỏ chứ ít đâu mà bỏ qua.</p>
<p>Đáng lẽ cô phải hiểu ra từ lúc nãy. Nhưng dù sao cô vẫn là người thông minh.</p>
<p>Tấm thẻ ấy đã được chỉ định cho cô. Nó trở thành một thứ tên thánh thị trường ban cho cô tại đây, lúc này. Cho một trò chơi, một nghi lễ trình diễn mới.</p>
<p>Nghe nữa thì tọc mạch vào chuyện người khác làm ăn. Nhà văn đã rời khỏi văn phòng nhân vật. Nguồn cơn từ đầu dẫn đến sự chậm hiểu, hay phản ứng tiếp theo là gì, đành tùy nơi độc giả…</p>
<p>Đường phố rộng mở thênh thênh. Giờ đang buổi sáng. Ngoài trời, nắng tưng bừng qua tán lá sáng bóng, chiếu vào các khung kính đằng sau thấp thoáng vô số bóng người miệt mài làm việc. Ban ngày thành phố thật quang đãng. Chỉ có mỗi cái guồng quay vô hình lặng lẽ vươn xa vươn rộng, xuyên qua những toà nhà, dãy phố, dịch chuyển những bánh răng, đinh ốc trơn tru sáng loáng vẻ cổ cồn cà vạt, bán mua, đổi chác gọn ghẽ tiện lợi trên số phận con người.</p>
<p>Chiều xuống. Dòng xe ùn tắc tại những ngã tư. Khói bụi vật vã, táp sạm mặt người. Nhiều cô yếu tay ga, giờ này, đi về đã quen mà chốc chốc vẫn phải dáo dác nhìn quanh tìm lối rẽ. Ở đây <em>gà mái cũng như đàn bà, ra khỏi nhà là lạc lối</em>.</p>
<p>Đêm. Thành phố lại chói loá ánh đèn, tưng bừng nhịp sống phồn vinh không bao giờ ngủ. Ánh sáng và âm thanh lẫn lộn vào nhau nào là xa hoa, sang trọng, nào là trụy lạc, dâm ô, nào là lịch lãm, cầu kỳ, nào là say sưa, cuồng loạn.</p>
<p>Đang thời buổi toàn cầu hóa ồ ạt, tự tin. Tất cả mọi việc đều là chuyện có thể.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10471/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khi vui th&#236; vỗ tay v&#224;o&#8230;</title>
		<link>http://damau.org/archives/9486</link>
		<comments>http://damau.org/archives/9486#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 13 Oct 2009 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Trần Thiện Huy</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Da Màu và Bạn]]></category>
		<category><![CDATA[Phiếm luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/9486</guid>
		<description><![CDATA[Tôi quay về lại Da Màu, mảnh đất văn học quen thuộc của mình. Có một cái gì đó, hay sự vắng bóng một cái gì đó, không thể nhận dạng và gọi tên, lởn vởn bên trên không gian của Da Màu những ngày gần đây. Giữa tấn kịch này chúng ta đang ở đâu? Hãy tạm không nói đến nội dung bài vở. Tôi đếm lại các nhận xét phản hồi (comments) suốt tuần qua. Có khoảng 30 phản hồi như vậy...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote><p>(Bài này được viết vào ngày 6 tháng 10 năm 2009, vì vậy xin độc giả lùi về thời điểm tuần trước để đối chiếu những sự việc được nhắc đến trong bài.)</p></blockquote>
<p>Câu chuyện về Edgardo Mortara là một trang bị che khuất trong quyển lịch sử châu Âu thời cận đại, một điều hơi khó hiểu kể cả khi ta đã xét đến việc có bao nhiêu người châu Âu hiện nay thật lòng mong muốn nó bị chôn vùi vào quên lãng. Khó hiểu và cũng đáng tiếc vô cùng là đằng khác, bởi vì biến cố này đã là một mắt xích vô cùng quan trọng trong chuỗi nguyên nhân hình thành ra bộ mặt của thế giới ngày nay; do đó, nó đã trở thành một bài học mà đánh mất đi rồi, chúng ta sẽ phải chịu những thiệt hại về mặt tri thức lịch sử. Nếu như trong bộ môn ứng xử chính trị, hoặc ứng xử văn hóa, có cái gì đó giống như là những ngụ ngôn có thật thì câu chuyện này nhất định xứng đáng được coi như một trong số đó; và thuật lại nó như một ngụ ngôn cũng là ý định của tôi ở đây để hầu chuyện độc giả.</p>
<p>Ngày 23 tháng 7 năm 1858, tại một ngôi nhà thuộc thành phố Bologna, – lúc bấy giờ còn là lãnh thổ của Giáo hoàng &#8211; cảnh binh ập tới khám xét và bắt đi, theo lệnh của Tòa án dị giáo, một trong tám đứa con của người lái buôn Do thái Momolo Mortara: cậu bé Edgardo lên sáu tuổi. Lý do của lệnh bắt là vì cậu bé đã được rửa tội, và giờ đây trở thành một người Công giáo, mà theo giáo luật thì không thể được nuôi dạy trong gia đình ngoại đạo. Số là một lần cậu bé bệnh thập tử nhất sinh, chị vú nuôi theo Công giáo đã bí mật làm lễ rửa tội cho cậu, với thiện ý mong cậu lên được nước Thiên đàng. Chuyện đã được trình báo tới tai các giới chức giáo quyền, và mặc cho cha mẹ cậu khẩn thiết van xin, Edgardo bị mang đi tới nuôi dạy ở một biệt xá giành cho các tân tòng.</p>
<p>Giáo hoàng thời đó là Pius IX đích thân chú ý đến trường hợp Edgardo. Ông tuyên bố sẽ coi cậu bé như con của mình, và chứng tỏ cho bên ngoài biết rằng cậu rất hài lòng với cuộc sống bên cạnh ông. Cha mẹ của cậu lúc bấy giờ chỉ còn được cho phép đến thăm con trong thời hạn có chừng mực nhất định. Chẳng bao lâu, sự bất bình của họ đã lan truyền đi khắp nơi và được sự hưởng ứng mạnh mẽ của giới cấp tiến châu Âu. Dưới áp lực dư luận, chính phủ các nước Anh, Đức, Áo và Pháp phải đồng lên tiếng phản đối hành động của Giáo hoàng – trong đó có cả Hoàng đế Pháp Napoleon đệ Tam, người đang cho quân đồn trú chung quanh La Mã để bảo vệ Giáo hoàng chống lại những đạo quân muốn giải phóng lãnh thổ này và thống nhất nước Ý.</p>
<p>Đối với những người cách mạng Ý, đây đã là một biến cố trọng đại, một cái cớ nổi bật để khích động sự ủng hộ của quần chúng. Nó đã chứng minh hùng hồn rằng sự cai trị của Giáo hoàng trên những mảnh đất Ý là một tàn tích man rợ của thời Trung Cổ, và thuyết phục lòng người như một đứng lên lật đổ giáo quyền. Nhờ vào dư luận ở Anh và Pháp, quốc gia Piedmon, lực lượng lãnh đạo phong trào quốc gia Ý đã thành công trong thương thuyết ngoại giao để thực hiện cuộc tấn công sáp nhập các lãnh thổ dưới quyền Giáo hoàng năm 1859. Đến năm 1870, sau khi chỉ còn La Mã trơ trọi trong tay Giáo hội, và sau khi quân đội Pháp đã rút khỏi tuyến phòng thủ chung quanh đó – quyết định mà nhiều sử gia cho rằng chịu ảnh hưởng dư luận bất mãn với Giáo hoàng vì chuyện Edgardo Mortara – quân đội quốc gia Ý tấn công và giải phóng nốt La Mã. Nước Ý hoàn toàn thống nhất.</p>
<p>Số phận của Edgardo Mortara tại sao lại gợi lên được sự đồng cảm quá rộng lớn từ giới nhân sĩ trí thức, ảnh hưởng đến cả các trung tâm quyền lực thời bấy giờ, vốn có những quyền lợi, văn hoá và tôn giáo hoàn toàn khác biệt? Lý do chính là sự trùng hợp về thời điểm của nó với cao trào khai phóng ở châu Âu, cho nên mặc nhiên nó được hai bên cùng ấn định thành trận đấu để thử thực lực và quyết tâm giữa trào lưu hai thời đại, hai hệ tư tưởng, hai hệ thống xác tín thiêng liêng: một đằng vào giáo lý với một đằng vào giá trị tối cao là con người. Về phía cấp tiến, họ đã đủ sáng suốt để nhận ra rằng, muốn cho những giá trị duy lý và nhân bản của mình thay đổi hoàn toàn thế giới, họ phải tập nhìn CON NGƯỜI như một định nghĩa chung, không còn lệ thuộc vào họ là Công giáo, Tin lành, Anh giáo hay Do thái; và họ phải chiến đấu không khoan nhượng với một thời đại tăm tối đang điên cuồng bảo vệ chỗ đứng cuối cùng<a name="_ftnref1_3340" href="#_ftn1_3340">[1]</a>, biến cuộc đấu tranh của một gia đình thành một cơ hội để đập tan sự kìm hãm của nó. <strong>Sự tôn trọng nguyên tắc tuyệt đối, sự đồng cảm những tương quan giữa người với người</strong>, là lý do cuộc chiến đấu này, dù để bảo vệ một gia đình xa lạ, đối với họ đã trở thành khẩn thiết và không cách nào thoả hiệp.</p>
<p>Khía cạnh khẩn thiết về mặt nhân đạo ấy thật lu mờ khi so sánh với thời đại của chúng ta. Một đằng là nguyện vọng được sum họp với con cái của một gia đình, là giải thoát một đứa bé đang được sự quan tâm chăm sóc của đích thân vị lãnh đạo uy quyền của Giáo hội, được cho ăn học trong những điều kiện tốt nhất, và thoả mãn với cảnh sống đó đến nỗi năm 1870, khi La Mã được giải phóng, Edgardo đã chính thức tuyên bố không muốn trở lại gia đình mà tiếp tục tu học để trở thành giáo sĩ Công giáo. Còn một đằng là một chuỗi thảm kịch, bắt đầu từ những cuộc khiếu kiện đòi đất liên tục hơn 10 năm qua, những phản ứng cùng đường của người dân thiểu số, cho đến Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, sau cùng là tu viện Bát Nhã dồn dập những ngày gần đây. Mười năm trời chồng chất bao nhiêu cảnh tủi nhục, oan khiên, bao nhiêu sự vô luân bạo ngược dưới đủ hình thức, với không ít lần đổ máu.</p>
<p>Mỗi một biến cố đánh dấu một cuộc đấu tranh mới, một nhân dạng nạn nhân mới. Chìm trong cái bóng tối bao la đằng sau đó, hẳn là còn vô số những áp bức bất công khác được che dấu bằng sự im lặng bất lực. Cái ác hiện diện trên đời này như một phạm trù tổng quát theo cái nghĩa là không ai có thể chắc chắn mình được vĩnh viễn miễn trừ không phải làm nạn nhân của nó khi nó có cơ hội; điều kiện giúp nó tiếp tục hiện diện chính là việc con người luôn luôn tự đặt mình ra ngoài cuộc cho đến khi nào đến lượt mình trở thành nạn nhân. Có một sự im lặng nhiều ý nghĩa từ phía những nạn nhân của ngày hôm nay đối với bất công ngang trái khi nó xảy ra vào hôm qua, và dĩ nhiên, một sự im lặng tương xứng từ những nạn nhân mới ngày hôm qua khi luồng gió bạo ngược tiếp tục cuộc hành trình, để ập xuống đầu những con người mới. Ở cương vị thiếu thốn thông tin của mình, tôi không hiểu rõ lắm lý do tại sao, chẳng hạn, Hoà thượng Quảng Độ giữ thái độ im lặng khi các linh mục và giáo dân bị đánh đập ở Tam Toà, hay khi chư Tăng sĩ đồng đạo được đón tiếp bởi “đám đông tự phát” ở Bảo Lộc, những việc mà dù gì đi nữa thì đúng sai cũng đã rõ ràng (trong khi ông được nhiều người Việt Nam cảm phục vì đã có mặt để hỗ trợ những dân oan khiếu kiện ở Sàigòn). Cũng vậy, tôi không hiểu tại sao chưa thấy một giới chức Công giáo nào có thái độ mạnh mẽ chia xẻ những tương đồng về cảnh ngộ với Tin lành Tây Nguyên bao năm qua, qua đó cùng kết hợp lại quyền lợi thiết thực và nguyên tắc chính trực của các bên “anh em trong Chúa Ki-tô” về cái gọi là tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tôi còn nghe nói đến những lý do mà vì đó, việc các dòng tu lớn ở Việt Nam không đả động gì đến việc dòng Chúa Cứu thế đòi đất ở các nơi không phải là chuyện thận trọng hay ngẫu nhiên, nhưng vì chưa xác nhận được, và có lẽ cũng không cần thiết, hãy tạm gác những lý do đó qua một bên và hy vọng rằng, là những người thông thạo tiếng Latin, các vị lãnh đạo dòng tu nói trên nhớ rất rõ câu ngạn ngữ “<em>Homo sum: humani nil a me alienum puto</em>”: tôi là người, không có gì thuộc về con người là xa lạ với tôi – kể cả những đau khổ của họ. Và những chuyện “tôi không biết” hoặc “tôi nghe nói” như vậy, buồn thay, có thể kể ra rất nhiều&#8230;.</p>
<p>Dĩ nhiên, đứng bên cạnh tha nhân trước mặt áp bức bất công là một hành động mà người ta thường là trù trừ, hoặc ít nhất cũng cần suy tính kỹ càng, vì đó có thể đồng nghĩa với một cam kết ảnh hưởng đến cả cuộc đời,với sự chấp nhận các xáo trộn và phương hại, đồng nghĩa với nguy cơ bị thiện ý dẫn đường vào cạm bẫy, cho nên sự đắn đo cân nhắc, kể cả sự thoái thác, vô can là một quyền tự nhiên mà ai cũng phải tôn trọng. Nhưng dù sao, &#8220;<em>fiat justitia ruat caelum</em>&#8220;, cần phải bảo vệ công lý dù vì thế mà tầng trời sụp đổ, một xã hội vắng bóng những tiếng nói lý tưởng, thiếu vắng sự đồng khí liên chi giữa người với người là một xã hội chết chóc. Thiền sư Nhất Hạnh đáng lẽ ra đã phải nhìn thấy trước (hay nếu đòi hỏi như vậy là quá đáng, phải lo sợ trước) ngày này, và phải có những thái độ “thố tử hồ bi” hơn trong nhiều trường hợp, nhất là nếu có đọc lại những gì chính ông đã viết:</p>
<p>“<em>Tôi không ngủ được, một phần do nghĩ tới chùa Ấn Quang, đầu não của Giáo Hội, hiện giờ là một ngôi chùa hoang. Có lẽ Hà Nội lý luận rằng: Mỹ mà họ không sợ thì sợ gì chùa Ấn Quang? Họ lầm. Mỹ là Mỹ. Ấn Quang là dân. Ấn Quang không đơn độc trong cuộc đấu tranh. Dân chúng cùng khổ với Ấn Quang, thất vọng và hy vọng với Ấn Quang, thì Hà Nội không thể coi thường Ấn Quang. Quý thầy hiện nay trốn tránh ở đâu? Trong nước còn chưa biết, nữa là ngoài nước</em>!”<a name="_ftnref2_3340" href="#_ftn2_3340">[2]</a></p>
<p>Nếu hy vọng là dân chúng sẽ cùng đấu tranh “<strong>vì</strong>” Ấn Quang, thì đó chỉ là một ý viển vông trong cơn tuyệt vọng. Nhưng nếu mong rằng dân chúng sẽ đấu tranh “<strong>với</strong>” Ấn Quang, chính là ông đã đúc kết được nhu cầu luân lý thực tế của xã hội Việt Nam. Vấn đề ở đây không phải là ở chỗ Ấn Quang; vấn đề là ở chỗ dân chúng phải “cùng khổ, cùng thất vọng và hy vọng” với Cao Đài, Hoà Hảo, với Làng Mai &#8211; Bát Nhã của chính ông, với Giáo phận Vinh, bất cứ nơi đâu con người đứng lên đòi công lý và lẽ phải. Và chính Ấn Quang, cũng như những đoàn thể, thực thể vừa nói, cũng phải nằm trong cái “dân chúng” ấy, một cái toàn thể cao cả hơn những thực trạng cục bộ của chúng ta, đẹp đẽ như trong thơ Đỗ Phủ:</p>
<p><em>An đắc quảng hạ thiên vạn gian, </em><br />
<em>Đại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan, </em><br />
<em>Phong vũ bất động an như sơn! </em><br />
<em>Ô hô! hà thì nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc, </em><br />
<em>Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc!</em></p>
<p>(Có được vạn gian nhà cho kẻ hàn sĩ trong khắp thiên hạ, thì dẫu nhà riêng ta tan tành, thân ta chết cũng vui lòng).</p>
<p>Tôi nghĩ đến những con người châu Âu kia đã quan tâm tha thiết đến số phận một gia đình Do thái xa lạ, đến không biết có bao nhiêu người Ý đã đứng lên cầm súng chiến đấu theo tiếng kêu gọi hành động để cho cảnh ngang trái không còn xảy ra với một gia đình Do thái nào khác nữa, và tôi nghĩ về ý nghĩa của văn hoá, văn minh. Văn hoá nằm trong cả những biểu hiện rất nhỏ, nhưng rất ấm áp, như việc ngả mũ chào một chiếc xe tang đi ngang qua mặt mình. Đó là biểu hiện ý thức cộng đồng, là hành động vô thức gắn kết thêm quan hệ cộng sinh giữa những người láng giềng, đúng thế, nhưng nó còn có những gốc rễ sâu xa hơn. Gốc rễ từ niềm tin vào tấm gương của Jesus, lúc chấp nhận con đường thánh giá nơi vườn Gethsemane vì nhân loại. Gốc rễ từ bài giảng về tiền kiếp của Thích Ca, đã cắt thịt nuôi chim ưng mà cứu bồ câu. Triết lý của nó là đại bi, bác ái, là cộng nghiệp, là cây thập giá để chịu đóng đinh mặc dù đã bị giới tăng lữ giảm thiểu xuống chỉ còn dùng để “vác mà theo thầy”, là “con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”&#8230; Thế giới đã không bao giờ có văn minh, nếu không có cái mà tâm lý người Việt chúng ta đôi khi khinh khỉnh gọi là “chuyện bao đồng”.</p>
<p>Và có lẽ chúng ta có thể hy vọng rằng, khi sóng gió tạm yên xung quanh Bát Nhã, 400 vị tu sĩ, tu sinh sẽ nghĩ đến những ký ức hôm nay như một cửa ải huấn luyện niềm tin của mình vào nhân loại. Họ sẽ sống lại những bài học của nó, khi nào tương lai đưa đến cho họ những lời kêu gọi tiếp viện giống như chính những gì họ đã từng gửi ra bên ngoài giữa một mùa mưa ác nghiệt “<em>Hơn bao giờ hết, trong lúc này, chúng tôi rất cần đến sự giúp đỡ của các bạn. Chúng tôi đang cần những tấm lòng và khối óc của các bạn</em>.”</p>
<p>Bạn đọc của Da Màu thân mến,</p>
<p>Độc giả sẽ chứng tỏ một khả năng cảm thụ văn học rất tồi nếu như đọc “<em>Số đỏ</em>” và cho rằng những ông Văn Minh, ông Typn, cụ cố Hồng, v.v. là những con người lập dị, cá biệt. Cũng vậy, nếu người ta quan sát tấn kịch tu viện Bát Nhã ngày hôm nay như một tranh chấp giữa các nhân vật 400 tu sinh, vài vị tăng sĩ và các cán bộ, chức sắc chính quyền, mà không thấy bóng dáng mình đứng ở đâu đó trên sân khấu. Văn học có thể là những gì riêng tư nhất, nhưng người quen cách diễn dịch văn học phải biến mỗi khoảnh khắc trong tình huống, trong nhân vật thành một cái gì đó khái quát, thuộc về tất cả mọi người, và nếu như văn học thật sự có làm được gì chăng để phục vụ cho nhân loại, thì chỉ là chức năng truyền đạt lại cách diễn dịch đó mà thôi. Cho đến hôm nay, môi trường văn học của chúng ta đã làm được gì trong công việc phổ biến và khái quát hoá số phận của những nhóm người bị áp bức riêng lẻ? Tôi quay về lại Da Màu, mảnh đất văn học quen thuộc của mình. Có một cái gì đó, hay sự vắng bóng một cái gì đó, không thể nhận dạng và gọi tên, lởn vởn bên trên không gian của Da Màu những ngày gần đây. Giữa tấn kịch này chúng ta đang ở đâu? Hãy tạm không nói đến nội dung bài vở. Tôi đếm lại các nhận xét phản hồi (comments) suốt tuần qua. Có khoảng 30 phản hồi như vậy, trong đó có tới hơn 10 chữ “vui thôi” và hơn 10 chữ “phiên phiến”. Cũng xin thưa rằng, số chữ mà nhà phê bình Đặng Tiến dùng chỉ là một phần trong đó.</p>
<p>Chỉ ra điều này, tôi muốn nói gì? Nhận xét về thái độ và phản ứng thời cuộc của những độc giả Da Màu ư? Cổ nhân đã dạy “<em>Cái quan định luận</em>”, huống chi là lấy vài khoảnh khắc ngắn ngủi dạo qua một diễn đàn mà nhận định về cả con người. Phê phán nội dung hay sinh hoạt trên Da Màu ư? Để thay thế với cái gì, một không khí trầm mặc, ai điếu? Đó là chuyện bứng cây sống, trồng cây chết. Kêu gọi cộng tác viên đóng góp một đề tài nào đó ư? Văn chương, tư tưởng viết theo thời cuộc, theo sự đặt hàng muôn đời vẫn là thứ văn chương tồi.</p>
<p>Tôi không rõ nữa. Mọi người ở đây đều đang sống thực, nghĩ thực, không bị ai cấm đoán hay bắt buộc, đều đang nói những điều họ cảm thấy nên nói, cần nói giữa khung cảnh này. Có lẽ mọi sự đang diễn ra theo cái trật tự tự nhiên đúng như nó phải thế. Nhưng tôi vẫn thắc mắc rằng, giữa một thế giới đang có bao nhiêu người bị thương tổn cần giúp đỡ, người bất hạnh cần an ủi, đang có bao nhiêu tiếng oán trách, bất bình, phẫn nộ cần phải được nghe thấy, giả như có  ai trong số họ chạy vào đây trong những ngày vừa qua, biết đâu họ lại không thấy như mình đã đi lạc chỗ? Tôi vẫn thắc mắc rằng, bên cạnh bao nhiêu công lao bàn cãi về chữ nghĩa tiếng Việt mấy tuần vừa rồi, chúng ta đã viết được chút ít nào có thể lấp bớt khoảng trống để lại trên xã hội hiện đại vì sự ra đi vĩnh viễn của tiếng hát Trương Chi:</p>
<p>“<em>Nào đứa em mồ côi khát sữa</em><br />
<em>Nào người quả phụ trắng khăn tang</em><br />
<em>Nào ai tan lìa đôi lứa</em><br />
<em>Nào ai sống nhục thác oan.</em><br />
<em>Nghe tiếng hát này nguôi dần nỗi khổ. </em><br />
<em>Dòng sông như lụa quấn quanh người</em>.”</p>
<p>Chúng ta hồ hởi gặp nhau, tay bắt mặt mừng giữa những không gian ảo mà chính chúng ta gọi là “bữa tiệc”, là “chiếu rượu”. “<em>Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ</em>”, phải chăng cách diễn đạt đó biểu thị từ vô thức, Da Màu vô hình chung đã trở thành một nơi tự khép kín với sự đồng thuận của mọi người, tách biệt với một phần thực tế cuộc sống? Và với không gian tối tăm bao phủ bên ngoài những bức tường của nó, nơi hơn lúc nào hết đầy dẫy áp bức và đấu tranh, một ngày nào đó, khi chính một người từ &#8220;cuộc vui&#8221; văn nghệ giản dị mà thân mật theo cách nhìn của chúng ta bị vấp ngã trong bóng tối, bị thương tổn vì một cạm bẫy độc địa, Da Màu có làm nên được sức mạnh hỗ trợ tinh thần, có khiến được người ta nhớ đến khi cần tìm sự động viên, đồng tình, hay đó sẽ là dịp nó nhận chân rõ nhất cái lẽ phù du về những chốn tháp ngà:</p>
<p>“<em>Khi vui thì vỗ tay vào,</em><br />
<em>đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai</em>”.</p>
<p>Mayakovsky đã từng nhắc nhở người cầm viết “<em>Đẹp mà không son phấn, lớn lao mà không ầm ĩ huênh hoang, mạnh mẽ mà không thô bạo</em>.” Những điều đó đều thuộc về các khuôn thước của trực giác, không thể dùng sở cứ bên ngoài mà đo đạc, ước lượng.  Khi dùng câu nói trên làm kim chỉ nam cho bài viết này, do đó, tôi cũng đã viết bằng những cảm nhận biến thiên không rõ nét, có được sau khi đối chiếu hiện thực với một thể thái lý tưởng ít có thật trên đời. Một cách khiêm tốn, bài viết này mong rằng, cũng như ước mơ của Mayakovksy, những gì nó ngụ ý mong muốn đối với Da Màu không hoàn toàn là một ảo tưởng hoang hư, mà ít nhất cũng chứa đựng đôi ba điều thiết thực nhỏ nhoi. Những gì xét ra về thực tế có hão huyền, thiếu cơ sở, cũng xin được có ích cho đời như cỏ, như rác vùi xuống đất sâu cho cây xanh lá&#8230;</p>
<p>“<em>Ba ơi, con không nói rõ ai cả, nhưng con cảm thấy có gì lệch lạc đâu đó!</em>”</p>
<p>Xin mượn câu kết vở kịch “<em>Hồn tôi ở tận miền sơn cước</em>” của văn hào William Saroyan để chấm dứt bài này.</p>
<hr size="1" /><a name="_ftn1_3340" href="#_ftnref1_3340">[1]</a> Giáo hoàng Pius IX đã tuyên bố năm 1859 với một phái đoàn cao cấp đại diện cộng đồng Do thái đến thỉnh cầu cho gia đình Mortara: “Ta không thèm quan tâm đến chuyện thế giới nghĩ gì”. Năm 1865, ông khẳng định: “Ta có quyền và có bổn phận làm những điều đã làm với đứa bé này, và nếu phải làm lại từ đầu, ta cũng sẽ làm y như vậy”. Năm 1871, trong một bài diễn từ, ông gọi những người Do thái ở La Mã là lũ chó, và nói rằng: “lũ chó đó, hiện giờ chúng có quá nhiều ở La Mã này, chúng ta nghe tiếng chúng tru lên ngoài đường, và đi tới đâu cũng bị chúng quấy nhiễu”.</p>
<p><a name="_ftn2_3340" href="#_ftnref2_3340">[2]</a> Kiêm Đạt, Lịch sử tranh đấu Phật Giáo Việt Nam, Phật Học Viện Quốc Tế, 1991, tr. 256.</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/9486/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>20</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

