<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Thái Kim Lan</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/thaikimlan/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Ăn tết nơi m&#244;?!</title>
		<link>http://damau.org/archives/23060</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23060#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 11 Jan 2012 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23060</guid>
		<description><![CDATA[... [Gió] lạnh đêm trừ tịch ùa đến, làm sởn gai da thịt. Bỗng thấy trơ trọi vô biên, chợt như hiện thân chiếc bóng mình đang đứng trên ngọn đồi đã thẫm đen một buổi chiều cuối năm đợi xe về nhà trọ. Năm Tết đầu tiên xa Huế, xa nhà, gió buốt thốc từng cơn lạnh lòng nhớ nhà nhớ mẹ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Tháng giêng ăn tết ở nhà …</em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/HoaGiayngayTet_thumb1.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="Hoa-Giay-ngay-Tet_thumb1" border="0" alt="Hoa-Giay-ngay-Tet_thumb1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/HoaGiayngayTet_thumb1_thumb.jpg" width="285" height="372" /></a></p>
<p><em></em></p>
<p align="center"><em>Bình Giấy Hoa Thanh Tiên ngày Tết (Ảnh: Thái Kim Lan)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Cuối cùng, sau bao lần lầm thầm mơ ước một mình, nhiều lần ấp úng bâng quơ, nhiều phen nói rõ to cái điều mong muốn được ăn Tết ở nhà sau mấy mươi năm xa Huế, chồng tôi đồng ý gật đầu, Mai Lan cũng gật gật cái đầu be bé, cười tí toe cho mạ đi, và tôi khăn gói về quê Ăn Tết.</p>
<p>Khi kéo chiếc va li ra khỏi phi trường Phú bài, lòng tôi hớn hở, tim tôi nhảy thót, tai tôi nghe loảng xoảng cái “bồng binh dồn” nhớ Tết quê hương đang vỡ vụn dưới chân … Mỗi bước là mỗi huy hoàng xua bóng tối, cái tâm bệnh nhớ Tết quê hương sẽ thôi không còn lộng hành dằn vặt người xa quê mô nữa, có nghe bước chân … ta về …</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Dan-Lang-Thanh-tien-Pham-Ba-Thinh.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Dan Lang Thanh tien Pham Ba Thinh" border="0" alt="Dan Lang Thanh tien Pham Ba Thinh" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Dan-Lang-Thanh-tien-Pham-Ba-Thinh_thumb.jpg" width="504" height="337" /></a></p>
<p align="center"><em>Dân làng Thanh Tiên đưa hoa giấy đi bán chợ Tết (Ảnh: Phạm Bá Thịnh)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi đang về đây, đến đó … gấp bước mà đi … vì tôi đang … về … “về nhà”… với một nỗi hăm hở chưa từng, hăm hở sẽ ngốn ngấu hết những điều mà trong cơn mơ nhớ nhà nhớ Tết đã mấy mươi năm lận đận không nguôi ….</p>
<p>27 Tết! Tuy đã muộn nhưng vẫn còn kịp chán thì giờ để làm mứt. Trái mứt me chạy hàng đầu trong trí nhớ. Thuở học trò thích ăn chua! Mứt me! Ơi me dầm chua chua ngọt ngọt thèm chảy nước miếng. Còn nhớ ngày nào chị tôi bắt tôi ngồi cạo lớp vỏ me nâu nơi sân mà tôi nhất định trốn vào một góc để đọc cho xong cuốn tiểu thuyết Nhất Linh, khi ngẩng đầu lên được là chỉ biết há hốc mồm trầm trồ thẩu mứt của chị khéo làm sao!</p>
<p>28 Tết …. Ta hãy làm mứt bí đao như mẹ ngày nào. Mẹ làm mứt bí đao trắng trong như miếng ngọc thạch được bà khen hoài mỗi năm ngày mồng Một Tết. Ai đã thử cắn miếng mứt bí đao chưa nhỉ? Tôi thì sợ nó vì nó vừa quá đẹp vừa quá ngọt! Nói ra thì Bà với Mẹ chê ngu, ngon rứa mà sợ!</p>
<p>Tôi thì tôi chỉ thích nhất bánh măng, thơm mùi măng thiên nhiên, hầu như đang tuyệt gốc vì khó làm, nhưng tại sao không làm lần này? Lại còn bao nhiêu thứ bánh Huế: bánh mận, bánh sen tán, bánh phục linh, bánh su sê, bánh ít đen …. Năm nay “đơm quả bồng” giao thừa và cúng ông bà đầu năm phải lộng lẫy cao ngất hơn năm nào! Còn nhớ các bác gái trổ tài trên nhà thờ họ ở gần chùa Linh Mụ &#8211; rực rỡ làm sao những quả bồng chưng ngày tết!</p>
<p>Còn dư ngày 29 Tết, dành cho việc chuẩn bị gói bánh chưng bánh tét, chơ chi nữa! Ngâm nếp, ngâm đậu, đặt thịt heo tươi, bẻ lá…Còn nhớ thời xưa, ngày cuối năm mẹ bảo các anh đạp xe lên vườn nhà thờ xin mệ lá dong, lá chuối, lá dừa. Thế là cả bọn rủ nhau đua xe đạp trong gió lạnh, qua cầu Gia Hội, qua Phú Văn Lâu, chợ Kim Long, vừa đạp vừa cười dòn hơn bắp rang!</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/mo_hang_dau_Nam.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="mo_hang_dau_Nam" border="0" alt="mo_hang_dau_Nam" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/mo_hang_dau_Nam_thumb.jpg" width="460" height="333" /></a></p>
<p align="center"><em>Bán hàng Tết trước Phú Văn Lâu (Ảnh: </em><a href="http://c1quochoc.web.officelive.com/c17.aspx" target="_blank"><em>C1 Quốc Học Huế</em></a><em>)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>A! tôi sắp sửa chui người vào … trong một cái Tết thật sự ở nhà!</p>
<p>Khi cô nhân viên cắt miếng giấy hành lý trước khi ra cửa, mắt tôi rực ánh lửa đêm Giao thừa nấu bánh sắp tới, chấp chóa cả cái khung cửa ra sân bay, làm chao đảo mắt nhìn. Tôi giao cái va li vào tay anh cả, người lạng đi như say.</p>
<p>Nắng Phú bài vẫn như độ nào, vừa hanh hanh bóng núi, vừa lộng gió đồng quê … hơi nóng bất thần phả vào mặt, bóp nghẽn con tim, ngưng máu trong nửa giây, hoa hoa mắt, cơ thể chớp nhoáng như rơi tòm vào một lỗ hổng, rồi vùng lên hối hả…</p>
<p>Vẫn như thế mỗi khi bước chân trên nền ga Phú bài … cái cảm giác tê người trong nắng … nhớ ấy. Và tiếng rù máy rè rè của chiếc Landrover cũ kỹ … Anh tôi mỉm cười trong khi mày mò vặn chìa khóa xe, tìm cho được điểm chạm đã mòn của động cơ. Chiếc xe chồm lên đột ngột rồi lúc lắc chạy như người đi cà nhắc. Tôi níu tay nơi khung xe, nhìn sang anh, vẻ trầm tĩnh hiền hòa của anh, chẳng bốc một tí ti gì hơi Tết, pha nguội phần nào cái nóng bếp lửa Giao thừa đang hừng hực trong tôi .…</p>
<p>Dần dà từng chặn, qua luống đồng ngập nước loang loáng bóng núi chạy ngược về Nam, cho đến khi đến nhà thì … cái bếp lửa hầu như tắt ngấm … theo với cái bếp ga lạnh tanh trong nhà. Một nỗi hiu quạnh nào đó xông lên đột ngột len vào người, mặc cho buổi tái ngộ anh em làm vui lòng không nhỏ, nhưng ngó quanh thì thật là đơn chiếc.</p>
<p>Căn nhà rộng, vắng người, trẻ không có, người già … cũng không, (tôi vẫn xếp anh tôi thuộc thế hệ trẻ … có lẽ để mình cũng đừng già theo), nếu có mẹ ngồi cạnh bà nơi sập gỗ, thì căn nhà chắc đã rộn ràng tiếng chào hỏi…</p>
<p>Ðêm nằm ngủ nghe lạnh một bên lưng.</p>
<p>Sáng sớm thức giấc, tôi gọi điện cho con: “Bé ơi, mạ đã đến Huế rồi! Ui chao nhà vắng quá! E cái tết ni mạ ăn một mình con nờ, vì ai cũng bận rộn lo Tết cho gia đình riêng cả. Tết ở Muenchen coai rứa mà e vui hơn con ơi!”</p>
<p>Tôi nghe đứa con cười nhỏ nhỏ bên kia. Hắn hay thương hại “người Mạ” nớ vì những chuyện loay hoay, có những cơn nhớ nhà ray rứt lạ lùng mà hắn không có, hắn cũng thương Huế từ khi lọt lòng, nhưng không bị dằn co giữa hai đầu múi Huế &#8211; Muenchen vô ích như rứa.</p>
<p>“Rứa thì đáng kiếp Mạ rồi! Ai biểu mạ đoài về! Chừ lại kêu chắc ăn tết buồn xo!” Giọng Huế của Bé rặt giọng bà ngoại xưa, nghe như có lẫn tiếng mắng của Mạ ngày nào! Nhưng tiếp theo, đứa con từ tâm an ủi, biết chia lòng với mẹ “Thôi mạ cứ ăn Tết cho vui chơ,” vì hắn biết rõ tính của người Mạ ni không chịu thua hoàn cảnh. Hắn còn tiên tri “Không can chi mô, rứa rồi Tết hắn vui cho Mạ coai. Mạ đừng buồn. Vài bữa về đây Mạ lại nhớ cái tết ni cho mà coai!”</p>
<p>Hắn cười biết nói đúng tim đen “Con thương Mạ hí!” Tôi cũng cười, một nửa miệng bên kia gần như mếu. Tôi muốn chạy về ôm con…</p>
<p>Nói cho đúng, ngoài đường người ta đi sắm Tết xôn xao. Huế rộn rịp thấy rõ trên các nẻo đường. Nào chợ hoa, chợ trái cây, hàng mứt hàng bánh, muôn sắc tưng bừng, dù cát bụi nghèo nàn của trận lụt vừa qua vẫn còn quấn chân. Người đi đông nghịt, xe honda chạy rào rào. Tất bật – stress cho Lễ Tết thấy rõ nơi từng dáng đi. Ấy vậy mà quay lưng vào nhà, tôi cảm nghe nỗi bất lực chạy trên sống lưng, tôi biết, cái chương trình ăn tết đồ sộ trong đầu của tôi đang xìu như cái bong bóng.</p>
<p>Còn lại ba anh em – 2/3 người thân nay tản mác nơi những góc trời Âu Mỹ, kẻ đi người ở, có người đã về với đất &#8211; chụm lại với nhau trong buổi cơm nơi căn nhà rộng, chúng tôi bàn chuyện ăn Tết và chia công. Chưa có buổi chia công nào đơn giản hơn: ba đứa thì mỗi đứa lo một nhà: anh cả nhà thờ họ, em tôi nhà thờ ba mẹ, còn tôi lo bàn thờ giao thừa trong nhà đang ở.</p>
<p>Chia rứa là biết: đêm Giao thừa là mỗi đứa một nơi, hết cái cảnh tụm đầu vào nhau đêm ba mươi Tết ngồi canh nồi bánh kể chuyện ma như thuở nào thơ ấu! Vì bàn thờ nào cũng cần có hương khói, cúng thổ thần đất đai, các vong linh tổ tiên, người khuất mặt nơi mỗi nhà, nếu không có mặt thì thôi, có mặt là có bổn phận phải lo trong giờ phút linh thiêng bắt đầu năm mới.</p>
<p>Tôi là người đã từng điều khiển, không phải “ba quân” mà nhiều lần “ba buổi” Tết ở tha phương. Cũng đã từng dựng lều dựng rạp, làm cây nêu, chưng mai (giả hiệu!), chưng hồng, gầy thủy tiên, hì hục gói bánh chưng bánh tét, viết câu đối dán lên khung sân khấu làm cổng làng đón xuân, làm thơ ông táo chầu trời, nấu những buổi cỗ thịnh soạn cho con cháu và bạn bè đến thưởng thức hương vị Tết theo đúng những hoài niệm đã có về những cái tết trong thời thiếu niên.</p>
<p>Nhưng khi nghe chia công việc hôm 27 Tết, nhìn căn nhà xưa trống trải với những cái cột gỗ đen gầy guộc âm thầm, cái bếp ga lạnh lùng, xa lạ, tôi biết mình không thể nào huy động “phép thần” để biến những ngày tết hôm nay thành những ngày Tết hôm qua.</p>
<p>Nhìn quanh, cái chi cũng thiếu &#8211; thiếu tiếng cười trẻ thơ, thiếu tiếng guốc khua rộn ràng từ nhà dưới lên nhà trên của bà, của mẹ, của chị, thiếu tiếng la rầy chỉ vẻ của Mệ nội, thiếu tiếng trò chuyện của mấy cô mấy bác về những món ăn đang nấu, thiếu tiếng khóc đòi của mấy đứa cháu chắt đang chập chững đi, thiếu bồn chồn chờ áo mới … thiếu hết những thứ ấy thì nỗi hồi hộp chờ Tết không còn … và Tết còn chi là Tết nữa?</p>
<p>Thật tình, nếu muốn “kêu gọi” các anh em bà con thì cũng có thể bày biện tổ chức kiểu hội hè đình đám ăn Tết như ở các khách sạn nơi nơi đang rộ quảng cáo. Có tiền mua tiên cũng được huống hồ là sắm Tết. Ấy thế mà không dễ! Dịp thường thì may ra, dịp Tết thì kẹt. Năm hết tết tới ai cũng lo mua mua sắm sắm, chẳng có ai rảnh rỗi. Người nào cũng búi việc cho gia đình. Có lòng nghe tôi về thì cũng tạt qua vài giờ, ai cũng hẹn chị: “sau Tết nghe!” Thật xa vời cái chữ “sau” ấy!</p>
<p>Mà muốn làm mứt làm bánh nào phải dễ, nồi niêu song chảo thất lạc tứ táng mỗi nhà, bếp núc không quen…vật liệu phải mua sắm từ lâu.</p>
<p>Chợ Ðông Ba cái chi cũng có mà mình đi vô chợ thì cứ luớ quớ như chơi trò “vuốt hột nổ, đổ bánh bèo, xao xác vạc kêu, nồi đồng, vung méo….”</p>
<p>Chừ đây 28 Tết, cái chi cũng chưa chi cái gì!!!</p>
<p>Tôi rảo một vòng chợ Ðông Ba xem hàng Tết. Thôi thì thiên hô vạn hát: những núi mứt trên các thúng chưng bày, không thiếu loại mứt gì, bánh thì cũng trăm thứ, người chen không lọt. Gạo, nếp, bột đường không thiếu. Nào ai có thì giờ để tự làm? Mua là mau nhất!</p>
<p>Tôi đi qua hàng hoa quả. Năm nay quýt thật nhiều, mãn cầu cũng lắm, từ Bắc vô từ Nam ra, thanh long tươi rói từ Phan Rang, đu đủ từ vùng quê, xoài từ Nam Bộ, Thái lan, dưa hấu lại đủ màu vàng đỏ rất chi là…thời trang.</p>
<p>Tôi thích nhất từ thuở bé những trái quýt nhỏ có lá xanh trên những chiếc thúng nhà quê, vị ngọt thanh quýt Hương Cần. Thuở đó có được một trái quýt Hương Cần vỏ xanh ướm vàng là như có của báu. Như bù vào những hiếm hoi thơ dại, tôi mua một lần 5 ký quýt về đơm bàn thờ! Chẳng giống ai, lôi thôi cái kiểu “quýt làm cam chịu” vào ba bữa Tết như tôi!</p>
<p>Còn chuối, thì eo ơi! Càng gần ngày tết, chuối leo thang cao ngất, còn nhanh hơn ông Táo lên trời! Nhất là chuối cau, chuối mật. Ðến ngày 30 Tết, một nải chuối vẻn vẹn 10 trái đến sáu chục, 1 trăm ngàn, ngày thường 5, 7 ngàn chớ mấy! Giá ni thì chỉ có cán bộ xịn mới kham nổi … còn người nghèo thì oằn cổ. Cô em họ tôi lắc đầu thè luỡi bảo.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/chuoi-cho-dong-ba.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="chuoi-cho-dong-ba" border="0" alt="chuoi-cho-dong-ba" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/chuoi-cho-dong-ba_thumb.jpg" width="349" height="349" /></a></p>
<p align="center"><em>Chuối chợ Đông Ba      <br /></em></p>
<p>Người Huế không đơm quả bồng với chuối bà lùn, nên nhớ!</p>
<p>Chuối “cau” đọc theo kiểu Huế hay kiểu Quảng trật bét thành ra cao, “cao” …quí … sang … chắc, còn “mật” là ngọt ngào, trù phú. Câu nguyện đầu năm trên bàn thờ ông bà nằm nơi nải chuối, cũng như cầu dừa đủ xoài và hấu, ngũ quả trong Nam. Ở bên tây thì chỉ có chuối bà lùn … quanh năm! Mà nào có thấy ông bà rầy la, tụi trẻ con thì lớn phồng như cây nêu, có đứa mô bị lún bị lùn mô!.</p>
<p>Tổng kết buổi đi chợ quẩn quanh 28 tết là cái bếp ga nhà tôi được huy động triệt để vì tôi quyết định làm mứt. Mứt me? Cô em can chị. Mứt bí? Ui chao, hắn quày quâỵ lắc đầu, làm răng được, thì giờ mô? Thôi thì mứt gừng!</p>
<p>Chi thì chi cũng phải có một món mứt tự làm trong ngày Tết, để…có chuyện Ăn Tết Huế mà kể cho Mai Lan nghe trong điện thoại như chuyện đời xưa. Cô em họ đã nhanh nhẩu giúp tôi đem gừng đi xắt thành lát mỏng, mua đường, mua chanh. Luộc gừng, xả gừng, ngào đường với gừng, mà phải để lửa riu riu, mới khó với bếp ga! Không như bếp củi có thể ủ tro đều.</p>
<p>Lâu quá mới được thấy nhánh gừng uốn luợn với chồi lá, thơm ấm cả lồng ngực khi chúi mũi vào đám rễ vàng mọng nhựa đất. Cô em thấy tôi lễ mễ, ráng thêm một chút thời gian, trong lúc chân cẳng chỉ muốn chạy vì còn khối việc phải làm. Ui chao nói dễ mà làm thì khó. Lọ lem, cô Tấm đâu??? Khi đường tan thì cô em biến mất để tôi lại với chảo mứt gừng còn ướt nhèm nhẹp. Cầm hai cái đũa bếp to tướng, tôi nghĩ chẳng bao giờ chảo gừng sẽ khô ….</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Mut-Gung.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Mut Gung" border="0" alt="Mut Gung" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Mut-Gung_thumb.jpg" width="404" height="304" /></a></p>
<p align="center"><em>Chảo Mứt Gừng (Ảnh: Thái Kim Lan)      <br /></em></p>
<p>Đưa cả cái mặt hơ trên hương gừng bốc lên, mới nhớ mạ và chị làm sao! Những bàn tay khéo léo ấy nay đã tan biến trong đất. Hơi gừng cay làm nhoè mắt, nhấp nháy giọt nhớ giọt thương. Mạ ơi! Chị ơi, có về ăn Tết với em không?. Tôi nói chuyện với từng lát mứt gừng vàng óng trong chảo, tưởng như đang nói với từng gương mặt người thân, những người đã ăn tết với tôi năm não năm nao. Những tiếng cười quanh bàn bài vụ, những con trâu xanh, voi trắng, heo đen ngựa đỏ một thời làm mê đến vào trong giấc ngủ. Những tiếng hô “Con Ầm,” “Con Ngủ Trưa” nơi sòng bài Tới với các bà O ăn trầu miệng đỏ, lúm đồng tiền sâu khi bị ăn gian “mẹ cha mi ăn gian bài bà cô” cùng tiếng cười ngặt nghẽo của lũ cháu. Tiếng reo đổ xâm hường được Trạng như quanh quất đâu đây. Mỏi tay trở mứt, lại nhớ chị ngồi canh hai ba chảo mứt ngày nào, tóc dài theo với giấc mộng con gái một sáng mùa xuân ….&#160; Còn tôi, tên trốn bếp, thu mình với cuốn sách ngồi trong góc tối nhìn ra thấy chị ôm luôn chảo mứt của đứa em, với đôi mắt bồ câu đen láy hiền thục mà thương ơi là thương!</p>
<p>Thế rồi như được phép mầu Tấm Cám, Phạm Công Cúc Hoa, mạ và chị đã đẩy lửa, đẩy tay tôi riu riu rim mứt. Chảo mứt gừng của tôi đến hồi cũng ráo đường. Tuy không đẹp bằng mứt gừng mẹ và chị làm, lát gừng cong cong không thẳng thớm, nhưng tinh khiết, không bị chất tẩy hóa học, ăn vào thật đúng là gừng Huế, vừa cay vừa thơm mùi gừng làm ấm thêm chén trà đầu năm.</p>
<p>Còn gói bánh chưng bánh tét thì…thôi, xin giã từ vũ khí! Thay vì nấu bánh, tôi nảy ra ý bắt chước bà tôi, thường có lệ cuối năm tặng cho bà con nghèo, hàng xóm láng giềng và chùa chiền nếp, đậu (bánh chay) và thịt (bánh mặn) để mỗi nơi có thể gói bánh tét cúng đầu năm. Khi gửi quà đi, tôi bỗng bằng lòng với “sáng kiến” ấy và vui với hình ảnh cái bếp Giao thừa của tôi tiếp tục ngời lửa nơi mấy mươi cái bếp ở trên thôn dưới biển trong đêm ba mươi, còn tôi thì …“tập vồng vông tay không tay có” ….</p>
<p>Ba muơi Tết, anh tôi đem về một cành đào chưng ở phòng khách. Tôi nhìn cành đào với một con mắt, con mắt bên kia bỗng hiện lên cành mai vàng một thời đã xa. Năm nay trời lạnh sớm, mai không chịu nở, nên người ta chưng đào. Nhìn tôi, anh bảo, trên nhà thờ Linh Mụ anh chưng mai, dưới phố chưng đào cũng được, năm nay mai vừa hiếm vừa không đẹp, mà đầu năm không chịu nở thì … xui cho mình. Anh nói như hù doạ đứa em đang tụng trong lòng bài kinh Ăn Tết.</p>
<p>Tôi biết anh nói an ủi, nhưng có điều anh không biết là từ hôm về nhà, tôi đã bỏ dần những ước lệ “ăn Tết” trong tôi, chỉ làm những gì cần làm nhất.</p>
<p>Buổi trưa cô em họ dẹp mâm quýt của tôi, vừa dẹp vừa bảo, ngày tết cúng ngũ quả chị nờ. Cô sắp mâm ngũ quả cho hợp qui lễ ngày Tết. Hương đèn, giấy tiền, giấy bạc, áo binh, hột nổ cũng đã được bày biện. Cũng thấy Tết ra phết! Cô đứng lên, đội mũ mặc áo. Anh tôi chần chừ. Tôi biết giờ hoàng đạo sắp đến, năm mới bước tới trong từng giây.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Hot-No-Ngay-Tet.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Hot No Ngay Tet" border="0" alt="Hot No Ngay Tet" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Hot-No-Ngay-Tet_thumb.jpg" width="404" height="304" /></a></p>
<p align="center"><em>Hột nổ ngày Tết (Ảnh: Thái Kim Lan)      <br /></em></p>
<p>Tiễn cô em và anh tôi là người cuối cùng ra cửa, gió lạnh đêm trừ tịch ùa đến, làm sởn gai da thịt. Bỗng thấy trơ trọi vô biên, chợt như hiện thân chiếc bóng mình đang đứng trên ngọn đồi đã thẫm đen một buổi chiều cuối năm đợi xe về nhà trọ. Năm Tết đầu tiên xa Huế, xa nhà, gió buốt thốc từng cơn lạnh lòng nhớ nhà nhớ mẹ.</p>
<p>Hôm nay được ở Huế &#8211; ở nhà- mà sao lạ, tôi nhớ quá cánh tay mềm ấm choàng qua vai của đứa con ở &#8230; nhà &#8230; bên kia!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23060/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quan điểm về dịch thuật &#8211; trả lời độc giả Pantan</title>
		<link>http://damau.org/archives/22768</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22768#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 30 Dec 2011 08:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Quan Điểm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22768</guid>
		<description><![CDATA[Dịch đối với tôi rất nặng nhọc chính vì tôn trọng trách nhiệm chuyển tải trung thực, nó tương tự ít nhiều công việc của một người khuân vác, người dịch trước tiên không có niềm hạnh phúc hay tự hào tự do của một nhà thơ hay nhà văn, mặc dù công việc dịch thuật đòi hỏi khả năng văn chương, tri thức nhạy bén và kiến thức đa dạng.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<blockquote><p align="justify">LTS – Năm trước, độc giả Pantan có <a href="http://damau.org/archives/9462" target="_blank">góp ý đến bản dịch bài phỏng vấn Herta Mueller của Thái Kim Lan</a>. Trong đó, Pantan đặt một số câu hỏi quan trọng về phong cách dịch thuật. Tuy nhiên, vì một số lý do cá nhân, chị Thái Kim Lan không trả lời ngay được dù đã nhận được thư mời từ Da Màu.       </p>
<p>Vì nội dung bài viết, và cũng vì phần góp ý đã quá lâu, Da Màu xin được đăng bài phản hồi, nhận được từ chị Thái Kim Lan tuần này, như một bài viết độc lập.       </p>
</blockquote>
<p align="justify">&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Nhân chuyện dịch thuật, tôi xin trở lại ý kiến của độc giả Pantan viết cách đây đã lâu. Phần vì quá bận rộn, phần ở xa vào thời điểm ấy, sau đó mất luôn tính thời sự và tôi bỏ mất cơ hội trả lời ngay. Người Đức hay nói tuyết hôm qua, nghĩa là chuyện không còn hôm nay, nhưng cái đúng – sai thì vẫn còn. </p>
<p>Ta thán của Pantan, &#8211; người tự xưng mình là &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot; &#8211; về hai từ ngữ trong bản dịch cuộc phỏng vấn nữ văn sĩ được giải Nobel văn chương 2010 Herta Müller mà tôi dùng liên quan đến bài phỏng vấn: &quot;sự phát vãng&quot; &#8211; và Möglichkeit &#8211; tôi dịch &quot;khả thể&quot;, là khó hiểu. Nếu ông chịu khó tra cứu các cuốn tự điển tiếng Việt, hay các cuốn tự điển song ngữ, Đức-Việt, Anh-Việt hay Pháp-Việt, cả Hán-Việt thì sẽ thấy các từ ngữ này nằm trong đó, chúng đơn giản không phải là những từ ngữ &quot;có âm vang phô trương…trình diễn cái hãnh tiến…khoa trương cái sở học bí ẩn…&quot;. Với đôi khái niệm ấy mà Pantan đã gán một lô cáo buộc về dụng ý cá nhân của người dịch, &#8211; một lối đoán mò hậu ý của người khác theo kiểu &quot;suy bụng ta ra bụng người&quot;, thật buồn cười. </p>
<p>Tại sao tôi chọn chữ &quot;phát vãng&quot; mà không dùng &quot;trục xuất&quot; hoặc &quot;lưu đày&quot;? Thật ra cụm từ &quot;phát vãng&quot; thuộc lãnh vực luật, pháp lý, đã được thông dụng trong tiếng Việt từ lâu. Nhân vật trong tác phẩm &quot;Atemschaukel&quot; không hẳn bị trục xuất cũng không bị tù đày mà bị phát vãng đi lao động do chính quyền Nga dưới sự lãnh đạo của Stalin, một trong bốn đồng minh thắng trận thế chiến thứ hai. Tù binh Đức hay người bản xứ có liên hệ với Đức chịu hậu quả của những hiệp ước ngưng chiến. Bối cảnh lịch sử của tác phẩm &quot;Atemschaukel&quot; vào năm 1945, sau thế chiến thứ hai, với các hiệp ước ký kết giải giáp, phân phối tù binh, người Đức không là tù binh cũng lo sợ cho số phận họ bị phát vãng. Trên danh nghĩa, họ không bị trục xuất về nước Đức, không bị lưu đày biệt xứ, mà bị đưa đi lao động quản thúc, bị &quot;phát vãng&quot;. Nga đã hành xử khác với các đồng minh khác vào thời điểm ấy dưới chỉ đạo của Stalin. Sự quyết định dùng cụm từ &quot;phát vãng&quot; có lý do từ những đối chiếu trên. </p>
<p>Tại sao &quot;khả thể&quot; mà không dịch &quot;tính có thể&quot; cho &quot;Möglichkeit&quot;? Pantan cho rằng tôi tạo ra chữ này? Nếu ông bỏ chút thì giờ đào sâu văn chương chữ nghĩa một chút ông sẽ thấy cụm từ &quot;khả thể&quot; không hiếm trong các tiểu luận, tác phẩm dịch, trong văn chương Việt nam. Nó không phải thứ của cấm mà Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, quí giáo sư Trần Thái đỉnh, Lê Tôn Nghiêm… tại miền Nam đã sử dụng khi các ngài dịch Kant, Heidegger. Từ đó nó không xa lạ gì và tôi cũng không phải là người phát minh, bày đặt chữ để khoa trương. Trong ngữ cảnh bài phỏng vấn, nếu dịch &quot;tính có thể&quot; cho &quot;Möglichkeit&quot; nghe không gãy gọn và không cân xứng với cuộc đối thoại của người vừa nhận giải Nobel văn chương. Theo nguyên tắc NHÃ, &quot;khả thể&quot; đã được chọn cho &quot;Moeglichkeit&quot; mà không vi phạm tín và đạt của dịch thuật là thế. </p>
<p>Về việc dịch và giới thiệu thơ Hölderlin, phê bình của Pantan vô hình chung lại là một lời khen – dù khá đen &#8211; cho dịch giả! Ít nhất cái không khí thơ Hölderlin đã được Pantan cảm nhận, mà Pantan cho rằng tôi đã phù thủy hoá. Mặt khác, phê phán tôi là &quot;thầy cúng&quot; muốn bẻ gãy chữ nhằm &quot;khoe rỗn rảng&quot; sở học của tôi, dịch giả &#8211; lại cho ta thấy ông chưa hiểu hay hình như chưa tiếp cận nhiều với thi ca của Hoelderlin. Thế giới thi ca của Hölderlin phần lớn mang tính huyền thoại, trong đó cuộc đối thoại giữa con người và thần linh hầu như bất tận: con người &quot;là một với tất cả, đó là đời sống của thần tính, thần tính là bầu trời của con người&quot;. Trong khi R. M. Rilke băn khoăn với bản chất người như là một animal rationis, Hoelderlin linh cảm tính thần thánh của con người. Lý tính đối với ông không chỉ là intellectus (trí tuệ) mà bao gồm thần tính, thánh tri. Trái tim thơ của Hoelderlin kêu gọi &quot;con người linh thiêng&quot;, trao tặng cho nó sự hiện hữu trên trần thế. Những khái niệm &quot;Heilig&quot; (thần linh), &quot;Gott&quot; (Thượng đế nhưng không phải vị độc thần), &quot;Goetter &quot;(các vị thần), &quot;Gottheit&quot; (tính thần linh) &#8211; trong ngôn ngữ Đức là bình thường chẳng có gì ma quái &#8211; thường xuất hiện trong các bài thơ, nhất là trong những tụng thi (Hymne) của Hoelderlin. Cái không khí…&quot;phù thủy&quot;, tiêu cực như Pantan phê phán tôi bày đặt ra, thật sự lại tích cực, vì đó là tính đặc thù của thi ca Hoelderlin, như những nhà phê bình văn học về sau nhận định. Pantan không hiểu Hoelderlin không có gì lạ. 300 năm trước, thi ca của ông đã từng bị người đương thời cho là kỳ bí, khó hiểu &#8211; tương tự như trường hợp của Pantan &#8211; và chối từ. Bởi vì, như Hoelderlin đã nhận rõ, con người vô thức không biết được &quot;thần linh&quot; đang cư ngụ trong tâm của mỗi con người: &quot;Ach wir kennen uns wenig, denn es waltet ein Gott in uns&quot; (Hoelderlin, thơ, Der Abschied): &quot;Ôi ta khó tự biết ta, bởi lẽ thượng đế ở trong ta&quot;. Thơ, đối với Hoelderlin không khuấy động phần súc vật của con người, mà khuấy động thần tính trong con người, chính trong những lúc đời người đen tối và bi thảm nhất. Dĩ nhiên trong bối cảnh niềm tin nhất thần tại Âu châu 300 năm trước đây, quan niệm con người ngang bằng Thượng đế khó được chấp nhận. Ý thơ của Hoelderlin đẩm chất &quot;thần thánh&quot; (heilig). Ngôn ngữ thi ca (mà tôi viết gọn là ngôn thi) Hoelderlin, như Heidegger nhận định, là &quot;tiếng nói linh thánh&quot; – &quot;heilige Worte&quot; &#8211; Heidegger cho rằng với tiếng nói thần linh, thi ca Hoelderlin đã sáng thế điều gì mới mẻ, gây nên một điều gì đang xao động trở thành, một thứ trầm tư mới khởi động, thi ca trở nên một thứ cư ngụ mới của con người trên trái đất, một cuộc gặp gỡ tân kỳ giữa con người và Thượng đế. Thi ca trở nên sự liều lĩnh, cú nhảy, có khả năng thiết lập một chân lý mới. Tư tưởng &quot;người &#8211; thần&quot;của Hoelderlin đã được ông hoá thân trong một thứ ngôn ngữ diệu kỳ, trong đó hoan ca tưng bừng cuộc hợp hôn giữa con người và thần linh, từ đó CON NGƯỜI của Nietzsche,- chàng thanh niên 18 tuổi khám phá vẻ đẹp của thơ Hoelderlin trước nhất &#8211; &quot;ecce homo&quot; được sản sinh trong ánh sáng thi ca. Này đây con người cất lên tiếng nói thần linh! Tiếng nói của nhà thơ là sức mạnh sáng thế của chính con người. Nói &quot;thi ca Hoelderlin chạm đỉnh thần linh ngôn ngữ Đức&quot; chính trong ý nghĩa mà nhà triết học hiện sinh M. Heidegger đã thấy, cảm nhận và lý giải thơ Hoelderlin. Chẳng có chuyện bịa đặt, bẻ gãy để phô trương như Pantan vu vạ. Chúng ta cũng thường nói ngôn ngữ xuất thần nhập thế, với Tagore với Nguyễn Du và với Hoelderlin, thi ca chạm tuyệt đỉnh của ngôn ngữ. Mỗi nhà thơ đã ban phát cho ngôn ngữ của họ vẻ đẹp và chân lý thấm đẫm thể tính &quot;NGỪỜI&quot; trong nỗi rung động hiện sinh tột cùng về thân phận con người. </p>
<p>Đọc Nguyễn Du &#8211; &quot;trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau&quot; &#8211; để lấy một ví dụ gần nhất và đầy thú vị -, mà Thanhha Lai, nữ thi sĩ vừa nhận giải thưởng NBA 2011- bắt gặp và tâm đắc đến nỗi đã xem chúng như những &quot;lời tụng niệm bí mật&quot; trong những giây phút bất an, và đã &quot;gần té ngã&quot; trước vẻ đẹp của câu thơ &quot;con tằm đến thác hãy còn vương tơ&quot;, là một chứng từ cho sức mạnh của tiếng nói thi ca. Lời thơ Nguyễn Du đã hoá kiếp mỗi giây phút tại thế của con người trở nên cuộc gặp gỡ con người với thần thơ &quot;run như run thần tử thấy long nhan&quot; (Hàn Mạc Tử). Truyện Kiều, đã được thánh hoá mà người Việt cung kính &quot;lạy&quot;, &quot;lạy vua Từ Hải lạy vãi Giác Duyên lạy Vương Thúy Kiều&quot;, lời thơ và người thơ trở nên những biểu tượng đại đồng cho muôn kiếp, có thể tiên tri tương lai đời người như tục &quot;bói Kiều&quot;, cũng nằm trong ý nghĩa ấy. </p>
<p>Cũng thế, đọc Hoelderlin, những dòng thơ gây sửng sốt về ngôn từ xuất thần, đẹp mới mẻ như vừa tróc vỏ mọi giả hợp phù du, người đọc như đáo bờ hội nhập tận nguồn cội &quot;căn nhà thể tính&quot; – mà đó là ngôn ngữ – (phát biểu của Heidegger &quot;ngôn ngữ là căn nhà của thể tính&quot; hầu như được chứng thực qua thi ca của Hoelderlin): sau hơn 200 năm chìm đắm trong &quot;quên lãng thể tính&quot; (Seinsvergessenheit), thơ Hoelderlin cho ta nhận diện được tự tính &quot;Thượng đế trong ta&quot; như &quot;Phật trong nhà&quot; qua trực cảm bản lai đồng nhất của mỹ và chân đến từ nhạc thơ và ý thơ: Có lẽ nỗi kinh ngạc của chàng trẻ tuổi Nietzsche khi khám phá vẻ đẹp của những câu thơ Hoelderlin cũng tương đồng như trường hợp của Thanhha Lai chăng? </p>
<p>Ngay cả bài thơ về Heidelberg cũng mang bóng dáng của nữ thần Minerva, nữ thần của minh triết, quán tưởng và nghệ thuật, bức tượng đứng trên chiếc cầu Alte Bruecke bắc qua con sông Neckar. Trong bài thơ, Heidelberg được ông âu yếm gọi là EM, cũng chính là nữ thần Minerva trong nghĩa NÀNG và thành phố là một trong vẻ yêu kiều của non nước ấy. Từ nguồn suối thần linh ấy – nét đa thần tiêu biểu của thơ Hoelderlin &#8211; những dòng thơ bất tuyệt tuôn trào. Bài thơ Heidelberg của Hoelderlin đã trở nên một quốc bảo văn chương Đức. </p>
<p>Vâng nếu Pantan chịu khó tìm hiểu thêm, hẳn ông sẽ không đi đến những giả thuyết hồ đồ về dụng ý của người dịch. Không hiểu hay không biết thì nói không biết, để tìm hiểu thêm, hiểu sâu hơn, điều đó chứng tỏ sức mạnh tri thức và nhất là đức lý, nhân cách của người cầm bút, dù là một góp ý. Pantan, &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot; như ông tự phán, lại vi phạm ít nhất là hai lần đức lý ấy. Từ không hiểu, ông suy diễn nguyên nhân của sự không hiểu của chính mình bằng những giả thuyết vu khống người dịch muốn phô trương, trình diễn, khoa trương sở học dịch.&quot;Bởi có lẻ cái mục tiêu cuối cùng mà dịch giả mong muốn ở người đọc thông qua những bài chuyển ngữ của dịch giả mà biết được cái sở học bí ẩn khổng lồ của dịch giả chăng&quot; (Pantan) Qua đó Pantan đã đánh giá quá thấp công việc dịch thuật, cũng như đạo lý trong dịch thuật mà tôi đã có dịp nêu ra. Dịch đối với tôi rất nặng nhọc chính vì tôn trọng trách nhiệm chuyển tải trung thực, nó tương tự ít nhiều công việc của một người khuân vác, người dịch trước tiên không có niềm hạnh phúc hay tự hào tự do của một nhà thơ hay nhà văn, mặc dù công việc dịch thuật đòi hỏi khả năng văn chương, tri thức nhạy bén và kiến thức đa dạng. Nhưng dịch là giới hạn mình vào khuôn khổ tư duy, nội dung của tác phẩm gốc. Sự giới hạn này nằm trong nguyên tắc &quot;tín&quot; của dịch thuật, trung thành với bản dịch là một thứ đức lý đối với niềm tin của người khác vào tính trung thực của người dịch. Ngay cả khi dịch cho mẹ tôi hay một o bán hàng rong một câu đơn giản, tôi cũng không quên nguyên tắc ấy, như vẫn thế trong suốt công việc dịch thuật trên lãnh vực đời thường, pháp luật, triết học hay văn chương. Từ chữ &quot;tín&quot;, nhã và đạt, &#8211; đẹp và toàn hảo -, phát sinh. Từ đó công việc dịch mang ý nghĩa chân thiện mỹ đối với người dịch. Mỗi chữ đều được cân nhắc, dù thế, có thể nó chưa được toàn hảo và gây nên ngộ nhận, khó hiểu. Tuy nhiên xem những chữ mình chưa hiểu để hấp tấp một cách ấu trĩ giả thuyết rằng những chữ, khái niệm ấy được người dịch dùng vào việc phô trương, đáng bóng cá nhân, chứng tỏ người phê bình đã hiểu sai ngay từ đầu công tác dịch thuật, không những thế, người ấy còn bộc lộ chính dụng ý kém đạo lý của mình khi suy diễn và gán ghép dụng ý ấy cho người khác. &quot;Phải có thánh thiện trong người thì mới tin được thần linh&quot;, Hoelderlin nói, &quot;Đám đông chỉ thích đồ dùng nơi chợ búa, kẻ nô lệ khúm núm trước cường quyền&quot;. &quot;Vẻ đẹp&quot; thi ca…có lẽ là tấm hình đối mặt Thượng đế trung thực nhất&quot;…và thi ca Hoelderlin đã đạt, có nghĩa &quot;chạm đỉnh thần linh (vẻ đẹp) ngôn ngữ Đức!&quot; </p>
<p>Cuối cùng, nếu giữ gìn vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt đáng là một bổn phận, thì có lẽ bổn phận trước hết của Pantan là nên đọc lại đoản văn góp ý của ông xem vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt có hiện tiền trong đó không, cho một &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot; như ông tự xưng. &quot;Trong sáng&quot; trên cả hai phương diện văn phong và ý tưởng, góp ý của Pantan gây ấn tượng trái ngược – khá thất vọng &#8211; về một mệnh danh gọi là &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot;. </p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Xin đọc: Hoelderlin, Heidelberg, Thái Kim Lan dịch</p>
<p>Và Hoelderlin, Haelfte des Lebens, Thái Kim Lan dịch trong các links sau đây:</p>
<p><a href="http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=2774:friedrich-hoelderlin-&amp;catid=11:vanhoa&amp;Itemid=15">http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=2774:friedrich-hoelderlin-&amp;catid=11:vanhoa&amp;Itemid=15</a></p>
<p>http://phanba.wordpress.com/2011/10/13/m%E1%BB%B9-nhan-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-non-d%E1%BB%87-nh%E1%BA%A5t/</p>
<p><a href="http://www.diendan.fr/sang-tac/dich-va-gioi-thieu-mot-bai-tho-cua-friedrich-holderlin/">http://www.diendan.fr/sang-tac/dich-va-gioi-thieu-mot-bai-tho-cua-friedrich-holderlin/</a></p>
<p><a href="http://www.baomoi.com/Nhan-doc-bai-tho-H%C3%A4lfte-des-Lebens-Nua-doi-cua-Friedrich-H%C3%B6lderlin/152/4590820.epi">http://www.baomoi.com/Nhan-doc-bai-tho-H%C3%A4lfte-des-Lebens-Nua-doi-cua-Friedrich-H%C3%B6lderlin/152/4590820.epi</a></p>
<p><a href="http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-27-friedrich-hoelderlin-thi-ca-cham-dinh-than-linh-ngon-ngu-duc">http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-27-friedrich-hoelderlin-thi-ca-cham-dinh-than-linh-ngon-ngu-duc-</a></p>
<p><a href="http://www.nguoiduatin.vn/my-nhan-nuoc-non-de-nhat-a21059.html">http://www.nguoiduatin.vn/my-nhan-nuoc-non-de-nhat-a21059.html</a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thái Kim Lan</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22768/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Uẩn kh&#250;c t&#236;nh ca B. Brecht</title>
		<link>http://damau.org/archives/22459</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22459#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 06 Dec 2011 08:01:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bertolt Brecht</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22459</guid>
		<description><![CDATA[Không bạn bè với nhau 
Thế mà chúng tôi sống bên nhau 
Khi hai đứa nằm ôm nhau 
Chúng tôi xa lạ còn hơn vầng trăng]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<blockquote><p><strong>LND</strong> — “Uẩn khúc tình ca B. Brecht” (chữ của người dịch cho những bài thơ dưới đây) mang nhiều dấu giọng, tha thiết, xót xa, thương cảm, ân cần, lạnh lùng, cay đắng, đôi khi trâng tráo, đáng ghét, nhưng tất cả chỉ là dấu ẩn. Tiềm ẩn dưới sâu vẫn là chữ tình “đố ai gỡ mối tơ mành cho xong”, không những “tình ái” lứa đôi (Liebe, love) mà còn tình người, tình thân hữu (Freundlichkeit, friendliness), mảnh lưới con người với con người mang đầy thèm khát cũng như trắc ẩn rất người, yêu và được yêu, yêu thương và phản bội, đớn đau và hạnh phúc, khó mà gỡ nỗi và cũng là băn khoăn lớn nhất của nhà thơ, tưởng đã rơi khỏi đời nhưng khi trở về còn vấn vương gấp bội. <em>(TKL)</em></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Thời ấy chúng mình (I)</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Ban đầu vui làm mất ngủ   <br />Sau đó khổ trằn trọc thâu canh    <br />Khi cả hai không còn bận tâm    <br />Tôi ngủ. Nhưng than ôi từ đó    <br />Mỗi sáng tháng năm    <br />Trở thành đêm tháng mười*    <br />&#160;</p>
<p>* Nguyên tác: Novembernacht: đêm tháng mười một   <br />dịch sang tiếng Việt lại khó đọc nên mạn phép dịch “tháng mười”</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Thời ấy chúng mình (II)</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Nỗi lo của em đã là của anh   <br />Nỗi lo của anh đã là của em    <br />Khi em không mang theo một điều vui    <br />Thì chính anh không có.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Tình ca cuối cùng</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Khi ngọn nến lụi tàn   <br />Giữa hai đứa chỉ còn tro lạnh    <br />Khi con đường đã đi hết    <br />Ta chưởi nhau như hai tên khốn kiếp    <br />Beatrice bị bắt tại trận    <br />Gã cặp kè ả là mật thám    <br />Tội trạng đã sáng tỏ    <br />Thay lời thề, ung mủ chảy    <br />Có bấu nát cả bầu trời    <br />Rốt cuộc hận ghét thắng thế    <br />Ông Cột bà Kèo, đại thánh hiền nay xưa    <br />Đã biết điều ấy từ khuya</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Tình ca trong thời đốn mạt</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Không bạn bè với nhau   <br />Thế mà chúng tôi sống bên nhau    <br />Khi hai đứa nằm ôm nhau    <br />Chúng tôi xa lạ còn hơn vầng trăng</p>
<p>Và có lẽ nếu gặp nhau hôm nay giữa chợ   <br />Vì vài con cá chúng tôi có thể đánh nhau    <br />Không bạn không bầu với nhau    <br />Khi chúng tôi nằm ôm ấp nhau</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Khi nào cũng thế, lúc tôi ngắm người đàn ông ấy</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Khi nào cũng thế   <br />Lúc tôi ngắm người đàn ông ấy    <br />Anh không nhậu và    <br />Vẫn nụ cười xưa    <br />Tôi nghĩ: khá hơn rồi    <br />Mùa xuân đến, thời may đến    <br />Thời gian, thời xưa ấy    <br />Nay đã quay về    <br />Tình yêu lại bắt đầu, không lâu    <br />Mọi thứ lại như xưa</p>
<p>Khi nào cũng thế   <br />Lúc tôi trò chuyện với anh    <br />Anh ngồi ăn và không bỏ đi    <br />Anh nói với tôi và    <br />Không đội mũ trên đầu    <br />Tôi nghĩ: sẽ tốt thôi    <br />Thời bình thường qua rồi    <br />Với môt người    <br />Có thể chuyện trò, và người ấy nghe mình    <br />Tình yêu lại bắt đầu, không lâu    <br />Mọi thứ lại như xưa</p>
<p>Mưa   <br />Không trở lại về trời    <br />Khi vết thương    <br />Không còn nhức nữa    <br />Vết sẹo đau</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Tôi đã thấy anh đêm nằm phồng mang ngáy</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi đã thấy anh đêm đêm nằm phồng má phì phò   <br />Trong giấc ngủ, thật thô lỗ    <br />Và buổi sáng tôi đưa chiếc quần mòn soi ngược    <br />Ánh sáng, lúc ấy tôi thấy rõ bức tường đàng sau.    <br />Và khi tôi thấy nụ cười tinh quái của anh,    <br />Tôi sợ, nhưng    <br />Khi tôi nhìn những chiếc giày thủng lỗ anh mang,    <br />Tôi bỗng yêu anh vô cùng.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Những câu hỏi</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Hãy viết cho anh, em đang mặc áo gì! Có ấm không?   <br />Hãy viết cho anh, em nằm ra sao! Có êm không?    <br />Hãy viết cho anh, em trông ra sao! Vẫn còn như thế?    <br />Hãy viết cho anh, em thiếu điều chi? Có phải thiếu cánh tay anh?</p>
<p>Hãy viết cho anh, em như thế nào! Người ta có tha em?   <br />Hãy viết cho anh, họ làm gì! Em còn đủ can cường?    <br />Hãy viết cho anh, em làm gì! Điều ấy có tốt?    <br />Hãy viết cho anh, em đang nghĩ gì? Có phải nghĩ đến anh?</p>
<p>Dĩ nhiên anh chỉ có những câu hỏi cho em!   <br />Và anh nghe câu trả lời, như lời tự trả!    <br />Nếu em mệt mỏi, anh không buồn trách em</p>
<p>Khi em đói, anh không có gì cho em ăn   <br />Và như thế tuồng như anh rơi khỏi thế gian    <br />Không còn ở đó nữa, như thể anh quên em.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22459/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>g&#243;p &#253; với đinh từ b&#237;ch th&#250;y: Chữ T&#237;n của Dịch Thuật</title>
		<link>http://damau.org/archives/22395</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22395#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 30 Nov 2011 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22395</guid>
		<description><![CDATA[Người dịch ... chung qui vẫn phải tôn trọng nguyên tắc TÍN như chính Nguyễn Hiến Lê đã lựa chọn. Trong công việc dịch, chủ thể dịch vẫn là nô dịch chuyển tải, ấy vậy mà tai ách “diệt” vẫn khôn lường.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote><p><strong>LTS</strong>: Bài viết dưới đây được tác giả Thái Kim Lan gửi như một góp ý dưới bài phỏng vấn “<a href="http://damau.org/archives/22358" target="_blank">Hãy Luôn Khao Khát, Hãy Cứ Dấn Thân</a>.” Da Màu đã đề nghị và được phép đăng bài như một đối chiếu trong quan điểm với bài “<a href="http://damau.org/archives/22398" target="_blank">Cái rộng (Nhã/Mỹ) trong Dịch Thuật</a>” là bài Đinh Từ Bích Thúy hồi đáp/tổng kết các lời góp ý khác của độc giả. </p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/chutin.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="chutin" border="0" alt="chutin" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/chutin_thumb.jpg" width="236" height="222" /></a></p>
<p align="center"><strong><font size="5">Tín</font></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p>Đọc <a href="http://damau.org/archives/22343">“trò chuyện với DTBT về dịch thuật”</a> xin góp ý hai điều: một về tinh thần dịch, một về nguyên tắc dịch.</p>
<p>Tôi cảm quí cái “TÂM” – xin dùng một chữ cũ rích &#8211; chị Bích Thúy dành cho công việc dịch thuật. Bên cạnh đam mê “Hãy luôn khao khát. Hãy luôn dấn thân,” tôi còn thấy đức hạnh hiếm có trong cách thế chị nhìn vấn đề và nói về công việc dịch thuật của chính mình: cởi mở, chấp nhận thử thách và đầy trách nhiệm ngay cả về cái sai, cái chưa đúng, bền bỉ theo đuổi công việc. Sức trẻ trong dịch thuật của chị thật đáng yêu. Ngôn ngữ trả lời nhẹ nhàng rất nữ tính mà đầy tự tin, khác với “con tim mù loà,” nhưng không thua “trái phá“ để nói theo Trương Đức. Cảm động và ngạc nhiên. Cảm động vì nhớ đến “cái buổi ban đầu lưu luyến” mê dịch ấy, đúng là hành trình lên đường khám phá và chia với người khác một thế giới khác, trong đó tưởng tượng tung cánh. Ngạc nhiên đầy thú vị về năng lực đột phá hầu như không ngừng về công việc dịch thuật của chị, bởi vì chính tôi là kẻ nhiều hoài nghi về “dịch” do cảm giác bị động khi phải dịch! Mặc dù khởi đầu, nhận hay muốn, thích dịch một văn bản là của chính người dịch, cái cảm giác “bị cầm tù” trong ngôn ngữ của người khác, rị mọ, gò bó trong văn bản vẫn không thể cất bỏ được khi bắt đầu công việc, dịch là khổ sai! Dĩ nhiên khi hoàn tất bản dịch niềm vui đến, đôi lúc là niềm vui gấp đôi, vừa giải thoát gông cùm, lại vừa sản sinh ra một văn bản…dịch là… của mình.</p>
<p>Cái cảm giác gông cùm một phần đến từ bản chất khách quan của công việc dịch. Nói về dịch thuật &#8211; không thể không nói về một số nguyên tắc – tác giả Lương Thư Trung đã nhẹ nhàng dẫn chứng Nguyễn Hiến Lê, một học giả bậc thầy về dịch thuật, để trò chuyện với dịch giả ĐTBT… thật ra cũng không ra ngoài các nguyên tắc mà A.F.Tytler<b>,</b> H. C. Tolman cũng như Nghiêm Phục đã nêu ra trong lý luận về dịch thuật. Góp ý của Thường Mộng tôi hiểu nằm trong lãnh vực này, và đã làm tôi nhớ đến cuộc thảo luận năm 2008 ở trang Hội Luận Văn Học về vấn đề dịch xuôi và ngược từ việc dịch thơ Lê Đạt của tôi.</p>
<p>(Xin xem các links sau đây:</p>
<p><a href="http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=195">http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=195</a></p>
<p><a href="http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=186">http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=186</a></p>
<p><a href="http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=195#comments">http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=195#comments</a></p>
<p><a href="http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=202#hide">http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=202#hide</a></p>
<p><a href="http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=202#comments">http://hoiluan.vanhocvietnam.org/?p=202#comments</a>)</p>
<p>Trong cuộc thảo luận này một trong những <em>acteurs</em> chính là anh Quốc đã nhắc đến ba nguyên tắc&#160; “tín-đạt-nhã,” và tôi nghĩ đòi hỏi của Thường Mộng về dịch thuật có cơ sở, chứ không như bác Quỳnh Thi phát biểu. Có cơ sở vì căn cứ trên phát biểu có thể gây hiểu lầm của chị Bích Thúy:</p>
<p>Ban đầu: “Thúy cũng nghĩ rằng trong quá trình dịch một người dịch không nên bắt đầu bằng sự ‘<em>cam chịu đánh mất một phần cái hay trong nguyên tác’”</em> rất đúng, người dịch cần đưa tiêu chuẩn toàn hảo và tận tình dịch đến khổ tận! &#8211; nhưng sau đó câu phát biểu<em>: “</em>Sự khiếm khuyết của một bản dịch không ngăn ngừa tinh thần khai phá của độc giả, và cũng không giảm đi cái đẹp, cái hay của nguyên bản. Cho dù các bản dịch của <i>Les Misérables</i>, <i>Chiến Tranh và Hòa Bình</i>, <i>Madame Bovary, </i>v.v… bất cứ trong ngôn ngữ nào không được hoàn hảo đi nữa, Thúy nghĩ một độc giả vẫn nhận ra cái tuyệt tác thần sầu của tác phẩm và tác giả. Dịch không phải là diệt. Dịch là bay, là mở, là nhận.”</p>
<p>Làm sao được? Trên nguyên tắc một bản dịch khiếm khuyết thì “trật đường rầy rồi,” không thể có một tác dụng chuyển tải đúng mức cho một văn bản, nó còn có thể là một tai hại. Chữ&#160; “khiếm khuyết” dùng trong ngữ cảnh của chị ĐTBT có lẽ chưa đạt lắm chăng? Phải chăng trong ngữ cảnh của cuộc phỏng vấn, chị ĐTBT muốn nói “Sự <em>chưa toàn hảo</em> của một bản dịch…“ chứ không phải “sự khiếm khuyết“? Bởi lẽ một bản dịch dù chuẩn đến mấy cũng chưa toàn hảo tuyệt đối &#8211; mặc dù có ngoại lệ bản dịch hay hơn bản gốc, nhưng điều này rất hiếm hoi. Tuy nhiên dù chưa toàn hảo, bản dịch có thể giữ vai trò chuyển tải đến người đọc, mở ra một chiều kích mới khả dĩ đưa người đọc&#160; “khai phá,” &#8211; dùng chữ của chị ĐTBT- và đến gần với nguyên tác. Dịch, như tôi đã phát biểu trong hội luận văn học là khổ công “làm gần” người đọc với nguyên tác trên bình diện hiểu, cảm thông, đồng điệu thưởng thức.</p>
<p>Tôi nghĩ trong ngữ cảnh ấy, bác Thường Mộng cũng gần với bác Quỳnh Thi và xin thứ lỗi nếu tôi nói sai.</p>
<p>Nhất thời tôi cũng thắc mắc về ví dụ chị ĐTBT đưa ra, khi nói về tính sáng tạo trong dịch thuật: với câu <em>être ou ne pas être</em> mà J. Prévert đổi là <em>être où ne pas être</em>, đây không phải là dịch mà là chơi chữ, hoán đổi chữ thành một nghĩa mới, một cách sáng tạo ý nghĩa mới. Theo thiển ý của tôi, sáng tạo trong dịch thuật nằm trong nguyên tắc “nhã” nhiều hơn nguyên tắc tín (trung thực). Ngôn ngữ dịch sáng tạo chính là lối sử dụng ngôn từ đạt và đẹp, cần sự điêu luyện và hóa nhập ngôn ngữ mà không phản nghĩa, vẫn giữ “tín.” Người dịch chỉ “bay” trong ngôn ngữ dịch của chính mình, một sản sinh mới trong “bốn bề xuân khóa“! Nhưng chung qui vẫn phải tôn trọng nguyên tắc <strong>TÍN</strong> như chính Nguyễn Hiến Lê đã lựạ chọn. Trong công việc dịch, chủ thể dịch vẫn là nô dịch chuyển tải, ấy vậy mà tai ách “diệt” vẫn khôn lường.</p>
<p>Câu hỏi đặt ra là “tín” có làm mất tự do vì “nô dịch” quá chăng?</p>
<p>Có lẽ trong chữ “dịch” đã bao hàm chuyển hoá, biến đổi, thổi hồn. Sáng tạo và tài hoa của người dịch là thay sinh khí cho nguyên bản bằng một ngôn ngữ khác đầy sống động chứ không phải cái xác không hồn theo cách dịch từng chữ một (<em>mot à mot</em>). Trong tất cả các thể văn nguyên tác, văn, thơ – vì nằm ở lãnh vực hình thức &#8211; được hưởng nhiều bao dung nhất, nhưng ý vẫn phải được tôn trọng.&#160; Chính ở điểm này, dịch giả phải cố gắng bù trừ bằng ĐẠT và NHÃ. Tính sáng tạo của dịch giả chuyển động trên hai bình diện đạt nhã ấy. Lấy một ví dụ: Vĩnh Sính dịch thơ Hài Cú Nhật ra thể lục bát, tuy điều này đã mất tính cách thơ Nhật tiêu biểu hết gần nửa, nhưng bù lại nhịp điệu lục bát và Việt từ được chọn lọc để khả dĩ có thể chuyển tải hồn thơ Nhật, người dịch như thế làm thơ trên thơ, trong chừng mực ấy dịch giả sáng tác. Điều ấy cho phép nếu dịch giả chuyển tải ý thơ không sai lạc.</p>
<p>Nói chung Tín cần Đạt và Nhã trong một bản dịch, điều này ai cũng rõ.</p>
<p>Da Màu khởi sắc với phần dịch thuật tiên phong đáng kể và rất đáng trân trọng. Và như chính chị ĐTBT đã phát biểu, công trình dịch thuật là một tiến trình vô hạn, chính vì chúng ta cần trao đổi, cần cảm thông và cần hiểu nhau trên một chuyến đò, chuyến tàu hay chuyến bay chuyển qua bờ bên kia của đồng điệu. Chúng ta cần “với nhau” qua ngôn ngữ nghìn trùng.</p>
<p>Cám ơn black raccoon và Lê Thành Huấn đã bổ túc thêm tên nữ dịch giả cố ni sư Trí Hải. Tôi cũng xin bổ túc thêm nữ dịch giả Phùng Thăng, bào muội của cố ni sư Trí Hải, cũng tài hoa không kém trong cộng tác dịch thuật (<em>H. Hesse, Bắt trẻ đồng xanh</em>).</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22395/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>tự sự: thay lời bạt cho &#8220;thư gửi con&#8221;</title>
		<link>http://damau.org/archives/22307</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22307#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 20 Nov 2011 09:34:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Phụ Nữ & Giới Tính]]></category>
		<category><![CDATA[Quan Điểm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22307</guid>
		<description><![CDATA[Chia sẻ quan điểm giáo dục “phản quyền uy”, đồng thời tham chiếu tư tưởng của trường phái “nhân tính học”... và nhất là luôn có sự đối chiếu tinh thần khai sáng Tây phương và khai sáng đốn ngộ của Phật giáo, tôi áp dụng phương cách “nói với con,” ngay từ khi con chưa biết nói và bắt đầu biết nói.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<blockquote><p><strong>LTS:</strong> Bài “Tự Sự” dưới đây do Thái Kim Lan viết thay cho lời bạt trong quyển <em>Thư Gửi Con</em> sẽ xuất bản ở Việt Nam, gồm những bức thư tác giả đã viết nguyên thủy bằng tiếng Đức gửi cho con gái là Thái Mai Lan bắt đầu từ thời ấu thơ, cùng những bút ký liên hệ đến tình mẹ con. “Tự sự” diễn tả cách người mẹ sửa soạn trí tuệ, tâm hồn, thể xác, và môi trường sống, để đón chào sự hiện diện của cô con gái trong đời mình.</p>
<p>“Một người bẩm sinh không là, mà sau mới trở thành đàn bà”<font size="2"> (</font><font size="1"><font face="Arial"><em><span style="font-family: times new roman">On ne naît pas femme, on le devient</span></em>),</font></font> Simone de Beauvoir đã nhận xét có phần nào cay đắng trong tác phẩm <em>Le Deuxième Sexe</em> (<em>Phái Tính Thứ Nhì).</em> Qua bài viết này, người đọc thấy rõ rằng mọi sự chăm sóc mà tác giả đã dành cho con gái thật ra không phân biệt giới tính, nhằm đào tạo một nền tảng tâm lý, trí tuệ và đạo đức vững chắc trong một mầm non, giúp nó giữ vững tinh thần trước mọi chi phối của môi trường xã hội bên ngoài gia đình. Thái Kim Lan viết: “<em>Hơi người” hai chữ ấy thật ấm áp. Hơi người ở đây là tình người trong sự tin cẩn, trong sự chung nhau gìn giữ, nuôi nấng đời sống con người thật lành mạnh, tinh tấn mà không phung phí, không xa hoa. Tình ấy dính liền với từng hương thơm, từng hơi ấm kết tụ từ dòng sữa người mẹ, từ cử chỉ chăm nom trìu mến thận trọng của người chung quanh. Thật đẹp để nhận ra ý nghĩa nhân bản ấy trong cách cùng chung nhau nuôi nấng con người.”</em> Qua lời diễn tả của tác giả, người đọc đã cảm nhận được định nghĩa “nữ quyền” rất sâu rộng của chị: nữ quyền chính là tình mẫu tử vô biên vô úy truyền giúp thế hệ hậu sinh –bất kể nam nữ &#8211; nhận thức được tiềm năng sung mãn nhất của kinh nghiệm làm người.</p>
<p>Thái Mai Lan, con gái của Thái Kim Lan, hiện đang điều phối chương trình Open Academy Europe tại Đại học Mỹ thuật Huế. Gần đây, cô đại diện Trung Tâm Văn Hóa Goethe (Đức quốc) điều phối các <a href="http://damau.org/archives/21538" target="_blank">chương trình Liên Hoan Phim Đức</a> tại những thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Sàigòn và Cần Thơ.</p>
</blockquote>
<p align="left">
<p align="left">
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/tkl-and-tml1.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="tkl and tml" border="0" alt="tkl and tml" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/11/tkl-and-tml_thumb1.jpg" width="311" height="440" /></a></p>
<p align="center">Thái Kim Lan bế con gái Thái Mai Lan</p>
<p>&#160;</p>
<p>Có thể nói tôi được làm mẹ trong một hoàn cảnh khá đặc biệt: sinh con ở trên đất khách, xa đại gia đình, xa mẹ và chị, những người phụ nữ thân yêu từng có kinh nghiệm đi trước. Chúng tôi quanh quẩn chỉ có một gia đình nhỏ trong xã hội Đức mà tôi chưa hoàn toàn hội nhập. Hơn một nửa người của mình còn mang nặng quãng đời niên thiếu ở quê hương Việt nam.</p>
<p>Trong thời gian du học, từ nửa thập niên 60, cho đến thập niên 70, sau đó hành nghề, tôi đã chứng kiến &#8211; còn là một kẻ ngoại cuộc &#8211; những buổi hội thảo rầm rộ tại các Đại học trên nhiều tiểu bang của CHLB Tây Đức do sinh viên Đức tổ chức. Bởi vì một trong những đề tài thảo luận sôi nổi nhất là về phong trào phụ nữ giải phóng, thời ấy ở Âu châu đang lên cao độ. Mọi vấn đề nam nữ trong xã hội được nêu lên công khai, trong đó ngoài vấn đề nam nữ bình quyền, một vấn đề khác cũng được thảo luận không kém sôi nổi: vấn đề giáo dục con cái theo phương pháp dùng quyền uy của cha mẹ hay phản quyền uy (antiautoritaer).</p>
<p>Khuynh hướng giáo dục phản quyền uy đến từ chủ trương giải phóng con người ra khỏi mọi ràng buộc hay áp bức xã hội đến từ truyền thống thế lực gia đình. Bắt nguồn từ chủ trương dân chủ theo hướng tự do là quyền bất khả xâm phạm của con người, từ quan niệm bình đẳng nam nữ, từ khoa phân tâm học về mặc cảm “Oedipus” hệ lụy phụ mẫu, từ khoa tâm thần học về hậu quả điên loạn của con cái do những áp bức gia đình&#8230;.Phong trào phản đối đường lối giáo dục con cái khắt khe có thể bóp chết sáng tạo cá nhân hầu như nắm ưu thế và chủ trương mới đề nghị một lối giáo dục duy nhân bản nở rộ ở Âu châu.</p>
<p>Những bạn đồng nghiệp người Đức của tôi là những đệ tử trung thành của chủ trương ấy, đến nỗi họ run sợ trước một tiếng ho hay rớt nước mắt xúc động khi nghe tiếng cười của đứa con. Đứa con trở nên “ông vua hơn cả vua“ mới trong gia đình. Chưa bao giờ văn chương về những khủng hoảng trong tương quan mẹ con, cha con lại nở rộ trên thị trường sách báo văn học Âu châu như trong giai đoạn bấy giờ.</p>
<p>Trong hoàn cảnh ấy, tôi chuẩn bị sinh con. Dĩ nhiên điều trước tiên là tìm sách đọc để thu thập kinh nghiệm nuôi con, làm mẹ, tìm bạn bè cùng hoàn cảnh để trao đổi. Trong thời gian này, phong trào nữ giới tự lập đang là “mode“ của nữ lưu trí thức. Tôi còn nhớ đã ngạc nhiên khi nghe một anh bạn Đức phát biểu: “Phụ nữ đẹp nhất khi đang thời thai nghén,” “cái bầu của người phụ nữ” làm tăng vẻ đẹp đàn bà,” ngược hẳn với quan niệm thẩm mỹ mà tôi mang theo từ Việt nam cho rằng “cái bụng bầu“ làm mất vẻ đẹp của người đàn bà. Người phụ nữ mang bầu là phải “trốn,” tránh đám đông với lý lẽ phản khoa học: ra đường gặp đàn bà đã xui mà gặp phụ nữ mang bầu còn xui hơn. Từ đó tôi đã sửa cái nhìn thẩm mỹ về phụ nữ, không còn theo quan niệm kỳ dị ấy và đã sửa con mắt của mình, không dùng con mắt nam giới nhìn phụ nữ như một đối tượng phụ thuộc phái nam về sắc đẹp hay giới tính.</p>
<p>Tôi còn nhớ cô bạn gái của tôi đã hãnh diện thế nào khi chính chị chọn lựa đứa con cho mình, chứ không phải cho gia đình, cho chồng và tuyên bố thẳng thừng trước mẹ của mình,- điều mà tôi không thể nói với mẹ tôi: &quot;<em>Ich will nicht so werden wie meine Mutter</em>&quot; (Tôi không muốn trở thành một người như mẹ tôi) và những bà mẹ cũng tuyên bố: &quot;<em>Ich wollte meine Tochter nicht so erziehen, wie ich erzogen worden bin</em>&quot;.(Tôi đã không muốn giáo dục con gái tôi như tôi đã được – hay bị- giáo dục). Mọi cấm kỵ về tương quan mẹ- con đều bị hạ bệ, điều mà tôi- khác với chị bạn người Đức- khó làm.</p>
<p>Cùng chung cảnh ngộ đang trở thành mẹ, chúng tôi đã hăng say trao đổi sách vở về phương pháp dưỡng thai, nuôi con, dạy con, với tâm trạng hưng phấn về đứa con. Tất cả những gì hay nhất tốt nhất làm cho đứa con khoẻ mạnh, hạnh phúc đều được nghiền ngẫm và trở nên một đam mê. Những nghiên cứu sinh lý, tâm lý về mẹ con đều được tham khảo. Chúng tôi, những bà mẹ mang bầu, đã hạnh phúc vô vàn trong viễn tượng làm mẹ, hồi hộp chờ ngày sinh con.</p>
<p>Nhưng trong lúc người bạn gái Đức của tôi muốn chứng tỏ cho gia đình vị trí độc lập của chị trong việc có con, nuôi con, và lắm lúc rất tàn nhẫn đối với bà mẹ, tôi vẫn là một phụ nữ Việt nam “thủ cựu.” Tôi thủ cựu cái chất Việt nam đã được nhào nặn trong tôi từ thời niên thiếu.</p>
<p>Như một bản năng tự vệ, trong môi trường xa lạ ở nước người, tôi “thủ cựu” những gì mà bà tôi, mẹ tôi, chị tôi đã truyền lại qua hành động của họ đối với gia đình, mặc dù không phải tất cả những gì tôi mang theo trong hành lý tinh thần, đều là toàn hảo.</p>
<p>Có lẽ hai điều quan trọng đã theo tôi trong suốt hành trình xa nhà: Vẻ đẹp cao thượng của người phụ nữ VN theo nề nếp gia đình vẫn thường chiếu sáng tâm hồn tôi trong những ngày trên đất lạ &#8211; nhớ nhà là nhớ nồi cơm của mẹ, mặc dù trong gia đình tôi nổi tiếng là đứa hay phản kháng, nhăn nhó với mẹ, nhớ đức kiên nhẫn chịu thương chịu khó của mẹ của bà qua bao thế hệ &#8211; và song song với vẻ đẹp ấy, tri thức tôi có được từ gia tài tư tưởng Tây phương, những tiến bộ của khoa học trong thời gian học và dạy, trong đó vấn đề bình đẳng nam nữ trên phương diện tư tưởng đã gặp khái niệm khai sáng của triết lý Phật giáo.</p>
<p>Thêm một điều rất may, bên cạnh ấy, sự tìm tòi nghiên cứu và thực hành đạo Phật đã cho tôi nhiều tự tin và hành thâm ý nghĩa của tình thương. Trong khoảng thời gian chuần bị sinh con, tôi vẫn đi dạy môn triết học so sánh và hướng dẫn các khoá học Thiền cho sinh viên Đức. Đây đã là cơ hộ quý báu trao đổi sống động về nhân sinh quan Đông-Tây. Đồng thời tôi tiếp tục những hoạt động trong trung tâm Giao lưu Đức Á do tôi cùng với những người bạn Đức và Á châu thành lập hai năm trước khi sinh con. Một trung tâm lấy Thiền làm cơ sở tinh thần và hoạt động tương trợ xã hội cho người nước ngoài làm mục đích.</p>
<p>Tất cả những điều ấy làm cho tôi khác với những người bạn gái Đức trong cách ứng xử của người phụ nữ, nhưng tôi biết tôi đã nợ những người bạn này, nhờ họ mà tôi điều chỉnh được những thiên kiến về thân phận người phụ nữ, nhìn lại vai trò của những thế hệ đi trước và khám phá những giá trị nhân bản mới của người phụ nữ, người mẹ, người chị, người con.</p>
<p>Có lẽ chưa bao giờ cảm giác “là người phụ nữ” đến với tôi đầy tròn đến thế như trong thời gian sắp sửa làm mẹ. Có một năng lực sống mới chảy bừng trong thân thể đến lạ kỳ. Chưa bao giờ tôi thấy mình lạc quan và hưng phấn đến thế. Mọi buồn chán, uể oải, những nghi vấn, những nhàm chán hiện sinh, cảm giác thấy đời sống đôi khi trống rỗng biến mất nhường chỗ cho sự hăng hái làm việc không mệt mỏi.</p>
<p>Sau ba tháng đầu bị đảo lộn vì cơ thể thay đổi, những tháng sau tôi thấy sức lực của mình như được tăng gấp đôi mà không cần một loại thuốc bổ dưỡng nào. Những hiện tượng đau yếu khắc khoải về thể xác cũng biến mất. Công việc nghiên cứu tại các thư viện quốc gia tiếp tục đều đặn, tôi đi Paris để thăm thư viện quốc gia tìm tài liệu cho đề tài đang khảo cứu, mà tựa như đi dạo trong vườn. Tôi có thể ngồi đọc tài liệu hàng giờ mà không mỏi mệt. Có lẽ vì thế mà con tôi sau này mê đọc sách hơn bất cứ thứ gì chăng?</p>
<p>Trở về lại Muenchen, tôi tiếp tục hướng dẫn lớp ngồi Thiền đều đặn chăm chỉ, cho đến tận ngày sinh con.</p>
<p>Sau này, tôi thường giải thích với bạn bè, con tôi “thương Phật” trong tự tính bẩm sinh của nó mà tôi không cần phải khổ công uốn nắn hay răn dạy, phần nào có lẽ cũng do trong thời gian mang thai, tôi đã giảng dạy về Phật học và ngồi Thiền không ngừng nghỉ &#8230;. Ngay cả hai tuần trước khi sanh, bác sĩ cấm không được hoạt động nhiều, tôi lợi dụng thì giờ nghỉ dạy ở trường để hoàn tất một cuốn sách nấu ăn theo yêu cầu của một nhà xuất bản Đức. Lạ thay sau này Mai Lan cũng thích xem những mục biểu diễn nấu ăn và cũng thích nấu các món ăn như mẹ và bà.</p>
<p>Trước ngày sanh một hôm, tôi còn ngồi Thiền định với sinh viên tại Trung Tâm Giao Lưu Đức Á.</p>
<p>Không có bà, mẹ và chị bên cạnh, ở nơi đất lạ, tôi tìm đến bạn và mẹ của bạn để học hỏi thêm kinh nghiệm trong lúc chuẩn bị sinh con.</p>
<p>Những trao đổi này cho chúng tôi ý thức rõ hơn, tình trạng tâm sinh lý của người mẹ trong lúc mang thai ảnh hưởng không ít đến tính tình của người con. Chúng tôi đã lựa chọn những thức ăn, thức uống, cố gắng giữ đời sống tinh thần quân bình trong lúc mang thai để “nhắn gửi“ và chuyện trò với bào thai của mình, hầu tạo một đồng điệu sau này. Tôi còn nhớ, theo lời hướng dẫn trong sách của bác sĩ Dr M. Stellmann, một bác sĩ tiên tiến theo trường phái “nhân tính học,”- <em>Anthroposophie-</em> do R. Steiner khởi xướng, tôi đã bỏ công đi tìm vải lụa màu xanh da trời và màu đỏ, mà theo sách, đó là màu của bào thai, đem về hì hục tự may lấy tấm màn vây quanh nôi của con. Theo quan niệm của trường phái này, đứa con khi mới mở mắt chào đời, sẽ không bị giật mình hoảng sợ nếu những cái nhìn đầu tiên được va chạm với màu sắc mà nó đã “nghe,” đã được “sờ” trong thời gian còn nằm trong bụng mẹ.</p>
<p>Cũng thế, thay vì sắm một cái nôi theo kiểu Tây phương, đầy tiện nghi màng mùng hiện đại, tôi tìm cho bằng được một cái nôi bằng tre, một cái nôi Việt nam y như ở làng quê, buộc bốn tao nôi. Chồng tôi phải nhờ anh bạn Đức ở cùng nhà hì hục treo từ trần nhà để ru con. Dạo ấy, những người bạn đồng nghiệp đến thăm, ai cũng phải vào xem “cảnh tượng lạ” này: một cái nôi tre Việt nam đong đưa một đứa bé ngủ ngon lành trong nôi giữa gian phòng Tây Âu.</p>
<p>Theo nghiên cứu của bác sĩ Stellmann &#8211; tôi vui mừng vì ông nói không khác kinh nghiệm người Việt nam xưa- đứa con mới lọt lòng cần được “ru“ trong cảm giác bồng bềnh như khi còn nằm trong bụng mẹ. Ru con là cách dẫn dắt êm ái nhất để đứa bé làm quen với không gian thế giới bên ngoài. Cho nên, để đứa con khỏi bị “sốc“ từ cảm giác được che chở hoàn toàn trong bụng mẹ, cần tránh cảm giác như bị lôi ra, quăng ra trần truồng vào thế giới bên ngoài một cách phũ phàng, có thể phương hại về tâm lý trẻ sơ sinh, gây nên sợ hãi lo âu trong vô thức của đứa bé. Và như thế tôi đã ru con trong căn nhà Tây và &#8230; lời ru đầu tiên là lời ru mà tôi đã được nghe khi lọt lòng: „Ru em cho thét cho muồi, để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu&#8230;“Ru em cho đến làng Hồ, em mua trái mít em bồ trái thơm“ giữa những tiếng xi lô xi la xa lạ đang bao quanh.</p>
<p>Sách vở thì nhiều, lời khuyên cũng lắm. Từ những thập niên 60, 70, 80 cùng với sự đổi mới vai trò của người phụ nữ trong xã hội, từ nội trợ trở nên công nhân, thư ký, nhà giáo, kỹ sư, giám đốc … càng ngày càng nhiều, việc nuôi con bằng sữa bò thoạt tiên được ủng hộ hầu như triệt để ở các tầng lớp phụ nữ trung lưu, nhất là ở thành phố. Hiệu quả tiết kiệm thì giờ, công sức, sức khoẻ cho người mẹ hầu như được đề cao. Hơn thế nữa công nghệ sữa hộp đã khôn ngoan nhắm yếu điểm của người phu nữ khi quảng cáo nuôi con bằng sữa bò, người mẹ sẽ bảo vệ được sắc đẹp vòng ngực phụ nữ, bảo đảm hạnh phúc gia đình.</p>
<p>Tuy nhiên, cùng lúc với phong trào giải phóng phụ nữ tại Âu châu và trào lưu trở về với thiên nhiên, với kinh nghiệm truyền thống, những điểm tiêu cực trong việc nuôi con bằng sữa bò được đem ra thảo luận. Ví dụ sửa bò không bằng sửa mẹ vì thiếu chất đề kháng. Cho con bú bình sữa không tiết kiệm thì giờ mà ngược lại bình sửa phải đem theo những lúc đi xa gây nhiều phiền toái hơn bầu vú mẹ luôn luôn cận kề với con. Sự ô nhiễm môi trường và môi sinh ảnh hưởng lên thức ăn gia súc và từ đó làm giảm chất lượng dinh dưỡng tốt. Trên phương diện tâm lý, đứa trẻ được nuôi bằng sữa bò có thể thiếu hơi ấm áp, trìu mến của da thịt người mẹ. Thói quen phụ thuộc vào bình sữa vô hồn sẽ ảnh hưởng đến tính tình của đứa con, đứa con có thể mang cảm giác thiếu thốn tình thương, cô đơn, thiếu tự tin về sau…</p>
<p>Chúng tôi triệt để thực hành những lời khuyên mà chúng tôi nghĩ là bổ ích nhất cho đứa con … với tư thế hầu như của một tín đồ … vì con và cho con.</p>
<p>Vào thời điểm ấy, phong trào nuôi con bằng sữa mẹ được đề cao và ủng hộ như một cuộc cách tân. Nuôi con bằng sữa mẹ được xem là cách nuôi con tốt nhất. Sữa mẹ là dòng sữa hiền lành nhất, bổ nhất, tinh khiết nhất trong tất cả các thứ sữa, nhất là những giọt sữa đậm đặc khi con vừa mới lọt lòng, đó là những giọt sữa mang sức sống lành nhất cho bé sơ sinh. Sữa mẹ lại là sản phẩm dinh dưỡng kinh tế, tiết kiệm thời gian (khỏi phải tốn công hâm nóng). Có thể nói trong thập niên 80, người mẹ „mới“ tìm lại nét đẹp phụ nữ ngay trong cách tự mình cho con bú mà không có cảm giác bị cho là cổ hủ.</p>
<p>Bạn gái tôi, Christine, và tôi chọn cách cho con bú. Tôi chọn lựa cách này theo trực giác nhiều hơn theo suy luận. Có gì tự nhiên và như nhiên hơn chuyện mẹ cho con bú? Khi tỉnh giấc sau cuộc phẫu thuật có đánh thuốc mê, việc đầu tiên là nặn những giọt sữa đầu tiên cho con bú, rồi lại chìm vào cơn mê. Trong mê, cảm giác hạnh phúc tràn trề dù vết cắt da thịt rát đau.</p>
<p>Các bà mẹ ở Việt nam theo truyền thống đã làm khác hơn tôi đã làm. Tôi không theo phương pháp hơ hấp vú sữa bằng lá trầu như ở Việt nam mà hoàn toàn theo cách tự nhiên: cho con bú sữa còn tươi, mà các bà mẹ gọi là sữa còn sống, vì không được “hơ háp” theo cách cổ truyền. Ai ngờ sữa sống lại chứa nhiều chất dinh dưỡng cũng như kháng tố cần thiết cho bé sơ sinh và người mẹ lại được bảo vệ hình dáng chứ không như con bò bị vắt sữa!</p>
<p>Khi cho con bú, người mẹ cẩn thận hơn đối với các thức ăn, ý thức hơn đối với thức uống. Cho con bú tự nhiên nhưng cũng đòi hỏi nhiều kiên nhẫn và lắm khi là một nghệ thuật.</p>
<p>Không phải chỉ dựa vào thời khoá biểu sáng trưa chiều mà tùy lòng, lòng mẹ và lòng con. Sự sẵn sàng “luôn ở đó” cho con không có nghĩa làm cho con hư- bé sơ sinh thì làm sao mà hư được?- mà là tín hiệu không lời cho con cảm giác luôn luôn được bao bọc, không bị bỏ rơi.</p>
<p>Trong những tháng đầu của trẻ sơ sinh, cảm giác ấm áp xác thịt thật là quan trọng. Có lẽ tôi hơn cô bạn của tôi ở tính nhẫn nại cho con bú cho đến lúc nào nó”đã thèm” mới thôi. Có nghĩa bú hàng giờ cho đến khi hết sữa trong thời khắc ấy.</p>
<p>Mai Lan đã được phép bú mẹ hàng giờ, vì thế em không bao giờ cần đến nắm vú cao su mà các bà mẹ thường nhét vào miệng con để con khỏi khóc đòi. Một thứ vú giả vô cảm như thế nếu có ai đưa cho bé Mai Lan là bé phun ra ngay. Em lại được bố luôn bồng ẵm, thay tã, ôm ấp, ru cho ngủ …. Những tháng đầu tiên, hình như em rất bằng lòng và … thích thú. Em không khóc nhè mà luôn cười vui bi bô, ngủ yên và thoải mái, phát âm rõ và sớm so với những trẻ em khác. Đến nỗi những người bạn Đức thường ngạc nhiên về sự hiện diện êm đềm của đứa bé trong nhà. Họ ngạc nhiên hơn nữa là em được ngủ chung với ba mẹ ban đêm, nằm nôi ban ngày mà thôi, cho nên khi đòi bú nửa khuya là có ngay.</p>
<p>Áo quần, “ổ nằm” cho bé cũng là một đề tài cho các bà mẹ đang chuẩn bị sinh nở. Chúng tôi tìm mua cho được tấm nệm lót nôi được bọc bằng vải bông mềm, nệm được bện bằng một lớp lông ngựa đã được tẩy sạch, bọc ngoài bằng bao sợi vài cô tông đã được làm mền, có chức năng thoáng mát chứ không bí bít như nệm ni lông có thể làm hầm da. Mùa lạnh đã được mẹ cho mặc những cái áo bằng sợi len cừu nguyên chất, rất đơn giản, không xa xỉ. Xuân hạ thì mặc áo sợi bông (coton) hay áo tơ tằm. Kiểu may đơn giản không cầu kỳ thêu ren, nhưng vẫn mỹ thuật và hợp với tâm tình của đứa trẻ.</p>
<p>Mẹ của cô bạn tôi thấy tôi xa nhà, xa đại gia đình thì thương và nâng đỡ nhiệt tình. Bà đã trấn an tôi khi con lên bang lên sưởi, cho tôi những lời khuyên qúi báu về các chứng bệnh của trẻ sơ sinh, ngoài lời khuyên của bác sĩ. Ngoài ra bà còn “tiếp viện” cho tôi những tã lót, khăn lót nôi, áo quần bé sơ sinh, xe đẩy trẻ em mà bà còn giữ lại từ những đứa con ngày trước. Bà bảo rằng áo quần cũ cho trẻ tốt hơn là áo mới vì chúng có…hơi người…</p>
<p>Hoá ra tâm tình những bà mẹ dù Đông hay Tây ở đâu cũng giống nhau.</p>
<p>Chữ tình là chữ khởi đầu trong sự nuôi con!</p>
<p>“Hơi người” hai chữ ấy thật ấm áp. Hơi người ở đây là tình người trong sự tin cẩn, trong sự chung nhau gìn giữ, nuôi nấng đời sống con người thật lành mạnh, tinh tấn mà không phung phí, không xa hoa. Tình ấy dính liền với từng hương thơm, từng hơi ấm kết tụ từ dòng sữa người mẹ, từ cử chỉ chăm nom trìu mến thận trọng của người chung quanh. Thật đẹp để nhận ra ý nghĩa nhân bản ấy trong cách cùng chung nhau nuôi nấng con người, trong hoàn cảnh của một người tha hương.Tôi đã giữ những tấm tã lót ấy cho đến khi chuyền lại cho bạn bè sinh nở sau tôi.</p>
<p>Mà sự thật thì những thứ gọi là cũ nhưng lại mới vô cùng, mới vì không có những thứ pha tạp giả dối của các sản phẩm pha chế hoá học, màu sắc diêm dúa loè loẹt chỉ chuộng bề ngoài. Đường kim mũi chỉ của mỗi chiếc áo, mỗi tấm tả lót còn mang sự cẩn trọng thiết tha của người may ra áo, tất cả dụng tâm đùm bọc lẫn nhau. Niềm vui có một đứa con hầu như đều được những người bạn Đức chia chung nhà ở với chúng tôi san sẻ. Trong khi tôi còn nằm trong bệnh viện, các bạn ở chung nhà đã cùng với chồng tôi lo dọn dẹp nhà cửa thật sạch. Nhất là sàn gỗ cũ mà từ trước chẳng có ai nghĩ đến phải đánh bóng, vì đó là một công việc vừa bụi bặm vừa mất thì giờ. Vậy mà tưởng tượng hình ảnh đứa bé sẽ bò khắp nhà trước khi đứng và đi đã thúc dục các bạn Đức cùng nhà xúm nhau thuê máy về đánh bóng, sơn trần nhà, treo nôi, suốt cả tuần sau giờ làm việc. Tất cả vì một đứa bé! Đến khi tôi cùng con trở lại nhà thì mọi góc nhà đều sáng bóng và sau này bé Mai Lan đã thoả thích bò khắp nơi.</p>
<p>Mai Lan đã được thừa hưởng hơi ấm tình những người chung quanh từ lúc mở mẳt chào đời như thế. Lòng tri ân những người bạn, nay có người đã thành thiên cổ, vẫn dạt dào trong tôi mỗi khi nhớ đến những năm tháng ấy.</p>
<p>Thập niên 80 cũng là thập niên của những báo động ô nhiễm môi truờng môi sinh trên thế giới. Người Đức có lẽ là dân tộc nhạy cảm nhất về vấn đề này. Có thể nói nước Đức (lúc ấy là Tây Đức) là một trong những nước tiên tiến trong chính sách môi trường môi sinh, khởi từ những thảo luận và những sáng kiến cá nhân. Phòng trào bảo vệ môi sinh chú trọng đến thực phẩm, thức ăn sạch, điều kiện tiên quyết bảo vệ sức khoẻ. Những sáng kiến cá nhân về chăn nuôi không dùng phân bón hoá học, thức ăn súc vật như cỏ, bắp, rau cải không dùng thuốc trừ sâu bọ …, đã manh nha và được quần chúng hưởng ứng. Một số trí thức và tầng lớp thượng lưu hưởng ứng phong trào này. Sự hưởng ứng của họ thoạt tiên bị phê phán như là một thứ “snob”, kiểu chơi trội, trưởng giả trở lại đồng quê &#8230;. Những sản phẩm chọn lọc này lại đắt tiền hơn thực phẩm chế biến thường, tuy nhiên nhu cầu sống sạch trở nên càng ngày càng thiết yếu cho con người. Đến nay càng trở nên cấp bách hơn so với nguy cơ tàn phá môi sinh và sự vô ý thức và vô đạo đức của những người sản xuất.</p>
<p>Chúng tôi không thuộc tầng lớp nào, lại vừa đi làm được vài năm, tiền dành dụm chưa có bao lăm, nhưng đối với đứa con mới sinh, chỉ mong muốn cho con được sức khoẻ bao lâu bé còn nằm trong tay mình. Vì thế chúng tôi nhịn bớt vài thứ &#8211; như tôi nhịn không mua áo đẹp! và còn cương quyết hơn chồng &#8211; đi tìm mua cho được sữa tươi của giống bò được nuôi bằng cỏ sạch, sau khi con dứt sữa mẹ. Dù đường đi ra tiệm ấy có xa gấp đôi gấp ba những tiệm gần nhà, tôi cũng lặn lội đi mua cho bằng được. Bột ngũ cốc cũng được chọn lựa theo tiêu chuẩn sạch ấy. Bình sữa của Mai Lan gồm sữa bò, bột ngũ cốc, mật ong, chứ không dùng đường trắng. Từ khi sinh ra cho đến lúc hai tuổi, sự dinh dưỡng của bé được chăm sóc cẩn thận, nhất là các thứ nước ngọt hay đường trắng, kẹo ngọt đều tránh không dùng. Đến hai tuổi bé Mai Lan chưa biết ăn kẹo và khó có ai dỗ ngọt bé bằng kẹo, đơn giản vì bé không biết kẹo là gì. Mai Lan được cưng chiều bằng sự chăm sóc trìu mến, bằng lời nói dễ nghe, bằng sự ân cần nơi từng ánh mắt, bằng thức ăn do mẹ và ba chọn lựa mà không nài ép, không dùng kẹo ngọt để dỗ dành, để nín khóc, bởi vì bé được nuôi “ngon”!</p>
<p>Tuy nhiên chế độ ăn uống này chấm dứt một phần khi đại gia đình tôi được đoàn tụ. Mai Lan được 2 tuổi. Mẹ tôi cùng với các cháu sang định cư tại Đức cùng với chúng tôi. Mai Lan được hưởng sự ấm áp của đại gia đình, nhất là tình thương của bà ngoại. Nhưng cũng từ đó, việc kiểm soát ăn uống của bé lại chịu ảnh hưởng của bà ngoại, với những tập quán và nhu cầu của người đi từ Viêt nam thập niên 80, mà hiện tượng nổi bật là thích kẹo tây. Cũng từ đó, “cái kẹo ngọt” của bà ngoại là thú vui mà hai bà cháu ngày ngày tỉ tê với nhau, những bánh ngọt, chips khoai tây, bánh rán…đối với người từ Việt nam sang là những vị cám dỗ, dĩ nhiên cũng được Mai Lan hưởng ứng và là nỗi bận tâm không nhỏ đối với tôi. Nhưng làm sao có thể giữ con hoàn toàn vô nhiễm đối với thế giới bên ngoài?</p>
<p>Đứa con ấy không thể chỉ giữ được một mình như một sản phẩm riêng, nó ra đời cùng với mọi người chung quanh như một chuỗi nhân duyên quấn quýt, trong đó chính nó, bằng trực giác, bằng nhạy cảm với thế giới chung quanh, quyết định một phần sự hình thành con người khi bắt đầu có nhận thức và cha mẹ là người chăn giữ để con đừng té đau, ngã nặng. Nếu nó chia sẻ tiếng nói, nụ cười với người chung quanh, và khoẻ mạnh sống, thì không nên dùng qui luật quá khắt khe để đè nặng tâm trí nó, gây mặc cảm. Nếu nó khiếm khuyết thì cũng đừng dằn vặt xem đó là một lỗi lầm không thế tha thứ. Trong chuỗi nhân duyên không thể tránh, thì bổn phận khai phóng cho đứa trẻ được “tự do” khỏi mọi chấp chặt giáo điều, khư khư dành phần thắng, đồng thời với phát triển tình thương thật quan trọng cho hoà bình nội tâm của đứa trẻ.</p>
<p>Biết bao trăn trở, cuối cùng, tôi đã chọn nhìn ảnh hưởng của bà ngoại đối với bé Mai Lan trong tình thương quan trọng hơn là cái kẹo mà bà thường dấu đàng sau lưng để dành cho Mai Lan. Với ngoại, Mai Lan đã học nói tiếng Huế thật nhuần nhuyễn, gọi là giọng Huế đặc sệt. Có lẽ em là đứa bé tiêu biểu lớn lên bằng hai ngôn ngữ mà không có vấn đề trở ngại về trí tuệ như tôi đã lo âu. Ngược lại, nhờ đó bản ngã của đứa bé thấm đượm được những khả năng vượt giới hạn, và trải nghiệm tự do vượt hàng rào ngôn ngữ được thực chứng trong chính tâm khảm của nó.</p>
<p>Tôi quan niệm rằng, từ khi mới sinh ra cho đến lúc hai tuổi, đứa con cần được đắp một cái nền tinh thần cũng như thể xác bằng tình thương trìu mến bao dung và sự thận trọng dinh dưỡng thì khó có điều gì ngoại lai có thể xô ngã bàn chất đã được hình thành. Cho nên những gì Mai Lan học được hay bị ảnh hưởng của bà ngoại, tôi không vội vàng chống đối hay tranh đấu như những người bạn của tôi, thường xem sự can thiệp của mẹ mình như là một tổn thương cho đứa bé và quyết liệt cắt đứt mọi ảnh hưởng của thê hệ trước.</p>
<p>Đối với tôi, điều quan trọng nhất cho một đứa bé ngoài dinh dưỡng là cuộc đối thoại không ngừng, một thứ truyền thông (<em>communication</em>) không chỉ qua lời nói, âm thanh ngôn từ mà còn cử chỉ, cách đối xử, thái độ sống, ngay cả nét mặt, sắc diện, hơi thở, không gian sống, nói chung, ba yếu tố ngôn ngữ, diện mạo thể xác cũng như môi trường xã hội cần hoà quyện với nhau và người mẹ trong mỗi tình huống ý thức rõ sự hoà điệu là điều thật quan trọng cho sự khôn lớn của đứa con.</p>
<p>Chia sẻ quan điểm giáo dục “phản quyền uy”, đồng thời tham chiếu một phần những tư tưởng của trường phái “nhân tính học” (<em>Anthroposophie</em>) của R. Steiner, và nhất là vẫn luôn có sự sử dụng đối chiếu tinh thần khai sáng Tây phương và khai sáng đốn ngộ của Phật giáo, tôi áp dụng phương cách “nói với con,” ngay từ khi con chưa biết nói và bắt đầu biết nói. Tất cả những câu chuyện bình thường, những chợt thấy trên đường đi, vẻ đẹp của mặt trời mọc hay bóng trăng rọi lên tường, lá vàng rụng trước sân, thoáng gió bay qua, tôi đều gây chú ý cho con để con nhận biết và cùng tham dự cảm nhận. Tấm vải thêu bướm, hoa, chim, cá, cỏ dại treo trong phòng là hình ảnh đơn giản cho em tập nói và nhận diện sự vật với vô số câu chuyện kèm theo. Lên ba em đã thuộc làu làu “cái cò cái vạc cái nông”, “con cò mày đi ăn đêm”, “công cha như núi Thái Sơn….” Em cũng được tham dự … như một “người”… lớn (mà chưa lớn) trong mọi buổi gặp gỡ ngoài xã hội, trừ những nơi ồn ào, đầy khói thuốc ô nhiễm môi sinh. Từ lúc nằm nôi cho đến khi đi học, Mai Lan được mẹ đem theo vào trường học trong giờ dạy mà không quấy rầy- nước Đức là nước hiếm trẻ con nhưng trẻ con lại được yêu mến và quí trọng &#8211; những khoá thiền dành cho sinh viên thường có mặt một đứa bé con, cũng nghiêm trang nhìn và bắt chước thực hành im lặng (tuy không lâu) cùng với mọi người.</p>
<p>Đứa con đã có cảm giác tham dự trong xã hội bình thường như tất cả mọi người.</p>
<p>Tôi đã quyết định không cho con đi học trường đặc biệt “Walddorfschule” (theo chủ trương của R. Steiner, phái nhân tính học) như một số bạn bè chống giáo dục phản quyền uy đã làm, một trường đặc biệt với phương pháp giáo dục chọn lọc năng khiếu đứa trẻ. Tôi quan niệm Mai Lan cần “ở giữa” các tầng lớp thanh thiếu niên, cùng ganh đua bình thường với những bạn bè từ mọi tầng lớp trong xã hội. Sự quân bình tâm lý của đứa trẻ sẽ được ổn định hơn là cho con cảm giác như một đối tượng đặc biệt trong xã hội, một thứ “gà nòi” mất thăng bằng nội tâm, được nuôi trong lồng kín, có tính phi xã hội (Walddorfschule sau này đã sửa đổi phần nào yếu tố này cũng như phương pháp, các bộ môn thích ứng với xã hội hơn). Ít nhiều, em đã được trang bị một “tâm không phân biệt” ngay trong “chim có đàn, ngựa có bạn,” đồng thời phát huy năng khiếu cũng như sự truy nhận tập thể thanh thiếu niên cùng tuổi.</p>
<p>Trở lại chuyện “truyền thông” như phương pháp hướng dẫn đứa con của mình mà tôi đã nêu trên. Cũng chính nhờ “kể chuyện” mà Mai Lan theo mẹ và thương luôn quê hương của mẹ. Đó là một tình cảm lạ kỳ đến từ cảm thông (<em>Mitgefuehl</em>). Những cuộc trở về thăm Huế với mẹ, Mai Lan có dịp nhìn thấy con trâu “thiệt” đang ăn ở cánh đồng, người đi cày trong chuyện cổ tích “túi khôn của loài người”…con tôm sống thay vì “sự tích “con tôm vàng”….</p>
<p>Không cần những điều nghiêm trọng. Chỉ cần nói với nhau những mẫu chuyện vu vơ như trong cuốn sách này.</p>
<p>Khác với những gia đình Việt nam lo sợ con không nói giỏi tiếng Đức nên tránh nói tiếng Việt với con, Mai Lan được nghe thanh âm tiếng Việt ngay từ khi được sinh ra, bởi vì biết rằng sau này khi theo học trường Đức, em sẽ khó có cơ hội tập chuẩn tiếng Việt, trường hợp thường xảy ra cho các em nhỏ Việt nam khác. Quanh em hàng ngày mọi người đều nói tiếng Đức, nên chúng tôi tiên quyết nói tiếng Việt với con.</p>
<p>Có lẽ đây là điểm quan trọng nhất trong quá trình nuôi con, tôi kiên nhẫn và kiên trì, không sợ phí hay mất thì giờ &#8211; chỉ sợ e không đủ &#8211; chuyện trò với con, tập cho con “nhìn”, chú ý đến từng đồ vật. Từ đó trau dồi dần dần cho con quan sát mọi việc chung quanh, tập lý luận và tự do phát biểu độc lập, tự chủ, không bị áp lực của cha mẹ, chỉ bằng vào tri giác quan sát, óc suy đoán từ đơn giản cho đến phức tạp, nói thẳng và thành thật, vì biết sẽ không bị trừng phạt bằng vũ lực, không sợ hãi. Và nhất là tập tính thương người, thương loài vật. Mai Lan dễ mủi lòng và thương loài vật đến ngạc nhiên. Lên hai em đã không cho mẹ đập con muỗi cắn mình, sợ tội con muỗi!</p>
<p>Tự do, tự chủ, độc lập nhưng không bị lạm dụng trở nên vô kỷ cương, Mai Lan thường được mẹ chỉ rõ đến một mức nào đó, sau tất cả mọi lý luận phải trái, cha mẹ mang biểu tượng chấm dứt mọi tranh cãi bằng vô ngôn thương yêu, chứ không phải bằng kỷ lụât. Sức mạnh thuyết phục đến từ tự nguyện mà không cần bị bắt buộc do quyền uy từ bên ngoài. Tự nguyện là một thứ trực giác nội tại, có thể phát huy và nẩy nở sáng tạo sau khi đứa trẻ được hướng dẫn khả năng bày tỏ ý kiến, cảm nghĩ và ước nguyện của nó qua ngôn ngữ, qua thái độ ứng xử trong môi trường xã hội.</p>
<p>Có thể nói trực giác tự nguyện trong mỗi đứa trẻ là điểm hội nhập tình thương và thông tuệ. Có những điều mà mỗi người sống trong xã hội tự nguyện thực hiện mà không cần phải huấn luyện một cách giả tạo, đó là đạo lý trong gia đình, sự kính trên nhường dưới. Về điểm này, tôi theo truyền thống gia đình Việt nam, hướng dẫn cho con biết trọng người già, thương yêu người thân.</p>
<p>Trước khi gặp mặt những người thân trong gia đình, em đã được mẹ “kể chuyện” cho nghe về từng người, nét chấm phá diện mạo, sở thích… Sự làm quen trong trí tưởng tượng này giúp đứa trẻ không bị lạ, không sợ hãi, e dè trước người chưa quen, phát triển tình cảm thân thuộc, trìu mến, quyến luyến với mỗi người. Suốt 15 năm được sống với Bà, được kề cạnh tấm gương hi sinh không quản ngại, chăm chỉ siêng năng của Bà luôn muốn là có ích cho con cái trong bất kỳ một công việc nhỏ nhặt nào. Được hưởng tình thương tràn đầy không cần lý luận (như tôi đang lý luận), Mai Lan và các anh chị em đã xem “mệnh lệnh” của Bà hầu như tuyệt đối. Khi Bà cần điều gì là lũ nhỏ bỏ tất cả để làm theo Bà dặn. Thật đẹp để chứng kiến những giây phút ấy trong một căn nhà Việt nam ở phương trời Tây.</p>
<p>Phải chăng Việt nam khác Tây ở điểm này?</p>
<p>Tự sự có thể triền miên với những câu chuyện khác biệt giáo dục Đông Tây nhưng sẽ vượt khỏi giới hạn của cuốn sách nhỏ bé này. Có thể trong một cuốn sách sau.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22307/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

