<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Thái Kim Lan</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/thaikimlan/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Một ng&#224;y Phật Đản</title>
		<link>http://damau.org/archives/24137</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24137#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 07 May 2012 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp văn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24137</guid>
		<description><![CDATA[Cuộc đi như chưa lần nào đến gần một bức tượng trên bệ thờ. Một cuộc đi náo nức, nóng bức, nồng nàn hương vị đất trời, vang vọng bước chân, bồn chồn háo hức … nhìn, nghe, xúc, tác…Nhập cuộc mà đi với nhau … như thể không biết dừng…]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/bdklhantm-1.jpg"><img style="background-image: none; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="bdklhantm-1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/bdklhantm-1_thumb.jpg" alt="bdklhantm-1" width="289" height="368" border="0" /></a><em><span style="font-family: Times New Roman; font-size: xx-small;">Từ trái sang phải: Bích Diễm (Diễm xưa của Trịnh Công Sơn); Thái Kim Lan, Lê thị Hàn và Tuyết Mai</span></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Mỗi người là Phật đang thành</em> <a name="_ftnref1_2039" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_2039"></a><strong>[1]</strong><em><br />
Tri giác khác với ý niệm ở chỗ tri giác trực tiếp,<br />
cụ thể và không nhầm lẫn </em><a name="_ftnref2_2039" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn2_2039"></a><strong>[2]</strong></p>
<p>Ấy là mùa nắng say.<br />
Chất nắng nồng hơi đất khô rang.<br />
Ve kêu như mê trong giấc hồ điệp.<br />
Thời gian thành rỗng trong ống sáo lửa lơ lửng không gian.<br />
Vang lừng.<br />
Nắng lóa tung toé trên những vòm nhủ bạc cầu Trường Tiền.<br />
Ánh sáng ùa trên sông ngập ngụa như đang cùng sông hóa kiếp.<br />
Chơi vơi.<br />
Huế đỏ trên đường với hoa phượng ngất ngây.<br />
Tháng năm thổi lửa trên đầu ngọn cây.<br />
Bếp trời hừng hực trên lưng con quạ đỏ …</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Phuong-Hue.jpg"><img style="background-image: none; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="Phuong Hue" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/Phuong-Hue_thumb.jpg" alt="Phuong Hue" width="420" height="315" border="0" /></a><em></em></p>
<p>Nhớ đến mà vẫn nghe bừng cả đôi vai và chảy mồ hôi thái dương.</p>
<p>Ngày ấy được nghỉ học, hình như tự động mà nghỉ hay ai cho nghỉ học thì<br />
không còn nhớ. Chỉ biết buổi sáng sớm có cái nón tạt ngang với tà áo vải<br />
quyến trắng bay phất trên chiếc xe đạp, gọi Lan ơi ra mà đi chùa.<br />
Ðứa ni rủ đứa tê, từ dưới Ngự Viên rẽ về Hàng Ðường qua Ðông Ba, ra Gia Hội, lên Ðập<br />
Ðá, về Vĩ Giạ, qua An Cựu, Bến Ngự, rứa là thành đoàn con gái áo dài trắng<br />
nón lá đạp xe đi chùa. Ngày nớ bà và mẹ cho phép đi chơi cả ngày mà không<br />
tra hỏi. Ði chùa mà! Ngày ấy rộng lòng, không chật.</p>
<p>Ít khi có cuộc hẹn ghi trong sổ tay, thế mà cuộc đi như đã định từ lâu. Cũng<br />
chẳng có ai nghĩ đến chuyện bới xách rườm ra như khi đi chùa với mẹ. Cả lũ<br />
phóng xe đi mà không định đi mô rõ rệt, đi cùng với nhau hình như là chính.<br />
Hai tay không, tay bận giữ nón lá, tay giữ ghi đông, e nhiều khi chỉ có một<br />
chiếc khăn mu soa thêu rua nhét trong tay áo, phòng hờ mồ hôi chảy &#8230; và một<br />
vài đồng mẹ đưa cất trong túi áo lót bên trong… Mấy cô thiếu nữ thập niên<br />
50, 60 khác với cô gái thơ mộng chùa Hương.<br />
Ði cả đoàn như một cơn gió lốc.<br />
Ði chùa kiểu chỉ biết đi, thuận vòng quay pê đan xe đạp là đi. Ði với nhau, đi chùa là rứa,<br />
ít mộng mơ mường mán, chỉ nghe tiếng cười sau vành nón lá, lăn theo với áo và xe.</p>
<p>Huế thật nhiều chùa đi hoài không hết, những ngôi chùa ở tận thâm sơn.</p>
<p>Vui đi nhiều hơn vui đến, vì đến chỉ để mà đi.</p>
<p>Áo trắng phất phới trong bụi hồng tung bay trên những con đường đất. Ðường<br />
đi đến chùa chưa bị đổ bê tông, đường đất thịt màu trắng trong núi, loại đất<br />
mịn lác đác những lá nhãn, lá vải khô hay lá mít màu vàng, thường làm nơi ẩn<br />
của con cút cút tròn quay lúc thúc xoi đất hé nhìn ánh sáng một chút rồi<br />
trốn đi. Con cút cút hay nhìn cả bọn con gái bỏ xe bên bụi chè tàu ngồi nghỉ<br />
dưới bóng cây sum lá của vườn ai, rồi lại bỏ trốn không để ai bắt gặp. Con<br />
cút cút dễ thương hay nhảy búng từ tay xuống đất, chui trong quê hương ấm<br />
nóng hơi lá khô. Nó vẫn còn nằm ở nơi ấy đến ngàn năm sau, trong đất của<br />
trời, trong trời của vũ trụ …</p>
<p>Nắng như nung. Bóng cây bên đường vẩn vơ che chở, từ tâm xoa những mái tóc<br />
nóng hổi đang lúm đúm tìm mát dưới gốc cây. Nón bay như bươm bướm múa trên<br />
những nhánh tay áo trắng, hẩy một chút gió thoa lên má hồng ướt đẫm.</p>
<p>Rồi vội vàng nón, vội vàng xe, ơi ới với nhau, cùng lên xe, cùng đạp… Ê mi<br />
đợi tau đạp lên cái dốc ni, môi bậm lại, lưỡi lè hổn hển dưới nón quai<br />
nhung, chặng đường lên chùa Linh Mụ có cái dốc đồi Hà Khê, thưở ấy sao nó dốc<br />
cao đến thế? Những đôi guốc đạp trên pê đan hì hục, những chiếc nón nhấp nhô<br />
trong nắng và tiếng cười dòn rớt lại bốc khói sau lưng. Không hiểu sao hay<br />
cười như thế, cứ bật ra khanh khách chọc ghẹo nhau lấy đà lên dốc. Ðàng kia<br />
có bụi mâm xôi đang đơm những quả bồng đỏ thắm sẽ thơm trên đầu lưỡi. Những<br />
cô tiểu thư dành nhau đi trước mắng nhau, mi như con tinh cứ đoài đạp xe đua<br />
giữa trưa trời nắng cháy. Con gái 15 thích hái trái mâm xôi vừa chua vừa<br />
ngọt vừa thơm, mọc dại hai bên đường.</p>
<p>Thưở ấy bờ sông Hương xanh um cây lá, bốn mùa nở rộ những loài hoa mộc mạc<br />
của ruộng vườn, hoa mướp hoa cà hoa bí xen với dâm bụt thêu đường đi và lúa<br />
biền óng ả xanh bắt chước sóng nhấp nhô. Phong cảnh chảy theo hai bên bờ như<br />
hát cùng một nhịp đò đưa. Cây dại cây dứa níu áo bắt đền những trái mâm xôi<br />
chín mọng đang oà hương nơi từng bụm tay úp vào miệng. Có đứa đã lên xe, đứa<br />
còn dùng dắng gở gai mắc áo. Ðỉnh đồi Hà Khê như mõm con rồng chênh vênh<br />
trên con sông uốn khúc. Tới đây mà xem nì! Giòng sông cứ lững lơ trong mơ<br />
mộng mãi hoài. Con tằm đang nhả tơ từ tàng phượng nghiêng trong khoảng không<br />
trong vắt, tưởng mình đã qua hàng vạn kiếp, cho đến giờ phút này đây, điểm<br />
bắt đầu của mọi bắt đầu! Cái kén cựa mình.</p>
<p>Hương sứ vờn quanh linh thiêng trên nền chùa thoáng lộng. Khách thập phương<br />
rộn rã. Tiếng cười nói râm rang chỉ ngưng vài giây khi qua cổng tam quan có<br />
ông Thiện và ông Ác, phải giở nón cúi đầu cẩn thận bước qua. Từng đoàn oanh<br />
vũ xinh xắn áo lam tay phồng, váy xanh lơ-ma-rin (<em>bleumarin</em>) hát bài “trầm hương đốt<br />
gió thoảng mười phương” trước khi cùng nhau ngồi quay vòng chơi trò bỏ khăn,<br />
cười ròn rã.</p>
<p>Áo trắng chưa thành lam nhưng không ham màu áo, ai ai cũng đi chùa. Áo lam áo trắng<br />
cùng nhau mà đi, chẳng ai bảo đi, cứ đi như nước chảy!</p>
<p>Chùa Linh Mụ có tượng Phật Di Lặc đồng đen ngồi cười với những ai đi vào lễ<br />
Phật,còn ai không biết cười thì…vào lễ Phật với tiếng chuông, lạy Phật xong<br />
bước ra là biết mỉm cười. Vì tiếng chuông chùa Linh Mụ ngân nga dài nhất xứ<br />
Huế. Mỗi sáng tinh mơ, công phu luyện tập, tiếng chuông thường sà xuống<br />
giòng sông trước khi bay bổng lên không, mang theo chút bồng bềnh của sóng<br />
nên cứ ngân mãi đến vô cùng. “Gió đưa cành trúc la đà,” sóng ngân tiếng<br />
chuông Linh Mụ … bay đến chùa Diệu Ðế có lầu hai chuông, nối lên Từ Ðàm có<br />
cây Bồ Ðề thân thiết gần như cật ruột, bởi vì “Từ Ðàm là quê hương”<a name="_ftnref1_2944" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn1_2944"></a>[3] … vì nơi<br />
ấy, nơi yêu thương có tiếng chuông nhẹ rung trong lòng người. Ai đi xa mấy<br />
cũng chẳng bao giờ quên …</p>
<p>Ðường lên Trúc Lâm, Tường Vân, Từ Hiếu, Thiền Tôn, Vạn Phước, Bảo Quốc, Sư<br />
Nữ…. nắng dòn hơn bánh tráng. Nhưng người đi chùa không quản nắng, vẫn vui<br />
chân. Khát nước thì vào quán bên đường uống ngụm chè nấu gừng để nguội, hay<br />
cùng nhau chia đốt mía ngọt làm tỉnh người. Hỏi thăm nhau đã đi được mấy<br />
chùa mà chia mừng. Chùa ni chùa tê, hân hoan mọi nỗi. Bác 70 bên cạnh o 15,<br />
chị lịch sự bên người thường sự. Chẳng còn phân biệt cao thấp sang hèn, xấu<br />
đẹp, trong cái nóng “nóng ghê,” trong hả hê đi cho tới một ngôi chùa.</p>
<p>Trúc Lâm có hoa mộc thơm ngát, có cây khế ngọt trổ bông, có rặng trúc đầu<br />
đường kẽo kẹt, lồng đèn trái ú hay những chùm hoa sứ lủng lẳng trong sân<br />
trong, êm đềm cổ điển.</p>
<p>Tha thẩn đi quanh hồ bán nguyệt trước chùa Từ Hiều hành thiền vài giây. Tĩnh<br />
lặng thông reo. Ðến chùa Bảo Quốc, Sư Nữ vào trưa là được ăn bữa cơm chay. Ngon lành.<br />
Mấy cái dạ dày cám ơn rối rít và cứ nhắc hoài những năm tháng về sau bữa cơm<br />
chùa giải thoát …</p>
<p>Ðứng nơi sân chùa Thiền Tôn nghe gió lộng trên hai cây đại thụ, không tin thính giác của<br />
mình. Cả một hòa ca trường khiếu đa thanh, oà vỡ trên đầu.<br />
Không gian chợt lạnh đến ngẩn ngơ kính cẩn, lặng nghe bản hòa tấu đất trời.<br />
Nhã nhạc vang lừng trên không như có hàng triệu cánh chim đang vỗ…Khi gió hú<br />
bặt im, ấy là lúc trăng lên.</p>
<p>Trăng rằm Phật Ðản …</p>
<p>Ấy là lúc quay xe trở về, theo nếp gia phong, giã từ bạn hữu, về nhà đi lạy<br />
Phật với bà và mẹ ở chùa nhà …</p>
<p>Tháng năm thường làm nhớ cơn nắng cháy trên lưng với áo trắng đẫm mồ hôi.</p>
<p>Nhớ đường đi dài ngoằn nghoèo trên dốc núi, nhớ cây cỏ, vườn lá, sông<br />
núi …và nhớ bước dừng chân vội vã trên mỗi sân chùa, hầu như đi chùa không<br />
phải vì đến mà vì đi … trên đường với nhau về hướng một mái chùa nào đó. Cuộc<br />
đi như chưa lần nào đến gần một bức tượng trên bệ thờ. Một cuộc đi náo nức,<br />
nóng bức, nồng nàn hương vị đất trời, vang vọng bước chân, bồn chồn háo hức …<br />
nhìn, nghe, xúc, tác…Nhập cuộc mà đi với nhau…như thể không biết dừng…</p>
<p>Ðể khi về, ngồi khoanh chân giữa bà và mẹ, trong chùa Quốc Ân hay về sau nơi<br />
Diệu Ðế, chắp tay cùng với Thầy và các bác, các chị, các anh cùng nhau đồng<br />
niệm:</p>
<p>Ðệ tử hôm nay,</p>
<p>Gặp ngày Khánh Ðản,</p>
<p>Một dạ vui mừng,</p>
<p>Cúi đầu đảnh lễ …</p>
<p>Trong âm thanh trầm đều tĩnh lự, cơn nóng dịu lần với ánh trăng trên sân<br />
chùa, bỗng nghe rõ, giữa muôn vàn mỏi mệt của ngày đi, tiếng chân chạm đất nở hoa sen<a name="_ftnref2_2944" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftn2_2944"></a>[4]<br />
của NHƯ LAI, đã đến và đi … như như! Như thế! Giác ngộ chúng sanh!</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/PhatDan-Hue-Mai-2009-063-1.jpg"><img style="background-image: none; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="PhatDan Hue Mai 2009 063-1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/PhatDan-Hue-Mai-2009-063-1_thumb.jpg" alt="PhatDan Hue Mai 2009 063-1" width="445" height="339" border="0" /></a><em><span style="font-family: Times New Roman;">Từ trái sang phải: Tôn nữ Kim Chi (áo vàng); Ngọc Trinh (áo nâu), Thái Kim Lan (áo trắng), Tôn nữ Như Ngân (áo xanh)<br />
(tháng 5, 2009)</span> </em></p>
<p><strong>Thái Kim Lan</strong><br />
<em>Muenchen, một ngày tháng 5 …</em></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a name="_ftn1_2039" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref1_2039"></a><strong>[1]</strong> Lời dạy của Ðức Phật.</p>
<p><a name="_ftn2_2039" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref2_2039"></a><strong>[2]</strong> Dharmakirti: nhà sư Ấn độ chuyên nghiên cứu luận lý học và tri thức luận Phật học, thế kỷ thứ 7.</p>
<p><a name="_ftn1_2944" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref1_2944"></a><strong>[3]</strong> Bài hát “Từ Đàm quê hương tôi.”</p>
<p><a name="_ftn2_2944" href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ftnref2_2944"></a><strong>[4]</strong> Theo truyền thuyết, khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Gotama Sakyamuni) đản sinh, ngài không nằm trong nôi mà đi bảy bước, mỗi bước nở ra một đóa sen.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24137/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thư gửi con: Lời n&#243;i đầu</title>
		<link>http://damau.org/archives/24118</link>
		<comments>http://damau.org/archives/24118#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 May 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Giới Tính]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=24118</guid>
		<description><![CDATA[Nhưng tấm lưới lại có một kẽ hở không ngờ: ĐỨA CON. Đứa con chính là kẽ hở của tình mẹ ... nó chính là ... đòi hỏi sống động không ngừng về tình mẹ. Tấm lưới mẹ có quăng ra cùng khắp bầu trời, khả năng “con xa mẹ” đã tiềm ẩn nơi đôi chân vừa thành hình trong lòng mẹ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-th-gi-con.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="TKL-th-gi-con" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-th-gi-con_thumb.jpg" alt="TKL-th-gi-con" width="217" height="331" border="0" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Thư gửi con đã nằm kín trong ngăn kéo thư cũ… Những lá thư là “của riêng” của hai người, của mẹ và của con, của con nhiều hơn của mẹ, cho nên thoạt tiên nỗi ngần ngại đưa đến bạn đọc, dưới con mắt bàng quan thiên hạ, e giống như “đem con bỏ chợ,” là điều dễ hiểu.</p>
<p>Nhưng, dĩ nhiên với sự đồng ý của người con, quyết định cho cuốn sách nhỏ này ra đời chủ yếu đến từ thôi thúc muốn chia xẻ với bạn đọc, nhất là nữ độc giả, những người đã là mẹ, có khi đang thành bà, những người đang là mẹ hay sắp làm mẹ và ngay cả với độc giả thuộc nam giới, điều mà tôi đã và đang học khi làm mẹ, &#8211; và có thể nói từ đó, học làm…người…trong nỗi trăn trở của một người&#8230; sinh thành một con người&#8230;</p>
<p>Không nhiều, dù chuyện “mẹ con” nhiều đến vô vàn,- ở đây chỉ xin nói một điều: nỗi trăn trở về sợi dây liên lạc mẹ với con trong vô lượng kiếp người – và chính người mẹ cũng đã từng là con của mẹ, cho nên khi làm mẹ mới hiểu được cái khúc mắc “mẹ con” truyền kiếp ấy. Cái khúc mắc lạ lùng, vì tưởng nó không bao giờ có, tưởng như không thể có, bởi lẽ đơn giản, bao đời giữa mẹ và con, có điều chi mà khúc mắc? Cái tình mẹ con ấy bao la như sông dài biển rộng, hồn nhiên như mây bay, độ lượng như mặt trời, trăng và sao, hoa lá, nó nằm sâu trong dạ, trong ruột, trong tim, khúc mắc ở đâu?</p>
<p>Có chăng khúc mắc đến từ nỗi đau, hình như bà mẹ nào cũng có nỗi đau ấy, vô thức hay ý thức, xác thịt lẫn tinh thần, nỗi đau con xa mẹ, mẹ xa con ngay từ khi cái kéo cắt con rời khỏi rún mẹ, chia hai.</p>
<p>Khúc mắc lạ lùng, bởi sự “thành hai” là điều hiển nhiên trong việc sinh thành. Nhưng vì lòng mẹ thì cứ đinh ninh “mẹ con” là một, con thì nhất thiết là của mình. Mẹ tôi thường nói “núm ruột của mình,” “máu thịt của mình.” Thật không có chi thân thuộc hơn sự thân thuộc mẹ con.</p>
<p>Dòng sữa ngọt ngào chảy cho con, chịu đựng mọi khổ ải, sẵn sàng “bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn.” Mẹ như đất và trời của con, và con là vũ trụ của mẹ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-tgc-scan-back.jpg"><img style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border-width: 0px;" title="TKL-tgc-scan-back" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/05/TKL-tgc-scan-back_thumb.jpg" alt="TKL-tgc-scan-back" width="236" height="313" border="0" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tưởng như trong tấm lưới đan kín thương yêu đầy mãnh lực ấy không còn một kẽ hở cho một sự lạ lùng nào đột nhập. Tưởng như đứa con hạnh phúc được nằm trong nôi mãi hoài. Tưởng như tương quan nước chảy xuôi là của “trời ban,” vì mẹ là bà trời trông xuống sinh vật nhỏ nhoi là con. Tưởng như không bao giờ có một kẽ hở để có thể lọt rơi đứa con ra ngoài &#8230; sau cái kéo cắt chia.</p>
<p>Nhưng tấm lưới lại có một kẽ hở không ngờ: ĐỨA CON. Đứa con chính là kẽ hở của tình mẹ, trong nghĩa: nó chính là câu hỏi và đòi hỏi sống động không ngừng về tình mẹ. Tấm lưới mẹ có quăng ra cùng khắp bầu trời, khả năng “con xa mẹ” đã tiềm ẩn nơi đôi chân vừa thành hình trong lòng mẹ, ngay khi con chập chững biết đi. Nó bất ngờ hơn mọi sự ngờ trong đời, vì người mẹ nào cũng đinh ninh con thuộc về mình, bởi vì nó từ lòng mình mà ra. Nhưng con là nỗi bất ngờ của thử thách độ bền tấm lưới tình thương, quăng ra và thu về. Mẹ chỉ mong thu con vào lòng. Ngờ đâu, chính đứa con là sự tách rời đã định sẵn cho người mẹ, nó là sự bất ngờ nhất cho đời người làm mẹ sau mọi đinh ninh êm ái.</p>
<p>Dù vòng tay của người mẹ bao la hơn biển Thái Bình, đứa con vẫn là điểm bấp bênh chỉ chực xa rời cái biên giới “hơn biển” ấy để lang thang vào sa mạc. Dù vòng tay mẹ có với cao tới vùng trời, cao hơn Bắc Đẩu, đứa con vẫn có thể mù khơi đến Nam Tà&#8230;.</p>
<p>Trong tương quan mẹ -con, mẹ là điểm cố định mà con là thiên di. Nếu mẹ là mặt trời, mặt trăng, là ánh sáng, thì dù được toả sáng đến đâu, đứa con vẫn còn một chấm đen không trăng để lẩn, để rời xa.</p>
<p>Tình mẹ bao la hơn biển Thái Bình rạt rào, như nước trên trời đổ xuống vẫn còn chưa đủ bén gót chân con. Cái tình bao la ấy như vết ánh sáng đuổi theo một điểm, đang ở ngoài điểm vô định., như sóng trào miên man không nghỉ mà vẫn chưa đến bờ. Nó bao la mà hầu như vĩnh viễn chưa đủ&#8230;bao la, chưa bao trùm hết&#8230;người con. Chỉ vì một lẽ: cái khả năng thoát khỏi vòng tay mẹ đã tiềm ẩn trong người con, sự khát khao được yêu của con lại cũng nằm trong tư thế cách xa ấy. Con vừa là con của mình mà vừa là một NGƯỜI KHÁC.</p>
<p>Bao lâu con chỉ là đối tượng, vật sở hữu của tình mẹ, người mẹ càng nuôi sẵn cái “bất ngờ” KHÁC ấy. Nhìn thiên hạ khác mình không khó, nhìn con mình là người khác quả thật khó tưởng tượng nỗi. Nhưng oái ăm thay, bao lâu tình mẫu tử khoanh vòng người con là sản phẩm của mình, là phó bản của mình, thì dù cho nó mãnh liệt, lai láng đến đâu tình ấy kầu như không liếm gót chân luôn sẵn xa rời của con.</p>
<p>Nỗi trăn trở nêu trên chính là trăn trở không chỉ của mẹ mà cũng là của con. Lắm khi trong từ trường yêu thương của mẹ, bỗng người con nhận ra nó chỉ là một phiên bản của mẹ. Mẹ có thể đồng hóa với con từ cảm nhận cho đến tư duy. Mẹ nghĩ con cũng nghĩ như mẹ, con cũng cảm như mẹ, và mẹ hành động mà nghĩ con mình hành động, với tâm tư, chỉ vì mẹ thương con.</p>
<p>Mẹ tôi, trong tình thương ấy, đã nhiều lần như nhập cốt vào con, mà không biết đứa con ấy còn có những tâm tư khác, có một trái tim khác, có những xót thương khác &#8230;. Ngộ nhận này, nếu không có cái nhìn thông cảm, có thể đem đến không ít đỗ vỡ cho cả hai.</p>
<p>Từ chiêm nghiệm làm con muốn được mẹ truy nhận mình là một “người khác,” và có lần oán trách mẹ. Đến lượt mình làm mẹ mới ngộ được tại sao mẹ không dễ nhìn đứa con mà mình mang nặng đẻ đau là một người KHÁC mình, mới biết khó vượt qua tình thương mình cho con để nhận ra đứa con thân yêu ấy có những đòi hỏi hoàn toàn khác với mong ước của mình, để có thể chấp nhận nó khác mình.</p>
<p>Trong lúc ấy, trên căn tính bản thể “trời sinh tánh” (cha mẹ sinh con trời sinh tánh) thì tiên thiên CON là một chủ thể khác mẹ. Một kẻ LẠ, mà trong giờ phút sinh bồn người mẹ đón nhận bằng đôi tay, ấp nó vào người, sau khi mang nó 9 tháng trong lòng. Đứa “CON” là một người LẠ &#8230;. thân nhất, gần nhất. Tương quan sơ khởi nhất với một con người vừa là núm ruột của mình vừa là sinh thể KHÁC ấy là cảm giác hạnh phúc được ôm nó vào lòng&#8230;như khi mang nó trong bụng, hạnh phúc được gọi nó là “con tôi“ và cảm nhận thiên chức mới trong đời người đàn bà: làm mẹ.</p>
<p>Có thể nói chỉ khi làm mẹ người phụ nữ mới trọn vẹn là NGƯỜI ĐÀN BÀ, một CON NGƯỜI số nhiều, có nghĩa không một mình. Bởi vì từ đây câu hỏi về cuộc đời mang một ý nghĩa rộng lớn hơn hiện sinh chật hẹp, ý nghĩa vươn tới “một người khác” trong chức năng và bổn phận làm mẹ.</p>
<p>Cho nên tấm tình bao la trong nghĩa “cha mẹ sinh con“ cần vượt đến vùng đất mênh mông của “trời sinh tánh,” bảo bọc được người con như một con người, một chủ thể tha nhân.</p>
<p>Tôi tâm đắc với nhận định của Immanuel Kant &#8211; điều kỳ lạ của vị triết gia thời khai sáng này là suốt đời độc thân- về yếu tính căn bản của tương quan <em>mẹ (cha) – con</em>, khi ông nêu lên giá trị chủ thể nơi đứa trẻ sơ sinh. Chính sự truy nhận giá trị chủ thể (độc lập) của đứa trẻ sơ sinh, dù nó chưa biết đứng chưa biết đi, chưa biết nói, chưa phát biểu để đòi được truy nhận là chủ thể &#8211; làm nên điều kiện tạo nên cốt tủy nhân bản của con người được thực hiện qua nuôi nấng và giáo dục.</p>
<p>Sự nuôi nấng và giáo dục được cân nhắc chính trong tương quan của hai chủ thể độc lập “mẹ &#8211; con” thay vì tương quan con là đối tượng phụ thuộc của người mẹ, người cha. Người mẹ làm thế nào để gầy dựng đối tượng thương yêu của mình có đủ sức mạnh, không những về thể chất mà về tinh thần, có khả năng thoát ra khỏi từ trường thụ động „được mẹ thương“ và vươn vai lớn mạnh trở thành một chủ thể “khác” mình, chuẩn bị cho một sự “trưởng- thành- người.”</p>
<p>Nói theo Đạo Phật, đó là quá trình nhìn ra được tự tính bình đẳng MẸ &#8211; CON trong nghĩa CHO cũng là NHẬN – <em>“Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì đời dời kiếp kiếp mẹ con</em> <em>gặp nhau</em>”, không những con nhớ ơn mẹ mà mẹ cũng nhớ ơn con.</p>
<p>Con nhớ ơn mẹ đã đành mà mẹ nhớ ơn con vì được làm mẹ của một NGƯỜI con.</p>
<p>Chính vì con là một sinh linh khác nên mẹ phải vượt lên trên chính mình mà đến với con. Quá trình “vượt” này không gì khác hơn là quá trình trong lúc nuôi nấng, mẹ thoát chủ quan vị kỷ, thoát khung trời định kiến hạn hẹp của cái ngã sở hữu, học nhìn „cái này không phải của riêng tôi“ để nhận ra thế giới sống của CON đang hình thành, để yên tâm biết rằng chân trời mới của con rộng đến vô cực, thì tình mẹ vẫn có thể tràn tới đến muôn vàn kiếp sau …</p>
<p>Siết chặt con trong lòng hay nhìn con rời xa, người mẹ tâm niệm một điều: “thương mấy cũng chưa vừa, thương như thế vẫn còn chưa đủ.” Chỉ trong tâm niệm ấy, CON vẫn ở trong lòng Mẹ dù có bao giờ….</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/24118/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ăn tết nơi m&#244;?!</title>
		<link>http://damau.org/archives/23060</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23060#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 11 Jan 2012 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23060</guid>
		<description><![CDATA[... [Gió] lạnh đêm trừ tịch ùa đến, làm sởn gai da thịt. Bỗng thấy trơ trọi vô biên, chợt như hiện thân chiếc bóng mình đang đứng trên ngọn đồi đã thẫm đen một buổi chiều cuối năm đợi xe về nhà trọ. Năm Tết đầu tiên xa Huế, xa nhà, gió buốt thốc từng cơn lạnh lòng nhớ nhà nhớ mẹ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Tháng giêng ăn tết ở nhà …</em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/HoaGiayngayTet_thumb1.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="Hoa-Giay-ngay-Tet_thumb1" border="0" alt="Hoa-Giay-ngay-Tet_thumb1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/HoaGiayngayTet_thumb1_thumb.jpg" width="285" height="372" /></a></p>
<p><em></em></p>
<p align="center"><em>Bình Giấy Hoa Thanh Tiên ngày Tết (Ảnh: Thái Kim Lan)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Cuối cùng, sau bao lần lầm thầm mơ ước một mình, nhiều lần ấp úng bâng quơ, nhiều phen nói rõ to cái điều mong muốn được ăn Tết ở nhà sau mấy mươi năm xa Huế, chồng tôi đồng ý gật đầu, Mai Lan cũng gật gật cái đầu be bé, cười tí toe cho mạ đi, và tôi khăn gói về quê Ăn Tết.</p>
<p>Khi kéo chiếc va li ra khỏi phi trường Phú bài, lòng tôi hớn hở, tim tôi nhảy thót, tai tôi nghe loảng xoảng cái “bồng binh dồn” nhớ Tết quê hương đang vỡ vụn dưới chân … Mỗi bước là mỗi huy hoàng xua bóng tối, cái tâm bệnh nhớ Tết quê hương sẽ thôi không còn lộng hành dằn vặt người xa quê mô nữa, có nghe bước chân … ta về …</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Dan-Lang-Thanh-tien-Pham-Ba-Thinh.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Dan Lang Thanh tien Pham Ba Thinh" border="0" alt="Dan Lang Thanh tien Pham Ba Thinh" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Dan-Lang-Thanh-tien-Pham-Ba-Thinh_thumb.jpg" width="504" height="337" /></a></p>
<p align="center"><em>Dân làng Thanh Tiên đưa hoa giấy đi bán chợ Tết (Ảnh: Phạm Bá Thịnh)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi đang về đây, đến đó … gấp bước mà đi … vì tôi đang … về … “về nhà”… với một nỗi hăm hở chưa từng, hăm hở sẽ ngốn ngấu hết những điều mà trong cơn mơ nhớ nhà nhớ Tết đã mấy mươi năm lận đận không nguôi ….</p>
<p>27 Tết! Tuy đã muộn nhưng vẫn còn kịp chán thì giờ để làm mứt. Trái mứt me chạy hàng đầu trong trí nhớ. Thuở học trò thích ăn chua! Mứt me! Ơi me dầm chua chua ngọt ngọt thèm chảy nước miếng. Còn nhớ ngày nào chị tôi bắt tôi ngồi cạo lớp vỏ me nâu nơi sân mà tôi nhất định trốn vào một góc để đọc cho xong cuốn tiểu thuyết Nhất Linh, khi ngẩng đầu lên được là chỉ biết há hốc mồm trầm trồ thẩu mứt của chị khéo làm sao!</p>
<p>28 Tết …. Ta hãy làm mứt bí đao như mẹ ngày nào. Mẹ làm mứt bí đao trắng trong như miếng ngọc thạch được bà khen hoài mỗi năm ngày mồng Một Tết. Ai đã thử cắn miếng mứt bí đao chưa nhỉ? Tôi thì sợ nó vì nó vừa quá đẹp vừa quá ngọt! Nói ra thì Bà với Mẹ chê ngu, ngon rứa mà sợ!</p>
<p>Tôi thì tôi chỉ thích nhất bánh măng, thơm mùi măng thiên nhiên, hầu như đang tuyệt gốc vì khó làm, nhưng tại sao không làm lần này? Lại còn bao nhiêu thứ bánh Huế: bánh mận, bánh sen tán, bánh phục linh, bánh su sê, bánh ít đen …. Năm nay “đơm quả bồng” giao thừa và cúng ông bà đầu năm phải lộng lẫy cao ngất hơn năm nào! Còn nhớ các bác gái trổ tài trên nhà thờ họ ở gần chùa Linh Mụ &#8211; rực rỡ làm sao những quả bồng chưng ngày tết!</p>
<p>Còn dư ngày 29 Tết, dành cho việc chuẩn bị gói bánh chưng bánh tét, chơ chi nữa! Ngâm nếp, ngâm đậu, đặt thịt heo tươi, bẻ lá…Còn nhớ thời xưa, ngày cuối năm mẹ bảo các anh đạp xe lên vườn nhà thờ xin mệ lá dong, lá chuối, lá dừa. Thế là cả bọn rủ nhau đua xe đạp trong gió lạnh, qua cầu Gia Hội, qua Phú Văn Lâu, chợ Kim Long, vừa đạp vừa cười dòn hơn bắp rang!</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/mo_hang_dau_Nam.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="mo_hang_dau_Nam" border="0" alt="mo_hang_dau_Nam" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/mo_hang_dau_Nam_thumb.jpg" width="460" height="333" /></a></p>
<p align="center"><em>Bán hàng Tết trước Phú Văn Lâu (Ảnh: </em><a href="http://c1quochoc.web.officelive.com/c17.aspx" target="_blank"><em>C1 Quốc Học Huế</em></a><em>)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>A! tôi sắp sửa chui người vào … trong một cái Tết thật sự ở nhà!</p>
<p>Khi cô nhân viên cắt miếng giấy hành lý trước khi ra cửa, mắt tôi rực ánh lửa đêm Giao thừa nấu bánh sắp tới, chấp chóa cả cái khung cửa ra sân bay, làm chao đảo mắt nhìn. Tôi giao cái va li vào tay anh cả, người lạng đi như say.</p>
<p>Nắng Phú bài vẫn như độ nào, vừa hanh hanh bóng núi, vừa lộng gió đồng quê … hơi nóng bất thần phả vào mặt, bóp nghẽn con tim, ngưng máu trong nửa giây, hoa hoa mắt, cơ thể chớp nhoáng như rơi tòm vào một lỗ hổng, rồi vùng lên hối hả…</p>
<p>Vẫn như thế mỗi khi bước chân trên nền ga Phú bài … cái cảm giác tê người trong nắng … nhớ ấy. Và tiếng rù máy rè rè của chiếc Landrover cũ kỹ … Anh tôi mỉm cười trong khi mày mò vặn chìa khóa xe, tìm cho được điểm chạm đã mòn của động cơ. Chiếc xe chồm lên đột ngột rồi lúc lắc chạy như người đi cà nhắc. Tôi níu tay nơi khung xe, nhìn sang anh, vẻ trầm tĩnh hiền hòa của anh, chẳng bốc một tí ti gì hơi Tết, pha nguội phần nào cái nóng bếp lửa Giao thừa đang hừng hực trong tôi .…</p>
<p>Dần dà từng chặn, qua luống đồng ngập nước loang loáng bóng núi chạy ngược về Nam, cho đến khi đến nhà thì … cái bếp lửa hầu như tắt ngấm … theo với cái bếp ga lạnh tanh trong nhà. Một nỗi hiu quạnh nào đó xông lên đột ngột len vào người, mặc cho buổi tái ngộ anh em làm vui lòng không nhỏ, nhưng ngó quanh thì thật là đơn chiếc.</p>
<p>Căn nhà rộng, vắng người, trẻ không có, người già … cũng không, (tôi vẫn xếp anh tôi thuộc thế hệ trẻ … có lẽ để mình cũng đừng già theo), nếu có mẹ ngồi cạnh bà nơi sập gỗ, thì căn nhà chắc đã rộn ràng tiếng chào hỏi…</p>
<p>Ðêm nằm ngủ nghe lạnh một bên lưng.</p>
<p>Sáng sớm thức giấc, tôi gọi điện cho con: “Bé ơi, mạ đã đến Huế rồi! Ui chao nhà vắng quá! E cái tết ni mạ ăn một mình con nờ, vì ai cũng bận rộn lo Tết cho gia đình riêng cả. Tết ở Muenchen coai rứa mà e vui hơn con ơi!”</p>
<p>Tôi nghe đứa con cười nhỏ nhỏ bên kia. Hắn hay thương hại “người Mạ” nớ vì những chuyện loay hoay, có những cơn nhớ nhà ray rứt lạ lùng mà hắn không có, hắn cũng thương Huế từ khi lọt lòng, nhưng không bị dằn co giữa hai đầu múi Huế &#8211; Muenchen vô ích như rứa.</p>
<p>“Rứa thì đáng kiếp Mạ rồi! Ai biểu mạ đoài về! Chừ lại kêu chắc ăn tết buồn xo!” Giọng Huế của Bé rặt giọng bà ngoại xưa, nghe như có lẫn tiếng mắng của Mạ ngày nào! Nhưng tiếp theo, đứa con từ tâm an ủi, biết chia lòng với mẹ “Thôi mạ cứ ăn Tết cho vui chơ,” vì hắn biết rõ tính của người Mạ ni không chịu thua hoàn cảnh. Hắn còn tiên tri “Không can chi mô, rứa rồi Tết hắn vui cho Mạ coai. Mạ đừng buồn. Vài bữa về đây Mạ lại nhớ cái tết ni cho mà coai!”</p>
<p>Hắn cười biết nói đúng tim đen “Con thương Mạ hí!” Tôi cũng cười, một nửa miệng bên kia gần như mếu. Tôi muốn chạy về ôm con…</p>
<p>Nói cho đúng, ngoài đường người ta đi sắm Tết xôn xao. Huế rộn rịp thấy rõ trên các nẻo đường. Nào chợ hoa, chợ trái cây, hàng mứt hàng bánh, muôn sắc tưng bừng, dù cát bụi nghèo nàn của trận lụt vừa qua vẫn còn quấn chân. Người đi đông nghịt, xe honda chạy rào rào. Tất bật – stress cho Lễ Tết thấy rõ nơi từng dáng đi. Ấy vậy mà quay lưng vào nhà, tôi cảm nghe nỗi bất lực chạy trên sống lưng, tôi biết, cái chương trình ăn tết đồ sộ trong đầu của tôi đang xìu như cái bong bóng.</p>
<p>Còn lại ba anh em – 2/3 người thân nay tản mác nơi những góc trời Âu Mỹ, kẻ đi người ở, có người đã về với đất &#8211; chụm lại với nhau trong buổi cơm nơi căn nhà rộng, chúng tôi bàn chuyện ăn Tết và chia công. Chưa có buổi chia công nào đơn giản hơn: ba đứa thì mỗi đứa lo một nhà: anh cả nhà thờ họ, em tôi nhà thờ ba mẹ, còn tôi lo bàn thờ giao thừa trong nhà đang ở.</p>
<p>Chia rứa là biết: đêm Giao thừa là mỗi đứa một nơi, hết cái cảnh tụm đầu vào nhau đêm ba mươi Tết ngồi canh nồi bánh kể chuyện ma như thuở nào thơ ấu! Vì bàn thờ nào cũng cần có hương khói, cúng thổ thần đất đai, các vong linh tổ tiên, người khuất mặt nơi mỗi nhà, nếu không có mặt thì thôi, có mặt là có bổn phận phải lo trong giờ phút linh thiêng bắt đầu năm mới.</p>
<p>Tôi là người đã từng điều khiển, không phải “ba quân” mà nhiều lần “ba buổi” Tết ở tha phương. Cũng đã từng dựng lều dựng rạp, làm cây nêu, chưng mai (giả hiệu!), chưng hồng, gầy thủy tiên, hì hục gói bánh chưng bánh tét, viết câu đối dán lên khung sân khấu làm cổng làng đón xuân, làm thơ ông táo chầu trời, nấu những buổi cỗ thịnh soạn cho con cháu và bạn bè đến thưởng thức hương vị Tết theo đúng những hoài niệm đã có về những cái tết trong thời thiếu niên.</p>
<p>Nhưng khi nghe chia công việc hôm 27 Tết, nhìn căn nhà xưa trống trải với những cái cột gỗ đen gầy guộc âm thầm, cái bếp ga lạnh lùng, xa lạ, tôi biết mình không thể nào huy động “phép thần” để biến những ngày tết hôm nay thành những ngày Tết hôm qua.</p>
<p>Nhìn quanh, cái chi cũng thiếu &#8211; thiếu tiếng cười trẻ thơ, thiếu tiếng guốc khua rộn ràng từ nhà dưới lên nhà trên của bà, của mẹ, của chị, thiếu tiếng la rầy chỉ vẻ của Mệ nội, thiếu tiếng trò chuyện của mấy cô mấy bác về những món ăn đang nấu, thiếu tiếng khóc đòi của mấy đứa cháu chắt đang chập chững đi, thiếu bồn chồn chờ áo mới … thiếu hết những thứ ấy thì nỗi hồi hộp chờ Tết không còn … và Tết còn chi là Tết nữa?</p>
<p>Thật tình, nếu muốn “kêu gọi” các anh em bà con thì cũng có thể bày biện tổ chức kiểu hội hè đình đám ăn Tết như ở các khách sạn nơi nơi đang rộ quảng cáo. Có tiền mua tiên cũng được huống hồ là sắm Tết. Ấy thế mà không dễ! Dịp thường thì may ra, dịp Tết thì kẹt. Năm hết tết tới ai cũng lo mua mua sắm sắm, chẳng có ai rảnh rỗi. Người nào cũng búi việc cho gia đình. Có lòng nghe tôi về thì cũng tạt qua vài giờ, ai cũng hẹn chị: “sau Tết nghe!” Thật xa vời cái chữ “sau” ấy!</p>
<p>Mà muốn làm mứt làm bánh nào phải dễ, nồi niêu song chảo thất lạc tứ táng mỗi nhà, bếp núc không quen…vật liệu phải mua sắm từ lâu.</p>
<p>Chợ Ðông Ba cái chi cũng có mà mình đi vô chợ thì cứ luớ quớ như chơi trò “vuốt hột nổ, đổ bánh bèo, xao xác vạc kêu, nồi đồng, vung méo….”</p>
<p>Chừ đây 28 Tết, cái chi cũng chưa chi cái gì!!!</p>
<p>Tôi rảo một vòng chợ Ðông Ba xem hàng Tết. Thôi thì thiên hô vạn hát: những núi mứt trên các thúng chưng bày, không thiếu loại mứt gì, bánh thì cũng trăm thứ, người chen không lọt. Gạo, nếp, bột đường không thiếu. Nào ai có thì giờ để tự làm? Mua là mau nhất!</p>
<p>Tôi đi qua hàng hoa quả. Năm nay quýt thật nhiều, mãn cầu cũng lắm, từ Bắc vô từ Nam ra, thanh long tươi rói từ Phan Rang, đu đủ từ vùng quê, xoài từ Nam Bộ, Thái lan, dưa hấu lại đủ màu vàng đỏ rất chi là…thời trang.</p>
<p>Tôi thích nhất từ thuở bé những trái quýt nhỏ có lá xanh trên những chiếc thúng nhà quê, vị ngọt thanh quýt Hương Cần. Thuở đó có được một trái quýt Hương Cần vỏ xanh ướm vàng là như có của báu. Như bù vào những hiếm hoi thơ dại, tôi mua một lần 5 ký quýt về đơm bàn thờ! Chẳng giống ai, lôi thôi cái kiểu “quýt làm cam chịu” vào ba bữa Tết như tôi!</p>
<p>Còn chuối, thì eo ơi! Càng gần ngày tết, chuối leo thang cao ngất, còn nhanh hơn ông Táo lên trời! Nhất là chuối cau, chuối mật. Ðến ngày 30 Tết, một nải chuối vẻn vẹn 10 trái đến sáu chục, 1 trăm ngàn, ngày thường 5, 7 ngàn chớ mấy! Giá ni thì chỉ có cán bộ xịn mới kham nổi … còn người nghèo thì oằn cổ. Cô em họ tôi lắc đầu thè luỡi bảo.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/chuoi-cho-dong-ba.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="chuoi-cho-dong-ba" border="0" alt="chuoi-cho-dong-ba" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/chuoi-cho-dong-ba_thumb.jpg" width="349" height="349" /></a></p>
<p align="center"><em>Chuối chợ Đông Ba      <br /></em></p>
<p>Người Huế không đơm quả bồng với chuối bà lùn, nên nhớ!</p>
<p>Chuối “cau” đọc theo kiểu Huế hay kiểu Quảng trật bét thành ra cao, “cao” …quí … sang … chắc, còn “mật” là ngọt ngào, trù phú. Câu nguyện đầu năm trên bàn thờ ông bà nằm nơi nải chuối, cũng như cầu dừa đủ xoài và hấu, ngũ quả trong Nam. Ở bên tây thì chỉ có chuối bà lùn … quanh năm! Mà nào có thấy ông bà rầy la, tụi trẻ con thì lớn phồng như cây nêu, có đứa mô bị lún bị lùn mô!.</p>
<p>Tổng kết buổi đi chợ quẩn quanh 28 tết là cái bếp ga nhà tôi được huy động triệt để vì tôi quyết định làm mứt. Mứt me? Cô em can chị. Mứt bí? Ui chao, hắn quày quâỵ lắc đầu, làm răng được, thì giờ mô? Thôi thì mứt gừng!</p>
<p>Chi thì chi cũng phải có một món mứt tự làm trong ngày Tết, để…có chuyện Ăn Tết Huế mà kể cho Mai Lan nghe trong điện thoại như chuyện đời xưa. Cô em họ đã nhanh nhẩu giúp tôi đem gừng đi xắt thành lát mỏng, mua đường, mua chanh. Luộc gừng, xả gừng, ngào đường với gừng, mà phải để lửa riu riu, mới khó với bếp ga! Không như bếp củi có thể ủ tro đều.</p>
<p>Lâu quá mới được thấy nhánh gừng uốn luợn với chồi lá, thơm ấm cả lồng ngực khi chúi mũi vào đám rễ vàng mọng nhựa đất. Cô em thấy tôi lễ mễ, ráng thêm một chút thời gian, trong lúc chân cẳng chỉ muốn chạy vì còn khối việc phải làm. Ui chao nói dễ mà làm thì khó. Lọ lem, cô Tấm đâu??? Khi đường tan thì cô em biến mất để tôi lại với chảo mứt gừng còn ướt nhèm nhẹp. Cầm hai cái đũa bếp to tướng, tôi nghĩ chẳng bao giờ chảo gừng sẽ khô ….</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Mut-Gung.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Mut Gung" border="0" alt="Mut Gung" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Mut-Gung_thumb.jpg" width="404" height="304" /></a></p>
<p align="center"><em>Chảo Mứt Gừng (Ảnh: Thái Kim Lan)      <br /></em></p>
<p>Đưa cả cái mặt hơ trên hương gừng bốc lên, mới nhớ mạ và chị làm sao! Những bàn tay khéo léo ấy nay đã tan biến trong đất. Hơi gừng cay làm nhoè mắt, nhấp nháy giọt nhớ giọt thương. Mạ ơi! Chị ơi, có về ăn Tết với em không?. Tôi nói chuyện với từng lát mứt gừng vàng óng trong chảo, tưởng như đang nói với từng gương mặt người thân, những người đã ăn tết với tôi năm não năm nao. Những tiếng cười quanh bàn bài vụ, những con trâu xanh, voi trắng, heo đen ngựa đỏ một thời làm mê đến vào trong giấc ngủ. Những tiếng hô “Con Ầm,” “Con Ngủ Trưa” nơi sòng bài Tới với các bà O ăn trầu miệng đỏ, lúm đồng tiền sâu khi bị ăn gian “mẹ cha mi ăn gian bài bà cô” cùng tiếng cười ngặt nghẽo của lũ cháu. Tiếng reo đổ xâm hường được Trạng như quanh quất đâu đây. Mỏi tay trở mứt, lại nhớ chị ngồi canh hai ba chảo mứt ngày nào, tóc dài theo với giấc mộng con gái một sáng mùa xuân ….&#160; Còn tôi, tên trốn bếp, thu mình với cuốn sách ngồi trong góc tối nhìn ra thấy chị ôm luôn chảo mứt của đứa em, với đôi mắt bồ câu đen láy hiền thục mà thương ơi là thương!</p>
<p>Thế rồi như được phép mầu Tấm Cám, Phạm Công Cúc Hoa, mạ và chị đã đẩy lửa, đẩy tay tôi riu riu rim mứt. Chảo mứt gừng của tôi đến hồi cũng ráo đường. Tuy không đẹp bằng mứt gừng mẹ và chị làm, lát gừng cong cong không thẳng thớm, nhưng tinh khiết, không bị chất tẩy hóa học, ăn vào thật đúng là gừng Huế, vừa cay vừa thơm mùi gừng làm ấm thêm chén trà đầu năm.</p>
<p>Còn gói bánh chưng bánh tét thì…thôi, xin giã từ vũ khí! Thay vì nấu bánh, tôi nảy ra ý bắt chước bà tôi, thường có lệ cuối năm tặng cho bà con nghèo, hàng xóm láng giềng và chùa chiền nếp, đậu (bánh chay) và thịt (bánh mặn) để mỗi nơi có thể gói bánh tét cúng đầu năm. Khi gửi quà đi, tôi bỗng bằng lòng với “sáng kiến” ấy và vui với hình ảnh cái bếp Giao thừa của tôi tiếp tục ngời lửa nơi mấy mươi cái bếp ở trên thôn dưới biển trong đêm ba mươi, còn tôi thì …“tập vồng vông tay không tay có” ….</p>
<p>Ba muơi Tết, anh tôi đem về một cành đào chưng ở phòng khách. Tôi nhìn cành đào với một con mắt, con mắt bên kia bỗng hiện lên cành mai vàng một thời đã xa. Năm nay trời lạnh sớm, mai không chịu nở, nên người ta chưng đào. Nhìn tôi, anh bảo, trên nhà thờ Linh Mụ anh chưng mai, dưới phố chưng đào cũng được, năm nay mai vừa hiếm vừa không đẹp, mà đầu năm không chịu nở thì … xui cho mình. Anh nói như hù doạ đứa em đang tụng trong lòng bài kinh Ăn Tết.</p>
<p>Tôi biết anh nói an ủi, nhưng có điều anh không biết là từ hôm về nhà, tôi đã bỏ dần những ước lệ “ăn Tết” trong tôi, chỉ làm những gì cần làm nhất.</p>
<p>Buổi trưa cô em họ dẹp mâm quýt của tôi, vừa dẹp vừa bảo, ngày tết cúng ngũ quả chị nờ. Cô sắp mâm ngũ quả cho hợp qui lễ ngày Tết. Hương đèn, giấy tiền, giấy bạc, áo binh, hột nổ cũng đã được bày biện. Cũng thấy Tết ra phết! Cô đứng lên, đội mũ mặc áo. Anh tôi chần chừ. Tôi biết giờ hoàng đạo sắp đến, năm mới bước tới trong từng giây.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Hot-No-Ngay-Tet.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Hot No Ngay Tet" border="0" alt="Hot No Ngay Tet" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/Hot-No-Ngay-Tet_thumb.jpg" width="404" height="304" /></a></p>
<p align="center"><em>Hột nổ ngày Tết (Ảnh: Thái Kim Lan)      <br /></em></p>
<p>Tiễn cô em và anh tôi là người cuối cùng ra cửa, gió lạnh đêm trừ tịch ùa đến, làm sởn gai da thịt. Bỗng thấy trơ trọi vô biên, chợt như hiện thân chiếc bóng mình đang đứng trên ngọn đồi đã thẫm đen một buổi chiều cuối năm đợi xe về nhà trọ. Năm Tết đầu tiên xa Huế, xa nhà, gió buốt thốc từng cơn lạnh lòng nhớ nhà nhớ mẹ.</p>
<p>Hôm nay được ở Huế &#8211; ở nhà- mà sao lạ, tôi nhớ quá cánh tay mềm ấm choàng qua vai của đứa con ở &#8230; nhà &#8230; bên kia!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23060/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Quan điểm về dịch thuật &#8211; trả lời độc giả Pantan</title>
		<link>http://damau.org/archives/22768</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22768#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 30 Dec 2011 08:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thái Kim Lan</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Quan Điểm]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22768</guid>
		<description><![CDATA[Dịch đối với tôi rất nặng nhọc chính vì tôn trọng trách nhiệm chuyển tải trung thực, nó tương tự ít nhiều công việc của một người khuân vác, người dịch trước tiên không có niềm hạnh phúc hay tự hào tự do của một nhà thơ hay nhà văn, mặc dù công việc dịch thuật đòi hỏi khả năng văn chương, tri thức nhạy bén và kiến thức đa dạng.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<blockquote><p align="justify">LTS – Năm trước, độc giả Pantan có <a href="http://damau.org/archives/9462" target="_blank">góp ý đến bản dịch bài phỏng vấn Herta Mueller của Thái Kim Lan</a>. Trong đó, Pantan đặt một số câu hỏi quan trọng về phong cách dịch thuật. Tuy nhiên, vì một số lý do cá nhân, chị Thái Kim Lan không trả lời ngay được dù đã nhận được thư mời từ Da Màu.       </p>
<p>Vì nội dung bài viết, và cũng vì phần góp ý đã quá lâu, Da Màu xin được đăng bài phản hồi, nhận được từ chị Thái Kim Lan tuần này, như một bài viết độc lập.       </p>
</blockquote>
<p align="justify">&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Nhân chuyện dịch thuật, tôi xin trở lại ý kiến của độc giả Pantan viết cách đây đã lâu. Phần vì quá bận rộn, phần ở xa vào thời điểm ấy, sau đó mất luôn tính thời sự và tôi bỏ mất cơ hội trả lời ngay. Người Đức hay nói tuyết hôm qua, nghĩa là chuyện không còn hôm nay, nhưng cái đúng – sai thì vẫn còn. </p>
<p>Ta thán của Pantan, &#8211; người tự xưng mình là &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot; &#8211; về hai từ ngữ trong bản dịch cuộc phỏng vấn nữ văn sĩ được giải Nobel văn chương 2010 Herta Müller mà tôi dùng liên quan đến bài phỏng vấn: &quot;sự phát vãng&quot; &#8211; và Möglichkeit &#8211; tôi dịch &quot;khả thể&quot;, là khó hiểu. Nếu ông chịu khó tra cứu các cuốn tự điển tiếng Việt, hay các cuốn tự điển song ngữ, Đức-Việt, Anh-Việt hay Pháp-Việt, cả Hán-Việt thì sẽ thấy các từ ngữ này nằm trong đó, chúng đơn giản không phải là những từ ngữ &quot;có âm vang phô trương…trình diễn cái hãnh tiến…khoa trương cái sở học bí ẩn…&quot;. Với đôi khái niệm ấy mà Pantan đã gán một lô cáo buộc về dụng ý cá nhân của người dịch, &#8211; một lối đoán mò hậu ý của người khác theo kiểu &quot;suy bụng ta ra bụng người&quot;, thật buồn cười. </p>
<p>Tại sao tôi chọn chữ &quot;phát vãng&quot; mà không dùng &quot;trục xuất&quot; hoặc &quot;lưu đày&quot;? Thật ra cụm từ &quot;phát vãng&quot; thuộc lãnh vực luật, pháp lý, đã được thông dụng trong tiếng Việt từ lâu. Nhân vật trong tác phẩm &quot;Atemschaukel&quot; không hẳn bị trục xuất cũng không bị tù đày mà bị phát vãng đi lao động do chính quyền Nga dưới sự lãnh đạo của Stalin, một trong bốn đồng minh thắng trận thế chiến thứ hai. Tù binh Đức hay người bản xứ có liên hệ với Đức chịu hậu quả của những hiệp ước ngưng chiến. Bối cảnh lịch sử của tác phẩm &quot;Atemschaukel&quot; vào năm 1945, sau thế chiến thứ hai, với các hiệp ước ký kết giải giáp, phân phối tù binh, người Đức không là tù binh cũng lo sợ cho số phận họ bị phát vãng. Trên danh nghĩa, họ không bị trục xuất về nước Đức, không bị lưu đày biệt xứ, mà bị đưa đi lao động quản thúc, bị &quot;phát vãng&quot;. Nga đã hành xử khác với các đồng minh khác vào thời điểm ấy dưới chỉ đạo của Stalin. Sự quyết định dùng cụm từ &quot;phát vãng&quot; có lý do từ những đối chiếu trên. </p>
<p>Tại sao &quot;khả thể&quot; mà không dịch &quot;tính có thể&quot; cho &quot;Möglichkeit&quot;? Pantan cho rằng tôi tạo ra chữ này? Nếu ông bỏ chút thì giờ đào sâu văn chương chữ nghĩa một chút ông sẽ thấy cụm từ &quot;khả thể&quot; không hiếm trong các tiểu luận, tác phẩm dịch, trong văn chương Việt nam. Nó không phải thứ của cấm mà Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, quí giáo sư Trần Thái đỉnh, Lê Tôn Nghiêm… tại miền Nam đã sử dụng khi các ngài dịch Kant, Heidegger. Từ đó nó không xa lạ gì và tôi cũng không phải là người phát minh, bày đặt chữ để khoa trương. Trong ngữ cảnh bài phỏng vấn, nếu dịch &quot;tính có thể&quot; cho &quot;Möglichkeit&quot; nghe không gãy gọn và không cân xứng với cuộc đối thoại của người vừa nhận giải Nobel văn chương. Theo nguyên tắc NHÃ, &quot;khả thể&quot; đã được chọn cho &quot;Moeglichkeit&quot; mà không vi phạm tín và đạt của dịch thuật là thế. </p>
<p>Về việc dịch và giới thiệu thơ Hölderlin, phê bình của Pantan vô hình chung lại là một lời khen – dù khá đen &#8211; cho dịch giả! Ít nhất cái không khí thơ Hölderlin đã được Pantan cảm nhận, mà Pantan cho rằng tôi đã phù thủy hoá. Mặt khác, phê phán tôi là &quot;thầy cúng&quot; muốn bẻ gãy chữ nhằm &quot;khoe rỗn rảng&quot; sở học của tôi, dịch giả &#8211; lại cho ta thấy ông chưa hiểu hay hình như chưa tiếp cận nhiều với thi ca của Hoelderlin. Thế giới thi ca của Hölderlin phần lớn mang tính huyền thoại, trong đó cuộc đối thoại giữa con người và thần linh hầu như bất tận: con người &quot;là một với tất cả, đó là đời sống của thần tính, thần tính là bầu trời của con người&quot;. Trong khi R. M. Rilke băn khoăn với bản chất người như là một animal rationis, Hoelderlin linh cảm tính thần thánh của con người. Lý tính đối với ông không chỉ là intellectus (trí tuệ) mà bao gồm thần tính, thánh tri. Trái tim thơ của Hoelderlin kêu gọi &quot;con người linh thiêng&quot;, trao tặng cho nó sự hiện hữu trên trần thế. Những khái niệm &quot;Heilig&quot; (thần linh), &quot;Gott&quot; (Thượng đế nhưng không phải vị độc thần), &quot;Goetter &quot;(các vị thần), &quot;Gottheit&quot; (tính thần linh) &#8211; trong ngôn ngữ Đức là bình thường chẳng có gì ma quái &#8211; thường xuất hiện trong các bài thơ, nhất là trong những tụng thi (Hymne) của Hoelderlin. Cái không khí…&quot;phù thủy&quot;, tiêu cực như Pantan phê phán tôi bày đặt ra, thật sự lại tích cực, vì đó là tính đặc thù của thi ca Hoelderlin, như những nhà phê bình văn học về sau nhận định. Pantan không hiểu Hoelderlin không có gì lạ. 300 năm trước, thi ca của ông đã từng bị người đương thời cho là kỳ bí, khó hiểu &#8211; tương tự như trường hợp của Pantan &#8211; và chối từ. Bởi vì, như Hoelderlin đã nhận rõ, con người vô thức không biết được &quot;thần linh&quot; đang cư ngụ trong tâm của mỗi con người: &quot;Ach wir kennen uns wenig, denn es waltet ein Gott in uns&quot; (Hoelderlin, thơ, Der Abschied): &quot;Ôi ta khó tự biết ta, bởi lẽ thượng đế ở trong ta&quot;. Thơ, đối với Hoelderlin không khuấy động phần súc vật của con người, mà khuấy động thần tính trong con người, chính trong những lúc đời người đen tối và bi thảm nhất. Dĩ nhiên trong bối cảnh niềm tin nhất thần tại Âu châu 300 năm trước đây, quan niệm con người ngang bằng Thượng đế khó được chấp nhận. Ý thơ của Hoelderlin đẩm chất &quot;thần thánh&quot; (heilig). Ngôn ngữ thi ca (mà tôi viết gọn là ngôn thi) Hoelderlin, như Heidegger nhận định, là &quot;tiếng nói linh thánh&quot; – &quot;heilige Worte&quot; &#8211; Heidegger cho rằng với tiếng nói thần linh, thi ca Hoelderlin đã sáng thế điều gì mới mẻ, gây nên một điều gì đang xao động trở thành, một thứ trầm tư mới khởi động, thi ca trở nên một thứ cư ngụ mới của con người trên trái đất, một cuộc gặp gỡ tân kỳ giữa con người và Thượng đế. Thi ca trở nên sự liều lĩnh, cú nhảy, có khả năng thiết lập một chân lý mới. Tư tưởng &quot;người &#8211; thần&quot;của Hoelderlin đã được ông hoá thân trong một thứ ngôn ngữ diệu kỳ, trong đó hoan ca tưng bừng cuộc hợp hôn giữa con người và thần linh, từ đó CON NGƯỜI của Nietzsche,- chàng thanh niên 18 tuổi khám phá vẻ đẹp của thơ Hoelderlin trước nhất &#8211; &quot;ecce homo&quot; được sản sinh trong ánh sáng thi ca. Này đây con người cất lên tiếng nói thần linh! Tiếng nói của nhà thơ là sức mạnh sáng thế của chính con người. Nói &quot;thi ca Hoelderlin chạm đỉnh thần linh ngôn ngữ Đức&quot; chính trong ý nghĩa mà nhà triết học hiện sinh M. Heidegger đã thấy, cảm nhận và lý giải thơ Hoelderlin. Chẳng có chuyện bịa đặt, bẻ gãy để phô trương như Pantan vu vạ. Chúng ta cũng thường nói ngôn ngữ xuất thần nhập thế, với Tagore với Nguyễn Du và với Hoelderlin, thi ca chạm tuyệt đỉnh của ngôn ngữ. Mỗi nhà thơ đã ban phát cho ngôn ngữ của họ vẻ đẹp và chân lý thấm đẫm thể tính &quot;NGỪỜI&quot; trong nỗi rung động hiện sinh tột cùng về thân phận con người. </p>
<p>Đọc Nguyễn Du &#8211; &quot;trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau&quot; &#8211; để lấy một ví dụ gần nhất và đầy thú vị -, mà Thanhha Lai, nữ thi sĩ vừa nhận giải thưởng NBA 2011- bắt gặp và tâm đắc đến nỗi đã xem chúng như những &quot;lời tụng niệm bí mật&quot; trong những giây phút bất an, và đã &quot;gần té ngã&quot; trước vẻ đẹp của câu thơ &quot;con tằm đến thác hãy còn vương tơ&quot;, là một chứng từ cho sức mạnh của tiếng nói thi ca. Lời thơ Nguyễn Du đã hoá kiếp mỗi giây phút tại thế của con người trở nên cuộc gặp gỡ con người với thần thơ &quot;run như run thần tử thấy long nhan&quot; (Hàn Mạc Tử). Truyện Kiều, đã được thánh hoá mà người Việt cung kính &quot;lạy&quot;, &quot;lạy vua Từ Hải lạy vãi Giác Duyên lạy Vương Thúy Kiều&quot;, lời thơ và người thơ trở nên những biểu tượng đại đồng cho muôn kiếp, có thể tiên tri tương lai đời người như tục &quot;bói Kiều&quot;, cũng nằm trong ý nghĩa ấy. </p>
<p>Cũng thế, đọc Hoelderlin, những dòng thơ gây sửng sốt về ngôn từ xuất thần, đẹp mới mẻ như vừa tróc vỏ mọi giả hợp phù du, người đọc như đáo bờ hội nhập tận nguồn cội &quot;căn nhà thể tính&quot; – mà đó là ngôn ngữ – (phát biểu của Heidegger &quot;ngôn ngữ là căn nhà của thể tính&quot; hầu như được chứng thực qua thi ca của Hoelderlin): sau hơn 200 năm chìm đắm trong &quot;quên lãng thể tính&quot; (Seinsvergessenheit), thơ Hoelderlin cho ta nhận diện được tự tính &quot;Thượng đế trong ta&quot; như &quot;Phật trong nhà&quot; qua trực cảm bản lai đồng nhất của mỹ và chân đến từ nhạc thơ và ý thơ: Có lẽ nỗi kinh ngạc của chàng trẻ tuổi Nietzsche khi khám phá vẻ đẹp của những câu thơ Hoelderlin cũng tương đồng như trường hợp của Thanhha Lai chăng? </p>
<p>Ngay cả bài thơ về Heidelberg cũng mang bóng dáng của nữ thần Minerva, nữ thần của minh triết, quán tưởng và nghệ thuật, bức tượng đứng trên chiếc cầu Alte Bruecke bắc qua con sông Neckar. Trong bài thơ, Heidelberg được ông âu yếm gọi là EM, cũng chính là nữ thần Minerva trong nghĩa NÀNG và thành phố là một trong vẻ yêu kiều của non nước ấy. Từ nguồn suối thần linh ấy – nét đa thần tiêu biểu của thơ Hoelderlin &#8211; những dòng thơ bất tuyệt tuôn trào. Bài thơ Heidelberg của Hoelderlin đã trở nên một quốc bảo văn chương Đức. </p>
<p>Vâng nếu Pantan chịu khó tìm hiểu thêm, hẳn ông sẽ không đi đến những giả thuyết hồ đồ về dụng ý của người dịch. Không hiểu hay không biết thì nói không biết, để tìm hiểu thêm, hiểu sâu hơn, điều đó chứng tỏ sức mạnh tri thức và nhất là đức lý, nhân cách của người cầm bút, dù là một góp ý. Pantan, &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot; như ông tự phán, lại vi phạm ít nhất là hai lần đức lý ấy. Từ không hiểu, ông suy diễn nguyên nhân của sự không hiểu của chính mình bằng những giả thuyết vu khống người dịch muốn phô trương, trình diễn, khoa trương sở học dịch.&quot;Bởi có lẻ cái mục tiêu cuối cùng mà dịch giả mong muốn ở người đọc thông qua những bài chuyển ngữ của dịch giả mà biết được cái sở học bí ẩn khổng lồ của dịch giả chăng&quot; (Pantan) Qua đó Pantan đã đánh giá quá thấp công việc dịch thuật, cũng như đạo lý trong dịch thuật mà tôi đã có dịp nêu ra. Dịch đối với tôi rất nặng nhọc chính vì tôn trọng trách nhiệm chuyển tải trung thực, nó tương tự ít nhiều công việc của một người khuân vác, người dịch trước tiên không có niềm hạnh phúc hay tự hào tự do của một nhà thơ hay nhà văn, mặc dù công việc dịch thuật đòi hỏi khả năng văn chương, tri thức nhạy bén và kiến thức đa dạng. Nhưng dịch là giới hạn mình vào khuôn khổ tư duy, nội dung của tác phẩm gốc. Sự giới hạn này nằm trong nguyên tắc &quot;tín&quot; của dịch thuật, trung thành với bản dịch là một thứ đức lý đối với niềm tin của người khác vào tính trung thực của người dịch. Ngay cả khi dịch cho mẹ tôi hay một o bán hàng rong một câu đơn giản, tôi cũng không quên nguyên tắc ấy, như vẫn thế trong suốt công việc dịch thuật trên lãnh vực đời thường, pháp luật, triết học hay văn chương. Từ chữ &quot;tín&quot;, nhã và đạt, &#8211; đẹp và toàn hảo -, phát sinh. Từ đó công việc dịch mang ý nghĩa chân thiện mỹ đối với người dịch. Mỗi chữ đều được cân nhắc, dù thế, có thể nó chưa được toàn hảo và gây nên ngộ nhận, khó hiểu. Tuy nhiên xem những chữ mình chưa hiểu để hấp tấp một cách ấu trĩ giả thuyết rằng những chữ, khái niệm ấy được người dịch dùng vào việc phô trương, đáng bóng cá nhân, chứng tỏ người phê bình đã hiểu sai ngay từ đầu công tác dịch thuật, không những thế, người ấy còn bộc lộ chính dụng ý kém đạo lý của mình khi suy diễn và gán ghép dụng ý ấy cho người khác. &quot;Phải có thánh thiện trong người thì mới tin được thần linh&quot;, Hoelderlin nói, &quot;Đám đông chỉ thích đồ dùng nơi chợ búa, kẻ nô lệ khúm núm trước cường quyền&quot;. &quot;Vẻ đẹp&quot; thi ca…có lẽ là tấm hình đối mặt Thượng đế trung thực nhất&quot;…và thi ca Hoelderlin đã đạt, có nghĩa &quot;chạm đỉnh thần linh (vẻ đẹp) ngôn ngữ Đức!&quot; </p>
<p>Cuối cùng, nếu giữ gìn vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt đáng là một bổn phận, thì có lẽ bổn phận trước hết của Pantan là nên đọc lại đoản văn góp ý của ông xem vẻ đẹp trong sáng của tiếng Việt có hiện tiền trong đó không, cho một &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot; như ông tự xưng. &quot;Trong sáng&quot; trên cả hai phương diện văn phong và ý tưởng, góp ý của Pantan gây ấn tượng trái ngược – khá thất vọng &#8211; về một mệnh danh gọi là &quot;tông đồ chính tông của văn chương&quot;. </p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Xin đọc: Hoelderlin, Heidelberg, Thái Kim Lan dịch</p>
<p>Và Hoelderlin, Haelfte des Lebens, Thái Kim Lan dịch trong các links sau đây:</p>
<p><a href="http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=2774:friedrich-hoelderlin-&amp;catid=11:vanhoa&amp;Itemid=15">http://www.chuyenluan.net/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=2774:friedrich-hoelderlin-&amp;catid=11:vanhoa&amp;Itemid=15</a></p>
<p>http://phanba.wordpress.com/2011/10/13/m%E1%BB%B9-nhan-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-non-d%E1%BB%87-nh%E1%BA%A5t/</p>
<p><a href="http://www.diendan.fr/sang-tac/dich-va-gioi-thieu-mot-bai-tho-cua-friedrich-holderlin/">http://www.diendan.fr/sang-tac/dich-va-gioi-thieu-mot-bai-tho-cua-friedrich-holderlin/</a></p>
<p><a href="http://www.baomoi.com/Nhan-doc-bai-tho-H%C3%A4lfte-des-Lebens-Nua-doi-cua-Friedrich-H%C3%B6lderlin/152/4590820.epi">http://www.baomoi.com/Nhan-doc-bai-tho-H%C3%A4lfte-des-Lebens-Nua-doi-cua-Friedrich-H%C3%B6lderlin/152/4590820.epi</a></p>
<p><a href="http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-27-friedrich-hoelderlin-thi-ca-cham-dinh-than-linh-ngon-ngu-duc">http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-27-friedrich-hoelderlin-thi-ca-cham-dinh-than-linh-ngon-ngu-duc-</a></p>
<p><a href="http://www.nguoiduatin.vn/my-nhan-nuoc-non-de-nhat-a21059.html">http://www.nguoiduatin.vn/my-nhan-nuoc-non-de-nhat-a21059.html</a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thái Kim Lan</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22768/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Uẩn kh&#250;c t&#236;nh ca B. Brecht</title>
		<link>http://damau.org/archives/22459</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22459#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 06 Dec 2011 08:01:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bertolt Brecht</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22459</guid>
		<description><![CDATA[Không bạn bè với nhau 
Thế mà chúng tôi sống bên nhau 
Khi hai đứa nằm ôm nhau 
Chúng tôi xa lạ còn hơn vầng trăng]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<blockquote><p><strong>LND</strong> — “Uẩn khúc tình ca B. Brecht” (chữ của người dịch cho những bài thơ dưới đây) mang nhiều dấu giọng, tha thiết, xót xa, thương cảm, ân cần, lạnh lùng, cay đắng, đôi khi trâng tráo, đáng ghét, nhưng tất cả chỉ là dấu ẩn. Tiềm ẩn dưới sâu vẫn là chữ tình “đố ai gỡ mối tơ mành cho xong”, không những “tình ái” lứa đôi (Liebe, love) mà còn tình người, tình thân hữu (Freundlichkeit, friendliness), mảnh lưới con người với con người mang đầy thèm khát cũng như trắc ẩn rất người, yêu và được yêu, yêu thương và phản bội, đớn đau và hạnh phúc, khó mà gỡ nỗi và cũng là băn khoăn lớn nhất của nhà thơ, tưởng đã rơi khỏi đời nhưng khi trở về còn vấn vương gấp bội. <em>(TKL)</em></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Thời ấy chúng mình (I)</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Ban đầu vui làm mất ngủ   <br />Sau đó khổ trằn trọc thâu canh    <br />Khi cả hai không còn bận tâm    <br />Tôi ngủ. Nhưng than ôi từ đó    <br />Mỗi sáng tháng năm    <br />Trở thành đêm tháng mười*    <br />&#160;</p>
<p>* Nguyên tác: Novembernacht: đêm tháng mười một   <br />dịch sang tiếng Việt lại khó đọc nên mạn phép dịch “tháng mười”</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Thời ấy chúng mình (II)</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Nỗi lo của em đã là của anh   <br />Nỗi lo của anh đã là của em    <br />Khi em không mang theo một điều vui    <br />Thì chính anh không có.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Tình ca cuối cùng</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Khi ngọn nến lụi tàn   <br />Giữa hai đứa chỉ còn tro lạnh    <br />Khi con đường đã đi hết    <br />Ta chưởi nhau như hai tên khốn kiếp    <br />Beatrice bị bắt tại trận    <br />Gã cặp kè ả là mật thám    <br />Tội trạng đã sáng tỏ    <br />Thay lời thề, ung mủ chảy    <br />Có bấu nát cả bầu trời    <br />Rốt cuộc hận ghét thắng thế    <br />Ông Cột bà Kèo, đại thánh hiền nay xưa    <br />Đã biết điều ấy từ khuya</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Tình ca trong thời đốn mạt</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Không bạn bè với nhau   <br />Thế mà chúng tôi sống bên nhau    <br />Khi hai đứa nằm ôm nhau    <br />Chúng tôi xa lạ còn hơn vầng trăng</p>
<p>Và có lẽ nếu gặp nhau hôm nay giữa chợ   <br />Vì vài con cá chúng tôi có thể đánh nhau    <br />Không bạn không bầu với nhau    <br />Khi chúng tôi nằm ôm ấp nhau</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Khi nào cũng thế, lúc tôi ngắm người đàn ông ấy</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Khi nào cũng thế   <br />Lúc tôi ngắm người đàn ông ấy    <br />Anh không nhậu và    <br />Vẫn nụ cười xưa    <br />Tôi nghĩ: khá hơn rồi    <br />Mùa xuân đến, thời may đến    <br />Thời gian, thời xưa ấy    <br />Nay đã quay về    <br />Tình yêu lại bắt đầu, không lâu    <br />Mọi thứ lại như xưa</p>
<p>Khi nào cũng thế   <br />Lúc tôi trò chuyện với anh    <br />Anh ngồi ăn và không bỏ đi    <br />Anh nói với tôi và    <br />Không đội mũ trên đầu    <br />Tôi nghĩ: sẽ tốt thôi    <br />Thời bình thường qua rồi    <br />Với môt người    <br />Có thể chuyện trò, và người ấy nghe mình    <br />Tình yêu lại bắt đầu, không lâu    <br />Mọi thứ lại như xưa</p>
<p>Mưa   <br />Không trở lại về trời    <br />Khi vết thương    <br />Không còn nhức nữa    <br />Vết sẹo đau</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Tôi đã thấy anh đêm nằm phồng mang ngáy</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi đã thấy anh đêm đêm nằm phồng má phì phò   <br />Trong giấc ngủ, thật thô lỗ    <br />Và buổi sáng tôi đưa chiếc quần mòn soi ngược    <br />Ánh sáng, lúc ấy tôi thấy rõ bức tường đàng sau.    <br />Và khi tôi thấy nụ cười tinh quái của anh,    <br />Tôi sợ, nhưng    <br />Khi tôi nhìn những chiếc giày thủng lỗ anh mang,    <br />Tôi bỗng yêu anh vô cùng.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Những câu hỏi</h2>
<p>&#160;</p>
<p>Hãy viết cho anh, em đang mặc áo gì! Có ấm không?   <br />Hãy viết cho anh, em nằm ra sao! Có êm không?    <br />Hãy viết cho anh, em trông ra sao! Vẫn còn như thế?    <br />Hãy viết cho anh, em thiếu điều chi? Có phải thiếu cánh tay anh?</p>
<p>Hãy viết cho anh, em như thế nào! Người ta có tha em?   <br />Hãy viết cho anh, họ làm gì! Em còn đủ can cường?    <br />Hãy viết cho anh, em làm gì! Điều ấy có tốt?    <br />Hãy viết cho anh, em đang nghĩ gì? Có phải nghĩ đến anh?</p>
<p>Dĩ nhiên anh chỉ có những câu hỏi cho em!   <br />Và anh nghe câu trả lời, như lời tự trả!    <br />Nếu em mệt mỏi, anh không buồn trách em</p>
<p>Khi em đói, anh không có gì cho em ăn   <br />Và như thế tuồng như anh rơi khỏi thế gian    <br />Không còn ở đó nữa, như thể anh quên em.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22459/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

