<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Tạ Chí Đại Trường</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/tachidaitruong/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Thần, Người v&#224; Đất Việt</title>
		<link>http://damau.org/archives/20814</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20814#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 23 Jul 2011 14:57:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Kệ Sách eBook]]></category>
		<category><![CDATA[Đã Phát Hành]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20814</guid>
		<description><![CDATA[<p>Thần, Người và Đất Việt     <br />Sử      <br />Tạ Chí Đại Trường      </p>
<p>… quá khứ sâu đậm ảnh hưởng thần linh, ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a title="Thần, Người và Đất Việt" href="http://kesach.org/index.php?page=shop.product_details&amp;flypage=flypage.tpl&amp;product_id=41&amp;category_id=6&amp;option=com_virtuemart&amp;Itemid=1" target="_blank"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px 10px 5px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="tcdt_tndv_thumb" border="0" alt="tcdt_tndv_thumb" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/tcdt_tndv_thumb.jpg" width="103" height="157" /><strong>Thần, Người và Đất Việt</strong>     <br /><em>Sử      <br /></em><strong>Tạ Chí Đại Trường      </p>
<p></strong>… quá khứ sâu đậm ảnh hưởng thần linh, “có đất phát triển trong một xã hội bị kéo lùi, nông thôn hoá trong suy nghĩ, lí luận, bị hấp dẫn bởi tiền bạc thúc bách, khiến cho một trình độ giả khoa học không đủ sức ngăn chặn dù có quyền lực tiếp tay”     </p>
<p><em><strong>Kệ Sách eBook</strong> ấn hành &#8211; 2011       <br /><strong>Smashwords</strong> edition       <br />ISBN: 978-1-4524-5892-2</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20814/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sơ thảo: B&#224;i Sử Kh&#225;c cho Việt Nam &#8211; Chương XVII</title>
		<link>http://damau.org/archives/16661</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16661#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 04 Nov 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16661</guid>
		<description><![CDATA[Chữ “quấc ngữ” biểu hiện tiếng Việt bằng văn tự La tinh như thế, lúc đầu, chỉ mang chừng ấy tác dụng chứ chưa cho thấy là một phương tiện đảo lộn văn hoá to lớn như sẽ tỏ rõ theo với thời gian. Chính sách lúc đầu vẫn là mang tính cách thuyết phục, tờ <em>Gia Định báo</em> (1865) là một thứ công báo viết bằng thứ chữ mới...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>CHƯƠNG XVII:</em></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>THỜI MỚI DƯỚI TAY NGƯỜI KHÁC: THUỘC ĐỊA VÀ VƯỢT THOÁT</strong></p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>La Cochinchine francaise / Nam Kì thuộc Pháp với thế lấn lướt của một nền văn minh mới</strong></p>
<p>Có ý kiến cho rằng khởi thuỷ việc chiếm Nam Kì cũng chỉ là giải pháp tình thế của đội liên quân Pháp Tây Ban Nha đang lúng túng ở Đà Nẵng năm 1859: Trên bộ thì họ không thể tiến đến Huế vì đường đất khó khăn, không có dân đạo hưởng ứng như các giáo sĩ từng đoan chắc; muốn ra Bắc, nơi có nhiều dân đạo họ mong bảo vệ thì lại gặp mùa gió ngược. Chỉ còn địa điểm Gia Định sông rộng nước sâu, vị trí gần gũi với các địa điểm giao thương phồn thịnh đương thời mà các sĩ quan hải quân xa xứ thấy là quen thuộc. Tuy nhiên dù thế nào thì sự chiếm đóng cũng đã xảy ra, việc giữ gìn đất mới đi theo với ý định phòng thủ, cứ từng bước sẽ dẫn đến những tổ chức đặt căn bản cho sự cai trị lâu dài về sau. Cho nên ngay lúc toan tính đưa phái đoàn Phan Thanh Giản đi Pháp xin chuộc đất, triều đình Huế cũng đã thấy đất Gia Định mà người Pháp “mới dựng nên đã thành cơ chỉ rồi”&#8230; Và chính sự chiếm lĩnh đầu tiên và thời gian cai trị lâu dài tiếp theo dưới quyền các sĩ quan hải quân chuyển thành nhân viên hành chính đã góp phần ảnh hưởng đến việc phần đất này của Việt Nam phải mang cơ chế riêng biệt trong vùng thuộc địa của Pháp để mang tên Cochinchine francaise / Nam Kì thuộc Pháp.</p>
<p>Lúc khởi đầu thì cũng như ở những cuộc chiếm đóng khác, điều quan trọng là việc giữ gìn an ninh cho đội quân trên đất lạ, đầy thù nghịch. Cho nên muốn khỏi gây xáo trộn, Phó Đô đốc Bonard kí nghị định 19-3-1861 giữ nguyên tình trạng đồn điền, đến khi gặp trường hợp Trương Định và Tri huyện Đỗ Trình Thoại đánh úp Gò Công (22-6), Charner lại phải kí nghị định giải tán chúng (22-8-1861). Tiếp theo kinh nghiệm đó, khi chiếm Miền Tây, De la Grandière liền ra lệnh chuyển đổi các đồn điền nơi đây thành các làng xã mới. Không đủ quân chiếm đóng, người Pháp lập thêm các toán quân phù trợ bản xứ để giữ an ninh trật tự, phụ giúp trong các cuộc hành quân lấn chiếm, chống đối nổi loạn. Từ đó nảy sinh những tên tổ chức quân đội quen thuộc kéo dài mãi suốt thời ngoại trị: <em>lính tất tập, lính tập, lính mộ partisan, lính mã tà </em>(cùng tên nhưng khác với các toán matamata người Phi, phụ lực của quân đội Tây Ban Nha lúc đầu). Trừ súng đạn mới, dồi dào hơn người lính của triều đình Huế, tổ chức lính mới vẫn còn có dạng bản xứ: đơn vị là Đội 50 người, trang phục màu mè, nhiệm vụ bắt lính, điền thế, nuôi lính là của làng, lính thay phiên tập luyện theo kiểu chia “ban” cũ&#8230; Với thời gian, loại lính mới này đã có số lượng khá lớn như trong cuộc tấn công Đồng Tháp (28-3-1866) có cả 1000 “lính tập và Mả tà”. Trong chiến dịch chiếm ba tỉnh Miền Tây, De La Grandière cũng đã huy động đến cả ngàn người. Tiếp theo là những người lính “viễn chinh” Bắc Kì của các chiến dịch 1874, 1883-1985.</p>
<p>Chính từ đây đã xuất hiện ba nhân vật nổi tiếng ở địa phương – tiếng xấu đối với quốc gia bị đô hộ nhưng là “người của thời đại”, của thế giới mới, hãnh diện với “cấp bằng của Đại Phú Lãng Sa Hoàng đế”. Huỳnh Tấn, người bắn chết Trương Định, độc nhất được Pháp cho mang chức Lãnh binh của thời Đàng cựu, võ biền thô lỗ, không thể tiến thân hơn nhưng để lại người con Huỳnh Minh trong “thơ” <em>Cậu Hai Miêng</em> như một chứng cớ về sinh hoạt thời mới, lạ lùng dưới mắt người bình dân đương thời. Trần Bá Lộc, hăng hái tìm đường tiến thân trong các chiến dịch chống đối người kháng chiến, có đủ ranh ma để thấy nhu cầu của chủ mới mà vượt khuôn khổ quy định, lãnh việc tổ chức quân riêng, đúc ấn Tổng đốc Khánh Thuận quan phòng, in danh thiếp “Khâm sai”, dẫn người đánh quân Cần vương đến tận Phú Yên, Bình Định. Không dừng lại ở vai trò quân sự, ông nhận cầm đầu một “Uỷ ban nghiên cứu luật bản xứ”, lại thấy rõ ưu thế khai thác ruộng đất trên vùng đất rộng mênh mông này nên đã chủ trương đào con kinh lớn đương thời xuyên qua Đồng Tháp Mười, gây thán phục cho cả người Pháp, được lưu giữ với tên Kinh Tổng đốc Lộc cho đến trước 1975. Cũng với hàm Tổng đốc độc nhất cho hai người hợp tác, là Đỗ Hữu Phương, Hộ trưởng một khu phố Chợ Lớn (1865), chiếm Bà Điểm trong tay Trương Quyền (con Trương Định), bày mưu hiến kế đánh Nguyễn Trung Trực, uyển chuyển thu phục Nguyễn Hữu Huân, cho người Pháp thấy ra hình dạng một “trí thức” theo kịp thời đại. Ông dự Đấu xảo Pháp 1878, vào dân Tây (1881) mở đường cho hai người con làm “trung tá trẻ tuổi nhất của quân đội Pháp”, phi công bản xứ đầu tiên của Đông Nam Á.</p>
<p>Để nắm quyền sâu sát hơn, người Pháp chia vùng đất chỉ có “sáu tỉnh” về trước: Nam Kì Lục tỉnh, thành 20 đơn vị nhỏ mang tên Quận/Hạt (Arrondissement), rồi cuối cùng cố định là Tỉnh (Province). Đứng đầu tỉnh tất nhiên là người Pháp, phần lớn lúc đầu là các sĩ quan hải quân chuyển ngành, làm Giám đốc Bản xứ vụ, dưới quyền một Giám đốc Tối cao, tất cả như một hệ thống quan lại mới theo một chế độ do các Đô đốc thay nhau chỉ huy, làm “Toàn quyền”, được gọi nôm na là Soái phủ Nam Kì. Với kinh nghiệm lấy từ thuộc địa Algérie, trong một khoảng thời gian ngắn, Bonard áp dụng chính sách cai trị gián tiếp qua các nhân viên bản xứ. Các chức danh cũ được đặt lại để trực tiếp trông coi dân chúng, theo kinh nghiệm của guồng máy cai trị Đàng cựu, trên có các sĩ quan Pháp làm nhiệm vụ thanh tra. Thí nghiệm không thành công vì các quan triều đình Huế bất hợp tác hay chống đối, người được bổ nhiệm xuất thân thấp kém, hãnh tiến nên không có uy tín với dân chúng, còn thành phần hợp tác quan trọng lúc đầu là các giáo sĩ cũng phản đối vì sợ trở lại chế độ mà họ phải chịu đàn áp trước kia. Thế là phải thành lập chế độ trực trị dưới quyền các viên thanh tra người Pháp, được hệ thống hoá năm 1863 với chức danh Thanh tra bản xứ vụ (ba thanh tra hành pháp, tư pháp, tài chính mỗi tỉnh), có quyền hạn rất lớn. Một Nha Nội vụ được thành lập ở Sài Gòn năm 1864 lo sắp xếp việc cai trị, mở trường dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, ban hành thuế lệ&#8230; Tuy nhiên vấn đề lại là sự kiến hiệu của tổ chức.</p>
<p>Cai trị gián tiếp qua các nhân viên, tầng lớp thượng lưu bản xứ mang các chức danh mới hay có biến cải (Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ&#8230;) thì nhẹ gánh vì tránh được tình trạng hỗn loạn do người Pháp không thông hiểu ngôn ngữ, phong tục địa phương. Bonard đã khuyến dụ dân Nam Kì là họ trung thành với Pháp vẫn không trái với lí tưởng trung quân vì “cũng như người con gái theo chồng mà không phủ nhận cha”. Dưới thời ông có một ít người thân cận cố gắng thâm nhập xứ sở họ đến cai trị như Aubaret dịch <em>Gia Định thông chí </em>và <em>Hoàng Việt luật lệ, </em>Philastre chú giải bộ luật Gia Long, Luro nghiên cứu xã hội Việt Nam, Landes nghiên cứu ngôn ngữ, truyền thuyết Chàm và Việt&#8230; Một khi chuyển qua chế độ trực trị, sự lạm dụng quyền hạn đi theo với tình trạng không thấu hiểu lớp người bị trị đã khiến người Pháp phải chịu những cuộc nổi dậy liên tiếp qua các năm 1872, 1873, 1874&#8230; Sự bất mãn cũng xảy ra với cả những người hợp tác. Giám đốc Nội vụ Nam Kì phải hăm he Huỳnh Tấn vì ông “général” / lãnh binh này đã lên tiếng mắng mỏ Tham biện Bến Tre là “quan coi binh, chưa từng biết đến việc dân, cho nên ra việc quan, làm thì làm bậy, nói thì chẳng thông sự lí bằng dường như kẻ ngu si dốt nát&#8230;” Và thế là đến năm 1873, lớp sĩ quan biệt phái được thay thế bằng các công chức hành chính thực thụ trải qua thời gian học tập ở trường Tập sự (Collège de Stagère) để làm quen với khía cạnh văn hoá Việt Nam.</p>
<p>Những cuộc chống đối vẫn tiếp diễn, lúc đầu là vì tinh thần yêu nước, chống người dị chủng, tả đạo, vì tuân lệnh triều đình, về sau được nuôi dưỡng tiếp tục vì những cải cách của người Pháp động chạm đến chính sinh hoạt bản thân, có khi vẫn không thích ứng được với thời mới. Và đúng là có một thời Đàng Cựu tưởng chừng không thể trở lại mà vẫn đang hiện diện ở phía bắc không xa, với người đồng chủng, với triều đình vua quan nên còn gợi tiếc nuối ước mơ. Cựu quan chức chống đối bị dập tắt hay bị ngay chính triều đình dưới áp lực Pháp, bỏ rơi, kẻ cố cùng đơn độc hành động hi sinh (Trương Định, Tri huyện Thoại&#8230;), người bỏ đi “tị địa” trên phần đất Bình Thuận giáp giới, với hi vọng gần gũi nơi cũ sẽ trở về (Phan Trung được Tự Đức che giấu, và Võ Duy Dương rủi ro hơn, chết giữa biển&#8230;) Hết quan chức thì đến những người dân vô danh, đi theo những tin tưởng thần bí tại chỗ, với thời Nguyễn là của những “gian đạo sĩ”, với thời mới thì tính cách tôn giáo khép kín lại dung chứa thêm những dạng hình chống đối ngoại di, kẻ xâm lược, nổi bật ở khu vực Miền Tây là truyền thống Bửu Sơn Kì Hương. Nhóm Tứ Ân Hiếu Nghĩa được cho là có lãnh tụ Ngô Lợi (1831-1890) lẩn trốn dai dẳng nhưng cũng tạo chiến tích cho Trần Bá Lộc huênh hoang: <em>“Thầy vãi Thất Sơn đều trốn sạch”. </em>Lại cũng không thiếu cả những kẻ thấy thời thế là dịp đạt mộng công hầu, liền tự xưng với chức danh cao cấp Đàng cựu (“Tổng binh, Thống quản đầy tràn”), ban phát “bằng cấp” cho những người hưởng ứng, quấy rối làng xóm, “nào ai mở miệng dao phay chém bằm”, che chắn hành động cướp bóc bằng chính nghĩa vì dân vì nước. Những người đó, khi trở cờ theo Pháp, cũng sẽ làm luỵ không ít cho ông chủ mới.</p>
<p>Tuy nhiên sự chống đối thất bại của tầng lớp quan lại và sĩ phu cũng khiến người cai trị mới thoát được cách thế tiếp xúc qua văn tự (Hán) một chừng mực để đến thẳng với người dân qua tiếng nói bản xứ. Trong trường hợp này thì người cầm quyền đã có sẵn thứ chữ biểu âm do giáo sĩ đưa lại nên dễ dàng học hỏi và buộc người dân học hỏi để làm phương tiện truyền đạt mệnh lệnh trong thời mới. Chữ “quấc ngữ” biểu hiện tiếng Việt bằng văn tự La tinh như thế, lúc đầu, chỉ mang chừng ấy tác dụng chứ chưa cho thấy là một phương tiện đảo lộn văn hoá to lớn như sẽ tỏ rõ theo với thời gian. Chính sách lúc đầu vẫn là mang tính cách thuyết phục, tờ <em>Gia Định báo </em>(1865) là một thứ công báo viết bằng thứ chữ mới, thực hiện ước mơ của triều đình Huế khi nghe nói đến tờ báo tương tự của triều Thanh dành cho dân Trung Quốc. Thế rồi Nghị định 6-4-1878 buộc từ đầu năm 1882 các công văn tiếng Việt phải viết bằng chữ quốc ngữ. Tình trạng chuyển hoá văn tự đã phát sinh một phó sản không ngờ: Tỉnh Vĩnh Long mở trường dạy thứ chữ mới (1869), làng xã cấp tiền cho người đi học để đủ học sinh theo quy định, đã mở đường thăng tiến cho một lớp người cùng khổ của xã hội cũ đi vào giai tầng cai trị mới. Về sau rất lâu, người ta vẫn nhớ có những ông Đốc phủ sứ gốc là chăn trâu của những điền chủ trung thành với Đàng Cựu, sợ đổi thay. Có lẽ cũng cùng nguồn gốc nhưng được che chắn kĩ vì danh vọng cuối cùng quá cao, là ông Phủ / Đốc phủ mở đạo Cao Đài. Và những Đốc phủ sứ tương tự gốc Miên, không những được thoát tiếng Di Man thời cũ mà còn khiến cho cả tập đoàn người Khmer Krom trong vùng đã sáng giá hơn đồng chủng ở chính quốc, từng cung cấp các nhân vật chính yếu cho nước Kampuchia ngày sau: Sơn Ngọc Thành, Sơn Ngọc Minh, Ieng Sary mang họ Kim của Minh Mạng ban cấp&#8230;</p>
<p>Trên bình diện văn hoá tổng thể thì vai trò chính thức của chữ quốc ngữ đã làm một bộ phận lớn của dân chúng đoạn tuyệt với quá khứ như mong muốn của một số nhà cai trị ranh ma sâu sắc. Một thứ nền văn học quốc ngữ thành hình trên đất Nam Kì với bản truyện Kiều dạng chữ mới (1875, cùng lúc với <em>Đại Nam quốc sử diễn ca</em>) trong lúc nó vẫn còn đang được khắc trên khung gỗ ở phía Bắc, rất lâu về sau! Khuất lấp hơn, bản văn <em>Thơ Nam Kì và Thơ tiếp theo thơ Nam Kì </em>(1876) làm việc phóng sự bằng chữ mới, để lại chứng cứ lịch sử về việc mất Sáu tỉnh, sớm hơn <em>Hà Thành thất thủ </em>hay <em>Vè thất thủ Kinh đô. </em>Và không phải chỉ là chuyện chuyển đổi văn tự. Có cả một tinh thần văn hoá, xa lạ với khuôn khổ cũ trong việc phổ biến trung thực bản văn, sự kiện, không sửa đổi, phổ biến y như nó đã xuất hiện, được ghi chép bởi người khác xứ. Ta thấy ở đó có một chút gì ngây thơ, ngờ nghệch, không nệ phải bày tỏ những điều “nhạy cảm” trái thời thế, động chạm đến quyền lực đang ngự trị, có thể gây dao động về đường lối hợp tác của cả người sao lục. Những ngự sử văn đàn đầy xúc động cao cả về sau có mắng chửi Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, có ca tụng Nguyễn Đình Chiểu hẳn cũng chỉ có thể lấy từ bản văn, ví dụ <em>Văn tế vong hồn mộ nghĩa / Văn tế ngãi sĩ Cần Giuộc của Đồ Chiểu, </em>của những người “hợp tác” đó mà thôi.</p>
<p>Nhưng thoát ra ngoài vết mòn ngàn năm, lúc này không phải chỉ vượt qua kinh sách mà còn là cả một hệ thống cai trị dựa trên kĩ thuật, công nghệ mới. Súng đạn công phá hiệu quả, tàu chiến rầm rộ có gây thêm tinh thần kháng cự trong tủi nhục thì cũng tạo được một lớp người không phủ nhận được rằng có một thời thế khác, có uy lực hơn. Vừa chiếm Gia Định, Pháp đã bỏ lệnh cấm xuất cảng gạo của triều đình Huế, mở cuộc đấu xảo trưng bày sản vật địa phương (1866), thông báo phổ biến luật kinh doanh (1869), mở đường cho việc kinh doanh lúa gạo ở Nam Kì, tạo cơ hội cho người Hoa mở nhà máy xay xát (1876) làm đà cho độc quyền càng lúc càng lớn của tập đoàn này. Và từ đó cũng thấy thấp thoáng quyền lực của người Hoa, cả từ tận đáy tầng xã hội với các hội kín chân rết từ chính quốc nay thêm những vặn vẹo ẩn ức của đời sống lưu vong, toả rộng bứt phá trên đất mới. Bưu điện Sài Gòn thành lập kéo theo sự xuất hiện của con tem đầu tiên (1863). Mới chiếm Vĩnh Long một năm đã có thông cáo về việc kiểm tra trâu bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh&#8230; mở đường cho ý hướng tổ chức vệ sinh y tế khoa học. Ý tưởng làm đường sắt từ Sài Gòn, dự tính năm 1874 sẽ thực hiện với lần khánh thành năm 1885. Tư bản tài chính cũng hiện diện rất sớm với sự thành lập Ngân hàng Đông Dương (1873) rồi sẽ vươn cánh tay quyền lực ra toàn vùng, đi theo với đà chiếm lĩnh thuộc địa của các quân nhân, chính khách.</p>
<p>Tất cả nền tảng cai trị thuộc địa đều đã hiện hình trên vùng đất chiếm đóng để lan toả ra, chuyển đổi theo với tình hình mới, đi theo đoàn quân viễn chinh, theo chân các chính khách tràn ra phía bắc, dời đổi trục trung tâm của thuộc địa với tính chất phức tạp hơn&#8230; Từ 1879 Nam Kì có sự chuyển tiếp từ quyền hành quân sự qua chế độ dân sự với Thống đốc Le Myre de Viliers (7-7-1879). Cơ quan quyền lực cao nhất được dịch văn vẻ là Soái phủ Nam Kì. Nha Nội vụ được gọi với cái tên Toà Bố, có ông Giám đốc mang chức danh xưa cũ trong các văn thư “Tư Thừa Chánh Bố / Phó Bố quan&#8230;” Các chức danh trên cấp tỉnh qua bao đổi thay với danh xưng khác nhau: Directeur / Inspecteur des Affaires Indigènes&#8230; như đã thấy, vẫn được gọi là Tham biện, Tham biện Chủ tỉnh&#8230; Với thời gian, tính chất Pháp hoá, dễ thấy ở đây hơn so với các vùng Trung Bắc, đã tăng thêm dáng vẻ riêng biệt cho vùng đất cuối phương nam này, nơi còn nổi bật một dạng hình melting-pot, lặng lẽ mà sôi sục tràn đầy khi xuất hiện nơi các giáo phái.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Ba Kì trong hệ thống thuộc địa Đông Pháp</strong></p>
<p>Hiệp ước 1874 mở đường cho chế độ Bảo hộ của Pháp vẫn chưa có tên đó. Tuy nhiên với thế yếu của triều đình Huế, chút quyền còn lại của Việt Nam nằm trong các hiệp ước vẫn lần lần bị tước đoạt. Ngay sau khi Kinh đô thất thủ, các tỉnh Trung Kì có những người Pháp đại diện chính quyền bảo hộ được gọi là Công sứ, nắm thực quyền trong vùng. Năm 1887, Liên hiệp Đông Dương thành lập bao gồm thuộc địa Nam Kì và hai nước bảo hộ Việt Nam và Cao Miên (sáu năm sau thì thêm Lào). Qua năm 1888, phần thuộc địa lại có thêm ba địa điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Chức Kinh lược Bắc Kì đặt năm 1886 cũng sẽ bị bãi bỏ năm 1897 khiến cho Bắc Kì thành một thứ “bảo hộ” khác với Trung Kì, để hai viên chức Pháp cầm đầu tuy cùng có tên Résident Supérieur mà tên Việt lại khác: Thống sứ cho Bắc Kì và Khâm sứ cho Trung Kì – “Khâm” sứ chỉ là tên mang sĩ diện hão với ý rằng còn thuộc quyền vua Việt bổ nhiệm! Và tất cả đều dưới quyền một viên chức tối cao của chính phủ Pháp có tên là Toàn quyền, trực thuộc Bộ Thuộc địa. Có nghĩa là vua Việt Nam từ nay phụ thuộc một viên chức của Bộ Thuộc địa Pháp. Tiến trình lấn át lúc đầu như thế khiến ta hiểu được những chống đối quân sự của dân chúng, quan chức cũ có tên là Phong trào Cần vương, Văn thân mà đại biểu cuối cùng là quan Đình nguyên Phan Đình Phùng ở Vụ Quang (Hà Tĩnh) kéo dài đến khi chủ tướng tử trận (1895).</p>
<p>Văn thân tàn tạ bên trong, phải chuyển sự hướng vọng về bên ngoài theo tinh thần đồng văn, đồng chủng nơi ngôi sao Á Đông vừa nổi trên chính trường có dạng quốc tế hoá là nước Nhật. Có thể nói Phan Bội Châu là nhân vật văn thân &#8211; cần vương quá mùa, phản ứng đối với buổi đầu thành hình cơ cấu thuộc địa Đông Dương. Ý định cầu cứu nước Nhật, tôn phù Cường Để nằm trong tiến trình hợp lí của kết quả đào tạo cá nhân con người lãnh đạo phong trào Đông Du đó. Thời thế kết hợp được sự hưởng ứng nồng nhiệt hơn ở vùng Nam Kì, nơi sự cắt đứt với đất Mẹ đã khiến lưu giữ những cảm tình, hoài niệm cũng cuối mùa trên vùng đất đang thay đổi mạnh mẽ này. Và trong khi Phan Bội Châu thất bại với ý định ngoại viện, vẫn phải tự mình dựa vào sự thành công của Cách mạng Trung Quốc (1912) để tổ chức những cuộc quấy động người Pháp từ bên ngoài bằng những toán quân Việt Nam Quang Phục Hội của ông thì sự chống đối bên trong, theo truyền thống khu vực lại trở về tay những ông Tổng, ông Cả như của thời Nguyễn cai trị. Thế là chức danh chính thống phù trợ cho triều đình lại gượng gạo kéo dài khá lâu với sự hoạt động của Hoàng Hoa Thám, rồi cũng đi đến thất bại năm 1913.</p>
<p>Nắm quyền từ trung ương qua các hiệp ước, người Pháp đã lợi dụng được cả uy lực còn sót của triều đình Huế để buộc các quan triều phục vụ cho mình mà như dấn thân cho vua cũ: Kinh lược Hoàng Cao Khải đánh dẹp ở Bắc Kì và Tiễu phủ sứ Nguyễn Thân sắt máu tung hoành như một Tổng tư lệnh chiến trường ở Trung Kì, cả hai từ vị trí nhỏ nhoi của gia thế, của địa phương, đã vươn lên theo đà của thời thế đưa lại, nhưng sự khởi đầu một chừng mực đó lại có vẻ “dễ coi” hơn trường hợp những Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương. Cho nên, dù còn phải “bình định” những cuộc chống đối nhưng qua thế kỉ XX, người Pháp thấy mình đã đủ năng lực để tổ chức cai trị thuộc địa một cách bài bản hơn. Và lịch sử thuộc địa bước qua giai đoạn mới với Toàn quyền Paul Doumer (1897-1902), “người đặt cơ sở cho guồng máy thống trị và tổ chức khai thác Đông Dương&#8230; được giữ cho đến năm 1945” (Phan Khoang 1971).</p>
<p>Tính chất thống nhất toàn vùng được đặt ra với một ngân sách chung (1898), các nha môn quy tụ về Phủ Toàn quyền, với sự thành lập các ngành quan quản thuế thuốc phiện, ruợu (1902), muối (1903), khiến tập họp được tiền bạc xây dựng phần cơ cấu kĩ thuật mới: đường xe lửa nối với nội địa Trung Hoa, khởi công đường sắt xuyên Đông Dương, trang bị các hải cảng lớn, xây cầu Doumer vững và đẹp, năm 2009 vừa được nhà nước hiện tại loạc choạc làm lễ Kỉ niệm khánh thành 100 năm&#8230; Sự yên ổn chính trị có sự khuyến khích của chức quyền khiến tư bản Pháp đổ tiền vào Đông Dương thuộc Pháp / Đông Pháp, khai mỏ (Công ti than đá vùng Đông Bắc, Công ti thiếc đầu thế kỉ), mở nhà máy sợi, xưởng dệt, xi măng Hải Phòng (1900), kinh doanh thương mãi&#8230; thu lời nhanh chóng vì được hưởng chế độ quan thuế đặc biệt, loại trừ các đối thủ cạnh tranh khác nước.</p>
<p>Sự chuyển đổi quyền lực tối cao cũng khiến cho vấn đề điền địa đảo lộn, có lợi trước nhất cho chủ nhân mới, dù phải nhường một ít cho những người liên kết. Các đồn điền được lập ra theo những điều kiện dễ dãi, từ trên công thổ quốc gia, từ đất của các sở hữu chủ tản lạc qua chiến tranh, từ những khai thác mới&#8230; Do đó đất Nam Kì còn hoang vu là thiên đường cho các “điền Tây” mở rộng đi theo các con kênh ngang dọc tháo phèn, rửa mặn tạo ra các làng xóm mới, tụ tập người về. Lúa gạo đưa đến sự sung túc cho dân chúng và cũng là nguồn xuất khẩu quan trọng cho chính quyền thuộc địa. Từ nền nông nghiệp truyền thống, việc khai thác hướng đến ngành nông nghiệp kĩ nghệ với cây cao su, cà phê (Công ti cao su thành lập 1906)&#8230; Nhìn chung sự phát triển của xứ Đông Pháp có đà đổi thay đến tận gốc, chính phủ Pháp không còn thấy thuộc địa như là một gánh nặng phải bù đắp tài chính nữa. Nhưng chính trong say sưa tiến hành công việc với bàn tay sắt, người cầm quyền đã không kềm hãm được những bất mãn gia tăng của dân chúng vì chính sự đổi thay nọ.</p>
<p>Trước nhất, vì tính chất đối lập chính trị, người Pháp không thể huy động được một bộ phận văn thân cũ đứng ngoài sự chiêu tập của phần hành bản xứ dưới quyền họ. Tổ chức mới không còn chừa bao nhiêu chỗ làm, địa vị xã hội cho các “trí thức” khoa bảng cũ vì còn phải dành chỗ cho khung cai trị mới. Toàn quyền P. Beau (1902-1908) ra lệnh cắt giảm nhân số trong ngạch quan lại. <em>“Ông nghè ông cống cũng nằm co, Chi bằng đi học làm thông phán&#8230;”</em> Tuy nhiên thời mới cũng lại vẽ ra hướng phải đi trong thực tế đó cho những người bên lề, đến lúc này vốn đã được hấp thụ <em>Tân thư </em>bằng lí thuyết. <em>“Chữ quốc ngữ là hồn trong nước”/ “Bất phế Hán tự bất dĩ cứu Nam quốc”/ “Mau mau đi học lấy nghề&#8230;” </em>(Phan Châu Trinh). Trường Đông Kinh nghĩa thục (1907) của các nhân sĩ lập ra ở Hà Nội có cả phần dạy chữ Pháp cho các ông Cử ông Tú vốn chỉ biết chữ Nho! Thế là, như một sự ngưỡng vọng người cai trị trong ấm ức, họ đi theo thời đại mới, “theo Pháp” mà không mang tiếng phản bội, lại được quần chúng nhìn với cặp mắt cảm tình tuy là cũng bởi vị thế bên lề đó mà họ lại bị đàn áp không nương tay, khi người Pháp nhìn ra là một phong trào quần chúng có phương hại đến an ninh trật tự. Không bằng cớ nào tỏ rõ sự ngưỡng vọng ấy nơi con người gian khổ Phan Bội Châu, có lúc cũng bàn tới khẩu hiệu Pháp Việt đề huề để một nhân vật Đệ tam Bắc Kì đổi tên ông là “Phản” Bội Châu!</p>
<p>Lại cũng chính lớp người khoa bảng bên lề này đã ảnh hưởng đến công cuộc Duy Tân về phương diện lập hội kinh doanh, mà về điều này các ông Cử Tú cũ vốn không quen thuộc lắm nên thấy xuất hiện những khuôn mặt văn thân cấp thấp ở thôn quê, thành thị nhỏ. Có thể nói đất Quảng Nam với tư thế tiếp xúc rộng rãi từ thời Đàng Trong còn lại, đã là nơi xuất hiện những hội buôn sớm nhất, từ trước 1906, đồng thời với các hô hào mở hội cày, hội học, hội công&#8230; của lí trưởng Lê Cơ anh vợ Phan Châu Trinh, của Bang tá Nguyễn Đình Tán chẳng hạn. Đây có thể nói là một phong trào quần chúng, khác với ở xứ Bắc là được kêu gào từ thủ phủ Hà Nội toả ra. Duy tân về phương diện này là sự đòi hỏi quyền lợi của người bản xứ muốn hình thành một tầng lớp tư sản mà người Pháp đã không quan tâm đến.</p>
<p>Đất Nam Kì cũng cho thấy sự riêng biệt của mình khi các hội buôn mở ra không cần nhiều đến các lời hô hào lí thuyết vì đã có đà kinh doanh cũ trong vùng. Không có chuyện ồn ào mở trường học vì người Pháp đã bao trọn việc giáo dục như đã thấy. Những người bất mãn, hướng vọng Đàng Cựu thì theo tiếng gọi Đông Du của Cường Để. Ý thức chống Tây hướng về vương triều cũ, ước vọng xưa khiến người ta dùng chữ Minh Tân vướng vất tinh thần Thiên Địa Hội vẫn sôi sục trong dân chúng, lan toả trong khắp các hoạt động xã hội bên lề. Cho nên tình hình phức tạp thêm, là qua tay những nhân vật Minh Hương trở thành Việt không tranh cãi, Duy Tân / Minh Tân có thêm dáng dấp chống Tàu, chống lớp người Thanh mới đến nhiều ưu thế hơn. Sự đối chọi này sẽ nổi bật hồi sau với các vụ tranh chấp điền địa dẫn đến đổ máu như vụ Ninh Thạnh Lợi (1927). Có điều tình thế trực trị riêng biệt ở đây đã khiến những người khởi xướng và ủng hộ viên Minh Tân không phải chịu hình phạt như các người đồng điệu phía bắc.</p>
<p>Sôi động đòi hỏi đổi thay xuất hiện ngay trên thôn xóm, làng xã nên đã dẫn đến những rối loạn có người chết và sự can thiệp của binh lính. Đó là những vụ chống sưu thuế trong các năm 1908 ở các tỉnh Miền Trung mà gốc xuất phát ở Quảng Nam không phải là điều lạ nếu ta lưu ý đến nhận xét về trước. Ngày 9-3-1907, khoảng 400 người dân hè nhau lên huyện lị Đại Lộc kêu nài xin giảm sưu, lôi kéo theo một vài xã khác. Gặp sức phản kháng của quan quyền, cuộc chống đối mở rộng vào Quảng Ngãi, Bình Định, trở ra Thừa Thiên, Nghệ An, có những tên riêng cho từng vùng (giặc Đồng Bào ở Bình Định) nhưng gọi chung theo lối bình dân, đó là Phong trào Xin xâu, Giảm thuế.</p>
<p>Nhìn riêng lẻ của sự việc thì vấn đề không có gì đặc biệt cho lắm. Vẫn biết là “dân Quảng Nam hay cãi” nhưng sưu thuế, và sự lạm dụng của quan quyền tại chỗ gây thêm phản kháng lúc đầu, cả hai cũng chỉ là chuyện khá bình thường cùng lúc ở các nơi khác. Tất cả chỉ như là một tia lửa phát ra vào lúc dồn ép cao nhất mà chính những quyết định của nhà cầm quyền cũng góp phần gây rối nhiều hơn. Một ông Tổng đốc Bình Định đời Tự Đức, đi trấn nhận đất Nam Định đã mắng ba “văn sĩ” kiện quan huyện tham tang: “Chuyện thật đáng trách, nhưng làm quan không nhận đồ biếu xén thì lấy gì ăn, mặc?” Ông Cử Hà Ngại của thời Bảo Đại cũng nhận rằng phải để bà Huyện nhận tiền cửa sau mới đủ chi dùng, không phải chỉ cho cá nhân mà cho cả việc công. Thuế má thì tất là nặng nhưng chống thuế là chuyện bình thường của thế gian. Trốn xâu lậu thuế cũng là bình thường, nhưng gặp lúc người Pháp đem phép kiểm soát người dân thi hành gắt gao hơn thời hơ hỏng xưa thì dân khó trốn hơn nhiều. Xưa chỉ có hai thứ thuế: đinh và điền, nhiều thứ thuế xưa kia (chợ, kiểm lâm, muối&#8230;) thực tế là tản lạc trong các danh xưng, quyền chức khác nhưng nay được định danh bởi chính phủ Bảo hộ nên oán than đã dồn về chính quyền mới. Người nào đặt bài vè ta thán về thuế, với ý nghĩa “thứ gì cũng thâu”, cho phái Đông Kinh nghĩa thục chỉ là làm việc phản ảnh tâm trạng của dân chúng đương thời. Đi xâu/sưu cũng là chuyện bình thường nhưng với thời mới thì công tác xây dựng đáng lẽ phải cần máy móc (vì tầm mức to rộng hơn) lại lấy sức người thay thế thì hẳn là không dễ kham như thời xưa. Với thời đại “tiền bạc” đã chen vào, có thể đem tiền thuê mướn người làm thay thì sự bất công hiện rõ thêm vì gánh nặng việc công đổ dồn vào người nghèo khổ dù rằng chính họ đã lãnh tiền làm mướn.</p>
<p>Ông quan huyện Đại Lộc rủi ro nhón chút tiền xâu, phân phối việc không công bằng là dịp để xảy ra những việc cũng là bình thường về trước, nay trở thành khác thường, trong đó sự khích động của dân chúng đã làm tăng độ hỗn loạn. Lại không phải chỉ có chuyện xin giảm xâu như lối nhìn biến động một cách đơn giản của các tay chủ xướng. Trong các cuộc biểu tình lại có ẩn chứa nhiều đòi hỏi đổi thay xã hội, không phải nhắm vào chính quyền mà còn ngược với “truyền thống” đương thời, gây phản ứng với cả dân chúng nữa. Nghĩa là rối loạn không có chỗ để bênh hay chống cho đúng nghĩa. Biến động có phần chỉ thuần tuý là rối loạn, không mang một “chính nghĩa” nào hết. Ví dụ việc đòi bỏ cái đầu tóc dài, đòi hỏi cưỡng bách đến mức có tên “giặc Đầu Bào” khiến trong Châu bản và văn thư Pháp phải nói đến “giặc cắt tóc”.</p>
<p>Để tóc dài, không phải chỉ ở thời bây giờ mà cả gần đây, vốn không phải là chuyện nghịch thường: Cứ nhìn các ông trong vùng Hoà Hảo thì đủ rõ. Cắt tóc nhìn ở phương diện truyền thống cũng chính là một tội trọng: Lúc gần thế chiến II, một thanh niên ở Tân An (cách Sài Gòn 40km) đi chơi bị cò bót bắt, tức giận đăng lính để có dịp trả thù, tất nhiên phải cắt tóc, liền bị cha mẹ từ bỏ! Tuy nhiên Thành Thái hớt tóc, bắt thị vệ làm theo, phô bày long nhan cho sĩ phu Quảng Nam trông thấy (1905) mà không ai dám bài bác vua. Phan Châu Trinh mang cái đầu lùm xùm từ Nhật về chỉ gợi sự ngạc nhiên. Các nhà nho Quảng Nam buổi đầu cắt búi tóc, thấy người chung quanh dè bỉu có ngượng ngùng vì sự thay đổi, vẫn vượt qua được vì không bị áp lực nguy hiểm đến bản thân. Nhưng trong một cuộc tập họp có kẻ (quần chúng!) cầm dao kéo để “xởn” tóc người đi đường, có lí trưởng chánh tổng (quan nhỏ!) xướng suất thì người dân thấy hẳn không phải là chuyện tự nguyện như khi kéo lên tỉnh xin xâu bắt quan huyện, dìm nước kẻ thi hành phận sự giữ an ninh. Phong trào chống đối 1908 ở Miền Trung như thế không phải chỉ giản dị là kháng thuế nên Khâm sứ Lévêque đang nhìn thấy những bất mãn do việc phế truất Thành Thái (3-9-1907), có tung quân đàn áp thì cũng chỉ là hiểu theo nghĩa tuyên dương sức mạnh của chính quyền, của bất cứ ai nắm quyền.</p>
<p>Cho nên nhìn chung, biến động vừa theo đuôi vừa phản ứng đối với chính quyền ngoại trị được gọi chung là Duy Tân có căn bản quần chúng như thế tất nhiên phải gặp sự đàn áp không phân biệt. Lính khố xanh khố đỏ được phái đi dẹp biểu tình. Đông Kinh nghĩa thục, “cái lò phiến loạn ở Bắc Kì”, bị giải tán (12-1907) cùng với các thương hội&#8230; Những người dính líu bị lên án, lưu đày, sự may rủi đến từng người một theo một chừng mực tình cờ không tránh khỏi như trường hợp Trần Quý Cáp. Và làm nổi bật một nhân vật, lạ lùng thay, lách được trong thời thế biến chuyển để có ảnh hưởng lớn đến cả thế hệ sau: Phan Châu Trinh. (Theo yêu cầu khẩn thiết của gia đình, xin chớ gọi ông cha họ là Phan <strong>Chu </strong>Trinh!)</p>
<p>Đây là con người chống đối quyền bính mà được mọi người đều thấy có một phần mình có thể dung thứ, che chở, cả hợp ý nữa. Không ai bị mắng chửi nặng nề bằng các quan của triều đình, thế mà trong bản định tội ông, Phủ Phụ chính còn vướng chút tình văn thân khoa bảng, đã có dáng can đảm bài bác ý định xử tử hình của Khâm sứ Lévêque để quyết định cho ông Phó bảng ngỗ ngược chỉ bị lưu đày Côn Lôn. Người dân thấy trong lời đối đáp với quan Pháp một hình ảnh Chí Phèo không phải chỉ dành cho tầng lớp cùng đinh như phát hiện gần nửa thế kỉ sau mà chính là phản ảnh truyền thống đối phó với quyền lực của dân tộc: “<em>Thằng Phan Châu Trinh thà chết thì nó xách cái đầu của nó, nó quăng xuống đất như chơi, nó chẳng sợ giam đâu, nó chẳng chịu làm thân trâu ngựa cho người ta cưỡi lên đầu lên cổ nó đâu&#8230; Tôi thề chết giữa buồng giấy quan lớn, tôi thề lấy máu tôi mà bôi đầu đầu đầy cổ, đầy mặt đầy mình quan lớn, tôi chẳng chịu chết mòn chất rục, chết vắng chết thầm ở buồng giam 6-21 nhà giam Xăng tê này đâu..</em><em>. </em>(Thư Phan Châu Trinh gởi quan Ba Caron, 2-5-1915). Từ sự đồng dạng đó mà người dân không thấy sốc về những câu nói, lời thơ tán tụng người Pháp có thể bị coi là nịnh bợ, không thắc mắc về tình hình tù nhân Phan Châu Trinh thong dong ở “địa ngục trần gian” Côn Lôn, không thắc mắc về việc ông đi Pháp bằng tiền nhà nước&#8230; Cảm tình đó sẽ được tích trữ để có dịp bùng phát về sau.</p>
<p>Quan chức Pháp chắc có kẻ cũng mỉm cười với con người chịu đi theo trào lưu mới, chịu thưa gửi Quan lớn để trị bọn quan lại dưới tay vốn cũng không được họ ưa chuộng lắm&#8230; Chút ngang tàng của người trí thức đó như một biểu hiện giá trị xứ sở bị trị, ít nhiều gì cũng được quan chức Pháp nhìn với vẻ nể trọng, do một thái độ ứng xử văn minh họ thụ nhận ở đất nước họ. Cho nên cũng với cách nhìn đó mà những người Pháp khác, không bị vướng bởi vị trí người cai trị, đã vận động Hội Nhân Quyền để can thiệp cho tội nhân Phan Châu Trinh. Có điều, sức trì níu của quá khứ, của bản thân vốn đã tạo nên dạng hình ứng xử ngang tàng kia đã khiến cho ông, trong bao nhiêu năm ở Pháp, không hấp thụ bao nhiêu nền văn minh mà ông muốn đưa dân tộc đi tới. Chỉ có trở về nước ông mới tìm lại được vị trí của mình. Vị trí đó lại có phần là ảo giác của tầng lớp dân chúng bình thường hồi tưởng về một ông quan khảng khái từ nhiệm, chống bất công, và của lớp thanh niên ít nhiều gì cũng nằm trong đường hướng ông cổ động, từ tiếp thu học vấn mới của ngay chế độ thuộc địa, đã mang thêm ảo giác khác, vọng tưởng thêm về một chân trời tốt đẹp đầy khích động của đất nước, nhân loại.</p>
<p>Chính đám văn thân còn lại cũng phải ngầm nhận ra con đường thuộc địa là hợp thời, tiến bộ để phải đi – dù là muốn đi theo bước riêng của mình, thì chính quyền thuộc địa cũng thấy ra chỉ cần điều chỉnh một ít lề lối cai trị của mình là có thể giữ vững quyền hành với một lượng người ít oi so với đám đông dưới tay. P. Beau mở rộng sự hợp tác của quan viên bản xứ bằng cách thành lập Hội đồng tư vấn Bắc Kì (1907) rồi cho lập tiếp Hội đồng hàng tỉnh. Đại học Đông Dương được khánh thành năm 1906, chận đón ước vọng mở mang kiến thức mà cũng để thu hút người muốn phục vụ mơ “làm thông phán”, không để họ bị đẩy về phía đối lập. Các tổ chức giáo dục mới tiếp tục trên đà lấn lướt. Năm 1908 có Hội đồng Cải cách giáo dục với hai hệ thống: trường Pháp Việt cho người dứt khoát theo mới và các trường Hán quốc ngữ cho lối thi cử cũ có pha trộn. Đó là giai đoạn dẫn đến việc bãi bỏ thi Hương ở Bắc Kì (1916), Trung Kì (1918) rồi đến lượt thi Hội ở Huế (1919). Thực ra thì chính sách của các toàn quyền đưa ra cũng thường bị các giới chức khác phản đối nên mang tính chất co giật như việc Đại học Đông Dương bị đóng cửa năm 1908, đến 1917 mới mở lại, do toàn quyền A. Sarraut, người cho lập Hội đồng tư vấn hàng tỉnh ở Trung Kì.</p>
<p>Thế chiến thứ Nhất nổ bùng, người Pháp rút quân về cứu nước, và cũng phải chịu những chống đối được dịp bùng dậy. Ở Trung Kì là cuộc khởi nghĩa của Thái Phiên, Trần Cao Vân ủng hộ vua Duy Tân (1916), ở Bắc Kì là cuộc khởi nghĩa binh lính ở Thái Nguyên (1917) và những chuyến xâm nhập của Phục Quốc Quân từ biên giới. Các cuộc rối loạn động đến binh lính thật ra cũng vì chủ trương của người Pháp muốn sử dụng người Việt trong chiến tranh ở trời Âu. Điều đó rõ rệt nhất là ở thuộc địa Nam Kì, nơi người Pháp đã có một tổ chức trưng binh chặt chẽ được quen gọi là “điền lính”. Thực ra thì nhìn lại một tài liệu trưng binh của tỉnh Tân An từ 1919 đến 1927, ta thấy số đi lính rất thấp (khoảng 10 người các năm 1919-23) so với số đinh tịch cùng thời gian: 30 000 người. Thế mà sự hoảng loạn thật là dữ dội: Người ta trốn nấp ở bìa rừng, bìa bưng có thể đâm chết người lạ nào lãng vãng gần đó. Có cả những cuộc nổi dậy đánh phá các nơi tuyển mộ. Tình hình đó thuận tiện cho các cuộc nổi dậy của những chi phái Thiên Địa Hội (các “kèo”) vốn thật phồn tạp ở Nam Kì đi theo với khối lượng lớn Minh Hương cũ, nhất là Thanh mới, được phép xuất hiện hợp pháp trong tổ chức Ngũ Bang có nhà cầm quyền thừa nhận sự tự quản của Hoa kiều. Thế là có chuyện Hoàng đế Phan Xích Long “dòng dõi Hàm Nghi” xuất thế, ngự trên ngai ở đường Thuận Kiều cho quần chúng đến van vái, nghênh ngang áo quần trắng toát giữa thành phố Phan Thiết, bị bắt giam trong ngục mà có cả 300 người từ Tân An kéo lên định phá Khám lớn Sài Gòn để cứu vua (15-2-1915).</p>
<p>Tình trạng hội kín Nam Kì đã làm nổi bật một “hội kín” khác, lúc này đã ra công khai – và được nâng đỡ: Thiên Chúa Giáo. Chính quyền thuộc địa mang bản thân văn hoá riêng, đã coi các tập đoàn tôn giáo phương Đông là những Hội, khác với Thiên Chúa Giáo là một Tôn giáo với một kiêng nể về một giá trị vượt trên trần thế dù rằng một vài viên chức mang tinh thần 1789 vẫn lên tiếng chống đối. “Các xứ đạo được tự trị một phần nào trong thực tế, những vấn đề đất đai, về tổ chức vệ sinh hay giáo dục, cũng như những vấn đề thuế má hay công sưu thường được giải quyết qua trung gian các vị cha sở. Trong hai vùng ở Bắc Kì là hai địa phận Bùi Chu và Phát Diệm, đạo Thiên Chúa được tổ chức vững chắc, các vị giám mục thực sự điều khiển công việc hành chánh và thế tục.” (Nguyễn Thế Anh 1970, 2008). Với cách nhìn nhận như thế, “dân đạo” bỗng trở nên một tầng lớp có ưu thế, các người lãnh đạo tinh thần có tác động mạnh trên quyền thế tục, ảnh hưởng đến cả những chuyện lặt vặt tranh chấp trong xóm làng như ông Cử Hà Ngại đã có kinh nghiệm trong cuộc đời quan chức Nam triều đang hồi tàn tạ. Tuy nhiên tình trạng thuộc địa Nam Kì với các sinh hoạt hướng tới công khai, có phân biệt tương đối rành rẽ về tôn giáo / thế tục, khiến cho Thiên Chúa Giáo nơi đây xuất hiện bình thường trước mắt dân chúng, không gây nên vấn đề nổi cộm nào. Trong khi đó, các xứ đạo Bắc Kì vẫn mang vết thương những ngày tháng bức đạo, nhiệt tình mê muội theo một dạng hội kín phương Đông riêng biệt, với mối tin tưởng thần bí từ trong văn vẻ của những bản kinh bổn thô sơ đặt ra hồi mới xâm nhập. Sự sống khép kín với sự ưu ái của chính quyền, càng làm tăng tính chất cô lâp mà họ cảm thấy rất rõ, dù lần này là từ sự kênh kiệu, kiêu kì của “dân Chúa”.</p>
<p>Tuy nhiên tình hình chung lúc bấy giờ thực ra không đến nỗi là quá bi đát cho chính quyền thuộc địa như các sử gia về sau tán rộng. Kéo quân đi, có lúc họ chỉ còn 2 550 lính với vài ngàn công chức Pháp (năm 1937: 5464 người) mà vẫn không mất thuộc địa, còn kêu gọi “Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc”, thu đến 367 triệu francs, cùng lúc kéo 100 000 người “tùng chinh” làm lính chiến, lính thợ. Và sự thụ động của thuộc địa không phải không có lí do. Người dân bị lôi cuốn theo thời cơ, được hưởng những cải thiện để có thể quay lưng với những hoạt động chống đối nguy hiểm. Thời đại cũng chứa đựng những hấp dẫn mới đối với những người sẵn sàng chịu thay đổi cuộc sống. Như, trong khi việc “tùng chinh” được coi là kinh khiếp với một số người thì một người lính Nam Kì lại khoe rằng “lúc bắt thăm (đã) đại ngôn xin anh em nhường số Một lại cho tôi đến đỗi xã trưởng phải la rầy&#8230;”</p>
<p>Chiến tranh làm ngăn trở giao tiếp với chính quốc khiến cho thuộc địa lâm vào tình trạng phải tự phát triển, và lại phát triển theo nhu cầu phục vụ chiến tranh của chính quốc. Một số nhà máy được xây dựng để sản xuất thuốc nổ, sửa chữa vũ khí, đóng tàu, đúc gang&#8230; Nhu cầu lớn, nhân lực thiếu khiến cho các nhà tư sản Việt Nam có cơ hội thành lập công ti vận tải đường sông, đường bộ, xay xát lúa gạo (ở Nam Kì), chen vào đóng góp cổ phần trong các công ti của chính người Pháp (mỏ than, chế biến cao su&#8230;) Và từ đó nội thương phát triển, thủ công nghệ có cơ hội nảy nở đến tận các làng xã, thành thị nhỏ. Lại cũng vì chủ nhân bận rộn với chiến tranh nên các nhân viên Việt được dịp thay thế nơi các chỗ trống vì người Pháp phải nhập ngũ, hay không qua Đông Dương được. Các công chức này được đào tạo từ các trường mới, thay thế cho nền giáo dục cũ bị bãi bỏ. Không những họ được vào “ngạch quan cai trị” như những người xuất thân từ hệ thống Đại học phổ thông do A. Sarraut mở lại và khuếch trương rộng hơn, mà còn có những người được đào tạo từ các trường dạy nghề kĩ thuật và mĩ thuật, bắt đầu cũng được lập ra trước ở Nam Kì.</p>
<p>Tất nhiên phải thấy rằng sự yên ổn tương đối đã xảy ra vì chính quyền thuộc địa đã gắng công rất nhiều trong việc điều hoà nhu cầu của người cai trị và dân bị trị. Các cải cách mở rộng Đại học, đưa người Việt vào các ngạch cai trị cũng bị rất nhiều phản đối từ các nhà tư bản, các quan chức, tuy nhiên các quyết định đó là tiếp tay cụ thể cho một chủ thuyết “Pháp Việt đề huề” được quảng bá rộng rãi đến mức sẽ làm dao động đến cả Phan Bội Châu. Tuy cuộc cải cách hành chính buộc tách rời Bắc Kì khỏi Nam triều nhưng người ta lại tổ chức cuộc “Ngự giá Bắc tuần” cho Khải Định, trùng tu đền Hùng, cho Khải Định ban Dụ tổ chức ngày Giỗ Tổ 10-3 âm lịch làm căn cứ cho những lễ hội hàng năm rình rang, đầy tổn phí ngày nay. Nhân vật phục vụ cho người Pháp như Đỗ Hữu Vị, chết trên mặt đất nhưng với chút quá khứ làm “quan Ba (?) tàu bay” từng biểu diễn tàu lượn (hydro-glisseur) trên sông Hồng, Cửu Long, được ca tụng như một hoà hợp của quá khứ Việt và hiện tại Pháp: “Nếu có vị sĩ phu An Nam nào thấy người đồng bào Đỗ Hữu Vị leo lên chiếc tàu bay&#8230; ném những trái bom cháy trên các toán quân địch&#8230; người ấy sẽ nghĩ rằng:.. con rồng An Nam đang phun lửa và chống đánh bọn mọi rợ&#8230;” Nhưng những người cai trị vì tình thế phải có những nhượng bộ cho dân chúng bản xứ hẳn không biết được rằng chính những chính sách được thực hiện cũng sẽ lại là mầm mống đưa đến những rối loạn về sau.</p>
<p>Chiến tranh chấm dứt, tư bản Pháp đổ vào Đông Dương tạo đà phát triển to rộng. Tổ chức quảng cáo cho thuộc địa thành lập cơ quan có tên Kinh tế cục Đông Dương. “Có thể nói rằng thời kì từ 1924 đến 1930 là kì thạnh nhất của công cuộc đầu tư Pháp tại Đông Dương (Nguyễn Thế Anh 1970, 2008)”. Các đồn điền to lớn được thành lập: đồn điền cao su vùng đông bắc Sài Gòn, đồn điền cà phê ở Bắc và Trung Kì, đồn điền trà trên Tây Nguyên&#8230; Theo đà đó các “điền Tây” ở Nam Kì cũng lên đến 100 000 ha, gây nên những cuộc tranh chiếm ruộng đất đối với nông dân, địa chủ Việt có khi dẫn đến đổ máu.</p>
<p>Các vùng đất được nối kết bằng một hệ thống giao thông tốn kém. Từ 1918 có nghị định thành lập hai hệ thống đường bộ; loại đường thuộc địa lệ thuộc vào Ngân sách Đông Dương và loại đường địa phương thuộc các Kì quản lí. Đường xe lửa được tiếp tục xây dựng từ ngân sách 1921, đến 1939 có tổng cộng 2997 km chiều dài. Điều đáng chú ý là số công chức Việt điều hành đường xe lửa rất lớn (20 119) so với người Pháp (281), lương bổng cao, quy chế lao động được áp dụng khá sớm để ta không ngạc nhiên lắm khi có viên kí ga, dù là ga nhỏ, sẽ được trở thành Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Các thành tích được công bố về sau thường nhắc đến các nhân viên đường sắt, nhất là tuyến đường Hải Phòng &#8211; Vân Nam, như một cơ sở cách mạng đáng tin cậy – mối tin tưởng vốn cũng có phần từ hình ảnh ông tổ Lenin trên tuyến đường từ Phần Lan về cướp chính quyền ở xứ Liên Xô xa xôi.</p>
<p>Để củng cố việc cai trị theo tình hình mới, luật pháp được ban hành với các bọ luật hình (Bắc Kì 1921, Trung Kì 1933), dân luật (Bắc Kì 1931, Trung Kì 1936, 1939) cùng sự thành lập các cấp toà án có cái khung của tổ chức luật pháp tân tiến. Trong thể chế này có một cơ quan làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các toà án, Sở Mật thám Đông Dương, nổi danh về công tác theo dò những người chống đối, tuy bị thù ghét nhưng lại là nòng cốt hướng dẫn cho hoạt động của cơ quan Công an về sau, hiệu quả hơn rất nhiều so với nguyên mẫu của nó, nhờ tính chất đồng chủng khiến sự xâm nhập dễ dàng hơn mà không phải bị ràng buộc vì những tiêu chuẩn luật pháp phức tạp, xa lạ.</p>
<p>Tất nhiên về sau người ta hay nhấn mạnh đến các tập họp nông dân, công nhân mang tính hiện đại bằng các từ “giai cấp” nhưng truyền thống cũ vẫn còn lấp ló sau các thay đổi, cho nên chính các cải cách giáo dục của người Pháp đã đem lại cho thuộc địa một tầng lớp có thể gọi là Văn thân mới. Tháng 5-1918, chính quyền ban hành bản Học chính tổng quy làm cơ sở cho nền giáo dục toàn Liên bang. Một hệ thống giáo dục Pháp Việt phức tạp thành hình có dụng ý nhường bước thu nạp dân bản xứ lại mở đường cho một lề lối suy tưởng bằng tiếng Việt ngay cho trẻ vào đời. Các loại sách “&#8230; giáo khoa thư” được soạn ra, trong đó bản sách “Quốc văn&#8230;” có ảnh hưởng rất lớn đối với các thế hệ về sau khiến cho qua thế kỉ XXI người ta còn nhắc nhở và còn cố tâm tái bản, như một chứng tỏ phản đối nhẹ nhàng về tình hình giáo dục sa sút ngày nay. Và không nên quên quyển <em>An Nam sử lược</em> (1920) của ông giáo Trần Trọng Kim, đi theo với thời độc lập được đổi làm <em>Việt Nam sử lược</em> (1953) chứng tỏ giá trị dài lâu của nó. Tầm mức kiến thức được nâng cao vì không những giáo dục đã được mở ra đến cấp bậc Đại học mà còn phát tán ra những ngành chuyên môn, có hướng dẫn vào con đường nghiên cứu, thay đổi lối suy nghĩ trì trậm xưa cũ.</p>
<p>Đối với những người vượt thoát được ra ngoài thì tha hồ xoay chuyển tư tưởng, hành động đi theo các thế lực nổi trội mà họ có hi vọng nhờ cậy hay thấy lấp được khoảng trống kiến thức tranh đấu của mình. Hết vọng tưởng Nhật với Đông Du, lại trở về truyền thống như sự nổi dậy của tiềm thức đi theo thực tế trước sự thành công của cách mạng Trung Hoa 1912. Và có thất vọng với thế giới Tây phương để đẩy mơ mộng xa hơn thì tư tưởng “thế giới đại đồng” trong kinh sách cũ lại lôi cuốn họ hướng về Cách mạng Nga 1918. Từ Phan Bội Châu với mong muốn làm một phong trào Nga Du đến Phan Châu Trinh già cỗi chuyển mong muốn cho người khác, Nguyễn Ái Quốc đã đi xa hơn trên “con đường dẫn đến chủ nghĩa Lênin” dài dằng dặc trong mê sảng. Những người trong nước khó có dịp bày tỏ thái độ công khai theo những trào lưu tư tưởng mới nhưng chữ quốc ngữ giúp họ đọc được những truyền đơn, báo chí, chữ Pháp giúp họ gặp trực tiếp Voltaire, Montesquieu và rồi Marx, Engels (ngay trên báo chí thuộc địa tả phái)&#8230; để tận tình bênh vực “cái nền văn minh nhân đạo của loài người” (Hải Triều Nguyễn Khoa Văn 1935) đang diễn ra trên đất nước Xô viết xa xôi.</p>
<p>Báo chí là chốn nương thân, là nồi cơm hũ gạo của những người cố vươn kịp thời thế như <em>Phụ nữ tân văn </em>(1929) cho ông tú Phan Khôi, là nơi chốn hoạt động trong thế kềm thúc chật hẹp của xứ Trung Kì của những người vì lẽ này hay lẽ khác đã thoát nạn tai hồi đầu thế kỉ như Huỳnh Thúc Kháng với tờ <em>Tiếng dân</em> (1927). Ông nghè này mở đường cho thế hệ sau, của những người có chút học vấn từ các trường mới rẽ ngang bình thường tìm đường sinh sống, hay bị đẩy ra cuộc đời vì tai nạn qua những cuộc tranh đấu chung. Không nên lấy làm lạ khi sau này (1971) ông Nguyễn Vỹ lêu bêu ở Miền Nam viết hồi kí về các đồng nghiệp làm báo ở Hà Nội, nhắc chuyện thời đói khát ăn nhờ ông Võ Nguyên Giáp “có ước vọng làm commis”, nhắc đến ông Đăng Xuân Khu (“chưa đỗ bằng Thành chung”, chưa có bí danh Trường Chinh), xưng hô toa/moi đòi giải trình giùm cho ông Trần Huy Liệu đang bị “các anh” trong Đảng truy bức chuyện gia đình. Một số người này không phải nghèo đói như người ta tưởng. Họ lúng túng trong sinh hoạt thời mới như bất cứ ai của mọi thời, nhưng họ có thể khôn khéo vươn lên thành một tầng lớp trung lưu trong xã hội, được sự kính nể của danh vị “ông nhà báo” / “ông nhà văn” xưa kia chưa từng có.</p>
<p><em></em>Tính chất vọng tưởng phương xa không được người ta nhắc tới nhưng nổi rõ trong sự xôn xao sôi động khi Phan Bội Châu bị bắt rồi bị xử tử (1925), đã gây nên phong trào đòi ân xá ông. Cũng thấy rõ tinh thần đó trong sự ngưỡng mộ Phan Châu Trinh từ Pháp về rồi mất (1926) dẫn đến các cuộc biểu tình, bãi khoá để tang ông. Sự đàn áp những học sinh biểu tình dẫn đến tuyệt lộ sinh kế của những người này sẽ cung cấp những chiến sĩ tranh đấu cương cường khi họ lớn lên vài năm sau.</p>
<p>Hết thời thịnh vượng thì đến thời khủng hoảng. Đến lúc này thì Đông Dương không còn ở thế riêng biệt trong tay người Pháp nữa nên cuộc khủng hoảng thuộc địa lần này đánh động đến dư luận quốc tế vì những phản kháng có tầm mức to rộng, dữ đội bên trong được dấy động bởi những con người Việt lớp mới, với kiến thức cũng có tầm mức quốc tế như đã nói.</p>
<p>Tiếng vọng từ bên ngoài có tác động mạnh vẫn là từ nước Trung Hoa lớn rộng, kề cận, bắt nguồn từ lối mòn suy nghĩ cảm tính thân cận mà nền giáo dục mới của người Pháp đã không tước bỏ lại còn gợi lại, làm cho nó trở nên hấp dẫn, thu hút hơn. Phan Bội Châu chưa chuyển được tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội của mình theo với sự thành công của Cách mạng Tân Hợi thì người trong nước đã thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng (đêm Noel 1927) theo hướng dẫn chủ thuyết của Tôn Văn, Quốc phụ của Trung Hoa mới. Lần này thì không phải chỉ là những rối loạn lẻ tẻ, rời rạc nữa mà đảng của Nguyễn Thái Học, sinh viên trường Sư Phạm Đông Dương, đã là một tổ chức bạo động có tôn chỉ lí thuyết, có đường lối hành động rành rẽ. Tuy nhiên tính chất hội kín một phần của nơi xuất phát và nơi ngưỡng vọng cũng là một nguyên nhân làm phong trào thất bại. Các tổ chức ám sát, như vụ giết Bazin, chống đối tuyển mộ nhân công đồn điền cao su, tạo dư luận quần chúng đã gây sự chú ý của người cầm quyền, dẫn đến những cuộc bắt bớ và quyết định khởi nghĩa hấp tấp. Dù sao thì sự đàn áp chưa từng có của Pháp và các bản án cùng tính cách hiên ngang bất khuất của những người lãnh đạo đã khiến cho cuộc Khởi nghĩa Yên Báy (tháng 2-1930) trở thành biểu tượng lớn lao cho tinh thần chống đối giành độc lập trong tay người Pháp, nay mang những dạng hình tân tiến hơn xưa.</p>
<p>Sự chống đối bó gọn trong tính chất Khu vực, dù là lớn rộng của Quốc Dân Đảng, dẫn đến thất bại không thấy khả năng gượng dậy, cho thấy ưu thế khác của phong trào Cộng sản quốc tế ở Việt Nam, tuy cũng trải qua những chìm nổi nhưng bền vững, dai dẳng tạo cơ hội chực chờ thành công. Trong trường hợp này, mối liên hệ quốc tế và trong nước của đảng Cộng Sản chi phái Stalin là ưu thế mà các đảng khác không có – nghĩa là tính cả nhóm Đệ Tứ theo Trotsky. Lí thuyết cộng sản vẫn được tuyên dương là một lí thuyết khoa học nhưng người theo, phần lớn cũng là thấm đượm một tinh thần tiên tri toát ra từ ông Do Thái K. Marx, qua sự thành công ở nước Nga năm 1918, trở thành một hoang tưởng lớn nhất của nhân loại ở thế kỉ XX. Sự hoang tưởng này gặp vọng tưởng Thiên hạ Đại đồng của Á Đông thu hẹp trong ước mơ lạc quan về một đấng chân chúa, minh vương xuất thế ở Việt Nam. Lễ kết nạp hội viên cho Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ái Quốc / “Ông Vương” chứng giám, có nghi thức cắt cổ gà ăn thề tương tự như các lễ gia nhập Thiên Địa Hội quanh các năm 1910, 1920 ở Nam Kì. Cho nên viên Chủ quận Chợ Mới đã khen “Họ (cán bộ CS) thích ứng thật lạ lùng với phong tục làng xóm”. Còn ông Bộ trưởng Ngoại giao tương lai của VN DCCH thì tự phụ: “Thằng Cọng Sản Nam Kì nào cũng có máu du côn”. Chính nhóm đánh xe thổ mộ làm-reo (grève) ngày 4-11-1935 là để hưởng ứng lời kêu gọi của nhóm <em>La Lutte </em>kỉ niệm Cách mạng tháng Mười, mà nhóm anh chị kia thì không xa gốc gác Hội (kín) Vạn Xe từng quấy đảo vùng Chợ Lớn hồi 1888. Vụ án mạng đường Barbier (Lí Trần Quán) 8-12-1928 là một vụ giành gái kèm với sự chống đối của tổ Đảng địa phương với phái viên trung ương / quốc tế, để từ đó có án tù của Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng. Phía Bắc, có thể lấy trường hợp ông Trường Chinh, lúc còn là Đặng Xuân Khu, đã giả làm lí hương thành công đến mức qua mặt được mật thám, nghĩa là người mật thám đã Âu hoá hơn cháu ông tiến sĩ Tổng đốc triều Nguyễn.</p>
<p>Bên ngoài, người Cộng Sản (Đệ Tam) có được một đường dây quốc tế trợ giúp tiền bạc và uy danh để điều hành cán bộ, xây dựng tổ chức ngoại vi lồng vào trong những hoạt động khu vực không phải Việt Nam, như khi lợi dụng chủ trương Quốc Cộng hợp tác ở Trung Hoa Dân quốc. Và tuy ở thế gây rối nhưng họ cũng lợi dụng được thể chế dân chủ Tây Phương để tổ chức biểu tình ủng hộ các phong trào hoặc chính danh là Cộng Sản hoặc núp dưới danh nghĩa tả phái. Nguyễn Ái Quốc thoát nạn ở Hongkong (1931) là nhờ hệ thống luật pháp của Anh ở đấy. Sự yểm trợ lớn rộng bên ngoài đã khiến cho những thất bại giai đoạn của người cộng sản không làm họ nhụt chí. Bên trong, sự kiên cường theo đuổi một lí tưởng chưa thấy là hoang tưởng, giúp họ chịu đựng được sự ràng buộc của một tổ chức khắt khe đượm thêm màu thần bí vừa đe doạ vừa hấp dẫn của hội kín, để họ cứ liên tục nhắm vào cái đích chính quyền và rốt lại, đi đến thành công. Với tư thế đó, danh hiệu “cộng sản” là chỉ vào họ, làm khuất lấp hẳn nhóm Đệ Tứ.</p>
<p>Nhân vật kiệt xuất của phong trào Cộng sản được vọng tưởng từ rất sớm là Nguyễn Tất Thành, đi Tây có phần bởi lời mắng mỏ của một bậc trưởng thượng đồng hương (Nguyễn Hữu Hoàn), đã lập sự nghiệp tiến xa hơn những người khác từng thoát ra khỏi nước. Tuy nhiên cũng không nên vì địa vị Hồ Chí Minh về sau mà gán ghép cho chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc những thành quả và công tích quá sự thật của chúng. Dưới tên kí Nguyễn Ái Quốc hẳn có văn từ của nhiều người thông thạo chữ Pháp hơn “anh Ba” bồi tàu. Đó là chàng thanh niên Mười tám thôn Vườn trầu Nguyễn An Ninh, muốn làm Cộng sản mà không chịu vào khuôn khổ. Đó là ông luật sư Phan Văn Trường thông thái nhưng phải làm quan Trạng nên “tây” quá, không có bao nhiêu uy tín với quần chúng. Ông kĩ sư Nguyễn Thế Truyền, chủ bút tờ <em>Việt Nam hồn </em>được cất giấu trong các nhà “làm việc quốc sự”, thì khi về nước trở lại nguyên hình một ông quan đi Tây, tranh đấu với Tây chỉ như làm một hành động “văn minh” để rốt lại bị thời cuộc bỏ xa, về sau có gượng gạo ứng cử Tổng thống VNCH cũng không gợi được chút tăm tiếng nào. Còn ở trong tổ chức Đệ Tam Quốc Tế thì Nguyễn Ái Quốc không được coi “chính thống” hơn Trần Phú, Hà Huy Tập, địa vị thấp hơn Lê Hồng Phong nằm trên bực cấp toàn cầu: Uỷ viên ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.</p>
<p>Tổ chức Cộng sản do các yếu tố khác nhau tạo thành như thế nên vừa có khuynh hướng tự phát vừa mang tính tổ chức từ đầu não Liên Xô. Đảng Phục Việt (1925) do Tôn Quang Phiệt, cựu sinh viên Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, cùng một người của phong trào Duy Tân (Lê Văn Huân) thành lập, đổi tên Tân Việt Cách Mạng Đảng tổ chức biểu tình đòi ân xá Phan Bội Châu, để tang Phan Châu Trinh&#8230; bị đàn áp dữ dội, rồi sẽ là một hệ phái của đảng Cộng Sản Đông Dương. Nguyễn An Ninh mang tư tưởng tự do từ Pháp về (1923), sử dụng quyền tự do báo chí áp dụng cho báo tiếng Pháp ở Nam Kì, hô hào thanh niên thay đổi, dùng tờ <em>La cloche fêlée </em>đăng (1926) cả Tuyên ngôn Cộng sản, đòi cải cách ruộng đất rồi vào tù, ra khám, bị đày Côn Lôn, tiến dần đến một dạng tập họp quần chúng có khuynh hướng cộng sản và hội kín, được đương thời gọi là Hội kín Nguyễn An Ninh. Bên ngoài, Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội được Nguyễn Ái Quốc thành lập ở Quảng Châu (1925), tổ chức Đại hội ở Hongkong (1929) không thành công trong việc hợp nhất khiến các đại biểu về nước thành lập đảng riêng cho Bắc, Trung, Nam có tên là Đông Dương Cộng Sản Đảng, Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn và An Nam Cộng Sản Đảng, tha hồ công kích nhau để tranh giành ảnh hưởng. Nguyễn Ái Quốc được lệnh thống nhất đảng (1930), lấy tên đảng Cộng Sản Việt Nam để có ngày kỉ niệm về sau là 3-2. Thế nhưng việc đổi tên lần nữa, là đảng Cộng Sản Đông Dương với Trần Phú làm Tổng bí thư, đưa ra một bản Luận cương Chính trị theo sát đề cương cách mạng của Đệ Tam Quốc Tế, chứng tỏ quyền lực quốc tế lần đầu tiên có quyết định trực tiếp đến hoạt động giải phóng quốc gia của Việt Nam. Tên gọi “Đông Dương” nhắm chung vào các nhóm dân tộc Việt, Miên, Lào khác nhau của tập họp thuộc địa Pháp, mang tính cách chiến lược mở rộng dẫn đến hậu quả lâu dài, để chiến thắng có hướng vững chắc mà hệ luỵ ẩn khuất cũng không phải là nhẹ nhàng.</p>
<p>Tình hình phát triển ở Đông Dương sau Thế chiến I đã khiến cho giới công nhân tăng số lượng, thêm phức tạp, đòi hỏi phải có những quy chế thích ứng của hình thức tư bản cho nên Toàn quyền Varenne (1825-28) ban hành các thể thức bảo hộ lao động (giờ, tuổi lao động, giao kèo, bảo hiểm y tế&#8230;) Công việc này bị giới thuộc địa phản đối nên Toàn quyền Pasquier (1928-34) cho giải tán Sở Thanh tra Lao động cùng thêm những biện pháp siết chặt giới công nhân. Sự thay đổi nhập nhằng như vậy tạo ra những cuộc đình công đòi quyền lợi lúc đầu, biến thành những biểu hiện mang tính yêu sách chính trị (treo cờ đỏ, kỉ niệm 1-5, ủng hộ Liên Xô) do các nhóm Cộng sản khác nhau khích động khiến lần đầu tiên Đông Dương tiếp nhận một nhân viên của tổ chức quốc tế đến quan sát tình hình (7-1929): Đó là ông “Albert Thomas, Đổng lí Sở Quốc tế Lao động của Vạn Quốc Hội [hội Quốc Liên]”.</p>
<p>Rồi cuộc Đại khủng hoảng kinh tế thế giới cũng lan đến Đông Dương. Giới nông dân cùng khổ không được hưởng gì nhiều trong sự phát triển lại càng phải chịu khốn đốn hơn. Tình hình chung đã khiến cho những lời hô hào tranh đấu giai cấp mang dạng cùng khổ chống áp bức của người cộng sản được quần chúng tiếp nhận mạnh mẽ. Chủ trương “vô sản hoá” (1928) đưa các cán bộ con cháu tư sản, quan lại, địa chủ về bến tàu (Ngô Gia Tự), hầm mỏ (Nguyễn Văn Cừ), đi kéo xe (Nguyễn Lương Bằng) giúp họ vận động quần chúng dễ dàng hơn. Công nhân đồn điền treo cờ đỏ, công nhân xưởng máy thành phố đình công, lôi kéo cả cu li xe kéo ở Huế, Sài Gòn. Nông dân biểu tình, đặc biệt là cuộc nổi dậy của nông dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi từ tháng 5-1930 đến tháng 9-1931. Uỷ ban Xô viết Nghệ An được thành lập ra lệnh chia đều ruộng đất, hành động mang tính cách cách mạng xã hội đầu tiên khiến lịch sử đảng Cọng Sản sau này ghi nhận là một cao trào của công cuộc cách mạng vô sản.</p>
<p>Sự sôi động xã hội như thế đã không chừa chỗ cho những hoạt động chính trị của giới trung lưu thành thị. Tuy thành thị theo kiểu mới là một dạng hình tập họp dân cư, sinh hoạt văn hoá tân tiến vì đây là sản phẩm của chế độ thuộc địa, chưa từng xuất hiện trong sinh hoạt truyền thống nhưng nó chưa có trọng lượng là bao giữa khối thôn làng, buôn rẫy nghèo đói, lạc hậu. Cho nên những nhà chính trị của tầng lớp trung lưu không có quần chúng đã đành mà sự kết nối sinh hoạt của họ với tầng lớp cai trị, tư sản Pháp đã khiến cho uy thế họ càng mỏng manh thêm. Ở Nam Kì đảng Lập Hiến của các ông Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long cũng đòi chính phủ thuộc địa thực hiện tự do dân chủ, cổ võ dân chúng giành các mối lợi kinh tế khỏi tay người ngoại quốc. Họ có chân trong Hội đồng Thuộc địa Nam Kì nhưng không đủ áp lực để người Pháp thay đổi, nên mất dần ảnh hưởng trong dân chúng. Ở Bắc Kì, trên tờ <em>Nam Phong,</em> học giả Phạm Quỳnh cũng lên tiếng đòi trả lại thực quyền cho triều đình Huế, biện minh cho một tinh thần Việt Nam đủ xứng đáng là một nước văn minh nhưng rồi cũng không thực hiện được gì với vai trò Thượng thư được giao. Tất nhiên sự yếu thế của các nhân vật này sẽ dẫn đến tai hoạ cho thân xác họ, với những lời dè bỉu, chê bai, mạt sát dai dẳng nhưng trên bức tranh chính trị tổng thể của đất nước, sự vắng mặt của tầng lớp họ đã khiến cho tình hình quá khích cứ lướt tới không có gì cản trở nổi. Sự bất lợi vì kết hợp với chế độ thuộc địa của những nhà chính trị văn hoá cũng như những nhà kinh doanh, không phải là điều tốt đẹp nếu ta bình tĩnh nhìn nhận khi có đủ độ lùi của thời gian để thấy ra.</p>
<p>Tất nhiên cuộc đàn áp của người Pháp rốt lại không nhẹ đối với mọi cuộc chống đối. Hàng ngàn người bị bắt, bị giết, bị tù đọng đến chính quốc, tiếng xấu lan ra ngoài quốc tế. Các bài phóng sự của L. Roubaud <em>(Vietnam, La tragédie indochinoise </em>1931), của Andrée Viollis <em>(Indochine SOS </em>1935), mang thứ văn chương báo chí lãng mạn bi thảm, đã khơi dậy sự thương cảm đối với dân bản xứ, gây bất bình đối với người cầm quyền thuộc địa. Do có đà hiện diện sẵn, từ nay với tăm tiếng lan xa nên dù gặp chống đối, các tổ chức giải phóng dân tộc – hay các tập họp người mang tinh thần đó, đã có dáng không thể nào bị tiêu diệt được<strong>. </strong>Trong <em>“Hành trình kí” </em>của A. Thomas, “ổng nói rằng: Cõi Đông Dương khi đã sửa sang lại rồi thì tiền sẽ sa vào tay người Tàu. Người Pháp sẽ bị quét sạch và ném xuống biển mà không có thể kháng cự lại. Còn An Nam thì bất tài không tự chủ được, phải hàng phục Trung Huê&#8230;Vì người bổn xứ rồi đây sẽ theo cọng sản hết và người Tây sẽ bị đuổi ra khỏi Á châu&#8230; (<em>Thần Chung, </em>Sài Gòn số 144, 11-7-1929)”. Một tiên đoán tinh tế lấy từ quan sát thực tế tại chỗ, không thể coi là của thực dân đế quốc!</p>
<p>Khủng hoảng kinh tế kéo dài lâu hơn ở Đông Dương thì nước Pháp lại lâm vào khủng hoảng chính trị trước sự lớn mạnh của Đức Quốc Xã, phải lo chuẩn bị chiến tranh, nghĩa là phải luỵ vào thuộc địa lần nữa. Với khuynh hướng tả phái dâng cao, các hệ phái Cộng sản mang từ chính kinh đô Paris về hoạt động mạnh mẽ ở Nam Kì nhờ thể chế thuộc địa của nơi này. Các đảng viên cộng sản Pháp (Đệ Tam) như Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo là dạng người L. Roubaud gặp: quần áo tussor lịch sự đúng mốt, tay đeo lắc vàng, bút máy mạ vàng, đậu xe du lịch nhỏ, để máy nổ lớn trên đường Catinat&#8230; Tạ Thu Thâu, xuất thân trong gia đình thấp kém hơn nên quá khích hơn, lánh cái học ở Hà Nội “chỉ cốt làm quan hành chánh cho Tây” nên qua Paris, trở về Sài Gòn, cùng Trần Văn Thạch thành lập nhóm Đệ Tứ Quốc Tế (1932). Họ hoạt động công khai trên tờ <em>La Lutte, </em>dựa vào quy chế báo chí tự do viết bằng tiếng Pháp. Phái Đệ Tam nương vào đó, kết hợp với Đệ Tứ để tránh đàn áp.</p>
<p>Sự háo hức “tả” của dân chúng, lần đầu tiên xuất hiện theo với các hoạt động tân tiến (báo chí kết hợp với cổ động diễn thuyết) giúp cho liên minh Đệ Tam Đệ Tứ trúng cử vào Hội đồng thành phố Sài Gòn năm 1933. Đúng ra thì sự tập họp phe phái mang tính quen biết, thân thuộc hơn là từ khả năng xác định chủ nghĩa. Người dân cũng chẳng phân biệt Đệ Tam Đê Tứ khác nhau ra làm sao, cả người trong cuộc cũng hợp tác và chống đối nhau thật là dữ theo kiểu hát tuồng, như trường hợp hai ông bà Phan Văn Hùm đệ tam (vợ), đệ tứ (chồng) giành micro trên sân khấu diễn thuyết. Cho đến khi mức thù hận khẩu chiến, bút chiến ngày thường dẫn đến cảnh tàn sát sau 1945, khi một phe nắm được chính quyền, có súng.</p>
<p>Phong trào Bình Dân Pháp lên cầm quyền (1936), phái Đệ Tam thấy có cơ hội riêng biệt hơn nên tách ra, hoạt động quấy đảo mạnh hơn nhờ chủ trương cách mạng tư sản giải phóng thuộc địa, trong lúc Đệ Tứ loay hoay ở thành phố với loại lí thuyết quốc tế xa vời Cách mạng thường trực của Trotsky, để rốt cục khi bị đàn áp thì hầu như tan rã hẳn. Tất nhiên là những biến động không dừng lại riêng ở xứ Nam Kì hay ở các đảng Cộng Sản. Năm 1937, Nguyễn Văn Thinh, con người rồi cũng sẽ gánh lấy rủi ro của tình thế về sau, ông bác sĩ đó cũng xướng lên phong trào đòi hỏi tự trị cho Đông Dương, đòi tổ chức bầu cử, cải cách kinh tế, xã hội&#8230; Phía Bắc ngoài phái Bảo hoàng của Phạm Quỳnh còn có ý tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, đòi “trực trị” như Nam Kì để được hưởng những điều khoản tương đối tiến bộ, không phải ngập chìm trong tình trạng lạc hậu, thối nát của chế độ bán phong kiến, bán thuộc địa hiện hành.</p>
<p>Trong thế bảo vệ cho thuộc địa, Trung tướng Buhrer đã hô hào thành lập một Quân đội Đông Dương có thực lực để chống cự, trước mắt là chống nước Nhật hùng mạnh đang xâm chiếm Trung Hoa, tiến dần xuống phía nam. Với chủ trương thuyết Liên Á đe doạ sự cai trị của người da trắng, Nhật đem ảnh hưởng đến phần đất Đông Dương, lần này không phải chỉ là cái đích ngưỡng vọng mà là sự hiện diện của binh lực. Họ phải chận con đường tiếp tế cho vùng tây nam Trung Quốc qua ngả đường sắt Hải Phòng Vân Nam. Khi Paris thất thủ trước quân Đức (10-6-1940), Toàn quyền Catroux rồi Decoux chịu nhường bước trước yêu sách của Nhật, kí thoả ước 22-9-1940 thừa nhận sự hiện diện quân Nhật ở Đông Dương khi họ tràn qua biên giới (22-9-1940), buộc Lạng Sơn đầu hàng (22-9).</p>
<p>Sự lấn lướt của quân Nhật khuyến khích các hành động chống Pháp của các tổ chức quân sự, đảng phái Việt Nam. Các cánh quân Việt Nam Phục Quốc chực chờ ở biên giới Trung Việt tấn công vào Lạng Sơn và vùng phụ cận. Các đảng phái chống Pháp bên trong cũng nhân dịp này kết tập với cái tên hồi cố vinh quang xưa: Đại Việt Dân Chính của Nguyễn Tường Tam, chủ nhóm Tự Lực Văn Đàn, Đại Việt Quốc Dân của Trương Tử Anh, Đại Việt Duy Dân của Lí Đông A (Nguyễn Ngọc/Hữu Thanh), Đại Việt Quốc Xã&#8230; Đảng Cộng Sản lúc này đã tổ chức lại sau những cuộc đàn áp. Bên ngoài là hệ thống Ban Lãnh đạo Hải ngoại (1934) dưới quyền của Lê Hồng Phong, Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Bên trong, nhân Pháp khuất phục trước Nhật, Xứ uỷ Nam Kì tổ chức cuộc nổi dậy 23-11-1940, bị đàn áp dữ dội, thành quả còn lại là cây cờ sẽ thành quốc kì Việt Nam sau 1945. Tình hình chiến tranh cũng ảnh hưởng đến thành phần binh lính bản xứ (khố xanh, khố đỏ) để phát sinh các chống đối hoặc có dạng như những cuộc phản chiến đời sau, hoặc chuyển sang màu sắc dân tộc cứu nước (vụ Đô Lương của Đội Cung 19-1-1941).</p>
<p>Khi có thoả thuận được vào Đông Dương, quân Nhật bỏ rơi những thành phần đồng minh yếu ớt như các nhóm Phục Quốc Quân hay các đảng Đại Việt nhưng lại che chở, bám giữ củng cố các nhóm tôn giáo nội địa mới xuất hiện như Cao Đài (1926), Hoà Hảo (1939). Quần chúng của các tôn giáo này xuất phát từ các phe nhóm Thiên Địa Hội cũ được Việt hoá, địa phương hoá nên bám chặt vào địa phương, có sức mạnh từ truyền thống Bửu Sơn Kì Hương tiền thuộc địa, hay do đã được vươn lên một chừng mực tổ chức tương đối chặt chẽ học hỏi từ người Pháp. Người Nhật đã không lầm khi lựa chọn đồng minh vì người Pháp đã không thể bỏ qua những người này khi muốn trở lại, và người Cộng Sản dù đầy quyền uy, nhiều mưu mô, từng thẳng tay diệt trừ đối nghịch mà cũng phải chật vật với họ.</p>
<p>Nhưng sự thành công giải phóng thuộc địa lại phải đến từ phía Bắc, nơi có một quyền lực khu vực Đông Á bị Việt Nam bỏ quên cả thế kỉ khi nằm trong vòng tay người Pháp. Và như thế là các hình bóng cũ loáng thoáng trở về với tính chất đồng văn, duy văn hoá chưa được nhận rõ dù một nhân vật quan trọng, Hồ Chí Minh, đã thể hiện sự nối kết qua tạp thơ <em>Ngục trung nhật kí </em>viết bằng chữ Hán, cái thứ chữ tưởng đã quên từ lâu!</p>
<p>Từ lâu với biên giới liền lạc, giao tiếp thuận tiện nhờ <em>bút đàm, </em>những người chống Pháp thường chạy qua các tỉnh Nam Trung Quốc chực chờ cơ hội trở về hoạt động lại. Cho nên vùng Hoa Nam tụ tập các thành phần Quang Phục Hội, Phục Quốc, Việt Nam Quốc Dân Đảng còn sót của những biến động trước, các nhóm Duy Dân, Quốc Dân Đảng, Dân Chính vừa mới thất thế, mang chung tên Đại Việt. Cùng hiện diện nhưng không có phương tiện hoạt động tiếp nối, là các lãnh tụ Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần, cha con Trương Bội Công Trương Tử Anh, Lí Đông A, Nguyễn Tường Tam&#8230; Cái thế quốc tế của người Cọng Sản Việt tăng lên lại còn nhờ vị trí thuộc địa Hương Cảng / Hongkong của Anh, như nhóm Đông Du cũng từng lợi dụng được nhượng địa này. Chính quyền Quốc Dân Đảng Trung Quốc vẫn thường dung chứa các nhà cách mạng Việt Nam theo một tinh thần đồng văn ẩn khuất, rồi trước sự đe doạ của người Nhật hiện diện ở Đông Dương – cắt đứt đường tiếp tế của Đồng Minh, tấn công sâu bên trong từ phía Vân Nam, họ thấy những người bạn thất thế kia như một con bài chống đỡ cấp thời, và trông xa hơn, là một lực lượng thân thiện khi cần đối phó với người Pháp.</p>
<p>Các lãnh tụ Cộng Sản cũng nhân đó giấu tung tích, hô hào đúng như chiến thuật đương thời của Đẹ Tam Quốc Tế là đoàn kết các tầng lớp nhân dân chống Pháp đuổi Nhật dưới danh hiệu một mặt trận: Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, sẽ gọi tắt là Việt Minh. Khi biết Nguyễn Ái Quốc là cộng sản, chức quyền Trung Hoa ra lệnh bắt giam ông nhưng lại phải thả ra vì sự can thiệp của các nhân vật Việt Nam khác, những người này với tầm mắt hạn hẹp đã không vượt qua được tình cảm về địa phương, dòng giống cùng với ý thức mơ hồ về lí tưởng chống ngoại bang. Năm 1942, tướng Trương Phát Khuê và bộ tướng Tiêu Văn đỡ đầu cho các nhà cách mạng Việt Nam họp đại hội ở Liễu Châu, thành lập Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (10-1942) nhưng không có hành động thiết thực vì nội bộ lủng củng. Tướng Tiêu Văn lại giúp tổ chức đại hội lần thứ hai (3-1944) thành lập chính phủ lưu vong. Nguyễn Ái Quốc lúc này đã đổi tên là Hồ Chí Minh, với ý lẩn tránh dấu hiệu cộng sản trong tình thế mới. Ông có tham dự đại hội nhưng không nằm chực chờ bên ngoài mà lẻn về bên trong biên giới, sử dụng phương tiện ngoại viện tăng tiềm lực cho thành phần tổ chức bên trong, mở rộng tuyên truyền cho mặt trận Việt Minh, tổ chức chiến khu, thành một lực lượng mang tính toàn quốc chỉ chờ cơ hội là chiếm lĩnh chính quyền. Cơ hội đó đến với ngày 9-3-1945.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>Hành trình thuộc địa, sự khuất nhục nhìn lại</strong></p>
<p>Không phải bỗng nhiên mà một chiến dịch đốt sách kiểu Tần Thuỷ Hoàng đã xảy ra ở Miền Nam Việt Nam vào phần tư cuối thế kỉ XX. Tận cùng trong sâu kín là ý thức bộ lạc của con người đi xâm chiếm, là phá sạch giết sạch, là ý thức độc tôn văn hoá của thời kì phân biệt Di/Man còn đọng lại, và được “làm mới chính danh” lên đến tột đỉnh theo cơn hoang tưởng cộng sản của thế kỉ XX: “Chỉ của Ta mới có giá trị” – cái Ta đó là gì thì tuỳ con người cụ thể đang nắm quyền định nghĩa ra. Vì thế cho nên sách vở viết về thời thuộc trị gần trăm năm qua chỉ có một màu đen tối, làm nổi bật phong cách hào hùng của những con người cứu nước được sự cổ võ của những người đứng bên ngoài tán thưởng theo ảo vọng của mình.. Tuy nhiên nếu nghĩ rằng chế độ tư bản là một giai đoạn tiến bộ của nhân loại – cả chủ nghĩa mácxít cũng không gạt bỏ điều đó, thì sự kiện Việt Nam từ thế kỉ XIX được lôi vào trong vòng xoáy sinh hoạt chung, cũng không phải chỉ thu được những kết quả tiêu cực. Không phải chỉ có sự đau thương mất nước, không phải chỉ có nỗi đọa đày của dân tộc. Mà còn có cái gì khác khiến cho các sử gia dân tộc chủ nghĩa ngày nay không thể bỏ qua dù là đã phải trình bày dưới dạng hình phụ thuộc, bất đắc dĩ.</p>
<p>Hãy nhìn vào một ít cơ sở vật chất. Con đường thiên lí của thời Đàng Cựu tuy có được tạo thành, chăm chút cho thuận tiện truyền báo thông tin của một nước thống nhất nhưng vẫn chỉ là những lối mòn. Điều đó thật khác xa với các quốc lộ, đường địa phương ngang dọc về sau, chưa kể hệ thống hoả xa mà đến thế kỉ XXI này vẫn chưa có cách thay thế dù là được sử dụng dồn dập. Khuôn mặt đất nước rành rẽ hơn với các bản đồ được đo đạc, phân biệt với lân bang bằng những cột mốc đánh dấu, không phải chỉ bằng loại xác nhận mơ hồ “vùng nhà sàn và vùng nhà trệt” của Trịnh Lê với Lào, hay phụ thuộc vào sự ngẫu hứng, xoay chiều thủ lợi của các thổ ti biên giới như với Trung Quốc. Chưa kể đất nước rộng lớn hơn mà không phải mang tiếng đi xâm lấn vì đã có thực dân, đế quốc làm thay. Vùng Tây Nguyên được hiểu rõ về địa thế, con người chỉ vì có các giáo sĩ mang tín đồ lánh nạn, có bác sĩ Yersin may mắn, các viên chức Le Maitre, Odend’hal rủi ro, lặn lội trên những vùng xa lạ, đầy hiểm nguy chực chờ. Từ đó mới có Kontum để Bình Định đi sâu vào phía tây, có thành phố hoa Đà Lạt để nghỉ mát, có Ban Mê Thuộc / Buôn Ma Thuột rừng cà phê&#8230; Đúng là các chủ làng Stieng, Mnong, Bana&#8230; từng mang tin tưởng “nước thiêng”, cung nỏ chống giữ cho chủ quyền của họ, để về sau có tên trên đường phố Việt ngày nay như Nơ Trang Long&#8230; nhưng rốt lại sự lấn lướt của các quản binh lính tập đã loại trừ ảnh hưởng quyền lực Miên, Lào để gom đất về cho xứ Trung Kì, Việt Nam. Phía đông, biên giới lan thật xa ngoài đại dương, hơn cả thời vua chúa Nguyễn, ở đó người lính khố xanh của Trung Kì, lính thủ hộ của Nam Kì (Garde civile locale) tranh giành đảo biển với Nhật, Trung Hoa, những điều mà ông bí thư Xứ uỷ Nam Kì (1928) Phạm Văn Đồng hẳn không biết vì đang nằm trong ngục. Đằng khác, sự lắp ghép với Miên, Lào để thành thực thể chính trị Đông Pháp gợi ý cho Quốc tế Cộng sản buộc thành lập đảng cộng sản có tên Đông Dương trong viễn vọng cách mạng toàn cầu, ít ra thì cũng đã giúp cho những người chiến thắng vừa qua sử dụng một chiến trường rộng lớn hơn phần của người Việt, bởi vì ngay chính ở thời thuộc trị, vị trí của người Việt vẫn nổi trội hơn hẳn các tập đoàn Khmer, Lào. Lấy ví dụ rõ rệt là đạo Cao Đài đã truyền sang xứ Chùa Tháp mà Hoàng gia Cao Miên không có cách gì ngăn chặn được. Còn nói gì đến chuyện ông Nguyễn Văn Vĩnh đi đào vàng ở xứ Lào, và ngược lại, Hoàng thân Souphanouvong lặn lội học kĩ sư trên thủ phủ Hà Nội, lấy vợ trên thành phố biển Nha Trang!</p>
<p>Một tổ chức quản lí đất nước tuy còn có phân biệt từng vùng/“kì” nhưng trên căn bản rõ ràng đã là nền tảng cho những người cầm quyền dân tộc không phải thay thế gì nhiều và có đà để sửa đổi, ít ra là không phải quay trở về quá khứ nữa. Làng xã không còn như cũ vì đã trải qua các lần “cải lương hương chính”. Khối thôn làng, buôn plei tuy còn rộng lớn để thành sức nặng trì níu các biến cải thời thuộc địa và ảnh hưởng những chuyển động về sau nhưng rõ ràng đã có những khu vực dân cư làm cơ sở quần chúng thu nhân những biến đổi văn minh. Đó là các nơi có tên mang dáng dấp cũ là “thành phố” / “thành thị” nhưng nội dung sinh hoạt của những người sinh sống nơi ấy không phải chỉ gói trọn trong một thành đất/gạch vây quanh, với nhà tranh vách đất dọc theo những đường đất lầy lội thỉnh thoảng đón cờ lọng quan đi hay ngựa trạm dong ruổi. Chưa kể có nơi vốn chỉ là xóm đồn-biển “hải phòng”, trước khi người Pháp tới mở mang thành thương cảng đệ nhất xứ Bắc. Không còn thấy “thành” ở Sài Gòn, Hà Nội tuy Huế còn đó vì ngôi vị chủ nhân cũ xưa thể xoá được. Dấu vết xưa cũ chưa mất: Cochinchine, Annam, Tonkin là tiếng Pháp nhưng Ba Kì ở trên miệng người Việt vẫn như là bằng chứng riêng biệt. Sài Gòn như một thành trì của phương Tây, Huế như một hồi cố nuối tiếc không phải không chứa mầm mống phản động với đổi thay. Hà Nội giữ địa vị thủ phủ Đông Dương, là vị trí sẵn sàng để thành thủ đô nước độc lập, hãnh diện với quá khứ lịch sử của vùng đất được ghi chép kĩ lưỡng để rồi sẽ lôi đất nước theo hệ luỵ của lịch sử ấy.</p>
<p>Quá khứ cũng không phải là điều để lưu luyến vì chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Hán, chữ Nôm, sự cắt đứt này có là “âm mưu của thực dân” đi nữa thì nó cũng đã đem tình hình “biết chữ”, phổ thông kiến thức đi vào dân chúng, rộng lớn hơn tình trạng học vấn kéo dài “mười năm” mà chỉ là gói trọn trong “đèn sách” của người xưa. Chữ quốc ngữ không phải chỉ làm đà cho một nền văn học thực sự dân tộc thành hình trên cấp độ quốc gia mà trong ứng dụng “bình dân” hơn, nó đã khiến cho người dân đọc truyền đơn cách mạng, hiểu lời kêu gọi chống đối dễ dàng hơn các bản hịch Cần vương phải có người giảng giải. Một nền văn học chữ quốc ngữ ra đời tuy cũng còn chạy đuổi theo một cách tội nghiệp các biến chuyển văn học ở chính quốc nhưng cũng là có đà khởi sắc, tự tín, không phải nhún nhường xấu hổ “lời quê góp nhặt dông dài” như xưa nữa.</p>
<p>Tất nhiên người Pháp đem lại cho đất nước Việt Nam một khuôn mặt mới không phải là do thiện ý của họ dù là trong các lời kêu gọi, quảng bá chính sách vẫn có nhắc tới, nhấn mạnh đến sự “khai hoá” dân bản xứ. Không có ý nghĩ nào ngờ nghệch hơn. Nhưng quả thực trong khi kiến thiết thuộc địa theo hướng chiếm lĩnh và thu hoạch, họ không thể đem đến một mẫu hình nào khác với nền văn minh của họ, và ở trường hợp này, là nền văn minh chủ thể của nhân loại, ít ra là như ta thấy diễn biến trong vài thế kỉ nay, chưa thấy tàn lụi dù vẫn có khủng hoảng liên tục. Chính từ trong nền văn minh đó mà ta thấy một nền khoa học toàn cầu, nhân bản xuất hiện ở Việt Nam. Chưa có một nền công nghệ để chế tạo súng đạn, lập thuyết khoa học tự nhiên, thực nghiệm nhưng sớm sủa hơn hết, các sĩ quan hải quân quản lí đất Nam Kì đã tò mò, lăn lội tìm hiểu đất nước, người dân bản xứ, công việc không phải đã không ảnh hưởng đến phong cách, ví dụ của Huình Tịnh Của khi thâu thập một cách vô tư các bản văn chống đối người Pháp, kể chuyện đốt phá “dương di đạo đường” – kể chuyện chống chính ông! Tình hình nghiên cứu mở rộng, đẩy lên đến tầm mức tổ chức Hội Nghiên cứu Đông Dương ở Sài Gòn, Trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội, Hội Đô Thành Hiếu Cổ ở Huế để từ đó là những cơ quan nghiên cứu phồn tạp thời Dân chủ Cộng hoà&#8230; từng góp phần không nhỏ cho chiến thắng và còn củng cố cho chế độ ngày nay. Nói tóm lại, từ trong thuộc địa đã có một lớp người Việt Nam mới ở thế kỉ XX có một chừng mực xâm nhập vào thế giới toàn cầu, cụ thể là có đủ tầm mức để đối phó với người Pháp, không lúng túng như ông bà họ ở thế kỉ trước.</p>
<p>Trong sự giao tiếp, có những phản ứng qua lại không phải chỉ là lỗi của chủ nhân thuộc địa, hay thành phần thủ lợi của chế độ. Học sử Pháp để ngấm dần phong cách Pháp thì phải:”Mes ancêtres sont des Gaulois”. Có bị mắng “sales annamites” mà tức giận thì hãy nhớ lớp người xưa chửi “Dương Di”, “Bạch Quỷ”. Và ngay chính học sinh đương thời cũng gọi các thầy giáo Tây là “thằng” hết! Từ những mâu thuẫn vụn vặt, có tính thời điểm như thế mà cứ ghìm giữ để biện minh cho sự phản kháng quyết liệt, dài lâu thì hẳn sự thiệt thòi đưa đến cho bản thân dân tộc là điều không tránh khỏi tuy là khó thấy ra.</p>
<p>Tuy không thể nói là người dân sống sung sướng dưới thời thuộc Pháp nhưng sự cùng cực của họ có phần là khổ nạn của đời sống nói chung, của đổi thay. Phan Thanh Giản qua Pháp đã ngạc nhiên về việc họ thu nhiều thứ thuế, Minh Mạng cũng chê trách chính quyền ngoại trị Batavia/Jakarta bóc lột dân chúng, và hãnh diện về tính nhân đạo trong cách thức cai trị của mình. Thực tế đã không như ông ta tưởng – và chúng ta bây giờ hiểu. Vua quan ngày xưa vốn bằng lòng sống với sự bẩn chật, cả theo nghĩa cụ thể là quan đầu tỉnh phơi áo bắt rận, quan đại diện vua đi điều đình, gãi luôn tay trước người ngoại quốc vì không hề biết đến hệ thống phòng dịch chữa trị của mấy viện Pasteur về sau. Cho nên vua quan không thấy rằng muốn phát triển phải thu nhiều thuế, phải tận thu thuế. Chỉ có thuế đinh và thuế điền nên triều đình Huế chỉ có thể mua vài chiếc tàu rồi không phương tiện sửa chữa, để hư hỏng&#8230; Trong tâm thức đó thì việc Chống thuế của người dân, của phe Đông Kinh Nghĩa Thục chẳng hạn đúng là Lạc hậu, là “phản động”, mà người “cách mạng” lúc có chính quyền rồi mới thấy ra – lại không chịu để ai hô hào phản đối như trước! Vì một phần bị ghìm nhốt trong sự uất ức phản kháng, những người sắp lãnh đạo đất nước do đó đã không đủ tầm nhìn lớn rộng vừa với tình thế phức tạp trong tự chủ, khi thoát khỏi vòng tay bảo trợ của người trước. Ông Nguyễn Vỹ, người của trường phái thơ Bạch Nga hai chữ, làm báo, làm chính trị tài tử, đến năm 1971, sống ở Sài Gòn, viết một loại tiểu thuyết hồi kí, nhắc câu cảnh cáo của Ernest Babut: “Phải coi chừng Tàu, Nhựt thay thế Pháp đè các anh”. Ông ta vẫn cho là con người chống thực dân, tận tình bênh “người An Nam” kia vẫn còn chấp chứa dòng máu thực dân để hù doạ người Việt đang đòi đánh đuổi người Pháp không nương tay. Thế còn nói gì đến những người đang đứng ở tuyến đầu của nhân loại văn minh, say men Đại đồng mới của một phe khác!</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Phụ lục 1 </strong></p>
<p><em>1.-Văn tế vong hồn mộ nghĩa.</em></p>
<p>Tự đức thập tứ niên, thập nhứt ngoạt, thập ngũ nhựt chi dạ, thống quán (Bùi-quang-Mỗ) suất tương nghĩa binh tựu Cần-giộc, công phát dương huyện, thiêu đắc dương di đạo đường, đạo quân, thích trúng dương quan tri huyện, tịnh Chà-và Maní đẳng, nghĩa binh trận vong, cai thập ngũ danh, kỳ tú tài Nguyễn-đình-Chiểu, phụ tế văn:</p>
<p>&#8230;Nhớ linh xưa!</p>
<p>&#8230;Khá thương thay!</p>
<p>Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh,</p>
<p>Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.</p>
<p>Mười tám ban vỏ nghệ, nào đợi tập rèn;</p>
<p>Chín chục trận binh thơ không chờ bày bố.</p>
<p>Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi,</p>
<p>Trong tay cằm một ngọn tầm vong, chi nài sắm dao tu, nón gỏ.</p>
<p>Hoa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;</p>
<p>Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ.</p>
<p>Chí nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không;</p>
<p>Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có.</p>
<p>Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho Ma-tà, Ma-ní hồn kinh;</p>
<p>Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.</p>
<p>Những lăm lòng nghĩa sau dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ!</p>
<p>Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay yên ngựa chở thây;</p>
<p>Trăm năm âm phủ ấy chữ qui, nào đợi gươm hùm treo mộ.</p>
<p>Đoái sông Cần-giộc, cỏ cây mấy dăm sầu giăng;</p>
<p>Nhìn chợ Trường-bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.</p>
<p>&#8230;Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;</p>
<p>Sống làm chi ở lính Ma-tà, chia rượu, găm bánh mì, nghe càng thêm hổ.</p>
<p>&#8230;Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc. linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;</p>
<p>Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã đành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.</p>
<p>Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ Thiên dân;</p>
<p>Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.</p>
<p>Hỡi ôi, có linh xin hưởng!</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>2.-Ca trù</em></p>
<p>Ông Lưu Bị đồn binh Tiểu bái, thuở còn đương tướng quả binh vi. Ngộ Kỉ-linh thập vạn hùng sư, trì khu chiếm bên thành hạ trại. Lữ-phụng-công dùng mưu hoà giải, phân lưỡng chi xạ-kích viên-môn. Cung khai như du nguyệt hành thiên, tiến phát tợ lưu tinh lạc địa. Tay cầm dắc Kỉ-linh, Lưu-Bị khuyên lưỡng gia tương giải binh nhung. So trong Tam Quốc anh hùng.</p>
<p>Triều-lê-quí có bà liệt tiết, mười chín thu giữ một niềm tây, đam tàn dung mà nương chốn am mây, đạo thần tử tình trong phu phụ. Vạn cổ gi luân chiêu vỏ trụ, nhứt tâm trung nghĩa đối quân vương: lòng khăng khăng trải tấm thiết cang, chén tân khổ ngọt ngon mùi chánh khí: đã nên đứng trung thần bất nhị, lại khác bề liệt nữ bất canh! Vững bền hai chữ trung trinh.</p>
<p><em></em></p>
<p><em>[Rõ ràng có một dạng ca trù “bình dân”, khác với dạng cao cấp được dẫn giải trong sách vở văn học về sau. Và cũng không thấy các nhà viết văn học sử nói về một hình thức sinh hoạt rõ ràng khá bình thường, có vẻ nhộn nhịp ở phần phía Nam đất nước này.]</em></p>
<p>Trích trong</p>
<p><em>Quấc âm thi tập</em></p>
<p>&#8230; Paulus Của</p>
<p><em>(Dòng Việt</em> số 20, USA 2006 in lại nguyên trang đầu của tập</p>
<p><em>Ca trù thể cách&#8230;Quấc âm thi tập&#8230; </em>xuất bản năm 1907).</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Phụ lục 2</strong></p>
<p><strong>Dậy! Dậy!</strong></p>
<p><em>Bài vè cổ động lưu giữ trong gia đình của một cựu đảng viên cộng sản, nguyên là quản cơ lính khố xanh ở Bình Định, do Ngô Đức Đệ vận động kết nạp (Nguyễn Thanh Mừng – Trần Huyền Trang, </em>Huyền tích kinh xưa,<em> Nxb. Khoa học Xã hội 2005).</em> <em>Có thể đem đối chiếu với ý kiến của những nhân vật cao cấp hơn như Hải Triều Nguyễn Khoa Văn 1933, 1935, hay Nguyễn Ái Quốc trong </em>Đường kách mệnh <em>1925/1927 hay, ở tầng lớp bình dân hân hoan với triển vọng của cuộc Tổng công kích Mậu Thân (1968), với chiến thắng dứt khoát 1975. Người phu xích lô đã phấn khởi nói với khách đi xe giữa bom đạn: “Rồi đây sẽ không còn ai giàu ai nghèo, không còn người đạp xích lô”(Tạ Chí Đại Trường, </em>Thần, người và đất Việt, <em>Nxb. Văn hoá Thông tin 2005), tương tự như đạo diễn Đặng Nhật Minh đã ghi được trong khi theo đoàn quân Nam tiến tháng 3-1975.</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Dậy dậy, những người nô lệ!    <br />Dậy dậy, những kẻ bần hàn!     <br />Công lý nay đã rõ ràng     <br />Ta nên đứng dậy một phen tranh hùng     <br />Quyết đánh đổ cái vòng áp bức     <br />Xã hội xưa ra sức phá tan     <br />Lập thành Xô viết liên bang     <br />Loài người thảy được leo thang đại đồng     <br />Không có kẻ chủ ông đầy tớ     <br />Không có người đói khó khóc than     <br />Công nông sung sướng muôn ngàn     <br />Anh em binh lính hoàn toàn tự do     <br />Mau mau đứng dậy mà lo!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16661/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sơ thảo: B&#224;i Sử Kh&#225;c cho Việt Nam &#8211; Chương XVI</title>
		<link>http://damau.org/archives/16558</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16558#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 28 Oct 2010 08:50:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16558</guid>
		<description><![CDATA[Đạo nghĩa lấy từ kinh sách tuy có thể bị chê bai chỉ vì không chống lại được với súng đạn nhưng nó cũng tạo được một hình ảnh lí tưởng để người ta ôm ấp khi bị thất bại. Cứ nghĩ một anh Tú tài mù, văn thơ triết lí thô thiển, mà được tôn vinh quá khả năng đó, chỉ vì đã đưa nhiều nhiệt tình quăng ra giữa cả một tình thế sôi động: “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà...”]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>CHƯƠNG XVI:</em></p>
<p><strong>CON ĐƯỜNG SUY SỤP CỦA ĐẾ QUỐC ĐẠI NAM</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Những mảng sáng của một thời đổ vỡ</strong></p>
<p>Lịch sử đánh mất chủ quyền phần rất lớn đều nằm trong thời đại của một ông vua: Tự Đức (niên hiệu 1847-1883) cho nên những chê trách về sau đều nhắm vào đấy khiến người ta dễ thấy chỉ có toàn những rối loạn nội trị, lúng túng trước ngoại xâm dẫn đến suy sụp toàn bộ. Tuy nhiên sự chiếm lĩnh thuộc địa của người Pháp kéo dài gần nửa thế kỉ không phải chỉ vì khả năng có hạn của chính quốc mà còn vì họ đã gặp ở Việt Nam một tổ chức quốc gia có cơ sở đến tận tầng đáy xã hội để có những phản ứng từ trên triều đình, xuyên suốt đến dân chúng khiến có lúc họ phải chùn bước trước những khó khăn gây lúng túng cho những người cai trị mới. Các sự kiện chòng chéo như vậy khiến người ta không thể bỏ qua những thành công trong giới hạn của đất nước trong giai đoạn đổ vỡ này.</p>
<p>Những cải tiến tổ chức cai trị dưới thời Minh Mạng đã tạo được một hệ thống vững vàng để sự cải đổi tên nước từ Việt Nam sang Đại Nam không mang một tính cách huênh hoang rỗng tuếch, để ông vua không hổ thẹn trên nền tảng tinh thần ông thụ nhận và ban phát cho thần dân. Đất nước rộng lớn tính bằng những con số diện tích, số người dân để đánh thuế, tuy còn xa với thực tế quyền lực bao trùm diện địa nhưng cũng là một chỉ dấu thăng tiến. Khi Minh Mạng mới lên ngôi (1820) số dân (đóng thuế) là 620 246 người, qua 20 năm sau đã thành 970 516 người, chênh lệch đó hẳn có phần là do hiệu quả cai trị sít sao do tổ chức đưa lại, trên một vùng đất đã mở rộng hơn. Cứ theo đà đó mà đến cuối đời con ông (Thiệu Trị 1847) dân tăng đến số triệu: 1 024 388 / 1 029 501. Tuy đất nước trải qua những thời kì thiên tai thuỷ hoạ trầm trọng (1820, 1839, 1849 “người sống không còn đủ để chôn người chết”&#8230;) nhưng có vẻ sự chịu đựng và thích ứng của dân chúng đã lên rất cao. Lấy chứng dẫn từ một biện pháp cai trị mang tính đạo lí của nhà cầm quyền: Đó là việc thường xuyên có những ban thưởng cho các người già 100 / hơn 100 tuổi, và trường hợp còn sống 5 đời / “ngũ đại đồng đường”. Tất nhiên Tự Đức thừa hưởng thành quả đó: Trong 20 năm cầm quyền, Minh Mạng có 18 lần thưởng, trong khi với Thiệu Trị, tỉ lệ đó là 7/7 còn Tự Đức lên đến 73/36! Và cũng có lẽ thấy tình trạng dân đông trước mắt nên chính các quan cho ngay vào sử cái giả định có vẻ hiện thực là quân số đời Đinh có thể lên đến một triẹu người để ngày nay có khá nhiều sử gia hãnh diện tán đồng!</p>
<p>Cũng như trên vấn đề ruộng đất, nền tảng thịnh vượng của một quốc gia nông nghiệp. Minh Mạng trong tổ chức cai trị ở Nam Kì sau loạn Lê Văn Khôi, đã giao cho Kinh lược sứ Trương Đăng Quế đo đạc lại ruộng đất ở đấy khiến có sự nhất thể hoá về danh xưng với toàn quốc mà cũng là nhân tiện biết được thực lực trong vùng. Hơn 630 075 mẫu (1836) tổng kết xong dẫn đến việc quy định thuế má một tháng sau. Trên bước đầu chấn chỉnh đó, tiếp theo là việc khẩn hoang có thưởng phạt (1839) để các đời sau tiếp tục. Hình trạng khẩn hoang này không phải chỉ là đồn điền như ngày xưa với Trần, Lê mà còn phối hợp với việc vạn động dân chúng, chứng tỏ có một tình hình sâu sát với cả những người dân riêng biệt. Đồn điền khai thác với binh lính và tù phạm thì rõ rệt là trên đất Trấn Tây đang được cai trị theo hướng Đại Nam hoá, hay quanh các vùng kề cận (Hà Tiên, An Giang) như một yểm trợ cho đất chiếm giữ. Và vì nhận ra được sự quan trọng của loại vị trí yểm trợ này mà triều đình Huế phát triển hình thức khai khẩn ruộng đất tự phát của dân chúng trong tình trạng đơn lẻ và tầm vóc nhỏ có trước (1840), ra thành một chủ trương lớn có tác dụng lâu dài và mạnh mẽ trong thời Pháp mới chiếm đóng.</p>
<p>Năm 1850 Kinh lược sứ Nam Kì Nguyễn Tri Phương đề nghị cho dân nghèo toàn vùng tổ chức khai hoang để có nơi mưu sinh. Lại cũng như mọi sáng kiến khác thường bị bài bác lúc mới đưa ra, triều đình lúc đó thấy “chưa tiện” nhưng ông quan Chánh bàn với ông Phó Phan Thanh Giản “lách” lệnh trên, tổ chức thành công ở hai tỉnh An Giang, Hà Tiên. Thế là chủ trương lớn được đưa ra năm 1853, cho phép người dân (cả người Thanh) mộ dân khai khẩn ruộng đất, ban đầu là tổ chức đội ngũ: 50 người thành một Đội, 500 người thành một Cơ rồi sẽ chuyển sang thành ấp, tổng của cơ cấu hành chính. Suất đội, Quản cơ sẽ thành ấp trưởng, tổng trưởng. Năm sau (1854) Nguyễn Tri Phương báo cáo đã thành lập 21 Cơ trong 124 ấp cho chủ trương mới, riêng tỉnh Gia Định, theo lí thuyết là được 3 000 người nhưng tính trừ già yếu bệnh tật&#8230; thì còn 2 515 người. Về phía Vĩnh Long thì một bản tổng kết năm 1867 cho thấy có 6 Cơ, 109 đội nằm trong các tổng, ấp với 2 186 tráng hạng, 1 279 lính, tù trốn. Tất cả công trình đó khiến cho ông Thượng thư bộ Công ngoài danh tiếng chống đánh xâm lược còn lưu dấu lâu dài ở phía nam với một chức vụ nhỏ hẹp hơn: Kinh lí Đồn điền Nam Kì.</p>
<p>Đây là phương pháp dinh điền đã từng được Nguyễn Công Trứ thi hành ở Bắc Kì nay tiếp tục trong điều kiện riêng ở Nam Kì mà danh xưng chính thức của tổ chức Dinh điền sứ thì lại thấy muọn hơn ở vùng Nam Trung Kì (1865), tất nhiên cũng với một số hình thức có khác. Khi Ba tỉnh Miền Đông bị mất, dân chúng tị nạn ra Bình Thuận liền được quy tụ vào tổ chức dinh điền có sẵn. Trước khi người Pháp chiếm Ba tỉnh Miền Tây, Hà Tiên, An Giang tổ chức được 149 thôn ấp. Thế là khi người Pháp đến, có 500 lính đồn điền giữ đồn Chí Hoà (25-2-1861) dưới quyền Quản cơ Trần Văn Lũ. Chánh quản Nguyễn Thường Xuân chận quân Pháp ở rạch Bảo Định tháng 4-1861. Và nổi danh dài lâu, đến tận triều đình Huế là Quản cơ Trương Định chống đánh ở Gò Công (chết 20-8-1864), một phần cũng là được sự khuyến khích của Tự Đức, phần khác là do có cơ sở dân chúng để tăng thêm lòng cương quyết của ông, không chịu rút đi tị nạn như những quan viên khác. Về phía tây, người Pháp gặp một quản cơ khác, tuy cũng là dân dinh điền nhưng mang thêm bản chất địa phương, vượt tầm mức trung trinh Khổng Giáo thường tục: Quản cơ Trần Văn Thành, chức sắc lớn của đạo Lành / đạo Phật Đường, một giáo phái Phật Giáo mới, có tên văn hoa là Bửu Sơn Kì Hương. Danh tiếng can đảm của những người chỉ huy đồn điền khiến cấp dưới thần thánh hoá họ, như trường hợp lời đồn Tạ Tri Hiển có đến 4 lóng tay! Còn Tứ Kiệt được thờ ở Cai Lậy (14-2-1874) có vẻ chỉ là dân dinh điền bình thường hay chức việc cấp thấp.</p>
<p>Tình thế chiến tranh thúc bách khiến triều đình Huế phải nhìn quá khu vực các châu thổ quen thuộc để đưa tầm mắt đến khu vực rừng núi của các tộc người thiểu số. Các năm 1875, 1876 có việc thành lập Nha Sơn phòng với chủ trương khai thác ruộng đất vùng các nguồn sâu, đồng thời cũng là để trấn áp chống đối, nghĩa là một hình thức mở rộng quyền lực diện địa. Kết quả không nhiều nhưng ta thấy ở Bình Thuận, Nguyễn Thông sẽ biết đến các bộ tộc vùng Langbiang nhiều hơn các quan đồng thời, còn phía bắc thì các Sơn phòng sứ sẽ là lực lượng chống đối người Pháp dữ dội và bền dai nhất.</p>
<p>Ngày nay, khi nói về tình trạng mất nước người ta hay nhắm vào chê trách một triều đình bạc nhược, chỉ biết ngâm nga thi phú, nhưng không thấy rằng sự bất lực dẫn đến thất bại của nó là do nằm vào một phạm trù văn hoá khác với đối phương, cho nên sự thất bại, tuy không tránh khỏi, cũng không làm mất một dạng hình văn minh khó phủ nhận. <em>Thực lục </em>của nhà Nguyễn đã được hoàn thành với các đời vinh quang nhất. Quyển sử Việt toàn vẹn, quyển <em>Khâm định Việt sử cương mục,</em> được Tự Đức ra lệnh biên tập để khỏi có sự đứt đoạn sau thời mất Lê. Bộ <em>Đại Nam nhất thống chí </em>được hoàn thành trước khi ông mất. Và thể chế triều đại cũng đã được tập họp trong <em>Đại Nam hội điển sự lệ.</em> Có nghĩa là triều Tự Đức đã tập trung được những tài năng sáng giá đào tạo theo truyền thống khu vực.</p>
<p>Ngoài những tuyển lựa thông thường, Thiệu Trị và Tự Đức hay mở các ân khoa, chế khoa. Người ứng trực đông tất cũng khiến xảy ra những bất trắc nhưng đó là cả một trường thành bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước dù có khi bị chê trách, có khi bị mắng chửi thậm tệ bởi những kẻ chống đối đương thời, bởi những người về sau mạnh mẽ lên tiếng “dạy” họ cách làm quan, cứu nước. Chính triều đình cũng gặp khó khăn vì đội ngũ khoa bảng hay ứng viên đông nghìn nghịt ở tỉnh thành, huyện tổng – những <em>văn thân, hào mục</em>, gây nên các vụ hò reo bãi thi chống đối các hiệp ước, tổ chức các cuộc diệt trừ tả đạo làm tình hình rối ren thêm (1864, 1874). Đạo nghĩa lấy từ kinh sách tuy có thể bị chê bai chỉ vì không chống lại được với súng đạn nhưng nó cũng tạo được một hình ảnh lí tưởng để người ta ôm ấp khi bị thất bại. Cứ nghĩ một anh Tú tài mù, văn thơ triết lí thô thiển, mà được tôn vinh quá khả năng đó, chỉ vì đã đưa nhiều nhiệt tình quăng ra giữa cả một tình thế sôi động: “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà&#8230;” Lời kêu gọi đó, nhìn ở một phía khác, là sự ngang ngược không khoan nhượng trong tinh thần Tống Nho nhưng khi được tung ra theo đạo lí dắt dẫn ngâm nga hàng ngày: “Trai thời trung hiếu làm đầu&#8230;” thì nó trở thành một lời kêu gọi cứu nước hợp tình hợp lí không thể bài bác được. Tự Đức khi phải chịu những lời chê trách tất cũng không hổ thẹn với những điểm sáng trong thời đại của mình.</p>
<p><strong>Đe doạ đến từ phía khác trở thành hiện thực</strong><em> </em></p>
<p>Thế suy sụp là đến từ đâu?</p>
<p>Trong thế kỉ XVII, XVIII, Đàng Trong và Đàng Ngoài thoát nạn thực dân của thời kì Trọng thương tiền kĩ nghệ không phải chỉ vì khả năng chống đỡ trong nước (quân Trịnh Tráng, chúa Sãi, chúa Hiền) mà vì đất nước không giàu đủ để các đế quốc dốc toàn lực làm cuộc phiêu lưu. Bồ không có ý định mà cũng không đủ sức chiếm đất. Anh, Pháp, Hà Lan mang tính tổ chức hơn với các Công ti Đông Ấn thì lo nhắm vào các xứ sở giàu có hơn, nằm ở vị trí chiến lược nhưng lại phân tán quyền lực hơn: Ấn Độ, bán đảo Mã Lai, vùng quần đảo Đông Nam Á sau này là Nam Dương, một phần Mã Lai Á. Thế rồi trong lúc Đàng Trong Đàng Ngoài tiếp tục loay hoay tranh chiến thì Âu Mĩ bước vào thời kì kĩ nghệ. Từ 1783, nước Pháp đã cho chạy thử tàu hơi nước thành công trên các sông nội địa. Hoa Kì độc lập không lâu thì đã có R. Fulton làm tàu ngầm chạy bằng cánh quạt xoắn ốc (1800) và tiếp tục thực hiện tàu thuỷ chạy máy hơi nước trong lãnh vực công nghệ (1807).</p>
<p>Nguyễn Ánh chắc có “nghe nói” hay thấy tận mắt các tiến bộ tương tự qua những người Âu phụ giúp cho mình (giáo sĩ thả khinh khí cầu) trong khi xây dựng cơ sở thuỷ quân vĩ đại trên sông Sài Gòn, gây kinh ngạc cho người tường thuật với Jh. Barrow nhân chuyến đi 1792. Nhưng lúc ấy hạm đội châu Âu vẫn không khác các thương thuyền mấy nên Gia Long đã đề ra chính sách tách biệt. Hẳn là ông tuy có”sợ” / “kị” nhưng cứ tưởng rằng Ta không động đến người thì người không động đến Ta, và có bị “động” đến thì vẫn đủ sức đối phó. Chứng cớ là những thành luỹ Vauban xây cất sau chiến tranh, có lúc rất xa về sau (Bắc Ninh 1841). Chứng cớ là vô số súng đồng, gang, sắt đúc trước, sau chiến tranh thống nhất được đặt trên các thành luỹ, cửa biển được coi là xung yếu, vào lúc tàu Tây đã bắn chìm thuyền đồng trong khoảnh khắc. Người ta thường cứ cho rằng chính sách bế môn toả cảng là của các vua đời sau nhưng rõ ràng là xướng suất bởi Gia Long, tuy lỗi không có ứng biến là của người sau, tuy tình hình tiếp theo có làm cho chính sách ấy cứng rắn hơn, gây nên đổ vỡ không gì cứu vãn được.</p>
<p>Ông vua mở đời mới không kịp biết ông qua đời không lâu thì các chiến hạm chạy bằng hơi nước đã thay thế loại tàu buồm, và con cháu, thần dân ông sẽ thấy các tàu chiến làm bằng sắt – rồi bằng thép, chạy bằng hơi nước xông xáo trên các đại dương, chở theo các khẩu súng lớn, bắn đạn nổ mảnh chứ không phải mấy cục sắt – hay đá, bay rớt cái “ình” nữa. Lính được trang bị súng tay, nòng xoáy, không phải mồi bằng bùi nhùi, mổ cò đá lửa. Trong trận chiến 14-4-1847 ở vịnh Đà Nẵng, hai chiến hạm Pháp chỉ sau một giờ đã bắn chìm cả hạm đội Đại Nam với 5 chiến thuyền đồng: Kim Bằng, Phấn Bằng, Linh Phụng, Thọ Hạc, Vân Bằng mang các tên oai võ, linh thiêng, bắt nguồn từ niềm hãnh diện của Gia Long! Năm 1861, Khâm sai Nam Kì nhớ lại: “Tôi vốn nghe tàu Tây đi mau như bay, súng Tây bắn thủng được mấy thước thành đá, xa được mấy mươi dặm, tôi vẫn chưa tin. Đến năm Thiệu Trị, tàu Tây đến Đà Nẵng, bắn phá 5 chiếc thuyền đồng của ta chỉ trong mấy tiếng đồng hồ, bấy giờ tôi quyền chức Bố chính Quảng Nam, mới tin là thật”. Chưa thấy tận mắt, ông không tin là phải bởi vì triều đình chọn võ quan vẫn theo lối cũ. Nói gì tới lính và súng, quan (Phan Huy Thực, quan Khâm thiên giám) không biết sử dụng thiên lí kính. Đó cũng là dịp cho Minh Mạng dạy bắn súng, luôn thể bảo “coi chừng cướp cò!” Phát đại bác cho các quan xứ Bắc thì không tìm ra người sử dụng, phải thuê người Nam! Ông quan võ của Minh Mạng đi cáng chứ không cỡi ngựa. Giữa năm 1846, triều đình lập cả một quy định lằng nhằng trong chi tiết về việc thi võ, sau đó mở kì thi lần đầu lấy được 64 người đánh võ cổ truyền tốt, đến lúc bắn súng thì “phần nhiều không được trúng cách”. Chính Thiệu Trị cũng nhận ra lí do kém cỏi: “Mang nặng, cầm côn, múa giáo, đâm bù nhìn thì còn dễ cố sức” nhưng bắn súng thì “điểu sang nghiêm cấm, làng xóm đất hẹp làm thế nào học tập được?”</p>
<p>Dù sao thì thực tế cũng đòi hỏi phải thay đổi. Đã thấy “thiên lí kính” (ống dòm) được phân phát nhiều hơn cho các cửa biển. Đã thấy năm 1837 có hệ thống treo cờ hiệu truyền tin trên biển, phức tạp nhưng mà có dáng lối sémaphore của Pháp năm 1783. Đã thấy loáng thoáng trong tay vua quan những khẩu như là súng lục, súng “bắn liên châu”, không hẳn là súng máy nhưng có thể là súng hai nòng, xoay nòng&#8230; Nhưng với quan niệm “sĩ vi bách nghệ”, Minh Mạng ngờ nghệch bảo Chaigneau coi sóc việc đóng tàu mới. Minh Mạng đã cho đóng tàu máy chạy thử trên sông Hương, thất bại chỉ vì làm kiểu truyền thống, khiêng tàu làm xong trên bờ đẩy xuống nước mà không biết khoét một cái âu tàu đâu đó để di chuyển khỏi va chạm bể nồi nước như trong trường hợp này. Dù sao thì các kĩ sư nội địa của Sở Vũ khố cũng thực hiện được một chiếc nữa để chạy qua chạy lại trên sông Hồng (nửa đầu 1839), chắc là lợi dụng vùng nước sâu hơn. Thấy thành công, Minh Mạng cho làm tiếp tàu khác nhưng số tiền 11 000 quan chi phí dù bị vua chê là mắc, cũng chứng tỏ tàu không lớn lắm. Cho nên tiếp theo tiện hơn, là các quan đó đặt mua tàu (“tàu lớn” Yên Phi) loại second hand (7âl. 1840) nên có hư hao, phải sửa chữa mới chạy được. Chiếc thuyền “có máy đốt lửa” Điện Phi, giá tới 280 000 quan (1843) cho thấy khả năng đất nước không đủ cho trang bị phương tiện, vũ khí hiện đại. Đây cũng là dịp cho các quan, trước người thời bây giờ, chứng kiến sự chênh lệch của nguồn tài chính ở hai thế giới: “Đem những nông sản có hạn mà đổi hàng nước xa không cùng (vô số)”. Hai năm trước đó, ngân khố Huế (12 780 000 quan) chỉ đủ để mua 45 chiếc tàu Tây kia mà thôi. Phan Thanh Giản khi đi sứ thấy đánh thuế thuốc lá đã ngạc nhiên, vì xứ mình chỉ có hai thứ thuế thân và ruộng đất! Chắc ông Chánh sứ cũng không biết rằng phải có một quan niệm phát triển xứ sở khác. Ấy thế mà kiến thức về thủy chiến và kĩ thuật điều động thật là lạc hậu, không có dáng gì là để chuẩn bị thích ứng với dụng cụ, phương tiện mới cả. Súng mới đúc được khen là theo lối Âu Tây, đúc thêm thì lại bằng đồng. Trách sao súng không toác nòng nên phải van vái khi châm lửa!</p>
<p>Với tình trạng chung như thế thì những cải sửa không thể có tác dụng sâu được, chưa kể là khi mới nghe qua đã bị bài bác ngay. Ví dụ khi Viện Cơ mật và Sở Thương bạc đề nghị mở sở buôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Đồ Sơn thì triều đình họp bàn thấy có năm điều lợi mà tới tám điều khó nên không tán thành! Tình hình các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ là một chứng dẫn khác. Bởi vậy tàu mới mua về cũng phải mướn người điều khiển, quan của triều đình chỉ giữ chức trên cao. Kĩ thuật mới là một điều gì hoàn toàn xa lạ với họ, làm sao họ tiếp thu nổi vào lúc đã được đào tạo hoàn thiện theo một lối khác? Ngay từ 1819, Jh. Barrow đến Gia Định, thấy các khẩu thần công được đặt trên các giá gỗ mục, và nghe quan Tổng trấn than phiền về tình hình vũ khí kém cỏi của mình. Thế còn nói gì đến hơn nửa thế kỉ sau. Pháp theo hiệp ước 1874 tặng 5 chiếc tàu máy, có người kèm theo, triều đình cũng loay hoay không biết sử dụng làm sao. Philastre làm Đại biện ở Huế trong những năm 1878-79, chỉ rõ: “Chính phủ An Nam nhận được 2000 khẩu súng, đó là thứ khí giới tạm dùng dược, nếu người ta chịu chăm sóc nó. Ngay bây giờ hoặc một năm sau nữa là cùng, có lẽ không một khẩu súng nào còn dùng được&#8230; Các tàu thuỷ cũng thế&#8230;”</p>
<p>Và tuy vũ khí là điều quyết định trong tranh chiến nhưng vấn đề căn bản của xung đột – đưa đến thành bại, lại là sự khác biệt văn hoá không thể nào vượt qua. Văn hoá vốn có tính cách toàn thể, không thể có sự cắt đứt một thành phần nào đó mà không có sự đổ vỡ đồng loạt. Chẳng phải đến bây giờ mới có hiện tượng domino. “Chính phủ (Việt Nam) bị kềm hãm bởi những điều mê tín của một xã hội đã được cấu tạo rất chặt chẽ, đối với kẻ làm đầu, những mê tín đó là những cái cớ viện dẫn để bảo vệ những quyền lợi đã có, đối với tất cả mọi người thì đó là khí giới phòng thủ chống lại mọi thay đổi. Mỗi người đều biết mình có lợi gì khi thay đổi nhưng chú ý nhất là đến những gì sẽ mất và đều không muốn bắt đầu từ đấy (P. Philastre)”.</p>
<p>Tính chất tiêu cực của hệ thống tuyển chọn nhân tài lại trầm trọng thêm với tình hình mới. Kết quả thống nhất đem đến cho Gia Long một nửa nước nặng nề kinh sách Khổng Nho, tệ hại hơn, là của Đường Tống (lời Phan Huy Thực), với những cuộc tuyển chọn khoa cử được Minh Mạng thúc giục cho người phía Nam bắt chước đuổi theo, làm mờ nhạt tính cách của Đàng Trong từng riêng biệt cởi mở với những ý tưởng khác lạ. Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên Lê Văn Đức có nhận xét rằng sĩ tử Bắc dễ đỗ cao chỉ vì thói quen luyện thi của nếp nhà chứ không phải vì học rộng. Minh Mạng cũng thấy ra: “Sự học của Trung Quốc quý ở chỗ phát minh nghĩa lí, không cóp nhặt nói theo lời cũ. Cử nghiệp nước ta xưa nay chỉ cốt học thuộc sách cũ&#8230; chuyên cần học thuộc lòng&#8230; cho là không thế thì không đỗ được”. Thế mà một phần loại kiến thức đó càng lúc càng trở thành chủ đạo của cả hệ thống quyền lực. Về mặt địa phương, chúng ta đã thấy mối tin tưởng Hùng Vương đã chen vào đầu óc những con người “phát xuất tự Ô Châu” như thế nào. Đến nỗi Minh Mạng khi hãnh diện nhiều con, đã so sánh với người có Trăm trứng! Thành kiến do quá khứ tô vẽ trong văn chương mơ mộng đem lại ảo tưởng hấp dẫn về một vùng đất “Ngàn năm văn vật” để có kẻ thì nuối tiếc, người thì bẽ bàng. Tùng Thiện Vương trong khuôn khổ Nho Giáo với kềm thúc mới, khi bước chân đến thăm Thăng Long đã mơ màng về một Hồ Xuân Hương phóng khoáng. Còn Thiệu Trị trong chuyến đi nhận phong đó (1842) thì lại thất vọng với những lời tán tụng của các nhân vật đất Bắc, chép về sông Tô Lịch, về hồ Gươm, hồ Tây trong lúc chứng kiến tận mắt thì thấy chỉ là cái ngòi nước, cái ao đầm nhỏ. Ảo tưởng của thời nào thì cũng vậy thôi!</p>
<p>Vậy mà vì sự tương đồng với văn hoá Đông Á, các sách vở, kiến thức thực tiễn lượm lặt từ các ông quan đi sứ vẫn mang về cho Gia Long, Minh Mạng một lề lối tổ chức chặt chịa mà ông cha họ chưa có. Đế quốc Đại Nam lớn rộng hơn bao giờ hết. <em>Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán, Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường. </em>Hơi dóc nhưng cũng là có để tự xưng. Trong dân chúng, người Việt được gọi là người Hán (người Hoa là Đường Nhân), còn bao nhiêu là Phiên (Miên), là Man (Thượng; Chăm hạ cấp “phiên” vì đã mất nước). Thế là ý tưởng Di Man thành hình để đối phó với cả những người xa, trong đầu óc từ ông vua chễm chệ trên cao, trong cung cấm đến ông quan quay cuồng với đối văn, đối sách, xuống thêm nữa tới đám dân chúng được nghe giảng Thập điều của Vua. “Tiên vương kinh dinh việc nước không để lẫn người Hạ với người Di&#8230; Người Hồng Mao gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta&#8230; (1824)” Các quan không thể có lời nào khác hơn. Vua quan cho rằng nước mình tuy phải thần phục người nhưng lại văn minh hơn cả nước Trung Hoa còn bị ngoại di Thanh cai trị, điều tự phụ đó lây lan đến một thần dân Thiên triều lưu vong, đứng ngoài cửa Hiển Nhân kêu cầu Thiệu Trị bảo người Hồng Mao đừng bức hiếp Thanh triều!</p>
<p>Muốn có cách nhìn ngược lại có thể viện dẫn lời Khâm sứ Rheinart (18-9-1875) về một tầng lớp thấp hơn nhưng cùng căn bản đào tạo: “Lợi ích riêng tư, lối sống theo sở thích, sự cách li đất nước với bên ngoài làm cho quần chúng lâm vào cảnh nghèo khó, như thế để thoả mãn lòng tự cao của nhân sĩ, là những kẻ từng miệt mài suốt đời học hành thứ chữ tượng ý, muốn sống trong sự tự mãn và tự đặt mình như những vị thần cao minh trước mắt đám quần chúng vẫn đắm mình trong ngu dốt. Người ta nghĩ rằng tiếp xúc với người Âu Tây sẽ tước mất uy tín của các nhà bác học giả hiệu ấy, những người thích sống như kẻ cả và dồn mọi nỗ lực để xua đuổi chúng ta”. Đối chiếu riêng trong nước, A. Woodside ngày nay thấy rằng: “Quan chức Việt Nam xem giống như người Trung Hoa, và dân quê Việt Nam là người Á Châu vùng Đông Nam Á”. Chắc ông không biết rằng từ sĩ phu có quan chức lớn nhỏ đến bậc văn thân tự phụ đọc hiểu kinh sách, họ đã sử dụng một thứ ngôn ngữ “Hán Việt” trong giao tiếp với nhau, cách biệt với tiếng nói thông thường, cả như khi họ nói chuyện bên trong gia đình. Phan Khôi thuật chuyện cha ông (Án sát) khi thấy cái đầu trọc lởm chởm của Phan Châu Trinh mang từ Nhật về, đã thốt lên: <em>“Cửu bất kiến quân, quân dĩ trọc!”</em> Loại ngôn từ này đã làm phát sinh một số chuyện tiếu lâm trong dân chúng, hơi giống những chế riễu về “tiếng Tây ba rọi” gần đồng thời.</p>
<p>“Trong cái xứ nô lệ của phong tục và khép mình vào nghi lễ còn hơn Trung Hoa ấy&#8230; (G. Aubaret)”, sự mê muội kinh sách dẫn đến những quan niệm hành động tưởng cứ như đùa. Trước trận chiến tan tành 1847, khi còn thương thuyết, Trương Đăng Quế nói: “Nếu họ (Pháp) khai hấn trước thì họ trái, ta phải, việc dẹp trừ không khó!”<em> </em>Từ trên căn bản lạc loài với thế giới đang thay đổi đó, vua quan không có cách ứng xử kịp thời cũng là chuyện không lạ.</p>
<p>Sự kiêu ngạo về văn hoá đã khiến triều đình Huế không nghĩ ra cách dung hợp với một kẻ nội thù càng lúc càng lớn dần, có vây cánh sừng sỏ bên ngoài mà họ không tự biết: đó là <em>các giáo đồ Gia Tô.</em> Thiên Chúa Giáo nói chung, lan tràn khắp thế giới không phải chỉ bởi nương tựa vào vài ông vua: Constantin I (La Mã), Louis IX (Pháp), Ferdinand d’Aragon và Isabelle de Castille (Spain)&#8230; nhưng chính còn nhờ tinh thần nồng nhiệt truyền bá tín ngưỡng của các nhân vật gọi là làm nhiệm vụ Tông đồ, trong mức độ quá khích, có lẽ chỉ thua phái Hồi Giáo đến từ sa mạc sỏi đá cằn cỗi hơn mà thôi. Chữ “soldat” của Alex. de Rhodes dùng còn gây tranh cãi đến gần đây, dù có được biện minh, ít nhiều gì cũng không xóa hết được ý nghĩa lấn lướt của “người có Đạo”, kiêu ngạo bài bác lũ người thờ quỷ ma, trong đó có cả ông vua đang Lạy Xác. Trong hành động vì lí tưởng cho là phải, là duy nhất, những kẻ truyền đạo khi gặp phản ứng đã dùng chữ “bách đạo” mà không thấy trong sự lấn lướt của mình cũng có điều phải suy nghĩ.</p>
<p>Chúng ta đã nói về việc dựng lên một nhân vật tối thượng trong thiêng liêng đã va chạm đến hình ảnh nhân vật tối thượng trong xứ sở người ta đến rao giảng. Người ta phân trần rằng giáo sĩ không làm việc lật đổ nhưng đó là lúc Bá Đa Lộc trông chờ nơi ông Hoàng tử Cảnh không chịu lạy ma quỷ trên bàn thờ. Với thời ông Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức dứt khoát trừ “tả đạo” thì LM. Marchand hi vọng nơi Lê Văn Khôi (1833), còn Giám mục Pellerin, người hi vọng rồi thất vọng với vụ Hồng Bảo (1851), đã đòi “hạ bệ Tự Đức đang trị vì mà thay vào đó một ông vua Công Giáo, hay ít nhất có thiện cảm với tôn giáo của người Pháp”&#8230; Và thế là chính trị và tôn giáo đã xen lẫn vào nhau, đặt căn bản “chính nghĩa” tiếp theo cho những phe phía đi vào hành động. Tàu biển đến làm áp lực càng lúc càng nhiều, Thiệu Trị có lúc đã nhẹ tay với giáo sĩ (chắc cũng sợ!) – Minh Mạng cũng từng e dè với tính cách người trên, nhưng giáo sĩ như cóc bắt bỏ dĩa, vừa thoát chết được thả ra đã quay lại (Giám mục Lefèvre mang tội tử hình hai lần 1845, 1846 vẫn lén trở lại Gia Định).</p>
<p>Sự can đảm của giáo sĩ không những được thúc đẩy từ hậu phương xa xôi của mình mà còn thấy có căn bản càng lúc càng vững chắc nơi đến lập nghiệp nữa. Kẻ thù thì đến từ bên ngoài nhưng lúc này đã gieo rắc sức mạnh kết tụ ngay ở bên trong. Theo J.B. Chaigneau thì đương thời có 300 000 giáo dân ở Bắc và 60 000 giáo dân ở Nam. Tổ chức giáo hội vững vàng hơn: Năm 1850, có 8 Giáo khu (một ở Miên) thì 6 Giáo khu là thuộc quyền quản trị của Hội Thừa sai Paris. Sự can thiệp của người Pháp như thế là đã biết trước được. Có điều vì số người theo đạo đông nên sự đùn đẩy, xua đuổi đạo lạ của chính quyền đến lúc này không còn chỉ nhắm vào người ngoại quốc, mà là phải giáng búa rìu xuống ngay người dân trong nước. Chống Đạo đã trở thành “bách Đạo”. Thế là có vấn đề “tự cứu” để được Cứu rỗi, người có đạo trở thành một lực lượng chống đối triều đình, không phải chỉ đông đảo ngùn ngụt thấy được mà còn lẩn khuất ngay nơi ông quan thị vệ bên cạnh vua, nơi người tôn thất chực chờ lật đổ.</p>
<p>Và có nhắc lại cũng không thừa, là xứ sở của nhà Nguyễn cũng không phải là chỗ an bình. Mấy trăm năm loạn lạc, sự thống nhất là do lối kết hợp bằng binh lực từ những vùng đã từng là “nước”, bên trong lại có vô số tập đoàn chưa bao giờ phải khuất phục một chính quyền trung ương nào hết. Và tuy dân Gia Định ngông nghênh, chuyện “ép người trong làng khấu đầu lạy, tung hô”, chuyện quan huyện trấn nhậm sâu trong thuộc địa Trấn Tây hách dịch: “Tao thì chém trước tâu sau”, rốt lại cũng thấu tai triều đình nhưng phải nói rằng Nguyễn đã nắm vững phần căn bản của dòng họ mình hơn ở phía Bắc. Minh Mạng lo được việc bầu lí trưởng ở Bình Định trong lúc dân Nghẹ tha hồ cử tổng lí cho mình. Quan ở Bắc Kì có khi phải nể nang, dựa dẫm các cường hào có tên Cả X, Tổng Y vì như Nguyễn Hữu Thận tâu: “Dân một làng do hào mục khu xử, chúng làm bậy thì dân đều theo”. Có thể vì thấy sức nặng ở phía Bắc mà Gia Long lúc đầu đã muốn đóng đô ở Nghệ An nếu không có Phạm Văn Nhân can. Cho nên mầm loạn ở Bắc vẫn dằng dai cả khi Nguyễn không phải thêm bận tâm nống sang Cao Miên. Thế là tổng lí theo-đạo bao che người, ngăn chận lệnh quan. Và quá khứ lịch sử lại tiếp tục nổi lên bùng cháy từ các tàn dư nhen nhúm. Dòng dõi nhà Lê đã cho đày hết vào Nam thì ai làm vua Lê cũng được, chỉ cần giáo sĩ gợi ý một lần (Giám mục Retord và Tạ Văn / Lê Duy Phụng) là lần sau cứ tự động xướng suất. Tính cách chính nghĩa lại thêm một dịp chuyển đổi chứng minh phe phía, mở đường cho những kêu gào chống đối triều đình khi phải chịu thua thiệt, cắt đất cầu hoà&#8230;</p>
<p>Như thế, tận trong sâu kín, sự xung đột Đông Tây ở Việt Nam trong thế kỉ XIX, đã là một xung đột không có đường hoà giải, và cái thua thật cầm chắc là về một phía dù các sử gia ngày nay viện dẫn cuộc chiến vừa qua mà tha hồ chửi mắng những người làm mất nước. Lịch sử địa phương của một khu vực văn hoá, phần nào cũng mang một chừng mực của những ý tưởng toàn vùng hướng dẫn sự trưởng thành, tàn tạ của khu vực. Trong trường hợp này của Việt Nam, thì tác động xô đẩy đưa đến suy sụp, dứt khoát phải là đến tự bên ngoài (giống như Triều Tiên / Cao Li với Mông Cổ, Nhạt Bản, và Trung Hoa với Hung Nô, Mông Cổ, Kim, Thanh) bởi vì sức kềm kẹp bên trong chỉ dao động nghiêng ngả chứ không mất tác dụng đàn áp với đám dân chúng chỉ đủ khả năng cựa quậy, than vãn, xiêng xỏ, hay cùng lắm là trang bị giáo mác.</p>
<p><strong>Sự sụp đổ tiến bước – dằng dai</strong></p>
<p>Những người cầm quyền Đại Nam an tâm, thoả mãn – chưa kể là kiêu ngạo, trong không gian lí tưởng của nền văn hoá thụ nhận không thể thấy ngay sự suy sụp đưa đến thảm hoạ mất nước nhưng những dấu hiệu bất cập của mô hình kiến thiết mà các ông vua đang đeo đuổi cũng đã hiện rõ từ lâu. Khủng hoảng có thể vượt qua được thì nâng cấp tổ chức, điều này cũng khiến cho khi có đổ vỡ thì sự kháng cự sẽ trở nên dằng dai làm biến đổi tiến trình suy sụp.<strong><em> </em></strong></p>
<p>Dấu hiệu căng nống quyền lực quá khả năng hiện ra khi Minh Mạng muốn làm việc thực dân hoá đất Cao Miên mà bất lực với các Ốc Nha không biết cai trị theo lối “người Hán” (làm việc duyệt tuyển: kiểm kê người, ruộng đất, thu thuế, làm báo cáo&#8230;) trong lúc áp lực Xiêm La bên ngoài còn mạnh, bên trong còn có cả một vùng mênh mông dân bản xứ tận dưới biển, bao vây những khu vực đồn điền cô lập, lẻ loi với các lưu quan của triều đình phái đến không được ông Tổng trấn bảo vệ đủ. Trương Minh Giảng lui quân, tự tử rồi quân Huế đang ráng kéo ngược tình hình một cách nửa vời nhờ việc quân Xiêm cũng không quản lí nổi đất Miên, thì tiếng súng Đà Nẵng chỉ trong một tiếng đồng hồ đã báo hiệu sự suy sụp của Đế quốc Đại Nam.</p>
<p>Đã nói, sự kêu gào can thiệp để cứu “dân nước Chúa” ở Đại Nam vang vọng từ lâu cho nên tuy lẻ loi nhưng cũng có cả sự tham dự của tàu thuyền các nước Tây Phương khác như trường hợp chiếc tàu Mĩ Constitution xin thả GM. Lebèvre năm 1845. Tuy nhiên vai trò của các thừa sai Hội Truyền giáo Paris ở Việt Nam đã khiến cho sự can thiệp của nước Pháp ở đây trở thành mối liên hệ kết hợp đạo-đời không thể phủ nhận trong suốt quá trình xâm chiếm. Không biết thấy ở văn thư nào mà Phan Thúc Trực nói về việc xin tha giáo sĩ năm 1838 của Pháp đã dùng câu “Chúa đạo Gia-tô đến thông vấn”, có trích lời thư xác nhận: “Từ trước sai thầy dòng vâng mệnh Chúa đi truyền giáo&#8230;” Nước Pháp gượng dậy qua chiến tranh cách mạng, chậm chân hơn các nước khác nhưng còn thấy vùng Đông Dương chưa có người đặt chân để càng thấy sự thúc giục của các giáo sĩ trở nên hấp dẫn hơn. Cuộc bắn phá 1847 một mặt cho thấy phái bảo thủ ở Huế có bằng chứng để thúc đẩy sự đóng cửa với bên ngoài, bài xích “tả đạo”, mặt khác lại khuyến khích giáo sĩ và giáo dân có hi vọng trông ngóng từ bên ngoài, cả ở những phe phái chỉ tranh chiếm nội bộ như trường hợp Hồng Bảo giành ngôi với Tự Đức (1851). Cuộc xung đột Pháp Việt lên đến đỉnh cao khi Napoléon III quyết định hiện diện ở Đông Dương, khởi đầu cũng lại là tiếng súng lẻ loi của tàu máy hơi nước Catinat bắn phá Sơn Chà trong tháng 9-1856, dẫn đến quyết định đánh chiếm Việt Nam với đoàn quân viễn chinh dưới sự chỉ huy của Phó Đô đốc Rigault de Genouilly (15-7-1857).</p>
<p>Thế là mọi biến chuyển cứ tiếp tục thúc đẩy nhau thành hình. Ngày 1-9-1858, tàu Pháp có sự phối hợp của lính Tây Ban Nha từ Manille sang, bắn phá Đà Nẵng, chiếm đồn luỹ chực chờ nội gián đạo đồ nổi dậy hưởng ứng. Thất vọng, tướng xung đột với giám mục, lại không nghĩ ra phương cách tấn công kinh thành nên De Genouilly chỉ để một toán quân giữ các đồn đã chiếm mà rút tàu thuyền vào Nam Kì (9-2-1859). Ở đây sông rộng, tàu lớn tha hồ tung hoành đúng như mối lo của Thượng thư bộ Công Trần Văn Trung cảnh báo với Tự Đức. Quân Pháp bắn phá các pháo đài ven biển, vào cửa Cần Giờ, tiến lên Nhà Bè, theo dọc sông tiến bức thành Gia Định, đánh phá chỉ trong hai ngày là chiếm được (17-2-1859). Có Gia Định đủ cho người Pháp coi nhẹ Đà Nẵng, lấy làm điểm tựa cho cuộc chinh phục Việt Nam dai dẳng, nhiều khuất khúc nhưng không gì cản trở được trước sự bất lực của triều đình Huế với quan niệm giữ nước lạc lõng trong thế giới mới trong lúc nội bộ càng tan nát với những mâu thuẫn nảy sinh từ trong quá khứ được tình thế gây thành phức tạp hơn.</p>
<p>Đến lúc này thì thái độ tự tôn chỉ còn là vấn đề sĩ diện, sự tranh luận của triều đình Huế chỉ còn quanh vấn đề chiến hay hoà mà thôi. Chiến thì đã thấy một toán quân nhỏ Pháp ở Đà Nẵng, chịu đựng sự tấn công của cả binh lính trung ương Huế cũng không bị trục xuất, xa phía nam thì “đại đồn” Chí Hoà của Nguyễn Tri Phương cũng tan nát (25-2-1861). Tổng thống Quân vụ Lê Đình Lí trước khi tử trận đã cho thấy tình hình bi quan: “Giặc trăm thứ khéo giỏi, đồ dùng tinh xảo, chiếm Trà Sơn ở vị trí cao, quan sát rộng, ta ngăn núi mắc sông, quân khí không tốt, quen thói sợ giặc, gặp giặc là chạy&#8230;” Đã kể về nhận định của Nguyễn Bá Nghi, Tổng thống Quân vụ Nam Kì (1861), thì nên ghi thêm chứng kiến của người dân bình thường tại chỗ trong <em>Thơ Nam Kì.</em> (Tàu Tây) “tàu khói máy tài, Chạy vào Tắc Nghĩa chẳng nài ngược ngang” / “Giặc này đạn pháo nan cừ, Quan quân thầm lắc bấy chừ nan toan”. Và cũng nên nhìn ra một thái độ bàng quan, chấp nhận bất lực của dân chúng đương thời: Khi “Tây đăng dinh thành” thì “dân chúng khắp dành, Đem nhau coi giặc bộ hành dầm xuân, Liếc xem giặc lạ trưng trưng, Đoái nhìn thành thị luỵ trường hột sương <em>(khóc!)</em>”.</p>
<p>Tự Đức ra Dụ bảo sĩ phu lập nghĩa đoàn, sai quan mộ hương dõng chống đánh (12-4-1861) với cấp bực dành cho người cầm đầu, lấy người cả nơi xa như Khánh Hoà, Bình Định. Đó là đầu mối xuất hiện những tập họp của Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực, chung sức với Trương Định&#8230; Tuy nhiên đúng như Nguyễn Bá Nghi dự toán tình hình, không hoà thì sẽ mất thêm. Quân Pháp gặp khó khăn với Trung Hoa nên de Genouilly đưa thư xin hoà (20-6-1859), chỉ đòi tự do truyền giáo, thông thương. Bàn cãi chưa xong thì ba tháng sau, liên quan Anh Pháp kí hoà ước với Trung Hoa, có thêm tiếp viện từ chính quốc, de Genouilly tiếp tục đánh. Họ công phá Chí Hoà, chiếm thêm Định Tường (14-4-1861), Biên Hoà (16-12-1861), Bà Rịa (7-2-1861), Vĩnh Long (23-3-1862). Thế là đồng thời với những thất thế khác, hiệp ước Nhâm tuất 5-6-1862 kí nhường ba tỉnh Miền Đông Nam Kì với vướng luỵ của người văn thần Phan Thanh Giản (1796-1867), chịu nạn theo lịch sử nặng hơn bản thân ông phải gánh vác.</p>
<p>Tội nhượng đất bị ghi ngay vào sử Nguyễn với lời Tự Đức kết án người kí là “tội nhân của muôn đời”. Nhưng sao Phan dám làm chuyện đó nếu không nhận ra ý hướng của triều đình đã công nhận các vùng Pháp chiếm ở Gia Định, “sở Thủ Dầu Một, tỉnh Biên Hoà và đất phụ cận Định Tường”, là thực tế khó thay đổi, nên “hãy tạm cho bọn kia quản nhận cư trú”, và chính trên sự hồi tưởng đó mà sau kí kết, người ta đã không kháng nghị ngay, lại bổ hai sứ thần đặt ở gần người Pháp, để từ từ “năn nỉ”? Ít ra thì chính ở đây cũng là bằng chứng về sự khác biệt trong quan niệm giao kết quốc tế giữa Pháp và Việt. Tất nhiên làkhông phải ai cũng bằng lòng khi kí một hiệp ước nhưng người Pháp cho rằng đã kí xong thì phải thi hành, còn phía Việt thì coi “kí” chỉ là giải pháp tình thế như nhận định của triều đình cho thấy ở trên. Từ khác biệt đó mà người Pháp cho là ta không giữ cam kết, còn Tự Đức thì cứ trông chờ Phan Thanh Giản “năn nỉ”&#8230;</p>
<p>Phan đã biết cuộc đời làm quan gian khổ trên đám dân chúng ngược ngạo vì cùng khổ – vốn đã tích trữ thói quen đó từ lâu. Phan đã có kinh nghiệm làm quan giữa đám đồng nghiệp kèn cựa nhau, cả kẻ dưới cũng xoi mói người trên từng li từng tí, hoặc dựa thế luật pháp vua nước (như vai trò gián quan của các chức quyền Khoa đạo), hoặc chỉ giản dị là ngông nghênh với một chút lí tưởng nho gia. Làm quan dưới búa rìu sấm sét của ông vua tối thượng, nhìn xét công tội của người dưới tay bằng vào những bắt bẻ lẫn nhau của các phe cánh, phán xét công tội bằng chỉ riêng một kết quả hành động thành công hay thất bại, không kể lớn nhỏ. Trương Minh Giảng là người duy nhất ôm gối Minh Mạng trong lễ mừng chiến thắng Trấn Tây, thế mà khi thất bại, buồn chết [tự tử?] lại bị mất chức tước, chịu gian truân ở cả những dịp được xin phục hồi. Trong tình thế có ông quan (chồng Hồ Xuân Hương) chỉ tham nhũng vài trăm quan là bị tử hình, tại sao Phan dám cả gan cắt đất Ba tỉnh dân đông, vật lực lớn, đủ như là cắt cả Sáu tỉnh? Thế mà rốt lại chỉ bị vua mắng, và dài dài sau đó là được nhờ cậy điều đình chuộc đất, không phải để lập công chuộc tội mà vì dưới mắt Tự Đức không còn ai khác đủ sức làm chuyện đó: “Phan Thanh Giản còn không biết rõ huống gì người khác!” Sự tình dễ hiểu nếu ta nhìn ghép với người cùng kí tên mà ngày nay lại ít bị hài tên chửi bới: Tiến sĩ Hàn lâm Lâm Duy Hiệp/Thiếp/Nghĩa, người được phong làm Phó Tổng tài Quốc sử quán, hẳn cũng có góp ý với ông Tổng tài về việc xin in lại (1856) “nguyên bản” <em>Đại Việt sử kí toàn thư </em>được coi là “bản Chính Hoà” có quyền uy văn bản gốc bây giờ.</p>
<p>Ông Lâm Duy Nhiều-tên kia cũng là dân khoa bảng như ai, vậy mà làm quan lọng cọng, vụng về đến bị vua mắng vào mặt, có lẽ chỉ vì xuất thân ở đất Nguỵ Tây. Ấy thế mà ông lại được cử vào việc điều đình nghị hoà trong lúc các quan khác tránh né, được cử làm việc với một người xuất thân xa cách về đường đất nhưng đồng dạng về sinh hoạt: Cả hai đều là dân Minh Hương với kiến thức không phải chỉ là kể lể Trình Chu, Di Hạ chết cứng trong sách vở mà còn là lối giao tiếp thường nhật, tuy không đủ để vươn ra toàn thế giới nhưng cũng là vượt được luỹ tre làng, ông thần gốc đa. Phan Thanh Giản có cả một khối dân Nam Kì ngồi tại chỗ mà vẫn nhận được tin tức xa vì là nơi người ta tụ hội về. Lâm Duy Hiệp khuất lấp hơn nhưng cũng có một quá khứ Vùng, từng đón nhận Tống lưu vong, Minh Thanh đào tị (hẳn là có mặt ông bà của Phan Thanh Giản), những người từng là cánh tay của anh em Tây Sơn, chưa kể những người đương thời tiếp nối đang tranh giành ngoại thương với người Âu bị gạt ra ngoài. Trước cuộc chiến không lối thoát, phải nói đến hoà nghị, không thể cử ông Nguyễn Tri Phương đánh đâu thua đó tuy đã tận lực. Những người quen giao tiếp với bên ngoài như Phan-Lâm, mang tiếng “mãi/mại quốc” về sau, chính là người của thời cuộc, người không-có của triều đình Huế lúc bấy giờ.</p>
<p>Nhưng cái thế hoà hội không phải chỉ là chuyện đầu lưỡi nên Phan Thanh Giản len lách qua Tây đi chuộc không thành lại còn mất thêm Ba tỉnh để ông lấy thân mình tránh quyền vua, đền nợ nước. Tiến trình chiếm đóng Việt Nam lại có khi được thúc đẩy bởi những can thiệp của nhóm chính quyền địa phương Pháp tại chỗ, những người thấy rõ hiệu lực của các quyết định trong tình hình thực tế, với những cuộc bắn phá dọc biển bao vây việc tiếp tế gạo Nam Kì cho Kinh thành, chận các thương thuyền Thanh bán vũ khí cho Huế, cả với những “sáng kiến” quấy đảo của các giáo sĩ như khi họ khuyến khích các nhóm Phù Lê ở Bắc Kì với nhóm Tạ Văn Phụng&#8230; Tất cả ít nhiều gì cũng là nguyên nhân kí kết hiệp ước nhường Ba tỉnh Miền Đông Nam Kì. Và như sẽ thấy, thương lái J. Dupuis là yếu tố khích động cho việc tiến chiếm Bắc Kì, không xa với việc buộc nhà Nguyễn kí các hiệp ước cuối cùng.</p>
<p>Khi sự bác bỏ thoả thuận Aubaret – Phan về việc chuộc Ba tỉnh Miền Đông xảy ra thì Soái Phủ Sài Gòn đã hiểu là tiến trình thực dân không thể đảo ngược, do đó việc tiến chiếm Ba tỉnh Miền Tây cheo leo là kết quả thấy trước, không thể đổ thừa Phan Thanh Giản không biết giữ, hay do bởi sự “lường gạt” trong việc tiến quân của Pháp. Pháp từng lưu ý tới Cao Miên từ 1856, từ khi H. Mouhot thám hiểm Siem Reap, khám phá Angkor, và với sự trung gian của Giám mục Miche, họ kí hiệp ước bảo hộ với Norodom (Oudong 8-1863) thì không thể để ba tỉnh đó làm ngăn cách với Nam Vang được. Khi Vial đòi lấy 3 tỉnh Miền Tây, các quan cũng nhận ra rằng: “Ba tỉnh ấy cheo leo cũng khó giữ được”. Trước sự lấn lướt đó, triều đình Huế bất lực lại chỉ có một chính sách tiếp tục, là điều đình xin trả đất, hay chịu nhường đất theo lối “tay trên” trong lúc phe mình thì lại đang ở thế dưới tay người: Pháp được giữ 3 tỉnh Miền Tây thì trả lại Gia Định, Biên Hoà, xoá nợ, bỏ ba thương điếm Đà Nẵng, Quảng Yên, Ba Lạt! Ngay cả khi biết Pháp có chiến tranh với Đức, họ chỉ “đưa thư hỏi thăm” và khi biết Paris bị vây, Napoléon III bị bắt, người ta lại có sáng kiến đề nghị quân Pháp ở Nam Kì rút về để cứu nước, trả lại đất cho vua Đại Nam!</p>
<p>Và cũng không lạ khi dẫn đến chuyện đường sông Mekong. Phái đoàn Doudart de Lagrée theo lệnh Soái phủ Sài Gòn ra đi thám hiểm đường sông (1866), đã mở đầu cho việc bảo hộ Lào để lại có thêm một khu vực tranh chấp với người Xiêm, ngoài phần đất Cao Miên phía nam. Tuy nhiên qua hai năm dài phái đoàn mới đến được Vân Nam, và nhận ra rằng không thể dùng thuỷ lộ này để thông thương với Trung Hoa được. Thế là đường sông Hồng được để mắt tới, và công cuộc tiến chiếm Bắc Kì lại về tay Soái phủ Sài Gòn qua sự ngang ngạnh của một lái buôn hơn là từ chủ trương ở chính quốc.</p>
<p>Triều đình Huế lại đang ở thế lúng túng hơn lúc nào hết. Một vùng biên giới miền đông bắc kéo dài ra biển đến những hải đảo chằng chịt, là nơi an toàn của cướp. Cho nên các ổ giặc biển có dung chứa cả các tướng Tây Sơn, bởi những người này, khi không chạy trốn xa tít nơi biên giới Lào, Miến Điện thì chỉ tìm được chỗ ẩn thân với tầng lớp Tề Ngôi, một lực lượng thuỷ quân của Tây Sơn cũ. Cướp biển tấn công các tàu vận tải của nhà nước – hoặc được nhà nước thuê mướn – bạo dạn tấn công trên đất liền cướp của, bắt người. Là cướp biển không phải chỉ có các nhóm Tàu Ô cổ truyền mà còn là dân đánh cá hành nghề mới theo mùa đói kém, theo cơ hội bất chợt. Chưa kể biển còn là nơi các nhóm Phù Lê dễ tìm chỗ ẩn nấp khi bị truy đuổi trong đất liền.</p>
<p>Về phía biển, Triều đình đánh tiếng “mướn” quân Pháp tiễu trừ (1865) hay ghi hẳn yêu cầu vào hiệp ước 1874. Trên bộ họ phải nhờ quân Thanh sang đánh dẹp khiến Tự Đức cũng phải nhận là nỗi nhục trong đời. Từ khi Thái Bình Thiên Quốc (1851-1864) tan rã, các tàn quân của họ tràn sang phía nam, quấy rối trên các tỉnh biên giới mà triều đình không cách nào dẹp yên được. Nổi tiếng là quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc, Cờ Vàng của Hoàng Sùng Anh và Cờ Trắng của Bàn Văn Nhị.</p>
<p>Triều đình tìm cách phủ dụ đầu hàng nhưng lại là nuôi thêm những toán giặc tiềm tàng. Họ chiêu mộ phe này diệt phe kia như dùng toán Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc chống với Cờ Vàng Hoàng Sùng Anh, để càng luỵ thêm vì Lưu Vĩnh Phúc. Triều đình yếu thế đến mức gặp J. Dupuis kéo Cờ Vàng về phe mình, ngang ngạnh dùng đường sông Hồng chở vũ khí lên Vân Nam, lại không có cách nào trị được chỉ kêu cầu Sài Gòn giải quyết. Thế mà như đã thấy, chính quyền Pháp ban đầu ở Nam Kì phần lớn là do các tướng lãnh Hải quân nắm giữ nên hành động vẫn có chút riêng biệt, thêm mối lợi thương mại gắn liền với J. Dupuis khiến họ hành động cũng không như Huế mong muốn. Người được cử ra Bắc là F. Garnier, thành viên cũ của Phái đoàn Mekong nên sự bênh vực quyền lợi của nhà buôn kia thật không che giấu. Xung đột xảy ra, ngày 20-11-1873 Hà Nội thất thủ trước 188 binh sĩ hỗn hợp Pháp và 24 ngưới châu Á với 8 họng súng đại bác, đánh thắng 700 quân chủ lực Huế và viên tướng tài ba nhất đương thời: Nguyễn Tri Phương. Rõ ràng quân binh Việt yếu thế không thể chối cãi: chỉ một đại uý và 15 lính hải quân đánh thành Hải Dương, một thiếu úy và 7 lính đánh Ninh Bình, cả hai đều đắc thắng!</p>
<p>F. Garnier bị Cờ Đen giết ngày 21-12-1873. Hoà ước Giáp tuất 1874 kí ở Gia Định tuy trả lại các tỉnh đã chiếm, cho thấy Tây Ban Nha bị gạt ra ngoài, và nước Pháp công nhận chủ quyền Việt Nam nhưng đã có những điều khoản khai mào cho việc đặt nền bảo hộ, cho phép họ lấn ra Bắc Kì với các cửa biển mở thông lộ sông Hồng. Họ đã không thua thiệt tí nào. Thế nhưng muốn lấn quyền trên xứ Bắc, người Pháp không phải chỉ động tới nhà Nguyễn mà còn phải giải quyết những tồn đọng của chính quyền Việt nơi ấy, vốn đã phức tạp hơn những vùng khác nhiều. Nam Kì ở xa, khi bị xâm phạm thì có quan Đốc học Nam Định Phạm Văn Nghị mộ quân tòng chinh cứu nước, bị gạt đi vẫn phải tuân lệnh, để Nam Kì tự lo lấy nhưng khi quân Pháp ở ngay trên đất “của mình” thì người ta không đợi lệnh triều đình nữa. Sau khi kí hoà ước 1862, nhóm Trần Tấn, Đặng Như Mai ở Nghệ An nổi dậy đốt phá nhà thờ, giết giáo dân (1866), kéo dài đến 1874. Nhóm Tú tài Nam Định cũng nổi dậy sát tả (1868).</p>
<p>Tình hình dân đạo là nạn nhân cũng trở thành phức tạp hơn với kết quả hiệp ước 1874. F. Garnier sau khi chiếm các tỉnh châu thổ đã phong chức tước cho các người theo đạo, đến khi các quan chức trở về nắm quyền, họ chống lại, như Hồ Văn Vạn tiếp tục chống triều đình ngoài khơi Hải Dương, có yêu cầu Soái phủ Sài Gòn viện trợ (bị bắt 1875). Cho nên tiếp với thành kiến có trước, việc xung đột lương giáo thành càng lúc càng trầm trọng thêm, trong đó không phải không có lỗi về phía dân đạo lợi dụng thời cơ. Trương Vĩnh Ký ghi lại sau “Chuyến đi Bắc Kì năm Ất hợi (1875)” về chuyện dân đạo tàn sát gia đình Tuần vũ Nam Định và sự đòi hỏi bồi thường quá quắt của LM. Trần Lục, người nổi tiếng với ngôi nhà thờ Phát Diệm xây cất về sau. Ngay trong sự giao thiệp ở bậc cao nhất cũng không có sự ổn thoả từ căn bản. Huế kí hiệp ước trong thế yếu nên không mấy mặn mà hợp tác như lời báo cáo của Thống đốc Nam Kì Lafont cho nội các Pháp (21-3-1878) biết.</p>
<p>Phan Thanh Giản, những ngày cuộc tranh chấp còn ở cấp độ đòi tự do tín ngưỡng và thông thương, đã cho Tự Đức biết rằng người Pháp chú trọng đến Bắc Kì hơn Nam Kì vì dân đạo ở đấy nhiều hơn, đông hơn. Thế mà tình hình cũng không thuận tiện hơn cho họ. Việc thông thương đòi hỏi một tình hình an bình, nghĩa là vấn đề động tới các toán giặc trên đất, dưới biển, giặc đủ thứ nguồn gốc ta, tàu mà kiệt hiệt hơn hết là các nhóm quân thổ phỉ Trung Hoa, quân Thanh được Huế kêu cầu bình định biên giới trước kia, nay nhân tiện cũng được Bắc Kinh hi vọng là con cờ có sẵn để giằng co với Pháp. Con đường sông Hồng bị chận ở Lao Kay bởi toán quân Cờ Đen Lưu Vĩnh Phúc mà triều đình có người muốn nhờ cậy để chống Pháp, có người muốn đuổi đi. Cả hai biện pháp đều chỉ là của tình thế bởi vì không thể nào tác động đến Lưu được dù có lúc Tự Đức dẫn dụ trao chức quan để bứng đi.</p>
<p>Thế là lại xảy ra vụ chiếm Hà Nội lần thứ hai (25-4-1882), do H. Rivière làm chủ, vượt quá sự toan tính ban đầu của Soái phủ Nam Kì và ngay cả chính quyền Paris. Rồi cũng lăp lại chuyện cũ, là H. Rivière bị quân Cờ Đen giết chết (19-5-1883). Giữa thời gian đó là sự thay đổi chính sách ở ngay chính nước Pháp. Vấn đề Bắc Kì làm Pháp đổ ba nội các chỉ trong vòng mấy tháng, đến khi J. Ferry thành lập chính phủ (3-3-1883) thì chủ trương xâm lược Bắc Kì được tiến hành một cách cương quyết hơn. Lần này là những đụng độ lớn dắt dẫn đến tình hình kết thúc chiếm lĩnh toàn Việt Nam và giải quyết luôn vấn đề thiên triều / phiên thuộc kéo dài cả ngàn năm.</p>
<p>Bị quân Pháp bức bách, triều đình Huế lần này thực sự lo tìm kiếm ngoại viện với các nước khác nhưng họ không có gì để trao đổi trong một tình thế mà nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ cũng cho là đã muộn rồi. Họ liên lạc với Anh, Mĩ, Tây Ban Nha chỉ qua thuộc địa Hương Cảng của Anh đã là một dấu hiệu thất thế, thế mà khi lập được thương ước với Tây Ban Nha (1879), họ gửi người theo sứ bộ nhờ huấn luyện thì bị Pháp chận lại ở Sài Gòn. Trước đó (1875) Ý đưa thư bàn việc thông thương thì ông quan Thương bạc của ta lại hỏi ý kiến của Pháp, tất nhiên bị bác bỏ ngay. Họ chỉ còn có cách quay lại đường lối truyền thống của các triều đại Việt: Ngày 6-9-1882 được coi là thời điểm quyết định cầu viện nhà Thanh của Cơ mật viện.</p>
<p>Thanh triều lúc bấy giờ vốn phải lo lắng chuyện nội bộ và cả sự uy hiếp của các nước phương Tây nên mù tịt chuyện phía nam. Họ chỉ biết rõ ràng về việc Pháp xâm chiếm Nam Kì qua Từ Diên Húc, Tri phủ Thái Bình (Quảng Tây), người từng qua Lạng Sơn cuối 1870, tác giả quyển <em>Việt Nam thực lục </em>(1877), được thăng Bố chánh Quảng Tây và sẽ là tổng chỉ huy đội quân viễn chinh chống đối Pháp năm 1883. Sự lấn lướt của người Pháp đã khiến Trung Quốc lo ngại cho vùng biên phía nam của mình nên người Thanh lấy cớ đã được Việt Nam yêu cầu dẹp thổ phỉ, liền cho quân tiến ra ngoài biên giới để giành ưu thế.</p>
<p>Giữa năm 1882 quân Thanh dàn ra dọc biên giới, 3 doanh quân Vân Nam đã vào tỉnh Hưng Hoá, đến năm 1883 thì có độ 20 ngàn quân Thanh xâm nhận thực sự với Từ Diên Húc đóng ở Bắc Ninh. Đến đây là sự đối đầu chính thức giữa hai nước, giành nhau vùng ảnh hưởng. Nhà Thanh muốn lấn đến Quảng Bình, có lẽ vì dư âm về nước An Nam / Đại Việt xưa. Nhưng người Pháp với tính chất một nước công nghệ nên giành vùng thượng du Bắc Kì vì là vùng mỏ. Do đó H. Rivière chiếm mỏ than Đông Triều ngày 12-3-1883, lại cần phải bảo vệ nó, luôn tiện giữ vùng lúa gạo nên cho quân hạ Nam Định (28-3-1883). Sự tranh chấp này chỉ kết thúc với viện binh từ chính quốc Pháp đưa sang, qua những giằng co tranh cãi nghị trường, biểu lộ nhược điểm quen thuộc của chế độ đại nghị phương Tây vẫn còn thấy về sau khi cuộc tranh chấp mang tính toàn cầu, lan đến những vùng xa lạ với nền văn minh ấy.</p>
<p>Quân Viễn chinh Pháp lần này quyết tâm chiếm Việt Nam nên để tướng Bouet từ Nam Kì ra đánh Bắc Kì còn Đô đốc Courbet và Tổng Đại diện Harmand thì kéo đánh thẳng vào Huế qua cửa Thuận An (20-8-1883) nhân dịp Tự Đức băng hà, và cũng là theo ý kiến của Thống đốc Nam Kì cùng Tổng trú sứ Huế. Triều đình Huế đang lúng túng với việc truyền ngôi sau khi Tự Đức mất (19-7-1883) nên kí hoà ước Harmand (25-8-1883) với những điều khoản thua thiệt nặng nề gây thêm chống đối. Bắc Kì rối loạn hơn bao giờ hết. Đến lúc này thì Pháp chỉ có một đối thủ là Thanh mà quân lính của họ, được trải qua những thời kì cải tiến, đã có vũ khí mới, lại quen thuộc đường lối địa phương, thêm có các quan Việt yểm trợ hoặc bởi tình thế, hoặc vì ý tưởng chống Pháp. Có thêm viện binh, Courbet chiếm Sơn Tây (16-12-1883), Bắc Ninh (13-3-1884), Hưng Hoá (12-4-1884) đem sử dụng khinh khí cầu dò la hậu phương quân địch như phương tiện kĩ thuật mới nhất. Các chiến thắng đó giúp lập hoà ước Founier (11-5-1884) buộc Thanh chịu dứt khoát đoạn tuyệt với những đòi hỏi về Việt Nam. Rồi lại cũng như các cuộc chiến khác, một hiệp ước thường không thể kết thúc cuộc chiến. Quân Pháp lại sa lầy ở thượng du Bắc Kì vì các toán quân chưa chịu rút lui, nặng nhất là trận Bắc Lệ (23-6-1884) khiến rúng động Paris. Quyết tâm giữ Bắc Kì tăng lên, quân Pháp đánh thẳng vào Phúc Châu (23-8-1884), phong toả Đài Loan nên cho dù nội các J. Ferry bị đổ vì thua ở Lạng Sơn (28-3-1885), Pháp vẫn kí được hoà ước Thiên Tân (4-4-1885) giải quyết dứt khoát vấn đề.</p>
<p>Trong tình hình hoà hoãn sau hoà ước Fournier, Pháp yên tâm với cường quốc bệnh hoạn phương Bắc lại quay về kí hoà ước Patenôtre (6-6-1884) điều chỉnh hoà ước Harmand cho nhẹ hơn nhưng không tránh khỏi sự chống đối quyết liệt của phe chủ chiến mà cầm đầu là Phụ chính Tôn Thất Thuyết để xảy ra sự biến thất thủ kinh thành (4-7-1885). Hàm Nghi bỏ chạy ra Tân Sở (Quảng Bình), người Pháp lập Đồng Khánh đánh dấu giai đoạn bắt đầu của quyền bính mới trên đất Việt Nam kéo dài đến giữa thế kỉ XX vì các chuyển biến khác.</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Không phải chỉ là sự suy sụp một triều đại</strong></p>
<p>Cuộc chiếm đóng thành công của người Pháp không giản dị là một cuộc lật đổ một chính quyền bản xứ. Trong đà tấn công quyền bính trên cao để giành chiến thắng, họ làm đổ vỡ cả một mối tin tưởng lâu dài, dù rằng có lúc họ cũng muốn dựa trên nền tảng ấy để củng cố chính quyền mới của họ. Tất nhiên không phải tất cả đều đổ sụp một lần nhưng những biến chuyển dẫn đến suy tàn đã được khai thác và làm trầm trọng thêm trên những mâu thuẫn tiềm tàng có sẵn. Và cũng không phải tất cả đã mất hết mà có phần còn lảng vảng đâu đấy để co cưỡng, xuất hiện lại dưới dạng hình mới.</p>
<p>Về quan niệm quân quyền, nho sĩ Bắc Hà không có vua Lê thì có Gia Long, người xứ xa, hơi khác nhưng điều đó không suy suyển với quan niệm làm dân, làm người theo Kinh Sách học hỏi để chấp nhận được, chưa kể rằng sự chấp nhận đó là điều cần thiết cho con đường danh vọng họ đang đeo đuổi. Người Pháp đến làm lũng đoạn tinh thần trung quân đó bởi vì sự khác biệt Lê/Nguyễn nhỏ nhít trước kia nay trở thành to rọng vì kẻ chống đối nhân bất mãn, nhân sự suy yếu của quyền bính trên cao, đã khai thác một khía cạnh khác của Kinh Sách để tạo ra chính nghĩa. Với lời hô hào chống đối mới: “Phan Lâm mãi/mại quốc, Triều đình khí dân”, người ta đã dùng ý niệm “dân” của Mạnh Tử để thay cho một “cương” quen thuộc, đẩy lẹch hướng trung quân cũ tuy vẫn chưa dám rời bỏ nó. Lí tưởng mới nâng cấp sự chống đối, quá khứ được khai thác mạnh mẽ nên dù con cháu nhà Lê bị đày hết vào Nam, Tự Đức cho về quê cũ cũng không dám nghe theo, người ta vẫn dựng lên những ông vua Lê mới. Đến cả một anh Cai tổng (Vàng) cũng có người để phù trợ nói gì đến số càng lúc càng đông những người trốn chui trốn nhủi vì theo đạo mới. Không có thì tự mình làm vua Lê&#8230; Con cuốc/”quốc” ở phía bắc đèo Ngang không còn chỉ là ý niệm nuối tiếc mà đã trở thành hiện thực chống đối của vùng đất Bắc Hà xưa. Sự căm ghét nhà Nguyễn gần đây của các chính trị gia xuất phát trong vùng này, được nâng cấp thù hận dưới chiêu bài chống phong kiến, nhập nhoà trong tình cảm yêu nước hung hăng, vốn đã có nền tảng là nguyên nhân địa-chính trị từ rất lâu đó.</p>
<p>Rồi khủng hoảng lại nảy ra bên trong nhóm người nằm ở đỉnh cao chính quyền. Tự Đức yếu ớt không phải chỉ vì bệnh hoạn như ông than thở mà còn chính vì sự khủng hoảng tiếp nhận ngôi vị từ Thiệu Trị. Không hẳn ông lên ngôi nhờ Trương Đăng Quế như người ta đồn đoán – kể cả việc cho ông là con ông Phụ chính, nhưng một người mất ngôi – Hồng Bảo – từng có vị trí chính thức mà lại bị thay đổi thì sự hoang mang tất cũng phải xảy ra. Các vua đời trước không thấy có chuyện vừa lên ngôi thì xảy ra việc các ông quan ở Viện Cơ mật hục hặc nhau như với Tự Đức! Ngày trước có giành quyền thì con cháu Hoàng tử Cảnh có được các ông Tổng trấn bênh vực cũng phải bỏ cuộc vì tướng lãnh cũng thuộc vào thế lực suy tàn do chiến tranh đã là quá khứ. Các ông hoàng chống đối không còn tên kia chỉ thấy dạng lấp ló trong các đoàn quân Xiêm trên đất Cao Miên mà mang tên Việt: Trấn Tây Thành. Bây giờ giành quyền với Tự Đức, Hồng Bảo ít nhiều gì cũng có khá đầy đủ những lực lượng gợi nhiều hi vọng hơn. Một người liên can bị tước “quốc tịch”, mất họ vua: Tôn Thất Bật, chỉ bị hạch tội khi đã chết (1854), còn lúc sống (trước 1852) thì đầy quyền uy của một tướng lãnh, của một “tôn thất”. Một Đào Trí Phú bị xử lăng trì (đến nỗi con cháu sau này phải tự cứu bằng cách hùa theo loạn ở Sơn Tây 1859), ông quan đó chuyên đi tàu biển đem tiền về cho vua – nhân tiện cho cả mình “gia tài hàng vạn”, tội lỗi không được kể chi tiết nhưng chắc vì lí do “thông hiểu tiếng nước ngoài”, có liên hệ nhiều với bên ngoài mà được nhờ cậy. Đúng là hướng của Hồng Bảo nhắm tới khi ông tính chuyện trốn đi, mong ước sự giúp đỡ của lớp người có đạo, lớp dân mới của ông có sự yểm trợ rõ ràng của một sức mạnh không chối cãi.</p>
<p>Vụ loạn Đinh Đạo và “giặc Chày Vôi” (1866) xảy ngay ở Hoàng thành làm ông vua yếu ớt, già bệnh bớt thêm sự kính nể, để các ngôn quan chen vào chê trách. Nhân vật chống đối quyền vua như Đoàn Trưng mà văn thơ biện minh cho hành động của mình mang tiêu đề “Trung nghĩa ca” còn giữ cho người sau, chứng tỏ có một thành phần tán đồng đã không bị khuất lấp. Hình ảnh thần quyền của ông vua nói chung bị thương tổn làm tăng sự kiêu ngạo của các đại thần khi có khủng hoảng kế vị, trước những ông vua “có tì tích” như trường hợp Dục Đức. Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường phế được Dục Đức thì cũng có đà để giết Hiệp Hoà, người chủ trương hoà hoãn để trị cường thần. Vua không chịu uống thuốc độc thì vạch miệng vua đổ vào, người giết vua về sau chết trong ngục vì tội khác!</p>
<p>Ngay khi ngồi trên ngai, được tuân phục, ông vua cũng vì những tình thế phức tạp mà gây sự lúng túng cho các quan chức, phải chọn phe phía theo sự trôi nổi của tình thế xảy ra. Kí hoà ước với Pháp, kẻ theo người chống, ai còn giữ được cái mạng hay tiếng tăm, đôi khi chỉ là chuyện tình cờ. Nạn nhân khoa bảng đầu tiên ở xứ Nam Kì là Đồng Tiến sĩ Phan Hiển Đạo. Ông này làm Đốc học Định Tường, từng mộ quân chống Pháp lúc đầu, khi đất thuộc về chủ khác đã biết tìm các tránh né ân sủng mới, nhưng về lâu về dài cũng “theo thời” để treo cờ Tây, mặc áo quần Tây. Thế là bị ông Khâm sai Phan Thanh Giản và các quan khác tố cáo. Nghe tin buộc tội, tuy biết chắc là triều đình không với tới mình được nhưng ông cũng đến trước mồ cha thắt cổ để tự thanh minh, để lại cho người sau, kẻ nào biết nhìn đời với con mắt khoan dung hơn, thấy ra một trường hợp xung đột bi đát của hiện thực và lí tưởng.</p>
<p>Hoàng Kế Viêm chống Pháp không xong còn chạy về được Huế sau trận mất Hưng Hoá để tiếp tục làm quan. Nhưng các ông quan khác của triều đình: tuần vũ, tán tương, ngự sử&#8230; nếu không bị quân Thanh giết thì theo thời thế lãnh quan chức Trung Quốc chống Pháp, chết trên trạn tiền hay lưu lạc theo các toán quân lui về bên kia biên giới, chết nơi đất khách, mở đường lưu vong như Tôn Thất Thuyết về sau. Chút vướng víu với tổ quốc trước khi thất bại, giúp họ không phải bị người sau hặc tội lãnh quan chức của một phe, không tránh khỏi có lúc là phe địch. Đó là trường hợp Phan Liêm, con Phan Thanh Giản, chống Pháp, bỏ chạy về Huế, lãnh quan chức cầm quân đánh dẹp Cần vương của thời hỗn hợp. Có nghĩa là người Pháp đã khiến cả một hệ thống quyền lực trung gian phải tan rã, không phải như một tình trạng thất nghiệp chính trị mà là cả một sự mất mát ý nghĩa giá trị tồn tại.</p>
<p>Mầm mống Gia Tô không phải làm phân hoá xã hội theo hai phe rành rẽ mà còn vạch ra những hướng phức tạp hơn. Có ít nhưng vẫn có người theo đạo không rời bỏ đất nước trong cái thế hợp tác chông chênh: Nguyễn Trường Tộ đưa bao nhiêu bản điều trần cứu nước là điều nay đã rõ ràng nhưng công trình tham dự xây cất nhà thờ trên đất Sài Gòn mới thuộc Pháp cũng là chứng cớ để người chống đối có cớ công kích. Dấu vết “đạo” không được nêu ra nhưng là căn cứ sâu kín để có kẻ bác bỏ sự thành tâm của con người không tìm được chỗ đứng kia. Chưa kể những chứng dẫn thời sau mà người gần đây đưa ra để bào chữa “Công Giáo không theo Tây”, từ 1874, giữa trào lưu Sát tả rầm rộ vẫn có “Nghĩa khuyến giáo dân tân cựu ca” của Lê Di Trung khuyên giáo dân sống tuân thủ luật đạo, đời để xây dựng đất nước, khôi phục Nam Kì (Cao Tự Thanh 1999). Có những người bị bách đạo, tự tìm được điểm hoà hợp giữa lí tưởng cũ và mới để giữ vững niềm tin của mình. <em>Thực lục </em>1839 ghi nhận có hai người lính tỉnh Nam Định, bỏ địa phương đến Huế kêu cầu: “Ông cha chúng tôi đời đời theo đạo Gia Tô, năm ngoái chúng tôi nhảy qua giá thập ác là do quan tỉnh bắt ép, nay vẫn xin theo đạo ấy để giữ vững đạo làm con”. Nghĩa là, đối với những người này, đạo mới không mâu thuẫn với truyền thống mà lại được truyền thống chữ Hiếu củng cố thêm niềm tin, dù là phải dẫn đến cái chết.</p>
<p>Về phía khác, một lớp người theo đạo mới thấy mình được dịp tạo lập công danh dễ dàng, quá dễ dàng hơn là nằm nghiền ngẫm kinh sách. Trần Bá Lộc, “bồi” của Philastre, theo thời thế tổ chức quân đánh dẹp, tự chế cả ấn Khánh Thuận Tổng đốc Quan phòng để đi đánh Bình Định, Phú Yên. Lại còn có các toán lính tập, mã tà Nam Kì tham dự chiến dịch Bắc Kì từ 1984, như phải có trong dự án 27-4-1883 trình lên Quốc hội Pháp, phối hợp 3000 lính viễn chinh có “1000 lính An Nam”.<em> </em>Những người đó đã mang trong đầu óc một hình ảnh trung thành mới, hay ít ra, đã không có ông vua trong đầu nữa. Chưa kể nhân vật Trương Vĩnh Ký, là minh chứng về một trường hợp vượt nhiều thế kỉ văn hoá mà chỉ qua một sự tiếp xúc dù sao cũng là còn trên vùng bên lề (Penang, và các tiếp cận cá nhân), cả khi đến được nơi tràn ngập dòng chính thì chỉ là nhân viên phụ thuộc một phái đoàn (Phan Thanh Giản) điều đình thất bại. Nghĩa là với thời gian, sự mất quyền lãnh đạo ở Việt Nam không chỉ giản dị là có một triều đại đã sụp đổ mà là có một quan niệm quyền bính đã đi qua, với một số người, là không thể nào trở lại được với danh nghĩa cũ nữa. Nền móng quân chủ bị lung lay đến tận gốc.</p>
<p>Tất nhiên là theo với thời gian thì cũng có những yếu tố mới xen vào, nhưng cứ so sánh hai nền quân chủ Kampuchia và Việt Nam sau 1945 thì thấy sự khác biệt do bởi sự đảo lộn về trước. Norodom Sihanouk vẫn là thần tượng của dân chúng đến nỗi Pol Pot còn phải nhờ cậy ông một thời gian, còn ông Bảo Đại thì khi trở lại cũng không có chút hào quang quân quyền nào ngay trong vùng mình quản lí – sự sa sút cũng có phần thừa hưởng từ việc cha ông bị thần dân mắng chửi tàn tệ (Ngô Đức Kế: <em>Ai về địa phủ hỏi Gia Long, Khải Định thằng này phải cháu ông”</em>, Phan Châu Trinh: <em>Thư Thất điều</em>) mà hành động, ngược đời thay, vẫn là do chút bám víu vào oai quyền của người Pháp, nhờ họ tách rời vua với dân!</p>
<p>Ấy thế mà vấn đề chiến tranh, xung đột quốc gia cũng còn phải chịu đựng những hệ luỵ của quá khứ, của tính chất địa chính trị trong vùng. Sự xung đột văn hoá quá gay gắt không chỉ va chạm đến sự sống còn cụ thể mà còn động đến cả tâm tình sâu kín của con người thành tựu qua năm tháng lâu dài. Đã nói, khi còn yên vị tương đối, Tự Đức còn thấy khổ tâm về việc mượn quân Thanh dẹp loạn biên giới. Nhưng khi quân Thanh sang về sau (1882) dân Bắc đồn rằng “Người Thanh đến để tranh Bắc Kì với người Pháp”, rõ ràng biểu lộ nỗi lo sợ bị chiếm đóng thì Tự Đức gạt đi, bảo rằng đó là “Lấy lòng kẻ tiểu nhân đo bụng người quân tử, người nước Thanh đâu có làm việc bất nghĩa như thế!” Người báo cáo sự việc, Tuần vũ Hưng Hoá Nguyễn Quang Bích, sau này sẽ lãnh quan chức Thanh đánh Pháp như lời vua dạy. Về phía khác, lời Tổng trú sứ đầu tiên Rheinart gởi cho Thống đốc Nam Kì Thomson tất nhiên có điều gay gắt nhưng cũng cho nhận ra được một tình thế xung đột văn hoá giữa tiếng súng đạn và cảnh máu đổ xương tan: “Triều đình Huế chắc cũng hối hận chuyện nội thuộc nước Tàu nhưng tôi chắc rằng họ muốn trở thành một tỉnh của nước Tàu hơn là nhận ta bảo hộ, mặc dầu ta cho họ nhiều lợi ích và để họ tự chủ trong việc cai trị. Người Tàu là chú hoặc anh, chúng ta là mọi rợ. Chế độ Tàu sẽ thay đổi rất ít đến tập tục của các quan, còn phụ thuộc ta là một điều nhục nhã còn khó chịu hơn là tự tử”. Nhận định của Rheinart có thể làm người bây giờ nổi giận nhưng quả thực đã có tình hình các ông quan thấm nhuần kinh sách đến có khuynh hướng thần phục ẩn tàng, ví dụ khi trọng nể cả một anh “Tiến sĩ” Trung triều (Thái Đình Lan, chỉ vừa đỗ Cử nhân) bị bão dạt, lang thang về xứ (1835-36), mà lại được quan tỉnh khúm núm đưa tiễn tiền bạc cung phụng, kể cả lúc lỡ đang phơi áo bắt rận! Nhìn từ bên ngoài như Rheinart, hay thốt lời tự thú bên trong như Tự Đức, đã cho thấy mối tương quan Thiên triều phiên thuộc không thể dễ dàng dứt bỏ khi người cầm quyền Việt Nam thấy động đến sự tồn vong của mình. “Thân Tàu” là một khuynh hướng trước khi có biện minh của lí trí xen vào. Và tuy lịch sử là của con người làm ra nhưng những con đường mòn của quá khứ vẫn rất dễ hấp dẫn những bước chân chuệnh choạng đang đi tìm lối.</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>PHỤ LỤC</strong></p>
<p><strong>HOÀ và CHIẾN </strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Ý kiến của Khâm sai Đại thần Nguyễn Bá Nghi sau khi thất thủ Định Tường:</strong></p>
<p><em>Thực lục chính biên, </em>việc tháng 4âl. 1861 (bản dịch, tập VII, tr. 715-717):</p>
<p>Sự thế Nam Kì. duy việc giảng hoà còn có thể làm được. Nếu không như thế sẽ có việc lo ngại khác&#8230; (Tờ tâu đại lược nói): Tôi vẫn nghe người nhà binh nói: người Tây Dương tàu thì chở đi như bay, súng thì bắn suốt thành đá vài <em>nhận,</em> bắn xa hơn 100 dặm. Có được vài thứ binh khí ấy, muốn đánh khó lòng đánh lại họ, muốn giữ cũng khó lòng giữ được họ. Nhưng lòng tôi vẫn chưa tin. Mùa xuân năm Thiệu Trị thứ 7 thuyền Tây Dương đến Đà Nẵng bắn phá 5 chiếc thuyền bọc đồng lớn của ta không đầy vài khắc. Lúc ấy tôi quyền Bố chánh Quảng Nam, chính mắt đã trông thấy mới tin là thật. Từ 3-4 năm nay, lính ta không phải là không dũng cảm, súng ta không phải là không mạnh, thành luỹ của ta không phải là không bền, thế mà không đánh được Tây Dương vì thuyền súng của họ rất tốt, đạn súng bắn đi xa mà mạnh đấy thôi. Nhưng các quan ở quân thứ, không biết tính sức mình sức giặc, miễn cưỡng đánh mãi đến nay mới có việc thất bại ấy. Tôi đến Biên Hoà, xét thấy tình thế đều là nguy bách. Bất đắc dĩ phải phái người đến trách hỏi viên nguyên soái của Tây Dương dẫu rằng tạm làm kế hoãn binh nhưng thực ra tôi thấy sự thể đánh và giữ đều không làm đươc. Không hoà thì không định được cục diện&#8230;</p>
<p>Lại xem khoảng năm Minh Mạng, Thiệu Trị, đánh giặc Khôi, Xiêm La, Cao Miên&#8230; thế mà lấy toàn lực&#8230; đánh một giặc Khôi phải ba năm mới xong việc, dẹp một nước Cao Miên cũng phải hai năm mới giảng giải xong. Nay hai tỉnh Gia Định, Định Tường là nơi quảng giữa trong 6 tỉnh, trên từ bọn Sơn Man, dưới đến cửa biển, người Tây Dương đã chiếm giữ được cả, còn 3 tỉnh Vĩnh Long, An, Hà thì cách trở không thông, Biên Hoà đã liền sáp với nó&#8230; Tuy 4 tỉnh ấy đều có thuyền nhưng khó đối địch với tàu của Tây Dương được. Cho nên tôi có nói rằng dẫu có nhiều thuyền quân cũng chưa dùng được là thế đó. Hiện nay Tây Dương đã chiếm cứ Gia Định, Định Tường, hoà hay không hoà chỉ một việc ấy ta đã thua thiệt rồi. Nếu hoà mà họ không trả lại hai tỉnh ấy thì ta chỉ thua thiệt có bấy nhiêu thôi, mà Biên Hoà, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên còn là của ta, đường bộ đường biển có thể giao thông được, để cứu cấp trước mắt mà tính cách thế về sau. Nếu ta cho thế là thua thiệt mà không hoà thì nó có chịu ngồi yên đâu, cả 6 tỉnh Nam Kì rồi cũng mất cả. Không có sự thực đánh giữ, chỉ phô trương hình thức, chỉ cho giặc chóng sinh lòng mà thêm tổn hại thôi. Cho nên gần đây tôi không đắp đồn luỹ, bớt việc trưng lương gọi lính, là vì cớ đó. Đấy là chủ ý của tôi. Duy quân Tây Dương yêu cầu quá đáng, tôi cố sức biện bạch, đã đến 4 lần, mà khí thế của họ rất găng, giở giọng dã man. Tôi đã lại nói như trước, cho là cắt đất bồi phí tổn như thế, thực là có chỗ không tiện, không chịu nổi, cho nên chưa dám y theo. Đã phái người đưa thư. Viên quan Tây Dương ấy nói rằng: “Việc ấy khó giải quyết, đợi mươi ngày nữa sẽ bàn lại”. Vả lại, cứ phái nhân về nói thì xem giọng nói, cách khoản tiếp của họ cũng như mấy lần trước, không có tình ý gì khác. Xem thế thì đủ biết ta không sinh sự với họ thì họ cũng chưa vội lấn át ta. Hãy đợi họ xem trả lời thế nào, sẽ tuỳ cơ mà làm. Hiện nay sự thế 6 tỉnh Nam Kì như thế, chỉ có một chữ “hoà” còn có thể làm được. Nhưng hoà thì một khoản mất đất ta đã thua thiệt. Bởi họ cho là của họ đã lấy được rồi, họ nhất vị cố giữ, ta cố kiếm lời biện bạch cũng khó. Còn các khoản khác, ta lấy lời biện bác, hoặc có thể bớt đi đươc. Cúi mong Hoàng thượng quyết đoán mà làm&#8230;”</p>
<p><strong>Phái chủ chiến</strong></p>
<p>Trong khi trần tình bênh vực ý kiến của mình, Nguyễn Bá Nghi cũng chen lời chê trách phái “chủ chiến” chỉ biết hô hào: Đánh! Nguyễn Tư Giản, phụ trách Đê chính ở Bắc Kì, nghĩa là thuộc lính-ngoại-biên, đã chống đối quyết liệt việc giảng hoà, động đến quan Cơ mật: Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, khiến Tự Đức cũng phải lên tiếng: “Hắn ở ngoài, không hiểu việc, cho nên câu nói thành ra bực tức, cũng là thói thường của nhà văn sĩ như (tổng đốc [Nam]Định [Hưng]Yên) Nguyễn Đình Tân thôi&#8230;” Mà càng đánh thì càng thua, càng thúc quân địch mở rộng khu vực chiếm đóng, nên theo Nguyễn Bá Nghi là còn có thể ngăn chận được bằng hoà đàm để còn “tính (được) cách (nào) về sau”. Thật ra, khác với những kẻ đánh hôi trong những sử luận thời bây giờ, những người chống đánh đương thời, ngoài các ông quan làm theo chức phận, rõ ràng cũng đã không kể đến hiểm nguy trước mắt. Nhưng họ có phần chỉ làm theo bổn phận được dạy dỗ hàng ngày, theo sự thúc đẩy vô thức của cả một nền tảng triết lí, quan niệm sống đã thành nếp, thành niềm hãnh diện sống để sự đối kháng đầy tủi nhục làm bùng lên nỗi tức giận không lí lẽ gì kềm hãm được. Và chỉ có thế mà thôi. Nghĩa là những người chủ chiến đương thời không phải hoàn toàn mang tâm tình “yêu nước” như người nay vọng tưởng.</p>
<p>Đã thấy quan niệm Di Man từ trên triều đình, theo một nền văn hoá tự cho mình là trung tâm cao vời, không kể đến sự hiện hữu của các giá trị khác. Và cái Không biết vẫn có sức mạnh của nó. Không biết cả ngay từ chính bản thân. Văn từ, tấu chương thường vẫn vẽ ra một vùng trời Nghiêu Thuấn tuy còn là cái đích hướng tới nhưng trước mắt thì xứ sở vẫn có vua thánh tôi hiền, lo cho dân an cư lạc nghiệp, có loạn thì bình trị, có đói nghèo thì đi chẩn cấp, biết biểu dương người hiền, tiết phụ, người cao tuổi&#8230; Khung trời an lạc đầy ảo vọng được phô trương mãi rồi cũng trở thành như một hiện thực để người ta phủ nhận những hiện thực khác với nó. Thói quen nói “chữ”, nói theo thời thế, thật ra cũng che chắn cuộc sống xấu xa, nói nhẹ hơn, cuộc sống có khuynh hướng xấu nhiều chung quanh họ, như ông quan Phan Thúc Trực đã ghi lại trong một tập sách chưa hoàn chỉnh. Di Man rõ ràng không thể nào bằng được Ta. Ý nghĩa đạo đức trong nền tảng hành động của Trương Đăng Quế khi đối phó với vụ Đà Nẵng 1858 đã nói ở trên, là lấy từ sức mạnh của cái Không biết về phần bên ngoài mình, tạo ra sự cương quyết của chính bản thân để người Pháp xếp ông vào hàng chống đối có hệ thống nhất.</p>
<p>Cái xấu che đậy bên trong được đùn đẩy ra bên ngoài, gán cho những tập đoàn khác, đặc biệt là “bọn Dương quỷ”. Và thế là có cách nhìn Thiên Chúa Giáo như di man khiến không phải chỉ có các biện pháp hành chính tàn nhẫn – thật ra là bình thường của thời đại – mà còn có cả toan tính bài bác bằng luận thuyết như trong cuộc thi Đình 1847 có hỏi về kế “trừ đạo”. Đó là ngọn lửa nung nhiệt huyết của những người chủ chiến, ngọn lửa không được nuôi nấng bằng thực lực của đất nước, để khi cùng đường thì lại cũng vẫn tìm đến mẫu người xưa cùng văn hoá: Thân Bao Tư kêu khóc ở sân Tần, mẫu người mà ông quan Nguyễn Tư Giản tình nguyện đi làm ở nước Đức xa xôi, nơi chắc ông cũng chẳng biết rõ là ở chốn nào.</p>
<p><em>Một điều đáng lưu ý khác ngoài lề trong cuộc tranh luận chiến/hoà này là chi tiết </em>Thực lục <em>nói rằng Nguyễn Bá Nghi đã gởi về triều cả các văn thư qua lại giữa ông với Soái phủ Sài Gòn nhưng nay thì ta chỉ thấy những lời trong tờ trình, mà cũng chỉ là tóm lược. Mớ chứng liệu vừa được nhắc nhở và sử dụng một ít gần trăm năm trước bởi các ông giáo trường làng (mượn chữ của Phạm Quỳnh: “hương sư”) BAVH, thì đến nay, các</em> Châu bản <em>lại trở thành khuất lấp, không thấy ai khai thác thêm trong các nghiên cứu tiếp tục. Nền sử học của ta nghèo nàn như hiện nay cũng vì không có một hệ thống văn khố, một quan niệm giữ gìn thư tịch, chứng liệu nhiều cấp độ dành cho đời sau. Muộn màng như triều Nguyễn với các Châu bản mà nay cũng bị rơi rụng nhiều. Và hãy nhìn cuộc chiến vừa qua. Những phe thất bại bị huỷ bỏ chứng tích, ngăn cấm tiếp cận không nói làm gì, ngay đến các sử gia chính thống bây giờ cũng gặp phải những ngăn trở dưới hình thức “vấn đề nhạy cảm”, gặp khó khăn trong những quy định lạ lùng chận đứng tiếp cận tài liệu, để rồi cũng từ tinh thần đó mà dấu tích về chính của phe mình cũng không nhiều. </em>Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm <em>mà không qua Mĩ, rồi trở lại Việt Nam đúng luồng, đúng thời thế thì cô bác sĩ tiểu tư sản kia chắc cũng vẫn nằm thui thủi ở nghĩa trang nào đó chứ không được dựng tượng đồng, đứng tên bệnh xá, có sách bestseller “mãi mãi tuổi hai mươi”, được lên phim ảnh có giải thưởng ăn-chắc. Các nghiên cứu thời hiện đại thật nhiều chi tiết cũng phải lấy dè dặt từ các tài liệu ngoại quốc chứ sách vở của các danh gia trong nước thì vẫn nhiều lời rổn rảng, xưng tụng trong khuôn khổ, không bước được ra ngoài cái khung Văn kiện Đảng – hay có muốn mang tính trung thực thì vẫn thấy đột nhiên xuất hiện một thứ ngôn từ “yêu nước”, “yêu quần chúng” đã trở thành thiên tính thứ hai ẩn nấp từ trong thời gian đào tạo quá lâu dài! Cho nên có thể bước quá lãnh vực sử học, đi vào văn chương để giải thích vấn nạn : Tại sao Việt Nam không có một tác phẩm văn học xứng tầm với các biến chuyển lịch sử nó phải đương đầu?</em></p>
<p>.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16558/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sơ thảo: B&#224;i Sử Kh&#225;c cho Việt Nam &#8211; Chương XV</title>
		<link>http://damau.org/archives/16536</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16536#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Oct 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16536</guid>
		<description><![CDATA[Sự nhu nhược vài trăm năm đã trở thành truyền thống khiến cho Gia Long phải suy nghĩ để dằn nén trong hành động của mình. Nhưng dù sao thì đây là lần đầu tiên vùng đất phương Nam này giành được một tên nước có phần theo yêu cầu của chính mình chứ không phải là An Nam của chủ nhân thuộc địa ban cấp, hay là Đại Việt vay mượn của nước Nam Hán...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>CHƯƠNG XV:</em></p>
<p><strong>TỔ CHỨC XÂY DỰNG XỨ SỞ MỚI</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>Vấn đề tôn xưng quốc chủ và xác định danh vị cho đất nước thống nhất</strong></p>
<p>Sử quan Nguyễn đã ghi một mạch các sự kiện từ khi chiếm lại Phú Xuân ngày 13-6-1801 đến ngày Nguyễn Ánh vào Đông Kinh 20-7-1802: “Giặc Tây Sơn dẹp yên, lấy hết đất An Nam, tất cả&#8230; trấn.., phủ&#8230;” Sự xuyên suốt của văn từ như thế đã che lấp cả một tình thế phức tạp, từ quá khứ níu kéo người trong cuộc, dù là có một viễn vọng rộng mở trước mắt. Tây Sơn vượt khỏi sự ràng buộc của quê ngoại cũng phải nhờ người bên ngoài lôi ra khỏi vùng đất quen thuộc. Và bây giờ, khi thu phục kinh thành cũ, giết kẻ chống đối, Nguyễn Ánh cũng coi là đã hoàn thành giai đoạn “phục quốc” khi loan báo cho dân Gia Định biết mà nhắn qua Xiêm La, rằng “quân vua kéo tới, đã thu hết bờ cõi Nam Hà”. Có điều khác với Tây Sơn, là bây giờ hang ổ kẻ thù diệt tộc của Nguyễn Ánh lại ở trên đất cũ của Lê, chủ “nước An Nam”. Sự kiện đó như một thôi thúc lấn chiếm dễ dàng trước mắt mà cũng là một cản trở nặng nề trong vấn đề chính danh. Người thời bây giờ, quen với cái từ “thống nhất” trong đầu, thấy việc tiến quân qua sông Gianh là chuyện đương nhiên của lí lẽ nhưng điều đó không phải là đã dễ dàng giải quyết với đương thời. Cho nên, không phải chỉ vì Trần Quang Diệu còn chiếm thành Bình Định mà Nguyễn Ánh ngần ngại không nghe lời thuộc hạ thúc đẩy, chịu để Quang Toản yên vị ở Đông Kinh, đủ thì giờ đổi niên hiệu, tập trung quân lấn chiếm trên vạch ranh giới Trong/Ngoài cũ.</p>
<p>Khi phải tổ chức hành quân Bắc phạt, Nguyễn Ánh còn ngần ngại ra mặt về ý nghĩa tiếp sau của việc trừ khử kẻ thù của dòng họ: “Bắc Hà là nước cũ của nhà Lê.., sau khi bắt được tội nhân thì đối với nhà Lê sẽ thế nào?” Những người ít vướng víu với quá khứ cũng như danh nghĩa xa vời mà lại thấy thành công trước mắt bằng sức mạnh của phe mình, thì thấy vấn đề thật là dễ dàng: “Lấy Bắc Hà là lấy của Tây Sơn chứ lấy gì của Lê?” Danh nghĩa là từ chính quyền lực tạo dựng ra cho nên, theo họ, muốn không vướng víu gì với quá khứ, muốn không dùng niên hiệu của Lê thì hãy tạo niên hiệu riêng mà dùng, nghĩa là hãy tự xưng đế, đăt dân chúng trước một quốc chủ mới, một thời đại mới, cắt đứt những vọng tưởng hoài niệm quá khứ của những lớp người cũ. Ấy thế mà vướng víu của thành kiến thật khó xoay đổi dù với một người lập nên sự nghiệp bằng chính bản thân mình. Nguyễn Ánh vẫn đòi “để suy nghĩ” vì theo ông, đó là “việc lớn” quá. Cho mãi đến khi kẻ thuộc hạ đùn đẩy, ông cũng chỉ làm việc nửa vời: đặt niên hiệu Gia Long mà không có đế vị. Điểm kết thúc này phải chờ một hành động quen thuộc trong khuôn khổ truyền thống văn hoá chính trị cũ: <em>cầu phong. </em></p>
<p>Quốc hiệu mới từ tên muốn có: Nam Việt, qua tên thoả thuận cuối cùng: Việt Nam sau nhiều tranh cãi, cũng cho thấy một tương quan thiên triều &#8211; phiên thuộc mới có quá khứ lẫn lộn, phải dẫn đến sự điều chỉnh ngoại giao ranh ma. Sứ thần Lê Quang Định đi Thanh đòi đặt tên nước là Nam Việt, lấy cớ rằng đó là tên đã từng “được truyền nối 200 năm”, từ ông cha Gia Long trong công trình chinh phục hai vùng đất người Hán ghi trong sách sử: Việt Thường (Lâm Ấp / Chiêm Thành) và Chân Lạp. Nghĩa là một nước mới, không lệ thuộc gì vào các quá khứ phiên thuộc cũ. Tuy nhiên sao cái tên nước của Triệu Đà lại không chen vào trong ý nghĩ của Gia Long khi ông lần lữa với đế hiệu mà nhắc chuyện xưa như bước phải đi tới: “Nước ta từ thời Triệu Võ đến Đinh Lê Lí Trần đều xưng Đế”? Ý thức được sức mạnh của mình, Gia Long từng tuyên cáo chiến thắng Thi Nại, thu phục Phú Xuân cho các nước phía đông và nam biết. Nay với việc tiến chiếm Bắc Hà, ông còn nhận ra rằng nhà Thanh vốn sợ Tây Sơn từ trận Đống Đa, đã “lấy làm kinh dị” khi nghe quân Nguyễn thắng. Cho nên khi nghe triều đình Thanh không chịu tên nước mới vì trùng với vùng đất của Triệu Đà xưa thì ông lên giọng: “Không chịu thì không xin phong”. Sự thoả thuận đạt được không những chỉ nhờ một cách diễn giải khéo léo của Thanh mà còn bởi thực tế Gia Long phải chịu đựng trên phần đất mở rộng của mình.</p>
<p>Từ quá khứ của ông cha lúc muốn thành lập một nước mới vẫn phải nghĩ đến sự cầu phong (Chu Thuấn Thuỷ với chúa Hiền, Thạch Liêm Hoà thượng với Quốc chúa) Gia Long biết không thể đi ra ngoài khuôn khổ cũ, nhưng với thực lực mới, ông chỉ muốn chuyện thực hiện nghi lễ gói trọn nơi vùng biên giới thôi. Ấy thế mà truyền thống giao tiếp với phương Bắc lại nằm trong tay các nhân sĩ Bắc Hà, thuộc hạ mới của ông. Cần họ, ông đã lưu ý tha các sủng thần của Quang Trung: Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan, Ngô Thì Nhậm dù có sự moi móc của Đặng Trần Thường, công thần mới. Tuy nhiên người cũ không thể nào đổi mới ngay, nên đám hàng thần không thể tán thành ý kiêu ngạo của Gia Long, mà cũng không dám phản đối chúa, chỉ nói lửng lơ: “Chuyện (chịu nhận sắc phong ở biên giới) ấy chưa từng có”. Sự nhu nhược vài trăm năm đã trở thành truyền thống khiến cho Gia Long phải suy nghĩ để dằn nén trong hành động của mình. Nhưng dù sao thì đây là lần đầu tiên vùng đất phương Nam này giành được một tên nước có phần theo yêu cầu của chính mình chứ không phải là An Nam của chủ nhân thuộc địa ban cấp, hay là Đại Việt vay mượn của nước Nam Hán buông bỏ mà không bao giờ có chính danh trên trường ngoại giao.</p>
<p>Thực ra hình như cái tên Việt Nam cũng lại là một dấu vết ẩn khuất hơn của quá khứ. Nếu cứ tin vào văn bản của <em>Dư địa chí </em>lưu lại thì cái tên Nam Việt vốn của Triệu Đà cũng theo đà bản xứ hoá lâu ngày mà thành tên nước trong khẩu ngữ của thần dân Lê. Thế rồi theo sự lẫn lộn văn pháp Hán/Việt, ngược/xuôi trong đời sống, Nam Việt cũng có thể gọi là Việt Nam như trong bản sách còn lại của ông công thần Nguyễn Trãi. Và tất nhiên cũng được ghi nhận một chừng mực nào đó ở Đàng Trong để Minh Mạng (4âl. 1836) gợi từ kí ức, và Gia Long có thể nói đến việc “khôi phục danh hiệu cũ” khi đã “vỗ yên toàn cõi Việt”. Sự dàn hoà là nằm trong tình thế: ai có cách hiểu của người nấy. “Việt Nam” của Thanh chỉ có nghĩa là “phía nam của vùng ‘Lưỡng Việt ở nội địa’”, không thể gây tranh cãi với lãnh địa của Triệu Đà nhưng với Gia Long thì do lẽ dẫn trên, tên Việt Nam cũng có thể chấp thuận được. Huống hồ Càn Long lại chêm thêm một chút phỉnh nịnh phiên thần mới: Việt Nam là tên gọi bao gồm Việt (Thường) và (An) Nam, không những đúng với quá khứ Gia Long trưng dẫn ông cha đã chiếm hữu mà còn đúng thêm với hiện tại bao gồm đất nhà Lê do chính ông thâu đoạt được. Thế là khi về lại Kinh sư, ngày 17-2âl. (1803) tuyên cáo cho dân nước, cho Xiêm La, Lữ Tống, cho thuộc quốc Chân Lạp, Vạn Tượng biết tên Việt Nam mới, đã có lệnh ngăn cấm “không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa”.</p>
<p>Danh nghĩa được chuẩn nhận đúng theo truyền thống khu vực như thế mà mãi đến gần ba năm sau, Gia Long mới xưng đế hiệu. Tại sao? Chỉ vì <em>Di chứng sông Gianh </em>không phải dễ dàng xoá bỏ bởi một cuộc tiến quân.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Tổ chức quốc gia và phản ứng buổi đầu</strong></p>
<p>Trong chiến tranh, Nguyễn Ánh là vị chỉ huy tối cao, đưa tính chất quân sự nổi bật xuyên suốt đến người thừa hành nên tướng lãnh khi ra quân đều phải vào lạy chào vua và hoàng hậu khiến cho ông nhà giàu đất Gia Định: Võ Văn Lượng, một thứ Triệu Cái nuôi Tống Giang Phò mã Võ Tánh, phải cằn nhằn: “Ai lại làm tướng mà đi lạy đàn bà!” Thế nhưng việc quản trị đất đai, dân chúng cho nhu cầu tranh chiến cũng phải cần một tổ chức càng lúc càng phức tạp hơn khi vùng lấn chiếm càng mở rộng, không những chỉ trên các khu vực của dòng họ từng ngự trị nhưng cũng đã đổi thay bao năm dưới quyền kẻ địch, mà thêm còn là của dòng họ khác, từng giữ vị trí trên-trước trong tiến trình tạo dựng theo một khuôn mẫu chuẩn cho cả vùng Á Đông từ thời rất xa.</p>
<p>Chiếm lại đất cũ, Nguyễn Ánh có thuận lợi là cứ theo nếp cũ của cha ông để mỗi đơn vị chiếm được thì cứ gọi là Dinh với các chức Lưu thủ, Cai bạ, Kí lục coi sóc. Nhưng thực tế quản trị đi theo với đà mở rộng đất đai, dù là còn trên đất Đàng Trong cũ, cũng làm phát xuất những vấn đề mới, huống hồ còn triển vọng nhắm vào đất Bắc chắc chắn không vuột khỏi tay. Với tình hình đang có chiến tranh thì tiếng nói đổi thay không phải của những ông quan từ hàn mà là võ tướng có văn học. Nguyễn Văn Thành nổi trội trong các tướng cầm quân của Nguyễn Ánh, không chỉ dừng lại ở chỗ đổi niên hiệu mà còn lo toan (cuối 1801) đến “việc chính trị kế tiếp lâu dài&#8230; xin sắc cho bầy tôi tìm tòi điển cũ, châm chước bàn bạc&#8230;” Và thực tế cấp thời là việc sắp xếp, dành một chừng mực quyền hạn cho người cầm đầu các Dinh trên đất Đàng Trong thuộc Tây Sơn cũ để kịp ứng phó với tình thế mới. Chức Lưu thủ (và các phụ tá hành chính) chỉ mang ý nghĩa là viên quan sai phái từ trung ương đến địa phương để quản trị dân như một phái viên hành chính – dấu vết quá khứ đó còn xuất hiện lại năm 1801 trên một số vùng được thu hồi. Tuy nhiên tiếng là “chiếm lại đất cũ” nhưng thật ra bây giờ cũng là đất địch: “Dân Nam Hà vốn thói tằn tiện, từ thời Nguỵ Tây quen chuộng xa xí, tiêu dùng không có tiết độ&#8230; lưu tệ từ đấy sinh ra”. Vì thế phải có một hình thức quân quản, bằng binh lực tại chỗ, như ý của Nguyễn Văn Thành đề nghị cho các vùng từ Bình Thuận đến Quảng Bình, đặt tinh binh dưới quyền võ tướng coi sóc để ứng biến kịp thời trong khi chờ lệnh từ trung ương xa. Tính chất quân quản, phân quyền một chừng mực cho địa phương đó sẽ trở thành thực tế cần thiết khi quân Nguyễn “lấy hết đất An Nam” của Lê, nơi dù với bao nhiêu chuẩn bị dư luận, phô trương danh nghĩa cũng vẫn là mang ý nghĩa bị chiếm đóng.</p>
<p>Mười bốn trấn, 47 phủ, 187 huyện, 40 châu là một thực thể mới còn nhiều khác biệt, thế là phải thành một đơn vị riêng, một Bắc Thành với một Tổng trấn, đầu tiên giao cho Nguyễn Văn Thành, như mọt trung ương thu nhỏ với ba cơ quan gọi là Tào: Hộ, Binh, Hình với một chừng mực quyền hạn làm trước tâu sau. Danh vị “trấn” của Tây Sơn lúc đầu vẫn giữ với những người quản trị mới là các tướng, quan văn Nguyễn trong đó không thiếu những người vốn là hàng thần Tây Sơn.<em> </em>Lại cũng Nguyễn Văn Thành, con người xuất sắc đủ mọi mặt, đã nghĩ ra việc “tái huấn luyện” những người đồng liêu võ biền lớn nhỏ để họ đủ sức ứng hợp với tình thế mới, không những là giải thoát bản thân để họ tiến bộ mà còn củng cố cho triều đại chiến thắng tiến bước trơn tru hơn. Chính ông đề nghị (đầu 1807): “Xin đặt kinh diên, mỗi tháng cứ các ngày 2, 12, 22 thì có quan đến giảng sách”. Gọi là “các quan văn võ từ hàng tam phẩm trở lên đều được nghe giảng” nhưng rõ ràng đó là một hình thức bắt buộc nhẹ nhàng. Vua học, quan học.</p>
<p>Thực tế quân quản ở địa phương trở thành chấp nhận được nên đầu năm 1808 các Dinh ở Gia Định được cho đổi thành Trấn, mở đường cho một tập họp “Thành” như phía Bắc, để nửa năm sau là có chức Tổng trấn trao cho Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân vốn được trông coi gần như liên tục từ những ngày Nguyễn Ánh kéo quân Bắc phạt. Một số Dinh ở khoảng giữa nước cũng đổi thành Trấn để có một tổ chức diện địa toàn quốc với sự thống thuộc, lạ lùng thay lại gần giống như thực trạng Bắc, Trung, Nam Kì sau này: Bắc Thành 11 trấn nội, ngoại, Gia Định Thành 5 trấn, và ở giữa là các trấn Thanh Hoá (nội, ngoại), Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình (Khánh) Hoà, Bình Thuận, với 4 Dinh của Kinh Kì (Trực Lệ Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam).</p>
<p>Thế là cân xứng với một tổ chức quản lí tập trung ở trung ương với kinh thành Huế bắt đầu xây cất (mùa hạ 1804) cho hợp với đất nước mới. Đã có đủ Lục Bộ Thượng thư cuối 1809, nhưng không có chức Tể tướng / Thừa tướng nên vai trò Chỉ huy của Gia Long vẫn là tuyệt đối theo với quan niệm tập trung quân quyền không chia xẻ. Quy định quan chức cũng được ban hành với thứ bậc vượt cấp là hàng nhân vật của dòng họ vua, có khuynh hướng chung là văn được quý trọng hơn võ nhưng trong thực tế điều hành của buổi đầu ổn định thì rõ là việc tổ chức binh bị, chinh phạt, các võ tướng được nhắc nhở nhiều hơn hết. Hệ thống quan chức đó được nuôi dưỡng bằng cơ sở đất ruộng do nhà nước làm chủ nên có một hình thức quân điền bàn tính việc phân phối quyền lợi đến cả người dân thấp kém nhất, tuy lí tưởng ấy không dễ dàng thức hiện được. Từ tháng 10âl. 1810 bắt đầu làm địa bạ cho các tỉnh từ Quảng Bình trở ra Bắc, công việc rồi sẽ tiếp tục và phần lớn còn giữ được đến ngày nay như một bằng chứng hiểu biết chi li lãnh thổ chưa từng có. Cho nên trước khi nhắm mắt (1820), Gia Long còn thấy được bản trình tấu về tổng kết số đinh điền trong nước. Từ đà phát triển trong chiến tranh, tổ chức làm đường thiên lí, tổ chức vận chuyển đường thuỷ dần dà ứng hợp với vùng quản trị rộng lớn trong thời bình. Dòng lưu chuyển thương mại mở rộng đã khiến cho hệ thống tiền tệ tạo thành không chỉ là loại đồng, kẽm thấp giá trị được đúc dồi dào mà còn thấy các loại quý kim bạc, vàng dưới hình thức cân lạng có tiêu chuẩn ngang giá trong ngoài.</p>
<p>Rõ ràng tình hình đã không chừa cho sự ngưng nghỉ khiến cho Gia Long phải cảm thấy mệt mỏi trước nhiệm vụ mới nên có lời dò hỏi ước mơ mà viên quan khởi cư chú nào đó khi ghi lại, chắc đã không nhìn ra hết ý nghĩa của nó: “Nghiêu Thuấn vô vi nhi trị là nghĩa thế nào?”</p>
<p>Trong việc lo toan xây dựng đất nước mới, Gia Long chưa phải bận tâm về những phản ứng trên vùng căn bản của mình. Ông đã từng khen: “Gia Định đất màu mỡ&#8230; binh mạnh của giàu&#8230; dùng đấy đánh giăc Tây Sơn”, và lạc quan: “Sau vài trăm năm nữa ngày càng thêm giàu mạnh, không thể lường được”. Cũng thật là phải, sự bất mãn của từng người dân, người lính thì không thấu lên đến triều đình, đi vào sử sách, nhưng thực tế họ thấy còn không gian để trốn chạy, hay ít ra là còn chỗ để di động. Chứng nhân ngoại quốc đã thấy người “cochinchinois” trên đất Xiêm, hay chính ngôi đền Nguyễn Hữu Cảnh trên đất Cao Miên, chứng tỏ là họ từng có mặt đông đúc ở đấy mới xây đền nhờ ông quan Chưởng này bảo trợ họ từ trên cõi thiêng – và càng đông theo với chiến thắng Tây Sơn để Gia Long cũng phải bảo vua Miên đuổi về xứ! Chỉ sau này, khi tình thế khó khăn nổi bật hơn xua bớt sự lạc quan buổi đầu, người ta mới nói đến tình trạng đất Gia Định thừa chỗ trống cho giặc cướp ẩn nấp, gây loạn tương đối lớn với “Chánh trấn Hậu Giang Đại tướng quân” tên Sâm bị bắt, giết (tháng 10âl. 1809). Chiến lợi phẩm thu được đến hồi toàn cục, đủ cho Gia Long thấy rộng tay trả nợ cho các nhà giàu Gia Định trước kia cho vay mà không hi vọng được hoàn trả. Còn dân chúng chịu đựng cực nhọc đã quen thì lại là dịp cho người cầm quyền thực tế như Gia Long coi như dịp may không trở lại, bắt buộc chịu đựng tiếp trong việc xây dựng thành trì, công sự, không màng đến lời can gián của các quan và sự phê phán của người ngoại quốc (Jh. White 1819). Những rắc rối mới đối với dân chúng cũng chỉ là những vấn đề cũ trên mọi chính quyền khác thôi.</p>
<p>Chiến tranh cần đến nguồn lợi núi rừng thì Nguyễn Ánh đã găp phản ứng từ nhóm được sử quan gọi là Ba Phủ (Ch’ru?), từng có lúc cản bước Bắc tiến của quân Gia Định. Chiếm lại đất cũ xong là Gia Long gặp lại nhóm “Mọi Đá Vách” (“Mọi Ba Tơ,” “Mọi Trà Bồng” thuộc tộc Hrê, Sedang) sừng sỏ đến phải sử dụng danh tướng Lê Văn Duyệt mà nếu hơi lơ là thì vẫn có hao quân, tổn tướng. Thế còn nói gì đến cả một vùng đất “An Nam” cũ.</p>
<p>Vận dụng lí luận chính nghĩa từ trên lí thuyết bậc cao cọng với thực tế quân lực chưa là đủ, Gia Long còn sử dụng chiến thuật liên kết hôn nhân xưa cũ với hai dòng họ trước kia. Con gái út của Lê Hiển Tông (Lê Thị Ngọc Bình) chắc cũng không còn trẻ nữa nhưng cũng được gọi vào cung sinh ra Nguyễn Phúc Quân, Nguyễn Phúc Cự. Bà không hưởng chức lâu dài, chết đi (8âl. 1810) được phong là Đức phi, cũng đủ cho dân làng quê ngoại Ngọc Hân ngày nay níu lấy làm bà con, xây đền to lớn cho xứng với vùng đất đã sản sinh đến ba (?) bà Hoàng hậu! Dù sao cũng còn hơn một bà thứ khác, họ Trịnh, tuy cũng có con (Nguyễn Phúc Quang) nhưng chỉ mới ở bực Mĩ nhân! Địa vị chính thống đã khác thì họ Trịnh chỉ có thể lãnh đất thừa tự 500 mẫu, tuy vẫn không là nhỏ. Con cháu nhà Lê, Lê Duy Hoán, ngoài phần phong cấp rộng lớn (ruộng thờ cúng 10 000 mẫu, dân 1016 người) còn thêm một quan tước triều đình như một chứng tích thừa thải, không thể tránh khỏi hoạ diệt vong. Cả đến khi giết Duy Hoán (1816), Gia Long cũng chỉ thay người thừa kế mà không tước bỏ quyền lợi, danh hiệu tế tự.</p>
<p>Gia Long không thể cai trị đất Bắc như trên một xứ thân thuộc. Khác biệt đầu tiên ông thấy là thuộc dấu vết bên ngoài – “dân Bắc ăn mặc không đẹp” nhưng nhận xét đó lại cho thấy sự nghèo nàn của vùng ông vừa chiếm được so với đất cũ của ông, một bằng chứng mà chắc ông không biết rằng đó cũng là một nguyên nhân gây bất ổn thường trực. Căn bản khác biệt đó sẽ làm trầm trọng thêm một tình hình chiếm đóng không tránh khỏi. Các tướng, quan giữ những đơn vị trấn cũ của Tây Sơn có phần là người của Tây Sơn, kể cả những người đầu hàng rất muộn: Trương Phúc Phượng bỏ quân thượng đạo của Trần Quang Diệu, Đại đô đốc Lê Đình Chính hàng sau khi mất Phú Xuân, có thể cả Nguyễn Văn Kiên mà việc đầu hàng đã khiến Bùi Thị Xuân bỏ cuộc&#8230; Bởi vì càng về phần cuối chiến cuộc, các hàng tướng này càng là những người quen thuộc của đất Bắc, như Lê Đình Chính khi đầu hàng đã dâng bản đồ Bắc Hà nên khi xuất quân, Gia Long đã sai triệu hỏi về tình hình ở đấy. Ở Thăng Long, cựu Tư mã Nguyễn Văn Dụng trốn chạy với Quang Toản, bị bắt vẫn được gọi đến hỏi về tình hình việc hộ mà ông ta từng tham gia điều hành. Chắc vì vậy mà ta không thấy tên ông trong lần xử hình cuối cùng. Tướng lãnh Tây Sơn đầu hàng tuy bị nghi ngờ vì chạy qua chạy lại, bị tay chân Nguyễn mắng chửi nhưng nói chung không bị tận diệt như người ta có thể tưởng. Với thời gian, có người phục vụ lên đến tột đỉnh quyền hành mà nỗi truân chuyên của họ chỉ vướng luỵ chút danh hàng tướng khi thất thế, như Lê Chất, nhưng nói chung họ vẫn sống như những người khác cùng thời. May mắn nhẫn nhịn phục vụ như Nguyễn Văn Xuân, đến 80 tuổi được ông hoàng đế nổi tiếng khắc nghiệt như Minh Mạng coi là bậc huân thần đáng trọng nể! Hoạn nạn là do rủi ro trong nhiệm vụ, do kèn cựa lẫn nhau đưa nhau đến chỗ chết theo thực tế đương thời, không thể lấy công lao nào mà bù đắp được. Như Đặng Trần Thường, vạch tội nhóm sĩ phu Bắc Hà cũ khiến Gia Long đã tha tội họ mà trong tình thế cần mua chuộc công thần, cựu thần, dân chúng vùng mới chiếm đóng, đã phải đưa ra xử lại khiến Ngô Thì Nhậm bị đánh chết, nhưng cũng chính Đặng lại phải chết vì hàng thần Lê Chất, lúc lên làm Tổng trấn đủ sức nhớ thời bị mỉa mai: “Chất mà ‘bình Tây’ thì ai bình Chất?”</p>
<p>Với thời gian thì sự xung đột sẽ diễn ra theo với những kết hợp mới. Và kết quả thành bại, nặng nhẹ thì không phải chỉ tuỳ thuộc vào lẽ đúng sai. Ngô Nhân Tĩnh phải chịu lép với Lê Văn Duyệt. Kẻ nào dại dột tố cáo ông Tổng trấn Gia Định âm mưu bạo loạn thì chỉ có chết mà thôi, tuy rằng lời tố cáo liên hệ với cựu nguỵ Lê Chất sẽ được sử dụng sau này khi triều đình khép tội chết cho hai võ tướng ngày thường họ vẫn sợ hãi, nể phục. Khi Nguyễn Văn Thành rời trấn, quan dưới quyền đòi số công khố thâm lạm thì được Gia Long cho xoá nợ nhưng khi nêu ra vấn đề an nguy của quyền bính hoàng đế với bằng chứng, dù là mỏng manh nhưng với con người cụ thể (Lê Duy Hoán) thì vấn đề không thể nào dễ dàng bỏ qua được. Thế rồi dù người tố cáo chỉ là kẻ dưới quyền bất mãn rình rập, vạch được ra tội lớn, sự việc cũng có thể vẫn không nghiêm trọng nếu không có sức nặng của hai ông đồng liêu ngang chức Tổng trấn (Lê Văn Duyệt, Lê Chất), mang hiềm thù từ ngày còn xông pha tên đạn, hoặc với sự ganh ghét của ngày thường, khó thể hiểu lí do từ đâu! Các ông tướng đầy oai phong cũng không tránh khỏi sự gầm gừ của các văn quan nhỏ nhẹ bên cạnh vua như Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, hay các ông quan như Nguyễn Duy Hoà nhân danh kỉ cương triều đình, núp bóng “liệt Thánh” của vua để to tiếng kết tội, để chứng tỏ không sợ quyền lực mà thật tình chỉ là ba hoa mồm mép, phô trương “lập trường”. Tình thế nhốn nháo như thế khiến triều sĩ Bắc Hà Nguyễn Viên dù được tưng trọng cũng cứ đưa đơn xin từ chức.</p>
<p>Cai trị đất Bắc, Gia Long cũng biết phải dùng người địa phương. Đầu tiên là những tay chân cũ. Đặng Trần Thường là Thượng thư ngay từ lúc lập ra các Bộ. Các chiếu cầu hiền mở cửa công khai cho những tay chân gốc địa phương tiến cử người, như cũng Đặng Trần Thường đã lôi kéo tác giả <em>Truyện Kiều </em>ra phục vụ triều mới mà thái độ ẩn nhẫn, bất đắc dĩ khiến ông vua nhìn ra, trách móc&#8230; Không phải chỉ là mặc cảm, mà thực tế là có quan trấn thủ mới mang tính cách võ biền, người chiến thắng đã nọc các ông quan huyện cựu quan chức, cống sĩ của Lê ra đánh đòn khiến Gia Long phải lên tiếng trách mắng.</p>
<p>Rõ ràng trên đất nước mới, phần đất cũ của Lê đã nổi bật những vấn đề rắc rối thấy ngay ở những trang sách <em>Thực lục </em>mà có khi người chủ mới phải nhẫn nhịn. Chiếm đất thì phải biết số lượng người, số tài nguyên để có thể cai trị theo thực tế, thế mà phép Bình lệ của Phạm Công Trứ còn dai dẳng đến nỗi Tổng trấn đề nghị làm sổ mới thì Gia Long ngần ngại, và đến khi phải thực thi, thấy ra sổ bộ 1808 có số đinh đương thời sụt giảm so với sổ bộ xưa của Lê (193.389 / 268.990), ông vua cũng nín lặng, cho qua. Lần đầu tiên Gia Long phải quản lí một đồng bằng nhỏ hơn vùng ông đã biết ở phía Nam nhưng lại có các con sông dữ hơn, hung hăng hơn. Một Nha Đê chính của Bắc thành được lập ra mà người trưởng trông coi cũng lại là Đặng Trần Thường. Vấn đề đê đập nơi này phải giải quyết thường xuyên, mà ý nghĩa cấp thiết của nó đã gây lúng túng không ít cho triều mới, cũng giống như trong quá khứ. Vỡ đê gây đói khổ, gây loạn lạc không phải chỉ vì tính cách khiếm khuyết toàn bộ mà có khi vì tranh chấp địa phương: nơi này úng thuỷ, nơi kia cần nước, lần đầu tiên các nhà chức trách gốc Nam biết người ta đánh nhau vì “giành nước!”</p>
<p>Tính chất cai trị khó sâu sát ngay từ buổi đầu trên một tập họp dân chúng được buông thả dài lâu qua những chính quyền lỏng lẻo vì đổi thay, làm tăng thêm những vấn nạn tiếp nối khiến đất Bắc đầy loạn lạc từ những đám giặc cỏ sót lại thời trước, mới nổi hồi sau, một khi phối hợp được nhiều yếu tố thuận lợi thì thành những quấy động lớn, kéo dài không chỉ trong thời Gia Long, khiến Minh Mạng phải hỏi quan triều: “Sao (giỏi như) Lê Chất (mà) không bình được Bắc Thành?” Các sử gia địa phương mang lập trường giai cấp tân thời ngày nay thì lại coi đó là những “cuộc khởi nghĩa nông dân”, là hậu quả phải có của một “chế độ phong kiến thời suy vong” của những tên vua phản động, sẽ dẫn đến tình trạng bán nước tất nhiên về sau.</p>
<p>Dù sao thì Gia Long cũng đã xứng đáng là người, không những mở đầu triều đại cho dòng họ mình mà còn là người đặt căn bản cho một đất nước rộng lớn sau khi tóm thâu bằng cả sức lực, tâm trí của mình. Khi ông chết đi, một Kinh thành đã được xây dựng bề thế đến mức làm một người ngoại quốc kinh ngạc (1819), cho rằng từ Madras đến Manille ông ta chưa từng thấy thành luỹ nào bề thế như thành Huế. Sự kiến hiệu của thành trì kiểu Vauban chứng tỏ thực tế từ lúc xây thành Diên Khánh (1793) đã làm đà cho những xây dựng liên tiếp về sau, nhất là trên đất Bắc đầy dao động. Vài tháng trước khi xây thành Huế đã có việc xây thành Thăng Long, như một tiền đồn mới, lại làm đề tài cho người cũ nhớ tiếc: <em>“Thiên niên cự thất thành quan đạo, Nhất phiến tân thành một cố cung”. </em>Ảnh hưởng của quá khứ chiến tranh cũng khiến Gia Long lưu tâm đến việc kiến tạo thuyền chiến, và đúc súng đồng từ các vũ khí, quân dụng tịch thu của Tây Sơn. <em></em></p>
<p>Ảnh hưởng Tây Phương còn lại mang tính cách biểu tượng nơi các ông quan Nhị phẩm Nguyễn Văn Thắng / Chaigneau, Nguyễn Văn Chấn / Vannier&#8230; lấy vợ, xây nhà trên đất kinh đô mong cắm rễ trên đất mới, không màng đến quê cũ nữa. Có vẻ họ cố sức trì níu cuộc đời được ưu đãi – vào chầu khỏi lạy, nhàn rỗi, khá dư thừa trong lúc các đồng liêu của họ lận đận với những cuộc đánh dẹp mới, dấn thân trong cuộc đời bấp bênh đầy nguy nan của thời hậu chiến như đã phân tích. Chaigneau từng dâng sách (1804) có tên <em>Thái Tây toán pháp, Thiên chỉ minh yếu luận,</em> rõ ràng chỉ là những sách toán, thiên văn căn bản mà lại đã được chuyển qua chữ Hán, nghĩa là phần kiến thức cũng đã lược giản đi nhiều. Cho nên lạc loài trong năm 1813, khi có quan chức đi Quảng Đông mua sách Macao và “lịch Tây” về thì cũng phải cần Chaigneau dịch ra (chữ Hán? Nôm?), lại thêm một hai tầng trung gian mù mờ nữa! Dấu vết Tây Phương lúc này chỉ như một quá khứ níu kéo – tuy khá mạnh trong lĩnh vực vũ khí, nhưng vẫn không đủ sức mạnh xoay đổi một đất nước ngập chìm trong những vấn đề cũ càng lúc càng cắm sâu vào văn hoá chủ thể trong vùng.</p>
<p>Bộ <em>Hoàng triều luật lệ</em> làm xong (1812), ba năm sau ban hành, vào mùa thu, đúng với thời gian truyền thống xét duyệt hình án, là điểm kết thúc một thời tạm bợ lâu dài, mở ra một khuôn khổ kỉ luật mới đem lại đỉnh cao tập trung quyền bính cho triều đại theo với cương vực rộng mở mà cũng là nhân tố của sự chao đảo tiếp nối. Người đời nay, hoặc với ảnh hưởng của loại luật pháp dân chủ phương Tây, hoặc đi theo với sự luyến tiếc “thời hoàng kim Hồng Đức” trong hồi tưởng về một Thăng Long huy hoàng nay tàn tạ, đã chê bộ “Luật Gia Long” này bắt chước sít sao luật nhà Thanh nên có nhiều điều khoản quá khắt khe, đại khái là thiếu “tính dân tộc”, hợp với tính chất một ông vua cõng rắn cắn gà nhà khởi đầu và những ông vua bán nước nối tiếp. Thật ra người ta đã làm rất kĩ như trong trong lời Tựa 1812 có chỉ rõ: Vua “thân tự sửa chữa”, trong tờ chiếu ban bố, có nhấn mạnh là đã “tham khảo điển cũ của bản triều, luật lệ đời Hồng Đức [‘đầy đủ nhất’ từ Lí Trần Lê], điều luật nước Đại Thanh, cùng những điều mới định gần đây, châm chước&#8230;” Chính vì sự “châm chước” đã kể mà sau này, khi muốn buộc tội chết cho Nguyễn Văn Thành, người ta đã lôi ra những điều khoản cho là ông đã bỏ vì tư ý, có thể là lấn át ý của vua! Từ đầu 1805, Nguyễn Tử Châu đã “dâng Hình luật” để vua và triều đình đọc, xem kĩ, rất kĩ như ý sử quan ghi lại. Thời thế đã khác, Trung Quốc không phải ở thời Đường mà luật Hồng Đức bắt chước, chính Trung Quốc cũng đã qua thời Tống, Mông Cổ để nhà Minh thừa hưởng uy thế quyền lực đàn áp người. Thế rồi khi dân Mãn Châu cai trị Trung Nguyên, chỉ chịu hoà hợp với người Hán trong chừng mực còn giữ vị thế trên trước thì những điều khoản hình luật khắt khe xuất hiện ở đó không phải là điều lạ. Quan tướng Gia Long đang cai trị trên một nước mà vùng đất chiếm đoạt ít ra cũng to rộng như phần căn bản của mình, nên nếu đặt luật, sao có thể chấp nhận sự lạc hậu trong luật xưa một khi tình hình thực tế thật hợp với bản luật khuôn mẫu có dưới tay, trong đó có điều khoản hẳn là họ đã từng đưa ra thi hành như trong lời chiếu cho thấy?</p>
<p>Cũng chính Nguyễn Văn Thành đề nghị làm “quốc” sử, nghĩa là soạn “thực lục” của dòng họ cai trị đương thời trên vùng đất được ghi chép cương vực trong bộ <em>Nhất thống dư địa chí </em>của Lê Quang Định vừa làm xong. Thế là cũng Nguyễn Văn Thành đảm đương chức Tổng tài đầu tiên. Không trách ông đã tỏ thái độ tự phụ, ít nhiều gì cũng là nguyên cớ dẫn đến cái chết về sau. Và sử của “tiền” triều cũng được nhắc nhở tới. Nguyễn Gia Cát đã dâng bộ <em>Đại Việt sử kí </em>hẳn là bộ <em>Toàn thư </em>nòng cốt, hoặc là cơ sở gợi ý cho việc “tái bản” các bản sách còn lại ngày nay. Triều đại mới cứ thế mà đi vào khuôn khổ cũ. Các chức điều hành Quốc tử giám được thành lập ngay (1803) với các nhân viên mở khảo khoá để chuẩn bị điều lệ rồi tổ chức thi Hương thực thụ. Khoá đầu (1807) với các trường thi Nghệ An ra Bắc, lấy đỗ 26 cống sĩ, chỉ năm sau là ra làm tri huyện ngay không phải dài cổ chờ bổ dụng. Tình hình khởi đầu như thế, mở đường cho các sĩ tử phía Bắc đi vào quan trường, có thể đã làm dịu tình hình xung đột Nam Bắc, ít ra là trên từng lớp cao. Kiến thức của họ là lạc hậu, “chỉ học Đường Tống để đi thi” như Phan Huy Thực nói nhưng cập nhật thời thế thì có toán Gia Định Tam gia với đồ đệ của họ, hiển hiện trên triều đường như Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng&#8230;</p>
<p>Gia Long trong thực tế tiến chiếm quyền hành đã từng sử dụng người của nhiều khu vực, chủng tộc. Tướng Chàm gốc “Phiên vương” đã mang họ Nguyễn, có phần chắc là nền tảng của lớp người Kinh Cựu trên vùng quê hương Bà Chúa (Nguyễn Thị) Thềm gần đây, hơn là gợi từ tâm tình lãng mạn níu kéo gốc gác xa tít của thời Huyền Trân thoáng qua chỉ một năm trên đất Chàm. Có tướng ở cấp độ Ốc nha đánh mướn cho Nguyễn như Cao La Hâm Sâm, có tướng bình dân gần như thân thuộc như Nguyễn Văn Tồn. Nhưng người Hoa cùng văn hoá được dễ dàng chấp nhận hơn những người khác. Ta đã thấy tướng Thiên Địa Hội Hà Hỉ Văn chết, được kể là Công thần Vọng Các dù ông ta chưa biết Bangkok là đâu. Cho nên việc sử dụng nhóm người Hoa đã có truyền thống từ thời các chúa nay tăng lên một bực, và rồi như sẽ thấy, sẽ có những biện pháp chuyển hoá người Hoa thành người Việt theo một cung cách vừa có tính cách hành chính vừa có sự khuyến dụ, mua chuộc. Đất nước cũng thật dễ dàng dung chứa những người này khi các mẫu hình phương Bắc càng đến theo với giao thương, sứ bộ mà khuôn nắn đất nước của ông vua thứ hai, mang đến sự cường thịnh đủ để người chủ thấy cần đổi tên nước lên cấp độ cao hơn: Đại Nam.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>Người nối nghiệp đúng kì vọng</strong></p>
<p>Là người đưa dòng họ từ chỗ tan nát đến chốn vinh quang, vượt trội trên cả quá khứ, Gia Long lúc qua đời ngày 19-12 Kỉ mão (đã qua năm 1820), đã chứng tỏ thêm vẫn là một tư lệnh trong trận chiến giữ gìn “cơ nghiệp gian nan” có đà vững bền khi chọn đúng người nối tiếp. Ông không quá lệ thuộc nguyên tắc để nhường ngôi cho con Hoàng tử Cảnh, thuộc dòng trưởng nhưng còn nhỏ mà lại chuyển cho người con thứ tư 29 tuổi, Nguyễn Phúc Đảm, người sẽ lấy niên hiệu Minh Mạng, người thật đủ điều kiện để đưa cơ nghiệp của ông cha lên một tầm mức mới.</p>
<p>Tất nhiên là những mối mâu thuẫn của thời đại xuất hiện qua những giao thiệp cá nhân, trong công cuộc điều hành quốc gia thật không giúp ông vua mới này sống dễ dàng suôn sẻ nhưng ông quả có vừa đủ chuẩn bị để hãnh diện đảm đương việc lớn mà không thấy phải ngại ngùng lẩn tránh. Lúc đã có quyền lực trên cao mà ông còn nhớ những ngày sống phập phồng ở Gia Định, cả những lúc ông cha đang trên đường chiến thắng. Sống trong chiến tranh nên tuy không phải điều binh khiển tướng nhưng ông vẫn tiếp xúc với kĩ thuật Tây Phương qua những người đang phục vụ cho cha ông, và điều này giúp ông đôi lúc không chịu đóng khuôn trong đất nước ông đang sống với địa vị tột đỉnh.</p>
<p>Có quá khứ nằm trong thời chiến như đã nói nên Nho Giáo của Minh Mạng là một thứ văn hoá tích cực, dấn thân mà người đóng vai chủ tể như ông phải nêu gương trên trước. Ông hiểu rõ sự yếu đuối của con người: “Thường tình người ta hăng hái lúc đầu, chưa biết ngày sau có được như thế này hay không?” Mới bắt tay vào việc, ông tự thấy mình “nhận gánh công việc khó khăn to lớn&#8230; lo lắng chỉ sợ không làm kịp” nên ra triều sớm trong lúc nhiều quan còn chưa tới, liền quy định giờ khắc, và được các quan khuyên cứ “vô vi” rủ áo khoanh tay để họ (vô vi) làm thay cho! Có điều quan niệm vô vi trong hữu vi như Trịnh Hoài Đức bày tỏ, vẫn còn vướng víu thực tế của một đất nước nông nghiệp là chính nên Minh Mạng, trong lúc phải giải quyết những vấn đề to lớn như việc trị thuỷ xa lạ, nan giải của đất Bắc, lại cũng quan tâm đến cả chuyện ruộng cao ruộng thấp bên ngoài kinh thành của ông làm sao ứng hợp được với thời tiết bất thường của trời đất. Muốn bao quát tình hình đất nước mà không chờ báo cáo địa phương, ông cho cận thần đến tận nơi tìm hiểu, dò xét, gây va chạm đến cả cường thần. Thị vệ Trần Văn Tình đến Gia Định (1823) tố một quan chức ở đó khiến Lê Văn Duyệt đòi chém đầu mà ông vua phải nín nhịn nhưng cũng Trần Văn Tình đó, lại thấy tiếp tục đi Nam Vang (1838) để báo cáo cho vua biết tình hình rối loạn nơi có ông Trấn Tây Tướng quân vừa được vua ban khen phong chức tột đỉnh. Có nghĩa là ông vua phải lậm sâu vào những chi tiết cai trị sẽ ảnh hưởng đến tính khí, càng lúc càng thay đổi theo chiều hướng độc tôn của địa vị ông, trên một đất nước rối ren theo với đà tăng tiến tổ chức càng nhặt nhiệm hơn.</p>
<p>Ông muốn chuyển tính ham học hỏi đến người dưới nên vì cũng mới vừa lên ngôi, còn làm thầy giáo xuề xoà, ông đã mách họ: “Thư viện Thanh Hoà chứa nhiều sách lạ bốn phương, lúc nào rảnh việc thì cứ mượn mà xem” (không cấm đâu!) Đến nỗi, qua hồi căm thù “Tây tặc”, ông thốt lời hối tiếc là trước kia đốt hết sách nguỵ, nay muốn tìm xem thì không có nữa – y hệt mọi quyền bính xốc nổi trên đời này! Không phải chỉ tìm hiểu trong sách vở, ông còn hỏi thăm tình hình các xứ xung quanh, có loại lệch lạc không hiểu do đâu, như “người Xiêm đánh thuế đàn bà vú dài (?)” nhưng có tin tức đúng, chỉ có điều ngược với quan niệm cai trị của ông, đó là chuyện viên “Tổng trấn Giang Lưu Ba (chắc không quan tâm đó là người Hà Lan) hàng năm ăn lương bằng bạc nhiều&#8230; không cái gì là không có thuế&#8230;” Kiến thức về xứ Chân Lạp thần thuộc của ông có chi tiết sâu sát đến mức ta tưởng mới vừa đọc sách của G. Coedes, Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ: “Khi trước Chân Lạp mạnh lớn, nước Xiêm còn nhỏ, phàm những quần áo, chế độ đều bắt chước Chân Lạp cả. Về sau Xiêm càng mạnh, Chân Lạp càng yếu nên bị nó ức chế&#8230;”</p>
<p>Có điều “trẫm xem sách (nhà Minh) nhà Thanh, sử (nhà Minh) nhà Thanh..,” loại sách vở gần gũi đó đã làm cho một số kiến thức của thời đại khoa học mới bị chìm lấp, không có đường nảy nở như khi ông “làm thí nghiệm” cân đất thấy nặng nhẹ khác nhau mà giải thích bằng thuyết âm dương ngũ hành! Sự háo hức với cái mới của ông chỉ dừng lại ở các dụng cụ nhập cảng gây tò mò, được ông ban phát cho các quan mà có khi họ không biết, không hề sử dụng. Cả với súng ống dẹp loạn, hình như khá cập nhật, vậy mà các viên tướng chiến trường cũng phải chờ chỉ dẫn, hối thúc, cả với việc chờ người điều hành đưa từ đất Huế xa xôi.</p>
<p>Sự thụt thò mới cũ xảy ra với Minh Mạng – với quan triều, thời đại nói chung, thật ra cũng có nguyên nhân khách quan liên hệ đến vấn đề đổi thay: Văn hoá mang tính chất toàn bộ, không thể đổi cái này mà không ảnh hưởng đến cái khác. Minh Mạng thấy cần tiếp xúc với bên ngoài nên mở quán Thông dịch chỉ là muốn “để đáp ứng với nước ngoài thôi”. Ông không muốn tiến xa hay mở rộng tầm tiếp xúc hơn chỉ vì “Trẻ con biết ngôn ngữ văn tự nước ngoài&#8230; dễ bị tà thuyết hãm hại”. Tà thuyết đó, cụ thể hẳn là đạo “Gia Tô” mà ông đang ngăn cấm vì trái với đạo “Trâu Lỗ, giữ luân thường vua tôi, cha con” của ông. Cho nên trước tình hình như thế, Chaigneau đi phép từ Pháp trở lại (1821) gặp vua mới, lúc đầu vẫn xin tiếp tục phục vụ nhưng rồi cũng phải ra đi!</p>
<p>Có kiến thức cập thời như đã theo dõi được tình hình chiến tranh Nha phiến, nhưng với sách vở tràn ngập lệch hẳn về phương Bắc như thế khiến ông không thể làm gì hơn là bắt chước họ, tuy thực tế làm chủ một phương khiến ông ngay lần đầu sai sứ tạ ơn tuyên phong đã buộc “nhất thiết theo điển lễ nước ta”, rồi về lâu về dài thêm tự tín, ông cũng tìm cách chê bai, như phê phán thơ Càn Long và muốn vượt Lê Thánh Tông, chê lối tế Giao của Minh, Thanh là không hợp lí bằng của ông! Tuy tính độc đoán làm cho quan triều khiếp sợ, nhưng giá trị nhân bản của sách vở ông học được lại khiến ông vượt được lên chính mình khi ông khen Nguyễn Quang Thuỳ biết tự sát để tránh nỗi nhục đầu hàng kẻ thắng với những nhục hình kế tiếp. Ông tự cho mình nắm vững được yếu tính văn hoá nằm trong sách vở, không lệ thuộc máy móc vào nó khi quan triều viện dẫn sách xưa “Ba năm không đổi việc làm của cha” để phản đối ông một cách né tránh. Dù là với bút tích của Gia Long trên giường bệnh: “Chớ nên gây hấn ngoài biên”, hành động của ông sau đó đối với Xiêm đã khác hẳn sự dè dặt ở đời trước. Lại còn thêm chuyện đổi tên nước của ông cha thành Đại Nam. Thời mới, cơ hội mới cho ông biện bác: “Việc làm của cha nếu hay thì nghìn vạn năm vẫn giữ cũng được. Nếu không hay thì phải đổi đi mới gọi là Hiếu”. Con người phức tạp như thế là kẻ đã đưa đất nước lên thành một cường quốc trên vùng Đông Nam Á lục địa nửa đầu thế kỉ XIX.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>Đỉnh cao của đổi thay </strong></p>
<p>Cũng gần giống như ông vua của thế kỉ XV, Minh Mạng phải trải qua một thời gian trong khoảng mươi năm để chuẩn bị cho con đường thăng tiến của niên hiệu mình. Thời gian đó là đủ để ông tự khẳng định khi rứt bỏ những áp lực của quá khứ phân tán địa vực, từ những viên tướng mà quyền lực được khẳng định trong chiến tranh nên tuy sống trong một truyền thống tuân phục quân thần mà vẫn đủ can đảm gàn trở việc nối ngôi của ông. “Ta thấy võ biền ở triều đình ngày nay cũng đã hơi biết giữ gìn, đã hơn những người lúc quốc sơ chưa quen lễ phép”. Trong cái thế ghìm giữ mình mà vẫn nắm giữ nguyên tắc quân trị của thời thế giao cho, Minh Mạng đã tiếp tục các công trình của người cha để lại với sự ló dạng của một lớp người mới.</p>
<p>Đóng vai ông vua non nớt thời bình với hai ông Tổng trấn ở hai đầu Nam Bắc tuy vẫn còn chịu sự điều động của trung ương nhưng lại khá ngang ngạnh, có khi tiếp tục gàn trở những quyết định của ông, đe doạ cả tay chân ông, Minh Mạng mở đầu niên hiệu bằng công cuộc tổ chức ở trung ương mà khía cạnh chú tâm cho dòng họ là nổi bật. Dấu vết săn sóc anh chị em của ông xuất hiện nhiều, kể cả việc trị những người ý thế, lọng quyền. Đã có các tập họp “Quốc triều / Thiên Nam thế hệ” được soạn thảo từ 1807 nhưng đó là chuyện ngược thời gian về trước. Chính ông là người nghĩ ra, xếp đặt những chữ riêng biệt cho các đời kế tiếp của thành phần thân, sơ trong hoàng tộc: <em>đế hệ </em>và <em>phiên hệ,</em> với ý định đem dòng họ thách thức với thời gian. Một “họ” riêng biệt thoát khỏi ý nghĩa của sự tôn trọng chung, họ Tôn Thất, cũng là do ông quyết định, không nệ lời can ngăn của võ tướng Lê Văn Duyệt và lời nhạo báng (lén) của một ông quan văn.</p>
<p>Ý tưởng viết sử dòng họ manh nha từ thời trước nay được ông đặt nền móng cụ thể. Bổ chức quan có tên Khởi cư chú là đi vào chi tiết sử vương triều, bắt đầu ghi chép lời nói, hành động của ông vua. Quốc sử quán lập nên rồi sẽ thành hình những bộ <em>Thực lục, </em>sử cho vương triều (bắt đầu tháng 5âl. 1821), rồi tiếp tục về sau là sử của vương quốc mới, trong đó có sự nhường bước của dòng họ cầm quyền để tính chất chính thống được mở rộng vững chắc hơn. Với Gia Long thì lúc đầu còn là lời phân bua “lấy đất An Nam là lấy của Tây Sơn chứ không phải của Lê” như đã thấy rồi lâu dần điều đó trở thành lời khẳng định quyền lực sau những cuộc chống đối “phù Lê”, và cuối cùng như một lời quát mắng tức giận của Minh Mạng. Với Gia Long, đã qua thời kì “nhà ta phát xuất tự Ô Châu” để vươn lên nhận thức mới: “Nước ta từ thời Triệu Võ đến Đinh Lê Lí Trần&#8230;” nhắm ghìm nén truyền thống của các quan triều gốc Bắc như bày tỏ trong bộ <em>Đại Việt sử kí </em>được Nguyễn Gia Cát dâng lên. Thế rồi khi Minh Mạng tuy không chịu cách nhận thụ phong của nhà Lê (9 lạy 3 vái), lúc rời Huế đi Thăng Long, lại để các quan bộ Lễ bày ra lễ tế Lịch đại Đế vương: Kinh Dương Vương, Hùng Vương, An Dương Vương, Trưng Vương, Bố Cái Đại Vương, Lí Bát Đế&#8230; Miếu Lịch đại Đế vương xây đầu năm 1823 mang thêm tính duy văn hoá với các ông Tam Hoàng, Ngũ Đế của Trung Hoa thêm vào nhưng một mớ hổ lốn các tiên tổ của đất nước kể trên đã là vừa có đủ sự công nhận từ trên đỉnh cao quyền bính để đem ông vua Hùng vào quyển sử chính thống của đời sau: <em>Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục.</em></p>
<p>Lâu dần Minh Mạng cũng thấy đất Gia Định dưới quyền Lê Văn Duyệt không được yên lành như mình tưởng: “Dân Gia Định không biết tích trữ, gặp mất mùa thì đành đi ăn cướp&#8230; với lại bưng biền nhiều, có chỗ trốn núp&#8230;” (Lời cựu Tổng trấn Gia Định Nguyễn Văn Nhân). Nhưng chính sự bất ổn ở vùng đất căn bản này lại do ở tiềm năng chất chứa của nó nên triều đình vẫn phải nắm đủ thế chủ động để đổi thay. Gia Định chia nhỏ thêm với những đơn vị Phủ đầu tiên để các ông tiến sĩ thời mới như Phan Bá Đạt “thử việc hành chính”. Đất Hà Tiên (nghĩa là phần lớn vùng phía tây sông Hậu), tuy còn leo lắt một ít ràng buộc với dòng họ Mạc nhưng đã là đất triều đình nên có việc chia đất huyện, phủ. Và do đó tính chất biên giới của Hà Tiên càng nổi bật khiến Minh Mạng phải lo hoàn thành kênh Vĩnh Tế, làm rào chắn bảo vệ biên giới cực tây, như một ý thức “không gây hấn<strong> </strong>biên giới”, thực hiện lời dặn dò của cha. Rồi những lõm Chân Lạp bên trong như vùng Trà Vinh, Mân Thít đặt thành phủ Lạc Hoá, vùng đất mở rộng vòng đai Hà Tiên cứ đặt phủ huyện theo kiểu quen thuộc, cho dân mang họ cây, đá gì cũng được miễn giống như của người Việt, đúng chủ trương “lấy mà không lấy vậy” của Tham tri bộ Lại Nguyễn Văn Hưng. Cái khó trong hồi tiếp theo cho đám dân tại chỗ này, là một sự đầu hàng văn hoá, khiến vẫn chỉ có ông cựu “dịch đình nô” (một ông Lục con?) Nguyễn Văn Tồn mang một chút họ của vua từ hồi luân lạc, kéo dài cuộc đời quan quyền vài mươi năm rồi rốt lại, con cháu phải luỵ vì Lê Văn Khôi, biến mất trên chính trường.</p>
<p>Gia Định “ruộng đất màu mỡ” không phải chỉ của cư dân bản xứ mà còn là của di dân Thanh, của “người Mân Quảng đến ở ngày càng nhiều, khắp chợ đầy đồng, kẻ đi buôn, người làm ruộng, giàu có cự vạn mà suốt năm không nộp một sợi tơ, một hạt thóc nào&#8230;” Sự hơ hỏng đó của thời kì lo tranh chiếm đã qua, nay triều đình phải lo khép những người “Đường” này vào khuôn khổ. Việc đánh thuế đồng nhất cho người Minh Hương toàn cõi tháng 7âl. năm 1826 dẫn đến<strong> </strong>quy định tiếp về thể lệ thu thuế 3000 người Đường “mới phụ” ở Gia Định, xếp đặt họ vào các Bang có bang trưởng trông coi. Những người này, trong tình trạng quay lưng với đất cũ rồi sẽ nhìn theo những người đồng tộc đi trước được gọi là Minh Hương, để tìm cách chuyển đổi tư thế mà hưởng những quyền lợi trên đất mới như dân bản xứ. Thế là tháng 12-1830 có biện pháp chuyển người Thanh thành Minh Hương.</p>
<p>Thật ra công cuộc “Việt Nam hoá” diễn tiến với người Hoa mới, cũ trên đất Việt cũng chỉ là nằm trong tiến trình đồng nhất hoá chung như khi cho người “Phiên”/“Man” mang họ Việt, mặc áo quần Việt. Tuy nhiên ở đây không chỉ có vấn đề chủng tộc mà còn có ý thức văn hoá chen vào. Mượn ý thức vương hoá từ phương Bắc, Minh Mạng tự cho mình đang làm sứ mệnh đó đối với những con dân dưới quyền. Không những ông khen dân Miên phủ Lạc Hoá “xưa là Man nay có phong hoá trung châu” mà cả việc buộc dân Bắc Hà thay đổi áo quần (1826, 1837) dù gây phản ứng mỉa mai, dằng dai, ông cũng cho là đã làm việc <em>giáo hoá dân Bắc như dạy dỗ man di.</em> Do đó ở đây, người Minh Hương là kẻ đóng vai trò điều hoà sự xung đột Nam Bắc theo khía cạnh văn hoá.</p>
<p>Nhà Nguyễn gồm thâu hai vùng đất có sự chênh lệch Nho hoá thiên về phía Bắc nhưng khả năng trấn áp lại từ phương Nam như chứng tỏ trong chiến thắng. Làm người chủ trên cao, Minh Mạng phải lo điều hoà sự lệch lạc không phải chỉ đến từ một phía. Vào thời bình, với sự thu dụng các tiến sĩ, cống sĩ thời Lê trong nhu cầu kiến thức quản lí đất nước, với khoa cử mở ra liên tiếp, Minh Mạng lại thấy giật mình: “Sau đây mấy chục năm nữa vẫn đều là người Bắc được bổ dụng, thì người Nam làm sao làm quan được?” Ông phải nghĩ ra biện pháp lựa chọn người Nam không cần là khoa mục mà chỉ cần siêng năng, mẫn cán thì thôi. “Người (phía) Nam” tất nhiên không chỉ là của đất “Gia Định ít học” mà Minh Mạng bảo phải lo đặt người dạy dỗ, nhưng với sự chuyển đổi văn hoá cực nhọc từ các nhóm dân khác ngôn ngữ khá đông đang tập tành làm con dân triều đình ở đấy thì tuy họ sản xuất gạo đủ nuôi cả “từ Bình Định ra Bắc”, họ vẫn không thể múa may mồm mép trơn tru, còn nói gì đến việc cầm cây bút lông nắn nót những lời ca tụng thánh Khổng, thầy Mạnh. Thế mà không cần đến sự thiên vị lộ liễu, Minh Mạng đã có đông đúc ở phía nam một lớp người hội đủ tiêu chuẩn làm con dân thời mới: lớp người Minh Hương cũng nói thuần thục tiếng Việt, chỉ cần chuyển từ bạch thoại thô thiển qua văn ngôn uyên áo là vác được lều chõng đi thi, không một anh nhân sĩ Bắc Hà nào dám coi thường. Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh là kẻ tiên phong không cần bằng cấp, Phan Thanh Giản là một trường hợp gượng ép lúc cần khoa bảng ở vùng cuối đất nước nhưng những người cùng nguồn gốc như ông mà không lộ diện trên sách sử chắc là không ít, nếu không kể thêm bằng cớ người cùng kí tên trên bản hoà ước gây tủi nhục lâu dài cho ông: Phó Tổng tài Quốc sử quán, Phó sứ Lâm Duy Hiệp/Thiếp/Nghĩa, cũng dân Minh Hương.</p>
<p>Trong lúc lớp người của thế hệ chiến tranh, của thời chuyển tiếp cứ tàn dần như Trịnh Hoài Đức đã nhận ra, thì đà củng cố tập trung quyền lực về kinh đô Huế lại được tăng tiến mạnh mẽ theo với sự bồi đắp kiến thức trị nước nhuần nhuyễn thu nhận thêm từ khuôn mẫu Thanh triều. Cũng nên lưu ý rằng các tổ chức tạo lập mang thực chất ở mức độ nào là tuỳ tình hình chung đòi hỏi chúng phải đảm đương nhiệm vụ chứ không phải chỉ thuần là danh xưng vay mượn. Cho nên các Viện, Giám, Ti&#8230; lúc này đã bận rộn hơn một phần cũng vì vua lưu tâm nhiều hơn. Công việc phiền tạp khiến có thêm các chức vụ “phó bộ trưởng” là Tả, Hữu Thị lang. Có việc hiệu chính luật Gia Long (3âl. 1830) giao cho Quốc sử quán thi hành. Tổ chức gián quan lỏng lẻo được thành hình từ khi sứ bộ 1826 mang sách vở tổ chức của Thanh, qua nghiên cứu lâu dài để thành lập Đô sát viện (1832), thành một hệ thống xuyên suốt đưa việc kiểm tra đến từng vùng địa phương, từng ngõ ngách ban viện ở trung ương. Công việc phồn tạp khiến Minh Mạng phải mở rộng Thị thư viện của vua cha, từ Văn thư phòng của ông cải đổi thành Nội các, rồi lại đặt thêm Cơ mật viện (1833) suy từ <em>Hội điển </em>của Thanh,<em> </em>để bàn bạc những việc quân quốc trọng yếu.</p>
<p>Có việc cải tổ quân đội (10âl. 1829), với hệ thống cầm đầu cao nhất là các phủ của Ngũ quân Đô thống. Lính chia thành ban lệ, phần lớn tập trung ở Kinh đô với những thành phần chuyển đổi đóng tại địa phương được gọi là đi “thú”, mang một hình thức xáo trộn thành phần địa phương, chủng tộc chưa từng được ai đến nay quan tâm đúng mức. Chưa kể đến ảnh hưởng xáo trộn vì các cuộc lưu đày nếu không có vụ Lê Văn Khôi làm nổi bật vấn đề.</p>
<p>Khả năng kĩ thuật, vũ khí cũng vượt trên tầm mức cổ điển nên dù loạn nổi tứ phương, quân triều đình vẫn đủ sức đàn áp tận những vùng xa, sâu. Chúng ta thấy triều đình thường xuyên cấp các nhiệt kế, phong vũ biểu, “thiên lí kính” cho các địa phương, vùng biển để canh chừng hải phận. Có những chế tác vũ khí, thuốc nổ “kiểu Tây” tuy không đưa ra chi tiết nhưng có vẻ là những cố gắng cập nhật thời thế. Sáng kiến “Thuỷ hoả kí tế” được nói nhiều, nhân rộng mẫu hình, thật ra chỉ là dùng sức nước của các nguồn sông làm chuyển hệ thống vận hành nghiền thuốc đạn nhưng việc đó không những tiết kiệm nhân công mà còn khiến công tác chế tác đỡ nguy hiểm hơn, nghĩa là khiến sản xuất dồi dào hơn. Có loại súng “liên châu bắn liền 4 phát” có vẻ như là loại súng có nòng xoay. Loại “súng nhỏ của Tây Dương – cũng gọi là ‘chưởng tâm lôi’ / ‘sấm trong lòng bàn tay’” hình như là súng lục, mà ban phát cho quan triều thì chứng tỏ số lượng không phải chỉ là một hai đơn vị. Có điều quan triều như Phan Huy Thực không biết dùng kính viễn vọng phải nhờ Minh Mạng chỉ cho thì việc bỏ một số tiền lớn – quá lớn như Minh Mạng cũng nhận ra, để làm những thuyền máy chạy thử trên sông Hương đã cho thấy các cố gắng này tất phải đi vào ngõ cụt.</p>
<p>Dù sao thì tất cả cũng chứng tỏ được một nền tài chính dồi dào của thời đại. Minh Mạng chỉnh đốn, phát triển các đồn điền ở Gia Định, nghe lời Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ khai khẩn vùng Tiền Hải, Kim Sơn thêm ruộng cho đất Bắc cùng khốn vì lũ lụt, chiến tranh chết người mà không bớt được nạn nhân mãn. Những nguồn mỏ khai thác lúc được lúc không, lúc chuyển cho tư nhân thâu thuế, lúc đặt thành quan xưởng dù sao cũng đem lại nguyên liệu cho triều đình đúc tiền, không những với các kim loại giá hạ (đồng, kẽm) mà còn có cả tiền vàng, tiền bạc, đúc thành thoi lượng, cân để giao dịch với bên ngoài. Bởi vì tuy là một nhà nước nông nghiệp nhưng trong tình hình giao thương có đà trong quá khứ, triều đình Huế tuy dè dặt với bên ngoài, chỉ mở một cảng Đà Nẵng cho giao tiếp chung nhưng cũng thường xuyên phái các thuyền buôn bán với các cảng Nam Dương (Batavia, Palembang), Malacca, Singapore / “Hạ Châu” với các quy định thưởng phạt rất chặt chẽ.</p>
<p>Chi tiết về một chuyến “đi làm việc công ở nước ngoài” năm 1838 có thể cho thấy sự trao đổi về trước. Phái bộ có năm thuyền thì hai thuyền đi Jakarta, ba thuyền đi Singapore, ngoài quan chức còn có thông ngôn, “người làm việc chuộc tội”, lái thuyền, phụ lái, thầy thuốc, và lạ lùng là “thợ giũa ngọc” (?) Hàng bán là đường cát, thoi đồng, ngà voi, cánh kiến, hàng mua về là kẽm, chì, diêm tiêu (thuốc súng kiểu mới?), súng điểu thương loại mới, vải&#8230; Có việc thuê tàu máy hơi nước, khiến thông ngôn cũng không đủ dùng nên quan chức mướn người ngoài đi theo rồi gởi theo thuyền khác trả lại. Có vẻ với tình thế mở rộng bên ngoài mà thiếu người như thế nên đã phải thành lập một trường Thông ngôn nhỏ – “Quán Thông Dịch”.</p>
<p>Minh Mạng cũng không qua khỏi thời thế cho nên tính chất trung ương tập quyền chỉ lên đến đỉnh cao khi hai viên tướng sừng sỏ của vua cha mất đi, mất hẳn dấu vết trì níu quá khứ của hai địa phương “Thành” tương đối độc lập. Lê Chất chết (7âl. 1826) trong lúc về Bình Định chịu tang mẹ thì Bắc Thành không có một Phó Tổng trấn mà lại là một Hiệp trấn quan văn già cả khiến cho tình hình địa phương rối loạn nổi bật lên, nhân tiện triều thần kèn cựa, đổ trách nhiệm cho người đã chết, mở đường cho những bới móc tội lỗi tận diệt về sau. Các chức Quyền chưởng ấn Tổng trấn rồi Quyền Phó Tổng trấn Bắc Thành cũng không chứng tỏ khả năng người phụ trách để sự can thiệp ở trung ương càng phải sâu sát hơn. Đàn áp xong các cuộc nổi loạn (Lê Duy Lương, Phan Bá Vành&#8230;) triều đình phải ra lẹnh trừng trị quan tham lại nhũng. Theo với đà quyền lực trị an đi theo binh lực, có việc xây cất xây đắp thành trì cho các phủ huyện miền Bắc. Từ trung châu lấn lên miền thượng đạo, chế độ thổ ti mang dáng chuyển tiếp trên vùng Mường Ninh Bình, Thanh Hoá (tháng 3âl. 1828) rồi được bãi bỏ, thay thế bằng chế độ lưu quan, quan chức của trung ương phái tới (tháng 6âl. 1829), gây lí do luyến tiếc quá khứ cho những cuộc nổi dậy tiếp theo mang danh nghĩa “phù Lê”. Tất nhiên lúc đầu không đủ người, hay vì còn phải mua chuộc, các lưu quan này lại là thổ ti cũ, mang danh hiệu nửa chừng “thổ tri huyện”, “thổ tri châu” như trường hợp Nông Văn Vân, Tri châu Bảo Lạc.</p>
<p>Những trận đánh dẹp dẫn đến việc lượng giá tình hình quản trị, an ninh các địa phương trong nước ở mức độ phủ, huyện, châu (8âl. 1831) cho thấy những vùng quan trọng về mặt an ninh phần lớn là ở về phía Bắc cho nên Phó Tổng trấn Bắc Thành được gọi về Kinh và bắt đầu sự đổi thay lớn về chính sách cai trị không những đối với đương thời mà còn lưu dấu đến ngày nay. Tháng 10âl. 1831 “bắt đầu hạ lệnh cho từ Quảng Trị trở ra Bắc chia hạt, đặt quan”, thiết lập đơn vị Tỉnh với các chức chưởng Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát&#8230; mang nhiệm vụ mới. Tất nhiên người ta cũng hội họp làm việc phân tích thiên về sự thuận lợi của cải cách trong thời thế mới. Nhưng như thế là, đồng thời với cải cách, “nước Đại Việt” của nhà Lê đã thực sự bị xoá sổ tuy lại có thêm những phản ứng mới chồng chất với các khó khăn cũ. Điều đáng nói khác là tên tỉnh Hà Nội – danh xưng đậm đà thời Chu, Hán dính líu với sông Hoàng Hà phía bắc xa, nay xuất hiện như một dấu vết mới mà níu kết được truyền thống cũ để có dịp sẽ lại trỗi dậy với vai trò quan trọng hơn.</p>
<p>Công việc chia tỉnh, đặt quan rộn ràng khiến các đại thần hàng ngày hội họp, kể cả những ngày mưa lạnh, vua phải làm thơ khuyến khích, ban phát dầu gió tây ta đủ thứ, hẳn đã vọng đến tai ông quyền thần phía nam nên Lê Văn Duyệt dâng sớ cáo lão, xin “các đình thần bàn xét về các trấn ở thành hạt Gia Định để kiến thiết một thể”. Lời thỉnh cầu chưa được chấp thuận không phải vì Minh Mạng bỏ qua cơ hội mà ông gọi là “việc lớn&#8230; lợi muôn ngàn đời vô cùng”. Triều đình đang phải bận rộn riêng về một vùng dân chúng còn đang bối rối với những điều khoản lạ mắt, lạ tai nên bỏ qua lời thỉnh cầu. Nhưng ông Tổng trấn cũng không còn sống bao lâu nên ông chỉ chết sau một tháng là có sự cải tổ theo lối mới (tháng 10âl. 1832) trên phần đất còn lại, từ Quảng Nam vào Nam, chuyển đất Gia Định làm một thành phần trực thuộc trung ương. Đất nước từ đây mới thật là “thu về một mối” để, đi theo với sự kềm thúc của nền chuyên chính là một tầm mức loạn lạc ở đỉnh cao, như một thách thức với tổ chức mới.<em> </em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><strong>Sức mạnh mang hệ luỵ từ bên trong&#8230;</strong></p>
<p>Lại cũng không khó khăn gì để thấy những tập họp chống đối nhà Nguyễn không phải chỉ thuần là nông dân bị áp bức dưới một chế độ thối nát. Lịch sử không diễn tiến giản dị như của một vài công thức chính trị đưa ra. Ngoài những yếu tố mới mang lại do tình thế mới, triều Nguyễn cũng gặp phải những chống đối giống như với bất cứ những người cai trị nào khác. Lập thời mới, Gia Long, Minh Mạng cũng phải chịu nạn “mọi Đá Vách”, tập họp những bộ lạc từng hiện diện trong lịch sử qua cả thời Pháp thuộc, không chừa cả thời kì Việt Minh những năm 1950. Trên đà tiến chiếm đất Lê, Nguyễn cũng va chạm với các thủ lãnh Mường Thanh Hoá, Ninh Bình, các vùng của các quan lang họ Đinh, họ Quách&#8230; nổi danh với các tên: Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động. Họ đã từng chứa chấp Lê Duy Mật chống Trịnh, từng chống quân Tây Sơn lấn chiếm&#8230; Cho nên không lấy làm lạ là dù không có kẻ để “phù Lê”, họ cũng chống Nguyễn để khỏi bị lấn áp trên khu vực quyền lực truyền thống của dòng tộc.</p>
<p>Gia Long muốn xoa dịu họ Lê và quần thần cũ, đã cho Lê Duy Hoán tước Công, hưởng quyền lợi ruộng đất, dân tạo lệ to lớn nhưng như thế cũng là nuôi dưỡng thêm một thế lực chống đối tiềm tàng, gợi tham vọng cả từ những kẻ bên ngoài. Duy Hoán không muốn phản loạn cũng không được, chỉ gắng gượng bù đắp trước khi chết (1816) bằng cách lôi theo ông Tổng trấn Bắc Thành, và may mắn có người con, Lê Duy Lương, tiếp tục chống đối, sau khi lẩn tránh đến hơn hai mươi năm, dưới sự che chở của các quan lang Mường. Loạn tuy chỉ hơn một năm (6âl. 1833) là bị dập tắt nhưng các thủ lãnh Mường lại tiếp tục nuôi Lê Duy Hiển, kéo dài mệnh số đến tháng 4âl. 1837 mới bị tiêu diệt. Đất Mường cuối cùng thấy cánh tay quyền bính của họ Nguyễn đi sâu vào tận đất đai ngàn đời của dòng họ, và con cháu họ Lê đành phải chịu mất ân huệ dành cho một triều đại để trở thành phận kẻ phản loạn, bị bứng khỏi đất gốc, phân tán xa tận phía nam.</p>
<p>Phía đồng bằng, những chống đối mang những dạng “quen mắt” hơn nhiều. Khi còn quyền uy, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành, quen thuộc với tính chất đất văn học, đã cho phổ biến bài <em>Điểm mê</em> kêu gọi dân chúng đừng nghe lời xúi giục làm loạn thì có bài <em>Tố khuất</em> như một phản ứng trình bày thực tế người dân phải chịu đựng. Quan tham lại nhũng là chuyện bình thường của quá khứ, của xứ sở (vụ Hoàng Công Lí trên đất Gia Định 1820-1821). Vả lại nhìn kĩ, mức lương dành cho quan quyền có vẻ chỉ là đủ ăn mà thôi. Thế mà Gia Long còn thấy không nên đánh đòn các quan phạm lỗi, sợ làm nhục họ nên ra lệnh chỉ trừ lương thôi! Và qua bao biến loạn làm lỏng lẻo quyền bính trung ương, các làng hay nhóm làng đã nằm trong sự thao túng của các cường hào địa phương, “chúng làm bậy thì dân đều theo” (lời Nguyễn Hữu Thận). So ra, “Cái hại quan lại là 1, 2 cái hại hào cường là 9, 10. Quan lại ăn giấy tờ, thuế vật (có thể) bị lộ, bị xử còn hào cường ẩn núp trong dân gian, giết cả người, hại cả nhà mà không lộ&#8230;” Nguyễn Công Trứ đã không bịa chuyện để thanh minh cho tầng lớp quan quyền. Trong tình thế đương thời, các quan cai trị lại là người xa, hoặc cũng là dân “Bắc Hà” nhưng với quyền uy dựa vào phe chiếm đóng thì không nề hà gì mà không vơ vét, cho đến khi lộ ra vì làm ăn quá quắt, hoặc bị phát giác chỉ vì rủi ro. Đại đô đốc Tây Sơn Lê Đình Chính về hàng mới nửa năm, được phong trấn thủ Lạng Sơn là một trong số đó.</p>
<p>Ngự sử chuyên trách đạo (Nghệ) An (Hà) Tĩnh Nguyễn Bá Nghi có vị thế địa vực khoảng giữa để đưa ra nhận xét về sự xung đột Nam Bắc: “Người Nam thì kiêu hãnh khinh người, lời nói và việc làm đều hay trịch thượng; người Bắc thì lấy làm tủi thân, tuy cố gắng làm việc nhưng vẫn đem lòng bất mãn, điều qua tiếng lại dần thành hằn học lẫn nhau&#8230;” Tình trạng đó không phải chỉ xảy ra trên cấp bực quan quyền địa phương mà còn thấy ở trung ương nên trước kia Gia Long đã phải phân trần với Nguyễn Du, và Minh Mạng thì từng thể hiện không những trong lời nói về sự không phân biệt Nam, Bắc mà còn trong hành động, như bênh vực Lê Duy Thanh (con Lê Quý Đôn) đến phải chịu đựng sự lấn lướt của ông hàng thần (Lê Chất) lâu ngày đã trở thành quyền thần.</p>
<p>Về phần đám thừa hành thì nếu không chống đối, có bị bó buộc hay tự nguyện đi vào quyền bính, họ cũng không sốt sắng với nhiệm vụ cho lắm. Cả người cầm đầu cũng không dám giấu trung ương (đầu 1828) điều đó: “Lính Bắc Thành chỉ có 25 000 người đều là lười biếng, không quen việc đánh trận, một khi sai phái thì phải xen thêm lính Kinh vệ&#8230; Người bản thổ sai bắt giặc hoăc đi đánh, thường có tính nể nang nên khó được việc.” Có ý định về hùa phục vụ để kiếm chác hoặc ẩn núp thì phải giả dạng phe mạnh: “(Kiểm tra đầu 1828 thấy) binh lính ứng mộ phần nhiều mạo tên lấy các xã thôn từ Quảng Bình về Nam làm quê quán”. Biện pháp chỉnh đốn là kiểm tra quê quán thật, chỉ lấy lính Nam cho trấn thành mà thôi. Thế mà trong trường hợp cần thiết, khi các quan báo cáo “lính Nam ở các tỉnh Bắc Kì sai phái có tiếng là đắc lực”, Minh Mạng đành phải cho phép mộ thêm, và Bắc Ninh chỉ trong một tháng (3âl. 1835) đã mộ được 1050 người! Cho nên có tình hình chung là lính thú trên đất Bắc có riêng biệt các đơn vị Bắc, Nam mà số lượng Nam có khi nhiều hơn Bắc như chứng tỏ lúc cải tổ tháng 9âl. 1835 (Ninh Bình 323/94, Hưng Yên 541/513, Quảng Yên 185/100). Thật ra thì “lính Nam” là của vùng Thuận Quảng cũ đến Khánh Hoà (Bình Thuận thuộc quản trị của thành trấn phía Nam) như khi Minh Mạng cho thấy lúc thu xếp bắt lính cho Gia Định theo tiêu chuẩn nặng hơn (đầu 1836): “&#8230;Lấy lính Nam Kì bảo vệ cho Nam Kì, tiếng là giữ nước thực là giữ nhà. So với lính Kinh, lính trực, lính kì hàng năm phải đi thú lặn lội mấy ngàn dặm, đồn thú lâu hơn hàng năm&#8230;” Chênh lệch lại có khi vì quá khứ chiến tranh, lính Nam đã có hiểu biết kĩ thuật cao hơn lính Bắc. Cho nên Hưng Hoá (cuối 1833), Hà Tĩnh (5âl. 1836) phải mộ 50 dân ngoại tịch từ “Quảng Bình vào nam” để sung vào đội pháo thủ của tỉnh!</p>
<p>Với tình trạng như thế thì loạn nhỏ cũng trở thành lớn khi có xộc xệch vì đổi thay tổ chức. Trước đã có bất an trên vùng tây bắc kéo dài mười mấy năm trong đó có con của Nguyễn Gia Phan, cựu tiến sĩ triều Lê, cựu hàng thần Tây Sơn. Vùng thượng du có Lí Khai Ba xưng vua bị dẹp yên mùa xuân 1823. Nhưng loạn đất Bắc đánh động đến Kinh thành là khi Lê Chất rục rịch về Bình Định để tang mẹ. Lê Duy Lương lộ ra trên vùng thượng du Thanh Hoá (đầu 1826) rồi Vũ Đức Cát, Phan Bá Vành vùng biển (2âl. 1826) khiến cho Thống quản biền binh Bắc Thành bị cách, đến một năm sau loạn mới bị diệt trừ. Nhưng một loạt các cuộc chống đối tiếp theo có thể nói là do việc cải tổ tập trung lập tỉnh đã khiến cho những mối mâu thuẫn tiềm tàng nhỏ hơn được dịp bùng phát dữ dội. Đó là cuộc loạn Lê Văn Khôi xuất phát từ nơi Minh Mạng vẫn còn tin là chốn trung thành với dòng họ nhà mình.</p>
<p>Theo dòng thời gian ghép vào sử chính thống, ta vẫn coi người cầm đầu cuộc biến loạn đó là LÊ VĂN Khôi nhưng chính sử quan Nguyễn cũng nhận ra rằng chỉ vì muốn ghép tội với Tổng trấn Lê Văn Duyệt mà họ đưa ra tên và chữ lót đó thôi. Và họ cũng không chịu thú nhận là sự gán ghép đó còn có mục đích đẩy xa sự dính líu với dòng vua đang ngự trị, tránh một điều có thể gọi là xấu hổ, gây nhiều rắc rối cho đương quyền. Khôi thật ra là NGUYỄN HỰU Khôi, mang “công tính”, họ của dòng nhà vua, được ban cho các con cháu Nguyễn Hoàng bị bỏ rơi trên đất Bắc (1600). Những người này sau thời kì bị nghi ngờ, ở lâu thành quen, được lên chức trong triều Chúa với danh vị bà con nhà chúa, họ cũng khiến cho các quan Trịnh Lê sợ hãi như ai! Họ làm quan triều, làm lưu quan đất Cao Bằng, địa phương hoá nên liên kết hôn nhân với các dòng họ phụ đạo: Bế, Nông/Nùng, và có thể thổ tù hoá mãi mãi nếu không có một người bà con xa xưa lên làm vua toàn cõi. Thế là một người trong dòng, tên Khôi ở mãi tận Cao Bằng, không biết bằng cách nào lại luồn lọt được vào nằm dưới quyền một công thần mà lòng trung thành nổi bật khiến Gia Long được tướng Tây Sơn nào về hàng là trao cho ông ta sử dụng với lời dặn dò không phải chỉ giữa vua và tôi.</p>
<p>Lê Văn Duyệt chỉ có một lần thoáng qua trên đất Bắc khi mới tiến chiếm xong, được lệnh tuyển lính Bắc Thành cùng với toàn bộ các quan tướng ưu tú: Lê Chất, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đức Xuyên, còn thì lo dằng dai dẹp loạn Đá Vách vùng Quảng Ngãi, thành lập một vệ quân riêng biệt ở đấy lấy tên là vệ Minh Nghĩa. Người trưởng trông coi vệ đó không thấy nêu tên mà sử lại ghi ông phó là Nguyễn Hựu Khôi. Không thể nghĩ rằng ông Tổng trấn, dù nghênh ngang, lại dám nhận một người hoàng tộc làm con nuôi của mình. Đến khi nổi loạn, Minh Mạng không những “xuống chỉ đổi họ Khôi theo họ Lê Văn Duyệt” mà còn tước bỏ họ cả chi của Khôi, vì lẽ “họ Nguyễn Hựu vốn là công tính, há có giống chim muông ăn thịt cha mẹ, ô nhục dòng dõi nhà vua như thế?” Rõ ràng ông đã không phủ nhận nguồn gốc của Khôi, cũng như khi phải bận tâm giải quyết chuyện ông em cưng, cùng mẹ đã lấy cháu của Khôi, được quân Phiên An giương cờ, nêu tên ông ta để lôi cuốn người theo. Cho nên nếu không có người thừa hưởng chút hơi hướm danh vị hoàng tộc, có mối quan hệ liên vùng Bắc Nam như Nguyễn Hựu Khôi thì sự biến ở Gia Định tháng 5âl. 1833 không xảy ra, và đã xảy ra thì không lan khắp toàn quốc như đã thấy.</p>
<p>Việc quan quyền lạm dụng tình thế tìm kiếm lợi lộc hay bới móc nhau để tâng công cũng là chuyện thường tình. Một khi thay đổi tổ chức, hệ thống đáng lẽ phải coi những cách thức điều hành cũ là đương nhiên, vậy mà quan chức lại lấy tiêu chuẩn mới để xét hình thức cũ thì tội lỗi kẻ thất thế hẳn là không để đâu cho hết. Kẽ vạch thì lỗi nhẹ thành lỗi nặng, lỗi nặng thành không thể tha thứ được. Người chịu nạn may mắn đã chết thì được vua xuê xoa tha tội làm ơn, như trường hợp Bảo hộ (Chân Lạp) Nguyễn Văn Thuỵ, Thoại Ngọc hầu được thờ kính ở Tây Nam Bộ ngày nay. Nặng nề mà còn sống thì như trường hợp một ông Bảo hộ khác, Lưu Phúc Tường bị giết, không kể công trận dày dạn từ thời còn truân chuyên. Ân oán bình thường khuất lấp trong chi tiết dễ thấy thoáng qua, là sự kiện Lê Văn Khôi khi nổi dậy giết Bố chánh sứ Bạch Xuân Nguyên, đã giết luôn cả thuộc hạ của ông ta là Nguyễn Trương Hiệu, người từng phát giác vụ con Nguyễn Văn Thành làm thơ khẩu khí, lây lan đến cái chết của ông Tổng trấn Bắc Thành. Sự xung đột mới cũ trở thành bạo loạn, đã xảy ra vì gặp lúc chính quyền ở vào thế yếu nhất khi chuyển đổi. Loạn quân phải chớp thời cơ, giành lấy phương tiện tuy còn trong đà tập trung mà trách nhiệm thì không thuộc về ai hết. Thái Công Triều đã bảo Lê Văn Khôi: “Nay chia đặt tỉnh hạt thì đại bác, khí giới, thuyền mành và thuốc đạn ở Thành sẽ chia đi các tỉnh, nếu không kịp thời nổi lên lúc này, còn đợi đến bao giờ?”</p>
<p>Minh Mạng biện minh cho quyết định chia tỉnh của mình, đã thắc mắc tại sao tướng tư lệnh vùng Nguyễn Văn Quế không đủ sức ứng phó với tình thế nhưng ông không thấy rằng từ kẻ trông coi biền binh toàn cõi phía nam đến trở thành một ông Tổng đốc dân sự thì quả là sự lúng túng trong thu xếp đã rõ rệt, không cần đến tình thế như Thái Công Triều nhìn ra. Ba vệ lính bị chuyển đổi bật gốc quen, đi theo người chỉ huy là chuyện thường. Ngay cả nhóm người Thanh, cũng không thấy có cách nào khác hơn khi đi theo người từng chung vốn “làm ăn” với họ. Lăng Ông hôm nay bề thế, tuy chỉ là được xây dựng từ 1937, nhưng thật tình có chấp chứa nỗi luyến tiếc của con cháu, đồng tộc lớp người chịu ân sủng ông Tổng trấn thời sinh tiền rồi phải vạ lây từ đó. Chưa kể đến sự xu phụ bình thường, kẻ “phản loạn” phải khuất phục lực lượng đe doạ ngay trước mắt trong khi uy thế triều đình thì ở xa, như trường hợp con cháu họ Mạc Hà Tiên, con cháu ông cựu-Miên Nguyễn Văn Tồn. Và cũng tưởng tượng ra một thời giải thoát là những người theo đạo Gia Tô đã thấy ngột ngạt, hoang mang với những cuộc ruồng bố cấm đạo. Tóm lại, thấy đó là cơ hội đổi đời như khi ông quan đốc vận bị can án nằm ngục vì chở (lầm?) con cháu Tây Sơn, trở thành Phó tướng Thuỷ quân của thời mới. Phe loạn quân có cả người con khác của Nguyễn Văn Thành, chắc bị đày ở đó. Lính Hồi Lương, Bắc Thuận, quân đi đày từ phía Bắc xa hẳn mong thấy tương lai rộng mở hơn khi theo ông quan gốc Bắc. Nghĩa là vang vọng của cuộc nổi dậy không phải chỉ loanh quanh ở địa phương.</p>
<p>Biến động nhân rộng ra. Người Chàm bị “Kinh hoá” khi vùng Thuận Thành đổi ra phủ Ninh Thuận, nổi dậy, cũng mở rộng chống đối – và sẽ bị đàn áp đến tản lạc dân chúng, không còn thế để trở về vị trí Phiên vương như xưa. Nhóm Lê Duy Lương tìm cách liên kết, chưa thấy được hiệu quả bao nhiêu thì chính triều đình Huế trong khi truy bức đã gây thêm rối loạn trên một vùng thượng du phía Bắc. Lệnh bắt vợ con, thân thuộc Lê Văn Khôi ở Cao Bằng khiến Nông Văn Vân, ông tri châu Bảo Lạc của triều đình, không thể ngồi yên, phải nổi dậy (7âl. 1833). Tuy nhiên sự chống đối không được dài lâu vì ưu thế gần như tuyệt đối của triều đình, với cả nguồn nhân, vật lực toàn quốc theo với sự tăng tiến khả năng tranh chiến trong đà liên hệ tuy chưa đến mức độ quốc tế rộng rãi nhưng đã vượt ngoài biên giới như đã thấy. Nông Văn Vân cũng có ưu thế quen thuộc địa vực như nhóm Mường Ninh Bình Thanh Hoá, thêm với thế dựa lưng vào rừng núi của nước lớn nhưng vẫn không đủ sức gây lực lượng mạnh nên rốt cục lại bị bỏ rơi vì quan Thanh không muốn có tình hình bất an nơi biên giới.</p>
<p>Về phía loạn quân, sự thành công bột phát của Lê Văn Khôi cũng là yếu tố làm nên thất bại ngay trong sự bành trướng. Quân Hồi Lương, Bắc Thuận là lực lượng chính giữ Định Tường phía tây còn trưởng quân Hồi Lương, Nguyễn Văn Trắm, người sẽ thay thế Lê Văn Khôi đến lúc cuối cùng, lại là kẻ chống đỡ quân triều đình phía đông. Từ những nhóm nhỏ mang tính biệt phái như thế, quân nổi dậy sẽ thấy trơ trọi, hụt hẫng khi phát triển ra khỏi khu vực quen thuộc là trấn thành cũ. Thái Công Triều đã ở tâm trạng như thế khi đem quân đánh rọng ra miền Tây, đột nhiên trở giáo, không những làm mất hậu phương rộng lớn cho Gia Định mà còn mất triển vọng liên kết với quân Xiêm đang trên đà can thiệp. Quân rút vào cố thủ trong thành Phiên An chỉ kéo dài cuộc sống nhờ thành trì che chở, nhờ sự tuyệt vọng nâng đỡ trong khi quân triều đình vây khổn bên ngoài trang bị súng lớn với “thước đo bắn đại bác mới chế”, đại bác bắn “đạn nổ mảnh”, với ống dòm loại mới mang khả năng kĩ thuật tối đa mà sự thành công cuối cùng lại là do chiến thuật có vẻ như gợi ý cho những người bao vây Điện Biên Phủ ngày sau: Đào hào xâm nhập tiến sát thành rồi xung phong lần cuối (16 tháng 7âl. 1835). Chiến tranh chống nổi loạn mang lại một hình ảnh đen tối của đất nước với một loại hình “khủng bố nhà nước” đáp ứng vượt bực đối với sự lo sợ cấp thời của dân chúng: “Gươm của triều đình thì xa mà gươm của kẻ cướp rất gần”.</p>
<p>Tuy nhiên thế thắng của triều đình không phải chỉ là sự đàn áp của quân lực. Kiến thức tập quyền của truyền thống được hiện đại hoá bằng những tiếp nhận từ phương Bắc qua tay một ông vua có cá tính, đã điều hoà trong một chừng mực những mâu thuẫn địa phương, mới cũ để sự sụp đổ không xảy ra. Đã thấy Minh Mạng cố sức giữ quân bình cho sự khác biệt Nam Bắc vốn sâu đậm hơn vì sự kết hợp qua chiến tranh, lại kéo dài cả trong thời bình. Ông nghiêng bên này, lệch bên kia, không nề hà cả việc phân trần, tránh né với cường thần mà ông biết chưa có thể trực diện đàn áp nổi. Ông mắng người là với tính cách một ông vua có chịu đựng ràng buộc chứ không phải của một chúa tể chuyên quyền. Thứ tinh thần Nho giáo được mang ra làm tiêu chuẩn là nhân danh văn minh: “Buộc thay đổi áo quần là dùng Hoa hạ trị Man di&#8230;” Tiêu chuẩn đó vấp phải thực tế bảo thủ thông thường cùng với những khó khăn của cuộc sống để các “sĩ phu” được dịp nấp bóng đàn bà mỉa mai. Tuy nhiên cùng trong ý nghĩa săn sóc thần dân dưới quyền không phân biệt, Minh Mạng đã cho tận lực giải quyết các vấn đề an sinh xã hội căn bản, vấn đề cấp thiết của địa phương như việc trị thuỷ sông Hồng chẳng hạn. Với cái “poll” do Nguyễn Công Trứ dò hỏi, từ 70 đến 80% dân chúng đồng ý phá đê, triều đình với tính cách người quản lí mang tầm nhìn bao quát hơn, lại thấy ý tưởng đó quả thật là phiêu lưu nên chọn giải pháp khác là khơi dòng, đào sông mới cho thông đường nước. Và cứ thế không buông bỏ&#8230; Thế là gồm lại, những thần dân của Minh Mạng này đều là dân “Hán”, cùng chia xẻ niềm hãnh diện văn minh, đối ứng với bọn “Man Di” phải đàn áp, phải cải hoá bên ngoài biên giới đang có đà mở rộng.</p>
<p>Chính cái khuôn khổ Nho giáo trong thực tế trước mắt đã đưa các sĩ tử Bắc Hà vác lều chõng đi thi, vào triều chính Nguyễn, và rồi chính tính cách nhân bản của Nho giáo đã khiến có một lớp người mới thành tâm phục vụ triều mới không bị ràng buộc vì sự đồng dạng địa phương xưa cũ nữa. Đánh thắng trên mặt trận Bắc không phải chỉ có các ông tướng xuất thân cựu nguỵ như Lê Chất, Nguyễn Văn Xuân, tướng gốc chăn voi bị vua chê “thô suất, lỗ mãng” như Phạm Văn Điển, tướng xứ kinh kì gia nhập muộn như Tạ Quang Cự phải nhờ người viết thay báo cáo, mà còn có tướng văn võ toàn tài như Nguyễn Công Trứ, rồi ngược với thời kì đầu, không phải chỉ có quan Nam trị dân Bắc mà có Doãn Uẩn xuôi ngược bắc nam, làm Án sát Vĩnh Long, xây chùa còn dấu vết đến ngày nay, có Vũ Xuân Cẩn làm Tổng đốc Bình Phú ứng tiếp quân vụ cả hai đầu nam bắc&#8230; Thế là sự xung đột giữa những người cùng địa phương, chức vụ lại chuyển sang màu sắc “văn hoá” dẫn đến những kèn cựa tủn mủn, vụn vặt hơn: Phạm Đình Hổ làm ở Quốc tử giám bị đồng sự – cũng gốc Bắc nhưng là Tiến sĩ, coi thường vì không qua bằng cấp, Nguyễn Công Trứ cũng bị quan triều hặc vì đã cử một hào phú làm huyện thừa – chỉ là một chức “phó” ở huyện thôi!</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>&#8230; thúc đẩy sự bành trướng, vươn tầm mắt ra ngoài biên giới</strong></p>
<p>Cho nên với thực lực của thời đại như thế thì dù muốn, Minh Mạng cũng không thể tuân giữ di chúc: “Chớ gây hấn ngoài biên giới” được. Thật ra thì trong những năm tháng đầu niên hiệu, chính Minh Mạng đã kềm hãm ý thức gây hấn của Lê Văn Duyệt muốn vươn đến bắt tay Miến Điện bên kia nước Xiêm La, lợi dụng sự xung đột của hai bên để chiếm miếng mồi ngon Chân Lạp. Triều đại Rama cũng là lúc hưng thịnh của Xiêm La. Ở phía Bắc, các tập đoàn Thái tan vỡ hay chưa kết tập của nước Lan Xang cũng trên đà suy yếu để sử quan Nguyễn chỉ ghi chép về các nước Vạn Tượng, Nam Chưởng đã tách biệt từ 1694. Vùng Bồn Man đã mất danh xưng cũ trong hơn 30 năm chiếm đóng của Lê Duy Mật nên chỉ còn là châu Trấn Ninh ngay từ thời Gia Long. Nam Chưởng / Luông Pha Bang tương đối cách trở với triều đình Huế, vì đường thông thương cũ với Thăng Long không còn hợp với thời mới nữa nên thấy ít chuyện liên can xảy ra. Đất Vạn Tượng lại gần hơn với lối thông qua Cam Lộ, Quy Hợp quen thuộc từ xưa nên sự xung đột của xứ này với Xiêm La khiến phải gây sự động binh của Nguyễn. Từ Gia Định xa, Lê Văn Duyệt đề nghị dùng Vạn Tượng làm vùng đệm đối với sức tràn lấn của Xiêm. Nhưng Vạn Tượng yếu ớt lại gây hấn khiến quân Xiêm chiếm kinh thành. Quốc trưởng A Nỗ / Chao Anu chạy trốn nương nhờ Trấn Ninh, bị giao cho quân Xiêm đã đưa mối đe doạ đến gần Việt Nam. Triều đình Huế bắt thổ quan Chiêu Nội về giết (1830), sáp nhập Trấn Ninh vào bản đồ, đăt thành phủ rồi cũng liên tiếp mở thêm các phủ “trấn” mới: Tĩnh, Định, Biên, Man và Lạc Biên, đẩy phủ Cam Lộ qua phía tây với 9 châu mới, đưa biên giới đến sát sông Mekong, chiếm cả vùng Trung Lào ngày nay, chỉ chừa lại đất Champassak cho cháu của A Nỗ. Tuy nhiên xung đột trực tiếp lại là ở phía nam, nơi có sự giành giựt đất Chân Lạp suy yếu mà lại thuận tiện cho việc bành trướng vì nằm trên đất đồng bằng quen thuộc.</p>
<p>Quân Xiêm dưới quyền tướng Praya Bodin, theo lời cầu viện của Lê Văn Khôi tràn qua Nam Vang, chiếm Hà Tiên, Châu Đốc (cuối 1833) nhưng bị chận lại. Trương Minh Giảng truy sát, đưa Nặc Chăn về Nam Vang phục hồi đất nước nhưng là bắt đầu một thời kì bảo hộ sâu sát (tháng 7âl. 1834) của Nguyễn qua trung gian Quận chúa bù nhìn Ang Mei / Ngọc Vân và quan lại bản xứ mang chức tước triều đình, có quân chiếm đóng vỡ ruộng lấy lương ăn theo chế độ đồn điền để tồn tại lâu dài, tất cả có dáng không thể nào đảo ngược được. Chân Lạp đã là “tôi tớ” của vua thì con dân ở đó từng “có nước đến 1200 năm” tất cũng phải được tìm hiểu cặn kẽ cho nên có lệnh sai soạn <em>Cao Miên kỉ lược. </em>Tiến trình “Đại Nam hoá” tiếp theo mỗi chiến thắng cũng được thi hành trên khắp các vùng đất nước: chức lí trưởng đặt đến tận vùng Mường, buộc người học “chữ” (Hán, tất là qua âm Việt) không cần phải là con cháu thổ tù, gần giống như người Pháp sau này thi hành ở Nam Kì đối với dân Việt. Không những “Quốc vương Hoả Xá”, quan thổ tù mang thêm họ ngoài tên mà dân Hà Tiên, Kiên Giang còn thêm những họ mới lấy từ tên thôn xã của mình, tiếp tục cách thức lấy họ sao cho có nghĩa, có âm Việt để ghép vào sổ đinh đóng thuế, chịu bắt xâu, đi lính.</p>
<p>Đất Gia Định yên giặc được tổng kiểm tra về mặt điền thổ (4âl. 1836), xong trong ba tháng, chấm dứt các đơn vị mơ hồ “thửa”, “khoảnh” để thành mẫu, sào đồng nhất. Công cuộc kiểm tra lan đến Bình Thuận, Khánh Hoà thế là mang lại sự thống nhất điền địa trên khắp cả nước. Đất nước xuyên suốt với những con đường lớn xây đắp trên vùng Gia Định vừa bình định xong, những con đường trạm theo nhu cầu chiến tranh nối liền với kinh kì. Theo thói quen của sử quan, không thấy kể nhiều về những hoạt động thương mại của tư nhân, ngoài các chuyện bất đắc dĩ về các vụ buôn bán bất hợp pháp phải kê ra, trong đó thấy có tình trạng nghiện thuốc phiện khá lan tràn, từ trong dân chúng lên đến chức quyền Tổng trấn Bắc Thành. Tuy nhiên việc thành lập Giao tử vụ ở Cao Bằng tháng 10âl.1836 chứng tỏ dòng giao thương trên bộ với Trung Quốc khá lớn đến nỗi người ta phải dùng một hình thức tiền giấy cũ kĩ thay thế tiền đồng nặng nề. Và tất nhiên sử quan không che giấu chuyện nhà nước đi buôn.</p>
<p>Chuyện đi buôn xa ra nước ngoài đã là điều quen thuộc, tuy lúc đầu vẫn tránh né là “làm việc công”. Không thấy chuyện triều đình đi buôn với phương Bắc – các thuyền buôn người Thanh đã chiếm đủ dòng lưu thông này rồi. Hướng đi buôn với các xứ biển phía Nam được ghi nhiều cho thấy tầm quan trọng của nó. Đó là nơi có những món hàng chiến lược: thuốc súng, vũ khí, hàng xa xỉ phương Tây&#8230; Tính cách quan trọng của hướng này còn thấy qua những ghi nhận có thuyền lớn, như chuyến 1838 với Đào Trí Phú có vẻ như là trên tàu chạy máy hơi nước, nếu không là loại Minh Mạng cho chạy thử trên sông Hương, lúc này liều lĩnh đi ra ngoài biển khơi thì cũng là tàu được mua hay thuê mướn của người Âu. Trang bị vũ khí trên tàu có vẻ cũng là loại súng bắn nổ cò “chấn hoả pháo&#8230; súng thép của Tây Dương, bắn bằng đạn liên châu&#8230;” chứ không phải loại nhồi thuốc đạn vào nòng rồi van vái nữa! Bởi vì tình trạng an ninh trên biển, ngay cả dọc theo bờ Nam Bắc cũng cho thấy thường không an toàn với các toán cướp biển đầy dẫy, đến thời gian này phần lớn là người Trung Hoa, tồn đọng cũ mới của những kẻ chống đối nhà Thanh, của dân phiêu lưu nhập nhoà giữa nghề đánh cá và cướp biển.</p>
<p>Với khả năng đi biển tương đối vượt bực so với các triều đại trong quá khứ, sự bành trướng của Việt Nam lúc bấy giờ không chỉ giới hạn trên đất liền mà còn có toan tính hướng ra ngoài biển khơi. Lại cũng là thời điểm sau khi dẹp yên Gia Định, quan triều dự định tổ chức chuyến ra xa ngoài biển Đông, hẳn là có người còn nhớ chuyện thời các Chúa, dân địa phương Quảng Ngãi vẫn còn con cháu từng phục vụ lúc xưa. Chuyến đi tháng 6âl. 1835, quân Nguyễn dựng đền thờ thần Hoàng Sa trên đảo, có vẻ đã thám sát hai đảo gần nhau: “cồn Bạch Sa, tên cũ là núi Phật Tự” (chắc vì có miếu cổ Vạn lí Ba bình, trên nhóm Paracel phía tây, hay trên đảo Phú Lâm của nhóm Đông Bắc?), và “đá Bàn Than” nhỏ hơn, ở phía nam. Thế rồi nửa năm sau, bộ Công đề nghị sai Phạm Hữu Nhật làm công tác chiếm hữu rộng lớn hơn: thám sát các đảo, đo đường nước sâu cạn, vẽ bản đồ, tính toán khoảng cách các đảo ấy với những điểm trên đất liền, rồi lập bài gỗ đánh dấu sự hiện diện của triều đình Nguyễn, hẳn là lan qua nhóm phía đông bắc, toàn vùng. Cuối năm 1836 chiếc tàu Anh bị đắm ở Hoàng Sa, thuỷ thủ tấp vào Bình Định được cứu giúp, cũng là dịp cho Minh Mạng xác nhận chủ quyền và lên mặt là đã “cảm hoá được man di” biết quỳ lạy, khấu đầu cảm ơn theo phong tục “Trung Quốc”!</p>
<p>Tuy nhiên sự mở cửa bắt buộc của thời thế không giúp cho Minh Mạng giải quyết được một vấn nạn càng lúc càng gây khó khăn bức thiết cho triều đình vì không những nó mang yếu tố tự cho là văn minh, không nhường ai mà còn dựa trên cả sức mạnh cụ thể nơi thuyền chiến, vũ khí của những nước xa tận trời tây, sắp đóng vai chủ lưu của thế giới hiện hành. Đó là vấn đề Thiên Chúa Giáo, hay dùng chữ của đương thời: “đạo Gia Tô”, thay chữ xưa hơn: “Hoa Lang Đạo”. Minh Mạng đã có kinh nghiệm về sự xung đột giành giật linh hồn Hoàng tử Cảnh ở Gia Định mà cuối cùng phe truyền thống thắng thế, lên làm vua với cả sự tin tưởng ở “đạo Trâu Lỗ” thần thánh, thì tất là ông không thể nhường bước. Đã thấy một số kiến thức của nhân viên đưa về sai lạc bởi quan điểm văn minh (như ở Nam Dương “thuế gì cũng thâu”). Với đạo Gia Tô là “đạo kiệt hiệt hơn hết trong các đạo dị đoan” thì những thiên kiến cũ vẫn còn đó: Giáo sĩ móc mắt người chế thuốc, bỏ bùa mê bằng “bánh thánh”, xưng tội riêng với người nữ để gian dâm – ý chống báng này không những là từ quan niệm nam nữ hữu biệt của Khổng Giáo mà còn có thể từ loan truyền đâu đó về một dấu vết droit de touche trung cổ châu Âu&#8230; Dân chúng nồng nhiệt với đạo mới, có lúc cũng bước qua thập tự, rồi trở lại ăn năn, giáo sĩ thì tin tưởng ở nhiệm vụ tông đồ của mình với cả một hệ thống văn minh thúc đẩy không chỉ bằng tinh thần, thế là Minh Mạng chỉ có thể “giết!”, cũng với mức độ chân thành tin tưởng riêng của mình. Kết quả tranh chấp nếu không thấy được trong đời ông vua thì sẽ hiện ra trong những năm tháng tiếp theo.</p>
<p>Với các chiến thắng, vua đã lên đến tột đỉnh nên tổ chức Lễ Bảo tất / “ôm đầu gối” cho công thần, đúc 9 đỉnh – dạng Cửu đỉnh Việt hoá, bày hàng trước Thế miếu, cho tập họp các công trình thời đại, biên chép thành sách, đổi tên nước Đại Nam không nệ lời can tên đó không phải là mới, chưa kể lời bàn tán không phải đạo Hiếu. Minh Mạng đuối sức, mất đi (đầu 1841) tuy đã thấy những rối loạn ở biên giới phía tây nam nhưng hẳn vẫn vững tin về công trình xây dựng của mình, cũng như chứng tỏ ở số lượng con cái đông đúc ông để lại với bài thơ sắp xếp thế thứ mà khi cả triều đại sụp đổ vẫn chưa dùng hết!</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>PHỤ LỤC</strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Đỉnh cao quân quyền: chủ trương Khủng bố Nhà nước và lễ Bảo tất</strong></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Nghĩ xưa từ thuở triều Minh,      <br /></em><em>Chém cha giết đạo động tình nhơn dân.</em></p>
<p>Câu sám-giảng của đầu thế kỉ XX (“Sấm giảng về Đức Cố Quản [Trần Văn Thành]”) cho thấy còn đủ thời gian để lưu lại trong tâm trí người dân về một thời truy giết của chính quyền đối với một bộ phận dân chúng Nam Kì khi triều đình Huế thấy có giáo sĩ và dân “đạo” chống đối trong thành Phiên An đang bị vây và sau đó là hình ảnh Cố Du / Marchand bị xử lăng trì với đứa bé 6 (7?) tuổi con của Lê Văn Khôi. Hẳn là những người này cũng không phải chịu oan ức gì cho lắm nhưng tình hình trừng trị của nhà Nguyễn, không chừa một tập nhóm chống đối nào, đã vụt tăng cường độ dưới thời Minh Mạng đến mức có thể mang danh là một sự Khủng bố Nhà nước.</p>
<p>Hãy xem một trường hợp cụ thể được sử quan Nguyễn tả lại trong lễ nhận tù binh từ Gia Định đưa về, tổ chức theo điển lễ Minh, Thanh. <em>“Các quan phần việc bày sẵn ngựa xe, đồ lỗ bộ trước điện Cần Chánh, trần thiết trọng thể các đồ binh khí và nghi vệ ở ngoài cầu Kim Thuỷ. Vua mặc áo long bào, tay chẽn, ngự giá ra lầu cửa Ngọ Môn. Các hoàng tử, thân công và trăm quan mặc áo hoa, tay chẽn, chia ban thứ đứng hầu. Các tướng quân là bọn Nguyễn Xuân và Phạm Hữu Tâm mặc quân phục, lạy nộp ấn thao cờ, bài rồi dâng tù binh và thủ cấp giặc phản nghịch. Làm lễ xong, sai Thống chế Vũ lâm là Nguyễn Tăng Minh, Thự thượng thư bộ Hình là Bùi Phổ bưng cờ, bài ‘vương mệnh’ đem quân và voi áp giải 5 tên nghịch phạm là Lê Bá Minh, Lưu Hằng Tín, Đỗ Văn Dự và nghịch Du tức Phú Hoài Nhân cùng con nghịch Khôi là Lê Văn Viên đến pháp trường ở đồng phía nam, xử tội lăng trì: trăm dao xẻo thịt cho chết rồi cắt lấy đầu, cùng bêu đầu nghịch Khôi, nghịch Chắm treo lên sào cao, bêu ở các chợ ngoại thành 3 ngày. Còn đầu các nghịch Minh, nghịch Tín,</em> <em>nghịch Dự và Văn Viên giã nhỏ cho vào hố xí. Đầu nghịch Chắm, nghịch Khôi, nghịch Du đưa khắp các địa phương từ Quảng Trị ra Bắc, Quảng Nam vào nam cũng treo lên sào cao bêu 3 ngày, rồi đưa về chỗ địa phương mà chúng đã phạm tội, giã nhỏ, cho vào hố xí”.</em> Lê Văn Khôi bị đào mả, thịt thái cho chó ăn, tán nát xương giao các tỉnh bỏ vào hố xí. Với Nguyễn Văn Bột: <em>“dùng đủ 5 thứ cực hình, trăm dao cưa cắt, bêu đầu 3 ngày ở địa phương nó làm giặc, rồi ném xuống sông&#8230;” “Những đồ đảng giặc, không kể trai gái, già trẻ, chẳng cần tra rõ quê quán, đều điệu ra ngoài đồng, chém đầu, đào hố lớn, vứt thây, lấp đất, chất đá đắp thành gò to trên dựng bia khắc chữ ‘Nghịch tặc biền tru xứ’”. </em>“Gò mả nguỵ” còn mãi đến những năm 1960 mới bị mất dấu vì sự phát triển của thành phố Sài Gòn, một phần nằm dưới một bệnh viện có nhiệm vụ cứu người, như thế cũng có thể gọi là để an ủi cho những người đã chết.</p>
<p>Tất nhiên trong quá khứ những loại hình phạt như thế đã định hình, không phải đợi đến quan triều Minh Mạng sáng tạo ra. Vấn đề đặt ra là có một sự chênh lệch rất lớn về cách luận tội so với trước đó không lâu. Và chi tiết hình phạt đưa ra rõ là có sự cố ý phô trương của chính quyền. Tính chất “khủng bố trắng” làm gương theo với mức độ ảnh hưởng nổi dậy nhỏ hơn, thấy rõ trong việc chỉ bêu đầu bêu thây đối với các lãnh tụ vùng (như trường hợp lang Mường Quách Phúc Thành 4âl. 1837). Như thế sự thúc đẩy của tình thế rõ ràng đã có ảnh hưởng vào việc kết tội khiến việc thi hành án tăng lên đến mức độ tàn ác khủng khiếp. Ti Tam pháp xét đơn kiện, thi hành án được lập ra (6âl. 1832) cũng là dịp chứng minh sự nghiêm khắc của luật pháp<em>.</em> Lê Duy Lương bị xử tử lăng trì, bêu đầu 2 ngày ven sông ở Biên Hoà rồi chuyển bêu từ Hà Tĩnh ra Bắc, mỗi nơi 3 ngày, xong ném xuống sông (7âl. 1833). Nông Văn Vân sau khi chết cháy, đầu chặt dâng về Kinh, bêu chợ 3 ngày, chuyển từ Quảng Nam vào Nam, Quảng Trị ra Bắc mỗi nơi 3 ngày rồi giã nát ném vào hố xí, còn thân thì treo ngược cắm ở núi Vân Trung hang ổ, rồi cũng xẻo từng miếng giã nát bỏ hố xí để làm gương (3âl. 1835). Không phải chỉ đối với “thần dân Nguyễn”, lệnh cũng không che giấu đối với dân nước khác: Nguyễn Văn Xuân đánh Trấn Ninh được lệnh “đánh giết kịch liệt, chém đầu, mổ bụng, bêu lên rừng núi” (1834)!</p>
<p>Ta thấy Gia Long thoả mãn với chiến thắng, đã tha khá nhiều tướng lãnh Tây Sơn ngay cả khi họ bị bắt vào phút cuối của chiến trận. Với thành kiến đã có về lối tru di tam/cửu tộc, người ta hẳn phải ngạc nhiên khi thấy Gia Long không bắt tội thứ phi, anh em bà con Nguyễn Nhạc, Tư lệ Đinh Công Tuyết, rồi con ông ta, lấy lẽ vì họ chỉ là “đàn bà”, “dân thường”, “quan nhỏ”, “con không phải chịu tội cho cha&#8230;” Cả đến trường hợp phản loạn như Nguyễn Thế Chung xưng Thống lĩnh Sơn Tây thượng đạo đánh phá trong hơn mười năm từ lúc còn Gia Long, bị Lê Chất đánh dẹp (1822) mà ông cha Nguyễn Gia Phan, hàng thần từ Tây Sơn cùng loạt với Phan Huy Ích, ông cựu Tiến sĩ triều Lê đó cũng không bị bắt tội vì Minh Mạng phán: “không hay biết” hành động của con! Minh Mạng cũng bác bỏ chuyện cấm con cháu Hoàng Ngũ Phúc, Ngô Hựu không được đi thi, vì lẽ ai làm nấy chịu (1830). Thật trái hẳn với lối vây ráp tận lực bà con thân thuộc Lê Văn Khôi hồi sau, với việc giết Tiến sĩ Đinh Phiên gia nhập hàng ngũ Phiên An mà con cái, học trò là Giáo thụ, Huấn đạo, ngự sử đạo (Nam Ngãi) đều bị mất chức, xử hình&#8230;</p>
<p>Đúng là sự xử trí đã khác đi khi Minh Mạng thấy đất nước dưới tay càng lúc càng không yên ổn, sự đe dọa càng lúc càng gia tăng đối với quyền lực mình. Nguỵ Tây tưởng đã là quá khứ không ngờ còn trốn trên vùng rừng núi, nấp giữa đám giặc biển; con cháu Nguyễn Nhạc, con Trần Quang Diệu tuy ẩn khuất nhưng là ngay ở vùng đồng bằng, đến khi bị phát giác còn theo thuyền quan trốn tận Cần Thơ (1831)! Sự kiện này ẩn tàng mối đe dọa thật lớn bởi vì cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành chẳng hạn, chỉ là “thổ phỉ”, loạn vì quan tham lại nhũng, triều đình ra quân đánh dẹp, cắt đầu, chặt thây kẻ phản loạn xong thì trừ thêm tay chân tàn hại của mình, ban ân bố đức cho dân chúng trong vùng, tưởng thế là đủ rồi. Nhưng Tây Sơn rồi Lê (Duy Lương) tiếp theo là cả một triều đình, một quá khứ, mối đe dọa dằng dai cả sau khi loạn lớn đã dẹp xong, thật không thể coi thường được. Không thể làm việc tận diệt con cháu nhà Lê thì phải bứng gốc họ đi, đem đày rải rác nơi xa lạ, gầm gừ bắt cả ông em cùng cha khác mẹ đoạn tuyệt với bà con. Rồi lại thêm Lê Văn Khôi. Thế là đem bà thứ phi, con Lê Chất, từng được đặt ở địa vị cao (“Đệ nhị cung” &#8211; Phan Thúc Trực), giam cho tới chết. Minh Mạng lúc đầu còn tưởng dân Gia Định theo mình, đến khi Phan Thanh Giản nói ra mới biết có chống đối thật sự để thốt lời than: “Bắc Kì phong tục kiêu ngạo, dân vốn thích nổi loạn, không ngờ nơi dựng nghiệp vua cũng có thói kiêu ngạo ấy”. Và loạn lại khởi phát bởi một người trong hoàng tộc, dù là xa! Là người uy nghi trên tột đỉnh bởi cả nhiệm vụ thần thánh được trao, Minh Mạng lại thấy mình bị đe doạ hơn bao giờ hết. Rồi cả biên giới phía tây nam cũng không yên vì quân Xiêm tràn sang khiến các chiến thắng bên trong cũng bị che một lớp mây mù u ám.</p>
<p>Cho nên Minh Mạng mượn lễ Bảo tất của Thanh, tổ chức rình rang cho toán quân chiến thắng phía Bắc, không phải chỉ để chứng thực uy thế vừa đạt được mà còn hướng tới sự thúc đẩy sự thành công trông thấy ở phương Nam.</p>
<p>Ta có thể nghe sử quan Nguyễn tả về nghi tiết của lễ đó:</p>
<p>“<em>Trước một ngày quan phần việc bày ngai, treo màn trướng ở gian chính giữa cửa đại cung, đến sang sớm ngày chính nhật, rước vua lên ngự bảo toạ. Hoàng tử, các tước công, văn võ phẩm quan đều mặc áo thường trào, theo ban thứ đứng hầu. Bọn Thống soái, Tham tán đều mặc áo đại triều, do ban bên tả, rảo bước đến sân rồng, làm lễ chiếm cận. Dâng ấn quan phòng về việc quân của Đề đốc, Tổng thống, Tổng đốc, Thống đốc, Tham tán đi dánh dẹp, xong rồi bộ Binh trước hết dẫn Đề đốc Phạm Văn Điển do bên tả đường ống [lối đi hai bên có tường cao] lên bên đông thềm giữa, đến phía trước bảo toạ, quỳ, phủ phục xuống đất, đợi Chỉ tiến lên. Điển giắt hốt vào đai, đi bằng đầu gối tiến lên. Vua duỗi một chân ra, Điển chìa hai tay ôm lấy, ngẩng lên, khấu đầu một cái. Được đăc chỉ ban khen và thưởng, Điển liền</em> <em>giơ lên trán, nhận lĩnh rồi lại khấu đầu một cái, đi bằng đầu gối lui ra đến chỗ phủ phục trước, cầm hốt lại khấu đầu lần nữa, rồi rảo bước đi ra. Thứ đến dẫn Tổng đốc Tạ Quang Cự; lại thứ nữa dẫn Tổng đốc Lê Văn Đức, đều như nghi tiết trước.</em></p>
<p><em>Rồi bộ Binh vâng mệnh dẫn Tham tán Nguyễn Công Trứ do gian tả bước lên thềm, đến bên chỗ vua ngồi, hơi lệch về phía Bắc, quỳ xuống, giắt hốt vào đai, được phụng chỉ khen ngợi. Chính tay vua ban rượu, Trứ kính cẩn lĩnh lấy, uống rồi giao lại chén chp thị vệ đón lấy. Trứ làm lễ khấu đầu mốt cái, cầm hốt rảo bước đi ra.</em></p>
<p><em>Thứ đến dẫn Lê Văn Thuỵ, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hựu vào nghi tiết cũng như trước. Rồi các Thống soái, Tham tán đều làm lễ tạ mà lui.”</em></p>
<p>Không thấy ai được hưởng ân huệ tiếp theo như Phạm Văn Điển, ngoài viên tướng biên cương: Trấn Tây Tướng quân Trương Minh Giảng.</p>
<p>Nghi lễ mang tính cách quyền uy kinh khiếp và thần thánh như thế đi theo với một quyền bính bao trùm đất nước, sẽ tạo thành một cung cách ứng xử còn lưu dấu lâu dài ở tâm trí những người cầm quyền, chớm phát lại ở “thần dân” mới sau 1945, dù tất cả đã trải qua những năm tháng tiếp xúc với văn minh phương Tây. Quá khứ đeo đẳng như thay cho lời Minh Mạng nhạo báng tinh thần mới: “Trẫm từng nghe việc loạn ở nước Phú Lãng Sa, bắt đầu có người yêu quái truyền nói ở trong nước rằng: ‘Phàm loài miệng có răng đầu, có tóc da đều là người cả, sao lại để giàu nghèo không đều?’ Thế là ùa nhau nổi lên cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo, dẫn đến loạn to&#8230;”</p>
<p>Ông vua cũng không được dịp biết rằng chút ước vọng bình đẳng kia – bao gồm cả tiền bạc và nhân cách, dù tốn bao nhiêu xương máu, cũng không dễ gì đạt được.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16536/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>sừ liệu quốc nội v&#224; nền sử học d&#226;n tộc chủ nghĩa Việt (phần 2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/16470</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16470#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 19 Oct 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Tạ Chí Đại Trường</dc:creator>
				<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16470</guid>
		<description><![CDATA[Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã tan rã thì phải quay về truyền thống quyền lực cụ thể cho nên chủ nghĩa huyết thống được đề cao, đầu tiên là sự tôn thờ người Khai sáng triều đại. Lãnh tụ đi vào Miền Nam có biến dạng một chút thành một thứ như là Giáo chủ của một loại Đại đạo Tứ kì Phổ độ cũng chẳng sao, có vô chùa, ngự trong đền thờ là được.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><b>Vấn đề Xét lại trong sử học Việt Nam thời nay: Đổi mới và tai nạn</b></p>
<p>Đổi mới sử học là cách nói đi theo trào lưu chính trị của chuyên gia Việt Nam thời nay nhưng dù đối với người không biết, không cần biết đến tính Xét lại lịch sử, cũng nên nói rõ rằng đây là chuyện của muôn đời, của mọi nơi chốn, không phải chỉ riêng của Việt Nam anh hùng đến mức phải khúm núm năn nỉ mà còn gặp đe dọa rùng cả mình. Lịch sử thường được viết bởi người chiến thắng, bởi kẻ đương quyền cho nên với thời gian, một thế hệ kế tiếp sẽ có những suy nghĩ khác theo với tình thế mới. Hãy xem việc Lê Thánh Tông xá tội giết vua cho Nguyễn Trãi (vợ làm chết vua thì bị tội, không oan tí nào) chỉ vì thời gian đã khoả lấp một phần, phần khác thiết yếu hơn, là vì ông vua cần đến hệ thống quan văn ở trung châu, nơi đã thành “nhà” của ông, khác với rừng núi Lam Kinh xa xôi chỉ còn là chốn về để nhớ chứ không phải là nơi để sống mà cầm quyền. Trừ những kẻ khăng khăng một mực không thể tự nhúc nhích bản thân, u tối vì quyền bính, những quan điểm cũ bên trong một con người vẫn có thể thay đổi, không chờ thời gian trôi xa, một khi có các yếu tố mới xuất hiện. Vừa mới giết con cháu, tướng lãnh Tây Sơn (cuối 1802) chỉ vài tháng sau, Gia Long đã không bắt tội “vợ lẽ” của Nguyễn Nhạc lấy cớ “chỉ là một người đàn bà thôi”, không bắt tội hai người thân thuộc cũng của Nguỵ Nhạc vì lẽ họ là “dân thường”. Lí do đưa ra rõ ràng thật bất ngờ xét theo tình thế chiến thắng lúc bấy giờ và thật khó chấp nhận nếu ta cứ suy xét theo các lời buộc tội Gia Long phá tan sự nghiệp “cách mạng, cứu nước” của Tây Sơn. Tuy nhiên nếu bình tĩnh nhìn xem sự kiện ông Trung Ương Hoàng Đế kia chỉ có hơn 4 mẫu 5 sào tư điền (gồm 6 khoảnh, có một khoảnh 1 sào) thì cũng hiểu được lòng quên thù hận của “tên bán nước” trước một Thứ phi của kẻ địch chắc là bị bắt lúc đang lam lũ còng lưng đi cấy, hay đeo áo tơi lá làm cỏ ruộng giữa mưa lạnh như những người đàn bà khác trong vùng. Ông Minh Mạng chắc không ngại ai chê là tàn bạo, vậy mà ngồi nghĩ lại cũng thấy tiếc là đã đốt hết tài liệu về Tây Sơn, để bây giờ muốn đọc cũng không tìm đâu ra. Yếu tố mới xuất hiện theo biến động làm rõ sự thật như khi các chiến sĩ văn nghệ Miền Bắc vào Nam, thấy sao mà bọn nguỵ tay sai của nền thực dân văn hoá kiểu mới lại cư xử ngang tàng với quyền bính, khác hẳn lối nghênh ngang xu phụ của phe mình – phát hiện tâm tình đó không đi vào hành động lịch sử chỉ vì đến nay vẫn được giấu kín theo thói quen “nói vậy mà không phải vậy”, được chiến thắng che khuất.</p>
<p>Quyền lực của thế hệ đầu yếu đi / mất đi thì những lớp người dưới quyền có dịp nói lên suy nghĩ của mình về quá khứ đã bị vùi dập, những suy nghĩ có khi lại gặp được chính sự tán đồng của người nắm quyền cùng thời đại. Đó là chuyện phục hồi danh vị / danh dự của những nhân vật bị giết qua những biến loạn, hay nhìn về phía khác, là những lời mắng chửi của phe đảo chính thành công khi nói về những “loạn thần tặc tử” cũ. Với thế giới ngày nay, lại xuất hiện thêm một lớp người “xét lại” không thấy ở ngày xưa: lớp học giả xuất thân ở các trường Đại học (Tây phương), mầy mò qua sách vở cũ nát, chứng cứ tang thương để viết những luận thuyết, những cách giải thích mới, hòng níu giữ tấm bằng / cái ghế câu cơm, hay để ngóng chờ có các cuộc hội thảo quốc tế nào thì đưa bài tham gia, nêu danh!</p>
<p>Thế mà những điều khá bình thường đó lại xảy ra thiên nan vạn nan ở Việt Nam ngày nay, theo một quan điểm phán đoán trồi sụt về những vấn đề được gọi là “nhạy cảm”. Theo ông PHL thì sau khi “khôi phục lại tổ chức và hoạt động trên khắp cả nước năm 1989”, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam mở cuộc Hội thảo với chủ đề “Sử học Việt Nam trước yêu cầu đổi mới của đất nước” năm 1990 ở Hà Nội và năm sau ở Tp. Hồ Chí Minh. Thời điểm thật là muộn so với phía Văn học người ta đã cởi ra và trói vào trong thập niên trước, nhưng thôi, có còn hơn không. Nhưng cũng vì thế mà những bài diễn văn, tham luận về phía “đổi mới” đăng trong <i>Nghiên cứu Lịch sử </i>(1992) không cho thấy có gì mở đường dẫn lối cả. Cho nên không lấy làm lạ rằng tuy có lời phản tỉnh ghép vào trong tập sách tổng kết công trình: <i>Tìm về cội nguồn </i>(1999), vướng vít của nhận định về quá khứ vẫn xuất hiện thường xuyên trong các bài viết của ông ở thế kỉ XXI. Ảnh hưởng của kêu gào đổi mới lại từ những vụ việc cụ thể, đòi (hay ngầm đòi) xét lại những nhận định được cho là bất công, thiên lệch đối với các nhân vật như Phạm Quỳnh, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký.., và cả một triều đại (Nguyễn). Do đó mà trong “Diễn đàn sử học 2003” ông Hội trưởng mới có thể nhắc lại việc cần phải “khắc phục tình trạng công thức, giáo điều trong vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào nghiên cứu lịch sử, chấm dứt tình trạng lấy sử học minh hoạ một cách thô thiển cho chính trị theo lối ‘chính trị hoá sử học&#8230;’”</p>
<p>Kết quả bên ngoài là như thế nhưng tiến trình bên trong, khi được nói ra thật phải ngỡ ngàng đến không thể tưởng tượng nổi. Theo Hoàng Lại Giang, khi được phân công viết bài tổng kết hội thảo về Phan Thanh Giản năm 1994, ông PHL đã gởi bài cho Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đọc trước, và chờ đến hai năm sau mới được trả lời để tạp chí <i>Xưa &amp; Nay </i>đăng lên! Thế rồi “con người thận trọng ấy mãi đến cuối năm 2008 mới dám làm một cuộc Hội thảo về chúa Nguyễn và triều Nguyễn” sau 3 năm chuẩn bị, trong đó có việc “xin chỉ thị của Ban Tư tưởng, Ban Bí thư&#8230; và được Tỉnh ủy Thanh Hoá xin đăng cai tổ chức”. Ông HLG còn chú thêm rằng việc đăng cai có cả Tỉnh uỷ Thừa Thiên nữa. Người sống quen với thế giới mới bên ngoài, ngạc nhiên không thấy sự hiện diện của các cơ quan nhà nước đang trình diễn với thế giới đâu cả – do đó, về phía khác, lại hiểu câu nói của một ông Thủ tướng: “Trên bảo dưới không nghe!” Và tuy cũng biết sự lệ thuộc là đương nhiên nhưng thật không ngờ tình trạng lệ thuộc lại thảm hại đến mức độ như thế. Những cơ quan văn hoá nước ngoài, quốc tế mỗi lần có hội nghị bàn về Việt Nam, Đông Nam Á, Á Châu&#8230; mời ông PHL phát biểu, họ sẽ nghĩ sao? Các ông thạc sĩ, tiến sĩ Việt Nam học của xứ Đại Hàn phát triển, mang cấp bằng của Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ nghĩ sao khi gọi ông Phan là “thầy”? Riêng chúng tôi, từ nay muốn có lời chỉ trích ông Phan chắc phải chùn tay, giữ miệng tuy rằng không thấy mình sai trái chỗ nào cả. Xin lỗi sử gia Phan Huy Lê. Và những người khác.</p>
<p>Trở lại vấn đề đổi mới sử học Việt Nam. Đáng lưu ý là trong tình hình cụ thể, việc xét lại sự kết án của các “nhân vật có vấn đề” (chữ của ông Vũ Ngọc Khánh, lưu ý: không phải sử gia) đã đưa đến những thay đổi để ông PHL dám đưa ra kết luận năm 2003: “Thành tựu đáng kể của ngành lịch sử Việt Nam là nhận thức lại một số giai đoạn lịch sử, một số sự kiện và nhân vật lịch sử như nhà Hồ, nhà Mạc, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhà Nguyễn, các nhân vật như Trần Thủ Độ, Hồ Quý Li&#8230; Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Kí&#8230;” <i>Các ý kiến phản hồi không tán đồng thì cũng là chuyện thường tình.</i> <i>Chỉ duy sự phản ứng xuất hiện vào đầu năm 2009 (ráng gượng gạo kéo dài đến cuối năm vì Lê Văn Tám) đã có một sắc thái hung hăng, mang tính đánh đấm hội đồng, dữ tợn đến mức độ tạo sợ hãi, gây ngạc nhiên.</i> Không những chỉ có chuyện gán ghép tố cáo chạy tội, kêu gọi cảnh giác đề phòng phe nguỵ ngóc đầu dậy mà còn có cả lời mắng phản bội, đòi “trảm” công thần, tất cả như một chiến dịch có hậu thuẫn lớn, có tính toán từng bước tăng cường độ, phổ biến mở rộng để tăng áp lực.</p>
<p>Phản ứng không đồng tình thì từ lâu đã thấy trên tờ <i>Hồn Việt,</i> nơi ghi là cơ quan của Hội Nhà văn Việt Nam. Trên các số báo trong năm 2008 thấy có những bài phản bác các luận điệu phục hồi cho Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Thanh Giản&#8230; tuy mang những luận chứng “trước sau như một” của các năm 1960 nhưng cuối năm lại có giọng gay gắt hơn với sự trở lại chủ đề chống Công giáo qua nhân vật Alexandre de Rhodes dẫn đến Trương Vĩnh Ký. (Vì giáo dân biểu tình đòi đất làm mất lợi lộc của người nhà nước?) Thời thế đổi thay thì các nhân vật liên minh đổi vị trí cũng là thường tình, như trường hợp người chủ trương ở đây sử dụng một chiến sĩ Thập tự chinh Phật Giáo (?) hải ngoại cho có màu sắc phối hợp rộng rãi tuy rằng người chiến binh này nếu ở vào tình thế khác cũng có thể là tay chống Cộng cừ khôi. Giống như vị trí của ông Vũ Hạnh nay được ghé tên trên tờ <i>Hồn Việt</i> nhưng lại từng chống đối việc ông Mai Quốc Liên in <i>Sông Côn mùa lũ </i>của Nguyễn Mộng Giác, và tiếp tục chống đối việc in sách của Lê Xuyên, Dương Nghiễm Mậu với chút đổi khác là tán tụng chính sách cởi mở của nhà nước khi cho in <i>Sông Côn mùa lũ!</i> Khăng khăng một mực chống đối người cũ từng cùng ở chung một vùng đất, chỉ là sợ có sự cạnh tranh, tuy cũng đã giàu có, hưởng thụ tận lực, cũng từng được cho ghé một ghế ngồi phụ trong <i>Từ điển văn học </i>rồi. Không biết công lao chống đối Mĩ Nguỵ của ông phải được đền bù đến đâu để đủ làm ông thấy thoả mãn?<i> </i>Quên rằng ngày xưa người ta đã nhân danh tự do cứu anh nằm vùng từng sử dụng chút tự do thời chiến để hãnh diện chống đối chính quyền mà không mất mát gì lắm, ông Vũ Hạnh không thấy việc in sách của các tác giả cũ cũng chỉ là chuyện thị trường, chuyện của thời thế mà với ngay cả người chủ ông cũng đã phải đổi khác. Công ti Phương Nam sang Cali chắc chắn là lo kiếm đôla, làm ăn hợp pháp chứ không phải để bắt mối liên lạc với Chính phủ Tự do Nguyễn Hữu Chánh.</p>
<p>Tuy nhiên ông Vũ Hạnh cũng được ông HLG kể vào loại được bàn tới như với ông Trần Thanh Đạm, “một nhà giáo và nhà phê bình văn học trong chừng mực nào đó” tuy “không phải là một nhà văn hoá có tầm ảnh hưởng rộng”. Không phải là nhà sử học cho nên những lời bàn về thơ văn Phan Thanh Giản, về thơ văn của ai đó nói về Phan Thanh Giản rốt lại cũng chỉ là chuyện giảng văn với mức độ sai lệch tùy người thưởng thức thơ văn mà ai cũng có thể biết được. Cứ đọc lại các bài của ông Trần Mạnh Hảo phản bác các nhà giáo Đại học thì đủ rõ. Trừ phi các ông Mai Quốc Liên, Trần Thanh Đạm buộc học trò chép y lời Thầy, không thì đánh rớt! Vì với họ, không thể bài bác các bài vè (về vua Hùng, chống nhà Nguyễn) của Nguyễn Ái Quốc / Hồ Chí Minh được, chỉ có thể khen tụng và làm theo mà thôi.</p>
<p>Tờ <i>Hồn Việt</i> cho ra số đặc biệt với tiêu đề: “Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn”, “xác minh quan điểm chính thống về sử học của Bác Hồ và của Đảng Cộng sản Việt Nam&#8230;” để các nhà sử học “nghe và viết theo sự chỉ dẫn của tư tưởng Hồ Chí Minh, theo quan điểm Sử học của Đảng ta&#8230;” <i>(1) </i>Có điều Hồ Chí Minh thì đã mất, Đảng ta thì không ra mặt chỉ đạo rành rẽ như ông Tuyên giáo Mai Quốc Liên, mà chắc chắn là tuy có phương tiện truyền thông, cơ sở phổ biến “nghiên cứu”, và có uy thế nhờ lập trường kiên định vững chắc, ông này cũng vẫn không đủ khả năng “vẽ” sử cho các chuyên gia. Cứ ngang tàng như một tác giả trên tờ <i>Văn Nghệ</i> của Hội Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, đã kêu gào các nhà cách mạng Nam Bộ năm 1945 đứng lên công nhận sự kiện Lê Văn Tám là có thật, như xác nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh không thể nào sai sót, cứ như thế mới rành rẽ và cương quyết hơn. Tuy nhiên có mượn hình ảnh gán ghép “Có giang sơn thì Sĩ mới có tên” để lấn lướt núp bóng, để cố vẽ ra sử thì cũng không ai công nhận, chỉ vì sợ mà phải nhận thôi. Ông tác giả của <i>Hồn Việt </i>lấy bài trong lớp trung học, cả của Mĩ Nguỵ (để có sự đồng thuận cao hơn) mà đem ra làm bằng cớ bắt bẻ, chỉ dẫn cho chuyên gia thì có núp bóng ai cũng vậy thôi. Nhà nghiên cứu đi chép lại bài học ở nhà trường cấp dưới thì sao gọi là nghiên cứu, bỏ công “nghiên cứu” để làm gì? Và do đó thật khó cho các sử gia bây giờ thêm một chút can đảm để ghi lại trung thực các diễn biến trước mắt.</p>
<p><i>Không thể nào giải thích cho người ta hiểu sự phân biệt một chuyên gia chính trị với âm mưu toan tính chiếm đoạt quyền bính phải phát biểu huênh hoang như thế nào, khác với một chuyên gia sử học nhỏ nhoi chỉ bằng vào sự kiện để lẳng lặng đi tìm chân lí khoa học. </i>Không hiểu nên người ta nhất quyết đòi làm sử gia, đòi phê bình sử gia, đòi có “vài lời đàm (!?) với ông Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam”. Như ông Vũ Hạnh lên án cuộc Hội thảo về nhà Nguyễn, bài bác sử gia PHL. Đành chịu thôi. Bởi vì cũng trên tờ <i>Văn Nghệ</i>,<i> </i>có bài của những người mà ông Hoàng Lại Giang cho là “không (đáng) quan tâm” lại có những lập luận vượt thời gian, vượt nhân loại để kết án các nhân vật kia, cuộc Hội thảo kia. Không biết họ là ai nhưng nếu trung thành với lề lối làm việc khoa học, chỉ chú trọng vào sự kiện, nhìn vào chính những phát biểu của họ, ta có thể nhận ra họ là những người không hay biết gì đến những biến chuyển ngay chung quanh nơi họ sống, trong xã hội mà họ tưởng là được kiến thiết theo mẫu hình của chính họ đang mơ tưởng. Như trong hai năm trước, cũng trên báo này, họ viện dẫn đến cô/bà giáo chê Lê Xuyên viết sách khiêu dâm – lời chê ngay trong thời kì có chuyện “Anh đưa em lên mạng nhé?” Từ căn bản bảo thủ bất trị, bất mãn với mọi thay đổi, ngày xưa họ nghênh ngang trong Mặt trận Bảo vệ Văn hoá Dân tộc, chĩa mũi dùi vào một chính quyền dù sao họ vẫn còn đường công kích, bây giờ trước những đổi thay còn đảo lộn hơn, họ lại biết sợ mà không dám thú nhận, nên chỉ có thể trút hận vào các thân xác rữa nát hay còn chút ngắc ngoải của chế độ xưa mà thôi.</p>
<p>Họ ghép các ông Dương Trung Quốc, Tương Lai, Phan Huy Lê vào một “trung tâm văn bút” có dáng là của nguỵ di tản nhưng chắc các ông này không cách nào có thể cổi lốt làm dân Hát-Ô được đâu. Các chứng nhận của UNESCO mà “nhà nước ta” cầy cục xin, rước xách linh đình để treo lên trưng bày với thế giới, các tấm “bằng” này đối với họ không có giá trị gì hết, chỉ là chứng tỏ sự đồng tình của những tên thực dân đế quốc vào hùa với nhà Nguyễn dùng xương máu của nhân dân xây nên các công trình kia mà thôi. Các đền đài, thành luỹ đó đáng phải đập phá, làm nhà kho hợp tác xã, làm chuồng nuôi trâu bò như sau năm 1975 mới là đi đúng đường lối cách mạng, mới là trung thành với sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Chưa nói đến chuyện sử học mà có người viết bài thú nhận rằng không biết nhiều nhưng cũng từng đi hỏi kẻ khác để đối phó với các chuyên gia, hãy xét chuyện tranh luận bình thường: Họ viết bài năm 2009 mà không quan tâm gì đến những lập luận khác đã in ra trong sách, báo trước đó, để cứ giữ những luận điểm (của người khác gà cho) từ những năm 1960, để chứng tỏ tấm lòng trung kiên của mình mà thôi! Như thế làm sao đòi hỏi họ phải đọc quyển sách của Y. Tsuboi đã được dân chuyên môn bỏ công dịch đến 2 lần (1990, 1992)? Dù sao thì đây cũng là bằng chứng rõ ràng cho tình trạng thông thường của việc tầng lớp chính trị tỏ thái độ ngang ngạnh trước các quan điểm học thuật.</p>
<p>Không biết công tích của họ như thế nào đối với đất nước, với chế độ họ đang phục vụ và tự cho là phải sống chết bảo vệ nó mà khi có người (như ông Võ Văn Kiệt) chỉ vì bênh vực một người họ cho là trái, đã bị họ trích dẫn tội khác, sổ toẹt thành tích, cho rằng kẻ “mị dân” kia chỉ “có thành tích nhất định nhờ dựa vào sự hi sinh vô bờ bến của toàn dân” mà thôi. Cho rằng “sự hi sinh của người chiến thắng không thể nào tả xiết,” họ tiếp tục viện dẫn “hàng vạn các bà mẹ Việt Nam anh hùng” để chặn trước sự “hoà hợp” có thể dẫn đến “hoà tan”, cũng như năm 2007 họ dùng Chiến sĩ sư đoàn 9 hù doạ người đã chết Lê Xuyên. Thấy đám di tản chửi thề, chổng mông, tuột quần cũng thật là chướng nhưng họ phải làm gì trước những kẻ không buông tha họ, cứ đòi truy bức đến tận cùng? Cho nên có một điều cũng phải thắc mắc thêm: Vấn đề phe phía, tiêu diệt đối thủ thì cũng là chuyện thường tình nhưng sao chỉ ở người cộng sản là có chữ “tận diệt”, săn đuổi bất tận? Truyền thống được tiếp sức bởi quyền lực không tranh cãi chăng?</p>
<p>Tuy nhiên sự chống đối bột phát dữ dội, có hệ thống như thế lại khiến thấy nổi lên những vấn đề gợi ra những suy nghĩ mang tính cách bao quát hơn cho người nghiên cứu bây giờ và sử gia mai sau.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/sliuqucnivnnshcdntcchnghaVitphn2_13950/ptgsepiafoto.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" border="0" alt="ptg sepia foto" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/sliuqucnivnnshcdntcchnghaVitphn2_13950/ptgsepiafoto_thumb.jpg" width="269" height="303" /></a></p>
<p align="center"><font size="1"></font><font face="Times New Roman"><em>(<span style="font-family: times new roman; font-size: xx-small">Tiến sĩ, Thượng thư Phan Thanh Giản (1797-1867))</span></em></font></p>
<p><b></b></p>
<p><b>Xét lại sử học và Việt Nam học</b></p>
<p>Như đã nói về việc đổi thay thế hệ, đổi thay vị trí lịch sử, các việc đòi xét lại những phán xét lịch sử từ những năm 1960 đã bắt nguồn từ những sai sót – gọi là khác biệt cũng được, từ việc phán xét những nhân vật lịch sử mà tình thế đã làm cho kết luận trở thành chân lí chính trị, làm dây dưa cho các nhận định trái lại. Thói quen nhìn theo quan điểm chính trị là thống soái, tránh những vấn đề”nhạy cảm”, đã khiến cho ngày nay muốn bào chữa, người ta thường dùng đến các tập họp từ đi theo biến động chính trị chung chung đã được công nhận: nào là vạn dụng chủ nghĩa Mác một cách duy ý chí, nào là giáo điều, công thức&#8230; <i>Người ta đã né tránh sự kiện cụ thể là người ta đang phán xét người-của-vùng-khác. Kiêu hãnh đứng ở Hà Nội, người ta phán xét các thành phần phía Nam với tất cả những dồn nén của quá khứ. </i>Chuyện đã xảy ra, không xa, tuy tầm mức hạn hẹp mà vẫn có ý nghĩa tiêu biểu, là chuyện loại trừ cải lương. Tất nhiên là phải dựa vào lí tưởng cao cả như lòng yêu nước cũ và tính giai cấp của tình yêu nhân loại mới. Để không ai dám cãi. Tiếng nói lạc lõng bênh vực Phan Thanh Giản của ông Ca Văn Thỉnh (1963) mãi đến sang thế kỉ XXI mới được nhắc tới rõ ràng, mà cũng phải ở Nam Bộ! Tiếng nói chuyên môn bị gầm gừ như ý kiến của Chương Thâu và Đặng Huy Vận. Họ mạo danh “nhân dân Nam Bộ” nên không thèm kể đến dấu vết nhà Nguyễn đã sâu đậm đến thế nào trong vùng, nhắm mắt không thấy sự kính ngưỡng của dân Gia Định đối với Lê Văn Duyệt, đến sự mến mộ đối với Phan Thanh Giản, và không lưu ý rằng tượng P. Ký và tên trường chỉ bị gỡ bỏ sau 1975 chứ không phải 1945.</p>
<p>Sự căm ghét nhà Nguyễn được biện minh bằng lòng yêu nước, yêu cách mạng Tây Sơn không che được nỗi hận “mất Thăng Long”, ảnh hưởng bởi tâm tình nuối tiếc vì sự hạ giá đất Ngàn năm văn vật: “Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương” / “Thiên niên cự thất thành quan đạo, Nhất phiến tân thành một cố cung”. Nỗi gầm gừ vì mất tên Đại Việt khiến họ không chỉ than thở như Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du mà nhân nằm đúng vị thế chủ đạo lịch sử, họ viết thành sách giáo khoa để dạy học sinh chớ quên chính nghĩa “nhân dân” là ở nơi đâu. <i>(1)</i> Cho nên trong lúc “các nhân vật có vấn đề” như Trần Thủ Độ, Hồ Quý Li (có một “tội” lớn: làm mất nước!), Mạc Đăng Dung được giải quyết một cách không cần giải quyết thì đương thời không có một hội nghị nào về Hoàng Cao Khải, rồi qua thế kỉ XXI, trong lúc Phan Thanh Giản còn truân chuyên với lời kết tội “mại quốc” thì Hoàng Cao Khải được hưởng một bài trang trọng trên tờ <i>Nghiên cứu Lịch sử </i>(2008) của Viện Sử học. Phan Thanh Giản chỉ mới kí tên trên nửa tờ giấy “bán đất” còn Hoàng Cao Khải thì giúp Tây bình định Bắc Kì; con Phan Thanh Giản chống Tây, còn họ Hoàng “một nhà hai Tổng đốc”. Thế mà chẳng thấy <i>Hà Nội Mới</i> lên tiếng hùng hổ chống đối, còn thì <i>Hồn Việt </i>khoan thai (3-2010) chắc vì chưa kịp nghe lời phản ứng.</p>
<p><i>Hồn Việt </i>khi chỉ trích Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh cũng còn đăng bài thanh minh cho Nguyễn Văn Vĩnh. Các triều đại Đinh Lê Lí Trần Lê đều nổi bật với những nhân vật cứu nước / yêu nước thương dân, không ai kể tội các ông này giết người như ngoé, coi quan triều như tôi tớ, chơi bời đến mức độ mắc bệnh lậu / tim la như sách sử có chép gần gần như thế&#8230; Ấy thế mà trong các công trình lịch sử văn hoá được UNESCO công nhận thấy toàn là ở phía Nam, với Mĩ Sơn mất nước, Huế bán nước có hai “bằng”, móc ngược về trước với Hội An, tới <i>Mọi</i> mà cũng có bằng Văn hoá Cồng chiêng. Trong lúc Quan họ còn phải nhờ một ông Tây chứng nhận&#8230; Người ta thu xếp Hoa Lư để cạnh tranh với Huế không được, cố bỏ tiền tỉ xây dựng Phú Thọ, hết tháp Hùng Vương tới tượng Quốc tổ, cứ tưởng to rộng, “hoành tráng” là được để mắt tới. Người ta cố gắng moi Hoàng thành Thăng Long thì chỉ được mấy cái giếng có chức quyền lớn múc về nấu pha trà uống nước-ngàn-năm, thứ nước mà dân nhậu Hà Nội nhạo báng là của họ! Cho nên, với thời gian, các luận điểm lịch sử từ những năm 1960 càng không thể nào xoá bỏ được khi sự chênh lệch danh tiếng Vùng càng tăng lên như một sự thách đố với quyền lực xuất phát từ chiến thắng vừa qua.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/sliuqucnivnnshcdntcchnghaVitphn2_13950/truongvinhky.jpg"><img style="border-right-width: 0px; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" border="0" alt="truong vinh ky" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/sliuqucnivnnshcdntcchnghaVitphn2_13950/truongvinhky_thumb.jpg" width="278" height="349" /></a></p>
<p align="center"><span style="font-family: times new roman; font-size: x-small"><em>(Học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898))</em></span></p>
<p>&#160;</p>
<p>Tính chất thiên lệch Vùng còn thấy rõ hơn khi có những yếu tố khác dồn ép. Trương Vĩnh&#160; Ký bị tố khổ với tâm tình chống Gia tô – cả từ của những người có vẻ không cần đến loại “vũ khí” đó, nhưng cũng chẳng thấy có một hội nghị sử học nào ở Hà Nội kết tội, chỉ có loại công-khai-lén-lút như khi “nghiên cứu” <i>Tây Dương Gia-tô bí lục </i>thôi. Không ai nói ra lí do nhưng cứ nhìn khối Công giáo sừng sỏ có cánh tay quốc tế thì đủ hiểu. Có một phản ứng chung về việc Phong Thánh thì cũng có những phản biện chứ không phải mắng mỏ ồ ạt. Bây giờ đã có một trường Trương Vĩnh Ký khuất lấp ở Tp. Hồ Chí Minh. Khi có phản ứng “<i>Từ thế kỉ XXI nhìn</i> (các nhân vật có-vấn-đề)&#8230;” thì Trương Vĩnh Ký cũng được nhóm <i>Văn Nghệ</i> chiếu tướng ít hơn Phan Thanh Giản “Nam Kì chân đất”, người được ghép tội bán nước với một kẻ khác (Lâm Duy Hiệp/Thiếp/Nghĩa) mà không thấy ông toà yêu nước xưa nay nào nhắc tới. Bản dịch <i>Đại Nam thực lục </i>ra đời trong thế kỉ trước có phần Sách dẫn cũng “quên” mục Phan Thanh Giản trong một số năm. Có lẽ do đó mà cả một hệ thống sử gia, học giả có thẩm quyền ngày nay ồn ào lấn lướt chứng minh bản sách “Nội các quan bản” của họ là thuộc vào thời Lê Trịnh, là bản gốc. Họ “quên” sự kiện ông Tổng tài Quốc sử quán (1856) “xin in ra nguyên bản bộ <i>Đại Việt sử kí</i>&#8230; để tra xét” – với năm tháng đó đã có tổ chức Nội các thời Minh Mạng (1829), và danh xưng tổ chức sử dụng được ghi nhận rành rẽ trong “bản Chính Hoà” kia chỉ rõ sự đối ứng với một bản in khác dành cho một tổ chức cùng thời: “Quốc tử giám tàng bản”! Sức nặng bản án thời 1963 đó rõ ràng đã làm hại lây đến người công thần tận tình bênh vực ông, bây giờ bị một kẻ chắc chắn là không ra gì – nhìn lập luận, bài vở mà xét – xúi giục các “bà mẹ Việt Nam anh hùng” kết tội “vô ơn”, lớn tiếng đòi xét lại công tích – như ngày xưa là phải san bằng mả, xích lại! Trong khi đó nhà xuất bản Quân đội Nhân dân cho in sách (2007) về một nhân vật cuối đời chống đối nổi danh, với cái nhan đề đầy lòng trân trọng: <i>Chuyện tướng Độ, </i>và không chừa, trích luôn cả “Thư tâm huyết”, ý kiến tuy mới chỉ ở giai đoạn bảo vệ, xây dựng Đảng nhưng cũng cho thấy lí do của các hành động quyết liệt về sau.</p>
<p>Cho nên phản ứng đối với việc Xét lại lịch sử này cũng hé cho thấy một <i>tình trạng thực dân nội biên tồn tại khuất lấp </i>dù sự phát triển kinh tế có khiến cho những nhân vật phía Nam được đi vào cơ cấu lãnh đạo cao nhất (mà “nhập gia tuỳ tục” vẫn chỉ có cách nói theo, vào hùa, nhắc lại lời thầy tuồng ngớ ngẩn). Sài Gòn mất địa vị thủ đô, còn là một địa phương lớn phía nam nên các phản ứng tập trung nơi đây còn làm cho địa phương nhỏ hơn, nhỏ mà đầy công tích: Bến Tre, giật mình. Tuy vậy bản chất phản ứng – dữ dội một cách phô trương, lại là minh chứng cho thấy <i>tính chất thuộc hạ vẫn còn phải canh chừng ngày nay</i> của trung tâm Gia Định xưa này. Ý thức phản kháng, tự định vị còn rơi rớt sau thời VNCH nay đã tàn tạ qua một thế hệ thuần phục, dù chỉ chừa lại sự xu phụ ngông nghênh cũng vẫn phải được bận tâm đề phòng. Không phải chỉ là sự xuất hiện dồn dập của các người viết mà ông Hoàng Lại Giang cho là “không (đáng) bàn tới” với kiến thức của các bài học tập ở chi bộ phường khóm do các đảng viên về hưu kềm giữ. Về mức độ này thì có thư góp ý của một hưu viên tuy cũng tán đồng các chuyện kể về tính cách cao quý của Lãnh tụ nhưng lại bắt bẻ về một chi tiết ông “chưa bao giờ nghe”, theo ông là hạ giá hơn là đề cao Người, chi tiết thuộc loại xương gà vịt bình thường này chắc không ai lưu ý đến chút nào.</p>
<p>Tính chất thuộc hạ là biểu hiện nằm trong vị thế bị chiếm đóng của Miền Nam mà tờ <i>Văn Nghệ</i> còn cho thấy ở các vấn đề khác. Họ bài bác tiểu thuyết <i>Sóng chìm</i> của Đình Kính đã được giải thưởng Hội nhà Văn vì đã lượm lặt được trong sách này những câu mang tính cách xuê xoa lịch sử vừa qua, kiểu “người làng Cát giết người làng Cát&#8230;” Tính chất hàng thần lơ láo dai dẳng, lời tố cáo lập công “bạn đọc đang nóng lòng chờ các cơ quan chức năng trả lời” cho thấy họ ý thức được thân phận thấp thỏi của họ, là thành phần của một cơ quan địa phương, phải cố sức vươn lên bằng cách bày tỏ sự nhiệt thành trung kiên vượt cấp mới cho là đủ gợi được sự lưu tâm từ trên cao. Người khác tuy không đọc tiểu thuyết <i>Sóng chìm</i> bị kết tội “nói dối trong văn chương” nhưng cũng có thể biết rằng Hội nhà Văn hẳn không trao giải thưởng cho một kẻ “có cái tâm không trong sáng&#8230; có những trang viết độc ác” phản bội dân tộc đâu. Không cần phải lo xa chuyện mất lập trường kiên định cách mạng. Lại cũng nên dẫn thêm chuyện một người làm văn nghệ được vài giải thưởng gì đó của Trung ương Hà Nội bị Tỉnh uỷ thắc mắc “Từ 75 (về hàng) tới giờ không thấy anh làm một bài thơ nào ca tụng Bác và Đảng mà sao anh lại lãnh giải thưởng?” Và không phải chỉ có chuyện chê trách riêng tư: Bản luận văn về Trịnh Công Sơn đã được in ra, nghĩa là có sự chấp thuận của cấp trên, thế mà vẫn bị chức quyền Bình Định ra quyết định cấm đoán, tịch thu! Nghị quyết 23 với tham vọng dạy dỗ văn nghệ sĩ sáng tác, qua các hội nghị Lí luận Văn nghệ mở ra ở các cấp, một khi được dẫn “đi vào cuộc sống” có định hướng như thế thì ước mơ Nobel còn khó hơn là chuyện mò trăng đáy nước!</p>
<p>Không phải nói chuyện lạc đề, vì những người chống Xét lại đã lôi Phan Thanh Giản, nhà Nguyễn về lại cuộc chiến mới hôm qua để gộp chung chém một lần cho tiện, vặn vẹo mượn người đã chết, làm sĩ phu thời mới, hăng hái “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.</p>
<p>Xét tình hình thực tế “tự do ngôn luận” như đã thấy, người ta có thể nghĩ không sai lắm, là tự thân những người kia chưa đủ can đảm để bênh vực “chính nghĩa” như thế dù là họ cũng lựa gió phất thêm cờ, bẻ thêm vài mụt măng cho bếp nhà&#8230; Đổi mới cũng phải có định hướng. Ông Hữu Thọ khi giam bài viết của ông PHL trong hai năm trời đã chứng tỏ rằng mối lo sợ của ông sử gia là có cơ sở. Bất đắc dĩ mới phải chịu kết luận của hội thảo 2003 dù rằng nơi này chỉ mới bỏ tội “bán nước” của Phan Thanh Giản mà thôi. Nhưng giá như những điều thu hoạch được chỉ nằm trên bàn trà nước của các ông Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà Nghiên cứu thì chẳng sao. Đằng này dân chúng Nam Bộ lại không những khỏi phải cất giấu chứng tích về Phan Thanh Giản (may chưa kịp thủ tiêu!) mà còn nghe lời các ông cựu Thủ tướng, Tỉnh uỷ thấy được phóng xá liền cất đền thờ to lớn cho xứng với thời mở cửa, để cạnh tranh danh nhân với các nơi khác, rồi lại trương tên lần nữa trên đường phố cho mọi người qua lại in trí nhớ lối đi về&#8230; Sự sai sót của lãnh đạo thần thánh như thế thành ra có dáng trầm trọng, không thể nào để phô bày công khai thêm được.</p>
<p>Rồi vượt trên khu vực đàn em tí xíu, cuộc Hội thảo triều Nguyễn vốn ít nhiều gì cũng xảy ra do tình trạng bao chiếm danh nhân (ở đây là của Thanh Hoá) nở rộ khắp nơi (xuống đến huyện: [Chương Mĩ...], làng xã Nguyễn Thị Lộ, quê “ba bà Hoàng hậu (?)” vốn chính thức chỉ có một là Lê Ngọc Hân&#8230;) khiến cho tầm mức ảnh hưởng của nó trở nên lớn rộng, không phải chỉ thu lại nơi vùng cơ sở của những tên vua từng bán nước, đối đầu mãi đến năm 1975 gần gũi mà vì là nơi phát tích của triều Lê cứu nước, văn minh nên còn lấn chiếm một phần danh vị Thăng Long nữa. Ảnh hưởng này được một người của <i>Văn Nghệ</i> nêu lên sự tai hại, không phải chỉ là “tung hoả mù vào lịch sử”: Các ý kiến của Hội thảo chưa phải là “của Nhà nước để được coi là chính thống”, thế mà các ý kiến đó “đã được giới truyền thông phổ biến trên các phương tiện đọc, nghe, nhìn&#8230; thậm chí lại được Hội Sử học phát tán về các tỉnh thành trong toàn quốc&#8230;” Như đã nói, ông tác giả kia đã không biết gì về xã hội quanh ông khi buộc tội giới truyền thông, cứ nói giống như khi ông phát biểu ở Đảng bộ cơ quan, xã phường! Không biết ông sẽ hành xử như thế nào khi được giao quyền “trị” giới truyền thông về tội phổ biến các hoả mù nọ nhưng sự lo sợ các ý kiến vượt thoát tầm tay kiểm soát của người cầm quyền đi vào dân chúng đông đảo, nỗi lo sợ ấy đã được chứng tỏ là có thật. Đã đến lúc phải ngăn chặn. Và điều ấy được giao cho phần hành bảo thủ “kiên định” phía Nam, nơi của phát triển khó kiểm soát, nơi có bất an thường trực không phải chỉ vì là đất nguỵ mà còn vì những tiếp cận từ bên ngoài vào.</p>
<p>Chiến thắng 1975 tuy đưa Đảng lên thành ông chủ đất khổng lồ nhưng không đi đôi với uy thế phân vùng kinh tế khiến cho tham vọng cai trị của Hà Nội trở nên chông chênh. Dù được vuốt ve bởi bao thứ hoa văn xảo ngữ mới, tính chất xâm lăng của truyền thống phương Đông khiến người ta vẫn tìm cách xoá sạch vết tích cũ trên vùng chiếm đóng với không biết bao nhiêu luận cứ tân thời. Tiếp tục lời dạy của Bác từ thời trong hang Pac Bó, công trình xây cất của nhà Nguyễn thành trụ sở chính quyền, kho hợp tác xã&#8230; tên vua chúa Nguyễn, công thần của họ bị xoá sạch, mả Bá Đa Lộc vốn là công trình của người thợ Gia Định thế kỉ XIX, bị san bằng&#8230; Triều Nguyễn với một thế kỉ rưỡi có thư sử để lại hàng chục ngàn trang, dày gấp bội chuyện thiên niên kỉ của các triều đại trước mà không ai để tâm / dám khai thác, rõ ràng chỉ vì sự ngăn chận chính trị kia đã khiến người ta ngần ngại khi muốn “nhìn” đến nó. Châu bản, như một chiến lợi phẩm, gom về Hà Nội với danh nghĩa tài sản quốc gia <i>(2) </i>cũng là cách cắt đứt dấu vết của triều này, rồi có khi lại mất dần như <i>Lưu hương kí, </i>có đòi cũng được thách đố: không trả.</p>
<p>Với chiến thắng “trời long đất lở” do Đảng lãnh đạo, Miền Nam (nhất là khu vực Nam Bộ) trở thành một vùng đất không quá khứ, không giá trị tồn tại để chúng ta kịp hiểu tại sao ngay từ địa phương lại có những đòi hỏi liên tục phải Xét lại lịch sử như kia. Ta cũng hiểu tại sao người nhiệt thành bênh vực nhất cho Phan Thanh Giản lại là một công thần của địa phương, nấp sau các danh vị xưng tụng khác nhưng là người thúc đẩy đổi mới thực sự, người đó, trong chiến tranh chưa hề ra khỏi đất Nam Bộ. Người ta lấp khoảng trống để lại bằng cách trương ra tên của các công thần mới, công thần của họ, xa lạ với người dân trong vùng, tên những ông bà giao liên, tỉnh, xứ uỷ của phe nhóm, không gợi được chút gì tôn kính dù có tô vẽ thêm bằng những tấm phướn kể lể công tích trên đường phố. Mả mồ bị đào xới (quên lời chửi bới Gia Long đào mả Nguyễn Huệ) để lập những công viên, trong đó có tên cậu bé Lê Văn Tám như là bằng chứng của sự sai sót, chuyển qua dối trá lịch sử đã trở thành lịch sử không được phép bôi xoá, không thể nào bôi xoá được. Sử gia PHL cũng thấy rõ “đang dấy lên gần như phong trào biên soạn lịch sử làng xã, gia phả các dòng họ&#8230; đưa đến hiện tượng gần như ‘toàn dân viết sử’” và được in ấn đàng hoàng, làm chứng cớ cho một tình trạng, theo sử gia, sẽ “để lại một di sản sau này con cháu chúng ta rất khó xác minh”. Sau những đồn đãi tranh giành làm chủ nhân vật Lê Văn Tám, ông mới mạnh dạn thực hiện lời dặn dò của Trần Huy Liệu mà nêu sự thật bịa đặt về nhân vật này để sau này khỏi có kẻ mạo nhận dòng dõi&#8230;</p>
<p>[ Phản ứng đòi giữ gìn danh vị Thánh của Lê Văn Tám nói ở phần trước cũng thật dễ hiểu, dù là ngang ngược. Dù sử gia PHL có tìm cách xoa dịu tự ái địa phương bằng những lập luận để khỏi làm biến mất các chứng tích thần tượng đã thành hình khiến tên công viên LVT không bị suy suyển nhưng vẫn có một ngôi trường Đuốc Sống bị đổi tên rồi! Vì thế người ta có quyền hỏi tiếp: Đến chừng nào thì tên các “anh hùng” loại “lấp lỗ châu mai” được nhắc tới cho lịch sử trong sáng hơn? Ai đã từng nắm khẩu súng, thấy nét sắc bén của đầu viên đạn, nghe tiếng nổ liên thanh... thì đều không thể hiểu được câu chuyện một người đã bị thương mà còn lết được tới đầu mũi súng của anh lính đang siết tay cò để cứu tính mạng mình, và người bị thương kia lại có thể tránh thoát các viên đạn tiếp theo để nhấc mình lên bịt kín hàng rảnh lỗ châu mai, làm im tiếng súng cho đồng bọn tiến lên chiếm lĩnh trận địa. Nghe như có một chuyện thần thoại khác, tàm tạm giống chuyện con người xăng tẩm đầy mình mà chạy lung tung đốt kho đạn vậy. Người “anh hùng” trung ương kia có tên tuổi, đang nằm trên một con đường của Tp. Hồ Chí Minh đấy. Huyền thoại anh hùng địa phương thì bị sứt mẻ trong lúc huyền thoại anh hùng trung ương không ai dám đá động tới, bảo người ta không tức giận sao cho được? Chừng nào thì sử gia PHL lục tìm trong văn khố Quân đội Nhân dân, Chính phủ VNDCCH tìm ra sự thật về anh hùng Phan Đình Giót để thiên hạ chiêm ngưỡng thêm? Hay lại phải làm đơn xin coi hồ sơ của Bộ (?) Tuyên truyền Trung Quốc về chuyện người lính Hồng quân bịt lỗ châu mai của quân phản động Tưởng Giới Thạch, câu chuyện hào hùng đó được tướng Trần Canh viện trợ không đòi lại?]</p>
<p>Ông sử gia quên chuyện Hội của ông tham gia vào việc cổ động đúc tượng danh nhân loạn xà ngầu, trong đó mới vừa có tượng Quốc tổ Lạc Long Quân, chẳng biết lấy mẫu từ ông thổ địa nào! Còn tượng hai người hầu cận thì chắc chắn là lấy từ phim-bộ Hồng Kông. Người văn minh có tiền thì đầu tư cho tương lai cụ thể, đằng này có tiền thì đầu tư vào quá khứ ảo để gửi mong ước cho ngày nay ngày sau, thấp thoáng như ngày xưa làm việc tô tượng, đúc chuông, xây chùa&#8230; Ông Phan lại cũng né tránh việc biên soạn lịch sử Đảng ở các cấp, tốn hao tiền của đến mức phải la lên, bớt lại! Và những người quen với lối kiểm soát chi tiêu chặt chẽ ở các xứ sở bình thường, phải thắc mắc rằng sao ở Việt Nam chuyện ban phát tiền bạc của công khố lại dễ dàng phe phía đến như thế? Trách nào những người sắc mắc lại cho rằng đó chỉ là chuyện mượn cớ lễ hội để chia nhau ân sủng quốc gia, có “làm” mới có “ăn”?</p>
<p>Không phải chỉ một lớp “quần chúng kém giác ngộ” làm bậy đâu. Xoá sạch mồ mả cũ, kể cả của tư gia, thì phải có mồ mả mới dựng lên. Thế là hàng hàng lớp lớp, trùng trùng điệp điệp nghĩa trang liệt sĩ to nhỏ, hoành tráng chiếm các diện tích sinh hoạt vốn đã chật chội khiến học sinh phải vào học trong các nghĩa trang đó. Nói như một ông <i>Văn Nghệ,</i> “sự hi sinh của các chiến sĩ chiến thắng không thể nào kể xiết” nên xác chết nào trong chiến tranh cũng là do tội ác của Mĩ Nguỵ. Như mồ chôn tập thể ở Dung Quất, số lượng nhiều hơn Mĩ Lai nhưng không phô trương vì chưa được nhà báo thế giới quảng bá, chưa được luật pháp Mĩ công nhận. Như mồ chôn ở An Lộc bị xoá tấm bia ghi hai hàng chữ của cô giáo mất tên: “An Lộc địa sử ghi chiến tích / Biệt cách Dù vị quốc vong thân” để thay bằng tấm bia kể tội ác Mĩ Nguỵ đem B52 tàn phá 100% trên vùng An Lộc đã được giải phóng (?) năm 1972. (Ban Chỉ đạo Kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, <i>Tìm trong di sản văn hoá Việt Nam Thăng Long – Hà Nội, </i>Nxb. Văn hoá Thông tin 2002, phần tỉnh Bình Phước, “mộ tập thể 3000 người”, tr. 432-433). Như nấm mồ tập thể của hàng trăm chiến-sĩ-ta ở Bình Định hồi tết Mậu thân kéo quân lóng ngóng ngay giữa đồng trống bị Đại Hàn giã đại bác liên hồi, gọi người đến chứng kiến rồi chôn giùm, nay trở thành chứng tích tội ác của quân Nam Hàn / Nam Triều Tiên. Số người mất tích trong chiến tranh không còn có thể để khuất lấp trong những công trình chôn cấp tập thể, nay phải đặt ra trước đòi hỏi của những người thân cụ thể, do đó nhà nước phải mượn cả một phong trào mê tín được nâng lên mức độ bán khoa học để xoa dịu chống đỡ. <i>(3)</i></p>
<p>Cuộc tàn sát hồi Mậu thân ở Huế, ở Quảng Trị mùa hè 1972 cũng là do Mĩ Nguỵ gây nên, sự thật lịch sử đó được một Phó Giáo sư Tiến sĩ đem ra giảng dạy ở Đại học Quốc gia Hà Nội, và đăng đàng hoàng trên tờ <i>Nghiên cứu Lịch sử</i> (2008) của Viện Sử học đấy. Cứ tưởng câu chuyện “Sĩ quan nguỵ nấu cháo đầu người trong lễ Ra trường” của Chế Lan Viên đã đi theo cái Bánh vẽ của ông ta rồi. Cho nên không lấy làm lạ là người ta lo ngăn chặn Xét lại, chống Xét lại.</p>
<p>Vấn đề Xét lại và Chống xét lại Sử học Việt Nam xuất hiện như thế cũng là một dịp cho sử gia tương lai nhìn lại một vấn đề của Việt Nam học bây giờ: Sự tồn tại của chính quyền đương nhiệm và những mối liên hệ với quá khứ.</p>
<p>Không ai lại tự dưng buông bỏ quyền lực – hình như là danh ngôn của Lenin đấy. Nhất là thứ quyền lực đã chứng tỏ thành công từ muôn vàn mánh khoé trong chiến tranh, tỏ lộ lần hồi qua những ghi chép, hồi tưởng của các nạn nhân – kể cả cựu công thần, nay được bồi đắp bằng sự thu tóm kĩ thuật mới, bằng sự tiếp nhận tiền của dư thừa của đám tư bản thấy có nơi chốn vơ vét khỏi màng đến oán thù xưa cũ. Trong đó có tiền sinh lời từ việc buôn xác chết trên Biển Đông, như nhận định khá cynical của một lãnh tụ về viễn vọng khác của chủ trương xua người vượt biên ắt sẽ đem lại kết quả tích cực cho quyền lực của Đảng đến tận nước Mĩ, và phản hồi vào trong nước. Tuy nhiên rõ ràng là trong tình trạng nước ta, tầng lớp cầm quyền đã mất đường hướng cơ sở mà không chịu công khai thú nhận. Cái thế bám víu vào Trung Quốc theo định mệnh lịch sử rõ ràng bộc lộ những nguy cơ to lớn hơn lúc nào hết. Nguy cơ chèn ép từ Người Bạn lớn mà không có đối trọng, đã gây nên phản ứng khắp nơi, đánh động đến tính chính nghĩa lâu nay của người cầm quyền đang thi hành một chính sách ngoại giao vướng víu tính hội kín luồn lọt thậm thụt, xa lạ với thế giới bây giờ. Cho nên rốt lại, tất cả chỉ còn là những ứng biến cấp thời, giai đoạn, buông bỏ cho khu vực&#8230; Cái kiến thức làng nhàng không vượt ra khỏi cục đất, vuông tôm của tập họp lãnh đạo khiến cho loại chủ trương xây dựng quyền bính kiểu “vừa chạy vừa sắp hàng” sau ngày chiếm Miền Nam, đến hơn 30 năm cũng vẫn không thấy thay đổi.</p>
<p>Người ta “giả như” xây dựng một chủ nghĩa cộng sản có “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Có điều, vì cái “giả như” ấy mà tiền của lại đổ dồn vào các tay làm thị trường thật sự: các Đại Gia, như danh vị được tuyên xưng râm ran bây giờ, còn những người canh gác cho chế độ thì – trừ các tay nhanh nhạy chủ chốt – lại chỉ có thể bám víu quơ quào những người kia để sống mà nói chuyện lí thuyết để dương danh với quần chúng và hi vọng còn tên trong lịch sử về sau. Khuất lấp ở địa phương, trừ trường hợp rủi ro lộ diện, là các ông chức quyền địa phương bao che cho các công tử vườn, cạu ấm, kẻ ăn người làm&#8230; Trường hợp ông Tổng Giám đốc Hàng không Việt Nam cấp tiền cho một ông cựu Bộ trưởng đi du học tiếng Anh là một trong những ví dụ tội nghiệp nhất ở cấp bực trên cao.</p>
<p>Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã tan rã thì phải quay về truyền thống quyền lực cụ thể cho nên <i>chủ nghĩa huyết thống </i>được đề cao, đầu tiên là sự tôn thờ người Khai sáng triều đại. Lãnh tụ đi vào Miền Nam có biến dạng một chút thành một thứ như là Giáo chủ của một loại Đại đạo <i>Tứ kì </i>Phổ độ nằm trong các bức tường thành giống như trong một phim ảnh của Trần Khải Ca, trên đất Bình Dương cũng chẳng sao, có vô chùa, ngự trong đền thờ là được. Lối kinh doanh thờ cúng này là tiêu biểu cho ý thức hệ của lớp đại gia địa ốc, cố gắng làm mới qua sự phô trương “hoành tráng” của kĩ thuật du nhập và tỏ lộ trong sự vẫy vùng dưới sự trì níu của quá khứ, không phải chỉ của quốc gia mà là của cả khu vực.</p>
<p>Viện (?) nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được đặt ra ban phát văn bằng cho cán bộ khung nắm quyền. Việc học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh đưa đến tận trường học vừa mới thấy kết thúc một đợt đầu năm Kỉ sửu, có tính cả thành quả dạy cho đám con em dân tộc thiểu số nói tiếng Viẹt chưa xuôi. Tính cách thần thánh hoá lãnh tụ đã có căn bản vững chắc trên miền Bắc, có sự hãnh diện của vùng đất chiến thắng bồi đắp bằng sự thu hút tài nguyên toàn quốc, nhất là ở Miền Nam với dầu mỏ, lúa gạo, cà phê, và sắp tới là bauxit – chưa kể phó sản Bán vé vượt biên đã cung cấp hàng năm nhiều tỉ đôla như đã nói. Vị trí thủ đô nằm trong vùng mang tư thế thần thoại được mớm lời cho Thủ tướng: “rồng cuộn hổ nằm / ngoạ hổ tàng long”, được khuếch trương, tôn tạo, in ấn sách vở đề cao tính thống nhất “chầu về”. Chủ tịch nước thay vua làm lễ Tịch điền, biểu dương chính nghĩa trong thời mới cho một thứ <i>chủ nghĩa huyết thống tập thể</i> mang tính diện địa: Phú Thọ với vua Hùng Bốn ngàn năm, Thăng Long Ngàn năm, Huế 700 năm, Quảng Nam 600 năm, Quy Nhơn 500 năm, Sài Gòn 300 năm&#8230; Ai cũng có phần hết, chỉ là đứng ở vị trí nào mà thôi. Sự khai triển sử sách các vương triều, bó gọn trong <i>Toàn thư</i> như thế dẫn đến một loại giáo dục về “truyền thống” đặt cơ sở đạo đức cho lí thuyết chính trị nô lệ mới về “dân chủ tập trung”, đã trở thành hiển nhiên nhưng mang tính cách khuất nhục người khác mà người ta không thấy, không cần biết đến. Một chức việc lớn gốc Bình Định hãnh diện là có gốc Mai Hắc Đế xa đời chứ không phải là Mai Xuân Thưởng của thế kỉ XIX. Không có chỗ cho luận cứ: Không ai tự lựa chọn được nơi chốn và thời điểm ra đời của mình nên không cần gì phải có mặc cảm để bào chữa, sửa sang cho tình trạng đó cả. Tuy nhiên chuyện của thế giới văn minh này cũng thật khó thuyết phục người trong nước bây giờ.</p>
<p>Sự thần thánh hoá lãnh tụ không xa tính chất thần thánh của quyền bính. Các tấm phướn ca tụng “Mừng Đảng, Mừng Xuân” đã đặt Quyền bính ngang hàng với Đất Trời. Và do thế, người ta thấy có thể đe doạ bất cứ ai khác khi/nếu viện dẫn đến Đảng, Lãnh tụ. Một thứ Đảng Cao Vời và Lãnh Tụ Thần Thánh. Lập luận của nhóm <i>Hồn Việt, Văn Nghệ</i> trên chỉ là một lần của vô số xuất hiện trên cùng tần số lí luận, có hiệu quả, lạ lùng, không phải chỉ là sự hãnh diện tức thời của người phát biểu nhìn xuống đám người lăng quăng trốn chạy búa rìu của mình mà còn cho thấy tầm mức vươn xa quá vị trí thuộc hạ của họ: Đe doạ được người trên trước, có khi đến cả lãnh tụ. Không phải chỉ ông Võ Văn Kiệt (chết rồi) bị mắng mà Tỉnh ủy Bến Tre Đồng Khởi cũng rung rinh, phải nhờ người phân trần giùm! Như hồi nào ông Lê Đức Thọ né tránh các phản ứng về bài thơ của Phạm Thị Xuân Khải do chính ông khuyến khích đưa ra.</p>
<p>Chuyện có vẻ ngược đời này là bởi tính chất hội kín ở căn bản ban đầu của quyền bính đương đại. Không có sự tự tín đôi lúc ngây thơ của ông vua về thiên mệnh của mình, lãnh tụ hội kín biết rõ sự mong manh của quyền lực thường xuyên phải tranh đoạt bằng âm mưu trong tổ chức. Tình trạng chông chênh đó xuất hiện trong những tranh chấp mà có khi địa phương lấn lướt được, cho đến khi trung ương thấy mình bị đe doạ đến mức phải phản ứng, hoặc để khỏi mất quyền lợi hoặc có khi chỉ để vớt vát chút thể diện bên ngoài. Thế là rốt lại trong tổ chức nay tuy đã lên đến tầm mức quốc gia, vẫn còn có những âm mưu tranh đoạt mà có kẻ khôn lanh đã nhận ra đường lối: Đó là, sự thủ đắc quyền uy thật dễ dàng có được nếu cứ nhân danh lí tưởng mà phát biểu tấn công. Quyền bính là cùng đích hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản. Và thật không khó khăn gì khi nhân danh một lí tưởng chung đã được đề cao (lí tưởng phục vụ Cách mạng, Giai cấp&#8230;) hay một lí tưởng giai đoạn đang được tuyên xưng (“vì tổ quốc chống xâm lăng”, “vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, “vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”&#8230;). Ai đã từng sống trong làng xóm hay có tham dự các buổi họp ở phường khóm, cơ quan thì rõ được sự hấp dẫn của loại biểu diễn quyền uy này trong mức độ sơ đẳng nhất của nó, từ cấp bực thấp nhất của hàng ngũ.</p>
<p>Với tâm thức đó thì truyền thống lại trở về với điều ngày xưa người ta chê là mê tín, tràn đầy đi vào các cấp bực quyền bính, len lỏi đến vị trí cao nhất. Đã nói, vùng đất ao hồ, đầm lầy lổn ngổn cá sấu được tuyên xưng là nơi rồng cuộn hổ nằm, sắp được vinh danh qua những thước phim tốn hàng trăm tỉ đồng có ý cạnh tranh Oscar với Crouching Tiger, Hiding Dragon, nay được đạo diễn Trung Quốc thực hiện trong các phim trường hoành tráng ở nước bạn. Cơ sở chưa góp đủ tiền, chưa có đất mà đã làm lễ Động thổ, cầu còn trơ máng giữa trời đã làm lễ Hợp long, tất cả chỉ vì đã chọn được ngày tốt. Trung tâm quốc gia Mĩ Đình được người Đức vẽ kiểu xây cất và được kiến trúc sư nội địa nhiệt thành xem như một một điển hình hoàn hảo của ý niệm phong thuỷ! Rồi một ông linh mục ở vùng cuối phía nam đất nước hiển thánh, chỉ đường vượt biên, (bày vẽ Pol Pot) cho số đề, nay càng lúc càng tràn ngập trên các trang quảng cáo báo chí người Việt ở Quận Cam, lại được một ông linh mục sống làm phép chúc lành hẳn hoi. Bà Liễu Hạnh quên mất thời chìm nổi phong trần, được gia đình đưa vào ghé đền thần, chiếm đền trở thành thần thực thụ, rồi cũng theo người di tản lan qua Mĩ với cả hệ thống thờ Mẫu, có các nhà khoa bảng vài Đại học danh tiếng của Mĩ say mê. Sự việc khiến có nghiên cứu gia nước ngoài đưa đề tài, coi điều đó vẽ ra một hướng hoà hợp hòa giải thực sự giữa người Việt. Các bậc tài danh đó không biết chuyện một nhà ngoại cảm loại lạng quạng, nhân đi tìm xác bộ đội sinh Bắc tử Nam, khoe rằng đã gặp một tên nguỵ thấy mình liền phát “run rẩy, lóng ngóng, sợ sêt”, còn một tên Trung tá nguỵ thì phải lập công chuộc tội mới được chôn cất tử tế. Các tượng thú hình thù quái dị ở Khu vui chơi Suối Tiên, đứng nhìn ra đường cái đông đúc chính là để trấn yểm các hồn ma trong khu mồ mả nguỵ (Nghĩa trang Biên Hoà cũ) nằm phía sau lưng (Vương Liêm 2004). Chớ có ảo tưởng!</p>
<p>Dù sao thì đạo Mẫu thịnh hành cũng là giúp cho các anh cung văn xây nhà lầu, các ông ở các Viện Tôn Giáo, Văn hoá Dân gian có công trình nghiên cứu. Tất nhiên là nó cũng giúp cho các luận thuyết về Hùng Vương, về tính dân tộc với các ưu điểm: yêu nước, bao dung, đoàn kết chống xâm lăng&#8230; được nảy nở để các sử gia cũng bị lôi cuốn theo, và&#8230; mắc đoạ vì không yêu thứ người ta yêu, không ghét kẻ người ta ghét. Sự kết tập không phải chỉ có vì quyền lợi (tất nhiên vẫn không quên yếu tố này) nhưng mà nhìn sự tuân phục của các đảng viên cấp dưới, thật có điều ngạc nhiên buộc phải suy nghĩ. Họ sống trong một bầu không khí ngột ngạt, quyền lợi không nhiều gì lắm ngoài gương các người đi trước gợi ước mơ không chắc đã đạt được. Vậy mà họ phải lặp đi lặp lại những lí thuyết trống rỗng, lắng nghe để học tập những câu chuyện đạo đức ngớ ngẩn, sau đó họ quên ngay nhưng vẫn nhìn Tổ chức với dáng vẻ sợ sệt mà lại như một thứ phản xạ, nhanh nhạy tận tình bênh vực khi thần tượng bị động chạm. Cùng một khu vực, tại sao dân chúng Miền Nam lại hãnh diện, hung hăng chống chính quyền lúc trước rồi bây giờ lại tìm vui trong men rượu để khi có chuyện phụ nữ lấy chồng ngoại quốc bị hành hạ thì lời kêu gọi các bậc tu mi An Nam là Hãy ngước đầu ra khỏi hũ hèm để cứu vớt con cháu bà Nguyễn Thị Định?</p>
<p>Có cái gì liên hệ họ với những người nhiều trăm năm trước?</p>
<p><i>March-June 2009</i>     <br /><i>March 2010</i></p>
<p><strong>Ghi chú:</strong></p>
<p>(1) <i>Hồn Việt </i>có lẽ thấy ý kiến của mình chưa đủ nặng kí nên chuyển đăng trong số tháng 4-2009, một bài của Vũ Kim Biên trên tờ <i>Tạp chí Cọng sản,</i> – không nói ra nhưng cũng đủ hiểu lời ngọt ngào “trao đổi” đòi “tiếp tục nghiên cứu&#8230;” ở cơ quan quyền lực này là mang tính quyết định cho các sử gia, học giả có ý kiến khác đi. Tiếc rằng đây cũng vẫn là chuyện bình công luận tội có chủ đích chính trị chứ không phải là nghiên cứu. Họ không đủ sức (hay không muốn?) hiểu người khác nói những gì&#8230; Ngay cả việc dùng sử liệu để làm căn cứ cho lập luận, họ cũng dựa vào “công trình” của các sử gia đầy hậm hực: <i>“</i>Dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài,<i> Nguyễn Ánh đã đem quân đánh ra Bình Thuận, Quy Nhơn&#8230; </i>Do mặc cảm với vị trí của mình,<i> năm 1803, Gia Long cử sứ bộ&#8230; sang nhà Thanh xin quốc hiệu và đầu năm 1804 chính thức công bố tên nước là Việt Nam. </i>Do phản ứng của nhân dân,<i> năm 1813, Gia Long cho trở lại tên Đại Việt. Năm 1838, </i>Minh Mạng bất bình<i> đã khẳng định lại quốc hiệu là Đại Nam và </i>cấm nhân dân<i> không được nói hai chữ “Đại Việt”&#8230;</i> Vẫn là chuyện “phát hiện” Đô đốc Đặng Tiến Đông của Xứ Ta cầm quân tiên phong trong trận Đống Đa. Còn <i>Trần Quang Diệu thì bị chém làm trăm mảnh&#8230;</i> <i>(Đại cương lịch sử Việt Nam, </i>tập I, H. 2000, tr. 437, 442 do Nxb. Giáo dục dành cho “các thầy cô giáo dạy lịch sử ở các trường đại học hay phổ thông&#8230;”, cho “các nhà nghiên cứu, sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam và nước ngoài” dùng làm sách tham khảo, tìm hiểu lịch sử Việt Nam theo cách nhìn mới, thay thế cho bộ <i>Lịch sử Việt Nam</i> tập I và II hơn 20 năm trước&#8230;” Sách đến nay vẫn còn bày bán, nghĩa là vẫn còn được dùng cho học sinh ít ra là của năm 2010).</p>
<p>Chẳng hiểu ở đâu nảy nòi ra câu chuyện Trần Quang Diệu bị chém làm trăm mảnh. Còn chuyện phục hồi tên Đại Việt thì hẳn là các tác giả dựa vào tin tức trong <i>Quốc sử di biên</i> của Phan Thúc Trực chứ chẳng phải của “nhân dân” nào hết. Nhưng cái tên Việt Nam gắn liền với một triều đại chiến thắng sao lại dễ dàng buông bỏ trước một đám cựu thần, “nhân dân” của triều đại bị đè bẹp hơn hai lần trong chiến tranh? Có thể nào dựa vào đây mà phục hồi tên Sài Gòn cho Tp. Hồ Chí Minh được không?</p>
<p>(2) Năm 1981, ông Y. Tsuboi hỏi ý kiến ông Phan Huy Lê về việc xin khai thác Châu bản thì được trả lời là “đang sắp xếp”. Ông Phan chắc cũng biết rõ ràng là cho đến 30 năm sau, người nghiên cứu trong nước muốn đọc các sách báo cũ còn gặp muôn vàn khó khăn huống chi là một ông Tây được đào luyện theo lối tò mò sắc mắc!</p>
<p>(3) Đây là trường hợp có thể gợi ra một đề tài nghiên cứu thú vị về sự phối hợp mang tính thực dụng của một tin tưởng cũ và một nhu cầu mới. Quyển sách xuất hiện tháng 7-2009: <i>Người đi tìm hài cốt liệt sĩ – Bí ẩn hiện tượng ngoại cảm </i>nói về một hiện tượng mà giá chỉ liên hệ với một số ít người thì cũng chỉ có dáng không hơn chuyện bói toán ở xóm chợ làng quê. Đàng này lại là tìm mộ liệt sĩ, con số trưng dẫn trong sách là nửa triệu người, đâu đó trên báo chí là 7, 800 ngàn, một nhu cầu thôi thúc có áp lực quần chúng mà một chính quyền dù biết mình không đương nổi cũng không thể bỏ lơ. Khó khăn vượt bực, thế là thần thánh chen vào, nhập vào những con người được lựa chọn tình cờ chỉ dẫn cho thân thuộc đi tìm mả người đã chết từ hồi nào xa tít, giữa rừng rậm nơi khe suối không ngờ. Dẫn chứng về các trường hợp thành công lấy từ internet, một phương tiện kĩ thuật tân kì dễ thuyết phục người dễ tin. Cũng lẫn lộn vào đó là những thành công hiển nhiên của những người bỏ công sức làm việc. Tiếng đồn thêu dệt lấp bằng khoảng cách giữa cái hư và cái thực, củng cố cái phần thiêng liêng, bí hiểm vốn có khi không cần thiết cho lắm ở nội vụ. Thế là người trung gian với cõi vô hình là những nhà ngoại cảm được chính thức đi vào các đoàn công tác, được chính quyền sốt sắng nâng đỡ, kể cả việc lập các lớp huấn luyện làm dịp cho các tay ranh ma kiếm tiền khi đã biết chắc nơi chốn mà vẫn cứ núp bóng thiêng liêng.</p>
<p>Tình hình công khai như thế củng cố những tập họp giả khoa học lập thành hội đoàn mang danh vị tiếng tây tiếng u, cầm đầu bởi các tướng tá, cấp quyền vốn cũng chỉ vừa mới thoát cảnh chân lấm tay bùn bước lên đài danh vọng&#8230; Quyển sách trên được ghi là của Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Dân tộc và Nhân học Việt Nam. Cho nên bàn chuyện phát triển thủ đô Hà Nội, thấy người ta nói toàn chuyện phong thuỷ! Nào ai dám nghi ngờ, bài bác khi cuối năm 2009 người ta di chuyển hài cốt của cố Tổng bí thư Hà Huy Tập về quê hương, gia đình cũng cho rằng phải nhờ nhà ngoại cảm góp phần tìm kiếm, không cần đếm xỉa đến sự tin tưởng tuyệt đối về các thí nghiệm DNA của các cặp vợ chồng đang nghi ngờ lẫn nhau. Và “nhà nghiên cứu” Nguyễn Phúc Giác Hải, người phát hiện tên Việt Nam không phải của Gia Long kia, khi đi tìm vách đá khắc thơ Nguyễn Trung Ngạn (chẳng có gì bí hiểm lắm) cũng khoe rằng đã hỏi nhà ngoại cảm và kết quả mười điều đúng cả mười! Bám víu vào thiêng liêng, ông ta làm việc có vẻ an toàn hơn một nhà nghiên cứu khác làm luận án về một loại gốm đặc biệt, và bị nhà chức trách Thừa Thiên cho điều tra để truy tố về tội “tiết lộ bí mật quốc gia”!</p>
<p>Các học giả đang khổ công cùng sức, có khi nào tự hỏi xem mình đứng ở vị trí nào trong xứ sở của mình hay không?</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16470/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

