<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Nguyễn Xuân Hoàng</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/nguyenxuanhoang/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>những trang văn xu&#244;i lương thiện v&#224; giản dị về con người</title>
		<link>http://damau.org/archives/16820</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16820#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 16 Nov 2010 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Xuân Hoàng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Tưởng niệm Cao Xuân Huy]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16820</guid>
		<description><![CDATA[Trong một lần gặp gỡ tác giả, tôi hỏi anh tại sao lại xếp Tháng Ba Gãy Súng vào thể loại Hồi Ký mà không là Truyện Kể hay Truyện Ký, Cao Xuân Huy trả lời “Bởi vì tôi đã không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào. Tôi viết lại hoàn toàn sự thật những điều mắt thấy tai nghe. Chỉ tiếc một điều là tôi đã không đủ khả năng để viết được tất cả những gì tôi cần phải viết.”]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="left">&#160;</p>
<p align="right"><em>bạt của Nguyễn Xuân Hoàng cho Tháng Ba Gãy Súng – ấn bản đầu tiên</em></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/flagforCXH1.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="flag for CXH" border="0" alt="flag for CXH" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/flagforCXH_thumb1.jpg" width="279" height="206" /></a>&#160; </p>
<p><i></i></p>
<blockquote><p><i>LTG: Sau cuốn Tháng Ba Gẫy Súng ấn hành năm 1986, mùa hè năm nay Cao Xuân Huy vừa cho ra mắt tác phẩm thứ hai: cuốn Vài Mẫu Chuyện. Trước đó Huy đã gửi cho tôi pdf cuốn sách mới của anh và mấy tuần sau, trong ngày Đại Hội Thuỷ Quân Lục Chiến tổ chức tại San Jose, Huy đã mang theo bản in giấy cho tôi. Chúng tôi gặp lại nhau cùng với Trần Như Hùng, một bạn thân của Huy thời Thuỷ Quân Lục Chiến từ Úc qua cùng tham dự đại hội với Huy. Trong bữa gặp riêng, tôi gọi rượu nhưng Huy không uống, chỉ có Hùng, tôi và một bạn khác của Huy cạn ly thôi. Huy nói bác sĩ cấm anh uống rượu từ lâu rồi. Và Huy cho biết anh không còn khoẻ như xưa. Tuy vậy, tôi thấy Huy vẫn bình tĩnh, cười nói, như không có gì xảy ra cho anh. Cao Xuân Huy vốn là người can đảm và nhìn đời bằng một cái nhìn lạc quan – ít ra lạc quan và bình tĩnh hơn tôi nhiều. Tôi nói với Huy trong tập sách mới này tôi muốn viết về truyện Hành Phương Nam của anh. “Tại sao Hành Phương Nam mà không là truyện nào khác?” Tôi nói với Huy: “Chờ đó, rồi tôi sẽ cho cậu biết tại sao tôi thích truyện này.” Nhưng tôi chưa thực hiện lời hứa với Huy thì anh đã ra đi. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Xin gửi đến các bạn lời bạt tôi đã viết cho Tháng Ba Gẫy Súng, tác phẩm đầu tay của Cao Xuân Huy. Tôi muốn nói với Huy lời xin lỗi. Tôi vẫn còn nợ Huy một lời hứa. </i></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Cuối tháng Giêng 85, cùng với một số đồng bào may mắn muộn màng khác ở đảo Bataan, chúng tôi có tên trong danh sách rời trại tỵ nạn Phi Luật Tân, lên đường đi định cư ở một thành phố miền đông bắc Hoa Kỳ, nơi tôi sẽ được gặp lại cô em út sau mười năm xa cách.</p>
<p>Cảnh vật mùa Đông ở Springfield đẹp mà buồn. Cây cối trụi lá trơ cành khẳng khiu in mờ nhạt trên một bầu trời xám xịt. Mặt đất phủ đầy tuyết trắng lạnh giá. Tuy vậy, tôi còn nhớ rõ trong lòng tôi tràn ngập một niềm hạnh phúc ấm áp. Giờ đây khi bước sang mùa Đông thứ hai, tôi nghiệm thêm một điều là không phải bao giờ tuyết cũng trắng sạch, cũng đẹp đẽ và cũng thú vị như cái cảm giác tôi đã có trong những ngày đầu. Dù sao, đó sẽ lại là một chuyện khác.</p>
<p>Tôi muốn nói, chính trong những tháng ngày thong thả tạm thời này, tôi có một niềm vui là được đọc những trang viết đầu tay của một tác giả mà tôi chưa hề quen biết: Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân Huy.</p>
<p>Tháng Ba Gãy Súng. Hình như tên gọi của truyện kể là điều trước tiên lôi cuốn tôi. Tựa đề của một cuốn sách vốn đơn giản. Tháng Ba Gãy Súng là sự đơn giản quyến rũ. Tháng Ba là tháng thọ nạn của miền Trung, khi cơn lốc đỏ từ miền Bắc lao xuống địa đầu của chúng ta. Phải một thời gian sau nữa nó mới đổ ập tới Sài Gòn yêu dấu cái Tháng Tư Đen hãi hùng và thống khổ. Cao Xuân Huy đặt câu hỏi: Ai đã bẻ gãy súng của quân đội ta, những người lính dũng cảm, có thừa mưu trí và kinh nghiệm chiến trường? Ai đã làm cho người lính chúng ta bó tay, khi súng còn đó mà đạn đã hết ở trong nòng?</p>
<p>Tác giả cho thấy bên dưới những người và việc là sự mất niềm tin của người lính trận trước một số cấp chỉ huy, những đàn anh “khả kính” đã dứt bỏ hàng ngũ trong cơn quẫn bách để chạy lấy thân, còn thì sống chết mặc bay!</p>
<p>Tháng Ba Gãy Súng vẽ lại cơn hồng thủy của một cuộc chiến không thương tiếc, phủ chụp và vùi dập số phận của cả một dân tộc. Trên bờ cát lạnh lẽo của biến cố, người ta nghe thấy tiếng động của những vòng xích sắt nghiến lạo xạo trên sọ người.</p>
<p>Đó là cuốn sách chứa rất ít nụ cười nhưng rất nhiều máu và nước mắt; niềm vui thì khô cằn mà đau thương và bất hạnh thì màu mỡ phì nhiêu; tàn bạo và căm hờn là bình thường nhưng dịu dàng và thuận thảo là điều xa lạ.</p>
<p>Chữ nghĩa trong Tháng Ba Gãy Súng giản dị, tự nhiên và trong sáng. Nhưng người đọc biết rõ một cách mười mươi rằng để có được những dòng chữ “tưởng chừng như dễ dàng” đó, Cao Xuân Huy đã phải trả một giá khá đắt: sự thách đố của anh với tử thần trong những đường tơ kẽ tóc để đổi lấy phẩm giá làm người. Có thể nói Tháng Ba Gãy Súng đã được viết bằng một trái tim nóng bỏng trước khi được gọt dũa và trau chuốt bằng một bút pháp nghề nghiệp. Nhưng điều này không hề làm hạn chế sức sống của tác phẩm.</p>
<p>Những ai ham đọc sách đều biết rằng các nhà văn lừng danh trên thế giới như Flaubert, Hemingway, Dickens, Tolstoi&#8230; đều đã viết bằng một thứ ngôn từ tự nhiên và giản dị.</p>
<p>Trong một lần gặp gỡ tác giả, tôi hỏi anh tại sao lại xếp Tháng Ba Gãy Súng vào thể loại Hồi Ký mà không là Truyện Kể hay Truyện Ký, Cao Xuân Huy trả lời “Bởi vì tôi đã không lồng vào đấy bất cứ một hư cấu nhỏ nào. Tôi viết lại hoàn toàn sự thật những điều mắt thấy tai nghe. Chỉ tiếc một điều là tôi đã không đủ khả năng để viết được tất cả những gì tôi cần phải viết.”</p>
<p>Thật vậy, văn chương vốn cần hư cấu, nhưng hiện thực tự nó cũng thừa sự lớn lao và sâu sắc mà một trí tưởng tượng khiêm tốn đôi khi còn nghèo nàn và nông cạn hơn. Nói cách khác, hư cấu trong một tác phẩm tuy cần thiết, nhưng hiện thực bao giờ cũng là nền tảng để từ đó hư cấu có thể thành hình và đứng vững.</p>
<p>Chính cái hiện thực này đã khiến cho ngòi bút của Cao Xuân Huy có được cái sắc sảo đặc biệt, đồng thời cũng làm cho Tháng Ba Gãy Súng giữ được cái vẻ tươi mát nóng bỏng mà mọi thứ hư cấu rắc rối không sao đạt được. Và nghệ thuật của Cao Xuân Huy nằm ở chỗ làm cho tác phẩm của anh có được sức thuyết phục mạnh mẽ hơn cái nó vốn có trong thực tế.</p>
<p>Thích nhất là những mẩu đối thoại trong Tháng Ba Gãy Súng. Nó nguyên chất, nhưng không dư thừa và tầm thường. Nó chưa bị chảy qua cái máy lọc “văn chương triết lý” nào. Nó sống và chát. Và rất gần với chúng ta. Trả lời câu hỏi động cơ nào khiến anh viết Tháng Ba Gãy Súng, Cao Xuân Huy nói “Không ai là không quay lại nhìn chỗ mình vừa ngã, và cũng không ai là không quay lại nhìn đống phân mình vừa thải. Ngã là lỗi của chính mình và phân có thối cũng là phân của mình. Vậy mà tại sao cả chục năm nay vẫn không thấy ai dám quay lại nhìn cái lỗi đã làm cho mình ngã ngay trên đống phân của mình, ngoài những lời chửi bới và đổ lỗi cho người khác.”</p>
<p>Tất nhiên câu nói của anh còn có chỗ phải bàn thảo lại, suy nghĩ thêm, nhưng ở đây trong khung cảnh đặc biệt của Tháng Ba Gãy Súng, câu nói đó có cách lý giải riêng của nó. Trước khi cầm bút viết lại những ngày tháng của lịch sử một trận chiến mà mình là một chứng nhân, Cao Xuân Huy đã là một sĩ quan chiến đấu thuộc một binh chủng lừng danh chiến trường mà mọi người chúng ta đều nghe tiếng: Thủy Quân Lục Chiến.</p>
<p>Chiến trường, sống và viết, Cao Xuân Huy có đủ những yếu tố đó để viết những trang văn xuôi nóng bỏng của mình. Cao Xuân Huy nói: “Đất nước ta đâu phải là một bàn cờ mà hễ đánh thua ván này thì xóa đi xếp quân làm lại bàn khác, mà tướng vẫn là tướng, quân vẫn là quân, đâu phải những con xe, con mã, con chốt đã chết đều có thể dựng đầu dậy để làm lại một trận đấu mới!” Những suy nghĩ đó của anh không hề có ý định dừng lại ở chỗ chỉ là những điều viết ra để ngẫm nghĩ.</p>
<p>Khi trang cuối của Tháng Ba Gãy Súng được gấp lại, người đọc hình như vẫn cảm thấy còn một điều gì đó chưa xong chưa hết. Cái dấu chấm hết của mệnh đề sau cùng vẫn còn là một lời hứa hẹn sẽ mở ra một trang sách khác.</p>
<p>Dù sao những hình ảnh tàn nhẫn và khủng khiếp, những nỗi lo âu và hãi hùng vẫn còn đọng lại trong ta. Vẫn còn đọng lại trong ta những địa danh, địa hình, địa điểm quen thuộc của một vùng đất quê hương khô cằn, cả thời tiết của đất trời mà da thịt ta vốn từng chịu đựng, và nhất là vẫn còn đọng lại trong ta hình ảnh những con người – trong đó có chúng ta – với số phận hẩm hiu cô quạnh bị bủa vây trong cơn cuồng nộ của những biến cố bạo tàn&#8230; Tất cả những người và việc ấy chừng như mới xảy ra ngày hôm qua, vẫn còn luẩn quẩn đâu đây&#8230;</p>
<p>Với Tháng Ba Gãy Súng, Cao Xuân Huy đã viết được “những trang văn xuôi lương thiện và giản dị về con người”, điều mà Ernest Hemingway gọi là “trên đời này thật không có gì khó khăn hơn”.    <br />&#160;</p>
<p><b>Nguyễn Xuân Hoàng      <br /></b><i>Santa Ana</i><i>, tháng Tư 1986</i></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16820/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tủ sách của Trần Phong Giao</title>
		<link>http://damau.org/archives/9347</link>
		<comments>http://damau.org/archives/9347#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 06 Oct 2009 11:25:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Xuân Hoàng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tiểu luận]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/9347</guid>
		<description><![CDATA[Với những người mới gặp anh lần đầu dễ cảm thấy khó chịu vì cái vẻ như là hơi “kênh kiệu thờ ơ” của anh. Thật ra, anh chỉ lạnh với người lạ trong giao tế buổi đầu, nhưng quen anh lâu mới thấy anh là người rất tử tế và nồng nhiệt]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Nguồn: <a href="http://www.voanews.com/vietnamese/2009-09-24-voa47.cfm" target="_blank">Blog Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn Hữu</a></p>
<p><em>24/09/2009</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Trong nhà tôi ở Sài Gòn hồi đó có một kệ sách nhỏ đặt trên gác lửng. Kệ sách là những thanh gỗ dài, bào láng, đặt trên những viên gạch đỏ xếp cao theo chiều đứng của sách. Sách mỗi ngày một nhiều, kệ sách cứ chồng thêm các thanh gỗ cao lên mãi, lên gần tới trần nhà. Đến lúc không đủ sức chứa, tôi bắt đầu cho sách vào thùng giấy, rồi cứ thế đánh số thùng theo thứ tự, thùng này chồng lên thùng kia.   <br />Căn nhà quá nhỏ, sách lấn qua chỗ nằm, tôi đành phải nghĩ đến chuyện vất bớt những cuốn không cần đọc nữa. Vất nhưng tiếc, vì tuy không cần lúc này, nhưng biết đâu về sau có lúc cần tìm một đoạn, một câu. Một câu trích mà không có sách dẫn thì sao? Sách mang ra thùng rác rồi lại mang vô.    <br />Làm cách nào để giữ được những cuốn sách mà lúc này chưa cần đến? Tôi hỏi Trần Phong Giao, lúc đó là thư ký toà soạn tờ Văn, cách giải quyết những cuốn sách của tôi. Anh hỏi lại tôi: “Cậu làm sao thế? Có chuyện gì vậy?” Chẳng có chuyện gì hết. Tôi nói với anh là tôi cần thanh toán mọi thứ trước nhất là sách vở.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p>Trần Phong Giao là một người to lớn, vạm vỡ, khuôn mặt hơi lạnh và ít khi cười.   <br />Với những người mới gặp anh lần đầu dễ cảm thấy khó chịu vì cái vẻ như là hơi “kênh kiệu thờ ơ” của anh. Thật ra, anh chỉ lạnh với người lạ trong giao tế buổi đầu, nhưng quen anh lâu mới thấy anh là người rất tử tế và nồng nhiệt. Tôi không biết những thư ký toà soạn các tạp chí văn học khác thế nào, chứ với Trần Phong Giao tôi có thể nói anh là một thư ký toà soạn đặc sắc nhất. Hơi bảo thủ, và khắt khe, có vẻ như anh chỉ tin vào những tài năng đã được xác nhận, nhưng không phải vì thế mà anh không sẵn sàng mở tay ra đón nhận những người viết mới.    <br />Cách đây vài năm, một tình cờ may mắn tôi được nhà bình luận thời cuộc-kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa gửi tặng mấy số báo Văn cũ trước năm 1975, trong đó có số 164, ra ngày 15 tháng Mười, 1970, “Đi Giữa Mưa Thu” / Tuyển tập những cây bút trẻ.    <br />Như tên gọi của nó, đây là một số báo Trần Phong Giao thực hiện, dành riêng cho những người mới đến với Văn. Mới từ người vẽ tranh bìa: hoạ sĩ Hồ Đắc Ngọc. Và tất nhiên cái mới chính là từ những người làm thơ viết văn: Lê Văn Thiện, Đặng Tấn Tới, Kinh Dương Vương, Nguyễn Đường-Thai, Nguyễn Lệ-Uyên, Hoàng Ngọc Châu, Hồ Minh Dũng, Lộc-Vũ, Mường-Mán, Hoài Tuyết Trang, Phạm Ngọc Lư, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Văn Ngọc, Lê Miên Tường, Phạm Thanh Chương.    <br />Tôi không biết trong số những người viết trên số báo này [cách đây đã 35 năm] ai còn ai mất, ai vẫn cầm bút và ai đã thay tên đổi họ đổi nghề, nhưng tôi biết ít ra chúng ta còn Kinh Dương Vương [của truyện ngắn, ký Dung Nham khi làm thơ, và Rừng khi vẽ], Hồ Minh Dũng vẫn còn sáng tác mạnh mẽ ngoài nước, [Nguyễn Lương Vỵ vừa cho in tập thơ mới tại hải ngoại, California, 2009 - và trong nước vẫn còn Mường Mán vừa mới cho xuất bản tập thơ lục bát Dịu Khúc, Sài gòn, 2008]. Trong thư toà soạn, Trần Phong Giao thông báo sẽ còn thực hiện thêm nhiều số báo với những người viết mới khác.    <br />Tôi không nhớ sau số này anh còn làm thêm được bao nhiêu số giới thiệu người viết mới, nhưng trong mục hộp thư tôi đọc được có nhiều người hiện có tên tuổi trong làng văn trong nước. Như Khuê Việt Trường là một. Tờ Văn thời Trần Phong Giao thực sự làm sống dậy một đam mê chữ nghĩa của nhiều người viết trẻ. Trong thời gian làm tờ Văn, Trần Phong Giao thực hiện nhiều số đặc biệt không những về các nhà văn nhà thơ tiền chiến hay đương đại mà còn giới thiệu nhiều khuôn mặt văn học đương đại thế giới.    <br />Không mở đường và khai phá như Sáng Tạo, không bắt mắt với lối trình bày nghệ thuật và trẻ trung như Khởi Hành, Thời Tập, nhưng Văn có được một chỗ đứng đáng tin cậy nhờ thư ký toà soạn Trần Phong Giao.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p>Trần Phong Giao là người khéo hỏi bài người viết và đối xử khéo sau khi đăng bài. Trong ngăn kéo anh bao giờ cũng có sẵn nhiều bài cho vài số báo. Chưa kể, anh còn đặt bài cho những số chuyên đề từ cả sáu tháng đến một năm trước. Có thể nói, tạp chí Văn thời Trần Phong Giao là một tạp chí văn chương hơi cổ điển và đặc biệt&#8230;ít lỗi chính tả nhất, bởi vì trước hết anh là người cẩn trọng, chăm sóc từng chữ, từng câu, từng trang bài, và sau nữa vì anh còn có một người phụ tá cần mẫn tỉ mỉ, giỏi chính tả ngữ vựng: Đàm Gia Tuấn. Đưa bài cho Trần Phong Giao, người viết có thể yên tâm nhiều mặt: bài không bị sai lỗi chính tả và, tiền nhuận bút có ngay sau khi báo ra.   <br />Tôi nhớ anh đi chiếc mobylette cũ, một chiếc xe xấu xí, nhả khói tợn và máy kêu hơi to, chân đi dép thường hơn đi giày, áo sơ mi ngắn tay bỏ ra ngoài. Trần Phong Giao ít cười và hơi nghiêm. Tuy vậy cần ghi nhận, thời làm tờ Văn anh cũng bị nhiều trận đụng nặng. Như một lần với thi sĩ Nguyên Sa, và một lần với những độc giả miền Trung. Ở quán Cái Chùa, bọn tôi: Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Nhật Duật, Đặng Phùng Quân, đôi khi vẫn đề cập đến anh như một “đề tài”. Tuy vậy, tôi vẫn nghĩ, có một ông thư ký toà soạn như Trần Phong Giao, “bố già” chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng yên tâm lắm.    <br />Thế nhưng, năm 1972, không hiểu vì lý do gì đã làm cho hai ông chủ nhiệm và ông thư ký toà soạn “cơm không lành, canh không ngọt” nữa. Trần Phong Giao phủi áo ra đi. Anh đứng ra làm một tạp chí khác, tờ Chính Văn với nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Nhà thơ Viên Linh nói “anh em lúc đó rất tiếc, phải chi Trần Phong Giao làm một tờ giống như tờ Văn có lẽ anh thành công ngay.” Tờ Chính Văn chỉ sống đến số thứ hai thì chia tay.    <br />Đó là thời gian ông Nguyễn Đình Vượng kéo tôi về với tờ Văn thay chỗ Trần Phong Giao. Lời đề nghị của “bố già” Nguyễn Đình Vượng làm tôi phân vân và nghĩ ngợi. Thời gian đó ngoài giờ dạy học ở Petrus Trương Vĩnh Ký, tôi có nhận lời dạy thêm ở nhiều trường tư thục khác như Văn Học của anh chị Nguyên Sa, Trường Sơn của Nguyễn Sỹ Tế. Và trong những giây phút dư thừa hiếm hoi, tôi vẫn la cà ở quán cà phê nhiều hơn ở lớp học, tối nào tôi cũng ngồi ở Chợ Đủi với Tạ Ký, Tôn Thất Trung Nghĩa, Lê Tấn Lộc nhiều hơn nằm nhà. Nhưng trên tất cả các bạn tôi, ông Vượng là người lo cho tôi nhiều thứ khó khăn trong đời sống mà tôi đang vấp phải.    <br />Tôi gọi ông Vượng là “bố già của tôi” vì quả thật không ai bỏ thì giờ và tình cảm nhiều cho tôi như ông, mặc dù sức khoẻ ông trong thời gian này đã không còn như xưa. Tôi là người chịu ơn ông quá nhiều. Nhưng tình cảm mà tôi có với Trần Phong Giao cũng lớn không kém. Tôi hỏi ý Trần Phong Giao về lời mời của ông Nguyễn Đình Vượng, anh nói “thì cậu cứ nhận lời đi”. Tại sao? Tôi hỏi, anh trả lời “chẳng lẽ cậu cứ đi dạy học suốt đời sao? Bỏ bớt giờ đi dạy đi! Viết nữa đi! Tôi biết gia đình cậu có chuyện không vui, thử thay đổi không khí coi sao?” “Nhưng anh sẽ không giận tôi chứ?” “Tại sao?” Anh hỏi ngược lại tôi. Và đột nhiên, một buổi sáng Chủ Nhật, Trần Phong Giao đến nhà tôi, hỏi: “Có đi cà phê không?” Đối với tôi đây là một điều lạ.    <br />Trần Phong Giao ít khi cà phê, anh chỉ thích rượu và là người biết thưởng thức rượu ngon mặc dù anh không phải là tay nhậu. Anh cũng không có tật lê la đầu đường xó chợ như tôi. Tôi trả lời ừ đi thì đi. Anh đứng giữa nhà nhìn quanh. “Nhà tôi đã chật mà nhà cậu coi bộ còn chật hơn. Sách báo đâu hết rồi?” Tôi chỉ tay lên gác lững. “Trên đó! Không còn chỗ nằm nữa.” “Cái phòng khách này ban đêm dựng chiếc lambretta của cậu vẫn còn có thể để một tủ sách nhỏ đấy.” Trần Phong Giao chỉ nói khơi khơi. Chúng tôi ra quán Cái Chùa. Tôi gọi cà phê, nhưng anh chỉ uống một hớp và xin lỗi có chuyện phải đi.    <br />Chiều tối khi tôi về tới nhà thấy có gì lạ. Chiếc lambretta của tôi không còn chỗ đậu. Tôi thấy một tủ sách bằng gỗ đánh vẹc ni bóng có cửa kính kê sát vách phòng khách. Trong tủ chỉ có một cuốn sách, bản dịch bài diễn văn nhận giải Nobel văn chương của Albert Camus. Người dịch: Trần Phong Giao. Tôi biết anh sẽ không giận tôi, nếu tôi nhận lời “bố già” Nguyễn Đình Vượng về làm tờ Văn.    <br />Sau đó tôi dọn nhà, nhiều thứ cồng kềnh phải bỏ lại. Tuy vậy, tôi không quên mang theo tủ sách Trần Phong Giao cho. Căn nhà ở Khu Mã Lạng – căn nhà mà “bố già” Nguyễn Đình Vượng dành cho tôi khi tôi về nhận vai thư ký toà soạn Văn &#8211; sách đã chất đầy tủ. Và cuốn Sứ Mệnh Văn Nghệ in bài diễn từ Nobel của Albert Camus do Trần Phong Giao dịch, không bao giờ thay đổi vị trí.    <br />Thời gian này tôi rất ít khi gặp anh.    <br />“Bố già” Nguyễn Đình Vượng thời gian này sức khoẻ sa sút nặng. Báo Văn từ bán nguyệt san chuyển qua Giai Phẩm và không đánh số. Tôi bận rộn với chuyện nhà trường nhiều hơn trước, nhất là sau ngày “Bố Già” ra đi vào ngày 31.3.1974. Số báo Tưởng Mộ Nguyễn Đình Vượng phát hành ngày 2 tháng Năm, 1974, Mai Thảo và tôi chia nhau viết bài và mời người viết. Đó cũng là số báo sau cùng tôi ngồi với Văn. Sau đó tôi dành toàn thời gian cho nhà trường.</p>
<p>Mỗi ngày, tôi vẫn chạm tay vào tủ sách Trần Phong Giao. Cho tới ngày 30 tháng Tư, 1975, tủ sách Trần Phong Giao bị một trận “hồng thủy” cuốn trôi hết, bất kể đó là tự điển hay sách triết học, là sách biên khảo hay lý luận nghiên cứu phê bình văn học. Cứ sách là người ta tịch thu tuốt luốt cho chắc ăn. Sách được những người trẻ tuổi “hăng hái, cuồng nhiệt, điên cuồng” đưa xe ba gác đến chở đi như chở xác chết của những tội đồ. Cái tình cảm vất tay này nhưng tay kia lấy lại ngày xưa không còn nữa. Căn nhà nhỏ của tôi đột nhiên trống trải gọn gàng một cách đáng sợ.   <br />Cuốn Sứ Mệnh Văn Nghệ của Albert Camus, bản dịch của Trần Phong Giao cũng không còn – đương nhiên – và đầu óc tôi cũng trống rỗng như cái tủ sách trống trơn kia.    <br />Thế rồi những năm tháng sau, chợ trời sách cũ dần dần xuất hiện rải rác nhiều nơi ở Sài Gòn. Tôi nhớ một hôm đi trên con đường Bùi Quang Chiêu, xem sách cũ, bất ngờ thấy sách Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thảo Trường, Trùng Dương, Nhã Ca, Nguyễn Thuỵ Long và nhiều tác giả khác của Sài Gòn.    <br />Tôi tha về một cuốn đóng bìa da đã từng “nằm trong tủ sách của tôi” trước đây, cuốn L’Être et le Néant của Jean-Paul Sartre ở trang đầu có mấy ghi chú của giáo sư Linh Mục Alexis Cras viết cho tôi trong những ngày tôi học Đại học Dalat. Tôi muốn giữ chữ viết của Cha Cras như một kỷ niệm. Có điều là tôi vẫn không tìm thấy cuốn Trần Phong Giao dịch bài diễn văn của Albert Camus.    <br />Mười năm ở lại trong nước tôi chưa một lần gặp lại Trần Phong Giao. Và mặc dù mươi năm sau ngày xa quê tôi có đôi lần gửi quà cho anh nhưng chỉ là những món quà không đáng kể. Mới đây, tôi hỏi nhà văn Trùng Dương có phải chị là người vẫn thường liên lạc và giúp đỡ Trần Phong Giao nhiều trong thời gian anh ấy còn sống không. Chị nói chuyện ấy không sánh gì với lòng tốt anh ấy đã giúp gia đình chị đâu. Chả là Trùng Dương còn một người anh ở lại Sàigòn sau 75, khi nghe tin anh của chị bị stroke, Trần Phong Giao đã đến thăm và giới thiệu bác sĩ Ngô Thế Vinh đến chăm sóc thuốc men. Và khi người anh của Trùng Dương qua đời, chính Trần Phong Giao đã đánh điện báo tin cho gia đình Trùng Dương biết. Chị nói “chính tôi mới là người biết ơn anh ấy. Tuy muộn màng, nhưng tôi vẫn muốn nói ‘tạm biệt Trần Phong Giao!’ và thêm một lời cám ơn bạn Ngô Thế Vinh của chúng ta.”    <br />Tôi nhớ lại thời gian làm báo Người Việt ở Nam Cali dù lương thấp không đủ nuôi sống gia đình, tháng nào tôi cũng trích trong số lương ít oi của mình gửi cho các bạn thuyền nhân ở trại tị nạn Bataan Phi Luật Tân vài ba chục mỹ kim. Những người thiếu may mắn, đến đảo trước tôi cả mấy năm mà vẫn chưa thấy tên trên list định cư. Tôi thấy mình làm như thế là đúng thôi, nhưng bây giờ nghĩ lại thấy mình có phần tệ bạc với Trần Phong Giao. Lẽ ra, tôi phải nên giúp anh nhiều hơn ai hết, mặc dù những thư anh viết cho tôi không hề hé ra một lời than thở.    <br />Cho đến một buổi sớm thức dậy mở email thấy thư Đặng Tiến. Một dòng chữ ngắn trên cái email gửi chung cho các bạn quen. Trần Phong Giao đã ra đi. Rất ít chi tiết về Trần Phong Giao. Tôi nhờ Trần Thị NgH. – tác giả Nhà Có Cửa Khoá Trái &#8211; ở Sài gòn cho một bài về anh. Chị viết một hồi ức về lần đầu đưa sáng tác của mình cho Trần Phong Giao. Một tiếp xúc khó chịu của ông thư ký toà soạn với một người viết mới là một ấn tượng còn ở lại hơi lâu với Trần thị NgH.</p>
<p><strong>3bis. </strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Mới đây, nhân soạn lại những thùng sách báo cũ, tôi tìm thấy lá thư của Trần Phong Giao. Thư đề ngày 27/1/95, viết từ Sài gòn gửi cho tôi ở thành phố Garden Grove, Quận Cam, California, anh báo cho tôi một tin buồn là nhà anh “bị cháy [nhà] khi đã bước cả hai chân qua tuổi sáu-mươi (ôi cái tuổi tuần thời!) tôi những tưởng bị gục luôn. Nào ngờ còn gượng dậy được. Đi phải chống gậy nhưng vẫn là đi….” Và đồng thời anh cũng báo cho tôi một tin vui là anh đã làm xong cuốn từ điển về thành ngữ tiếng Anh. Nhưng, anh viết thêm “[l]àm từ điển thì, bạn dư biết đấy, đói dài.” Trần Phong Giao cũng nhắc chuyện cũ “[S]ực nhớ, có lần Huỳnh Phan Anh đãi uống bia lon. Hỏi sao sang thế? Đáp, ấy có thằng bạn định về thăm quê, nhưng tới Bangkok lại quay về. Hình như nó rét. Có điều, trước khi về nó có nhờ chuyển cho moa tí tiền còm: chầu bia hôm nay. Khỉ thật, phải chi hắn đãi rượu…”   <br />Trần Phong Giao luôn là người dị ứng với bia. Anh chỉ thích rượu và phải là rượu ngon. Thư anh kể thêm là trên kệ rượu nhà anh mới có ba chai: Cutty Sark, the famous Grouse và Grand Macnish. “Phải chi có các bạn ở đây để ‘nghiêng bầu mà hỏi’ thì vui biết mấy!” Và Trần Phong Giao nhắc tới bạn bè đang ở Mỹ: “Mà lạ, bạn ạ, hễ uống Chivas Regal là nhớ cụ Mặc Đỗ. uống X.O. là nhớ Thu Vàng*, uống Back and White là nhớ cô Thảo Mai**… cỏ xanh đất mát, nhớ V.K.K***.,…” Trần Phong Giao cho tôi biết anh muốn biên thư và đọc thư của Trùng Dương, Nguyễn Quang Hiện, Ngô Thế Vinh,… nhưng không biết các bạn có còn ở chỗ cũ không?    <br />Cuối thư, anh viết: “Bản thân tôi, viết được cánh thư dài như thế này cũng là chuyện hiếm hoi rồi đấy”, và Trần Phong Giao kết thúc bằng 4 câu thơ:</p>
<p><em>Sáu mươi lăm tuổi rồi đây hả?     <br />Sóng vỗ chân cầu nghe xốn xang.      <br />Đốt tay ngồi đếm, già? Đâu có!      <br />Một tuổi trời cho: một tuổi vàng….</em></p>
<p><em>     <br />“Cho dù có sống mòn, sống thêm, cũng vẫn là sống. Và còn sống là còn thương, còn nhớ, còn ‘rót thêm ly nữa’ mà không biết mời ai.”</em></p>
<p>Trần Phong Giao không quên bạn bè cũ dù trong hoàn cảnh nào, và bạn bè anh khi nhắc tới tờ Văn, không ai là không nhớ tới anh…</p>
<p><strong>4. </strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Ở Mỹ chuyện mua một tủ sách gỗ có đánh vẹc ni có vân đâu phải là chuyện khó. Tìm cho nó một chỗ để trong phòng khách hay phòng làm việc, thậm chí trong phòng ngủ cũng là chuyện dễ như trở bàn tay. Tôi đã có nhiều kệ sách như thế, nhưng cái linh hồn tủ sách Trần Phong Giao tôi không tìm ra.</p>
<p>Tôi muốn nói lời tạm biệt anh. Và nói lời cám ơn người đã xây dựng cho tờ Văn có một chỗ đứng trong trí nhớ chúng ta!</p>
<p><em>NGUYỄN XUÂN HOÀNG     <br />Tháng Năm, 2005      <br />Viết thêm tháng Chín, 2009</em></p>
<p>*Nhạc sĩ Cung Tiến   <br />**Nhà văn Mai Thảo    <br />*** Kịch tác gia Vũ Khắc Khoan</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/9347/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhớ Nguyễn Thụy Long [1938-2009]</title>
		<link>http://damau.org/archives/8743</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8743#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 14 Sep 2009 07:10:25 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Xuân Hoàng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Quan Điểm]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8743</guid>
		<description><![CDATA[Những bài viết của Nguyễn Thụy Long dành cho tuần báo Việt Mercury cũng như cho tạp chí Văn đưa chúng tôi lại gần nhau. Tôi biết anh có cuộc sống vất vả, gia đình lạnh lẽo, đời sống xã hội chua cay, nhưng lúc sau này anh vẫn viết và sống bằng chính ngòi bút của mình.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote><p>Nguồn: <a title="http://www.voanews.com/vietnamese/2009-09-10-voa38.cfm" href="http://www.voanews.com/vietnamese/2009-09-10-voa38.cfm" target="_blank">http://www.voanews.com/vietnamese/2009-09-10-voa38.cfm</a>.      <br />Nhà văn Nguyễn Thụy Long, tác giả <em>Loan Mắt Nhung</em>, <em>Kinh Nước Ðen</em> và nhiều tác phẩm khác, vừa ra đi hôm 3 tháng 9 năm 2009 tại Bệnh viện Gia Định, Sài Gòn. Hưởng thọ 72 tuổi.</p>
</blockquote>
<p align="center">
<p align="center">&#160;<a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2009/09/NguyenThuyLong_Saigon2001_.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="NguyenThuyLong_Saigon-2001_" border="0" alt="NguyenThuyLong_Saigon-2001_" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2009/09/NguyenThuyLong_Saigon2001__thumb.jpg" width="348" height="246" /></a> </p>
<p align="center"><span style="font-family: courier new; font-size: x-small"><em>Nhà văn Nguyễn Thụy Long, Sài Gòn 2001</em></span></p>
<p>Trong một bài viết cách đây không lâu trên tạp chí Văn [hải ngoại] về Trần Phong Giao, tôi có nhắc đến những cuốn sách bị ‘bức tử’ sau tháng Tư, 1975, khiến cho nhiều tủ sách gia đình trong thành phố trống trơn, trơ trọi. Gần hai mươi năm sau từ California, tôi bỗng nhận được cuốn <em>Kẻ Tà Đạo</em> [<em>nxb Nguyễn Đình Vượng</em>]. Cuốn sách của mình viết ra trước năm 1975, sau một thời gian gió bụi thất lạc bỗng một hôm trở lại tay mình ở một nơi rất xa quê hương. Cuốn sách bị nhầu nát, bìa rách, giấy đen&#8230; Thời gian tưởng đã mất, rốt cuộc hình như cũng tìm lại được. Người chuyển sách cho tôi là nhà văn Nguyễn Đạt vẫn còn ở Sài Gòn. Anh cho biết người gửi sách cho tôi là Nguyễn Thụy Long. «Anh Long đã tìm ra được cuốn sách này của anh ở chợ trời và Long gửi tặng anh.»</p>
<p>Tác giả <em>Loan Mắt Nhung</em> vẫn không quên tôi, mặc dù thời ở Sài Gòn trước năm 1975 chúng tôi thi thoảng lắm mới gặp nhau. Đôi khi ở toà soạn Văn số 38 đường Phạm Ngũ Lão, đôi khi ở quán Cái Chùa trên đường Tự Do… Thời gian đó, dù sống cùng thành phố, bọn tôi mỗi đứa vẫn chơi với một dúm bạn riêng cùng chia sẻ nhau một số suy nghĩ trong đời sống cũng như chuyện viết lách của nhóm. Tuy vậy, mỗi lần gặp Long, tôi vẫn thường hỏi anh về những cuốn sách mà anh đang viết và ngược lại Long cũng có những nhận định và suy nghĩ trong cách viết của bọn tôi. Hơn 20 năm sau, mặc dù chúng tôi không còn sống chung trong một thành phố, lạ thay, chúng tôi lại thường liên lạc nhau hơn.</p>
<p>Những bài viết của Nguyễn Thụy Long dành cho tuần báo Việt Mercury cũng như cho tạp chí Văn đưa chúng tôi lại gần nhau. Tôi biết anh có cuộc sống vất vả, gia đình lạnh lẽo, đời sống xã hội chua cay, nhưng lúc sau này anh vẫn viết và sống bằng chính ngòi bút của mình. Tôi đã gặp lại tác giả <em>Loan Mắt Nhung</em>, gặp lại những ngày tháng của Sài Gòn xưa, gặp lại những kỷ niệm hiếm hoi về một buổi sáng ngồi với nhau ở quán cà phê Cái Chùa hay buổi chiều ở nhà hàng Thanh Thế.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2009/09/NguyenThuyLong_210.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="NguyenThuyLong_210" border="0" alt="NguyenThuyLong_210" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2009/09/NguyenThuyLong_210_thumb.jpg" width="426" height="413" /></a> </p>
<p align="center"><span style="font-family: courier new; font-size: x-small"><em>Bài thơ và thủ bút của Nguyễn Thụy Long viết từ tháng 8, 1975</em></span></p>
<p>Hồi đó chúng tôi còn quá trẻ, anh ít nói và tôi không phải là người nói nhiều. Có lần Long hỏi tôi, «sao ông cứ chạy trốn cuộc đời này hoài vậy?» Long muốn nói đến tập tùy bút <em>Ý Nghĩ Trên Cỏ</em> tôi vừa mới phát hành.</p>
<p>Nguyễn Thụy Long thở với hơi thở đời sống, đi trên kênh rạch, lội xuống bùn đen, đứng giữa tiếng động của sắt thép, của dao và búa, nhập vào bóng đen của mặt trái thành phố… Còn tôi, kẻ luôn bị ám ảnh bởi câu nói của Albert Camus trong cuốn <em>Le Mythe de Sisyphe</em>: «Il n’y a qu’un problème philosophique vraiment sérieux: c’est le suicide.»* Tôi đã nghĩ đến cái chết từ những ngày học [Triết] ở Đà lat, nghĩ đến cái chết khi ở Sài Gòn [lúc chiến tranh ăn ruỗng mục tuổi trẻ đất nước], nghĩ đến nó khi nằm ở nhà tù Rạch Giá, Kinh Làng Thứ Bảy, U Minh &#8230; Nghĩ đến nó khi bị bắt trong đêm ở một khu đầy mồ mả trên bờ biển Phan Thiết chờ giờ xuống ghe [vượt thoát quê hương]…Tôi hiểu tại sao chúng tôi không gần nhau, tôi hiểu tại sao Long nói tôi là người chạy trốn cuộc đời.</p>
<p>Giờ đây, Nguyễn Thụy Long đã ra đi. Anh đã sống hết cuộc đời anh, với khổ đau nhiều hơn hạnh phúc, với bóng tối nhiều hơn ánh sáng, với một hiện tại [cơ cực] hơn là một tương lai [ung dung tự tại]… Anh đã thoát ra khỏi bóng tối, khỏi khổ đau, khỏi hiện tại. Còn tôi? Người ở lại nói với người ra đi:</p>
<p><em>Chia tay bạn ta, vĩnh biệt Nguyễn Thụy Long. Hẹn gặp!</em></p>
<p><em>Hẹn gặp!</em> Tôi đã nói hai chữ này với ai? Bao nhiêu lần? Chắc chắn không phải chỉ một lần. Với Mai Thảo, với Nguyên Sa, với Hoàng Anh Tuấn, với Trần Phong Giao,…và bây giờ với Nguyễn Thụy Long…</p>
<p><em>Hẹn gặp! </em>Bởi vì, nghĩ cho cùng trên đời này tưởng là chia tay mà vẫn là gặp gỡ và tưởng là gặp gỡ đôi khi đã là chia tay. Con người giống như những hạt bụi bay tán loạn giữa bầu trời và tình cờ gặp nhau, rồi những cơn giông bất ngờ ập đến bắn tung ra, những hạt bụi lại rời nhau bay về những phương hướng khác. Những hạt bụi có còn gặp lại nhau không hay mãi mãi không bao giờ tái hợp? Nào ai biết!</p>
<p>Nhưng <em>hẹn gặp</em> là một điều chắc chắn. Tôi vẫn nghĩ vậy! [NXH]</p>
<p>* <em>Tạm dịch: Chỉ có mỗi một vấn đề triết học thực sự nghiêm chỉnh: Ðó là sự tự tử</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8743/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Huế m&#224; ta sẽ trở lại*</title>
		<link>http://damau.org/archives/8282</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8282#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 22 Aug 2009 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Xuân Hoàng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8282</guid>
		<description><![CDATA[Xin chào các em nhỏ ở Huế, những đứa con được nuôi dưỡng trong một bầu khí đe dọa, bú mớm bằng thứ sữa thử thách, đầy cay đắng và kinh hoàng, các em sẽ lớn hơn mọi trẻ em trên thế giới vì các em có đủ căm thù để tranh đấu và đủ yêu thương để tha thứ và sống với kẻ khác.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Humtastrli_11C84/NXH071988.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="NXH071988" border="0" alt="NXH071988" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/Humtastrli_11C84/NXH071988_thumb.jpg" width="193" height="282" /></a> </p>
<p><em>Nguyễn Xuân Hoàng 07/1988</em></p>
<p>&#160;</p>
<p><b>1. </b></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Huế. Tại sao?</strong></p>
<p>Huế. Huế có nghĩa là gì nếu nó không gắn liền với những con người và cảnh vật của thành phố đó?</p>
<p>Thói quen của chúng ta nói rằng Huế là tất cả miền Trung, cũng như Hà Nội là Bắc, Sài Gòn là Nam. Cái để người ta buộc chùm với Huế là sông Hương, núi Ngự, là chùa Thiên Mụ, là lăng tẩm, là Vĩ Dạ, là Đập Đá… là Công Tằng Tôn Nữ, là Nguyễn Phúc, Vĩnh, Bảo, là cảnh trí, là những trận mưa liên tu hồ tận, là…</p>
<p>Những người Việt Nam tị nạn gọi California là Sài Gòn nhưng gọi Hoa Thịnh Đốn là Huế. Cali thì hiểu được, nhưng Hoa Thịnh Đốn, tại sao?</p>
<p>Người Hoa Thịnh Đốn kiểu cách chăng? Hay Hoa Thịnh Đốn có con sông Potomac chảy qua thành phố như con sông Hương lướt thướt dưới cầu Tràng Tiền? Hay Hoa Thịnh Đốn đầy dẫy những di tích lịch sử để làm cho người ta liên tưởng đến những lăng tẩm của triều đình nhà Nguyễn?</p>
<p>Cách chi thì cách, lòng tôi sáng nay tràn đầy xứ Huế.</p>
<p>Tại sao?</p>
<p>Nào tôi có biết!</p>
<p>Huế. Thành phố ấy tưởng như đã chìm mất trong sự quên lãng, thật ra vẫn còn quanh quẩn nguyên vẹn trong trí nhớ tôi.</p>
<p>Huế. Thành phố của tuổi mười sáu gắn chặt tôi vào với Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Huế, thỏi nam châm tình ái của con đường đi qua Đập Đá và ánh nắng mới lên trên những hàng cau quạnh hiu của một mặt đường sỉn bụi.</p>
<p>Huế trước hết là khuôn mặt tuyệt vời, là đôi mắt hạnh nhân, là giọng nói ngọt ngào quyến rũ, là nụ cười bão tố.</p>
<p>Huế thổi trong tôi hơi thở thơm ngát của sông Hương.</p>
<p>Huế, tình nhân của tôi thời mới lớn.</p>
<p>Tôi đã thấy gì ở Huế hồi đó? Một chiếc hộp giấy bìa kín bưng bên trong là con dế nhỏ. Và tôi, cậu bé tìm trò chơi trong mùa mưa. Con dế dễ thương, tiếng gáy dòn tan, nhọn như kim. Và đứa nhỏ đứng lớ ngớ bên ngoài, chọc thủng cái lỗ nhỏ tí xíu nhìn vào.</p>
<p>Cách biệt. Ao ước. Sung sướng. Hồi hộp.</p>
<p>Nhưng một hôm bỗng nhiên Huế trôi đi như những cánh lục bình dưới gầm cầu sau cơn mưa lũ.</p>
<p>Tưởng vậy thôi, thực ra Huế không chìm mất hẳn. Như cái phao của chiếc cần câu có sợi dây tơ quá dài, Huế nổi lên, Huế trở lại trong tôi.</p>
<p>Trở lại trong tôi với tất cả nỗi đau đớn và xót xa.</p>
<p>Trở lại trong tôi với hình ảnh của một thành phố máu lửa. Huế giẫy giụa và bi thương. Huế nghẹn ngào và nghẹt thở.</p>
<p>Huế là người bệnh bị máu xối xả tuôn từ lục phủ ngũ tạng. Huế hấp hối.</p>
<p>Huế trở thành thành phố của bạo động và căm phẫn.</p>
<p>Huế trí tuệ.</p>
<p>Huế chôn xong người tình nhỏ bé, để hóa thân trở thành một nhà cách mạng cực đoan.</p>
<p>Huế khóc bằng nước mắt của dân tộc.</p>
<p>Chiếc cầu nối liền hai con đường chính của Huế đã gẫy. Con sông vẫn nghiêng bóng. Huế của trầm lặng đã trầm lặng trở lại sau những tiếng súng.</p>
<p>Trong cái ánh nắng chói chang của Huế, sao tôi chỉ nhìn thấy cái mù mịt của một đời sống xót thương?</p>
<p>Huế đầy hầm hố và xác chết, và tử biệt sinh ly?</p>
<p>Huế đòi lại người chồng người con đã bị vùi sâu trong đất đai và biển lửa.</p>
<p>Trên khuôn mặt xanh xao của Huế đang giàn giụa nước mắt là một Huế dũng mãnh.</p>
<p>Cả hai lần đến Huế, Huế đều dìm tôi xuống tận đáy vực của đau thương.</p>
<p>Lần đầu Huế là đôi mắt đen sâu như vực thẳm của tình ái. Lần sau Huế chính là ngọn lửa bốc cao tiếng khóc xót xa của một thời băng giá. Huế của địa ngục.</p>
<p>Như con chim sải cánh bay trên trời cao, ngó xuống tình cờ một thành phố ngổn ngang những di tích của một lịch sử, la liệt xác chết của một trận chiến ngu xuẩn, thấp tè những mái nhà tối tăm của một đời sống chậm chạp thiếu ăn và đen đúa.</p>
<p>Tôi bị cay mắt vì những cột khói mù của một thành phố cháy.</p>
<p>Huế hết chưa thời rêu rong và cổ kính?</p>
<p>Huế có còn không con đường hàng me đầy kỷ niệm?</p>
<p>Huế thơ ngây của tôi đã đầy chăng sự già dặn?</p>
<p>Huế của núi thấp và sông cạn.</p>
<p>Huế của tình yêu và thù hận.</p>
<p>Huế chỉ là nơi để nhìn ngắm và chiêm ngưỡng hay để sống và thở?</p>
<p>Huế, đó chính là thành phố mà tôi sẽ trở lại, mặc dù tôi biết là chẳng có ai chờ đón tôi ở đó.</p>
<p>Cũng chẳng làm sao, phải không? Bởi vì tôi đâu phải người khách lạ và Huế đâu phải là một miền đất không quen!</p>
<p>Huế cổ tích và hiện đại.</p>
<p>Huế với thời tiết kỳ quái, cách mạng xung động và trầm lặng khó hiểu.</p>
<p>Nhưng Huế, xin hãy chờ!</p>
<p>&#160;</p>
<p><b>2. </b></p>
<p><b></b></p>
<p><b>Những cửa sổ của Huế</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Mùa hè ở Huế, mặt trời xuống rất gần, đêm đứng gió, nóng bốc khói từng lỗ chân lông. Huế như chiếc hỏa lò lớn thiêu tro tất cả.</p>
<p>Trời xụp thấp. Và đám mây bồng, đã cũ xì.</p>
<p>Tôi ao ước mưa và tôi đang nghe thấy được mùi khói đất lượn qua mũi. Mưa. Cơn mưa tuyệt vời giữa mùa nắng cháy của Huế.</p>
<p>Tôi đang nghe hơi đất ngái xông lên, cơn mưa kỳ dị đang rơi xuống.</p>
<p>Hình như tôi ngửi thấy được mùi vị Huế, cái mùi cách đây lâu lắm tôi đã bắt được qua những bãi cát trắng chạy dọc đường từ sân bay về trạm ga, cái mùi đặc biệt Huế thoảng ra từ mái tóc gội bồ kết em, từ giọng nói ngọt ngào quyến rũ em, từ màu áo tím than buồn bã em.</p>
<p>Trong cơn gió nhẹ thổi tới mặt trong hạt mưa bay đọng trên cánh tay đặt ở bờ cửa, trong sự mệt mỏi của thân xác, tôi tưởng nhìn thấy lại khuôn mặt của một người với nụ cười dịu dàng, chiếc cổ cao, đôi mắt màu nâu sáng…</p>
<p>Nhưng không phải là cơn mưa phùn của mùa Xuân Đà lạt để khơi lại cái quá khứ đã nhòa nhạt, không phải là ngọn gió mềm Nha Trang để thổi bay chút phấn thông dĩ vãng đã phai màu. Chính là những giọt nước vỡ òa như cái bong bóng căng bị ép cực mạnh, chính là trận mưa tàn bạo bất thường, cơn gió thốc xoáy quái dị cuốn tung khuôn mặt ngày xưa của Huế. Chính là những căn nhà tôn lụp xụp, kiến trúc vuông vức phẳng lì hình hộp, san sát như những viên gạch để đáp ứng cho nhu cầu chiến tranh mà Huế trở nên nghẹt thở. Chính cái màu xám xịt của đoàn xe dày đặc đầy nhóc những lính trận, đạn dược và súng ống, chính những chiếc thiết giáp nặng nề nghiến nát mặt đường với bụi đất đỏ bết chặt thành xe, chính cái áo tơi quá rộng trùm kín những đôi vai gầy nhỏ, chiếc nón sắt cứng nhắc ép xuống cái đầu mềm nhũn của người lính trẻ làm Huế trở nên người lạ mặt.</p>
<p>Huế mà tôi đang nhìn thấy (chìm trong sương mù của tấm vải thô đục đan bằng những giọt nước mưa to) xa xôi như một vùng đất chưa hề một lần đặt chân đến.</p>
<p>Huế mà bây giờ ta đang nhìn thấy huyền ảo mong manh như một cái gì không có thực.</p>
<p>Huế tối tăm trong những bong bóng mưa vỡ tung khi chạm thành cửa kính, mũi xe, mặt đường.</p>
<p>Và như thế Huế chào đón tôi.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Tôi xuống xe ở nhà ga tàu lửa — những nhà ga tàu lửa của hầu hết những thành phố còn sót lại miền Nam này đã trở thành những trạm đi và đến của đường hàng không – nhớp nhúa hơn, lạc lõng hơn và tội nghiệp hơn cái nhà ga mà tôi đã nhìn thấy, đã chờ đợi, đã đưa đón, đã ra đi và đã biệt ly hồi đó.</p>
<p>Chiếc xắc trên tay, không còn thứ hành lý nào khác để chờ lãnh, tôi đứng chơ vơ một mình ở sân ga.</p>
<p>Huế đó sao?</p>
<p>Trên sân ga này một buổi sáng tôi đã đến, len qua cánh cửa người soát vé, chạy băng trên nóc những toa tàu, gặm khúc bánh mì khô trong khói than. </p>
<p>Trên sân ga này, trong một buổi sớm mai lạnh buốt tôi đã nhìn thấy mắt em nhỏ lệ ngậm ngùi, nơi chúng tôi đã chia tay nhau không một lời từ biệt, và chúng tôi, ngầm hiểu với nhau rằng như thế là tình yêu đã hết.</p>
<p>Huế đó sao?</p>
<p>Hòn sỏi dưới chân tôi cũng lạ mặt giống hệt như tôi đang đứng trên bờ cát, những con sóng xô vào, rút nhanh, xóa tan hết cái vết chân ai vừa mới dẫm lên.</p>
<p>Người phu xe thở dốc khi đưa chúng tôi băng qua những con đường ổ gà — trận lụt bữa trước đã cuốn trôi tất cả — lên một chiếc cầu, nép tránh một chiếc xe hàng ọp ẹp, chúi nghiêng khi chùi xuống một lỗ trũng.</p>
<p>Bao Vinh xa không thể tưởng.</p>
<p>Chẳng hiểu là bạn ta có thấy được đường xa và cơn mưa buồn bã của tôi không?</p>
<p>Bạn đã nói đến quê nhà của bạn, thời thơ ấu của bạn, con đường mà bạn đã băng qua để đến trường học lớn nhất miền Trung, chiếc cầu (mà chúng tôi đã đi ngang qua đây) là nơi mà mỗi buổi chiều dân chúng thẩn thơ lên đó hóng những ngọn gió mát từ mặt sông thổi lên.</p>
<p>Tôi đã ngủ lại đêm ở nơi này. Bao Vinh ba giờ khuya nước sông lớn theo cơn mưa xoáy đứt neo trôi đi những thuyền buôn của mấy người Quảng. Và ta đứng trên bao lơn Bao Vinh nghe thấy Huế than khóc, rên rỉ, trôi trên sông một đời buồn bã.</p>
<p>Huế đó sao?</p>
<p>Sáng hôm sau khi Bao Vinh còn ngái ngủ tôi đã rời bỏ nó để trở về thành phố. Dù sao tôi vẫn ưa nhìn Huế tận mặt, tận mặt trong cái vẻ nguyên vẹn không màu sắc và phấn son của nó, tận mặt vì ở đó — những con đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu… đầy người hay con đường Lê Lợi, Phạm Ngũ Lão, Trần Thúc Nhẫn… vắng vẻ đến dễ sợ — tôi có thể thấy được cái mà ít ra Huế có thể phô bày. Thành phố Huế là khuôn mặt của Huế, những cái khác chỉ là tay chân. Cầu Trường Tiền và sông Hương là mạch máu và trái tim của Huế. Những chiếc cầu khác, những nhánh sông khác chỉ là những mạch máu nhỏ tiếp dưỡng và bồi bổ cho mạch máu lớn.</p>
<p>Thành Nội là vầng trán của Huế, trên đó người ta có thể nhìn thấy những nếp nhăn cổ tích, con đường hẹp ngập đầy bóng mát và lá úa của những tàn cây lớn đứng tuổi trước những thành quách rêu phong là dấu vết của một thứ quá khứ vàng son không bao giờ long lanh lại nữa.</p>
<p>Óc não Huế là khu Đại học trẻ trung chẻ ra bằng những con đường đá xanh, rợp bóng cây của những cuộc dạo chơi tình cảm, đứa con muộn màng của mối tình kỳ cựu nhất là chàng trai tơ Quốc Học và nàng kiều nữ Đồng Khánh.</p>
<p>Ruột gan Huế là chợ Đông Ba ngổn ngang xô bồ bên ngoài ngôi nhà tối tân không được tận tình sử dụng.</p>
<p>Và Vĩ Dạ bên kia Đập Đá chính là Tình Ái Huế.</p>
<p align="center">* </p>
<p>Bỏ lại Bao Vinh một buổi sáng tôi nhớ gì?</p>
<p>Có phải câu ca dao mà bạn ta đã đọc (và ta đã không nghe rõ lắm).</p>
<p><i>Bao Vinh cao bực (?) thẳm bờ</i></p>
<p><i>Ghe thuyền năng đậu, mẹ nhờ duyên con</i></p>
<p>Thế nào là cao bực, là thẳm bờ? Tôi chỉ có thể giải thích được một điều là chốn ấy có người qua kẻ lại, và cái duyên của con gái có thể làm thay đổi cuộc sống của bà mẹ.</p>
<p>Bỏ lại Bao Vinh, sau một đêm gần như không ngủ, tôi thấy Huế dần dần hiện ra trong lặng lẽ im lìm, bất động.</p>
<p>Còn quá sớm để đánh thức một dĩ vãng đang yên ngủ, nhưng hình như quá trễ để pha một cốc nước trà cho người già nua?</p>
<p>Phải không Huế?</p>
<p align="center">* </p>
<p>Như vậy đó tôi nhìn thấy Huế.</p>
<p>Suốt mấy ngày trời Huế mưa dầm mưa dề mưa tầm mưa tã.</p>
<p>Huế nhốt tôi trong trường Quốc Học. Cửa kính sỉn mờ, hành lang u ám, và tiếng trống vào lớp buồn xưa.</p>
<p>Huế trầm lặng, nghiêm trang như phòng thi với những khuôn mặt xanh, mắt lo âu, trán ưu tư. Huế kêu réo ký ức của một hoài niệm.</p>
<p>Mưa rơi trên sân trường, mực đầy trang giấy trắng. Và niềm im lặng cổ kính.</p>
<p>Chính là khuôn mặt dịu dàng em, đôi mắt tròn đen hơi ngơ ngác em, nụ cười buồn rầu và mái tóc ướt huyền em… xô đẩy cánh cửa thần thoại cổ tích…</p>
<p>Trận mưa da diết và kỳ diệu của Huế làm ướt đẫm tâm hồn tôi.</p>
<p align="center">* </p>
<p>Còn nhớ buổi chiều đầu tiên của một ngày có nắng sau trận mưa liên tu hồ tận ở Huế, một người bạn hỏi tôi:</p>
<p>&quot;Nóng chưa?&quot;</p>
<p>&quot;Cái gì nóng?&quot;</p>
<p>&quot;Thì trời nóng đất nóng chứ còn gì!&quot;</p>
<p>&quot;Nóng!&quot;</p>
<p>&quot;Vậy thì đi&quot;.</p>
<p>&quot;Đi đâu?&quot;</p>
<p>Bạn ta không trả lời. Hắn dẫn tôi ra trước Kỳ Đài (A! Chỗ này đây đã có trận đánh lớn, ngưòi ta giết nhau để cắm một ngọn cờ. Bao nhiêu người đã chết ở bãi cỏ xanh này. Bao nhiêu tuổi trẻ đã nằm gục vắt ngang khẩu đại bác cũ kỹ này? Một tấm vải. Một lá quốc kỳ. Và máu chảy xuống. Có phải là tôi đang nghe lại tiếng đạn réo ngang mang tai, một trái lựu đạn vừa nổ, một hơi thở vừa thoi thóp? Có phải tôi đang nhìn thấy lại trong trí tưởng cái hình ảnh quằn quại của người lính trận? Có hay không điểm khác nhau giữa sự đau đớn thân xác của người chiến sĩ này và người chiến sĩ bên kia sông? A! Chỗ này đây…) Đẩy tôi xuống một bờ dốc. Bước lên một tấm ván gỗ. Leo qua một khoang đò. Bạn ta cười cái cười kỳ cục.</p>
<p>Đêm trên sông Hương. Tôi tưởng thấy tất cả cái lóng lánh của một trang sách, mê say của một truyện kể… Nhưng chẳng có gì hết. Đò san sát nhau tấp dọc bờ. Người đàn bà tháo dây, chống sào. Đò lướt ra, không xa lắm, neo lại.</p>
<p>&quot;Thế thôi?&quot;</p>
<p>Đêm đó mát thật nhưng tôi buồn cười. Suốt đêm tôi buồn cười. Chẳng là vì tôi chờ đợi tiếng phách gõ của những thuyền nhỏ bán quà trên sông. Một người bạn ở Sài Gòn nghe tôi sắp ra Huế bèn nói cậu nên ngủ đò. Có gì hay không? Có. Gì? Tiếng động trên sông Hương đêm. Ra sao? Hắn nói đến tiếng phách gõ có nhịp điệu đặc biệt là một thứ ngôn ngữ mà người ta có thể truyền cho nhau được trên sông. Chẳng hạn như chè có lối gõ khác với cháo. Bún bò có một nhịp động khác với hột vịt lộn. Và những nàng kiều nữ nữa… Nhưng bây giờ đây, nghĩ đến thứ âm thanh trong trí tưởng đó làm tôi tức cười muốn chết. Tôi đâu có đi tìm một chút gió mát trên sông Hương. Tôi tìm nghe tiếng động của Huế ban đêm. Và tiếng động đó không có thực. Chỉ có tiếng người ơi ới rao hàng và tiếng mái dầm ì òm trên mặt nước.</p>
<p>Huế đó sao?</p>
<p>Trong bóng tối của trời đất, trong hơi thở của sông nước, tôi tình cờ nghe được tiếng thở dài của Huế. Phải, và trong cái tỉnh táo của đầu óc, trong sự lặng thinh của trái tim, tôi nhìn thấy lại khuôn mặt dịu dàng em, sự chết nằm trên vành khăn tang trắng cuồng bạo lạnh lẽo, nhưng trong đôi mắt nai em chứa chan một đời sống êm đềm, nồng nàn.</p>
<p align="center">* </p>
<p>Trước khi dời bỏ Huế, tôi đã ra ngồi bên bực thềm Lăng Miếu trước trường Đồng Khánh. Vũng nước của trận mưa bữa qua còn đọng trên mặt đất. Ngày thì đã qua nhưng mùa hè vẫn còn. Chẳng làm thế nào để thấy được những con bướm trắng bay ra từ ngôi trường đó, rộn rịp nhởn nhơ trước mặt tôi khua guốc trên đường lộ, hót như chim, xuống đò qua sông mang theo chút ngây dại còn sót lại của đời tôi.</p>
<p align="center">* </p>
<p>Ôi! Huế rêu phong buồn bã, thành quách cuồng tín, mưa dầm, nắng cháy!</p>
<p>Ôi, Huế bạo động và trầm lặng như em.</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong>3. </strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong>Huế, Xin chào!</strong></p>
<p>Xin chào thành phố buồn thiu, con sông lặng lẽ.</p>
<p>Xin chào Bao Vinh phố hẹp nhà đông, thuyền bè đứt neo, tiếng động ban đêm.</p>
<p>Xin chào bạn bè mà tôi đã gặp trên chuyến đi, ngôi trường nổi tiếng mà quá khứ vàng son của nó còn ngự trị nơi tôi cả một triều đại. Xin tạm biệt mùa thi, mùa hạ của Huế.</p>
<p>Xin chào mừng những chiếc đò xếp lớp như cá mòi đóng hộp, một chút gió sông, một trời đen ám, một đêm lạ lùng.</p>
<p>Xin chào những đóa sen trắng nở thơm quanh hào Thành nội, con đường bóng mát lởm chởm đá xanh dẫn đến ngôi nhà người họa sĩ trẻ đã một thời cùng tôi chung học dưới mái trường.</p>
<p>Xin chào bạn tôi, người đã sanh ra và lớn lên trên đất Thần kinh nghe thấy quanh quẩn đâu đó một điều tuyệt vọng.</p>
<p>Xin chào bóng tối của những cây nhãn trong quán Ngự viên, những giọt mưa phả ướt mặt tôi trên đường về chỗ trọ, tối ám quạnh hiu. </p>
<p>Xin chào những cây me thở diệp lục tố nơi bạn tôi đang ở mà tôi không đến được, xin chào nhà sàn Trần Thúc Nhẫn vườn kín lá cây xanh, nơi người bạn gái tạm trú với một mối tình đã chết.</p>
<p>Xin chào người anh em làm thơ viết văn tình ái và cách mạng của một Huế bi phẫn và cuồng nộ.</p>
<p>Xin chào mảng nắng sáng góc phố Lê Lợi, màu trời chiều tháng Sáu Vĩ Dạ. Xin chào hơi thở thơm hương cau hương bưởi em. Xin chào mùi bồ kết và chanh, tẩm đầy mật ong rừng trên mái tóc em.</p>
<p>Xin chào Kỳ dài chưa treo cờ, những khẩu đại bác bảo tàng viện bóng lưỡng sẽ không bao giờ còn thở khói, bờ cỏ mướt sương buổi sáng còn ướt chân tôi.</p>
<p>Xin chào Đập đá thấp, với chiếc cầu vòm cao trong trí tưởng, dẫn ngang những làng xóm khô cằn vừa trẻ lại bằng những chùm nắng lóng lánh trên hàng cau, bờ cỏ.</p>
<p>Xin chào Thuận An cát vàng bẩn sỉn, chiếc phà khô kệch chòng chành, người đi ngơ ngẩn.</p>
<p>Xin chào những bàn thờ, những nén hương ngạt ngào dọc bờ sông bị vây ám trong cơn mưa vào ngày kinh đô thất thủ làm sống dậy trong tôi một Tôn Thất Thuyết đảm lược, một Hàm Nghi vĩ đại can trường.</p>
<p>Xin chào nỗi đau khổ trong chiếc nón bài thơ, trong màu áo, trong mắt nhìn của những người mẹ ở chợ Đông Ba.</p>
<p>Xin chào một người trong trường Jeanne d’Arc với cổng kín tường cao, chiếc xích đu đong đua cả một chiều chờ đợi.</p>
<p>Xin chào đôi mắt to đen, vành khăn tang trắng, áo lụa vàng, nụ cười buồn, nhìn ai không nói trong sân trường Quốc học mùa thi.</p>
<p>Xin chào những trái cây còn non trong ngôi nhà cổ, nơi bóng tối nhiều hơn ánh sáng, chỗ nát tan nhiều hơn lành lặn, nơi tôi đã đến đốt một ngày dài kỷ niệm.</p>
<p>Xin chào những cây sầu đông không nở trái để tôi hái tặng em, xin chào những con đường em đã đi mà tôi không biết nơi nào để giẩm lên đó những dấu chân muộn màng, xin chào ngôi nhà em đã ở cùng với những người thân yêu mà tôi chưa một lần gặp mặt, xin chào những kỷ niệm riêng tư của em mà tôi không hề muốn nhìn ngắm.</p>
<p>Xin chào những dấu đạn, những hố bom, những xác chết, những vườn không, nhà trống, những chia lìa và tủi nhục của một thành phố tai ương.</p>
<p>Xin chào những chùm hoa phượng nở đỏ như máu trong trường Đồng Khánh, trái tim của hăng nồng và sắt máu, xin chào mãi mãi những tâm hồn vĩ đại đã không ngừng nhúm ngọn lửa đấu tranh không ngừng chống mọi gian trá, bất công và đàn áp.</p>
<p>Xin chào những người đang yêu, những mối tình đang lớn / hay đã chết trong Huế.</p>
<p>Xin chào mặt trời trên cao, con mắt duy nhất đã nhìn thấy tội ác và đau khổ của một vùng đất khô cằn, nghèo đói, gầy ốm, bệnh tật và thiên tai. </p>
<p>Xin nghiêng mình trước một xứ Huế của những con người chịu đựng bền bỉ dẻo dai mãnh liệt hơn bất cứ một người dân nào trên thế giới.</p>
<p>Xin chào con đường mòn nhỏ dọc bờ sông với cỏ xanh đưa tới những bậc cấp của những Lăng Miếu trước trường nữ trung học, nơi tôi đã đi dạo mỗi buổi chiều với em, ghế đá nhám bẩn nơi tôi đã ngồi một mình nhìn con sông lặng lờ và những bậc cấp bằng gạch nung đã rêu xanh, nơi tôi tưởng đang nghe thấy tiếng cười rộn ràng của tình yêu Huế.</p>
<p>Xin chào các em nhỏ ở Huế, những đứa con được nuôi dưỡng trong một bầu khí đe dọa, bú mớm bằng thứ sữa thử thách, đầy cay đắng và kinh hoàng, các em sẽ lớn hơn mọi trẻ em trên thế giới vì các em có đủ căm thù để tranh đấu và đủ yêu thương để tha thứ và sống với kẻ khác.</p>
<p>Xin chào một tuổi trẻ hiện tại và dũng cảm Huế.</p>
<p>Xin vĩnh biệt quá khứ vàng son và xa cách Huế.</p>
<p>Xin chào một thành phố mà chắc chắn là tôi sẽ còn trở lại dù không ai chờ đợi.</p>
<p>Hãy làm bộ vĩnh biệt Huế, nghe.</p>
<p>&#160;</p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><i>* Trích Căn Nhà Ngói Đỏ của Nguyễn Xuân Hoàng, Văn Nghệ xuất bản 1989.</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8282/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Biển, Nghe Không</title>
		<link>http://damau.org/archives/8197</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8197#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 19 Aug 2009 07:04:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Xuân Hoàng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8197</guid>
		<description><![CDATA[biển có nói gì đâu
nhưng biển thấy hết, nghe hết, hiểu hết, biết hết ... nghe không?
Biển, nghe không?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Tạp chí Văn (Sài Gòn) số 69   <br />Ngày 1 tháng 11 năm 1969 (trang 34)</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/BinNgheKhng_12021/NguyenXuanHoangBienNgheKhong.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="NguyenXuanHoang-BienNgheKhong" border="0" alt="NguyenXuanHoang-BienNgheKhong" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/BinNgheKhng_12021/NguyenXuanHoangBienNgheKhong_thumb.jpg" width="479" height="788" /></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8197/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

