<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Nguyễn Thanh Hiện</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/nguyenthanhhien/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Một c&#225;ch n&#243;i kh&#225;c của niềm khao kh&#225;t</title>
		<link>http://damau.org/archives/19853</link>
		<comments>http://damau.org/archives/19853#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 05 May 2011 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Thanh Hiện</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Đoản văn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/19853</guid>
		<description><![CDATA[Lũ chim núi đã bắt đầu đổi giọng, như không còn nghe thấy thứ âm vực trầm buồn trong cách thúc bách những đám mây lẻ loi hãy mau quay về phương bắc nơi sản sinh những âm vang màu xám, thánh thót, là có phần cao trào, gấp rút, nhưng vẫn lắng đọng những kết tập nghìn năm...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="right"><em>Gửi Phạm Mạnh Hiên</em></p>
<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Núi</p>
<p>Câu chuyện kể.</p>
<p>Dấu tích</p>
<p>Và ta</p>
<p>Lũ chim núi đã bắt đầu đổi giọng, như không còn nghe thấy thứ âm vực trầm buồn trong cách thúc bách những đám mây lẻ loi hãy mau quay về phương bắc nơi sản sinh những âm vang màu xám, thánh thót, là có phần cao trào, gấp rút, nhưng vẫn lắng đọng những kết tập nghìn năm, hót là sự kết tập tinh hoa của một loài giống lấy chốn trời cao làm chỗ nương thân.</p>
<p>Phủ lên câu chuyện kể là những lời nguyền rủa đã tan ra thành những hạt bụi bám vào chỗ thâm cùng trí nhớ, nhưng ai nguyền rủa và nguyền rủa ai là chẳng thể diễn giải, thứ ký ức trắng ấy tựa một thứ thi ca vô thức luôn trổi dậy vào những lúc cảm nhận được nỗi thống khổ đẹp nhất, mà cũng chẳng cần nói ra tên triều đại ấy, tên vì vua ấy, bởi tất cả những triều đại tội lỗi và những ông vua tội lỗi là cùng chung một danh mục.</p>
<p>Cứ phủi đi rong rêu bám trên mặt đá là sẽ đọc được lời thơ kỳ dị.</p>
<p>Nói lên chùa Nước Nâu thực ra là ta lên núi có ngôi chùa đã đổ nát tự những thế kỷ trước để tìm lại những thứ chỉ có kẻ ngu ngốc như ta mới cất công đi tìm. Thứ ta tìm là một khái niệm mong manh thỉnh thoảng người ta lại lôi ra khỏi dòng chảy lịch sử rồi lại hô hoán rằng chẳng phải.</p>
<p>Núi Nung, tên ngọn núi có ngôi chùa đổ nát, là nằm trong danh mục những sông núi hạng bét của đất nước, có nghĩa, nếu không nói ra, như đang nói ra ở đây, thì chẳng ai biết ngoài những kẻ cày ruộng dưới chân núi ấy.</p>
<p>Thì cứ xem như câu chuyện kể người làng ta ai cũng biết là gần với sự thật nhất. Mà nếu như mỗi thời người ta thay đổi mỗi chút thì cũng chỉ nhằm làm cho câu chuyện thực hơn. Vào một ngày nắng nóng, những người làng Cù làm than củi vào núi Nung sớm nhất đã phát hiện thấy một ngôi chùa mái tranh vách lá đã được dựng lên ở bên bờ con suối đá, vị trù trì là một chàng trai trẻ đẹp bảo người đệ tử duy nhất của mình, một ni cô xinh đẹp, đón những người làm rừng vào chùa để nghe giảng kinh. Chuyện kể bắt đầu như vậy. Và mấy trăm năm qua vẫn bắt đầu như vậy.</p>
<p>Cứ phủi đi rong rêu trên mặt đá thì đọc được lời thơ kỳ dị. Dấu tích nó là thơ viết lên đá núi.</p>
<p>Ta ngồi nơi bờ suối Nước Nâu. Đang đầu mùa hạ. Suối đã cạn hết nước. Gọi là suối Nước Nâu, nhưng chưa ai nhìn thấy nước con suối là nước nâu. Tên chùa cũng là tên suối. Và tên suối hay tên chùa cũng chỉ là khái niệm mơ hồ về một khối u uẩn nào đó. Nếu chẳng phải thế thì tại sao chẳng phải nước xanh, hay nước trong, mà là nước nâu?</p>
<p>Hay là núi cũng thuộc về cái khối u uẩn to lớn nào đó? Cái gì nung cái gì, cái khác nung núi, hay là núi tự nung nấu mình? Là núi sông hạng bét, nên chẳng có lời chú hay lời bình trong tư liệu sách vở nào.</p>
<p>Chuyện kể không gọi ni cô xinh đẹp là ni cô, mà gọi là nàng. Đêm đông giá lạnh, nàng trải tóc ủ cho Từ bớt lạnh, trưa hè nắng nung, nàng với Từ cùng xuống nằm nơi lòng suối đá để truyền cho nhau sức vĩnh hằng. Từ trong chuyện kể là tên vị sư trụ trì chùa Nước Nâu. Đến Phật cũng động lòng, huống hồ người làng Cù. Kể từ những ngày đầu có chùa có sư ở trên núi, người làng Cù thay nhau mang gạo, sắn, hoa quả lên tặng cho những người nhà chùa, mà theo bọn họ thì đấy là những vị bồ tát đang thực thi lòng yêu thương cho chúng sinh noi theo.</p>
<p>Cứ phủi hết lớp rong rêu trên mặt đá là thấy những lời ấy. Dấu tích cũng chỉ là một cách thể hiện khác của những khái niệm duy lý.</p>
<p>Nhà viết sử khi viết lịch sử của loài người thường có những mô tả rộng ra về những loài khác, trong đó có loài chim. Cho nên khi ngồi ở bờ suối Nước Nâu ta cũng cố nghe thử lúc lũ chim núi Nung nói về loài giống mình (hót là một cách chép sử bằng miệng của loài chim) chúng có nói gì về loài người hay không. Dường chỉ rặt ca tụng nhau, hay ca tụng trời cao. Ở bên dưới những đôi cánh của loài giống chúng ta là những thèm muốn của lũ ích kỷ xấu xa. Ta chợt thấy trong sự thông thái bất chợt của mình lời dịch bất chợt tiếng chim ra tiếng người.</p>
<p>Núi ở đây ngoài nghĩa tập họp những yếu tố tự nhiên: đất đá, rừng cây, hùm beo, chim chóc…, còn có một nghĩa khác, như một thứ khái niệm mang tính lịch sử, nơi thể nghiệm cho một cách hiểu khác về sự đối nghịch của văn minh: dã man.</p>
<p>Cũng có lúc có người nghĩ đến một lúc nào đó vị sư trụ trì chùa Nước Nâu sẽ cho ra đời một anh sư con. Nhưng không. Thời gian đã trả lời với người làng Cù về chuyện đó. Vào một sáng, khi mặt trời soi rõ núi rừng , những người làm rừng vào núi Nung đã nhìn thấy cảnh hành hình diễn ra ở chùa Nước Nâu. Vị sư trụ trì và ni cô của chùa đều bị trói chặt, đặt nằm sát bên nhau ở sân chùa, lúc người cầm đầu đám binh lính bảo chém, thì đầu của hai người cùng văng ra một lúc.</p>
<p>Dấu tích là thơ viết trên đá: Núi lở mây nghiêng nửa sắc không.</p>
<p>Ta đưa mắt nhìn mãi những gọp đá nơi bờ suối nhưng chẳng tìm thấy chút manh mối nào của dấu tích. Thì ra dấu tích cũng chỉ là một cách nói khác của niềm khao khát. Chuyện kể nói khi vua biết ni cô chùa Nước Nâu là con gái yêu duy nhất của vua, và vị sư trụ trì chùa Nước Nâu là kẻ có âm mưu chống lại vua từng bị vua truy đuổi, thì ngài đã lập tức đưa quân sĩ đến núi Nung, vây chùa Nước Nâu, và chặt đầu cả con gái mình lẫn kẻ thù của mình. Ta chẳng cần biết âm mưu chống lại vua là âm mưu gì, cũng chẳng cần biết vua ấy là của triều đại nào, điều ta muốn biết có phải đấy là niềm khao khát của con người về cách thế tồn tại của mình khi chuyện kể nói máu của Từ và máu của người yêu của Từ đã hóa thành thơ trên vách đá?   <br />&#160;</p>
<p><em>Tiết cốc vũ, 2011</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/19853/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những trang sử bằng đất</title>
		<link>http://damau.org/archives/17965</link>
		<comments>http://damau.org/archives/17965#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 14 Jan 2011 08:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Thanh Hiện</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/17965</guid>
		<description><![CDATA[Ta đọc những trang sử bằng đất, 
thấy mộ ai nơi chân núi chẳng có bia đá, 
chẳng có cọc chôn đầu, 
hỏi chim, 
chim bảo là người ở giữa có và không. ]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;&#160; </p>
<p>Ta đọc những trang sử bằng đất,    <br />thấy mộ ai nơi chân núi chẳng có bia đá,     <br />chẳng có cọc chôn đầu,     <br />hỏi chim,     <br />chim bảo là người ở giữa có và không. </p>
<p>Những trang sử bằng đất ta đã đọc,    <br />những trang sử dày đặc những tra vấn,     <br />là được tính bằng nghìn năm,     <br />được tính bằng những đơn vị của niềm vui và nỗi thống khổ,     <br />hỏi chim ai nằm bên dưới những lớp cỏ     <br />nơi ngôi mộ?     <br />chim bay đi. </p>
<p>Núi trải dài trên những trang sử bằng đất,    <br />sông dày đặc những lời tối nghĩa,     <br />có phải chim trở lại nơi bắt đầu của cuộc đến và đi,     <br />để tìm những lời giải     <br />cho những câu hỏi     <br />bị vùi lấp ở phía đầu kia thời gian? </p>
<p>Ta đọc những trang sử bằng đất,    <br />thấy thấp thoáng     <br />nơi quá khứ     <br />những gương mặt     <br />chẳng thể diễn tả     <br />bằng ngôn ngữ con người . . .</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/17965/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sự đ&#249;a cợt của thời gian</title>
		<link>http://damau.org/archives/17684</link>
		<comments>http://damau.org/archives/17684#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 31 Dec 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Thanh Hiện</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/17684</guid>
		<description><![CDATA[Cả việc cả chủ lẫn khách vây quanh ché rượu, cùng cầm lấy những chiếc cần cùng uống thứ chất vừa ngọt ngào vừa cay đắng, cũng là hình thành từ cuộc sống xưa cũ. Những phút bầy đàn, nhằm củng cố sức tồn sinh. Cho nên lúc men rượu đã đủ bổ sung cho sức sống, mọi người đều đòi kể Giót. Tức trở về với cội nguồn của mình.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Có một nền văn minh, nếu không muốn nói là sáng giá, đã bị chôn vùi dưới chân núi Đưng. <i>Anh đi làng Nhút làng Dìng, đi chín suối mười dốc, gặp không biết mấy nhiêu cô gái, vẫn quay về làng mình để đeo vào cổ em chiếc xi tiu xinh đẹp do chính tay anh làm ra.</i> Lời người thợ nấu sắt nói với người yêu của mình trong cuốn sử truyền miệng chép về nền văn minh núi Đưng. Điều này có nghĩa nền văn minh đã bị chôn vùi là thuộc thời kim khí. Ở núi Đưng hầu như ai cũng thuộc Giót. Đó là tên cuốn sử truyền miệng chép về nền văn minh đã bị chôn vùi ấy.</p>
<p>Tôi lên cao nguyên miền Trung là để lấy tư liệu cho một bài viết mình còn nợ của một tờ báo, bài viết về sự hình thành các tập tục của các dân tộc ít người ở Tây Trường Sơn. Trên đường về lại thành phố, tôi ghé vào làng Dang dưới chân núi Đưng là để thăm chơi cho biết, vì bấy giờ việc lấy tư liệu coi như đã hoàn tất. Mùa hạ ở núi Đưng có hoa muồng rực thắm giữa màu lá rừng đương ngả màu, tựa bức tranh cổ u tịch bỗng hiện ra ở đâu đấy một chút le lói. Khách đường xa suốt tháng trời chỉ chăm chắm mỗi việc săn tìm tư liệu là tôi, phút chốc cũng thấy lòng nhẹ bổng trước cảnh nước non mới lạ. Núi Đưng không cao. Chỉ đứng đó như sự che chở cho cuộc sống lẻ loi đương diễn ra trong một vùng trũng rộng lớn, có thể gọi là cuộc bình nguyên trên cao nguyên. Khi người khách đường xa là tôi đã ngồi vào một chỗ ghế học của một lớp học vùng cao, thì cả đám học trò con trai con gái lên năm lên bảy, ở trần có mặc áo có, lẫn cô giáo dạy học, vẫn tự nhiên như không, như con suối Dang đối với tôi, lúc tôi đứng trên bờ của nó ngắm nhìn trời đất. Lũ học trò dường đã xong việc tập viết, làm toán, đang ngồi hóng cổ nghe cô giáo kể chuyện.</p>
<p><i>Giót là không có gì hết, nhưng cái gì cũng có, là không biết gì hết, nhưng cái gì cũng biết. Có với không, không với có, bỗng quấn quít lấy nhau, cất tiếng khóc thê thảm. Nước mắt chảy, một phần thành đất, một phần thành nước, một phần thành loài người, muông thú và cây cỏ. Trong những người sinh ra từ nước mắt đó có một người đàn ông chỉ sống được trong bể khơi, và một người đàn bà chỉ sống được giữa thinh không, rồi hai người đó đã thành chồng vợ và sinh ra tổ tiên người núi Đưng.</i></p>
<p>Liêu kể. Cô giáo ấy là Liêu. Còn tôi thì cứ ngồi ngẩn người, tựa hồ đang nghe một trang kinh của một tôn giáo mới nào đó vừa mới xuất hiện ở trần gian. Con người là sinh ra từ những giọt nước mắt của một cõi khác thường. Là sáng thế ký? Mà cũng không phải sáng thế ký. Anh ở bên lâm trường sang chơi? Liêu chợt hỏi. Cô ta tưởng tôi là người của lâm trường trồng rừng ở núi Đưng. Đám học trò dồn mắt cả về phía tôi. Tôi nói là mình ở dưới miền xuôi đi nghiên cứu lịch sử các dân tộc ít người ở Trường Sơn. Tự dưng tôi tự xưng là nhà nghiên cứu lịch sử. Sau này mới biết chuyện kể ấy là lấy ở cuốn sử truyền miệng của người núi Đưng. Còn lúc ấy, Liêu liền rời khỏi bàn thầy giáo, tiến lại chỗ tôi ngồi. Anh phải qua bên nhà em, bên làng Riềng, để gặp cha em thôi. Liêu nói, mỉm cười với tôi. Và giật lấy xách hành lý của tôi, để tự tay cô ta xách giúp cho tôi. Chạy lóc thóc đàng trước là lũ học trò của Liêu. Tiếp theo sau là ông khách lạ là tôi, và Liêu. Ở các nhà sàn bọn tôi ngang qua, có cả ông bà già lẫn phụ nữ và trẻ con<i> </i>ra đứng ở cửa, ngóng nhìn theo bọn tôi. Những phút đầu tiên tôi đến với người núi Đưng là thế.</p>
<p>Ông bà Dên, cha mẹ Liêu, là thuộc lớp người ở núi Đưng ra khỏi nhà vẫn thích mặc váy, ở trần, và nghe máy thu thanh thì chưa hiểu người ta nói gì. Nhưng khi nghe Liêu nói tôi đi nghiên cứu lịch sử các dân tộc ở Trường Sơn thì hai ông bà liền đem rượu cần bày ra giữa nhà sàn. Cha mẹ em muốn giữ anh ở lại nhà em đấy. Sau này mới biết đấy là tập tục. Còn lúc nghe Liêu nói thế, tôi biết là mình sắp không thể tránh khỏi một cuộc phiêu lưu.</p>
<p>Coi như đã dứt hẳn cuộc du canh du cư. Nhà sàn của ông bà Dên đã có cột kèo, được đục lỗ hẳn hoi. Và đám gia súc trâu bò heo gà đã có chuồng trại riêng biệt. Cuộc sinh nhai cũ dường chỉ còn để lại bóng dáng trên lớp men đen mướt trên da ché rượu cần. Cả việc những ông già ở những nhà bên mang thêm những ché rượu sang nhà ông bà Dên để đãi khách là tôi, cũng có thể nói là cung cách hình thành từ cuộc du cư du canh xưa cũ. Cả việc cả chủ lẫn khách vây quanh ché rượu, cùng cầm lấy những chiếc cần cùng uống thứ chất vừa ngọt ngào vừa cay đắng, cũng là hình thành từ cuộc sống xưa cũ. Những phút bầy đàn, nhằm củng cố sức tồn sinh. Cho nên lúc men rượu đã đủ bổ sung cho sức sống, mọi người đều đòi kể Giót. Tức trở về với cội nguồn của mình. Để con Liêu kể, nó mới hiểu được. Ông Dên nói. Nó, là khách của cuộc rượu, là tôi. Cuộc rượu khách lập tức biến thành cuộc rượu thánh. Dường như rượu là cách thế dẫn dắt con người quay về với chính mình. Các cụ già cùng ứng lên. Cùng vít cần, rồi cùng ứng lên. Chẳng cần phải rõ nghĩa thứ<i> </i>ngôn ngữ cổ kính ấy, chỉ nghe thôi, cũng đủ mường tượng được cảnh trí một thời cổ sơ. Thứ tiếng nói cổ sơ ấy như có sức chứa cả hình tượng lẫn âm thanh, chỉ nghe thôi, cũng mường tượng ra được những hoang dã, những bất trắc, những máu và nước mắt, trong cuộc chống chọi với tự nhiên để sinh tồn. Phải chờ đến lúc các cụ già nhường việc lĩnh xướng cho Liêu tôi mới hiểu hết những gì mình nghe được. Liêu không vít cần, mà nâng cần lên. Và quì. Kể mà như hát.</p>
<p><i>Đấy là lúc vua Đưng đã lập xong nước. Bèn sai ông Khơ Nan coi việc thiên văn địa lý. Và sai Lung đi tìm của cải quí ở dưới mặt đất. Ta tuy là vua, là pơtan của lũ ngươi, nhưng ta cũng là người núi Đưng, nên phải ở cùng lũ ngươi. Vua Đưng nói. Nhưng người núi Đưng bảo kẻ đứng đầu một nước phải có chỗ ở khác với chúng dân, mới khiến các nước khác nể nang. Rồi kéo lên núi Đưng đốn cây gỗ về làm chỗ ở cho vua. Chỗ ở của vua Đưng gọi là cung pơtan. Này Khơ Nan, ta không đành lòng khi thấy nhà ở của chúng dân bị ngập lũ. Vua Đưng nói. Ông Khơ Nan liền theo lũ kiến đen suốt ba mùa lũ, rồi vẽ họa đồ, định lại chỗ ở cho dân. Này Khơ Nan, ta thấy lúa trên đồng không được nhiều hạt cho lắm. Vua Đưng nói. Ông Khơ Nan phải ăn nằm dưới gốc cây môi ba mùa hoa trái, để xem cách đơm hoa kết trái của môi, rồi mới định ra lịch gieo trồng. Lung đã tìm được mỏ sắt trên núi. Sắt đào được đem về để cả ở hang Gió. Nghe chuyện lạ, cả nước kéo tới xem. Lung lấy củi đốt thành than, rồi đem than đốt thì sắt chảy ra đủ thứ hình thù. Cái làm rìu chặt cây. Cái để cuốc đất. Cái thành lưỡi cày. Này Lung, bấy lâu ta chỉ cày bằng lưỡi cày gỗ, nay đã có sắt, ngươi hãy làm cho thật nhiều lưỡi cày bằng sắt cho người núi Đưng cày ruộng. Vua Đưng nói. Lung ngồi trong hang Gió cả ngày lẫn đêm để lo nấu sắt, rèn lưỡi cày lưỡi cuốc. Chẳng bao lâu, ruộng nương của người núi Đưng rộng gấp trăm lần trước, dân chúng giàu có vô kể. </i></p>
<p><i>Người trong nước muốn vua Đưng phải có vợ để sinh con nối ngôi vua. Người con gái nào biết được lúc mặt trời đứng bóng thì cây khư trên núi Đưng ngã bóng phía nào, ta sẽ cưới làm vợ. Vua Đưng nói. Cây khư trên núi Đưng được người núi Đưng ví với sự cao quí. Con gái ông Khơ Nan là nàng Hơ Lia nói lúc mặt trời đứng bóng là lúc cây khư trên núi Đưng ngã bóng nơi trái tim của nàng. Vua Đung liền đưa con gái ông Khơ Nan về nhà mình. Còn nàng Hơ Mia, con gái ông Nư Năng, lúc bấy giờ là người tình của người thợ nấu sắt là Lung. </i></p>
<p><i></i>Bấy giờ, cả ông Dên, cả những cụ già bạn ông Dên, đều thôi uống, chỉ ôm lấy cần ngồi lặng lẽ, như thể đang cùng nhau bước vào cõi cổ sơ. Đêm mùa hạ ở núi Đưng là mùa giao phối của loài chim đỏ mỏ. Giữa những lúc Liêu ngừng kể thì nghe thấy tiếng kêu thảng thốt ở đâu đấy ngoài rừng. Tiếng kêu của lũ chim đỏ mỏ lạc bạn tình. Lúc mọi người đã về hết, trong ngôi nhà sàn chỉ còn tôi, ông bà Dên, và Liêu, tôi mới nghe rõ hết những xáo động ở bên ngoài. Chuyện yêu đương của lũ chim trời cũng thật ghê gớm. Hốt nhiên im lắng, như thể hết thảy đã biến mất. Hốt nhiên rố lên tiếng vỗ cánh rậm rực, tiếng riu rít hân hoan. Rồi thắc thỏm gọi tìm nhau. Từ sáng giờ em đã quên hỏi tên anh. Liêu chưa ngủ. Nghe Liêu nói, ông bà Dên cựa mình, rồi ngủ lại. Tôi bảo cứ gọi tôi là anh nhà nghiên cứu. Qua bóng đêm, tôi nói nửa đùa nửa thật. Liêu bảo, trước cũng có mấy nhà nghiên cứu lên núi Đưng, nhưng lúc đó Liêu chưa thể kể Giót bằng tiếng Việt phổ thông. Tôi bảo, còn bây giờ thì Liêu kể rất hay. Cuộc phiêu lưu của tôi coi như được tính từ đêm hôm ấy. Tôi bị chôn chân ở núi Đưng ba bốn tháng trời. Liêu đã kể cho tôi ghi gần hết cuốn sử Giót. Và đã đưa tôi đến hầu hết những nơi có liên quan đến cuốn sử truyền miệng ấy. Tôi và Liêu có vượt quá tình bạn một chút. Nhưng cũng chưa phải là tình yêu.</p>
<p>Mười ba năm sau tôi trở lại núi Đưng. Sông núi vẫn còn như cũ. Nhưng có nhiều người tôi từng quen biết đã thành người thiên cổ.</p>
<p>Ở nhà ông bà Dên ở làng Riềng, người tôi gặp trước tiên là thiếu phụ đã có bảy đứa con, trai có gái có, có vẻ như là cùng một lứa. Ký ức bảo tôi thiếu phụ đó là Liêu. Nhưng mắt tôi lại cho là không phải. Người thiếu phụ mặc váy, ở trần, nằm ở võng, đương banh vú ra cho đứa con trai nhỏ nhất bú, vừa cho con bú, vừa hát Giót, lũ anh chị thằng bé thì ngồi dưới sàn, vây quanh mẹ, hóng mỏ nghe. Tôi đứng ở cửa nói mười ba năm trước mình đã lên đây tìm hiểu về nền văn minh núi Đưng, và đã được cô giáo Liêu, con ông bà Dên, kể cho nghe sử Giót. Em là Liêu đây, còn cha mẹ em thì chết đã lâu. Người thiếu phụ thôi cho con bú, vừa nói, vừa nhìn tôi vẻ dò xét. Rồi bật dậy, bước lại chỗ giường nằm, kéo tấm màn che. Liêu đi mặc áo, và sửa lại tóc tai. Rồi bước ra, nhìn tôi, bỡ ngỡ: Anh nhà nghiên cứu, em đã nhớ rồi. Nếu Liêu và tôi lúc bấy giờ ôm chầm nhau thì chẳng có gì phải nói. Đằng này, lũ con Liêu cứ bâu lấy mẹ chúng, lấm lét nhìn người khách lạ là tôi, cho đến lúc ấy vẫn còn đứng như trời trồng chỗ cửa. Cả tôi, cả Liêu, như vẫn chưa xua đuổi được vẻ xa lạ của nhau. Bấy giờ thì tôi đã không cầm lòng được, buột kêu, rằng đây là chuyện trong hiện tại, hay là chuyện trong sử Giót?   <br />&#160;</p>
<p><em>Tây Trường Sơn 1985     <br />Qui Nhơn 2007</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/17684/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gươm đ&#224;n nửa g&#225;nh</title>
		<link>http://damau.org/archives/17644</link>
		<comments>http://damau.org/archives/17644#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 28 Dec 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Thanh Hiện</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/17644</guid>
		<description><![CDATA[Hoàng thượng làm thơ không tài hoa lắm, nhưng sâu sắc, chỉ thoáng nghe qua đã thấy ngồn ngộn khí tượng đế vương. Còn các quan thì ra sức ca tụng trời ca tụng vua. Kẻ làm được thi văn thì vung mồm la hét tựa ông vua chốn thi xã. Kẻ không nặn ra được thi văn cũng cố ra vẻ coi thường hết thảy.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><i></i><i></i></p>
<h3></h3>
<h3></h3>
<h3></h3>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi muốn bắt chước dật sĩ Lê Củng thời Nguyễn Phúc Tần làm một bài ký về núi Voi Nằm. Bèn đến hỏi ông Quân: “Như muốn chép núi sông ở làng ta thì nên kể những núi sông nào?” Ông Quân đáp: “Bài tựa sách Ô Châu Cận Lục có câu: <i>Không có núi sông thì không biết được công tạo hóa của trời đất, không có nhân vật thì không biết được khí chung đúc của núi sông</i>. Làng ta phía nam sừng sững một dải Thiên Sơn, phía tây thì núi Thủ Tiết, núi Voi Nằm án ngữ. Có ngọn lưu dấu oai linh của tổ tiên xưa. Có ngọn chỉ nghe tên gọi đã mường tượng ra nỗi oan khiên của nòi giống. Liệu anh có chép hết nổi không?”</p>
<p>Tôi nói đã chép về núi sông làng ta thì phải kể cho hết. Riêng núi Voi Nằm phải chép riêng ra một bài ký.</p>
<p>Ông Quân đăm chiêu: “Anh cũng tham vọng chẳng kém ông Chín Khúc.”</p>
<p>Ông Chín Khúc ông Quân nói ở đây là Nguyễn Cửu Kế, đời sau, kẻ coi là danh sĩ, người cho là ẩn sĩ.</p>
<p>Lên bảy Kế đã theo học ông đồ Trạc, ông cố của ông Quân. Ông Cự, cha Kế, chỉ nhìn bộ móng đã biết con bò có đường cày hay hay dở, nhưng nửa chữ không biết. Do vậy, lúc đến học với ông Trạc, Kế đã tự ý thêm vào tên họ mình chữ Cửu, nói là để cho ra tên học trò. Dẫn chó đuổi chồn đuổi cheo trên núi Thiên Sơn nhiều hơn là đi học. Ba mươi tuổi mới đỗ cử nhân, nhằm vào năm Tự Đức thứ sáu, 1854. Làm tri phủ Thiên Sơn đâu vài tháng thì lấy cớ mẹ mất sớm, anh em không ai, xin cáo quan về phụng dưỡng cha già.</p>
<p>Ông đồ Trạc nghi hoặc, hỏi: “Cha già có thể đưa về phủ, hay con đã gặp điều uẩn khúc?” Kế thưa: “Quan trên tỉnh về phủ coi quan phủ như tay chân, nói gì phải nghe nấy. Còn đám thư lại ở phủ mồm luôn tuôn ra những lời nịnh hót. Ở đấy chỉ thân bại danh liệt, nên con phải sớm lui về.” Bấy giờ trong nước có nhiều cuộc nổi dậy chống lại chính sách cai trị hà khắc của triều Nguyễn. Sợ Kế có chí hướng nào, ông đồ Trạc kiếm lời khuyên: “Ta biết dòng họ nhà con mấy đời làm ruộng, ai cũng hiền lành chất phác. Nay nhờ phúc ông bà con mới đỗ đạt. Nhưng không có số làm quan thì đành nối nghiệp ông cha vậy.”</p>
<p>Nghe Kế bảo hãy bán ruộng bò để mua ngựa nuôi, ông Cự hoảng lắm, vì đương làm quan Kế lại bỏ quan, giờ lại đòi bán gia sản.</p>
<p>Ông Quân nói lúc bấy giờ ông cố của ông theo khuyên Kế chớ để mất những thứ gọi là huyết mạch nhà nông, nhưng Kế không nghe. “Triều đình từng cho Kế này chăn mấy nghìn dân trong phủ, chẳng lẽ không đủ sức lo việc cơm áo cho hai cha con,” Kế nói.</p>
<p>Mua cả trước sau là mười ba con ngựa cái, hai con ngựa con, và một con ngựa đực. Tiền bán cặp bò cày thì mua con ngựa đực. Còn tiền phát mãi hai miếng ruộng trên đồng làng Lâm Thượng thì mua đám ngựa cái và ngựa con. Coi như cơ nghiệp gầy dựng cả đời đổ hết vào đám ngựa, ông Cự lo buồn, chẳng muốn ra khỏi nhà. “Nếu làm ăn bị bại, coi như trời cố hại cha con ta,” Kế nói rất vững, song, chẳng làm vơi nỗi lo âu trong lòng ông Cự.</p>
<p>Ngày ngày Kế lùa ngựa vào chân núi Thiên Sơn, để chúng ăn cỏ, còn Kế thì lên núi, khi đi tìm chỗ phát tich con suối, lúc ngồi lắng nghe lũ chim rừng hót. Rồi ông Cự cũng trở dậy đi kiếm cỏ để bỏ chuồng cho ngựa ăn đêm. Hơn nửa năm, cặp ngựa con thành đôi tuấn mã. Hôm đám lính phủ về ốp thúc thu thuế ở Lâm Thượng, thấy cặp ngựa tơ đứng gặm cỏ trước nhà ông Cự, cả bọn đều dừng lại ngắm nghía. Tay cai đội hỏi mua. Ông Cự bảo phải gặp con trai của ông. Hôm sau anh ta quay lại gặp Kế, liền hỏi giá cả. Chẳng vội nói chuyện bán ngựa, Kế hỏi thăm anh ta vào lính đã lâu chưa, và mua ngựa cho ai. Tay cai đội cho biết mình mới vào lính phủ vài tháng, giờ muốn có con ngựa để đi công cán. Kế nói: “Vào lính mới vài tháng mà được thăng cai đội là thân thế lắm. Anh không biết ta đấy thôi, ta cũng ngồi ghế tri phủ đâu vài tháng. Mà ngựa của cựu tri phủ Thiên Sơn bán cao giá lắm, anh mua không nổi đâu.” Tay cai đội có vẻ tức lắm, song chẳng dám nói chi. Ba hôm sau lại quay lại, tự nói ra mình là em vợ của đương kiêm tri phủ Thiên Sơn, và xin mua một con ngựa tơ. Tiền bán con ngựa tơ bằng tiền bán một khoảnh ruộng trên đồng làng Lâm Thượng. Mấy hôm sau tay cai đội lại quay lại, dắt con ngựa tơ còn lại, nói là mua cho quan tri phủ. </p>
<p>Đám ngựa cái có con đã có chửa trước khi Kế mua về. Giáp năm, bọn chúng đã đẻ cho Kế cả thảy trước sau là mười ba con ngựa con. Việc sau đó là Kế phải dạy cung cách đi đứng cho đám ngựa con, dạy ngay hồi nhỏ, như đã dạy cho hai con ngựa con đã bán. Tiếng đồn lan ra các phủ huyện lân cận. Rồi đến lượt quan tổng đốc quan bố chính sở tại sai lính về Lâm Thượng, tìm đến chuồng, xem ngựa của Kế. Bấy giờ, các quan trên phủ trên tỉnh, cả những kẻ mới được thăng quan tiến chức, hầu như người nào cũng muốn có ngựa của Kế để cỡi cho sang. Ông đồ Trạc khen Kế: “Về việc hiểu thời thế thì con đã hơn ta.” Ông Cự vui lắm, vì thấy trời không hại cha con ông. Nhưng vui không được bao lâu thì đến tuổi phải theo ông bà. Kế không muốn ở một mình trong ngôi nhà vốn có đủ mẹ cha, lên cất chòi chỗ chân núi Voi Nằm để ở chăn ngựa. Đám ngựa cái mỗi con mỗi năm chỉ đẻ một lần, mà kẻ thích ngựa của Kế thì quá nhiều. Một hôm có người lính trên tỉnh đến hỏi mua con ngựa đực đầu đàn, nói là mua cho quan án sát, giá bao nhiêu cũng được. Kế không kiềm được tức giận, hét: “Nếu còn làm tri phủ, ta đã cho căng ngươi ra đánh. Có con ngựa đực đó, lũ ngựa cái của ta mới đẻ được, hiểu chưa?”</p>
<p>Ngày, Kế lo việc luyện yên cương cho lũ ngựa tơ. Đêm, chong đèn ngồi chép những điều đã hiểu được về sông núi quê mình. Ông đồ Trạc chống gậy lên núi Voi Nằm thăm đứa trò yêu. “Có phải con đang chép sách đấy không?” Kế liền nói ra điều nung nấu trong lòng mình bấy lâu. Ông Trạc nhìn lên núi Thiên Sơn hồi lâu, rồi bảo: “Con chim hồng đã tìm được khoảng trời cho mình chăng?”</p>
<p>Ngoài những người mua ngựa, còn có những kẻ nghe tài thi văn của Kế đã tìm đến núi Voi Nằm. Trần Lung là tay cự bút ở đất kinh sư chẳng hiểu sao cũng nghe tiếng Kế, tìm đến, nói muốn kết bạn với Kế. Lung nói: “Nay ở kinh, đức hoàng thượng mở Tập hiền viện và Khai kinh diên để cùng các quan bàn sách vở, làm thi phú. Lung này có người bác họ làm quan ở triều, nên có lần theo ông vào chốn ấy nghe thơ. Hoàng thượng làm thơ không tài hoa lắm, nhưng sâu sắc, chỉ thoáng nghe qua đã thấy ngồn ngộn khí tượng đế vương. Còn các quan thì ra sức ca tụng trời ca tụng vua. Kẻ làm được thi văn thì vung mồm la hét tựa ông vua chốn thi xã. Kẻ không nặn ra được thi văn cũng cố ra vẻ coi thường hết thảy. Kẻ được vua khen thì lập tức thấy mình đứng trên hết thảy. Kẻ phóng đãng này nghe ở phủ Thiên Sơn có quan tri phủ từ quan về chăn ngựa, viết sách, thì thích quá, liền băng đèo lội suối đến đây.” Đương cô độc, nghe Lung nói, Kế cũng thích quá, liền cùng Lung kết làm bằng hữu. </p>
<p>Theo lời ông cố ông Quân để lại, bấy giờ những tay giỏi văn chương ở quanh vùng đều tụ hội về căn lều mái vách đều bằng tranh săn, có biển đề Sơn Phong Các, ở chỗ chân núi Voi Nằm. Cả quan huấn đạo, quan giáo thụ trên huyện, trên phủ cũng thường hay đến đó. Lúc nước an bình, những kẻ thích thi văn họp lại nhau mà ngâm vịnh, cũng là lẽ thường. Song, một hôm Kế nói: “Lâm Thượng là đất nghèo, chẳng mấy người theo nổi kinh sử. Dường việc uống ruợu ngâm thơ bấy lâu của bọn ta chẳng dính dáng chi tới việc con bò đám ruộng của người làng. Kế này từ lâu muốn làm điều hữu ích cho mai sau mà làm chưa nổi, nay có bằng hữu thế này ắt làm được.” Đấy là Kế nói đến công việc mình theo đuổi bấy lâu. Những ngày ấy đám khách văn của Kế đã lặn lội qua hết các ngọn núi trong dải Thiên Sơn. Còn tập biên khảo xong chưa, chẳng biết, nay chỉ còn nghe nói đến tên <i>Thạch bút tân thư</i>. </p>
<p>Rồi cọp núi Thiên Sơn xuống thăm Sơn Phong Các. Mọi người ngủ say trong nhà đâu hay con ngựa đực đã cầm đầu đám ngựa cái với ngựa con quần nhau với chúa sơn lâm. Sáng ra thấy xác lũ ngựa đè lên xác cọp, Kế khóc. Lung đã làm bài văn tế để đọc lúc chôn lũ ngựa. Nghe bài văn tế ngựa của Lung, bạn bè Kế chẳng người nào cầm được nước mắt. </p>
<p>Ngoài chuyện văn chương, Lung còn giỏi thuốc nam, đã lên rừng tìm lá sỗng, về ủ cho da cọp không khô cứng, để làm áo khoác cho Kế. Mất đám ngựa, đám khách văn của Kế đi bẫy chim bẫy thú đổi gạo nấu. Lung về kinh sư bán vườn nhà bấy lâu vẫn bỏ không, để góp vào cái ăn ở Sơn Phong Các. Nhưng chưa kịp bán đã lật đật quay lại báo cho bạn bè hay việc giặc Pháp xâm lấn đất nước. Kế khoác áo da hổ, mang kiếm dài, lên đỉnh núi Voi Nằm đứng nhìn về hướng sông Hàn, rồi quay về bảo bạn bè: “ Đất nước mà về tay kẻ khác, bọn ta chẳng còn làm được việc chi.” Lung cũng nói như thề với bè bạn: “Kẻ quen thói giang hồ này nếu không làm được điều hữu ích lúc nước lâm nguy, thì trời sẽ không cho gặp lại anh em.” Từ bữa đó, người làng Lâm Thượng không còn gặp đám khách văn lui tới núi Voi Nằm.</p>
<p>Lúc quân Pháp nổ súng vào cửa Cần Giờ, Kế đã họp được một số trai trẻ trong vùng đến núi Voi Nằm để luyện côn kiếm với mình. Thì ra, trong số khách văn của Kế có người giỏi võ công, đã âm thầm truyền lại cho bạn bè. Nghe Kế luyện binh ở núi Voi Nằm, chờ đánh giặc cứu nước, đám quan phủ Thiên Sơn rất nể. Lúc Trương Công Định đem binh dân Gò Công trợ giúp Nguyễn Tri Phương giữ đồn Kỳ Hòa, Kế đã làm xong chín bài từ khúc ca ngợi đất nước non sông, gọi là <i>Sơn xuyên cửu khúc. </i>Ông đồ Trạc xem xong giật mình, thầm hỏi: “Núi sông này muốn hun đúc điều gì chăng?”</p>
<p>Thường, trước lúc tập binh, Kế mặc áo khoác da hổ, múa gươm hát <i>Sơn xuyên cửu khúc </i>để cổ võ đám trai trẻ. Do vậy, người đời sau mới gọi là ông Chín Khúc.</p>
<p>Ở kinh sư, ở Gia Định, Biên Hòa, các nhóm nghĩa binh vẫn tiếp tục cầm gươm súng chống giặc. Nhưng bỗng có tin vua Tự Đức đã sai người ký hòa ước nhường giặc mấy tỉnh Nam Kỳ, và xuống chiếu giải tán các nhóm nghĩa binh. Vào khoảng cuối năm Nhâm Tuất, 1862, đang đêm, Kế khoác áo da hổ, mang kiếm dài, đến gọi cửa nhà thầy. Đoán có điều hệ trọng, ông Trạc bảo: “Giờ chỉ có mỗi thầy trò ta, con nói đi.” Kế quì: “Nước nhà gặp cơn nguy biến, dân muốn chống giặc mà vua không cho. Biết đâu thầy trò ta sẽ không còn gặp lại nhau. Nên con xin được làm lễ tạ ơn giáo huấn của thầy.” Kế lạy hai lạy, rồi đứng lên, rút gươm cắt một mảnh áo khoác trao cho ông Trạc: “Để thầy còn nhớ có đứa học trò là Kế này.”</p>
<p>Sáng ra, người làng Lâm Thượng đổ xô đến chân núi Voi Nằm. Cả Kế cả đám nghĩa binh của Kế đã biến khỏi Sơn Phong Các. Thuyết cho rằng đêm đó Kế đến từ biệt thầy để cùng đồng đội theo đường núi tìm vào với các nghĩa binh ở Nam Kỳ. Thuyết nói, viên tri phủ sở tại vốn ghét tính cao ngạo của Kế, khi có chiếu vua cấm người nước ta chống lại người Pháp, đã cho tay chân rình rập Kế, nên đêm đó Kế đã không thoát được.</p>
<p>Hôm mở hòm đựng hồ sơ gia phả nhà họ Lê để lấy mảnh áo khoác của Kế cho tôi xem, ông Quân hỏi: “Anh có biết vì sao Quốc sử quán triều Nguyễn đã không chép sự việc này vào sử hay không?”    <br />&#160;</p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><em>Mùa thu, 2007</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/17644/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tr&#234;n con đường du h&#224;nh qua miền đất ch&#244;n nhau cắt rốn của m&#236;nh</title>
		<link>http://damau.org/archives/17243</link>
		<comments>http://damau.org/archives/17243#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 08 Dec 2010 08:32:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Thanh Hiện</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/17243</guid>
		<description><![CDATA[Vào một ngày, 
mặt trời mặt trăng vẫn xoay như cũ, 
ta đã gặp kẻ tự xưng là đến từ đầu kia của lịch sử. 
Xin chào! 
Giọng nói của kẻ ấy tựa thứ âm vang xưa cũ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>(trích <em>Nhật Ký Đen)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Trên con đường du hành qua miền đất chôn nhau cắt rốn của mình,    <br />ta chẳng bao giờ thấy cô độc.     <br />Xin chào!     <br />Những người ta gặp bao giờ cũng cất cao lời chào thân thiện.     <br />Có kẻ đi chân đất     <br />đang lùa bò qua phía bên kia đồng lúa đang trổ.     <br />Có kẻ đang cai quản lũ cừu mẹ và lũ cừu con,     <br />xin chào . . .&#160; <br />trông thấy ta,     <br />người chăn cừu cất cao lời chào,     <br />còn lũ cừu thì hết thảy ngẩng mõm lên,&#160; <br />là chúng đang nói theo cách của chúng,     <br />nhưng ta thì ta cho là chúng đang nói về ta. </p>
<p>Vào một ngày,    <br />mặt trời mặt trăng vẫn xoay như cũ,     <br />ta đã gặp kẻ tự xưng là đến từ đầu kia của lịch sử.     <br />Xin chào!     <br />Giọng nói của kẻ ấy tựa thứ âm vang xưa cũ.     <br />Ta và các loài cây hiển hoa cùng lúc có mặt ở trần gian này.     <br />Có nghĩa, các loài hoa đã hun đúc nên sự cao cả của tổ tiên con nguời?     <br />Nhưng không phải hoa chỉ để nuôi dưỡng con người!     <br />Đang trò chuyện,     <br />Ta bỗng thấy kẻ ấy mình đầy máu me.     <br />Đừng sợ.     <br />Giọng nói của kẻ ấy như có vẻ mới hơn trước.     <br />Ta và bọn chúng vừa mới giao chiến xong.     <br />Có nghĩa là chiến tranh bộ tộc đã xảy ra?     <br />Phải. Nhưng chẳng phải chỉ xảy một lần rồi thôi.     <br />Đang trò chuyện,     <br />ta bỗng thấy kẻ ấy có vẻ giống như kẻ hát rong trong     <br />các ca khúc của các nền văn minh xưa cũ.     <br />Thời gian làm ra ta, và ta thì đang hát về nó.     <br />Hát như thế nào?     <br /><em>Lúc vui thì làm ra một vì vua,      <br />Lúc buồn thì làm ra những loài chim rừng biết hót.       <br /></em>Nhưng sau khi đã có vua và có lũ chim rừng thì thời gian làm ra những gì?     <br />Ta cũng chẳng biết! </p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/17243/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

