<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Nguyễn Quí Đức</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/nguyenquiduc/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 24 May 2012 07:01:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Loa Ph&#243;ng Thanh Trong Những Ng&#244;n Ngữ Kh&#225;c Nhau</title>
		<link>http://damau.org/archives/12497</link>
		<comments>http://damau.org/archives/12497#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 27 May 2010 07:06:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Quí Đức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/12497</guid>
		<description><![CDATA[Nhưng như Ben Trần, như Andrew Lâm, như Lê Thị Diễm Thúy, chúng tôi nói về quá khứ với những tinh thần khác. Chúng tôi không phải là những cái loa phường. Và những cái loa này thì không nói năng như chúng tôi.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="right"><em>Từ nguyên tác “Loudspeakers in Different Languages”      <br />của Nguyễn Quí Đức       <br />trên </em><a href="http://diacritics.org/2010/05/20/loudspeakers-in-different-languages/" target="_blank"><em>blog diaCritics ngày 20.05.2010</em></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;<img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="loaphuong2" border="0" alt="loaphuong2" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/LoaPhngThanhTrongNhngNgnNgKhcNhau_127CC/loaphuong2.jpg" width="240" height="317" /> </p>
<p>&#160;</p>
</p>
<p>Hết chiến tranh rồi. Tôi mừng quá. Ngủ được rồi. Suốt tháng tư vừa qua, tôi chẳng ngủ nghê gì được.</p>
<p>Tháng rồi, chiến tranh bùng nổ rần rần. Vâng, cái cuộc chiến đó, bạn biết tôi nói về chuyện gì rồi. Cái vụ tranh cãi linh tinh, chả có nghĩa lý gì đối với nhiều người. Chuyện đã thay đổi nước Mỹ, và cả Việt Nam nữa. Nó không chịu xéo đi. Chuyện này thật ra đã chấm dứt vào cuối tháng tư, 35 năm về trước, nhưng nó vẫn cứ lảng vảng ở đây.</p>
<p>Loa phát thanh công cộng là một phần trong đời sống Hà Nội đã mấy mươi năm nay. Tin tức và sắc lệnh nhà nước. Năng xuất và tham nhũng. Kế hoạch xã hội trong tuần. Họp đảng. Quy định mới của phường về chuyện đổ rác và đậu xe. Quân nhạc.</p>
<p>Ba năm trước, khi tôi vừa dọn về đây, mấy cái loa phường này đã bớt ồn ào. Nhân dân than phiền. Chả có ai thật sự lắng nghe chúng. Chúng gây trắc trở cho việc mua việc bán. Chúng cản trở nhiều người đang gắng đọc các tin tức khác trên mạng. Chúng nói ngược lại những điều người ta trải nghiệm trong đời sống.</p>
<p>Tôi nghe nói có người lén trèo lên nóc nhà vào buổi tối như kẻ trộm và nhoài người ra để cắt mấy sợi dây loa. Người khác thì hối lộ công nhân nhà nước để xoay cái họng loa lên trời và cầu nguyện cho trời đổ mưa. Có một thời gian, dường như mấy cái loa phường biết nghe lời người dân. Chúng im bặt, hoặc nhỏ giọng dần.</p>
<p>Hóa ra tôi chả biết cái gì hết, hệ thống loa phường vẫn sống nhăn răng. Tháng Tư vừa rồi, mấy cái loa lại lên tiếng. Lại là chuyện chiến tranh. 8h sáng, 4h chiều, 8h tối. <i>Chiến tranh, chiến tranh, chiến tranh.</i></p>
<p>Trong thời chiến, mấy cái loa phóng thanh nhất định là có ích. Còi hụ, báo động phòng không, thông báo lệnh sơ tán và tìm nơi trú ẩn. Tháng rồi, khi những chiếc loa phường hoạt động trở lại, có lẽ chúng đã nhắc nhở thế hệ lớn tuổi về những ngày tháng đau thương, gian khổ, khi oanh tạc cơ Mỹ dội bom xuống khắp nẻo phố phường. “Sấm rền” hoặc những chiến dịch đánh đấm nghe rất kinh hãi.</p>
<p>Hiện giờ thì lại có một thế hệ mới. Và những điều phát ra từ mấy chiếc loa phóng thanh đối với thế hệ này chỉ đơn giản là những thứ lảm nhảm khó chịu. Nó không để ai ngủ, hoặc thưởng thức một ly cà phê; nó gây khó khăn cho việc nghe nhạc bằng cái i-pod.</p>
<p>Và chúng nói về điều mà chả ai trong cái thành phố này muốn nghe. <i>Chiến tranh Việt Nam.</i></p>
<p>Đúng là họ làm thật lớn chuyện về cái chiến thắng ngày xưa. Tin tôi đi, 35 năm sau, cái chiến thắng đó—“giải phóng miền Nam” và “thống nhất đất nước”—là chuyện đại sự. Có người bảo rằng đó chỉ là cách đảng Cộng sản bảo trì vị trí “ngôi sao bắc đẩu” của mình. <i>Chúng tôi đã đánh bại một nước lớn. Chúng tôi thống nhất đất nước</i>. Những điều như vậy cứ lập đi lập lại trên loa phóng thanh hầu như suốt tháng Tư.</p>
<p>Trong khi đó, lại có người cho rằng “chúng tôi” đánh bại nước lớn chỉ để đầu hàng trước sức mạnh kinh tế và món gà chiên Kentucky của họ vài thập kỷ sau đó. Và có người khác cũng nói về “thống nhất,” chỉ có điều họ lại muốn biết về những gì đã có thể xảy ra nếu đất nước thống nhất dưới một chính thể khác.</p>
<p>Ghé thăm Sài Gòn, một người bạn gốc Hà nội ao ước, “Đôi khi mình ước gì người Mỹ, người Pháp đã ở lại lâu hơn. Cho miền Bắc có được một chút cởi mở của Sài Gòn.” Cô ấy đang nói đến sự cởi mở về kiến trúc, đường sá rộng rãi, xây cất ngăn nắp, và về những quán hàng và hè phố nơi người dân công khai làm ăn buôn bán, vui chơi mà không bị phiền hà bởi công an và đám quan lại. Và cô cũng ám chỉ đến cung cách của người dân Sài Gòn, nghĩ sao nói vậy, thật thà, thẳng thắn.</p>
<p>Cô bạn thuộc về một thế hệ chưa từng thật sự thâm nghiệm về chiến tranh Việt Nam ngoài những điều được dạy ở học đường. Những hy sinh gian khổ và quyết tâm của thế hệ cha ông, những hành động anh hùng để đánh bại kẻ thù vĩ đại và tàn bạo. Một vài điều là chuyện thật, nhưng cùng với thời gian, cô đang học được thêm nhiều điều khác.</p>
<p>Trở lại Hà Nội, cô và các người bạn đến dự buổi nói chuyện của ba nhà văn Mỹ gốc Việt ở phòng tranh và đồng thời là quán café do tôi quản lý. Cô bảo tiếng Anh của cô không đủ để hiểu toàn bộ những gì được phát biểu, nhưng cô bắt đầu cảm biết được câu chuyện như thế nào. Đó là những điều mà các nhà văn Ben Trần và Andrew Lâm đã nói về trong một buổi tối ở phòng tranh. Họ nói về chiến bại, về những cơ hội mới, về ký ức của một Việt Nam khác.</p>
<p>Cũng không mấy người đến dự buổi nói chuyện, nhưng những người đã đến nghe, khi đi ra thì bảo rằng <i>những điều như vậy chưa hề được phát biểu công khai ở Hà Nội</i>. Đúng y chang. Làm gì có thể nghe được những điều như thế trên mấy cái loa công cộng! (Đón xem một bài viết khác về những gì xảy ra sau khi Andrew Lâm và đám bạn nhà báo đồng sự của anh rời khỏi quán café của tôi. Bạn bè thân hữu bị thẩm vấn, những người tôi không ưa thích lắm kéo đến quán của tôi&#8230; Nhưng đấy là một truyện dài khác).</p>
<p>Và người bạn Hà Nội của tôi cũng bảo rằng <i>Việt Kiều bị ám bởi chiến tranh Việt Nam.</i></p>
<p>Lại đúng y chang! Tôi không nói thẳng như vậy, mà cố gắng giải thích cho cô là do “hoàn cảnh đưa đẩy.” Trong khi không muốn đào xới mãi chủ đề chiến tranh Việt Nam, một số văn nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại cứ “được” yêu cầu để làm như thế. <i>Hãy trao cho chúng tôi cuộc chiến tranh của bạn, kinh nghiệm của bạn, lịch sử tội nghiệp của bạn, bi kịch cá nhân của bạn, để chúng tôi có thể hiểu ra mình đã làm gì trên đất nước các bạn trong chiến tranh, để chúng tôi biết phải làm gì với cái cảm giác tội lỗi mập mờ của chúng tôi.</i> Một số người viết khác ở hải ngoại thì nhất định cảm thấy cần thiết phải kể ra câu chuyện chiến tranh của họ&#8211;chúng chưa hề được kể ra ở bất cứ nơi chốn nào khác.</p>
<p>Tôi cứ uống whiskey Ái Nhĩ Lan, còn người bạn thì đang uống một món rất Mỹ, loại Bourbon thuộc tiểu bang Kentucky. Cô bạn lại tiếp tục, <i>Nhưng tại sao mấy người không chịu cho cuộc chiến vào quá khứ đi?</i></p>
<p>Chúng tôi đã cố, và đang cố gắng thêm nữa. Tôi nói, đó là con người của chúng tôi. Chúng tôi bị buộc trở thành những con người như thế. Một lớp người bị bứt gốc, bứng rễ, hai chữ “chiến tranh” khắc sâu trên mặt, trong tim, và trong những sản phẩm mà đám chúng tôi, những nhà làm phim, nhà báo, hoạ sĩ, nhà văn, nhà thơ, v.v&#8230; tạo ra. Chúng tôi luôn nhớ đến cuộc chiến.</p>
<p>Tôi luôn nghĩ rằng chính là người dân trong nước không nhớ đến cuộc chiến. Trước hết, cuộc sống khó nhọc ngay sau khi chiến tranh chấm dứt đã không cho phép người ta gặm nhấm quá khứ. Thật vô nghĩa để nghĩ về những gian khổ đã qua khi người ta đang ngoi ngóp trong những gian nan mới. Rồi khi kinh tế được mở ra và đất nước trở nên khá giả hơn, một thế hệ trẻ trung hơn lại chỉ thích hướng về tương lai, nơi có xe SUV và i-pod và trường đại học quốc tế và nhạc hip-hop&#8230;</p>
<p>Những cái loa phường vẫn nhớ về chiến tranh Việt Nam và chiến thắng của người ta 35 năm về trước. Nhưng vài người khác ở Việt Nam có vẻ như đã tiêm nhiễm thói quen của người Mỹ, cứ coi những vụ kỷ niệm lịch sử là cơ hội đi chơi một chuyến ngắn hạn, hoặc mua hàng đại hạ giá ở các thương xá địa phương. Ở thôn quê thì có thể khác một chút, nhưng ở Hà Nội, cứ sống mãi trong quá khứ là chuyện vô bổ.</p>
<p>Vậy đó, sau khi Lê Thị Diễm Thúy, một nhà văn Mỹ gốc Việt khác, chấm dứt phần trình diễn và phần trích đọc cuốn <em>The Gangster We Are All Looking For</em> của cô, những người bạn địa phương của tôi tụ lại ở quầy rượu với chai whiskey Jack Daniels và bình phẩm về nỗi ám ảnh của chúng tôi.</p>
<p>Khó cho họ có thể hiểu được nỗi oái ăm trong việc chính cái ám ảnh về chiến tranh Việt Nam cũng làm cho những người như Lê Thị Diễm Thúy điên lên. Nỗi ám ảnh của người Mỹ. Và chúng tôi, những văn nghệ sĩ hải ngoại phải lên tiếng. Lê Thị Diễm Thúy đã làm một bài thơ với câu “<b>Việt Nam không phải là một cuộc chiến</b>” được tô đậm.</p>
<p>Tôi giải thích cho những người bạn Hà Nội là đám nghệ sĩ tha phương chúng tôi đóng hai vai trò. Chúng tôi cần gìn giữ ký ức, và trong cùng một lúc, phải đối thoại với một đám thính giả hầu như không hiểu được Việt Nam là một xứ sở, một đất nước, một nền văn hóa, một dân tộc. Cái đó, người bạn trẻ ơi, là một vấn nạn ồn ào, to tướng của chúng tôi. Làm thế nào để người ta hiểu rằng người Việt Nam không chỉ gồm có những nông dân trong bộ bà ba đen mang AK 47 chạy lung tung trong địa đạo và bị mấy thằng địch tên là Rambo bắn tan xác? Việt Nam là một đất nước, không phải là một ẩn dụ thuận tiện cho những gì nước Mỹ đang trải qua ở những nơi như Iraq hay Afghanistan.</p>
<p>Về sinh sống ở đây, tôi vui vì có được cơ hội mang tiếng nói của văn nghệ sĩ xa xứ đến với người trong nước. Chúng tôi trở về, và với những tác phẩm nghệ thuật của mình, vài người chúng tôi chỉnh sửa được cái hình ảnh “Việt kiều là kẻ thù của nhân dân,” hoặc là những thứ “trọc phú đần độn.” Chúng tôi nói về lần chiến bại 35 năm trước, về sự khiêm tốn bắt nguồn từ tủi nhục, về những gian nan và thắng lợi ở những nơi chốn khác trên thế giới.</p>
<p>Đó là một nhóm thính giả nhỏ, không thể so sánh được với số người bị mất ngủ vì mấy cái loa phường. Chúng tôi và những cái loa cùng nói về cùng một điều. Về cuộc chiến tranh không chịu rời bỏ chúng ta, nhất là ở vào thời điểm của những lễ “chu niên.” Nhưng như Ben Trần, như Andrew Lâm, như Lê Thị Diễm Thúy, chúng tôi nói về quá khứ với những tinh thần khác. Chúng tôi không phải là những cái loa phường. Và những cái loa này thì không nói năng như chúng tôi.</p>
<p>Chúng ta đã hết chiến tranh. Không còn hò hét tranh cãi. Đã 35 năm rồi còn gì. Nhưng chúng ta sẽ còn tiếp tục nói tiếng nói của riêng mình 35, 40, hoặc 50 năm nữa trước khi chúng ta nói cùng một ngôn ngữ. Biết đâu đấy, có khi chiến tranh Việt Nam sẽ không bao giờ chấm dứt.</p>
<p><em>(Nguyễn Quí Đức &amp; Phùng Nguyễn chuyển ngữ 25.05.2010)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/12497/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>10</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Từ H&#244;m Lọt L&#242;ng / At Birth</title>
		<link>http://damau.org/archives/10081</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10081#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 24 Nov 2009 07:01:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Quí Đức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Song ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=10081</guid>
		<description><![CDATA[Ngày nào có con / When I have a child 
Tôi sẽ là cha của một lỗ đít / I will be the father of an asshole]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: small">&#160;</span></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: small">&#160;</span></strong></p>
<p><strong><span style="font-size: small">&#160;</span></strong></p>
<h2>Từ Hôm Lọt Lòng</h2>
<p><strong></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p>Từ hôm lọt lòng    <br />đít còn đỏ, mắt nhắm nghiền     <br />mẹ bảo, cứ ở hiền, con ạ     <br />mai sau đẻ con     <br />còn có hậu môn</p>
<p>Người ta bảo    <br />người ác sanh con không có lỗ đít</p>
<p>nói như thế đúng là vô hậu.    <br />Vô hậu.</p>
<p>nhưng tôi sợ:    <br />50 năm sau khi mẹ tôi nhắn nhủ mình     <br />tôi cứ lo     <br />người như tôi,     <br />mắt đỏ ngầu, tâm đen tối     <br />sanh con không có gì     <br />ngoài cái hậu môn.</p>
<p>Ngày nào có con    <br />Tôi sẽ là cha của một lỗ đít.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<h2>At Birth</h2>
<p>&#160;</p>
<p>At the time of my birth    <br />red ass, closed eyes,     <br />I heard my mother say, son,     <br />live decently, that when you have a child     <br />it would have an asshole.</p>
<p>They say evil people    <br />give birth to kids with no asshole.</p>
<p>Such an unkind thing to say.    <br />Unkind.</p>
<p>But I am afraid    <br />Fifty years after my mom’s advice     <br />I am worried people like me     <br />Red eyes, darkness in the heart,     <br />Would give birth to a child     <br />That has nothing but an asshole.</p>
<p>When I have a child    <br />I will be the father of an asshole.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10081/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Từ em đến anh</title>
		<link>http://damau.org/archives/10003</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10003#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 18 Nov 2009 08:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Quí Đức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10003</guid>
		<description><![CDATA[Nhà em cách nhà anh 
cái lăng bác Hồ. 
Bãi cỏ xanh làm nền 
cho tuyên ngôn độc lập 
nhắc em quay về cầm bó rau.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160; </p>
<p>Nhà em cách nhà anh    <br />cái lăng bác Hồ. </p>
<p>Bãi cỏ xanh làm nền    <br />cho tuyên ngôn độc lập     <br />nhắc em quay về cầm bó rau. </p>
<p>Hôm nay giao mùa    <br />qua ngỏ sau chợ Đoàn thị Điểm     <br />lầy lội mười nghìn một đĩa bánh cuốn:     <br />bài thơ buổi sáng cho anh lót dạ     <br />thủ đô Hà Nội trời mây giăng. </p>
<p>Em chen ra Tôn Đức Thắng náo loạn    <br />xe và dân thường lượn lẹo     <br />trên đường thẳng tắp     <br />xây dựng đúng theo gương     <br />và sự nghiệp anh hùng lãnh tụ. </p>
<p>Quen đường đến nhà anh    <br />em vô cảm với văn hóa     <br />hai bên hè Chu Văn An:     <br />mẹ chửi con, xe ôm khạc nhổ,     <br />rác thơm tanh mùi bao cao su     <br />trong trang sách học trò. </p>
<p>Em cẩn thận qua khúc quanh    <br />nước mắm không vung vãi     <br />giữa bộ ngoại giao và phủ toàn quyền.     <br />Cậu lính canh mù mắt trên trang báo     <br />ê a lời răn dạy quan chức     <br />UBTLĐNVĐTM     <br />U, Bờ, Tờ Lờ Đờ, Nờ Vê, Đờ Tờ Mờ     <br />Mãi mới rõ là Uỷ Ban Thiết Lập Điện Nước     <br />Vùng Đô Thị Mới     <br />tít tận tương lai. </p>
<p>Nhà em cách nhà anh    <br />cái lăng bác Hồ. </p>
<p>Em cứ ung dung như nước trên giòng lịch sử:    <br />Hai bên đường đầy dinh thự,     <br />cái búa chéo lưỡi liềm     <br />tức là vẫn có chuyên gia tận tụy     <br />đảm bảo kinh tế, xóa đói giảm nghèo,     <br />và xử lý tốt gia tài từng thế hệ. </p>
<p>Em cúi đầu qua đền Hùng,    <br />dù vẫn biết trước văn phòng chính phủ     <br />(gần nơi Hoàng Hoa Thám tiếp giáp     <br />hai hàng cây Phan Đình Phùng)     <br />đường nhựa tốt, không xuất hiện     <br />bóng thân quen của ổ gà     <br />sai nhịp bánh xe quay. </p>
<p>Nhà em cách nhà anh    <br />cái lăng bác Hồ. </p>
<p>Ngưọc chiều dài lịch sử    <br />đến Âu Cơ đèn vàng—     <br />em có ngập ngừng     <br />nhớ huyền thoại dựng và giữ nước     <br />hay em chực vượt đèn đỏ     <br />khỏi nguội bánh cuốn của người yêu? </p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10003/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>H&#244;m nay, giờ n&#224;y / Today, at This Hour</title>
		<link>http://damau.org/archives/9945</link>
		<comments>http://damau.org/archives/9945#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 13 Nov 2009 08:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Quí Đức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Song ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/9945</guid>
		<description><![CDATA[Giờ này ở Kenya, người ta đang thỏa hiệp 
thôi chém giết nhau. 

Hôm nay ở Kosovo người ta phất cờ dành độc lập, 
thỏa hiệp không chung sống.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Tác giả chuyển ngữ</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160; </p>
<h2>Hôm nay, giờ này </h2>
<p>&#160;</p>
<p>Giờ này ở Kenya, người ta đang thỏa hiệp    <br />thôi chém giết nhau.</p>
<p>Hôm nay ở Kosovo người ta phất cờ dành độc lập,    <br />thỏa hiệp không chung sống.</p>
<p>Ở Iraq, người ta vẫn giết nhau.</p>
<p>Anh ở trên giường, chăn đỏ gối con công, chúng ta    <br />cùng thoả hiệp: anh không nói     <br />với em     <br />về nỗi cô đơn.</p>
<p>Em giữ im lặng về bào thai.</p>
<p>Ở Pakistan bom nổ, có người    <br />mất cánh tay, có người mất đứa con,     <br />có người kỳ vọng vào lá phiếu     <br />tổng tuyển cử.     <br />Ở Kosovo người ta tuyên bố độc lập</p>
<p>Hôm nay, giờ này ở Iraq, người ta thỏa hiệp với    <br />Thượng đế, giết nhau.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<h2>Today, at This Hour </h2>
<p>&#160;</p>
<p>At this hour in Kenya, they have agreed    <br />to no longer kill each other.</p>
<p>Today in Kosovo they are raising the flag for independence    <br />and agree to no longer co-exist.</p>
<p>In Iraq, they are killing each other still.</p>
<p>On our bed, red blanket and pheasants on the pillow cover, we    <br />agree: I don’t talk     <br />to you     <br />about loneliness.</p>
<p>You keep quiet about the baby    <br />growing inside.</p>
<p>In Pakistan, a bomb explodes.&#160; Someone    <br />loses an arm, another a child,     <br />some place hope in a ballot.</p>
<p>In Kosovo they are declaring independence.</p>
<p>Today, at this hour, in Iraq, they are making an agreement    <br />with their God to kill each other.     <br />&#160;</p>
<p><em>2/18/08</em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p align="right"><em>.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/9945/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một Bọn &#8211; Đi&#234;u Khắc Ta Th&#225;n của Nguyễn Th&#250;y Hằng / THAT BUNCH OF WOMEN &#8211; The Sculptural Lament of Nguyen Thuy Hang</title>
		<link>http://damau.org/archives/9866</link>
		<comments>http://damau.org/archives/9866#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 Nov 2009 08:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyễn Quí Đức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Nghệ Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Song ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Tạo hình]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/9866</guid>
		<description><![CDATA[những khó khăn của những phụ nữ cùng thế hệ được biểu lộ với những hình hài xiêu vẹo, những thân hình tự biến dạng cong queo trong khi cưu mang những thân thể khác cũng bị bóp méo như thế—một lời bình phẩm về những đòi hỏi cũ xưa áp đặt vào đời sống của phụ nữ ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="RIMG0054" border="0" alt="RIMG0054" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/RIMG0054_thumb.jpg" width="286" height="216" /></p>
<p align="center"><em>tác phẩm điêu khắc &#8211; Nguyễn Thúy Hằng</em></p>
<p>Sanh ra ngay sau thời chiến tranh với Mỹ, Nguyễn Thúy Hằng thuộc vào thế hệ trưởng thành trong lúc Việt Nam mở cửa hướng ra thế giới và cấp bách xúc tiến phát triển và đô thị hóa. Thế hệ của cô ít cam chịu những nổi đau và khủng hoảng thời chiến, chỉ gián tiếp biết đến những thế hệ liên quan đến chiến tranh, những chiến thắng và sai lầm. Tuy nhiên, đây vẫn là một thế hệ vẫn phải đối đầu với những hậu quả—mặc dù họ đã trở nên tự tin và mạnh dạn hơn, ít nhiều họ ích kỷ hơn, và hiểu biết rõ về một vai trò khả dĩ trên thế giới.</p>
<p>Trong thời gian sau khi có chính sách Đổi mới, một số nghệ sĩ chỉ đơn giản hướng đến những hình ảnh Việt Nam đã quá sáo mòn và bị lãng mạn hóa—một nhà sư núp bóng dưới lá chuối hay lá sen, một cô gái trong chiếc áo dài truyền thống, hoặc một quang cảnh đồng quê thanh bình với đám trẻ con, bầy trâu và ruộng lúa—trong khi các nhà văn khơi dậy những điều kinh khiếp và sai lầm của một cuộc chiến từng được tung hô.</p>
<p>Trong số những nghệ sĩ thuộc thế hệ này, có một số đã đưa ra một cái nhìn đen tối về xã hội thời hậu chiến ở Việt Nam, chỉ trích một thế giới bị đảo ngược và những người dân chưa đủ khả năng sống với sự hiện đại hóa và đô thị hóa. Một số nghệ sĩ đã trở nên danh tiếng từ New York đến Tokyo, từ Shanghai đến Dubai, chính vì những thông điệp được coi là phản kháng có tính chính trị, chống đối, với những hình ảnh kém tinh thần tôn vinh—hoặc ngay cả xấu xí, thô bỉ—về những ông bà chuyên mặc côm-plê hay đồng phục, trông giống những nhân vật thuộc xã hội đen hơn là những lãnh đạo của một xã hội dân sự đương đại.</p>
<p>Thúy Hằng cũng đưa ra một phát biểu bất bình, nhưng cô gián tiếp hơn. Những gì cô nói đến trong những bức tranh và tác phẩm điêu khắc, cũng như trong những bài thơ, truyện ngắn của cô, ít có liên quan đến những giới có trách nhiệm về việc hiện đại hóa thiếu suy nghĩ, mà chính là nói về những giới phải chịu đựng những hậu quả.</p>
<p>Như thế, Thúy Hằng gần gủi với các phụ nữ cùng trang lứa—đặc biệt là những người chiếu rọi ánh sáng vào những khó khăn và cuộc sống đầy khổ nhục của phụ nữ Việt Nam.</p>
<p>Đinh Ý Nhi (s. 1967) và Lý Trần Quỳnh Giang (s. 1975) từ lâu đã dẫn chúng ta đến chiêm nghiệm về những con người buồn bã, những khuôn mặt ưu sầu—trong trường hợp của Đinh Ý Nhi là những hình vẽ thô thiển như của trẻ con, có ba màu đen, trắng, xám, và những mặt người ít có những nét riêng tư dễ nhận. Họ mang vẻ ma quái, ghê sợ, nhưng cùng lúc gây cho ta một phản ứng vừa khó nhọc vừa đầy tình cảm. Tuy họ có vẻ xa lạ, ít nét dáng đặc trưng, đây là những người rõ ràng đã bị đẩy vào những số phận và định mệnh khó khăn.</p>
<p align="center"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="dyn5" border="0" alt="dyn5" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/dyn5_thumb.jpg" width="249" height="345" /><em>tranh &#8211; Đinh Ý Nhi</em>&#160;&#160;&#160;&#160; </p>
<p align="center">&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; <img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="in-the-box" border="0" alt="in-the-box" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/inthebox_thumb.jpg" width="256" height="334" /><em>tranh &#8211; Lý Trần Quỳnh Giang</em></p>
<p>Những bức chân dung sơn dầu của Lý Trần Quỳnh Giang cũng tạo nên một cảm giác buồn bả, kết hợp của những gam màu nhạt—màu lá mạ, xanh nhạt, vàng nâu,… với một lớp đệm trắng xám. Những người đàn bà mà cô vẽ với những nét cọ mạnh và dày có khi cũng không có nét vẻ riêng biệt, nhưng hầu như họ đều chọn một sự im lặng riêng cho mình, một nhân cách đúng đắn, và sự cam chịu trong những ánh mắt xa xăm của họ. Những bức khắc gỗ của cô gồm những người đàn bà gầy ốm, co quắp, hoặc những chân tay đã biến dạng. Từ vẻ mặt, tư thế, đến chân tay—ở đây là những người đàn bà hình như bị bó buộc, không cử động được, và sự cam chịu lại là một cá tính nổi bật hiện hình trước mắt chúng ta.</p>
<p>Đinh Thị Thắm Poong, sanh năm 1970 với hai dòng máu, vẽ những phụ nữ dân tộc trong những bộ y phục truyền thống: mới nhìn thì ta cứ tưởng đây là những bức tranh trong những cửa tiệm bán đồ lưu niệm, nhắm vào khách du lịch đang tìm một hình ảnh văn hóa lạ. Nhìn kỹ hơn sẽ thấy đây là những phụ nữ ôm ấp cả những phong cách cổ truyền lẫn những thói quen hiện đại.</p>
<p>Cách vẽ của Thắm Poong nêu lên những câu hỏi và sự hiểu biết về quan hệ của những người đàn bà này với thiên nhiên, cũng như về phong thái tự biểu hiện với phục trang mà thông thường người ta chỉ cảm nhận với một tinh thần tìm cái lạ, tính biểu tượng chung của một dân tộc thiểu số, thay vì nhìn nhận cá tính của những cá nhân riêng biệt.</p>
<p>Nguyễn Thị Châu Giang (s. 1975) cũng vẽ những người đàn bà mang sự đau đớn: tranh của cô tinh anh, gần như có tính “dễ thương,” với những nét vẽ trung thực và lãng mạn: những chiếc lá, đám mây, làm thành một bố cục dễ chịu. Nhưng trước một bối cảnh đẹp như thế, ta lại bị buộc phải đương đầu với những vết thương nham hiểm: một con mắt chột, một khoang mắt bị chọc thủng, những cành cây khô trên y phục tựa như những mạch máu và những căn bịnh lan truyền, tương tự như cách Frida Kahlo mô tả những cái đau thể xác và tinh thần. Những hình ảnh phụ nữ khác trong các tác phẩm của Châu Giang cũng nói đến những thân xác co quắp, héo mòn, bị bó kẹt giữa một đời sống nhọc nhằn, những đòi hỏi của chồng con, và sự lão hóa.</p>
<p>Những phụ nữ trong tác phẩm của Thúy Hằng cũng bị bóp méo, buộc phải biến dạng thể xác lẫn tinh thần, phải phục tòng những đòi hỏi cổ truyền cũng như đương đại. Đây không phải là một đề tài hay quan tâm mới mẻ của những phụ nữ tại phương Tây, nhưng ở đây Thúy Hằng biểu hiện được những sự đấu tranh của một phụ nữ sống trong một xã hội Việt Nam thời hậu chiến đang hiện đại hóa.</p>
<p>Sanh tại Sài Gòn năm 1978, Thuý Hằng tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật, T.P. Hồ Chí Minh vào năm 2002. Cô được giải Tài Trợ Nghệ Sĩ Trẻ năm 2006 tại Melbourne, Úc, và cũng từng tu nghiệp tại bang Minnesota và California ở Mỹ.</p>
<p>Đã lâu, Thúy Hằng ít tham gia vào thế giới nghệ thuật ở Việt Nam, bởi vì cô ngại rằng những hoạt động văn hóa công cộng ở Việt Nam có ít liên quan đến phẩm chất của tác phẩm—đặc biệt là trong lãnh vực tạo hình—mà thật ra liên quan nhiều hơn đến những “biểu lộ nghệ thuật chấp nhận được,” và mối quan tâm không tránh được về danh vọng và tiền bạc, và thêm nữa là sự chú ý từ bên ngoài.</p>
<p>Thúy Hằng đã có những cuộc trưng bày rời rạc, gồm ba đợt triển lãm: “Nghệ sĩ Sài Gòn” (Van Art Gallery, T.P. Hồ Chí Minh, 2008), “Cây” (Phnom Penh, Cambodia, 2006) và “Trốn,” (studio tư nhân, T.P. Hồ Chí Minh, 2003.) Mới đây nhất, cô đã có cuộc triển lãm cá nhân, “The Gang,” tại Viet Art Centre, Hà Nội vào năm 2008.</p>
<p>Khi không tham gia trưng bày tác phẩm nhiều, Thúy Hằng gián tiếp bình phẩm về mốt thế giới nghệ thuật mà cô cho là trọng nam giới, tương tự như cả xã hội Việt Nam. Theo cô, “nghệ sĩ phái nữ làm việc nhiều hơn, đều đặn hơn.” Đây là một cách thừa nhận khéo léo một “bí mật” nhiều người thừa biết trong giới nghệ sĩ khi mà cuộc sống của các nghệ sĩ phái nam gồm những thời gian làm việc thất thường, và những giai đoạn thường tình hơn gồm chuyện giải trí, nhậu nhẹt, tán tỉnh, yêu đương—nhưng ngược lại họ lại có nhiều cuộc triển lãm hơn, và được biết đến nhiều hơn.</p>
<p>Thúy Hằng đôi khi bông đùa về những chuyện “ăn chơi” của mình, và đấy gần như là một thông điệp về cái quyền của cô—ý thích vui sống như giới nam. Sống, vui chơi, ứng xử như một người đàn ông không còn là một quyền hạn đặc biệt, nhưng là một cơ hội bình đẳng cho cả họ và cả phụ nữ. Thật ra Thúy Hằng thích và vật lộn với những thời gian cô lập tự nguyện, chú tâm vào những bức tranh, các tác phẩm điêu khắc, và chuyện viết lách. Trong khi cô có vẻ cởi mở, họa hằn lắm cô mới mở lời nhắc đến vấn đề giới tính của cô trong tác phẩm hoặc cuộc sống của mình.</p>
<p>Khi viết văn, làm thơ, Thúy Hằng thường bàn về cảm giác cô lập của phụ nữ ở Việt Nam, có khi trong những bài “văn xuôi” siêu thực. Cô đã cho ra đời bốn cuốn sách: “Bởi từ lâu chúng ta không thể ngủ”, NXB Trẻ và Nhà sách Kiến Thức, Hà Nội, 2008; bộ sách ba tập “Thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý,” NXB Trẻ và Nhà sách Kiến Thức, Hà Nội, 2006.</p>
<p>Gân đây, Nguyễn Thúy Hằng đã vẽ một số tranh có các khuôn mặt tái, trắng, miệng mở rộng, biểu tỏ nhu cầu hét lên—nhưng nội dung vẫn bị kìm hãm, im lặng, hoặc không có người nghe. Trong những tác phẩm điêu khắc của cô, những khó khăn của những phụ nữ cùng thế hệ được biểu lộ với những hình hài xiêu vẹo, những thân hình tự biến dạng cong queo trong khi cưu mang những thân thể khác cũng bị bóp méo như thế—một lời bình phẩm về những đòi hỏi cũ xưa áp đặt vào đời sống của phụ nữ khi họ làm tròn nhiệm vụ một người vợ và người mẹ, cũng như người chăm lo cho cả xã hội.</p>
<p><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="DSC_0028 copy" border="0" alt="DSC_0028 copy" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/DSC_0028copy_thumb.jpg" width="263" height="381" /></p>
<p align="center"><em>tác phẩm điêu khắc &#8211; Nguyễn Thúy Hằng</em></p>
<p>Thứ vải thô Thúy Hằng dùng để buộc những thân hình bằng gỗ và thép cũng là vải tang. Đây là loại vải tang cô dùng để tỏ sự tiếc nuối cho về những cành lá, thân cây, bị phá hủy trong khi Việt Nam đua theo kế hoạch đô thị hóa. Vải trắng cũng mang ước vọng của Thúy Hằng để có được một xã hội đơn giản hơn, một sự tinh khiết đang nhanh chóng tan biến đi trong đường phố và đời sống ở Hà Nội. Người xem buộc phải nhìn những tác phẩm này—và những phụ nữ được biểu tượng ở đây, từ những góc cạnh lạ kỳ. Một số những tác phẩm này gây ấn tượng ta đang đứng trong một cửa hàng bán thịt, hay trong một tủ đông đá tại lò mổ, khi thân thể và chân tay loài vật bị treo ngược từ trên trần nhà một cách ma quái. Có khi những tác phẩm gợi cho ta nhớ đến những màn vũ đương đại với những cành cây và đầu người vươn qua không gian với một hy vọng nào đó, nhưng cùng lúc các động tác cũng bị hạn chế.</p>
<p>Những tác phẩm điêu khắc có tên là “Một Bọn,” một từ ngữ mà, theo Thúy Hằng, có thể dùng để gọi thế hệ hậu chiến. Nó có một tinh thần khinh miệt, khi người ta muốn nói đến một thế hệ được coi là ích kỷ và không biết nhiều về những sự hy sinh thời chiến của những thế hệ trước đó. Tuy nhiên, tự đặt cho mình một tên gọi như thế cũng là một cách khôi hài mỉa mai để nói đến “một bọn đàn bà” đang phải tranh đấu tự đặt dấu ấn trong một xã hội đang lao vào cơn lốc điên loạn của thời phát triển quá nhanh.</p>
<p>&#160;</p>
</p>
<hr />
<p><strong></strong></p>
<p><strong>THAT BUNCH OF WOMEN – The Sculptural Lament of Nguyen Thuy Hang</strong> </p>
</p>
<p>By Nguyen Qui Duc</p>
<p><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="DSC_0083 copy" border="0" alt="DSC_0083 copy" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/DSC_0083copy_thumb.jpg" width="242" height="326" /></p>
<p align="center"><em>sculpture &#8211; Nguyen Thuy Hang</em></p>
<p>Born in the immediate aftermath of the Vietnam-American War, Nguyen Thuy Hang belongs to a generation that came of age as Viet Nam opens up to the world and is fast on road to development and urbanization. Her generation is, expectedly, less burdened with the sorrows and trauma of war, indirectly aware of its players, its triumphs and failures. Nonetheless, this generation is constantly confronted with its consequences—even as it becomes more confident and expressive, somewhat self-centered and aware of its potentials in the world.</p>
<p>In the period ushered in by the policy of reform called Đổi mới<strong>,</strong> or Renovation, ten years after the war, some artists merely turned to clichéd and romanticized images of Viet Nam—a monk under banana or lotus leaf, a girl in a traditional tunic, or a peaceful country scene with children, buffaloes and rice fields—while writers exposed the horrors and mistakes of a long-heralded war. Among the artists of this generation, some did turn a critical eye on the post-war society that Viet Nam has become, decrying a world turned upside down with a population unable and unskilled to cope with modernization and urbanization. Some artists have become well-known and celebrated in circles from New York to Tokyo, and from Shanghai to Dubai, precisely because of what is perceived as political, anti-state messages, with less than flattering—or downright “crude and rude” images of suited or uniformed men and women resembling underworld figures more than leaders in a modern civil society.</p>
<p>Thuy Hang also provides an expression of discontentment, but she remains more indirect. What she describes in her paintings and sculptures, as well as in her poems and prose, is less about those responsible for unchecked modernization but rather those having to suffer its consequences. In this, Thuy Hang remains close to her female contemporaries—in particular those who choose to highlight the difficulties and pained lives of Vietnamese women.</p>
<p>Painters like Dinh Y Nhi (b. 1967) and Ly Tran Quynh Giang (b. 1975) have long asked their viewers to contemplate melancholic figures and troubled faces—in the case of Dinh Y Nhi, black, white and gray, cartoon-like stick figures, and faces with little personal features. They can sometimes be ghostly and harrowing, nonetheless evoking both a troubled and sympathetic response. As impersonal as they seem, these are characters clearly forced into the same difficult fate and destiny.</p>
<p>Ly Tran Quynh Giang’s oil portraits of women equally evoke a melancholic sensibility, often mixing somber canvases with pale colors—aquamarine, light greens, beige…, with a white and gray undertone. The women she paints with strong and thick brush strokes sometimes also carry indistinct features, except all seem to have adopted the same voluntary silence, dignity in their pose, and stoicism in their distant eyes. Her wood carvings consist of emaciated and distorted women, or disfigured limbs. Faces, poses or disjointed limbs—the women here seem bound, unable to move, and stoicism again a strong personality trait in the images confronting us.</p>
<p>Dinh Thi Tham Poong, born of mixed ethnic heritage in 1970, depicts women in traditional tribal costumes: at first they resemble paintings found in souvenir shops catering to tourists looking for an exotic image. A closer examination will reveal that these women too are straddling ancient and modern customs, and Tham Poong’s approach to her paintings raises questions and understanding about the women’s relationship with nature, and about their means of self-expression through ethnic garments, accessories, and decorations that otherwise are viewed singularly in their exotic, tribal representation, rather than individualistic identity.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/9077Man_and_Woman.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="9077Man_and_Woman" border="0" alt="9077Man_and_Woman" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/9077Man_and_Woman_thumb.jpg" width="258" height="362" /></a><em> painting &#8211; Dinh Thi Tham Poong</em>&#160;</p>
<p align="center">&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; <img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="my_son" border="0" alt="my_son" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/MtBnndashiecircuKhcTaThaacutencaNguynThu_1107C/my_son_thumb.jpg" width="247" height="282" /><em> painting &#8211; Nguyen Thi Chau Giang</em></p>
<p>Nguyen Thi Chau Giang (b. 1975) also paints women in pain: hers are delicate, almost pretty, portraits, with romantic and realistic renderings of leaves, flowers or clouds forming a pleasant background. But against such an attractive backdrop, her images confront you with unforgiving wounds: a missing eye, a pierced eye socket, dried branches on clothing that convey blood veins and spreading injuries, much in the same ways Frida Kahlo depicted her physical and psychological pain. Other images of women in Chau Giang’s paintings also refer to shriveling bodies, caught in a life of hardship, spousal or motherhood demands, and the aging process.</p>
<p>So are the women in Thuy Hang’s sculptural works. Distorted, forced into difficult and unnatural physical (and mental) states, they are conforming to both traditional and modern demands. These are not new themes or concerns for women in the West, but here, Thuy Hang succeeds in expressing what women still struggle with in the post-war, modernizing context of Vietnamese society.</p>
<p>Born in Saigon in 1978, Thuy Hang graduated from the University of Fine Arts of Ho Chi Minh City with a B.A. in 2002. She was a recipient of The Young Artists’ Arts Grant Program 2006 of Melbourne, Australia, and also studied privately in Minnesota and California, U.S.A.</p>
<p>For many years, Thuy Hang was reluctant to participate in the art world in Viet Nam, as she fears the public cultural activities in Vietnamese society often has less to do with quality of the work—particularly in the field of visual arts—and more to do with “acceptable artistic expressions,” and the unavoidable issues of fame and fortune, and by extension, attention from the outside world.</p>
<p>Thuy Hang has held infrequent exhibitions. They include three group shows, “Saigon Artists” (Van Art Gallery, Ho Chi Minh City, 2008), “Trees” (Phnom Penh, Cambodia, 2006) and “Hide away,” (private studio, Ho Chi Minh City, 2003.) Most recently, she had a solo exhibition, “The Gang” at Viet Art Centre, Hanoi 2008.</p>
<p>By not exhibiting much, Thuy Hang indirectly comments on the artistic world that she sees as male-dominated, much in the same way Vietnamese society is. “We women work all the time, and are more steady,” she says. It’s a subtle acknowledgement of a well known “secret” in the artistic world in which the lives of male artists are marked by infrequent periods of work, and more frequent periods of entertainment, drinking, romantic dalliances—and yet, they have more frequent exhibits and are more well known.</p>
<p>Thuy Hang sometimes refers playfully to “hedonistic” activities, and it verges on a message about how it’s her rights and desire to enjoy life like a man. Behaving like men is no longer a privilege but an equal opportunity for them <em>and</em> women. And yet in truth, Hang enjoys and struggles with long periods of self-imposed isolation, concentrating on her paintings, sculptures, or writing. While she appears quite open, it will be rare when she will discuss her sexuality either in her work or in life.</p>
<p>As a writer and a poet, Thuy Hang often deals with a sense of alienation among modern women of Viet Nam, sometimes in surrealistic “prose poems.” She has published four books: her publications include<strong> </strong>“Because We Haven’t Been Able to Sleep” (Youth Publishing House &amp; Knowledge Publishing House, Hanoi, 2008) and the trilogy “Current Times, Good Sensations, and Reasonable Insanity,” (Youth Publishing House &amp; Knowledge Publishing House, Hanoi, 2006).</p>
<p>Thuy Hang has currently been working with paintings of pale white faces, with large open mouths, expressing a desire to scream out—yet the message remains somehow muted, silenced, or left unheard. In her sculptural works, the difficulties of women of her generation are presented with distorted bodies, the figures forcing themselves into twisted positions while carrying new, equally deformed bodies—a comment on the traditions placed on women as they fulfill their roles as wives and mothers, and societal caregivers.</p>
<p>The rough, white cloth Thuy Hang uses to bind these figures of wood and metal also is a cloth of mourning. The same cloth is used to mourn the branches and trees destroyed as Viet Nam embarks on a process of urbanization. The white cloth also carries Hang’s wish for a simpler society, a purity fast disappearing in the streets and lives of Ha Noi. The viewer is forced to look at these sculptures, and the women they represent, from odd angles. Some of these pieces remind us of a butcher shop or a slaughterhouse freezer, with figures and limbs hanging from the ceiling in ghostly manners. Other pieces are reminiscent of modern dance movements, with branches and heads made of resin reaching across space in hopeful yet stunted strides.</p>
<p>The sculptures are called “That Bunch,” a term one may use, Hang says, to describe people of her post-war generation. It is somewhat derogatory in the way people refer to a generation thought to be self-absorbed and unfamiliar with the war-time sacrifices of previous generations. However the self-appellation could also be a tongue-in-cheek, ironic way to describe themselves, “that bunch” of women struggling to define themselves in a society caught in the mayhem of rapid development.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/9866/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

