<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Ngô Nguyên Dũng</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/ngonguyendung/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Wed, 23 May 2012 13:21:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Dịch thuật: s&#225;ng tạo hay kỹ xảo của ng&#244;n ngữ v&#224; ho&#224;n cảnh ra đời của một t&#225;c phẩm bằng tiếng bản xứ</title>
		<link>http://damau.org/archives/23696</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23696#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 21 Mar 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Nguyên Dũng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Từ Việt ngữ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23696</guid>
		<description><![CDATA[Trong vai trò vừa là người sáng tạo vừa là người dịch thuật, tôi có nhiều lợi điểm. Tôi hiểu rõ những gì tôi viết. Tôi không nhất thiết bám sát văn bản gốc. Tôi tự cho mình cái quyền sinh sát, mà không ngại ai trách cứ. Ví như người thợ may sửa lại tấm áo cho những đứa con tinh thần ra đời nơi đất khách...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>&#160; </em></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/Ng-Nguyn-Dng-portrait.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Ngô Nguyên Dũng portrait" border="0" alt="Ngô Nguyên Dũng portrait" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/Ng-Nguyn-Dng-portrait_thumb.jpg" width="465" height="296" /></a></p>
<p align="center">Hình bìa tuyển tập truyện ngắn <em>Die Insel der Feurkrabben</em> (<em>Hòn Còng Lửa</em>) của nhà văn Ngô Nguyên Dũng</p>
<p>&#160;</p>
<p>Dịch thuật là một việc khó.</p>
<p>Tôi đã trải qua kinh nghiệm này, khi tôi bắt đầu nảy ý &quot;tự biên, tự diễn, tự viết, tự dịch&quot;; và trong bài viết này, &quot;tự cổ động&quot; một tập sách được tôi chuyển dịch vài trước tác của mình sang Đức ngữ. Bóng bẩy vay mượn từ ngôn ngữ bình dân, là một kiểu &quot;tự thoả mãn tâm lý&quot;, một thách đố đo lường khả năng bản thân. May là tôi chưa phải &quot;tự xuất bản&quot;!</p>
<p>Tôi không biết, đã có ai trước tôi, vừa là tác giả vừa là dịch giả, làm chuyện này chưa. Chắc có, mà tôi chưa biết. Chỉ xin bộc bạch một điều, với tư cách là một dịch giả không chuyên nghiệp, tôi sẽ không nhọc nhằn làm việc này, nếu có người tự nguyện gánh vác thay tôi. Lẽ đương nhiên… không có ai hết!</p>
<p>Sẽ có người thắc mắc, khổ công làm gì không biết. Vì đâu phải vất vả dịch xong, phủi tay rung đùi ngồi đó, chờ người tới gõ cửa, đem bản thảo ra nhà in. Còn phải nhờ bạn bè bản xứ đọc và sửa lại những lỗi chính tả, câu cú cho chuẩn văn phạm và ngữ cảnh, phải tìm nhà xuất bản, phải quảng cáo sao cho có… trình độ, để khỏi trở thành người sơn đông mãi võ, bán cao đơn hoàn tán văn chương. Và nhiều thứ phải và phải khác nữa.</p>
<p>Ngôn ngữ Ðức không phải là tiếng mẹ đẻ của tôi, được nhiều người biết tới như một trong vài thứ tiếng khó nhơi nhất thế giới. Khi đặt chân sang đây, chưa bao giờ tôi nghĩ rằng mình có thể &quot;sống sót&quot; tại xứ này lâu như vậy. Cho tới lúc thời cuộc đẩy đưa, bắt tôi lựa chọn kiếp sống lưu vong. Dân Ðức trật tự, kiên nhẫn, cần mẫn và có bản tính, nếu dùng nhiệt độ kế đo lường, dám dưới mười độ. Ưu điểm của họ là đức tính thành thật, không lươn lẹo vặt vãnh. So với bản sắc Việt, khác xa. Nhược điểm của họ, theo tôi, là bản sắc dân tộc cao độ, dẫn tới khuynh hướng phân biệt chủng tộc, mà thảm cảnh tàn sát dân Do thái giữa thế kỷ 20 là thí dụ điển hình. Là một người chủng gốc da màu, muốn chen chân, tìm một chỗ đứng làm &quot;nhân vật của đám đông&quot; trong cộng đồng người bản xứ tại đây, không đơn giản. Trong thị trường sách in hiện nay, tìm được một nhà xuất bản đồng ý ấn hành một tác phẩm văn chương thuần tuý cho một tác giả chưa có tên tuổi trên văn đàn bản xứ, càng khó gấp bội. Biết vậy, tôi sắp xếp lớp lang thực hiện &quot;mưu toan&quot; văn chương của mình.</p>
<p>Trước tiên tôi nộp đơn gia nhập Exil P.E.N., &quot;Trung tâm những người viết lưu vong tại các quốc gia nói tiếng Ðức&quot; <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn1" name="_ednref1">[1]</a>, là một nhánh của &quot;Trung tâm Văn bút Quốc tế&quot;. Và được ông Hans Lindemann, nguyên phát ngôn viên của trung tâm, một tác giả biên khảo xuất thân từ Ðông Ðức cũ, ân cần giúp đỡ. Cũng là lúc tôi khởi sự chuyển ngữ truyện ngắn <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/23672" target="_blank">Hòn còng lửa</a>&quot;</em> vào năm 2005. Cái tựa truyện không thôi, đã là một thử thách. (Ngay trong giới bạn bè đồng hương của tôi, còn có người không hiểu &quot;hòn&quot; là cái gì, và &quot;còng&quot; là con gì. Cả cái tựa sách Việt ngữ còn bị xếp sai thành &quot;cồng&quot;, là khuyết điểm trầm trọng, trông như nốt ruồi vô duyên trên một gương mặt đẹp.) Đắn đo suy nghĩ mất tới… vài ngày, tôi dứt khoát chuyển ngữ thành <em>&quot;Die Insel der Feuerkrabben&quot;</em>.</p>
<p>Tại sao tôi chọn truyện ngắn này để bắt đầu &quot;văn nghiệp thứ hai&quot;, tôi cũng không biết. Chỉ biết, đó là một trong ít truyện tôi ưng ý. Truyện có văn phong miền Nam và khung cảnh một làng quê miền Nam ven biển dưới thời Pháp thuộc. Cốt truyện xoay quanh hòn đảo, chỗ bầy còng lửa hội về hằng năm, &quot;bị&quot; tôi bắt chuyên chở một ẩn dụ chính trị, mà có lẽ ít người nhận ra. Độc giả bản xứ không am tường lịch sử và thời sự Việt nam càng khó lòng cảm nhận. Truyện bắt đầu bằng: <em>&quot;Oft erinnere ich mich an die monotone, gefühllose Stimme meines Vaters, als er von einer mit Schwemmerde bedeckten Insel erzählte.&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn2" name="_ednref2">[2]</a> Rỉ rả chuyển ngữ, phải mất vài tháng tôi mới hoàn tất tác phẩm văn xuôi chuyển ngữ đầu tay của mình sang tiếng bản xứ. Vỏn vẹn 15 trang sách.</p>
<p>Trong vai trò vừa là người sáng tạo vừa là người dịch thuật, tôi có nhiều lợi điểm. Tôi hiểu rõ những gì tôi viết. Tôi không nhất thiết bám sát văn bản gốc. Tôi tự cho mình cái quyền sinh sát, mà không ngại ai trách cứ. Ví như người thợ may sửa lại tấm áo cho những đứa con tinh thần ra đời nơi đất khách, tôi có thể cắt xén chỗ này, nới rộng chỗ kia, sao cho vừa ni tất cú pháp ngôn ngữ bản xứ.</p>
<p>Và quan trọng hơn cả, tôi nắm được mỗi rung động ẩn khuất giữa những dòng chữ.</p>
<p>Khi ông Lindemann muốn biết thêm chi tiết về &quot;sự nghiệp văn chương&quot; của tôi, tôi gởi bản dịch <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/23672" target="_blank">Hòn còng lửa</a>&quot;</em>, sau khi được vài người bạn bản xứ sửa lại, cho ông đọc. Những lời khích lệ… ấm áp của ông sau đó qua điện thoại khiến tôi phấn khởi, tiếp tục việc làm tận dụng nhiều trí lực này.</p>
<p>Cùng lúc, tôi ghi tên tham dự liên tiếp nhiều khoá hội luận và phê bình bản thảo tại trường Bách khoa Bình dân thành phố, mục đích tìm hiểu phản ứng cũng như nhận xét của người bản xứ quan tâm tới văn chương và thi ca. Trong những buổi gặp gỡ này, do ông Thomas Kade hướng dẫn, thi sĩ có tác phẩm ấn hành, chúng tôi chuyền bản thảo cho nhau đọc, trao đổi ý kiến cũng như tin tức về những vấn đề liên quan tới văn chương và ấn hành. Cho các dịch phẩm của tôi, ông Kade đề nghị, không nên lạm dụng tĩnh từ và cường điệu quá độ. Với đề nghị một, tôi đồng ý có giới hạn. Với điểm hai, tôi phản đối, vì nghĩ rằng, một tác giả văn chương được phép hưởng cái quyền tối thiểu: cường điệu hoá sự kiện hư cấu. Quá độ hay không, tất cả lệ thuộc vào cảm hứng trong lúc sáng tác. Ở đây, tôi xin nhấn mạnh lần nữa, tiếng Đức &quot;không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ&quot; của tôi. Lúc bấy giờ, tôi thường xuyên suy nghĩ và chiêm bao bằng Việt ngữ. Bất chợt, không rõ bắt đầu từ khi nào, mớ ngôn ngữ bản xứ rón rén vọng tiếng trong những giấc mộng tôi. Như một tín hiệu, một lời nhắn nhủ, một đốc thúc xô tôi mạnh dạn dấn thân vào cuộc thử thách. Dù được &quot;mặc khải&quot; hay không, văn phong dịch thuật và sáng tác của tôi bằng ngữ pháp tiếng bản xứ không bắt nguồn từ thói quen của ý thức được học hỏi và trau giồi từ nhỏ, mà là vốn liếng kiến thức sao chép từ ngôn ngữ sinh trưởng sang ngôn ngữ khoa bảng. Dịch thuật, với tôi vì vậy, không phải là quá trình sáng tạo thuần nghĩa khám phá ý tưởng mới lạ bằng những rung động của cảm hứng, mà chỉ là một bộ môn văn chương sử dụng kỹ xảo hành văn: một bản sao từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Kỹ xảo càng nhuần nhuyễn, tinh nhạy, bản dịch càng linh động, lôi cuốn.</p>
<p>Mới lạ ư? Ở thời buổi đầu thế kỷ 21, thị trường sách in, sách điện tử hỗn mang, loạn phát này hình như chẳng còn gì khả dĩ gọi là &quot;cách tân&quot;. Mọi lối mòn trong rừng già văn chương đã được các vị tiền bối khai phá, giẫm qua. Chút mới lạ còn lại cho hậu sinh, theo tôi, chính là cái <em>nhãn quan cá biệt</em> của người viết về một đề tài đã cũ. Một kiểu <em>&quot;bình cũ, rượu mới&quot;</em>. Hoặc, nói theo ngôn từ &quot;hậu hiện đại&quot;, dùng thủ thuật cấy ghép từ các nhiễm sắc thể gốc, &quot;sáng tạo&quot; ra nhiều loài thực động vật hư cấu nhằm đáp ứng thị hiếu giới thưởng ngoạn.</p>
<p>Một chi tiết đáng quan tâm khác về hình thức phổ biến các tác phẩm dịch thuật: trong khi ở Việt nam, bút danh tác giả và dịch giả được người đọc biết đến gần như ngang nhau; thì tại các quốc gia Âu châu, dịch giả chỉ được nhắc tới vài dòng ngắn gọn ở trang trong bằng khổ chữ nhỏ tối đa: &quot;Ðược … (tên dịch giả) dịch từ tiếng … (ngôn ngữ gốc).&quot; Tiếp theo là các chi tiết về bản chính: tựa sách, tên, địa điểm nhà xuất bản và năm ấn hành của văn bản nguyên thuỷ. Có vẻ như, phần thưởng tinh thần cho công lao chuyển ngữ của dịch giả tại các quốc gia vốn tôn trọng quyền tư hữu trí tuệ không được đền bồi xứng đáng. Đã mấy ai tại đây đọc một văn phẩm dịch thuật, đoái hoài tới tên tuổi dịch giả? Vì vậy, có nên đặt dấu hỏi về cách định giá của độc giả đối với vai trò của người dịch trong môi trường văn chương dịch thuật tại các quốc gia này?</p>
<p>Những quan niệm nêu trên của tôi về sáng tác và dịch thuật thuần tính chủ quan. Xin quí vị dịch giả và độc giả tự chọn cho mình một giải đáp thích đáng.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Trong những buổi gặp gỡ hằng tháng của văn thi sĩ địa phương trong một quán sách nhỏ, ông Thomas Kade đã có lần lên tiếng về những bản dịch của tôi: &quot;Đây là những truyện ngắn xứng đáng được ấn hành.&quot; Lời khuyến khích của ông, cũng như một vài phản ứng thuận lợi của khách tham dự các buổi đọc truyện có tôi góp mặt, là động lực thúc đẩy tôi tiến tới. Tôi nhẫn nại chuyển ngữ tiếp những truyện ngắn khác. Để rồi, sau nhiều năm cặm cụi, <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/1960" target="_blank">Augenzeuge</a>&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn3" name="_ednref3">[3]</a>, <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/12427" target="_blank">Die Philosophie der Haare</a>&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn4" name="_ednref4">[4]</a>, <em>&quot;<a href="http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/188/muangucung_ngonguyendung.htm" target="_blank">Die Regenmelodie</a>&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn5" name="_ednref5">[5]</a>, <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/14986" target="_blank">Das Drama im Dschungel</a>&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn6" name="_ednref6">[6]</a>, <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/14021" target="_blank">Frühstück in New York</a>&quot;</em><em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn7" name="_ednref7">[7]</a></em>, <em>&quot;Nächtliche Klingel&quot; </em><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn8" name="_ednref8"><em>[8]</em></a><em>,</em> <em>&quot;Das Festmahl gen Himmel&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn9" name="_ednref9">[9]</a> lần lượt ra đời. Cùng với <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/11663" target="_blank">Das Haus der dritten Glückseligkeit</a>&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn10" name="_ednref10">[10]</a> và<em> &quot;Das Stigma der Ölsardinen&quot;</em>,<em> (&quot;Dấu ấn những con cá mòi đóng hộp&quot;) </em>hai đoản văn được tôi sáng tác trực tiếp bằng Ðức ngữ, gom thành tập truyện <em>&quot;Die Insel der Feuerkrabben&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn11" name="_ednref11">[11]</a>.</p>
<p>Chặng đường đầu tiên coi như xong. Khâu kế tiếp là việc tìm nhà xuất bản. Bản tóm lược nội dung (<em>Exposé</em>) tập truyện kèm theo vài bản thảo gởi tới các nhà xuất bản, được tôi nắn nót hoa mỹ:</p>
<p>&quot;Qua mười truyện kể, những biến động theo quá trình lịch sử đất nước Việt nam kéo dài gần nửa thế kỷ được thu gọn qua hình thức văn chương: Vào thời điểm cận kề hoàn cảnh chia đôi đất nước,<em> &quot;<a href="http://damau.org/archives/23672" target="_blank">Hòn còng lửa</a>&quot;</em> nhắc nhớ thời ấu thơ cô quạnh của một cậu bé tại một làng quê miền Nam, đồng hành theo những biến động văn hoá và thời sự rối loạn. Ngược lại,<em> &quot;<a href="http://damau.org/archives/14986" target="_blank">Bi kịch rừng</a>&quot;</em> thuật lại một sự kiện dã man xảy ra trong rừng già Việt bắc vào thời kháng chiến chống Pháp. Trong <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/1960" target="_blank">Nhân chứng</a>&quot;</em>, hiện tượng vẫn thạch rơi được một vài chứng nhân tường thuật đầy tính trào lộng và cảm xúc. Với <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/11663" target="_blank">Đệ tam khoái tửu điếm</a>&quot;</em> độc giả có thể nhận thức một khía cạnh của bản sắc văn hoá Việt nam dựa theo chuyện đời của người mẹ đã một thời giúp việc trong một nhà chứa trước khi cuộc chiến Việt nam bùng nổ. Trong <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/12427" target="_blank">Triết lý của tóc</a>&quot;</em>, một sinh viên Việt nam định giá lại, với nhiều ưu uất và mỉa mai, nghĩa lý và vô lý của phong trào chống đối của giới sinh viên bản xứ trong thập niên 60. Sau khi đất nước thống nhất theo chủ nghĩa xã hội, qua <em>&quot;<a href="http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/188/muangucung_ngonguyendung.htm" target="_blank">Mưa ngũ cung</a>&quot;</em>,<em> </em>một diễn viên cải lương bị hoạn thuật lại cho một ký giả chuyện đời của ông với nhiều hồi tưởng bi thảm. Về làn sóng thuyền nhân tị nạn trong thập niên 80 có <em>&quot;<a href="http://damau.org/archives/14021" target="_blank">Ðiểm tâm ở Nữu Ước</a>&quot;</em>, một chuyện tình tay ba tân thời, và <em>&quot;Chuông đêm&quot;</em> kể lại hoàn cảnh một bé trai Việt nam mồ côi qua nhãn quan của một cố vấn tâm lý người Đức với một kết thúc bất ngờ. Trong <em>&quot;Dấu ấn những con cá mòi đóng hộp&quot; </em><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn12" name="_ednref12">[12]</a>, những hoạt cảnh tại nhà ga trong hiện tại và dưới thời Đức quốc xã khơi động ký ức nhân vật chính nhớ lại khoảng đời sinh viên. Tập truyện được kết thúc bằng <em>&quot;Ðám tiệc lên trời&quot;</em>, một giấc mộng trẻ thơ với những nhân vật tương phản đầy văn chương tính và thống khoái khẩu vị.&quot; <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn13" name="_ednref13">[13]</a></p>
<p>Dẫu vậy, những cố gắng tự tìm một nhà xuất bản &quot;đứng đắn&quot; <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn14" name="_ednref14">[14]</a> vẫn không đạt được kết quả như ý. Cuối cùng, ông chủ tịch Trung tâm Văn bút, giáo sư tiến sĩ Wolfgang Schlott, khuyên tôi, để POP-Verlag, một nhà xuất bản nhỏ ở miền Nam Ðức, mà chủ nhân cũng là hội viên của Trung tâm, ông Traian Pop, gốc người Lỗ-ma-ni, lo việc ấn hành. Ông Schlott còn đề nghị, khi nào sửa xong bản thảo, gởi cho ông đọc, ông sẽ viết cho một bài tựa.</p>
<p>Sau vài tháng liên lạc qua lại bằng điện thư với bà thầy cò Barbara-Marie Mundt, hiện định cư tại Bồ-đào nha, rốt cuộc bản in cũng hoàn tất. Như đã hứa, ông Schlott thảo một lời tựa dài ba trang rưỡi sách, có đoạn kết như sau:</p>
<p><em>&quot;Các văn bản dịch từ Việt ngữ mang tính thuyết phục qua phong cách thuật chuyện đa dạng, những hình ảnh thiên nhiên được chuyển thể chính xác và những dự phóng tinh tế về tiến trình chính trị. Đó là những đặc tính dẫn chứng cho kỹ xảo văn chương của một tác giả, sẽ lưu lại một dấu nhấn đặc thù qua tập truyện này như một sản phẩm phong phú của văn đàn Việt nam lưu vong.&quot;</em> <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn15" name="_ednref15">[15]</a></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/nh-2.jpg"><img style="border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Ảnh 2" border="0" alt="Ảnh 2" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/nh-2_thumb.jpg" width="382" height="303" /></a></p>
<p align="center">Bài phỏng vấn với tựa đề <em>&quot;Bầy còng lửa xâm chiếm văn học&quot; </em>đăng trong một nhật báo địa phương <a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_edn16" name="_ednref16">[16]</a></p>
<p>Mặc dù bản thảo đã qua tay nhiều người đọc sửa, nhưng tôi tin rằng, đây đó vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết vụng về. Văn chương là món ăn tinh thần. Kiểu cách nêm nếm, xào nấu chữ nghĩa của đầu bếp có hợp khẩu vị thực khách hay không, tuỳ thuộc vào khiếu thưởng ngoạn của người đọc. Trong khoảnh khắc sáng tạo, với vai trò của người viết, tôi chỉ biết phục tòng cảm hứng và những rung động vô hình của ngôn ngữ. Món lạ hương xa, đậm đà hương vị Việt tính được tôi dọn bằng dĩa, ăn bằng muỗng nỉa nơi đất lưu vong đã bày biện xong xuôi. Hạt mầm văn chương đã nứt mầm nơi đất khách. Bản gốc đã được tôi bón quén thành cây và bản ngọn, với trợ lực nhiệt tình của nhiều bạn bè và ân nhân bản xứ, đã đâm cành, giờ đây chỉ còn chờ duyên nắng, duyên mưa để đơm hoa, kết trái.</p>
<p>(Đức, tháng 2. 2012)</p>
<p>&#160;</p>
<hr size="1" />
<p><strong>Chú thích</strong>:</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref1" name="_edn1">[1]</a> Zentrum der Schriftstellerinnen und Schriftsteller im Exil deutschsprachiger Länder.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref2" name="_edn2">[2]</a> <em>&quot;Tôi vẫn nhớ giọng nói chẩm rãi, đều đặn, không một chút sôi nổi của cha tôi, khi ông nhắc tới hòn đảo phù sa.&quot;</em> (<em>&quot;Hòn còng lửa&quot;</em>, Văn Mới, California, U.S.A. 2002, tr. 162).</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref3" name="_edn3">[3]</a> <em>&quot;Nhân chứng&quot;</em>,<em> </em>(<em>n</em>. tr., tr. 9), <a title="http://damau.org/archives/1960" href="http://damau.org/archives/1960">http://damau.org/archives/1960</a>.<em></em></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref4" name="_edn4">[4]</a> <em>&quot;Triết lý của tóc,&quot; </em><a href="http://damau.org/archives/12427">http://damau.org/archives/12427</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref5" name="_edn5">[5]</a> <em>&quot;Mưa ngũ cung&quot;</em>, <a title="http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/188/muangucung_ngonguyendung.htm" href="http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/188/muangucung_ngonguyendung.htm">http://www.nhanvan.com/magazines/vanhoc/188/muangucung_ngonguyendung.htm</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref6" name="_edn6">[6]</a> <em>&quot;Bi kịch rừng&quot;</em>, <a href="http://damau.org/archives/14986">http://damau.org/archives/14986</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref7" name="_edn7">[7]</a> <em>&quot;Ðiểm tâm ở Nữu Ước&quot;</em>, (<em>&quot;Ngôn ngữ tuyết&quot;</em>, Quyên Book, California, U.S.A., 2006), <a title="http://damau.org/archives/14021" href="http://damau.org/archives/14021">http://damau.org/archives/14021</a>.<em></em></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref8" name="_edn8">[8]</a> <em>&quot;Chuông đêm&quot;</em> (tập truyện cùng tựa, Làng Văn, Toronto, Canada, 1992, tr. 63).</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref9" name="_edn9">[9]</a> <em>&quot;Ðám tiệc lên trời&quot;</em>, c. x. b.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref10" name="_edn10">[10]</a> <em>&quot;Đệ tam khoái tửu điếm&quot;</em>, <a href="http://damau.org/archives/11663">http://damau.org/archives/11663</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref11" name="_edn11">[11]</a> <em>&quot;Die Insel der Feuerkrabben&quot;</em>, POP-Verlag, Ludwigsburg, Đức quốc, 2011, <a href="http://www.pop-verlag.de">www.pop-verlag.de</a></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref12" name="_edn12">[12]</a> <em>&quot;Das Stigma der Ölsardinen&quot;</em> (<em>&quot;Die Insel der Feuerkrabben&quot;</em>, POP-Verlag, Ludwigsburg, Đức quốc, 2011, tr. 153).</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref13" name="_edn13">[13]</a> <em>&quot;Mit zehn Kurzgeschichten wird die fast ein halbes Jahrhundert umfassende Chronologie der Ereignisse in Vietnam belletristisch erzählt: Aus der Zeit, kurz vor der ideologischen Teilung, wird in &quot;Die Insel der Feuerkrabben&quot; an die einsame Kindheit eines Jungen in einem Dorf Südvietnams erinnert, begleitet von vielen verworrenen politischen und kulturellen Veränderungen. &quot;Das Drama im Dschungel&quot; erzählt dagegen eine grausame Begebenheit im Regenwald Nordvietnams während des Widerstandskampfes gegen die französische Herrschaft. In &quot;Augenzeuge&quot; wird der Fall eines Meteorsteins durch einige Augenzeugen humorvoll und einfühlsam berichtet. Mit &quot;Das Haus der Dritten Glückseligkeit&quot; können die Leser ein Stück kultureller vietnamesischer Mentalität durch die Lebensgeschichte einer Mutter erfahren, die in einem Vergnügungshaus vor Ausbruch des Vietnamkrieges arbeitete. In &quot;Die Philosophie der Haare&quot; werden Sinn und Sinnlosigkeit der Studentenbewegungen der sechziger Jahre von einem vietnamesischen Studenten, melancholisch und spitzzüngig, bewertet. Nach der Vereinigung im Sozialismus erzählt in &quot;Die Regenmelodie&quot; ein kastrierter Operdarsteller einem Reporter seine Lebensgeschichte mit dramatischen Rückblenden. Über den Flüchtlingsstrom der achtziger Jahre: &quot;Frühstück in New York&quot;, eine moderne Dreieckbeziehung, und &quot;Nächtliche Klingel&quot;, das Schicksal eines vietnamesischen Waisenjungen aus Sicht eines deutschen Seelsorgers mit einem überraschenden Ende. Mit &quot;Das Stigma der Ölsardinen&quot; werden Erinnerungen des Protagonisten aus seiner Studentenzeit wach, mit Aktivitäten am Bahnhof im Nationalsozialismus und heute. Der Erzählband wird mit &quot;Das Festmahl gen Himmel&quot;, ein Kindertraum mit gegensätzlichen Figuren, belletristisch und gaumenfreudig abgeschlossen.&quot;</em></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref14" name="_edn14">[14]</a> Một nhà xuất bản không &quot;đứng đắn&quot; sẽ yêu cầu tác giả trả ấn phí cho việc ấn hành.</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref15" name="_edn15">[15]</a><em> &quot;Die aus dem Vietnamesischen übersetzten Texte überzeugen durch ihre unterschiedlichen Erzählformen, ihre präzise umgesetzten Naturbilder und ihre subtilen Einschätzungen politischer Abläufe. Es sind Eigenschaften, die auf die schriftstellerischen Fertigkeiten eines Autors verweisen, der mit diesem Erzählband das reichhaltige Angebot aus der vietnamesischen Exil-Literaturszene mit einem besonderen Akzent versehen wird.&quot; </em>(<em>&quot;Die Insel der Feuerkrabben&quot;</em>, POP-Verlag, Ludwigsburg, Đức quốc, 2011, tr. 8).</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Vivian/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/RB86ICJO/#_ednref16" name="_edn16">[16]</a> <em>&quot;Feuerkrabben erobern Literatur&quot;</em>, Gisela Weiler, Westfälische Rundschau – Nr. 2 – RDO06, phát hành ngày thứ ba, 03.01.2012.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23696/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>H&#242;n c&#242;ng lửa</title>
		<link>http://damau.org/archives/23672</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23672#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 19 Mar 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Nguyên Dũng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23672</guid>
		<description><![CDATA[Hai mắt khép lờ đờ như mắt cá linh mùa nước dại. Màu trăng dường như cũng khác, lóng lánh giát bạc lên khung gỗ đánh vẹc-ni cũ nứt, run rẩy từng luồng từng luồng theo bàn tay xương xẩu của chú lướt cung đờn lên hàng dây hoan hỉ. Trăng và đờn nhập vào nhau.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: left">&#160;</p>
<p style="text-align: left">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/conglua1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="conglua" border="0" alt="conglua" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/conglua_thumb1.jpg" width="402" height="245" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi vẫn nhớ giọng nói chậm rãi, đều đặn, không một chút sôi nổi của cha tôi, khi ông nhắc tới hòn đảo phù sa.</p>
<p>Quê tôi nằm ven biển tân bồi. Bờ phù sa non là dải rừng mắm dài ngoằn ngoèo. Sâu thêm là chéo rừng tràm èo uột. Sâu thêm nữa là cánh rừng đước âm u, rập rợn những chuyện kể hoang đường. Chưa lần nào tôi dám một mình đặt chưn vô đó.</p>
<p>Thế giới ấu thơ của tôi là một khoảng thời gian vô cùng cô quạnh, không ngày tháng. Sáng tối tiếp nhau rầm rì nuôi tôi lớn bên cạnh những người thân yêu già nua, lạnh lẽo như những bộ da thuộc. Tôi là đứa trẻ độc nhứt trong nhà. Má tôi ốm khảnh, nhưng không yếu. Hầu như việc nào bà cũng có thể tự xoay sở làm lấy một mình. Cha tôi vạm vỡ, sông sổng như một thân cây trên đất thuần. Bà nội tôi mới ngoài sáu mươi, nhưng dáng vẻ già lắm, có lẽ vì cặp mắt loà và cái nắng mặn nóng nơi đây. Nắng ngày và nóng đêm. Nắng làm mái tóc má tôi đổi màu đồng già, khô khốc. Nắng làm thân thể cha tôi lúc nào cũng tươm ướp mồ hôi. Người ông luôn toát ra một mùi kỳ lạ, gây gấy nồng, như của một loại gỗ hứng nắng lâu đời.</p>
<p>Đôi khi, vào những đêm trăng tròn, giựt mình tỉnh giấc, trí óc ngây thơ của tôi nẩy ra vài thắc mắc lạ. Tại sao tôi được sinh ra tại nơi nầy? Tại sao tôi không đọc được ý nghĩ của người khác? Tại sao tôi thường mơ hoang và khó ngủ vào những đêm rằm? Những mùa trăng thơ ấu, ôi, làm sao tôi quên được. Chúng đã trở thành những bản chì khắc dấu đời đời trong tôi. Cha tôi cho rằng, trăng biển nhiệt đới sáng đẹp hơn trăng những nơi khác. Hiếm khi tôi nghe cha thốt những lời huê mỹ. &quot;Nhiệt đới&quot; và &quot;trăng biển&quot;. Không biết ông nghe hay học được những chữ kỳ lạ đó ở đâu, vì nơi đây không có gì ngoài cái nắng trưa khắc nghiệt, ngoài bãi bùn non ngơ ngác lũ cá thòi lòi, ngoài những âm thanh rì rào rì rào từ cánh rừng đước vọng về trong tâm tưởng tôi quạnh quẽ. Cha tôi ít nói, nhưng mỗi khi cất lời, toàn những điều lạ lùng đối với suy nghĩ non nớt của tôi thuở đó. Những khi ông chèo xuồng chở tôi vô rừng đốn củi, ông thường kể chuyện. Chẳng hạn về hòn còng lửa:</p>
<p><em>&quot;Mỗi năm một lần, lũ còng lửa lại trở về đây sinh sản. Chúng từ đâu tới, không ai biết, nhưng nhiều vô số kể. Chúng bò ngập ngợn dưới làn nuớc trong veo hổ phách. Lúc nước rút, đáy bùn trở thành tấm thảm đỏ rực. Chúng tràn kín thân cây, nắng rọi thành lớp vỏ màu máu lựu, sáng rỡ như cẩn kiếng. Rừng đước chỉ là nơi gặp gỡ, bãi bùn non lô nhô rễ mắm mới là chỗ lũ còng rắc trứng. Suốt ngày đêm, chúng chờ thuỷ triều đem sóng vỗ bờ, để dựng ngoe, giơ càng, ưỡn bụng theo điệu múa khai sinh. Đàn bà chuyển bụng đau đớn, đằng nầy, ngắm lũ còng sinh nở, ta có cảm giác dường như chúng hân hoan. Đó là ở trong bờ, còn ngoài hòn còng lửa, không tài nào tả nổi, cảnh tượng rộn ràng xiết bao. Con chưa nghe nói tới hòn còng lửa bao giờ à? Tuốt ngoài khơi xa, xa lắm, có hòn đá lớn nhô lên giữa biển, bám đầy phù sa, năm tháng phủ lên đó một lớp rêu xanh rì. Tới mùa còng đẻ, hòn đổi màu gạch cua, rực trong nắng ngày, lóng lánh ánh trăng đêm.&quot;</em></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p>Tôi không rõ cha tôi thấy hòn còng lửa đó khi nào, vì hiếm khi ông ra biển. Dù vậy, chuyện kể của ông đã ghim sâu vào tâm trí tôi, bắt tôi đôi lúc trơ người dõi mắt ra khơi xa. Biển gần bờ có màu đất non, mỗi lần sóng cuộn, phù sa nổi cợn đập rầm rì lên bãi. Càng ra xa, biển cành xanh. Chỗ tiếp giáp với trời là một vòng đai nước xanh huyễn hoặc, loè nhoè khói sóng. Những chiều nắng ráo, nơi ấy hực lên ráng trời, cho tôi cảm giác rạo rực của một hoả lò nóng hôi hổi.</p>
<p>Đôi mắt loà của bà tôi không thấy được xa, nhưng bà biết hết. Gần hết. Vào những sáng tinh mơ, tôi thường nằm trong vòng tay bà kề mặt ngắm hai tròng mắt đục lờ ẩn hiện ánh lửa bếp bập bùng, hỏi chuyện trời mây. Những câu hỏi &quot;tại sao&quot; được lặp lại cho tới lúc bà hết kiên nhẫn, đẩy tôi ra, chép miệng:</p>
<p>- Tuổi nầy, đáng lẽ phải được đi học.</p>
<p>Má tôi ngồi gần đó, hoà giọng:</p>
<p>- Đúng rồi.</p>
<p>Tôi ngơ ngẩn:</p>
<p>- Đi học là đi đâu vậy nội?</p>
<p>Bà cười móm mém:</p>
<p>- Là đi tới trường, có thầy dạy.</p>
<p>- Dạy cái gì?</p>
<p>- Dạy đọc, dạy viết, dạy điều phải trái ở đời.</p>
<p>Tôi lớn mắt, giọng ngây ngô:</p>
<p>- Ba cũng dạy con nhiều điều lắm.</p>
<p>Rồi những khi chỉ có hai bà cháu, tôi thủ thỉ thuật lại câu chuyện hòn còng lửa cho bà nghe. Bà vuốt tóc tôi. Tôi tiếp được cảm giác êm ả từ ngón tay bà lan trên đỉnh đầu, rồi truyền khắp thân thể. Bà tôi thấp giọng:</p>
<p>- Làm gì có, tía mầy chỉ giỏi nói xàm.</p>
<p>Tôi ngơ ngác hồi lâu. Nhiều câu hỏi lướt ngang đầu. Rồi tôi quên ngay, vì chợt nhớ tới điều bí mật chắc chưa ai biết. Một lần vui chưn lạc vô xẻo Ma da, tôi bắt gặp một chiếc ghe cắm sào dưới tàn cây rậm. Chỗ này, tôi ít dám léo hánh, vì nghe nói có ma. Quang cảnh xẻo nước thâm u, nhiều bóng mát. Dây mướp rắn quấn ngoằn ngoèo cây cành, rũ nhánh như xoã tóc xuống mặt nước tĩnh. Dòng dọc xây tổ treo cành lủng lẳng. Cò ma đắp ổ đẻ con trên ngọn chót vót. Lẩn trong tiếng lép nhép thở than của lũ kỳ nhông biển và tiếng rào rạt đi về của bầy dòng dọc lanh lẹ, dường như tôi bắt được cả nhịp thở phập phồng từ cõi âm linh. Vậy mà có kẻ lớn gan cắm sào nghỉ chưn nơi đây.</p>
<p>Chiếc ghe có mái và vách lá chằm. Mũi ghe dựng cây sào tre, căng ngang sợi dây phơi phất phơ chiếc áo bà ba màu nâu đất và một mảnh khăn trắng tinh. Màu trắng kỳ lạ, rực rỡ giữa mớ hoả lò, nồi niêu bên dưới và đám cây lá chằng chịt rối rắm chung quanh. Màu trắng như nỗi gì âm thầm, ẩn sâu nơi đâu nhưng có đó. Nó khiến tôi nhớ tới mùi họp chợ những ngày đầu tháng, và những bóng ảnh chiêm bao rậm rật không nguôi.</p>
<p>Tôi cố giấu, không kể cho ai nghe điều khám phá kỳ thú nầy. Xẻo Ma da là chỗ ẩn tốt, vì hầu như không ai dám léo hánh tới. Cũng theo lời bà nội, thuở xưa có vài người bạo gan vô đó lưới cá tôm, rồi không thấy trở lại. Nghe nói có một &quot;ông&quot; sấu biển dài cỡ chiếc xuồng tam bản làm hang trong đó, sống từ đời nầy sang đời khác, hiển nhiên hoá thành ông thần giữ xẻo. Tôi chưa thấy cá sấu bao giờ. Bà nói, cá sấu đồng loại với kỳ đà, rắn mối nhưng lớn hơn bội phần và có thể hụp lặn dưới nước. Đặc biệt, răng cá sấu có đặc tánh trị tiệt chứng phong thấp kinh niên. Rồi bà lận ra từ túi áo cánh một lóng xương sáng giới. Tôi xoe mắt, cầm lấy vật lạ, soi ra luồng sáng lờ nhờ. Màu xương óng ánh xà cừ. Tôi hoang mang như chạm mặt thần linh. Những hoang đường cổ tích nhấp nháy trong trí tôi. Bà tôi nói thêm, phải là sấu thần mới có cái răng như vậy.</p>
<p>Tôi đem chuyện này kể cho chú Năm Dưỡng nghe, chú cười xoà:</p>
<p>- Nội mầy chỉ nói chuyện tầm phào. Từ hồi cha sanh mẹ đẻ tới giờ, tao chưa thấy ở đây có cá sấu.</p>
<p>Tôi không biết chú Năm Dưỡng bà con ra sao với gia đình tôi, chỉ thấy lâu lâu chú lại chèo xuồng ghé thăm. Không giống như cha tôi, chú Năm ốm còi, khẳng khiu, hai ống chưn đóng phèn mốc thít, miệng lúc nào cũng bặp bặp điếu thuốc vấn. Mỗi bận chú tới, cả nhà đều mừng. Tôi thích kiểu cười của chú. Khi cười, mặt chú ngửng lên, hai mắt nhíp lại, miệng há toác để lộ hàm răng cáu nhựa thuốc lá; cục yết hầu trồi sụt háo hức; tiếng cười có âm dội, nghe như phát ra từ thùng thiếc rỗng. Nhưng điều lạ không phải ở những điểm đó, mà là ở cây đờn tây gần như lúc nào chú cũng cặp kè bên cạnh. Chú kêu đó là cây &quot;dĩ cầm&quot;. Ban ngày hiếm khi chú kéo đờn. Muốn nghe, phải đợi tới đêm. Nếu đêm có trăng, tiếng đờn của chú càng thêm mùi mẫn. Chú nói: &quot;Trăng biết rượn với tiếng đờn làm lòng tao hứng tình theo&quot;. Đúng vậy, nét mặt của chú lúc đó thiệt lạ, như của ai khác. Hai mắt khép lờ đờ như mắt cá linh mùa nước dại. Màu trăng dường như cũng khác, lóng lánh giát bạc lên khung gỗ đánh vẹc-ni cũ nứt, run rẩy từng luồng từng luồng theo bàn tay xương xẩu của chú lướt cung đờn lên hàng dây hoan hỉ. Trăng và đờn nhập vào nhau. Người và âm thanh thành một. Lòng tôi rợn lên cảm xúc không thể giải thích. Thính giác tôi trôi theo tiếng vĩ cầm nức nở hoà giọng chú Năm, bi ai ẻo lả điệu vọng cổ. Ảo giác tôi thoắt cái lìa xa chốn muỗi mòng đìu hiu nơi đây, để rượt theo cánh chim nhàn nhào lộn trên chéo biển phẳng lì. Hòn còng lửa phựt cháy đỏ rực. Những cặp càng giơ lên, lật bật lắc lư như những bàn tay cùi sứt chắp lại khấn vái.</p>
<p>Đã có lần tôi hỏi chú về tông tích cây đờn lạ lùng ấy, chú đáp:</p>
<p>- Cây vĩ cầm nầy là của thằng tây đội trưởng cho tao. Thời trẻ, tao đi lính cho tây. Thằng đội trưởng biết tao thích đờn, nên đôi khi buồn tình nó kéo đờn cho tao nghe. Rồi nó chỉ tao mánh lới kéo đờn. Khi về nước, nó tặng tao cây đờn làm kỷ vật. Nó còn dạy tao đờn mấy bài nhạc tây nữa nghe mậy!</p>
<p>Rồi chú âu yếm tựa càm vô thành đờn, đưa đẩy dây cung. Âm điệu réo rắt tân thời gợi lên trí tôi những vùng đất, những mặt người, những bông thơm thú lạ. Và sắc trắng kỳ quặc như của áng mây vướng lại trong rừng cây u minh. Tôi giựt mình nhớ ra, đó chính là màu trắng mảnh khăn treo trên chiếc thuyền lạ trong xẻo Ma da.</p>
<p>Thỉnh thoảng, khi có ai nhắc tới chú Năm, má cười cười, bình phẩm:</p>
<p>- Chú ấy nửa tây nửa ta, kỳ cục hết sức.</p>
<p>Cha bênh:</p>
<p>- Buổi giao thời mà bà.</p>
<p>Má hấm hứ:</p>
<p>- Nhưng đâu phải cái gì của tây cũng hay.</p>
<p>Tôi ngại ngần xen vô:</p>
<p>- Con thấy tiếng đờn của chú nghe rầu lắm.</p>
<p>&quot;Nghe rầu lắm&quot;, câu nói lạc lõng như một ráp đoạn không ăn khớp với câu chuyện giữa cha và má tôi. Tiếng đờn như có ma lực, thường bắt tôi dạo chơi trong những đêm hoang tưởng bầy còng lửa trở lại. Chúng cựa quậy ngập kín giấc mơ tôi. Như cái ấn tượng còn rỉ máu tươi về lần chạm mặt người đàn bà neo thuyền trong xẻo Ma da.</p>
<p>Chiều hôm đó nắng tàn hực hỡ. Sau bữa cơm, tôi vui chưn tìm ra xẻo nước. Từ chỗ nấp, tôi ngó thấy một dáng đàn bà qua lại đầu khoang. Luồng khói xám, mỏng như dải lụa, uốn éo tuôn lên rặng tràm thưa lá. Tim tôi ngưng đập, người tôi bất động một thoáng. Không gian im nghỉ chết điếng. Rồi tất cả bừng lên, sởn sơ tiếp nhận sinh lực. Dòng dọc về tổ gọi nhau rộn rã, đoạn nối đoạn, náo động một góc trời. Người đàn bà dừng tay, ngước mặt ngó mông. Gió thốc vạt áo bà ba ngấc lấp xấp. Tôi làm gan, lúp xúp chạp tới. Một tiếng khỉ ré lên hốt hoảng, kèm theo tiếng bồ nông oang oác từng cơn. Tôi nghe giọng đàn bà quát hỏi:</p>
<p>- Ai đó?</p>
<p>Câu hỏi được lặp lại nhiều lần. Tôi ngần ngừ giây lát, rồi luống cuống rời chỗ núp, thẳng người bước tới gần. Người đàn bà đứng trên mạn thuyền, tay cầm côn thủ thế, thần khí sắc lại đăm đăm. Nhận ra tôi, một thằng nhỏ ốm yếu, nét mặt tò mò ngơ ngác, tia nhìn người đàn bà dịu xuống. Bà lơi tay côn hỏi trỏng:</p>
<p>- Làm gì đó vậy?</p>
<p>Tôi lúng túng:</p>
<p>- Tui&#8230; con&#8230; ở gần đây&#8230;</p>
<p>Người đàn bà lẹ miệng:</p>
<p>- Đừng xưng bằng con, cô còn trẻ. Tên gì? Nhà ở đâu?</p>
<p>Tôi bắt đầu dạn dĩ:</p>
<p>- Tên Ngãi, nhà cách đây một chái rừng.</p>
<p>- Cứ tưởng vùng trên bờ muỗi kêu như sáo thổi, dưới nước đỉa lền như bánh canh nầy không có ai, đâu dè&#8230; Nè, tên cô là Bảy Xứng, kêu là cô Bảy đủ rồi. Ngãi đi đâu, ăn uống gì chưa? Xuống ghe ngồi nói <em>chiện</em> với cô một chút cho đỡ buồn.</p>
<p>Không bao giờ tôi quên được cách bài trí trong lườn ghe của cô Bảy Xứng. Sàn trải chiếu bông, tấm sáo trúc ngăn một góc, hẳn là chỗ ngả lưng của cô Bảy. Góc còn lại, cô bày một trang thờ leo lét cây đèn hột vịt ám bồ hóng. Ảnh thờ lạ lắm, tôi thấy lần đầu, vẽ hình một người đàn bà diện mạo thanh tú, không phải người mình, đầu toả hào quang, tay bồng một trẻ sơ sanh, khăn vải quấn ngang bụng, cũng một vòng hào quang quanh đầu. Một thập giá con dựng trước tấm ảnh.</p>
<p>Cô Bảy rót nước cho tôi uống, dúi vô tay tôi trái chuối xứ chín rục, miệng huyên thuyên hỏi han. Tôi trả lời, tai lắng nghe mà thần trí vất vưởng nơi đâu. Ảnh tượng nầy, hương sắc nầy, thứ ánh sáng nầy đối với tôi hoàn toàn mới lạ, vượt khỏi tầm hiểu biết trong tôi, như thể tôi vừa lạc qua một cảnh giới khác. Đại dương vây quanh hòn còng lửa trong trí tưởng tượng của tôi không còn êm ả nữa, mà dậy bão, vươn tay sóng đập chan chát vào vách đá, chỗ lũ còng dựng càng ưỡn bụng no căng buồng trứng con. Hàng triệu hột trứng li ti tuôn ra biển. Tiếng càng chạm đá canh cách, át cả tiếng sóng gầm, dội thành âm vọng buốt óc. Tôi thấy mình cảm được niềm sảng khoái chất ngất của bầy còng cái lúc huơ càng run rẩy hứng lấy đợt nước xối, xổ trứng vào lòng đại dương hung tợn. Nhưng tất cả đều lạ lùng, xa cách lạnh lẽo như cái ve chai đựng một chút nước muối, một viên sỏi con, và được ảo tưởng tôi điên cuồng lắc mạnh.</p>
<p>Sau đó, gặp chú Năm Dưỡng, tôi thuật lại cho chú nghe câu chuyện gặp gỡ cô Bảy Xứng. Chú cười cợt:</p>
<p>- Mầy ngủ mớ chớ làm gì có ai dám chèo xuồng vô xẻo Ma da.</p>
<p>Tôi xừng mặt:</p>
<p>- Có mà, chính mắt con thấy mà.</p>
<p>Rồi tôi kể thêm về cách bày biện trong lườn ghe của cô Bảy Xứng cho chú nghe. Chú Năm Dưỡng gật gù:</p>
<p>- Ờ, thì con mẻ theo đạo Thiên Chúa nên thờ ảnh Mẹ đồng trinh, đâu có gì lạ.</p>
<p>Đối với chú, không lạ, nhưng với tôi, mọi chuyện là một bí ẩn lớn. Tôi hỏi chú, đạo Thiên Chúa và Mẹ đồng trinh là gì? Chú trả lời qua loa rồi cắt ngang:</p>
<p>- Ối, con nít con nôi biết gì mà hỏi.</p>
<p>Câu nói ngụ ý &quot;tao chỉ biết bấy nhiêu đó, đừng hỏi nữa!&quot; Vì vậy, trí tò mò của tôi càng bị kích thích. Những lúc rảnh rang, ngồi vắt vẻo trên cây cầu khỉ, hai chưn đong đưa vọc nước hay những khi nằm phơi gió trong khoang xuồng chờ cha trở lại, tôi thường nghĩ ngợi về đức tin của cô Bảy Xứng. Suy tưởng của tôi gập ghềnh như lăn trên đường đất đầy lỗ chưn trâu. Có điều gì bất an, khó hiểu trong những mẩu đối đáp rời rạc giữa cha tôi và chú Năm Dưỡng về chuyện quốc sự.</p>
<p>- Đức Thầy chống thực dân, nhưng hoàn toàn không theo Việt minh.</p>
<p>- Chú Năm à, Việt minh cũng chống Tây, tại sao mình không hiệp nhứt với nhau mà cứ chia rẽ manh mún như vậy?</p>
<p>- Ủa, anh không biết là cộng sản đang lộng giả thành chơn trong hàng ngũ Việt minh sao?</p>
<p>- Biết chớ, nhưng mục tiêu chánh bây giờ là đánh đuổi thực dân.</p>
<p>- Tui chỉ đồng ý với anh phân nửa.</p>
<p>- Chớ ý chú muốn sao?</p>
<p>- Khó. Dân mình còn khổ nhiều nghe anh!</p>
<p>Cái khổ mà chú Năm Dưỡng thường nhắc không rõ ra sao, riêng những ngày tháng ấu thời của tôi rất thảnh thơi, gần như nhàm chán. Chiều nọ, đang ngồi vuốt lại mấy lưỡi câu, tôi chợt nghe âm thanh rầm rì từ xa vọng tới. Thoạt đầu nhỏ rồi lớn dần, đâu đó trên cao. Tôi ngửng đầu dáo dác. Một khối sắt phản chiếu nắng chiều, lướt ngang trời. Tôi nhổm người, co chưn chạy theo coi cho tới lúc vật lạ khuất dạng sau rừng mây đùn lên ở phương đông. Tiếng động cũng tắt ngúm. Hỏi cha, cha nói đó là &quot;máy bay của Tây&quot;.</p>
<p>Những lần lén tới chơi với cô Bảy Xứng, sau đó, tôi khoe với cô về mấy điều tai nghe mắt thấy. Cô Bảy cười dịu dàng làm tim tôi dịu nhiễu.</p>
<p>- Ngãi sáng dạ lắm. Có muốn cô dạy cho học không?</p>
<p>Tôi ấp úng:</p>
<p>- Dạ&#8230; là sao vậy cô?</p>
<p>- Cô sẽ dạy cho Ngãi đánh vần, tập cho Ngãi đọc.</p>
<p>- Để làm chi vậy cô?</p>
<p>Cô Bảy cười giòn:</p>
<p>- Để mở rộng tầm hiểu biết chớ để làm chi, chỉ hỏi dại.</p>
<p>Tôi ngần ngừ:</p>
<p>- Cô cho em dìa hỏi lại tía má.</p>
<p>Cô Bảy xoè tay ngăn:</p>
<p>- Đừng, cô không muốn ai biết là cô ở đây. Giữ kín giùm cô <em>chiện</em> nầy, hứa đi!</p>
<p>Tôi xịu mặt, không dám thố lộ đã lỡ kể cho chú Năm Dưỡng nghe rồi, nhưng đành gật đầu:</p>
<p>- Em hứa.</p>
<p>- Giơ tay thề trước mặt Chúa trời đi!</p>
<p>Tôi làm theo lời cô Bảy, không nghĩ ngợi:</p>
<p>- Em xin thề trước mặt Chúa trời.</p>
<p>Rồi cứ vậy, những buổi học lén lút đầy thú vị nhẹ thổi vào tâm trí tôi nhiều luồng gió mới lạ, ngộ nghĩnh. Tới khi tôi thuộc làu mấy câu tập đọc bùa chú <em>&quot;ô thời đội nón, ơ thời thêm râu&quot;</em>, thì tôi bắt đầu thắc mắc về những ngày vắng mặt của cô Bảy Xứng, thường vào thứ bảy. Trước đó, tôi đâu biết gì về cách phân định ngày tháng.</p>
<p>Cô Bảy có một cuốn lịch con mười hai tờ in chằng chịt những con số mà cô gọi là &quot;lịch tây&quot;. Công dụng của nó ra sao, tôi chẳng màng, tôi chỉ để mắt tới mười hai tấm hình in trên đó. Hình đen trắng chụp thắng cảnh &quot;ở bên Tây&quot;. Tháng một, hình tuyết đọng trên nóc nhà thờ Đức bà. Tuyết là gì? Cô Bảy giải thích: &quot;Xứ mình thuộc miền nhiệt đới, nóng ẩm quanh năm, nên chỉ có mưa nước, còn xứ Tây thuộc miền ôn đới, tới mùa lạnh mưa đóng băng rơi xuống thành bông tuyết.&quot; Tôi chỉ có thể mường tượng lờ mờ, nhưng thấy cảnh tuyết thiệt nên thơ. Tôi hỏi cô Bảy, cô thấy tuyết lần nào chưa? Cô gật đầu, trong mấy tuồng chớp bóng. Tuồng chớp bóng? Lại một điều mới, nhưng tôi không thắc mắc nhiều vì tôi còn bận tâm suy nghĩ về cái xứ Tây xa lắc xa lơ đó. Tờ lịch tháng tư in cảnh đồng cỏ nghìn nghịt bông, không rõ màu gì. Trí tưởng tượng tôi tô lên đó sắc vàng bông mướp. Giữa cánh đồng, vươn lên một cội cây rậm lá hình nấm. Màu lá lục non đầu xuân hằn đậm lên sắc trời xanh lơ, không một gợn mây. Và phong cảnh tháng bảy với chim nhàn lượn lờ bãi cát, rồi tháng mười với cánh rừng trơ lá. Ảnh đen trắng mà nhuộm đầy màu sắc trong trí tôi. Tôi từ từ hiểu ra, quê tôi chỉ là một góc đất quạnh hiu trong vô vàn góc đất khác.</p>
<p>Cho tới một hôm, cô Bảy vui miệng nhắc tới hòn còng lửa. Trời ơi, tôi tưởng chỉ có mỗi cha tôi và tôi biết nó. Nhưng tôi tôi lặng thinh, lắng nghe cô Bảy thầm thì kể chuyện như sợ người thứ ba biết được. Trí tôi nẩy ra vài nghi hoặc. Người tôi nóng hực như trúng nắng. Tôi quyết định tìm cho ra lẽ.</p>
<p>Mỗi tháng vào đêm rằm, cha tôi có thông lệ đi giăng câu. Ông nói, mùa trăng tròn là lúc tôm cá rượn tình, trồi lên mặt nước cáp đôi với nhau. Thường ông đi cùng với vài người bạn, nhưng tối đó ông đi một mình. Tôi thao thức chờ tới nửa đêm, rồi rón rén rời nhà. Lối tới xẻo Ma da phải băng ngang một cửa sông rộng, ban ngày chỉ là một dòng nước mênh mông lầy lụa phù sa, lục bình trôi dật dờ, hai bờ rễ mắm chĩa tua tủa như dáo cắm. Đêm, dòng nước trở nên êm ả như sống lưng trần của mỹ nhơn ngư đẫm trong luồng trăng muời lăm huyễn hoặc. Tôi ngước mặt. Dĩa trăng kim loại no nê huyền bí, in bóng lên lưng sông uốn éo điệu múa mùa cá động tình. Theo lời cha kể lại, ngộ lắm, tới một lúc như hẹn sẵn, bầy cá cùng lượt quẫy mình, có con bắn lên không như hát xiệc, rồi chúng cáp nhau từng đôi xoay tròn xoay tròn như người say men. Bóng trăng tan thành triệu miểng vỡ li ti, run lên như vẩy lưng con cá khổng lồ từ từ trườn ra biển.</p>
<p>Tôi dừng chưn một lát trên cây cầu khỉ chông chênh. Không thấy điệu múa của cá. Không thấy những vẩy trăng lóng lánh cử động. Chỉ một bóng nguyệt song sinh dầm mình trong dòng nước đậm sệt, giống như giọt thuỷ ngân ai đó rắn mắt rảy lên. Thấp thoáng trong lùm rậm, vài cặp mắt thú sáng quắc như những hòn khí đá. Tôi như bị những tròng mắt lân tinh thôi miên, đờ đẫn đứng ngắm cho tới khi thấy chúng cựa quậy mới sực tỉnh, lẹ chưn chạy một mạch qua bờ bên kia. Lúc thấm mệt, tôi vật người ra đất, nằm nghỉ. Côn trùng vẫn rên rỉ bài hát quen tai. Trăng sáng loá mờ những ánh sao trên cao. Nhưng tôi vẫn nhận ra ở một góc khuất, có vì sao rực rỡ. Tinh mệnh ai đó? Tôi tự hỏi, rồi lồm cồm ngoì dậy, quét mắt ngó quanh, mới hay tôi đang ở bên nầy bờ xẻo Ma da. Người tôi rợn lên. Bên kia, thấp thoáng ánh đèn hắt ra từ lườn ghe cô Bảy Xứng. Tôi nhổm lưng, vạch lá ngó kỹ. Tim tôi thảng thốt một nhịp lạc, rồi rối loạn mê sảng cơn sốt kinh động. Neo cạnh lườn ghe cô Bảy là chiếc xuồng giăng câu của cha tôi. Hai chiếc ghe nằm sóng đôi như thân hai con cá lớn đang âu yếu quấn nhau dưới luồng trăng loã lồ, xoay tròn xoay tròn theo mùa động tình trong tia mắt tôi hoa lên nhức nhối. Tôi quay lưng, chạy miết ra bãi tân bồi. Bùn non nhớp nháp dưới chưn, tôi trợt té mấy lần, lại ngoi dậy chạy tiếp cho tới lúc cảm thấy nước vỗ về hai chưn mới chậm lại. Lệ dâng mờ hai mắt tôi. Gió nhẹ, biển đêm nhấp nhô, trăng hờ hững rắc bạc xuống mặt nước đen lóng lánh. Tôi bước lần ra xa, dầm ngực xuống lòng đại dương đặc quánh như chén thuốc bắc khổng lồ. Hai tay tôi giơ lên hướng trăng mọc. Đôi càng còng lửa trong hoang tưởng tôi cũng khởi động, đập cành cạch cành cạch vô sườn đá rêu bám. Bất ngờ một lượn sóng cao ụp xuống đầu tôi, xô tôi vào rồi cuốn ra xa. Tôi sặc sụa cưỡng lại, lóp ngóp bò vô bờ, nằm khóc tỉ tê cho tới lúc trăng lặn. Ánh sao mai sáng rỡ trên nền trời ửng màu lá dứa. Tôi ngoi dậy, trở về nhà, trúng lạnh liệt giường ba hôm. Bà nội, má rồi cha tôi lo lắng hỏi tôi đi đâu, làm gì cho ra nông nỗi, nhưng tôi nhứt định tịnh khẩu.</p>
<p>Tôi giả câm như vậy đúng ba mươi ngày rồi quyết định quên chuyện đó. Khi tôi trở lại chỗ cô Bảy Xứng cắm sào thì thấy trống trơn. Tôi phân vân lượn quanh xẻo Ma da. Cảm xúc tôi kỳ quặc như vừa hoá thành một sinh vật khác, không thể hiểu được ngũ quan của giống người. Rải rác trên bờ, tôi lượm được nhiều mảnh giấy xé vụn. Ráp lại thì thấy đó là một trong mười hai tấm hình trong quyển lịch tây, cảnh tuyết tháng một. Thì ra bây giờ là tháng hai, không chừng tháng ba hay tháng nào khác, tôi không rõ, cũng không màng tới. Chỉ biết, kỷ niệm ấu thời nầy đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong tôi, cho tới bây giờ. Không, phải nói rằng, nó là mấu chốt của một chuỗi giao động tâm lý gây ảnh hưởng suốt cuộc đời tôi.</p>
<p>Sau đó vài năm, cha tôi bỏ gia đình làng xóm, tập kết ra bắc. Rồi chiến tranh tràn lan. Nội mất. Má dắt tôi ra tỉnh rồi ngược lên thành phố lập nghiệp.</p>
<p>Tôi không phải là một đứa trẻ sống động. Tôi còi cọc, chậm lớn. Tôi đần độn khác thường giữa đám trẻ con phố chợ khôn lanh quỉ quái. Tôi bị khuyết tật cà lăm cho tới tuổi trổ mã, đã ít nói lại thêm đổi giọng vịt đực, tôi càng ngại phát âm. Hội chứng tuyệt khẩu bắt đầu. Nhưng nó bắt tôi viết, viết liên miên, từ chuyện thật tới chuyện giả, chuyện tỉnh tới chuyện điên, chuyện hợp tới chuyện tan, chuyện sinh tới chuyện tử. Nhưng thiệt tình, tôi thường xuyên bị câu chuyện về hòn còng lửa của cha tôi ám ảnh. Nó xui tôi nhớ lại vài chương đời cực kỳ linh hoạt thuở ấu thời. Từ cái ảo tưởng có một hòn còng lửa giữa đại dương mênh mông, tới cảnh tượng chiếc máy bay của thực dân tây lượn lờ trên nền trời đỏ rực ráng chiều, rồi tới buổi hội ngộ cô Bảy Xứng với niềm tin Thiên chúa giáo mà tôi biết tới lần đầu. Nhưng biến cố quan trọng hơn hết là hôm cha tôi lìa gia đình làng xóm biệt xứ. Ông tập kết ra bắc hay đi tìm hòn còng lửa mà ông luôn tin rằng nó có thật?</p>
<p><em>(Bản chính, 05. 1999; bản nhuận sắc, 03. 2012)</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23672/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ấn-độ du k&#253;: Rajasthan &#8211; Xứ sở của thần thoại, người, th&#250; v&#224; r&#225;c (phần 2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23571</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23571#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 28 Feb 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Nguyên Dũng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chụp và Chép]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23571</guid>
		<description><![CDATA[Không hiểu cớ sao nền văn minh huy hoàng đã một thời gieo ảnh hưởng toàn cõi Nam Á và Đông Nam Á, chợt dừng lại ở biên cương Đại Việt? Đoàn quân viễn chinh trang bị vũ khí tâm linh Ấn-độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo cùng văn hoá ẩm thực cà-ri từ đại lục Ấn tràn qua Tích-lan, Miến-điện, Xiêm-la, Mã-lai-á, Chiêm thành, Ai-lao, lại không xâm nhập vào lãnh thổ Việt?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/1.-n-du-k-phn-2.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="1.-n-du-k-phn-2" border="0" alt="1.-n-du-k-phn-2" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/1.-n-du-k-phn-2_thumb.jpg" width="302" height="402" /></a></p>
<p>Ấn-độ là một quốc gia liên bang rộng lớn với hơn một tỷ dân cư, đã một thời bá quyền phong kiến được gầy dựng trên nền tảng tư tưởng Ấn-độ giáo, ảnh hưởng lan rộng cả vùng Nam và Đông Nam Á. Di sản của nền văn hoá vĩ đại này là những thánh tích tôn giáo với vô số đền đài, chùa chiềng và thành quách, cung điện, lăng tẩm các vương gia Maharadscha. Nói chung, kiến trúc Ấn-độ chịu ít nhiều ảnh hưởng văn hoá Ả-rập với lối chạm khắc cầu kỳ, đường nét hoa văn uốn lượn, tô vàng thếp bạc, giát thuỷ tinh lóng lánh. Những ô cửa sổ lắp kính màu, rọi vuông sáng sặc sỡ dưới nền nhà. Ít màu đỏ, nhiều sắc cam và xanh lục.</p>
<p align="left">Trong suốt hai tuần du ngoạn Rajasthan, để lại trong tôi nhiều ấn tượng sắc sảo là cổ thành Jaisalmer, cung điện Amber ở Jaipur, đền Jain ở Ranakpur và lăng tẩm Taj Mahal ở Agra.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/2.-Tng-thnh-Jailsalmer.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="2.-Tng-thnh-Jailsalmer" border="0" alt="2.-Tng-thnh-Jailsalmer" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/2.-Tng-thnh-Jailsalmer_thumb.jpg" width="417" height="313" /></a></p>
<p align="center">Tường thành Jailsalmer</p>
<p>Cổ thành ở Jailsalmer được xây bằng sa thạch màu lưu huỳnh. Trong khi đá cẩm thạch trắng thường được dùng để xây đền đài và lăng tẩm, thì sa thạch là loại vật liệu xây cất thông dụng nhất tại đây. Nội thành là phố cổ ngoằn ngoèo ngõ ngách với tiệm buôn và tư gia, đa số bán quần áo, vật kỷ niệm. Du khách ngoại quốc và bản xứ chen chúc. Trẻ em đánh giày mời mọc, người ăn xin nài nỉ, có cả <em>callboy</em> miệt vườn lẽo đẽo theo đuôi, lộ liễu mời chào các nữ du khách. Và bò. Đi, phải để ý, không thôi đạp phải phân bò chưa được dọn dẹp. Cảnh tượng ồn ào, vô trật tự; không gian thoảng mùi rác rưởi, nhưng đằm đẵm vẻ gì vô cùng &quot;hương xa&quot;, đậm đà sắc thái Ấn-độ.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/3.-Hnh-ng-hai-o-s-trc-cng-thnh-Jailsalmer.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="3.-Hnh-ng-hai-o-s-trc-cng-thnh-Jailsalmer" border="0" alt="3.-Hnh-ng-hai-o-s-trc-cng-thnh-Jailsalmer" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/3.-Hnh-ng-hai-o-s-trc-cng-thnh-Jailsalmer_thumb.jpg" width="489" height="355" /></a></p>
<p align="center">Hạnh ngộ hai đạo sĩ trước cổng thành Jailsalmer</p>
<p>Tại đây, lần đầu tiên trong đời tôi được anh hướng dẫn viên mời uống trà <em>Chai</em> hay còn gọi là Masala Chai, là một loại trà đen nấu với sữa đường, gia vị Masala gồm có đậu khấu, hồi hương, đinh hương, quế hương, hạt tiểu hồi hương, gừng, … Hương trà Chai thơm lừng, hậu vị đậm sắc, bắt tôi liên tưởng tách trà Lipton của ba tôi thuở xưa ở quê nhà những xế trưa chủ nhật, pha đậm và uống với sữa đặc có đường.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/5.-Mt-to-kin-trc-bng-sa-thch-trong-ph-c-Jailsalmer.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="5.-Mt-to-kin-trc-bng-sa-thch-trong-ph-c-Jailsalmer" border="0" alt="5.-Mt-to-kin-trc-bng-sa-thch-trong-ph-c-Jailsalmer" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/5.-Mt-to-kin-trc-bng-sa-thch-trong-ph-c-Jailsalmer_thumb.jpg" width="447" height="333" /></a></p>
<p align="center">Một toà kiến trúc bằng sa thạch trong phố cổ Jailsalmer</p>
<p>Nói chung, văn hoá ẩm thực Ấn-độ sử dụng nhiều gia vị. Chỉ riêng cà-ri không thôi, một loại gia vị đặc thù Ấn-độ, là một hỗn hợp từ 12 tới 36 (?) loại hương liệu khác nhau như nghệ, bột ớt, tiêu, đậu khấu, gừng, quế, đinh hương, hạt ngò,&#8230; Đúng hơn, cà-ri không phải là một thứ gia vị mà là tên gọi những món ăn được nêm nếm bằng các loại hương vị nói trên, gia giảm tuỳ theo người nấu. Có thể nói, cà-ri được hầu hết các giống dân trên thế giới ưa chuộng, ngoại trừ dân Trung hoa, vì ít thấy người Hoa sử dụng loại tạp vị này.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/6.-Ba-n-tra-m-bc-ngoi-ng-ph.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="6.-Ba-n-tra-m-bc-ngoi-ng-ph" border="0" alt="6.-Ba-n-tra-m-bc-ngoi-ng-ph" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/6.-Ba-n-tra-m-bc-ngoi-ng-ph_thumb.jpg" width="489" height="368" /></a></p>
<p align="center">Bữa ăn trưa đạm bạc ngoài đường phố</p>
<p>Có lẽ vì tục lệ ăn bốc mà các món ăn Ấn hoặc được chiên nướng hoặc được nấu nhừ, đặc sệt nước sốt, chứ không có món nước như mì, phở, hủ tiếu thường thấy ở các nước Á châu khác. Đa dạng nhất trong phong cách nấu nướng miền bắc Ấn là các loại bánh mì cán mỏng, nướng lò than, tiêu biểu là bánh Naan. Và, cũng vì lý do tôn giáo mà dân Ấn dùng nhiều sản phẩm thực vật hơn động vật, đặc biệt thịt bò và thịt heo là hai loại thịt cấm kỵ tại đây. Thức ăn Ấn nhiều dầu mỡ, lạm dụng tối đa gia vị. Các món bánh ngọt gắt. Ăn không quen, khó nuốt.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/7.-Ph-n-nng-bnh-Naan-trong-chi-bp-mt-qun-n.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="7.-Ph-n-nng-bnh-Naan-trong-chi-bp-mt-qun-n" border="0" alt="7.-Ph-n-nng-bnh-Naan-trong-chi-bp-mt-qun-n" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/7.-Ph-n-nng-bnh-Naan-trong-chi-bp-mt-qun-n_thumb.jpg" width="473" height="361" /></a></p>
<p align="center">Phụ nữ nướng bánh Naan trong chái bếp một quán ăn</p>
<p>Hợp khẩu tôi, và cũng là món ăn gợi nhớ thời ấu thơ, là bánh chiên Pakora làm bằng bột một loại đậu xanh <em>(Kichererbse, chick-pea)</em>, được gọi chung chung là &quot;bánh rê, bánh cay&quot;; và Lassi là một kiểu nước sinh tố bằng sữa chua với nhiều hương vị trái cây.</p>
<p>Tôi là người thích mạo hiểm khẩu vị, thấy món lạ hương xa đều muốn thử, nhưng đụng phải kiểu nấu nướng, chiên xào của người Ấn ngoài đường phố, tôi không khỏi chột dạ. Chịu, không dám, sợ phiền hà dạ dầy, mất vui.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/8.-Xe-bn-thc-n-trong-ch-phin.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="8.-Xe-bn-thc-n-trong-ch-phin" border="0" alt="8.-Xe-bn-thc-n-trong-ch-phin" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/8.-Xe-bn-thc-n-trong-ch-phin_thumb.jpg" width="427" height="321" /></a></p>
<p align="center">Xe bán thức ăn trong chợ phiên</p>
<p>Trên đường đến Udaipur, chúng tôi được hướng dẫn thăm viếng đền Jain. Theo lời tán tụng của anh hướng dẫn viên, ngôi đền này là một kỳ quan kiến trúc toàn bằng cẩm thạch trắng xây vào giữa thế kỷ 15 với 1.444 cột đá, mà mỗi trụ cột là một công trình điêu khắc tinh vi riêng biệt.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/9.-Khch-thp-phng-ving-n-Jain.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="9.-Khch-thp-phng-ving-n-Jain" border="0" alt="9.-Khch-thp-phng-ving-n-Jain" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/9.-Khch-thp-phng-ving-n-Jain_thumb.jpg" width="427" height="321" /></a></p>
<p align="center">Khách thập phương viếng đền Jain</p>
<p>Jain hay Kỳ-na giáo, cũng như Ấn-độ giáo và Phật giáo, có hệ thống tư tưởng bắt nguồn từ đạo Bà-la-môn, với những giới luật chay tụng nghiêm ngặt, ngăn cấm sát sinh triệt để. Khác với Phật giáo, Kỳ-na giáo không chống đối triệt để giai cấp Bà-la-môn, vì vậy được giáo phái này miễn cưỡng chấp nhận. Ðạo sĩ Kỳ-na giáo đi chân không, ăn chay trường, từ bỏ tư hữu lẫn tà dục. Vào đền, khách thập phương không những phải đi chân đất mà còn không được mang trên người bất cứ vật dụng làm bằng da, cũng không được mặc quần áo dệt bằng tơ tằm.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/10.-Mt-s-ch-K-na-gio.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="10.-Mt-s-ch-K-na-gio" border="0" alt="10.-Mt-s-ch-K-na-gio" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/10.-Mt-s-ch-K-na-gio_thumb.jpg" width="314" height="424" /></a></p>
<p align="center">Một sư chú Kỳ-na giáo</p>
<p>Thật vậy, đền Jain là một kỳ công của kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc Ấn-độ. Khó có thể tưởng tượng nổi, đây là thành quả của năng lực và óc sáng tạo của con người. Mọi ngóc ngách, từ trần đền cho tới cột kèo, tường vách đều được đẽo khắc chi ly những phù điêu, bày ra một vũ trụ quan kỳ thú. Kiểu trang trí tròn vuông đối xứng này trông như những bức thiền tập Mandala. Trong đó, thần, thú và người hoà quyện luân hồi vào nhau, kết tủa thành tinh lực là &quot;sự sống.&quot;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/11.-Ph-iu-linh-x-ngn-u-Dharanendra-ph-tr-thnh-Parshavanatha-mt-trong-24-gio-ch-K-na-gio.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="11.-Ph-iu-linh-x-ngn-u-Dharanendra-ph-tr-thnh-Parshavanatha-mt-trong-24-gio-ch-K-na-gio" border="0" alt="11.-Ph-iu-linh-x-ngn-u-Dharanendra-ph-tr-thnh-Parshavanatha-mt-trong-24-gio-ch-K-na-gio" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/11.-Ph-iu-linh-x-ngn-u-Dharanendra-ph-tr-thnh-Parshavanatha-mt-trong-24-gio-ch-K-na-gio_thumb.jpg" width="347" height="462" /></a></p>
<p align="center">Phù điêu linh xà ngàn đầu Dharanendra phò trợ thánh Parshavanatha (một trong 24 giáo chủ Kỳ-na giáo)</p>
<p>Cõi sinh tạo nên cảnh giới hữu hình và hữu tình. Một khi đã hiện hữu, tất vướng nghiệp. Mọi vật, sẽ có lúc, đều bị cái chết huỷ diệt, tan theo ảo giác của ý thức và sa vòng luân hồi Samsara. Tư tưởng này đã được tài nghệ thủ công và đức tin mãnh liệt của đệ tử Kỳ-na giáo biểu hiện qua cấu trúc kỳ diệu của ngôi đền này. Như thể, trong mỗi phiến đá ẩn một thần hồn. Đúng thời khắc linh hiển, đá sẽ cựa mình, cất tiếng thuyết pháp.</p>
<p>Rời Udaipur, đoàn du lịch chúng tôi đi Jaipur, thủ phủ của tiểu bang Rajasthan, còn được gọi là &quot;Thành phố Hồng&quot; <em>(Pink City)</em>, vì phố sá nơi đây được sơn hồng. Jaipur còn được biết tới vì có &quot;Đài vọng gió&quot; <em>(Palast der Winde)</em> trong phố cổ. Với kiểu kiến trúc tinh vi, chính diện &quot;Đài vọng gió&quot; đặc biệt thoáng khí và mát mẻ, là nơi các hầu thiếp nhìn ngắm sinh hoạt bên ngoài, mà không sợ dân chúng nhìn thấy.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Wind_Palace-Jaipur-India0001.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Wind_Palace-Jaipur-India0001" border="0" alt="Wind_Palace-Jaipur-India0001" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Wind_Palace-Jaipur-India0001_thumb.jpg" width="547" height="350" /></a></p>
<p align="center">Đài vọng gió (Palast der Winde) xây bằng sa thạch màu hổ phách</p>
<p>Tại đây, chúng tôi đi thăm lâu đài Hổ phách (Amber Palast) trên đỉnh một ngọn đồi ở ngoại vi Jaipur. Khách du lịch cưỡi voi lên viếng lâu đài. Những thớt voi dềnh dàng, đầu tô hoa văn sặc sỡ, đủng đỉnh chở khách từ cổng Amber vào nội thành. Từ mái lầu, một giàn vương nhạc cổ truyền thổi kèn, vỗ phèng la chào mừng du khách. Cảnh tượng tưng bừng như một ngày hội lớn.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/14.-Voi-ch-du-khch-ving-lu-i-H-phch-Amber-Palast.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="14.-Voi-ch-du-khch-ving-lu-i-H-phch-Amber-Palast" border="0" alt="14.-Voi-ch-du-khch-ving-lu-i-H-phch-Amber-Palast" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/14.-Voi-ch-du-khch-ving-lu-i-H-phch-Amber-Palast_thumb.jpg" width="564" height="424" /></a></p>
<p align="center">Voi chở du khách viếng lâu đài Hổ phách (Amber Palast)</p>
<p>Nghệ thuật xây cất lâu đài Amber nhắc nhớ kiểu kiến trúc Barock với hình thức cân xứng tuyệt đối, thịnh hành ở Âu châu vào thế kỷ 17. Trang trí nội thất có màu sắc trang nhã, quí phái, không sặc sỡ như các toà lâu đài khác, được biết tới với cung điện và hành lang giát gương, cẩn hổ phách, chạm khắc phù điêu hoa bướm bằng cẩm thạch trắng.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/15.-Lu-i-H-phch-Amber-Palast.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="15.-Lu-i-H-phch-Amber-Palast" border="0" alt="15.-Lu-i-H-phch-Amber-Palast" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/15.-Lu-i-H-phch-Amber-Palast_thumb.jpg" width="547" height="411" /></a></p>
<p align="center">Lâu đài Hổ phách (Amber Palast)</p>
<p>Nhằm lúc có một đoàn nữ sinh được giáo viên hướng dẫn thăm viếng lâu đài. Các cô mặc đồng phục quần trắng, áo ngắn tay màu thiên thanh, sóng đôi nắm tay nhau, len lỏi cười nói qua những cột kèo, dưới những mái hiên nghiêng bóng nắng.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/17.-Cc-n-sinh-ang-chm-ch-nghe-gio-vin-thuyt-trnh-trong-khun-vin-lu-i-Amber.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="17.-Cc-n-sinh-ang-chm-ch-nghe-gio-vin-thuyt-trnh-trong-khun-vin-lu-i-Amber" border="0" alt="17.-Cc-n-sinh-ang-chm-ch-nghe-gio-vin-thuyt-trnh-trong-khun-vin-lu-i-Amber" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/17.-Cc-n-sinh-ang-chm-ch-nghe-gio-vin-thuyt-trnh-trong-khun-vin-lu-i-Amber_thumb.jpg" width="305" height="398" /></a></p>
<p align="center">Các nữ sinh đang chăm chú nghe giáo viên thuyết trình trong khuôn viên lâu đài Amber</p>
<p>Cho tới lúc này, tôi có thể khẳng định mà không sợ quá lời, rằng phụ nữ Ấn có nhiều người xinh đẹp, đặc biệt những người thuộc đẳng cấp thượng và trung lưu theo truyền thống Ấn-độ giáo, như trường hợp các nữ sinh này. Đa số có vóc người thanh mảnh, diện mạo duyên dáng, nước da không quá đen đúa, thô kệch.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/16.-N-hc-sinh-n-.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="16.-N-hc-sinh-n-" border="0" alt="16.-N-hc-sinh-n-" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/16.-N-hc-sinh-n-_thumb.jpg" width="330" height="407" /></a></p>
<p align="center">Nữ học sinh Ấn-độ</p>
<p>Bấy giờ tôi mới để ý, trong các thành phố Ấn, lớn cũng như nhỏ, phố sá hoàn toàn không có một bảng tên đường; nhà cửa cũng không ghi số. Vậy, làm sao du khách dò đường, tìm địa chỉ và cách thức phân phối bưu tín hoạt động ra sao? Anh hướng dẫn viên giải thích, mỗi khu phố đều mang một con số (khu bưu chính?) và người đưa thư thuộc nằm lòng tên các gia chủ trong khu phố đó. Còn khách lạ ư? Trước tiên phải đến đúng khu phố, sau đó chịu khó… hỏi thăm tiếp!!!</p>
<p>Thành phố Agra có kỳ quan thế giới Taj Mahal là địa điểm du ngoạn sau cùng, với nhiều người là cao điểm tuyệt đối toàn chuyến du lịch, trước khi chúng tôi trở lại Delhi, đáp phi cơ về Đức.</p>
<p>Taj Mahal, theo lời anh hướng dẫn viên, có nghĩa &quot;Vương miện đài&quot;, được xem là công trình kiến trúc Hồi giáo tuyệt mỹ nhất đất Ấn. Có thể nhận ra đặc điểm này qua tập quán chôn cất người chết, không theo nghi thức hoả thiêu, và bốn tháp đối xứng trụ quanh lăng mộ. Bốn trụ tháp này được xây nghiêng ra ngoài, đề phòng trường hợp địa chấn làm đổ, gây hư hại phần mộ linh thiêng. Vòm lăng hình chuông vĩ đại, úp lên mộ lăng giát phiến cẩm thạch trắng, nhuộm sắc theo giờ giấc của ngày. Bình minh, khi mặt trời mọc, là thời điểm thuận lợi nhất cho du khách chiêm ngưỡng trọn vẹn ảnh sắc Taj Mahal. Vào những đêm trăng tròn, theo lời kể, lăng tẩm toả ngời sắc trắng huyễn hoặc, như thể khí phách người chết phát quang. Lăng tẩm là mộ phần công chúa Ba-tư Arjuman Bano Begum, còn được phong danh Mumtaj Mahal, chánh phi yêu quí nhất của đại vương Shah Jahan, qua đời sau khi hạ sinh đứa con thứ mười bốn, hưởng dương vỏn vẹn 39 tuổi (thật ra, bên trong có tới hai mộ lăng, một của bà chánh phi và một của đại vương sau khi ông băng hà).</p>
<p>Từ cổng lăng, cũng đồ sộ không kém, xây bằng sa thạch đỏ giát phiến cẩm thạch trắng vân vi hoa văn cẩn đá quí, du khách đã nhận ra xa xa toà lăng tẩm mờ ảo trong sương mai.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/18.-Lng-tm-Taj-Mahal-m-sng-mai.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="18.-Lng-tm-Taj-Mahal-m-sng-mai" border="0" alt="18.-Lng-tm-Taj-Mahal-m-sng-mai" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/18.-Lng-tm-Taj-Mahal-m-sng-mai_thumb.jpg" width="538" height="387" /></a></p>
<p>Mặc dù vé vào cửa tương đối cao so với mức lương trung bình của dân bản xứ, 750,00 Rupees (khoảng 11,00 €), nhưng khách viếng lăng tẩm vẫn nườm nượp như đi trẩy hội. Đúng hơn, như một cuộc hành hương tới lăng thánh tượng trưng cho tình yêu vượt ngoài cõi chết. Đúng vậy, Taj Mahal là biểu tượng kiêu hãnh của dân tộc Ấn. Taj Mahal và Ấn-độ là một. Là thánh thất của tình yêu hoá thạch, bất diệt và chung thuỷ. Đã được thi hào Rabindranath Tagore ví von trong thi phẩm <em>&quot;Shah-Jahan&quot;</em> như <em>&quot;một giọt lệ trên đôi má thời gian&quot; </em><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_edn1" name="_ednref1">[1]</a>.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Mười bốn ngày du ngoạn xứ Rajasthan đã lưu lại tâm tư tôi nhiều cảm tưởng đối nghịch. Hình ảnh những cổ thành kiên cố, những đền đài nguy nga, lăng tẩm tráng lệ không tẩy xoá được vô vàn cảnh tượng sinh hoạt dân dã thường nhật tình cờ đập vào mắt tôi. Để rồi nằm đó, như những dấu hỏi không lời giải đáp về kiếp nhân sinh, mà bộ ảnh chụp gần 700 tấm không thể ghi khắc trọn vẹn. Hình ảnh cặp vợ chồng ăn xin, người chồng với đôi mắt mù lồi ra trắng dã, lẽo đẽo theo sau đoàn du khách trong cổ thành Jaisalmer. Hình ảnh cậu bé một sáng mai dắt cặp dê băng qua ngã ba, hối hả như sợ trễ phiên chợ sớm. Hình ảnh nam thanh niên cầm sô nhựa nhanh nhẹn, thuần thạo hốt dọn phân voi trong khuôn viên lâu đài Amber, như thể cậu được sinh ra chỉ để hoàn tất công việc ấy. Hình ảnh hai con dê ngẩng đầu ra ô cửa hẹp từ tầng nhà một căn hộ ngắm nhìn phố xá. Hình ảnh đôi chim bồ câu làm tổ ngay bệ cửa sổ phòng khách sạn của chúng tôi ở Udaipur. Hình ảnh người đàn bà ăn xin với gương mặt lở lói khẩn khoản bám theo chúng tôi trước cổng đền Sikh v.v…</p>
<p>Những ấn tượng ít nhiều bi quan ấy trộn lẫn vào quang cảnh một tiệc cưới với voi, ngựa, lạc đà xênh xang; hoa đăng chói loà. Một giàn nhạc công tháp tùng, mặc đồng phục trắng, cầu vai và thắt lưng đỏ thổi kèn, vỗ trống, nhịp phèng la inh ỏi. Quan khách tưng bừng nhảy múa, đón mừng cỗ song mã chở chú rể đầu đội mũ quấn thêu kim tuyến, mặc quần chẽn, áo dài gấm vàng, chậm rãi tiến vào sân yến tiệc. Nửa đêm tôi tỉnh giấc, văng vẳng bên ngoài tiếng pháo bông đốt mừng đám tiệc. Choàng dậy, vén rèm nhìn ra. Xa xa, bông pháo toả sắc trên trời đêm Jaipur. Gần hơn, hai đốm mắt con bồ câu mái đang ấp trứng ngay bệ cửa sổ xoáy nhìn tôi, lấp lánh không chớp.</p>
<p>Những hố thẳm nghịch lý này được dân Ấn chấp nhận bằng niềm tin mãnh liệt vào thuyết nhân quả. Họ, những người sinh ra thuộc đẳng cấp hạ tiện, chỉ còn cách &quot;làm lành tránh dữ&quot;, tạo nghiệp duyên thuận lợi cho kiếp sau. Có lẽ vì vậy mà dân bản xứ hiếu khách, vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ tha nhân. Mỗi lần dừng xe, thấy bạn tôi đi đứng khó khăn, tôi cùng chú lơ xe loay hoay lắp ráp xe lăn thì đám đông xô lại, ân cần han hỏi. Lẩn thẩn nghĩ ngợi, một phần vì bản tính hiếu khách, phần khác có lẽ họ hy vọng nhận được tiền thưởng sau đó. Dù gì đi nữa, mối quan tâm của người dân bản xứ khiến tôi an dạ. Càng an dạ hơn, khi tôi nhận ra làn sóng văn minh &quot;điện thoại bỏ túi&quot; cùng kiểu kiến trúc &quot;nhà cao ốc&quot; chưa lấn chiếm quang cảnh phố sá nơi đây. Vô vị biết bao, nếu một ngày nào đó, trong cổ thành Bikaner, Jaisalmer, … nườm nượp khách vãng lai tai đeo máy nghe nhạc <em>iPod</em>, <em>iPhone</em> mỗi người cất trong túi, trong xách tay một điện thoại con thỉnh thoảng lại bật lên tín nhạc, hay một máy <em>iPad</em> mỏng như quyển vở trẻ con. Và những phố cổ ở Jodhpur, Udaipur, … bị san bằng, nhường chỗ cho những dự án kiến trúc tân kỳ, là chuyện đã xảy ra ở Trung hoa lục địa và Việt nam hiện nay.</p>
<p>Viễn tưởng một thế giới với những diện mạo kiến trúc đồng dạng, với những đám đông bị lệ thuộc vào hệ thống tin mạng ảo, đối với tôi, là một thảm cảnh kinh hoàng.</p>
<p>Lại thẩn tha suy tư, không hiểu cớ sao nền văn minh huy hoàng đã một thời gieo ảnh hưởng toàn cõi Nam Á và Đông Nam Á, chợt dừng lại ở biên cương Đại Việt? Đoàn quân viễn chinh trang bị vũ khí tâm linh Ấn-độ giáo, Hồi giáo, Phật giáo nguyên thuỷ cùng văn hoá ẩm thực cà-ri và ăn bốc từ đại lục Ấn tràn qua Tích-lan, Miến-điện, Xiêm-la, Mã-lai-á, Chiêm thành, Ai-lao, lại không xâm nhập vào lãnh thổ Việt. Vì dãy Trường sơn hiểm trở ở phía tây và đèo Hải vân ở hướng nam khó vượt chăng? Chắc không phải, vì ngoài đường lộ, người Ấn còn giỏi giao thương bằng đường biển, mà ảnh hưởng văn hoá Ấn tại quần đảo Nam dương là một thí dụ điển hình. Chuyện gì lạ lùng vậy? Tôi không rõ. Chỉ biết Phật giáo đại thừa và kiểu cách ăn bằng đũa du nhập vào Việt nam qua ngõ Trung hoa. Văn tự Việt không chịu ảnh hưởng mảy may nào từ Phạn ngữ. Kỹ thuật xây cất sử dụng nhiều vật liệu bằng gỗ, bằng đất nung, chứ không đục đẽo đá tảng như dân tộc Khờ-me đã gầy dựng một Đế thiên Đế thích vĩ đại. Cũng chưa bao giờ thấy người Việt quấn sà-rông, và thả bò chạy tứ tán ngoài đuờng. Trong lãnh vực ẩm thực, cách thức nêm nếm món ăn bằng nước mắm đại thắng vẻ vang vị liệu cà-ri. Và món ăn Ấn chưa hề đóng vai trò quan trọng trong sở thích ăn uống của người Việt nam, ngoại trừ mấy món ăn chơi bánh rê, bánh cay. Cũng như người Ấn tại Việt nam, được gọi lầm là người Chà-và, chỉ là mấy ông chuyên nghề bán vải ở Sài gòn dạo trước.</p>
<p>Về lại nhà trọ nơi đất khách, tôi trở lại với thói quen đêm đêm lật sách đọc vài trang dỗ giấc ngủ. Quyển ba trong trường thiên tiểu thuyết bốn tập <em>&quot;Das Meer der Fruchtbarkeit&quot;</em> (<em>&quot;Biển năng sinh&quot;</em>) của Yukio Mishima. Tình cờ, tới chương nhân vật chính Honda du lịch sang đông bắc Ấn. Ngoài những trang tác giả sắc sảo tả cảnh tế thần súc vật, hoả thiêu tử thi, nghi thức các tín đồ Ấn-độ giáo thanh tẩy bên bờ sông Hằng, có đoạn:</p>
<p><em>&quot;Trong khi đó Benares là một thành phố không những mang tính thần thánh tột độ mà còn đầy ắp rác rưởi. Ven lề con hẻm hẹp, hầu như không một tia ánh sáng mặt trời xuyên qua nổi những máng xối mái nhà, san sát những hàng quán bán trái cây, thịt luộc sôi sục, chỗ này một chiêm tinh gia đang bói quẻ, chỗ kia đang cân lường ngũ cốc và bột mì cho khách hàng; tất cả ngập ngụa mùi hôi, hơi ẩm, bệnh tật. Rời nơi đây, Honda và hướng dẫn viên ra tới một quãng trường ven sông, sắp lớp hai bên là những kẻ bệnh tật từ mọi nơi đổ về hành hương, đang mọp người rũ rượi, van xin, trong khi chờ chết. Thêm vào đó là vô số chim bồ câu. Năm giờ chiều, trời nóng như thiêu đốt. Một lon nhôm, một bát ăn xin đựng mớ tiền xu đặt trước mặt một người cùi có con mắt mù đỏ hỏn, bàn tay sứt ngón giơ lên cảnh trời chiều, trông như một cây dâu bị chặt trụi cành.&quot; <a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_edn2" name="_ednref2"><strong>[2]</strong></a></em></p>
<p>Tôi không biết, bao giờ tôi lại có cơ hội trở lại đất nước này. Chắc không. Dù sao, giờ đây tôi đã biết cách nấu trà Chai. Xin ghi lại dưới đây cách thức pha chế, coi như một món quà mang từ đất Ấn gởi tới độc giả Da màu:</p>
<blockquote><p><strong><em>Trà Chai</em> hay <em>trà Masala</em></strong>:</p>
<p>Vật liệu cho 4-6 tách:</p>
<p>- Hồi hương (4-5 hoa)</p>
<p>- Đinh hương (3-4 búp)</p>
<p>- Quế hương (1 thỏi)</p>
<p>- Đậu khấu (<em>cardamom</em>, khoảng 6-7 hạt)</p>
<p>- Một muỗng cà-phê hạt tiểu hồi hương (<em>fennel</em>)</p>
<p>- Vài lát gừng.</p>
<p>- Trà Assam Ấn-độ (hoặc trà đen, 3 muỗng súp)</p>
<p>- Nước (2-3 tách)</p>
<p>- Sữa tươi (4-5 tách)</p>
<p>- Đường (ít nhiều tuỳ khẩu vị)</p>
<p>Cách nấu:</p>
<p>Cho tất cả gia vị kể trên ngoại trừ trà vào nồi nấu sôi bùng, khuấy đều. Vặn lửa nhỏ, không đậy nắp, nấu liêu riêu thêm 1 phút. Cho trà vào nấu sôi. Lại để lửa nhỏ nấu thêm 10-15 phút. Lược bỏ gia vị. Cho đường tuỳ khẩu vị.</p>
</blockquote>
<p>Chúc quí vị thưởng thức ngon miệng tách trà Chai xứ Ấn.</p>
<p>(tháng 2. 2012)</p>
<hr size="1" />
<p><strong>Chú thích</strong>:</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ednref1" name="_edn1">[1]</a> http://www.parabaas.com/rabindranath/articles/kMartin1.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Thuy/AppData/Local/Temp/#_ednref2" name="_edn2">[2]</a> Trích đoạn <em>&quot;Der Tempel der Morgendämmerung&quot;</em>, tr. 64-65, bản dịch từ tiếng Nhật của Siegfried Schaarschmidt, nxb Carl Hanser, München, ấn bản 1987.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23571/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ấn-độ du k&#253;: Rajasthan &#8211; xứ sở của thần thoại, người, th&#250; v&#224; r&#225;c (phần 1)</title>
		<link>http://damau.org/archives/23529</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23529#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 27 Feb 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Nguyên Dũng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chụp và Chép]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23529</guid>
		<description><![CDATA[Ấn-độ là thánh địa cho muông thú. Rất nhiều giống thú được dân Ấn thánh hoá: Thần Hanuman là hoá thân khỉ, thần Ganesha là voi (thường đồng hành với chuột), và bò, hổ, rắn, chim công, lạc đà … Mỗi loài ... được coi như linh thú thân cận với một vị thánh trong Ấn-độ giáo.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/1.-n-du-k-phn-1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="1.-n-du-k-phn-1" border="0" alt="1.-n-du-k-phn-1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/1.-n-du-k-phn-1_thumb.jpg" width="452" height="340" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Tôi cùng bạn đến với Ấn-độ, hay đúng hơn với miền Tây Bắc Ấn, thuộc tiểu bang Rajasthan, là một hạnh ngộ ngẫu nhiên.</p>
<p>Ước nguyện của bạn tôi từ thuở hoa niên là một lần trong đời được đặt chân lên đất Ấn. Rồi, vì nhiều lẽ, anh ấy chưa có cơ hội thực hiện. Cho tới hè 2011, tình cờ đọc được mẩu quảng cáo hai tuần du hành sang Rajasthan với giá hạ, bạn tôi vội vàng đặt hai vé. Phân nửa giá, bạn tôi bảo, là quà tặng sinh nhật lục tuần cho tôi. Ý lành của bạn bắt tôi phân vân. Bởi lẽ, với tôi, du lịch sang Ấn không phải là ước vọng hàng đầu. Lẽ khác quan trọng hơn, tôi e ngại cho hoàn cảnh khuyết tật của bạn tôi, không biết có thích hợp với phương tiện lưu thông và hệ thống đường sá nơi ấy. Vì vướng phải bệnh MS <em>(Multiple Sklerose)</em>, đã nhiều năm nay anh ấy phải ngồi xe lăn.</p>
<p>Đã nhiều lần chúng tôi tranh luận sôi nổi về chuyến du lịch sắp tới. Tôi không háo hức lắm khi vẽ vời trong trí những bất trắc có thể xảy đến cho bạn. &quot;Rất có thể đây là chuyến du lịch sau cùng trong đời tôi&quot;, là lời nói của bạn buộc tôi chấp thuận với ít nhiều miễn cưỡng.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Máy bay từ Munich đáp xuống phi trường Indira Gandhi, thủ đô Tân Đề-li vào một sáng cuối tháng mười. Nắng phương đông tươi rói. Sau khi cùng hai nhân công phi trường ráp xong chiếc xe lăn, tôi hỏi họ chỗ đổi tiền và ngỏ ý muốn tặng họ một ít tiền thưởng. Xong xuôi, tôi thản nhiên rút ra vài tờ một trăm Rupees, trao cho một người. Lạ thay, anh ta giãy nảy từ chối, mặt mày lấm lét. Nhưng cử chỉ dùng dằng rõ ràng &quot;không lấy thì tiếc, mà lấy thì sợ&quot;. Nhưng sợ ai? Đảo mắt ngó quanh, tôi thấy vài người lính, súng quàng vai, đang dò xét nhất cử nhất động của chúng tôi. Anh nhân công ra dấu, ý bảo từ từ&#8230; Khi dẫn chúng tôi ngang qua một nơi văng vắng, anh len lén xoè tay, cặp mắt đen nhánh chớp nhanh, đầu gục gặc. Tôi hiểu ý, vội dúi tiền vào lòng tay anh. Tôi hiểu ra, tại những nơi công cộng trên đất Ấn, nhân viên tránh &quot;nhận tiền&quot; một cách lộ liễu!</p>
<p>Hướng dẫn phái đoàn chúng tôi, gồm 28 du khách, là một người Ấn 36 tuổi thông thạo Đức ngữ, rành rẽ văn hoá và lịch sử Ấn. Mỗi người chúng tôi được chào mừng bằng một vòng hoa vạn thọ hai màu cam và hổ phách, thứ màu sắc thường thấy sơn phết, trang hoàng nơi đây. Trên xe, anh giải thích cho chúng tôi ý nghĩa tam sắc của quốc kỳ Ấn-độ: màu vàng nghệ biểu tượng cho Ấn-độ giáo, màu trắng cho Phật giáo và màu xanh lục cho Hồi giáo, và chính giữa là pháp luân.</p>
<p>(Kiểm soát lại tin mạng, tôi tìm thấy nhiều cách giải thích khác nhau. Tôi xin phỏng dịch cách giải thích của vị tổng thống Ấn-độ thứ nhì, S. Radhakrishnan (1888-1975), như sau <a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_edn1" name="_ednref1">[1]</a>: <em>Bhagwa hay là màu vàng nghệ biểu tượng cho đức tính thanh liêm <a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_edn2" name="_ednref2"><strong>[2]</strong></a>. Các vị lãnh đạo của chúng ta phải biết thờ ơ với lợi lộc vật chất và hiến mình cho bổn phận. Màu trắng ở giữa là ánh sáng, là con đường chân lý dẫn dắt tư cách chúng ta. Màu xanh lục chỉ mối tương quan giữa chúng ta với đất đai, với cỏ cây, là những thứ mà tất cả sinh vật đều lệ thuộc. Vòng quay Ashoka ở tâm điểm màu trắng là bánh xe giới luật của pháp. Chân lý hay là Satya, Dharma hay là phẩm hạnh phải là nguyên tắc cho những ai phục vụ dưới lá quốc kỳ này. Bánh xe còn có nghĩa tính động. Trong sự trì trệ tiềm tàng cái chết. Trong tính động là sự sống. Ấn-độ không nên cưỡng lại những thay đổi nữa, mà phải chuyển mình và tiến tới. Vòng luân xa tượng trưng cho động lực của những biến chuyển ôn hoà.</em>)</p>
<p>Đoạn đường ước chừng 250 cây số từ phi trường Tân Đề-li tới Mandawa bằng xe buýt vào một đầu ngày tiết trời nắng ráo. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt tôi trên đất Ấn là luật lệ giao thông bên trái. Ðường sá thủ đô náo nhiệt với nhiều xe gắn máy. Kèn bấm inh ỏi. Ở những trạm đèn lưu thông vắng mặt cảnh sát công lộ, xe và người thản nhiên vượt đèn đỏ. Hai lề đường, có chỗ đầy rác. Và, lạ chưa, thỉnh thoảng lại thấy đàn ông đứng xoay lưng, vạch quần tiểu tiện ven đường, một thói tục quen thuộc trong đường phố Sài gòn thuở trước, lâu lắm mới thấy lại.</p>
<p>Đường đi Mandawa hẹp, hư hao lỗ chỗ, nối liền nhiều làng mạc xơ xác, băng ngang những thị trấn đang giờ họp chợ, tấp nập kẻ bán người mua. Những quán xá, cửa tiệm san sát hai bên đường. Quán ăn chay, tiệm bán điện thoại bỏ túi, cửa hiệu tạp hoá, … Có cả &quot;tiệm&quot; hớt tóc lộ thiên một ghế, một bàn, một tấm kiếng treo tường hay đóng vào cội bồ đề, tàn lá xum xuê. Trẻ con vây quanh xe bán nước ngọt, xe chiên bánh tiêu Ấn-độ. Sạp hoa, trái cây, rau củ lấn ra mặt lộ. Thấy bày bán cam, chuối, táo, bưởi, nhiều mãng cầu ta (na) và một loại củ trông lạ mắt. Hỏi anh hướng dẫn viên, anh nói đó là củ năng Ấn-độ. Tôi mua ăn thử, thấy cũng… vui miệng. Tôi cũng mua vài trái mãng cầu ta, nhưng có lẽ nhằm loại không đạt tiêu chuẩn, vì thấy thịt mỏng, không dai và nhiều hột.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/2.-Mt-sp-bn-c-nng-n-1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="2.-Mt-sp-bn-c-nng-n-1" border="0" alt="2.-Mt-sp-bn-c-nng-n-1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/2.-Mt-sp-bn-c-nng-n-1_thumb.jpg" width="267" height="355" /></a></p>
<p align="center">Một sạp bán củ năng Ấn độ</p>
<p>Anh hướng dẫn viên quảng cáo bánh Naan, một trong nhiều loại bánh nướng Ấn-độ làm bằng bột mì, ăn kèm với xúp hoặc các món có nước sốt sền sệt nêm nhiều gia vị đặc thù nghệ thuật ẩm thực Ấn-độ.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/3.-Xe-bn-bnh-tiu-n-.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="3.-Xe-bn-bnh-tiu-n-" border="0" alt="3.-Xe-bn-bnh-tiu-n-" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/3.-Xe-bn-bnh-tiu-n-_thumb.jpg" width="347" height="261" /></a></p>
<p align="center">Xe bán bánh tiêu Ấn độ</p>
<p>Cảnh tượng nhắc tôi nhớ về quê nhà. Nhưng nơi đây có nhiều điểm khác. Đa số người Ấn có nước da nâu sẫm. Đàn ông phần đông vận âu phục, nhưng cũng không ít người lớn tuổi mặc quốc phục trắng với quần Dhoti thắt đáy, vấn thắt lưng và áo Kurta, một kiểu sơ-mi không cổ áo. Đàn bà quấn váy Sari, áo chẽn Choli với khăn voan trùm đầu, hoặc để những người đã có gia đình dùng che mặt khi gặp người lạ khác phái. Y phục phụ nữ Ấn màu mè sặc sỡ. Có thể nói, họ chuộng vải vóc loại mỏng nhẹ, màu sắc loè loẹt, thêu hoa, viền đăng-ten, dệt chỉ vàng chỉ bạc lấp lánh. Ngay cả phụ nữ bán hàng, làm đường, chăn thú, làm rẫy cũng mặc loại áo quần như vậy,</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/4.-Ph-n-bn-hoa-thn-qu.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="4.-Ph-n-bn-hoa-thn-qu" border="0" alt="4.-Ph-n-bn-hoa-thn-qu" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/4.-Ph-n-bn-hoa-thn-qu_thumb.jpg" width="402" height="302" /></a></p>
<p align="center">Phụ nữ bán hoa ở thôn quê</p>
<p>&#160;</p>
<p>có điều không được tươm tất như phụ nữ thành thị dưới đây.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Ph-n-thnh-th.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Ph-n-thnh-th" border="0" alt="Ph-n-thnh-th" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Ph-n-thnh-th_thumb.jpg" width="417" height="328" /></a></p>
<p>Và thú vật sinh hoạt chung đụng ngoài đường phố với người: bò, lừa, chó và chim bồ câu. Thỉnh thoảng lại kẹt xe, vì có người chăn thú đang xua một bầy dê, cừu hay bò nghênh ngang qua phố. An nhiên tự tại nhất là bò, một trong vài giống thú được đa số dân Ấn theo Ấn-độ giáo coi là linh thiêng. Kinh Vệ-đà ghi lại, bò là hiện thân của thần nữ Prithivi Mata tượng trưng cho đất. Sữa bò dùng làm thức uống, bơ Ghee, phân bò phơi khô làm chất đốt, thậm chí nước tiểu bò còn được dùng làm dược phẩm trong y học cổ truyền Ayurveda. Nhưng xẻ thịt để &quot;bồi dưỡng&quot; cho hơn 1 tỷ 200 triệu miệng ăn, tuyệt đối không. Theo lời anh hướng dẫn viên, chỉ có bò đực mới bị bắt lao động, chứ bò cái được nuôi chỉ để vắt sữa và thường được chủ thả rông đi ăn chực, ăn xin tại các buổi chợ phiên, hay ăn mót các đống rác, coi như một công giải quyết được hai chuyện. Ngoài ra, có cả &quot;viện dưỡng lão&quot; cho bò già và bò bệnh, được các nhà hảo tâm quyên tiền xây cất, nuôi nấng cho tới cuối đời.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/B-i-n-chc-trong-ch-phin.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="B-i-n-chc-trong-ch-phin" border="0" alt="B-i-n-chc-trong-ch-phin" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/B-i-n-chc-trong-ch-phin_thumb.jpg" width="402" height="323" /></a></p>
<p align="center">Bò đi ăn chực trong chợ phiên</p>
<p>Có thể nói, Ấn-độ là thánh địa cho muông thú. Rất nhiều giống thú được dân Ấn thánh hoá: Thần Hanuman là hoá thân khỉ, thần Ganesha là voi (thường đồng hành với chuột), và bò, hổ, rắn, chim công, lạc đà … Mỗi loài biểu tượng cho một thánh tích, là hoá thân hoặc được coi như linh thú thân cận với một vị thánh trong Ấn-độ giáo.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Bo-h-ho-tranh-thn-Ganescha-v-chut-nht-biu-tng-cho-s-sung-tc.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Bo-h-ho-tranh-thn-Ganescha-v-chut-nht-biu-tng-cho-s-sung-tc" border="0" alt="Bo-h-ho-tranh-thn-Ganescha-v-chut-nht-biu-tng-cho-s-sung-tc" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Bo-h-ho-tranh-thn-Ganescha-v-chut-nht-biu-tng-cho-s-sung-tc_thumb.jpg" width="304" height="399" /></a></p>
<p align="center">Báo hỷ hôn lễ hoạ tranh thần Ganescha và chuột nhắt, biểu tượng cho sự sung túc</p>
<p>Tại Deshnoke có đền Karni Mata thờ chuột. Karni Mata là hậu thân của nữ thần Durga, một trong vô số thần thánh trong thần thoại Ấn-độ giáo, biểu tượng cho tính hoàn hảo, tri thức và nhiều phẩm hạnh khác. Anh hướng dẫn viên du lịch thuật chuyện, vào thế kỷ thứ 14 và 15 Karni Mata thuở sinh thời được một vương gia ở thành phố Bikaner sùng bái xem như thần hộ trì. Theo truyền thuyết, bà được một đại vương, Maharadscha, nhờ làm phép hoàn sinh cho người con trai nối dõi vừa qua đời. Trong cơn đồng thiếp, bà thỉnh cầu tử thần Yama trao trả sự sống cho đứa trẻ. Ngài phán, ngài không thể làm chuyện đó được, vì linh hồn của đứa trẻ đã được đầu thai kiếp khác. Thất vọng, Karni Mata thể nguyện, sẽ làm phép không cho một ai trong bộ tộc bà sau khi chết bước vào cõi tử của Yama, mà tất cả sẽ đầu thai làm chuột. Sau kiếp chuột, họ sẽ hoá thân làm Charans (thi sĩ hoặc ca sĩ) để bảo tồn cho giới này tại Rajasthan.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Cng-vo-n-chut-Karni-Mata-Deshnoke.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Cng-vo-n-chut-Karni-Mata-Deshnoke" border="0" alt="Cng-vo-n-chut-Karni-Mata-Deshnoke" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/Cng-vo-n-chut-Karni-Mata-Deshnoke_thumb.jpg" width="427" height="321" /></a></p>
<p align="center">Cổng vào đền chuột Karni Mata ở Deshnoke</p>
<p>Chúng tôi viếng thăm đền chuột Karni Mata vào một sáng nắng ráo. Vào đền, phải cởi giày, mang bao chân. Dưới mái hiên, bên cổng chánh điện, chuột từng bầy đang dùng điểm tâm, bu quanh một thau ăm ắp sữa. Trong đền bốc nồng mùi xú uế chuột. Chốc chốc lại có người quét dọn. Ðiện thờ đang giờ hành lễ, treo bảng &quot;cấm chụp ảnh&quot;. Khách bản xứ đang dâng hương hoa bánh trái và được thầy cúng điểm son đỏ lên huệ nhãn ban phước lành. Chuột lớn chuột bé, chuột cha chuột con bò ngang dọc, tứ tung. Du khách phải thận trọng từng bước, vì nếu lỡ giẫm toi mạng một chú, không biết số phận sẽ ra sao. Nhưng có vẻ như chuột, vốn dĩ thông minh quỉ quái, biết rõ đâu là giang sơn của chúng và đâu là cấm địa, vì chẳng thấy chú nào vượt rào sắt, léo hánh ra lối đi dành cho khách thập phương.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/9.-Ba-n-sng-ca-chut-trong-n-Karni-Mata.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="9.-Ba-n-sng-ca-chut-trong-n-Karni-Mata" border="0" alt="9.-Ba-n-sng-ca-chut-trong-n-Karni-Mata" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/9.-Ba-n-sng-ca-chut-trong-n-Karni-Mata_thumb.jpg" width="427" height="321" /></a></p>
<p align="center">Bữa ăn sáng của chuột<strong> </strong>trong đền Karni Mata</p>
<p>Ngay cả các loại thú không được thần thánh hoá vẫn được dân Ấn coi trọng. Có những nơi trong phố, thấy bày bán ngũ cốc cho bồ câu.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/10.-B-trai-ri-mi-v-a-gin-vi-n-b-cu-Udaipur.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="10.-B-trai-ri-mi-v-a-gin-vi-n-b-cu-Udaipur" border="0" alt="10.-B-trai-ri-mi-v-a-gin-vi-n-b-cu-Udaipur" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/10.-B-trai-ri-mi-v-a-gin-vi-n-b-cu-Udaipur_thumb.jpg" width="427" height="321" /></a></p>
<p align="center">Bé trai rải mồi và đùa giỡn với đàn bồ câu ở Udaipur</p>
<p>Trong các đền đài, khách bón mồi cho sóc. Dơi ngủ ngày sắp lớp dưới mái các cổng thành. Chim én, chim sẻ và két xây tổ, liệng đàn loen loét khắp nơi. Quạ, ó và kên kên lượn lờ trên đỉnh trời cổ thành, bói tìm xác thú.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/11.-Khch-bn-mi-cho-sc-rn.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="11.-Khch-bn-mi-cho-sc-rn" border="0" alt="11.-Khch-bn-mi-cho-sc-rn" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/11.-Khch-bn-mi-cho-sc-rn_thumb.jpg" width="402" height="302" /></a></p>
<p align="center">Khách bón mồi cho sóc rằn</p>
<p>Địa điểm du ngoạn đầu tiên là Mandawa, một thị trấn nhỏ nằm cạnh sa mạc Thar, giáp ranh Hồi quốc. Nơi đây thấy ít bò, nhưng nhiều lạc đà một bướu. Mandawa, một thời, là một trong những giao điểm thương mại sầm uất nằm trên &quot;lộ trình Tơ Lụa&quot; nối liền Trung Đông với Trung hoa vào thế kỷ 2 trước Công nguyên. Tàn tích của thời kỳ giao thương phồn thịnh này là những dinh thự của các thương gia vừa là nhà ở vừa là hiệu buôn với kiểu kiến trúc đặc thù và những bích hoạ Havelis.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/12.-Bch-ho-v-thn-Hanuman-Mandawa.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="12.-Bch-ho-v-thn-Hanuman-Mandawa" border="0" alt="12.-Bch-ho-v-thn-Hanuman-Mandawa" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/12.-Bch-ho-v-thn-Hanuman-Mandawa_thumb.jpg" width="302" height="402" /></a></p>
<p align="center">Bích hoạ vẽ thần Hanuman ở Mandawa</p>
<p>Nhiều bức tinh xảo hoạ Hanuman cưỡi voi, một vị thần mang cốt khỉ trong truyền thuyết Ấn-độ giáo. Thần Hanuman này không bà con thân thích gì với Tề Thiên đại thánh trong thần thoại Trung hoa <em>&quot;Tây du ký&quot;</em> được lưu truyền rộng rãi ở Việt nam; và có vẻ như hoàn toàn xa lạ với dân Ấn, vì khi tôi hỏi anh hướng dẫn viên về chi tiết này, anh không biết gì cả.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/13.-Ca-khc-hoa-vn-v-du-vt-bch-ho-Mandawa.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="13.-Ca-khc-hoa-vn-v-du-vt-bch-ho-Mandawa" border="0" alt="13.-Ca-khc-hoa-vn-v-du-vt-bch-ho-Mandawa" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/13.-Ca-khc-hoa-vn-v-du-vt-bch-ho-Mandawa_thumb.jpg" width="306" height="397" /></a></p>
<p align="center">Cửa khắc hoa văn và dấu vết bích hoạ ở Mandawa</p>
<p>Ðược dân Ấn tôn kính hơn cả là thần voi Ganesha. Hội hè đình đám nào cũng phải được vị thần này chứng giám mới nên chuyện, hoặc sống hay chỉ là tranh tượng bày trên kệ thờ. Một lễ cưới sang trọng phải có voi, lạc đà, xe ngựa rước rể. Ở vùng đất &quot;dương thịnh âm suy&quot; này, phải nói &quot;đàn bà cưới chồng&quot; mới đúng. Vì vậy mà sinh chuyện sát sinh. Theo thống kê năm 2011, tại Ấn- độ có tới 6 triệu vụ phá bào thai nữ <a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_edn3" name="_ednref3">[3]</a>. Nếu ở Trung cộng, phá bào thai nữ vì chính sách kế hoạch hoá gia đình &quot;một con&quot; và hủ tục &quot;trọng nam khinh nữ&quot; thì ở Ấn- độ, con gái là một gánh nặng tài chính cho những gia đình có lợi tức thấp. Ngay cả các phòng mạch bác sĩ sản khoa còn quảng cáo: <em>&quot;Thà bỏ ra 1.000</em> (khoảng 15,00 €)<em> Rupees để thử nghiệm phái tính bào thai còn hơn phải tốn 100.000 Rupees cho một hôn lễ.&quot; </em><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_edn4" name="_ednref4">[4]</a> Những tệ trạng xã hội tế nhị này, anh hướng dẫn viên du lịch không đả động tới. Anh chỉ tâm sự, vì bất đồng tôn giáo, anh được vợ cưới tới hai lần, và thầy cúng Bà-la-môn thuộc giai cấp Brahmane, đẳng cấp cao quí nhất trong Ấn-độ giáo, bảo phải làm vậy mới yên bề gia thất về sau. Anh kể, Ấn-độ giáo là một hệ tín ngưỡng với những giới luật phân chia đẳng cấp rặt ròi. Con người được tái sinh làm tín đồ Ấn-độ giáo, cho tới mãn kiếp. Người khác tín ngưỡng không thể cải đạo để theo tôn giáo này. Vì lẽ này, Ấn-độ giáo khó lòng phát triển rộng rãi, và có lẽ sẽ mãi mãi là một đặc ân của hoá công dành cho dân tộc Ấn.</p>
<p>Đó là chưa kể tới tục lệ tuẫn táng bằng cách hoả thiêu người vợ theo xác chồng theo truyền thống Ấn-độ giáo, để chứng tỏ lòng chung thuỷ và tính phục tòng tuyệt đối. Đặc biệt trong trường hợp các vương gia tử trận, hành động tự thiêu của các thê thiếp cũng là cách để khỏi sa vào bàn tay… nhơ nhuốc của giặc. Trước khi lên giàn hoả, theo lời anh hướng dẫn viên, họ để lại dấu bàn tay trên tường thành cho hậu thế ngưỡng bái, và được phép sử dụng cần sa để bớt đau đớn. Tập tục này khiến tôi nhớ lại, sử sách nước nhà có ghi chuyện Huyền Trân Công Chúa đời trước được tướng quân Trần Khắc Chung cứu thoát cảnh tuẫn táng theo Chiêm vương Chế Mân, đưa về Đại Việt bằng đường thuỷ. Chèo chống kiểu gì không biết, cà rịch cà tang cho tới năm sau mới ghé bến kinh thành. Lúc đó, có lẽ goá phụ Huyền Trân đã một bụng chè bè, khó lòng chối cãi chuyện tư tình trăng mật với Trần tướng quân suốt chuyến hải hành đạt kỷ lục lâu nhất lịch sử này.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/14.-Du-tch-bn-tay-cc-th-thip-trn-tng-cng-thnh-Junagadh-Bikaner-trc-khi-ln-gin-ho.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="14.-Du-tch-bn-tay-cc-th-thip-trn-tng-cng-thnh-Junagadh-Bikaner-trc-khi-ln-gin-ho" border="0" alt="14.-Du-tch-bn-tay-cc-th-thip-trn-tng-cng-thnh-Junagadh-Bikaner-trc-khi-ln-gin-ho" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/14.-Du-tch-bn-tay-cc-th-thip-trn-tng-cng-thnh-Junagadh-Bikaner-trc-khi-ln-gin-ho_thumb.jpg" width="597" height="324" /></a></p>
<p align="center">Dấu tích bàn tay các thê thiếp trên tường cổng thành Junagadh ở Bikaner trước khi lên giàn hoả</p>
<p align="center">*</p>
<p>Sa mạc Thar trải rộng từ tây bắc Ấn qua tới Hồi quốc. Một chiều tà, chúng tôi được hướng dẫn đi cưỡi lạc đà. Ðồi cát mênh mông. Dưa dại mọc hoang, đơm trái vàng nõn. Tôi cưỡi một chú lạc đà tên gọi &quot;Ya-đô&quot;. Lúc nghỉ chân trên đồi cát, chúng tôi được uống rượu Rum Ấn-độ, ngắm cảnh hoàng hôn. Như có hẹn trước, một nhóm vũ công nghiệp dư cùng bầu đoàn thê tử tới giúp vui văn nghệ kiếm tiền chạy gạo. Ngay cả trẻ con còn bồng trên tay cũng được điểm son huệ nhãn, vẽ mắt tô son đậm nét. Nắng hoàng hôn sẫm lại, tưới sắc vàng nghệ lên chập chùng biển cát. Bận về là một màn đua lạc đà hào hứng giữa &quot;Ya-đô&quot; và một chú lạc đà khác. &quot;Ya-đô&quot; của tôi về nhì, bởi lẽ ông chăn đã trọng tuổi không địch lại anh chăn trai tơ sung sức kéo chú lạc đà kia.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/15.-Ngi-v-th-ngh-chn-ngm-hong-hn-trong-sa-mc-Thar.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="15.-Ngi-v-th-ngh-chn-ngm-hong-hn-trong-sa-mc-Thar" border="0" alt="15.-Ngi-v-th-ngh-chn-ngm-hong-hn-trong-sa-mc-Thar" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/15.-Ngi-v-th-ngh-chn-ngm-hong-hn-trong-sa-mc-Thar_thumb.jpg" width="452" height="340" /></a></p>
<p align="center">Người và thú nghỉ chân ngắm hoàng hôn trong sa mạc Thar</p>
<p>Tiếp theo là chương trình giúp vui văn nghệ. Trong ban vũ ba người, nữ vũ công chính cao lớn hơn cả, có diện mạo sắc cạnh, trang điểm đậm nét. Tuy dáng dấp thô tháp, nhưng &quot;cô&quot; múa may điệu đà, uyển chuyển vô cùng điệu nghệ. Sau đó anh hướng dẫn viên cho biết, nữ vũ công ấy thuộc giới Hijra là những người có &quot;phái tính thứ ba&quot;. Họ là những kẻ có bộ phận sinh dục &quot;lưỡng phái&quot;; hoặc có bản sắc nữ nhưng bị bà mụ nắn lộn giống, sinh nhằm nam nhân. Những ai lỡ sinh ra là Hijra đều bị gia đình ruồng bỏ, xã hội bạc đãi. Vì vậy họ phải kết đoàn để sinh tồn (có cả một đạo sĩ Guru làm chủ tịch), sống bằng nghề múa hát dạo kiếm tiền thưởng trong các lễ cưới, tiệc mừng tân gia hay hạ sinh con trai. Thậm chí họ còn tới xin tiền những đám ma chay cho trẻ con, khấn nguyện cho linh hồn đứa trẻ không phải đầu thai làm Hijra, bằng cách đập giày vào nhau như một hành động trừ tà ếm quỉ. Kiếm kế sinh nhai bằng những cách này không đủ, họ hành nghề mại dâm.</p>
<p><em>(Xin được ghi thêm ở đây, phái tính giới Hijra không liên quan gì tới bản sắc đồng tính luyến ái. Mặc dù kinh Vệ-đà có ghi chép nhiều thần thoại trực tiếp hay gián tiếp nhắc nhở tới vấn đề tình dục đồng tính, nhưng xã hội Ấn-độ hiện nay vẫn coi những liên hệ tình cảm này là chuyện phản thuần phong mỹ tục, mặc dù không còn bị luật pháp ngăn cấm như trước nữa. Những người có danh phận trong xã hội, một khi công khai hoá bản sắc đồng tình luyến ái của mình, phải nghĩ tới hậu quả. Đó là trường hợp của Manvendra Singh Gohil, công tử một hoàng thân Maharadscha ở tiểu bang Rajpipla </em><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_edn5" name="_ednref5">[5]</a><em>. Sau khi coming out, ông bị gia đình khai từ, truất quyền thừa kế, công chúng phẫn nộ biểu tình hoả thiêu hình ảnh ông. Dù sao, cảnh ngộ gia đình này sau đó được kết thúc có hậu, một happy end, sau lời tuyên bố của đại vương, rằng ông phản ứng như vậy chỉ vì áp lực của thân nhân và bằng hữu. Hoặc như trường hợp của nam tài tử điện ảnh Bolywood Yuvraaj Parasher, chỉ vì đóng một phim có nội dung đồng tình luyến ái, mà anh bị cha mẹ công bố từ bỏ </em><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_edn6" name="_ednref6">[6]</a><em>.)</em></p>
<p><em></em></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/16.-Mt-v-cng-thuc-gii-Hijra-trong-v-khc-hoa-ng.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="16.-Mt-v-cng-thuc-gii-Hijra-trong-v-khc-hoa-ng" border="0" alt="16.-Mt-v-cng-thuc-gii-Hijra-trong-v-khc-hoa-ng" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/16.-Mt-v-cng-thuc-gii-Hijra-trong-v-khc-hoa-ng_thumb.jpg" width="477" height="358" /></a></p>
<p align="center">Một vũ công thuộc giới Hijra trong vũ khúc hoa đăng</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>(Còn tiếp một kỳ)</p>
<hr size="1" />
<p><strong><u>Chú thích</u></strong>:</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_ednref1" name="_edn1">[1]</a> <a href="http://de.wikipedia.org/wiki/Flagge_Indiens">http://de.wikipedia.org/wiki/Flagge_Indiens</a></p>
<p><em>&quot;Bhagwa oder <a href="http://de.wikipedia.org/wiki/Safran">Safran</a> steht für Entsagung und Distanziertheit. Unsere Führer müssen materiellem Gewinn gleichgültig gegenüberstehen und sich ihrer Aufgabe hingeben. Das Weiß im Zentrum ist das Licht, der Weg der Wahrheit, der unser Verhalten leiten soll. Das Grün zeigt unsere Beziehung zur Erde, unsere Beziehung zum Leben der Pflanzen, von dem alles weitere Leben abhängig ist. Das Ashoka-Rad im Zentrum des Weiß ist das Rad des Gesetzes des <a href="http://de.wikipedia.org/wiki/Dharma">Dharma</a>. Wahrheit oder <a href="http://de.wikipedia.org/wiki/Yama#2._Satya">Satya</a>, Dharma oder Tugendhaftigkeit sollen die Prinzipien jener sein, die unter dieser Flagge arbeiten. Das Rad steht auch für Bewegung. In der Stagnation liegt der Tod. In der Bewegung ist Leben. Indien sollte Veränderungen nicht mehr widerstehen, es muss sich bewegen und vorwärts gehen. Das Rad repräsentiert die Dynamik friedlicher Veränderungen.&quot;</em></p>
<p><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_ednref2" name="_edn2">[2]</a> <em>&quot;Entsagung und</em> <em>Distanziertheit&quot;</em>: khước từ và giữ khoảng cách (nghĩa đen) trước những cám dỗ vật chất (nghĩa bóng).</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_ednref3" name="_edn3">[3]</a> http://www.spiegel.de/panorama/gesellschaft/0,1518,772246,00.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_ednref4" name="_edn4">[4]</a> http://www.change-culture.com/abtreibung.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_ednref5" name="_edn5">[5]</a> http://www.spiegel.de/panorama/gesellschaft/0,1518,457626,00.html</p>
<p><a href="file:///C:/Users/Danny/AppData/Local/Microsoft/Windows/Temporary Internet Files/Content.IE5/2NI3PBGK/#_ednref6" name="_edn6">[6]</a> http://www.queer.de/detail.php?article_id=12809</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23529/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vụn vặt v&#224;i từ kh&#225;c biệt Bắc-Nam về hoa quả</title>
		<link>http://damau.org/archives/20802</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20802#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 21 Jul 2011 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ngô Nguyên Dũng</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tạp văn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20802</guid>
		<description><![CDATA["Mẫu đơn quái quỉ gì mà tí tẹo, lại còn đơm từng chùm? Không thấy mẫu đơn của… người ta toác hoác như cái chén ăn cơm thế kia sao?" Sau đó chúng tôi "trao đổi ý kiến" qua lại, xém chút cãi nhau mà cuối cùng vẫn không "nhất trí" về một mẫu số chung cho cái gọi là "hoa mẫu đơn".]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/maudon1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="maudon1" border="0" alt="maudon1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/maudon1_thumb.jpg" width="176" height="136" /></a> </p>
<p>Mẫu đơn <a href="#_edn1" name="_ednref1">[1]</a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Bạn tôi nguyên là &quot;công nhân hợp tác lao động&quot; đi từ đất Bắc, hiện cư ngụ tại Dresden. Nhân có lần tôi đến đó tham dự buổi họp mặt thường niên của Trung tâm Văn bút Lưu vong <i>(Exil P.E.N., Zentrum der Schriftstellerinnen und Schriftsteller im Exil deutschsprachiger Länder)</i>, tôi ghé thăm cô.</p>
<p>Hạ tuần tháng năm, mùa hoa đỗ quyên sắp tàn, hoa mẫu đơn đang độ khoe sắc. Một lần đi dạo chung, tôi chỉ cô một bụi cây rực rỡ hoa đỏ trong vườn người lạ, tấm tắc:</p>
<p>- C. xem, bụi hoa mẫu đơn kia đẹp quá!</p>
<p>Bạn tôi chau mày:</p>
<p>- Hoa này mà là hoa mẫu đơn à?</p>
<p>- Chứ là hoa gì?</p>
<p>- Mẫu đơn ở ngoài em khác, hoa tí tẹo, đơm từng chùm kia.</p>
<p>Tôi ngạc nhiên và thắc mắc quá đỗi, thầm hỏi: &quot;Mẫu đơn quái quỉ gì mà tí tẹo, lại còn đơm từng chùm? Không thấy mẫu đơn của… người ta toác hoác như cái chén ăn cơm thế kia sao?&quot; Sau đó chúng tôi &quot;trao đổi ý kiến&quot; qua lại, xém chút cãi nhau mà cuối cùng vẫn không &quot;nhất trí&quot; về một mẫu số chung cho cái gọi là &quot;hoa mẫu đơn&quot;.</p>
<p>Sau đó về nhà, ngẫm lại, tôi chạnh nghĩ: &quot;Hay là ở xứ Bắc người ta gọi <i>bông trang</i> là <i>hoa mẫu đơn</i>?&quot; Chui vào tin mạng tìm tòi, thì y như rằng:</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/maudonhongphan.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="maudonhongphan" border="0" alt="maudonhongphan" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/maudonhongphan_thumb.jpg" width="154" height="154" /></a></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p>Mẫu đơn hồng phấn <a href="#_edn2" name="_ednref2">[2]</a></p>
<p><i></i></p>
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>&#160;</td>
</tr>
<tr>
<td>&nbsp;</td>
<td width="174">
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/maudoncam3.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="maudoncam3" border="0" alt="maudoncam3" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/maudoncam3_thumb.jpg" width="155" height="117" /></a></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Trang cam (Nam) / Mẫu đơn cam (Bắc) <a href="#_edn3" name="_ednref3">[3]</a><strong> </strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p>Làm sao tôi quên được những bụi bông trang trong vườn nhà ngoại nằm cạnh con sông đục lờ phù sa, bùn non nhão nhoẹt lúc nước ròng, nơi làng Phước Hậu, đất Vĩnh Long thuở xa xưa ấy. Một cây mít cổ thụ che tàn ẩm mát cạnh lối đi lót gạch tàu. Nhiều bụi trang đơm bông mũm mĩm. Trang là loại cây kiểng dân giả dễ bón quén, thường được người miền Nam trồng trong vườn nhà, vừa để làm cảnh vừa để dâng bông cúng Phật. Sắc bông trang đa dạng: từ trắng sữa, vàng lưu huỳnh, vàng kim, cam nghệ, hường phấn, đỏ lựu, đến tím phớt; cánh hoa mũm mĩm, ửng sắc lóng lánh như ngậm sương mai.</p>
<p>Cảnh vườn và ngôi nhà ngoại đã được tôi văn vẻ kể lại trong truyện ngắn <i>&quot;Mưa phấn&quot;</i> <a href="#_edn4" name="_ednref4">[4]</a>:</p>
<p><i>&quot;&#8230; Cũng có thể đó là ánh sáng toả ra từ mấy chân đèn cầy hình chim hạc trên trang thờ, từ khói hương trầm mặc của lư đồng, từ chiếc bình cắm bông trang màu gạch cua, từ lời kinh tiếng mõ vừa trầm trầm lê thê vừa trong trẻo nhọn hoắt, như âm dội của mũi tên sắt lao vào tấm chiêng đồng &#8230;&quot; </i></p>
<p>Liên quan tới <i>bông trang</i>, nam nữ phương Nam có câu hò đối như sau:</p>
<p>Nữ gợi ý:</p>
<p><i>&quot;Hò ơ&#8230; (chớ)&#8230; Biết anh thích mắm cá trèn, </i></p>
<p><i>Nên em chịu khó&#8230; ờ. </i></p>
<p><i>Hò ơ&#8230; (chớ)&#8230; Nên em chịu khó bẻ thêm đọt xoài.&quot;</i></p>
<p>Nam đối:</p>
<p><i>&quot;Hò ơ&#8230;(chớ)&#8230; Chớ bông trang trước cửa, ai sửa bông trang vàng?</i></p>
<p><i>Ngày thời chuyện vãn&#8230; ờ. </i></p>
<p><i>Hò ơ&#8230; (chớ)&#8230; Ngày thời chuyện vãn, nên tối lại mơ màng thấy em.&quot; </i></p>
<p>Tôi còn sưu tầm được hai câu ca dao có cách dụng ngữ mỹ cảm lạ lùng, gờn gợn niềm chấp nhận số phận, dẫu tôi không thấu hiểu ẩn ý:</p>
<p><i>&quot;Gió đưa, gió đẩy bông trang.</i></p>
<p><i>Bông búp về nàng, bông nở về anh.&quot;</i></p>
<p>Cũng trong tin mạng, tôi đọc được một giai thoại về Từ Hy Thái hậu và hoa mẫu đơn như sau:</p>
<p><i>&quot;Trong cung Di Hòa Viên, Trung Quốc có vườn hoa mẫu đơn. Mẫu đơn là &#8216;quốc hoa&#8217; của người Trung Quốc vì nó tượng trưng cho quyền quí, và là loài hoa mà Từ Hi Thái Hậu yêu quí nhất.</i></p>
<p><i>Nơi đây, đã từng xảy ra một câu chuyện vô cùng lãng mạn kiểu Từ Hi Thái Hậu – Tiểu Lan.</i></p>
<p><i>Sáng hôm ấy, Từ Hi Thái Hậu, sau khi tắm xong, chỉ khoác một tấm áo mỏng manh rồi đi dạo đến vườn hoa mẫu đơn. Theo sau nàng là chàng thái giám Lý Liên Anh, người nghệ sĩ tài hoa mà nàng yêu nhất trên đời. Giữa vườn mẫu đơn rộn ràng hương sắc, chợt một làn gió thổi qua làm bay đi tấm áo khoác mong manh trên người Thái Hậu. Chàng thái giám giật mình nhặt lấy tấm áo, cúi đầu dâng trả chủ nhân. Từ Hi Tiểu Lan cất giọng: </i></p>
<p><i>- Nhà ngươi đã nhìn thấy gì trong vườn hoa mẫu đơn đang lộng lẫy?.</i></p>
<p><i>Lý Liên Anh, không một phút chần chừ suy nghĩ, đã tâu: </i></p>
<p><i>- Thưa Thái Hậu, thần vừa nhìn thấy một đóa mẫu đơn màu đen đẹp nhất trong vườn mẫu đơn đầy hương sắc sáng nay.&quot;</i> <a href="#_edn5" name="_ednref5">[5]</a></p>
<p>Nhưng, cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa rõ tiếng Bắc gọi <i>mẫu đơn</i>, loài hoa vương giả đất Trung hoa, là hoa gì?</p>
<p>Suy tư lan man, tôi lại thắc mắc, không biết tại sao, đằng đẵng qua bao thế kỷ Nam tiến, cớ gì ngôn ngữ lại đổi thay nhiều lúc rốt ráo đến như vậy? Từ <i>hoa nhài</i> hoá thành <i>bông lài</i>, thôi thì cứ cho rằng vì&#8230; ngọng mà ra. Nhưng từ <i>hoa mẫu đơn </i>thành <i>bông </i>trang, hoặc <i>hoa đại</i> trở thành <i>bông sứ</i>, dường như hơi&#8230; bị kỳ cục. Ngôn ngữ cùng một chủng tộc không dưng rớt mất bản chất, biến dạng thành hai con đường sắt song hành theo nhau tới vô tận. Những khác biệt này, hẳn không phải tại ngọng hay kỵ huý kỵ hoét gì, mà có lẽ phát xuất từ hai nguồn ngôn ngữ khác nhau. Có phải chăng?</p>
<p>Dẫu xuất xứ từ đâu đi nữa, <i>nhài </i>cùng <i>đại</i>, <i>lài </i>với<i> sứ</i> cứ vậy mà chung sống cận kề. Ca dao miền Nam có hai câu sau đây biểu dương cá tính đàn ông, &quot;xử lý&quot; gọn bâng cả <i>sứ</i> lẫn <i>lài</i>:</p>
<p><i>&quot;Bông sứ cùng với bông lài,</i></p>
<p><i>Tui quyết bẻ hết, khỏi ai cằn nhằn.&quot; </i></p>
<p>Ngắn gọn về hoa, vụn vặt bàn qua quả. Một vài tên gọi Bắc-Nam cho cùng một loại trái cây đã bắt tôi đôi phen lúng túng.</p>
<p>Vào&#8230; thế kỷ trước, vườn nhà ấu thơ của tôi ở phố Tân Định có trồng hai cây mận đỏ, một chua một ngọt. Cây mận ngọt, còn được gọi là <i>mận hồng đào </i>hay<i> mận da người</i>, phóng túng đơm trái quanh năm suốt tháng. Cây mận chua cần kiệm, chỉ ra hoa kết trái vào mùa nắng. Tôi &quot;kết&quot; cây mận chua hơn, vì cho trái ngậm nước mơn mởn, giòn sậc, chấm muối ớt, ngon rịn mồi hôi.</p>
<p>Trong bài viết này, tôi không có ý bàn về hương vị các loại trái cây, mà chỉ muốn vụn vặt đôi điều về phương ngữ. Người Việt miền Nam kêu thứ cây trái trong ảnh dưới đây</p>
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>&#160;</td>
</tr>
<tr>
<td>&#160;</td>
<td width="176">
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/traimannam.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="traimannam" border="0" alt="traimannam" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/traimannam_thumb.jpg" width="157" height="119" /></a></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Trái mận (Nam) / Quả roi (Bắc) <a href="#_edn6" name="_ednref6">[6]</a></p>
<p>là <i>mận</i>, còn dân đất Bắc gọi là <i>roi</i>. Từ này, ở trong Nam, khi trẻ con nghe người lớn gằn giọng hỏi: &quot;Muốn ăn <i>roi</i> không thì nói?&quot;, là rúm người, lắc đầu nguây nguẩy.</p>
<p>Tiếng Bắc, <i>cây mận</i>,<i> quả mận</i> là loại thực vật chỉ thích hợp phong thổ cao nguyên Đà lạt, mà người Nam kêu là <i>táo</i>. Còn<i> táo</i>, theo tiếng Bắc lại là loại quả hình thù như thế này&#8230; này:</p>
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>&#160;</td>
</tr>
<tr>
<td>&#160;</td>
<td width="178">
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/bomtao.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="bomtao" border="0" alt="bomtao" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/bomtao_thumb.jpg" width="159" height="101" /></a></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Trái bôm (Nam) / Quả táo (Bắc) <a href="#_edn7" name="_ednref7">[7]</a></p>
<p>Giống cây trái này, thổ ngơi nhiệt đới phương Nam không có, nên người Nam mượn đỡ từ <i>pomme </i>của người Pháp, phát âm thành <i>trái bôm</i> (thỉnh thoảng thấy có người viết không dấu ^, là loại trái từng được nhập cảng từ Liên bang Sô-viết, Trung cộng và Hoa kỳ, mà dân Việt trong thời chiến tranh quốc cộng nếm mùi nhiều rồi, không thích ăn nữa).</p>
<p>Quả táo, theo Sáng thế ký, thuở khai thiên lập địa là thứ &quot;trái cấm&quot;, treo trên cành Tri thức trong vườn Địa đàng. Nàng Eva, nghe rắn Tội lỗi xúi giục, bất tuân lời răn của Thượng đế, đã cùng chàng Adam cắn thử một miếng, theo kiểu:</p>
<p><i>&quot;Ngày nào lòng tôi đã      <br /></i><i>biết vui biết buồn, ôm mối tương tư.      <br /></i><i>Ngày nào cánh Thiên Đường      <br /></i><i>đã mở hé tình yêu là trái táo thơm.      <br /></i><i>Tôi ghé răng cắn vào.      <br /></i><i>Miệng môi ngọt đắng, tình yêu cuối đường.      <br /></i><i>Là trối trăn cuối cùng,      <br /></i><i>giấc mơ não nùng vội tan.&quot;</i> <a href="#_edn8" name="_ednref8">[8]</a><i> </i><i></i></p>
<p>Ðể rồi chàng và nàng bị trục xuất ra vườn Địa đàng. Trong ý thức của hậu duệ Adam và Eva, &quot;trái cấm&quot; mang hình tượng quả táo, nhưng thật ra, đó là lỗi dịch thuật chữ <i>malum</i>, vừa có nghĩa &quot;ác tính&quot; vừa có nghĩa &quot;cây táo&quot;, từ tiếng La-tinh. <i>(Das gängige Bild vom Apfel als verbotener Paradiesfrucht beruht nicht auf der Bibel, sondern auf einer falschen Übersetzung des lateinischen Wortes malum, das sowohl &quot;böse&quot; als auch &quot;<a href="http://de.wikipedia.org/wiki/%C3%84pfel">Apfelbaum</a>&quot; bedeuten kann.)</i> <a href="#_edn9" name="_ednref9">[9]</a></p>
<p>Thực tế hơn, khoảng cuối thế kỷ 17, khoa học gia người Anh Isaac Newton, lúc ngồi suy tư chuyện thế sự bên gốc cây táo, bị một trái táo rơi nhằm ngay đầu. Thần trí bèn vỡ lẽ, xui ông khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn, khai phóng một loạt những phát minh cho ngành khoa học tự nhiên về sau.</p>
<p>Riêng dân miền Nam, mỗi khi nghe nói tới <i>trái táo</i>, nhiều người nghĩ ngay đến loại <i>táo ta</i>, là thứ trái tròn tròn nho nhỏ như vầy nè, quí vị ơi:</p>
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>&#160;</td>
</tr>
<tr>
<td>&#160;</td>
<td width="177">
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/taota.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="taota" border="0" alt="taota" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/taota_thumb.jpg" width="158" height="120" /></a></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Trái táo ta (Nam) / Quả … ? (Bắc) <a href="#_edn10" name="_ednref10">[10]</a></p>
<p>Loại trái chua chua ngọt ngọt, chấm với muối ớt này, hình như tiếng Bắc gọi là quả ô mai thì phải?</p>
<p>Có những loại cây trái bầu bạn thân thiết suốt thời ấu thơ và hoa niên tôi ở Sài gòn. Khẩu vị má tôi chuộng rau trái. Bản tính ba tôi ưa bôn ba phóng khoáng, sành điệu ăn uống, biết nhiều món ngon vật lạ. Anh chị em tôi, vì vậy, được và bị nếm đủ mùi thực vật cũng như động vật. Khẩu vị tôi gần với sở thích má: thích ăn rau trái. Mùa nào trái nấy. Nhưng chỉ có một vài loại trái cây được tôi đặc biệt chiếu cố: xoài, đu đủ, dưa hấu, sa-pô-chê và hầu hết các loại trái chua chấm muối ớt hay nước mắm đường như mận, cóc, ổi, me dốt, xoài tượng, &#8230; Thời tiểu học, tôi từng là bạn hàng thân thiết của á xẩm con có gương mặt bầu bĩnh, hai má đầy mụn, bán cóc, ổi, xoài tượng, đu đủ xanh ngâm nước cam thảo ở gần nhà. Vào những năm đầu trung học, ba tôi, sau khi đón anh và tôi ở Nguyễn Bá Tòng, cho xe tạt ngang trường Gia Long đón chị tôi. Trong khi chờ chị tan lớp, ba thường dẫn anh em tôi đi uống nước sinh tố trái cây. Tôi chỉ gọi quẩn quanh ba thứ: đu đủ, mít hay mãng cầu xiêm.</p>
<p><i>Trái mãng cầu</i>, miền Bắc gọi là <i>quả na</i>, có hai loại: mãng cầu ta (na ta) và mãng cầu xiêm (na xiêm) hay mãng cầu gai (na gai). Mãng cầu ta có loạt dai và loạt bở. Hạt na đen nhánh tựa sắc răng nhuộm khéo của đàn bà, con gái xứ Bắc trước đây, và cũng là đề tài châm chọc quí cô lỡ thì mà còn kén chọn, qua câu ca dao thâm thuý dưới đây:</p>
<p><i>&quot;Răng đen nhưng nhức hạt na,     <br /></i><i>Kén đi kén lại nó ra hạt bầu.&quot; <a href="#_edn11" name="_ednref11"><b>[11]</b></a></i></p>
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>&#160;</td>
</tr>
<tr>
<td>&#160;</td>
<td width="177">
<table cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/mangcauta.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="mangcauta" border="0" alt="mangcauta" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/mangcauta_thumb.jpg" width="158" height="120" /></a></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Trái mãng cầu ta (Nam) / Quả na ta (Bắc) <a href="#_edn12" name="_ednref12">[12]</a></p>
<p>Ở đây, mùa này, các cửa tiệm thực phẩm á châu đang bày bán xoài Hồi quốc. Cũng ngọt, cũng ngon đó, nhưng dường như thiếu hương nắng nhiệt đới của xoài cát quê nhà. Thỉnh thoảng thấy bán ổi, chôm chôm, măng cụt và đu đủ &quot;bay&quot; (<i>Flugpapaya</i>, chỉ loại đu đủ chín nhập cảng bằng đường hàng không) Thái lan, tôi mua về ăn thử. Thua xa lắc chôm chôm Long thành, măng cụt Lái thiêu, đu đủ miền Nam. Ăn để hồi tưởng. Ăn bằng khẩu vị của hoài niệm. Ăn để đặt nghi vấn về những danh gọi cây trái trong tiếng Việt. Không biết cha sinh mẹ đẻ ra chúng là ai, mà nhiều loại trái cây có tên cúng cơm nghe ngộ nghĩnh quá chừng: bòn bon, chôm chôm, đu đủ, sầu riêng, mãng cầu, măng cụt, v.v&#8230;.</p>
<p>Chúng, các loại trái cây kể trên, đã đồng hành theo tôi qua biết bao mưa nắng sắt se, cho tới lúc tôi rời quê hương. Xa nhưng không quên. Mà dường như thắm thiết hơn. Vì vị chua của mận của táo Đà lạt, vị ngọt lìm lịm của xoài, săn sắt của đu đủ, tha thiết của mít, vị mát khoảng khoái của dưa hấu được tẩm thêm hương liệu của nhung nhớ, của thương tưởng về những tháng năm đã bạt ngàn, những người thân yêu đã lìa xa. Nhưng, trong tâm tưởng tôi, tất cả đã đọng lại thành những hương vị đậm đà hoài niệm về một quãng thời gian cùng nơi chốn đã mờ khuất.</p>
<p>(Đức, tháng 7. 2011)</p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="#_ednref1" name="_edn1">[1]</a> <a href="http://dotrangtri.net/hoa-mau-don/9671.html">http://dotrangtri.net/hoa-mau-don/9671.html</a></p>
<p><a href="#_ednref2" name="_edn2">[2]</a> <a href="http://www.hoatuoidep.com/tu-van-hoa-tuoi/y-nghia-tang-hoa/358-y-nghia-cac-loai-hoa.html">http://www.hoatuoidep.com/tu-van-hoa-tuoi/y-nghia-tang-hoa/358-y-nghia-cac-loai-hoa.html</a></p>
<p><a href="#_ednref3" name="_edn3">[3]</a> <a href="http://www.botanyvn.com/cnt.asp?param=news&amp;newsid=661">http://www.botanyvn.com/cnt.asp?param=news&amp;newsid=661</a></p>
<p><a href="#_ednref4" name="_edn4">[4]</a> <i>&quot;Hòn còng lửa&quot;</i>, tr. 155, Văn Mới, California, U.S.A., 2002.</p>
<p><a href="#_ednref5" name="_edn5">[5]</a> <a href="http://nhatchimai.forumvi.net/t481-topic">http://nhatchimai.forumvi.net/t481-topic</a></p>
<p><a href="#_ednref6" name="_edn6">[6]</a> <a href="http://www.forvn.com/forums/viewtopic.php?id=6279">http://www.forvn.com/forums/viewtopic.php?id=6279</a></p>
<p><a href="#_ednref7" name="_edn7">[7]</a> <a href="http://bee.net.vn/channel/1982/201004/Qua-tao-uc-45000-dong-va-chuyen-tiet-kiem-1751204/">http://bee.net.vn/channel/1982/201004/Qua-tao-uc-45000-dong-va-chuyen-tiet-kiem-1751204/</a></p>
<p><a href="#_ednref8" name="_edn8">[8]</a> <i>&quot;Bao giờ biết tương tư&quot;</i>, nhạc và lời Phạm Duy &amp; Ngọc Chánh.</p>
<p><a href="#_ednref9" name="_edn9">[9]</a> <a href="http://de.wikipedia.org/wiki/Adam_und_Eva">http://de.wikipedia.org/wiki/Adam_und_Eva</a></p>
<p><a href="#_ednref10" name="_edn10">[10]</a> <a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A1o_ta">http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A1o_ta</a></p>
<p><a href="#_ednref11" name="_edn11">[11]</a> Các câu hò đối và ca dao trong bài viết này được tôi sưu tầm từ <a href="http://e-cadao.com/cadaosearch.asp">http://e-cadao.com/cadaosearch.asp</a></p>
<p><a href="#_ednref12" name="_edn12">[12]</a> <a href="http://www.tin247.com/mang_cau_va_cong_dung-10-56258.html">http://www.tin247.com/mang_cau_va_cong_dung-10-56258.html</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20802/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

