<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; McAmmond Nguyen Thi Tu</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/mcamondnguyenthitu/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Wed, 23 May 2012 13:21:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Kh&#244;ng Ai Y&#234;u Thương T&#244;i</title>
		<link>http://damau.org/archives/17574</link>
		<comments>http://damau.org/archives/17574#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 23 Dec 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>McAmmond Nguyen Thi Tu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/17574</guid>
		<description><![CDATA[Gã muốn nuôi mẹ, vì bố đã mất, các anh chị ai cũng yên bề gia thất. Nào ngờ sự có mặt của mẹ gã đã làm khổ gã thêm. Mẹ gã đấy ư! Sao không giống với sự trông đợi của gã. Gã đã không biết rằng mẹ gã có tính nói dai và hay xía vào đời tư của gã một cách sỗ sàng. Sự lắm điều của mẹ gã khiến gã phát điên.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160; </p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><i>“Không ai yêu thương tôi      <br /></i><i>ngoại trừ mẹ tôi      <br /></i><i>nhưng có thể bà cũng chỉ bỡn đùa thôi . . .”      <br /></i>(dịch từ bài hát Nobody Loves Me – B.B. King)     <br />&#160;</p>
<p><i></i></p>
<p>Ngày mẹ gã từ Việt Nam qua, gã dặn tên gã là Daniel. Gã tập cho mẹ gã phát âm cái tên Daniel. Gã bảo: Nói cho đúng, kẻo Tây người ta cười. Tây nào cười? Mẹ gã hỏi. Gã đáp: Thằng Henry chẳng hạn. Thằng Henry sống chung trong nhà với gã từ lâu, trước khi mẹ gã qua. Thế mà mẹ gã cứ quên, cứ gọi gã là Phúc. Gã khó chịu. Gã đã xóa sổ nó từ lâu. Bằng lái xe, bảo hiểm y tế, tài khoản ngân hàng của gã, chẳng chỗ nào còn cái tên Phúc. Cái tên mà người bên này nhìn vào hay đọc ra thành Phắc, lại còn giấu theo nụ cười tủm tỉm. Thoạt đầu gã không phản ứng. Bấy giờ gã mới tám tuổi, đến Canada như bước vào một hành tinh lạ, tiếng Anh lõm bõm nhờ mấy tháng sống trong trại tị nạn. Thế nên gọi Phúc hay Phắc, với gã chẳng nghĩa lý gì. Sau gã để ý mấy lần lũ trẻ trong trường tiến đến chỗ gã, một đứa hô “Phắc”, cả bọn té ra cười. Gã đứng thộn. Về nhà, Lucy đứa con gái của bố mẹ nuôi gã giải thích, gã té ngửa. Từ đó hễ nghe tên mình bị phát âm sai, gã trợn mắt chỉnh liền. Nhưng bọn trẻ trong trường không tha, thích lôi tên gã ra ghẹo. Gã căm cái tên Phúc. Phải chờ đến mười tám tuổi gã mới hóa vàng được cái tên cúng cơm oái oăm này. Đó là dịp gã thi nhập quốc tịch Canada, được phép đổi tên. Gã liền bỏ tên Phúc, dẹp luôn họ Trần, vứt cả chữ lót Văn. Đoạn tuyệt những thứ “trần văn”, “nguyễn thị” của đám di dân. Gã nắn nót xuống tờ đơn cái tên mới toanh gã ấp ủ suốt những năm trung học. Daniel Thompson! Thompson là lấy theo họ bố mẹ nuôi. Còn Daniel là lấy tên một đấng tiên tri trong thời Cựu Ước bị vua nghe kẻ xúc xiểm ném vào hang sư tử nhưng cuối cùng được cứu thoát bởi phép màu của Chúa.</p>
<p>Mẹ gã thì tiếc tên Phúc. “Phúc là bố mẹ đặt cho con lúc mới đẻ,” mẹ gã làu bàu. “Nhưng bây giờ con là Daniel, không Phúc nữa,” gã gắt lên. “Da-ni-el. Mẹ nghe chưa?” “Ừ thì Đa-nheo,” mẹ gã dằn dỗi. “Nhưng Đa-nheo thì hơn Phúc cái gì. Tên Phúc dễ đọc, lại có ý nghĩa.” Mẹ gã dông dài thêm về cái tên Phúc. Gã bỏ ngoài tai. Mẹ gã lái sang chuyện vợ con. Cái đề tài mẹ gã tra tấn gã gần như mỗi ngày từ hôm hai mẹ con đoàn tụ. “Qua năm là mày đã bốn mươi. Mẹ lo lắm. Nhà chỉ còn mình mày chưa đâu vào đâu. Mà sao thằng Henry cũng vậy, hai đứa mày cứ cà nhỏng chẳng thấy lo tính vợ con”. Mẹ gã thở dài. “Bằng tuổi mày tao đã chục đứa con, có cả cháu ngoại rồi… Phúc này… à… Đa-nheo…,” giọng mẹ gã chợt mềm lại. “Mẹ nghĩ đi nghĩ lại rồi. Mẹ thấy có con Đoan nhà ông Trùm Đương cùng giáo xứ mình bên đó là xứng với con. Công dung ngôn hạnh đủ hết. Con về cưới nó đi…” Trời. Gã cảm thấy nghẹt thở. Mẹ gã thao thao nói, nhiều từ nhiều câu gã không hiểu hết. Gã muốn hét lên, muốn tông cửa lao ra khỏi nhà. Mẹ gã lại động vào vết thương lòng sâu kín của gã. Ba tháng nay, từ lúc mẹ gã xuất hiện trong nhà, đầu óc gã mệt mỏi và căng thẳng. Gã muốn yên thân mà không được. Gã đã quyết định bỏ gia đình Thompson, trốn chạy khỏi cái nhà thờ Tin Lành nơi vùng quê ấy, dọn tới thành phố xa hơn cả ngàn cây số này những mong có một chốn nương náu bình yên. Rồi chuyện bảo lãnh mẹ gã, cũng do gã đổi tên Tây, giấy tờ bị trục trặc mất hơn năm năm mẹ gã mới qua được. Gã muốn nuôi mẹ, vì bố đã mất, các anh chị ai cũng yên bề gia thất. Nào ngờ sự có mặt của mẹ gã đã làm khổ gã thêm. Mẹ gã đấy ư! Sao không giống với sự trông đợi của gã. Gã đã không biết rằng mẹ gã có tính nói dai và hay xía vào đời tư của gã một cách sỗ sàng. Sự lắm điều của mẹ gã khiến gã phát điên. Gã quen kiểu đối xử tế nhị của ông bà Thompson. Gã muốn nạt cho mẹ gã im. Gã không chịu nổi. Đáng lẽ gã đừng đưa mẹ gã qua, đáng lẽ gã cứ tiếp tục cuộc hành trình cô lẻ trong đời như bấy lâu. Hơn ba chục năm qua, bắt đầu từ lúc gã là đứa bé thất lạc gia đình trong chuyến vượt đại dương sinh tử đến nay, gã tự mình bươn chải, tự mình chèo chống. Bao đêm nằm trong nhà Thompson, gã để mặc nước mắt chảy, gã nghĩ đến mái gia đình gã từng có ở một nơi gọi là Việt Nam. Gã từng có bố mẹ, ba anh trai sáu chị gái. Nhưng thật ra gã không nhớ ai chỉ nhớ mỗi mẹ gã. Gã mơ tưởng ngày sum họp.</p>
<p>Và bây giờ thì mẹ gã đang ngồi lù lù cả ngày trong nhà gã, sờ sờ trước mặt gã. Gã nuốt nước miếng, nghe thấm nhói trong ngực. Mẹ gã chẳng thể nào hiểu. Gã nhìn thấy giữa gã và người đàn bà đẻ ra gã là khoảng cách vời vợi.</p>
<p>Mày là ai? Gã tự hỏi. Gã khổ sở với câu hỏi thường xuyên leo nheo trong đầu gã. Nó lập đi lập lại từ hôm ấy. Bấy giờ gã đã rời gia đình Thompson và dọn lên thành phố Vancouver, nơi gã vừa mới kết thúc năm thứ ba đại học. Một buổi sáng mùa hè, gã đang đứng đón xe buýt đi làm, một người đàn ông da trắng từ đâu sấn tới: “Ê, thằng đầu đen. Cút mẹ về quê hương mày, <i>cock-sucking homo!</i>” Người đàn ông quát vào mặt gã, hơi rượu phà ra. Gã bất ngờ, nghẹn họng. Chung quanh im thít. Gã biết bao nhiêu ánh mắt đang nhìn vào gã. Thương hại. Soi mói. Căm ghét. Gã lủi lên xe buýt như con chim trúng đạn. Gã chết lặng suốt chặng đường đến chỗ làm. Mày là ai? Mày là ai? Điệp khúc vang trong đầu gã. Gã nghe như có tiếng cười khinh bỉ. Mày là thằng lại cái, thằng <i>gay</i>. Nhìn mày kìa. Ha ha! Mày tưởng mày giấu được. Nó rành rành ra đó. Đồ bệnh hoạn. Dơ dáy. Mày là ai? Mày là thằng đầu đen. Vừa đầu đen vừa <i>gay</i>. Thật tởm lợm. Mày tưởng mày giấu được. Tóc mày nhuộm màu hạt dẻ, nhưng nhìn mắt mày, mũi mày, miệng mày, da mày… Mày vẫn là một thằng châu Á mọi rợ. Nó rành rành ra đó. Mày nói mày tên Daniel Thompson? Luyên thuyên! Mày là Trần Văn Phúc. Đúng! Trần Văn Phúc. Đừng hòng chối. Gã lạnh nguời. Ông bà Thompson không muốn nhìn nhận mày. Người ta không muốn mày trong cộng đồng này. Người ta đang đuổi mày về quê hương. Nhưng quê hương mày đâu? Gã ê chề. Tự bao giờ trong tâm tưởng gã xứ Bắc Mỹ này là quê hương của gã. Gã lớn lên ở đây. Gã hít thở không khí ở đây. Gã nói tiếng Anh hoàn hảo. Gã ăn mặc như dân bản xứ. Tên gã không còn dấu vết những thứ “trần văn”, “nguyễn thị”. Ừ, thì gã được đẻ ra ở Việt Nam. Nhưng gã biết quái gì về Việt Nam. Gã còn chẳng nói được tiếng Việt nên hồn nữa là.</p>
<p>Ai không tin một đứa trẻ lúc rời quê hương đã tám tuổi, mà sau này lại có thể mất hoàn toàn tiếng mẹ đẻ của nó? Hỏi gã. Gã thề có Chúa, tiếng Việt gã mất hẳn từ ngày tháng năm nào gã không biết. Sau mười năm ra đi, gã trở về Việt Nam như kẻ vừa câm vừa điếc. Tại phi trường, gã hụ lên khóc. “Phúc. Trời ơi thằng Phúc đây!” Mẹ gã nhào tới. Gã không nói không nghe được. Mẹ gã anh chị gã ngơ ngác không chịu tin. Mười năm sống trong gia đình Thompson đã cướp sạch của gã tất cả vốn liếng tiếng Việt tám năm gã gầy dựng. Đám người hiếu kỳ vây quanh gã, khen gã đẹp trai như Tây, nói tiếng Anh cũng như Tây. Gã cao lều nghều không giống ai trong nhà, (mẹ gã nói tại ăn pho-mát uống sữa Tây), da trắng mịn như con gái, tóc hoe nâu, áo sơ mi xoàng xỉnh ngắn tay. Mọi người chết khiếp với chiếc quần <i>jeans </i>lửng lơ ngang đầu gối, gấu tua rua lởm chởm, lại có hai lỗ thủng to tướng đằng sau mông. <i>Fashion</i>! Gã nói, như đọc được ý mọi người. Trên đường về nhà, gã mắc tiểu, muốn xe dừng lại. Không ai hiểu gã nói gì, gã phải ôm bụng chịu trận. Chuyến đó gã về bốn tháng để học lại ngôn ngữ mà gã đã đánh mất. Ngày trở qua Canada, gã khôi phục được một mớ từ vựng, nói và nghe tạm tạm, nhưng cái giọng Việt Nam thì không còn lấy lại được. Mỗi lần gã mở miệng nói tiếng Việt, mấy chị của gã bụm miệng cười.</p>
<p>Ở vùng quê Westbridge gã là người Việt duy nhất, đến trường gã cũng là học sinh Á Châu duy nhất, gã đã lột xác để hoà nhập. Gã nhớ hôm tới phi trường thành phố Kelowna, ông bà Thompson cùng con gái Lucy ra đón. Một dàn phóng viên chờ sẵn, có cả người thông dịch. Gã nghệch ra vì sợ. Lần đầu gã nhìn thấy Tây. Cũng lần đầu gã hóa ra người quan trọng. Người ta giành nhau hỏi gã về cuộc hành trình bảy ngày đêm trên biển trước khi con thuyền nhỏ mang 128 con người đã kiệt sức vì đói khát dạt đến Ku-ku, một hòn đảo hẻo lánh ở Nam Dương. Người ta hỏi gã về bốn tháng ở trại tị nạn Ga-lăng, hỏi gã có nhớ bố mẹ anh chị còn bị kẹt lại ở Việt Nam, hỏi gã nghĩ gì về cuộc sống sắp tới trong một gia đình người Canada. Bà Thompson ôm hôn gã lúc người ta chớp máy ảnh lia lịa. Gã không nhớ người mẹ lam lũ của gã đã bao giờ ôm hôn gã như thế. Cũng lần đầu gã biết đến cái mùi thơm không tả nổi của người da trắng. Ông bà Thompson lái xe đưa gã về nhà. Gã ngơ ngác nhìn chốn ở mới của mình: một nông trại nuôi bò sữa rộng gần 200 héc-ta bên cạnh một con sông. Làng Westbridge vỏn vẹn ba chục gia đình. Mỗi nhà cách cả cây số. Hàng xóm tới coi mặt đứa bé tị nạn. Nhân viên y tế đến gặp gã. Chúa lòng lành! Bà y tá gần như rú lên. Đầu gã là một ổ chấy. Con nào con nấy úc núc đen trũi. Người ta cạo trọc gã, xịt thuốc lên đầu gã trước khi tẩy trùng khắp nhà. Con Lucy sợ không dám đến gần gã. Gã còn phải uống viên thuốc to như đồng xu để xổ cái bụng toàn giun sán của gã. Mấy tuần đầu, gã hay lánh trong phòng. Đến bữa gã ăn chiếu lệ. Gã không ăn nổi khoai tây hay phó-mát. Gã thèm mì gói, cơm chiên. Gã thèm mắm tép mẹ gã kho. Con Lucy mách mẹ nó mỗi lần nó rình thấy gã khóc. Bà Thompson nghi gã mắc chứng trầm cảm sau chuyến vượt biển thất lạc gia đình. Bà đưa gã đi nhà thương. Bác sĩ khuyến khích gã tham gia hoạt động ngoài trời. Đi học về, gã được ông Thompson cho tập cưỡi ngựa, phụ tưới rau, chẻ củi, vắt sữa bò. Cuối tuần thì đi nhà thờ học kinh thánh và tập cầu nguyện. Gã bớt ủ dột. Gã không còn khóc nhớ mẹ gã. Dần dần gã thấy ở đây vui hơn sướng hơn. Tuổi thơ ở Việt Nam lùi dần như những đám mây mù mờ trong ký ức. Gã chỉ nhớ láng máng căn nhà tranh bé xíu, chung quanh là mấy luống rau cải rau mùng tơi. Những chén cơm khi độn chuối khi độn ngô gã ăn mấy vẫn thấy mới lửng bụng. Tiếng chuông nhà thờ mỗi sớm mỗi chiều. Những trưa hè không có gì chơi gã bắt mấy con nhện trên trần nhà cho chúng đánh nhau. Gã nhớ gã thèm đi bắn bi hay bắt dế với thằng Công trong xóm, nhưng cứ ra khỏi nhà là về bị bố gã nện. Trong nhà, gã nhỏ nhất nên ăn đòn nhiều nhất. Có lần bố gã trói gã vào cột nhà rồi lấy dao cứa chân gã chảy máu cho chừa cái tội lẻn sang nhà ông Lãm coi phim Lý Tiểu Long chiếu trên truyền hình. Gã kinh hoàng, vừa đau vừa sợ chết. Về chuyện trường học thì gã chỉ nhớ bị mấy bà sơ véo sưng tai vì không thuộc kinh Lạy Cha và hay đọc trật bản cửu chương.</p>
<p>Quê nhà với gã là thế. Gã không thiết nhắc tới. Gã nhanh chóng quên dần những điều gã muốn quên và cần quên. Rồi bỗng chốc gã trở thành niềm kiêu hãnh của gia đình bố mẹ nuôi. Bà Thompson thương quý gã đến mức con Lucy phải ganh tị. Gã học giỏi, được học bổng mỗi năm. Thể thao thì môn nào gã cũng nổi bật, đến lớp 12 gã được vào đội tuyển hockey quốc gia. Gã lại có năng khiếu nấu nướng, gã trình bày thức ăn lên đĩa trông như một tác phẩm nghệ thuật. Gã đẹp trai, ăn mặc hợp thời trang, phong thái lịch lãm. Mỗi mùa hè đi làm ở các tiệm ăn gã luôn được tiền típ cao hơn đồng nghiệp. Con gái nhiều đứa bộc lộ cảm tình với gã. Gã không thích. Và đây là điều khốn nạn đeo đẳng suốt cuộc đời gã.</p>
<p>Từ khi có thể nhớ được, lúc gã mới sang Canada được hai ba năm gì đó, gã bắt đầu phát hiện sự bất thường trong cảm giác của mình. Trong lớp khi thầy cô chia nhóm học, gã tìm cách chui vào nhóm con trai. Gã tránh bọn con gái. Gã không ghét con gái, nhưng không muốn gần. Lên đến trung học, gã nổi quạu mỗi khi bị cấp đôi với một đứa con gái. Rồi gã nhận thấy mình bị hấp dẫn bởi những đứa con trai khác. Đêm gã mơ luyến ái với người đồng giới. Gã đâm hoảng. Gã vừa muốn trốn chạy vừa trông chờ những giấc mơ ấy trở lại. Gã sợ. Gã không biết mình có thực sự là đàn ông không. Gã vào tiệm giả vờ mua tạp chí thể thao, nhưng thực ra là lén xem những hình ảnh trong mấy cuốn <i>Playboy. </i>Gã muốn thay đổi cảm xúc khác thường của mình. Trong một buổi tập dợt kịch tại nhà một đứa con gái cùng trường, bố mẹ nó đi vắng, nó kéo gã lên giường, gã đã tự chứng minh mình cũng giống những thằng đàn ông khác. Nhưng điều đó thực ra chỉ làm tăng thêm những khao khát thầm kín của gã với người cùng phái. Sự khát khao bùng cháy vào cuối năm lớp 12 khi gã bắt được tín hiệu từ John, một thầy giáo dạy tiểu học từ Toronto chuyển đến. John hơn gã năm tuổi, cũng sinh hoạt chung nhà thờ. Gặp John là gã thấy bị thu hút. Hai người có nhiều sở thích giống nhau. Chơi hockey, lái xe mô-tô, đi bộ việt dã, chụp ảnh phong cảnh. Gã và John gặp nhau hầu như mỗi ngày. Gã đưa John về nhà. Ông bà Thompson cũng quý John. Tội con Lucy khoái John ra mặt. Tất nhiên John chỉ coi nó như bạn. Với John, gã có thể trò chuyện về mọi lĩnh vực. John không những nhiều kiến thức mà còn lắm kinh nghiệm sống, không như lũ con gái đỏng đảnh, nông cạn, và phức tạp. Rồi một ngày gã và John lén lút ăn trái cấm với nhau. Trong một bụi cây bên con suối. Sau lần ấy, gã và John không dừng lại được nữa. Có hôm cả hai còn liều mạng tình tự ngay trong kho chứa đồ của nhà thờ. Suốt mùa hè năm ấy gã sống trong mặc cảm tội lỗi. Bao năm được giáo huấn trong nhà thờ, gã tin rằng đồng tính luyến ái là chuyện đồi bại, bẩn thỉu, trái với tự nhiên, một hành động gớm ghiếc xúc phạm đấng linh thiêng. Gã tìm cách tránh John với cớ chuẩn bị vào đại học. Gã âm thầm cầu nguyện cho mình được giải thoát. Gã nghĩ đến việc bỏ ngành kỹ sư gã đã đăng ký học, chuyển sang ngành ngôn ngữ học tiếng Trung Quốc và tiếng Tây Ban Nha để trở thành sứ đồ rao giảng Tin Lành trên khắp đất. Chỉ cách đó gã mới có sức mạnh tháo gỡ gông cùm của ma quỷ đang trói buộc gã. Nhưng lòng quyết tâm của gã chỉ kéo dài được dăm bữa. Gã lại điện gặp John. Tiếp tục lén lút. Gã chỉ còn hy vọng thứ cảm giác mọi người lên án đó chỉ là nhất thời, sau này gã sẽ tự nhiên thay đổi, vì gã không muốn nó, không chấp nhận nó.</p>
<p>Thế rồi giữa lúc gã không ngờ, tai họa ập xuống. Lúc ấy gã là sinh viện năm thứ hai, từ Vancouver trở về nhà dịp nghỉ đông. Gã và John đến nhà thờ chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. Bà vợ mục sư kiêm trợ tế bắt quả tang gã và John đang mút lưỡi nhau trong nhà bếp. Đồng tính luyến ái đã là tội tày đình. Hai kẻ tội phạm còn cả gan làm chuyện nhớp nhúa ngay trong nhà Chúa, lại giữa thanh thiên bạch nhật. Nỗi điếm nhục tăng lên, lớn nhất từ trước đến nay của nhà thờ Pentecostal trong vùng, khủng khiếp hơn tất cả các tội liệt kê trong mười điều răn của Chúa.</p>
<p>Gã không bao giờ quên bữa cơm tối ở nhà ông bà Thompson hôm ấy. Con Lucy nặng mặt suốt bữa ăn. Ông Thompson buồn bã không nói nửa lời. Còn bà Thompson, gương mặt chưa hết kinh sợ, đôi mắt đau đớn hổ thẹn. Bà nói, không nhìn mặt gã: “Mỗi người có quyền lựa chọn lối sống cho mình, nhưng phải biết kính sợ Thiên Chúa.” Gã cảm nhận việc làm của gã đã đâm thấu trái tim người đàn bà bấy lâu nuôi dưỡng gã còn hơn người đẻ ra gã. Gã muốn oà khóc vì giọng nói trơ lạnh của bà. Gã hiểu đó là dấu chấm hết trong tình cảm của gia đình ông bà Thompson với gã. Gã đã làm họ thất vọng tột cùng.</p>
<p>Tự trong thâm tâm gã bấy giờ, gã tấm tức muốn cãi lại rằng gã không hề lựa chọn lối sống đó. Gã không bao giờ muốn là <i>gay</i>. Gã đã tìm cách chối bỏ, nhưng không thể chế ngự được thiên hướng tình dục của mình. Vị mục sư cắt nghĩa với gã rằng trong chuyện này ma quỷ phải chịu trách nhiệm, và gã cần hợp tác đuổi trừ nó ra, không cho nó có chỗ trú ngụ trong đời sống của mình nữa. Gã buộc phải khai ra hết với Chúa về những ý nghĩ và hành động tình dục gã bưng bít từ trước đến nay.</p>
<p>Nghi lễ xua trừ ma quỷ tiến hành ngay tại phòng ngủ của gã. Nơi mà Xa-tăng và đồ đệ của nó thí dỗ gã, bắt đầu từ những cuộc thủ dâm và những giấc mơ luyến ái với người đồng giới. Gã nằm trên giường, tay ôm cây thánh giá trên ngực. Mục sư và các thành viên trong sạch được chọn lọc của nhà thờ đặt tay lên người gã. Họ cầu nguyện và đọc kinh. Mục sư gọi tên Chúa Giê-su, và tên các tổng lãnh thiên thần Micael, Gabriel and Raphael. Ai đó cất lên những tiếng nói lạ, lảnh lót như gọi hồn khiến gã hoảng hốt. Tâm thần gã bỗng trở nên bất an. Gã ngờ rằng có những con quỷ, không phải một con, mà cả một bầy đang vùng vẫy chống cự trong thân thể mình. “Chỉ có niềm tin mới giải thoát con khỏi tội lỗi gớm ghiếc này. Lạy Chúa nhân từ xin thương người tôi tớ Chúa…,” vị mục sư cất giọng trầm buồn trong lúc vẩy nước thánh lên khắp người gã. Tất cả trong đầu gã lúc ấy chỉ có hình ảnh John. Tựa như có tiếng rù rì bên tai gã: Đừng sợ. Hãy cứ vui thú tận hưởng với những gì mình đang có. Mày không thấy hài lòng sao? Mày không nhớ những phút giây hoan lạc sao… Hãy là chính mình. Đừng hoài công sửa cái điều không thể… Gã lảo đảo muốn chồm dậy. Tức thời những bàn tay bạo liệt đè gã xuống. Những lời kinh cất cao hơn. Bất chợt tiếng ai kêu: “Kìa, Xa-tăng và đồ đệ của nó!” Tiếp theo là những tiếng rú rít hoảng loạn. Gã chắc mọi người đã nhìn thấy lũ quỷ. Có phải chúng đương nhảy múa ngay chân giường gã. Gã thở dốc. Những con quỷ đen có ngà có đuôi, mang xiềng xích loảng xoảng đang loay hoay bắt gã. Gã như ngửi thấy mùi lưu huỳnh của chúng. Tiếng kêu, tiếng rú và những tiếng lạ như dàn hợp xướng bên tai gã. “Cút đi. Tất cả bọn bay!” Gã bỗng bật ra tiếng hét trong lúc giãy giụa tìm cách chồm dậy. Người ta lại đè gã xuống. “Xa-tăng và bọn ma quỷ các ngươi! Hãy cút ra khỏi linh hồn người tôi tớ Chúa đây là Daniel. Lạy Chúa Giê-su đầy quyền năng và nhân từ, ngày xưa Ngài đã cứu tiên tri Daniel khỏi nanh vuốt sư tử, nay xin thương đến tôi tớ Ngài đây cũng là Daniel được thoát khỏi hiệp ước đã ký kết với Xa-tăng…” Tiếng cầu của mục sư át đi những âm thanh hoảng loạn. Gã cong người. Ướt. Lạnh. Những giọt nước thánh không ngừng vẩy lên cơ thể gã. Bầy quỷ đang lao nhao điều đình với gã, chúng không muốn trở về địa ngục tối tăm với những vạc dầu sôi ngày đêm thiêu đốt các linh hồn tội lỗi. Chúng đang ráng sức thò chân leo trở lại vào người gã. Gã nghĩ và lịm đi.</p>
<p>John cũng phải trải qua nghi lễ ấy, sau gã hai ngày. Tưởng thế là xong. Không ngờ gã và John vẫn bị mọi người trong nhà thờ đối xử khác biệt. Người ta sợ sệt lẫn căm ghét khi thấy gã và John đến gần. Gã bị tước mất trách nhiệm đầu bếp cho bữa tiệc Giáng Sinh. Còn nhiệm vụ đánh đàn piano trong đêm lễ Vọng của John cũng được giao cho người khác. Gã và John đã làm ô uế hội thánh, không xứng đáng được hầu hạ công việc nhà Chúa nữa. Không một lời chia tay, gã và John tự động rút lui khỏi cuộc đời của nhau từ đó. Gã dọn đồ ra khỏi nhà ông bà Thompson, chuyển hẳn tới Vancouver. Học xong đại học, gã tìm được một việc làm ở Calgary, một thành phố nằm ở sườn đông dãi núi Rocky và sinh sống ở đó đến nay.</p>
<p>Ngót hai chục năm từ khi gã rời gia đình Thompson là ngót hai chục năm gã sống hai cuộc đời. Trước mắt công chúng, gã là một huấn luyện viên thành công và đầy uy tín cho đội hockey thanh niên thành phố. Nhiều cầu thủ trong đội huấn luyện của gã được tuyển lựa vào đội quốc gia. Học sinh của gã là những cậu trai tuổi mười sáu mười bảy. Chúng coi gã như thần tượng. Bố mẹ chúng nể trọng gã. Không một ai biết gã là <i>gay</i>. Gã không chỉ kềm cặp những chàng cầu thủ trẻ về chuyện thể thao, gã còn là tư vấn khi chúng gặp rắc rối chuyện đời tư. Rời chỗ làm, gã trở về với thế giới riêng tư và bí mật, một thế giới của những người đồng tính. Sau mối tình đầu với John, gã tắt lịm cảm xúc si mê say đắm ấy trong suốt thời gian dài. Biến cố xảy ra ở nhà thờ Tin Lành ấy như một cú đòn chí mạng đánh gã gục hoàn toàn. Gã mất phương hướng. Có lúc gã định tự vẫn. Gã dành thời gian tìm hiểu về thiên hướng tình dục của con người. Gã vẫn có ý muốn sửa đổi tính dục của mình. Gã nghiên cứu các học thuyết khác nhau. Càng đọc gã càng thấy mù mờ, càng thấy bị bế tắc. Gã vẫn không thể kết luận đâu là nguyên nhân gây nên sự đồng tính, cái điều khốn nạn đeo đẳng cuộc đời gã khiến gã không thể tự tin nhìn thẳng vào mặt mọi người. Với gã, điều ấy tự nhiên như thế. Gã chẳng đổ thừa ai. Nhưng nhất định không phải do gã, vì gã không bao giờ chọn lựa nó. Mẹ gã ư? Ma quỷ ư? Hay do yếu tố sinh học? Tâm lý học? Xã hội? Hay gì gì nữa? Gã phát chán những sự phân tích loanh quanh của người đời. Đâu đâu gã cũng thấy kêu gọi <i>gay</i> hãy bước ra khỏi “cái tủ”, hãy là chính mình. Gã làm thinh. Lâu lâu báo chí lại rùm beng đăng tin một ông huấn luyện viên thể thao nào đó bị bắt và kết án vì tội xâm phạm tình dục những cầu thủ trẻ. Tuy không có bằng chứng, ngưòi ta cứ gán những kẻ phạm tội ấy là <i>gay</i>. Nghĩ tới những định kiến, hằn thù đối với người đồng tính gã lại co người không dám lộ diện. Gã thà chịu đựng nỗi bực mình phải sống giả dối với người chung quanh, cả với mẹ gã. Gã không dám hình dung chuyện gì sẽ xảy ra cho tên tuổi và sự nghiệp của gã nếu gã vén ra bức màn bí mật của đời mình.</p>
<p>*******************</p>
<p>Sao lại đến nông nỗi này, Chúa ơi. Mẹ gã lạc giọng, mếu máo. Mẹ đẻ mười đứa con đủ hình đủ dạng. Con cũng đầy đủ các thứ của một đứa con trai. Không, không thể như thế được. Con bị bệnh này từ bao giờ hả Phúc? Ở nhà thờ người ta nói chuyện thằng Henry ở chung nhà với con. Mẹ không tin, cứ nghĩ người Việt hay ganh tị nói xấu bịa đặt cho người khác. Không, không thể là tự nhiên được&#8230; Bảo thằng Henry dọn ra. Chính nó đã cám dỗ con vào con đường tội lỗi này…</p>
<p>Mẹ gã sụt sịt, rên rỉ, kể lể như bà điên. Ma quỷ đã nhập vào con. Con phải đi với mẹ đến gặp Cha để xưng tội. Chỉ có Cha mới gỡ cho con được. Cha sẽ nhân danh Chúa đánh đuổi ma quỷ và tẩy rửa linh hồn con. Phúc ơi, nghe mẹ. Hồi mới đẻ con đã chịu phép rửa, tên thánh của con là Giu-se, sao con dám phản bội Thiên Chúa đi theo Tin Lành? Mẹ gã lê thê chuyện này sang chuyện khác.</p>
<p>Không, gã nhất định không đi gặp vị linh mục nào cả. Vẫn còn nguyên trong ký ức gã cuộc đuổi trừ ma quỷ nhà thờ Pentecostal dành cho gã hôm nào. Gã rùng mình. Trí óc gã lại chuyển sang hình ảnh người đàn ông da trắng say rượu từ đâu sấn tới. Ê, thằng đầu đen. Cút mẹ về quê hương của mày, <i>cock-sucking homo!</i></p>
<p>Rồi con sẽ trở lại bình thường. Con sẽ có vợ có con như người ta. Con Đoan nhà ông Trùm Đương&#8230; Tết này con về Việt Nam cưới đi… Chỉ còn cách đó. Phúc ơi nghe mẹ đi. Người ngoài biết được chuyện này thì mẹ còn mặt mũi nào… Con ơi. Bỏ cái tên Đa-nheo đa nhiếc gì đi, nghe nó kỳ lắm…</p>
<p>Người đàn bà đẻ ra gã vẫn còn chưa dứt nói.</p>
<p>Nước mắt gã chảy ra. Gã bặm môi để khỏi khóc rống lên. Gã nghĩ đến bài ca gã lén nghe trong đêm cuối cùng ở gia đình Thompson. Thứ nhạc Blues nhà thờ Pentecostal cấm, coi như âm nhạc của quỷ Xa-tăng. Băng cát-xét đó là món quà cuối cùng của John, John giấu đưa cho gã ở nhà thờ đúng vào hôm định mệnh. Cho đến buổi tối trước khi rời khỏi vùng đất thân thương nhưng cay nghiệt ấy, gã mới mở ra nghe. Gã đã bật khóc giữa đêm khuya thanh vắng khi giọng người ca sĩ da đen gào lên tức tưởi… <i>Không ai yêu thương tôi ngoại trừ mẹ tôi… nhưng có thể bà cũng chỉ bỡn đùa thôi… Không ai yêu thương tôi…</i></p>
<p><em>&#160;</em></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><em>Calgary, 12.2010</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/17574/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bữa Tiệc G&#224; T&#226;y</title>
		<link>http://damau.org/archives/12069</link>
		<comments>http://damau.org/archives/12069#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 05 May 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>McAmmond Nguyen Thi Tu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/12069</guid>
		<description><![CDATA[<em>Vậy thì ông tìm gì?</em> Trên đường về lại khách sạn, ông cũng tự hỏi. Nhất định cái ông tìm không phải là một sự chà xát, đấm bóp cơ thể, mà là sự can đảm và sự bình yên trong tâm hồn. Nó đang ở đâu? Chẳng phải ông đã tìm thấy nó suốt tuần qua? Trên mảnh đất này. Từ nơi người thiếu phụ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p><strong><i>&#160;</i></strong></p>
<p><strong><em>&#160;</em></strong></p>
<p><strong><em>&#160;</em></strong></p>
<p><i>…Thầy nói sao cơ… bà ấy bán CD dạo… lạy Chúa… tin sao nổi kẻ bán buôn vất vưởng… bến xe nhà ga… bọn lọc lừa chuyên nghiệp… gặp ông Tây lớ ngớ khác gì vớ được con mồi béo… Thầy bị vào tròng rồi… bà ta chỉ vờ vịt… yêu đương gì… Thầy quả ngây thơ… chẳng qua bà ta đang lăm le ví tiền của một du khách da trắng… muốn gài Thầy cõng đi Canada luôn đó… chớ dây dưa với ngữ ấy… </i></p>
<p>Vị giáo sư tiến sĩ chết sựng, tai ù đi như đang bị châm chích bởi hàng loạt ngôn từ lạ lẫm ngoa ngoắt. Giọng người phụ nữ phía đầu dây bên kia mỗi lúc một hăng. Cô nói xan xát, nói tới tấp, nói lấn ông.</p>
<p>Ông gọi cho người sinh viên cũ từ khách sạn ở một thành phố cảng trên quê hương cô – đang buổi sáng cuối thu ấm nắng. Cô thì tận bên kia bờ Thái Bình Dương ở đất nước ông– đang buổi đêm rét mướt với trận tuyết đầu mùa. Đâu rồi cái giọng Anh ngữ đơn đớt âm Việt của cô từng ngộ nghĩnh đáng yêu? Quả không sai đằng sau vẻ dịu dàng chết người của đàn bà thường có những chiếc gai nhọn ẩn nấp. Điều nhân loại tổng kết đã cũ mèm, vậy mà hễ mỗi lần chạm phải là một lần ông giật mình hẫng hụt như mới khám phá một sự thật bẽ bàng. Ông tiếc nuối hình ảnh hoàn hảo của cô gái nhập cư gốc Việt ông ngưỡng mộ từ những năm cô là du học sinh ở trường ông đang giảng dạy. So với sinh viên bản xứ, cô trội hẳn ở đức tính lễ độ, khiêm nhường, và thái độ học nghiêm túc. Ông về hưu cô vẫn giữ liên lạc, Tết lễ lại còn ghé nhà quà cáp thăm viếng. Nhớ lần cô cắt nghĩa về truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc cô, ông đã phát ganh tị cho sự khiếm khuyết trong nền văn hóa của mình. Cũng chính sự quen biết cô đã thôi thúc ông tham gia nhóm tình nguyện viên về Việt Nam dạy tiếng Anh mùa hè năm ấy. Và năm năm sau, ông trở lại đất nước này có ngờ để gặp được một biến cố quan trọng trong quảng đời cuối của mình. Ông bần thần nghĩ tới người thiếu phụ mới quen. Dáng thanh mảnh khắc khổ như nhiều phụ nữ ông thường thấy ở miền quê Việt Nam. Chiếc thùng nhựa to tướng đầy ắp đĩa CD đeo trèo trẹo bên hông. Đôi mắt u sầu cam chịu của nàng có lúc ngước nhìn ông tò mò, đắm đuối. Khi nàng mở miệng nói, ông nghe những âm điệu như tiếng ca trầm buồn. Ông ước có thể hiểu được những lời lẽ thốt từ đôi môi để tự nhiên không tô vẽ ấy. Không, nàng rất khác thường. Nàng chẳng thể bị gộp chung vào cái tập thể đàn bà nhiễu nhương người đời hay khái quát. Ông đinh ninh như vậy.</p>
<p><i>… Thầy đang lọt vào lãnh địa mafia… em không đùa đâu…</i> Bên tai ông cô sinh viên vẫn đang cao giọng dấm dẳng <i>… phải hết sức thận trọng… cảnh sát bên này nghe địa danh ấy còn phải ngán… tại Thầy ít theo dõi tin tức… trồng “cỏ”, bán “trắng”, rửa tiền, băng đảng thanh toán nhau… Toronto, Vancouver, Montreal… vụ nào chẳng dính dân Hải Phòng &#8230; bà này chắc cũng là dân thứ dữ… không thì bon chen bán buôn ngoài đường sao được… </i></p>
<p>Ông lịch sự ầm ừ. Thực ra trong bụng tức ách. Sao cô ta nói nghe y như dạy dỗ ông? Gợi ông liên tưởng tới người vợ đã ly hôn. Chủ quan, độc đoán, mệnh lệnh. Cuộc hôn nhân ngấp ngoái ngót nửa thế kỷ cuối cùng cũng phải kết thúc, ngay sau khi ông quyết định nghỉ hưu.</p>
<p><i>… Đừng ở đó thêm ngày nào nữa… chúng không tha Thầy đâu…</i> Cô sinh viên chưa nguôi cơn thuyết giảng. Ông tìm cớ cúp máy. Lại thêm một lần ông thấm thía rằng cuộc sống rốt cùng là cái thực tại cứ điềm nhiên diễn ra trong lúc con người bù đầu lo toan những gì hầu như chẳng ăn nhập với nó. Rõ phí một đêm suy tính và lên kế hoạch. Ông tưởng cô sinh viên sẽ mừng cho cuộc gặp gỡ của ông với người thiếu phụ nơi xứ sở cô. Ông đã định nhờ cô đóng vai trò thông dịch, tạm thời giải quyết sự bất đồng ngôn ngữ giữa ông và nàng. Tất nhiên kỳ này trở về Canada ông sẽ theo học mấy khóa tiếng Việt. Hiện thời ông chỉ biết vài cụm từ giao tế cơ bản, mà thường phải uốn môi uốn lưỡi nói tới nói lui mấy bận người ta mới đoán ra. Tiếng Anh của người thiếu phụ thì vô vọng. Ngoài <i>hello, how are you, thank you, sorry,</i> và <i>good-bye</i>, nàng gần như không thể nói gì hơn. Nhưng ông sẽ không phải lo nếu có cô sinh viên giúp đỡ. Cô sẽ gọi điện cho nàng, chuyển hộ tới nàng bao điều trái tim ông cần bộc bạch. Ông muốn đặt chân đến ngôi làng có những cánh đồng lúa dưới những chân núi đá vôi xanh ngắt ở Quảng Xương, Thanh Hóa nơi nàng sinh ra và đã trải qua suốt những năm tháng khốn khó, và cũng để thăm người mẹ già của nàng. Ông còn muốn ngỏ lời cầu hôn với nàng. Ông muốn nàng hiểu ông khao khát sự hiện diện của nàng mỗi ngày trong đời ông như thế nào. Dè đâu cô sinh viên chẳng cần nghe ngóng gì thêm, cứ xa xả gạt phăng.</p>
<p align="center">* * *</p>
<p>Chủ quán cà phê nói:</p>
<p><i>“Ông nên cẩn thận. Bà này hành tung không rõ”.</i></p>
<p>Cô giáo trường trung học nói;</p>
<p><i>“Loại ấy bán vé số đĩa hát trá hình, chủ yếu là câu khách để “đi”. </i></p>
<p>Cô nhân viên nhà bảo tàng nói:</p>
<p><i>“Biết bao phụ nữ đàng hoàng ở đây. Sao lại dính vào thứ ấy”.</i></p>
<p>Ông cán bộ về hưu nói:</p>
<p><i>“Cạm bẫy khắp nơi. Ông coi chừng.”</i></p>
<p>Vị giáo sư tiến sĩ ngớ người. Đâu đâu cũng những lời cảnh báo, bàn ra. Cả anh nhà báo ở cùng khách sạn với ông. “<i>Ông biết gì về bà này?”</i> Anh ta chất vấn ông sau khi nghe mấy cô tiếp tân thóc mách về việc bắt gặp người thiếu phụ hay thậm thụt đứng chờ ông ở góc đường đối diện, rồi sau đó hai người chui vào tắc xi đi mất. Chừng như muốn tăng sức thuyết phục trong nhận định của mình, tối hôm ấy anh ta còn kéo thêm hai người bạn đến. Một người anh ta giới thiệu là nhà thơ tên tuổi, và người kia là Việt kiều.</p>
<p>Cuộc trò chuyện diễn ra trong phòng ông. Ông định pha trà nhưng mọi người ngăn lại. Anh nhà báo gọi nhân viên khách sạn mang lên một chai Hennessy XO, bao thuốc lá Dunhill, và mấy đĩa tôm mực nướng. Ông không có thói quen uống rượu nhưng nể ba người khách ép nài, ông cụng một ly xã giao. Mọi người vừa ăn uống vừa tham gia mổ xẻ chuyện quan hệ của ông.</p>
<p><i>“Hãy nghe chúng tôi, ông làm sao hiểu người Việt Nam bằng chúng tôi được?”</i></p>
<p><i>“Phụ nữ Việt Nam chúng tôi là báu vật với người Tây các ông, nhưng gì thì gì, cứ từ từ. Tôi đây về cưới hai lần rồi, cô nào cũng qua được đến nơi là nó bỏ mình.” </i></p>
<p><i>“Sao không kiếm một bà người Việt bên đó? Thể nào chẳng có những bà Việt Nam sính lấy chồng Tây. Rước một bà bên này qua trần ai lắm. Phải qua thủ tục bảo lãnh, tốn tiền, tốn công, tốn thời gian chờ đợi, rồi còn mất bao lâu nữa cho người ta học hỏi hòa nhập với môi trường mới lạ.” </i></p>
<p><i>“Hỏi thật, ông yêu bà ấy ở điểm gì? Nói ông đừng tự ái. Dân nhà quê đặc, nhìn cách thức ăn vận bên ngoài đủ biết. Nhan sắc trung bình. Học vấn chưa qua lớp bốn. Tiếng Anh lại mù tịt. Chưa nói đến văn hóa dị biệt.”</i></p>
<p>“<i>Không, không thể thành được.”</i></p>
<p><i>“Bà ấy biết gì về ông mà bảo yêu và hứa hẹn chăm sóc ông? Tôi không tin.” </i></p>
<p><i>“Tôi mà là bà ấy, tôi cũng bám chặt ông. Hai lý do: một là tiền, hai là cơ hội xuất ngoại.”</i></p>
<p><i>“Giáo sư hãy tỉnh táo. Đó là lời khuyên chân thành của tôi.”</i></p>
<p><i>“Xem nào…Người Thanh Hóa, đi làm ăn ở Hải Phòng gần hai chục năm nay, thế là lý lịch thuộc loại ‘thường trú Hải Phòng nguyên quán Thanh Hóa’..</i></p>
<p><i>“Không một sự kết hợp nào hoàn hảo hơn!”</i></p>
<p><i>“Ông chắc không biết dân gian chúng tôi có câu“Dân Thanh Hóa ăn rau má phá đường tàu, gái Thanh Hóa như khóa Vi-rô”. </i></p>
<p><i>“Khóa Vi-rô sản xuất thời bao cấp, chìa nào tra vào cũng mở được.” </i></p>
<p><i>“Nói đùa với giáo sư thôi. Bộ đội chúng tôi ngày xưa hay đặt chuyện tếu táo cho vui ấy mà. Ý là các cô Thanh Hóa tình cảm bạo liệt lắm.”</i></p>
<p><i>“Hải Phòng thì bị tiếng là chốn của dân tứ xứ bợm bãi, sẵn sàng đâm chém bắn giết để có tiền.” </i></p>
<p><i>“Thanh Hóa được huấn luyện ở Hải Phòng thì giáo sư chỉ có nước bị luộc chín.” </i></p>
<p>Ba ông khách ăn, uống, hút, nói, cười khùng khục. Vị giáo sư tiến sĩ cảm thấy họ đang áp đảo, dồn ép ông. Lời lẽ tranh luận của họ trở nên giễu cợt, công kích, không còn tôn trọng nể nang ông như lúc đầu nữa. Ông chợt nghe đau buốt trong đầu, hai bên thái dương giật giật. Mùi rượu và khói thuốc trong phòng khiến ông buồn nôn. Hình ảnh người thiếu phụ với thùng đĩa CD hiện lên. Nghiêng ngả. Đung đưa.</p>
<p><i>“Ông chắc còn hăng chuyện đó lắm phải không? Nói thật, còn máu lấy vợ thì tôi sẽ tìm cho một bà tương xứng hơn, ít nhất cũng có chút chữ nghĩa, xi lô xi la mấy câu tiếng Anh nữa chứ. Chả nhẽ lúc nào cũng phải kè kè quyển tự điển hoặc có sẵn người thông dịch à.”</i></p>
<p><i>“Bà này không chừng xuất thân gái điếm một thời, bây giờ về vườn, không cạnh tranh nổi với gái tơ nên phải đi bán dạo.” </i></p>
<p><i>“Phụ nữ nông thôn truyền thống đâu có bạo như vậy. Mới gặp ông, tiếng Anh không biết mà dám thuê tắc xi đưa ông xuống bãi biển Đồ Sơn. Tôi ngờ lắm.” </i></p>
<p><i>“Ông tin những điều bà ấy kể sao? Tuổi 50 mà bảo không chồng con. Ông phải về tận quê bà ấy mà điều tra gia cảnh.” </i></p>
<p><i>“Hê hê…Ông sao dễ tin. Thảo nào dân da trắng các ông hay bị dân chúng tôi gọi là bọn Gà Tây.” </i></p>
<p><i>“Mẹ kiếp, các lão nông dân Đại Hàn, Đài Loan bảy tám mươi đui mù sứt mẻ mất có vài trăm đô la sang đây cuỗm được những nàng trinh nữ mười tám đôi mươi đem về phục vụ, giáo sư đây phải trên cơ bọn chúng chứ…” </i></p>
<p><i></i>Nhà thơ nốc cạn ly rượu trong tay, mắt long lên đỏ ngầu, khích anh nhà báo gọi thêm chai X.O nữa, rồi quay sang vỗ vỗ vào vai ông, tiếp tục giọng lè nhè:<i></i></p>
<p><i>“À mà ông năm nay bao nhiêu rồi nhỉ, coi bộ ông chuộng tuýp lao động dân dã, tôi có cô cháu họ ở Nghệ An… Ơ này, ông làm sao thế…”</i></p>
<p>Vị giáo sư tiến sĩ lảo đảo bật dậy lao vào toa-lét. Toàn bộ thức ăn đồ uống trong bụng ộc mửa ra. Nước mắt ông giàn giụa. Trái tim họ đâu? Tình người họ đâu? Ông và nàng đến với nhau có gì là phi pháp, phi đạo đức? Những tư vấn ác mồm độc địa ấy, ông không cần. Ông thách mọi người. Ai có thể ngăn cấm tình cảm ông và nàng?</p>
<p align="center">* * *</p>
<p><i>“Mà giả sử nàng là một Maria Mađalêna thì đã sao? Đừng bỏ cuộc. Đừng trì hoãn. Hãy đón nhận nàng. Hãy cứu vớt linh hồn người đàn bà đáng thương ấy. Chúa Giê-su đã chẳng tuyên bố những cô gái điếm sẽ vào Thiên Đàng trước kẻ khác sao?”</i></p>
<p>Bà bạn đạo Cơ đốc giáo ở Canada viết trong email cho ông. Bà nói rằng sau hơn chục năm làm cho một chương trình giúp các cô gái điếm xây dựng cuộc sống mới, bà khám phá rằng đây là những con người lương thiện có tình người hơn cả. Bà chúc mừng ông, bảo cuộc gặp gỡ của ông với người thiếu phụ biết đâu do ý Chúa.</p>
<p>Tự lâu rồi ông không còn tin Chúa. Nhưng ý kiến khích lệ của bà có ý nghĩa biết bao với ông lúc này. Ông phấn chấn hẳn, lòng bỗng chốc mở rộng ra ngời ngợi. Một vị anh hùng. Một bậc ân nhân. Sứ mệnh cao cả ông đang dũng cảm gánh vác. Cái đích của cuộc hành trình cả đời ông ngược xuôi mỏi mệt lết lê tìm kiếm. Ông xúc động giở lại tập thơ của thi hào Rumi ra đọc. Chỗ nào cũng thấy thấp thoáng những điều liên quan tới mình. Ông như đang tắm mình trong một trận mưa xuân, sau bao nhiêu hỗn độn giông bão. Đích thực đây là tình yêu. Thứ tình yêu thiêng liêng ông nghĩ những kẻ dung tục thấp tầm như anh chàng nhà báo, gã Việt kiều, và lão nhà thơ ấy còn lâu mới thấu hiểu. Tình yêu đến với ông hết sức tự nhiên, không có sự chuẩn bị. (Ông đâu có ý định đến Việt Nam để tìm nó!) Nó không công bố khoe khoang. Không đánh bóng. Nó hồn nhiên xộc xệch đến. Người đời phê phán, gièm pha, đàm tiếu, gọi nó đủ thứ tên, nào là không phù hợp, không bình đẳng. Nó cứ hiên ngang vượt qua mọi kỳ thị, mọi khác biệt, đánh đổ những ô dù đạo đức. Chẳng phải ông bỗng đâu tìm thấy con chim tình yêu từ bầu trời trong cơn giông đang chao liệng tìm nơi trú ẩn? Và chẳng phải ông đang tuân phục theo kết luận của Rumi sao?</p>
<p><i>Khi đại dương đến với bạn như một người yêu,      <br /></i><i>Hãy kết hôn ngay lập tức, nhanh lên,      <br /></i><i>Vì Thương đế!      <br /></i><i>Đừng trì hoãn!      <br /></i><i>Tồn tại chẳng có món quà nào hơn thế      <br /></i><i>Dù kiếm tìm cách mấy      <br /></i><i>Cũng chẳng thể nào có được      <br /></i><i>Một con chim ưng hoàn hảo, chẳng vì lý do gì,      <br /></i><i>đã đậu lên vai bạn,      <br /></i><i>và trở thành của bạn.</i></p>
<p>Giây phút này đây nàng đang trong vòng tay ông, ngước nhìn ông như vị cứu tinh. Con chim ẩm ướt yếu đuối run rẩy. Một nửa xương thịt ông, linh hồn ông. Nàng sẽ không rời ông, ông biết. Nàng gọi ông là ân nhân, là tặng vật Thượng Đế ban phát cho nàng.</p>
<p>Làm sao ông có thể giải bày cho mọi nguời hiểu?</p>
<p>Tất cả từ đôi mắt ấy. Ngay khoảnh khắc nó dọi vào ông, cái gì tựa như niềm hạnh phúc xen lẫn đớn đau dâng trào trong huyết quản ông. Ông cảm giác bị thôi miên, rơi vào cõi tiềm thức xa xăm nào.</p>
<p>Trong một quán nước vắng khách gần nhà ga. Bấy giờ gần trưa. Ông mới đáp tàu hỏa từ Hà Nội xuống. Ông nhớ rõ lúc nàng tiến đến chỗ ông với cái thùng nhựa đầy ắp đĩa CD khệ nệ cắp ngang hông. Chiếc nón lá che khuất mái tóc và khuôn mặt. Nàng lẳng lặng đặt cái thùng xuống cạnh chân ông, ngồi lục bới một lúc rồi ngước lên, nhoẻn miệng cười. Nàng chìa trước mặt ông một chiếc đĩa có hình ảnh lõa lồ của những cô gái tóc vàng với tựa đề tiếng Anh tục tĩu. Bàn tay kia đưa ba ngón lên, xong chụm vòng ngón tay cái và ngón trỏ lại thành con số zero. Ba chục ngàn đồng. Ông xua tay lắc đầu. Hơi thất vọng, nhưng nàng nhanh chóng lôi ra hai CD khác. Các cô gái khỏa thân Á Đông. Lần này gương mặt nàng đắc thắng như bắt trúng ý một ông khách Tây. Nàng giơ bốn ngón tay, thêm một dấu hiệu zero, ông hiểu mua hai đĩa thì bốn chục ngàn. “<i>No! I say no</i>!” ông buột miệng giận dữ. Nàng khựng lại, ngơ ngác nhìn ông. Chưa khi nào trong đời ông chạm phải ánh mắt lạ lùng ấy. Tự dưng ông ân hận muốn khóc vì câu nạt nộ của mình. Một chàng trai trông điệu bộ như là sinh viên nãy giờ uống cà phê một mình ở bàn bên cạnh đột nhiên lên tiếng: “<i>Ông coi chừng bị lừa. Một đĩa có năm ngàn thôi. Đĩa lậu mà!”</i> anh ta nói bằng tiếng Anh ngọng nghịu, chắp víu, rồi quay sang nàng. Hai bên đối đáp. Tất nhiên ông không hiểu gì. Anh ta bỗng cười bảo ông: <i>“Bà ấy nói tưởng ông Tây nào đến Việt Nam cũng khoái mấy thứ đó. Để xin lỗi, bà muốn biếu ông một đĩa nhạc dân ca Bắc bộ làm kỷ niệm”</i>. Ông bất ngờ chưa biết nói sao, thì nàng khoanh vòng ngón tay cái và ngón trỏ lại. Anh thanh niên vui vẻ giải thích: “<i>Quà tặng. Không lấy tiền</i>.”</p>
<p>Nàng đã bước vào đời ông như thế.</p>
<p>Ngay hôm ấy, ông hũy bỏ kế hoạch đi Đà Nẵng và Nha Trang rồi bay vào Nam thăm các giáo viên ông quen trong đợt dạy tình nguyện lần trước. Ông muốn dành trọn thời gian ngắn ngủi còn lại ở Việt Nam với nàng. Bất chấp cú điện thoại của cô sinh viên cũ với những lời cảnh báo, ông quyết định ở lại Hải Phòng tuần lễ cuối trước khi về lại Canada.</p>
<p>Cuốn tự điển bỏ túi có phần đàm thoại mà người bạn chuyên gia ngôn ngữ của ông đánh giá là thứ hàng kinh doanh thấp kém trí tuệ ngờ đâu cũng hữu ích trong cảnh ngộ của ông và nàng. Nàng hay đưa tay chỉ vào những câu làm tan chảy trái tim ông như <i>I miss you, I couldn’t sleep last night</i>, <i>We’re great together</i>, <i>I’ll love you forever, I’ll take care of you for the rest of my life. </i>Lúc nào không tìm ra câu có sẵn, ông và nàng lại dọ dẫm từng trang tìm kiếm những từ riêng lẻ lắp ráp lại. Có khi mất mấy phút mới trao đổi được một ý đơn giản. Nhưng có sao, sự bất tiện ấy không mảy may tác động đến tình cảm giữa hai người. Ngược lại, nó dường như khiến ông mê đắm nàng hơn. Ông tự nhủ: những điều sâu thẳm nhất của tâm hồn thường không cần thể hiện bằng lời. Tuy vậy, khi cảm xúc trào dâng, ông lại đọc thơ cho nàng nghe. Khi thì những vần thơ Rumi, khi thì những bài thơ ông viết vào những đêm không ngủ hoặc những lúc chờ nàng. Biết nàng không hiểu gì, ông vẫn say sưa đọc. Ông định bụng trước khi rời Việt Nam sẽ nhờ người chuyển ngữ cho nàng bài thơ ông viết về những ngón chân của nàng.</p>
<p>Trên căn gác thuê chật hẹp ảm nồng hơi khói từ gian bếp bên dưới, ông nhắm mắt nằm yên lắng nghe sự động chạm của cơ thể hai người. Những ngón chân nhỏ, ráp, sần sùi và lấm đất của nàng lần mò như những càng cua quặp vào bắp vế rồi lướt lên đùi ông, âu yếm ngắt véo ông một cách man dại. Những ngón chân tinh tế nồng nàn như thân thuộc da thịt ông từ kiếp nào, nhận biết nó, và mạnh bạo riết chặt lấy nó cho đến khi thân thể ông tan vào hư không. Những ngón chân ấy đã níu giữ được trái tim và linh hồn ông. Người mà nàng không chút dè dặt gọi là chồng.</p>
<p>Ông đọc gì nàng cũng lặng thinh nghe, mắt nhìn ông âu yếm nể phục, miệng cười khích lệ. Bên nàng ông cảm giác bình yên như thể không gì trên thế gian này hệ trọng hơn cái khoảnh khắc hai người đang bên nhau. Thân thể mảnh dẻ nhưng rực lửa của nàng chẳng do dự quấn lấy người ông. Cõi hoan lạc mới mẻ ông chưa từng tận hưởng trong đời. Ông thấy mình giống một cậu bé khờ khạo được nàng dẫn dìu, kiên nhẫn, tận tụy, chu đáo. Đôi khi giữa giây phút lịm say ân ái, ông bất thần hốt hoảng . Đây có phải là điều mình đang tìm kiếm? Cái mà đáng lẽ ông, một người tự coi như đã trưởng thành về mặt tâm linh, phải vượt cao hơn từ nhiều năm trước đây rồi. Ông lúng túng tự vấn rồi cố lờ đi. Dẫu sao nếm được vị ngọt của tình yêu, đối với người đàn ông tuổi này, vẫn là một thứ yến tiệc của thần linh. Ông xấu hổ tự nhận. Và ngay cả với sự hạn chế thể lực, ông vẫn có thể nhấp được một ly cực lạc, nhấm nháp nó một cách kiên nhẫn và gần như trọn vẹn, trong lúc nhận biết được khiếm khuyết của mình, tha thứ cho mình, mà không phải hổ thẹn hay ân hận, và tất cả diễn ra trong sự giao lưu với một phụ nữ nồng nhiệt giản đơn và dường như đầy cảm thông hiểu biết.<b> </b>Thú vị biết bao khi người ta có thể thưởng thức tình yêu trong sự giản đơn như thế. Không cần thử thách trí tuệ, không cần bất cứ điều gì cao siêu, phù phiếm, hay thừa thãi. Ông thường say sưa ngắm nhìn nét đẹp thôn dã toát ra từ gương mặt không trang điểm và mái tóc điểm bạc của nàng. Nàng mộc mạc, thẳng thắn, rộng mở, không e dè, không điệu bộ, và rất mực chăm chút, vâng phục ông. Không như bà vợ thạc sĩ trước đây sẵn sàng tranh luận tay đôi chẳng chút nể nang nhường nhịn. Bà nấu cơm là ông phải rửa chén, bà giặt quần áo là ông phải lau nhà. Đến bữa mạnh ai nấy ăn, ông ăn ít hay nhiều bà không quan tâm. Còn nàng, người đàn bà quê mùa, tẩn mẩn gỡ từng miếng xương cá, gắp thức ăn vào bát ép ông ăn, lo cho ông miếng ăn giấc ngủ. Nàng chẳng ham đi thăm đảo Cát Bà, vịnh Hạ Long, hay núi Sa Pa. Âm nhạc, phim ảnh, thể thao với nàng cũng là những thứ vô bổ tốn kém. Nàng chỉ muốn dành thời gian riêng tư với ông ở những nơi không bị ai dòm ngó, quấy rầy, hay xúc phạm. Ông định đưa nàng về nghỉ ở khách sạn nhưng nhân viên bảo vệ đòi phải có giấy kết hôn. Thế là mỗi lúc gặp nhau hai người chỉ quanh quẩn chuyện ăn trưa, uống trà, và mua sắm. Ông sung sướng được làm những việc cụ thể giúp cho cuộc sống nàng dễ dàng hơn. Ông sắm cho nàng chiếc xe đạp để nàng khỏi phải cắp chiếc thùng CD nặng bên hông, cái điện thoại cầm tay, cặp kính mát, cái đồng hồ, mấy bộ quần áo, lọ thuốc giảm đau. Toàn chuyện vặt, thế mà nàng luôn nhìn ông với ánh mắt hàm ơn.</p>
<p>Suốt tuần lễ có nàng, ông như được lột xác, hóa thân thành một con người khác, sống trong một thế giới khác. Mấy chục năm qua khi càng có tuổi ông càng trở nên hoang mang ngờ vực cuộc sống hiện tại của mình. Ông có tất cả những điều bao người đang tìm kiếm: danh vọng và phương tiện vật chất, nhưng lại đầy ắp nỗi lo âu và tự ám ảnh bởi một tâm trạng cô đơn, u uất, và trống rỗng. Mục đích và lẽ sống của ông trên thế gian là gì? Ông cứ hỏi. Ông thèm khát tình yêu, không phải thứ tình yêu xác thịt trần tục, mà một tình yêu theo nghĩa rộng lớn giữa con người với con người, giữa con người với vũ trụ. Ông hay nghĩ đến thằng con trai duy nhất sống trong cùng thành phố với ông. Cách độ nửa tiếng lái xe mà có khi mấy tháng liền không nghe tăm hơi nó. Ngay cả sinh nhật ông, hay Ngày của Cha, nó còn không buồn nhớ tới. Mỗi khi nó điện thoại ông biết không mượn tiền thì cũng nhờ trông cháu. Ông cũng hay nghĩ đến căn bệnh “bận rộn” của người Tây phương. Cũng như bao người chung quanh, cả đời ông lúc nào cũng tất bật. Toàn bộ thời gian sử dụng cho công việc, trở thành một con người “nghiện việc”, để thu thập công danh và của cải, trong lúc niềm tin vào một thực tế cao hơn của đời sống tinh thần và sự nối kết của bản thân mình với mạng lưới của cuộc sống thì bị nhạt nhòa đi. Rồi cũng như họ, khi đời sống và tất cả những gì gắn với nó được xem như một thứ để chiếm hữu và tiêu thụ không mang đến hạnh phúc và bình ổn thì lại khắc khoải đi tìm những lời khuyên, những giải đáp cho vấn đề tâm linh. Trên hành trình tìm kiếm sự an thân trong một thế giới đầy bất trắc, ông đã trải qua bao phương thức khác nhau, hướng về sự khôn ngoan thông thái của đông phương, nhưng cảm giác toàn vẹn, bằng lòng với đời sống thế nào đó vẫn né tránh ông. Ông không với tới được. Yoga, tọa thiền, thực hành <i>asana</i>, ăn chay, thậm chí hai năm gia nhập một thiền viện trong một khu rừng u tịch Ấn Độ sống khổ hạnh như một <i>sannyasi</i>, từ bỏ cuộc sống vật chất cùng với những hoạt động và ý nghĩ phàm tục. Tất cả vẫn không làm ông thoát khỏi trạng thái bối rối lo âu không thỏa mãn. Cho đến khi gặp nàng. Quả như một giấc mơ. Nàng đã mang lại cho ông sự tươi mới, sự hồi sinh, sự no đủ và trọn vẹn của cuộc sống. Ông cứ đinh ninh mình đã đến đích cuộc hành trình.</p>
<p align="center">* * *</p>
<p>Ông rời khách sạn, lang thang trên đường phố. Một thứ tâm trạng vừa bất an vừa rỗng không mới tuần qua ông tưởng đã tan biến nay bỗng ùa trở lại. Ông không có ý định đi đâu làm gì sáng nay. Vài tiếng đồng hồ nữa ông sẽ về lại Canada. Những bước chân vô định đưa ông tới góc đường gần quầy bán trái cây nơi người thiếu phụ mỗi sáng đứng chờ. Ông thẫn thờ dừng lại. Cô gái bán hàng từ xa nở nụ cười, giơ tay vẫy chào ông. Không biết cô có ngạc nhiên thấy ông một mình. Ông nhớ khi cô chèo kéo ông mua nải chuối cau hay mấy quả hồng nàng hay chen vào mặc cả sợ ông bị lừa. Ông nhớ mỗi khi băng qua đường nàng hay mỉm cười đầy tự tin nắm tay ông luồn lách giữa những dòng xe. Cảm giác được nàng chở che bảo vệ đã làm ông ấm áp biết bao.</p>
<p>Một chiếc Suzuki hai thì nổ um khói từ bên kia đường băng sang tiến đến chỗ ông đứng rồi phanh lại. <i>Hello mister.</i> Chàng thanh niên trên chiếc xe vẫn để nổ máy nheo mắt gào lên với ông, kèm theo nụ cười kết thân: <i>Boom boom. Okay. Fucking?</i> Ông sượng trân lắc đầu. <i>Beatiful girl.</i> <i>Ten dollars. Okay?</i> Gương mặt khá ngầu với những vệt tóc hoe đỏ của chàng trai khiến ông hoảng sợ và bỗng thấy cần sự bảo vệ của nàng hơn bao giờ. Ông lắc đầu nhìn qua hướng khác. Người đàn ông trẻ cứ oang oang nài nỉ: <i>Mister… Ten dollars. I help. Fucking boom boom.</i> <i>Girl beautiful number one</i>… Anh ta nhì nhằng một tràng nữa nhưng ông không nghe ra. <i>No. Thank you</i>. Ông lịch sự đáp lại rồi hối hả lao về phía trước như chạy. Người thanh niên rà xe lẽo đẽo theo ông nằn nì một đoạn nữa rồi mới bỏ cuộc. “<i>Tây ba-lô. Tây chíp</i>”, anh ta gào vào mặt ông trước khi phóng đi cùng với tiếng rú điên cuồng của động cơ. Ông hoàn hồn dừng lại thở. Từ trong một hiệu cắt tóc-mát xa, ba cô gái đồng phục áo đầm trắng túa ra vây lấy ông. Cô nào cô nấy nhìn non nớt như nữ sinh trung học, trang điểm kỹ lưỡng, ngực đùi phô ra. <i>Good morning, sir.</i> <i>You want massage?</i> Một cô hỏi bằng tiếng Anh. <i>Thưa không. Xin cảm ơn.</i> Ông đáp lại bằng tiếng Việt. Các cô bất ngờ nhưng thích thú cười vang. Tiếp theo là một loạt câu hỏi như thực tập tiếng Anh với một người nước ngoài mà ông nghe nhẵn từ khi đến Việt Nam: <i>“What’s your name?”,</i> “<i>Where are you from?”, “How old are you?”, “Do you like Vietnam?” “Ông muốn massage không?”</i> Một cô ưỡn ẹo đến sát bên ông lặp lại câu hỏi. “<i>Ông hãy thử đi. Dịch vụ đặc biệt từ A đến Z. Bảo đảm ông sẽ mê.” </i>Cô nói tiếng Anh điệu đà, mắt môi tình tứ với ông. <i></i>Ông lại lắc đầu.<i> “Vậy thì ông tìm gì?</i>” Cô cau mày làm điệu, giọng không giấu vẻ thất vọng.</p>
<p><i>Vậy thì ông tìm gì</i>? Trên đường về lại khách sạn, ông cũng tự hỏi. Nhất định cái ông tìm không phải là một sự chà xát, đấm bóp cơ thể, mà là sự can đảm và sự bình yên trong tâm hồn. Nó đang ở đâu? Chẳng phải ông đã tìm thấy nó suốt tuần qua? Trên mảnh đất này. Từ nơi người thiếu phụ. Lần cuối cùng ông còn nhìn thấy nó là khi ông đuổi bắt và vật lộn với nó ở tiệm kim hoàn chiều hôm qua nơi nàng hẹn gặp ông. Nàng xuất hiện cùng với một cô thông dịch viên làm cho một dịch vụ tư nhân lo hồ sơ xuất cảnh. Nàng muốn truyền đạt những điều cần thiết với ông trước khi ông trở về Canada. Đầu tiên là chuyện chiếc nhẫn. Vật giao ước. <i>Truyền thống của người Việt chúng tôi. Lẽ ra ông phải mua cho bà ấy trước khi hai người ăn ở với nhau. Không có nhẫn làm sao bà ấy ăn nói với mọi người? “Đúng là đồ dại, đến tuổi ấy còn bị lão gà Tây bịp, giờ nó biến về nước, hòa cả làng,” Người ta sẽ chế nhạo bà. Chiếc nhẫn làm bằng chứng cho tư cách của ông, cho tình yêu chân thành của ông, để bảo toàn danh dự cho bà ấy. Thế thôi, bà không cần gì nữa.</i> Cô thông ngôn giải thích với ông ngay trước cửa tiệm vàng. Thứ đến là việc bảo lãnh. <i>Vì quá yêu ông, phần sợ ông không chấp nhận, phần không biết tiếng, nên bà ấy đã không giải thích rõ hết hoàn cảnh của mình. Sự thật là bà có hai con gái đang ở với bà ngoại ở Thanh Hóa, đứa 15, đứa 13. Bà muốn ông ghép chúng vào luôn hồ sơ để đi cùng với bà. Đây là tên tuổi, ngày tháng năm sinh chúng nó. Còn một việc nữa cũng có chút rắc rối nhưng không sao, với tình yêu cao thượng và sự rộng lượng của ông, có thể vượt qua được. Người chồng tuy đã bỏ mẹ con bà hơn chục năm nay, nhưng không chịu ký giấy ly dị nếu không được trả hai ngàn đô la. Khốn nạn! Hắn biết bà lấy chồng Tây nên gây khó.</i> Cô thông ngôn nói giọng đầy cảm thông trong lúc nàng đứng bên cạnh chặm nước mắt. <i>Bà nói bà ước có thể trốn đi nơi nào khác vì ở đây ai cũng biết chuyện bà quan hệ với ông, giờ ông về nước, người ta mặc sức giễu bà. Bà sợ rằng sẽ đau ốm và chết vì mỏi mòn thương nhớ, chờ đợi ngày gặp lại ông. Ông là niềm hy vọng cuối cùng của cuộc đời bà. Cuối cùng, tôi nhắc ông từ nay mỗi tháng phải gửi một số tiên cấp dưỡng về cho bà và hai đứa nhỏ để thuận lợi cho việc xét duyệt hồ sơ. Ông đừng lo, tôi có người bạn thân làm ở Đại sứ quán, đường dây an toàn, tốt lắm.</i></p>
<p>Sự can đảm và sự yên ổn trong tâm hồn ông chợt biến dạng.</p>
<p>Có phải nó biến đi vào khoảnh khắc nàng bắt đầu mê mải săm soi hàng loạt món trang sức bên cạnh chiếc nhẫn đính hạt kim cương nàng yêu cầu trước đó? Ông bàng hoàng nhìn thấy nét đam mê ngời ngợi tỏa ra trong đôi mắt thường ủ rủ cam chịu của nàng. <i>Đôi hoa tai này, bố Canada tặng cho con bé Tơ. Cái lắc này, bố Canada tặng cho con bé Lụa, chắc vừa tay nó. Sợi dây chuyền có mặt Phật Bà Quan Âm thì cho bà ngoại, quà của ông rể Tây biếu cho cụ. Đôi hoa tai kiểu Hàn Quốc đang thời trang, sang lắm. Bà đeo thử coi. Sợi dây chuyền cùng bộ này nữa. Thế! Ai lại chồng giáo sư tiến sĩ ngoại quốc mà trên người trống trơn không một phân vàng.</i> Cô thông dịch viên tíu tít giúp nàng chọn lựa nữ trang cùng lúc không quên làm nhiệm vụ phiên dịch cho ông. Tiếng điện thoại reng trong túi xách cô. Cô bắt máy, trả lời ngắn gọn, rồi nhìn ông, mỉm cười kiểu cách: <i>Thành thật xin lỗi ông, tôi có một khách hàng nữa đang chờ. Tiền lệ phí cho dịch vụ thông dịch hôm nay là 100 đô Mỹ. Nhưng ông có thể trả bằng tiền Canada. Tôi chịu thiệt chút cũng không sao. Sau này còn gặp bà nhà điền giúp giấy tờ</i>. Vừa lúc, người chủ tiệm kim hoàn đặt vào tay ông miếng giấy liệt kê giá thành các món nữ trang nàng chọn mua. Những con số như đang hé cười trước gương mặt thộn ra của ông. Ông mất cả trí cả hồn khi nàng vẫy tay tạm biệt ông. Đôi mắt ngấn lệ nhưng rạng ngời hy vọng và hạnh phúc. Mãi đến lúc đó ông mới nhận ra ông và nàng hai sinh linh từ hai nửa bán cầu đến với nhau, thu hút nhau vì những lý do thật khác biệt. Cô thông dịch viên cho ông biết nàng sẽ đáp tàu về quê đêm nay để thăm gia đình và ở lại làm hộ chiếu. Cô còn nồng nhiệt bắt tay chúc ông một cuộc hành trình về lại Canada tốt đẹp, và mong gặp lại ông ở Việt Nam sớm. Tối đó, ông thanh toán tiền khách sạn. Mắt ông lại chao đảo. Có cả khoản chi phí hai chai rượu XO, bao thuốc Dunhill, và mấy đĩa hải sản ba vị khách hào phóng gọi trong phòng ông đêm nào. Ông không khỏi hồi tưởng lại bữa ở Hà Nội, gã tài xế tắc xi xuất hiện làm quen khi ông từ quầy thu đổi ngoại tệ bước ra. Trên đường chở ông đi thăm lăng Hồ Chí Minh, thế quái nào hắn tài tình nẫng trọn số tiền hơn chục triệu ông đã bỏ vào túi xách tay và gài dây kéo hẳn hoi. Ông cảm giác mình đang bị mọi người nhấm nháp đến tơi tả, xương thịt nát nhừ đi.</p>
<p>Nó đang ở đâu? Sự can đảm và sự bình yên trong tâm hồn? Ông ngỡ đã tìm thấy nhưng rồi lại để lạc nó nơi nào. Có thể nào nó lẫn trong chiếc mũ, cặp kính, hay chùm chìa khóa phòng khách sạn của ông? Ông đã viết trong bài thơ đêm qua, và khóc rưng rức.</p>
<p><i>“Hello, hello, good morning!”</i> Ông giật mình. Một đám trẻ con đang chơi đá banh bên đường réo lên với ông. Ông nhớ ra hôm nay chủ nhật chúng không đến trường. Ông cũng chào “hello” và vẫy tay lại. Những ánh mắt ngây thơ đổ xô quan sát ông, tò mò nhưng thân thiện. Một cậu bé dạn dĩ nắm lấy tay ông líu lo gì đó bằng tiếng Việt. Rồi cả bọn xông tới tranh nhau níu tay ông, sờ áo ông, như thể ông mới đến từ hành tinh nào. Chúng cứ hò reo mỗi từ “<i>hello good morning</i>” rồi cười khúc khích khi nghe ông đáp lại. Chúng hồn nhiên đón nhận ông. Ông nhìn khuôn mặt tròn rám nâu của thằng bé đang trì kéo tay ông. Có lẽ nó bằng tuổi thằng cháu nội ông ở Canada. Tâm trạng sợ hãi, căng thẳng, và trống rỗng bất chợt tan biến. Trong một thoáng, ông tưởng ông đã tình cờ nhìn thấy cái ông để mất, lúc không có ý định kiếm tìm.     <br />&#160;</p>
<p><i>Mexico, tháng tư 2010</i></p>
<p><i>&#160;</i></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/12069/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ch&#237;n mươi gi&#226;y</title>
		<link>http://damau.org/archives/9831</link>
		<comments>http://damau.org/archives/9831#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 04 Nov 2009 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>McAmmond Nguyen Thi Tu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/9831</guid>
		<description><![CDATA[Hồi ấy tôi hay nói về cái máy có chương trình “chín mươi giây” với cô chủ, nhưng cô lừng chừng không muốn thử. “Có thấy ai sử dụng đâu,” cô nói. Bao lần tôi đã mời gọi cô. Chẳng xa xôi gì. Chỉ cần một bước qua phía bên phải của bức vách mỏng, và cửa phòng tôi luôn mở rộng. Nhưng hắn là cái rào cản. Hắn không muốn tôi chia sẻ công việc phục vụ cô. Tôi biết hắn muốn chế ngự cô hoàn toàn.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p>&#160;</p>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p>Hồi ấy tôi hay nói về cái máy có chương trình “chín mươi giây” với cô chủ, nhưng cô lừng chừng không muốn thử. “Có thấy ai sử dụng đâu,” cô nói. Bao lần tôi đã mời gọi cô. Chẳng xa xôi gì. Chỉ cần một bước qua phía bên phải của bức vách mỏng, và cửa phòng tôi luôn mở rộng. Nhưng hắn là cái rào cản. Hắn không muốn tôi chia sẻ công việc phục vụ cô. Tôi biết hắn muốn chế ngự cô hoàn toàn.</p>
<p>Hôm hắn chết, đám thuộc hạ của hắn vật mình bứt tóc khóc gào. Sau đó chúng nhỏ to thậm thụt với nhau, chửi tôi là thằng máu lạnh đã không nhỏ một giọt nước mắt. Có đứa còn phao rằng tôi đang nhảy cẫng ăn mừng trong bụng, vì từ nay không còn bị lép vế bởi đối thủ ở sát bên cạnh. Thoạt nghe những lời thị phi tôi cũng nóng mặt tính chuyện ăn thua, nhưng chưa được 90 giây cơn tức ách của tôi nguội mất. Rồi ra vào chạm mặt nhau mỗi ngày, đám đệ tử xấu miệng của hắn sau khi mất thủ lĩnh rú rít bợ đỡ tôi mong được tôi tuyển dụng, chúng vờ vịt thăm hỏi như quý hóa tôi lắm.</p>
<p>Sự thực khi nhìn thấy máu chảy ra từ cơ thể đang giãy chết của hắn, tôi không vui cũng chẳng buồn. Chuyện có gì. Tại người ta coi hắn là một thực thể tồn tại độc lập, như ngọn sóng hùng vĩ ngoài khơi, nên ai cũng hốt hoảng và rầu rĩ khóc than khi thấy ngọn sóng gặp bờ cát ngã sấp, vỡ tan. Còn tôi thì thấy ngọn sóng ấy là một phần phụ thuộc không tách rời của cái thực thể lớn hơn là đại dương, vì thế nó chẳng biến mất đi đâu, nó chỉ chuyển dạng, tan hòa vào biển cả! Vậy nên cái chết của hắn chẳng mảy may tác động đến tình cảm tôi. Điều choán ngợp tâm trí tôi bấy giờ là nỗi bối rối về cái sứ mệnh mới tôi sắp sửa phải đảm nhận với sự vắng mặt của hắn.</p>
<p>Không có hắn, tất nhiên tôi phải hai vai gánh hết mọi chuyện lớn bé trong nhà. Có nghĩa ngoài phần việc của tôi, tôi phải kiêm nhiệm luôn phần hắn. Cô chủ chúng tôi bấy lâu quen thói dựa dẫm hắn, giờ tất phải bám lấy tôi. Đàn ông mấy ai chẳng khoái phụ nữ cậy trông vào mình, nhất nhất vâng theo sự xếp đặt của mình. Tôi không phải trường hợp ngoại lệ. Khổ nổi tôi biết rõ tôi, tôi biết mình không thể làm hết thảy công việc hắn làm xưa nay, nhất là những việc tày đình mà thú thật dẫu có khả năng tôi cũng không làm. Bởi tôi không phải là hắn. Cũng không muốn giống hắn.</p>
<p>Làm ơn đừng nghĩ rằng tôi đố kỵ hắn. Thề có Thượng Đế, chưa một giây phút nào trong đời tôi coi hắn là tình địch như người đời đàm tiếu. Nhưng trời ạ, tôi và hắn không hề thân thiết nổi, chưa bao giờ có thể ngồi lại với nhau bàn định việc gì cho ra hồn. Ý tôi và ý hắn thường chọi nhau chan chát. Tôi cứ phải nhịn nhục rút lui để tránh những cuộc cãi cọ ỏm tỏi. Chỉ khi thấy những điều quá chướng mắt, nghe những điều quá chướng tai, tôi mới ngứa miệng, và y như rằng vừa ngo ngoe phản ứng thì bị hắn cùng đồng bọn bù lu bù loa trấn át. Đau lòng hơn cả là cô chủ ít khi mở lời bênh vực tôi. Cô kiêng nể hắn. Tôi biết phận mình. Thế là ngày tháng qua. Hắn sống và làm việc kiểu hắn. Tôi sống và làm việc kiểu tôi. Dần dà tôi phải bỏ cái lối mộng mơ “giá như hắn thế này, giá như hắn thế nọ”, và đi đến kết luận rằng trên đời này không thể bắt mọi thứ thay đổi theo ý mình mà mình phải điều chỉnh chính mình để hòa hợp với cuộc sống.</p>
<p>Tôi chắc chắn hắn đã không nghĩ rằng hắn cần phải thay đổi. Cần gì phải thay đổi khi hắn tự cho mình là kẻ đa mưu túc kế được bao người chiêm ngưỡng. Cô chủ chúng tôi nếu không có hắn đạo diễn làm sao nếm được mùi vinh quang ngay khi mới lên tám tuổi ở cái miền quê xó xỉnh nghèo mạt ấy, làm sao sở hữu được hầu hết những thứ thiên hạ xếp vào danh mục thành công của một đời người. Nếu mổ xẻ tường tận ra thì phần lớn là do công sức hắn. Không có khả năng phân tích và phán định, tôi cũng hiểu vậy, nhưng tôi cho rằng những đóng góp của tôi cũng không phải nhỏ. Chẳng phải hàng ngày hắn tiếp nhận từ tôi những thứ như là năng lượng, dinh dưỡng, thông tin cập nhật, nhất là tài năng sáng tạo nghệ thuật, rồi đem hun đúc thành một cái gì hắn có thể quản lý được để điều khiển cô chủ, bày tỏ chân dung cô chủ với thế giới bên ngoài đó sao? Vậy mà cô chủ dường như chẳng thiết, chẳng thừa nhận. Lúc nào cần đến tôi, cô đùng đùng gõ vào bức vách réo tôi sang giúp, xong việc quay ngoắt ra hiệu cho tôi biến đi. Chẳng giấu, lắm lúc tôi tủi thân chứng kiến sự ưu đãi cô dành cho hắn, thí dụ cô đắm mình với hắn trong những cuộc truy hoan sáng đêm, hay dấm dúi lên lương cho hắn trước thời hạn. Xin nhắc lại tôi không đố kỵ với hắn, nhưng chẳng thể chối cãi rằng tôi bực lắm. May mắn sao trong người tôi có gài sẵn một cái máy tự động có chức năng theo dõi và kiềm chế cảm xúc. Mỗi khi lòng tôi trào dậy lên bất kỳ thứ xúc cảm âm tính nào, thí dụ như nóng giận, bực tức, sợ hãi, lo lắng, bồn chồn, ước muốn, ganh tị, hay khao khát trả thù, có nghĩa lúc tôi thình lình cảm thấy nhức đầu, tức ngực, huyết áp tăng, tất cả tạo thành một dòng điện chạy rần rần khắp người tôi cỡ chừng 90 giây trước khi nó tan biến trong mạch máu, tôi có thể làm một quyết định. Hoặc nhấn nút “<i>play</i>” cho phép cái cảm xúc đó tiếp tục phát triển, hoặc nhấn nút “<i>stop</i>” để chấm dứt nó, chuyển đưa tâm trí trở về với sự thanh thản. Tóm lại là tự thân tôi có quyền lực ngăn chặn kịp thời những loại xúc cảm có nguy cơ gây tác hại cho tình cảm và ý nghĩ của mình. Nhờ vậy mà tôi đã có thể cư ngụ chung với hắn, cách có một bức vách mỏng, trong cùng một căn nhà hơn bốn chục năm qua.</p>
<p>Tôi nào dự tính sống gần hắn đến vậy. Chẳng qua do số phận. Hai chúng tôi cùng làm nhiệm vụ quản gia cho cô chủ từ ngày cô ra đời. Nói về sức vóc thì tôi cũng khoẻ mạnh xốc vác, điển trai không thua kém hắn, thậm chí nhiều người còn bảo chúng tôi nhìn tựa như hai anh em. Chỉ tính nết và năng lực chúng tôi hoàn toàn khác. Khởi đầu địa vị và lương bổng hắn và tôi ngang nhau. Suốt thời thơ ấu của cô chủ phải nói vai trò tôi quan trọng hơn. Đó là những ngày cô hay quấn quít bên tôi. Tôi đã nhóm ngọn lửa sáng tạo trong người cô, gợi cảm hứng cho cô vẽ. Những bức tranh vẽ bằng bút chì trên những trang giấy xé ra từ quyển vở học trò. Hắn nhìn thấy tấm tắc khen rồi hối thúc cô chủ lồng vào khung, nộp dự thi, và ngờ đâu bức vẽ đơn sơ của cô bé lớp ba minh họa chiến tranh qua cảnh hoàng hôn nơi cánh đồng bị bom thiêu rụi đoạt giải thưởng quốc gia. Cô chủ tôi được chính phủ thưởng tiền, được lên truyền hình, được báo chí cả nước nhắc tên. Được đà, hắn lấn lướt tôi, giục cô tiếp tục gửi tác phẩm tranh giải chỗ này chỗ nọ. Cô chủ chúng tôi ngày càng nổi danh. Cũng từ đó cô gần gũi với hắn hơn. Ma lực gì nơi hắn khiến cô không muốn rời hắn nửa bước. Tôi bắt đầu sống thẩm thủi như một chiếc bóng nơi phòng bên cạnh từ khi cô chủ bước vào tuổi trưởng thành.</p>
<p>Tôi có thể đoán tại sao cô chủ mê hắn. Một trong những tài năng của hắn là cấu trúc chuyện kể. Hắn có khả năng gọt giũa, cắt tỉa và sắp xếp các tình tiết lại với nhau. Với hắn, câu chuyện là phương tiện hữu hiệu để giải thích mọi vấn đề lớn nhỏ chung quanh. Khi không đủ sự kiện, không đủ thông tin, hắn liền dựa vào kinh nghiệm đã trải qua hoặc lập luận sẵn có để dễ dàng thêm vào các tình tiết cho câu chuyện thuyết phục được. Không ai có khả năng điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa bằng hắn. Thêm vào đó, trong quá trình truyền đạt phân phối câu chuyện, hắn còn tài tình trong khả năng tạo dựng những tình huống khác nhau có thể xảy ra: <i>nếu cái này… thì cái kia…, </i>đặc biệt là những vấn đề liên quan tình cảm và cảm xúc. Tóm lại, dù chỉ có mớ thông tin ít ỏi, hắn vẫn đi đến được cái kết luận logic và dễ chấp nhận. Mỗi ngày tôi ngắm hắn nhiệt tình thêu dệt chuyện và tuyên truyền mà vừa bực mình vừa buồn cười. Thế mà cô chủ tôi thật cả tin. Hắn nói gì cô cũng tin. Hắn dợt đi dợt lại trong đầu cô chủ từng chi tiết cho đến khi toàn bộ câu chuyện nghe nhuần nhuyễn và hợp lý. Hắn tự do cho phép các câu chuyện chảy tuôn tự động trong đầu cô. Sự sáng tạo của hắn có bị ai kiểm duyệt hay phê bình, kỷ luật đâu. Hắn xác định ranh giới và quyết định cái gì là đúng là tốt, rồi kịch liệt lên án cái mà hắn bảo là xấu là sai. Nhiều lần tôi nhắc cô phải thận trọng với những câu chuyện hắn tạo ra bởi vì nó có thể gây ra những bi kịch, hay chấn thương tình cảm. Nhưng cô ngày càng bị lún sâu trong sự khống chế của hắn, không còn kiểm soát được ý nghĩ của mình nữa. Hàng ngày tôi quan sát nét mặt luôn căng thẳng của cô, hắn đã khiến cô cứ bận tâm lo lắng không biết người khác nghĩ về mình như thế nào.</p>
<p>Cuộc sống cô chủ không lúc nào không bận rộn. Miệng nói tay làm đầu suy nghĩ cùng một lúc mà vẫn chưa bao giờ cô thấy có đủ thời gian. Mỗi sáng thức dậy hắn chăm chăm giúp cô liệt kê hàng lô những việc phải làm trong ngày, rồi đến tối đánh giá bằng việc xem lại bao nhiêu thứ đã được xóa trong danh sách. Hắn luôn cau mày nhắc nhở cô nhanh chóng lên vì thời gian không còn nữa. Cùng với bọn thuộc hạ trung tín, hắn tung ra đủ mọi trò vừa giúp cô chủ giải trí lại vừa làm cô tất bật thêm. Cái đám lâu la tài cán đáng gờm này chẳng biết hắn tuyển đâu ra. Đứa giỏi văn chương chữ nghĩa, đứa tài tổ chức kế hoạch, đứa thạo tính toán suy luận, đứa biết đánh giá phê bình, đứa rành khoa học kỹ thuật. Nói chung đứa nào cũng miệng lưỡi giảo hoạt, tỉ mỉ từng chi tiết, tuân thủ mọi lề luật, làm lụng đầu tắt mặt tối phục vụ hắn. Dàn lính phụ việc cho tôi thì ngược lại. Chúng là những kẻ rất mơ mộng, thậm chí hơi viển vông, suốt ngày ngắm cảnh trời mây, hứng lên còn lo viết nhạc, vẽ tranh, tạc tượng, có đứa còn khoái coi bóng đá và la cà các quán nhậu. Nói chung chúng chỉ quan tâm hiện tại, không khóc than dĩ vãng cũng chẳng cần toan tính ngày mai. Chả thế nhân viên của tôi luôn bị hắn dè bĩu là lũ lười nhác vô tích sự. Nhưng tôi chẳng phiền lòng, miễn là bọn chúng cảm thấy hạnh phúc vì được tự do làm điều mình thích, và chẳng hại gì đến ai. Thật ra, tôi mà để bụng chấp nhặt hắn thì tôi sẽ công kích việc hắn bí mật quây một góc nhỏ trong phòng làm chỗ họp riêng cho hắn và hai tên thuộc hạ xuất sắc, mà hắn gọi là Bộ Chỉ Huy. Cô chủ tôi khi gặp rắc rối đều đến đó xin ý kiến, và mỗi lần xong trở ra, tay cầm một tờ giấy tóm lược các bước hành động, gương mặt cô đắc thắng tuy ẩn chứa chút vẻ băn khoăn, bối rối. Mặc dù không biết đọc, tôi linh cảm được nội dung nó hàm chứa không gì khác hơn sự tham lam, sĩ diện, ghen tức, dối trá, hận thù, hoặc vu cáo, hãm hại. Đó là những thời khắc trái tim tôi nhói đau. Chín mươi giây trôi qua, nỗi tủi đau cào xước tim tôi đến rướm máu. Ngón tay tôi hấp tấp sờ soạng chiếc máy theo dõi và kiềm chế xúc cảm. Thay vì ấn nút “stop”, tôi đè nút “play” để cho sự đau đớn giận hờn di căn và gặm nhấm đến tận từng tế bào trong cơ thể. Thấy tôi giãy giụa tự hành hạ mình cô chủ có vẻ động lòng. Dẫu cô không nói gì, nhưng nhìn ánh mắt cô tôi biết. Một lần hai bàn tay cô dịu dàng ôm lấy khuôn mặt tôi, mắt rơm rớm, xong cô còn gục đầu vào vai tôi thổn thức. Nước mắt cô thầm thì ve vuốt trái tim thương tổn của tôi. Nhưng khoảnh khắc hiếm hoi nhiệm mầu ấy đã bị bọn thuộc hạ của hắn phá bĩnh. Chúng xô ngã bức vách, vừa nguyền rủa vừa đẩy tôi dạt khỏi người cô chủ, rồi hắn từ đâu bỗng xuất hiện liếc mắt kênh kiệu về phía tôi. Với nụ cười ngạo nghễ, sức mạnh và quyền uy, hắn kéo cô ngả vào vòng tay mình, rưới vào tai cô thứ lời lẽ âm thanh tôi tù mù không hiểu nhưng nghe rất ngọt dịu như là tình yêu. Giọng cô chủ bắt đầu khúc khích lả lơi với hắn. Tôi bỏ đi, không muốn nhìn thấy cảnh hắn và cô chủ lại làm tình với nhau. Như bao nhiêu lần cô thâu đêm với hắn, bỏ quên tôi bên kia bức tường lạnh lẽo thâm u.</p>
<p>Hắn là thế. Đầy quyền năng cám dỗ và chinh phục cô chủ chúng tôi. Hắn còn muốn thống soái cả tôi. Nhiều phen tôi cũng ráng thi thố bày tỏ năng lực của mình. Nhưng mọi nỗ lực của tôi trở nên hoài công. Tôi đã thật sự thua. Không nghi ngờ gì nữa. Tôi đầu hàng chính thức vào dịp hắn cùng Bộ Chỉ Huy mở chiến dịch giúp cô chủ đánh lừa cái máy “lie detector”, một loại máy phát hiện nói dối, cảnh sát dùng để thẩm tra độ tin cậy trong những lời khai báo của cô. Đó là lần cô đệ đơn thưa người cha ghẻ nhiều lần hãm hiếp cô những năm đầu cô mới đặt chân sang nước Mỹ. Điều này có nghĩa những người thực thi pháp luật phải đi ngược lại 30 năm về trước khi cô vừa mới 14 tuổi. Tôi biết rõ đây chỉ là sự vu cáo của cô nhằm trả đũa người đàn ông da trắng đã xen vào đời sống gia đình cô, cướp đoạt của cô tình cảm của người mẹ. Bấy giờ mẹ cô và cô mới chân ướt chân ráo nơi đất khách quê người, ba cô bị hải tặc giết chết trên tàu và quăng xác xuống biển, người đàn ông trí thức trong một tổ chức từ thiện đã đi lại giúp đỡ, và cuối cùng thế vào vị trí của ba cô. Cô ghen tị với sự quan tâm của mẹ cô dành cho ông. Mẹ cô và ông, hai con người này, hình như chỉ biết có nhau trong thế gian này. Sự có mặt của ông đã tạo ra bức tường ngăn chia tình cảm giữa cô và mẹ. Rồi những xung đột, rồi cô dọn ra ở riêng mang theo nỗi căm phẫn không bao giờ nguôi với người đàn ông dị chủng ấy. Cô đã đinh ninh mẹ cô thể nào cũng phải bỏ ông ta để đón con gái về, nhưng điều đó đã chẳng xảy ra. Suốt mấy chục năm hai người vẫn sống hạnh phúc bên nhau, không có cô. Cô đã chờ đúng dịp ông bố dượng được vinh danh giáo sư vật lý danh dự của một trường đại học danh tiếng nhất trong vùng. Và hắn hân hoan nhảy vào giúp cô thực hiện ước muốn trả thù. Nghe tin, tôi sốt ruột chờ hắn đi vắng, mon men chỉ cho cô chủ chiếc máy theo dõi và kiềm chế xúc cảm đã cài đặt trong người tôi, mà cô có thể dùng bất cứ lúc nào cần. Chỉ phải đợi 90 giây, và nhấn nút “stop”. Nhưng cô lắc đầu bảo kế hoạch đã lên, chờ dịp khác vậy. “Có thấy ai sử dụng đâu,” cô nói tiếp. Trong đầu, cô đang lo nghĩ phải đối phó với nhà chức trách và cái máy phát hiện nói dối.</p>
<p>Thứ phát minh đó chẳng qua để dọa những kẻ yếu bóng vía. Hắn tuyên bố về cái máy phát hiện nói dối khi cô nhận tin hẹn từ cảnh sát. Máy móc dù tối tân đến mấy cũng không đọc nổi ý nghĩ của con người. Ta chỉ cần chuẩn bị chu đáo. Nói xong hắn giao nhiệm vụ cho hai thuộc hạ: một tên chuyên trách toán học, một tên biệt tài trong ứng phó và duy trì sự bình tĩnh. Ngay tức thời cô chủ được chúng sắp xếp cho tham dự một khóa huấn luyện cấp tốc cách trả lời câu hỏi trong lúc tập trung trí óc hoàn toàn vào một bài toán số học vận dụng cấp số nhân. Hôm ấy tôi lẻn theo cô chủ vào tận văn phòng hỏi cung của cảnh sát, tất nhiên hắn cũng lảng vảng bên cạnh. Người ta gắn các thứ dây nhợ vào đầu ngực chân tay cô chủ để đo huyết áp nhịp tim nhịp thở thân nhiệt và độ dẫn điện ở da trước cuộc tra vấn. Suốt buổi, toàn bộ trí não cô đánh vật với những dãy số của bài toán trong lúc miệng cô vẫn có thể đều đặn phát ra những giải đáp trơn tru cho mấy chục câu hỏi, cả những câu bắt bí hoặc gài bẫy của người thẩm vấn. Rõ hắn không ngoa, cái thiết bị hiện đại ấy phải chào thua cái đầu quyết tâm của cô. Các số liệu máy ghi được đã không thể kết luận cô chủ là kẻ nói dối. Thế là khi ra tòa, không khó khăn lắm cho mọi người tin vào cái bi kịch thương tâm xảy đến với một cô gái Việt Nam di dân bé bỏng và yếm thế. Phòng xử án hôm ấy khá đông người. Mẹ cô cũng có mặt. Cô chủ nghẹn ngào mô tả lại chi tiết hành vi xâm phạm tình dục của ông bố dượng người Mỹ và hậu quả tâm sinh lý cô phải gánh chịu cho đến bây giờ. “Mấy chục năm nay tôi luôn hốt hoảng, sợ hãi chuyện gối chăn. Nhiều lần tôi đã nghĩ đến chuyện quyên sinh. Tôi không xóa được cảm giác tội lỗi, nhơ nhớp. Tôi không thể có được những rung động thể xác ngay cả với người tôi yêu say đắm. Tôi không thể sống như một phụ nữ bình thường. Đời sống tình dục của tôi đã bị hủy hoại từ những năm ông ấy cướp đi sự trinh trắng của tôi. Đến giờ tôi vẫn còn những cơn ác mộng, cứ thấy hình ảnh những đêm khuya ông ấy mò vào phòng tôi với mảnh khăn để chùi xóa dấu vết…” Giọng cô run rẩy, đứt quãng. Bà công tố viên da đen tóc xoăn tít vẻ mặt nghiêm nghị đưa cô miếng giấy chặm nước mắt. Mọi người nín lặng xúc động. Vị luật sư bào chữa ông bố dượng chẳng chất vấn cô được gì vì cô cứ khóc nức nở như đứa trẻ bị đòn oan. Tôi nhìn chằm chằm vào mặt cô chủ, không thể hình dung đây chính là cô bé gái thuở xưa khi còn ở quê hương, có lần thấy con ếch nhỏ xíu băng qua đường lộ di chuyển xuống rãnh nước mé ruộng, đã ngây thơ mếu máo với mẹ rằng: “Người ta sẽ đái lên nó, nó sẽ chết.” Tôi vẫn còn nhớ những giọt nước mắt cô bé bốn tuổi khóc thương con ếch con không ai bảo bọc.</p>
<p>Tội nghiệp. Người đàn ông ốm yếu tóc bạc trắng đứng trên bục bị cáo trong bộ quần áo tù nhân, mặt xanh mét cúi gằm. Tôi chưa từng thấy một con người bị dồn vào cảnh khốn cùng như vậy. Tôi ước có thể hét lên minh oan cho vị giáo sư ấy. Sao mọi người không biết rằng ông vô tội, gương mặt kẻ vô tội, chỉ nhìn là biết mà. Ông không nói được gì, môi cứ giật giật mấp máy. Hình như có một lúc ông gọi tên Chúa. Tôi không còn chịu nổi. Tôi ghé vào tai cô chủ, van lơn cô rút lời, nhưng hắn đứng bên nghe thấy, hắn lừ mắt nhìn tôi, xong quay sang thách thức xem cô có sẵn sàng chịu tiếng với công luận rằng mình là kẻ vu cáo.</p>
<p>Cô chủ tôi thắng kiện. Ông bố dượng bị kết án bảy năm tù. Mẹ cô chết ba tháng sau đó, trong nỗi đau buồn và tuyệt vọng quá sức chịu đựng. Cô chủ cũng suy sụp tinh thần từ ấy. Cô trở nên ít cười ít nói, không còn đi lại thân thiết với hắn nữa. Tôi lại nhắc cô thử chiếc máy theo dõi và kiềm chế cảm xúc với chương trình “90 giây”, cô buồn bã lắc đầu, trễ rồi, “Có thấy ai sử dụng đâu,” cô lại nói. Chẳng bao lâu bác sĩ phát hiện cô bị chứng cao huyết áp. Một thời gian ngắn sau đó, cô phải xin nghỉ làm để điều trị chứng trầm cảm. Bác sĩ bắt cô uống Prozac mỗi ngày. Còn hắn cũng có triệu chứng đi xuống, người ủ rủ, không hăng hái phục vụ cô như trước nữa. Một đêm, hắn và cô chủ tâm tình với nhau lâu lắm. Sáng ra, hắn bị xuất huyết. Cô chủ cũng được đưa vào nhà thương cấp cứu mấy tiếng đồng hồ sau đó.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Mỗi ngày cô chủ tôi đến một tòa nhà lớn dưới phố có bảng hiệu “Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng Cho Bệnh Nhân Đột Quị”. Ở đó cô tham gia một lớp học với hơn chục người khác nữa. Họ được dạy dỗ huấn luyện để trở lại thành người bình thường.</p>
<p>Với năm lỗ khoan trong sọ và hơn bốn chục mũi khâu trên da đầu, cô chủ tôi bây giờ thật khác xưa. Nhìn cô thật hiền, chầm chậm. Nửa thân người bên phải bị liệt, cô ngồi trên xe lăn, quần áo tóc tai giản dị, mặt mũi không phấn son, tay chân lóng ngóng, cô phải tập cử động, tập đứng tập đi trở lại. Người ta còn dạy cô tập nói, tập viết, tập làm toán cộng, tập phát âm tên của người quen cũ. Có hôm họ đặt trước mặt cô những bức tranh nổi tiếng cô đã vẽ, cả những bức cô mới hoàn thành trước khi bị xuất huyết não, tôi biết cô nhận ra nhưng cô không thể diễn đạt được. Phần lớn trí nhớ của cô cùng với bao khả năng khác đã mất cùng với sự ra đi của hắn.</p>
<p>Cô chủ giờ đây lấy cả nĩa ăn để gãi lưng, ngáp không che miệng, đánh rắm không e dè. Cô cười nói và hành xử như một đứa bé ngây thơ, không mắc cỡ, không ngại người xung quanh nghĩ gì. Nét mặt cô lúc nào cũng tươi vui. Trong lớp, cô thích nằm dài ra giường, mở nhạc nho nhỏ, rồi chìm vào giấc ngủ. Nhưng người ta cứ đánh thức cô dậy bắt cô tiếp tục những bài học họ đã soạn thảo và đóng trong cái tập bìa cứng dầy cộm mà cô không mấy hứng thú.</p>
<p>Bây giờ cô chủ có những giấc mơ lạ lùng. Cô không còn thấy những con người với những hình ảnh nối kết nhau thành những câu chuyện như trước đây nữa. Đã qua rồi những buồn rầu, toan tính, sợ hãi, ăn năn, hay nỗi bất lực không thể đối phó khi bị rượt đuổi, bị hãm hại trong mơ. Điều cô chủ nhìn thấy mỗi khi chìm vào giấc ngủ bây giờ là những mảnh hình ảnh mờ ảo, rời rạc, vô nghĩa, không lắp ghép lại thành câu chuyện. Trí não cô không còn di chuyển ngược xuôi hết ý nghĩ này đến ý nghĩ khác nữa. Nó đắm chìm ở một cõi tĩnh lặng, dạt dào thanh thản. Không có gì phải vội vã, hốt hoảng với cái danh sách “việc phải làm” trong ngày. Thật sự thì cho đến nay cô chủ mới biết được cái cảm giác trở về hoàn toàn với hiện tại, thấy cơ thể mình như một khối thể lỏng hòa tan vào một khối lỏng bao la hơn. Và lạ kỳ, cô không còn cảm nhận cơ thể mình bắt đầu và kết thúc ở đâu nữa. Tôi biết cô đang trải qua những khoảng khắc thanh bình thẳm sâu với cảm giác nối kết cùng vũ trụ. Những ý nghĩ của cô không còn dồn dập, rải rác, tán loạn, chạy như mắc cửi, không còn cuống cuồng vuợt qua hiện tại, ngược về quá khứ, hay với tới tương lai. Hồi ấy sách vở và các guru của cô hay nói về cái trạng thái nhiệm mầu như lên được cõi niết bàn khi con người thực hành yoga, ngồi tọa thiền, nhưng mãi đến bây giờ cô mới thật sự cảm nhận được trạng thái đó. Và để trải nghiệm được nó, cô phải trả bằng một giá khá đắt: dưới mắt thiên hạ, cô không còn là một con người bình thường nữa.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Các nhà giải phẫu thần kinh gọi tôi và hắn là hai bán cầu đại não nằm trong hộp sọ của cô chủ. Lâu nay họ dường như thỏa mãn với cái kết luận về sự không cân đối của hai chúng tôi dưới góc độ thần kinh học, sự khác nhau về cấu trúc và chức năng, nhưng còn mập mờ khi bàn đến sự khác nhau dưới góc độ tâm lý hoặc cá tính của chúng tôi. Tôi thường bị rẻ rúng, đơn giản vì tôi không có khả năng về ngôn ngữ, lúng túng với những tư duy logic, tôi bị chê lười nhác chậm chạp, tính cách nghệ sĩ lông bông, không có kỷ luật. Trái lại hắn thường được khen ngợi và đánh giá cao, bởi kiến thức tuyệt vời về ngôn ngữ, người ta bảo hắn đại diện cho lý trí, sự thông minh, phương pháp, trật tự, và chỗ ngự trị của lương tâm.</p>
<p>Thật tình tôi không biết phân tích hay tranh luận, nhưng tôi tin nếu cô chủ biết nuôi dưỡng và đối xử chúng tôi công bằng, sử dụng đúng khả năng của mỗi đứa, khuyến khích hai chúng tôi ủng hộ nhau, ảnh hưởng nhau, cân bằng nhau, thì có lẽ hắn đã không chết và hai chúng tôi sẽ trở nên hữu ích cho cô chủ biết chừng nào.</p>
<p>Về cái máy theo dõi và kiềm chế xúc cảm với chương trình “90 giây” cài trong người tôi, tôi ước giá như cô chủ đã sử dụng nó. Thật tiếc, cô đã quên mất vai trò của cô là cô chủ của hai chúng tôi, và thật ra cô có quyền lực tối cao với cảm giác và ý nghĩ của mình.</p>
<p>&#160; </p>
<p><i>Tháng 9, 2009</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/9831/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Where&#8217;s My Soul</title>
		<link>http://damau.org/archives/8513</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8513#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Sep 2009 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>McAmmond Nguyen Thi Tu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>
		<category><![CDATA[Từ Việt ngữ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8513</guid>
		<description><![CDATA[The Dalai Lama said that if I look at you superficially, we are different, and if I put my emphasis on that level, we grow more distant. If I look on you as my own kind, as human beings like myself, with one nose, two eyes, and so forth, then automatically that distance is gone…”]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong> </strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><em>From Vietnamese original <a href="http://damau.org/archives/8509">Linh Hồn Tôi Đâu</a>, short story by McAmmond Nguyen Thi Tu</em></p>
<p>At times I wondered if God had punished me as a warning to any Roman Catholic who would risk his soul. If not, why would He let the prying eyes of her brother stop at my Blackberry that had slipped into a crack on the sofa in her living room when I was there. In the name of Jesus, my carelessness deserved to be cursed, but did the price to pay have to be so high? And what about her God, Allah, who she had always feared and worshiped with all her heart, why wouldn’t He vouch for her purity and shield her from that fatal stabbing? Every time I imagine what she had to endure in her final moments on earth, I lose my mind. I see her gentle face framed by an emerald green hijab covering her head and shoulders. With her headscarf on, she looks like a Catholic nun. Her eyes are wide open, filled with panic. A sharp pointed knife suddenly appears, piercing her neck, chest, and stomach. It isn’t only one stab, but then one more, then three, four, five, six… a total of eleven thrusts, fast, regular, like a rhythmic dance. Not a sound comes from her. Only the calm and sorrowful voice of her father repeating a sura from the Qur’an. She’s sitting in the front seat of the old, dark blue, Toyota Cressida, next to her father. Her head drops to her shoulder, her eyes are still wide open, terrified, blood spattered on her hijab and soaking through her white blouse. This image pains me deeply. I feel powerless and horrified as if it is my body being cut to pieces under that sharp pointed knife. No, it couldn’t be. She was just with me walking along the hillside covered with wildflowers and green grasses in the golden afternoon sunlight. The night before the murder we were sitting together until past midnight in the living room of her house, the house I had stepped into for the first time, stealthily, like a thief in the night…</p>
<p>It was all because of them. The doctor, police, social worker, and also my father. They held meetings, conspired together to bring me in this place. My mother came to visit me, touched my face again and again, tears running down her cheeks. She said that my craziness was caused by demonic possession &#8212; (and of course I understood that my mother referred to the girl I love). My sister would stand by a window gazing at the parking lot down the street, occasionally turning to me with a pitiful look. Before leaving, my sister always asked what books I needed so she could bring them the next time she came. She meant the books for the new research about the life of Native Indians in western Canada before the invasion of the White people. I was conducting this project with a professor who was a foremost authority in the field. What was the point of reading that stuff now, I would ask myself bitterly. My sister assumed that I didn’t know what had happened to the project, so she just pretended, in order to console me. But the truth is, I had already learned the news from one of my classmates. The professor had sent a letter to my home advising that he had ended his contract with me, and had replaced me with another student. When I first came here, my friends visited quite often, but somehow in the recent weeks they had all disappeared. My father, no, he has never appeared. My mother said that he was too busy with trips to Vietnam to take care of his newly formed stock company in Ho Chi Minh City. I know that my father no longer cares about his oldest son he used to put a lot of hope in. “That’s it. Children who don’t listen to their parents are like fish without salt, they go rotten. He refused to study business, but wasted time on a lousy program that won’t help him get a job. He protested marrying a girl in Vietnam, but let that Muslim witch steal his soul, now even his body is badly damaged. What else can we do but consider him dead”. I heard him talking to my mother on the day a group of people had gathered in my house, when they pushed me down to give me the needles and then carried me to the police van on the street.</p>
<p align="center">*</p>
<p>The girl I love was born and grown up in Karachi located in southeast Pakistan, a financial and commercial hub on the coast of the Arabian sea. I am from a small Catholic parish in central Vietnam. I have been in Canada for 20 years, arriving here when I was a boy in grade 3. She, on the other hand, came here with her family only three years ago. We did volunteer work together with an agency that supports immigrant youth. She was studying law, in her second year. I was writing my PhD thesis, hoping to find a job teaching anthropology for a university in the city.</p>
<p>I remember when we first met she asked why I was called Cao. I said I heard from my mother that my paternal grandparents had migrated to the South many years before but still missed their homeland Dong Cao which is on the Northern coastal plain, so they named their grandson Cao. As for her, her father named her Aishah to show his respect for the prophet of God. Aishah was the youngest among more than ten wives of the prophet Muhammad. Aishah was married to him when she was nine and he over 50. So, Allah is obviously unfair. He allowed his prophet to break the law by having more than four wives. I was just joking, but her black eyes, framed with exquisite long lashes, looked at me in disbelief. “Cao, saying that is an insult to God and his prophet. It’s a serious sin,” her voice was solemn and scolding.</p>
<p>When we saw each other the next time, she handed me a copy of the Qur’an, brand new, an English version. “Unless one reads it in Arabic, one cannot comprehend its deepest meanings,” She said. I asked if she wanted to convert me. She shook her head, saying that she just wanted me to read so that I could better understand and appreciate God even more. But during our meetings afterwards, it appeared that she wanted me to believe in her God. There’s no other God but Allah. Allah is the Creator and Sustainer. She argued with me. How could God have a son when he never had a wife. God doesn’t have children, and He wasn’t ever born himself. She said Jesus is only one of God’s prophets, not the Son of God as stated in my religion. In fact, Muhammad is the prophet and last messenger of God, who God had chosen to convey His words through the Archangel Gabriel. She even insisted that it’s not my Bible, but her Qur’an that is truly God’s word.</p>
<p>Her lectures about God actually couldn’t shake my belief. I was inspired by the beauty radiating from her bright and gentle face accentuated by the big beautiful eyes full of mysterious and magnificent stars. I’m not exaggerating, but I must say that I have never seen any woman, Western or Eastern, with such alluring eyes. Even my sister who always likes to criticize others, said, “Brother, your Muslim girlfriend has eyes that are getting ready to steal another’s soul”.</p>
<p>I brought the Qur’an home. My father reacted as if he had caught sight of the devil. It’s garbage from the satanic religion that attacks our God in Three Persons. It insults Jesus Christ and his savior mission. Being Catholics, we should just learn what’s written in the Bible. My father lectured me for a long time. I wasn’t surprised. For more than 10 years my father has been president of a parish committee which has two thousand Vietnamese Catholics who immigrated in groups to this North American city. He followed in the steps of my deceased paternal grandfather, whose life and money was dedicated to God. My father lectured me, but how could he control all my deeds. The Qur’an given by her was therefore put in the stack of research books I read every day. Allah must know, if it wasn’t for Aishah, I wouldn’t take the trouble to read it. Aishah, the girl who wore the hijab that covered her head all the time, and who had exquisite, round eyes, could ask me to do anything.</p>
<p align="center">*</p>
<p>If we didn’t count the living room in her house where we were together the last time, the enormous and quiet hill located in the north west of the city was the only place that had witnessed our secret dates. It was the world that opened its arms for us. Only there could she have the freedom to walk side by side with a man who was not a family member or even a relative. Of course she always lied and told her family that she was going to the library to study. To avoid attention, she would take off her hijab and put it in her bag. I don’t want people to be nosy when they see a Muslim girl with a man who’s not only of a different religion but also of a different race. The second reason is to ensure our safety. “You know, Muslim Pakistanis like me are often discriminated against,” she explained. With her long hair covering her shoulders, she walked beside me, both beautiful and innocent. The path to the top of the hill was exactly two kilometers long. We had counted every loving step. On one side of the path, a broad grassland area was all we could see &#8211; fescue and Blue Grama grass, sage and parry oatgrass. On the other side, a sharp coulee was sprinkled with multi-colored flowers, wild willow bushes and shrubs, and the stands of slender aspens whose leaves trembled in the wind and sunlight. Why is this flower is called buffalo beans, why is this one a black-eyed Susan? I think wild flowers are actually more beautiful than garden flowers. Her voice was excited. So this is the Seneca Snakeroot you told me about; the Natives used to chew it and apply it to rattlesnake bites and insect stings? Oh, look! Roses, a forest of roses! No wonder our land is named the land of the wild rose. She was lost in that paradise with countless mysterious things unlike those in the narrow and restricted world of her family and mosque. She asked questions, she wanted to know everything. She admired me for having eyes that could pick out a deer hidden in distant bushes. I showed her the solitary porcupines that lived among the willow branches. I taught her how to tell the Red-tailed from the Swainson’s Hawk and from the Northern Harrier.</p>
<p>And sometimes I was able to show off to her knowledge I had acquired from my national culture research project. Many things on the hill which was formed at the end of the Ice Age were familiar to me. We often stopped by the rock where the buffalo, for hundreds if not thousands of years, came in the spring to rub off their tattered winter coats that made them itch. Millions of North American bison, with short faces, shaggy coats and humped backs, roamed in immense herds on this very spot. They searched out new grass on the windy slopes and along the banks of the Bow River that was now a city centre where only skyscrapers grew. She listened as I told stories of the Europeans who appeared on this land with guns, horses, and also with diseases. They said that they discovered this land that had been the home of Amerindians for more than ten thousand years. They thought it was their duty to ‘civilize’ the Natives by placing them on reserves, challenging their culture and traditions, by telling them that their God, whatever they called him, was not the true God and by introducing the concept of land possession, The Natives had never thought of land as something that could be possessed. Land belongs to nature like the sky and the air. But the White people had set their foot here, taking over the rich fertile areas, and forced the Natives to live on poorer land with their families. She sighed and said, “Is that not the way White people operate in many places on earth?”</p>
<p>She talked to me about the inferiority complex of Muslims who immigrate to Europe and North America. The day when the two towers in New York were brought down, she was in school. Everyone gathered to watch television in the cafeteria. She felt that all eyes were on her with hostility as though she personally was the pilot in one of the planes. In the afternoon she went home to find that her father’s car, which was parked in front of the house had been smashed, the windshield and the glass in one door broken. On the front of the car were big letters in English written with a black felt pen “Terrorist. Go home.” And if that wasn’t enough, the next morning, her mother was horrified when she opened the door, to see a pig’s head, soaked with blood in the front yard. Theirs was the only Pakistani family on that block. The same day, there was a report that someone had thrown four freshly cut pig heads in front of the city mosque. What else will they do? She was worried about being harmed by these extremists.</p>
<p>I must say my meetings with her on the hills were the most beautiful and exciting moments that I had never experienced. Our passion to learn about nature brought us closer every day. I was thrilled when she showed her complete trust in me, sharing with me thoughts about her life without any hesitation. Yes, she was the first and only woman that I ever wanted to protect with all my heart and mind. There were times when we stood in silence on the hilltop, feeling no need to utter a word to each other, just quietly watching the sunset partly hidden in clouds clustered like sheep on the far side of the Rockies. And behind us the majestic buildings that rose out of the valley on the banks of the winding river, and an immense prairie stretching off to the East as far as we could see.</p>
<p align="center">*</p>
<p>That day she told me her family would be absent the whole night. They had gone to a relative’s wedding in Vancouver. She wanted to stay at home alone to study for final exams. She asked if I would like to come over.</p>
<p>I did go to her house. We sat together for hours in the sofa in her living room. She told me that her brother had become suspicious. She had come home late from the library too many times. There were signs that her computer and cell phone had been inspected. “But don’t you worry,” she said, “I deleted everything.” I told her that my father was pressuring me to go to Vietnam and marry his business partner’s daughter. “And will you do as your father wants?” she asked me. Her voice couldn’t hide her worry. I couldn’t imagine myself being converted to her faith, but swore to her that I would find a way to fight for our love. She also said that she could never abandon her family, but swore that she would remain single for the rest of her life if we couldn’t live with each other. That night, the very first time after more than a year of knowing each other and being deeply in love, we could put our arms around each other. The inviting darkness and overwhelming love had made it hard to repress our burning desire to unite our bodies. I placed my lips on her pure breast. She trembled and offered herself to me, heart and soul. I could hear her pleading breath, her racing heart, and sense the virginal fragrance from the girl I love.</p>
<p>Then I stopped during a sacred moment I will never forget. What if I couldn’t marry her? What if her father forced her to be another man’s wife? The horrendous and heart-wrenching stories she had told me about Islamic law regarding the virginity of a woman on her wedding night put out the flame in my heart.</p>
<p>I went away while she was getting ready for her prayers before going to bed. I left her house, stealthily, the same way I came in, worried that someone might see me.</p>
<p>That night the Muslims started to prepare their heart and body for Ramadan.</p>
<p align="center">*</p>
<p>The next morning was the first day of Ramadan, the fasting month. She once explained to me that this was the month the Qur’an was revealed to the prophet Muhammad and that during this holy month, everyone must forgive and repent.</p>
<p>Back from Vancouver, her brother grilled her all morning after spotting a strange cell phone between the sofa cushions in the living room. Her bedroom and clothes were ransacked. Her brother’s snooping eyes finally came upon her diary. The walks on the hills. A man’s kisses and hugs. Praise be to Allah, the one and only Creator! “So, this Blackberry belongs to that bastard and he stayed over last night. You trashy whore! Don’t think you can fool me. The sin is clear on your tired face. Did the damn dog get you pregnant? Speak! How many times have you slept with the man who worships many Gods, and eats the meat of the dirty pig? Tell me!” Her mother wept. Her sister too. She tried in vain to defend herself while her brother grabbed her hijab and banged her head on the wall. That evening, her father ordered her to accompany him to the mosque to pray. He stopped on a deserted street, and suddenly pulled out the sharp pointed knife he had hidden in the car. She didn’t have time to react. She would never be able to know that her father had, in fact, prepared the plan to kill her and discussed it with her mother and brother a few hours before. Only her death could protect the family’s reputation.</p>
<p>The city newspaper the next day ran a big headline on its front page “Muslim student stabbed to death in her father’s car”. Included in the news article was a portrait of Aishah whose head and shoulders were covered with the green colored hijab, the one with small dotted sparkles. Her beauty was that of the Virgin Mary – eyes wide open, profoundly gentle.</p>
<p>And now she is dead. Not because of prejudice from White extremists, as she had always feared, but from the furious hands of the person who gave her life.</p>
<p>Until the moment of leaving this earth, the girl I shall always love had not fulfilled her dream of going to the holy city Mecca once as all Muslims want to do in their lifetime.</p>
<p>As I’m telling this, her father is still in jail serving his life sentence. He is waiting for his lawyer’s appeal to ask the court to lessen the punishment for the “honor killing” for, as he says, “Killing a daughter to protect a family’s reputation is a sacred duty.” Her mother and siblings have moved to a small town down East. And here I am, my soul lost somewhere where it can’t be found. I am a prisoner in this place for an indefinite period of time…</p>
<p align="center">*</p>
<p>That was all I had gathered after many meetings with Cao, a 30-year-old man of Vietnamese origin, the subject of my research paper for the graduation thesis in my psychology degree. Cao was admitted to the psychiatric hospital three months ago, and classified as a serious and complicated case. Normally, he will be extremely quiet and just focus on his reading not saying a word to his cellmate, but occasionally he will fly into a fit of madness, banging, breaking things, screaming and crying and they have to send him to a special 24 hour secured room. It’s written in the nurses’ daily reports that, one day Cao threw the Bible on the floor, then peed on it. The other day he used his teeth and hands to tear many pages from the Qur’an.</p>
<p>Cao wouldn’t talk about his story every time we met. Some days he would just sit like a statue, staring at me with vacant eyes. Other days he would talk for a while then suddenly stand up shouting at me and use rude or vulgar language as he told me to go away. Other days, he talks without stopping, jumping from one subject to another. Usually his voice is calm, as though he’s telling somebody else’s story, but sometimes he gets a lump in his throat and chokes up. His eyes turn red. Once he paused in the middle of the sentence, mumbling to himself as if he had completely forgotten that I was there. “<em>Where’s my soul. Where is God the Trinity? Where’s Allah. Aishah is the girl I love</em>.” He kept muttering sentences as though he was repeating what he learned by heart in a textbook, his eyes stared at me but his mind was somewhere else. “<em>For though the pig’s hoof is divided, thus making a split hoof, it does not chew cud, it is unclean to you. You shall not eat of its flesh nor touch its carcass. Everything is only an invention! Religion. Culture. War of the Cross. Holy war. Bullshit!</em>” Cao burst into angry words while waving his hands in the air. He stopped for a short moment, eyes still far away, then continued mumbling. “<em>The Dalai Lama said that if I look at you superficially, we are different, and if I put my emphasis on that level, we grow more distant. If I look on you as my own kind, as human beings like myself, with one nose, two eyes, and so forth, then automatically that distance is gone</em>…” I listened to Cao and could not help thinking about tragedy that seems impossible to erase in the human world. Isn’t it right that humans by nature shall be forever prejudiced against each other, and that discrimination is not just limited to religion? Beside me, Cao was chanting “<em>Where’s my soul. Where is God the Trinity. Where’s Allah. Aishah is the girl I love</em>…” And right at that moment I saw tears streaming down his cheeks.<em></em></p>
<p><em>Calgary, June 2009<br />
</em><em>McAmmond Nguyen Thi Tu &amp; Gary Donovan</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8513/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Linh Hồn T&#244;i Đ&#226;u</title>
		<link>http://damau.org/archives/8509</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8509#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 03 Sep 2009 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>McAmmond Nguyen Thi Tu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Truyện ngắn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8509</guid>
		<description><![CDATA[Đức Đạt Lai Lạt Ma dạy rằng nếu tôi nhìn bạn với ánh mắt thiển cận bề ngoài, hai chúng ta thật khác nhau. Và nếu cứ tập trung ở mức độ đó, hai chúng ta lại càng nhích ra xa hơn. Nhưng nếu tôi nhìn bạn như cùng nòi giống con người, với một cái mũi, hai con mắt, và cứ thế, thì tự động cái khoảng cách đó mất đi…]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p>Có lúc tôi ngờ đó là hình phạt Chúa của tôi giáng xuống đầu tôi nhằm răn đe một tín đồ Ki-tô đã để cho linh hồn hư nát. Nếu không sao Ngài lại khiến cặp mắt soi mói như cú vọ của anh nàng phát giác ra chiếc điện thoại di động Blackberry tôi đánh rơi, lọt vào khe hở của sô-pha trong phòng khách nhà nàng tôi đã ghé đêm ấy. Lạy Chúa, cũng tại cái tật lơ đểnh đáng nguyền rủa của tôi, tôi đã phải trả một giá đắt đến dường nào. Nhưng còn Chúa của nàng, Đấng A-la mà nàng hết lòng kính sợ và thờ phượng, sao cũng chẳng minh chứng cho sự trinh trắng của nàng và che chắn nàng thoát khỏi những nhát dao hung hãn ấy? Cứ tưởng tượng những phút giây khủng khiếp cuối cùng trong đời mà người con gái tôi yêu phải trải qua, tôi không chịu nổi. Hiển hiện trước mặt tôi khuôn mặt dịu dàng thanh tú trong chiếc khăn voan màu ngọc bích quấn quanh đầu và vai. Với chiếc khăn đội ấy, trông nàng như một nữ tu Công giáo. Đôi mắt nàng mở to, thảng thốt. Con dao mũi nhọn bất ngờ vung ra, xả vào cổ vào ngực vào bụng nàng. Không phải một nhát, mà hai, ba, bốn, rồi năm, rồi sáu… tổng cộng mười một nhát tới tấp, đều đặn, nhịp nhàng như một vũ điệu. Không hề nghe tiếng nàng. Chỉ giọng điềm tĩnh phảng phất u buồn của cha nàng lặp đi lặp lại một đoạn nào đó trong kinh Koran. Nàng ngồi ghế trước, trong chiếc xe hơi Toyota Cressida cũ màu xanh sậm, cạnh cha nàng. Đầu nàng ngoặt qua một bên, đôi mắt bất động vẫn còn mở to, bàng hoàng, máu ngấm khắp chiếc áo trắng trên người, máu loang cả tấm khăn trùm. Tôi đau đớn, bất lực, hãi hùng, cảm giác như chính thân xác mình đang bị băm chặt ra dưới ngọn dao sắc lẻm đó. Không, không thể nào. Mới những buổi chiều nàng còn cùng tôi sánh bước dọc theo sườn đồi rực rỡ nắng, bông hoa và các loài cỏ dại. Và mới tối trước đó, chúng tôi còn ngồi bên nhau đến quá nửa khuya ngay trong phòng khách nhà nàng, ngôi nhà lần đầu tiên tôi đặt chân vào, lấm lét, dáo dác như một tên trộm…</p>
<p>Tất cả là vì bọn họ. Bác sĩ, cảnh sát, chuyên gia cố vấn xã hội, và cả ba tôi nữa. Họ mưu mô họp hành to nhỏ với nhau rồi bắt đưa tôi vào đây. Mẹ tôi vào thăm hay sờ soạng mặt mũi tôi rồi chảy nước mắt, bảo tôi bị ma ám quỷ nhập nên mới hóa rồ như vậy (tất nhiên tôi biết mẹ tôi nói “quỷ ma” đây là ám chỉ nàng, người con gái tôi yêu). Em gái tôi thì hay đứng bên khung cửa sổ nhìn xuống bãi đậu xe dưới đường, chốc chốc quay lại tôi với ánh mắt thương hại, trước khi ra về nó luôn hỏi tôi cần sách gì nữa để lần sau nó mang lại. Ý nó là những tài liệu cho công trình nghiên cứu về đời sống thổ dân ở miền Tây Canada trước thời kỳ xâm lăng của người da trắng. Công trình này tôi đang thực hiện với một giáo sư đầu ngành trong nước. Nhưng đọc những thứ ấy làm gì nữa đâu. Tôi biết em tôi tưởng tôi chưa biết nên cứ vờ vịt để an ủi tôi thôi, chứ tôi đã nghe tin từ một người bạn đồng khoa rằng vị giáo sư đã gửi thư về nhà tôi thông báo rằng ông phải hủy hợp đồng với tôi, và đã tiếp nhận sinh viên khác thay thế tôi. Bạn bè tôi hồi đầu có đến thăm, nhưng mấy tuần nay biến đâu hết. Ba tôi thì tuyệt nhiên không xuất hiện, mẹ tôi nói ông bận túi bụi với những chuyến đi Việt Nam chăm lo cái công ty cổ phần chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh ông mới thành lập. Tôi biết ba tôi không thiết gì thằng con trai trưởng ông từng đặt bao hy vọng. “Vậy là hết. Cá không ăn muối cá ươn. <em>Business</em> thì không học, đi chọn cái ngành vớ vẩn ra không xin đưọc việc. Bảo về Việt Nam lấy vợ cũng không nghe, để con yêu tinh Hồi giáo bắt mất hồn, giờ thân tàn ma dại. Thôi, coi như không có nó nữa!” Tôi nghe rõ giọng ông nói với mẹ tôi hôm có toán người tụ tập trong nhà, đúng vậy, lúc họ đè tôi ra tiêm thuốc rồi khiêng tôi ra ngoài cho xe cảnh sát chở đi.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Người con gái tôi yêu sinh trưởng từ thành phố thương mại sầm uất Karachi bên bờ biển Ả Rập, thuộc miền đông nam nước Pakistan. Còn tôi từ một giáo xứ Công giáo nhỏ ở miền trung Việt Nam. Tôi sang Canada đã hai mươi năm, từ lúc là cậu bé lớp ba. Nàng thì mới định cư ở đây với gia đình được ba năm. Chúng tôi quen nhau do cùng làm việc tình nguyện ở một trung tâm hỗ trợ thanh thiếu niên mới nhập cư. Nàng đang theo ngành luật năm thứ hai. Tôi đang viết luận án tiến sĩ hy vọng kiếm được công việc giảng dạy ngành nhân chủng học ở một trường đại học trong thành phố.</p>
<p>Tôi nhớ hồi mới quen nàng hỏi sao tôi tên Cao. Tôi bảo nghe mẹ kể ông bà nội di cư vào miền Nam đã lâu nhưng vẫn thương nhớ quê cha đất tổ Đống Cao, thuộc vùng duyên hải ở đồng bằng Bắc Bộ, nên lấy tên Cao đặt cho đứa cháu đích tôn. Còn nàng, cha nàng đặt nàng Ai-sha để tỏ lòng trân trọng vị sứ giả của Chúa. Ai-sha là tên người vợ trẻ nhất trong số mười mấy bà vợ của sứ giả Muhammad. Bà Ai-sha lấy ông khi bà mới chín tuổi và ông đã ngoài năm mươi. Vậy là Đức A-la của em không công bằng, cho vị giáo chủ của em phá lệ, có tới hơn bốn vợ. Tôi chỉ nói vui, nhưng đôi mắt to với hàng mi dài đen sẫm của Ai-sha nhìn tôi sửng sốt. “Anh Cao nói thế là cợt nhạo Chúa và sứ thần của ngài. Trọng tội đấy”. Giọng nàng nửa nghiêm trang nửa trách cứ.</p>
<p>Lần sau gặp tôi, nàng đưa quyển kinh Koran mới tinh, bản dịch tiếng Anh. “Thật ra nếu đọc được bằng tiếng Ả Rập thì mới thấu hiểu hết ý nghĩa sâu xa của nó,” nàng nói. Tôi hỏi có phải nàng muốn tôi cải đạo. Nàng lắc đầu bảo chỉ muốn tôi đọc cho thông suốt về Thượng Đế và cảm kích Ngài hơn. Nhưng những lần chuyện trò cởi mở với nhau sau đó, nàng lại có vẻ như muốn hướng tôi tin vào Chúa của nàng. Không có Chúa nào khác ngoài A-la. A-la là Ðấng Tạo Thiên Lập Ðịa. Nàng tranh luận với tôi. Làm thế nào Đức Chúa Trời lại có người con trai khi Ngài không hề có vợ. Chúa không sinh con và không do ai sinh ra. Nàng bảo Giê-su chỉ là một sứ giả của Chúa như bao sứ giả khác, chứ không phải là ông Chúa Con như tôn giáo của tôi nói. Chính Mu-ham-mad là vị tiên tri và sứ giả cuối cùng được A-la mặc khải kinh Kô-ran qua tổng lãnh thiên thần Ga-bri-ê. Nàng còn quả quyết với tôi rằng chẳng phải cuốn Thánh Kinh của tôi, mà Thiên Kinh Kô-ran của nàng mới chính thực lời Thượng Đế.</p>
<p>Sự thực thì những lời “giảng đạo” của nàng chẳng hề lay động nổi tôi. Nhưng tôi bị cuốn hút bởi vẻ đẹp trên gương mặt thanh tú sáng ngời với đôi mắt to thăm thẳm như tích tụ trong đó bao huyền diệu bí ẩn của vũ trụ. Tôi không quá lời, phải nói rằng chưa bao giờ tôi thấy phụ nữ Tây hoặc ta nào có đôi mắt mê hoặc đến vậy. Hay chê bôi như em gái tôi mà còn nói, “Cô bạn Hồi giáo của anh Cao có cặp mắt như muốn hớp hồn người khác.”</p>
<p>Tôi mang quyển kinh Koran về nhà, ba tôi phản ứng như nhìn thấy ác quỷ. Đó là thứ rác rưởi của bọn tà giáo chống lại Thiên Chúa Ba Ngôi, xúc phạm Đức Chúa Giê-su và công cuộc cứu rỗi nhân loại của Người. Mình là tín hữu Ki-tô, chỉ nên học hỏi những điều ghi chép trong Thánh Kinh. Ba tôi thuyết giảng một thôi một hồi. Tôi không lạ lùng. Hơn chục năm ba tôi giữ chức chủ tịch hội đồng giáo dân trong nhà thờ có hai ngàn con chiên người Việt định cư tại thành phố Bắc Mỹ này, nối nghiệp ông nội tôi đã mất ở Việt Nam, người suốt cuộc đời tận hiến sức lực và tiền bạc phụng sự Chúa. Ba tôi ngăn cấm vậy thôi, chứ ông làm sao kiểm soát được mọi việc làm của tôi. Quyển kinh Koran nàng đưa nghiễm nhiên nằm trong chồng sách nghiên cứu tôi đọc mỗi ngày. Có lẽ A-la biết, nếu không vì nàng, tôi đã chẳng bỏ công đọc nó. Ai-sha, người con gái lúc nào cũng đội chiếc khăn che kín đầu tóc và có đôi mắt to quyến rũ kỳ lạ ấy, tự bao giờ đã có thể khiến tôi làm bất kể điều gì.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Nếu không tính phòng khách nhà nàng nơi chúng tôi bên nhau lần cuối, thì khu đồi mênh mông vắng vẻ tọa lạc ở phía tây bắc thành phố là địa điểm duy nhất chứng kiến những buổi hò hẹn bí mật của tôi với nàng. Đó là thế giới dung chứa hai chúng tôi. Chỉ nơi đó, nàng mới có thể tự do sánh bước với một người con trai không phải anh em dòng họ. Tất nhiên nàng luôn nói dối với gia đình là đi thư viện học. Như để chắc chắn khỏi bị lộ diện, lần nào lên đồi với tôi nàng cũng cởi chiếc khăn trùm đầu cất vào túi xách. Em không muốn người ta tọc mạch khi thấy một cô gái Muslim đi với một người đàn ông vừa dị chủng<strong> </strong>vừa dị giáo. Lý do thứ hai là bảo đảm sự an toàn cho chúng ta, “anh thừa biết dân Hồi giáo Pakistan như em thường bị kỳ thị mà”, nàng giải thích. Mái tóc đen dài sóng sánh trên vai, nàng bước đi lúp xúp cạnh tôi như một cô gái nhỏ đơn sơ trong trắng. Con đường lên đến đỉnh đồi dài hai cây số. Một bên là bát ngát đồng cỏ phủ xanh các loài cỏ búi, Blue Grama, cỏ tranh, cỏ lúa mạch và cây ngải đắng. Một bên là thung lũng sáng rực từng mảng bông hoa đủ sắc màu, các bụi anh đào dại san sát nhấp nhô, và những khóm dương liễu gầy nhom, lá rung rinh trong nắng và gió. Sao gọi hoa này là hoa đậu trâu, sao hoa này là su-zan mắt đen. Em thấy hoa dại còn đẹp hơn cả hoa trồng. Giọng nàng phấn khích. Còn đây là Seneca Snakeroot anh nói hôm nào, thứ hoa người thổ dân nhai và đắp vào nếu bị rắn cắn hoặc côn trùng chích phải không? Ôi, nhìn kìa, cả một rừng hồng. Thảo nào miền đất chúng ta đang ở được mệnh danh là xứ sở hoa hồng dại. Nàng tựa như lạc bước vào cõi thiên đường với nhiều điều huyền bí không giống như thế giới thường ngày nhỏ hẹp tù túng của gia đình và nhà thờ. Cái gì cũng hỏi, cũng muốn biết. Nàng khen tôi có cặp mắt biết nhìn ra những con nai ẩn hiện sau những chòm cây xa tít. Tôi chỉ cho nàng thấy những con nhím sống riêng lẻ trên những cành dương. Tôi dạy nàng cách phân biệt diều hâu đuôi đỏ với diều hâu Swainson và chim ưng phương Bắc.</p>
<p>Tôi được dịp khoe với nàng những kiến thức thu lượm được từ công trình văn hóa quốc gia tôi đang nghiên cứu. Bao nhiêu thứ trên ngọn đồi được tạo lập từ cuối kỷ nguyên băng hà này vì thế đã trở nên thân thuộc với tôi. Chúng tôi hay dừng lại bên tảng đá nơi những con <em>ba-fơ-lô</em> bao thế kỷ trước từng ghé tới cạ mình vào để trút lông và gãi ngứa. Muôn triệu con bò rừng Bắc Mỹ sừng đen mặt ngắn lông bờm xờm và lưng có bướu ấy đã từng gặm cỏ trên những con dốc lộng gió quanh đây, chúng đã lang thang dọc bờ sông Bow River mà ngày nay biến thành trung tâm thành phố với những tòa nhà cao chót vót. Nàng nghe chăm chú những chuyện tôi kể về người Châu Âu xuất hiện trên mảnh đất này với súng đạn, ngựa, và cả bệnh dịch, tiêu diệt toàn bộ loài thú ba-fơ-lô mà người thổ dân bao đời lệ thuộc để sinh tồn. Họ tuyên bố họ đã khám phá ra vùng đất này, vùng đất thực ra của người thổ dân từ hàng ngàn năm trước. Người da trắng cho mình có trách nhiệm văn minh hóa dân bản địa bằng việc khu trú họ thành các bộ lạc, chia rẽ họ, thử thách tập tục sinh hoạt của họ, bảo họ rằng thuợng đế của họ không phải là thượng đế thật, và giới thiệu với họ khái niệm tư hữu đất đai. Người thổ dân trước đó đâu có nghĩ rằng đất là thứ có thể sở hữu được. Đất, là của thiên nhiên. Cũng như bầu trời và không khí vậy. Nhưng người da trắng đặt chân tới đây, giành lấy những vùng đất phì nhiêu, gọi đây là đất của mình rồi xua người thổ dân vào những miếng đất cằn cỗi dành cho các bộ lạc. Nàng thở dài bảo, “Đó chẳng phải là lối xử sự của dân da trắng ở nhiều nơi trên mặt đất này sao?”</p>
<p>Nàng nói với tôi về nỗi mặc cảm là một người Hồi giáo nhập cư trên đất phương Tây. Hôm hai tòa tháp ở New York bị sụp đổ, nàng đang ở trường. Mọi người xúm xít trước tivi trong phòng ăn trưa. Nàng bắt gặp những ánh mắt thiếu thân thiện trực chiếu vào mình, như thể chính nàng là một tên lái không tặc điều khiển một trong hai chiếc máy bay đó. Chiều về, nàng phát hiện chiếc xe hơi ba nàng đậu trước nhà bị đập vỡ kiếng cửa. Hàng chữ tiếng Anh nguệch ngoạc to tướng bằng bút lông đen ở đầu xe “Quân khủng bố. Cút về nước chúng bay.” Dường như vẫn chưa đủ, sáng hôm sau, mẹ nàng thất kinh khi bà mở cửa, mắt chạm một cái đầu lợn đẫm máu tươi ngay trước sân nhà. Nhà nàng là một gia đình Pakistan duy nhất dọc con đường ấy. Cùng ngày có tin trước cổng thánh đường Hồi giáo của thành phố ai đó ném vào bốn cái đầu lợn mới cắt lìa khỏi thân. Không biết người ta sẽ còn làm những gì nữa? Nàng lo sợ bị nhóm người quá khích hãm hại.</p>
<p>Phải nói những buổi gặp gỡ trên đồi với nàng là những giờ phút đẹp đẽ, sáng tươi nhất của cuộc đời tôi chưa từng biết đến. Có phải sự khao khát hiểu biết về thiên nhiên đã đưa chúng tôi mỗi ngày mỗi gần nhau hơn. Tôi vui sướng khi nàng tin tôi, không chút dè dặt chia sẻ với tôi bao nghĩ suy về cuộc sống. Với tôi, nàng là người phụ nữ đầu tiên và duy nhất tôi muốn đem hết tim óc ruột gan ra để chở che, bao bọc. Nhiều lúc đứng trên đỉnh đồi, chúng tôi không cần nói gì với nhau, chỉ lặng thinh dõi mắt về hướng rặng núi Rockies nơi mặt trời đang chầm chậm giấu mình sau những tảng mây có hình dạng như những đám cừu đang nô giỡn. Và đằng sau chúng tôi, những tòa nhà uy nghi mọc lên khỏi thung lũng phía bên kia sông và cả một vùng thảo nguyên bao la trải đến tận trời đông.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Hôm ấy nàng nói với tôi cả gia đình nàng đi vắng qua đêm. Đám cưới một người bà con ở thành phố Vancouver. Nàng ở lại nhà vì đang dịp thi cuối khóa. Nàng hẹn tôi đến.</p>
<p>Tôi đã đến. Chúng tôi ngồi bên nhau hàng giờ trên chiếc sô-pha trong phòng khách nhà nàng. Nàng cho tôi biết anh trai nàng tỏ ra ngờ vực vì dạo gần đây nàng hay “đi thư viện” về muộn. Có dấu hiệu máy vi tính và điện thoại di động của nàng bị kiểm tra. Nhưng anh đừng lo, em xóa mọi dấu vết rồi. Tôi nói với nàng việc ba tôi thúc ép tôi về nước cưới con gái một người bạn trong giới làm ăn với ông. “Và anh sẽ chiều ý ba anh?” Giọng nàng không giấu được vẻ lo âu. Tôi không hình dung mình sẽ có thể cải đạo, nhưng thề với nàng tôi sẽ tìm cách đấu tranh cho tình yêu của chúng tôi. Nàng cũng bảo nàng không thể dứt bỏ gia đình, nhưng thề sẽ ở vậy suốt đời nếu không lấy được tôi. Đêm ấy, lần đầu tiên sau hơn một năm biết nhau yêu nhau, chúng tôi mới được ở gần sát bên nhau trao vòng tay cho nhau như thế. Khung cảnh gợi mời của bóng tối và tình yêu tràn ngập trong lòng đã khiến chúng tôi không ngăn nổi niềm khát khao cháy bỏng được chung hòa hai thân xác với nhau. Tôi đặt môi lên vầng ngực thanh khiết của nàng. Nàng run rẩy đón nhận, hiến dâng, cả trái tim và linh hồn. Tôi đã có thể nghe thấy hơi thở van vỉ của nàng. Nhịp tim nàng. Ngửi thấy hương thơm trinh bạch từ cơ thể người con gái tôi yêu.</p>
<p>Và tôi đã dừng lại trong giây khắc thiêng liêng muôn đời tôi không thể quên ấy. Lỡ như tôi không cưới được nàng. Lỡ cha nàng ép nàng lấy một người con trai khác. Những câu chuyện man rợ đau đớn nàng từng kể với tôi xung quanh đạo luật Hồi giáo đối với sự trinh tiết của người thiếu nữ trong đêm động phòng đã kịp thời ngăn chặn phút giây cuồng si tột đỉnh của tôi.</p>
<p>Tôi rời khỏi nhà nàng lúc nàng chuẩn bị giờ cầu nguyện trước khi đi ngủ. Tôi ra về cũng thập thò, dáo dác như lúc bước vào nhà, sợ nhỡ ai trông thấy.</p>
<p>Đêm ấy tín đồ Hồi giáo bắt đầu dọn mình cho mùa chay Ramadan.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Sáng hôm sau là ngày đầu tiên của tháng Ramadan. Có lần nàng giải thích với tôi, đây là tháng nhà tiên tri Mu-ham-mad được mặc khải kinh Koran, trong tháng này con người phải tha thứ và sám hối.</p>
<p>Từ Vancouver về, anh nàng đã tra vấn nàng suốt buổi sáng sau khi phát hiện chiếc điện thoại di động lạ giữa những chiếc đệm sô-pha trong phòng khách. Giường ngủ, chăn gối, áo quần của nàng bị lục tung. Cặp mắt soi mói của anh nàng cuối cùng còn lục ra được quyển nhật ký của nàng. Những lần hò hẹn trên đồi. Nụ hôn và vòng tay người con trai. Lạy Đấng A-la Tối Cao và Duy Nhất. “ Thế ra cái Blackberry này là của thằng chó ấy. Ra đêm qua nó đã ở đây. Đồ đĩ bẩn thỉu! Mày tưởng qua mắt tao được. Tôi lỗi vẫn còn rành rành trên gương mặt đĩ thoả mệt mỏi của mày. Hay là thằng chó đó đã làm mày có chửa rồi? Nói đi. Mày đã thất thân với cái thằng thờ đa thần, thờ hình tượng, và ăn thịt lợn bẩn thỉu đó, bao nhiêu lần rồi. Nói!” Mẹ nàng khóc. Em gái nàng cũng khóc. Nàng yếu ớt phân bua trong lúc anh nàng túm cái khăn trùm của nàng dập đầu nàng vào tường. Chiều hôm ấy, cha nàng xếp đặt cho nàng cùng đi với ông đến thánh đường cầu nguyện. Đến một con đường vắng, ông đã đỗ xe lại và bất ngờ rút ra con dao nhọn giấu sẵn trong xe. Nàng không kịp phản ứng. Nàng đã không bao giờ biết rằng kế hoạch giết chết nàng đã được cha nàng thông qua với mẹ nàng và anh nàng vài giờ trước đó. Chỉ có cái chết của nàng mới bảo toàn thanh danh cho gia đình.</p>
<p>Tờ báo thành phố hôm sau có mẩu tin với tựa đề chạy lớn trên trang nhất “Cô sinh viên Hồi giáo bị đâm chết trong xe cha mình”. Bên cạnh là bức chân dung của Aisha trong mảnh khăn voan màu xanh ngọc lấp lánh những hạt cườm li ti choàng kín đầu và vai. Nàng đẹp như trong những bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh. Mắt mở to, thăm thẳm dịu dàng.</p>
<p>Cuối cùng thì nàng đã chết. Không phải bởi sự nghi kỵ của nhóm người da trắng quá khích như nàng từng lo sợ, song bởi chính bàn tay thịnh nộ của kẻ sinh thành ra nàng.</p>
<p>Cho đến lúc giã từ cuộc sống, người con gái tôi yêu vẫn chưa thực hiện được chuyến hành hương một lần trong đời về thánh địa Mecca như bao tín đồ Hồi giáo hằng ước nguyện.</p>
<p>Khi tôi kể lại chuyện này, cha nàng hiện ở trong nhà giam với án chung thân. Ông đang chờ luật sư chống án đòi tòa giảm nhẹ hình phạt cho tội danh “giết người vì lý do danh dự”. Vì theo ông, “giết con gái để bảo vệ danh dự gia đình là một nhiệm vụ thiêng liêng”. Mẹ nàng và các anh em nàng đã dọn nhà chuyển đến một tỉnh nhỏ miền đông. Còn tôi với linh hồn đang vất vưởng chốn nào không tìm thấy được, bị nhốt vào đây không biết đến bao giờ…</p>
<p align="center">*</p>
<p><em>Đó là những điều tôi chắp nhặt lại sau nhiều buổi tiếp xúc với Cao, một chàng trai ba mươi tuổi gốc Việt, đối tượng nghiên cứu cho luận án tốt nghiệp ngành tâm </em><em>lý</em><em> học của tôi. Cao nhập viện cách đây ba tháng và được xếp là một trường hợp khá nghiêm trọng và phức tạp. Bình thường anh rất trầm lặng, chỉ cặm cụi đọc </em><em>sách</em><em>, có khi cả ngày không mở miệng một câu với bệnh nhân cùng phòng, nhưng lâu lâu lại nổi cơn đập phá, la hét, khóc lóc và người ta phải chuyển anh vào gian phòng đặc biệt. Sổ trực nhật của y tá có ngày ghi rằng Cao vứt quyển Kinh Thánh xuống nền nhà rồi vạch quần đái vào nó, có ngày anh dùng răng và tay cắn xé nhiều trang trong quyển kinh Koran. </em></p>
<p><em>Không phải lần nào gặp tôi cũng được nghe Cao kể chuyện. Khi thì anh ngồi lừ lừ </em><em>như bức tượng </em><em>chẳng thốt lời nào,</em><em> cứ trừng trừng nhìn tôi với cặp mắt trống hoang. Khi thì</em><em> nói một vài câu rồi </em><em>thình lình đứng bật dậy chửi tục </em><em>quát đuổi tôi r</em><em>a. K</em><em>hi lại tràng giang chuyện nọ xọ chuyện kia không chịu ngừng. Thường thì giọng anh rất tỉnh táo giống như kể chuyện của ai đó, nhưng có lúc bỗng nghẹn ngào, mắt đỏ lên. </em><em>Một lần</em><em> anh dừng lại giữa chừng, lẩm bẩm một mình </em><em>chừng </em><em>như quên mất sự hiện diện của tôi. “</em><strong>Linh hồn tôi đâu. Chúa Ba Ngôi đâu. A-la đâu. Ai-sha là người con gái tôi yêu</strong>.<em>”Anh cứ lảm nhảm như đọc thuộc lòng trong sách giáo khoa, mắt </em><em>nhìn tôi nhưng tâm trí </em><em>lạc vào chốn nào. “</em><strong>Vì lợn là động vật móng guốc nhưng không thuộc nhóm động vật nhai lại, nên nó không sạch sẽ, thế nên chúng ta không được ăn thịt nó, cũng không được sờ vào thi thể nó. Toàn phịa. Tôn giáo. Văn hóa. Thập tự chinh. Thánh chiến. Láo toét.</strong><strong>” </strong><em>Cao bật ra những lời giận dữ, hai tay giơ lên múa may, giọng gắt gỏng. Anh </em><em>ngừng thoáng ngắn</em><em>, mắt vẫn xa xôi</em><em>,</em><em> rồi tiếp, lại lảm nhảm một mạch như đọc bài. “</em><strong>Đức Đạt Lai Lạt Ma dạy rằng nếu tôi nhìn bạn với ánh mắt thiển cận bề ngoài, hai chúng ta thật khác nhau. Và nếu cứ tập trung ở mức độ đó, hai chúng ta lại càng nhích ra xa hơn. Nhưng nếu tôi nhìn bạn như cùng nòi giống con người, với một cái mũi, hai con mắt, và cứ thế, thì tự động cái khoảng cách đó mất đi…</strong><em>”</em><em> </em><em>Tôi lắng nghe Cao, không khỏi nghĩ đến cái bi kịch mãi mãi không xóa nổi trong thế giới loài người. Chẳng phải bản chất con người là mãi mãi kỳ thị nhau sao, và sự kỳ thị đó đâu chỉ giới hạn ở tín ngưỡng. Bên tôi Cao đang nghêu ngao</em><em> trở lại điệp khúc <strong>“</strong></em><strong>Linh hồn tôi đâu. Chúa Ba Ngôi đâu. A-la đâu. Ai-sha là người con gái tôi yêu…<em>”</em></strong><strong><em> </em></strong><em>Bây giờ thì tôi thấy nước mắt anh tràn ra.</em></p>
<p><em></em></p>
<p>Calgary, tháng 6, 2009</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8509/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

