<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Keith Weller Taylor</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/keithtaylor/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>việt nam khai quốc: chiến tranh với Nam Chiếu (chương 6, phần 4)</title>
		<link>http://damau.org/archives/20144</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20144#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 25 May 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Keith Weller Taylor</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20144</guid>
		<description><![CDATA[Cuộc chiến tranh Nam Chiếu cho thấy hai luồng văn hoá đối nghịch ở Việt Nam vào thế kỷ 9. Luồng văn hoá Đường-Việt ở Giao Châu nặng phần Phật Giáo và tùy thuộc vào nhà Đường để duy trì trật tự, và một luồng văn hoá chống Đường tại các khu vực có văn hoá Mường-Việt.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[</p>
<p><strong></strong></p>
<p> <a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/mapofTangEmpire_thumb.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="map-of-Tang-Empire_thumb" border="0" alt="map-of-Tang-Empire_thumb" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/mapofTangEmpire_thumb_thumb.jpg" width="376" height="427" /></a>
</p>
<p style="text-align: center"><em><span style="font-family: times new roman"><sup><em><span style="font-family: times new roman">Bản đồ Đế quốc Trung Hoa đời nhà Đường (khu vực tô màu tím). Nam Chiếu (Nam-Chao) ở địa thế Tây Bắc của An Nam (nguồn: </span><a href="http://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=36780" target="_blank"><span style="font-family: times new roman">Thư viện E-Book</span></a><span style="font-family: times new roman">)</span></em></sup></span></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Điền Tại Hựu và Thôi Cảnh, hai người kế vị Bùi Nguyên Hữu, dường như đã được hưởng một tình hình khá ổn định trong thời gian ngắn mà họ cai trị Đô Hộ Phủ vào cuối những năm 840 và đầu thập kỷ 850. Về Điền Tại Hựu, thư tịch chép &quot;ông làm tốt mọi việc nơi biên cương&quot;. Năm 852, Thôi Cảnh dựng một tấm bia kỷ niệm nhà thư pháp danh tiếng Chử Toại Lương mà năm 658 đã chết ở Đô Hộ Phủ sau khi bị vu cáo là phản nghịch và bị đày xuống An Nam. Ngoài các tin tức trên thì mãi đến năm 854 sử sách mới nhắc đến việc chính tay Đô Hộ Lý Trác đã làm tan rã việc phòng thủ biên giới ở An Nam. (46)</p>
<p>Lý Trác được biết đến như một người tồi tệ nhất trong số tất cả các Đô Hộ. Dân chúng địa phương thì oán ghét cách cai trị hà khắc của ông, còn người Trung Quốc thì lại đổ tội cho ông là đã gây nên cuộc chiến tranh với Nam Chiếu. Lý Trác nổi tiếng về những hành động vô cùng tàn ác, về sự tham nhũng, và tính tình nóng như lửa. Sai lầm lớn nhất của Lý Trác là việc ông bạc đãi các tù trưởng bộ lạc vùng núi.</p>
<p>Các tù trưởng vùng núi thường đem ngựa và trâu bò xuống vùng đồng bằng để đổi lấy muối theo các ước lệ đã có từ lâu. Đến thời Lý Trác thì ông tìm cách xử ép các tù trưởng bằng cách mỗi một con thú chỉ đổi được một đấu muối. Vì Lý Trác kiểm soát được tất cả lượng muối sản xuất được từ các làng muối ven biển, nên với cách trao đổi đó, ông hy vọng sẽ thu được thật nhiều ngựa và sau đó sẽ đem bán đi để làm giàu. Mặc dù sự việc này đã không được ghi lại một cách chi tiết, theo đó thì các tù trưởng vùng núi nhất định đòi ông phải trao đổi theo ước lệ cũ, nhưng Lý Trác không chịu, và đã ra lệnh cho quân lính của mình bắt các tù trưởng phải phục tùng. Thế là các tù trưởng vùng núi kéo quân xuống đồng bằng và tấn công các doanh trại của nhà Đường. Quá kiêu ngạo và không chịu nhượng bước, Lý Trác ra lệnh cho quân sĩ đánh trả, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, quá nửa quân sĩ của ông bị chết vì lam sơn chướng khí khi tấn công vào các vùng núi. Những quân lính còn sống sót thì kiệt sức vì phải chống trả liên miên trong khi quân lương ngày càng cạn kiệt.</p>
<p>Nhưng điều nguy hiểm nhất xảy ra là việc các tù trưởng vùng núi lại xin thần phục Nam Chiếu và tìm cách liên minh với các phần tử chống đối ách cai trị của nhà Đường ở An Nam. Liên minh này lại càng phát triển nhanh vì sự cai trị bất lực của Lý Trác.</p>
<p>Đỗ Tồn Thành lúc đó là Thứ Sử và nắm binh quyền tại châu Ái. Theo thư tịch Trung Quốc thì gia đình ông đã có quyền thế từ đời nhà Tề và nhà Lương (479-556) và những chính quyền Trung Quốc cai trị An Nam sau này cũng không thể làm suy giảm uy thế của dòng họ này vì họ đã lập nghiệp ở châu Ái, ngoài phạm vi kiểm soát trực tiếp của quan chức Trung Quốc. Khi Lý Trác gây chiến với những bộ lạc vùng núi và bắt đầu bị yếu thế thì Đỗ Tồn Thành liên minh với các tù trưởng vùng núi để chống Lý. Có thể Đỗ Tồn Thành làm như thế để duy trì địa vị của mình trong trường hợp việc cai trị của nhà Đường bị lung lay vì sự thất bại của Lý Trác, hoặc rất có thể ông thật sự theo đuổi phương án chống nhà Đường của riêng ông. Đường nào đi nữa ông cũng bị Lý Trác bắt và giết chết. Chính cái chết của Đỗ Tồn Thành đã đổ thêm dầu vào lửa đối với phong trào vùng lên chống lại nhà Đường. (47)</p>
<p>Chiến sự dữ dội nhất là ở châu Phong, nơi sông Hồng và các sông nhánh đổ vào đồng bằng. Châu Phong được phòng thủ bởi một tướng địa phương tên là Lý Do Độc với sự trợ giúp của bảy viên tù trưởng được biết dưới tên là &quot;Man Động Thất Quán&quot;. Vào mùa đông, mùa thuận lợi cho chiến sự, họ còn có thêm một đạo quân sáu nghìn người của nhà Đường, gọi là quân phòng đông. Viên tri châu ở châu Phong dường như lại có thiện cảm với phe chống Đường nên ông yêu cầu đưa quân phòng đông ra khỏi châu Phong vì muốn chuyển trọng tâm của cuộc chiến vào sâu trong nội địa Đô Hộ Phủ để ngầm phá hoại quyền hành và gia tăng cơ hội đuổi được họ Lý ra khỏi Giao Châu. Vừa lúng túng với vấn đề tiếp tế và nhân lực, vừa không hiểu rõ những uẩn khúc chính trị ở Đô Hộ Phủ nên Lý Trác chấp thuận lời yêu cầu ấy.</p>
<p>Không còn quân phòng đông, uy thế của Lý Do Độc bắt đầu lung lay. Cùng lúc đó, vì An Nam ở ngay biên thùy phía Đông nước Nam Chiếu, nên vua Nam Chiếu đã cử một viên Thác Đông Tiết Độ tới gặp các tù trưởng đang kình chống Lý Do Độc và gửi một bức thư yêu cầu Lý Do Độc quy thuận. Là người dễ bị thuyết phục, nên Lý Do Độc y lời và viên Thác Đông Tiết Độ bèn gả con gái mình cho con trai trưởng của Lý Do Độc để kết thân. Vô hình trung Lý Do Độc và bảy tù trưởng Man Động Thất Quán trở thành chư hầu của Nam Chiếu. Những tù trưởng khác, mà tới lúc đó vẫn còn quy phục nhà Đường, đều trở cờ về với Nam Chiếu. Việc này cũng là khởi nguồn của cuộc chiến tranh với Nam Chiếu vào năm 854. (48)</p>
<p>Mãi đến năm 858 thì các đạo quân lớn của Nam Chiếu mới bắt đầu xuất hiện. Cùng lúc đó các tù trưởng địa phương liên tiếp mở các cuộc đột kích vào các làng xã ở ngay giữa Đô Hộ Phủ. Năm 857, tướng nhà Đường là Tống Nhai được gửi đến để đối phó với tình hình, nhưng đến An Nam chưa được 2 tháng thì ông lại bị triệu hồi về Bắc để đàn áp một cuộc nổi loạn ở Ung Châu. (49)</p>
<p>Sau khi Tống Nhai đi khỏi, quyền chỉ huy ở An Nam rơi vào tay một tướng địa phương là La Hành Cung với đạo quân bản bộ thiện chiến lên tới hai nghìn người. La Hành Cung cho thu thuế và làm ngơ như không biết Đô Hộ Lý Hoằng Phụ vì biết rằng ông này chỉ có thể tập trung được một đội quân hộ vệ vài trăm người, võ khí nghèo nàn. Khi người kế nhiệm Lý Hoằng Phụ là Vương Thức đem quân đến tăng cường vào đầu mùa xuân năm 858 thì La Hành Cung trốn biệt. (50)</p>
<p>Là một tướng giỏi của nhà Đường, việc đầu tiên của Vương Thức là hoàn tất việc xây dựng các công sự phòng thủ mà Điền Tảo đã bỏ dở năm 835. Tính chuyện lâu bền được nhiều chục năm, Vương Thức cho vây quanh La Thành bằng một hàng rào cọc gỗ nhọn chu vi 5 dặm. Bên ngoài hàng rào cọc nhọn ấy, ông cho đào một hào sâu và khơi cho nước chảy vào đấy. Phía ngoài hào sâu, ông lại cho trồng các bụi tre gai. Với vành đai phòng thủ ấy, địch quân không thể bất ngờ đột nhập vào La Thành một cách dễ dàng được. Sau đó, Vương Thức cho tuyển lựa và huấn luyện các sĩ quan và binh lính. (51)</p>
<p>Khi một lực lượng trinh sát lớn của Nam Chiếu xâm nhập Đô Hộ Phủ vào mùa hè năm 858, Vương Thức sai một thông dịch viên đến đọc cho họ nghe một bản tuyên bố trong đó vạch rõ cho quân Nam Chiếu thấy những điều lợi hại nếu họ rút lui ngay lập tức. Nghe xong bản tuyên bố quân Nam Chiếu rút đi ngay đêm hôm ấy sau khi đã xin lỗi và giải thích rằng họ đến Đô Hộ Phủ chỉ là để đuổi bắt một nhóm người Lão phản loạn chứ không có ý gây hấn gì cả. Không lâu sau đó, một cuộc tấn công của các tù trưởng vùng núi đã bị đánh bại (52). Chỉ trong vài tháng Vương Thức đã xoay chuyển được tình thế một cách rõ ràng.</p>
<p>Mặc dầu vai trò của nhà Đường ở An Nam đã được Vương Thức cải thiện, nhưng quyền lực của họ vẫn bị thách thức trên khắp nửa miền phía Nam của đế chế Trung Quốc. Riêng trong năm 858, những cuộc nổi loạn nghiêm trọng bùng nổ ở châu Quảng, Hồ Nam, Giang Tây và cả ở Ung Châu nữa (53). Tình hình rối ren ở Ung Châu đe doạ đến sự thông lưu đường bộ giữa An Nam và Trung Quốc, nên một đội quân đặc biệt được trú đóng ở đó để sẵn sàng đối phó và duy trì huyết lộ giao thông này. Đội quân này được gọi là &quot;quân Hoàng đầu&quot; vì binh sĩ đều quấn khăn vàng trên đầu.</p>
<p>Thư tịch Trung Quốc viết rằng &quot;An Nam có những kẻ phản bội và thường hay nổi loạn&quot;. Một đêm đầu mùa thu năm 858, lo lắng vì tin đồn rằng quân Hoàng đầu sắp đột kích bất ngờ nên dân An Nam kéo đến vây quanh La Thành và yêu cầu Vương Thức về Bắc để họ tự tăng cường phòng thủ kinh thành chống quân Hoàng đầu. Lúc ấy đang ăn, Vương Thức không thèm để ý đến họ và cứ ngồi ung dung ăn uống cho trọn bữa rồi mới mặc áo giáp dẫn tả hữu lên mặt thành, dựng cờ đại tướng ngồi mà lớn tiếng trách mắng. Những người vây thành quay đầu bỏ chạy. Ngày hôm sau, Thức sai bắt giết hết. (54)</p>
<p>Theo sử liệu Trung Quốc, con của Đỗ Tồn Thành là Đỗ Thủ Trừng có can dự vào cuộc binh biến kể trên, có lẽ vì Thủ Trừng vẫn tính đến chuyện báo thù cho cha bị chết vì tay Lý Trác bốn năm trước đó. Không bắt được Đỗ Thủ Trừng nên Vương Thức tìm cách gây chia rẽ Thủ Trừng với các bộ hạ của ông (55) nhưng thủ đoạn ấy cũng chẳng gặt hái được hiệu quả lâu dài. Giai đoạn này cho thấy An Nam vẫn tiếp tục có những rối loạn về chính trị, ngay cả dưới sự cai trị tương đối thành công của một viên tướng tài ba như Vương Thức.</p>
<p>Trong 6 năm trời trước đó, kể từ khi Lý Trác bắt đầu cầm quyền, An Nam không nộp bất kỳ một khoản thuế nào cho triều đình và trong quân không có khao thưởng. Nhưng chỉ trong hai năm ở An Nam, Vương Thức đã tái lập được cả hai việc đó một cách thành công. Ngoài việc nhất thời dẹp yên được ý đồ nổi loạn trong Đô Hộ Phủ và cả của những kẻ có khả năng trở thành đồng minh với Nam Chiếu ở bên ngoài, tiếng tăm của Vương Thức còn khiến cho cả Chiêm Thành, Chân Lạp đều thông sứ trở lại. Vào đầu năm 860, Vương Thức lại bị triều đình gọi về để đi dẹp loạn ở một nơi khác. Nếu Vương Thức ở lại An Nam lâu hơn nữa có lẽ cuộc chiến tranh với Nam Chiếu đã không xảy ra. (56)</p>
<p>Nhờ Vương Thức mà Lý Hộ, người kế nhiệm ông, được thừa hưởng một tình hình khá ổn định. Nhưng chỉ trong vòng có một năm, những hành động thiếu suy xét của Lý Hộ đã làm hỏng tất cả những gì Vương Thức gặt hái được trước đó. Sai lầm thứ nhất của Lý Hộ là đem Đỗ Thủ Trừng ra xử chém. Cái chết của Đỗ Tồn Thành, phụ thân của Thủ Trừng bởi tay Lý Trác đã góp phần gây ra cuộc chiến tranh năm 854 vì các quan chức Trung Quốc luôn coi gia đình họ Đỗ như là một đe dọa đối với chính quyền. Giết Đỗ Thủ Trừng, Lý Hộ đã đổ thêm dầu vào lửa khiến các gia đình thế lực ở An Nam ngày càng xa lánh ông.</p>
<p>Sai lầm thứ nhì của Lý Hộ là việc ông đưa quân ra ngoài Đô Hộ Phủ vì tham vọng quân sự. Một tháng trước khi Lý Hộ đến An Nam, Nam Chiếu đã đánh chiếm được châu Bá (thuộc Quý Châu ngày nay). Muốn được vang danh tên tuổi, Lý Hộ đem quân đi lấy lại châu Bá. Trong khi ông vắng mặt, gia đình họ Đỗ tập hợp được một đạo quân ba vạn người, kể cả một vài đội quân từ Nam Chiếu. Khi Lý Hộ chiến thắng châu Bá trở về thì mới vỡ lẽ rằng An Nam đã vuột khỏi tầm kiểm soát của mình. Tháng Chạp năm 860, La Thành thất thủ và Lý Hộ phải chạy trốn lên Ung Châu. (57)</p>
<p>Tháng Giêng năm 861, binh sĩ nhà Đường đồn trú ở Ung Châu và các địa hạt lân cận được lệnh kéo xuống tái chiếm An Nam. Đến giữa năm ấy thì Lý Hộ lấy lại được La Thành, nhưng quân Nam Chiếu lại vòng lên đánh tập hậu và chiếm được Ung Châu. Sau thất bại này Lý Hộ bị đổi ra tận đảo Hải Nam và Vương Khoan lên thay thế với chức Kinh lược sứ An Nam. (58)</p>
<p>Khác với Lý Hộ một người háo danh, thích tung hoành mà chẳng biết tính toán hơn thiệt, Vương Khoan đưa ra một chính sách hoà hoãn. Nhận thức được quyền uy của gia đình họ Đỗ, triều đình quyết định tìm kiếm sự hợp tác của họ; một sắc chỉ được gửi tới Vương Khoan, trong đó có truy tặng Đỗ Tồn Thành một tước hiệu kèm theo lời xin lỗi về cái chết của hai cha con ông cùng lời thừa nhận rằng Lý Hộ đã vượt quá quyền hạn của mình (59). Chính sách hoà giải này thật ra cũng chỉ là một kế hoãn binh vì nhà Đường biết rằng họ đang ở thế yếu mà thôi.</p>
<p>Rõ ràng gia đình họ Đỗ đã có vai trò rất quan trọng trong những năm ấy nhưng sử liệu nhắc đến gia đình này rất ít. Là một gia đình danh tiếng và có thế lực ở Việt Nam trong gần bốn thế kỷ, gia đình họ Đỗ là những người đầu tiên đã liên kết những người Việt chống nhà Đường với những dân tộc bộ lạc trong vùng núi. Sự kiện hai thế hệ liên tiếp của một gia đình có người bị nhà Đường xử chém chứng tỏ rằng các quan cai trị nhà Đường luôn coi dòng họ Đỗ là một mối đe doạ rất nghiêm trọng. Vì dòng họ Đỗ đã từng kiên cường chống lại Lý Trác, Vương Thức và Lý Hộ do đó nhà Đường hy vọng rằng, nếu xoa dịu được họ Đỗ, sẽ có thái bình. Nhưng tình hình đã biến chuyển vượt ra ngoài tầm kiểm soát của cả Việt Nam lẫn Trung Quốc vì hòa bình hay chiến tranh bây giờ là do Nam Chiếu quyết định.</p>
<p>Cho đến lúc đó, Nam Chiếu vẫn theo đuổi một chính sách thận trọng với việc tung ra những cuộc đột kích thăm dò trước rồi mới đến tính đến chuyện tác chiến phối hợp với các đồng minh ở bên trong An Nam. Đầu năm 862 thì chiến tranh đã bước sang một cục diện mới khi Nam Chiếu một mình tung ra một cuộc tấn công đại quy mô vào Giao Châu. Vương Khoan tới tấp gửi biểu tâu về triều xin viện binh, nhưng lại bị Sái Tập xuống thay thế với một đạo quân lính mới ba vạn người. Chỉ trong vài tháng, Sái Tập đã chận đứng được các cuộc tấn công của Nam Chiếu và tình hình chiến sự giảm xuống rõ rệt chỉ còn các vụ đột kích và tấn công lẻ tẻ vì cả hai bên đều biết rằng họ cần đánh giá lại tình hình và lực lượng. (60)</p>
<p>Sau cuộc chiến năm 862 quyền hành của nhà Đường ở Việt Nam được tái tổ chức với việc Sái Kinh được bổ nhiệm làm tân Tiết Độ Sứ và đóng bản doanh ở Ung Châu. Địa hạt của Sái Kinh gồm cả An Nam. Ghen tị với Sái Tập và sợ rằng thành công của Sái Tập sẽ làm lu mờ tiếng tăm của mình nên mùa hè năm 862, Sái Kinh tâu về triều rằng quân Nam Chiếu đã rút hết vào núi, mối đe dọa chiến tranh không còn nữa và xin lệnh rút Sái Tập cùng đạo quân của ông này về. Triều đình chuẩn y lời tâu xin của Sái Kinh và ra lệnh cho Sái Tập lui quân.</p>
<p>Sái Tập đáp lại bằng biểu tâu rằng không những quân địch chưa rút mà chiến sự vẫn còn tiếp diễn; còn quân của ông thì đang bị kiệt sức và thiếu lương thực. Sái Tập đệ trình một bản liệt kê mười điểm để chứng minh cho lời ông nói và tâu rằng rút quân bây giờ là một vấn đề sinh tử. Nhưng triều đình không đếm xỉa đến khẩn cầu của ông mà cứ y theo lời tâu của Sái Kinh. Thế là quân Đường bị rút về, và Sái Tập phải ở lại cầm cự với vỏn vẹn một đội vệ binh và những quân địa phương. (61)</p>
<p>Trong khi đó, Sái Kinh bị các thuộc hạ xa lánh dần vì thói tham nhũng của ông. Và vào mùa thu năm ấy, ông bị quân đồn trú sở tại đánh đuổi ra khỏi Ung Châu. Sau đó Sái Kinh bị trục xuất ra đảo Hải Nam, nhưng lại tìm về ngay dù không được phép. Sau cùng, Sái Kinh bị ép phải tự vẫn mà chết.</p>
<p>Vững lòng hơn vì đội quân của Sái Tập phải rút lui cũng như các vụ rắc rối giữa Sái Tập và Sái Kinh, nên Nam Chiếu lại mở cuộc tấn công vào cuối năm ấy với một đạo quân năm vạn người. Sái Tập xin quân cứu viện và năm nghìn người được vội vàng tập hợp ở Ung châu. Nhưng sợ rằng Nam Chiếu sẽ đánh tập hậu Ung Châu nếu lực lượng này tiến vào An Nam, nên Sái Tập được lệnh rút về Hải Môn. Nhưng đến lúc đó thì Sái Tập đã bị vây hãm ở La Thành vì quân tiếp ứng khoảng một nghìn người đã không đến kịp. (62)</p>
<p>Tháng Giêng năm 863, La Thành thất thủ sau 24 ngày bị quân Nam Chiếu vây hãm. Sái Tập bị trúng một mũi tên ở bả vai trái và chạy thoát được tới sông Hồng nhưng chiếc thuyền chở ông ra tới giữa dòng thì bị sóng đánh lật úp và ông bị chết đuối. Khi hậu quân bốn trăm người chạy đến được bờ sông thì không còn chiếc thuyền nào nữa để đào thoát nên viên tướng chỉ huy lúc đó bèn kêu gọi binh sĩ phải liều chết chống cự mở đường máu mà sống. Thế là tất cả lại quay về phía Đông La Thành, liều chết xông vào; giết được khoảng hai nghìn quân Nam Chiếu trước khi bị giết sạch. Sách chép rằng tổng số lên tới mười lăm vạn binh lính nhà Đường đã bị bắt hay bị giết bởi quân Nam Chiếu trong những năm 862 và 863. Tất nhiên là rất nhiều người trong số này được tuyển mộ ngay tại An Nam. Phải mất hai năm rưỡi trời sau đó, quân nhà Đường mới phục hồi để có thể đánh Nam Chiếu trở lại. Chính trong thời gian này, các đạo quân vùng núi đã ngang nhiên tràn xuống khắp Đô Hộ Phủ và thẳng tay vơ vét. (63)</p>
<p>Nam Chiếu để lại một đạo quân lên đến hai vạn trú đóng ở An Nam người dưới quyền điều khiển của tướng Dương Tư Tấn ở La Thành. Lúc đầu những người Việt chống nhà Đường có lẽ đã chấp nhận sự can thiệp của Nam Chiếu nhưng sau đó họ đã bị lấn lướt vì quân Nam Chiếu từ trong núi kéo ra quá đông. Dân chúng tản mác khắp nơi vì nhà cửa của họ bị cướp phá hay chiếm ngụ. Thư tịch viết:</p>
<p>&quot;<i>Nhiều người tị nạn phải chạy vào trong các hang động và hẻm núi để sống, còn số các quan chức dân và quân sự thi nhau chạy sang Hải Môn tị nạn cũng không ít. Một số chỉ huy quân sự ở lại các hang động và các hẻm núi và vẫn được dân chúng An Nam tín nhiệm ngay cả trong khi bọn man di đi cướp bóc. Họ chỉ huy việc phòng thủ tại các thành trì và vẫn được coi như những anh hùng. Mạnh ai nấy lo phòng thủ các vùng đất biên thùy nhưng nói chung là tất cả đều rất hoang mang&#8230;</i>&quot; (64)</p>
<p>Đoạn trích dẫn trên với những chỗ nhấn mạnh đến số dân chúng sống trong &quot;các hang động và hẻm núi&quot; cho thấy tác động mạnh mẽ của chiến tranh đối với xã hội Việt Nam. Những nhà lãnh đạo địa phương xung phong đứng ra bảo vệ dân chúng chống lại cướp bóc. Đoạn trích dẫn ngụ ý rằng nhiều làng mạc bị bỏ hoang và dân chúng tản mác tứ tán.</p>
<p>Đây là những giây phút thương đau trong lịch sử Việt Nam. Những nhà lãnh đạo địa phương chống Đường thì bị những đồng minh đầu môi chót lưỡi phản bội; và ngược lại phe thân Đường thì bị những chủ nhân mình bỏ rơi. Những đau khổ ấy không chỉ đối với Việt Nam mà cả Trung Quốc vì hàng nghìn binh sĩ nhà Đường đã phải bỏ mình ở Việt Nam khiến cho thi sĩ Bì Nhật Hưu, bất chấp sự an toàn đối với địa vị quan lớn của mình, đã công khai chỉ trích chính sách sai lầm của nhà Đường ở đó. (65)</p>
<p>Nam Chiếu tiếp tục chinh phục An Nam bằng những vụ đột kích lớn vào Ung Châu. Mùa hè năm 863, một vạn binh sĩ Trung Quốc được đưa tới Hải Môn, nơi mà Tiết Độ Sứ Khang Thừa Huấn phụ trách vấn đề Nam Chiếu. Một chính quyền Đô Hộ Phủ lưu vong dưới quyền của Tống Nhung được lập tại Hải Môn và một vạn tân quân tuyển mộ ở Sơn Đông được đặt dưới quyền ông.</p>
<p>Với số binh sĩ từ khắp nơi trong nước tập trung về Hải Môn, việc tiếp tế trở nên gay go. Một hệ thống tiếp tế bằng đường biển được thành lập ngay với một đoàn thuyền gồm một nghìn chiếc được huy động để chở gạo từ Phúc Kiến, một hải trình mất gần một tháng. Mặc dầu có nhiều lạm dụng chẳng hạn như các quan chức thường xung công những tàu buôn và vứt bỏ hàng hóa của họ, hoặc ép các chủ tàu phải nhận ít tiền bồi thường trong trường hợp tàu bị đắm, quân sĩ nhà Đường vẫn được tiếp tế đầy đủ lương thực. (66)</p>
<p>Đầu năm 864, Kinh Lược Sứ Trương Nhân được lệnh xuống thay thế Tống Nhung tại Hải Môn và chỉ huy hai vạn rưởi binh sĩ để lấy lại An Nam. Tuy nhiên, vì Khang Thừa Huấn đang bận đánh nhau lớn với Nam Chiếu ở Ung Châu trong suốt nửa năm đầu, do đó Trương Nhân không dám tiến quân. Rốt cuộc Cao Biền lại được tiến cử làm Đô hộ Tổng quản Kinh lược Chiêu thảo sứ xuống thay thế Trương Nhân vào đầu mùa thu năm đó. (67)</p>
<p>Nổi tiếng trong các trận đánh quân Đột Quyết ở miền Bắc, Cao Biền là một tướng tài và rất kiêu hãnh. Ông cho rằng chuẩn bị kỹ lưỡng là chìa khoá của thành công trong bất cứ trường hợp nào. Sau khi đến Hải Môn, Cao Biền để hết tháng này đến tháng khác vào việc huấn luyện binh sĩ và thu thập tin tức. Vì ghen ghét nên Tiết Độ Sứ Lý Duy Châu ở Hải Môn đã nhiều lần trách Cao Biền là hành động quá chậm chạp. Vì hai bên không hoà thuận với nhau nên cuối cùng khi Cao Biền lên đường xuống Đô Hộ Phủ vào mùa hè 865 thì Duy Châu ở lại, chỉ huy quân đội dự bị.</p>
<p>Cao Biền theo đường biển đến Đô Hộ Phủ với chỉ có năm nghìn lính. Cuộc hành quân được chuẩn bị rất kỹ lưỡng khiến năm vạn quân Nam Chiếu bị bất ngờ phải chạy tán loạn vì lúc đó quân Nam Chiếu đang phân tán khắp nơi để thu gom lúa gạo ở các làng xã. Trong trận này Cao Biền thu lấy số lúa đã gặt để nuôi quân. (68)</p>
<p>Khi tin Cao Biền chiến thắng về đến Hải Môn, Duy Châu tìm cách ếm nhẹm, không thông báo về triều. Nhiều tháng trôi qua và khi triều đình gặn hỏi thì Duy Châu báo cáo rằng Cao Biền chần chờ ngồi nhìn giặc mà không chịu tiến. Tin lời, triều đình lập tức sai Vương Án Quyền xuống thay Cao Biền.</p>
<p>Trong khi ấy, Cao Biền lại được tướng Vi Trọng Tể đem bảy nghìn quân đến tăng cường bằng đường bộ. Mùa xuân năm 866, Cao Biền lại đánh bại một đạo quân Nam Chiếu nữa và đuổi chúng vào tận vùng núi. Sau đó, ông quay lại diệt nốt các tàn quân của địch còn bị lạc lõng ở đồng bằng. Mùa thu năm ấy, ông chuẩn bị bao vây La Thành, nơi mà những tàn quân Nam Chiếu cuối cùng còn đang chiếm giữ. (69)</p>
<p>Cũng vào lúc đó, biết được âm mưu hại ông của Duy Châu và việc bổ nhiệm Án Quyền nên Cao Biền vội sai tướng tùy tùng là Tăng Cổn đi thẳng về kinh tâu trình sự thật ở mặt trận. Tháp tùng Tăng Cổn có Vương Huệ Tán, một tướng trong quân của Vi Trọng Tể. Hai người đi thuyền đến vịnh Hạ Long thì phải nấp ở một trong những hòn đảo để tránh một đội thuyền chở Duy Châu và Án Quyền trên đường xuống Đô Hộ Phủ đi qua rồi mới về gấp kinh sư. Bao vây La Thành đuợc mười ngày thì Cao Biền được tin Duy Châu và Án Quyền sắp đến nên ông giao quyền lại cho Vi Trọng Tể và đem một trăm quân vội vã theo đường bộ lên Hải Môn.</p>
<p>Khi Duy Châu và Án Quyền tới được An Nam thì tất cả mọi hoạt động quân sự đều ngưng. Vì Án Quyền không khéo xoay xở nên để Duy Châu quyết định mọi việc nhưng Duy Châu lại nóng nảy nên các sĩ quan của Cao Biền đều lẩn tránh, không hợp tác. Họ bất tuân lệnh vị tân chỉ huy và nới lỏng vòng vây La Thành khiến quá nửa số binh sĩ bị vây của Nam Chiếu chạy thoát được về núi.</p>
<p>Sau khi về tới được kinh đô và tâu trình sự thật về mọi vụ việc, Tăng Cổn và Huệ Tán vội quay trở về Hải Môn với tờ chiếu phục hồi chức vụ cho Cao Biền. Cao Biền lập tức quay trở lại Đô Hộ Phủ, tổ chức lại cuộc bao vây La Thành và giết hết ba vạn binh sĩ địch còn ở trong thành (70).</p>
<p>Điểm khác biệt rõ nét giữa những năm đầy oán thù đưa đến cuộc chiến tranh với Nam Chiếu và kỷ nguyên thái bình sau đó cho thấy trận chiến này đã chứng kiến những thay đổi quan trọng trong đời sống chính trị ở Việt Nam. Từ đó các thành phần chống Đường và mưu cầu sự tiếp tay của Nam Chiếu đã không còn được nghe nói đến nữa.</p>
<p>Chúng ta có thể suy luận rằng những nhà lãnh đạo địa phương ấy, hoặc đã bị diệt hết hoặc đã phải chạy trốn vĩnh viễn vào trong núi khi cuộc chiến kết thúc. Sự đối đầu Đường Việt mà kết cuộc là cuộc chiến tranh Nam Chiếu cho thấy hai luồng văn hoá đối nghịch ở Việt Nam vào thế kỷ IX. Luồng văn hoá Đường-Việt ở Giao Châu nặng phần Phật Giáo và tùy thuộc vào nhà Đường để duy trì trật tự, và một luồng văn hoá chống Đường tại các khu vực có văn hoá Mường-Việt. Con số ba vạn người bị Cao Biền chém đầu khi ông lấy lại được La Thành chắc chắn bao gồm các phần tử quan trọng trong số các lãnh tụ địa phương chống Đường. Tuy nhiên, quá nửa số bị vây đã trốn thoát được về núi trong lúc Cao Biền tạm thời vắng mặt. Sự rút lui của họ vào núi lúc đó có thể đã có ảnh hưởng quyết định đến việc người Mường tách ra khỏi người Kinh, mà các bằng chứng về ngôn ngữ cho thấy là đã xảy ra vào lúc chấm dứt ách đô hộ của nhà Đường tại Việt Nam. (71)</p>
<p>Thế kỷ IX rõ ràng đã là một kỷ nguyên để lại nhiều dấu ấn đậm nét trong lịch sử Việt Nam. Khó mà nói được rằng thời kỳ này chỉ đơn giản phản ánh những sự kiện tương đối có ý nghĩa trong thời gian đó, hoặc chỉ tượng trưng cho những kinh nghiệm sâu xa mang tính cách quốc gia. Thế kỷ IX là thời gian mà quyền lực Trung Quốc bị suy giảm đến tột cùng, nhiên hậu người Việt Nam đã mạnh dạn hơn đứng lên thách thức thế lực vương triều một cách vừa tích cực vừa tiêu cực.</p>
<p>Người Việt Nam quan tâm phần nào đến cách cai trị sáng suốt của Triệu Xương, Trương Chu và Mã Tổng nên đã tích cực hợp tác với các quan cai trị ấy. Tuy nhiên, lề thói cai trị quá áp bức và không hợp lý của Bùi Hành Lập cũng như Lý Tượng Cổ đã gây bạo động và bất ổn kéo dài. Những năm rối loạn tiếp theo sự nổi dậy của Dương Thanh để tiến tới đỉnh cao là chiến tranh với Nam Chiếu thì đầy ắp những căng thẳng giữa các nhóm chống Đường và thân Đường. Các Đô Hộ, hoặc bị giết hoặc bị đuổi ra khỏi Đô Hộ Phủ trong những năm 803, 819, 828, 843, 860 và 863. Chỉ có cách cai trị của Mã Thực đã đem lại những hòa hoãn hết sức cần thiết trong những năm 830.</p>
<p>Vì các cố gắng thu thuế của nhà Đường đều bị người Việt Nam coi như là một sự khiêu khích, nên khi Hàn Ước thành công trong việc thu thuế để bù lấp được chỗ thiếu hụt trong kho lẫm của chính quyền, thì năm 828 ông bị đánh đuổi chạy mất. Sắc chỉ của nhà Đường năm 836 ra lệnh miễn thuế mùa thu cho dân An Nam năm ấy và phải lấy tiền trong ngân quỹ của Bắc triều để bù lại viện lý do rằng các đồn binh có thể bị tràn ngập bởi những người dân địa phương bất mãn vì sưu cao thuế nặng.</p>
<p>Sau 6 năm không thu được một chút thuế nào thì năm 858 Vương Thức cuối cùng đã tìm cách thu được thuế ở An Nam nhưng đến năm 863 Đường triều lại ra chỉ thị miễn thu &quot;lưỡng thuế pháp&quot; và mọi nghĩa vụ khác trong hai năm (72). Tất nhiên điều này chỉ được ban hành khi Nam Chiếu đã kiểm soát được An Nam. Sau chiến tranh Nam Chiếu nhà Đường phải gửi thóc lúa và các đồ tiếp tế xuống miền Nam để thỏa mãn nhu cầu hậu chiến. Không chắc là từ đó trở đi, Đường triều có thu thêm được thuế nào nữa không ở An Nam.</p>
<p>Khi chiến tranh chấm dứt, nhà Đường lại tìm mọi cách tái lập quyền thống trị Việt Nam nhưng họ đã lún quá sâu vào con đường suy sụp. Thời kỳ tái thiết hậu chiến là giai đoạn chuyển đổi thể chế đầu tiên trong số các thời kỳ quá độ để tiến đến việc tạo lập một nước Việt Nam quân chủ độc lập.</p>
<p>Nếu nhà Đường không thắng trong trận chiến tranh Nam Chiếu thì khó mà nói được xã hội Việt Nam sẽ đi về đâu. Thực tế cho thấy kết cuộc của chiến tranh Nam Chiếu đã khẳng định mối ràng buộc lâu đời giữa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc. Đây chính là điều mà nhiều người Việt Nam cũng như nhà Đường đã quả quyết khi cho rằng Cao Biền là người đã giải phóng họ ra khỏi kỷ nguyên cướp bóc của Nam Chiếu.</p>
<p>Tuy nhiên vì quá yếu để tiếp tục thống trị Việt Nam, cuối cùng nhà Đường đành phải giao lại cho Việt Nam quyền tự quyết, cái mà lúc còn ở thế thượng phong và đầy tự mãn bắc triều đã khư khư giữ lấy. Người Việt Nam giờ đây vừa nấp dưới bóng của vương triều mà không phải bị đau khổ dưới ách thống trị trực tiếp của họ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam thời hậu chiến luôn tìm cách duy trì mối quan hệ hữu nghị chính thức với Trung Quốc ngay cả sau khi nhà Đường đã sụp đổ. Đó là những dẫn chứng cho thấy rằng một nền văn hoá sẽ lôi cuốn và hấp dẫn như thế nào nếu không đi kèm với những áp lực chính trị.</p>
<p><b>GHI CHÚ:</b></p>
<p>(46) Xem An Nam Chí Lược (ANCL) về Điền Tại Hựu và Thôi Cảnh. Theo biểu đồ trong Man Thư (MT) trang 336, Bùi Nguyên Hữu rời An Nam năm 848; Điền Tại Hựu được nói đến trong những năm 849-50 và Thôi Cảnh năm 851-52; Lý Trác năm 853-55.</p>
<p>(47) Thông tin rằng Đỗ Tồn Thành là Thứ sử Ái châu, đồng thời nắm binh quyền ở đó, và Lý Trác đã giết ông vì việc ông đã liên minh với người Lão, trích từ “Thực lục”, trong một ghi chú của Tư Trị Thông Giám (TTTG), 250, quyển 13, 587. Những sách khác chỉ ghi vắn tắt rằng Đỗ Tồn Thành là một “đầu lĩnh man di”. Về lịch sử gia đình họ Đỗ, xem TTTG, 249, quyển 13, 559.</p>
<p>(48) Lý Trác là một nhân vật mờ nhạt; Tư mã Quang cũng đã có nhận xét rằng khó xác định Lý Trác với những người cũng tên xuất hiện trong các nguồn khác (TTTG, 249, quyển 13, 558). Sự cai trị tàn bạo của hắn không được để ý đến nhiều cho mãi đến sau này, khi tình hình đã biến chuyển thành một cuộc khủng hoảng lớn và các sử gia bắt đầu đi tìm nguyên nhân. Như vậy, những sự kiện của năm 854 đã được đưa vào năm 863 trong CĐT, 19a, 4a, và đưa vào năm 858 trong TTTG, 249, quyển 13, 558 và ĐVSKTT, 5, 8b-9a; trong những nguồn này thông tin được đưa ra như là cách giải thích nguyên nhân của tình hình tồi tệ trong những năm sau đó. TĐT, 22b, 1a, đã liệt những sự kiện này vào thời Đại Trung (847-859), trong khi MT miêu tả chi tiết hơn (4, 87-88, và 107-108), cho ta biết Lý Trác giải tán “quân phòng đông” vào năm 854, cũng là lúc cuộc chiến tranh bắt đầu trên diện rộng. ANCL (101, 110-111) cũng tóm tắt các sự kiện.</p>
<p>(49) CĐT, 18c, 15a; TTTG, 249, quyển 13, 551, 552; ĐVSKTT, 5, 8a-b. Tất cả những</p>
<p>nguồn này đều chép Tống Nhai được điều về Đô hộ phủ tháng 4 trong năm. Tháng 5 quân đội ở Ung châu làm loạn và đánh đuổi Kinh Lược Sứ ở đó (TĐT, 8, 13a). Tống Nhai lại bị đưa về Ung châu dẹp loạn vào tháng 6 (CĐT, 18c, 15b).</p>
<p>(50) Vương Thức thay thế Lý Hoằng Phủ tháng 3-858 (CĐT, 18c, 18a-b). Thông tin về La Hành Cung có trong: TTTG, 249, quyển 13, 556; ĐVSKTT, 5, 8b; và ANCL, 101.</p>
<p>(51) Hàng rào cọc nhọn có chu vi 12 lý (khoảng sáu km) và làm bằng gỗ thu được từ các chợ ở An Nam, theo “Tiểu sử Vương Thức” (TĐT, 167, 9b). Theo TTTG, 249, quyển 13, 555, hàng rào này được làm bằng gỗ táo ta, một cây ăn quả có thể mọc cao tới 4,5 m.</p>
<p>(52) Về những sự kiện này, xem: Tiểu sử Vương Thức (Tân Đường Thư, 167, 9a-b); TTTG, 249, quyển 13, 555-56; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT), 5, 8b-9a; ANCL, 101. Cuộc tấn công của các tù trưởng vùng núi được ghi rõ là vào tháng 6 trong năm, theo: Cựu Đường Thư (CĐT), 18c, 19b; Tân Đường Thư (TĐT), 8, 13b; TTTG, 249, quyển 13, 558.</p>
<p>(53) TĐT, 8, 13a-b.</p>
<p>(54) TĐT, 167, 9b; TTTG, 249, quyển 13, 559;</p>
<p>(55) Xem TTTG, 249, quyển 13, 559 về quan hệ của Đỗ Thủ Trừng với cuộc nổi loạn; TTTG chép rằng Vương Thức đã thành công trong việc chia rẽ Thủ Trừng với họ tộc và môn hạ, khiến ông phải chạy trốn và dẫn tới cái chết, nhưng Tư mã Quang, trong một ghi chú về sau (quyển 13, 588), lại cho đó là một sự nhầm lẫn, nhờ có nhiều bằng chứng chắc chắn hơn rằng về sau Lý Hộ đã giết Thủ Trừng.</p>
<p>(56) CĐT, 9, 1a và 167, 9b; TTTG, 249, quyển 13, 559 và 250, quyển 13, 572; ĐVSKTT, 5, 9b-10b.</p>
<p>(57) Bá châu rơi vào tay quân Nam Chiếu tháng 12 năm 859, theo CĐT, 9, 1a, và TTTG, 249, quyển 13, 569. Lý Hộ chiếm lại Bá châu vào tháng 10 năm 860 và bị buộc phải chạy trốn khỏi An Nam vào tháng 12, theo CĐT, 9, 1b và TTTG, 250, quyển 13, 580-581. Những sự kiện này cũng được chép trong TĐT, 222b, 1b; ANCL,101; Viêt Sử Lược (VSL), 1, 11a; và ĐVSKTT, 5, 9b-10a. Về vai trò của gia đình họ Đỗ và sự liên minh với Nam Chiếu, xem TTTG, 250, quyển 13, 581, 587, và ĐVSKTT, 5, 10a</p>
<p>(58) TTTG, 250, quyển 13, 586, 588; ĐVSKTT, 5, 10a; VSL, 1, 11a. CĐT, 9, 1b chép Vương Khoan được bổ nhiệm vào tháng 6 trong năm. Về việc Lý Hộ bị đi đầy, xem TTTG, 250, quyển 13, 587, và VSL, 1, 11a.</p>
<p>(59) TTTG, 250, quyển 13, 587.</p>
<p>(60) CĐT,19a, 2b, 3b; TĐT, 9, 1b; TTTG, 250, quyển 13, 590-591; ĐVSKTT, 5, 10b; VSL, 1, 11b; ANCL, 101. TTTG, và ĐVSKTT chép theo sách này, có thông tin đầy đủ nhất.</p>
<p>(61) TTTG, 250, quyển 13, 592; ĐVSKTT, 5, 10b-11a; VSL, 1, 11b.</p>
<p>(62) Về việc Sái Kinh và cuộc tấn công của Nam Chiếu, xem: TĐT, 9, 1b-2a; TTTG, 250, quyển 13, 594-595; ĐVSKTT, 5, 11a.</p>
<p>(63) TĐT, 9, 2a; TTTG, 250, quyển 13, 597-598; ĐVSKTT, 5, 11a-12a; VSL, 1, 11b; ANCL, 101-102; MT, 101.</p>
<p>(64) CĐT, 19a, 4a.</p>
<p>(65) Xem phụ lục N.</p>
<p>(66) TTTG, 250, quyển 13, 598-600; ĐVSKTT, 5, 12a-b; ANCL, 102; VSL, 1, 12a.</p>
<p>(67) TTTG, 250, quyển 13, 603, 604, 605; ĐVSKTT, 5, 12b; TĐT, 9, 2a, và 224c, 3b; VSL, 1, 12a. CĐT, 19a, 4b lẫn lộn chiến dịch của Khang Thừa huấn ở Ung châu với của Cao Biền ở An Nam sau này.</p>
<p>(68) TTTG, 250, quyển 13, 608; ĐVSKTT, 5, 13a-b; ANCL, 102. CĐT, 19a, 6b chép rằng đó là chiến thắng đối với quân Lâm Ấp. Tương tự như vậy, CĐT cho rằng cuộc xâm lấn An Nam vào tháng 9-861 (19a, 2b) cũng do Lâm Ấp và sự suy sụp của Đô hộ phủ vào năm 863 do “người Lão đã xúi giục Man Lâm Ấp đánh phá An Nam” (19a, 4a). Những nhầm lẫn này có phần là do cái tên Lâm Ấp không thích hợp trong bối cảnh thế kỷ IX (Chú thích của người hiệu đính: <i>Lâm Ấp Quốc</i> (chữ Hán: 林邑國) <i>có thể coi là một vương quốc đã tồn tại từ khoảng năm 192 đến khoảng năm 605, tại vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Nam – theo Wikipedia</i>). Người ta có thể giả định rằng người Chàm cũng không bỏ qua cơ hội mở rộng vùng ảnh hưởng của mình lên phía Bắc; họ cũng rành rẽ những sự việc xảy ra ở An Nam, như đã thể hiện qua việc cử sứ giả tới gặp Vương Thức. Nam Chiếu đã chiếm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng; còn đối với châu Hoan và châu Ái, tuy không có thông tin, nhưng rất có thể người Chàm cũng đã lấn chiếm.</p>
<p>(69) TTTG, 250, quyển 13, 610-611; ĐVSKTT, 5, 13b-14a.</p>
<p>(70) TĐT, 224c, 3b; VSL, 1, 12a-b; TTTG, 250, quyển 13, 611-612; ĐVSKTT, 5, 14a-b; ANCL, 102.</p>
<p>(71) Nguyễn Linh và Hoàng Xuân Chinh, “Đất nước và con người thời Hùng Vương” trang 103-104.</p>
<p>(72) CĐT, 19 (Katakura Minoru, “Chugokū Shihaika no Betonamu”, trang 35).</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20144/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>việt nam khai quốc: sự đối đầu (chương 6, phần 3)</title>
		<link>http://damau.org/archives/17805</link>
		<comments>http://damau.org/archives/17805#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 05 Jan 2011 08:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Keith Weller Taylor</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/17805</guid>
		<description><![CDATA[Phong trào chống nhà Đường vẫn phát triển mạnh mẽ dưới lớp vỏ của một cuộc sống bề ngoài có vẻ ổn định... [và được] lãnh đạo bởi các gia đình quân nhân và những quan chức bất mãn đã đặt hy vọng ngày càng lớn vào Nam Chiếu để cân bằng sức ép của nhà Đường.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Mặc dầu Quế Trọng Vũ tái chiếm được Đại La thành nhưng rõ ràng các cuộc nổi loạn đã giáng cho chính quyền nhà Đường tại miền Nam một đòn chí tử. Hậu quả từ thất bại của Bùi Hành Lập trong chiến dịch tấn công &#8220;Man Hoàng Động&#8221; còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều vụ nổi dậy nghiêm trọng hơn nữa và tập trung ở Ung Châu, phía Bắc An Nam những năm sau đó khiến việc nhà Đường đương đầu với &#8220;Man Hoàng Động&#8221; phải tạm thời gác sang một bên.</p>
<p>Năm 822, phó Đô Hộ An Nam là Thôi Kết được phong chức Kinh Lược Sứ Ung Châu, với trọng trách tái lập quyền hành của nhà Đường ở đó (21). Nhưng chỉ trong vòng vài tháng, Quế Trọng Vũ lại thay thế Thôi Kết ở Ung Châu. Vương Thừa Biện lên thay Quế Trọng Vũ ở An Nam nhưng chỉ đến cuối năm Lý Nguyên Hỉ lại thay thế ông (22). Sở dĩ có sự thay đổi nhân sự liên tiếp như thế là vì nhà Đường tìm mọi cách tổ chức lại vùng biên cương phía Nam đã bị vỡ vụn ra từng mảnh. Suốt thập niên sau đó, những khó khăn ở biên giới cùng với tình hình ly loạn lúc nào cũng âm ỉ ở An Nam khiến các quan chức nhà Đương luôn luôn ở thế phòng ngự.</p>
<p>Đầu mùa hè năm 823, Lý Nguyên Hỉ tâu về triều rằng các bộ tộc Lão trong châu Lục đã tấn công và cướp phá các khu định cư nông nghiệp (23). Vài tháng sau lại báo cáo &#8220;Man Hoàng Động&#8221; đánh phá Ung Châu (24); rồi đến mùa thu năm ấy &#8220;Man Hoàng Động&#8221; lại tấn công cướp phá An Nam (25). Sang năm sau, &#8220;Man Hoàng Động&#8221; mở cuộc đánh phá khắp nơi. Tiết độ sứ Quảng Châu tâu trình rằng một viên tướng của ông đã bị chúng giết mất (26). Mùa thu năm 824, chúng lại xâm nhập để cướp phá ở An Nam. Lần này &#8220;Man Hoàng Động&#8221; lại kết hợp với một toán giặc đi đường biển từ Nam Chiếu lên tham gia cướp phá. Sau đó, chúng lại chiếm luôn châu Lục và giết chết viên Thứ sử ở đấy (27). Những hoạt động này được khuyến khích và hỗ trợ của những người từng theo Dương Thanh trước kia (28).</p>
<p>Hết khó khăn này đến khó khăn khác cùng với việc phải đương đầu với những cuộc cướp bóc và phá phách của “Man Hoàng Động” khiến Lý Nguyên Hỉ bỏ thành Đại La. Năm 825, ông tâu với triều đình là ông đã dời trị phủ lên bờ Bắc sông Hồng. Theo thư tịch Việt Nam, quân nổi dậy địa phương đã phá hủy thành Đại La. Rõ ràng Nguyên Hỉ phải dời về thành Long Biên nhưng rồi cũng chỉ lưu lại ở đó một thời gian ngắn ngủi vì, ngoài việc sợ xui xẻo do dòng sông chảy qua ngay nơi cổng thành phía Bắc, lại còn bị đe doạ bởi &#8221; nhiều người nuôi dưỡng ý định làm loạn &#8221; cận kề nên hẳng bao lâu, ông lại quay trở về vùng phụ cận thành Đại La. Sau khi dựng được một cái thành nhỏ, nhiều người công khai chế giễu rằng &#8220;khả năng của Lý Nguyên Hỉ chỉ có thể xây được một cái thành cỏn con như thế&#8221; (29).</p>
<p>Việc xây cái thành nhỏ lại được đặt tên là &#8220;La Thành&#8221; này, đã được ghi lại trong một truyền thuyết liên quan đến một vị thổ thần. Truyện này được trích trong một cuốn sách, được viết không đầy nửa thế kỷ sau đó, nên chúng ta có thể tin được ít nhiều vào giá trị lịch sử của nó (30).</p>
<p>Theo như câu chuyện được kể lại thì La Thành có “<em>cửa kép tường đôi, bốn hướng vây tròn, nhà cửa san sát”</em>. Nguyên Hỉ tin rằng địa điểm ông đã chọn lựa để xây thành là nơi sinh ra của một vị thần địa phương rất linh thiêng. Thần địa phương này chính là Tô Lịch, người mà năm xưa từng làm quan Lịnh dưới triều nhà Tấn.<em></em></p>
<p>Theo truyền thuyết thì Tô Lịch “<em>gia tư không hào phú lắm, tề gia lấy sự hiếu đễ làm trọng</em>”. Khi Tô Lịch đỗ “<em>Hiếu liêm, có lời chiếu biểu dương môn lư của ngài, gặp năm mất mùa thiếu ăn, chiếu đong lúa kho cho ông, lấy tên ông là Tô Lịch đặt tên thôn”</em> và dòng sông chảy qua đó.</p>
<p>Khu vực sông Tô Lịch, ngày nay vẫn còn chảy qua Hà Nội, đã là vùng đất rất quan trọng về mặt chính trị vào thế kỷ 6 vì được dân chúng cho là đất kiểu &#8220;Long Đỗ&#8221; (Bụng Rồng) mà theo phong thủy là tiêu biểu cho trung tâm địa lý và tinh thần của non sông Việt Nam. Và việc Tô Lịch được phong làm thành hoàng ở đó, chắc chắn là vì giới cầm quyền đã hiểu được quan niệm về vương quyền bản địa. Để gia tăng niềm tin của dân chúng địa phương vào thổ thần Tô Lịch, Lý Nguyên Hỉ còn có hàng loạt các động thái để chứng tỏ lòng tín phục các phong tục và tập quán địa phương của ông.</p>
<p>Trước hết, Lý Nguyên Hỉ mở một đại tiệc và cho xây một điện thờ. Sau đó, ông cất một ngôi đền và lại mở một đại tiệc nữa, “<em>trăm điệu múa đều có, đàn địch vang trời”</em>. Tương truyền rằng sau lễ hội, “<em>đêm ấy, Nguyên Hỉ đang yên lặng nằm bên cửa sổ, hốt nhiên một trận thanh phong ào ào thổi đến, bụi cuốn cát bay, rèm lay án động, có một người cỡi một con hươu trắng từ trên không chạy xuống, mày râu bạc phơ, áo xiêm sặc sỡ, nói với Nguyên Hỉ rằng:</em></p>
<p><em>- Mông được Sứ quân uỷ cho ta chủ thành, nếu Sứ quân có giáo hóa cư dân trong thành cho hết lòng hết sức thì mới sung được nhiệm vụ của quan thú mục, mới xứng với trách nhiệm của một bậc tuần lương.”</em></p>
<p>Câu chuyện hàm ý rằng Lý Nguyên Hỉ đã biết dựa vào các cố vấn địa phương khi họ khuyên ông là hãy thực thi quyền hành cho thích hợp với thực tế văn hoá và chính trị của Đô Hộ Phủ. Vì lẽ đó, Lý Nguyên Hỉ đã tạo được những quan hệ tốt với một số các quan chức địa phương. Tuy nhiên tình hình ngày càng biến chuyển vượt ra khỏi tầm tay ông nên đầu năm 827 ông lại bị Hàn Ước thay thế vì lý do &#8220;Giao Chỉ đang nổi loạn&#8221;. Cầm đầu loạn quân là Thứ Sử châu Phong, Vương Thăng Triều. Nhưng đến mùa hè năm 828, Hàn Ước bắt được Thăng Triều và đem xử chém. (31).</p>
<p>Việc bổ nhiệm Hàn Ước được đi đôi với việc đơn giản hóa bộ máy hành chánh ở Đô Hộ Phủ. Các thanh tra cấp châu bị bãi chức và quyền hành của họ được tập trung vào tay Đô Hộ Phủ. Nhà Đường đã quyết định như thế, có lẽ vì vai trò của &#8220;các Thanh tra châu&#8221; đã trở nên thừa, vì càng ngày Đường triều càng lui vào thế thủ. Tuy nhiên Hàn Ước cũng vẫn còn quyền kiểm soát được một vùng lãnh thổ khá rộng đủ để thu thuế, vừa cho ngân quỹ nhà nước, vừa cho vào túi riêng. Đó chính là lý do tại sao vào mùa thu 828, quân địa phương lại nổi dậy và tống cổ Hàn Ước ra khỏi Đô Hộ Phủ (32).</p>
<p>Bẵng đi đến ba năm không có một thông tin gì cho mãi đến năm 831 thì Trịnh Xước được bổ Đô Hộ (33) nhưng thông tin về ông này chẳng có gì. Năm 833, Tiết độ sứ Quảng Châu trình rằng các chức vụ chính thức trong các vùng biên phía Nam đã bị bỏ trống từ một đến hai năm rồi và yêu cầu triều đình bổ nhiệm người mới (34). Năm 834, Hàn Uy được bổ xuống làm Đô Hộ(35), nhưng, cũng như Trịnh Xước, thông tin về ông này cũng chẳng có gì. Có thể giả thiết rằng, sự lơ là của nhà Đường đối với miền Nam đã khiến các quan chức địa phương phải tự đưa ra các giải pháp chính trị cho chính họ thay vì phải đợi các quan chức nhà Đường đang phải bó tay vì những xung đột giữa các phe phái mới mọc lên.</p>
<p>Năm 835, Đô Hộ Điền Tảo cho trồng một hàng rào bằng cây tươi cùng với một hệ thống rào bằng gỗ để ngăn ngừa các nhóm nổi dậy đột nhập vào kinh thành nhưng vì thiếu ngân quỹ nên công việc không được hoàn tất (36). Phải chăng các rối ren chính trị trong Đô Hộ Phủ đã mời chào các cuộc tấn công; hay có lẽ đúng hơn, đó chỉ là một khía cạnh của tình hình đấu tranh chính trị nội bộ vào lúc đó.</p>
<p>Hệ thống rào gỗ của Điền Tảo cũng nói lên được quyết tâm của triều đình nhà Đường nhằm đưa miền Nam trở lại quĩ đạo kiểm soát của họ. Năm 835, nhà Đường gửi xuống thêm 3 vị tướng quân đến các châu nhiều manh động nhất ở biên giới. Hai tướng được phái đến vùng núi non trong tỉnh Quảng Tây ngày nay, còn một tướng tên là Dương Thừa Hòa thì được bổ nhiệm xuống châu Hoan để &#8220;bình định và tái lập trật tự&#8221; (37) với ngụ ý là châu này đang ở trong tình trạng phản loạn. Năm sau, một Tiết độ sứ khác vì đòi giữ một chức cao hơn quyền hạn tại triều đình mà không được, nên bị giáng chức xuống châu Hoan (38), có lẽ là để trợ giúp cho Dương Thừa Hòa.</p>
<p>Trong khi các binh lính được phái xuống châu Hoan để giữ gìn an ninh, một giải pháp mới lại được ban hành ở vùng trung tâm nông nghiệp của An Nam. Trước sự kháng cự ngoan cường của các nông dân đóng thuế, Dương quay sang áp dụng một chính sách hoà giải. Một sắc chỉ tháng Tư năm 836 nói rằng: &#8220;Về việc thu thuế của các dân tộc vùng xa; mỗi năm, khi đi thu thuế nếu thấy dân chúng kêu ca về sự khổ sở hay thiếu thốn, hãy tạm miễn cho họ. Đối với An Nam, cũng áp dụng như thế và hãy miễn cho họ vụ thuế mùa Thu năm nay. Nay truyền lệnh cho Đô Hộ Điền Tảo, trừ khi quân sĩ thiếu thốn lương thực mà phải đói, hãy họp dân lại và loan báo về việc miễn thuế này&#8221; (39).</p>
<p>Sắc chỉ còn tiếp rằng triều đình sẽ thỏa mãn các nhu cầu tài chính của Đô Hộ Phủ bằng cách gửi tiền trong kho xuống cho. Mặc dầu An Nam đang trở thành một gánh nặng về tài chính, triều đình vẫn nhất quyết duy trì quyền hành mình ở đó vì những lý do chiến lược. Vì Nam Chiếu đang có ý bành trướng từ Vân Nam, Đô Hộ Phủ đã thành một khu vực trọng điểm ở vùng biên giới phía Nam. Để thực hiện được chiến lược cơ bản này nhà Đường đã có những nỗ lực, mặc dù ngắn ngủi, nhằm lấy lại lòng tin của người Việt Nam bằng việc phái Mã Thực, một người tài giỏi, xuống An Nam vào tháng 9 năm 836 để thay thế Điền Tảo thực thi chương trình này. Sắc chỉ năm 836 cho thấy sự đối đầu trực diện giữa binh lính nhà Đường với dân chúng địa phương và nguy cơ các binh lính nhà Đường bị bao vây là có thực. Tình hình thực tế kể trên dường như đã là nguyên nhân trực tiếp cho việc miễn thuế cũng như việc nhanh chóng bổ nhiệm một người tài giỏi như Mã Tổng.</p>
<p>Thư tịch nói rằng Mã Thực là người học thức, rất tài giỏi về công việc hành chánh, có văn hoá, rất liêm khiết và hết sức tao nhã lịch sự. Những đức tính đó khiến nhiều người Việt Nam tôn trọng và hợp tác với ông. Tôn chỉ hành động của Mã Thực là &#8220;đứng đắn và lương thiện &#8220;. Ông không bao giờ phiền hà dân chúng bằng những luật lệ thất nhân tâm và thuế má hà khắc. Điều đáng chú ý là ngay cả các lãnh tụ bộ lạc trong những vùng sâu, vùng xa đều quy thuận ông. Họ sai con em mang nhiều tặng phẩm đến dâng ông để xin được quyền thu thuế và cai trị vùng đất mà họ đang cai quản. Mã Thực đã có công tái sinh châu Lục từ chốn u tối kể từ năm 824 khi mà Tiết độ sứ ở đó bị một lực lượng hỗn hợp gồm &#8220;Man Hoàng Động&#8221; và quân sĩ Hoàn Vương giết chết. Sau đó Mã Thực bổ nhiệm một lãnh tụ địa phương làm Thứ Sử. Một dấu hiệu của sự phồn thịnh thời ấy là các ao nuôi trai ngọc bấy lâu bỏ hoang nay sản xuất ngọc trở lại (40).</p>
<p>Mã Thực chủ trương vãn hồi hoà bình và thịnh vượng để không phải bận tâm với các vụ rối loạn chính trị tại Đô Hộ Phủ từ sau vụ nổi dậy của Dương Thanh. Chứng liệu cho thấy Mã Thực được hưởng cảnh thái bình nhiều trong thời gian ông ở Việt Nam (41) vì một nền hành chính được thực thi êm ả trong Đô Hộ Phủ tùy thuộc rất nhiều vào tư cách và tài năng của Đô Hộ trong việc áp đặt các tư duy vương triều vào thực tế bản xứ. Mã Thực là một trường hợp ngoại lệ vì sau khi ông rời khỏi An Nam thì tình hình lại xấu đi ngay.</p>
<p>Chính sách hoà hoãn của những năm 830 được thi hành vào triều đại Đường Văn Tông (827-840), một vị hoàng đế nhà Đường là người đã cho thi hành những chính sách tế nhị và bổ nhiệm những quan chức lương thiện. Sau cái chết của Đường Hiển Tông năm 820, Hoàng Đế Văn Tông có lẽ là ông vua nhà Đường cuối cùng được chú ý vì đã có một chế độ cai trị hợp lòng dân. Mã Thực đã đem cái kỷ nguyên ngắn ngủi nhưng sáng suốt ấy sang Việt Nam. Cả ông lẫn chính sách mà ông theo đuổi đã làm lắng dịu được khuynh hướng đối đầu kháng cự đang lan tràn trước đó.</p>
<p>Người kế nhiệm Mã Thực là Vũ Hồn. Năm 843, Vũ Hồn ra lệnh cho các tướng địa phương sửa sang lại những bức tường quanh La Thành nhưng họ đã bất tuân, nổi loạn, đốt những chòi canh và cướp phá cả nhà kho. Vũ Hồn trốn thoát được về Bắc. Sau đó Giám quân Đoạn Sĩ Tắc thuyết phục được các viên tướng địa phương thôi không nổi loạn nữa (42). Biến cố này cũng giống như cuộc nổi dậy năm 803, khi Bùi Thái ra lệnh tăng cường phòng thủ các tường bao quanh thành và nó chứng tỏ rằng quan hệ giữa các quan chức nhà Đường và các lãnh tụ địa phương vẫn còn mong manh lắm.</p>
<p>Cách thức hữu hiệu nhất để thuyết phục dân chúng địa phương chấp nhận quyền đô hộ của nhà Đường là gia tăng phòng thủ chống các cuộc tấn công cướp phá từ trên rừng núi tràn xuống. Việc phòng thủ này đã vượt quá khả năng của các quan chức địa phương, nên năm 846, tướng Bùi Nguyên Hữu phải kéo một đạo quân xuống và đánh đuổi được bọn cướp đi (43). Các nhóm cướp phá này rất có thể là đồng minh của những lãnh tụ phản loạn ở An Nam. Một số quan chức Giao Châu ngày càng ngả theo nhà Đường vì họ cảm thấy làm như thế là an toàn. Nhưng ngược lại cũng có những quan chức địa phương khác lại muốn liên minh với các phần tử trong núi như là một phương cách để có thể đuổi hết người Trung quốc đi một lần cho xong hẳn.</p>
<p>Một đoạn văn mô tả An Nam vào giữa thế kỷ 9 nay còn tồn tại chứa đựng những chi tiết được ghi lại tại triều đình khi bàn đến việc bắt đầu làm quan ở Đô Hộ Phủ như sau: &#8220;Cần phải phòng thủ đường bộ và ngăn không cho bọn Khmer đến mua vũ khí và ngựa; phải dẹp yên bọn man di cứng đầu ở trong các thôn bản vùng núi&#8230; Cứ 3 năm phải đem binh sĩ đi tuần tra, đánh dẹp, và tâu trình tình hình về triều. Các quan chức vùng biên thùy phải lo tìm cách thân thiện với các lãnh đạo địa phương và dạy họ cách ứng xử sao cho thích đáng. An Nam có chưa đến 300 kỵ binh…. Có những thị tộc và các dân bộ lạc khá mạnh do đó vấn đề trọng yếu là việc phân phối các vũ khí và quân cụ. Mỗi năm phải lấy tên tuổi các bậc huynh trưởng nào có tính tình tốt, văn hay võ giỏi, để cất nhắc họ vào những chức vụ công quyền&#8230;&#8221; (44).</p>
<p>Việc mô tả này thật là thích hợp với những phần đất nằm ở ngoài ven đô hộ phủ hay các vùng sâu, vùng xa. Vấn đề cơ bản là an ninh biên giới và tình trạng biên giới sẵn sàng bùng nổ vào những năm 850. Dường như có rất nhiều mối liên hệ giữa những khu nông nghiệp ở vùng đất thấp với vùng núi. Những người buôn bán muối, gia súc, ngựa và vũ khí đã phân tán khắp nơi và len lỏi vào những khu dân cư ở vùng núi đang bị dao động vì sự cai trị cứng rắn hà khắc của nước Nam Chiếu. Thậm chí cả những người Khmer ở lưu vực sông Mekong cũng bị lôi kéo vào vòng buôn bán ấy. Điều này gợi lại trong trí nhớ các quan chức nhà Đường từng ở miền Nam và quen thuộc với hình ảnh các đoàn người hỗn độn của Mai Hắc Đế năm 722. An Nam đã trở thành một vùng biên yếu ớt có nguy cơ đến sự toàn vẹn của đế chế. Cảnh giác cao độ và nhu cầu phải tuần tiễu và đánh dẹp luôn luôn đã trở thành các hoạt động thường nhật.</p>
<p>Tại vùng nông nghiệp trọng điểm của Giao Châu, đời sống đã được ổn định hơn. Điều này được thấy rõ ràng đối trong thời gian cai trị của các hậu duệ của Vũ Hồn là người đã bị đánh đuổi khỏi An Nam với cuộc binh biến năm 843. Gốc ở Phúc Kiến, Vũ Hồn sau đó quay lại An Nam và định cư ở phía Đông Giao Châu. Theo lời một hậu duệ của ông, một học giả kiêm quan chức Việt Nam viết ở thế kỷ 18, Vũ Hồn rất yêu thích Việt Nam. Vùng đất nơi ông ở tọa lạc ngay trên hải lộ từ Trung quốc tiến vào tận khu vực đông dân cư ở Giao Châu, nơi mà sau này vẫn là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của Trung quốc trong những thế kỷ Việt Nam độc lập. Từ đầu thế kỷ 14, các cháu chắt thuộc dòng họ Vũ Hồn đã trở thành nhũng quan chức danh tiếng trong chính quyền Việt Nam (45).</p>
<p>Mặc dù Vũ Hồn có thể đã phải đợi cho đến khi chiến tranh Nam Chiếu kết thúc mới dám mạo hiểm quay trở lại Việt Nam, nhưng ta cũng cần thận trọng không nên vơ đũa cả nắm khi nhận định về những sự đàn áp và kháng cự. Vì ảnh hưởng của nhà Đường không được đồng đều nên đã khơi mào cho những khó khăn chính trị trong khoảng thời gian giữa thế kỷ 9 mà kết quả là việc tạo ra những cảm nghĩ trái ngược bên trong Đô Hộ Phủ: một bên nghiêng hẳn về Đường triều, một bên sẵn sàng liên minh với các bộ tộc ở vùng núi để chống nhà Đường. Hai toan tính trái nghịch này đã không lọt qua được sự chú ý của Nam Chiếu.</p>
<p>Trong phần tư thứ nhì của thế kỷ 9, việc thế lực Nam Chiếu mạnh lên càng làm gia tăng sự đối đầu và kình chống giữa một bên là phe thân nhà Đường và bên kia là các lãnh tụ địa phương chống nhà Đường ở Đô Hộ Phủ. Nhiều người Việt Nam có học chắc chắn đã cảm thấy dễ dàng hơn khi chọn thế đứng về phe thân nhà Đường thay vì chấp nhận những nguy hiểm bất ngờ nếu phải đứng về phe “Man quốc” (Nam Chiếu). Sau hơn 200 năm dưới ách đô hộ của nhà Đường, ý tưởng độc lập của người Việt Nam đã bị giải thích một cách sai lạc. Tuy nhiên phong trào chống nhà Đường vẫn phát triển mạnh mẽ dưới lớp vỏ của một cuộc sống bề ngoài có vẻ ổn định. Phong trào chống Đường được lãnh đạo bởi các gia đình quân nhân và những quan chức bất mãn đã đặt hy vọng ngày càng lớn vào Nam Chiếu để cân bằng sức ép của nhà Đường. Như vậy là bối cảnh chính trị đã chín muồi cho một trong những cuộc chiến tranh lâu dài và tổn hại nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam với tư cách là một châu dưới ách thống trị của Trung quốc.</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-</p>
<p><strong>Ghi chú:</strong></p>
<p>(21) Cựu Đường thư (CĐT), 16, 16a; Tư trị Thông giám (TTTG), 242, quyển 13, 239, 240.</p>
<p>(22) CĐT, 16, 13a, 17a, 18a.</p>
<p>(23) TTTG, 243, q.13, 250.</p>
<p>(24) TTTG, 243, q.13, 251.</p>
<p>(25) Tân Đường thư (TĐT), 8, 36; TTTG, 243, q.13, 253.</p>
<p>(26) TTTG, 243, q.13, 256.</p>
<p>(27) TĐT, 8, 4a; CĐT, 17a, 4b; TTTG, 243, q.13, 263.</p>
<p>(28) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT), 5, 7b.</p>
<p>(29) CĐT, 17a, 6a và An Nam chí lược (ANCL), 100, chép rằng Lý Nguyên Hỉ tâu xin di chuyển đô hộ phủ sang bờ sông phía Bắc, tuy không nói rõ sông nào nhưng chỉ có thể là sông Hồng mà thôi. Theo ĐVSKTT, 5, 7b, Dương Thanh lẩn trốn trong vùng các bộ tộc người Lão, xúi giục nổi loạn và đã phá được thành Đại La; việc này dẫn đến các cuộc xâm lấn của Man Hoàng động và Hoàn vương. Nguồn sớm nhất nói về Long Biên trong bối cảnh của những sự kiện này là Giao Châu Ký, được dẫn lại trong Việt Điện U Linh Tập (VĐULT). Đây không phải cuốn sách của Triệu Thường, mà là sách cùng tên của Tăng Cổn, một quan chức nhà Đường ở An Nam từ 865 đến 880; xem Gaspardone, “Thư mục”, trang 127. ĐVSKTT (5, 7b), VSL (1, 10b), và các nguồn sách tiếng Việt khác (xem Cao Huy Giu phiên dịch, Đào Duy Anh chú giải, ĐVSKTT, 1:325) căn bản cũng cho những thông tin như nhau, trong khi có thêm chi tiết về cuộc bạo loạn, được cho là bởi có dòng nước chảy ngược ngoài cửa bắc thành Long Biên. VĐULT, 18, còn nói rõ rằng Đại La không có cửa Bắc và nằm trên bờ Bắc sông Tô Lịch, một nhánh của sông Hồng; xem H. Maspero, “An Nam Đô hộ phủ thời nhà Đường”, trang 555-556. ĐVSKTT, 5, 7b, ghi ngày tháng dời trị phủ về khu vực Đại La là tháng 11 năm 824; VĐULT, 18, chỉ đề cập là Lý Nguyên Hỉ được bổ nhiệm vào năm 822. TĐT, 43a, 9b, lại ghi rằng thời gian chuyển trị phủ trở lại về vùng Đại La là năm 825; CĐT, 17a, 6a, nói ngày bỏ Đại La là tháng 5 năm 825. Trích dẫn về việc chế riễu tòa thành mới của Lý Nguyên Hỉ, xem ĐVSKTT, 5, 7b, và VSL, 1, 10b. Toàn bộ trích dẫn bao gồm cả lời tiên tri rằng năm mươi năm sau sẽ có người họ Cao xây thành tại chỗ đó; chuyện này ám chỉ Cao Biền và cho thấy rằng toàn bộ lời trích có thể đã có từ cuối thế kỷ.</p>
<p>(30) VĐULT, 18; Giao Châu Ký của Tăng Cổn.</p>
<p>(31) CĐT, 17a, 12a, có chép ngày tháng bổ nhiệm Hàn Ước. Tiểu sử Hàn Ước (TĐT, 179, 10a) chép: “Giao Chỉ có loạn. An Nam Đô hộ phủ được giao cho Hàn Ước”. Về Vương Thăng Triều, xem TTTG, 243, quyển 13, 293; ANCL, 100; ĐVSKTT, 5, 8a.</p>
<p>(32) Về các “quan thanh tra châu”, xem Việt Sử Lược (VSL), 1, 10b. Về những công trạng của Hàn Ước trong việc thu thuế, xem TĐT, 179, 10a. Về cuộc nổi dậy năm 828, xem CĐT, 17a, 15a, TĐT, 8, 5b; TTTG, 243, quyển 13, 294; ĐVSKTT, 5, 8a; ANCL, 100.</p>
<p>(33) CĐT, 17c, 6a.</p>
<p>(34) Bản tâu về triều của Tiết Độ Sứ năm 833 có trong CĐT, 17c, 8b.</p>
<p>(35) Cùng trong chương này, 17c, 14a.</p>
<p>(36) TĐT, 167, 9b; ANCL, 101.</p>
<p>(37) TTTG, 245, q.13, 356.</p>
<p>(38) CĐT, 17c, 20a.</p>
<p>(39) Xem Katakura Minoru, “Chugokū Shihaika no Betonamu”, trang 35.</p>
<p>(40) Nguồn chính về tiểu sử Mã Thực là TĐT, 184, 1a, còn ANCL, 101, chỉ ghi tóm tắt.</p>
<p>(41) Trần Nghĩa, “Một số tác phẩm mới phát hiện có liên quan tới giòng văn học Việt bằng chữ Hán của người Việt thời Bắc thuộc”, trang 96-97.</p>
<p>(42) TĐT, 8, 10a, và ANCL, 101 chỉ đề cập qua đến cuộc nổi dậy. TTTG, 247, q.13, 460 và ĐVSKTT, 5, 8a, có miêu tả đầy đủ. VSL, 1, 11a chỉ nói Vũ Hồn là Đô Hộ thời Đường Vũ tông (841-846).</p>
<p>(43) TĐT, 8, 11a thì chép rằng quân Man từ Vân Nam tràn vào An Nam nhưng bị Kinh Lược Sứ Bùi Nguyên Hữu đánh bại. ĐVSKTT, 5, 8a viết rằng Bùi Nguyên Hữu được cử ra đối phó với tình hình và có quyền điều động binh lính từ các quận lân cận. VSL, 1, 11a, thì chỉ nêu Bùi Nguyên Hữu là quan cai trị thời Vũ tông (841-846).</p>
<p>(44) ANCL, 153.</p>
<p>(45) Vũ Phương Đề, Công Dư Tiệp Ký, 1:1.</p>
<p>.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/17805/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>việt nam khai quốc: dương thanh v&#224; v&#244; ng&#244;n th&#244;ng (chương 6, phần 2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/17088</link>
		<comments>http://damau.org/archives/17088#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 29 Nov 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Keith Weller Taylor</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Nghiên Cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/17088</guid>
		<description><![CDATA[Nhiều trí thức Việt Nam trong số  [thấm nhuần Hán học] vẫn quyến luyến với nền văn hoá bản địa từ thuở chữ Hán chưa được du nhập.  Một số... đã bầy tỏ sự quyến luyến này bằng việc cố gắng diễn đạt các câu ca dao tục ngữ bản địa bằng chữ "Nôm" [hoặc] qua những nỗ lực chống lại tầng lớp cai trị nhà Đường.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>DƯƠNG THANH &amp; VÔ NGÔN THÔNG</strong></p>
<p>Sự phục hồi của nhà Đường từ sau loạn An Lộc Sơn chỉ được một thời gian ngắn ngủi và Trung Hoa bước vào đêm dài của một đế chế lụi tàn. Chiều hướng này còn diễn ra nhanh hơn do thái độ chống đối ngày càng lộ liễu hơn của các thủ lãnh bộ lạc miền núi phe cánh với vương quốc Nam Chiếu đang lớn mạnh ở Vân Nam. Từ khi Triệu Xương ký một hòa ước với Nam Chiếu vào năm 794 thì các bộ lạc vùng núi vẫn đuợc yên ổn; và các xích mích chỉ xuất hiện từ lúc Bùi Thái đến nhậm chức ở Giao Châu vào năm 802-803. Kể từ đó, các tộc &#8220;Man Hoàng Động&#8221; cứ lâu lâu lại kéo xuống phá phách vùng thung lũng nơi bây giờ là phía Tây tỉnh Quảng Tây (16).</p>
<p>Khoảng cuối năm 817 và đầu năm 818, Bùi Hành Lập được thuyên chuyển về Quế Châu, nơi ông bàn tính với các quan chức trong vùng để xin lệnh tấn công bọn &#8220;Man Hoàng Động&#8221;. Tiết độ sứ Quảng Châu lúc đó là Khổng Quỳ không đồng ý vì cho “chuyện này chưa được bàn thảo kỹ càng”. Dù thế chiến dịch vẫn được triển khai bất chấp lời can ngăn của Khổng Quỳ với việc Bùi Hành Lập và bộ hạ dẫn đầu một đạo quân lớn tiến vào vùng núi. Nhưng chiến dịch này bị sa lầy ngay từ những ngày đầu vì quân sĩ yếu kém và vì bệnh sốt rét hoành hành (17). Tìm mọi cách níu kéo chiến dịch vắn số ấy Bùi Hành Lập và bộ hạ đã phải cắn răng mất trắng quyền kiểm soát lãnh thổ đồng thời phải thường xuyên gánh chịu những điều kiện ngặt nghèo từ các cuộc tấn công vào hậu cứ đang bị bao vây cũng như việc tái xuất hiện những mầm mống nổi dậy ở An Nam.</p>
<p>Kế vị Bùi Hành Lập ở An Nam là một tông thất nhà Đường tên là Lý Tượng Cổ. Lý Tượng Cổ là một tên tham túng, bất kể luật pháp nên mọi ngưòi bất mãn và chỉ chực chờ cơ hội nổi loạn. Ngược lại, phụ tá của Lý Tượng Cổ là Dương Thanh lại là một thủ lĩnh người Việt, dòng dõi hào trưởng lâu đời, có nhiều thế lực, tổ tiên từng làm Thứ Sử châu Hoan từ thời Khai Nguyên (713-741). Lo sợ bị danh tiếng của Dương Thanh lấn át nên Lý Tượng Cổ, thay vì để Dương Thanh giữ chức Thứ Sử Hoan Châu, chỉ cho làm “Nha môn tướng”, một cấp chỉ huy không có thực quyền trong Giao Châu phủ.</p>
<p>Thất vọng và buồn phiền nên Dương Thanh càng để ý đến lòng căm phẫn của dân chúng đối với sự cai trị hống hách của Lý Tượng Cố. Trong khi đó vì muốn tống khứ Dương Thanh cho khuất mắt nên một hôm Lý Tượng Cổ hạ lệnh cho họ Dương đem 3.000 lính lên trợ giúp Bùi Hành Lập đang bị chôn chân trên rừng núi phiá Bắc. Biết rằng không thể nấn ná thêm nữa nên đêm đó Dương Thanh quyết định làm phản, đột nhập vào thành giết chết Lý Tượng Cổ cùng trên một ngàn người vừa vợ con, gia nhân và tùy tùng bộ hạ của Lý Tượng Cổ (18).</p>
<p>Sau cuộc nổi loạn này Dương Thanh yên trí rằng đế quốc Đường đã cáo chung và sẽ không còn nhòm ngó An Nam nữa. Lẽ ra, Dương Thanh đã có cơ hội đưa toàn bộ Giao Châu phủ về một mối, nhưng ông không phải là nhà lãnh đạo được lòng dân. Sách chép rằng vì bản tính dễ nổi nóng nên Dương Thanh có những hành động hà khắc gần như tàn bạo khiến mọi người xa lánh.</p>
<p>Biết rằng không thể trừng phạt quân sự ngay được đối với Dương Thanh nên nhà Đường tìm cách đánh lạc hướng những tham vọng của ông ở Giao Châu bằng việc khoan hồng và bổ nhiệm ông làm Thứ Sử trên đảo Hải Nam. Dĩ nhiên Dương Thanh không chịu đi và ra lệnh đóng cửa biên giới khi viên tân Đô Hộ là Quế Trọng Vũ sắp đến.</p>
<p>Khi đến nơi, Quế Trọng Vũ cho hạ trại ở biên giới và tìm cách bí mật điều đình với các thuộc hạ của Dương Thanh. Sau vài tháng điều đình, sứ giả của Trọng Vũ đã tạo được hậu thuẫn ngày càng nhiều từ các quan chức dưới trướng của Dương Thanh, kể cả các cấp chỉ huy có tới bảy nghìn quân. Tuy nhiên, triều đình nhà Đường lại cho rằng Quế Trọng Vũ hành động quá chậm chạp nên đầu năm 820 lại bổ nhiệm Bùi Hành Lập thay thế. Nhưng trước khi Bùi Hành Lập đến nơi, những nỗ lực của Quế Trọng Vũ đã có kết quả. Một nhóm tướng quân của Dương Thanh làm phản, chiếm thành Đại La, và mở cửa đón Quế Trọng Vũ vào thành. Dương Thanh và gia đình đều bị giết chết. Trước đó Bùi Hành Lập đã qua đời tại Hải Môn và thế là Quế Trọng Vũ lại được tái bổ nhiệm vào cương vị cũ. (19)</p>
<p>Việc Quế Trọng Vũ vận động được một số lãnh đạo địa phương Việt Nam chống Dương Thanh có lẽ là nhờ sự hỗ trợ của các phần tử trong cộng đồng Phật Giáo Việt Nam. Sự trợ giúp này được thể hiện qua việc thành lập một hệ phái Thiền mới do một nhà sư từ Trung Quốc đến vào năm 820, có lẽ theo sự sắp đặt của Quế Trọng Vũ. Nhà sư này gốc ở châu Quảng, mang họ Trịnh, nhưng sau này được nhớ đến qua tên tiếng Việt của dòng Thiền mà ông sáng lập: Vô Ngôn Thông. Ông xuất gia tại chùa Song lâm thuộc Chiết Giang ngày nay, và sau đó tu tập với Mã Tổ Đạo Nhất ở Giang Tây. Sư phụ và cũng là người tiền nhiệm của Mã Tổ là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng, người được coi là sơ tổ của dòng Thiền “Nam tông” Trung Quốc. Huệ Năng được tính là thế hệ truyền thừa thứ ba kể từ đời Tăng Sán, vị chưởng môn đã phái nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi xuống miền Nam vào thế kỷ 6.</p>
<p>Sau khi Mã Chưởng môn viên tịch, Vô Ngôn Thông tiếp tục tu tập với đệ tử danh tiếng của Mã Tổ là Bách Trượng Hoài Hải, người đã có công đem sinh khí mới lại cho Phật Giáo Trung Quốc. Sau khi Thiền sư Hoài Hải mất năm 814, Võ Ngôn Thông tiếp tục tu tập với các đệ tử của Hoài Hải và đã truyền tâm ấn cho sư Huệ Tịch, người về sau sáng lập phái Thiền Quy Ngưỡng, một trong năm Thiền phái nổi tiếng ở Trung Hoa, nhưng nhỏ và chẳng tồn tại đến hết thời Đường.</p>
<p>Năm 820, khi tới Việt Nam, Vô Ngôn Thông đã cao tuổi. Ông được thiền sư Cảm Thành (pháp danh Lập Đức) đón tiếp ở chùa Kiến Sơ, xã Phù Đổng (trước 1961 thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, ngày nay thuộc huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội). Vô Ngôn Thông cư trú tại chùa này, ngoài hai bữa cơm cháo thì dành hết thì giờ vào việc thiền tọa, xoay mặt vào vách, không nói năng gì. Vô Ngôn Thông viên tịch vào năm 826, sau khi truyền hết sở học mà ông đã thọ giáo từ Bách Trượng Hoài Hải cho Cảm Thành. Sư Cảm Thành mất năm 860 và giáo phái Vô Ngôn Thông cũng như phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi còn tồn tại mãi sang đến thế kỷ 13 (20).</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/ChuaKienSo.jpg"><img style="display: inline; border: 0px;" title="ChuaKienSo" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/ChuaKienSo_thumb.jpg" border="0" alt="ChuaKienSo" width="416" height="302" /></a></p>
<p><em>Chùa Kiến Sơ  ở phía Đông Bắc thành phố Hà Nội</em> (nguồn: <a href="http://www.phattuvietnam.net/8/11230.html" target="_blank">Phật tử Việt Nam</a>)</p>
<p>Việc sáng lập giáo phái Vô Ngôn Thông lúc đó chắc chắn có dính líu đến chính trị Giao Châu. Trong khi các phe kình chống nhau tìm cách chiếm quyền cai trị Đại La và các tay sai của nhà Đường ra vào Đô Hộ Phủ như thoi đưa thì việc Vô Ngôn Thông đến Việt Nam không thể là chuyện ngẫu nhiên. Đã nhiều tuổi, Vô Ngôn Thông đến An Nam không phải để tầm sư học đạo hay để tìm nơi yên tĩnh để nghỉ ngơi. Có thể suy diễn một cách hợp lý rằng hệ phái Vô Ngôn Thông đã lôi kéo được những cộng đồng tăng lữ ở Giao Châu ngả về phe thân nhà Đường. Các cộng đồng thiền viện này có những liên hệ văn hóa mật thiết với Trung Quốc và có lẽ vì thế nên họ luôn nghi ngờ các mưu toan thay đổi của Dương Thanh.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/VoNgonThong.jpg"><img style="display: inline; border: 0px;" title="VoNgonThong" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/VoNgonThong_thumb.jpg" border="0" alt="VoNgonThong" width="271" height="337" /></a></p>
<p><em>Thiền sư Vô Ngôn Thông</em></p>
<p>Giáo phái Vô Ngôn Thông dường như cũng là đáp ứng của những vùng nông nghiệp đối với những tham vọng chính trị nhất thời của những người có trách nhiệm phòng thủ vùng núi non nơi biên cương. Cuộc nổi loạn của Dương Thanh thoạt kỳ thủy, nói không có chút nào thì không đúng, nhưng phải nói là dựa rất ít vào các quan chức dân sự đang cai quản các vùng nông thôn ở Giao Châu. Nhiều người trong số này chắc chắn có quan điểm gần gũi với những quan lại Trung Quốc hơn là xã hội ít học ở các huyện vùng biên giới nơi các võ quan làm nên sự nghiệp. Vụ trừ khử Dương Thanh hầu như được sự hậu thuẫn của các quan chức dân sự trong vùng đất Phật Giáo tại trung tâm Giao Châu khi họ đã quá ngán ngẩm với những điều mà họ cho là cực đoan vô lối. Nhờ mối đe dọa cực đoan này, họ sẽ được hưởng lợi khi điều đình với Thiên triều, chừng nào nhà Đường vẫn tiếp tục để họ nắm quyền kiểm soát ở đây.</p>
<p>Dương Thanh rõ ràng là một người nóng nảy. Ông khởi dựng sự nghiệp từ châu Hoan, nơi biên cương, an ninh vốn lỏng lẻo và phần lớn cư dân thuộc các bộ lạc luôn gây căng thẳng triền miên. Ra lệnh tàn sát trên một ngàn người để trả thù Lý Tượng Cổ, rồi sau đó lại phong tỏa biên giới là cách để Dương Thanh chứng tỏ rằng ông có thể chống lại được nhà Đường. Nhiều người lại cho rằng Dương Thanh là một kẻ tàn bạo và ngu xuẩn.</p>
<p>Nói thế không phải là coi thường giá trị to lớn trong cuộc nổi dậy của ông khi biết dựa vào bối cảnh đầy căm phẫn của mọi người trước lề lối cai trị độc đoán và sai lầm; và lòng căm phẫn ấy chắc đã lan sang cả đám quan chức dân sự ở Giao Châu rồi. Mặc dù những quan chức này có thể đã tán thành việc Đô Hộ Phủ cai trị một cách mềm dẻo linh động trong quyền lực vừa mới tái lập được, nhưng nhất định họ không muốn để quyền lực ấy rơi vào bàn tay hung bạo của giới quân nhân giống như những thủ lãnh bộ lạc vùng núi, những người đã thâu tóm được nhiều quyền hành hơn thực lực của bản thân họ, trong khi tầm nhìn của họ bị giới hạn bởi nông nghiệp, hành chính và học vấn.</p>
<p>Trong thời gian quyền lực của nhà Đường được phục hồi, một lớp quan chức mới đã mọc lên để thoả mãn nhu cầu hành chánh địa phương. Chúng ta biết rằng, trước đó dưới thời Trương Chu, việc quân đội địa phương được tăng cường cùng với việc xây dựng công binh xưởng, kho võ khí, sửa sang thành quách, canh tân thủy quân, có thể đã không thực hiện được nếu không có những nỗ lực lớn để kiểm tra dân số, thu thuế, thực thi luật lệ.</p>
<p>Việc mở rộng guồng máy hành chánh trong thời kỳ ấy đã làm thay đổi rất nhiều mối tương quan giữa cư dân nông nghiệp vốn chiếm đa số ở Giao Châu với dân chúng sống ở vùng biên thùy lân cận. Từ đó những tiêu chuẩn của một đời sống nông nghiệp rõ nét đã được thực hiện chính xác hơn, quyền uy hơn và không khoan nhượng. Mặc dù cách thức lãnh đạo của Dương Thanh đã thu phục được những thành phần bất kham nơi biên cương cũng như những tầng lớp quan chức bất mãn nhưng lại không thể thu phục nhóm quan chức có học và biết phối hợp nhịp nhàng những thủ tục hành chánh; chính nhờ những khả năng này mà nhân lực và lương thực đã được cung cấp đủ cho quân đội của nhà cầm quyền.</p>
<p>Sức mạnh của phe nổi loạn là ở chỗ họ có thể rút về vùng biên giới nơi dân chúng ít bị trưng binh để dễ dàng chiêu mộ quân cho các cuộc phiêu lưu chính trị khác. Các nhóm nổi dậy bị nhà Đường đánh bật khỏi Giao Châu vào năm 820 dường như đều làm như thế. Những bất ổn chính trị, là đặc điểm của cả bốn thập kỷ tiếp theo và cũng là nguyên do của cuộc chiến tranh với Nam Chiếu, đều bắt nguồn từ những quan điểm đối kháng, phát sinh do việc mở rộng bộ máy hành chính trong vài chục năm trước đó ─ tạo được thái độ hợp tác ở vùng đồng bằng, nhưng lại gây ra thái độ kháng cự, chống đối nơi biên cương.</p>
<p>Chống lại sự thống trị của nhà Đường có lẽ không hoàn toàn chỉ là chuyện đơn lẻ ở địa phương mà còn trong tất cả các thành phần xã hội Việt Nam vì sự kiên trì kháng cự trong suốt thế kỷ 9 đã được sự hậu thuẫn ngấm ngầm của toàn thể xã hội nói chung. Tuy thế, rõ ràng vùng biên vẫn là nơi cung cấp nhiều cơ hội lớn lao hơn để triển khai những cuộc kháng chiến, còn những người quyết định ở lại Giao Châu dưới sự kiểm soát của nhà Đường thì lại có quan điểm thụ động hơn.</p>
<p>Xã hội Việt Nam lúc đó vẫn còn nhiều người không biết đọc và biết viết chữ Hán. Dư luận công chúng phần nhiều được biểu đạt nhờ thiểu số các sư sãi, quan chức dân sự và quân sự là những người ít ra cũng biết đọc, biết viết chữ và hiểu văn hoá Hán để làm những công việc thực tế hàng ngày. Không ít quan chức quân sự chỉ biết dăm ba chữ nhưng các thương nhân nhất định phải biết một số chữ chuyên môn để giao dịch buôn bán.</p>
<p>Vì quá trình đào tạo chính thức nhất định là phải nhồi nhét những quan điểm của Thiên triều nên cũng không sai nếu nghĩ rằng nhóm người có trình độ học thức uyên thâm nhất cũng là thành phần ngả về phía Trung Quốc nhiều nhất. Nhưng không phải vì thế mà không có một luồng tư tưởng khác đối với giới trí thức Việt Nam có học. Chúng ta đã thấy chữ Hán được dùng như thế nào để diễn tả danh từ thuần Việt như &#8220;bố&#8221; và &#8220;cái,&#8221; qua nguồn gốc chữ &#8220;Nôm&#8221; còn truyền lại đến ngày hôm nay.</p>
<p>Nhiều người Việt Nam, mặc dù có hiểu biết Hán học, đã không tự cô lập với xã hội mà họ đã sinh ra và lớn lên. Chúng ta có thể cho rằng nhiều người trong số họ vẫn quyến luyến với nền văn hoá bản địa từ thuở chữ Hán chưa được du nhập. Một số người Việt Nam đã bầy tỏ sự quyến luyến này bằng việc cố gắng diễn đạt các câu ca dao tục ngữ bản địa bằng chữ &#8220;Nôm&#8221;. Một số khác lại bày tỏ sự quyến luyến ấy qua những nỗ lực chống lại tầng lớp cai trị nhà Đường.</p>
<p>Tính từ năm 820 cho đến khi kết thúc chiến tranh Nam Chiếu, gần một nửa thế kỷ sau đó, chính sách của nhà Đường đối với Đô Hộ Phủ là luôn luôn phải một bên là xét đến khả năng, một bên là đo lường lòng trung thành của tầng lớp quan lại người Việt. Nửa thế kỷ, với hết các cuộc nổi dậy này đến cuộc nổi dậy khác, đã đưa Việt Nam dưới ách thống trị của nhà Đường từ chỗ bị chinh phục đến chỗ đối đầu. Dương Thanh có thể chưa là một lãnh tụ tầm cỡ, nhưng việc làm của ông là điềm báo trước cho những sự kiện trọng đại sắp diễn ra đối với vận mệnh nước Việt Nam.</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p><strong>Ghi chú:</strong></p>
<p>(16) Man Thư, 267-268.</p>
<p>(17) Tư Trị Thông Giám (TTTG), 239, quyển 13, 125, và 241, q. 13, 187. Ngày tháng Bùi Hành Lập được bổ nhiệm làm Đô Đốc Quế Châu cũng gần trùng với ngày tháng Khổng Quỳ được bổ làm Tiết Độ Sứ Quảng Châu vào mùa thu năm 817 (Cựu Đường Thư, 15, 12b).</p>
<p>(18) Thông tin về tổ tiên Dương Thanh đã từng là Thứ Sử Hoan Châu từ đầu thời Khai Nguyên thì chỉ riêng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (ĐVSKTT) có (5, 7a-b). Chi tiết đầy đủ về cuộc khởi nghĩa Dương Thanh nằm trong phần tiểu sử Lý Tượng Cổ (Tân Đường Thư, 80, 12a), sau đó được chép lại trong TTTG, 241, quyển 13, 187, và ĐVSKTT, 5, 7a-b; trong An Nam Chí Lược (ANCL), 100, cũng có một đoạn thuật lại ngắn hơn. Những ghi nhận giản đơn về cái chết của Lý Tượng Cổ có trong Cựu Đường Thư (CĐT), 15, 19a, Tân Đường Thư (TĐT), 7, 166, và Việt Sử Lược (VSL), 1, 10b. CĐT chép quân An Nam nổi loạn; TĐT viết Tượng Cổ chết bởi tay “tướng quân An Nam Dương Thanh”; VSL thì chỉ ghi Dương Thanh là “quan”.</p>
<p>(19) Tiểu sử Lý Tượng Cổ (TĐT, 80, 12a) đã thuật lại sự kiện này và được TTTG chép lại, 241, q.13, 195, có thêm chi tiết về 7000 lính. Những sự kiện này cũng được ghi lại trong Bản Kỷ của CĐT: tháng 6 trong năm, Quế Trọng Vũ dâng tấu về triều rằng đã chém Dương Thanh và khôi phục An Nam Đô hộ phủ (16, 3a); tháng 8 trong năm Trọng Vũ gửi đầu Dương Thanh về kinh (10, 4a). ANCL, 100, chỉ nói vắn tắt rằng Trọng Vũ đã bình định cuộc nổi loạn của Dương Thanh. ĐVSKTT, 5, 7b-8a, lại chép khác, rằng Dương Thanh không những đã chống lại được Trọng Vũ mà cả hai viên Đô Hộ sau đó trong thời gian họ đang còn tại vị cho đến tận 828. Như chúng ta sẽ thấy, tình trạng khởi nghĩa liên tiếp là đặc điểm nổi bật trong cả thập kỷ sau đó, cũng chính là di sản từ cuộc nổi dậy của Dương Thanh và rõ ràng được tấm gương của ông cổ võ. Dẫu sao bằng chứng cũng cho thấy là Dương Thanh đã bị chém đầu vào năm 820. Theo CĐT, 16, 2a, Bùi Hành Lập được tái bổ nhiệm xuống An Nam vào tháng 2 năm 820. Triều đình nhận được tin Hành Lập chết vào tháng 7 trong năm (CĐT, 16, 4a).</p>
<p>(20) Về việc sáng lập hệ phái Vô Ngôn Thông, xem Trần Văn Giáp “Phật giáo ở An Nam từ khởi thủy đến thế kỷ 13”, trang 243-244 (“Le Bouddhisme en Annam des origins au XIII siècle”).</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/17088/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>việt nam khai quốc: Đường-Việt đối đầu (chương 6, phần 1)</title>
		<link>http://damau.org/archives/16708</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16708#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 10 Nov 2010 10:34:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Keith Weller Taylor</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16708</guid>
		<description><![CDATA[Chính sách cứng rắn của Bùi Hành Lập đã làm hiện nguyên hình bộ mặt giả nhân giả nghĩa của Đường triều đối với Việt Nam đồng thời bộc lộ mâu thuẫn rõ nét giữa một bên là tham vọng của đế quốc và một bên là truyền thống bản địa.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>Những nỗ lực tái lập quyền uy của nhà Đường ở Giao châu</em></strong></p>
<p><strong> </strong>Đầu thế kỷ 9 thì tình hình chính trị ở Trung Quốc đã ổn định và nhà Đường được hưởng một thời kỳ tương đối yên bình dưới thời Đường Hiển Tông (806-820). Đường Hiển Tông gặt hái được ít nhiều thành công trong việc cắt giảm quyền lực của các Đô Đốc và thực thi quyền hành của ông trên phần lớn lãnh thổ đế chế. Thời Đường Hiển Tông trị vì, các viên Tiết Độ Sứ có thế lực đã biến tiềm năng sẵn có của Việt Nam thành một trung tâm quyền lực địa phương tầm cỡ. Chiếc cầu nối giữa thời đại Phùng Hưng và kỷ nguyên mới này của vương triều nhà Đường chính là Triệu Xương.</p>
<p>Triệu Xương cầm quyền ở Việt Nam được tổng cộng 15 năm. Trong suốt thời gian cầm quyền, thay vì tìm cách đè bẹp hay can thiệp vào những thức tỉnh từ tư duy nhạy cảm của người bản xứ, Triệu Xương đã chính thống hoá quyền hành của ông dựa vào chính bối cảnh của những tư duy ấy.</p>
<p>Theo một nguồn sử liệu Việt Nam, Triệu Xương thường đi thăm thú các vùng nông thôn để tìm hiểu các phong tục và tập quán thờ cúng của dân chúng địa phương. Một trong những nơi ông thường lui tới là làng Từ Liêm, cách La Thành một quãng ngắn về phía Tây mà theo truyền thuyết là quê hương của Lý Ông Trọng, một người Việt có vóc dáng khổng lồ được cống nạp sang Trung Quốc dưới thời Tần Thủy Hoàng (246-10 TCN), và đã có công giúp nhà Tần đánh thắng rợ Hung Nô ở biên giới phía Bắc. Triệu Xương rất quan tâm đến sự tích Lý Ông Trọng và cho biết, trong một lần viếng thăm Từ Liêm, ông đã nằm mơ thấy Lý Ông Trọng hiện về và hai ông đã cùng nhau mạn đàm thế nào là cách tốt nhất để cai trị dân, một đề tài trong kinh Xuân Thu, một cuốn sách được viết từ thời Trung Quốc cổ đại. Sau đó, Triệu Xương đã đến tận nơi Lý Ông Trọng sinh ra và cho xây tại đó một ngôi đền thờ và dâng đồ cúng lễ. Việc thờ cúng Lý Ông Trọng được thịnh hành từ đó (1). Là một vị anh hùng địa phương đất Việt lại có công lao bảo vệ thiên triều, nên Lý Ông Trọng đúng là một nhân vật thích hợp để một quan Đô Hộ đích thân chủ trì cúng tế.</p>
<p>Việc nhắc đến kinh Xuân Thu khiến ta nhớ lại những điều răn dạy được các bậc thức giả và danh sĩ đời Đường rất chú trọng và thường xuyên đem ra mổ xẻ. Sự chú trọng ấy bắt nguồn từ thái độ hoài nghi về những điều giải thích trước đó đối với các kinh cũng như mong ước muốn sửa đổi hay truy nguyên ý nghĩa đích thực của kinh Xuân Thu. Những học giả thức thời ấy đôi khi lại còn đi xa hơn bằng cách bênh vực sự khôn ngoan của các bậc trưởng thượng ở trong làng xã khi đem so sánh với những giáo điều trong các kinh (2). Cách Triệu Xương diễn giải kinh Xuân Thu có thể phản ánh một cái nhìn phi chính thống và giải thích tại sao ông lại coi trọng phong tục tập quán địa phương.</p>
<p>Triệu Xương cũng đã thu thập và tìm hiểu các phong tục tập quán Việt Nam và viết thành một cuốn sách nhan đề là &#8220;Giao Châu Ký&#8221;. Đây là cuốn sách duy nhất có nhắc đến Phùng Hưng cùng những chuyện kể về Lý Thường Minh trong những năm 650. Mặc dù Giao Châu Ký nay đã bị mai một, nhưng một phần của nó đã được chép lại sau này trong một tác phẩm khác viết vào thế kỷ 14 (3).</p>
<p>Sau khi cai trị An Nam được 10 năm, Triệu Xương đã bước vào tuổi thất thập, viện cớ đau chân ông xin về hưu. Mùa hè năm 802, Hàn Lâm Viện Học Sĩ Bùi Thái được bổ nhiệm xuống để thay ông (4). Nhưng Triệu Xương vừa mới đi khỏi thì lập tức Việt Nam lại rung chuyển trong cảnh bị xâm lăng và bạo loạn.</p>
<p>Cuối năm 802, quân Hoàn Vương (Lâm Ấp) đã chiếm được châu Hoan và châu Ái. Hai tháng sau, bất bình vì Bùi Thái ra lệnh bồi đắp lại những công sự phòng thủ ở xung quanh La Thành, một tướng quân tên là Vương Quý Nguyên đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy và đánh đuổi Bùi Thái ra khỏi Đô Hộ Phủ. Việc viên Đô Hộ Bùi Thái có thái độ coi thường các quan chức địa phương, hoặc là việc ông bắt nhân công lao động sửa sang thành lũy đã là nguyên nhân dẫn đến cuộc nổi dậy.</p>
<p>Mặc dù cuộc nổi dậy của Vương Quý Nguyên đã bị Binh Mã Sứ Triệu Quân dẹp tan ngay nhưng Đường Đức Tông cũng giao động nhiều vì những biến động ấy nên đã đòi Triệu Xương làm một bản tâu trình về tình hình ở Việt Nam. Rất hài lòng về óc sáng suốt và trí thông minh của Triệu Xương qua bản tâu trình mà tiếc thay nay không còn giữ được, nên Đường Đức Tông đã yêu cầu Triệu Xương quay trở lại cương vị cũ. Sách chép rằng khi Triệu Xương trở lại Việt Nam vào đầu năm 804, &#8220;nhân dân rất vui mừng và cuộc nổi dậy chấm dứt ngay&#8221; (5).</p>
<p>Trong vai trò Tổng Quản Triệu Xương đã tạo được nhiều thiện cảm nhờ tài năng cũng như sự lưu tâm đến dân chúng địa phương. Vì tuổi tác đã cao nên ông cũng chẳng chú tâm đến chuyện vơ vét cho đầy túi hay đến chuyện phô trương quyền hành; đó chính là lý do tại sao dân chúng địa phương đã tín nhiệm ông. Điều khác thường là một viên Đô Hộ như thế mà vẫn được nhà Đường tín nhiệm. Năm 804, khi trở lại Việt Nam Triệu Xương được phong một tước đầy đủ là &#8220;An Nam Đô Hộ, Bác sĩ Ngự Sử đài, Kinh Lược Sứ&#8221;. Phần lớn các viên Đô Hộ ở Việt Nam vào thế kỷ 9 chỉ cao lắm là lên tới chức &#8220;Kinh Lược Sứ&#8221;, nhưng Triệu Xương là người duy nhất được phong chức Bác sĩ Ngự Sử đài, tức là ông được quyền tự do hành động, quyền mà xưa nay vẫn thuộc triều đình.</p>
<p>Điều đáng chú ý hơn nữa là sau thời đại Phùng Hưng, lại có một lão trí giả như Triệu Xương, thay vì một đạo quân, được đưa đến để dẹp yên các cuộc nổi dậy ở Việt Nam. Số phận của Vương Quý Nguyên có ra sao đi nữa, người Việt Nam rõ ràng nhận thấy rằng họ đã đoạt được phần thắng trong cuộc tranh chấp với nhà Đường. Họ hân hoan khi thấy người bạn già của họ trở lại. Triệu Xương có thể đã tạo dựng được một hình ảnh như là &#8220;cha mẹ dân&#8221; trong lòng dân chúng Việt Nam thời đó. Ngược lại với Triệu Xương là Bùi Thái, một viên Đô Hộ xấc xược và luôn cho rằng người Việt Nam phải phục tùng mệnh lệnh. Bùi Thái không hiểu rằng người tiền nhiệm của ông ta đã cai trị thành công Đô Hộ Phủ vì biết gác sang một bên những lề thói vương triều để hòa nhập vào thế giới văn hoá bản địa nhằm thu phục được lòng dân.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/PhungHungtemple.jpg"><img style="display: block; float: none; margin-left: auto; margin-right: auto; border-width: 0px;" title="Phung Hung temple" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/PhungHungtemple_thumb.jpg" border="0" alt="Phung Hung temple" width="392" height="287" /></a>Đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương) ở làng Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội</p>
<p>Quyền Đức Dư, một thi sĩ và đồng thời là một quan lớn trong triều Đường thời đó (6) đã làm một bài thơ nói về cảnh Bùi Thái phải bỏ chạy khỏi Việt Nam. Bài thơ mô tả sự thất vọng của Trung Quốc không thu phục nổi nhân tâm tại Việt Nam:</p>
<p><em>Vừa nhận ấn tín Giao Chỉ xong<br />
</em><em>Từ biệt các quan tại những chặng dừng chân kế tiếp</em><em><br />
Đừng nhắc đến việc phục vụ ở nơi xa xôi<br />
</em><em>Số mệnh con người có lúc vui lúc buồn<br />
</em><em>Phong ba đường xuống Chu Diên<br />
</em><em>Cỏ bay, chim lượn vòng theo hộ vệ<br />
</em><em>Chiến thuyền lướt sóng trên Trướng Hải<br />
</em><em>Cờ xí cuộn lại trong sương mù<br />
</em><em>Phóng mắt qua rèm là vùng biên giới xa xa<br />
</em><em>Lửa trên triền thung lũng đượm mùi cỏ cháy<br />
</em><em>Nhớ ngày phương Bắc còn giao hảo với người Việt<br />
</em><em>Một thời gian dài, đôi bên đều được nuôi dưỡng<br />
</em><em>bằng hương đồng nội phương Nam<br />
</em><em>Than ôi! Ý hiệp tâm đầu nay còn đâu<br />
</em><em>Hoan hỉ khi thấy hôn nhân bất đắc dĩ đã kết thúc</em><em><br />
Chẳng còn thèm muốn gì nữa khi trở lại<br />
</em><em>Phải chăng người quân tử còn phiền lòng vì hạt </em><em>cỏ (</em>7)<em></em></p>
<p>&#8220;Phong ba đường xuống Chu Diên&#8221; là có ý nói đến những con sông quanh co chạy ra biển qua ngả Chu Diên. &#8220;Hương cỏ cháy&#8221; và &#8220;hương đồng nội phương Nam&#8221;, là có ý luyến tiếc những đồ xa xỉ quý hiếm của miền Nam trong đó có hương nhang và khói trầm. Đây là sự tiếc nuối vì quan hệ Bắc Nam không còn gì nữa, nhưng dẫu sao cũng được an ủi rằng cuộc “hôn nhân bất đắc dĩ” đã chấm dứt. Câu thơ cuối cùng hàm ý rằng người Việt Nam nổi giận vì Bùi Thái đã can thiệp quá thô bạo vào các sinh hoạt và tập tục địa phương, hoặc cũng có thể hàm ý rằng những cố gắng của Trung Quốc để thống trị Việt Nam thực ra lợi bất cập hại.</p>
<p>Triệu Xương trở lại Việt Nam trong một tình thế vô cùng khó khăn. Ngoài việc cần lấy lại niềm tin của dân chúng ở các châu vừa nhất thời nổi loạn, ông còn cần phải làm cái gì đó cho châu Hoan và châu Ái đang bị Hoàn Vương chiếm đóng. Nhận thấy rằng cần phải có một bàn tay trẻ trung hơn và mạnh dạn hơn để làm những công việc ùn ùn trước mắt nên năm 806, Triệu Xương quyết định trở về Bắc sau khi giao An Nam lại cho người phụ tá tài năng của ông là Phó Kinh Lược Sứ Trương Chu (8).</p>
<p>Trương Chu lập tức được phong Đô Hộ và Kinh Lược Sứ nhằm tránh cái lỗi lầm năm 802 khi Bùi Thái được phái thẳng từ kinh đô xuống. Việc trước mắt là xây dựng lại quân đội Đô Hộ Phủ ngõ hầu thu hồi hai châu Hoan và Ái. Trương Chu chẳng trông mong được bất kỳ sự giúp đỡ nào từ miền Bắc vì nhà Đường đang phải đem hết sức mình đương đầu với cuộc nổi dậy của “Man Hoàng Động&#8221; tại Quảng Tây ngày nay (9).</p>
<p>Việc đầu tiên là Trương Chu cho nới rộng bức tường thành mà Trương Bá Nghi xây năm 708 và sau đó Triệu Xương cũng đã cho sửa sang lại một lần sau khi tới La Thành vào năm 791. Bây giờ, Trương Chu lại xây thêm một tường thành rộng lớn hơn gọi là Đại La. Bức tường thành này cao khoảng 6 mét gồm tất cả 11 cửa ra vào; 5 ở phía Nam; 3 ở phía Đông và 3 ở phía Tây. Những chòi canh được xây ngay ở bên trên 11 cửa ấy, và bên trong thành thì 10 toà nhà lớn được xây thêm (10).</p>
<p>Trong 3 năm, Trương Chu bành trướng quân đội, từ 8.000 quân chính quy lên 300.000 người gồm cả dân binh và những quân tuyển mộ từ những bộ lạc lân cận; xây thêm 30 kho vũ khí để cung cấp cho quân đội. Thủy quân được tăng từ 10 chiến thuyền cũ kỹ, chậm chạp trước đây lên đến 32 chiến thuyền. Mỗi chiến thuyền được bố trí 25 chiến binh, 23 tay chèo và 2 cung thủ (11).</p>
<p>Năm 809, Trương Chu đem quân Nam chinh đánh bại quân của Hoàn Vương và bắt sống được 30.000 tù binh. Trong số tù binh, có cả con trai vua Chàm và 59 quân hầu cận. Trương Chu cũng bắt được hai &#8220;Thứ Sử&#8221; của châu Hoan và Ái đã bỏ nhà Đường theo Hoàn Vương trước đó. Sau cùng Trương Chu cho xây lại hai thành tại châu Hoan và châu Ái đã bị Hoàn Vương phá hủy. Để thừa nhận uy quyền của nhà Đường tại vùng biên cương, Hoàn Vương và Chân Lạp phải gửi sứ giả lên tận Đại La để bày tỏ thiện chí (12).</p>
<p>Những cố gắng của Trương Chu đã giúp tái lập hữu hiệu quyền uy của nhà Đường tại Đô Hộ Phủ kể từ loạn An Lộc Sơn nửa thế kỷ trước đó. Triệu Xương đã cai trị không bằng sức mạnh mà bằng một tinh thần hợp tác với các quyền lợi địa phương. Đây là giai đoạn chuyển tiếp cần thiết sau khi nhận thấy rõ những cảm nghĩ địa phương trong kỷ nguyên Phùng Hưng. Một mặt họ Phùng đã có thừa thông minh để hiểu rằng bằng quân sự họ không thể thắng được một nhà Đường đang hồi phục. Một mặt Triệu Xương cũng nhận thấy rằng ông ta không thể muốn đẩy người Việt Nam đi đâu thì đẩy. Cuộc phục hồi càng tiến triển, uy thế của nhà Đường ở địa phương càng tăng. Hơn thế nữa dưới áp lực của quân xâm lăng từ bên ngoài, Việt Nam ở cái thế phải chấp nhận sự bành trướng sức mạnh vương triều. Việc hai &#8220;Thứ Sử&#8221; bỏ theo Hoàn Vương ở châu Hoan và Ái chứng tỏ rằng không phải tất cả người Việt Nam đều ưa thích sự phục hồi của nhà Đường tự đáy lòng; nhưng dù sao sự phục hồi ấy cũng phải dựa vào sự cộng tác liên tục của các quyền lợi địa phương mới được.</p>
<p>Nỗ lực của Triệu Xương và Trương Chu đã giúp xây dựng được một nền móng vững chắc trong quan hệ Đường-Việt. Hai ông cũng giúp tạo được thế quân bình giữa một bên là quyền lực Đường triều và một bên là ý hướng của dân chúng địa phương. Người kế vị Trương Chu là Mã Tổng cũng đã không làm gì để gây nguy hại đến thế quân bình này.</p>
<p>Mã Tổng đến Việt Nam vào mùa Thu năm 810 và tự xưng là hậu duệ của Mã Viện, người đã chinh phục Việt Nam năm 42-43. Hình ảnh của Mã Viện còn tiềm tàng trong ký ức dân chúng Việt Nam nên Mã Tổng đã tìm cách đem uy danh của tổ tiên để tô điểm thêm cho uy danh của chính ông đối với người Việt. Bắt chước Mã Viện, Mã Tổng cho dựng hai cái trụ đồng để đánh dấu biên giới đế quốc của ông ở phía Nam. Sách Trung Quốc kể lại rằng ông là người rất liêm khiết và không hề nhũng lạm. Một bài thơ nói về ông có 2 câu :</p>
<p>&#8220;<em>Lá cờ đỏ (tượng trưng vương quyền) rực rỡ tung bay ngoài biển cả<br />
</em><em>Đem luật pháp và trật tự đến cho biên cương phía Nam.&#8221;</em> (13)<em></em></p>
<p>Nghe đúng là thời thái bình!</p>
<p>Mùa Thu năm 813, Mã Tổng bị thuyên chuyển về Bắc, và Trương Miễn thay thế ông. Nhưng Trương Miễn đã quá già nua không đảm đương nổi nhiệm vụ, nên chỉ một tháng sau ông lại bị thay thế bởi Bùi Hành Lập (14), một viên Đô Hộ không biết thoả hiệp dẫn đến sự chấm dứt kỷ nguyên giao hảo Đường-Việt.</p>
<p>Về thời Bùi Hành Lập, sách chép rằng vì các quan Đô Hộ tiền nhiệm đã không đủ nghiêm khắc hoặc là quá buông thả, nên dân chúng và các quan chức ngày càng vô kỷ luật, cứng đầu cứng cổ. Một lần Bùi Hành Lập đã cho chém đầu một võ quan và cử con trai người đó lên thay vì ông ta đã không tuân thủ lệnh cấm du ngoạn sông nước. Sau việc này, quyền hành được củng cố và không khí oai nghiêm lúc nào cũng ngự trị. Hành xử cứng rắn kiểu ấy cũng được áp dụng cả với bên ngoại giao. Một thuộc hạ phản nghịch của Hoàn Vương đến xin Bùi Hành Lập cứu viện, nhưng thủ cấp của y được đem gửi trả ngay cho vua Chàm (15).</p>
<p>Tuy nhiên, chính sách hà khắc đó đã gây bất mãn dẫn đến thái độ bất phục tùng trong số các quan chức địa phương mà chính quyền trung ương lúc ấy phải dựa vào. Tầng lớp này đã vươn lên được là nhờ sự hướng dẫn che chở của những viên Đô Hộ như Triệu Xương, Trương Chu, và nó đã phát triển mạnh mẽ ngay cả dưới hình thức đế quốc mềm dẻo hơn dưới thời Mã Tổng. Chính sách cứng rắn của Bùi Hành Lập đã làm hiện nguyên hình bộ mặt giả nhân giả nghĩa của Đường triều đối với Việt Nam đồng thời bộc lộ mâu thuẫn rõ nét giữa một bên là tham vọng của đế quốc và một bên là truyền thống bản địa. Một cuộc nổi dậy mạnh mẽ là điều không thể tránh khỏi trong tương lai.</p>
<p>**************</p>
<p><strong>Ghi chú:</strong></p>
<p>(1) Việt Điện U Linh Tập (VĐULT), 15-16.</p>
<p>(2) William Nienhayser, Bì Nhật hưu (<em>P&#8217;i Jih-hsiu)</em>, trang 19, 45, 66.</p>
<p>(3) Xem Phụ lục J (Các nguồn về thời đại Phùng Hưng) và Émile Gaspardone, &#8220;Thư mục An Nam&#8221;, trang 129. Theo một truyền thuyết, được tăng bổ dưới thời Tự Đức (nửa đầu thế kỷ 19), chép trong VĐULT, Triệu Xương đã lập ra “Đông Giao Hương hiệu” ở phía Đông trị phủ Giao châu, cách La Thành khoảng 25 dặm về phía Đông; chỉ trong một thời gian ngắn trường đã trở nên nổi tiếng. “<em>Học trò đông như mây nhóm, thành nơi đô hội, ban đầu còn xưng là Độc thôn, sau biệt ra làm xã Đơn Luân, học trò trường này đến sau có rất nhiều người thành đạt, làm quan vinh hiển.</em>” Sau khi Triệu Xương mất, người ta đã xây một đền thờ ông và thường xuyên cúng tế (VĐULT, 52-53). Trong thời Việt Nam độc lập, khu vực nhà trường trước kia trở thành một trung tâm đào tạo lớn, đã sản sinh ra một số lớn học giả và quan chức cho chính quyền Việt Nam. Sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (thế kỷ 18) có liệt kê nhiều dòng tộc và địa phương có truyền thống sản sinh ra nhiều học giả và quan chức; trong số nhiều chính khách nổi tiếng xuất thân từ địa phương này có Phạm Công Trứ, người đã điều khiển công việc của nhà Trịnh trong hơn hai mươi năm, vào khoảng giữa thế kỷ 17.</p>
<p>(4) Cựu Đường thư (CĐT), 13, 196 và Tân Đường thư (TĐT) 170, 8b-9a.</p>
<p>(5) Về cuộc xâm lăng của Hoàn Vương, xem TĐT, 7, 10a. [Biên niên sử trong] CĐT (13, 206) chỉ nói qua rằng một viên tướng địa phương là Vương Quý Nguyên đã đánh đuổi Bùi Thái về nước. Tiểu sử Triệu Xương cũng có chi tiết này nhưng không nêu tên Vương Quý Nguyên (TĐT, 170, 9a). TĐT (7, 10a) chép thêm rằng Binh mã sứ Triệu Quân đã dẹp yên viên tướng nổi loạn. Tư trị thông giám (TTTG), 236, quyển 12, 698 mở rộng hơn, nói rõ Triệu Quân chặt đầu Vương Quý Nguyên và đưa Bùi Thái trở lại. An Nam chí lược (ANCL), 99, chỉ nói răng Vương Quý Nguyên đánh đuổi Bùi Thái. Việt Sử Lược (VSL) 1, 106, còn chép không đúng rằng Bùi Thái bị Vương Quý Nguyên giết chết và sau đó Triệu Quân được cử làm Đô Hộ. Đại Việt Sử ký toàn thư (ĐVSKTT), 5, 6b-7a không đề cập đến việc hồi chức của cả Bùi Thái lẫn Triệu Quân, nhưng có đưa ra nguyên do của cuộc binh biến.</p>
<p>(6) Tiểu sử Quyền Đức dư trong CĐT, 148, 8a-11a, và TĐT, 165, 8b-10a.</p>
<p>(7) ANCL, 157.</p>
<p>(8) TĐT, 170, 9a; CĐT, 14, 10b. Triệu Thường đã giữ chức Tiết Độ sứ tại Quảng Châu, trước khi trở về phương Bắc và mất ở đó vào tuổi 85.</p>
<p>(9) CĐT, 14, 8a; TTTG, 237, quyển 13, 19, 31.</p>
<p>(10) Đại Việt Sử ký Toàn thư (ĐVSKTT), 5, 6b; ANCL, 99-100.</p>
<p>(11) ANCL, 100, là nguồn chủ yếu chép về những cải cách quân sự của Triệu Xương. ĐVSKTT, 5, 7a, chỉ đề cập đến những chi tiết của thủy binh và nói ba trăm thuyền mới, thay vì 32 thuyền.</p>
<p>(12) CĐT, 14, 15a; TĐT, 7, 13a, và 222c, 16a-b; TTTG, 238, quyển 13, 47; ANCL, 100; ĐVSKTT, 5, 7a.</p>
<p>(13) CĐT, 14, 17a; ANCL, 100.</p>
<p>(14) CĐT, 15, 4a-b.</p>
<p>(15) ANCL, 100.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16708/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>việt nam khai quốc: KINH TẾ, X&#195; HỘI &amp; VĂN HO&#193; VIỆT NAM DƯỚI &#193;CH Đ&#212; HỘ CỦA NH&#192; ĐƯỜNG (chương 5, phần 6)</title>
		<link>http://damau.org/archives/16428</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16428#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 15 Oct 2010 07:25:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Keith Weller Taylor</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Dịch Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Học Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Lịch Sử]]></category>
		<category><![CDATA[Sang Việt ngữ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16428</guid>
		<description><![CDATA[Mặc dầu Giao Châu tương đối dễ bảo dưới chế độ nhà Đường, những châu ... như châu Phong, châu Ái và châu Hoan đã sản sinh được hàng loạt những lãnh tụ nổi dậy và kế tục nhau đưa phần lớn thế kỷ 9 vào một cuộc đối đầu kéo dài và nhiều bạo động với nhà Đường ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><em><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/10/Tang_XianZong.jpg"><img class="aligncenter size-medium wp-image-18564" title="Tang_XianZong" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/10/Tang_XianZong-e1298846797862-236x300.jpg" alt="" width="236" height="300" /></a></em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Vua Đường Huyền Tông (sinh 8 tháng 9 năm 685- mất 3 tháng 5 năm 762 (theo dương lịch)</em> (<em>nguồn http://en.wikipedia.org/wiki/Emperor_Xuanzong_of_Tang)</em></p>
<p>Mặc dầu sử liệu còn lại rất ít ỏi, chúng ta cũng có thể rút ra được một số kết luận về sự phát triển xã hội, kinh tế và văn hoá Việt Nam dưới ách đô hộ của nhà Đường. Thời kỳ đô hộ này có thể được chia ra làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 là vào thế kỷ thứ 7 khi lớp cầm quyền địa phương bị nhà Đường hoàn toàn vô hiệu hoá; giai đoạn 2, vào thế kỷ thứ 8, khi nhà Đường suy yếu và tầng lớp lãnh đạo địa phương nhất tề nổi lên đứng đầu là họ Phùng; giai đoạn 3, vào thế kỷ thứ 9, khi nhà Đường cố tìm cách tái lập tầng lớp cầm quyền địa phương mới, nhưng tầng lớp này lại tìm cách chia sẻ quyền bá chủ của nhà Đường khiến phát sinh ra một cuộc đối đầu kéo dài. Mặc dù nhà Đường vẫn còn nắm được lợi thế sau các cuộc đối đầu này nhưng vai trò của họ ngày càng lu mờ để rồi lớp cầm quyền địa phương thân nhà Đường dần dần lãnh đạo Việt Nam tiến đến kỷ nguyên độc lập sau này. Sau đây chúng ta hãy cùng nhau xem xét kỹ từng giai đoạn một của thời kỳ đô hộ này.</p>
<p>Như đã nhắc ở phần trên, nhà Hán đổ vì ảnh hưởng ly tâm của các gia đình địa chủ có thế lực, cai quản những bất động sản lớn, và lại có quân bản bộ riêng của mình. Vấn đề làm sao để kiềm chế được thế lực của những đại gia đình ấy để tái lập vương quyền đã không được giải quyết cho mãi tới thế kỷ thứ 6 khi nhà Tùy áp đặt chế độ phân chia ruộng đất trên cả nước theo cung cách đã được các triều đại phương Bắc trước đó thực thi. Cái gọi là &#8220;chế độ quân điền&#8221; thực ra chỉ là cách để nhà cầm quyền nắm được ruộng đất và không để những nông dân đóng thuế bị rơi vào tay những đại địa chủ.</p>
<p>Mục tiêu của &#8220;chế độ quân điền&#8221; nhắm vào việc giao ruộng đất của nhà vua cho những người thuộc diện tuổi lao động. Làm như thế sẽ giúp giảm thiểu số nông dân trước đây vì không có tên trong sổ thuế nên đành phải chấp nhận cảnh làm mướn cho những đại địa chủ và nhiên hậu bảo đảm được nguồn lợi tức vững chắc cho nhà cầm quyền. Đối với các đại địa chủ địa phương, nhà Đường chỉ cho phép họ sở hữu vĩnh viễn đất đai ở một mức độ nào đó miễn là không vượt quá 100 lần số đất cấp cho một nông dân. Một số đại gia đình cũng có thể được chia một diện tích ruộng đất tùy theo chức vụ mà con cháu họ làm việc trong chính quyền. Những cải cách này là căn bản cho việc nới rộng quyền lực của nhà Đường vào thế kỷ thứ 7.</p>
<p>Không có tài liệu trực tiếp nào cho thấy &#8220;chế độ quân điền&#8221; đã được áp dụng ở Việt Nam, nhưng có nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng đã có việc này. Tiêu biểu là sự phát triển của khu vực Hà Nội dưới thời Tùy và Đường. “Chế độ quân điền” thường được áp dụng cho số ruộng đất nào mới được đưa vào trồng trọt. Bằng cách đặt một trung tâm hành chính ở Việt Nam, lần đầu tiên tại phía Nam sông Hồng, nhà Tùy và nhà Đường có lẽ muốn tìm cách thiết lập một trung tâm quyền lực mới bên ngoài thủ phủ truyền thống, nơi nhiều đại gia đình địa chủ đã có “thâm căn cố đế”. Nhờ hệ thống đê điều xuôi dòng sông Hồng, kể từ Hà Nội, được kéo dài thêm, nhiều đất canh tác mới đã được chia cho những nông dân trước đây chỉ biết đi làm mướn. Một đặc điểm quan trọng khác của chế độ quân điền là những nông dân đi làm mướn còn được huấn luyện quân sự và tổ chức thành từng đơn vị dân binh. Rõ ràng khu vực Hà Nội đã được phát triển thành một nguồn lợi tức và căn cứ quân sự vững mạnh để làm cột trụ chống đỡ cho chính quyền đô hộ ngõ hầu đương cự được với những làn sóng phản đối từ các hào trưởng địa phương.</p>
<p>Chúng ta đã thấy việc thờ cúng thời đại Khai Nguyên do một quan chức nhà Đường thiết lập thời Đường Huyền Tông bằng cách đem Hoàng Đế thờ chung với một vị thổ thần ở khu vực Hà Nội. Sau cuộc tàn phá của bọn giặc biển vào năm 767, một thành trì kiên cố với một hào lũy phòng thủ mới được dựng lên ở đấy. Trong thế kỷ 9, việc sửa sang và nới rộng các hào lũy cùng việc xây thêm hàng loạt pháo đài ở vòng ngoài biểu lộ nỗi ám ảnh thường xuyên của các quan chức nhà Đường. Việc phòng thủ khu vực Hà Nội là điều rất quan trọng về mặt chiến lược, rất có thể vì đó là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất của chính sách quân điền. Các quan cai trị đã dồn một số khá lớn những nông dân làm việc tự do, có đóng thuế thành những đơn vị dân binh nhằm bảo vệ và củng cố quyền lực của nhà Đường.</p>
<p>Chúng ta đã nói đến cái gọi là &#8220;sự tuyển chọn nhân tài phương Nam&#8221; trong năm 676. Hãy xem xét lại việc này một lần nữa. Ngày 7 tháng 8 năm 676, một sắc lệnh của triều đình gửi xuống cho các Đô Đốc Quế Châu, Quảng Châu, Quý châu và Giao Châu, nói rằng:</p>
<p>&#8220;<em>Những năm gần đây, không thấy có biểu tâu xin tuyển chọn những lãnh tụ địa phương vào các chức vụ công quyền. Kể từ nay, chiếu theo luật lệ hiện hành, cho phép cứ 4 năm một lần, tiến hành một cuộc tuyển lựa để chọn những người có nghị lực, thông minh, trong sạch và ngay thẳng, để điền vào những chỗ khuyết từ hàm ngũ phẩm trở lên. Một lần nữa, </em><em>Ngự sử đài được lệnh xem xét việc này.</em>”</p>
<p>Sắc lệnh cho thấy, ở một thời điểm nào đó trong năm 676, đã có chính sách để tuyển lựa những người ở địa phương vào các chức vụ công quyền, nhưng chính sách này đã không được thi hành thoả đáng. Việc đề cập đến Ngự sử đài có nghĩa là lệnh thi hành đã bị bế tắc ở khâu nào đó. Có lẽ các quan chức phía Nam đã không muốn mạo hiểm chia sẻ quyền hành của họ với những hào trưởng địa phương cho tới khi việc cải cách ruộng đất tạo được một căn bản vững chắc. Mặc dầu không có thêm chi tiết nào nữa về chuyện &#8220;tuyển lựa&#8221; này ở Giao Châu, nhưng sau năm 676, một cố gắng mạnh mẽ khác đã được thi hành nhằm tuyển người của các gia đình địa phương có thế lực vào làm việc trong hệ thống hành chánh và buộc họ phải minh chứng việc hợp tác chặt chẽ với chính quyền đô hộ.</p>
<p>Những hào trưởng có thế lực ở địa phương vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng không với tư cách là lớp cầm quyền địa phương tự chủ nữa. Con cháu các gia đình ấy được làm quan Lịnh hay quan chức khác; thế lực và ảnh hưởng của họ không còn dựa trên quyền kiểm soát ruộng đất và nền kinh tế địa phương nữa, mà là việc họ đã là một phần của hệ thống cầm quyền hay chưa và đang giữ những chức vụ nào. Khuynh hướng của nhà Đường trong thế kỷ 7 là làm sao thu hút hết các hào trưởng của lớp cầm quyền địa phương vào trong chính quyền, ngõ hầu dùng chính họ để kiểm soát lớp dân đen với các chính sách hà khắc của nhà cầm quyền.</p>
<p>Tình huống này được sáng tỏ thêm với cuộc khởi nghĩa năm 687. Việc tăng thuế gấp đôi lên những tầng lớp dưới (<em>lí hộ</em>) đã đưa đến cuộc nổi dậy đó và chính những người thuộc tầng lớp này đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Đây là &#8220;cuộc khởi nghĩa nông dân&#8221; duy nhất được ghi lại trong suốt quá trình lịch sử từ khi Trung Quốc áp đặt chế độ châu, quận lên đất nước Việt Nam. Lý do của cuộc nổi dậy này chỉ đơn giản là vì những tầng lớp dưới đã không còn được giới trung lưu địa phương làm cầu nối giữa họ với các quan chức đô hộ Trung Quốc như từng làm trong quá khứ. Tầng lớp thượng lưu địa phương trước đây nay đã bị vô hiệu hoá vì bị cuốn hút vào vòng quan chức của giới cai trị mất rồi.</p>
<p>Câu chuyện &#8220;thần linh phù hộ đất nước&#8221; trong những năm 650 có thể nói lên cái ý hướng muốn thay đổi của những gia đình cầm quyền cũ. Như đã biết, câu chuyện giải thích tại sao &#8220;quan Lịnh địa phương&#8221; lại ở trên chân bậc &#8220;Đại vương&#8221; để thành một đấng thần linh phù hộ. Lớp gia đình cũ thuộc hạng &#8220;chúa tể&#8221; có căn bản quyền lực riêng, đang bị biến thành một lớp &#8220;quan Lịnh địa phương&#8221; làm bầy tôi cho vương triều.</p>
<p>Đến thế kỷ thứ 8, nhà Đường bị mất đà bành trướng lúc đầu và bắt đầu rơi vào thế cầm cự. Một sự thật là sau cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn vào giữa thế kỷ, binh sĩ nhà Đường ở miền Nam đã phải rút về phương Bắc. Mặc dầu sự liên tục của thời Đường Huyền Tông đã giúp cho chính quyền đô hộ tại Việt Nam hồi phục sau cuộc bạo loạn năm 722, nhưng dường như sau cuộc cướp phá của bọn giặc biển năm 767, chính quyền này đã mất tinh thần và suy sụp. Chẳng bao lâu các lãnh tụ địa phương lại nổi dậy ở châu Phong và châu Diễn. Sự suy yếu chung của nhà Đường đã khiến chính quyền đô hộ phải lùi bước cho đến khi Phùng Hưng tiến vào trị phủ Giao Châu với một đạo quân được tuyển mộ ở châu Phong và Trường.</p>
<p>Những biến cố vào thế kỷ 8 cho thấy các hào trưởng ở địa phương không còn đóng vai trò chính trị độc lập có ý nghĩa nữa, Thứ Sử châu Phong là Bì An cùng với chỉ huy quân sự châu Diễn là Lý Mạnh Thu và cả phụ tá Lý Nguyên Độ, có lẽ là những người của các đại gia đình địa phương có thế lực đã từng làm việc cho chính quyền, lại chính là những người nổi dậy vào năm 780. Tuy nhiên sự lãnh đạo của họ dường như ít nhận được sự hậu thuẫn của dân chúng địa phương nên mau chóng bị dẹp yên. Trái lại, Phùng Hưng đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy bình dân, phát động từ nền tảng chính trị làng xã của chính Việt Nam.</p>
<p>Họ Phùng cũng có thể được gọi là một hào trưởng, nhưng không thuộc lớp các gia đình đã bị cuốn hút vào trong chính quyền của nhà Đường. Dưới con mắt các quan chức Đường, Phùng Hưng là một tên &#8220;lãnh đạo man di đồn biên thùy&#8221;. “Man di” có lẽ vì họ Phùng duy trì một khuynh hướng văn hóa không lệ thuộc vào Trung Hoa. Vì xuất thân từ một vùng phụ cận nơi người Mường cư ngụ, có thể cho rằng Phùng Hưng thuộc thành phần xã hội Việt Nam, ngoài tầm văn hoá Trung Quốc nên bị nhà Đường dè bỉu như dân man di mọi rợ.</p>
<p>Sự kiện một người như Phùng Hưng giành được quyền lực tối cao ở Việt Nam thời đó đặt ra một câu hỏi: &#8220;Tất cả những đại gia đình địa chủ cũ từng khống chế xã hội Việt Nam từ khi nhà Hán đổ, bây giờ ở đâu? Câu trả lời: có lẽ họ đã bị thu hút vào guồng máy chính quyền nhà Đường và đánh mất gốc rễ trong xã hội địa phương rồi. Khi giới cầm quyền nhà Đường bị buộc phải rời Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ 8, những gia đình quan chức địa phương ấy đã đi theo họ. Thế là có chỗ cho các lãnh tụ tương đối có màu sắc bản xứ hơn nổi lên. Anh em họ Phùng, Đỗ Anh Hàn, và Bồ Phá Lặc, những nhân vật chính của thời đại Phùng Hưng, chẳng phải là ở Phong Châu cả đó sao?</p>
<p>Tất nhiên điều này lại nêu lên câu hỏi khác nữa: Việc gì đang xảy ra ở các vùng nông thôn trong trung tâm Giao Châu? Câu trả lời có lẽ nằm trong sự bành trướng của Phật Giáo. Đệ tử truyền y bát của Tì Ni Đa Lưu Chi, Sư Pháp Hiền, đã truyền dạy được hơn 300 học trò trước khi ông viên tịch năm 626. Một nhà sư quan trọng nữa mà tài liệu vẫn còn ghi lại là sư Thanh Biện (viên tịch năm 686). Lúc 12 tuổi, sư Thanh Biện quy y tại chùa Phổ Quang. Sau khi sư phụ của ông là nhà sư Pháp Đăng mất, suốt 8 năm ròng ông nghiên cứu kinh Kim Cương, vốn đã được Cưu ma la thập dịch ra tiếng Hán vào năm 405 ở Tràng An.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/10/TangBuddhiststatue.jpg"><img style="display: block; float: none; margin-left: auto; margin-right: auto; border-width: 0px;" title="Tang Buddhist statue" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/10/TangBuddhiststatue_thumb.jpg" border="0" alt="Tang Buddhist statue" width="235" height="322" /></a><em>Tượng Phật thời Đường Huyền Tông</em></p>
<p>Ban đầu, sớm nhất là vào thời Hán, Kim Cương Kinh đã được dịch sang tiếng Hán (tính đến đời Đường thì có 6 bản dịch tất cả). Những kinh này đã có ảnh hưởng khá mạnh mẽ ở Trung Quốc trong thế kỷ 4, thời nhà Tấn. Tư tưởng căn bản trong kinh là “Không tánh” của “Pháp”, có nghĩa rằng tất cả “Pháp” (hiện thực) đều là ước định, hoặc không mang bản chất tự tồn của chính mình. Tư tưởng này dẫn đến một niềm tin rằng không có một bản thể đơn lẻ nào cả và việc cố gắng xác lập bản ngã của riêng mình là một cố gắng bất khả thi; nhiên hậu, những kinh này đã rao giảng thái độ vô ngã. Thái độ này rất gần gũi với lý tưởng vô vi của Huyền học, vốn đã được phổ biến sâu rộng sau khi nhà Hán sụp đổ. Trong thời Tấn, một loạt hệ phái của Kim Cương Tông đã xuất hiện từ việc hấp thụ những tư tưởng trong kinh này, và đồng thời vừa ảnh hưởng, vừa chịu ảnh hưởng của tư tưởng Huyền học.</p>
<p>Sự có mặt của Bát Nhã Kinh tại Việt Nam ở thế kỷ 7 cho thấy rằng các lời giáo huấn trong kinh có một tầm quan trọng đặc biệt với những người Việt có học. Sau khi đã nghiên cứu kỹ Kim Cương Kinh trong 8 năm, sư Thanh Biện đi tới chùa Sùng Nghiệp để bàn luận về Kinh ấy với Đại Sư Huệ Nghiêm. Sau đó, ông về trụ trì ở chùa Kiến Dương và thuyết pháp ở đấy cho đến khi ông viên tịch vào năm 686. Chúng ta có thể cho rằng các vị sư nói trên, cũng như các sư ở Trung Quốc, thường xuất thân từ những gia đình danh giá, vì lai lịch của họ đều được giữ lại. Cả hai sư Pháp Hiền và Thanh Biện đều mang họ Đỗ. Pháp Hiền, gốc ở huyện Chu Diên, là quê hương của họ Đỗ từng cai trị Việt Nam vào đầu thế kỷ 5. Các nhà sư khác ở thế kỷ 6 và 7 rất có thể đều có liên hệ đến họ Đỗ này. Sự vắng mặt của những hào trưởng từng có thế lực trước đây trên vũ đài chính trị ở thế kỷ 7 và 8 cho ta cảm nghĩ rằng họ đã hướng nghị lực sáng tạo của họ vào nơi khác. Có người làm Tổng Quản với nhà Đường, có người lại rút vào ở chùa ở ẩn. Có thể vì đã quá chán nản khi bị ép buộc ra làm quan chức cho nhà Đường mà một số con cháu của những đại gia đình này đã bày tỏ thái độ bằng cách quy ẩn, chú trọng học Kinh Kim Cương và dạy những điều rất gần với tinh thần thoát tục của Huyền học.</p>
<p>Tất cả những chùa chiền nói trên đều ở trung tâm Giao Châu, mạn Bắc sông Hồng. Khu vực này vốn là cái nôi của Phật Giáo Việt Nam, và cho đến những thế kỷ gần đây, vẫn bảo tồn các đặc tính Phật Giáo mạnh hơn tất cả những nơi khác ở Việt Nam. Hầu hết những nhân vật Phật Giáo quan trọng của Việt Nam trong thời Bắc thuộc đều xuất thân hoặc cư ngụ ở những vùng này. Khi anh em Phùng Hưng tụ tập dân chúng ở những làng bỏ trống không người lãnh đạo thuộc châu Phong và Trường và bao vây trị phủ, Giao Châu có thể đang được cai trị bởi một số lãnh tụ Phật Giáo tại các chùa làng.</p>
<p>Nhân vật Phật Giáo duy nhất có tên tuổi ở Việt Nam vào thế kỷ 8 là Định Không. Ông sinh ở làng Cổ Pháp năm 729, trụ trì ở chùa Thiền Chúng trong làng Đình Bảng cách Cổ Loa về phía Đông một quãng ngắn. Trong thời kỳ Trinh Nguyên (785-805) ông xây chùa Quỳnh Lâm ở quê nhà. Người ta nói Định Không rất nổi tiếng trong dân chúng và họ gọi ông là “lão” (tăng). Sau khi ông mất năm 808, đệ tử của ông là Thông Thiện lại xây một ngôi chùa khác gần chùa Lục Tổ, trên núi Tiêu Sơn, chỉ cách Đình Bảng vài dậm về phía Đông Bắc để thờ Định Không mà trong đó những lời dạy cuối cùng của ông đã được tạc ghi vào bia đá.</p>
<p>Từ sự nghiệp của Định Không, chúng ta có thể cho rằng Phật Giáo đã tiếp tục nảy nở và phát triển ở Giao Châu trong suốt thời đại Phùng Hưng. Việc có nhiều chùa chiền ở các làng và một số lớn sư sãi hàm ý rằng nền kinh tế và xã hội ở Giao Châu được tổ chức để phục vụ quyền lợi của các cơ cấu Phật Giáo. Không có gì ngạc nhiên về điều này vì Phật Giáo đã ăn sâu trong sinh hoạt ở khu vực này từ đầu thế kỷ 3. Nhưng vào đầu thế kỷ 8, khi một số người thuộc lớp thượng lưu bị áp bức phải đứng về phe cầm quyền đô hộ thì việc quy y theo Phật Giáo là một lối thoát rất hấp dẫn mà nhiều người muốn noi theo.</p>
<p>Trong thời bình, con số sư sãi Trung Quốc bị hạn chế và hoạt động của họ bị giám sát chặt chẽ. Nhưng các vị sư sãi tại Việt Nam, vì ở xa những trung tâm quyền lực, nên không bị kiểm soát chặt chẽ như ở Trung Quốc. Dân chúng Việt Nam coi chùa chiền giống như một hình thức bất động sản mới của tập thể. Các đại gia đình có thể đem dâng cúng tất cả đất đai của cải vào các chùa nơi con cháu hay thân quyến của họ đang tu hành.</p>
<p>Một thí dụ điển hình là vào đầu thế kỷ thứ 9 có gia đình họ Nguyễn ở làng Phù Đổng đã dâng cúng tất cả đất đai nhà cửa của họ vào chùa Kiến Sơ, rồi mời sư Cảm Thành đến trụ trì ở đó. Năm 620, sư Cảm Thành nghênh đón một vị sư già Trung Quốc từ Bắc đến và cũng ở lại đó. Rồi hai nhà sư này cùng nhau lập một hệ phái Phật giáo mà có vẻ như đã đóng một vai trò chính trị nhân danh các gia đình địa phương có khuynh hướng nghiêng về phe nhà Đường, hầu chống lại giới lãnh đạo địa phương lúc nào cũng manh nha nổi dậy. Hệ phái Phật Giáo này sẽ được nói đến ở chương sau.</p>
<p>Trong suốt thế kỷ 7 và 8, các đại gia đình địa chủ ở Giao Châu đã cúng quả cho cả các cơ sở Phật Giáo lẫn đóng góp cho chính quyền cai trị nhà Đường. Sự thất bại của nhà Đường vào cuối thế kỷ 8 có lẽ đã khuyến khích các chùa chiền, tu viện Phật Giáo quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề chính trị, ít ra cũng ở địa phương. Trong suốt cuộc đối đầu ở thế kỷ 9, lớp sư sãi có vẻ như đã ngả hẳn về phe thân nhà Đường. Các đại gia đình ủng hộ các tu viện và chùa chiền có lẽ cũng là những gia đình đã có con cháu ra làm quan với nhà cầm quyền.</p>
<p>Vào cuối thế kỷ 8, sự khác biệt giữa Phật Giáo ở Giao Châu với những nơi hẻo lánh hơn ở vùng biên giới càng trở nên rõ nét, và càng rõ nét hơn với các biến cố chính trị vào thế kỷ thứ 9. Mặc dầu Giao Châu muốn hợp tác với nhà Đường, nhưng tất cả những nhân vật lãnh đạo địa phương quan trọng của Việt Nam trong thế kỷ 9 ở châu Hoan, châu Ái và châu Phong đều nóng lòng nổi dậy.</p>
<p>Trong thời kỳ hồi phục ngắn ngủi của nhà Đường, tiếp theo sau kỷ nguyên Phùng Hưng, các quan chức nhà Đường khuyến khích một lớp cầm quyền mới gồm những gia đình có thế lực ở địa phương. Một chính quyền chính thức được tổ chức, nhưng nhà Đường đã quá suy yếu, nên không lấy lại ảnh hưởng được nữa. Chính những người ở địa phương được đưa ra làm thứ sử ở các châu trước đó thì sau này lại thường trở thành các lãnh tụ nổi dậy. Quyền hành của nhà Đường thậm chí còn bị thách thức bởi ngay cả những binh sĩ nhà Đường đóng tại khu vực Hà Nội.</p>
<p>Cuộc cải cách &#8220;lưỡng thuế pháp&#8221; (đánh thuế gấp đôi) được ban hành từ năm 780 đã thúc đẩy sự hưng thịnh của lớp người mới ấy. Các triều đại cai trị trước đó thường thâu hầu hết các thứ thuế lợi tức tính trên đầu người. Những nông dân nào trở thành tá điền làm công cho các đại địa chủ thì không phải ghi tên vào sổ thuế vì họ đã được coi như là một thành phần của điền trang. Đó là lý do tại sao “chế độ quân điền” trước đó nhắm mục đích giữ các nông dân ở nguyên vị trí miễn thuế của người đi làm mướn. Nhưng bây giờ với “lưỡng thuế pháp” này thì đất đai, thay vì đầu người, lại nghiễm nhiên trở thành căn bản chính để được tính thuế và do đó không còn rào cản pháp lý nào ngăn cản nổi việc thâu tóm và tích lũy đất đai bởi những gia đình giàu và có thế lực nữa.</p>
<p>Không hiểu ảnh hưởng của cuộc cải cách &#8220;lưỡng thuế pháp&#8221; được tiếp nhận tới mức độ nào ở Giao Châu, nhưng rõ ràng luật này khi được áp đặt ở Việt Nam trong thế kỷ 9 đã dẫn đến việc xuất hiện những đại gia đình địa phương mới. Việc sửa đổi luật thuế này dường như đạt được hiệu quả hơn ở vùng biên giới hơn là ở Giao Châu, có lẽ vì ở biên giới có nhiều đất hơn để khai hoang trồng trọt trong khi tại Giao Châu thì các đất tư hữu trước đó đã được nhập vào các cơ sở như đất của các chùa chiền. Dù sao đi nữa, các chùa chiền vẫn được lợi nhiều nhất từ luật “lưỡng thuế pháp” đó của nhà Đường.</p>
<p>Thế thì lớp địa chủ mới này là hạng người nào? Lãnh tụ nổi dậy đầu tiên ở thế kỷ 9 là Dương Thanh. Theo một nguồn sử liệu của Việt Nam, tổ tiên của Dương Thanh làm Thứ Sử châu Hoan từ thời Khai Nguyên (713-741). Như vậy, họ Dương đã đến châu Hoan theo sau vụ nổi dậy của Mai Thúc Loan vào năm 722. Cũng có thể cho rằng một trong những tổ tiên của Dương Thanh đã làm quan trong triều đình Trung Quốc và sau đó được cử đến châu Hoan cùng với quân đội để dẹp vụ nổi dậy bất thành. Những thế hệ sau đó, gia đình họ Dương dần dần bị Việt Nam hoá mặc dầu vẫn còn giữ được địa vị quan chức trong chính quyền. Như thế, chúng ta lại có thể kết luận rằng một số người của lớp địa chủ mới là những người Trung Quốc di cư vào thời kỳ đầu nhà Đường và sau đó dần dần hội nhập vào xã hội Việt Nam.</p>
<p>Như đã nói trước đây, các con số thống kê đều nhắc đến số dân di cư rất lớn từ Trung Quốc vào Việt Nam trong nửa đầu của thế kỷ 8. Như đã thấy, con số binh sĩ Trung Quốc đến Việt Nam năm 722 để dẹp loạn Mai Hắc Đế đã lên đến 100.000 người, phần lớn được tuyển mộ tại vùng Lưỡng Quảng ngày nay. Phải cần một đạo quân lớn như thế vì quân nổi dậy dưới trướng của Mai Thúc Loan được biết là lên tới 400.000 người, gồm phần chính là nhóm người võ trang từ vùng núi và cả vùng bên kia biên giới phía Nam. Cuộc nổi dậy năm 722 chắc chắn lớn hơn vụ nổi dậy năm 687 rất nhiều. So sánh cho thấy năm 687, những nhóm nông dân vùng lên bao vây và chiếm thành, nhưng bị dẹp tan ngay. Trong khi đó vào năm 722, quân nổi dậy lúc đầu dường như không gặp sự chống cự hoặc phản công. Sau cuộc nổi dậy bất thành năm ấy của Mai Hắc Đế, binh sĩ nhà Đường có thể đã ở lại Việt Nam để giúp xây dựng lại nền kinh tế và chính quyền. Một số lớn chắc chắn đã được bố trí ở châu Hoan, nơi cuộc nổi dậy năm 722 từng khơi mào để đề phòng những bất ổn trong tương lai. Họ Dương có thanh thế ở châu Hoan từ đó.</p>
<p>Một gia đình quan trọng thứ nhì ở thế kỷ 9 là họ Đỗ. Trong những năm 850, Đỗ Tồn Thành và con trai là Đỗ Thủ Trừng, là những lãnh tụ chống đối nhà Đường có tiếng. Cả hai đều bị Trung Quốc bắt và xử chém. Đỗ Tồn Thành là Thứ Sử châu Ái, bị các quan chức Trung Quốc rất ghét vì ông luôn duy trì được mối quan hệ tốt đẹp với những bộ tộc chống nhà Đường ở vùng núi. Theo sách Trung Quốc, họ Đỗ rất có thế lực ở Việt Nam từ thời đại nhà Tề và Lương (479-556). Có thể họ Đỗ này với họ Đỗ đã cai trị Việt Nam ở đầu thế kỷ 5 không phải là một, nhưng có thể đoán rằng đây là một họ di cư đến Việt Nam từ Trung Quốc, bởi vì một nguồn sử liệu Trung Quốc có nói rõ về thời gian gia đình này bắt đầu tạo dựng sự nghiệp ở Việt Nam. Lai lịch về gia đình họ Đỗ cho thấy rằng một số người thuộc lớp địa chủ mới là những đại gia đình đã đến Việt Nam từ lâu trước đời nhà Đường, nhưng về sau lại nổi lên là những lãnh tụ địa phương quan trọng.</p>
<p>Dương Thanh ở châu Hoan, còn họ Đỗ ở châu Ái. Trong những năm 820, Thứ Sử châu Phong là Vương Thăng Triều làm phản, nhưng sau bị bắt và xử chém. Tuy không tìm được bất kỳ tài liệu gì nói về ông này, nhưng ta có thể tưởng tượng được rằng, cũng như hai họ Dương và Đỗ, họ Vương cũng là một gia đình Trung Quốc di cư và đã bị Việt Nam hoá. Tất cả các gia đình này đều ở trong các địa hạt thuộc miền Nam hay ở chính ngay tại vùng biên giới. Một thí dụ tiêu biểu khác là về một gia đình Trung Quốc di cư đến Giao Châu là gia đình Vũ Hồn, một Đô Hộ Sứ giữ vị trí quan trọng vào những năm 840, bị đánh đuổi trong một cuộc nổi dậy, nhưng sau lại trở lại định cư vĩnh viễn, và lập nên một gia đình danh tiếng ở các triều đại Việt Nam những thế kỷ sau đó. Vũ Hồn định cư ở phía Đông Giao Châu, nơi dường như đã có một cộng đồng người Trung Quốc khá đông. Do đó, ta thấy là trong khi những châu khác đánh đuổi những người bị coi là chó săn của nhà Đường thì những người Trung Quốc đến định cư ở Giao Châu lại được yên ổn nhờ cái gọi là “lá chắn hay khiên đỡ” của nhà Đường.</p>
<p>Chiến tranh của nhà Đường với nước Nam Chiếu trong những năm 860 dẫn đến sự tan rã của &#8220;lá chắn nhà Đường” mà kết quả là những quan chức và binh sĩ Đường phải lếch thếch kéo nhau về Bắc bỏ lại quyền hành ở Việt Nam về tay họ Khúc, một lãnh đạo địa phương quê ở phía Đông Giao Châu, nơi Vũ Hồn định cư. Mặc dầu không có chứng liệu trực tiếp nào nhắc đến việc này, nhưng tư cách của họ Khúc ở thế kỷ 10 sẽ được nói đến trong Chương 7, chứng tỏ họ cũng chỉ là một trong những gia đình Trung Quốc mới di cư đến Giao Châu mà thôi.</p>
<p>Ngoài binh sĩ và những ông Tổng Quản, nhiều thương nhân Trung Quốc cũng đến định cư ở Việt Nam. Không có chứng liệu nào nói là họ trở thành có tiếng tăm về chính trị cho mãi tới thế kỷ 10, khi các nhóm người xuất thân từ những gia đình thương nhân Trung Quốc đã nổi lên như những &#8220;chiến sĩ địa phương&#8221; trong giai đoạn chuyển tiếp sang nền quân chủ Việt Nam độc lập.</p>
<p>Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng có khá nhiều sư sãi Phật Giáo Trung Quốc đến trụ trì tại các chùa chiền ở Việt Nam. Năm 820, nhà sư Vô Ngôn Thông đến Việt Nam và sáng lập một hệ phái Phật Giáo mới. Cũng như nhà sư Vô Ngôn Thông nhiều nhà sư khác cũng đến Việt Nam vào những thời gian khác nhau và cũng trở nên nổi tiếng về chính trị vào thế kỷ 10. Không thể đoan quyết về sự đóng góp của những người di cư từ Trung Quốc đối với giới sư sãi Việt Nam vì thiếu chứng liệu.</p>
<p>Một trong những gia đình di cư Trung Quốc có nhiều tiếng tăm ở Việt Nam, theo cái nhìn của người Trung Quốc &#8211; là gia đình họ Khương. Khương Công Phụ là Hàn Lâm Viện học sĩ, và trong một thời gian ngắn, ông được thăng lên ngôi vị Tể Tướng dưới thời Hoàng Đế Đức Tông (780-804). Em ông là Khương Công Phục cũng từng là Lang trung bộ Lễ đời Đường. Hai anh em rất siêng học, và để lại nhiều tác phẩm lúc sinh thời. Theo những tài liệu còn lưu truyền, ngoài bản tiểu sử cho biết các ông là người gốc ở châu Ái, hai ông này liên quan rất ít đến Việt Nam. Hai anh em họ Khương làm quan ở kinh đô nhà Đường và lên đến địa vị cao không phải chỉ vì hai ông thông minh mà còn vì họ xuất thân từ những gia đình rất quyền thế.</p>
<p>Ông nội của hai ông là Khương Thần Dực, cũng được biết là sinh ra ở châu Ái và từng làm Thứ Sử châu Thư tại An Huy, Trung Quốc ngày nay. Còn thân phụ hai ông, có lẽ làm huyện lệnh nhưng không biết ở đâu. Một trong những người viết tiểu sử Khương Công Phụ cũng không biết quê ông ở quận nào. Một người khác nói rằng ông “là người Nhật Nam, châu Ái”. Một người nữa khi viết về Công Phục lại bảo ông &#8220;người ở Thiên Thủy rồi sau đó dời xuống Cửu Chân&#8221;. Huyện Thiên Thủy ở tỉnh Cam Túc, phía Tây Bắc Trung Quốc. Khương Công Phụ mất năm 805 khi sắp sửa đi nhậm chức Thứ Sử châu Cát ở Giang Tây.</p>
<p>Theo chứng liệu ấy, chúng ta có thể nói rằng gia đình họ Khương có thể đã có chút ít liên hệ đến châu Ái. Có lẽ họ đã phục vụ ở đấy một thời gian và sau được giữ chức quan mặc dù không có mặt trực tiếp ở đó. Nhưng rõ ràng là gia đình họ Khương nhiều đời làm quan và tạo lập được quan hệ rộng khắp đế chế, bởi thế mối quan hệ của họ với Việt Nam không có vẻ gì quan trọng lắm.</p>
<p>Gia đình họ Khương không phải là trường hợp điển hình ở Việt Nam. Năm 845, một quan chức nhà Đường tâu về triều rằng: &#8220;Xứ An Nam đã không có quá 8 người làm quan trong triều; những người đỗ cao không quá số 10.&#8221; Trừ họ Khương ra, một người Việt Nam duy nhất được biết đã đỗ tiến sĩ là ông Liêu Hữu Phương. Chúng ta biết thế vì ông đã viết một bài thơ mà các nhà sưu tập thơ đã giữ lại được. Bài thơ đó được viết lên để bày tỏ tâm tư hoài vọng của các sĩ phu Việt Nam thời đó. Dưới đây là lời ông :</p>
<p>&#8220;Năm 815, tôi thi trượt [ở Tràng An, kinh đô nhà Đường tận phía Bắc]. Tôi du hành ở miền tây và đến một quán trọ bên ngoài thành Bảo Kê ở đất Thục, nay là tỉnh Tứ Xuyên. Ở đó, ngạc nhiên khi nghe thấy có tiếng một người đàn ông đang than thở, nên tôi tìm đến và hỏi thăm về nỗi đau khổ của ông ta. Ông ta đã trả lời tôi rằng: &#8220;Tôi đã dày công đi thi, nhưng vẫn chưa được toại nguyện!” Rồi ông ta đập đầu xuống sàn. Hàn huyên với ông ta một hồi lâu tôi nhận được những câu trả lời thật là mau mắn nhưng đầy chua chát. Sau đó ông ta im lặng một lát rồi đột nhiên ngoẹo đầu sang một bên rồi chết. Tôi vội vàng bán con ngựa của tôi cho một ông hào trưởng và mua một cỗ áo quan để lo chôn cất ông ta. Hỡi ôi! Đến lúc đó tôi cũng không biết tên ông ta là gì! Lần theo một con đường mòn tôi đi vào trong núi và đào huyệt rồi buồn rầu đặt thi hài ông xuống để ông an nghỉ giấc ngàn thu. Về sau, tôi có làm cho ông ta một tấm bia mộ mà trên đó tôi có khắc mấy câu thơ của mình như sau:</p>
<p><em>Ôi bác từ trần, túi nhẵn không!<br />
</em><em>Bao phen khoa cử hóa long đong.<br />
</em><em>Sơ giao luống nặng lòng thương xót,<br />
</em><em>Quê bác nơi nào mà ngóng trông?&#8217;.*</em></p>
<p>(Bài thơ này nhan đề &#8220;Đề trên quan tài nơi quán trọ: Thơ làm lúc an táng người hàn sĩ nơi quán trọ thành Bảo Kê.&#8221;)</p>
<p>Thái độ đầy nhiệt tình của Liêu Hữu Phương đối với người xấu số rõ ràng nói lên sự đau buồn của chính ông đối với gánh nặng trường thi. Nhưng ông đã vượt qua được sự buồn rầu chán nản để qua năm sau, năm 816, ông lại đi thi, đỗ Tiến Sĩ, được bổ nhiệm làm quan tại triều và lấy hiệu là &#8220;Du Khanh&#8221; (người quân tử lãng du).</p>
<p>Liêu Hữu Phương gốc ở Giao Châu mà đi từ Giao Châu lên tận Trường An để thi cử ở thời Đường, phải đi bằng thuyền, vượt qua 250 dặm đường sông và biển mới đến được Hải Môn, một hải cảng ở phía Tây Quảng Đông, rồi từ đó theo đường bộ lại phải mất thêm 1200 dặm nữa mới tới được kinh đô. Vì thế, tính đến lúc ông Liêu Hữu Phương thi đỗ Tiến Sĩ, thì ông đúng là một “người quân tử lãng du”.</p>
<p>Khi một sĩ tử Việt Nam quyết tâm lên kinh đô ứng thí, vì mục đích thực tiễn, người ấy rõ ràng phải chấp nhận ngoảnh mặt với quê hương, với nơi chôn nhau cắt rốn. Rất ít có cơ may là người ấy sẽ trở về với bất cứ chức vị phẩm hàm nào; hoặc là sẽ lập sự nghiệp hẳn ở miền Bắc, hoặc là sẽ biến mất ở đâu đó bởi vì không mấy người muốn mất mặt mà trở về trong thất bại. Không biết chính xác bao nhiêu chàng trai trẻ đã từng quyết định như thế, nhưng chắc chắn là nhiều hơn rất nhiều con số ít ỏi những người thành công. Ngoài học hành thi cử, những người khao khát được ra làm quan còn cần có sự giúp đỡ của những người có thế lực, có tầm ảnh hưởng. Hiếm người ở Giao Châu xa vời kinh đô Đường mà được may mắn như Liêu Hữu Phương. Người đã chết trên tay Liêu Hữu Phương và được ông chôn cất tử tế có thể là một trong số hàng ngàn, hàng vạn sĩ tử xuất phát từ Giao Châu, và có thể đó là nguyên do khiến Liêu Hữu Phương đứng ra chôn cất người xấu số. Một học giả Việt Nam gần đây viết: &#8220;Khi lo chôn cất người ấy, Liêu Hữu Phương đã đề tặng tất cả những tài năng Việt Nam không được biết đến hoặc đã mai một trong khi lận đận với trường thi ở phương Bắc.&#8221; Nhận định này chỉ có thể được cảm nhận một cách mơ hồ nhưng không thể đánh giá sự thương cảm ấy chính xác đến mức độ nào.</p>
<p>Tuy nhiên chúng ta có thể cho rằng con số những người biết chữ Hán ở Việt Nam thời đó phải rất nhiều. Những từ ngữ Trung Quốc được vay mượn vào tiếng Việt đều mang tính chất văn chương kể từ đời Đường. Tuy nhiên, khác với những từ hành chánh du nhập từ thời Hán mà vẫn giữ âm cũ của thời Hán, những từ được du nhập vào thời nhà Đường sau này lại được nói theo âm Việt sau khi đã qua một quá trình chi tiết hoá rồi đơn giản hoá để dùng trong giới những người Việt có học.</p>
<p>Vào thời đó, người Việt Nam cũng bắt đầu thí nghiệm cách dùng chữ Hán để viết ra tiếng nói của mình. Thí dụ đầu tiên của tiếng Việt như đã nói trước đây là hai chữ &#8220;Bố&#8221; và &#8220;Cái&#8221;, tước hiệu của Phùng Hưng. Mặc dầu văn tự Việt (chữ Nôm) đã được phát triển sau này để dùng trong văn chương từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 18, nhưng nói chung các triều đại Việt Nam vẫn còn nhiều hoài nghi, coi chữ Nôm như là một thứ “mách qué” mà thôi. Quan điểm này của họ có lẽ bắt đầu từ thời nhà Đường.</p>
<p>Những người có học đi lên kinh đô để ứng thí phải để cả tuổi trẻ vào việc dùi mài kinh sử từ những sách giáo khoa của Trung Quốc. Điều này cho thấy rằng để có được một vị trí trong xã hội Việt Nam thời ấy thì dân chúng Việt Nam phải suy nghĩ theo những sách giáo khoa Trung Quốc ấy. Chứng liệu về cung cách đạo đức và giáo dục gia đình theo kiểu Trung Quốc được truyền bá trong xã hội Việt Nam từ thế kỷ 8 vẫn còn tồn tại phần nào trong xã hội Việt Nam.</p>
<p>Theo sách Trung Quốc chép lại, có một người mẹ của một lãnh tụ nổi loạn ở An Nam luôn răn dạy con trai ương ngạnh của bà về chuyện phải cư xử như thần dân trung thành đối với vương triều Trung Quốc. Thấy con rất bướng bỉnh không nghe lời, bà liền từ con, tự làm ruộng lấy thóc ăn, tự dệt vải may áo mặc. Tất cả những người hàng xóm đều cảm phục đức tính ngay thẳng của bà và họ cũng bắt chước tôn trọng pháp luật! Vào đầu triều đại Đại Lịch (766-799), vua Đường biết chuyện này bèn ban chiếu cho hai người đến hầu hạ bà.</p>
<p>Việc phái hai người đến hầu hạ bà lão họ Kim là một áp dụng của chế độ thị đinh tức là cách tổ chức gia đình do pháp luật nhà Đường ban hành. Theo đó, những người già yếu mà có công lao đều được nhà nước phái người đến nhà hầu hạ. Những đinh thị (người hầu nam) được miễn lao động cưỡng bách.</p>
<p>Luật pháp Việt Nam do các triều đại Việt Nam đặt ra sau này đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của luật pháp nhà Đường. Tuy<strong> </strong>nhiên, điều đáng chú ý là phần nhiều luật nhà Đường được áp dụng thuộc về nghi thức triều đình, sự trung thành với quân vương, tư cách đạo đức của các quan lại, trật tự công cộng và những thủ tục hành chánh như kiểm tra dân số và thu thuế. Còn những phần luật nhà Đường nói về tư pháp hình sự, hôn nhân, thừa kế, tổ chức gia đình hay các phong tục, tục lệ hành xử được thay thế hay thay đổi bằng những điều khoản riêng biệt mang sắc thái Việt Nam. Từ sự kiện đó, chúng ta có thể thấy rằng những cố gắng của Đường triều để cải cách xã hội Việt Nam không được thành công lắm, và chế độ thị đinh (người hầu) có lẽ chỉ được áp dụng trong thiểu số những người Trung Quốc di cư đến Việt Nam.</p>
<p>Tuy nhiên cũng phải nhận rằng văn hoá và xã hội Việt Nam đã bị thay đổi ít nhiều sau gần 3 thế kỷ dưới ách thống trị của nhà Đường. Chính trong thời gian này mà ngôn ngữ Việt Nam được phong phú hơn. Văn chương của Trung Quốc đã đem đến một kiến thức rõ rệt về giáo dục cổ điển và khả năng áp dụng kiến thức ấy vào tư tưởng dân gian. Vào thời đó một số thể lệ pháp lý và hành chánh theo kiểu Trung Quốc cũng đã được hình thành và trở nên đặc thù trong chính quyền Việt Nam vào thời kỳ độc lập.</p>
<p>Lại nữa, nếu tính đến giữa thế kỷ 9, mà Việt Nam chỉ &#8220;sản sinh được không quá 8 quan đại thần và những người đỗ cao không quá 10 người&#8221; thì chúng ta không nên đánh giá quá cao ảnh hưởng của nền giáo dục cổ điển của nhà Đường đối với Việt Nam. Mặc dầu Giao Châu tương đối dễ bảo dưới chế độ nhà Đường, những châu còn duy trì được phần nhiều truyền thống Việt Nam như châu Phong, châu Ái và châu Hoan đã sản sinh được hàng loạt những lãnh tụ nổi dậy và kế tục nhau đưa phần lớn thế kỷ 9 vào một cuộc đối đầu kéo dài và nhiều bạo động với nhà Đường. Những biến cố trong thế kỷ 9 đã kết liễu quyền bá chủ của Trung Quốc trong một thời kỳ dài tại Việt Nam. Mặc dầu tinh thần độc lập của người Việt Nam đã tạm thời bị kìm nén do sự đàn áp khốc liệt của nhà Đường tại vùng biên cương phía Nam, nhưng sự đối đầu Đường-Việt ở thế kỷ 9 là tiếng chuông báo hiệu cho thế kỷ thứ 10 khi tinh thần độc lập ấy được thắp sáng thêm lên và dần dần chuyển sang thế thượng phong.</p>
<p>_________________</p>
<p>*Theo bài “Phát hiện mộ chí một nhà thơ người Việt Nam đời Đường tại Tây An, Trung Quốc” trên mạng <a href="http://www.viethoc.com/" target="_blank">Việt học</a>.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16428/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

