<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Huỳnh Ngọc Chiến</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/huynhngocchien/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Wed, 23 May 2012 13:21:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>Ch&#250;t t&#236;nh Đ&#244;ng &#193;</title>
		<link>http://damau.org/archives/18007</link>
		<comments>http://damau.org/archives/18007#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 18 Jan 2011 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Huỳnh Ngọc Chiến</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/18007</guid>
		<description><![CDATA[Điều dễ dàng cảm nhận nhất của “sự Âu hóa” trong tư tưởng người Việt là tình trạng tiếng Việt đang bị bộ môn ngữ pháp tàn phá tận cội nguồn trong chương trình giáo dục ngày nay, khi các nhà ngôn ngữ học cố nhồi nhét tiếng Việt vào những phạm trù hoàn toàn xa lạ của ngữ pháp phương Tây. Một việc làm cực kỳ vô lý...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>N: <em>Người ta đã thấy sự thống trị không thể phủ nhận của Lý trí Âu châu các ông được khẳng định qua sự thành công của tính duy lý, mà sự tiến bộ kỹ thuật đang phơi bày ra trước mắt từng phút, từng giờ.</em></p>
<p>H: <em>Sự mù quáng đó lớn mạnh đến mức người ta không còn khả năng thấy được tiến trình Âu hóa con người và trái đất đã gây tổn hại đến những điều tinh yếu ở tận cội nguồn như thế nào. Dường như tiến trình đó khiến cho mọi cội nguồn đều trở nên khô cạn.</em><sup> (1)</sup></p>
<p>Trên đây là một đoạn đối thoại giữa triết gia Heidegger, đóng vai như một người hỏi (<strong>F</strong>: Fragende, trong phần dịch viết tắt là H:), với một học giả Nhật Bản (<strong>J</strong>: Japaner, trong phần dịch viết tắt là N:). Cuộc đối thoại này được ghi chép thành tiểu luận “<em>Aus einem Gespräch von der Sprache”</em> (Từ cuộc song thoại về ngôn ngữ) trong cuốn <em>Unterwegs zur Sprache</em> (Trên đường về Ngôn ngữ). Trong bài viết này, tôi muốn dùng cuộc song thoại đó như một điểm quy chiếu nhỏ để ta có dịp nhìn lại “<em>tiến trình Âu hóa con người và trái đất </em>” đang diễn ra trên toàn cõi địa cầu, và quan trọng nhất là trong chính nếp suy tư của chúng ta, mà có lẽ người Việt Nam là dân tộc cảm nhận mạnh nhất sức hủy hoại khốc liệt của nó, khi đất nước suốt gần trăm năm qua bị lịch sử biến thành “<em>trường sở trụ</em>” cho sự hoàn tất của tư tưởng phương Tây<sup>(2)</sup>.</p>
<p>Điều dễ dàng cảm nhận nhất của “<em>sự Âu hóa</em>” trong tư tưởng người Việt là tình trạng tiếng Việt đang bị bộ môn ngữ pháp tàn phá tận cội nguồn trong chương trình giáo dục ngày nay, khi các nhà ngôn ngữ học cố nhồi nhét tiếng Việt vào những phạm trù hoàn toàn xa lạ của ngữ pháp phương Tây. Một việc làm cực kỳ vô lý, do thiếu sự cảm nhận chân thực về ngôn ngữ, nhưng lại được tiến hành một cách trịnh trọng theo hệ thống mang tính hàn lâm. Điều đó đang khiến cho một ngôn ngữ phong phú và giàu nhạc điệu như tiếng Việt trở thành què quặt, dị dạng. Triết gia Heidegger – người suốt một đời trầm tư một cách sâu thẳm về yếu tính của ngôn ngữ &#8211; đã phải thốt lên với học giả người Nhật:</p>
<p><em>“Thế giới người Nhật hiểu gì về từ ‘Ngôn ngữ’ (Sprache)? Hỏi một cách thận trọng hơn thì : Trong ngôn ngữ các ông có từ nào tương ứng với cái mà chúng tôi gọi là Ngôn ngữ hay không? Nếu không thì làm sao các ông thể hội được điều mà từ Ngôn ngữ mà chúng tôi muốn nói?” </em><sup>(3)</sup></p>
<p>Đến khi nào các nhà ngữ pháp Việt Nam mới lắng nghe ra được câu nói đó? Heidegger cho rằng ngay cả khái niệm “<em>ngôn ngữ</em>” (<em>Sprache</em>) theo cách hiểu của người phương Tây vẫn không tồn tại trong tiếng Nhật (cũng có thể hiểu là tiếng Việt), thì thử hỏi đâu là mô hình ngữ pháp chung để nối kết hai bờ ngôn ngữ Đông Tây? Do đó, ông khẳng định :</p>
<p>“<em>Một thời gian ngắn trước đây tôi đã gọi, một cách khá vụng về, rằng Ngôn ngữ là ngôi nhà của Hữu Tính [tính thể của vạn hữu]. Nếu như con người, thông qua ngôn ngữ của mình, mà an trú được trong yêu sách của Hữu Tính thì người Âu Châu chúng tôi hẳn ở trong một ngôi nhà hoàn toàn khác với người Á Đông</em>.”<sup>(4)</sup></p>
<p>Trên bình diện tư tưởng, các bậc thức giả lại cứ muốn xây dựng một “<em>ngôi nhà</em>” y hệt phương Tây để làm “<em>chỗ an trú cho tính thể của vạn hữu</em>” thì mới có thể yên tâm là hiện đại, là theo kịp đà tư tưởng phương Tây. Trên bình diện ngữ pháp thì các nhà ngôn ngữ học lại hì hục vay mượn các khái niệm xa lạ của phương Tây để xây dựng “<em>ngôi nhà ngữ pháp</em>” dị dạng cho tiếng Việt. Giống như Bá Nhạc trị ngựa, các nhà ngôn ngữ học cắt xén không thương tiếc lông cánh của con chim Việt ngữ bay lượn nhởn nhơ ngoài đồng nội, để nhét nó cho lọt vào cái lồng sắt ngữ pháp khô cứng theo kiểu phương Tây thì mới yên tâm là “<em>mang tính khoa học</em>”! Thế giới ý niệm của phương Tây như một sa lạc lan dần, âm thầm tàn phá tư duy của người Đông tận cội nguồn. Và điều đó hiện nay càng trở nên trầm trọng hơn nữa khi mà mọi người ai nấy đều sính các chữ “<em>hiện đại</em>” và “<em>khoa học</em>”, để khỏi bị xem là lạc hậu. Chúng ta cứ hì hục cố gắng nhét con Tượng Vương khổng lồ phương Đông cho lọt vào cái chuồng khái niệm của phương Tây mới cam lòng, mới yên tâm là không thua sút (?). Điều đó cũng chẳng khác nào đánh giá con sư tử bằng khả năng bơi lội giữa biển, hay đánh giá con kình ngư bằng khả năng chạy bộ trong sa mạc.</p>
<p>Cùng với sự chiến thắng vượt trội không thể chối cãi của nền khoa học kỹ nghệ Âu Châu trên phạm vi toàn cầu, nếp suy tư theo kiểu phương Tây hầu như đã chi phối toàn bộ não trạng của chúng ta, khiến biết bao thế hệ hoàn toàn lạc lõng với nguồn cội phương Đông. Không ít bậc thức giả thế hệ trước mang nhiều mặc cảm, luôn cố nhìn phương Đông qua lăng kính phương Tây và cho rằng chỉ có cách nhìn đó là đúng, là “<em>được đào tạo theo bài bản</em>”, hoặc hì hục cố tìm cho ra một vài điểm tương đồng với nền triết học phương Tây để có thể yên tâm rằng nền minh triết phương Đông chưa đến nỗi lạc hậu, cũng có cái để sánh vai với tư tưởng của bè bạn năm châu! Đó là hiểm họa mà triết gia Heidegger đã cảnh báo là “<em>tiến trình Âu hóa con người và trái đất đã gây tổn hại đến những điều tinh yếu ở tận cội nguồn</em>” (die Europäisierung des Menschen und der Erde alles Wesenhafte in seinen Quellen anzehrt). Thật là oái ăm khi sự thật rất đau xót đó lại chỉ được cảm nhận sâu sắc bởi một triết gia lỗi lạc phương Tây – người mà theo nhà thơ Bùi Giáng là một loại Pháp Vân Địa Bồ Tát của phương Đông.</p>
<p>Tôi xin trích tiếp một đoạn đối thoại nữa, khi triết gia Nhật Bản &#8211; người muốn tiếp nối công trình của Bá tước Kuki &#8211; cố gắng dùng các khái niệm mỹ học của phương Tây để tìm hiểu thi ca, nghệ thuật Nhật Bản.</p>
<p><em>H: Mỹ học và những gì nó gọi tên đều xuất phát từ tư tưởng Âu Châu, từ triết học. Do đó, những quan niệm mỹ học, về cơ bản, rất xa lạ với nếp suy tư Á Đông.</em></p>
<p><em>N: Ông nói hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, người Nhật chúng tôi vẫn phải nhờ tới mỹ học.</em></p>
<p><em>H: Để làm gì vậy?</em></p>
<p><em>N: Nó cung cấp cho chúng tôi những khái niệm cần thiết để nắm bắt được ý nghĩa của nghệ thuật và thi ca.</em></p>
<p><em>H: Các ông cần đến những khái niệm đó sao?</em></p>
<p><em>N: Có lẽ là cần. Bởi vì từ khi tiếp xúc với tư tưởng Âu Châu, điểm yếu trong ngôn ngữ chúng tôi càng hiện rõ ra.</em></p>
<p><em>H: Yếu ở mức độ nào?</em></p>
<p><em>N: Nó thiếu khả năng phân định để sắp xếp các đối tượng cho có lớp lang thứ tự trên dưới, trước sau.</em></p>
<p><em>H: Ông cho điểm yếu đó là sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong ngôn ngữ của các ông?</em></p>
<p><em>N: Qua sự tiếp xúc không thể tránh khỏi giữa thế giới Á Đông với Âu Châu, câu hỏi của ông chắc chắn đòi hỏi sự cân nhắc kỹ càng.</em></p>
<p><em>H: Ông vừa khơi dậy một vấn đề tranh luận, mà tôi thường trao đổi với bá tước Kuki, đó là vấn đề : liệu có cần thiết và đúng đắn không, khi người Á Đông phải chạy theo hệ thống khái niệm của Âu Châu </em><sup>(5)</sup>.<em> </em></p>
<p>Thật là một điều khó hiểu vì sao những câu nói thống thiết “<em>những quan niệm mỹ học, về cơ bản, rất xa lạ với nếp suy tư Á Đông</em>” và “<em>liệu có cần thiết và đúng đắn không, khi người Á Đông phải chạy theo hệ thống khái niệm của Âu Châu</em>” vẫn không đủ sức để cảnh tỉnh chúng ta, trong khi triết gia Heideger trịnh trọng nói rằng tất cả những công trình của ông chỉ là nỗ lực sửa soạn cho phương Tây có đủ điều kiện để bước vào cuộc song thoại với phương Đông trong tương lai. Khi đọc các tác phẩm về Thiền của đại sư Suzuki, ông còn phát biểu “<em>Nếu tôi hiểu được tác gia này một cách chính xác thì đó chính là những gì tôi đã cố gắng phát biểu trong tất cả các tác phẩm của mình</em>” (&quot;If I understand this man correctly, this is what I have been trying to say in all my writings.&quot;).</p>
<p>Có lẽ chúng ta dễ thấy choáng ngợp trước cung điện duy lý đồ sộ của phương Tây với những hệ thống khái niệm phong phú, mà không hiểu rằng các bậc chân nhân phương Đông từ ngàn xưa đã xem đó là những thứ phù phiếm không đáng phải bận tâm. Những thứ “<em>chủ nghĩa</em>”, những thứ “<em>ism</em>” trong hệ thống khái niệm của phương Tây, những hiện tượng luận, thông diễn học, hậu hiện đại vv…vẫn có những giá trị riêng của nó đối với não trạng phương Tây. Nhưng chúng cũng chẳng phải là cái gì tân kỳ ghê gớm lắm, mà nhiều học giả cứ cho rằng thiếu chúng thì người phương Đông chúng ta xưa nay không thể đọc nỗi và không thể hiểu nỗi các kháng thư thâm áo. Làm như ở phương Đông, hơn mấy ngàn năm qua các bậc chân nhân đã không dạy ta lắng nghe ra được “<em>huyền ngoại chi âm</em>”, hay “<em>đắc ngư vong thuyên</em>” để đọc được phần vô ngôn trong ngôn ngữ. Làm như phải hiểu được các phạm trù mỹ học Tây phương thì chúng ta mới có thể cảm nhận được thế nào là vẻ đẹp, mới có thể hiểu được thế nào thi ca, hội họa. Chỉ cần nhìn một cánh hoa đào hé nở như thiền sư Linh Vân, hay chợt nghe tiếng một hạt sỏi chạm vào thân tre như thiền sư Hương Nghiêm cũng đủ khiến mọi thứ kiến thức phù hoa rơi lả tả. Chỉ một ngọn nến tắt của Sùng Tín cũng đủ để nhà sư học giả Đức Sơn đốt tất cả những bản chú sớ đầy các kiến giải uyên bác về kinh Kim Cương. Con người hễ càng đọc sách và bám vào thế giới khái niệm theo kiểu phương Tây thì càng ham mê thuyết thoại, và không bao giờ hiểu được cõi tư tưởng mênh mông “<em>Thuật nhi bất tác</em>” hay “<em>Hữu dư, bất cảm tận</em>” của Khổng Tử, càng không thể cảm nhận được cảnh giới im lặng “<em>Niêm hoa vi tiếu</em>” của Đức Phật. <em></em></p>
<p>Điều kỳ dị là trong khi ở phương Tây, các nhà tư tưởng đã cảm nhận được triết học đã đi đến hồi chung cục, thì ở phương Đông lại lịch kịch nảy sinh ra các loại triết gia! Đọc trên báo chí hoặc trên mạng, ta thấy không thiếu các vị học giả cả đời chỉ chuyên tầm chương trích cú, song vẫn luận giải rất “<em>hệ thống</em>” về thi ca để chê ông Nguyễn Du dùng chữ còn vụng về, tư tưởng còn đầy mâu thuẫn; chê ông Bùi Giáng tư duy còn lung tung, sai sót; hoặc lên giọng trịnh trọng về triết học để phê phán ông Trần Trọng Kim là “<em>tầm chương trích cú”</em>, là “<em>tư duy còn hời hợt”</em>. Cũng không thiếu các nhà nghiên cứu phê phán kinh Dịch mang những tư tưởng biện chứng còn “<em>sơ khai non nớt</em>” hoặc “<em>thô sơ tự phát</em>”, nói chung là chưa được bài bản, chưa có “<em>hệ thống hợp lôgic”</em>, nên chưa đủ trình độ để so sánh với nhiều nguồn tư tưởng phương Tây khác. Đọc những trang sách biên khảo đó – với nội dung nô lệ sách vở từ chương tận xương tủy, luôn dùng hệ thống khái niệm phương Tây làm chuẩn mực để đánh giá mọi cội nguồn tư tưởng-, chúng ta dễ nghe tê cóng cả linh hồn và cảm nhận thêm thảm trạng “<em>tiến trình Âu hóa con người và trái đất đã gây tổn hại đến những điều tinh yếu ở tận cội nguồn</em>” đang diễn ra trầm trọng đến mức độ nào. Thử hỏi, nếu không có bộ <em>Nho giáo</em> của Trần Trọng Kim mở ra một thông lộ kỳ tuyệt giữa trận đồ biên khảo ngổn ngang gò đống nặng óc duy lý theo kiểu phương Tây thì liệu chúng ta có tìm được một đường đi chính xác về nguồn cội tư tưởng hôm nay? Nếu không có bản dịch <em>Nam hoa kinh</em> của Nhượng Tống với lời chú giải của Lâm Tây Trọng- mà nhiều học giả chê là còn thô ráp (!)- thì liệu chúng ta còn lịch kịch theo đuôi các học giả để tìm hiểu Trang Tử, Lão Tử cho đến bao giờ? Nếu không có Bùi Giáng mở ra một thông đạo dị thường để nhiếp dẫn Truyện Kiều đi về giữa cuộc đối thoại của tư tưởng Ðông Tây hiện đại, thì liệu chúng ta có thực sự hiểu được Nguyễn Du, và từ đó nghe ra được nhiều nguồn tư tưởng khác? Những thứ đó vĩnh viễn không bao giờ lọt vào “cái nghe” ồn ào “<em>full of sound and fury</em>” của các nhà biên khảo.</p>
<p>Chúng ta càng hiểu vì sao Heidegger phải chấp nhận yên lặng trước bao lời công kích để sống cô đơn với căn nhà nhỏ nơi <em>Rừng Đen</em> hiu quạnh với một vài vần thơ của Hoelderlin và vài triết ngôn còn sót lại từ thời Hy Lạp cổ đại, giã từ chốn triết học trường trại ồn ào. Chúng ta càng hiểu vì sao Bùi Giáng lại rất coi thường các học giả gàn mà chỉ tôn trọng những con người tài hoa sáng tạo. Chỉ cần học chữ “<em>Như thị</em>” của Phật giáo bằng tất cả tâm nguyện “<em>tín, giải, thọ, trì”</em> cũng giúp ta đủ công lực để gác bỏ mọi thứ luận giải phù phiếm của các học giả về hiện tượng luận, về thông diễn học hay hậu hiện đại qua một bên, mà đi thẳng vào các tác phẩm bằng những suy niệm chân thành để tiếp cận với suối nguồn chân thực của nó, cái suối nguồn còn nguyên vẹn tinh khôi, chưa hề bị huỷ hoại bởi “<em>tiến trình Âu hóa con người và trái đất</em>”, và do đó, không hề bị khô cạn.</p>
<p>Có lẽ chỉ khi suy tư bằng những suy niệm chân thành thì con người mới không còn vướng vào mạng lưới lý luận phương Tây luôn giăng ra như thiên la địa võng. Đến lúc đó ta mới có thể thong dong đi vào những phương trời lộng gió của phương Đông, để nêu bâng quơ một câu hỏi, như nhà thơ thiên tài Tô Đông Pha đã dùng để hỏi Bản trưởng lão – một vị danh tăng ở đất Tam Ngô thời Bắc Tống &#8211; : “<em>Hà thời trượng sách tương tùy khứ, Nhậm tính tiêu dao bất học Thiền</em>? (<em>Khi nào chống trượng theo ngài nhỉ? Mặc tính tiêu dao chẳng học Thiền.</em>) <em></em></p>
<p>&#160;<strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>Ghi chú:</strong></p>
<p>(1) <strong>J:</strong> <em>Man findet die unantastbare Herrschaft Ihrer europäischen Vernunft durch die Erfolge der Rationalität bestätigt, die der technische Fortschritt stündlich vor Augen führt.</em></p>
<p><strong>F: </strong><em>Die Verblendung wächst, so daß man auch nicht mehr zu sehen vermag, wie die Europäisierung des Menschen und der Erde alles Wesenhafte in seinen Quellen anzehrt. Es scheint, als sollten diese versiegen. </em>(<strong>Heidegger</strong>, <em>Unterwegs zur Sprache, </em>Vittorio Klostermann, Frankfurt am Main, 1985, tr.99. Dưới đây sẽ gọi tắt là UzS).<em> </em></p>
<p>(2) Cf. <strong>Heidegger, </strong><em>Zur Sache des Denken,</em> GA 14, Vittorio Klostermann, Frankfurt am Main, 2007, tr.71 (<em>Die Metaphysik ist Platonismus. Nietzsche kennzeichnet sein Phisolophie als umgekerten Platonismus. Mit der Umkerhrung der Metaphysik, die bereits durch Karl Marx vollzogen wird, ist die äuβerste Möglichkeit der Phisolophie erreicht. Sie ist in ihr Ende eingegangen</em> : Siêu hình học chính là triết học Platon. Nietzsche xem điểm đặc thù trong triết học mình như là triết học Platon đảo ngược. Cùng với sự đảo ngược của siêu hình học, vốn đã được hoàn tất bởi Karl Marx, triết học đã đạt đến khả năng tối hậu. Triết học đã đi đến hồi chung cục.)</p>
<p>(3) “<em>Was versteht die japanische Welt unter Sprache? Noch vorsichtiger gefragt: Haben Sie in Ihrer Sprache ein Wort für das, was wir Sprache nennen? Wenn nicht, wie erfahren Sie das, was bei uns Sprache heiß</em><em>t?”</em> (<strong>Heidegger</strong>. UzS, op.cit.<strong>,</strong> t.108)</p>
<p>(4) “<em>Vor einiger Zeit nannte ich, unbeholfen genug, die Sprache das Haus des Seins. Wenn der Mensch durch seine Sprache im Anspruch des Seins wohnt, dann wohnen wir Europäer vermutlich in einem ganz anderen Haus als der ostasiatische Mensch</em>.” (ibid. tr.80)</p>
<p>(5) <strong>F:</strong><em> Der Name [Ästhetik H.N.C] und das, was er nennt, stammen aus dem europäischen Denken, aus der Philosophie. Deshalb muß die ästhetische Betrachtung dem ostasiatischen Denken im Grunde fremd bleiben.</em></p>
<p><strong>J: </strong><em>Sie haben wohl recht. Allein, wir Japaner müssen die Ästhetik zu Hilfe rufen.</em></p>
<p><strong>F: </strong><em>Wofür?</em></p>
<p><strong>J: </strong><em>Sie verschafft uns die nötigen Begriffe, um das zu fassen, was uns als Kunst und Dichtung angeht.</em></p>
<p><strong>F:</strong><em> Benötigen Sie Begriffe?</em></p>
<p><strong>J:</strong><em> Vermutlich ja; denn seit der Begegnung mit dem europäischen Denken kommt ein Unvermögen unserer Sprache an den Tag.</em></p>
<p><strong>F: </strong><em>Inwiefern?</em></p>
<p><strong>J: </strong><em>Es fehlt ihr die begrenzende Kraft, Gegenstände in der eindeutigen Zuordnung zueinander als wechselweise über-und untergeordnete vorzustellen.</em></p>
<p><strong>F:</strong><em> Halten Sie dieses Unvermögen im Ernst für einen Mangel Ihrer Sprach? </em></p>
<p><strong>J:</strong><em> Bei der unausweichlich gewordenen Begegnung der ostasiatischen Welt mit der europäischen verlangt Ihre Frage gewiß eine eindringliche Überlegung.</em></p>
<p><strong>F:</strong><em> Sie rühren jetzt an eine Streitfrage, die ich mit Graf Kuki oft erörterte, die Frage nämlich, ob es für die Ostasiaten nötig und berechtigt sei, den europäischen Begriffssystemen nachzujagen.</em> (<strong>ibid</strong>. tr.77)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/18007/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hồn hoa dại</title>
		<link>http://damau.org/archives/16660</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16660#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 04 Nov 2010 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Huỳnh Ngọc Chiến</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp ghi]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16660</guid>
		<description><![CDATA[Nhưng những ai đã từng sống ở vùng quê Quảng Nam, mỗi khi đi trên con đường làng nhiều bụi rậm hay đi dọc theo những con đường đất ven đồi vào lúc hoàng hôn đều không thể nào quên được mùi hương thơm ngát đến lạ lùng của một loại hoa dại xen lẫn vào hương quê : <em>hương dủ dẻ</em>.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>Đường trong làng hoa dại với mùi rơm      <br />Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm       <br />Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng       <br /></em>(Đi giữa đường thơm – Huy Cận)</p>
<p>Mỗi khi đọc câu thơ đó ắt hẳn những ai đã từng sống ở thôn quê, đều cảm nhận được <em>hương quê</em> trong cái không khí êm đềm của thời thơ ấu. Mùi rơm, mùi phân bò quyện trong không khí hòa với mùi thơm của hoa dại ven đường, mùi khói lam chiều tỏa lên mái tranh tạo thành một <em>hương quê</em> cho những làng thôn Việt Nam. <em>Hương quê</em> có một ý vị vô cùng đằm thắm, và có lẽ mỗi vùng quê đều có một <em>hương quê</em> riêng. Nhưng những ai đã từng sống ở vùng quê Quảng Nam, mỗi khi đi trên con đường làng nhiều bụi rậm hay đi dọc theo những con đường đất ven đồi vào lúc hoàng hôn đều không thể nào quên được mùi hương thơm ngát đến lạ lùng của một loại hoa dại xen lẫn vào hương quê : <em>hương dủ dẻ.</em></p>
<p>Không biết ở những vùng quê khác của Việt Nam có nhiều loài hoa này không, nhưng dường như dủ dẻ mọc nhiều nhất ở những vùng đất gò đồi của xứ Quảng Nam, mọc lẫn cùng xương rồng, gai long, sim, dúi. Những ai đã một lần ngửi được hoa dủ dẻ có lẽ khó lòng mà quên được mùi hương từ những cánh hoa chắc bẫm màu vàng đó. Sưa và dủ dẻ cùng một sắc vàng, có lẽ là hai loài hoa đặc trưng của Quảng Nam và lại tương phản nhau đến lạ kỳ. Hoa sưa bình dị nhưng kiêu sa, mộc mạc nhưng lộng lẫy, rộ rất nhanh rồi mau chóng tàn phai, như chỉ muốn đến giữa đời để khoe hương sắc. Trong một thoáng rồi thôi. Hoa sưa nở rộ trên cành cao để mọi người chiêm ngưỡng, hoa dủ dẻ tự biết mình không đẹp nên thường phải dấu mình trong những bụi cây hoang dại. Hoa sưa thường mọc ven sông, dủ dẻ lại thường mọc trên những vùng gò đồi khô cằn sỏi đá. Nếu tuổi trẻ chúng tôi đã đi qua duới hàng sưa với nỗi buồn “<em>đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ” (Huy Cận)</em>, thì khung trời tuổi thơ lại quyện đầy hương dủ dẻ.</p>
<p>Tuổi thơ tôi trải qua ở một vùng thị trấn thuộc loại nghèo nhất miền Trung thuở ấy. Cái thị trấn quê mùa còn đang ngượng ngịu tập khoác lên mình cái áo thị dân rộng lùng thùng, khi mà chung quanh con đường chính vẫn còn bạt ngàn những gò đồi và đồng lúa. Và chính nơi những đồng lúa cùng gò đồi ấy, tuổi thơ chúng tôi đã trải qua những ngày tháng thần tiên. Quên sao được hình ảnh những chú nhóc mình trần trùng trục suốt trưa hè cứ lội bì bõm dưới ruộng tìm bắt cá lia thia, để da dẻ cháy đen trong cái nắng chói chang. Nhưng khi ánh nắng bắt đầu dịu xuống là chúng tôi lần theo những gò đồi đầy gai để tìm hoa dủ dẻ khi nó bắt đầu nhẹ nhàng lan tỏa hương trong bóng hoàng hôn yên tĩnh, làm ngát thơm thêm những làn gió chiều hôm. Lũ trẻ chúng tôi ngày ấy thường lần theo mùi hương để tìm cho ra những cánh hoa quê mùa luôn tìm cách lẩn khuất dưới những bụi cây đó. Có lúc cả bọn phải kêu ré lên vì gặp một chú rắn đang vội trườn mình lẫn trốn hay những chú ong đang bay túa ra từ cánh hoa thơm mùi chuối chín. Trái dủ dẻ nho nhỏ và ngọt ngọt thơm thơm, đó là món quà quý báu để những chú bé giành nhau trong những chuỗi cười hồn nhiên dòn dã. Khung trời đó bình yên và hạnh phúc quá, đến nỗi chúng tôi không hề hay biết rằng mình đang sống thời buổi chiến tranh. Thuở ấy đêm đêm vẫn chưa có tiếng đại bác dội về thị trấn. Thỉnh thoảng chỉ một chiếc máy bay lượn qua xé tan bầu trời yên tĩnh, hay một đoàn xe GMC chạy qua con đường đất đỏ, lũ nhóc chúng tôi nhìn theo như một hình ảnh lạ và chỉ hiểu mơ hồ rằng chiến sự đang diễn ra ở một nơi nào xa lắm. Xin cám ơn cuộc đời đã giành cho tuổi thơ chúng tôi những buổi chiều vàng êm ả, những buổi chiều vàng đó có lẽ còn mênh mang hơn cả những buổi trưa của Huy Cận “<em>Một buổi trưa không biết ở thời nào, một buổi trưa nhè nhẹ như ca dao, có cu gáy có bướm vàng nữa chứ</em>” (Đi giữa đường thơm). Nơi khung trời ngày xưa đó không có tiếng cu gáy nhưng có rất nhiều tiếng chim ríu rít, có cả bướm vàng, nhiều là đằng khác, và có cả mùi hương dủ dẻ. Hương dủ dẻ đã quyện lấy tâm hồn chúng tôi để trở thành cái nền của bức tranh thời thơ ấu. Mùi hương mộc mạc ngọt ngào giống như mùi chuối chín đó đã tỏa ngát khung trời tuổi thơ của chúng tôi cùng những đọt cây gai và những bụi chà là.</p>
<p>Có nhiều loài hoa dại nhưng dáng vẻ rất đẹp vẫn được dùng để trưng bày, còn hoa dủ dẻ thì không, vì người đời vẫn chuộng sắc hơn hương. Đôi khi nhìn những lẵng giỏ mây đầy những hoa đẹp rực rỡ đang tranh nhau khoe sắc một cách ồn ào, tôi thử nghĩ giá như cắm vào một hoa cành dủ dẻ thì sẽ lạc điệu biết chừng nào. Nó sẽ như một cô thôn nữ dịu dàng trong chiếc áo bà ba và cái nón lá đang bị chìm khuất giữa những người mẫu lộng lẫy kiêu kỳ. Nhưng nếu tĩnh tâm để thưởng thức, chúng ta dễ dàng nhận ra ngay mùi hương dủ dẻ. Cánh hoa dủ dẻ màu vàng rơm chắc bẫm, rất đỗi bình dị, nếu không muốn nói là cục mịch, nhưng mùi hương của nó lại quyến rũ lạ lùng. Hoa không có sắc mà chỉ có hương, và hương chỉ chịu tỏa ra khi chiều xuống, như cái duyên ngầm của những cô gái chốn quê xưa. Ven đường đến ngôi trường học tiểu học của chúng tôi ngày đó cũng có dủ dẻ mọc lẫn trong những bụi cây, và chúng thường bị phát hiện ngay khi chiều xuống. Những cô học trò nho nhỏ ngày ấy, với mái tóc còn chưa biết đến mùi bồ kết và chanh, vẫn thường nhét dủ dẻ vào trong cặp như để làm duyên và như muốn để hương dủ dẻ làm tăng thêm mùi hương con gái.</p>
<p>Nhiều người xứ Quảng xa quê đã đem vài bụi dủ dẻ vào trồng ở Sài Gòn để tìm lại chút hương vị quê nhà, nhưng dầu có chăm sóc thế nào nó vẫn tàn phai héo úa. Người ta đã hoài công khi muốn tìm lại, qua mùi hương dủ dẻ, hình ảnh bụi chuối bờ tre, tiếng chim cuốc kêu não nùng trong đêm vắng, cái oi nồng của nắng hạ, những tia chớp ngoằn ngoèo trên nền trời đông u ám, tiếng mưa rơi rả rích từng đêm trên tàu chuối ở chốn quê xưa. Rời xa những vùng gò đồi cát nắng, dủ dẻ đâm ra héo hắt, như tâm sự ngậm ngùi của kẻ ly hương. Loài hoa quê mùa đó không chịu được không khí ồn ào của chốn phồn hoa. Dường như nó chỉ muốn quay về với vùng quê sỏi đá đầy gió cát, nơi mà những cơn nắng hè hực lửa luôn làm khô héo ruộng đồng và đẩy thêm người dân quê tôi vào những tháng ngày lam lũ. Dủ dẻ chỉ muốn tỏa hương và làm bạn cùng những cậu bé, cô bé chăn trâu chân đất, tóc còn khét mùi nắng hạ. Nó vẫn luôn như một người nông dân chân chất, cục mịch vụng về nhưng tâm hồn lại ngát hương thơm. Hoa dủ dẻ có cái duyên ngầm của của cô gái quê xinh đẹp, lại có đằm thắm nồng nàn của một người tài hoa muốn ẩn mình nơi điền dã.</p>
<p>Nhà văn Henry Miller có nói một câu vô cùng thâm thúy: “<em>Tiền bạc có thể mua được tất cả, trừ sự nghèo nàn</em>”! Hoa dủ dẻ chính là sự nghèo nàn đáng yêu đó. Dù có bao nhiều tiền bạc đi nữa, nhưng nếu chỉ sống ở thành phố thì các bạn sẽ không bao giờ thấy được loài hoa mộc mạc kia và cảm nhận được mùi hương lạ lùng của nó; nhất là thành phố bây giờ không còn cái yên tĩnh của bóng chiều hôm.</p>
<p>Thời buổi văn minh đã vô tình tàn phá hết thiên nhiên thời thơ ấu. Những ngọn đồi ngày xưa đã bị san phẳng để thay bằng những tảng bê tông vô hồn đã cuốn trôi đi bao kỷ niệm êm đềm của chúng tôi trong mùi hương dủ dẻ. Và mai sau nữa, dủ dẻ không biết có còn không, để những khi chiều xuống, chúng ta còn dịp tìm về lối cũ đường xưa để nghe ra hồn hoa dại đang thì thầm trong bóng hoàng hôn.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16660/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhớ Ho&#224;ng hoa tửu</title>
		<link>http://damau.org/archives/16298</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16298#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 23 Sep 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Huỳnh Ngọc Chiến</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp ghi]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16298</guid>
		<description><![CDATA[Ở thành phố lớn, nơi mà ngay cả vầng trăng cùng trên cao cũng trở nên lạc lõng giữa những tòa nhà cao tầng, con người gần như bị cắt đứt hẳn với thiên nhiên, nên người ta phải bày ra non bộ để làm thành sơn thủy, treo tranh tứ bình để tìm lại bốn mùa. Đó có lẽ cũng là cách di dưỡng tính thần để tâm hồn bớt đi sự chai sạn...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Mùa thu có lẽ là mùa đẹp nhất trong cả bốn mùa, vì mùa thu là tiếng nói của điệu buồn. Chính vì mùa thu buồn nên con người thường yêu thích mùa thu. Vì không có nỗi buồn thì không có văn chương, mà không có văn chương thì cuộc đời vô cùng tẻ nhạt. Đã có quá nhiều thơ và nhạc nói đến mùa thu. Câu thơ được truyền tụng thiên cổ của Vương Bột vẫn mãi sáng ngời trong cõi Đường thi:</p>
<p><i>Lạc hà dữ cô vụ tề phi      <br /></i><i>Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc      <br /></i><i>Ráng chiều trôi theo cánh cò cô lẻ,      <br /></i><i>Màu nước thu xen lẫn với màu trời. </i></p>
<p>Hai câu thơ đẹp như một bức tranh thủy mạc. Chúng ta có thể thấy được hình ảnh một cánh cò cô lẻ bay trong ánh nắng chiều hôm, giữa những cánh đồng mênh mông Nam bộ; nhưng biết tìm đâu ra một dòng sông thu giữa miền Nam quanh năm chỉ có hai mùa mưa nắng? Nên sống ở miền Nam, nhất là ở giữa Sài Gòn, lòng người vẫn cứ nhớ thương hoài một cơn gió mùa đông, hay một cơn gió se lạnh của một ngày thu muộn.</p>
<p>Sống giữa lòng phố thị, đôi khi nhớ đến mùa thu trong trí tưởng, tôi vẫn luôn thích những câu thơ buồn thiết tha trong bài <i>Thu ca </i>(<i>Chanson d’automne</i>) của Paul Verlaine :</p>
<p><i>Les sanglots longs      <br /></i><i>Des violons      <br /></i><i>De l&#8217;automne      <br /></i><i>Blessent mon cœur      <br /></i><i>D&#8217;une langueur      <br /></i><i>Monotone.</i></p>
<p><i>Điệu vĩ cầm mùa thu      <br /></i><i>Buồn như tiếng thở dài      <br /></i><i>Khiến hồn tôi rướm máu      <br /></i><i>Trong nỗi nhớ tàn phai.</i></p>
<p>Vì ở Sài Gòn, dù không sao nhìn thấy được cảnh vật mùa thu, nhưng chúng ta vẫn có thể tưởng tượng được mùa thu qua một giai điệu vĩ cầm, trong một căn phòng yên tĩnh. Nhất là khi ngoài hiên chợt có một cơn mưa chiều đổ nhẹ</p>
<p>Ở thành phố lớn, nơi mà ngay cả vầng trăng cùng trên cao cũng trở nên lạc lõng giữa những tòa nhà cao tầng, con người gần như bị cắt đứt hẳn với thiên nhiên, nên người ta phải bày ra non bộ để làm thành sơn thủy, treo tranh tứ bình để tìm lại bốn mùa. Đó có lẽ cũng là cách di dưỡng tính thần để tâm hồn bớt đi sự chai sạn trước những khô cằn dung tục của cuộc sống thường ngày.</p>
<p>Nhưng lại có người không muốn tìm mùa thu qua tranh thủy mặc, qua tiếng vĩ cầm, mà tìm qua một loại rượu đặc trưng của tiết Trùng Dương : <i>Hoàng hoa tửu</i>!‎ Đó là trà chủ quán trà <i>Hiện quán</i> . Ý của chủ nhân như muốn tìm lại một chút không khí <i>Đường thi</i> giữa chốn nắng bụi của Sài Gòn.</p>
<p><i>Thu ẩm Hoàng hoa tửu      <br /></i><i>Đông ngâm Bạch tuyết thi</i>.</p>
<p>Ở Sài Gòn, không thể ngâm thơ bạch tuyết để nhớ mùa đông, nhưng có thể uống rượu <i>Hoàng hoa</i> uống để nhớ mùa thu. Tôi đã đôi lần cùng bè bạn uống rượu <i>Hoàng hoa </i>với trà chủ quán trà <i>Hiện quán.</i> Là quán trà theo cung cách trà đạo, nhưng chúng tôi luôn được đãi loại rượu Hoàng hoa, mà cô chủ quán đã chế biến rất công phu. Và lần nào chúng tôi cũng có những niềm vui thống ẩm cuồng ca, với một cây Guitare cùng những giai điệu một thời vang bóng. Trong gian trà thất nho nhỏ ở một góc phố Trần Huy Liệu, nơi mà mọi sự xô bồ huyên náo đã bị chắn lại bởi một rèm trúc thưa, tay nâng chén rượu sóng sánh màu vàng hổ phách, dưới đáy chén là một đóa tiểu cúc màu vàng, ta vẫn có thể cảm nhận được hương vị mùa thu đang lắng chìm vào trong chén rượu. Vì màu vàng của hoa cúc, vì hương thơm nồng của rượu. Lúc đó, dù ngồi giữa phố thị xô bồ, chúng ta vẫn có thể đi theo Đỗ Mục lên đồi cao vào tiết Trùng dương để « <i>Cúc hoa tu sáp mãn đầu quy </i>», vì ta đã có hoa cúc trong chén rượu, và cảm nhận được rằng chung quanh chén rượu và bên trong chén rượu <i>Hoàng hoa</i> luôn đầy ắp sự nống ấm của những mối giao tình.</p>
<p>Và cảm động biết bao nhiêu, hào hứng biết bao nhiêu, khi đã ngà ngà say vì tiếng đàn, men rượu, lại nhận được bài thơ tặng của cô chủ quán mang đầy phong vị Đường thi.</p>
<p><b>HOÀNG HOA TỬU</b></p>
<p>VIÊN TRÂN</p>
<p><i>Ôi hoàng hoa tửu Hoàng hoa tửu      <br /></i><i>Gởi chút hồn Thu theo gió Xuân      <br /></i><i>Chiều nghiêng nghiêng rót vào trong nắng      <br /></i><i>Một đóa hoa vàng kính đại huynh</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>*</i></p>
<p><i>* *</i></p>
<p><i>Một chén lung linh màu hoa cúc      <br /></i><i>Em nâng nhè nhẹ một vầng trăng      <br /></i><i>Một chén mênh mang hồn thơ cổ      <br /></i><i>Huynh cười hào sảng uống trăng tan </i></p>
<p><i>*</i></p>
<p><i>* *</i></p>
<p><i>Dương Châu ngàn dặm ta vừa tới      <br /></i><i>Cạn chén Hoàng hoa chốn giang đầu      <br /></i><i>Đêm về say mộng nghe liễu rũ      <br /></i><i>Đường thi mờ bụi cuốn vó câu</i></p>
<p><b></b></p>
<p>Ơi Dương Châu ngàn dặm ! Ơi cổ độ tà huy ! Chén rượu hoa cúc màu vàng ta vừa cạn cùng nhau dù không phải tại chốn giang đầu, mà trong hồn vẫn nghe ra giai điệu liễu ru nơi chốn giang đầu. Trong hơi rượu lâng lâng, trong tiếng đàn Guitar rất nhẹ, dường như vang lên từ đâu đó tiếng vó câu cuốn bụi mờ, trong cõi mênh mang sương khói của Đường thi.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16298/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một nẻo qu&#234; chung</title>
		<link>http://damau.org/archives/15469</link>
		<comments>http://damau.org/archives/15469#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 23 Aug 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Huỳnh Ngọc Chiến</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tiểu luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/15469</guid>
		<description><![CDATA[Dù cho trôi nổi khắp chốn sông hồ, dù cho phiêu bạt trong ngàn phương lữ thứ, dù có bươn chải đắm chìm trong chốn lợi danh, dù có say sưa miệt mài trong cõi văn chương hay mãi tĩnh lặng quán tưởng trầm tư nơi thâm sơn cùng cốc, rốt cuộc rồi chúng ta cũng phải nói lời tạm biệt với cõi đời, để về một cõi Quê chung, về với nơi mà ta đã thực sự từ đó ra đi.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><b></b></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><b></b></p>
<p><i></i></p>
<p align="right"><em>Tâm tình một nẻo Quê Chung      <br />Người về cố quận, muôn trùng ta đi       <br />(Huy Cận?)</em></p>
<p>Hai câu thơ trên được cho là của nhà thơ Huy Cận, được nhà thơ Bùi Giáng trích dẫn trong lời tựa cho bản dịch “<i>Lời cố quận</i>” của ông. Hai câu đó có thực là của Huy Cận hay không, có thể không quan trọng lắm; cũng như khi đọc “<i>Thiếu thất lục môn</i>”, chúng ta không nên quá bận tâm đến tác giả có phải là tổ Đạt Ma hay không. Điều quan trọng là tâm tình trong lời thơ. Chỉ hai câu ngắn ngủi nhưng đã mở ra cả một phương trời lữ thứ mênh mông. Kẻ bươn bả ra đi, người quay về cố quận. Và trong lòng kẻ ở người đi đều mang mặng tâm tình đối với một nẻo Quê chung. Cố quận ở nơi nào? Quê chung là đâu vậy? Ta từ đâu tới? Ta sẽ về đâu? Hay ra đi cũng chính là quay về?</p>
<p>Dù cho trôi nổi khắp chốn sông hồ, dù cho phiêu bạt trong ngàn phương lữ thứ, dù có bươn chải đắm chìm trong chốn lợi danh, dù có say sưa miệt mài trong cõi văn chương hay mãi tĩnh lặng quán tưởng trầm tư nơi thâm sơn cùng cốc, rốt cuộc rồi chúng ta cũng phải nói lời tạm biệt với cõi đời, để về một cõi Quê chung, về với nơi mà ta đã thực sự từ đó ra đi. <i>Cõi Chết! </i>Chỉ có cõi chết mới thực sự là Quê chung cho tất cả mọi người. Đó là nơi mà mọi ân oán thị phi, mọi vinh quang tủi nhục đều trở thành hư ảo. Trong cõi thế đầy sai biệt này thì đó là nơi duy nhất thực sự bình đẳng cho tất cả mọi người, từ những kẻ tài hoa quán thế, uy lực trùm đời cho đến những người cùng khổ vất vưởng với nợ áo cơm; từ những người dung nhan tuyệt đại cho những kẻ khiếm khuyết tật nguyền. Sau những tháng năm diễn xuất đủ vai trò trên sân khấu cuộc đời, với tất cả hỷ nộ ái ố của thất tình lục dục, rốt cuộc rồi chúng ta ai cũng nối đuôi nhau đi về cõi đó, hoàn toàn bình đẳng nhau.</p>
<p><i>Gặp phải lúc lạc đường lỡ bước,      <br /></i><i>Cầu Nại Hà kẻ trước người sau.      <br /></i><i>Mỗi người một nghiệp khác nhau,      <br /></i><i>Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ?</i></p>
<p><i>Chiêu hồn thập loại chúng sinh</i> với thiên tài Nguyễn Du đưa ta về cõi Quê chung đó, sau khi dẫn ta đi qua bao nhiêu cảnh thê thiết của kiếp người, trong cõi dâu biển tang thương.</p>
<p><i>Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt,      <br /></i><i>Toát hơi may lạnh buốt xương khô.      <br /></i><i>Não người thay bấy chiều thu,      <br /></i><i>Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Ðường bạch dương bóng chiều man mác,      <br /></i><i>Dặm đường lê lác đác sương sa.      <br /></i><i>Lòng nào lòng chẳng thiết tha,      <br /></i><i>Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Cảnh trần gian đã thê lương là vậy, đã não nề là vậy, thì trong cõi âm kia, cõi <i>Quê chung</i> kia, còn u oán đến ngần nào? <i>Cõi dương còn thế nữa là cõi âm</i>! Nhưng thử hỏi cõi âm và cõi dương có thực sự tách biệt rạch ròi nhau chăng, khi mà sự sống và cái chết vẫn luôn sóng đôi đi bên cạnh nhau? Như bình minh và hoàng hôn luôn nối tiếp nhau. Như kẻ đi muôn trùng và người về cố quận.</p>
<p>Người trong cõi <i>“Muôn trùng ta đi</i>” có thể là kẻ mưu đồ đại sự, toan đem ý chí hùng bá để thâu tóm cả thiên hạ trong tay :</p>
<p><i>Nào những kẻ tính đường kiểu hạnh      <br /></i><i>Chí những lăm cướp gánh non sông      <br /></i><i>Nói chi đang thuở thị hùng      <br /></i><i>Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau”<sup>(1)</sup></i></p>
<p>có thể là những người đang tự mãn cùng nhan sắc khuynh thành chốn lầu son gác tía:</p>
<p><i>Nào những kẻ màn lan trướng huệ      <br /></i><i>Những cậy mình cung Quế Hằng Nga      <br /></i><i>Một phen thay đổi sơn hà      <br /></i><i>Tấm thân mảnh lá biết là làm sao?</i></p>
<p>hay là những người tài hoa lỗi lạc, ôm trong lòng một túi kinh luân :</p>
<p><i>Nào những kẻ mão cao áo rộng      <br /></i><i>Ngòi bút son thác sống ở tay      <br /></i><i>Kinh luân chất một sải đầy      <br /></i><i>Đã đêm Quản Cát, lại ngày Y Chu</i></p>
<p>hay là những người dũng phu xông pha nơi trận mạc, say sưa đem mạng người đổi lấy công danh:</p>
<p><i>Nào những kẻ bài binh bố trận      <br /></i><i>Vâng mệnh sai lĩnh ấn nguyên nhung      <br /></i><i>Gió mưa thét rống đùng đùng      <br /></i><i>Phơi thây trăm họ làm công một người</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Còn người trong chốn “<i>Người về cố quận</i>” có thể là những người mãi mê đi tìm ý nghĩa của đời người trong những đồng xu, để rồi “<i>Sống không thác lại tay không còn gì</i>”:</p>
<p><i>Cũng có kẻ tính đường trí phú      <br /></i><i>Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn      <br /></i><i>Ruột rà không kẻ chí thân      <br /></i><i>Dẫu làm nên nữa, dành phần cho ai</i></p>
<p>có thể đó là những kẻ muốn đem văn chương rong ruỗi trong đời để toan mưu cầu phú quý mà không hiểu được rằng văn chương chỉ là những trò chữ nghĩa phù phiếm, nếu như nó không được nuôi dưỡng từ một chữ tâm :</p>
<p><i>Cũng có kẻ muốn cầu chữ quí      <br /></i><i>Giấn thân vào thành thị bôn ba      <br /></i><i>Mấy thu lìa cửa lìa nhà      <br /></i><i>Văn chương đã chắc đâu mà trí thân</i></p>
<p>đó có thể là những người phụ nữ đáng thương, vì miếng cơm hay vì nợ nần phải đem thân ra mua vui cho thiên hạ để rồi một mình cô quạnh lúc chiều hôm :</p>
<p><i>Lại có kẻ lỡ làng một tiết      <br /></i><i>Liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa      <br /></i><i>Ngẩn ngơ khi trở về già      <br /></i><i>Ai chồng con nấy, biết là cậy ai</i></p>
<p>đó có thể là những nạn nhân của một nền công lý mù tối, phải bỏ thân một cách oan khiên nới chốn ngục tù :</p>
<p><i></i></p>
<p><i>Lại có kẻ mắc oan tù rạc      <br /></i><i>Gửi thân vào chiếu lác một manh      <br /></i><i>Gói xương chôn rấp góc thành      <br /></i><i>Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi</i></p>
<p><i>&#8230;. </i></p>
<p><i></i></p>
<p>Trong cõi <i>“Thập loại chúng sinh</i> “đó, trong bức tranh vân cẩu tang thương đó, có biết bao nhiêu tâm tình của muôn vạn mảnh đời. Khi từ Quê chung nhìn lại, tất cả đều như chập chờn trong một màn sương ảo hóa. Dù là con sông rộng cuồng nộ thét gầm hay chỉ là một con suối nhỏ, tất cả đều xuôi về và cùng hòa tan nhau trong biển cả. Đó là <i>Đại dương của Cái chết</i>. Nào đâu là công danh phú quý, nào đâu là trướng huệ màn lan, khi cái thân tứ đại này rã tan theo những định luật vô thường, để rồi :</p>
<p><i></i></p>
<p><i>Bóng tang tử xa chừng hương khúc      <br /></i><i>Bãi tha ma kẻ dọc người ngang      <br /></i><i>Cô hồn nhờ gửi tha hương      <br /></i><i>Gió trăng heo hắt, khói sương lạnh lùng</i></p>
<p>Đọc <i>Chiêu hồn thập loại chúng sinh</i>, chúng ta có cảm tưởng như Nguyễn Du là một Bồ Tát đang ngồi nhập định, dùng Bi tâm để quán sát khắp cõi biển dâu. Đi vào thế giới thi ca Nguyễn Du qua ngưỡng cửa Phật giáo, chúng ta càng thấy sự mênh mông của những chân trời tư tưởng và tấm lòng Bồ Tát của một thi sĩ thiên tài. Suốt một thời gian dài, không thiếu những nhà phê bình cứ khăng khăng khẳng định <i>Truyện Kiều </i>là bản án bằng văn chương dành cho chế độ phong kiến, nhằm để nêu ra được những “<i>tư tưởng tiến bộ</i>” (!) trong tác phẩm Tân thanh. Những nhà phê bình nghiên cứu <i>Truyện Kiều </i>theo cách đó có bao giờ hiểu được rằng tại trung tâm ngôn ngữ của lục bát <i>Truyện Kiều</i> vẫn còn trì ngự một <i>Vùng Vô Ngôn Thăm Thẳm</i> của <i>Thi Ngôn</i>, mà nhà thơ Phạm Quý Thích, với tâm hồn đồng điệu, đã đề cập đến bằng những lời thăm thẳm: “<i>Tố Như Tử dụng tâm đã khéo, tả cảnh như hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy? </i>” (Trần Trọng Kim dịch).</p>
<p>Đọc <i>Truyện Kiều </i>từ tác phẩm <i>Chiêu hồn thập loại chúng sinh</i> và thơ chữ Hán của Nguyễn Du, chúng ta càng cảm nhận thêm được cái tâm lực “<i>Nhãn phù lục cực, tâm quán thiên thu</i>” của ông. Một nghệ sĩ thiên tài đem tâm Bồ Tát quán chiếu quá sâu thẳm vào cõi biển dâu, và muốn che dấu tất cả những cảnh tang thương thê thiết của cuộc đời dưới một màn sương nghệ thuật.</p>
<p>Thử đọc lại đoạn mở đầu của <i>Bát Nhã Tâm Kinh</i>, và thử thay “<i>Xá lợi tử</i>” trong đoạn kinh văn đó bằng “<i>Tố Như tử</i>”, ta dễ có cảm tưởng đây là bài Tâm Kinh mà Nguyễn Du được nghe từ cõi lồng lộng “<i>Như thị ngã văn</i>” với tất cả tâm nguyện “<i>tín, giải, thọ, trì</i>”, để ông có thể dùng <i>Diệu quán sát trí</i> quán chiếu khắp cõi biển dâu cùng thập phương tam giới, trước khi viết <i>Chiêu hồn thập loại chúng sinh</i> và <i>Truyện Kiều</i>.</p>
<p>Người viết xin phép được thay một đôi chữ trong đoạn <i>Tâm</i> <i>Kinh</i> để cố gắng gợi lên được những gì còn ẩn khuất trong tác phẩm Nguyễn Du.</p>
<p><i>“Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến thập phương tam giới giai như hư không, độ nhất thiết khổ ách. Tố Như tử! Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, nhất thiết thế gian diệc phục như thị”!</i></p>
<p><i>“Bồ Tát Quán Tự Tại lúc hành trì sâu xa Bát nhã Ba la mật đa, quán chiếu khắp thập phương tam giới đều thấy như hư không, nên vượt qua tất cả khổ nạn. Này Tố Như tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc. Sắc chính là Không, Không chính là Sắc. Tất cả thế gian đều như vậy cả.”</i></p>
<p>Từ cõi nghe “<i>Như thị ngã văn</i>” lồng lộng đó, Nguyễn Du đã viết :</p>
<p><i>Mãn cảnh giai không hà hữu tướng?      <br /></i><i>Thử tâm thường định bất ly Thiền</i></p>
<p><i></i></p>
<p>và :</p>
<p><i>Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,      <br /></i><i>Có chữ rằng : &quot;Vạn cảnh giai Không&quot;.      <br /></i><i>Ai ơi lấy Phật làm lòng,      <br /></i><i>Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.</i></p>
<p>&#8230;..</p>
<p><i></i></p>
<p>Nhưng nhìn thấy cõi đời là mộng ảo, quán chiếu thế gian là vô thường không phải để chán chường bi lụy, mà là để phát tâm cầu đạo, tìm ra chốn an thân lập mệnh, để “<i>Thử tâm thường định bất ly Thiền</i>”. Thái tử Tất Đạt Đa có thể xuất gia cầu đạo để trở thành bậc Toàn giác hay không, nếu như Ngài cứ suốt đời quẩn quanh nơi lầu son cung cấm, mà không nhìn thấy cảnh sinh lão bệnh tử não nùng của trần gian?</p>
<p>Nhiều đoạn trong <i>Chiêu hồn thập loại chúng sinh</i> của Nguyễn Du chính là bài thuyết pháp về Khổ đế:</p>
<p><i>Trong trường dạ tối tăm trời đất,      <br /></i><i>Còn khôn thiêng phảng phất u minh.      <br /></i><i>Thương thay Thập loại chúng sinh,      <br /></i><i>Hồn đơn phách chiếc linh đinh quê người.</i></p>
<p>Còn đây là Đạo đế :</p>
<p><i>Tiết đầu thu lập đàn giải thoát,      <br /></i><i>Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi.      <br /></i><i>Muôn nhờ Ðức Phật từ bi,      <br /></i><i>Giải oan cứu khổ độ về Tây phương.</i></p>
<p><i>…..</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,      <br /></i><i>Phóng hào quang cứu khổ độ u.      <br /></i><i>Khắp trong tứ hải quần chu,      <br /></i><i>Não phiền trút sạch oán thù rửa trong.      <br /></i><i>Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,      <br /></i><i>Chuyển pháp luân tam giới thập phương.</i></p>
<p><i>…..</i></p>
<p>Không chỉ trong cõi Ta Bà này, mà trong cõi Quê chung đó, Phật pháp vẫn sẽ</p>
<p><i>Phóng hào quang cứu khổ độ u</i></p>
<p>khi mà :</p>
<p><i>“đức Phật thần thông quảng đại,      <br /></i><i>Chuyển pháp luân tam giới thập phương”</i></p>
<p>để giúp cho chúng ta :</p>
<p><i>Não phiền trút sạch oán thù rửa trong </i></p>
<p>Trên đường đi về cõi Quê chung đó, ta sẽ phải trả lại cho trần gian tất cả những gì ta tạm vay mượn từ nó trong thuở sinh tiền: kiến thức, tiền bạc, công danh phú quý&#8230; cùng với bao nhiêu vui sướng, khổ đau. Hành trang duy nhất mà ta có thể mang theo, và <i>phải mang theo</i> trên đường về Cõi Chết cũng chính là những gì ta mang vào đời, khi vừa lọt lòng Mẹ: <i>Nghiệp</i>! Trên đường đi về cõi Quê chung đó, gói hành trang kia sẽ nặng hơn hoặc nhẹ hơn đều hoàn toàn tùy thuộc vào những gì ta làm khi còn tại thế. Tham sân si luôn khiến chúng ta mê muội gây nên bao nghiệp chướng. Đâu phải ai cũng có cơ duyên nghe được câu kệ <i>Lục như </i>để quán tưởng bản chất vô thường của trần gian.</p>
<p>Nhiều người thường thắc mắc “<i>Ta đã trót gây nghiệp ác, rồi cúng dường chư Phật cùng với nghe giảng kinh thuyết pháp thì có thoát được quả báo đó hay không</i>?” Nghiệp đã tạo ra thì phải chịu quả báo, như tiền đã vay thì phải trả. Không ai có thể trả nợ giùm ai. Quy luật báo ứng không ai chạy thoát khỏi, cho dẫu đó là bậc khổ hạnh chân tu, dù trong kiếp này hay kiếp khác. Thiền tông có một giai thoại lý thú có thể dùng để trả lời thắc mắc trên.</p>
<p>Có một người đến hỏi thiền sư Triệu Châu: “Thế nào là tham thiền ngộ đạo?”. Sư không trả lời, mà chỉ trề môi nói : “Lão tăng muốn đi đái!”. Đi được vài bước, sư bèn quay lại bảo tín đồ: “Các ông xem! Chỉ một việc cỏn con đó mà lão tăng còn phải tự mình làm, có ai làm thay được đâu?” <sup>(2)</sup>.</p>
<p>Chỉ một việc vệ sinh nho nhỏ mà ta vẫn phải tự làm, huống gì nghiệp báo? Không ai trả nghiệp báo thay cho ai được. Không thể chỉ nghe lời kinh mà rũ sạch được nghiệp báo, để có thể “<i>Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi</i>” được. Siêu thăng nghiệp báo chỉ có nghĩa là nhờ Phật pháp cảnh tỉnh, ta sẽ hiểu được lẽ bất biến của luật nhân quả luân hồi để có thể hân hoan trả nợ. Dưới sự gia trì của Phật lực, ta có thể yên tâm trả nghiệp báo một cách nhẹ nhàng tự tại, mà không còn mang tư tưởng sợ hãi hay oán hờn. Khi ấy, dù còn đắm chìm trong cõi luân hồi, nhưng tâm ta như đã ra khỏi bến mê, vì đã thấy nhẹ nhõm như trút đi một gánh nặng đeo đẳng trong lòng. Điều đó mới chính là “<i>Não phiền trút sạch oán thù rửa trong” </i>để ta có thể “<i>Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi</i>”.</p>
<p>Nếu Bát nhã Ba la mật là chỗ sở y để chúng ta nương vào đó mà tìm về cảnh giới “<i>tâm vô quái ngại, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn</i>” thì <i>Chiêu hồn thập loại chúng sinh</i> cũng có thể là chỗ sở y để khi mỗi khi đọc lại và đi vào cái thế giới đó, ta có thể phát tâm cầu đạo vì nhìn ra được <i>Một Cõi Quê Chung!</i></p>
<p><em>HNC</em></p>
<p>&#160;</p>
<p><b>Ghi chú</b></p>
<p>(1) Những câu thơ trong <i>Chiêu hồn thập loại chúng sinh</i></p>
<p>(2) ”<i>Nễ khan! Giá đẳng tiểu sự, hoàn yếu ngã tự kỷ khứ</i>,<i> biệt nhân thế đại bất liễu a! </i>你 看! 這 等 小 事， 還 要 我 自 己 去 ，別 人 替 代 不 了 啊!” (Dẫn theo <b>Tinh Vân đại sư</b> 星 雲 大 師, <i>Tu hành tại nhân gian<b> </b></i>修 行 在 人 間 Hương Hải văn hóa, Đài Bắc, 2007, tr. 40)</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/15469/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>&#173;Undo My Love: Trả lại lời thề!</title>
		<link>http://damau.org/archives/12808</link>
		<comments>http://damau.org/archives/12808#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 29 Jun 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Huỳnh Ngọc Chiến</dc:creator>
				<category><![CDATA[Da Màu và Bạn]]></category>
		<category><![CDATA[Phiếm luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/12808</guid>
		<description><![CDATA[Trong tình yêu nam nữ, nếu như có lệnh undo thì xưa nay đã không có biết bao nhiêu giọt nước mắt đã nhỏ xuống, ngậm ngùi và cay đắng. Trong tiếng Anh có một câu mà ý nghĩa rất khó dịch chính xác sang tiếng Việt, đó là “Undo my love”. Undo cuộc tình tôi! Đại khái theo nghĩa đen, ta có thể tạm hiểu “Undo my love” là...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h3>&#160;</h3>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
</p>
<p><b></b></p>
<p> <i>Tặng NQC, PD và TH để nhớ </i><i>một buổi trưa với “Ngẫu hứng Sài Gòn”</i>
</p>
<p><i></i></p>
<p>&#160;</p>
<p>Bất kỳ ai sử dụng máy tính đều quen thuộc với lệnh <i>undo</i>, dùng để xóa thao tác vừa thực hiện, trả lại tình trạng trước đó, như khi chưa thực hiện thao tác. Từ <i>undo</i> có nhiều nghĩa, ở đây tôi &#8211; căn cứ theo tự điển <i>The American Heritage Talking Dictionary</i> &#8211; xin giới hạn trong phạm vi <i>undo</i> được dùng theo nghĩa <i>“đảo ngược” (reverse); “xóa bỏ” (erase); “hủy bỏ” (annul)</i> một tác dụng hay hoạt động nào đó. (Ví dụ : <i>impossible to undo the suffering caused by the war</i> : khó lòng xóa bỏ được vết thương chiến tranh). Khi bạn vẽ một đường kẻ trên trang giấy, rồi bạn xóa đi, nghĩa là bạn <i>undo</i> thao tác vẽ thì trang giấy, dù trở lại trạng thái trước đó, cũng vẫn mang một vết xóa mơ hồ. Đối với máy tính thì lại khác, bạn có thể thực hiện một số thao tác, sau đó thực hiện một loạt các lệnh <i>undo</i> thì chắc chắn máy tính lần lượt sẽ được trả lại trạng thái ban đầu, như khi bạn chưa thực hiện các thao tác đó. Lệnh <i>undo</i> rất đắc dụng để ta sửa lại các thao tác sai lầm. Giá như trong cuộc đời có lệnh <i>undo</i> thì con người đã hạnh phúc biết bao nhiêu. Để ta sửa đổi biết bao nhiều lầm lỗi và cữu vãn những đổ vỡ trong đời. Phần lớn bi kịch của cuộc sống vẫn được xây dựng trên những chữ <i>“Giá mà…”, “Nếu như&#8230;”, “Phải chi &#8230;”</i> . Cuộc sống là một cuộc thi mà mỗi thí sinh chỉ có một tờ giấy duy nhất để làm bài, không cho ai làm nháp. Nếu trong tự điển cuộc sống mà có được lệnh <i>Undo</i> thì cụ Nguyễn Du lấy đâu ra chỗ để viết “<i>Đoạn trường tân thanh”</i>?. Cụ Nguyễn Trãi lấy đâu ra chỗ để ngậm ngùi “<i>Anh hùng di hận kỷ thiên niên</i> ”?</p>
<p>Trong tình yêu nam nữ, nếu như có lệnh <i>undo</i> thì xưa nay đã không có biết bao nhiêu giọt nước mắt đã nhỏ xuống, ngậm ngùi và cay đắng. Trong tiếng Anh có một câu mà ý nghĩa rất khó dịch chính xác sang tiếng Việt, đó là “<i>Undo my love</i>”. <i>Undo cuộc tình tôi</i>! Đại khái theo nghĩa đen, ta có thể tạm hiểu “<i>Undo my love”</i> là xóa bỏ tình yêu của tôi đối với một đối tượng nào đó, hay đừng yêu tôi nữa, hoặc xóa bỏ những ngộ nhận để làm lại từ đầu, hoặc “<i>rủ bỏ tình yêu</i>” vân vân…</p>
<p>Nhưng hiểu theo thuật ngữ máy tính -<i>tôi xin nhấn mạnh điểm này</i>- thì “<i>Undo my love</i>” có nghĩa là <i>hãy trả tình yêu của tôi trở lại trạng thái ban đầu như khi tôi chưa yêu bạn, như khi bạn chưa yêu tôi, như lúc chúng ta chưa hề quen nhau</i>. Hãy làm sao cho chúng ta không còn một vết xướt nào trong tâm hồn của nhau, không còn một kỷ niệm nào cho nhau nữa, dầu rất mơ hồ. Nhưng thử hỏi làm sao xóa được những dòng chữ tỏ tình trên tờ giấy còn thơm mùi mực? Làm sao xóa được những nụ hôn trên đôi môi vụng dại? Làm sao trả lại những cái cầm tay run rẩy khi lần đầu nói tiếng yêu thương?</p>
<p>Tôi đã vô cùng lúng túng khi muốn tìm ý nghĩa của câu này trong một câu tiếng Việt tương đương. Chỉ đến khi nghe đọc một bài ca dao xứ Quảng Nam, tôi chợt cảm nhận ra ý nghĩa của “<i>undo my love” , </i>và ngẩn cả người, vì không hiểu sao ca dao Việt Nam lại tuyệt vời đến vậy!</p>
<p>Trong quá trình viết văn, mỗi khi phân vân với ý nghĩa của một câu chữ, thậm chí chỉ một chữ, tôi ít khi tra cứu trong tự điển, mà thường tìm ngay trong kho tàng ca dao tục ngữ. Với tôi, đó mới thực sự là một cuốn tự điển vô giá, vì các tác giả vô danh của nó đã sống trọn vẹn với tiếng Việt bằng cả tâm hồn, bằng cả sự vui buồn, chứ không phải bằng thứ kiến thức ngữ học hàn lâm- một thứ kiến thức phù phiếm, xa lạ hiện đang tàn phá tan hoang phần hồn tiếng Việt. Ca dao không phải để đọc theo kiểu nghiên cứu, mà để ngâm lên với cả tâm tình. Tôi tin rằng những người dân quê cảm nhận được phần hồn ca dao sâu gấp vạn ngàn lần những nhà nghiên cứu hay các giáo sư đại học, vì họ đã sống trọn vẹn với hồn thơ.</p>
<p>Bài ca dao giúp tôi liên tưởng đến câu “<i>Undo my love</i>” đó gồm 8 câu như vầy :</p>
<p><i>Ba với ba là sáu      <br /></i><i>Sáu với bảy mười ba      <br /></i><i>Bạn nói với ta không thiệt, không thà      <br /></i><i>Như cây đủng đỉnh trên già dưới non      <br /></i><i>Khi xưa bạn nói với ta chưa vợ chưa con      <br /></i><i>Bây giờ ai đứng đầu non đó bạn tề?      <br /></i><i>Bạn nói với ta bạn chưa có hiền thê      <br /></i><i>Bây chừ hiền thê mô đứng đó, bạn trả lời thề lại cho ta.</i></p>
<p>Cây đủng đỉnh là loại cây gì thì tôi chưa hề được biết, nhưng ta có thể hình dung người con gái đọc câu thơ đó bằng cả sự nhẫn nhục, ngậm ngùi của người con gái chân quê hiền lành xứ Quảng. Biết bao nhiêu ngậm ngùi trong câu nói “<i>trả lời thề lại cho ta</i>”. Làm sao mà trả lại được lời thề? Làm sao mà trả lại được bao nhiêu kỷ niệm đã thành tượng giữa thời gian? Làm sao có thể khiến tình yêu như lưỡi gươm chém vào hư không và không để lại dấu vết? <i>Trả lời thề lại cho ta</i>! Ngậm ngùi nhưng không hờn oán, trách móc nhưng không cay nghiệt, thiết tha nhưng không bi lụy, đau đớn mà vẫn đằm thắm yêu thương.</p>
<p>Tôi tình cờ đọc trên mạng một đoạn văn của J.Tarin Towers, trong bài <i>Things to undo</i> (<i>Những điều cần xóa bỏ</i>, <a href="http://www.fray.com/drugs/love/tarin.html">http://www.fray.com/drugs/love/tarin.html</a>). J.Tarin Towers là tác giả của những cuốn sách chuyên về máy tính. Cô từng làm việc cho các hãng Netscape Communications, Microsoft, Informix Software, và Infoseek, nhưng đồng thời lại là tác giả của nhiều bài thơ và bài tiểu luận rất thú vị. Có lẽ vì là dân máy tính nên chữ <i>undo</i> trong câu văn của cô lại có một ý nghĩa đặc biệt : “<i>We can undo words with kisses, but we cannot undo kisses with words”</i> (Chúng ta có thể xóa bỏ bao lời nói bằng những nụ hôn, nhưng không thể xóa bỏ các nụ hôn bằng những lời nói được).</p>
<p>Chúng ta có thể xóa bỏ những lời nói sai lầm hay những lời nói xúc phạm bằng những nụ hôn để tạ lỗi, nhưng làm sao có thể dùng những lời tạ lỗi để xóa bỏ được những nụ hôn? Làm sao có thể trả lại lời thề?</p>
<p>Khi đọc đoạn văn trên và bài ca dao đó, thì tôi thấy câu văn dịch cho “<i>undo my lov</i>e” đã hiện ngay ra đấy : “<i>Trả lời thề lại cho ta</i>”. Vâng, hãy “<i>trả lại lời thề”</i>, hãy “<i>undo my love</i>” !<i> </i></p>
<p>Xin cám ơn bài ca dao tuyệt vời xứ Quảng và cám ơn J.Tarin Towers!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/12808/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>8</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

