<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Hai Trầu</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/hai-trau/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Wed, 23 May 2012 13:21:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>C&#243; Một Lo&#224;i B&#244;ng Tr&#244;i Tr&#234;n S&#244;ng</title>
		<link>http://damau.org/archives/23142</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23142#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 18 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hai Trầu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23142</guid>
		<description><![CDATA[Những năm tháng loạn lạc, người ta thường bỏ của chạy lấy người thì tất cả những gì quý giá như lư đồng, ngựa gõ, chén bát tô tộ đủ loại sành sứ ... đều được nhấn lút chôn dưới bùn trong các ao hồ dày đặc lục bình ấy ....]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Bạn ơi, có bao giờ bạn nghe ai kể về loài bông trôi nổi bềnh bồng vô định trên những dòng sông chảy xiết như loài bông lục bình chúng tôi lần nào chưa? Tên gọi lục bình của tôi có lẽ rất quen nhưng cũng làm bạn rất đỗi ngạc nhiên, phải không? Thiệt tình ra, mọi tên gọi các loài vật trên mặt đất này, tự thân sự vật không cần biết tên mình là gì bạn à; mà tất thảy đều là do loài người đặt để ra ráo trọi!</p>
<p>Chẳng hạn riêng như loài lục bình, thì ở xứ xở vùng nhiệt đới gió mùa như miền sông nước miền Tây Nam nước Việt của bạn với tên gọi lục bình hay lộc bình (1) vì có người cho rằng cuốn lá của chúng tôi giống hình dáng những chiếc lục bình chưng bông trong nhà; có người còn gọi chúng tôi là bèo tây vì người ta tìm thấy chúng tôi đến đất Việt từ bên trời Tây (2); còn từ nước nào thì chúng tôi không rành; nhưng cũng nghe kể chúng tôi ở tuốt từ bên xứ sở Ba Tây (Nam Mỹ) lận…</p>
<p>Thiệt tình ra, ngay như bên Nam Mỹ, chúng tôi có mặt ở nhiều vùng đất thuộc khí hậu nhiệt đới có, mà ôn đới cũng có; rồi chúng tôi cũng có mặt ở châu Phi nữa, nhiều nhất là vùng hồ Victoria của xứ Kenya; chúng tôi còn hiện diện các vùng Châu Á như Nhựt Bổn, Ấn Độ, Phi Luật Tân, Tân Guinéa, bên Cao Miên và rồi cũng có ở phía nam nước Pakistan; còn ở Bắc Mỹ với những ao hồ đầm lầy vùng Texas, Louisiana, Florida của Hoa Kỳ thì loài lục bình này cũng đã sống qua nhiều mùa mưa nắng khá lâu rồi&#8230;</p>
<p>Sự hiện diện ở những xứ xở Hoa Kỳ này chúng tôi bị cản trở hơi bộn vì sự phát triển khá nhanh của bản tính của loài bèo sống trôi nổi của mình, phần nào làm cho các vùng thiên nhiên nơi đây bị trở ngại về các đường thoát nước. Do vậy, để tránh các tai nạn làm kẹt cứng các đường mương thoát nước nên một vài nơi tại các vùng này chúng tôi bị các luật lệ các địa phương nơi ấy cấm cư dân không được nuôi dưỡng loài lục bình này. Thành ra, sự có mặt của giống lục bình các vùng này giống như những người nhập cư không có đủ giấy tờ nên việc đi lại cũng gặp nhiều khó khăn trắc trở dữ lắm!</p>
<p>Về đặc tính của lục bình, chúng tôi có những thân hình ống mọc cao khoảng vài ba tấc mang lá hình hơi bầu tròn màu xanh lục, mặt trên của lá rất láng. Một bụi lục bình trung bình có từ sáu tới tám lá hình bầu tròn; cuống lá nở phình ra như bong bóng xốp ruột giúp thân lục bình nổi trên mặt nước dễ dàng. Rễ lục bình trông như bộ râu ông già chưa bạc nhiều thả lửng lơ trong nước, dài ngắn tuỳ nơi chúng tôi dừng lại mà ở nơi chốn ấy có mực nước sâu hoặc nước cạn. Sâu thì rễ dài ra thành thủy sinh vật, còn cạn thì rể bám luôn vào đất giống như các loài nê thực vật. Chỗ nước sâu rễ có khi dài năm sáu tấc là thường. Nhiều sách vở nói rễ lục bình dài một thước, nhưng thực tế bộ rể dài như vậy cũng không phải lúc nào cũng dễ tìm. Đến mùa nắng, lục bình trổ bông màu tím lợt, cánh bông giữa có đốm màu vàng và bao quanh đốm vàng ấy là một vòng màu tím; có 3 tiểu nhụy với lông mịn; noãn sào chừng 6 ly. Nang có ba ngăn với lớp da mỏng, hột nhiều sắp nằm ngang. Cuống bông đứng thẳng đưa bông vươn cao lên khỏi những chiếc lá màu xanh (3).</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT" border="0" alt="Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Lc-bnh-ni-bn-sng-LTT_thumb.jpg" width="379" height="285" /></a></p>
<p align="center"><em>Lục bình nơi bến sông Sa Đéc</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Chúng tôi sinh sản hơi nhanh. Một cây cái có thể nẩy ra nhiều chồi con rất mau và cứ thế sinh sản ào ào; các nhánh con này phát triển từ một cọng thân cứng cỡ bằng ngón tay thả dài trên mặt nước cách thân mẹ chừng vài tấc là mọc ra một bụi lục bình con và từ cây con này lại mọc ra cây con khác và cứ thế chúng tôi sanh sản mau lắm, tuỳ theo môi trường sống, nếu thích hợp với chùm rễ trôi trong nước chúng tôi có thể sanh sôi nẩy nở không biết đường nào mà tính cho xuể…</p>
<p>Còn bảo rằng lục bình có hai loại: <em>“loại thân thẳng như một đoạn gậy và cao chừng 5-6 tấc, lá lớn thường được hái để gói đồ thay cho lá chuối, lá sen; loại nhỏ hơn thân phình rộng chính giữa và túm nhỏ hai đầu, cao nhất khoảng một gang tay người lớn, lá cũng nhỏ hơn, loại này thân mềm nên được chuộng làm thức ăn gia súc hơn.”</em> (4) thì cũng hổng trật nhưng chưa đủ…</p>
<p>Thưa bạn, nếu căn cứ vào việc cao thấp của thân mà phân biệt chúng tôi hai loại như vừa kể thì chưa chắc lắm. Nói thế chẳng qua là vì ở sông nước miền Tây Nam Việt Nam chúng tôi phần lớn là loại lục bình có tên quen thuộc là <em>Eichhornia Crassipes</em> (<em>Common Water Hyacinth</em>); nhưng vì ở trong các mương vườn tàn cây che bóng mát, lục bình chúng tôi phải vươn mình lên cao hầu hứng chút ánh nắng mặt trời nên thân hình chúng tôi có hơi cao, còn các nơi ngoài chỗ nắng nhiều, những cọng lục bình không cần phải chen vai hít thở ánh nắng như trong các chỗ rậm rạp nên lá cũng nhỏ mà mấy cuống lá cũng thấp hơn các anh chị nằm trong bóng mát quanh năm là nhờ vậy.</p>
<p>Thiệt tình ra, các nhà nghiên cứu về lục bình cho biết chúng tôi có tới bảy loại dù cùng mang chung tên là lục bình. Điều này cũng dễ hiểu vì cùng loài nhưng khác giống là bình thường. Chẳng hạn có giống lục bình mang tên <em>Eichhornia Crassipes</em> (<em>Common Water Hyacinth</em>) mà chúng tôi vừa kể. Loại này chiếm đa phần trong các giống lục bình nơi miền sông nước Cửu Long. Rồi có giống lục bình với cái tên rất lạ là <em>A</em><em>n</em><em>chored Water Hyacinth</em> (<em>Eichhornia Azurea</em>); rồi lại có loại <em>Variable Leaf Water Hyacinth</em> (<em>Eichhornia Diversifolia</em>); và cũng có giống lục bình với cái tên rất Ba Tây như Brazilian <em>Water Hyacinth</em> (<em>Eichhornia paniceulata</em>) (5) …</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/waterhyacinth.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="waterhyacinth" border="0" alt="waterhyacinth" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/waterhyacinth_thumb.jpg" width="354" height="214" /></a></p>
<p align="center"><em>Common Water Hyacinth (Eichhornia Crassipes)(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anchorewathya.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="anchorewathya" border="0" alt="anchorewathya" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anchorewathya_thumb.jpg" width="382" height="210" /></a></p>
<p align="center"><em>Anchored Water Hyacinth (Eichhornia azurea)</em> <em>(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p align="center"><em><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/brawathya.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="brawathya" border="0" alt="brawathya" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/brawathya_thumb.jpg" width="329" height="221" /></a></em></p>
<p align="center"><em>Brazilian Water Hyacinth (Eichhornia Paniculata)(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p>Thưa bạn, đó là lược kể về vài giống khác nhau cùng mang tên chung là lục bình, nhưng còn họ lục bình mà các nhà khoa học tìm ra và đặt tên chung là họ <em>Pontederiaceae</em> (6) thì ngoài lục bình (<em>Eichhornia</em>), chúng tôi còn có bà con với rau mác (<em>Monochoria</em>) nữa. Cũng như lục bình, các anh chị rau mác có rất nhiều loại khác nhau như rau mác thon (<em>Monochoria Hastata</em>), rau mác lá bầu (<em>Monochoria Ovata</em>), rau mác bao (<em>Monochoria Vaginalia</em>), rau mác cao (<em>Monochoria Elata</em>), rau mác lam (<em>Monochoria Cyanea</em>)…</p>
<p>Dù cho lục bình bình hoặc rau mác, khi cần bạn có thể tước những mầm non dùng làm rau trong các bữa ăn đạm bạc nơi miền quê đồng ruộng được. Người ta có thể ăn bông lục bình nhưng bông thì lạt, không ngon bằng những đọt non mềm mới nhú ấy. Mấy anh chị em chúng tôi trong dòng họ lục bình rau mác này là những loài cỏ nội hoa đồng chỉ mang đến cho bạn chút ít chất tươi non hầu lót lòng khi trưa nắng chiều mưa vùng gió mùa của bạn; có được một chút hữu dụng như vậy nhiều lúc chúng tôi cũng tự an ủi mình và mừng trong bụng lắm rồi, không mơ ước gì hơn.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/raumacthon.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="raumacthon" border="0" alt="raumacthon" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/raumacthon_thumb.jpg" width="260" height="311" /></a></p>
<p align="center"><em>Rau mác thon (Monochotia hastata)(theo Wikipedia)</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p>Ngoài ra, trong những vạt đất có nhiều bùn và rơm rạ cặp theo các mé mương, cạnh bên những đám lục bình và rau mác, chúng tôi thỉnh thoảng cũng bắt gặp các anh chị cù nèo mọc lá non xanh mơn mởn với những bông vàng rất xinh xắn. Những bụi cù nèo mập mạp này cũng góp phần làm những món rau đạm bạc trong các bữa cơm của dân ruộng thêm chất tươi với nhiều vị mát trong lành.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bongcuneo.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="bongcuneo" border="0" alt="bongcuneo" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/bongcuneo_thumb.jpg" width="339" height="218" /></a></p>
<p align="center"><em>Bông cù nèo</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Bạn ơi,</p>
<p>Giờ xin trở lại kiếp phiêu bồng trôi giạt của loài lục bình chúng tôi thêm chút nữa nơi vùng sông nước miền Tây Nam Việt Nam này hầu có thêm vài ba câu chuyện giải buồn. Có tài liệu cho rằng chúng tôi tới vùng đất này từ năm 1905 (7). Việc này thực hư khó biết cho chính xác vì các tài liệu ấy cũng chỉ nói vậy thôi chứ người ta không đưa ra nhũng giấy tờ gì chứng minh về điều này; vả lại, người ta căn cứ vào thời Tây vô đất Việt nên mới có bèo Tây. Nghe thì nghe vậy nhưng chưa lấy gì làm chắc chắn lắm bởi ai đem chúng tôi vô đây và đem vô xứ xở đồng ruộng bao la bát ngát với sông rạch chằng chịt nơi này bằng cách nào? Dĩ nhiên rồi, nếu từ bên Ba Tây, bên Kenya mà trôi qua Việt Nam thì làm sao chúng tôi trôi cho nổi vì đường xá quá xa mà lại là đường biển đại dương với sóng cao gió lớn nữa thì lại càng cách trở biết là bao! Nhưng có phần chắc là chúng tôi đã có mặt nơi vùng đồng bằng Cửu Long này kể ra cũng lâu lắm rồi, lâu đến độ hết biết năm tháng nào là năm tháng khởi đầu của những dề lục bình trôi miên man trên những dòng sông nước ngọt bốn mùa …</p>
<p>Thế rồi những năm giặc giã loạn ly hồi đầu thập niên 1940, chúng tôi lan tràn khắp các kinh mương sông rạch. Dường như nơi nào có kinh mương là có lục bình. Lục bình lan ra cả trên đồng sâu ruộng thấp. Lục bình có trong những mương ruộng, mương vườn. Lục bình trong những ụ chà, trong những búng đập, trong những ao hồ. Lục bình trong những đăng bửng chờ cá bắt tôm. Lục bình trên những mé sông, mé cồn, mé bãi. Dường như đâu đâu lục bình cũng có mặt như một loài cỏ nổi khá thân quen với dân quê, dân ruộng và cũng khá thân quen với ghe xuồng xuôi ngược nơi những bến sông ghé lại của khách thương hồ…</p>
<p>Ở những nơi chốn ấy, chúng tôi cũng có biết bao niềm vui và nỗi lo. Nếu là cư dân nơi đìa mương nào đó chẳng hạn như mương ông Nhà Lầu vùng Mặc Cần Dưng hoặc xa xa dưới kia miệt Đìa Bèo hay miệt lung Ngọc Hoàng vùng Ngã Bảy (Phụng Hiệp) thuộc Cần Thơ, thì chúng tôi là những mái nhà che mát cho biết bao thế hệ cá lóc cá rô sống lưu lai nơi những vùng nước ngọt pha chất phèn chua nơi những lung vũng kinh mương ấy. Bạn có biết, khi mùa nắng bắt đầu tháng giêng tháng hai là lúc mùa tát đìa khởi sự, đó cũng là lúc dưới những chùm rễ dài hai ba tấc của chúng tôi giống như bộ râu người già chưa bạc nhiều ấy cá ôi thôi là cá . Có nhiều đoạn kinh mương nước sắc lại, chưa cần phải dùng gàu dai tát cạn, bạn chỉ cần lấy một cái nôm và cái giỏ bằng tre, rồi bạn theo những kinh mương cạn ấy bạn lôi những cụm lục bình bỏ qua một bên và cá nằm phơi mình đen mun trên những mặt bùn khô nước ấy. Lúc bấy giờ bạn chỉ cần lấy nôm úp mấy con cá nằm phơi mình và thò tay bắt cá trong nôm bỏ vô giỏ là cách bắt cá gọn nhất của những năm tháng cá tôm trù phú nơi này. Cá rất ưa nằm ẩn mình dưới những dề lục bình như vậy vừa mát mình vừa khỏi phải chúi xuống bùn sâu làm gì cho bị ngộp, khó thở.</p>
<p>Đó là cá nơi những mương cạn vào mùa nắng tháng hai với những vạt lục bình che khuất mặt mương. Còn mương vườn, mương ruộng, rồi đìa cạn, đìa sâu vào mùa nắng những lúc làm lóng tát mương tát đìa, lục bình cũng làm cho cá tôm có nơi trú ngụ thật vô cùng lý tưởng. Khỏi phải nói rồi, như bạn biết, là mỗi khi tới giai đoạn bắt cá sau khi đìa mương tát cạn, chúng tôi nghe dưới lớp rễ của mình cá chen nhau lách mình đầy nhóc hết biết đường trở về sông sâu nước chảy.</p>
<p>Cái dở của các giống cá đen là cứ mê lục bình, không chịu rời khỏi những mương đìa ấy để ra sông sơm sớm mà còn có dịp mùa mưa năm sau trở lại những cánh đồng ngập nước vào tháng bảy, tháng tám để có thời giờ lo quậy ổ đẻ trứng nở ròng ròng cho những đời sau như chu kỳ mưa nắng cùng mùa màng của trời đất mà thong dong bơi lội giữa dòng đời .… Cái dở đó là do cá cứ ỷ y lục bình che chở chúng mãn đời, trong lúc đó lục bình giữ cho mình còn chưa rồi nói gì che chở cho ai được. Phải thế không bạn?</p>
<p>Rồi bạn ơi, có những năm tháng quá loạn lạc, nơi những hầm hố ao hồ, lục bình chúng tôi còn là những nơi kín đáo với biết bao lư đồng, ngựa gõ, chén bát tô tộ đủ loại sành sứ bên Tàu của những nhà giàu có phải bỏ nhà tản cư chạy giặc. Lúc túng cùng, người ta thường bỏ của chạy lấy người thì tất cả những gì quý giá ấy đều được chôn sâu dưới những hầm chứa trong vườn hoặc là đem nhấn lút dưới bùn trong các ao hồ dày đặc lục bình ấy để giấu bớt các vật quí ấy nhằm khi yên giặc trở về có mà dùng trong nhà. Loạn ly bạn ơi, ở đâu lục bình cũng vun chùn vì đâu có ai dám trở lại tát mương tát hầm gì được, nên lúc bấy giờ lục bình sống vững vàng lắm &#8230;. Cũng vào cái buổi loạn ly những năm 1939-1945, có một điều chúng tôi luôn luôn kinh hoàng phải chứng kiến những cảnh thây người trôi trên sông bám vào các dề lục bình mà mỗi lần hồi tưởng lại, lần nào cũng như lần nào, chúng tôi vô cùng ớn hồn, biết sợ cảnh đời chung quanh sao nhiều lúc quá điêu linh, điên đảo!</p>
<p>Không như lúc loạn lạc, khi thanh bình người ta sau mấy năm tản cư xa nhà nay đã trở về, người này lên liếp làm rẫy, người kia đào mương lập vườn, tới tháng nắng đám lục bình chúng tôi dày đặc lúc loạn ly nay bị chủ vườn vớt lên ủ vào các gốc cam gốc quít, bụi chuối, vườn trầu, đâu đâu lục bình vừa che nắng cho cây ấm gốc vừa làm phân cho cây khi rễ và thân chúng tôi mục rệu thành đất thành bùn. Vì vậy lục bình chúng tôi trong lúc khô chết cũng không thành vô ích nơi những kinh mương sông nước miệt vườn ruộng ấy. Phải thế không bạn?</p>
<p>Đó là đời sống của loài lục bình trên đìa mương nước không sâu cho lắm, nhưng nơi các sông sâu như sông Cửu Long từ Châu Đốc theo hai nhánh Tiền Giang, Hậu Giang dòng sông chạy dài xuống các địa danh xuôi dòng ra biển, loài lục bình vì rễ ngắn không bám vào đất bùn được nên chúng tôi lại tấp vô các mé sông nơi những đống chà, những vàm rạch mà lênh đênh trên mặt nước những tháng ngày. Thế rồi chúng tôi không có nơi nào là quê là nhà cố định hết. Chính vì thế vào những năm xa xưa có một hồn nghệ sĩ nhận ra kiếp sống bình bồng ấy và ông đã viết:</p>
<blockquote><p><em>Bèo giạt về đâu hàng nối hàng?        <br /></em><em></em><em>Mênh mang không một chuyến đò ngang.        <br /></em><em></em><em>Không cầu gợi chút niềm thân mật,        <br /></em><em></em><em>Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng…”(8)</em></p>
</blockquote>
<p>Bạn thử nhớ lại mà xem, lục bình chúng tôi có nơi nào là nhà là cửa gì đâu! Tháng chín, tháng mười người ta bắt đầu chặt cây chất chà cho cá vô ở cũng là lúc người ta vớt lục bình bỏ vô đống chà. Ở đó chúng tôi sanh sôi nẩy nở mau lắm và làm các dống chà ấm cúng thêm. Rồi cá trên sông thấy chỗ này ấm áp, yên tĩnh coi bộ an cư được nên chúng rủ nhau ghé lại rồi ở luôn hổng chịu bơi đi. Có đứa còn đào bùn quậy ổ trong đống chà để đẻ như cá ngát, tôm càng là mê mấy ụ chà dày đặc lục bình này dữ lắm. Những cái ổ tròn tròn miệng rộng bằng miệng thúng dê dùng để dê lúa, đáy ổ cá tôm láng coóng. Đang ở yên ấm như thế, cá tôm đâu biết gì bên dòng nước miên man trôi qua lại mỗi ngày. Bỗng một hôm nước kém, xuồng ghe tấp lại, người buông lưới, kẻ cắm say, người thả đăng, kẻ bao chà và rồi lục bình chúng tôi sống thành một rừng xanh mướt ấy bị mấy người dỡ chà tốc chúng tôi lên và ném ra giữa dòng sông nước chảy để chuẩn bị cho một kỳ gạn lưới dỡ chà vào những ngày nắng tháng giêng, tháng hai nơi vùng sông nước Cửu Long. Thế là chúng tôi mất nơi trú ngụ và trôi theo dòng nước xiết chẳng biết về tới bến nào!</p>
<p>Ngoài ra, cảnh đời bèo giạt của loài lục bình như câu thơ vừa kể còn là do những lúc dân ruộng nơi vùng lúa mùa này họ cần xã mương dọn cỏ vào những mùa vụ phát cỏ dọn mương, nên lục bình cũng ào ào được đùa đi, xô đẩy ra khỏi những kinh mương sông rạch nhỏ để trôi về sông lớn vào những tháng sắp sửa tát mương, tát đìa hoặc những tháng nước bắt đầu giựt sau mùa nước ngập. Do vậy mà mới có cảnh <em>“bèo giạt về đâu hàng nối hàng” </em>trên những dòng sông nước chảy xiết. Hai tiếng “<em>lục bình</em><em>,</em>” chúng tôi thiển nghĩ, chữ <em>“bình”</em> ngoài nghĩa đen chỉ định về một loài cỏ nổi có hình dáng như những chiếc lục bình để chưng bông mà người đời thường dùng nơi miền sông nước này, nó còn mang nghĩa bóng khác nhằm chỉ dòng đời loài cỏ chúng tôi luôn trôi giạt bềnh bồng vô định và chúng tôi thiển nghĩ, đây mới đích thực là một tên gọi rất phù hợp với kiếp sống phiêu bồng vô định của lục bình&#8230;</p>
<p>Bạn ơi, ngoài ra, được biết ở những nơi như các vùng đất Hoa Kỳ mà chúng tôi vừa kể bên trên, thỉnh thoảng có ai đó thích màu sắc thiên nhiên thì họ thường tìm đến các nơi bán cây cỏ sống trong nước nuôi trong ao hồ rồi mua chúng tôi về nuôi làm cảnh thi lúc bấy giờ lục bình lại có giá. Thường thường, mỗi nhánh lục bình vừa vừa với ba bốn lá và một chùm rễ không dài lắm, khách mua có khi phải trả với giá 10 đôla cho một nhánh nhe bạn chứ không có <em>“</em><em>giá bèo</em><em>”</em> như các nơi tràn ngập lục bình thuộc vùng sông rạch Cửu Long.</p>
<p>Thế mới biết dù chúng tôi vốn là bèo, nhưng vài dịp người ta lại bán mắt thấu trời. Nhắc về điều này, chúng tôi chợt nhớ nhiều món hàng rất cũ, rách te tua như sách cũ, tem thư cũ vậy mà có lúc có người mê nó cũng phải trả giá rất cao mới mang các bạn ấy về nhà được. Khi mua được món hàng mình mê rồi, ai mà không vui, trừ khi gặp món hàng dỏm thì mới buồn cho một giá mắt; nhưng lục bình chắc ít ai mua lục bình giả vì lục bình giả thì tự thân nó đã vô hồn vô cảm rồi làm sao mà dụ dỗ cảm hoá ai được&#8230;</p>
<p>Dĩ nhiên rồi, người có ý đập đổ thì mấy lúc gặp được những người có chút đam mê như vậy họ sẽ vui vì kiếm được thêm cho cái túi của họ một số tiền khá nặng. Thành ra, thường thường việc mua bán mắt rẻ là do luật cung cầu, nhiều thì rẻ, ít thì mắt nhưng cũng còn tùy nơi sở thích của người mua nữa. Khi người ta không thích cho dù là vàng, kim cương, ngọc ngà châu báu quyền cao tước trọng gì mà đem bán rẻ đi nữa, người ta vẫn không muốn mua…</p>
<p>Nhắc điều ấy thật tình chúng tôi cũng không có ý muốn tự tâng bốc mình làm gì vì ai ai cũng biết trên mặt đất này không có vật nào trời đất sanh ra nhằm mục đích bán chác, trao đổi mà mọi bán chác trao đổi ấy đều là do con người bày ra ráo trọi &#8230;</p>
<p>Bạn ơi,</p>
<p>Giữa dòng đời với biết bao phong ba bão táp này, lục bình chúng tôi cũng còn có chút an ủi là các nhà nghệ sĩ còn nghĩ tới mình chút chút. Những vần ca dao của giới bình dân nơi các làng quê miền Tây còn nhớ tới chúng tôi khá bộn. Chẳng hạn như:</p>
<p><em>Hạc giao đầu, phụng lại giao đuôi,      <br /></em><em></em><em>Anh về ở dưới bỏ tui một mình.      <br /></em><em></em><em>Nước trôi cuốn cụm lục bình,      <br /></em><em></em><em>Anh đi sông biển biểu mình đừng nhớ thương.</em></p>
<p>Có một bạn trẻ vùng Cà Mau cũng nhắc về lục bình, cô ấy viết<em>:</em><em> </em><em>“Có lần đi Kiên Giang, qua phà Tắc Cậu, tôi</em> <em>lại thấy ở lục bình một hình ảnh khác, rất “đời”. Nơi này gần cửa biển, lục bình từ các sông trôi đến dìu dập. Nhưng lạ, bầy đàn đông đúc, mà có vẻ tan tác cô đơn. Hăm hở trước biển khơi mà như dùng dằng nuối tiếc dòng nước cũ. Lựa chọn nhưng vẫn hoài nghi, hoang mang. Hay lục bình chỉ là lục bình thôi, chỉ tôi gởi tâm trạng của mình vào rồi thấy mình là lục bình trôi trôi ngơ ngác.</em></p>
<p>xxx</p>
<p><em>Và chiều nay, trong cái quán lạ bên dòng sông xa lạ, tôi hơi đắn đót bởi ý nghĩ, con người ta còn tự cầm tù mình bằng những ảo vọng ngông cuồng được thì sá gì đám lục bình hèn mọn này, sá chi con chim trong lồng kia… Thôi, trở vô bàn ăn sướng hơn. Mình cũng bị nhốt như đám lục bình đó, mắc gì tiếc thương cho chúng.”(9)</em></p>
<p>Và cũng từ miền Rạch Giá, Kiên Giang ấy, có một nhà nghệ sĩ với cái tên là Lý Dũng Liêm, đã nhân cách hoá tôi với một người con gái qua lời bài hát <em>“Hoa Tím Lục Bình”</em> trữ tình, tha thiết biết bao:</p>
<blockquote><p><em>Có một loài hoa buồn trôi lững lờ        <br /></em><em></em><em>Theo nước hững hờ trôi mãi về đâu</em><em>        <br /></em><em></em><em>Mãi trôi, trôi chẳng hết sầu        <br /></em><em></em><em>Nên loài hoa ấy đượm màu tím (tìm) thương</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Có một loài hoa vừa đi vừa nở        <br /></em><em>Em lấy chồng rồi anh ở vậy thôi        <br /></em><em>Nữa mai trông đứng nhớ ngồi        <br /></em><em>Biết loài hoa ấy vừa trôi vừa buồn</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Loài hoa ấy, Lục bình        <br /></em><em>Loài hoa ấy là đời em        <br /></em><em>Dòng sông ấy vô tình        <br /></em><em>Chở hoa về bên anh</em></p>
<p><em>Loài hoa ấy, Lục Bình        <br /></em><em>Loài hoa ấy là tình em        <br /></em><em>Tình yêu ấy âm thầm        <br /></em><em>Niềm vui cũng lặng câm</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Em ơi em, sao em không nói lời nào        <br /></em><em>Cho anh ru thành lời ca dao        <br /></em><em>Nở chi hoa tím Lục Bình        <br /></em><em>Trôi chi trôi giữa dòng tình đôi ta” (10)</em></p>
<p><em></em></p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/nsLyDungLiem.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="nsLyDungLiem" border="0" alt="nsLyDungLiem" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/nsLyDungLiem_thumb.jpg" width="329" height="234" /></a></p>
<p align="center"><em>Nhạc sĩ Lý Dũng Liêm (Hình do Huỳnh Công Tử tặng)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thưa bạn,</p>
<p>Qua câu chuyện về một loài bèo như lục bình mà chúng tôi vừa tự thuật để làm quà cùng bạn thật ra lục cũng chỉ là một loài cỏ nổi như bao loài cỏ khác trên mặt đất này, chẳng lấy gì làm đặc biệt &#8230;. Qua bao vật đổi sao dời, qua bao bận sông sâu sông cạn, qua bao mùa nắng cháy mưa dầm bùn lầy nước đục, thân phận của loài bông trôi trên sông chúng tôi cũng theo dòng đời mà trôi nổi phong trần. Đó có lẽ là kiếp bèo giạt rất hợp với câu thơ của thi sĩ Quách Tấn trong một lần tâm sự cùng nhà văn Nguyễn Hiến Lê thuở nào:</p>
<p><em>“Đục trong phú chẳng thua bần,      <br /></em><em></em><em>Gặp phong trần cũng phong trần như nhau.”(</em><em>11</em><em>)      <br /></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Kinh xáng Bốn Tổng ngày 10 tháng 12 năm 2011</em></p>
<p><em></em></p>
<p><strong>Cước chú:</strong></p>
<p><em>1</em><em>&amp;2/ Theo</em><em> </em><em>“Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam” của giáo sư Đỗ Tất Lợi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, năm 2005, trang 129.</em></p>
<p><em>3/ Theo Cây Cỏ Miền Nam của giáo sư Phạm Hoàng Hộ do Trung tâm học Liệu Bộ Giáo Dục xuất bản, quyển II, năm 1972, trang 639.</em></p>
<p><em>4</em><em>/</em><em> Bài “Lục Bình Tim Tím” của tác giả Tạ Phong Tần, trang mạng tạp chí Trẻ News, mục Hương Vị Quê Hương, ngày 21-07-2011.</em></p>
<p><em>5</em><em>/</em><em>Theo Tự Điển Bách Khoa Mở Wikipedia</em></p>
<p><em>6</em><em>/</em><em> Theo “Cây Cỏ Miền Nam” của giáo sư Phạm Hoàng Hộ (sđd).</em></p>
<p><em>7</em><em>/</em><em> Theo “Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam” (sđd ở cước chú 1).</em></p>
<p><em>8</em><em>/</em><em> Thơ Huy Cận, theo cuốn Du ký và Biên khảo “Bảy Ngày Trong Đồng Tháp Mười” của Nguyễn Hiến Lê, loại sách Học Làm Người xuất bản, năm 1954, trang 93.</em></p>
<p><em>9/Trích bài Lục Bình của Nguyễn Ngọc Tư trong tập “Sống Chậm Thờ @” của Nguyễn Ngọc Tư &amp; Lê Thiếu Nhơn, nhà xuất bản Thanh Niên, năm 2006, trang 5.</em></p>
<p><em>10/ Nhạc phẩm “Hoa Tím Lục Bình” do nhạc sĩ Lý Dũng Liêm quê Rạch Giá sáng tác, nhờ sự chép lại theo trí nhớ của thi sĩ Ngu Yên, một bản nhạc mà Ngu Yên rất thích và mỗi khi có buổi họp mặt các bạn thường đề nghị Ngu Yên ôm đàn và hát bản nhạc này với giọng trầm buồn, tha thiết và truyền cảm.</em></p>
<p><em>Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy thêm lời bài hát này trên internet nguyên văn dưới đây, nhưng khi hát, ca sĩ hát giống như lời của Ngu Yên ghi có câu: </em><em>“Có một loài hoa vừa đi vừa nở”(không phải “trôi” và theo Ngu Yên chữ “đi” mới là lạ và hay trong trường hợp này):</em></p>
<blockquote><p><em>Có một loài hoa buồn trôi lững lờ        <br /></em><em></em><em>Theo nước hững hờ xuôi mãi về đâu        <br /></em><em></em><em>Vẫn trôi trôi chẳng hết sầu        <br /></em><em></em><em>Nên loài hoa ấy đượm màu tím thương</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Có một loài hoa vừa đi vừa nở        <br /></em><em></em><em>Em lấy chồng rồi anh ở vậy thôi        <br /></em><em></em><em>Nữa mai thương đứng nhớ ngồi        <br /></em><em></em><em>Biết loài hoa ấy vừa trôi vừa buồn</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Loài hoa ấy lục bình        <br /></em><em></em><em>Loài hoa ấy đời em        <br /></em><em></em><em>Dòng sông nỡ vô tình        <br /></em><em></em><em>chở hoa về bến mới</em></p>
<p><em>Loài hoa ấy lục bình        <br /></em><em></em><em>Loài hoa ấy đời em        <br /></em><em></em><em>Tình yêu ấy âm thầm        <br /></em><em></em><em>niềm đau cũng lặng câm</em></p>
<p><em>Em ơi sao không nói lời nào        <br /></em><em></em><em>Cho anh ru thành lời ca dao        <br /></em><em></em><em>Nở chi hoa tím lục bình        <br /></em><em></em><em>Trôi chi trôi giữa dòng tình đôi ta</em></p>
<p><em>(Lý Dũng Liêm)</em></p>
</blockquote>
<p><strong><em></em></strong></p>
<p><em>11</em><em>/ Thơ của Quách Tấn, trích trong “Những </em><em>B</em><em>ức </em><em>T</em><em>hư </em><em>Đ</em><em>ầm </em><em>Ấ</em><em>m”, do nhà xuất bản Tổng Hợp Tp. HCM xuất bản, năm 2010, trang 162, lá thư gởi Nguyễn Hiến Lê đề ngày 10-6-1978.</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23142/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tr&#242; chuyện c&#249;ng anh Hai An Ph&#250; nhơn ng&#224;y giỗ thứ tư của nh&#224; văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa</title>
		<link>http://damau.org/archives/21454</link>
		<comments>http://damau.org/archives/21454#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 27 Sep 2011 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hai Trầu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/21454</guid>
		<description><![CDATA[Tôi không phải là nhà văn như vài người bạn vui đùa quá lời. Tôi viết vì ở thế cùng cực, như viết nhựt ký và hồi ký, để giải tỏa căn bịnh ẩn uất tâm lý ...bị từ [hồi còn] nhỏ, đang lành bịnh khi xong nợ ngân hàng, bịnh lành hẳn, lúc đó hết luôn nghiệp văn.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/09/LNN_Cali2006.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="LNN_Cali2006" border="0" alt="LNN_Cali2006" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/09/LNN_Cali2006_thumb.jpg" width="221" height="241" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Chân dung nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa (1941-2007)        <br />(Nguồn: </em></font><a href="http://www.google.com/imgres?q=phong+h%C6%B0ng+l%C6%B0u+nh%C6%A1n+ngh%C4%A9a&amp;um=1&amp;hl=en&amp;sa=N&amp;biw=1280&amp;bih=671&amp;tbm=isch&amp;tbnid=ljR4SGNVHLyQlM:&amp;imgrefurl=http://www.thatsonchaudoc.com/&amp;docid=dBrdHwLVoysJ-M&amp;w=217&amp;h=237&amp;ei=h6N_Tq3kN-bb0QH7wc0O&amp;zoom=1&amp;iact=hc&amp;vpx=336&amp;vpy=162&amp;dur=1613&amp;hovh=189&amp;hovw=173&amp;tx=83&amp;ty=126&amp;page=1&amp;tbnh=154&amp;tbnw=156&amp;start=0&amp;ndsp=18&amp;ved=1t:429,r:1,s:0" target="_blank"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Thất Sơn Châu Đốc</em></font></a><font size="2" face="Times New Roman"><em>)</em></font></p>
<p align="center"><em><font size="2" face="Times New Roman"></font></em></p>
<blockquote><p><b>Lời giới thiệu của người thực hiện: </b><i>Lúc thiếu thời, nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa cùng học trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) với anh Hai An Phú tức nhà văn Khiêm Cung Dương Văn Chung, dù khác niên học khá xa vì tuổi tác mỗi người có khác nhau, nhưng sau này khi cùng định cư tại Úc Đại Lợi, hai anh lại quen biết và gần gũi thân thiết với nhau. Nhơn dịp kỷ niệm ngày giỗ lần thứ tư của nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa,(mất ngày 27-9-2007), anh Hai An Phú có nhã ý nhắc lại vài kỷ niệm với người bạn năm xưa của mình qua buổi trò chuyện này. Xin được trân trọng giới thiệu cùng các bạn đọc xa gần…</i></p>
<p><i>Trân trọng,</i></p>
<p><i>Hai Trầu        <br /></i><i>Kinh xáng Bốn Tổng, tháng 9 năm 2011</i></p>
</blockquote>
<p><i></i></p>
<p><b></b></p>
<p><b>Hai Trầu (HT)</b></p>
<p>Thưa anh Hai An Phú,</p>
<p>Anh và nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa quen nhau hồi còn theo học trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa (Châu Đốc) những năm 1950 hay mới quen nhau sau này, thưa anh Hai ?</p>
<p><b>Anh Hai An Phú (HAP)</b></p>
<p><i>Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,</i><i></i></p>
<p><i>Tôi học Trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc đến hết lớp Đệ Tam (Niên khóa 1954/55), tôi đi Sài Gòn học, không biết anh Nghĩa nhập học Thủ Khoa Nghĩa năm nào, trước hay sau khi tôi đi Sài Gòn học. Do đó anh Nghĩa và tôi không có quen nhau lúc còn ở Việt Nam, nhưng có biết vợ chồng tôi là người Châu Đốc lớn tuổi hơn anh và là đồng môn Thủ Khoa Nghĩa đang định cư ở Sydney và đang làm công quả ở một chùa Phật, anh muốn tìm thăm.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Khoảng năm 2003 (tôi nhớ không rõ), có một Sư Cô từ chùa Phước Huệ Sydney đi thăm các chùa ở Brisbane (Tiểu bang Queensland-Úc), gặp anh Nghĩa công quả ở một trong các chùa đó, anh Nghĩa hỏi thăm Sư Cô có người nào tên&#160; Chung và vợ là chị Phấn, người Châu Đốc, đang công quả ở chùa Phước Huệ không? Sư Cô nói không biết tên ngoài đời nhưng có cặp vợ chồng có pháp danh Thiện Châu và Huệ Ngọc, người Châu Đốc, đang công quả ở đó. Anh Nghĩa gởi Sư Cô tên, địa chỉ và số điện thoại của anh, nhờ Sư Cô đưa cho tôi và dặn nếu đúng là vợ chồng tôi thì liên lạc với anh, anh rất mong tiếp chuyện với chúng tôi. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Chúng tôi quen biết nhau từ đó và liên lạc bằng thư từ và điện thoại nhắc lại nhiều kỷ niệm về Châu Đốc và trường cũ. Chính anh Nghĩa giới thiệu tôi mới biết có Trang nhà Thất Sơn Châu Đốc mà những người sáng lập là hai bạn đồng môn Đoàn Đông và Lộc Tưởng.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Thưa anh Hai An Phú,</p>
<p>Trong những câu chuyện hai anh cùng nhắc lại, có câu chuyện nào mãi đến nay anh còn nhớ? Ngoài ra, lúc bấy giờ anh có biết anh Lưu Nhơn Nghĩa là nhà văn Phong Hưng chưa, thưa anh Hai ?</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><b></b></p>
<p><i>Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,</i></p>
<p><i>Trước khi trả lời câu hỏi của anh Hai về những chuyện trao đổi giữa anh Nghĩa và tôi, tôi xin đính chánh lại về thời gian anh Nghĩa và tôi bắt đầu quen nhau, tôi nhớ lại là khoảng trên 15 năm rồi, như vậy là khoảng năm 1994-1995, không phải năm 2003. </i></p>
<p><i>Đúng như anh Nghĩa có lần nhìn nhận trong Những Mảnh Vụn Cuộc Đời, anh là một người già chuyện, mỗi khi điện cho tôi, hai đứa nói với nhau “gần cháy máy điện thoại”, anh nói chuyện rất vui, rất hấp dẫn, rất chân tình.</i></p>
<p><i>Mặc dầu là đồng môn Thủ Khoa Nghĩa, nhưng không đồng thời, nên chẳng có nhiều kỷ niệm chung nơi trường cũ, quý vị Hiệu Trưởng và quý Thầy Cô thời tôi học hầu hết đã rời khỏi trường trước khi anh Nghĩa đến học.</i></p>
<p><i>Lúc trò chuyện với nhau, có lẽ Nghĩa cũng như tôi đều mường tượng đến một ngôi trường cũ ở một tỉnh giáp biên giới Miên,&#160; từ văn phòng cho đến các dãy lớp học, từ cái cổng trường cho đến cây cột cờ. Anh cũng đưa tôi đi trên “Con Đường Cũ”, con đường Bảo Hộ Thoại có dãy phố công chức mà anh và vợ chồng tôi đã từng sống ở đó. Nghĩa ở trọ nhà Thầy Giáo Khá, mấy căn kế cận có nhà Ông Đốc Đồng, Nhà Thầy Phương, Thầy Rớt…v.v</i><i>. Đi tới một chút nữa, bỏ một con đường nhỏ thì tới dẫy phố Ông Bà nhạc của tôi ở, lân cận có nhà Thầy Giáo Tỵ; Thầy Ba Minh và Thầy Ba Ngươn làm việc ở Tòa Bố (Tòa Hành Chánh Tỉnh), Ông Bác Vật (Kỹ sư) Kim tức là Thầy Trần Sun, thầy dạy chúng tôi ở trường Thủ Khoa Nghĩa, Thầy Ba Thoại làm việc ở Ty Nông Nghiệp, còn Ông nhạc của tôi là Thầy Hai Tấn làm ở Nhà Thương (Bệnh viện) Châu Đốc. Làm sao tôi quên được con đường Bảo Hộ Thoại mà vợ chồng tôi có nhiều kỷ niệm từ lúc mới quen nhau cho đến khi thành vợ thành chồng. </i></p>
<p><i>Anh Nghĩa là người đi săn tìm kỷ niệm, anh thường hỏi tôi về những ngày xa lắt xa lơ. Sau khi mẫu thân của anh Nghĩa mất tại Úc, anh đem tro cốt về quê nhà, anh có đến thăm ngôi trường Thủ Khoa Nghĩa, anh muốn chụp hình ngôi trường để làm kỷ niệm, người giữ trường không cho và nói rằng trường đã quá cũ, xấu xí, anh chụp hình đem ra nước ngoài, người ta sẽ khinh nước mình nghèo, anh Nghĩa thăm&#160; Tri Tôn (Xà-Tón) thì cảnh đã quá đổi thay, anh không còn nhận ra vị trí ngôi nhà cũ của anh, phố xá hoàn toàn khác, người cao tuổi đã chết, tốp trẻ thì anh không quen. Khi trở qua Úc anh than với tôi: Về quê nhà, tôi hăm hở đi tìm kỷ niệm, nhưng đã thất vọng não nề, mọi việc đều xa lạ. </i></p>
<p><i>Tôi rất thông cảm với Nghĩa, năm 2007 trong chuyến về thăm Việt Nam, tôi ghi tên đi du ngoạn Hà Tiên, mục đích để có dịp gợi lại những kỷ niệm cũ ở những nơi tôi đã từng sống: con đường về miền Tây qua cây cầu Bến Lức một chiều, ở hai đầu cầu có bán khóm ngọt lịm như rim đường, qua Trung Lương có quán hủ tiếu Mỹ Tho, Bắc Mỹ Thuận phải chờ đò, hàng quán mua bán tấp nập…, qua Long Xuyên đến Châu Đốc quê tôi, tôi ước mơ nhìn lại dãy phố Bảo Hộ Thoại ngày xưa, rồi con đường vào Núi Sam mà hai bên đường nhà cửa lưa thưa, ngồi trên xe sẽ nhìn thấy được nước ruộng hai bên bờ, rồi đến Núi Sam với Miểu Bà Chúa Xứ, qua Nhà Bàng, Núi Két đến Văn Giáo, Chợ Voi, rồi đến Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng, nơi tôi từng làm việc trong thời gian tại ngũ, Hà Tiên là nơi vợ chồng tôi đến thăm sau ngày cưới.</i></p>
<p><i>Tôi cũng thất vọng như anh Nghĩa: Cầu Bến lức bây giờ hai chiều, xe chạy thông thương ít khi dừng lại để khách mua khóm ngọt, Trung Lương bây giờ cất lại mới, cầu Mỹ Thuận thay cho bến Bắc, hàng quán và mấy chiếc bắc bây giờ còn đâu, không còn nghe tiếng rao hàng lảnh lót, Long Xuyên phố xá tráng lệ, khang trang, nhà lồng chợ Châu Đốc vẫn còn cũ kỷ như xưa, nhà cửa xây cất lại, dãy phố Bảo Hộ Thoại đổi khác, đường vào Núi Sam nhà cửa bít kín hai bên đường, Miểu Bà bây giờ là khu thương mại tấp nập, cây cối và nhà cửa sầm uất che mất Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng. Hỏi Trung Tâm Huấn Luyện Chi Lăng cũ ở chỗ nào thì lơ xe trả lời chỗ bảng “Quân Đội Nhân Dân” vừa chạy qua khỏi, đi vào sâu phía trong, bến Đò Tô Châu một cái tên thân thương và thơ mộng ở Hà Tiên bây giờ không còn nữa, thay vào đó là một cây cầu. Tôi cũng thất vọng như anh Nghĩa, hai đứa tôi đều có chung cái cảm giác ngỡ ngàng trước những đổi thay giống như hai chàng Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai trở về.</i></p>
<p><i>Thưa anh Hai,</i></p>
<p><i>Lúc mới quen anh Nghĩa tôi không biết anh ấy viết văn. Dần dần anh gởi cho tôi những truyện ngắn anh viết, viết tay hoặc đánh máy, ký tên Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa. Vợ chồng tôi và sắp nhỏ thích đọc truyện ngắn của anh, vì lối văn binh dân của anh dễ thấm nhập vào tâm hồn của những người xuất thân từ nông thôn như chúng tôi. Tôi thường nói Nghĩa là cháu ruột của Hồ Biểu Chánh. Đến năm 2001, Nghĩa tặng tôi quyển Như Cánh Chuồn Chuồn, các con tôi chuyền tay nhau đọc.</i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Thưa anh Hai An Phú,</p>
<p>Là một người đồng hương, cùng trường, cùng xa cố hương, cùng có ý tìm về cái cũ hầu tìm lại chút hình bóng xưa vào những ngày còn ngụ cư nơi con đường Bảo Hộ Thoại, Châu Đốc, một thời tuổi học trò ấy và rồi anh không vui vì thời gian và cảnh đời dời đổi quá nhiều. Nhưng khi anh đọc văn của anh Lưu Nhơn Nghĩa anh rất thích như anh tâm sự<i>:&quot;</i><i>Vợ chồng tôi và sắp nhỏ thích đọc truyện ngắn của anh, vì lối văn binh dân của anh dễ thấm nhập vào tâm hồn của những người xuất thân từ nông thôn như chúng tôi.&quot;</i>. Vậy, thưa anh Hai, qua các truyện ngắn và bút ký trong hai tác phẩm <i>Như Cánh Chuồn Chuồn (1) và Con Đường Cũ (2),</i> xin anh Hai có thể kể cho biết anh mê nhất truyện nào và vì sao thưa anh ?</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><i>Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,</i><i></i></p>
<p><i>Tôi rất khó trả lời câu hỏi của anh Hai: qua các truyện ngắn và bút ký trong hai tác phẩm Như Cánh Chuồn Chuồn và Con Đường Cũ, tôi mê nhất truyện nào và vì sao? </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Khó trả lời là vì truyện nào tôi cũng mê, mỗi truyện có cái đặc sắc của nó, cứ để thử hai truyện nào đó lên hai bàn tay để cân hạo, khó kết luận truyện nào nặng hơn, ví dụ trong Như Cánh Chuồn Chuồn, Chuyến Xe Cuối Năm, tôi xem là tiểu thuyết vì có nhiều chỗ hư cấu, trong đó nhân vật chánh là Chú Bảy Tề tài xế, từng trải việc đời, có tay nghề, hào hoa phong nhã, tằng tịu với Cô Út, “khách bộ hiền”, chở hàng đi bán; về sau già yếu, lụt nghề, bị chủ xe bỏ rơi, người yêu rời xa, lơ xe cũng ăn hiếp, “nhà sập bìm bìm leo” mà “bìm bìm leo thì hắc sửu cũng leo”, tôi nói truyện này hay vì nội dung câu chuyện rất sát với đời thường, lại còn đệm thêm nhiều câu hát huê tình rất đúng chỗ. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Nhưng tôi lại chọn truyện Như Cánh Chuồn Chuồn hơn vì nó phản ảnh gần một nửa cuộc đời lêu lỏng của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, Nghĩa như con cóc, bị Ông thân bắt bỏ trong cái dĩa, mới để vào cái dĩa, con cóc lại nhảy ra, mới được đưa vào học ở trường Hoa, bắn nạng dàng thung gây thương tích cho học sinh trường khác, bị đuổi học, Ông già đưa vào học chữ Miên rồi cũng nghỉ, đưa qua học chữ Pháp, chữ Việt thì rớt lên rớt xuống, thi sáu lần không đậu bằng Trung học đệ nhất cấp…; đặc biệt trong truyện có mối tình e ấp giữa Lưu Nhơn Nghĩa và cô bạn học người Hoa ở tiệm đối diện tên Thục Linh, đẹp và khả ái, có duyên với nhau nhưng không có nợ; trong truyện nầy, tác giả có những cú pháp rất chuẩn xác, như:</i><i> </i><i>Bầm dập cuộc đời.</i><i>..(trang 5/6)</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tả lúc Thục Linh dẫn ba đứa con nhỏ đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thăm chồng đi quân dịch, khi ra về tay ẵm tay bồng, mà còn một đứa níu vạt áo chạy theo, Trung Úy Nghĩa&#160; hào hiệp tiếp cõng một đứa đưa lên xe lam, Thục Linh và Nghĩa mới bất chợt nhận ra nhau, ngỡ ngàng, Nghĩa viết: <b>“Khách bộ hành xô đẩy ba mẹ con Thục Linh vào trong xe nổ máy ầm ầm chạy khỏi bến. Thục Linh ôm ba con cúi đầu chào, tôi bất giác cúi chào lại, cả hai cúi chào duyên số hẩm hiu” (Trang 5/6).</b></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tả lúc Ông Thoại Ký, cha của Thục Linh, khổ sở vì phải hối lộ dài dài cho cảnh sát, quân cảnh… để lo cho chồng Thục Linh đào ngũ, Nghĩa viết: “<b>Ông</b> <b>lắc đầu, uống ngụm cà phê đen, nhìn ông thân tôi,&#160; nuốt cà phê như nuốt hận vào lòng:-Phải mình là xin kê, tôi đâu có lo lính tráng cho thằng Din Nghĩ?” (Trang 6/6).</b></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Như Cánh Chuồn Chuồn đã ghi lại hơn một phần ba cuộc đời của Lưu Nhơn Nghĩa, từ niên thiếu đến tuổi biết yêu, anh nói tất cả những khuyết điểm của mình như một con chiên xưng tội, tôi mến phục Lưu Nhơn Nghĩa ở cái tánh chân thật của anh.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Nếu chọn Như Cánh Chuồn Chuồn mà không chọn Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời trong quyển Con Đường Cũ (trang 177-185) sẽ bị trách là không đầu không đuôi. Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời là bài mà tôi mê nhất đó anh Hai, vì:</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tôi chưa từng thấy ai binh tĩnh như Lưu Nhơn Nghĩa trước cái chết gần kề; anh chuẩn bị dời về căn nhà cũ gần thành phố, nhìn từng đồ vật mà anh tích tụ bấy lâu, từ phim ảnh, dĩa nhạc đến sách truyện, anh nhớ từng nhân vật trong phim, trong truyện, anh phê binh các bản dịch thơ phú, văn chương, hiểu biết của anh quá sâu rộng qua những tác phẩm viết bằng Anh, Pháp, Việt và Hán. Anh nhìn 78 cuốn nhựt ký và bao nhiêu vật kỷ niệm trong cuộc đời, anh không biết thứ nầy cho ai, thứ kia tặng ai; bao nhiêu chuyện quá khứ hiện về, thành có, bại có, nên có, hư có, rồi anh thành tâm sám hối:</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i><b>“Sinh vùng quê nghèo, lớn lên thiếu sức khỏe, 11 tuổi xa quê tới nay, thiếu không khí và giáo dục gia đình. Suốt bao nhiêu năm sống, đủ hỷ nộ ái ố, tham sân si. Tính tôi đơn giản, nông cạn, kém thông minh, học rất chậm mà siêng năng, không ưa danh vọng, chỉ ham sắc, ham tiền và du lịch. Lúc thì mặc cảm lẫn tránh, lúc thì nông nỗi, tự cao tự đại, mục hạ vô </b></i><b><i>nhân, lúc ti ti</i></b><b><i>ệ</i></b><b><i>n t</i></b><b><i>ừ</i></b><b><i>ng xu, lúc xài vô l</i></b><b><i>ố</i></b><b><i>i, tính b</i></b><b><i>ấ</i></b><b><i>t th</i></b><b><i>ườ</i></b><b><i>ng, nhiều người ơn kẻ oán, thù chắc không có.</i></b><i></i></p>
<p><b><i>Trước khi đi, còn nhớ, xin thế gian quên cho những lỗi lầm vô tình hay cố ý, cám ơn ân nhân giúp đỡ khi túng bấn, nguyện trả khi có cơ hội kiếp lai sinh</i></b><i>.”</i></p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><i>Thật là vẹn tròn, còn ai nỡ hờn ghét gì anh nữa?</i></p>
<p><i>Anh nói:</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b><i>“Ngày đi đầu thai, biết về đâu? Về VN là hết hy vọng, ai bảo lãnh qua ngoại quốc. Nghiệp dẫn đi đâu, làm đơn gởi xin được thác về làng Muruparra Bắc New Zealand vắng vẻ, đào củ kumera nung đá, thành món hangi thơm mùi khói, ăn no, chạy chơi thong dong qua cánh rừng thưa bạt ngàn.”</i></b><i></i></p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><i>Sau cùng với tư tưởng Phật giáo, anh niệm câu chú trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa, nguyện được đến bờ giác bên kia:</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b><i>“Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha.”</i></b><i></i></p>
<p><b><i></i></b><i></i></p>
<p><i>Hy vọng anh Nghĩa được toại nguyện.</i><i></i></p>
<p><i>Còn anh thì anh mê truyện nào của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, anh Hai?</i><i></i></p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Rất cảm ơn anh Hai chia sẻ vài cảm nhận qua các truyện của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, những nhận xét rất khách quan mà gần gũi, rất thân thiết mà trung thực. Riêng tôi, cùng tuổi già như anh Hai, cùng nhớ về một thời quê nghèo, cùng thương mến sông nước vùng mình và nhứt là cùng lận đận trong những ngày còn nhỏ học hành trễ nải, rồi cứ rớt lên rớt xuống nhiều keo, nên tôi rất cảm thông với những đoạn đời nhiều nhiêu khê qua những mùa thi cử ấy của anh Lưu Nhơn Nghĩa. Nhưng tôi dở hơn anh Lưu Nhơn Nghĩa nhiều vì thời tiểu học rồi trung học anh ấy lận đận như vậy nhưng nhờ ý chí vươn lên, nhờ trời phú cho tính nhớ dai và nhờ thông thái ở những ngày học đại học nên anh ra trường với bằng Đại học Sư Phạm và bằng Cử nhân Anh Văn, những mảnh bằng rất mực hiếm hoi lúc bấy giờ và cả sau này khi tôi vào đời, quả là một điều mà tôi vô cùng nể phục. Anh ấy xứng đáng là bậc thầy của tôi đó anh Hai.</p>
<p>Còn văn anh Lưu Nhơn Nghĩa thì khó so sánh với ai vì cái nét độc đáo trong cách viết riêng của ảnh vừa bác học mà vừa bình dân, vừa kể chuyện mà cũng vừa viết truyện, vừa chua chát mà vừa dí dỏm, vừa trách hờn mà cũng vừa thương cảm những cảnh đời nữa nên tôi nghĩ văn Lưu Nhơn Nghĩa là một bức tranh đời cùng khắp những nơi anh đã đi qua và sống với nó như hình với bóng khó mà ai đủ tài năng vẻ lại những cảnh đời như anh ấy được anh Hai à! Thành ra, tôi chỉ còn biết bái phục một nhơn tài của vùng Tri Tôn-Xà Tón như ảnh mà tôi tin còn lâu lắm vùng đất heo hút này mới có được một người thứ hai như anh ấy.</p>
<p>Nhớ có lần anh có kể là anh đi thăm anh Lưu Nhơn Nghĩa tuốt dưới Brisbane, anh có thể nhắc lại chuyến đi này cho em út nghe chơi anh Hai. Có gì vui, có gì lạ và có gì làm anh còn nhớ tới bây giờ ?</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><i>Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,</i><i></i></p>
<p><i>Nghe tin bệnh của anh Nghĩa không thuyên giảm và bệnh viện chưa tìm được tủy sống thích hợp để cấy trị bệnh cho anh, khoảng tháng 02/2006, tôi cùng với Giáo sư Trần Thiện Hiếu đi máy bay đến Brisbane thăm anh Nghĩa. Giáo Sư trước kia là Thầy dạy anh Nghĩa môn Việt Văn lớp Đệ Ngũ tại Trường Trung học Thủ Khoa Nghĩa Châu Đốc, hiện Thầy đang định cư tại Sydney, cách nhà tôi chừng năm phút lái xe.</i><i></i></p>
<p><i>Thầy Hiếu và tôi rất đỗi vui mừng khi gặp anh Nghĩa ra đón chúng tôi tại phi trường Brisbane. Tuy mặt anh Nghĩa hơi xanh -hình như da dẻ của anh lúc nào</i> <i>cũng vậy-nhưng anh có vẻ khỏe khoắn, linh hoạt và cười nói không dứt. Tôi nói như để ủy lạo anh: bữa nay coi anh khỏe ra! Anh cười: Mới vô máu thì khỏe vậy đó, gần tới ngày vô máu nữa thì bèo nhèo. Hôm đó là ngày Thứ sáu, anh Nghĩa đưa Thầy Hiếu và tôi về khách sạn nhận phòng, rồi anh nói xin phép đi ra Tòa làm thông dịch, xong anh sẽ trở lại. Thông dịch xong, anh quay trở lại khách sạn hàn huyên với Thầy Hiếu và tôi đến khuya.</i><i></i></p>
<p><i>Anh Nghĩa rất bận rộn, những ngày cuối tuần anh vẫn đi hội họp, làm Hiệu Trưởng một trường Việt ngữ, gồm 14 lớp, 240 học sinh, chia ra 9 cấp lớp (mở tại Trường Tiểu học công lập Darra State School). Học sinh học Việt ngữ mặc đồng phục, chào cờ và xếp hàng trước khi vào lớp, đang học thấy có khách đến, cả lớp nhất loạt đứng lên chào kính. Nhìn thấy sinh hoạt của các em, tôi nhớ lại tuổi học trò thời của anh em mình, công dân giáo dục và luân lý là môn học được xem trọng, đang đi trên đường gặp người già cả cũng giở nón cúi chào. Dạy học trò có nề nếp theo thuần phong mỹ tục ngày xưa như ở trường Việt Ngữ của anh Nghĩa thật là hiếm có.</i><i></i></p>
<p><i>Ngày Chủ nhật anh Nghĩa lái xe đưa Thầy Hiếu và tôi ra phi trường Brisbane để trở về Sydney. Giọng nói và nụ cười của anh Nghĩa vẫn còn in đậm trong tâm trí của tôi đến bây giờ.</i><i></i></p>
<p><i>Vào khoảng đầu hạ tuần tháng 09 năm 2007, anh Nghĩa gọi điện thoại cho tôi biết anh sẽ nhập viện trở lại và lần nầy có thể người ta sẽ hóa trị cho anh, một là anh sẽ khỏi, hai là anh sẽ đi luôn. Qua ngày sau tôi điện thoại vô bệnh viện, họ chuyển điện thoại cho anh, tôi hỏi thăm sức khỏe của anh và hỏi anh đang làm gì. Nghĩa trả lời bệnh viện đang xét nghiệm thêm gì đó, anh tận dụng thời gian trống, tiếp tục viết bài. Thật đáng bái phục! Anh đã làm việc và viết văn đến hơi thở cuối cùng!</i><i></i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Thưa anh Hai,</p>
<p>Quả đúng như anh nói, trong văn giới hiện nay tôi chỉ thấy có hai người “<i>viết văn đến hơi thở cuối cùng”</i>. Đó là nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa với <b><i>“Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời” (3) và </i></b>nhà văn Phạm Chi Lan với <b><i>“Những Giấc Mơ Trong Bịnh Viện</i></b><i>”(4)</i>. Theo tôi, đây là hai áng văn tuyệt tác chẳng những nó hay vì văn chương đã đành, mà nó còn là một vẻ đẹp tuyệt diệu ngời sáng do bởi tấm lòng, nghị lực và ý chí chống chọi của hai anh chị nhà văn với những cơn đau hành hạ bởi căn bệnh quái ác, cùng sự hung bạo của tử thần bằng những dòng chữ mang chứa những ý nghĩa cao đẹp cùng mầm sống trong mỗi nhà văn nó mãnh liệt biết bao!</p>
<p>Qua <i>“Lời phân trần”</i> trong cuốn <em>Như Cánh Chuồn Chuồn</em>, Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa viết: <b><i>“Tôi không phải là nhà văn như vài người bạn vui đùa quá lời. Tôi viết vì ở thế cùng cực, như viết nhựt ký và hồi ký, để giải tỏa căn bịnh ẩn uất tâm lý, tôi mắc bịnh này từ nhỏ, đang lành bịnh khi xong nợ ngân hàng, bịnh lành hẳn, lúc đó hết luôn nghiệp văn.</i></b></p>
<p><b><i>…</i></b></p>
<p><b><i>Hỏi cây, hỏi thú        <br /></i></b><b><i>“Hết rồi !”        <br /></i></b><b><i>Hỏi chim, hỏi cá, hỏi người        <br /></i></b><b><i>“Còn đâu</i></b><b>!”</b></p>
<p>Với tư cách một người bạn rất thân của anh Lưu Nhơn Nghĩa, anh nghĩ gì về <i>“lời phân trần “</i> này của tác giả “Như Cánh Chuồn Chuồn” và “Con Đường Cũ”, thưa anh Hai?</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><b></b></p>
<p><i>Thưa anh Hai,</i><i></i></p>
<p><i>Tôi mới làm bạn với anh Nghĩa chưa đầy hai mươi năm, tôi không biết hoàn cảnh thực tế của anh Nghĩa lúc còn trẻ, nhưng qua hai quyển truyện Như Cánh Chuồn Chuồn và Con Đường Cũ, cũng như nghe những lời tâm sự sau khi quen với anh, được tiếp xúc với anh, tôi thấy lời phân trần của anh Nghĩa là hết sức thành thật. Lúc còn nhỏ anh không thành công trong việc học như cha mẹ mong muốn, một tình cảm e ấp buổi đầu đời không thành, một cuộc sống dày dạn phong sương trước những éo le cay đắng của cuộc đời và của gia đình, những ngang trái đó anh bày tỏ cùng ai, nó đã trở thành những “<b>ẩn uất tâm lý</b>” nếu không có những bài nhựt ký và hồi ký làm lối thoát. Anh viết để giải tỏa những” ẩn uất”, anh không viết để trở thành một nhà văn, nhưng có lẽ nhờ những “ẩn uất” đó cộng thêm cái vốn liếng văn chương sẵn có trong tâm hồn anh, anh viết được những áng văn bất hủ để người đọc kính ngưỡng anh là một nhà văn. Anh hỏi cây, hỏi thú, hỏi người, anh tự trả lời “<b>hết rồi”,</b> <b>“còn đâu</b>”, anh cũng không còn, nhưng chỉ có vài ba ngày trước khi lâm chung, đang ở trong bệnh viện, anh cho tôi biết anh đang viết, như vậy tôi nghĩ nghiệp văn chương của anh chưa dứt và anh đã mang cái nghiệp đó theo anh qua bên kia.</i><i></i></p>
<p><b><i></i></b></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Xin chân thành cảm ơn anh Hai An Phú đã chia sẻ những kỷ niệm cùng những suy nghĩ của anh dành cho một người bạn, nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, nhơn dịp kỷ niệm ngày giỗ thứ tư của tác giả “Như Cánh Chuồn Chuồn” và “Con Đường Cũ”. Những chi tiết anh kể chẳng những là những kỷ niệm giữa anh và Phong Hưng, mà nó còn là những tài liệu rất quý cho những nhà biên khảo hôm nay và sau này muốn tìm hiểu về một văn tài của vùng xà Tón- Tri Tôn với cái tên rất quen quen: <i>“Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa,” </i>nhưng nay đã ra người thiên cổ có tới bốn năm rồi !!!</p>
<p>Kính chúc anh chị Hai cùng gia đình dồi dào sức khỏe và vạn điều may mắn, an vui.</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><b></b></p>
<p><i>Cảm ơn anh Hai có lòng đã tạo cơ hội cho tôi có dịp nhắc về một người bạn cùng trường, cùng cảnh ngộ tha hương và cùng có với nhau nhiều kỷ niệm khó quên ở những ngày tháng xa xứ và nhớ nhà này. Xin kínhchúc anh và chị Hai cùng gia đình mọi điều an lạc.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Trân trọng,</i></p>
<p><i>Hai An Phú</i></p>
<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p>&#8212;&#8212;</p>
<p><b>Cước chú:</b></p>
<p><b></b></p>
<p><i>1/ Như Cánh Chuồn Chuồn của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa do chùa Viên Giác, Đức quốc, xuất bản năm 2001.</i></p>
<p><i>2/ Nhằm tưởng nhớ nhà văn họ Lưu sau khi anh từ giã cõi đời, TSCĐ tuyển chọn và in thành sách các bài viết của Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa trên trang nhà TSCĐ thành cuốn Con Đường Cũ tháng 12-2007</i></p>
<p><i>3/ “Kết Toán Sổ Sách Cuối Đời” trên </i><a href="http://www.thasonchaudoc.com"><i>www.thasonchaudoc.com</i></a><i> ngày 16-03-2007, sau in lại trong “Con Đường Cũ” như chú thích (2)</i></p>
<p><i>4/ “Những Giấc Mơ Trong Bịnh Viện” của Phạm Chi Lan đăng trên tạp chí văn chương Da Màu (</i><a href="http://www.damau.org"><i>www.damau.org</i></a><i>) ngày 07 tháng Giêng năm 2009.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p><i></i></p>
<p align="left"><em><font size="2" face="Times New Roman">&#160;</font></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/21454/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nh&#224; thơ Nguyễn H&#224;n Chung v&#224; &#8220;Nghịch Lưu Của Tuổi&#8221; (phần 2/2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/20686</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20686#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 13 Jul 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hai Trầu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Phỏng vấn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20686</guid>
		<description><![CDATA[...nếu không muốn nói là anh chưa tìm được người đồng điệu, tri âm, tri kỷ, ít nữa là đồng điệu trong cách suy nghĩ, trong cách diễn đạt, và cả trong cách giải trí giản dị nhất mỗi ngày là anh muốn làm cho thơ mình khác với cái cũ]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><b></b></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Qua bài bình bài thơ <i>Xa Cách</i> của Châu Liêm, tôi thấy anh mê chữ <b><i>“quấn”</i></b> trong hai câu kết của bài thơ này và anh viết:</p>
<p>” <i>và nhất là từ </i><strong><i>quấn</i></strong><i> trong hai câu thơ cuối cùng;      <br />‘</i><em>’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo </em><i></i></p>
<p><em>Từ nay xa cách mấy con sông’’</em><i></i></p>
<p><i>Động từ </i><strong><i>quấn</i></strong><i> bình dị dân dã mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả&#160; tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa từ </i><strong><i>xế, quấn</i></strong><i> vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực” (Bốn mươi năm mang mang hồi ức)</i></p>
<p>Và rồi tôi lại lần dở những trang thơ của anh, tôi lại thấy anh có câu thơ này với chữ <i>“<b>quấn</b>”</i> rất điệu nghệ :</p>
<p><i>“Quấn lòng anh trong tà áo em đi</i></p>
<p><i>Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn</i></p>
<p><i>Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”</i></p>
<p><i>(À ơi điệu cũ, NLCT, trang 7)</i></p>
<p>Ngoài ra, qua 136 trang sách với 72 bài thơ , dù tập thơ rất mỏng như vậy nhưng theo thiển ý của tôi, thơ anh có mấy nét chính sau đây:</p>
<p>1/ Anh có cách cắt, ráp các chữ trong các điển tích làm thành nhóm chữ mới để anh diễn tả những suy nghĩ của anh qua các câu thơ mà anh muốn viết rất công phu. Do vậy, chữ dùng của anh lạ, khô, rất khó đọc nhưng nhờ nó hàm chứa nhiều trăn trở qua chính những bước chân lưu lạc, thăng trầm trong dòng đời của chính tác giả và nhờ tài pha chế đôi chút gia vị châm biếm nhẹ nhàng, dí dỏm, không ác ý, nên nếu ai chịu khó đọc được vài bài thơ đầu rồi thì sẽ thấy thích, và lần lần đọc tiếp cho tới hết dòng thơ cuối cùng sẽ nhận ra thơ Nguyễn Hàn Chung chan chứa biết bao trăn trở về thân phận con người giữa dòng đời với một người không còn trẻ trung gì mà rồi còn phải lo bươn chải trèo lên từng bước chân một trên những triền dốc ngược…</p>
<p>2/ Về ý thơ, phần lớn thơ anh là có chủ đích <i>“nghịch”</i> và <i>“phản”.</i> Tất thảy những bài thơ của anh lấy cảm hứng từ đáy lòng anh đã đành mà nó còn khắc họa lại những ngang trái mà anh bắt gặp, trong văn giới cũng như ngoài đời. Những <i>“nghịch lưu”, “nghịch âm”, những “phản ca”, “phản cảm”, “phản tuyên ngôn thơ”, những “biến dị”, “hành”, “hèn ta thơ”, “mé”, “cảm thức mé” </i>và mỗi mỗi chữ anh dùng không đơn giản chỉ là chữ, là ý, là thơ, là thẩn một cách bình thường mà là những dòng máu trong anh cứ “<i>chảy ngược”</i> như “<i>nước chảy ngược”</i> của một dòng sông phải chảy qua nhiều tảng đá ngầm nằm sâu trong đáy sông của mình. Thành ra, nếu tôi không lầm, anh rất cô đơn dù anh có rất nhiều bạn cũ và mới như trong trả lời của anh ở câu đầu tiên: <i>”Thôi kệ rứa mà vui, mà có bạn bầu tứ xứ”</i>; nếu không muốn nói là anh chưa tìm được người đồng điệu, tri âm, tri kỷ, ít nữa là đồng điệu trong cách suy nghĩ, trong cách diễn đạt, và cả trong cách giải trí giản dị nhất mỗi ngày là anh muốn làm cho thơ mình khác với cái cũ… Và nỗi cô đơn đó, nó còn để lại rất rõ trong câu thơ mà tôi vừa nhắc bên trên:</p>
<p><i>“Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn </i></p>
<p><i>Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”</i></p>
<p><i>(à ơi điệu cũ, NLCT, trang <img src='http://damau.org/wp-includes/images/smilies/icon_cool.gif' alt='8)' class='wp-smiley' /> </i></p>
<p>hoặc trong một bài khác<i>:</i></p>
<p><i>“Không đủ lực đợi những cái chớp mắt biến ảo</i></p>
<p><i>mặc những cơn gió quậy phá</i></p>
<p><i>quẫy đạp đi tìm di chỉ cánh đồng</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>cánh đồng xanh mơ ở đâu? </i></p>
<p><i>anh mải mốt chạy marathon tìm em mệt nhoài ký ức”</i></p>
<p><i>(Canh giấc cánh đồng, NLCT, trang10)</i></p>
<p><i></i></p>
<p>hoặc trong bài<i> “tha phương không tám” </i>có đoạn<i>:</i></p>
<p><i>“Thì cứ tống cứ tan ngần ấy tuổi</i></p>
<p><i>Biết cùng ai chia sớt chuyện buông tuồng </i></p>
<p><i>Chiều tới sáng lục tìm mưa cắm cúi </i></p>
<p><i>Ngón với bàn ngong ngóng đến thê lương</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Gần rất lạ xa tới tầm tay với </i></p>
<p><i>Sợi mong manh riết róng cột âm thầm </i></p>
<p><i>Lầu cây khế leo tấm thân chùm gửi</i></p>
<p><i>Nhướng lên mù thấy rõ một xa xăm</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Vẫn mụ mị lùng bùng cơn cớ trước </i></p>
<p><i>Và ngơ ngơ ngác ngác những phương chiều </i></p>
<p><i>Mùa không hắt tia nắng vàng, vô phước</i></p>
<p><i>Kẻ điêu nào còn léo hánh cô liêu”</i></p>
<p><i>(bài tha phương không tám, trang 12)</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Hoặc như <i>“bước qua thì cũ mới”, </i>anh viết<i> :</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>“bơi trên sóng sợ sông dài khủng khiếp</i></p>
<p><i>thấy lăn tăn đã hú ba hồn bảy vía hà bá ma da</i></p>
<p><i>muốn tháo chạy lên bờ ngặt dưới thân toàn nước </i></p>
<p><i>cõi trăm năm hơi đâu đủ sức dài cút bắt khánh tận nỗi buồn</i></p>
<p><i>mặc cho gã niềm vui đê hèn thiêm thiếp</i></p>
<p><i>chắc chắn có kẻ sẽ gõ cửa cho em lách váy vào thiên thu</i></p>
<p><i>dọn sẵn một chỗ tinh tươm chơi trò rơi ngược </i></p>
<p><i>nhưng bây giờ có lẽ chỉ một mình anh đang bơi</i></p>
<p><i>các em còn bận lau bàn chân ướt”</i></p>
<p><i>(bước qua thì cũ mới, NLCT, trang 20)</i></p>
<p>Và còn nhiều lắm những vần thơ mang mang nỗi cô đơn hiu quạnh một bóng hình ngược nước ấy mãi hoài, không kể xiết …</p>
<p>Là tác giả của những bài thơ “<i>nghịch lưu”</i> này, anh nghĩ sao về mấy ghi nhận nông cạn, thô thiển của một người đọc già lười suy nghĩ như tôi, thưa anh?</p>
<p><b>NHC</b>:</p>
<p><i>Anh Hai Trầu ơi!      <br />Anh đã&#160; chịu khó trải lòng mà thẩm thấu thơ NHC nói chung và NLCT nói riêng đó là&#160; sự mừng vui mong ước rất lớn không dễ gì đạt được của người cầm bút nghịch lưu nầy. Nhất là thơ trong NLCT đúng như anh nhận xét: khô, nghịch nhiều ý còn hàm hồ nữa. Vô cùng trân quý những nhận xét tinh tường của anh giúp NHC bừng ngộ nhiều điều trong trò chơi con chữ gian nan&#160; khổ ải nầy. Rất mong nghe được những lời bình sâu, chân xác hơn nữa của anh cũng như bạn đọc về tập thơ NLCT. Điều người làm thơ&#160; hãi sợ nhất khi trình thơ ra làng đã được NHC thắc thỏm trong mấy câu cuối bài <b>làm thơ và múa dao</b>. Xin được mạn phép lặp lại : </i></p>
<p><i>&#8221;làm thơ khác gì múa dao      <br />&#160;&#160;&#160; nghề càng tinh       <br />&#160;&#160;&#160; càng mệt nhoài số kiếp       <br />&#160;&#160;&#160; cùn tóc râu       <br />&#160;&#160;&#160; thương tích ngữ ngôn       <br />&#160;&#160;&#160; hãi sợ rụng vào trăm năm mất biệt”      <br />NHC cả nghĩ: thơ đừng mất biệt&#160; trong cõi vô tăm là hạnh phúc không tưởng của bất kể nhà thơ nào? Có phải thế không anh!</i><i> </i><i>Nguyễn Hàn Chung xin kính gửi đến anh Hai Trầu lời cảm tạ tri âm nhất.</i></p>
<p><i>     <br /></i><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Tôi xin được nêu lên một ghi nhận thứ ba nữa trong cách viết tên người, tên nhân vật trong các bài thơ mà anh đề cập tới họ; đó là anh không bao giờ viết chữ hoa, dù anh có cố ý nhắc những tên người, những nhân vật ấy, nhưng anh cứ phớt lờ đi, coi như đó chỉ là những chữ bình thường không lấy gì làm quan trọng cho lắm với mục đích là anh muốn dẫn người đọc đi qua một hướng khác không có ai trong thơ anh ráo trọi.</p>
<p>Điều này, anh làm tôi nhớ hồi còn đi trọ học, tôi thường phụ với chủ nhà vô lò nấu heo thợ bạc. Xin kể anh nghe diễn tiến công việc này như sau. Dân chuyên nấu heo vàng họ đi gom mua khắp Sài-Gòn Chợ-Lớn những bụi vàng nơi các tiệm thợ bạc. Gom về như vậy mỗi ngày và trong vòng vài ba tháng, số lượng heo vàng này đủ vô một lò thì bắt đầu vô lò. Trước tiên người ta đem mấy heo thợ bạc này ra trộn với cát nhuyễn và bỏ vào mấy ống vót nắn bằng đất sét trắng đã phơi khô lâu ngày, hình dáng mấy ống vót này giống như hình dạng trái bầu cắt ngang trên mặt. Vô ống vót xong xuôi đâu đấy người ta mới sắp xếp những ống vót này thẳng đứng trong lò đúc bằng xi măng; giữa những ống vót người ta bỏ xen kẽ những cục than đá vừa giữ cho các ống vót thẳng đứng, vừa giúp khi đốt lò lửa than đá sẽ làm cho cát và vàng trong ống vót chảy ra. Sau khi lò đã vô đủ số lượng ống vót heo thợ bạc cho một kỳ nấu heo như vậy, người ta bít nắp lò lại và mồi lửa đốt lò. Khi lửa cháy thì than đá trong lò bắt đầu cháy theo và đốt như vậy trong vòng năm ba ngày, có khi một tuần và coi khói trong lò lên màu trắng là bắt đầu bịt miệng lò lại, vì khói trắng là dấu hiệu các chất tạp đã cháy sạch hết rồi; rồi chờ khi nào lò nguội, chủ lò mới khui nắp lò và lấy các ống vót ra. Khi lửa cháy cát và vàng cùng chảy. Vì cát nhẹ hơn vàng nên cát chảy thành thủy tinh, nằm bên trên và vàng nặng hơn cát nên vàng nằm dưới đáy ống vót. Lúc bấy giờ chủ lò mới lấy búa đập ống vót và lấy vàng dưới đáy. Xong đâu đấy, người ta mới dùng acid HCL hoặc acid H2SO4 phân kim số vàng này để lấy ra bạc và vàng nguyên chất.</p>
<p>Sở dĩ tôi kể dông dài với anh về việc nấu heo thợ bạc và phân kim vàng là tôi muốn ví công việc anh viết tên các nhân vật dù quen hay chưa quen đều viết ở dạng chữ thường, giống như anh muốn pha trộn giữa cát và vàng rồi cho vào lò lửa và rồi vàng và cát sẽ nhờ lửa mà phân biệt được đâu là cát đâu là vàng. Phải chăng đó cũng là cách chơi chữ với nhiều dụng công của anh không, thưa anh Nguyễn Hàn Chung?</p>
<p><b>NHC:</b></p>
<p><i>Kính anh Hai Trầu !      <br />Anh có lối ví von sao mà thâm thúy rứa! Chẳng qua là một thủ thuật để tránh những phiền phức có thể xảy ra thôi anh à. Động đến tài thì không sao chứ đụng đến tật các ông nhà thơ, nhà văn là lắm chuyện. Tôi dụng cách viết như vậy để có đường mà biện bác sau nầy nếu ai dó có chất vấn: tại sao và tại sao? Một số bài dạng nầy đã lên </i><a href="http://damau.org"><i>damau.org</i></a>.<i> Người đọc cũng comment lủ khủ đó anh. Hơn nữa mình chỉ cảm một mé chân dung sao dám chính danh, chứ có đãi cát đãi vàng chi mô mà anh nói quá lên rứa. Mà thật ra cũng vui thôi, nào có ác ý với ai đâu!</i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Sao tôi cứ miên man nghĩ về cái tựa “<i>Nghịch lưu…”</i> của anh hoài. Như anh biết quê tôi vùng sông nước miền Tây, nên đi đâu cũng gặp sông, gặp rạch, gặp kinh, gặp mương, gặp cồn, gặp bãi, và dường như chỗ nào quanh quanh nơi mình ở cũng nước là nước, mát lạnh cả một vùng… Thành ra nhà nhà đều phải có ít nhứt là một chiếc xuồng để đi lại trong vùng, khi lên ruộng, lúc ra chợ, hoặc cần đi cánh đồng xa xa giăng câu giăng lưới cũng phải nhờ tới chiếc xuồng. Việc nào cần chuyên chở hơi nhiều nhiều một chút thì người ta còn phải có chiếc ghe. Ghe thì có chiếc chở năm ba chục gịa lúa, có chiếc chở cả mấy trăm giạ lúa trở lên. Còn chở đá, chở gạch, chở cát, chở cây, chở gỗ thì ghe lại càng lớn hơn nữa như ghe cui, ghe cà dom, ghe chài, ghe mui lón, chẹt, sà lan và nhiều thứ lắm… Vì đi theo sông, theo nước như vậy, nên dân quê tụi tôi phải lựa con nước mà đi. Khi nào nước xuôi thì nhổ sào bơi theo nước cho đỡ tốn sức bơi chèo và khi nào nước ngược thì tấp xuồng ghe vô bờ nổi lửa nấu cơm ăn uống no bụng rồi nằm nghỉ chờ nuớc xuôi đi tiếp cho tới khi về tới bến, tới bờ mình định tới… Tôi còn nhớ hồi học các lớp Sơ Đẳng Tiểu Học, rồi Tiểu Học Bổ Túc những năm 1940, trong các lớp học vách lá nghèo nàn nơi các làng quê thường hay treo câu cách ngôn: <b><i>”Học như chèo thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi”</i></b><i>.</i> Nay nhớ lại anh có hơn ba mươi lăm năm dạy học, có lần nào anh dạy học trò câu ngạn ngữ này không, thưa anh?</p>
<p>Buổi trò chuyện với anh tới đây kể cũng đã dài dù tôi còn muốn hỏi anh thêm nhiều điều nữa về tập thơ “<i>Nghịch Lưu Của Tuổi”, </i>bởi ở đó còn nhiều chữ anh dùng mà tôi chưa hiểu hết nhưng sợ anh không có nhiều thời giờ, nên đành hẹn lại với anh vào dịp khác vậy. Xin chân thành cảm ơn anh đã giải đáp cho các thắc mắc trong cuộc trò chuyện này rất tận tình. Kính chúc anh có nhiều hứng thú trong con đường ‘<b><i>nghịch lưu”</i></b> của mình và chúc anh cùng gia đình nhiều sức khoẻ, vạn an.</p>
<p><b>NHC:</b><i></i></p>
<p><em>Kính anh Hai Trầu,      <br />Qua cuộc chuyện trò thật lý thú giữa ông Hai Trầu và gã Trai già Quảng Nam nầy NHC rút tỉa ra được nhiều điều cần phải hoàn chỉnh hơn khi đưa tập thơ </em><strong>Nghịch lưu của tuổi</strong><em>&#160; tới nhà in. NHC rất trân quý tình cảm trọng thị văn chương của anh nên phải vắt hết tinh lực để trả lời những chất vấn sát sạt của anh về những vấn đề xung quanh đời thơ NHC cũng như NLCT. Có gì NHC trả lời còn hàm hồ, chung chung mong anh thông cảm thứ lỗi vì không thể làm gì khác hơn.</em> <strong>Nghịch lưu của tuổi</strong> <em>để mong được hợp lưu của đời chứ chẳng ai muốn &#8221;nghịch thiên giả vong&#8221; đâu anh. Nhưng anh ơi lắm khi phải chấp chịu mất để mà còn&#8230; NHC còn chờ anh vấn nữa nhưng&#160; rất tiếc anh đã tuyên bố ngưng nghỉ rồi nên thôi chờ dịp khác vậy. Một lần nữa Nguyễn Hàn Chung thành thật tri ân anh đã quan tâm nhiều đến tập thơ đầu tiên trên đất Mỹ của NHC.      <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Kính gứi đến anh chị lời chúc sức khỏe . Nhân biết anh say mê hoa trái, hằng ngày cặm cụi bên luống cỏ, chùm hoa NHC quý tặng anh mấy câu cũng để tạm kết cuộc trò chuyên rất&#160; thú vị và bổ ích nầy:&#160; <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Cầm trong tay       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; một chùm hoa       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Sắc màu tươi       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; có phôi pha một vài&#8230;       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; ném tung       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; vào       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; cõi trần ai       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; Mầm xanh       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; từ cánh hoa phai       <br />&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160; cứa mình       <br />Thành thật cám ơn anh vì những trao đổi rất bổ ích chung quanh&#160; bản thảo tập thơ&#160; NLCT của NHC.</em></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Một lần nữa cảm ơn anh viết tặng cho mấy vần thơ mang chút triết lý về nhân sinh, về cuộc đời nhiều ý nghĩa và cầu chúc anh cùng <i>“Nghịch lưu của tuổi”</i> luôn có mặt giữa dòng đời luôn dời đổi này …</p>
<p>Ngày 25-5-2011</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20686/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nh&#224; thơ Nguyễn H&#224;n Chung v&#224; &#8220;Nghịch Lưu Của Tuổi&#8221; (phần 1/2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/20685</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20685#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 12 Jul 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hai Trầu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Phỏng vấn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20685</guid>
		<description><![CDATA[Thông thường theo lệ cổ, "Lúc trẻ bỏ xứ ra đi lúc già mới trở về -Tóc râu đều bac cả  mà giọng quê không đổi (theo Hạ Tri Chương)," Nguyễn Hàn Chung đi ngược với cái trình tự kinh điển ấy.  Bao nhiêu năm làm nghề gõ đầu trẻ ở  quê nhà Quảng Nam  bây giờ già khèn trí cùn lực đoản còn phải uốn môi, uốn lợi học tiếng nước người nên liều mạng đặt tên tập thơ.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>     <br /></strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/NguynHnChungNLCT.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="Nguyn-Hn-Chung-NLCT" border="0" alt="Nguyn-Hn-Chung-NLCT" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/07/NguynHnChungNLCT_thumb.jpg" width="392" height="279" /></a> </p>
<p><strong>Hai Trầu (HT):</strong></p>
<p>Mến chào nhà thơ Nguyễn Hàn Chung,    <br />Như bìa sau thi phẩm <i><strong>Nghịch Lưu Của Tuổi (NLCT)</strong>,</i> anh có ghi:</p>
<p><i>Nguyễn Hàn Chung      <br /></i><i>Sinh quán Điện Bàn (Quảng Nam)      <br /></i><i>Tác phẩm đã xuất bản:      <br /></i><i>Tìm tôi trong bóng (thơ) 1999      <br /></i><i>Nói hộ phù du&#160; (thơ) 2002      <br /></i><i>Nghịch lưu của tuổi (thơ) 2011</i></p>
<p>Anh bắt đầu mê thơ từ lúc nào và anh có thể kể cho nghe về hai thi phẩm <i>&quot;Tìm Tôi Trong Bóng&quot; (1999) và &quot;Nói Hộ Phù Du&quot; (2002),</i> nội dung cùng sự ra đời của nó, thưa anh?</p>
<p><i></i></p>
<p><b>Nguyễn Hàn Chung (NHC):</b></p>
<p><i>Rất cám ơn sự quan hoài của anh Hai Trầu khi đọc <strong>NLCT</strong>. Nguyễn Hàn Chung đến với cõi thơ từ khoảng đệ thất, đệ lục (khoảng đầu thập niên sáu mươi) lúc bắt đầu trổ mòi &#8221;Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư&#8221; .Bắt chước các bậc đàn anh xứ Quảng như Hoàng Thị Bích Ni, Đynh Trầm Ca, Nguyễn Nho Sa Mạc, Nguyễn Nho Nhượn, NHC cũng vần vè đôi bài cỡ như &quot;Thuở nhỏ ôm một cây hùng khí-Bây giờ nghĩ lại thấy ương ương-Đời loạn mà không mần tráng sĩ- Cũng chả xài đến gã văn chương -Thì thôi vỗ bung mà ca hát &#8230;Say khước nằm lăn&#8230;&#8221; Thế thôi, ca vung hào sảng cho vui có nghĩ cái nghiệp thơ nó ám&#160; miết âm hồn bất tán vào mình cả đời đâu. Thôi kệ rứa mà vui mà có bạn bầu tứ xứ.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Tập thơ đầu tay “Tìm tôi trong bóng” (1999)&#160; tập hợp những bài thơ viết sau 1975 chất chứa nhiều trăn trở tìm sâu bản lai chân diện mục của mình với những nghịch âm,nghịch cảm trong cuộc Đánh cờ một mình. Tập thơ thứ hai ‘’Nói hộ phù du’’ (2002)&#160; lại mở ra một hướng khác: Nói hộ cho những nỗi đời bà mẹ núi, ông lão bị lũ con cướp đất, người phu xe thổ mộ ngơ ngác giữa phố,anh kép diễn hài trong lúc cha đang hấp hối …. Nói chung nói về thơ mình thì hơi khó. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Theo giới thiệu của anh về bài viết&#160; &quot;<i>Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bỉ về tính hữu hạn tồn sinh&quot; </i>của Liêu Thái, tôi thấy tác giả lưu ý đến khía cạnh cách tân trong thơ anh, nguyên văn: “<i>Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…&quot;&#160; </i>Và tác giả kết<i>:&quot;Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo.”</i></p>
<p>Điều đó có thật vậy không? Và nếu có, anh có thể chia sẻ một chút về việc &quot;<i>cách tân&quot;</i> trong thơ anh?</p>
<p><b>NHC:</b></p>
<p>Có thật không hả anh Hai? Thì nó cũng hàm hỗn như thơ vậy, thật mà hư, hư mà thật,cũng chả có cách tân cách cổ gì ghê gớm đâu chỉ là đổi mới tư thế làm&#8230;thơ cho nó sướng lên thôi chứ&#160; cứ bưởi bòng rạ rơm vần vần vè vè đàng điệu&#160; nó có vẻ giả giả thế nào ấy . Chính bản thân người viết đã chán ngấy thơ mình huống hồ &#8230;Cũng phải nói thêm điều này một chút. Cách đây chừng hơn hai mươi năm lúc NHC còn chưa bỏ xứ viết cái gì cũng sợ bị quy chụp như cái đận bài thơ <i>Đánh cờ một mình </i>bị truy tung đến điêu đứng nên sau này phải ẩn điều muốn hiển lộ dười tầng tầng bóng chữ kiểu ai hiểu chết liền nếu có kêu lên gọi xuống&#160; hạch hỏi còn có cái để đốp chát: Bây giờ các cây bút hậu hiện đại cách tân đên mút chỉ&#160; làm NHC cảm thấy thơ mình còn quê một cục&#160; chẳng qua Liêu Thái dùng lối nói&#160; khoa trương&#160; cho NHC uống đường ăn mật đó thôi.…</p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Không có lửa làm sao có khói, phải không anh? Và có &quot;<i>cách tân&quot;</i> hay không ở thơ anh như Liêu Thái nhận định chắc người đọc cũng đã thấy rồi, nhưng có điều này, anh còn nhớ những bài thơ cũ một thời của anh không? Hy vọng anh cho bạn đọc nghe lại chút hương xưa một thời qua những vần thơ cũ ấy, anh Nguyễn Hàn Chung?</p>
<p><b>NHC:</b></p>
<p>Kính anh Hai Trầu!</p>
<p align="left">Vâng,thưa anh. Có bạn văn khi đọc&#160; <em><strong>NLCT </strong></em>có comment với tác giả là trong tập thơ hầu như không có thơ tình. Quả vậy NHC cũng không biết tại làm sao mình&#160; không thể .…Thôi thì nhân anh nhắc, NHC chép lại một&#160; vài đoạn thơ tình tang tình gửi tặng anh cùng bạn đọc gọi là bổ sung vào phần khiếm khuyết:</p>
<blockquote><p align="left"><i>Nhà vắng lục tìm sách cũ        <br />Lạc vào một cõi em xưa         <br />Những lá thư vàng ố chữ         <br />Lời yêu khi tỏ khi mờ &#8230;         </p>
<p>Cổng trường Văn khoa quá chật         <br />Anh đi kiếm lá mỏi mòn         <br />Mối tình đầu như đốm lửa         <br />Mỗi khi lòng không củi nhen&#8230;         </p>
<p>Và nhớ những ngày mưa Huế         <br />Thu lu quán xếp bên trường         <br />Sóng sóng trăm tà áo trắng         <br />Anh vẫn nhìn ra mắt em.…         </p>
<p>Tiếng vợ nựng con bên cửa         <br />Anh biết giấu em vào đâu         <br />Nào bướm nào hoa nào tóc         <br />Anh còn nâng níu trên tay&#8230;         <br />(“</i>Ký ức đầu”)       </p>
<p>N<i>ửa đi là mất nữa rồi        <br />Nửa vể, câm, một nửa vùi trong đau         <br />Nửa trời cho dễ nữa đâu         <br />Nửa rưng rức sóng chân cầu nửa em         </p>
<p>Nửa chiều nửa sáng nửa đêm         <br />Nửa xanh biếc rụng nửa mềm môi khô         <br />Anh còn có nửa chi mô         <br />Nửa em giàn giụa tan bờ nửa anh</i>       <br />(“Nửa”)</p>
<p align="left"><i>Biết rồi sẽ chuốc đa đoan        <br />Mà không ngăn nổi quáng quàng đường say         <br />Lâu rồi cứ tưởng,ô hay         <br />Trái tim ta cũng bàn tay ai cầm         <br />Mây bời bời cỏ rối câm         <br />Thời gian vò sợi tóc xanh trắng mù         <br />Hôn liều lên chúm chím thu         <br />Bờ môi như sóng nhiễm từ xa xăm         </p>
<p>Giá trời bỏ quách tháng năm         <br />Tôi hao khuyết hết trăng rằm cho em </i>      <br />(“Tuổi tình”)</p>
</blockquote>
<p align="left">Những đoạn trích trên từ hai tập thơ &#8221;<i>Tìm tôi trong bóng</i>&#8221; và &#8221;<i>Nói hộ phù du.&quot;</i> Anh thấy có &#8221;<i>mềm</i> &#8221;hơn thơ trong <em><strong>NLCT</strong></em> không anh?</p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Giờ xin bắt đầu với &quot;<i>Nghịch Lưu Của Tuổi&quot;</i> của anh. Theo <em>Đại Việt Sử Ký Toàn Thư</em>, quyển 1, trang 172:&#160; &quot;<i>Mùa đông, tháng 11, Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản, vì thế dời đóng ở thành ngày nay (Bấy giờ Nguyên Gia dời phủ trị đến sông Tô Lịch, mới đấp thành nhỏ thôi, có người thầy xem đất bảo rằng: Sức ông không đắp nổi thành lớn, độ năm mươi năm nữa về sau tất có người họ Cao đến đây đóng đô dựng phủ &#8230;&quot;(*)</i> Như vậy <i>&quot;nước chảy ngược&quot;, </i>theo anh có phải là <i>&quot;nghịch lưu&quot;</i> không? Và sao anh lại chọn bốn chữ&#160; &quot;<i>Nghịch Lưu Của Tuổi&quot;</i> làm cái tựa cho thi phẩm&#160; lần này, thưa anh?</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p>(*) <i>Toàn Thư theo An Nam kỷ yếu. Lý Nguyên Gia sở dĩ xin dời phủ thành là vì thấy ở phía trước cửa thành có nước chảy ngược &#8211; tức là nước sông Tô Lịch, bấy giờ còn là phân lưu của sông Hồng, nên nước chảy từ sông Hồng ngược lên.</i></p>
<p><b>NHC:</b></p>
<p><i>Lương tiên sinh quả thật là đại hành gia trong lĩnh vực truy nguyên nhưng NHC không thể trả lời câu hỏi nầy của anh Hai được đâu.Trúng thì không sao chứ sai thì chết bỏ xừ.Có điều khi chọn bốn chữ Nghịch lưu của tuổi làm tiêu đề cho tập thơ NHC cũng có chút hàm ý. Thông thường theo hành trạng xuất xử của người xưa &#8221;Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi-Hương âm vô cải mấn mao tồi -Tạm dịch: Lúc trẻ bỏ xứ ra đi lúc già mới trở về -Tóc râu đều bac cả&#160; mà giọng quê không đổi (Hạ Tri Chương). NHC đi ngược với cái trình tự kinh điển ấy. Gần sáu mươi năm quẩn quanh đi học rồi làm nghề gõ đầu trẻ ở một xó xỉnh quê nhà Quảng Nam -Đà Nẵng bây giờ già khèn trí cùn lực đoản &#8221;bách niên đa bệnh độc đăng đài&#8221; còn bán mạng ly gia&#160; hành cu li đất khách&#160; phải quên cái hương âm uốn môi, uốn lợi học tiếng nước người nên liều mạng đặt tên tập thơ để đánh dấu một chặng cuối đường lưu lạc. Thế thôi chẳng có ý tứ mới lạ gì đâu anh ạ!</i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyền Hàn Chung,</p>
<p>Cảm ơn anh. Vừa rồi anh có nhắc &quot;<i>hành cu li,”</i> tôi tò mò tìm trong tập bản thảo bài <i>&quot;hành cu li ca” </i>nơi trang 10<i>, </i>làm tại Louisiana với tứ thơ mang nhiều chua xót, đắng cay; mỗi chặng dừng chân của Nguyễn Hàn Chung là mỗi vết cắt dù qua lâu rồi nhưng vẫn còn ê ẩm, khó lành. Nhưng câu cuối &quot;<i>Mây nước trùng trùng thề không trắng tay…,&quot;</i> lại là dấu hiệu của một quyết chí. Có phải Louisiana lại là một bến bờ nào nữa mà anh đã dừng lại trên dòng đời lưu lạc này? Và nay, anh có thêm được gì trong tay sau bao năm mải miết trong dòng đời này hay chỉ mới là &quot;<em>Nghịch Lưu Của Tuổi&quot;</em> không thôi, thưa anh?<i></i></p>
<p><b></b></p>
<p><b>NHC</b>:</p>
<p><i>Anh Hai ơi!</i></p>
<p><i>Phải nói Ông Hai Trầu và gã ‘’trai già Quảng Nam’’nầy có mối ‘’đồng thị thiên nhai‘’&#160; sao đó nên trong cả tập hơn bảy chục bài mà anh lại tò mò đọc hơi bị kỹ bài “hành cu li ca” lại đặc biệt chú ý tới câu cuối cùng “Mây nước trùng trùng thề không trắng tay’’ tiếp theo là địa danh Louisiana không ngày tháng. Con mắt&#160; ‘’thấu thị xuyên tầng’’ của anh Hai chiếu như muốn thấu tâm can tỳ phế&#160; tác giả.Thật ra không có thề thốt gì lắm đâu anh&#160; . Anh biết bài hành cu li ca&#160; NHC sáng tác trong hoàn cảnh nào không?Trên chiếc tàu casino ở Louisiana đó. Nướng hết chút tiền còm dành dụm trong trò đen đỏ rồi ra đứng trước boong tàu nhìn mây trắng sóng xanh đất khách tự thề với mình hành cu li kiếm sống để viết cái gì đó cho mai hậu chứ không phải để lao vào cái trò bác thằng bần như bao bậc tiền nhân tán gia bại sản trên đất Mỹ nầy.Thế thôi anh ạ! </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Còn anh hỏi ngoài <strong>NLCT</strong>, NHC còn có những gì sau bao năm mải miết không? Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm, bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi.Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ ‘’ sau khi&#160; khoái thêm vài mươi bài nửa.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>HT</b>:</p>
<p>Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Bài thơ <i>“Bí ẩn tháng Giêng”(*)</i> mở đầu thi tập<em><strong> NLCT</strong></em> <i>với đoạn thứ nhì:</i></p>
<p><i></i></p>
<blockquote><p><i>Tháng Giêng tàng trữ mầm xanh lao lực trong        <br /></i><i>bụi bặm        <br /></i><i>ẩn nhẫn chờ đợi một ngày ấm áp        <br /></i><i>giống như chu kỳ của người đàn bà hoài thai        <br /></i><i>cánh đồng        <br /></i><i>tháng giêng tạm trú vào đàn bướm tơ sắp đến        <br /></i><i>kỳ sinh nở        <br /></i><i>mặc những cơn gió ganh tị chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp …        <br /></i>(<em><strong>NLCT</strong></em>, trang 5 và 6)</p>
</blockquote>
<p align="left">Trong một bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi về tập thơ này với tựa đề: “<em><a href="http://www.danchimviet.info/archives/19313" target="_blank">Một số suy nghĩ về thi tập Nghịch Lưu Của Tuổi</a><b>”</b></em> đăng trên báo mạng Đàn Chim Việt, ngày 11 tháng 10 năm 2010, tác giả viết:</p>
<p align="left"><i>“Bài “Bí mật tháng Giêng” có những câu “</i><i>Bí ẩn của tháng Giêng cũng là bí ẩn của những điều không thể nói ra,</i><i>” “</i><i>Mặc những cơn gió ganh tỵ chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp.</i><i>” Trong câu thơ trên, chúng ta thấy Nguyễn Hàn Chung dùng nhóm chữ “Những cơn gió ganh tỵ” một cách tài tình. Chẳng rõ “cơn gió ganh tỵ” là cơn gió gì; liệu đó có phải là một ám chỉ cho “Bí mật tháng Giêng” không? (*) Rồi còn “</i><i>Con bướm khấp khởi đôi cánh mỏng – nương nhờ chiếc lá khô chờ hơi xuân hé</i><i>”. Chiếc lá khô là của mùa Đông. Con bướm nương nhờ mùa Đông lúc còn nằm trong cái kén! Thật thâm thúy. Đó cũng là phong cách dùng chữ để diễn tả ý tưởng riêng biệt của thơ Nguyễn Hàn Chung vậy.”</i></p>
<p align="left">Là tác giả làm ra những câu thơ <i>“bí ẩn”</i> này, anh nghĩ sao về nhận định của tác giả Quỳnh Thi?</p>
<p align="left">(*) <i>Bài thơ này trong bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi ghi tựa là “Bí mật tháng Giêng.</i><i>” </i></p>
<p><b>NHC:</b></p>
<p><i>Thưa anh Hai!      <br />Kim Thánh Thán trong lời đề tựa Tây sương ký của Vương Thực Phủ&#160; đời Nguyên có viết &quot;Chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải nói nữa.&quot; Anh Quỳnh Thi có những cảm nhận của riêng anh&#160; ấy về bài thơ “Bí ẩn tháng Giêng,” NHC không thể chuyển sự phản ánh cảm tính của mình&#160; thành khái quát của tư duy được. Hơn nữa dù NHC là tác giả chăng nữa cũng chỉ là người đứng sau cánh gà sân khấu hình tượng.Và thưa anh, NHC nghĩ rằng hình tượng ngôn từ thường tạo ra ảo giác cho nên bất khả tạo ra độ sáng rõ,độ phân giải như ở các loại hình nghệ thuật khác. Chính vì muốn phá vỡ những hình thức&#160; khô cứng đã quen được thừa nhận về mùa xuân&#160; và muốn đi sâu vào những vận động bí ẩn của tâm hồn mà NHC viết Bí ẩn tháng Giêng.</i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Nguyễn Hàn Chung,</p>
<p>Trong trả lời cho câu trước, anh có nói: “<i>Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm, bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi. Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ‘’ sau khi&#160; khoái thêm vài mươi bài nữa.”</i></p>
<p>Qua những điều anh vừa chia sẻ làm tôi tò mò tìm đọc trang nhà <i>“Sông Thơ,”</i> và đọc được bài bình thơ sau đây của anh :” <i>“Bốn mươi năm mang mang hồi ức</i>” với bài thơ <b><i>“Xa Cách” </i></b>của Châu Liêm mà anh dùng làm nền cho bài bình thơ này. Bài thơ theo anh ghi lại qua trí nhớ như dưới đây:</p>
<blockquote><p><strong><i>Xa cách</i></strong><i></i></p>
<p><i>Hai dặm cát vàng duyên nối tiếp        <br /></i><i>Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa        <br /></i><i>Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp        <br /></i><i>Chỉ hận nghìn năm với bến bờ        <br /></i><i>Đêm ấy người đi sương xuống lạnh        <br /></i><i>Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung        <br /></i><i>Tôi đâu dám hẹn ngày tương ngộ        <br /></i><i>Người khóc đêm nào người nhớ không?        <br /></i><i>Tuổi mới hai mươi đời xế nửa        <br /></i><i>Từ nay đâu dám hẹn tương phùng!        <br /></i><i>Ai tiễn ta qua vài bến nước        <br /></i><i>Với hai sào gió bốn sào trăng        <br /></i><i>Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ        <br /></i><i>Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong        <br /></i><i>Quấn bàn tay lạnh trong tà áo        <br /></i><i>Từ nay xa cách mấy con sông</i></p>
<p>-Châu Liêm</p>
</blockquote>
<p><em>Sau khi giới thiệu tác giả Châu Liêm ngày xa xưa ấy chính là nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp hôm nay hiện đang ở gần đâu đây và anh có lời bình như sau:</em></p>
<p><i>“Tôi nghĩ không ra làm sao một cậu bé học lớp đệ nhị mới mười sáu tuổi ( *) lại có thể sử dụng từ ngữ điêu luyện dường ấy.Phải chăng&#160; đó là của trời cho và tác giả với tư cách là người sáng tạo vẫn nằm ngoài hệ thống với các mối liên hệ nghệ thuật : Người chủ xướng và người đọc cũng chỉ đóng vai trò tham dự mà thôi .</i></p>
<p><i>“Có những bài thơ tác giả là những nhà thơ lớn, ngôn ngữ thơ hàm súc&#160; đặc dị,chứng tỏ tác giả uyên bác và trí tuệ cao nhưng sao người đời lại không nhớ mà kỳ lạ bài thơ Xa cách của Châu Liêm tuy không có nhiều sáng tạo về mặt thi pháp nhưng chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ được&#160; vượt qua được một độ lùi của thời gian chiếm lĩnh và tái tạo hình tượng ngôn từ trở thành hình tượng tâm tư trong lòng người đọc gây hiệu ứng tiếp nhận&#160; bền vững trong lòng tôi và bè bạn một thời, một đời…</i></p>
<p><i>Cái cực sướng nào rồi cũng nhanh chóng qua đi, tại sao cái cực sướng văn chương cứ đeo dai đeo dính chúng ta đến mãn đời là vậy.”</i></p>
<p><i>(Sông thơ, ngày 02 tháng 11 năm 2009)</i></p>
<p>Theo như anh vừa nhận định qua lời bình mà tôi vừa trích, vậy bài thơ “Xa Cách” này quả là một bài thơ hay hoặc rất hay, ít nữa đối với riêng anh, từ đó nên mới có <i>“Bốn mươi năm mang mang hồi ức.”</i>&#160; Do vậy, tôi mới nghĩ thơ cũ đâu phải bài nào cũng dở, phải không anh? Về phương diện thơ hay và thơ giá trị, là một người làm thơ rất lâu và với kinh nghiệm giảng dạy môn Việt văn hơn ba mươi lăm năm như anh cho biết cùng trong bài bình thơ này, xin anh chia sẻ thêm chi tiết nhỏ này mà tôi thắc mắc hoài nhưng không biết hỏi ai; đó là, theo anh thì khi nào bài thơ được gọi là hay và khi nào bài thơ được coi là có giá trị? Giữa bài thơ hay và bài thơ giá trị nó là một hay là hai bài thơ đó hoàn toàn khác nhau, thưa anh?</p>
<p><b>NHC:</b></p>
<p><i>Anh Hai Trầu quý mến!      <br />Cái chi tiết nhỏ&#160; mà anh&#160; muốn được kiến giải không nhỏ một chút nào nếu không nói là vượt quá tầm suy nghĩ của những người cầm bút làng nhàng&#160; cỡ NHC. Nó đi vào định nghĩa&#160; cõi thơ của các bậc hàn lâm về mỹ học,thi pháp học ,về thời gian, không gian nghệ thuật, tính thời đại văn học, văn hóa một dân tộc các biện pháp nghệ thuật các trào lưu văn học,trường phái văn học khác nhau. Theo thiển ý của NHC thì thơ hay là thơ làm rung động lòng người bất kể nó được viết với phong cách nào. Có điều nó phụ thuộc vào từng&#160; thế hệ đối tượng với các khuynh hướng thưởng thức chứ không thể cào bằng mọi đối tượng tiếp nhận được.Vì thế mỗi trào lưu văn học đều có những đối tượng tiếp nhận thẩm mỹ khác nhau. </i></p>
</p>
<p>…</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20685/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bắc Nam Phảng Phất Nụ Cười: Tr&#242; Chuyện C&#249;ng Anh Hai An Ph&#250; (phần 2)</title>
		<link>http://damau.org/archives/20445</link>
		<comments>http://damau.org/archives/20445#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 16 Jun 2011 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Hai Trầu</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Giới thiệu tác giả]]></category>
		<category><![CDATA[Phỏng vấn]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/20445</guid>
		<description><![CDATA[Quách Tấn viết: “Viết địa phương chí cũng như viết truyện ký, phải viết bằng “cây bút trí” chấm vào “bình mực lòng” thì mới làm cho cảnh sống người sống.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center">&#160;</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/ghe-tren-song-Hau.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="ghe-tren-song-Hau" border="0" alt="ghe-tren-song-Hau" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/ghe-tren-song-Hau_thumb.jpg" width="254" height="363" /></a></p>
<p><b></b></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Ghe trên Sông Hậu, bên một làng thuộc huyện An Phú</em></font></p>
<p><b></b></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Vừa rồi anh Hai có nhắc về việc ngủ nóp “<i>Có điều bất tiện là người nằm trong nóp không thấy được bên ngoài, cho nên hồi phong trào đạo đâm đạo lụi, tôi cũng như Thằng Chum, sợ bị đâm, đem nóp vào ngủ trong mui ghe, vừa ngủ vừa lo, thấy toàn ác mộng.”</i> Hồi mấy năm còn nhỏ tôi thường hay theo mấy ông anh ngủ giữ bò trên Mặc Cần Dưng, tôi cũng ưa ngủ nóp. Ngủ nóp có cái vui là lúc mình mới chun vô nóp nó hơi ngộp thở một chút, nhưng sau đó một đỗi thì từ từ quen hơi và bớt ngộp. Vậy mà ngủ nóp ở trên đồng riết rồi quen, ngủ mùng vải giăng giữa đồng hổng bằng; vì ngủ mùng ngoài trời, lúc nửa đêm sương xuống ướt mùng lạnh lắm, chịu hổng nổi nhe anh Hai; do vậy ngủ nóp coi chừng bò, coi chừng lúa hoặc ngủ giữ đìa, canh cá nhảy hầm là hết sẩy.</p>
<p>Trong phần vừa trích, anh hai có nhắc anh với “<i>Thằng Chum”</i> ngủ nóp sợ bị <i>“đạo đâm đạo lụi” </i>đâm, làm tôi nhớ hồi những năm thập niên 1950 vùng quê ngoại của tôi ở Mặc Cần Dưng, rồi Ba Bần, Kinh Xáng Bốn Tổng, Chắc Cà Đao, Hòa Bình, Bình Mỹ, Bình Thuỷ, Phú Hòa, Định Mỹ, Vàm Cống, Lấp Vò, Tân Bình, Hội An Đông, Mỹ Luông, Chưn Đùn, Cái Hố, Nhơn Mỹ, Mỹ Hòa Hưng; rồi Long Châu, Long Hưng, Long Sơn, Long Phú, Vĩnh Xương, Vịnh Đồn, Tân An thuộc vùng Tân Châu &#8230; đâu đâu cũng đồn có “<i>đạo đâm đạo lụi</i>” đêm đêm đi tìm đâm nhiều người như câu chuyện anh kể trong <i>Nội Ngoại Đều Thương</i>: “<i>Ở miền Tây, cụ thể là ở Châu Đốc, Long Xuyên vào cuối thập niên năm mươi, tin đồn có phong trào đạo đâm, đạo lụi. Nghe nói, cũng giống như những kẻ ôm bom tự sát, người theo đạo nầy nếu đâm chết mười người thì biết bay. Tin dữ lan cả vùng, nơi nầy có người bị đâm, nơi kia có người bị lụi, với nhiều tình tiết giựt gân kinh khủng. Chỉ nghe đồn, chưa ai thấy tận mắt bị đâm, nhưng ai cũng nơm nớp lo sợ bị mất mạng vì bọn tà đạo nầy.”</i><i>(4)</i></p>
<p>Hồi đó, tôi còn rất nhỏ nhưng tôi nhớ ở nhà quê nhà nào cũng làm một cái mõ tre treo sẵn nơi vách nhà, có nhà còn làm tù và bằng sừng trâu để phòng khi có ai trong xóm tri hô có “<i>đạo đâm đạo lụi</i>” là cả xóm cả làng cùng hè nhau đánh mõ, thổi tù và báo động khắp làng xóm. Nhớ có lần người ta còn đồn có một tên đạo đâm ngoài ấp Bình Phú, thuộc xã Bình Hòa, gần mé sông Cái dưới vàm rạch Mặc Cần Dưng, khi bị dân chúng phát giác và đánh mõ rượt chạy có cờ; dồn về phía có cái hầm nuôi cá, bị rượt nột quá, hắn bèn nhảy xuống hầm cá này và dân chúng bao vây kêu hắn lội lên nhưng hổng thấy tăm hơi đâu hết. Sau người ta mới hè nhau tát cạn hầm cá này, nhưng chẳng thấy tên đạo đâm này. Vậy mà rồi, như anh nói, người nầy đồn, người kia đồn rồi lan truyền khắp nơi làm sắp nhỏ như tụi tôi tối nào cũng hổng dám ngủ gần vách nhà dừng bằng lá dừa nước, mà trải chiếu giăng mùng ngủ giữa nhà đó anh Hai.</p>
<p>Nói gì tối tối không dám ngủ gần vách nhà, mà chiều chiều hơi xế bóng một chút là bà con lo cụ bị thắp nhang cúng kiến bàn ông Thiên thiệt sớm để chuẩn bị vô nhà đóng cửa vì sợ đạo đâm đạo lụi xuất hiện tìm đâm mình nhe anh Hai. Giờ nhắc lại với anh chuyện cách nay sáu bảy chục năm mà còn ớn thần hồn.</p>
<p>Vậy, thưa anh Hai, hồi đó do đâu mà có “<i>đạo đâm đạo lụi”</i> này? Do ai truyền bá và họ làm vậy là nhằm mục đích gì vậy anh Hai?</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Vụ “Đạo đâm đạo lụi”, anh em mình chỉ nghe tin đồn thôi, nhưng phong trào đó quá sôi động, ai cũng kinh hoàng. Không rõ ai gây ra phong trào, nhưng chắc chắn không phải do một cá nhân mà có cả một tổ chức mới làm nổi việc đó; nhưng tôi nghĩ có lẽ người ta muốn đánh lạc hướng dân chúng miền Tây, muốn mọi người suốt ngày chỉ chú tâm đến vụ đạo đâm đạo lụi, không bàn tán việc gì khác. Tôi không nhớ rõ phong trào đạo đâm đạo lụi xảy ra năm nào ở thập niên 50 (nếu anh Hai nhớ, xin nói cho biết).</i></p>
<p><em></em></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/That-Son.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="That-Son" border="0" alt="That-Son" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/That-Son_thumb.jpg" width="485" height="321" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Quang cảnh “huyền thoại kỳ bí” của Núi Thất Sơn,, xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang (nguồn: <a href="http://cadao.org/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=2173:nhng-huyn-thoi-k-bi-vung-qtht-sn-by-nui&amp;catid=57:congongantoc&amp;Itemid=100" target="_blank">Ca Dao Tục Ngữ</a>)</em></font></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Thưa anh Hai An Phú,</p>
<p>Về các ông “Đạo” nơi các làng quê miền Tây Nam phần của mình, hồi nhỏ tôi nghe kể nhiều lắm. Theo cuốn <i>Tân Châu Xưa</i> của Nguyễn Văn Kiềm <i>(5) </i>có kể ông Đạo Tưởng, ông Đạo Gò Mối; riêng ông Đạo Tưởng ở Tân Châu năm 1939 dấy loạn; rồi trong cuốn <i>Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn</i> của Nguyễn Văn Hầu cũng có nhắc ông Đạo Tưởng này, sách viết: “<i>Tên phù thủy ấy là “đứa ở” của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, tên là Ba Quốc, bỏ việc của chủ ngang xương để đi “làm trời.”Mới đầu cất am ngồi mơ tưởng đâu đâu, nên có tên là Đạo Tưởng. Y tuyên bố rằng có đạo thuật làm sứng câm họng và chính y sau nầy sẽ là Minh Hoàng. Vậy mà cũng có người tin được. Họ góp tiền dựng chùa, cung phụng y phục y như ông vua thật. Em của ông được tôn xưng là ngự đệ, những người thân tín của y thì được đặt chức nguơn soái, tiên phuông… như một triều đình thật.”(6)</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Ngoài ra, trong cuốn “<i>Dạo chơi tuổi già”</i>, nhà văn Sơn Nam, có kể<i>: “Nhớ hồi còn bé, khoảng năm 1934 về sau, phía Bảy Núi vá các hải đảo thỉnh thoảng lại xuất hiện vài “ông đạo” mà sau nầy người đời còn nhớ, thí dụ như Đạo Nổi, Đạo Đất, Đạo Lửa… những kiểu tu hành cá thể, mỗi người một giáo lý với nghi thức hành hạ thân xác riêng…. Những đạo sĩ quái dị ấy lần hồi mất uy tín, chẳng còn ai ái mộ, trong số đồng bào nơi xa xôi, kém giao lưu, thiếu sách báo, phương tiện truyền thông vẫn là “tin đồn.”(7)</i></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Tuong-Di-Lac.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Tuong-Di-Lac" border="0" alt="Tuong-Di-Lac" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Tuong-Di-Lac_thumb.jpg" width="395" height="301" /></a></p>
<p align="center"><em><font size="2" face="Times New Roman">Tượng Phật Di Lặc trên núi Cấm (Thiên Cấm Sơn), là ngọn núi cao nhất trong dãy Thất Sơn (nguồn: <a href="http://cadao.org/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=2173:nhng-huyn-thoi-k-bi-vung-qtht-sn-by-nui&amp;catid=57:congongantoc&amp;Itemid=100" target="_blank">Saigon Toserco</a>)</font></em></p>
<p>Thưa anh Hai, sách vở thì vậy, nhưng hồi nhỏ lúc tôi còn ở trên Măc Cần Dưng, làng Bình Hòa cũng có nhiều ông đạo như ông Đạo Rỡ là con của cậu Mười Chót, bà con bên ngoại tôi. Từ hồi nhỏ tới lớn ông Đạo Rỡ này chuyên làm ruộng nhưng bỗng một hôm ma nhập ông lên bà xuống và rồi ông tướng ứng xưng là Đạo Rỡ, trị bá bịnh. Thường ông hay bận bộ áo quần bà ba trắng, trông rất thư sinh bạch diện, ốm cao lêu nghêu. Bà con xóm nhà Lầu, cạnh bên nhà cậu Mười Chót hổng ai tin tài trị bịnh xưng Ông Đạo của ông nhưng khách thập phương tin nườm nượp, họ chèo ghe bơi xuồng tới đậu đặc bến nhà cậu Mười<i> </i>chờ ông đạo chữa bịnh. Người ta mang lại gà vịt, nhang đèn cúng vái rợp trời có tới hằng trăm người mỗi ngày. Sau nầy tôi hổng nhớ ông Đạo Rỡ nầy giải nghệ lúc nào nhưng chắc chắn một điều là dân quê khắp nơi các làng quê tin tưởng ông đạo nầy là do mê tín dị đoan thôi anh Hai.</p>
<p>Lúc bấy giờ khắp nơi, nhứt là bên miệt Vàm Nao, Nàng Mau, Cái Xoài, Long Kiến về phía Cù Lao Ông Chưởng dân chúng đồn nhiều ông đạo linh ứng như ông Đạo Nằm, ông Đạo Tiêm, ông Đạo Nước Lạnh chuyên trị bá bịnh. Còn thầy pháp trị ma cũng nhiều vô số kể. Dường như làng nào cũng có thầy pháp dùng bùa trị ma. Chẳng hạn khúc trên mương ông Nhà Lầu một đỗi, gấn chùa Tây An của ông Đạo Cậy, có thầy Tám Sửu trị ma bằng cách bắt ma bỏ vô hũ; xéo xéo bên sông rạch mặc Cần Dưng, gần nhà cậu Ba Huề, cũng có thầy pháp trị bịnh ma mà tôi quên tên rồi. Miệt Tân Bình (Lấp Vò) có nhiều thầy pháp trị ma giống trên làng Bình Hòa (Mặc Cần Dưng), như thầy Bảy Huê. Chiều nào, cứ gần chạng vạng là nghe trống thầy pháp đánh nghe lung tung, lung tung là sắp nhỏ tụi tôi hổng dám ra sau vườn đi tiểu vì sợ ma. Hổng biết sao thời ấy ma quỷ lộng hành quá mạng vậy và có thiệt là có ma quỷ hông anh Hai?</p>
<p>Còn <i>“đạo đâm đạo lụi,”</i> thiệt tình là tôi hổng biết ai bày ra như vậy và bày ra lúc nào; nhưng phải công nhận những năm 1954-1956 là thời kỳ đạo này nổi lên rầm rộ hết biết nhe anh Hai.</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><b></b></p>
<p><i>Kính anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Nhân khi bàn về đạo đâm đạo lụi, anh Hai kể quá nhiều thứ đạo, nghe đã luôn đó anh Hai. Anh Hai nói 1954-1956 phong trào đạo đâm đạo lụi nổi lên rần rộ, như vậy phong trào nầy đã lan ra khắp nơi miền Tây vào dạo ấy rồi. Tôi đi Sài Gòn học từ năm 1955, bãi trường về Châu Đốc thăm nhà, thường đi xe chiều, khuya mới về đến Châu Đốc, kêu người chị bà con bạn dì mở cửa, chị vừa mở cửa vừa giơ cao cây gài cửa lên thủ, còn tôi cũng đưa cái cặp học trò lên chuẩn bị đỡ nếu bà chị sợ quá rồi đập ẩu &#8230;. Như vậy sau 1955 phong trào nầy vẫn còn sôi động ở Châu Đốc.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Nói vể Ông Đạo Nổi, hồi nhỏ tôi có gặp ông ấy đi ngang nhà tôi ở Bắc Nam nhiều lần, người mập mạp, vui tánh, nhưng nói chuyện “lừng khừng,” luôn dẫn theo một nữ “thị giả” cũng có vẻ “lừng khừng,” nhưng không bao giờ nói chuyện. Ông già tôi cắc cớ lắm, lúc ông đạo đang ngồi nổi trên dòng sông Bắc Nam, hai tay vỗ nước kêu bùm bum, ông già lặn dưới nước, quờ quạng coi ông đạo có độn cái gì phía dưới hay không mà ngồi vững như vậy. Ông già tôi xác nhận là không thấy có độn. Có thể ông đạo nổi có luyện khí công.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Thưa anh Hai An Phú,</p>
<p>Nhắc các ông Đạo thì vùng mình hồi thời anh và tôi, ôi thôi nhiều ông Đạo nổi lên như vậy, theo tôi là do dân quê mình dễ tin người, dễ sùng bái, dễ mê tín nên cứ nghe có ai xưng mình là ông Đạo thì hổng cần biết thiệt giả gì, rồi cứ rủ nhau đến chiêm bái và nhờ vậy mà có một thời nhiều ông đạo nổi tiếng như cồn.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Front-of-Thoi-Son.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Front-of-Thoi-Son" border="0" alt="Front-of-Thoi-Son" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Front-of-Thoi-Son_thumb.jpg" width="455" height="308" /></a></p>
<p align="center"><em><font size="2" face="Times New Roman">Dinh Thới Sơn thuộc ấp Sơn Tây, xã Thới Sơn, huyện Tịnh Biên, An Giang.&#160; Dinh này do Phật Thầy Tây An xây dựng vào năm 1851, và cũng sáng lập ra đạo Phật theo trường phái Bửu Sơn Kỳ Hương        <br /></font></em><em><font size="2" face="Times New Roman">(nguồn: <a href="http://dongnguyenthe.wordpress.com/" target="_blank"><em><font size="2" face="Times New Roman">Dong Nguyen’s Blog</font></em></a><em><font size="2" face="Times New Roman">)            <br /></font></em></font></em></p>
<p>Còn đời xưa, thời Phật Thầy Tây An, theo sách vở và nghe ông bà xưa kể lại thì cũng có những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời, như các vị giáo chủ hoằng pháp như ông Đạo Đèn, quê ở sốc Lương Phi, núi Tà Lơn, Tịnh Biên, Châu Đốc; Đức Bổn Sư, ngài chính danh là Ngô Lợi, quê quán Dội, gần Mộc Bài, thuộc vùng giáp giới Miên-Việt, tỉnh Châu Đốc; ông Sư Vãi Bán Khoai không rõ quê quán nhưng thường đến xã Vĩnh Gia thuộc kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc) trị bịnh cứu nhơn độ thế; ông Cử Đa, quê ngoài Phù Cát (Qui Nhơn), lúc mới tới vùng Bảy Núi, nhiều người nghe tiếng nói của ông phát ra có giọng miền Trung, nên dân địa phương cũng gọi ông là Ông Thầy Huế .…<i>(8)</i></p>
<p><em></em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Dinh-Thoi-Son-An-Giang.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="Dinh-Thoi-Son-An-Giang" border="0" alt="Dinh-Thoi-Son-An-Giang" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Dinh-Thoi-Son-An-Giang_thumb.jpg" width="456" height="310" /></a></p>
<p align="center"><em><font size="2" face="Times New Roman">Sau Dinh Thới Sơn còn rất nhiều di tích các hình tượng, miếu thờ mô tả về các thời kỳ vùng đất An Giang thời hoang sơ, phải chiến đấu với muôn loài thú dữ như hổ báo, mãng xà v.v.. (nguồn: </font></em><a href="http://dongnguyenthe.wordpress.com/" target="_blank"><em><font size="2" face="Times New Roman">Dong Nguyen’s Blog</font></em></a><em><font size="2" face="Times New Roman">)</font></em></p>
<p>Trở lại tác phẩm <i>Nội Ngoại Đều Thương</i>, anh Hai có nhắc chuyện má anh thích hàng vải cẩm tự may cái quần để mặc đi đám tiệc nhưng vì nhà nghèo nên bác không mua nổi cái quần loại vải nầy, câu kết anh viết rất cảm động : <i>“Quần mẹ rách vá nhiều chỗ. Gặp người bán hàng vải dạo, mẹ ngắm tới ngắm lui hàng cẩm tự, mẹ thích lắm. Nhưng rồi nhìn lại đám con nheo nhóc, mẹ không lựa mua cẩm tự nữa. Mẹ tiếp tục mặc cái quần cũ. Bây giờ rất nhiều hàng vải đẹp, phẩm chất không thua hàng cẩm tự, các con có tiền để mua sắm cho mẹ. Nhưng mẹ không còn. Nhớ thương mẹ quá, mẹ ơi!” (9)</i></p>
<p>Đọc mấy dòng kết của anh làm tôi cũng nhớ má tôi nghèo như vậy, muốn khóc. Thưa anh Hai, sao ngày xưa người ta gọi các loại hàng lãnh Tân Châu là Cẩm Tự vậy anh Hai? Xin anh cắt nghĩa giùm cho em út hiểu thêm nhe anh Hai.<b></b></p>
<p><b></b></p>
<p><b>HAP:      <br /></b></p>
<p><i>Về tên hàng vải “cẩm tự,” tôi nhớ trên mặt hàng có dệt những chữ vuông cạnh, rõ nét. Theo Từ điển Hán Việt, “cẩm” là gấm vóc, “tự” là chữ, tôi nghĩ “hàng cẩm tự” là một loại gấm vóc có dệt chữ lên trên mặt. Anh Hai là nhà thâm nho, nếu thấy tôi giải thích không đúng, xin anh chỉnh giùm.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Thưa anh Hai An Phú,</p>
<p>Anh cắt nghĩa “<i>cẩm tự”</i> vậy là quá rõ rồi. Chữ dệt trên gấm. Theo Nguyễn Văn Kiềm hàng cẩm tự có nhiều loại như hàng lụa dệt ra loại trơn gọi là cẩm tự trơn, loại có bông thì gồm cẩm tự bông cúc, cẩm tự mặt võng, cẩm tự mặt đệm lớn, cẩm tự mặt đệm nhỏ v.v<i>…(10) </i>Nhà bà ngoại sắp nhỏ con tôi ở ngay xã Tân An (Tân Châu) xứ của những hãng dệt hàng lãnh cẩm tự, sau vườn có trồng nhiều cây mặc nưa hằng năm bán cho các lò nhuộm lãnh. Loại trái này nhuộm lãnh cẩm tự không bay màu nhe anh Hai, càng mặc cũ hàng càng bóng, vải mịn và mềm mại lắm.</p>
<p><b>HAP:</b></p>
<p><i>Thưa anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng,</i><i></i></p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><i>Anh Hai nhắc tôi mới nhớ đặc điểm của hàng cẩm tự là mặc càng cũ càng bóng, mịn và mềm. Nguồn tài liệu tham khảo của anh Hai quả thật dồi dào và vô giá, chắc anh đã khổ công góp nhặt và lưu giữ rất nhiều năm mới có được như vậy.</i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Anh Hai An Phú,</p>
<p>Giờ xin trở lại cuốn <i>Nội Ngoại Đều Thương</i> của anh Hai, ở lời mở đầu anh Hai có viết: <i>“Tôi không phải là nhà văn. Từ nhỏ đã thích đọc văn của người khác viết, nhưng bản thân mình chưa viết được một bài văn nào. Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy. Bè bạn có dịp đọc được, khuyến khích viết thêm, nên tiếp tục viết rồi in thành quyển sách nhỏ này để làm kỷ niệm.”</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Và rồi tôi đọc lời nhận xét của nhà văn Vũ Thất qua bài “<i><a href="http://thatsonchaudoc.com/banviet2/VuThat/HoiKy/TGTP_NoiNgoaiDeuThuong.htm" target="_blank">Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung</a>”</i> trên trang nhà Thất Sơn Châu Đốc, tác giả viết:</p>
<blockquote><p><i>Bằng vào lời phi lộ ‘Về già rảnh rỗi viết để giải khuây, nhớ gì viết nấy,’ thì hẳn ông bắt đầu viết vào lứa tuổi …tri thiên mệnh. Thế nhưng những gì ông nhớ và viết ra thì thật đáng kinh ngạc so với số tuổi của ông. </i></p>
</blockquote>
<p>Tiếp theo, tác giả Vũ Thất nhận định về cách viết của Khiêm Cung:</p>
<blockquote><p><i>Lối kể chuyện của ông là lối kể chuyện trinh thám, khiến tôi gần đứng tim và luôn mong mỏi cả gia đình ông được thoát đi suông sẻ .… Nhưng hãy nghe ông tỏ lời kết thúc chuyến vượt biên: ‘Trái đất tròn, nước Việt Nam mình cũng tròn, gia đình tôi đi vòng vòng rồi trở về chỗ cũ.’ Ông thất bại chua cay, mất bao nhiêu tiền của mà vẫn giữ nụ cười hóm hỉnh…</i></p>
</blockquote>
<p>Để rồi từ đó, nhà văn Vũ Thất đưa ra nhận xét về cách chọn lọc, sắp xếp các truyện trong <i>Nội Ngoại Đều Thương</i> như sau:</p>
<blockquote><p><i>Có lẽ chính nhờ tinh thần hài hước đó mà Khiêm Cung đã tuyển chọn bài và cố tình sắp xếp theo thứ tự thời gian đột biến: từ một quá khứ ấu thơ rồi bất ngờ kể chuyện tuổi già, từ tuổi già bỗng quay lại thuở học trò, từ thuở học trò chợt nhảy sang thời… mất nước. Thời gian đột biến kéo theo không gian đột biến. Từ quê nội sang quê ngoại. Từ quê nhà chuyển sang quê người. Đề tài cũng biến đổi liên tục. Từ gia đình đến hàng xóm. Từ thầy cô đến bạn bè. Từ tập tục lễ nghĩa đến chuyện cũ tích xưa. Từ ngôn ngữ bất đồng đến con người bất bình đẳng… Hiện tại-quá khứ xem ra không dính gì nhau mà lại đan nhau một cách một cách khéo léo, tự nhiên và lôi cuốn.</i></p>
</blockquote>
<p>Sau cùng, anh Vũ Thất kết luận:</p>
<blockquote><p><i>Với một trí nhớ lạ thường, một tri thức quảng bác, với lời văn bình dị sáng sủa đôi khi điểm chút khôi hài ý nhị, tôi không tin tập truyện Nội Ngoại Đều Thương được hình thành như ông bày tỏ: “<b>Về già rảnh rỗi viết để giải khuây”.</b> Ông nói gì thì nói, tự tập truyện của ông đã hàm chứa đầy đủ các lời nhắn nhủ về đạo làm người Việt Nam, rất cần cho con cháu ông, cho con cháu tôi và cho tuổi trẻ hải ngoại.(11)</i></p>
</blockquote>
<p>Là tác giả của tập truyện <i>Nội Ngoại Đều Thương</i> ấy, anh có cảm tưởng ra sao qua những lời nhận định vừa rồi của nhà văn Vũ Thất, anh Hai?</p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><b>HAP: </b></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Sau khi Cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương ra mắt, có nhiều độc giả thương mến coi tôi như là một nhà văn, tôi trân trọng cảm ơn chân tình đó. Nhưng bản thân tôi cho tới ngày hôm nay vẫn nhận thấy rằng mình chưa phải là một nhà văn. Tôi nhớ quê nội, làng Bắc Nam, ngay từ lúc tôi ra tỉnh lỵ Châu Đốc học, vì bận lo học hành, không thường xuyên về thăm nhà, thăm quê. Sau đó, gia đình rời Bắc Nam đi tản cư về quê ngoại ở An Phú-Châu Đốc, biết chắc là không bao giờ có dịp trở về làng cũ nữa, tôi càng nhớ Bắc Nam nhiều hơn. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Còn đối với làng Vĩnh Lộc và cả khu vực quận An Phú còn phảng phất nụ cười, tiếng nói và cử chỉ trìu mến của Bà Ngoại, của cậu mợ, các anh chị cô cậu của tôi và bà con, láng giềng của Bà Ngoại tôi tạo thành những kỷ niệm đẹp mà tôi không bao giờ quên được. Sống ly hương, chung quanh mình hầu hết là những người khác chủng tộc, màu da, những kỷ niệm êm đềm, đẹp đẽ nơi quê nội, quê ngoại hiện về, tôi vội ghi ra những kỷ niệm đó thành cuốn truyện ngắn, Nội Ngoại Đều Thương là một lối thoát cho những tình cảm sâu đậm, những luyến nhớ không nguôi còn ẩn ức trong lòng. Những tình cảm, những luyến nhớ đó có thể trở thành hương vị của món ăn tinh thần, Món ăn có ngon là nhờ hương vị ngon chớ không phải là do đầu bếp giỏi. Nội Ngoại Đều Thương là truyện kể, còn rất nhiều khuyết điểm, tôi tự thấy chưa phải là một nhà văn. Dầu sao, độc giả không quá hững hờ với cuốn truyện là một khích lệ lớn lao đối với người viết.</i><i></i></p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><i>Tôi đã ứa nước mắt vì cảm động khi đọc hai bài nhận xét về cuốn truyện Nội Ngoại Đều Thương, một bài của nhà văn Lương Thư Trung (mà cũng là Anh Hai Kinh Xáng Bốn Tổng) đăng nơi phần sau cuốn truyện và trên trang nhà <a href="http://thatsonchaudoc.com/banviet2/LuongThuTrung/TacGiaTacPham/NoiNgoaiDeuThuong.htm" target="_blank">Thất Sơn Châu Đốc</a>, đã soi thấu tâm can của tác giả; một bài khác của nhà văn Vũ Thất viết sau khi cuốn truyện phát hành, cũng đã đăng trên trang nhà <a href="http://thatsonchaudoc.com/banviet2/VuThat/HoiKy/TGTP_NoiNgoaiDeuThuong.htm" target="_blank">Thất Sơn Châu Đốc</a>, <a href="http://nguoivietboston.com/?p=10086" target="_blank">Người Việt Boston</a>, <a href="http://www.saigonecho.com/main/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=12198:%20%C4%90%E1%BB%8Dc%20N%E1%BB%99i%20Ngo%E1%BA%A1i%20%C4%90%E1%BB%81u%20Th%C6%B0%C6%A1ng%20c%E1%BB%A7a%20Khi%C3%AAm%20Cung&amp;catid=77:im-sach&amp;Itemid=118" target="_blank">Saigon Echo</a> và nhiều tờ báo đìện tử ở Hoa Kỳ, cùng những tờ như tờ Văn Nghệ Tuần Báo, Bán Tuần Báo Việt Luận ở Úc châu …. Cả hai bài viết rất vắn gọn, nhưng rất đầy đủ ý nghĩa, giới thiệu những điểm nổi bật của cuốn truyện, nhờ vậy mà có thêm nhiều độc giả tìm đọc Nội Ngoại Đều Thương. Tôi xin chân thành cảm ơn hai tác giả đã nhiệt tình giới thiệu cuốn truyện với đồng hương khắp nơi.</i><i></i></p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><i>Nhân tiện, tôi xin báo một tin vui nho nhỏ: Cuốn truyện ngắn Nội Ngoại Đều Thương được Austlit ghi nhận vào thư mục của tổ chức. Austlit là một hệ thống thư viện do 12 trường đại học tại Úc và Thư Viện Quốc gia Canberra phối hợp thành lập. Austlit có chuyên viên từng sắc tộc phụ trách đọc và tuyển chọn để ghi nhận vào thư mục những tác phẩm của người Úc (bất kỳ nguồn gốc nào), sáng tác và phát hành tại Úc. Đọc Nội Ngoại Đều Thương, Austlit thấy có những bài dính dáng đến Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, họ hỏi thăm tôi về anh Nghĩa, tôi đã gởi cho tổ chức đó mượn cuốn Con Đường Cũ và sẽ gởi cho họ tiểu sử của anh Nghĩa. Hy vọng sách của anh Nghĩa cũng sẽ được ghi nhận vào thư mục Austlit.</i><i></i></p>
<p><i></i><i></i></p>
<p><b>HT:</b></p>
<p>Thưa anh Hai An Phú,</p>
<p>Nhơn anh có nhắc nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa, cũng như trong lời giới thiệu khi vào cuộc trò chuyện này tôi có nhắc tác giả <i>Con Đường Cũ: “Viết về vùng Xà Tón (Tri Tôn) chắc chắn không ai qua nổi nhà văn Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa.”</i></p>
<p>Mới đây tôi có đọc được <i>“Những bức thư đầm ấm”(12),</i> là những lá thư thăm hỏi và trao đổi giữa nhà văn Nguyễn Hiến Lê và thi sĩ Quách Tấn (từ 1966 đến 1984). Nhơn bàn về viết địa phương chí, lá thư ghi Nha Trang ngày 27-4-1980, Quách Tấn viết: <i>“Viết địa phương chí cũng như viết truyện ký, phải viết bằng “cây bút trí” chấm vào “bình mực lòng” thì mới làm cho cảnh sống người sống. [Cho dù] viết bằng cây bút của người vẽ địa đồ, của người chép lý lịch, dù đúng từng ly từng tí, cũng không phải là một mỹ nghệ phẩm. Phải chăng anh? Theo tôi, phải yêu người yêu cảnh, viết mới hay nổi. Dường như anh đã đồng ý rồi.” (13) </i>Trong lá thư hồi âm ghi Sài Gòn ngày 10-6-80, Nguyễn Hiến Lê viết: <i>“Viết địa phương chí, đúng như anh nói, phải có lòng (tôi bảo là có tâm hồn) lại phải có cặp mắt nữa. Phạm Trung Việt thiếu cả hai cái đó. Hai tập Nươc Non Bình Định và Xứ Trầm Hương của anh, theo tôi, khó có ai viết hơn.”(14)</i></p>
<p>Từ đó, tôi mới nghiệm ra Khiêm Cung Dương Văn Chung và Phong Hưng Lưu Nhơn Nghĩa là những tác giả đã có đủ hai yếu tố ấy qua những trang sách viết về bức tranh quê làng Bắc Nam (An Phú) cũng như Xà Tón (Tri Tôn) thuộc địa giới tỉnh Châu Đốc vậy.</p>
<p>Xin chân thành cảm ơn anh Hai đã bỏ thì giờ chia sẻ nhiều chi tiết về một khoảng thời gian dài sáu bảy chục năm với những mùa cá tôm đầy trong sông nước vùng Bắc Nam (An Phú). Đồng thời qua cuộc trò chuyện này, anh cũng phác họa lại những nét chính về các sinh hoạt xã hội thời tao loạn lúc bấy giờ để giúp cho tôi và các bạn trẻ có dịp hiểu thêm về một vùng đất xa xôi mãi tận miền biên giới Việt-Miên, qua các mùa màng cùng những lễ tục. Đây thật là một cuộc trò chuyện thú vị và bổ ích.</p>
<p>Kính chúc anh Hai luôn luôn dồi dào sức khỏe và hy vọng anh sẽ tiếp tục chia sẻ cùng bạn đọc nhiều mẩu chuyện lý thú nơi làng quê của anh ngày xưa trong các bài viết mới sau này. Kính xin anh chuyển lời thăm chị Hai và kính chúc chị Hai cùng các cháu mạnh khoẻ.</p>
<p>Trân trọng kính chào anh Hai.</p>
<p><b>HAP:</b><b>      <br /></b><i>Cám ơn anh Hai Trầu. Khi nào anh chị Hai rảnh, kính mời anh chị ghé An Phú chơi để anh em mình có dịp tiếp tục hàn huyên.      <br /></i><i>Kính chúc anh chị Hai và các cháu vui khỏe.</i></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Duong-van-Chung-va-vo.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="Duong-van-Chung-va-vo" border="0" alt="Duong-van-Chung-va-vo" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/06/Duong-van-Chung-va-vo_thumb.jpg" width="241" height="202" /></a></p>
<p><b></b></p>
<p><b></b></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Nhà văn Khiêm Cung Dương văn Chung và phu nhân Nguyễn Ngọc Phấn</em></font></p>
<p><b></b></p>
<p><b>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-</b></p>
<p><b>Cước chú:</b></p>
<p><i>1/ Tập truyện Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung, nhà xuất bản Quán Âm Sơn, Tân Tây Lan, năm 2008, trang 1.</i></p>
<p><i>2/ Thằng Chum Xứ Cá, trong NNĐT sđd, gồm bốn phần: Nhà nghèo, Biển Hồ, Ngủ nóp, Rắn mắt, từ trang 74 đếm trang 86</i></p>
<p><i>3/ Đạo đâm đạo lụi, NNĐT sđd, trang 196</i></p>
<p><i>4/Tân Châu Xưa của Nguyễn Văn Kiềm &amp; Huỳnh Minh (31-12-1964), nhà xuất bản Thanh Niên tái bản, năm 2003.</i></p>
<p><i>5/ Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn của Nguyễn Văn Hầu,1970, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 66.</i></p>
<p><i>6/ Thất Sơn Mầu Nhiệm của Nguyễn Văn Hầu, do Từ Tâm xuất bản năm 1955; Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản (không ghi năm), trang 67.</i></p>
<p><i>7/ Dạo Chơi Tuổi Già của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ, năm 2002, trang 166.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>8/ Thất Sơn Mầu Nhiệm, sđd, trang 113. Quyển Tìm hiểu An Giang Xưa của Võ Thành Phương (nxb Văn Nghệ An Giang, 2004) có liệt kê</i> <i>những người tài theo Phật Thầy cứu người, cứu đời như:</i></p>
<p><i></i></p>
<blockquote><p><i>a/ Đức Cố Quản Trần Văn Thành quê ở Cồn Nhỏ, làng bình Thạnh Đông, tổng An Lương, tỉnh Châu Đốc.        <br /></i></p>
<p><i>b/ Ông Tăng Chủ, họ Bùi nhưng tên thiệt của ông thì hổng ai biết tên gì, trên bia mộ của ông ở Nhà Bàng (Tịnh Biên) chỉ ghi “Tăng Chủ Bùi Thiền Sư” mà thôi.        <br /></i></p>
<p><i>c/ Ông Đình Tây tên Bùi văn Tây, quê quán ở đâu không rõ, có người nói ông ở Năng Gù, có người nói ông ở Nhơn Hòa, cả hai nơi này đều thuộc tỉnh Châu Đốc.        <br /></i></p>
<p><i>d/ Ông Đạo Xuyến quê ở Ba Giác (Bến Tre), ông lập chùa Châu Long Thới và khai phá đất Cái Dầu.        <br /></i></p>
<p><i>e/ Ông Đạo Lập, tên thật Phạm Thái Chung, người làng Đa Phước, Cồn Tiên, thuộc An Phú của anh, ông lập chùa Bồng Lai ở Bài Bài thuộc xã Nhơn Hưng, quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc.        <br /></i></p>
<p><i>f/ Ông Đạo Ngoạn nguyên danh là Đặng Văn Ngoạn, sanh quán làng Nhị Mỹ, tổng Phong Thạnh, quận Cao Lãnh, trong lòng sông Cần Lố, thuộc rạch Trà Bồng (Đồng tháp Mười).        <br /></i></p>
<p><i>g/ Ông Đạo Lãnh, còn gọi ông Hai Lãnh, ông còn một tên nữa là Cậu Hai Gò Sặt. Ông tinh thông nho học, võ nghệ cao, có thuật gồng và thông tường các loại bùa thư.        <br /></i></p>
<p><i>h/ Ông Đạo Sĩ, người làng Trà Kiết (An Giang), từ Mặc Cần Dưng đi vô tới chợ Cần Đăng, đi vô nữa là tới Trà Kiết, ông đến Xẻo Môn thọ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, về sau ông lập cốc ở Trà Kiết trị bệnh cho bá tánh.        <br /></i></p>
<p><i>i/ Ông Đạo Thắng tên thật Nguyễn Văn Thắng, là người gần gũi với Phật Thầy Tây An.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>k/ Ông Đạo Chợ, quê ở Chưn Đùn, Cá Hố (gần Vàm Ông Chưởng), ông trị bịnh rất linh nghiệm.</i></p>
<p><i>l/ Ông Đạo Đọt giữ việc hương khói nơi trại ruộng Thới Sơn của Phật Thầy, có tài trị hết bịnh nhiều người. </i></p>
</blockquote>
<p>9/ Vải quần cẩm tự, NNĐT sđd, trang 195</p>
<p><i>10/ Tân Châu Xưa, sđd, trang 61.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>11/ “Đọc Nội Ngoại Đều Thương của Khiêm Cung Dương Văn Chung” của Vũ Thất, đăng trên Thất Sơn Châu Đốc ngày 27-5-2009.</i></p>
<p><i>12/ Những Lá Thư Đầm Ấm của Quách Tấn và Nguyễn Hiến Lê, do Quách Giao sưu tầm, nhà xuất bản Tổng hợp tp HCM, năm 2010.</i></p>
<p><i>13/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang275.</i></p>
<p><i>14/ Những Lá Thư Đầm Ấm, sđd, trang 283.</i></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/20445/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

