<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Đinh Từ Thức</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/dinhtuthuc/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Wed, 23 May 2012 13:21:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>The Artist, Oscars v&#224; Cộng sản</title>
		<link>http://damau.org/archives/23690</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23690#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 20 Mar 2012 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Thức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị]]></category>
		<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Điện Ảnh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/?p=23690</guid>
		<description><![CDATA[Một người say mê nghệ thuật điện ảnh như “Lãnh tụ kính yêu” Kim Jong-il của Bắc Triều Tiên, nếu được sống thêm ít năm nữa, nếu có cơ hội được xem phim The Artist, biết đâu ông chả sớm tỉnh ngộ, đưa dân tộc ông từ tình trạng phim câm sang phim nói.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Trước khi đoạt năm giải Oscars vào tối Chủ Nhật 26 tháng 2, 2012, tại Hollywood, gồm toàn các giải hàng đầu như phim hay nhất, đạo diễn giỏi nhất, nam tài tử xuất sắc nhất, cuốn phim của Pháp <em>The Artist</em> đã đoạt tới hai chục giải thưởng tại các đại hội điện ảnh khác, từ Pháp đến Anh, và Hoa Kỳ.</p>
<p>Ra mắt tại Cannes Film Festival năm ngoái,<em> The Artist</em> đoạt hai giải, một cho nam diễn viên chính Jean Dujardin<em>,</em> và giải Palm Dog cho con chó Uggie. Vẫn tại Pháp, phim này được 6 giải César (tương đương với Oscar của Mỹ); cũng toàn những giải giá trị như phim hay, đạo diễn (Michel Hazanavicius), và nữ diễn viên xuất sắc nhất (Bérénice Bejo). Tại Anh, <em>The Artist</em> được 7 giải BAFTA (British Academy of Film and Television Arts). Tại Mỹ, trước khi được Oscars là 3 giải Trái Cầu Vàng (Golden Globes của Hội Báo chí Ngoại quốc ở Hollywood), giải của Nghiệp đoàn các nhà sản xuất (Producers Guild Awards) ở Los Angeles, và giải Independent Spirit tặng cho nhà sản xuất độc lập (Thomas Langmann). <em>The Artist</em> là cuốn phim Pháp được đề cử nhiều nhất, và đoạt nhiều giải thưởng nhất trong lịch sử.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/TheArtistTeam.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="TheArtistTeam" border="0" alt="TheArtistTeam" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/TheArtistTeam_thumb.jpg" width="344" height="257" /></a></p>
<p align="center"><em>Chú chó Uggie cùng những người làm phim The Artist,     <br />nhà sản xuất Thomas Langmann (trái),      <br />diễn viên Jean Dujardin (giữa), đạo diễn Michel Hazanavicius (phải),       <br />tại giải Quả Cầu Vàng, Los Angeles, 15/01/2012.       <br />Ảnh của REUTERS/Lucy Nicholson</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Một cuốn phim “câm” đen trắng, dài 100 phút, được nhiều giải cao quý “xuyên đại dương” như vậy, là chuyện hiếm, và ắt phải có giá trị nghệ thuật cao. Nhiều phần chắc là người viết truyện kiêm đạo diễn Hazanavicius, cũng như nhà sản xuất Langmann không có dụng ý gì liên hệ tới cộng sản. Người châu Âu hiện nay coi Cộng sản như chuyện đã hoàn toàn thuộc về quá khứ, chẳng còn gì phải bận tậm. Sau khi nhận giải Oscar, đạo diễn Hazanavicius đã cho biết ông yêu mến phim câm như thế nào: “Tiếng nói hữu dụng, nhưng chỉ hữu dụng thôi. Tuy nhiên nó cũng làm giảm giá trị của truyền thông. Khi một đứa trẻ không biết nói, cười với bạn, làm bạn xúc động khác với cái cười của người lớn. Ngay cả với những người bạn yêu, không phải lúc nào bạn cũng dùng lời nói để biểu lộ những việc quan trọng. Tôi nghĩ khi bạn không cần phải nói, đó mới thực sự là sức mạnh”. Như vậy, ý của người làm phim đã khá rõ ràng. Đối với ông, “im lặng là vàng”. Nhưng người thưởng ngoạn phim, cũng như xem tranh, nhiều khi được tác phẩm cho những cảm hứng riêng, chẳng ăn nhập gì tới ý của tác giả. Với người viết bài này, câu truyện giả tưởng qua <em>The Artist</em> lại phản ảnh diễn tiến thật, đầy thú vị của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới.</p>
<p>Về thể loại, <em>The Artist</em> được coi là một phim lãng mạn bi hài (romantic comedy drama). Sự xuất hiện, bành trướng và sụp đổ của chế độ cộng sản cũng là một bi hài kịch lãng mạn của nhân loại vào thế kỷ 20. Khởi đầu, nhiều người theo cộng sản vì lãng mạn. Khi chế độ cộng sản gây ra chết chóc cho hàng trăm triệu người, lãng mạn thành bi kịch, rồi sụp đổ một cách khôi hài bởi bàn tay của người anh hùng bí tỉ như Yeltsin.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/Peppy.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Peppy" border="0" alt="Peppy" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/Peppy_thumb.jpg" width="450" height="291" /></a></p>
<p align="center"><em>Peppy Miller (Bérénice Bejo) đang đọc tin về chính mình, trong phim The Artist</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thời gian câu truyện<em> The Artist</em> diễn ra trong vòng 5 năm, tại Hollywood, từ 1927 đến 1932, là thời kỳ nghệ thuật thứ Bảy tiến từ giai đoạn phim câm sang phim nói, như một đứa trẻ từ bỏ quãng đời chỉ biết diễn tả bằng nụ cười và những cử chỉ khuơ chân múa tay, gật hay lắc đầu, sang giai đoạn có thể diễn đạt bằng lời nói. Mở đầu bằng cảnh chiếu ra mắt cuốn phim mới nhất của tài tử lớn George Valentin (Jean Dujardin), “Một điệp vụ Nga” <em>(A Russian Affair)</em>, trong đó vai chính bị tra khảo bằng điện, bắt phải nói, nhưng nhất định không nói (cảnh mà người dẫn chương trình Billy Crystal đã bắt chước khi mở đầu buổi phát giải Oscars). Khi buổi chiếu ra mắt chấm dứt, khán giả trong rạp đứng dậy nhiệt liệt hoan hô, tài tử chính George Valentin phải nhiều lần ra vào cám ơn khán giả ngưỡng mộ. Ngoài cửa rạp, phóng viên ảnh đổ xô tới chụp hình tài tử chính. Giữa cảnh đông đảo chen chúc, Peppy Miller (Bérénice Bejo), một cô gái trẻ tuổi mới tới Hollywood, ôm mộng trở thành diễn viên, chẳng may (hay may mắn) đụng vào tài tử lớn Valentin, người mà cô hằng ngưỡng mộ. Chàng thoáng ngạc nhiên lúc đầu, nhưng trước công chúng, vội vàng cười, tỏ cử chỉ khả ái. Trước sự khuyến khích của đám đông và các phóng viên chụp hình, nàng đáp lại bằng nụ hôn cảm ơn. Trên trang nhất báo chí hôm sau đăng hình lớn của chàng và nàng, với câu hỏi “cô đó là ai?” Nhờ sự đụng chạm bất ngờ này, sau đó, cô đã kiếm được một vai vũ công trong cuốn phim kế tiếp “Một điệp vụ tại Đức” (<em>A German Affair</em>).</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/DujardinAsValentin.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="DujardinAsValentin" border="0" alt="DujardinAsValentin" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/DujardinAsValentin_thumb.jpg" width="360" height="242" /></a></p>
<p align="center"><em>Đại tài tử phim câm George Valentin (Jean Dujardin):      <br />“Tôi thành công, nhờ khán giả tới xem tôi diễn xuất,      <br />đâu phải để nghe tôi nói. Âm thanh là chuyện vớ vẩn…”</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Năm 1929, là năm xẩy ra vụ khủng hoảng kinh tế lớn nhất trong lịch sử. Để đối phó với tình hình khó khăn, giới làm phim cũng phải có quyết định khó khăn: đột phá hay là chết. Chủ hãng phim Kinograph Studios là Al Zimmer (John Goodman) quyết định thôi làm phim câm, chuyển sang phim nói. Tài tử lớn George Valentin vẫn giữ vững lập trường, coi phim câm là đỉnh cao của nghệ thuật, không thể thay thế. Để chứng tỏ mình đúng, Valentin tự bỏ vốn và tự sản xuất một phim mới. Trong khi ấy, Peppy Miller được hãng Kinograph cho đóng trong phim nói. Kết quả là khán giả xếp hàng dài cả dẫy phố đợi mua vé xem phim do Peppy Miller đóng, còn rạp chiếu phim của đại tài tử Valentin vắng như chùa bà đanh; hình Valentin in sẵn để phát cho giới ái mộ rơi rớt trên vỉa hè, dưới gót giầy của kẻ qua người lại, chẳng ai thèm nhặt.</p>
<p>Thất bại trong nghề nghiệp, cộng với thất bại về tài chính, Valentin trong tình trạng rất đáng thương. Vợ cũng bỏ đi. Gia tài bị bán đấu giá. Chỉ còn hai kẻ thân thiết là con chó Uggie và ông tài xế già Clifton (James Cromwell). Cuối cùng phải cho ông tài xế đi nốt, vì cả năm không có tiền trả lương.</p>
<p>Về phần Miller, phim nói giúp cô thành công rực rỡ, cả về danh vọng lẫn tiền tài. Cô là người có tình, vẫn ái mộ Valentin, cố thuyết phục chủ hãng Kinograph cho anh một vai. Nhưng khi nhận được truyện phim, anh vẫn tỏ vẻ khinh bỉ, coi phim nói như một thứ rác rưởi. Trong tình trạng thất vọng cùng cực, anh trở thành say sưa, gần như điên dại. Đến nỗi, đem tất cả những cuốn phim nổi tiếng mình đã đóng (chỉ giữ lại cuốn phim đầu có Miller), châm lửa đốt, làm cháy nhà, may nhờ con Uggie cứu, thoát chết. Trong khi anh còn mê man tại bệnh viện, Peppy Miller xin đem anh về dinh thự của mình để tĩnh dưỡng. Sau khi đã bình phục, một hôm Valentin khám phá chính Peppy đã kín đáo cho mua qua đấu giá những sản phẩm nghệ thuật, kể cả bức chân dung lớn của mình, đem về che đậy, cất giữ tại một căn phòng lớn. Thất vọng cùng cực cộng với xấu hổ, anh đã trở lại nhà mình, tìm khẩu súng lục, đút nòng súng vào mồm…. Miller từ phim trường về nhà, thấy những tấm vải che kỷ vật nghệ thuật của anh bị lật tung, mà không thấy anh. Nhậy cảm của nữ giới biết ngay anh đang ở đâu, nàng vội nhảy lên xe, phóng tới nhà anh. Cùng lúc, trong nhà, anh ở tư thế sẵn sàng lẩy cò súng, ngoài đường, xe nàng phóng như bay, có thể gây tai nạn bất cứ lúc nào. Một chữ “BANG!” trên màn ảnh, đưa sự căng thẳng đến tột độ. Anh chết, nàng chết, cả hai cùng chết, hay cả hai cùng sống, xin miễn nói ở đây, để bảo vệ quyền lợi của những người chưa xem <em>The Artist</em>.</p>
<p>Sự chuyển hóa của thế giới điện ảnh từ phim câm sang phim nói diễn ra vào cuối thập niên 20, đầu thập niên 30 của thế kỷ trước. Đối với thế giới cộng sản, sự thể này diễn ra chậm hơn khoảng 60 năm sau. Phim câm là biểu tượng của xã hội cộng sản không có tự do ngôn luận. Trong một xã hội mà mọi người không được nói thật, hiểu nhau qua cử chỉ, ánh mắt, những nét méo mó vụng trộm trên khuôn mặt, và an ủi nhau bằng những giọt nước mắt lén lút vội chùi, ngôn ngữ thành vô nghĩa, nói cũng như không. Cuối thập niên 80, đầu 90 thế kỷ trước, thế giới cộng sản bắt buộc phải đi từ chỗ phủ nhận sang chấp nhận tự do ngôn luận, như điện ảnh đi từ phim câm sang phim nói. Khi Tổng bí thư Gorbachev từ chức và ông Yeltsin cấm đảng cộng sản hoạt động, chính là lúc Liên Xô làm theo quyết định của chủ hãng Kinograph không còn làm phim câm nữa.</p>
<p>Nhưng cũng như thế giới điện ảnh, trong thế giới cộng sản cũng có những “tài tử” bảo thủ cứng đầu như George Valentin, nhất định sống chết với những giá trị cũ đã lỗi thời. Đó là “Tứ nhân bang”: Tầu, Bắc Triều Tiên, Cuba, và Việt Nam. Thành công vẻ vang của nàng Peppy Miller, chính là hình ảnh của bà Angela Merkel vươn lên từ xã hội câm vốn được gọi là Đông Đức, cùng với những tài tử thức thời khác như Ba Lan, Tiệp… Trong khi ấy, những đại tài tử vẫn trung kiên với chủ trương phim câm, như Bắc Triều Tiên và Cuba, thân tàn ma dại chẳng khác gì chàng George Valentin thuở nào. Vợ Lalentin bỏ chồng, chính là cảnh những đảng viên kỳ cựu vượt biên ra đi, hay “chẳng đặng đừng” dứt áo bỏ Đảng.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/NguyenPhuTrong.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="NguyenPhuTrong" border="0" alt="NguyenPhuTrong" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/03/NguyenPhuTrong_thumb.jpg" width="240" height="240" /></a></p>
<p align="center"><em>Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng:     <br />“Sự lãnh đạo của Đảng… Trước kia đã như vậy, hiện nay      <br />đang như vậy, và sau này cũng sẽ vẫn như vậy.”</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Lỗi tại ai? Valentin không đổ lỗi cho ai đã xô đẩy mình tới tình trạng thảm thương, khuynh gia bại sản, đến nỗi phải chọn quyết định tự sát. Mà còn đổ cho ai? Khi quyết định đi ngược với trào lưu tiến hóa, khi nhân loại đã bước sang giai đoạn nói, mà mình vẫn cố bám lấy thời đại câm, đó chính là thái độ tự sát, chẳng cần ai đưa đẩy. Nhưng đám “Tứ nhân bang” thì nhất định vẫn còn đổ tội cho “bọn xấu”, và “các thế lực thù địch” đã không ngừng mưu hại mình.</p>
<p>Đáng tiếc! Một người say mê nghệ thuật điện ảnh cách riêng như “Lãnh tụ kính yêu” Kim Jong-il của Bắc Triều Tiên, nếu được sống thêm ít năm nữa, nếu có cơ hội được xem phim <em>The Artist</em>, biết đâu ông chả sớm tỉnh ngộ, đưa dân tộc ông từ tình trạng phim câm sang phim nói. Với các tài tử còn sống trong đám Tứ nhân bang, hy vọng họ cũng có dịp xem phim, và sớm nhận ra thông điệp trong <em>The Artist</em>, để dân họ được nhờ. Riêng với cánh Hồi giáo cực đoan, xem phim là tội lỗi.<em> The Artist</em> không có hy vọng tới mắt họ. Ông Obama đành phải gửi thông điệp cho họ bằng máy bay không người lái, và những toán Navy Seal.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23690/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Năm Rồng N&#243;i Chuyện Rồng C&#225;i</title>
		<link>http://damau.org/archives/23171</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23171#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 23 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Thức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Giới Tính]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23171</guid>
		<description><![CDATA[Theo tự điển, chữ rồng cái (dragon lady) có hai nghĩa: (1) Một phụ nữ mạnh mẽ, hống hách, ngang ngược; (2) Một phụ nữ nguy hiểm và quyến rũ (“femme fatale”).  Theo ngôn ngữ thông dụng, “dragon lady”  là những phụ nữ Á Đông có cá tính mạnh, dựa vào chồng con để tham gia quốc sự.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="justify">&#160;</p>
<p align="right">(<em>Xuất hiện lần đầu trên Việt Báo số Xuân Nhâm Thìn 2012</em>)</p>
<p><strong></strong></p>
<blockquote><p><strong>LTS:</strong>&#160; Danh từ “dragon lady” phát xuất từ Tây Phương, có tính cách miệt thị, thường dùng để ám chỉ một khuôn mẫu phụ nữ Á Châu xa lạ, bí hiểm, tham quyền, nhiều mưu mẹo. Ngày hôm nay danh từ “dragon lady” đã vượt ngoài khuôn khổ da vàng và đôi lúc bao gồm các phụ nữ da đen “mạnh miệng.” Tuy chưa ai gọi phụ nữ da trắng là “dragon lady,” Hilary Clinton đã một thời bị báo chí Mỹ ví là “phu nhân Macbeth” (người vợ xảo quyệt và tham quyền của Macbeth, đã xúi chồng cướp ngôi Duncan&#8211;vua Tô Cách Lan &#8211;trong thảm kịch nổi tiếng của Shakespeare.) Vì khái niệm “dragon lady” mang tích cách kỳ thị, có lẽ “rồng cái” là cách dịch sát nhất của tác giả Đinh Từ Thức cho chữ “dragon lady.” Tuy vậy, Da Màu mong được đón nhận những thảo luận từ quý độc giả về cách diễn dịch khái niệm “dragon lady” sang Việt ngữ. Với những tiến triển ở mặt lịch sử, văn hóa, xã hội và luật pháp hiện nay, có phải đây cũng là một danh từ đã lỗi thời, phát xuất từ thời đại thực dân khi quyền lực của phụ nữ và các chủng tộc chưa được coi là chính thống/hợp pháp? Khi đặt ra danh từ “dragon lady,” có phải cũng là cách Tây Phương “lạ hóa” Đông Phương, không khác chuyện Baudelaire sáng tác bài thơ “A Une Dame Créole” (“<em>Au pays parfumé que le soleil caresse</em> ….”) như cách so sánh một phụ nữ nô lệ da màu với một quốc gia lạc hậu nhưng quyến rũ, thơ mộng?</p>
<p>Để có sự đối chiếu và đồng thời nới rộng khuôn thảo luận, xin quý độc giả cũng đọc lại bài tiểu luận “<a href="http://damau.org/archives/18656" target="_blank">Phụ nữ Á Châu trong Phim Ảnh: Không Hả Hê, Không May Mắn</a>” của Jessica Hagedorn (bản dịch Nguyễn thị Hải Hà), đăng ngày 4 tháng 3, 2001 trên Da Màu.</p>
</blockquote>
<p>&#160;</p>
<p>Rồng là một linh vật không có thật. Tiên cũng không có thật. Nhưng thường nghe nói ông tiên, bà tiên, cô tiên, mà không nghe nói rồng đực, rồng cái.</p>
<p>Tại Trung Quốc ngày xua, rồng có vẻ giống đực, vì tượng trưng cho nhà vua, trong khi một linh vật khác tượng trưng cho vợ vua, là phụng. “Long phụng” là hình ảnh của vua và hoàng hậu. Trước cửa cung điện chính tại Dinh mùa Hè – Di Hòa Viên – của nhà vua ở ngoại ô Bắc Kinh, có hai con long phụng bằng đồng. Theo lệ thường, long bên mặt, phụng bên trái; vua quan trọng hơn hoàng hậu. Sau khi thu tóm mọi quyền hành trong tay, Từ Hi Hoàng Thái Hậu ra lệnh đổi vị trí, phụng bên mặt, long bên trái. Vị thế này vẫn còn tồn tại đến nay.</p>
<p>Tại Việt Nam, theo sử Trần Trọng Kim: “Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân”. Rồi Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra trăm con. “Long Nữ” là tên riêng, hay chính bà là “rồng (cái)”? Quý vị nào biết, xin chỉ giáo.</p>
<p>Tựa “Rồng Cái” của bài này thật ra dịch từ tiếng Anh <i>“Dragon Lady”. </i>Đây là chữ mới xuất hiện trong tiếng Anh, chỉ mấy chục năm nay.</p>
<p>Wikipedia căn cứ theo Oxford English Dictionary nói rằng vào thế kỷ 18 và 19, người ta đã dùng chữ “dragon”, và ngay cả chữ “dragoness” để chỉ phụ nữ hăng say và áp đảo (fierce and aggressive), nhưng trong tiếng Anh không có chữ “Dragon Lady”, cho đến khi họa sĩ Milton Caniff sáng chế ra trong loạt truyện giải trí bằng tranh comic nổi tiếng của ông là “Terry and the Pirates”. Danh hiệu Rồng Cái (Dragon Lady) được dùng lần đầu ngày 6 January 1935.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/terry-and-the-pirates-dragon-lady.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="terry-and-the-pirates-dragon-lady" border="0" alt="terry-and-the-pirates-dragon-lady" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/terry-and-the-pirates-dragon-lady_thumb.jpg" width="250" height="387" /></a></p>
<p align="center"><em>Bìa truyện comic Terry and the Pirates của Milton Caniff</em></p>
<p>Họa sĩ Caniff tạo ra Rồng Cái, lấy cảm hứng từ một cuốn phim năm 1931, mang tựa “Daughter of the Dragon”, cuốn phim này lại dựa vào loạt truyện “The Daughter of Fu Manchu”, của Sax Rohmer.</p>
<p>Daughter of the Dragon do Anna May Wong (1905 – 1961) thủ vai một công chúa người Tầu, khá quái ác. Wong là diễn viên gốc Tầu đầu tiên nổi tiếng từ Hollywood đến Âu châu, diễn xuất từ thời phim câm sang phim nói. Qua phim <i>Con Gái Rồng </i>này,<i> </i>Wong trở thành Rồng Cái, tuy rằng khi phim này ra đời, chưa có chữ rồng cái.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon" border="0" alt="anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/anna-May-Wong-daughter-of-the-dragon_thumb.jpg" width="269" height="348" /></a></p>
<p align="center"><em>Nữ diễn viên Anna May Wong</em></p>
<p>Dù ra đời gần phố Tầu ở Los Angeles, trên nguyên tắc là người Mỹ, và trở thành diễn viên nổi tiếng, Wong vẫn bị coi là người Tầu, chỉ được cho đóng phim hạng B, hay những vai tầm thường như nữ tỳ hoặc người giúp việc. Năm 1935, Wong đã vô cùng thất vọng khi một vai quan trọng trong cuốn phim dựng theo truyện Đất Lành (The Good Earth) của nữ nhà văn Pearl Buck đã về tay một diễn viên người Đức, thay vì Wong.</p>
<p>Ngoài ra, theo luật cấm hôn nhân dị chủng, Wong không thể đóng phim có cảnh hôn người da trắng trên màn ảnh, dù người này đã hóa trang để đóng vai người Á Đông. Không có vai chính nam là người Á Đông, Wong không thể đóng vai nữ chính.</p>
<p>Wong luôn cố đề cao quê cha đất tổ, phản đối những vai trò hèn hạ do người Tầu đóng như trong phim <em>Daughter of the Dragon</em>, và lớn tiếng tố cáo nước Nhật trong vụ tạo cớ để chiếm Mãn Châu. Nhưng, báo chí của chính quyền Trung Hoa không ngớt lên án Wong làm xấu mặt phụ nữ Trung Hoa. Trong khi ấy, viện Đại học Bắc Kinh lại tặng Anna May Wong bẳng Tiến sĩ danh dự, năm 1932.</p>
<p>Wong nói một câu ngắn, chẳng những mô tả khá đầy đủ hoàn cảnh của mình bảy chục năm trước, mà ngày nay còn đúng cho cả những di dân muốn theo đuổi nghiệp đóng phim: <i>“Thật đáng buồn cho tình trạng bị phủ nhận bởi người Trung Quốc vì tôi ‘quá Mỹ’ và bởi các nhà sản xuất Hoa Kỳ vì họ thích chọn người chủng tộc khác đóng vai người Tầu”.</i></p>
<p>Ngày nay, theo American Heritage Dictionary, chữ rồng cái (dragon lady) có hai nghĩa: (1) Một phụ nữ mạnh mẽ, hống hách, ngang ngược; (2) Một phụ nữ nguy hiểm và quyến rũ, một “femme fatale”. Định nghĩa thì như vậy, nhưng trước hết, “dragon lady” thường được dùng để chỉ những phụ nữ Á Đông có cá tính mạnh, dựa vào chồng con để tham gia quốc sự. Lên Internet, google chữ “dragon lady”, thế nào cũng thấy xuất hiện danh tính ba bà Từ Hi Thái Hậu, bà Tưởng Giới Thạch, và Bà Ngô Đình Nhu. Vậy, bài này chỉ nói tới ba bà.</p>
<p><b>Rồng cái vua sau rèm</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Mặc dầu nhà Thanh có lệ đàn bà không dính tới việc nước, nhưng bà Từ Hi đã cai trị Trung Hoa trong 47 năm. Gần ba chục năm sau khi bà mất, chữ “rồng cái” (dragon lady) mới ra đời, nhưng ngày nay, bà được gọi là Rồng Cái.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress.png"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress" border="0" alt="The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/The_Ci-Xi_Imperial_Dowager_Empress_thumb.png" width="290" height="337" /></a></p>
<p align="center"><em>Chân dung Từ Hi Thái Hậu</em></p>
<p>Từ Hi Thái Hậu (Cixi Tai Hou) sinh năm 1835 tại Mãn Châu, đúng một trăm năm trước khi chữ dragon Lady ra đời, mất năm 1908. Bà được tuyển vào cung làm phi tần của Hoàng Đế Hàm Phong (Xiamfeng) khi là một thiếu nữ. Nhờ sinh được con trai nối dõi, Bà được nâng lên hàng thứ phi, vì Hoàng Hậu không có con.</p>
<p>Năm 1890, vào hồi kết thức trận chiến nha phiến thứ nhì, liên quân Anh Pháp chiếm thủ đô Bắc Kinh, đốt phá bằng địa Di Hòa Viên, là cung điện cư ngụ mùa Hè của nhà vua ở ngoại ô Bắc Kinh. Vua và hoàng gia cùng quần thần phải chạy về lánh nạn tại Nhiệt Hà (Rehe), bây giờ là Thành Đô, Hà Bắc (Chengde, Hebei).</p>
<p>Tháng 8, 1861 Hàm Phong qua đời tại Nhiệt Hà, hoàng tử nối ngôi (con của thứ phi, sau thành Từ Hi Thái Hậu) mới 6 tuổi. Trước khi từ trần, Hàm Phong gọi các cận thần lại, lập ban nhiếp chính tám người, để giúp Hoàng Đế tương lai. Hoàng Hậu và Thứ Phi cũng được nhà vua gọi đến, nhắn nhủ hai bà hòa thuận, cùng nhau giúp vua con trưởng thành.</p>
<p>Sau khi Hoàng Đế Hàm Phong băng hà, Hoàng Hậu 25 tuổi được mang danh hiệu Từ Ân Thái Hậu (Ci’an Tai Hou). Thứ Phi 27 tuổi lên địa vị Từ Hi Thái Hậu. Khi Hàm Phong còn sống, Từ Hi đã âm mưu nắm quyền. Sau khi Hàm Phong băng hà, một mặt Từ Hi liên kết với Từ Ân Thái Hậu để cả hai cùng trị nước, mặt khác, chia rẽ ban nhiếp chính. Trong khi thi hài nhà vua còn đợi ngày tốt để được rước về kinh, Từ Hi cùng con trai về Bắc Kinh trước, liên kết với các phần tử bất mãn chống lại ban nhiếp chính. Vụ này coi như cuộc đảo chính trong cung, ban nhiếp chính bị lật đổ. Để tỏ lòng nhân từ, Thái Hậu Từ Hi cho quan đứng đầu ban nhiếp chính “được” chém đầu, thay vì bị tùng xẻo.</p>
<p>Từ đó, hai bà Thái Hậu ngồi sau rèm lo việc triều chính, được các nhà viết sử gọi là “Thùy Liêm thính chính”. Hai bà chọn niên hiệu cho vua con là Đồng Trị (Tongzhi) – cùng cai trị. Bà Từ Ân vốn ngây thơ hiền lành, chán việc triều chính, khiến quyền hành trong tay bà Từ Hi ngày càng tăng.</p>
<p>Năm 1872, khi vua Đồng Trị 17 tuổi, tuy là con ruột bà Từ Hi, nhưng cưới người vợ theo chỉ dẫn của bà Từ Ân. Cô này còn là cháu một kẻ thù của bà Từ Hi, khiến mối liên hệ mẹ chồng nàng dâu rất căng thẳng. “Đôi trẻ” Hoàng Đế và Hoàng Hậu quấn quít bên nhau, làm cho Thái Hậu Từ Hi ngứa mắt. Bà bắt Hoàng Đế phải xa vợ, cấm cung một nơi để lo việc nước. Chán cảnh lẻ loi, nhà vua cùng với bạn, lẻn ra ngoài Tử Cấm Thành, giả thường dân đi chơi điếm. Có tin đồn Hoàng Thượng mắc bệnh hoa liễu, và chết vì bệnh này năm 20 tuổi. Nhưng cũng có tin nhà vua băng hà vì bệnh đậu mùa. Hai tháng sau, Hoàng Hậu trẻ cũng qua đời. Có tin đồn bị đầu độc, nhưng vô bằng chứng.</p>
<p>Đồng Trị không con nối dõi. Từ Hi chọn một người cháu của mình, mới 4 tuổi, cho làm vua, lấy hiệu là Quang Tự (Guangxu) – thừa tự vinh quang. Hai bà Thái Hậu tiếp tục cai trị từ sau rèm. Đến khi bà Từ Ân qua đời năm 1881, bà Từ Hi nắm độc quyền trị nước. Vì bà Từ Ân qua đời đột ngột, khiến dư luận nghi bà bị đầu độc, nhưng không có bằng chứng.</p>
<p>Năm 1887, Hoàng Đế Quang Tự được 16 tuổi, đáng lẽ đủ tuổi để cai trị, nhưng bà Từ Hi vẫn tiếp tục nhiếp chính “theo thỉnh nguyện của quần thần”. Hai năm sau, Quang Tự phải lấy một người cháu của bà làm Hoàng Hậu. Thay vì thân thiết với Hoàng Hậu, Quang Tự lại gắn bó với một phi tần, khiến bà Tù Hi giận dữ.</p>
<p>Ở tuổi đôi mươi, Quang Tự trưởng thành vào đúng lúc nước Tầu thất bại trong trận Trung Nhật chiến tranh năm 1894, nên muốn canh tân đất nước để kịp thời đối phó với tình thế. Dưới ảnh hưởng của các nhà cải cách như Khang Hũu Vi (Kang Youwei) và Lương Khải Siêu (Liang Qichao), Quang Tự muốn đổi mới Trung Hoa như Nhật và Đức.</p>
<p>Quang Tự họp bàn kế hoạch canh tân với các nhân vật chủ trương thay đổi, kể cả quân sự và dân dự. Chỉ trong một trăm ngày, Quang Tự công bố hơn một trăm biện pháp canh tân. Bà Từ Hi phản ứng bằng cách thẳng tay đàn áp: Quản thúc Quang Tự trong một cung điện trên hòn đảo nhỏ ở Đông Nam Hải (Zhongnanhai), cạnh Tử Cấm Thành, không cho tiếp xúc với bất cứ ai. Phía quân sự, sáu quân nhân trong nhóm Đàm Tự Đồng (Tan Sitong) bị giết. Đứng đầu phe dân sự là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu chạy thoát sang Nhật. Vụ này gọi là chính biến Mậu Tuất (1898).</p>
<p>Sau vụ này, Từ Hi Thái Hậu ra chiếu chỉ phán rằng Quang Tự hoàn toàn sai lầm, không xứng đáng với địa vị Hoàng Đế. Tuy không bị phế bỏ, nhưng sự nghiệp Quang Tự coi như chấm dứt.</p>
<p>Năm sau, 1900, có cuộc nổi dậy của Nghĩa Hòa Đoàn (Yi He Tuan). Môn phái này mang tính tôn giáo, vốn xuất phát từ tỉnh Sơn Đông, gồm đa số nông dân, sử dụng gươm giáo và quyền cước, người Tây phương gọi là “Boxer Rebellion”, nên còn được dịch là “Loạn Quyền Phỉ”. Thành viên phái này tin vào bùa phép, nghĩ rằng súng đạn không giết được họ. Vốn chống Thanh phò Minh, nhưng khi áp lực của Tây phương đè nặng trên Trung Hoa, họ quay sang phò Thanh diệt Dương, ủng hộ triều đình tiêu diệt người Tây phương.</p>
<p>Thấy Nghĩa Hòa Đoàn được dân chúng khắp nơi ủng hộ, bà Từ Hi nghĩ rằng họ có thể giúp bà chống ngoại xâm. Bà nói: “Có lẽ không thể trông cậy vào ma thuật của họ; nhưng chúng ta có thể nào không dựa vào tâm và trí của nhân dân? Trung Quốc ngày nay vô cùng yếu. Chúng ta chỉ có tâm và trí của nhân dân để dựa vào. Nếu chúng ta bỏ qua và mất sự ủng hộ của dân, chúng ta có cái gì để giữ nước?” Bà công khai ủng họ Nghĩa Hòa Đoàn, cùng lúc tuyên chiến với các cường quốc Tây phương. Chiến tranh nổ lớn, các phái bộ ngoại quốc bị vây hãm và giết hại. Bát quốc liên quân tiến chiếm Bắc Kinh, nhiều người cả hai bên chết và bị thương. Triều Đình phải chạy về Tây An (Xi’an).</p>
<p>Khi thấy Bát quốc liên quân khá mạnh, Bà lại cầm chân Nghĩa Hòa Đoàn, không cho đánh đến cùng. Liên minh Tây phương cũng không săn đuổi bà tới cùng. Họ cho người tới thương thuyết, bảo đảm vẫn tôn trọng địa vị của Bà. Từ Hi đồng ý hòa đàm, đưa tới hòa ước năm 1901, chịu bồi thường chiến phí cho Liên minh số tiền là 450 triệu lạng bạc, ngang với 450 triệu dân Trung Quốc, trả trong 39 năm, cả vốn lẫn lời thành trên 900 triệu lạng bạc, đổ đồng mỗi đầu dân hai lạng. Nước Mỹ làm một cử chỉ có ý nghĩa, dùng số tiền bồi thường về phần mình để phát triển giáo dục Trung Quốc, một phần cho người Trung Quốc đi du học, một phần mở trường tại Trung Quốc, Đại học Thanh Hoa (Tsinghua) nằm trong số này, trở thành đại học danh tiếng ngày nay.</p>
<p>Từ Tây An trở lại Bắc Kinh vào tháng Giêng 1902, bà Từ Hi thay đổi hoàn toàn. Bà bắt đầu cải cách mọi mặt, về chính trị, ban hành hiến pháp, về xã hội, bỏ tục phụ nữ bó chân, về giáo dục, thay đổi cách học và cách thi… Bà chủ trương thay đổi nhiều hơn cả đề nghị của những người bà chém đầu mấy năm trước. Để lấy lại uy tín và tạo hình ảnh Âu hóa trước dư luận, Bà cho mời họa sĩ Âu châu vào cung, vẽ hình bà mặc long bào, áo có thêu rồng của nhà vua, chứng tỏ mình là kẻ cầm quyền chính thống. Bà cho gọi một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, vào cung chụp một loạt hình của bà, là bộ ảnh duy nhất ghi lại cảnh Bà trong cung triều đình Trung Quốc vào đầu thế kỷ 20. Gây tranh cãi nhiều nhất vào thời đó là hình bà Từ Hi trong y phục Quan Âm, nhân vật biểu tượng của tình thương trong Phật Giáo. Người ta phản đối: “Hãy tưởng tượng, Hoàng Thái Hậu từng bị cho là người đoạt ngôi vua, giết hại dân và người ngoại quốc, rồi ăn mặc như Quan Âm là người tượng trưng cho tình thương?”</p>
<p><a href="http://www.asia.si.edu/explore/china/powerplay/" target="_blank">Bộ ảnh hiếm có về bà Từ Hi</a> đang được trưng bầy tại Freer/Sackler thuộc Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Á Châu của hệ thống The Smithsonian, tại Washington, DC. từ 24 tháng 9, 2011, đến sau Tết Rồng, 29 tháng 1, 2012.</p>
<p>Mối liên hệ giữa công chúng, triều Thanh và các cường quốc Tây phương vào đầu thế kỷ trước là cái vòng luẩn quẩn. Dân sợ vua quan, vua quan sợ nước ngoài, nước ngoài sợ dân. Dân sợ vua quan, vì vua quan có quyền thưởng phạt. Vua quan sợ nước ngoài, vì họ có thể mang quân tới lật đổ mình. Nước ngoài sợ dân, vì không thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán, họ không thể trực tiếp cai trị dân. Vậy, nước ngoài muốn trị dân, họ phải quay ngược vòng: Nắm đầu vua quan, để vua quan trị dân thay cho họ.</p>
<p>Bát quốc liên minh không lật đổ bà Từ Hi, giữ bà lại để bà trị dân, bắt dân đóng thuế để bồi thường cho mình. Chừng nào địa vị bà không bị lung lay, bà sẵn sàng làm vừa lòng nước ngoài, kể cả ngăn chặn dân chúng bài ngoại.</p>
<p>Có vẻ nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh ngày nay đã học thuộc bài học Tây phương đối với bà Từ Hi. Họ sẽ không bao giờ đem quân tới đánh và trực tiếp cai trị dân tộc Việt Nam. Họ nắm đầu đảng cầm quyền ở Hà Nội để cai trị dân Việt thay cho họ. Dân Việt không nộp tiền cho họ qua hình thức “bồi thường”, mà qua ngả “đấu thầu” họ thường thắng với tỉ lệ 90%.</p>
<p>Vừa lên cầm quyền, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải sang Bắc Kinh nhận lệnh. Lệnh ra sao? Bí mật, ai biết! Trong khi ấy, Chủ Tịch vô quyền Trương Tấn Sang đi Ấn đi Phi, nói năng mạnh bạo, nhưng lời nói của kẻ không có thực quyền, liệu có ích gì? Biết đâu, Bắc Kinh chả sắp xếp như vậy để che mặt thế gian. Kể cả chuyện “Hà Nội xích lại với Mỹ,” biết đâu chỉ là màn kịch đạo diễn từ Bắc Kinh.</p>
<p>Trong khi người dân Hà Nội liên tiếp biểu tình chống Tầu để giữ nước, có thể nước đã mất rồi, và đang do Bắc Kinh cai trị qua tay Hà Nội. Với những kẻ đang cầm quyền ở Hà Nội, chừng nào Bắc Kinh còn bảo đảm địa vị của họ, họ sẵn sàng làm theo tất cả những gì Bắc Kinh muốn. Cũng như bà Từ Hi sẵn sàng làm theo nước ngoài, nếu để bà được yên.</p>
<p>Ngày 14 tháng 11, 1908, Quang Tự qua đời, vẫn trong tình trạng bi giam lỏng. Cùng ngày, bà Từ Hy phong vương cho một đứa bé ba tuổi<b> </b>trong hoàng tộc lên ngôi, là Hoàng Đế Phổ Nghi (Puyi). Hôm sau, bà qua đời, hưởng thọ 74 tuổi.</p>
<p>Một trăm năm sau, ngày 4 tháng 11, 2008, kết quả giảo nghiệm xác vua Quang Tự cho biết ông bị đầu độc bằng chất arsenic. Theo tin CNN, chất độc này trong cơ thể ông cao gấp hai ngàn lần bình thường. Dư luận đoán rằng bà Từ Hi biết mình sắp chết, cho Quang Tự chết trước một ngày, để trừ hậu họa.</p>
<p><b>Giúp chồng thành bại</b></p>
<p>Bà Tưởng Giới Thạch (Madame Chiang Kai-shek) ra đời tại đảo Hải Nam vào năm bà Từ Hi làm cuộc chính biến Mậu Tuất (1898), và sống tới 106 tuổi. Trong cuộc sống hơn một thế kỷ, bà làm được nhiều việc lớn, và nhiều việc bị dị nghị; lời khen cũng lắm, lời chê cũng nhiều. Bà đã giúp chồng thành công, và khi chồng thất bại, người ta cũng đổ tại bà một phần. Trong Đệ Nhị Thế chiến, bà đã cố gắng nêu cao chính nghĩa của Trung Hoa, và tạo uy tín cho chồng bà sánh vai với Roosevelt, Churchill, và Stalin. Thông suốt văn hóa Trung Hoa và Tây phương, bà nổi tiếng cả trong nước và hải ngoại.</p>
<p>Ngoài vai trò là thư ký, là thông ngôn, và người phát ngôn của ông, ông còn cử bà vào nhiều chức vụ quan trọng, như Ủy ban Viện, đại biểu Viện lập pháp, Tổng quản không lục Trung Hoa, và năm 1945, là thành viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.</p>
<p>Sự nghiệp của một người chỉ có thể thẩm định khi nắp quan tài đóng lại (cái quan định phận). Vậy xin trích dịch lại sau đây nhận định của một số cơ quan truyền thông khác nhau, khi bà Tống Mỹ Linh (Soong Mei Ling) qua đời vào năm 2003:</p>
<p><i>Trích tin VOA viết từ Hồng Kông ngày 24 tháng 10, 2003:</i></p>
<p>Bà Tống Mỹ Linh, góa phụ cố lãnh tụ Đài Loan Tưởng Giới Thạch, đã qua đời tại nhà bà ở New York, thọ 106 tuổi.</p>
<p>Bộ Ngoại Giao Đài Loan đã loan báo về cái chết của Bà Tưởng Giới Thạch. Cờ rũ đã treo tại trụ sở Trung ương Quốc Dân Đảng tại Đài Bắc (Taipei).</p>
<p>Nhũ danh Tống Mỹ Linh, bà là người trẻ nhất trong ba chị em nổi tiếng của Trung Hoa, bà Tưởng đã được nuôi dưỡng và giáo dục tại Hoa Kỳ. Bà tốt nghiệp hạng danh dự tại trưởng đại học Wellesley ở Massachusetts năm 1917 (19 tuồi).</p>
<p>Bà mang danh hiệu “Bà Tưởng” (Madame Chiang) sau khi kết hôn với lãnh tụ đảng cầm quyền Trung Hoa là Tưởng Giới Thạch vào năm 1926…</p>
<p><i>Trích bài báo trên tờ Guardian (Anh) ngày 5 tháng 11, 2003:</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Tống Mỹ Linh, hay Bà Tưởng Giới Thạch, một thời nổi tiếng khắp thế giới vừa đẹp vừa là Rồng Cái siêu quyền lực vợ của nhà cai trị độc tài Trung Hoa, sống những năm cuối đời ẩn dật trong một apartment lớn nhìn ra Gracie Park ở Upper East Side trước khi qua đời vào ngày 23 tháng 10 ở tuổi 106. Sự ẩn dật này không phải chỉ dản dị là tuổi già hay bệnh tật. Quốc Dân Đảng (Kuomintang) đã cai trị Đài Loan sau khi bà và chồng chạy khỏi lục địa Trung Hoa vào năm 1949, đang tự tái sinh như một đảng dân chủ hiện đại, và họ không muốn diện mạo từ thời độc tài trong quá khứ xuất hiện…</p>
<p><i>Trích bài báo tạp chí TIME 24 tháng 10, 2003:</i></p>
<p>Giai đoạn cực thịnh của Bà Tưởng là thời gian Đệ Nhị Thế Chiến, khi bà tới Hoa Kỳ như là người phát ngôn của chồng bà, đọc một bài diễn văn khích động trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, kêu gọi giúp đỡ chống Nhật. Một trí thức có sức lôi cuốn, bà đã đương đầu với những tư tưởng cổ truyền về người phụ nữ Trung Hoa chỉ biết im lặng vâng lời, bà đã đảm nhận vai trò lãnh đạo chính trị, một thời điều khiển cả không lực của ông Tưởng. Là thần tượng của thân hữu Tây phương hiện đại và không lùi bước trong việc chống lại bành trướng của phe Mao, Bà Tưởng và chồng bà đã được trọng vọng tại Hoa Kỳ, và bà đã xuất hiện trên bìa báo TIME tới ba lần. Nhưng trong nước, một số người cho là bà kiêu căng và là một người bào chữa cho đường lối cai trị độc tài của chế độ Quốc Dân Đảng. Sau khi chồng bà qua đời năm 1975, bà sang Hoa Kỳ, và sống cuộc đời ngoài ánh đèn chính trị…</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Madame-Chiang-Kai-shek.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Madame-Chiang-Kai-shek" border="0" alt="Madame-Chiang-Kai-shek" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Madame-Chiang-Kai-shek_thumb.jpg" width="279" height="253" /></a></p>
<p align="center"><em>Chân dung bà Tưởng Giới Thạch</em></p>
<p><i>Trích báo New York Times, ngày 25 tháng 10, 2003:</i></p>
<p>Là một diễn giả thông thạo Anh ngữ và theo Thiên Chúa Giáo, như là một người mẫu mà nhiều người Mỹ mong muốn Trung Hoa trở thành, Bà Tưởng đã chạm đúng tần số của thính giả người Mỹ khi bà du hành khắp nước, bắt đầu từ năm 1930, vận động tài chính và ảnh hưởng để giúp cho chính quyền của chồng bà. Đối với nhiều người Mỹ, bà có vẻ biểu tượng của một Trung Hoa hiện đại, có học, thân Mỹ mà họ mong muốn xuất hiện – dù rằng có nhiều người Trung Hoa cho rằng bà là một người tham nhũng, thèm khát quyền lực, biểu tượng của một quá khứ họ cố thoát khỏi…</p>
<p>- Tạp chí LIFE gọi bà là “Người phụ nữ quyền lực nhất thế giới”</p>
<p>- Nhà văn Ernest Hemingway gọi bà là “Hoàng hậu của Trung Hoa”</p>
<p>- Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ Eleanor Roosevelt nhận xét: “Bà ấy có thể nói rất hay về dân chủ. Nhưng bà ấy không hiểu làm thế nào để sống dân chủ”.</p>
<p>- Bà Tưởng tự nói về mình: “Chỉ có một thứ Á Đông về tôi là cái mặt của tôi”.</p>
<p>- Tuyên bố của Tổng Thống George W. Bush: Bà Tưởng là một người bạn thân của Hoa Kỳ trong suốt đời bà, và đặc biệt trong khi nói lên cuộc chiến đấu của thế kỷ trước. Nhiều thế hệ người Mỹ sẽ nhớ mãi và kính trọng sự thông minh cùng với cá tính mạnh mẽ của bà. Thay mặt nhân dân Hoa Kỳ, tôi gửi lời chia buồn tới những người trong gia đình Bà Tưởng và những người ái mộ khắp thế giới.</p>
<p><b>Rồng Cái tự biện minh</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Bà Ngô Đình Nhu, nhũ danh Trần Lệ Xuân, sinh năm 1924, qua đời 2011. Bà Từ Hi qua đời trước khi chữ Rồng Cái ra đời. Không rõ bà Tưởng có biết người ta gọi mình là Rồng Cái không. Bà Nhu chẳng những biết, mà còn có cơ hội tự giải thích tại sao người ta gọi mình là Rồng Cái. Khi bà qua đời vào tháng Tư năm 2011, nhiều bản tin đã nhắc tới danh hiệu Rồng Cái của bà. Hãng CBS loan bản tin của AP ngày 27 tháng 4, với tựa: Bà “Rồng Cái” Ngô Đình Nhu qua đời tại Rome. Tờ Independent (Anh) mở đầu bài viết của Martin Childs: “Bà Ngô Đình Nhu được mô tả như “Rồng Cái” hay “Lucrezia Borgia Á Đông”.</p>
<p>Qua bài viết của Joseph Gregory ngày 27 tháng 4, 2011 trên New York Times, có những đoạn đáng chú ý sau đây:</p>
<p>Cha mẹ đặt tên bà là Trần Lệ Xuân, “mùa Xuân đẹp”. Với tư cách là người chính thức tiếp khách của vị tổng thống độc thân Nam Việt Nam là anh chồng bà, bà được chính thức gọi là Bà Ngô Đình Nhu. Nhưng đối với các nhà báo Mỹ, giới ngoại giao và các quân nhân vứơng mắc trong vòng những mưu toan của Sài Gòn vào đầu thập niên 1960, bà ấy là “Rồng Cái”, biểu tượng của tất cả những gì sai quấy với nỗ lực của Mỹ để cứu đất nước bà khỏi chủ nghĩa cộng sản….</p>
<p>Vào những ngày ông Diệm mới cần quyền, bà nghe nói người đứng đầu quân đội là tướng Nguyễn Văn Hinh khoác lác rằng ông sẽ lật đổ Thủ Tướng và bắt bà làm người tình, bà đối diện ông tại một cuộc tiếp tân ở Sài Gòn. Theo tuần báo TIME, bà đã làm ông Tướng sửng sốt khi nói rằng: “Ông không bao giờ lật đổ chính quyền này, vì ông không có gan. Và nếu ông lật đổ, ông sẽ không bao giờ có được tôi, vì tôi sẽ móc cổ ông trước”.</p>
<p>Theo nhà báo William Prochnau: “Bà Nhu nhìn và hành động giống như người đàn bà quái ác chết người của loạt truyện bằng tranh nổi tiếng thời bấy giờ “Terry and the Pirates”, nên người Mỹ đặt cho bà cái tên của nhân vật đó, là “Rồng Cái”.</p>
<p>Trong cuộc phỏng vấn của chương trình “Vietnam: A Television History” (Lịch sử Việt Nam bằng truyền hình) tại Roma ngày 02 tháng 11, 1982, bà Nhu đã được hỏi thẳng tại sao báo Mỹ gọi bà là Rồng Cái. Sau đây là những câu hỏi và trả lời của chính bà:</p>
<p><i>Người phỏng vấn: </i></p>
<p>Thưa Bà Nhu, vào thời Tổng Thống Diệm, Bà được coi như Đệ Nhất Phu Nhân của Việt Nam. Bà có thể cho chúng tôi biết về vai trò của bà không?</p>
<p><i>Bà Nhu:</i></p>
<p>Vai trò của tôi. Không được đâu, nó quá khó đề mô tả. Tôi chỉ có thể nói rằng tôi giống như một con mèo con, được Chúa cắn cổ tung vào đấu trường với đám sư tử, nhưng tôi tin rằng chỉ bởi vỉ tôi sinh ra dứơi dấu hiệu sư tử, và tôi tin rằng tôi có thể sống với họ. Nhưng thật ra, đó là câu truyện quá dài để nói bây giờ, tôi đã viết ít nhất ba cuốn sách về nó, nên tôi muốn giữ lại.</p>
<p><i>Người phỏng vấn:</i></p>
<p>Còn về việc báo chí Tây phương đã phản bà như thế nào? Nhân tiện, có chuyện người ta gọi bà là Rồng Cái. Bà có muốn bình phẩm về chuyện này?</p>
<p><i>Bà Nhu:</i></p>
<p>Tôi tin rằng khi người ta gọi tôi như vậy, chỉ bởi vì người ta nhìn thấy tôi không sợ hãi, và đó là sự thật. Chồng tôi, ông ấy đã rất không vui với một bên là ông anh, và bên kia là vợ. Ông ấy đã coi cả hai chúng tôi đều như trẻ con trong rừng, là người tuyệt đối vô tâm – nghĩa là người không có cảm giác thực tế, khi đụng độ với con mồi, mà mình không có cảm tưởng mình chiến đấu với những con thú khủng khiếp. Và ông ấy thường nói với anh của ông ấy rằng: Anh, anh nên là một thầy tu, và bà (với tôi), bà nên ở nhà và kín tiếng như một bà nội trợ. Và tôi nói, dĩ nhiên, nếu chỉ là mình tôi, chắc là tôi theo ngay lời khuyên của chồng tôi, trở về nhà, khâu vá, đan áo, và nấu cơm. Đó chính là những điều tôi thích ở đời. Nhưng khi tôi ở trong nước tôi, dân chúng tới nói với tôi, bà nên làm cái này, bà nên làm việc kia. Và tôi thấy rõ rằng, nếu tôi không làm những điều đó, thì chẳng có ai làm.</p>
<p>Vì thế, tôi tổ chức mọi sự sẵn sàng để trao cho họ ngay vì tôi không muốn, không thích cuộc sống của tôi lúc đó, không một tí nào. Và họ cho rằng, họ gọi tôi là Rồng Cái bởi vì họ thấy rằng tôi là người tuyệt đối cương quyết, rằng không cái gì có thể ngăn chặn tôi. Chỉ có một điều họ có thể, nếu họ có thể ngăn cản tôi, nếu họ muốn cản tôi, họ phải giải thích cho biết tại sao tôi sai. Nếu họ không giải thích được, tôi cóc cần.</p>
<p>Vì thế, họ thấy rất rõ rằng tôi không hề sợ cái gì cả. Và cô (người phỏng vấn) có biết rằng tại sao họ gọi tôi như vậy? Họ mời tôi, báo chí, mời tôi đi. Lúc đầu họ nói, “ông Nhu, ông bà Nhu, không Nhu, tin hấp dẫn,” và&#160; “Ông Bà ấy phải rời khỏi đất nước.” Họ nói mời tôi đi để giải thích địa vị của tôi trước diễn đàn [công luận] Hoa Kỳ, trước báo chí. Tôi rời nước tôi, nhưng khi mới tới Belgrade, tại đó, họ nói với tôi rằng theo Bộ Ngoại Giao [Hoa Kỳ], tôi không nên tới Mỹ vì họ không bảo đảm an toàn cho tôi.</p>
<p>Thế ra, họ mời tôi là để tôi rời nước tôi. Nhưng ngay khi tôi rời nước tôi, họ nói đừng tới. Tôi nói, tôi rời nước tôi chỉ là để tới đó, và nước Mỹ hãy chứng tỏ với thế giới rằng họ không đủ khả năng bảo vệ một phụ nữ yếu đuối trên lãnh thổ của họ.</p>
<p><i>Người phỏng vấn:</i></p>
<p>Như vậy, vào tháng Mười năm 1963, bà đã thất vọng với người Mỹ?</p>
<p><i>Bà Nhu:</i></p>
<p>Vào thời gian đó họ mời tôi và sau khi tôi rời nước tôi họ lại nói như thế [là đừng tới nước Mỹ]. Tất nhiên, tôi thất vọng. Và vì thế mọi người nói, coi tôi như một con Rồng Cái – có thể vì tôi dám đương đầu họ.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0076.gif"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image007[6]" border="0" alt="clip_image007[6]" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0076_thumb.gif" width="2" height="2" /></a><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/MmeNgoDinhNhu.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="MmeNgoDinhNhu" border="0" alt="MmeNgoDinhNhu" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/MmeNgoDinhNhu_thumb.jpg" width="204" height="318" /></a></p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0077.gif"><em><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image007[7]" border="0" alt="clip_image007[7]" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0077_thumb.gif" width="2" height="2" /></em></a><em>Chân dung bà Ngô Đình Nhu (Bìa báo Life, 9 tháng Tám, 1963)</em></p>
<p><b></b></p>
<p>Tóm lại, Rồng Cái, mỗi bà một vẻ, chẳng ai giống ai. Chắc thế gian không chỉ có ba bà Rồng Cái. Các bà này thuộc loại “Hiển Long Nữ,” loại Rồng Cái xuất đầu lộ diện, dễ biết để tránh. Có thể còn nhiều “Tiềm Long Nữ,” Rồng Cái ẩn mặt, rất nguy hiểm vì không biết mà đề phòng.</p>
<p>Ngoài Rồng Cái gốc người, còn có Rồng Cái gốc đồ vật. Loại phi cơ trinh thám nổi tiếng của Mỹ là “U2” cũng được gọi là Rồng Cái (dragonlady). Theo Hội Rồng Cái (U2-Dragonlady Association), <a href="http://www.u2dla.org/">http://www.u2dla.org/</a> &#8211; bao gồm thành viên hoặc cựu thành viên của lực lượng không quân Hoa kỳ và những công ty nhân sự đã có quan hệ với phi cơ U2), hiện nay, bất cứ giờ nào, ngày hay đêm, 24 giờ một ngày, 365 ngày một năm, đều có Rồng Cái quan sát nơi nào đó trên thế giới, theo dõi hành tung của người ta.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/U2dragonlady.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="U2dragonlady" border="0" alt="U2dragonlady" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/U2dragonlady_thumb.jpg" width="404" height="270" /></a></p>
<p align="center"><em>Phi cơ trinh thám U2 dragonlady</em></p>
<p>Năm Rồng, mong chư quân tử khắp nơi chớ dỡn mặt với Rồng Cái.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23171/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bia đ&#225;, bia miệng</title>
		<link>http://damau.org/archives/23101</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23101#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 16 Jan 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Thức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn tròn]]></category>
		<category><![CDATA[Bàn Tròn: Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23101</guid>
		<description><![CDATA[Người dân Trung Quốc không được truy cập những chữ “nhân quyền”, “tự do, dân chủ”… trên Internet, nhưng cơ xưởng Trung Quốc được tạc pho tượng khổng lồ của Mục Sư King để kiếm tiền.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><font size="3"></font><font style="font-weight: bold"></font></p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Martin-Luther-King-Memorial1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 8px auto 7px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="Martin-Luther-King-Memorial" border="0" alt="Martin-Luther-King-Memorial" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/Martin-Luther-King-Memorial_thumb1.jpg" width="479" height="283" /></a></p>
<p align="center"><em>Tượng đài Martin Luther King, Jr. (Washington, D.C.)</em></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p align="right"><i>     <br />Trăm năm bia đá thì mòn       <br />Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ</i></p>
<p>&#160;</p>
<p>Bia đá mòn, bia miệng còn, tưởng chỉ là truyện trong ca dao Việt Nam, nhưng là chuyện đã xẩy ra tại thủ đô Washington, dịp sinh nhật Martin Luther King Jr. ngày 15 tháng 1, 2012.</p>
<p>Trong lịch sử Hoa Kỳ, chỉ có một tổng thống mà ngày sinh nhật được coi là quốc lễ, ngày nghỉ của toàn dân, là Tổng Thống đầu tiên George Washington. Một người thường dân duy nhất, từng lãnh đạo phong trào tranh đấu đòi dân quyền cũng được vinh dự này, là Mục sư Marin Luther King Jr. Nước Mỹ vinh danh người dân tranh đấu ngang hàng với cha già dân tộc.</p>
<p>Tại Thủ đô Liên bang, Đài Tưởng niệm George Washington là ngọn tháp bằng đá cao 555 feet (gần 170 mét), thường được gọi là “Cây bút chì”, mất gần 40 năm để hoàn thành và mở cửa cho dân chúng vào thăm năm 1888. Đài Tưởng niệm Martin Luther King Jr. nằm tại bờ Tidal Basin, khoảng giữa các Đài Tưởng niệm Lincoln và Thomas Jefferson, là pho tượng ông đứng khoanh tay, được tạc vào tảng đá cao 30 feet (gần 10 mét), tách ra phóng tới phía trước từ một khối gọi là “Đá Hy vọng” (Stone of Hope). Công trình này diễn ra trong hai thập niên, hoàn thành vào tháng Mười 2011, tốn kém 120 triệu đô la, do tư nhân đài thọ.</p>
<p>Giống như tại các đài tưởng niệm tổng thống Jefferson, Lincoln và Roosevelt gần đó, đều có khắc những lời tuyên bố đáng ghi nhớ của các ông trên tường hay bia đá. Trên vách đá bên hông tay trái tượng Mục Sư King có khắc lời tuyên bố của ông: “I WAS A DRUM MAJOR FOR JUSTICE, PEACE AND RIGHTEOUSNESS” (“Tôi đã là một người dẫn đường cho công lý, hòa bình và lẽ phải”).&#160; Ngay trước lễ khánh thành dự trù vào tháng Mười năm ngoái (phải hoãn vì bão tuyết), khi đài tưởng niệm được mở cho công chúng coi lần đầu tiên, đã có những lời dị nghị về câu trích dẫn trên đây.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/MLKingJrMemorial.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 8px 10px 7px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="MLKingJrMemorial" border="0" alt="MLKingJrMemorial" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/01/MLKingJrMemorial_thumb.jpg" width="444" height="308" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Trước hết, nữ văn thi sĩ nổi tiếng Maya Angelou, người đã từng sát cánh với Mục Sư King trong công cuộc tranh đấu dân quyền, tuyên bố rằng câu trích lời nói của Mục Sư có vẻ kêu ngạo, tự phụ. Martin Luther King III, con trai của cố Mục Sư cũng lên tiếng “Bố tôi không nói như vậy”. Báo chí và dư luận, phản ảnh bia miệng Thủ Đô, cũng không hài lòng về lời trích dẫn đã được khắc sâu vào bia đá, lên tiếng yêu cầu sửa lại.</p>
<p>Nói rằng lời trích trên đây là của Mục Sư King, cũng đúng. Nói rằng Mục Sư King không nói như vậy, cũng không sai.</p>
<p>Vào năm 1968, hai tháng trước khi bị ám sát, qua một bài giảng tại Ebenezer Baptist Church ở Atlanta, như một lời tiên tri, Mục Sư King nói đến cái chết của mình. Ông nói sau khi ông chết, nếu ai có nói về ông, hãy nói ông từng là “người dẫn đường<i> </i>cho công lý. Hãy nói rằng tôi là một người dẫn đường cho hòa bình. Hãy nói rằng tôi là một người dẫn đường cho lẽ phải. Còn tất cả những chuyện hời hợt khác sẽ không đáng kể.” (<i>&quot;If you want to say that I was a drum major, say that I was a drum major for justice. Say that I was a drum major for peace. I was a drum major for righteousness. And all of the other shallow things will not matter.&quot;)</i></p>
<p>Kiến trúc sư và nhà điêu khắc đồng ý với nhau rằng lời trích dẫn khắc vào đá càng ngắn càng tốt. Lời giảng của Mục Sư gồm 46 chữ, chỉ còn lại 10 chữ: <i>“I was a drum major for justice, peace and righteousness.” </i>Bỏ chữ “Nếu”, câu nói từ điều kiện cách biến sang thể xác định, biến nhà lãnh đạo dân quyền khiêm nhường, yêu công lý và hòa bình thành một người tự cao tự đại. Điều thuận tiện cho bia đá, gặp chống đối trong bia miệng.</p>
<p>Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật thứ 83 của Mục Sư King, Bộ Trưởng Nội Vụ Hoa Kỳ Ken Salazar đã chỉ thị cho Sở Công Viên Quốc Gia (National Park Service) phải liên lạc với Cơ sở xây dựng Đài Tưởng niệm và thành viên gia đình Mục Sư King và những người khác, đề quyết định về một lời trích dẫn chính xác hơn, trong thời hạn 30 ngày.</p>
<p>Phần còn lại, có lẽ bia miệng và bia đá phải sống chung với nhau, không biết tới bao giờ.</p>
<p>Người ta thường nói dân chủ với độc tài, tư bản với cộng sản kỵ nhau như nước với lửa. Nhưng có một điểm chung, là cùng tham lợi; có thể cộng tác với nhau khi đôi bên cùng có lợi.</p>
<p>Mục Sư King là biểu tượng của dân quyền, hòa bình, công lý và lẽ phải; ông từng được tặng giải Nobel Hòa Bình. Trung Quốc tượng trưng cho độc tài, bất công, bạo lực, bỏ tù người được giải Nobel Hòa Bình là ông Lưu Hiểu Ba. Nhưng Trung Quốc nhận lời làm Đài Tưởng niệm và nhà điêu khắc Trung Quốc Lei Yixin đảm nhiệm việc tạc tượng Mục Sư King. Người dân Trung Quốc không được truy cập những chữ “nhân quyền”, “tự do, dân chủ”… trên Internet, nhưng cơ xưởng Trung Quốc được tạc pho tượng khổng lồ của Mục Sư King để kiếm tiền.</p>
<p>Hoa Kỳ không ngớt than phiền, công kích Trung Quốc chà đạp nhân quyền và các giá trị tự do dân chủ, nhưng vì tham rẻ, đã quyết định để biểu tượng tranh đấu dân quyền, tinh túy trong nền dân chủ đáng hãnh diện của mình, phô bầy bằng một Đài Tưởng niệm Đá Hy Vọng tới từ Trung Quốc, Martin Luther King Jr. Made in China!</p>
<p>Bia đá Made in China,</p>
<p>Bia miệng Made in USA.</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;</p>
<p>Tham khảo:</p>
<p>CNN: <a href="http://www.cnn.com/2012/01/13/us/mlk-memorial-inscription/index.html">http://www.cnn.com/2012/01/13/us/mlk-memorial-inscription/index.html</a></p>
<p>Washington Post: <a href="http://www.washingtonpost.com/local/kings-words-all-of-them-to-be-restored/2012/01/13/gIQAvKaRxP_print.html">http://www.washingtonpost.com/local/kings-words-all-of-them-to-be-restored/2012/01/13/gIQAvKaRxP_print.html</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23101/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vua ở truồng, vua mặc quần, hai vua băng h&#224;</title>
		<link>http://damau.org/archives/22669</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22669#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 23 Dec 2011 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Thức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn tròn]]></category>
		<category><![CDATA[Bàn Tròn: Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22669</guid>
		<description><![CDATA[Đối với dân Bắc Triều Tiên, khóc thương Lãnh tụ vĩ đại Kim Il-Sung năm 1994, hay Lãnh tụ kính yêu Kim Jong-Il bây giờ có khác gì việc trưng khẩu hiệu trong cửa hàng [như trong ngụ ngôn của Havel]. Họ làm như người khác, để hy vọng được yên thân sống như mọi người.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>Ít khi có hai nhân vật cùng nổi tiếng trên thế giới, nhưng khác nhau như mặt trăng mặt trời, một người là vua dân chủ, một người là vua độc tài, cùng từ trần vào một cuối tuần. Đó là trường hợp của hai ông Vaclav Havel, cựu Tổng Thống Tiệp Khắc và Cộng Hòa Czech, và ông Kim Jong-Il, lãnh tụ Đảng Lao Động cầm quyền tại Bắc Triều Tiên. Đúng ra, ông Kim mất ngày thứ Bảy, 17 tháng 12, ông Havel mất ngày Chủ Nhật 18. Nhưng trong chế độ độc tài, cái gì cũng phải có chút bí mật cho phải phép, ngày 19 Bình Nhưỡng mới báo tin ông Kim chết. Thành ra, ở Mỹ, được tin hai ông chết cùng ngày 18.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/VH-in-Wenceslas-Square.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="VH-in-Wenceslas-Square" border="0" alt="VH-in-Wenceslas-Square" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/VH-in-Wenceslas-Square_thumb.jpg" width="454" height="308" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Vaclav Havel, người được đề cử làm Tổng Thống, đọc danh sách các tên trong chính quyền dân chủ đầu tiên của Tiệp Khắc từ năm 1948.        <br />Hàng ngàn người dân Tiệp tụ tập vào ngày Chủ Nhật, 10 tháng 12 năm 1989 tại Quảng Trường Wenceslas của Praha        <br />để chứng kiến sự thành công của Cách Mạng Nhung (Ảnh AP)         </p>
<p></em></font></p>
<p>Cả hai ông cùng được dân chúng nước mình thương tiếc, và thế giới chia buồn. Theo truyền thông nhà nước Bắc Triều Tiên, có tới năm triệu người dân vật mình vật mẩy, bò lê bò càng khóc lóc thảm thiết, thương tiếc lãnh tụ kính yêu. Ở chốn riêng tư, không hiểu họ biểu lộ tình cảm với lãnh tụ thế nào, chẳng ai được thấy. Nhưng cảnh những sĩ quan cao cấp trong quân phục uy nghi, huy chương đầy mình, mặt mũi mếu máo, nước mắt đầm đìa, và dân từ già tới trẻ, đàn ông đàn bà, vật vã khóc lóc giữa chốn công cộng, trông rất cảm động, khó nhịn cười. Cứ nhìn bề ngoài, ông Kim được thương tiếc nhiều hơn ông Havel. Cũng hợp lý, theo kết quả bầu cử, bao giờ các lãnh tụ độc tài cũng đắc cử vẻ vang, với tỉ lệ cao hơn nhiều so với các lãnh tụ dân chủ.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/NKofficerscrying.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="NKofficerscrying" border="0" alt="NKofficerscrying" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/NKofficerscrying_thumb.jpg" width="484" height="269" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Về thế giới chia buồn, ông Kim được nước bạn Cuba treo cờ rủ, để tang ba ngày liền. Bình Nhưỡng không tiếp khách nước ngoài tới đưa ma. Nước bạn Cộng Sản Việt Nam cử hai phái đoàn tới Đại sứ quán Bắc Triều Tiên ở Hà Nội chia buồn. Một phái đoàn đại điện Đảng, do Tướng Công an Lê Hồng Anh, trông diện mạo giống như anh hùng hảo hán trong phim Tầu, Ủy viên Bộ chính trị, Thường trực Ban Bí thư hướng dẫn; một phái đoàn đại diện Chính phủ, do Bộ Trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đứng đầu. Nếu ông Kim mất cách đây mấy tháng, chắc chắn đã được nước bạn Libya của Đại vương Gaddafi chia buồn. Nhưng chết sau cũng có lợi, thế nào ông Kim chả được ông Gaddafi đón ở Tầng đầu Địa ngục. Ông Havel được nhiều nước, và nhiều nguyên thủ quốc gia chia buồn và tiễn đưa hơn; Mỹ cử một phái đoàn hùng hậu tới Praha dự tang lễ, do Bà Ngoại Trưởng Hillary hướng dẫn, có chồng là cựu Tổng Thống Bill Clinton đi theo. Cũng hợp lý, vì các nhà vận động dân chủ yêu nước, khi chưa thành công, thường bị chính quyền của mình kết tội là “tay sai ngoại bang”.</p>
<p>Sau lễ nghi quốc táng, ông Havel được hỏa táng—theo yêu cầu của chính ông—vào ngày 23 tháng 12. Ông may mắn hơn ông Hồ của Việt Nam, cũng từng mong thân xác mình được hỏa táng, hay tốt hơn là điện táng, nhưng bị đàn em trưng thu, mấy chục năm sau vẫn cỏn bị trưng bầy giữa nơi thị tứ cho thiên hạ tới coi, như một thứ bùa hộ mệnh. Ông Kim, sau nghi lễ quốc táng kéo dài 13 ngày đề toàn dân đủ thì giờ biểu lộ thương tiếc cho đến 28 tháng 12, thi hài có thể được bảo quản trong Lăng Kumsasan, cùng với cha mình là ông Kim Il-Sung (Kim Nhật Thành). Cứ theo bề ngoài, sự sùng kính của dân chúng đối với ông Kim hơn hẳn so với ông Havel. Điều này khiến dư luận không khỏi thắc mắc: Sự khóc thương đối với Kim lãnh tụ là thật tình, hay giả dối?</p>
<p>Tom Geoghegan của BBC News Magazine ngày 20 tháng 12 viết:</p>
<blockquote><p>Cảnh vật vã khóc than tại Bắc Hàn sau khi ông Kim Jong-Il qua đời thật như một cơn sốt lan rộng. Nhưng người dân thực sự cảm nhận mất mát hay chỉ là vì họ nghĩ mình phải ra vẻ như thế? Cả quốc gia Bắc Hàn như nhận được ám hiệu từ người dẫn chương trình truyền hình nhà nước mặc áo đen và không thể kiềm được nước mắt.<em>        <br /></em></p>
</blockquote>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p align="left"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/NKwomencrying.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="NKwomencrying" border="0" alt="NKwomencrying" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/NKwomencrying_thumb.jpg" width="299" height="234" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Phóng viên BBC John Sudworth ở Seoul (Nam Hàn) cho biết không thể kiểm chứng con số năm triệu người để tang ông Kim mà hãng thông tấn nhà nước Bắc Hàn đưa ra. Nhưng nếu con số này đúng, thì nó có nghĩa là một phần năm dân số nước này đã tham gia ‘khóc thương tập thể’ ở đất nước bị cô lập nhưng có vũ khí hạt nhân này.</p>
<p>Tom Geoghegan đã dùng lời của ba tác giả có kinh nghiệm về Bắc Triều Tiên để giải thích hiện tượng dân chúng khóc thương Kim lãnh tụ.</p>
<p>Trước hết, theo lời Anthony Daniels, một nhà phân tâm học, từng thăm Bắc Hàn năm 1989 trong đoàn đại biểu Anh quốc tham dự Lễ hội Quốc tế Thanh niên và Sinh viên:</p>
<p>“Tất cả là sự trộn lẫn tội nghiệp giữa sợ hãi, khủng bố, lo lắng về tương lai, sự cuồng tín của đám đông và cũng có thể có cả nỗi đau từ đáy lòng.”</p>
<p>“Việc kiểm soát thông tin lớn đến mức rất có thể người dân bị sốc thật.”</p>
<p>“Ta còn nhớ khi Stalin chết, người dân khóc than trên đường phố, dù rằng ít dạt dào như ở Bắc Hàn.”</p>
<p>Thứ nhì là bà Barbara Demick, qua tác phẩm <i>Nothing To Envy: Ordinary Lives in North Korea,</i> nói về cái chết của ông Kim Nhật Thành năm 1994,<i> </i>bà viết: “Tấn kịch đau khổ có cả tính chất cạnh tranh. Ai có thể khóc to nhất?”</p>
<p>Bà để ý một sinh viên ở Bình Nhưỡng chẳng thấy cảm xúc gì trong khi xung quanh vật vã than khóc.</p>
<p>“Cả tương lai của anh tùy thuộc khả năng khóc được không. Không chỉ sự nghiệp, tấm thẻ đảng Lao Động, mà cả sinh mạng. Đó là chuyện sống hay chết.”</p>
<p>Anh ta được cứu thoát sau khi tự kéo căng mi mắt và nhãn cầu cho đến khi mi mắt rách toạc. Thế là, anh ta bắt đầu khóc hệt như mọi người.</p>
<p>Người thứ ba là ông Kerry Brown, đứng đầu chương trình Á châu của Chatham House. Theo ông: nhiều người có lẽ thực sự phản ứng tự nhiên, vì cái chết của lãnh tụ đặt ra những câu hỏi về bản ngã, an toàn và khả năng sống sót của họ.</p>
<p>Đây là một đất nước cảm thấy luôn đứng ở bờ vực chiến tranh, được lãnh tụ yêu quý chăm sóc. Việc kiểm soát thông tin lớn đến mức rất có thể người dân bị sốc thật. Người dân được nhắc nhở luôn đang ở trong chiến tranh với Mỹ, và “những chiến thắng vĩ đại” trong quá khứ là nhờ tài lãnh đạo, vì thế khi người đứng đầu hệ thống qua đời, từng người dân đều cảm nhận mất mát.</p>
<p>Điều khá đặc biệt là, hiện tượng than khóc của người dân Bắc Triều Tiên dành cho ông Kim, đã được ông Havel giải thích từ hơn ba mười năm trước. Đó là thái độ “ai sao tôi vậy” của những người đã quen sống như cái máy dưới chế độ toàn trị. Làm theo yêu cầu do lệnh trên hay hoàn cảnh, mà không theo lý trí của mình.</p>
<p>Qua tiểu luận nổi tiếng nhất viết năm 1978 <i>“Quyền lực của người vô quyền”</i> (“<em>The Power of the Powerless”</em>), Vaclav Havel đã phân tích về việc viên quản lý tiệm bán rau trưng bầy trong cửa hàng của mình khẩu hiệu “Lao động thế giới hãy đoàn kết lại!”</p>
<blockquote><p>Tại sao anh ta làm như vậy? Anh ta muốn nói gì với thế giới? Anh ta có phấn khởi tới nỗi không thể cưỡng lại việc cho mọi người biết lý tưởng của mình? Có bao giờ anh ta bỏ ra một khoảnh khắc để tự hỏi liệu sự đoàn kết đó có thể xẩy ra được không, và có ý nghĩa gì?</p>
</blockquote>
<p>Đặt vấn đề rồi, Havel tự trả lời:</p>
<blockquote><p>Tôi dám chắc là đại đa số các quản lý tiệm không bao giờ suy nghĩ về những khẩu hiệu họ trưng bầy ở cửa tiệm, và họ cũng không dùng nó để biểu lộ quan điểm riêng của mình. Khẩu hiệu đó đã được phân phối cho quản lý từ trụ sở trung ương của doanh nghiệp cùng với hành và cà rốt. Họ trưng bầy tại cửa tiệm chỉ vì nó đã được làm như thế từ lâu rồi, và mọi người cùng làm như vậy, và bởi vì nó phải được làm như thế. Nếu từ chối, quản lý tiệm có thể gặp rắc rối. Anh ta có thể bị khiển trách vì cửa hàng không được trang trí đúng cách; có người còn có thể kết tội anh ta là không trung thành. Anh ta làm thế vì phải làm như thế để hòa nhịp với đời. Đó là một trong hàng ngàn chi tiết đề bảo đảm cho anh ta một đời sống tương đối yên ổn “để hòa hợp với xã hội” như người ta thường nói.</p>
</blockquote>
<p>Đối với dân Bắc Triều Tiên, khóc thương Lãnh tụ vĩ đại Kim Il-Sung năm 1994, hay Lãnh tụ kính yêu Kim Jong-Il bây giờ có khác gì việc trưng khẩu hiệu trong cửa hàng. Họ làm như người khác, để hy vọng được yên thân sống như mọi người.</p>
<p>Trở lại đề tài về người quản lý bán rau, theo Havel, chất liệu nuôi dưỡng chủ nghĩa toàn trị là hỗn hợp của sự sợ hãi và giả dối. Người quản lý giả bộ trung thành vì sợ hậu quả. Ông viết:</p>
<blockquote><p>Hãy tưởng tượng, một ngày nào đó, người quản lý bán rau không làm theo người ta hay theo thói quen, không trưng khẩu hiệu nữa. Không đi bầu vì biết là trò hề, và bắt đầu phát biểu ý nghĩ thực của mình tại các cuộc họp. Và hơn nữa, còn dám can đảm tỏ tình liên đới với những người mà lương tâm mình nói nên ủng hộ. Trong sự vùng lên này, người quản lý đã bước ra khỏi cuộc sống giả dối. Anh đã phủ nhận thói thường, và phá vỡ luật chơi. Anh đã tìm lại được con người thật và nhân phẩm của mình. Cuộc vùng dậy của anh là cố gắng để sống với sự thật.</p>
</blockquote>
<p>Theo Havel, sống với sự thật là phủ nhận chế độ sộng sản, và tính chính thống cùng quyền lực tối hậu của nó.</p>
<p>Khi làm theo lương tâm của mình, người quản lý không chỉ làm một chuyện nhỏ có tính cá nhân, mà chính là làm chuyện động trời, góp phần vào việc phá sập thành trì toàn trị. Bằng cách phá luật chơi, anh đã phá cả cuộc chơi. Anh đã chứng tỏ nó chỉ là trò chơi. Anh đã phá hư kiến trúc của quyền lực bằng cách phá hủy những gì chống giữ nó. Anh đã chứng tỏ sống giả dối là giả dối. Anh đã phá hủy bề mặt của chế độ và phơi bầy cái nền tảng thực của quyền lực. Anh đã hô lên rằng hoàng đế đang ở truồng. Và bởi vì thực sự hoàng đế đang ở truồng, một vài điều cực kỳ nguy hiểm đã xẩy ra: Bằng hành động của mình, anh bán rau đã nói với thế giới. Anh đã giúp mọi người có thể nhìn qua tấm màn để thấy hậu trường. Anh đã cho mọi người thấy là có thể sống với sự thật.</p>
<p>Anh quản lý chỉ là kẻ vô quyền, nhưng bằng cách hành động theo lương tâm và tôn trọng sự thật, anh có quyền lực đủ mạnh để lật đổ chế độ toàn trị. Vaclav Havel xuất thân cũng là một kẻ vô quyền. Và bằng cách quyết tâm theo đuổi sự thật, ông đã trở thành kẻ có trong tay quyền hành của một tổng thống. Tuy ra đời năm 1936 trong một gia đình giầu có tại Praha, chế độ toàn trị sau Thế chiến Thứ Nhì đã biến ông thành một thứ công dân hạng nhì. Không được đi học, ông đã phải vừa đi làm, vừa tự học, trước khi trở thành một người viết kịch có tiếng. Thay vì chạy theo quyền lực để được vinh thân phì gia, ông đã viết những vở kịch châm biếm chỉ trích chế độ. Năm1969 bị cấm hành nghề viết văn sau sự kiện Mùa Xuân Praha năm 1968. Là một trong những tác giả và người phát ngôn của Hiến Chương 77. Ngày 23 tháng 10 năm 1979, bị kết án 4 năm rưỡi tù giam vì âm mưu lật đổ chính phủ, trước khi trở thành lãnh tụ của cuộc Cách mạng Nhung năm 1989, và được bầu làm Tổng Thống dân chủ đầu tiên của Tiệp Khắc vào tháng 12-1989. Năm 1993, Tiệp Khắc tách làm 2 nước, Cộng hòa Czech và Slovakia; ông Havel được bầu làm Tổng thống Cộng hòa Czech và tại chức cho đến năm 2003.</p>
<p>Nếu Vaclav Havel là Vua Sự Thật, Kim Jong-il là Vua Giả Dối, vì cuộc đời của ông được tô điểm bằng sự giả dối từ khi sinh ra, cho đến khi chết. Tuy ra đời năm 1942 tại Nga, trong khi thân phụ Kim Nhật Thành là một sĩ quan trong quân đội Liên Xô, tiểu sử chính thức của Kim Jong-il ghi là ông ra đời trên đỉnh ngọn Bạch Đầu Sơn (白頭山, Baekdu-san), một núi thiêng nổi tiếng ở gần biên giới Bắc Triều Tiên và Trung Quốc, và khi ra đời có chim én báo tin, trên trời có sự xuất hiện của hai cầu vồng và ngôi sao lạ. Rồi khi chết, bí mật đến nỗi các cơ quan tình báo thượng thặng trên thế giới cũng không biết, gần 24 giờ sau tin ông từ trần mới được thông báo. Nói rằng ông chết vì làm việc quá sức trên chuyến xe lửa đang đi thăm dân. Nhưng tình báo Nam Hàn cho biết vào giờ nói là ông từ trần, toa xe lửa riêng của ông đậu tại Bình Nhưỡng.</p>
<p>Có thể nói, ông Kim là hiện thân của một thứ Vua ở truồng. Nhưng chừng nào có những người dân vẫn chưa nhìn thấy ông ở truồng, vẫn tưởng ông mặc kim bào lộng lẫy. Khi ông đang sống, bỗng “chuyển sang từ trần,” thì họ thực sự khóc thương ông, cũng là điều thế gian thường tình.</p>
<p>Rút cục, ở truồng hay mặc quần, vua nào cũng phải chết. Tuy nhiên, vào thời đại thông tin thuận tiện như ngày nay, Vua ở truồng rất khó sống, vì khó bưng bít. Cũng còn may, năm 2011 Vua ở truồng rụng như sung. Trong khi “Vua của các vua” Gaddafi bị lôi ra từ ống cống và chết thảm, ông Kim đã được chết yên lành vì bệnh, và được năm triệu dân thương khóc. Phải chăng thay vì có dầu lửa, ông đã có bom nguyên tử.</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22669/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Obama giết Osama: 10 năm săn thủ phạm 11- 9 (4)</title>
		<link>http://damau.org/archives/21243</link>
		<comments>http://damau.org/archives/21243#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 14 Sep 2011 07:34:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Đinh Từ Thức</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn Tròn: Chính trị]]></category>
		<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Ngày 11.09]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/21243</guid>
		<description><![CDATA[Xác bin Laden được thanh tẩy, bọc vào khăn liệm theo quy định của Hồi Giáo, và được đặt vào một túi cùng với trọng lượng cần thiết để chìm.  Thi thể được mang vào thang máy lộ thiên, xuống tầng dưới, nơi thường dùng làm chỗ chứa phi cơ. Từ một nơi cách mặt nước khoảng ba tầng lầu, thi hài được cho tuột xuống biển.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/09/sung-HK-MP7.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="sung H&amp;K MP7" border="0" alt="sung H&amp;K MP7" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/09/sung-HK-MP7_thumb.jpg" width="405" height="252" /></a></p>
<p align="center"><font size="2" face="Times New Roman"><em>Theo Paris Match, đây là loại súng giết bin Laden, H&amp;K MP7 (Heckler &amp; Koch)</em></font></p>
<p><b></b></p>
<p><b>&#160;</b></p>
<p><b>“We got him”</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Trước khi cuộc đột kích bắt đầu, người Nhái đã đặt ra một bảng danh sách các tên hiệu để chỉ mỗi giai đoạn của chiến dịch. Chỉ cần đọc một tên nào đó, người ta có thể biết ngay diễn tiến đang đến dâu, như trực thăng rời Jalalabad, vào không phận Pakistan, tiến tới căn nhà… “Geronimo” là ám hiệu tìm thấy bin Laden. (Geronimo là tên một lãnh tụ người Da Đỏ Apache, từng chống lại quân đội Hoa Kỳ, cuối cùng đã đầu hàng, qua đời vào đầu thế kỷ trước – người Da Đỏ đã than phiền người Mỹ dùng tên Geronimo để chỉ bin Laden).</p>
<p>Ba người Nhái vượt qua thi thể Khalid, phá tung một cửa sắt khác dùng để ngăn xâm nhập tầng ba từ cầu thang. Vừa phóng lên những bậc thang tối om, họ vừa chú mục vào khoảng lan can ở chỗ đứng trên đầu cầu thang. Người Nhái dẫn đầu quay về bên phải, qua kính nhìn đêm, thấy một người đàn ông cao, gầy lòng khòng, với bộ râu dài trên mặt, nhìn ra từ phía sau cửa phòng ngủ, cách khoảng ba mét phía trước. Người Nhái này cảm thấy ngay, đó chính là “Crankshaft” (Trục quay trong bộ máy – tên đã được dùng trước đó để chỉ bin Laden). (Giới chức chống khủng bố nói người Nhái trông thấy bin Laden đầu tiên tại chỗ đứng ở đầu cầu thang, nổ súng, nhưng không trúng mục tiêu).</p>
<p>Các người Nhái ập tới cửa phòng ngủ. Người đầu tiên đẩy cửa mở. Hai trong số các người vợ bin Laden đứng che chắn cho chồng. Người vợ thứ năm, Amal al-Fatah, thét lên bằng tiếng Ả Rập. Bà ta có cử chỉ như sắp tấn công. Người Nhái hạ tầm nhắm, bắn bà ta một phát, vào đùi. Sợ một hay cả hai phụ nữ mặc áo gắn chất nổ tự sát, người Nhái này tiến tới, hai tay ôm cứng cả hai bà, đẩy sang một bên. Anh hầu như chắc chắn sẽ bị giết, nếu họ tự nổ, nên ôm cứng họ, có ý che chắn cho đồng đội phía sau thoát chết. Nhưng chẳng có bà nào mặc áo nổ.</p>
<p>Người Nhái thứ nhì bước vào phòng, chĩa tia laser của khẩu M4 vào ngực bin Laden. Lãnh tụ Al Qaeda mặc bộ shalwar kameez mầu nâu nhạt, mũ cầu nguyện trên đầu, tay không võ khí, đứng bất động. Theo một giới chức các chiến dịch đặc biệt, “không bao giờ có chuyện bắt giữ. Chẳng ai cần tù nhân”. (Chính quyền vẫn nói rằng, nếu bin Laden đầu hàng ngay, ông ta có thể đã bị bắt sống). Chín năm, bảy tháng, và 20 ngày sau 11 tháng 9, một người Mỹ đã lẩy cò, kết liễu cuộc đời của Osama bin Laden. Viên đạn đầu tiên, cỡ 5,56 ly, trúng ngực bin Laden. Trong khi bin Laden ngã người về phía sau, người Nhái bồi thêm phát thứ nhì vào đầu, ngay trên mắt trái. Qua radio, anh báo cáo: “Vì Thiên Chúa và Tổ Quốc – Geronimo, Geronimo, Geronimo”. Ngừng, rồi anh thêm: “Geronimo E.K.I.A” (Enemy Killed in Action – kẻ thù giết tại trận).</p>
<p>Tại Bạch Ốc, nghe được điều này qua radio, Obama mím môi, nghiêm trang nói, không với riêng ai: “Ta đã hạ hắn” (We got him).</p>
<p>&#160;</p>
<p><b>Cần đi lễ tối nay</b></p>
<p>Buông hai bà vợ bin Laden, người Nhái thứ nhất trói hai bà bằng lạt mềm, rồi hướng dẫn họ xuống dưới nhà.</p>
<p>Trong khi đó, hai trong các đồng đội chạy lên với bao đựng tử thi. Họ mở bao, mỗi người quỳ một bên bin Laden, đặt xác chết vào bao. Mười tám phút đã qua kể từ khi toán DEVGRU đáp xuống. Trong 20 phút kế tiếp, sứ mạng chuyển sang việc thu lượm tin tức và tài liệu tình báo.</p>
<p>Bốn người lục lọi tầng nhì, bao plastic trong tay, họ thu góp các phần mềm, CD, DVD…, và phần cứng computer trong phòng, những vật dụng và tài liệu đã giúp bin Laden điều hành một cơ sở thông tin tại nơi ẩn náu. Trong số tài liệu thu được, có cả video sex. CIA cho biết, căn cứ vào tài liệu thu được, bin Laden đã trực tiếp tham dự vào hoạt động khủng bố, nhiều hơn người ta vẫn tưởng. Ông ta đã phác họa cả kế hoạch ám sát Tổng Thống Obama và Tướng Petraeus, cũng như một cuộc phá hoại ngoạn mục vào dịp kỷ niệm 10 năm vụ 11 tháng 9.</p>
<p>Ở bên ngoài, đàn bà trẻ con được/bị gom lại một chỗ, ai cũng bị trói bằng lạt mềm, và cho ngồi tựa vào bức tường đối diện chếc Black Hawk thứ nhì còn nguyên. Người thông dịch thẩm vấn họ. Hầu hết trẻ con đều dưới 10 tuổi. Chúng hầu như không biết gì về những người sống trên lầu, ngoài “một ông già”. Không có phụ nữ nào xác nhận “ông già” này là bin Laden.</p>
<p>Khi một chiếc Chinook cấp cứu tới, một y tá bước ra, cúi xuống bên tử thi. Anh đâm kim vào thi thể bin Laden, rút ra hai ống mẫu tủy xương. Thêm nhiều mẫu DNA được lấy bằng bông gòn. Một ống mẫu tủy xương được đưa lên chiếc Black Hawk, ống kia đưa lên chiếc Chinook, cùng với tử thi bin Laden.</p>
<p>Sau đó, trước khi ra đi, người Nhái phá hủy chiếc Black Hawk bị rớt. Phi công, với cái búa được dự trữ sẵn để làm việc này, đập nát bảng dụng cụ chỉ dẫn, radio, và các trang bị bí mật khác trong phòng lái. Rồi đến phiên toán phá hoại. Họ đặt chất nổ vào nhiều nơi, gần hệ thống điều khiển, truyền tin, động cơ và cánh quạt. Thêm chất nổ được đặt dưới thân máy bay, một cuốn đạn lửa trong thân máy bay, rồi lùi ra xa. Helo One bùng cháy, trong khi toán phá hoại lên chiếc Chinook. Tất cả đám đàn bà trẻ con đều bỏ lại, số phận họ sẽ do nhà cầm quyền Pakistan định đoạt.</p>
<p>Tại Phòng Tình Hình ở Bạch Ốc, Obama nói: “Tôi sẽ không mừng cho đến khi tất cả trở ra bình an”. Sau 38 phút tại căn nhà, hai toán người Nhái phải trải qua một chuyến bay khá dài trở lại Afghanistan. Chiếc Black Hawk còn ít xăng, cần gặp chiếc Chinook đậu gần biên giới Afghanistan – nhưng vẫn còn trong lãnh thổ Pakistan – để đổ thêm nhiên liệu. Cần tới 25 phút để đổ đầy bình xăng. Có một lúc, Phó tổng Thống Biden – trước đó đã lần tràng hạt cầu nguyện – quay sang Tướng Mullen, Chủ Tịch Bộ Tham Mưu Liên Quân: “Chúng ta nên đi lễ tối nay”.</p>
<p>Các trực thăng đáp xuống Jalalabad vào khoảng 3 giờ sáng. McRavaen và trưởng trạm CIA gặp cả toán tại sân bay. Hai người Nhái khiêng bao đựng tử thi xuống, mở ra, để McRaven và giới chức CIA nhìn thấy tỏ tường thi thể bin Laden. Chụp hình mặt, và thân thể khá dài của bin Laden; được nghe nói cao tới 6 feet 4 inches. Nhưng chẳng ai có sẵn thước đo để xác nhận. Một người Nhái cao 6 feet, nằm xuống bên cạnh tử thi, xác chết quả thật dài hơn người sống khoảng 4 inches. Được biết chuyện này, Obama nói: “Chúng ta đã bỏ ra 60 triệu đô cho chiếc trực thăng (bị phá hủy) trong chiến dịch này. Chẳng lẽ chúng ta không mua nổi một cái thước giây?”. Vài phút sau, McRaven xuất hiện trên màn ảnh tại Phòng Tình Hình Bạch Ốc, xác nhận thi thể bin Laden đã nằm trong bọc, trước khi được gửi tới Bagram.</p>
<p>&#160;</p>
<p><b>Kế hoạch tốt</b></p>
<p><b></b></p>
<p>Từ trước, người Nhái đã lập kế hoạch bỏ xác bin Laden xuống biển. Họ đã từng làm vậy, ít nhất một lần trước đó. Trong một vụ tấn công trực thăng vận của DEVGRU tại Somalia vào tháng 9, 2009, người Nhái đã hạ sát Saleh Ali Saleh Nabhan, một trong các lãnh tụ hàng đầu của Al Qaeda tại Đông Phi châu. Thi thể Nabhan sau đó đã được chở tới một chiến hạm trên Ấn Độ Dương, làm các nghi lễ theo Hồi Giáo, rồi thẩy xuống biển.</p>
<p>Nhưng trước khi làm như vậy với bin Laden, John Brennan, từng có hồi là trưởng trạm CIA ở Riyadh, đã gọi cho một giới chức tình báo quen thuộc của Saudi Arabia. Brennan cho biết chuyện gì đã xẩy ra tại Abbottabad, và cho ông ta biết kế hoạch sẽ thủy táng bin Laden. Tuy nhiên, vì bin Laden có nhiều thân nhân là người có thế lực tại Vương Quốc, cũng như bin Laden trước đây mang quốc tịch Saudi, liệu chính quyền Saudi có muốn nhận xác bin Laden không? Câu trả lời của Saudi là: “Kế hoạch của các ông có vẻ tốt đấy”.</p>
<p>Bình minh 2 tháng Năm, thi hài bin Laden được chất vào lòng một phi cơ V-22 Osprey (loại phi cơ đặc biệt có thể bay, cất và hạ cánh như máy bay thường, hay xoay hai cánh quạt ở đầu cánh theo chiều thẳng đứng, để cất và hạ cánh như trực thăng), có sĩ quan liên lạc của JSOC và một toán quân cảnh đi theo. Chiếc Osprey bay về hướng Nam, tới hàng không mẫu hạm USS Carl Winson (một mẫu hạm dài bằng ba sân túc cầu, chạy bằng nhiên liệu hạt nhân, đang di chuyển trên Biẻn Ả Rập, ngoài khởi Pakistan). Một lần nữa, Mỹ lại phải bay qua không phận Pakistan, mà không xin phép.</p>
<p>Xác bin Laden được thanh tẩy, bọc vào khăn liệm, và được đặt vào một túi cùng với trọng lượng cần thiết để chìm. Brennan nói với các ký giả: “Lễ nghi khâm liệm đã được làm đúng theo quy định của Hồi Giáo”. Thi thể được mang vào thang máy lộ thiên, xuống tầng dưới, nơi thường dùng làm chỗ chứa phi cơ. Từ một nơi cách mặt nước khoảng ba tầng lầu, thi hài được cho tuật xuống biển.</p>
<p>Trong khi ấy, tại Abbottabad, cư dân Bilal Town và hàng chục nhà báo tụ tập tại căn nhà, tìm hiểu xem những gì đã xảy ra đêm qua. Những khoảng nám đen do chiếc Black Hawk bị phá hủy gây ra vẫn còn đó. Đuôi chiếc Helo One, trông khá lạ so với trực thăng thường, vẫn còn treo tòn ten ngoài bức tường cao. Một giới chức chiến dịch đặc biệt nói: “Tôi mừng vì không ai bị thương trong vụ máy bay rớt. Mặt khác, tôi mừng vì dấu tích trực thăng vẫn còn đó. Đấy là bằng chứng, để mọi người có thể tin ngay, là cuộc đột kích đã thực sự diễn ra”.</p>
<p>&#160;</p>
<p><b>Khủng bố và tử đạo</b></p>
<p>Ngàu 6 tháng Năm, 2011, Al Qaeda xác nhận cái chết của bin Laden, và phổ biến lời ca tụng “các dân tộc Hồi Giáo” về “cuộc tử đạo của người con yêu dấu Osama”. Tác giả thông điệp nhắn nhủ người Mỹ: “Sự vui mừng của họ sẽ trở thành đau thương và nước mắt họ sẽ hòa với máu”. Cùng ngày này, Tổng Thống Obama tới thăm Fort Kampbell ở Kentucky, nơi đồn trú của đơn vị không vận đặc biệt 160, gặp đơn vị DEVGRU và các phi công đã thi hành cuộc đột kích. Các người Nhái về từ Afghanistan trước đó trong tuần, đã bay đến từ Virginia. Biden, Tom Donilon, và hàng chục cố vấn an ninh khác tháp tùng.</p>
<p>McRaven đón chào Obama trên sân bay (họ đã gặp nhau vài ngày trước đó tại Bạch Ốc, và Tổng Thống đã tặng McRaven một cái thước cuốn). McRaven hướng dẫn Tổng Thống và phái đoàn vào một ngôi nhà ở phía bên kia căn cứ. Họ bước ào một căn phòng không cửa sổ. McRaven, Brian, các phi công, và James lần lượt thuyết trình.</p>
<p>Khi James, trưởng toán lên tiếng, anh kể tên những người Nhái đã hy sinh trong các chiến dịch trước ở Afghanistan, anh nói: “Tất cả những gì chúng ta làm trong mười năm qua đã chuẩn bị cho chúng ta trong vụ này”. James cũng không quên nhắc tới con chó Cairo, khiến Obama chặn ngang: “Có cả một con chó?” James gật đầu, nói con chó ở phòng bên cạnh, nhưng bị bịt miệng, do yêu cầu của mật vụ. Obama nói: “Tôi muốn gặp con chó”. James dỡn: “Nếu ông muốn gặp, nên mang theo phần thưởng”. Obama đi gặp con Cairo, nó vẫn bị bịt miệng.</p>
<p>Sau đó, Obama và đoàn tùy tùng vào một phòng thứ nhì ở cuối hành lang, để gặp tất cả những ai đã tham dự vào chiến dịch, kể cả những người lo về nơi ăn chốn ở cho toán. Tổng Thống tặng cả đơn vị Bằng Tưởng Lệ. Nhóm biệt kích sau đó tặng Tổng Thống lá quốc kỳ đã để trên chiếc Chinook cấp cứu. Có kích thước 3&#215;5 feet, lá cờ đã được căng ra, ủi thẳng, đóng khung. Tất cả người Nhái và phi công ký tên phía sau, với lời đề tặng khắc ở phía trước: “From the Joint Task Force Operation Neptune’s Spear, 01 May 2011: For God and Country. Geronimo” (Từ Lực lựơng Hỗn hợp Chiến dịch Giáo Hải Thần, 01 tháng Năm, 2011: Vì Thiên Chúa và Tổ Quốc. Geronimo).</p>
<p>Trước khi ra về, Obama đã lần lượt chụp hình với mỗi người trong nhóm, và nói chuyện với nhiều người trong số họ. Nhưng ông không bao giờ hỏi ai là người đã lẩy cò giết thủ phạm. Người Nhái cũng không bao giờ tự ý nói cho ông biết.</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p><i>Nguồn và tài liệu tham khảo: </i></p>
<p>- <a href="http://www.washingtonpost.com/wp-srv/projects/osama-hunt/?hpid=z14">http://www.washingtonpost.com/wp-srv/projects/osama-hunt/?hpid=z14</a></p>
<p>- <a href="http://www.newyorker.com/reporting/2011/08/08/110808fa_fact_schmidle">http://www.newyorker.com/reporting/2011/08/08/110808fa_fact_schmidle</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/21243/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

