<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Chu Sơn</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/chuson/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Đọc Trịnh C&#244;ng Sơn- Một Người Thơ Ca &#8211; Một C&#245;i Đi Về</title>
		<link>http://damau.org/archives/11353</link>
		<comments>http://damau.org/archives/11353#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Apr 2010 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Chu Sơn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Đọc và Đọc lại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/11353</guid>
		<description><![CDATA[Một người yêu nước, tài năng, có nhân cách lớn lao như Trịnh Công Sơn mà nhiều tác giả ca ngợi trong sách này, cớ sao nhà nước Cách mạng lại đưa đi học tập cải tạo? Bạn bè Trịnh Công Sơn sau giải phóng đa phần là thành phần Cách mạng như các ông Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Thái Bá Vân sao lại làm lơ khi Trịnh Công Sơn bị bắt đi học tập oan?]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/cTrnhCngSnMtNgiThCaMtCiiV_13B93/coverofmcdv.gif"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="cover of mcdv" border="0" alt="cover of mcdv" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/cTrnhCngSnMtNgiThCaMtCiiV_13B93/coverofmcdv_thumb.gif" width="285" height="410" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>TRỊNH CÔNG SƠN &#8211; MỘT NGƯỜI THƠ CA &#8211; MỘT CÕI ĐI VỀ là tên một cuốn sách xuất hiện trên thị trường chữ nghĩa cả nước vào trung tuần tháng 5 năm 2001. Sách do nhà xuất bản Âm nhạc thuộc Trung tâm Văn hóa – Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, do các ông Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến biên soạn. Sách in trên giấy trắng, bìa tốt, dày 520 trang, khổ 14,5 x 20cm, giá bán 63000 đồng.</p>
<p>Cứ như sự tình ấy và sau khi nhìn một lượt từ đầu đến cuối sách, người đọc chia thành hai phần công việc: Sưu tầm và biên soạn.</p>
<p>&#8212; Phần sưu tầm chiếm gần hết khối lượng trang sách (506/520) chiếm 97,3%</p>
<p>&#8212; Phần biên soạn gồm 14 trang chiếm 2,7%</p>
<p>Ngoài các bài sưu tầm hay biên soạn, sách còn có một số (dưới 40) ảnh chụp Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn với bạn bè hay đồng nghiệp, ảnh chụp tranh vẽ của Trịnh Công Sơn, ảnh chụp ký họa chân dung Trịnh Công Sơn của ba họa sĩ. Đặc biệt là ảnh chụp hai người đàn ông một trẻ một già, một ta một tây. Người trẻ đẹp trai mặt chữ điền, ăn mặc bảnh bao. Người già có nụ cười cởi mở, ăn mặc đơn giản. Dưới ảnh có chú thích: Trịnh Công Sơn – vua hề Charlot, Huế 1959.</p>
<p>Người đọc xin giới thiệu trước phần biên soạn. Nói là biên soạn là nói theo các ông Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến, chứ thực tình dùng chữ biên soạn ở đây là cưỡng từ đoạt ý.</p>
<p>Ngoài 10 trang mục lục, các ông Nguyễn – Đoàn còn viết 4 trang khác gồm mấy dòng không tên ở trang 4, lời ngỏ, tiểu sử, tên tác phẩm ở trang 5, 6 và 8. Toàn bộ phần biên tập chỉ có thế.</p>
<p>Mấy dòng không tên và Lời ngỏ nếu gộp chung lại cũng không hại gì. Ở đây các ông Nguyễn – Đoàn muốn nhắn gởi đến tác giả các bài được chọn in ở phần sưu tầm, và đến độc giả mấy điều sau:</p>
<p>&#8211; Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ thiên tài.</p>
<p>&#8211; Quan hệ bạn bè giữa Trịnh Công Sơn và các ông Nguyễn – Đoàn.</p>
<p>&#8211; Trịnh Công Sơn mất đi là một mất mát lớn</p>
<p>&#8211; Làm sách là hành động thắp hương cho Trịnh Công Sơn</p>
<p>&#8211; Ban biên tập có lời xin các tác giả có bài được chọn in xí xóa nếu chưa hoặc không liên hệ được. Chắc là không.</p>
<p>&#8211; Xin độc giả lượng thứ vì sách không thể không sai sót do thời gian làm sách quá cấp bách</p>
<p>&#8211; Ký tên nhóm biên soạn – hai mươi hai ngày sau khi Trịnh Công Sơn qua đời (ngày22/4/2001).</p>
<p>Người đọc lấy làm kinh ngạc khi đọc đến phần tiểu sử và tác phẩm Trịnh Công Sơn không quá 200 từ. Có thể tìm thấy tiểu sử này trên nhiều tờ báo hoặc trên thông báo của hội âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh nhân đám tang Trịnh Công Sơn, một nhạc sĩ thiên tài, người nghệ sĩ đã để lại cho công chúng một sự nghiệp đồ sộ, một nguời sinh ra, lớn lên, học hành, đã sống và sáng tác, đã tiến thoái lưỡng nan trên đất nước nô lệ, chia cắt, chiến tranh, nghèo đói, chết chóc rồi Độc lập, Hòa bình, Thống nhất. Người mà hơn bất cứ một nghệ sĩ sáng tác nào ở miền Nam ( ngoài Phạm Duy), đã để lại cho công chúng yêu âm nhạc những tác phẩm không nhiều thì ít đều phản ảnh nhiều mặt của tâm hồn nghệ sĩ, trí thức đô thị gần nửa thế kỷ. Người mà để tiếp cận với cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của ông &#8211; người đời sau và nhất là các nhà nghiên cứu, không thể không biết đến dấu tích của một vùng đất đã sản sinh, nuôi dưỡng, vun đắp nên ông, cùng những biến cố trọng đại của miền Nam, của đất nước trong cuộc đụng đầu khốc liệt mà mãi cho đến ngày nay, hơn một phần tư thế kỷ trôi qua sau ngày cuộc chiến chấm dứt, chỉ trong giới hâm mộ Trịnh Công Sơn thôi cũng đã không thống nhất được cách nghĩ, cách nhìn, cách đánh giá quá khứ.</p>
<p>Để tỏ lòng ngưỡng mộ, để biết ơn và nhớ tiếc một người như thế, nhóm biên soạn nhân danh là bạn bè, là đồng nghiệp của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đã biên soạn cuốn sách dày hơn 500 trang mà phần tiểu sử không hơn một bài tập về nhà của một học sinh trung học cơ sở (môn văn). Khi mới hôm qua thôi, họ còn chơi bời, đàn đúm với Trịnh Công Sơn, và hôm nay trên bàn biên soạn của mình các nhà chủ biên Nguyễn – Đoàn có được một khối lượng không nhỏ các tư liệu, các bài viết về ông và của chính ông.</p>
<p>Ngắn gọn và đầy đủ thì còn gì bằng.</p>
<p>Đằng này, ngắn mà không gọn, mà thiếu trước hụt sau, nghèo nàn, đơn giản, quả thật là hoàn toàn bất tiện không những cho người đọc mà còn chẳng hay ho gì cho nhóm biên soạn, cũng như cho người được thắp hương: Trịnh Công Sơn.</p>
<p>Xin cử một thí dụ:</p>
<p>“ Thời niên thiếu học ở Huế, rồi tốt nghiệp sư phạm Qui Nhơn, lên dạy học ở B’lao (Lâm Đồng), sau đó bỏ hẳn dạy học về sống và sáng tác ở Sài Gòn”</p>
<p>Căn cứ những dòng tiểu sử trên thì Huế, Qui Nhơn, B’lao (Lâm Đồng) không có dấu vết gì đến quãng đời sống và sáng tác của Trịnh Công Sơn cả, mà chỉ có Sài Gòn thôi.</p>
<p>Sự thật như thế nào?</p>
<p>Chẳng cần xử dụng bất cứ tư liệu nào khác, chỉ những bài nhóm biên soạn chọn in ở sách này thôi cũng đủ thấy nội lực của các nhà biên soạn tới đâu:</p>
<p>Cứ như tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bài “CĂN NHÀ CỦA NHỮNG GÃ LANG THANG”, Thế Uyên trong bài “CUỘC HÀNH TRÌNH LÀM NGƯỜI vIỆT NAM”, Khánh Ly trong bài “BÊN ĐỜI QUẠNH HIU”, M Nguyễn trong bài “NGƯỜI HẢI NGOẠI NÓI VỀ TRỊNH CÔNG SƠN”, Trịnh Cung trong bài “ NÓI VỀ TRỊNH CÔNG SƠN và cả những bài do chính Trịnh Công Sơn viết thì Huế và Qui Nhơn, B’lao có một vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông. <em>Ướt mi</em>, <em>Diễm xưa</em>, <em>Biển nhớ</em>, <em>Mưa hồng</em>, <em>Hạ trắng</em>, <em>Đàn bò vào thành phố</em>, <em>Khi mặt trời ngủ yên</em>, <em>Tiếng hát Dạ Lan</em> và hàng trăm ca khúc khác, Trịnh Công Sơn đã sáng tác ở Huế, ở miền Trung. Ngoài thời gian ở Qui Nhơn (hai niên khóa) từ sau <em>Ướt mi</em> ra đời (1959), cho đến 1977, tùy theo hoàn cảnh cá nhân, gia đình, tùy theo yêu cầu sáng tác và phổ biến, tùy theo những biến động xã hội (chiến tranh, phong trào học sinh, sinh viên) mà Trịnh Công Sơn lúc thì ở Huế, lúc thì ở Sài Gòn. Ông chỉ rời căn nhà ở trước tòa Tổng (Phan Hạng), căn nhà trên đường Nguyễn Trường Tộ, căn nhà trên đường hai hàng long não ( Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn trọng Tạo, Nguyễn Duy, và rất nhiều tác giả có bài trong sách này) để vào hẳn Sài Gòn từ 1977.</p>
<p>Xin tạm bỏ qua phần biên soạn để đến với phần chính của cuốn sách, phần tuyển chọn, biên tập và sắp xếp các bài viết về Trịnh Công Sơn trong sách này.</p>
<p>Các bài được chọn in sắp xếp thành 4 phần theo thứ tự:</p>
<p>&#8212; Phần I có tên gọi: MỘT NGƯỜI THƠ CA, gồm 26 bài viết về Trịnh Công Sơn trước khi ông qua đời của nhiều tác giả như: Văn Cao, Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Phạm Duy, Thế Uyên, Khánh Ly và nhiều tác giả khác.</p>
<p>&#8212; Phần II có tên : PHÁT THẢO CHÂN DUNG TÔI, gồm 26 bài văn xuôi do Trịnh Công Sơn sáng tác, hoặc trả lời phỏng vấn (do người thực hiện ghi lại)</p>
<p>&#8212; Phần III có tên gọi; BIẾT ĐÂU CỘI NGUỒN, gồm 63 bài thơ rút ra từ 63 ca khúc và 3 bản nhạc đầy đủ ( có cả nhạc và lời) của Trịnh Công Sơn.</p>
<p>&#8212; Phần IV có tên gọi: MỘT CÕI ĐI VỀ, gồm 55 bài viết, bài thơ của nhiều tác giả nhân cái chết của Trịnh Công Sơn.</p>
<p>Trong tình hình thông tin ngày nay, không ít người mến mộ Trịnh Công Sơn tập hợp được một khối tư liệu như thế. Nhưng với đa số những người mến mộ khác do không có điều kiện hoặc chưa quen công việc sưu tầm cất giữ tư liệu, thì một cuốn sách loại này quả thật là “tôm tươi”. Nắm bắt được tình hình đó, các nhà biên soạn vội vàng làm sách. Cuốn sách dày 520 trang được chuẩn bị và hoàn thành trong một thời gian kỷ lục: Trên dưới hai mươi ngày. (Trịnh Công Sơn mất ngày 1 tháng 4, Lời ngỏ viết ngày 22 tháng 4).</p>
<p>Đến phần tuyển chọn, biên tập, sắp xếp, các nhà biên soạn đã làm như thế nào?</p>
<p>1/ Có đến 50% bài viết về Trịnh Công Sơn được chọn in trong sách này không có xuất xứ, không có ngày tháng khai sinh, chỉ có tên tác giả. Theo chỗ người đọc nghĩ, những bài này thuộc hai loại: Thứ nhất là của bạn bè trao tay, được chọn in là may. Thứ hai: lấy từ một cuốn sách, một tờ báo hay của một người thứ ba nào đó mà không hề có ý kiến của tác giả. “Để thắp một nén hương” cho người nhạc sĩ thiên tài nên công việc phải tiến hành gấp, xin niệm tình tha thứ (trang 4). Lập luận có vẻ hàm hồ quá đỗi, dẫu con nít cũng không lọt tai. Đã là thiên tài, chắc chắn danh tiếng Trịnh Công Sơn và tác phẩm của ông sẽ sống lâu, sẽ đi mãi cùng năm tháng, vậy thì đi đâu mà vội, mà làm gấp, làm khẩn trương cấp bách như chống thiên tai dịch bệnh, hay giặc đến nhà như thế?</p>
<p>2/ Có những bài không những bị cưỡng chọn mà các nhà biên soạn còn tự ý cắt bỏ, lắp ráp, đặt, đổi đầu đề như bài của Thế Uyên ở phần một, bài của Chu Sơn ở phần 4. Có những bài tuy ghi chú xuất xứ ngày tháng khai sinh nhưng : “Đầu đề do chúng tôi (BBT) đặt: bài của Văn Cao, Bửu Ý, Phạm Duy…</p>
<p>Những bài ở phần 1, phần 4 có thể xem như tuyển chọn. Những người làm công tác tuyển chọn đâu có quyền cắt bỏ, lắp ráp, thay tên đổi họ tùy tiện khi không có ý kiến của tác giả? Ngay câu: “đề bài do chúng tôi đặt” (Ban Biên Tập) mới đọc qua có vẻ rõ ràng ngay thật, nhưng suy đi nghĩ lại lại thấy nó trơ tráo, thiếu văn hóa thế nào ấy. Có lẽ nào các nhà soạn giả bảo rằng ta đặt cho cái tên hay ho như vậy mà còn lí sự nỗi gì? Thưa các vị biên soạn, hay dở gì là của chúng tôi, những người đã sản sinh ra nó. Các vị có chữ nghĩa cao siêu gì cũng phải xin phép chúng tôi chứ…? Một tác giả đã nói với người đọc như vậy.</p>
<p>3/ Một số chi tiết liên quan đến tiểu sử Trịnh Công Sơn ở một số bài viết về Trịnh Công Sơn. Ở đây người đọc không hề muốn trao đổi với tác giả các bài ấy. Bởi trao đổi về nội dung dài dòng sẽ vượt qua khuôn khổ một bài đọc sách. Người đọc chỉ muốn thưa với các nhà biên soạn mà thôi.</p>
<p>&#8212; Một chi tiết rất quan trọng trong đời Trịnh Công Sơn: Trịnh Công Sơn có bị Nhà nước đưa đi học tập hay không?</p>
<p>Tác giả Nhật Lệ với bài viết khá tầm cỡ trong phần I ở trang 147 có đoạn:</p>
<p>“Sau 1975… trải qua hai năm học tập cải tạo ở Cồn Tiên, vùng đất hoang vu đầy bom đạn, Trịnh Công Sơn có được một thời kỳ yên tĩnh để nhìn lại mình trong các biến động lịch sử”. Thông tin cụ thể này gần giống với câu trả lời phỏng vấn của ca sĩ em ruột Trịnh Công Sơn, bà Trịnh Vĩnh Trinh, trên đài VOA trong một chương trình phát thanh tiếng Việt khoảng hai tháng trước khi Trịnh Công Sơn qua đời: “ Anh Sơn đã bị đưa đi học tập 4 năm ở gần biên giới Lào- Việt”.</p>
<p>Sự kiên cực kỳ quan trọng này sao không thấy các nhà biên soạn viết ở phần tiểu sử? Sao không thấy những người bạn thân thiết của Trịnh Công Sơn như Bửu Ý, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trịnh Cung… đả động đến. Các nhà biên soạn là ban thân của Trịnh Công Sơn như Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Thái Bá Vân, Nguyễn Thụy Kha, Ngô Minh và nhiều người khác nữa, qua bài viết của mình, đã kể lại những lần gặp gỡ, giao lưu, ca hát, uống rượu với Trịnh Công Sơn khi thì ở hội văn nghệ Bình Trị Thiên, khi thì ở nhà Nguyễn Khoa Điềm, khi thì ở nhà Trịnh Công Sơn, khi thì doanh trại Nguyễn Trọng Tạo… vào các ngày… tháng… năm 1975, 1976. Sau 1976 thì Trịnh Công Sơn vào công tác ở thành phố Hồ Chí Minh. Một người dù thiên tài như Trịnh Công Sơn cũng không thể vừa đi học tập cải tạo vừa vui chơi gặp gỡ, giao tiếp với bạn bè trong đời thường, đặc biệt những người bạn ấy đa phần là cán bộ Cọng sản. Vậy thì Trịnh Công Sơn đi học tập vào thời gian nào và vì lí do gì?</p>
<p>Thông tin của Nhật Lệ còn gợi ý cho người đọc mấy băn khoăn sau:</p>
<p>Một là: Một người yêu nước, tài năng, có nhân cách lớn lao như Trịnh Công Sơn mà nhiều tác giả ca ngợi trong sách này, cớ sao nhà nước Cách mạng lại đưa đi học tập cải tạo?</p>
<p>Hai là: Bạn bè Trịnh Công Sơn sau giải phóng đa phần là thành phần Cách mạng như các ông Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Duy, Thái Bá Vân sao lại làm lơ khi Trịnh Công Sơn bị bắt đi học tập oan?</p>
<p>Một chi tiết khác cũng liên quan đến tiểu sử Trịnh Công Sơn, cũng ở bài của Nhật Lệ, trang 147:</p>
<p>“ Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 chính Trịnh Công Sơn và một số nhạc sĩ khác hát vang ca khúc NỐI VÒNG TAY LỚN trên đài phát thanh của chế độ cũ, truyền loan tin thống nhất đất nước đến mọi nhà”. Xin được miễn bình luận về mẫu tin này của Nhật Lệ, một trong những người tỏ ra rất thân thiết với Trịnh Công Sơn. Bởi trong bài viết của ông ở sách này, ít nhất cũng có mươi, mươi lăm câu tương tự. Do không định thảo luận với Nhật Lệ nên người đọc chỉ xin đọc một mẫu thông tin khác của một người Việt ở nước ngoài (M Nguyễn) ghi lại lời kể của một người Việt ở nước ngoài khác (Thế Uyên) trong hai bài được chọn in gần nhau:</p>
<p>&#8212; “ Ngày 30 tháng 4, tôi (Thế Uyên) gặp Trịnh Công Sơn đang đứng trên vỉa hè gần ngã tư Phan Thanh Giản – Lê Văn Duyệt, hai người mừng rỡ băt tay nhau, tôi có hỏi anh hát NỐI VÒNG TAY LỚN trên đài phát thanh những giờ đầu tiên (miền Nam được giải phóng) thì anh cho biết bạn bè ở khu về kiếm ra anh ngay, kéo lên xe đưa về đến đài phát thanh, không kịp về nhà lấy đàn nữa nên phải hát tay không &#8230;.” (M Nguyễn trang 105)</p>
<p>Theo các nhà biên soạn, là bạn thân thiết của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, hai mẫu tin trên, mẫu nào đúng, mẫu nào sai? Mẫu nào làm cho linh hồn Trịnh Công Sơn yên ổn, mẫu nào làm cho linh hồn Trịnh Công Sơn áy náy? Làm sao người nhạc sĩ thiên tài bạc mệnh ấy không áy náy cho được khi có người là bạn thân của ông thông báo cho công chúng biết không phải là trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, mà trước đó, ông đã cùng một số nhạc sĩ khác lên đài phát thanh của chế độ cũ hát vang bài NỐI VÒNG TAY LỚN truyền loan tin thống nhất đến mọi nhà rồi kia? Hay vì lí do đó mà sau 1975 ông bị đưa đi học tập cải tạo ở Cồn Tiên đến hai năm? Thắp hương cho Trịnh Công Sơn như thế này là bằng ngàn lần không thắp, phải không?</p>
<p>Mấy ví dụ liên quan đến trường sư phạm Qui Nhơn và Trịnh Công Sơn:</p>
<p>&#8212; Ở trang 358, Đỗ Quang Hạnh viết: “Sau khi tốt nghiệp Đại học sư pham Qui Nhơn…”</p>
<p>&#8212; Trong bài :Trịnh Công Sơn và tiềm thức “Thân phận mong manh”, Nhật Lệ viết: “ Năm 1961 Trịnh Công Sơn… thi vào trường sư phạm Qui Nhơn… khoa anh học: Tâm lí giáo dục trẻ em, thật buồn cười…” (trang 137)</p>
<p>&#8212; Trong bài: Nói về Trịnh Công Sơn, Trịnh Cung viết: “ Trịnh Công Sơn học sư phạm Qui Nhơn để làm trưởng giáo”.</p>
<p>Sự thật về trường sư phạm Qui Nhơn là như thế này: Năm 1961 tại thị xã Qui Nhơn, chính quyền VNCH khai giảng khóa đầu tiên của trường sư phạm. Trịnh Công Sơn là giáo sinh khóa 1, ban thường xuyên hai năm tại đó. Trường đào tạo giáo viên tiểu học (bây giờ là cấp 1) cho các tỉnh miền Trung. Tất cả các giáo sinh khi tốt nghiệp được bổ nhiệm về dạy bất cứ một truờng nào trong các tỉnh từ Quảng Trị đến Phan Thiết và Cao nguyên. Trịnh Công Sơn đi Bảo Lộc (tỉnh Lâm Đồng). Tất cả các giáo viên ở các trường tiểu học miền Nam bấy giờ có thể dạy một lớp (lớp năm, lớp tư, lớp ba, lớp nhì, lớp nhất, bây giờ thì gọi ngược lại lớp một, lớp hai, lớp ba, lớp bốn, lớp năm.) Hoặc có thể vừa dạy một lớp vừa làm hiệu trưởng (nếu trường thiếu giáo viên). Hoặc chỉ làm hiệu trưởng (nếu trường nhiều lớp, có đủ giáo viên). Trịnh Công Sơn khi lên Bảo Lộc đến một trường thiếu giáo viên, nên anh vừa làm hiệu trưởng vừa dạy một lớp trong một trường có hai lớp. Trường sư phạm Qui Nhơn không hề đào tạo nghạch trưởng giáo như Trịnh Cung nói. Là một trường sư phạm nên tất cả giáo sinh phải học tất cả các môn trong đó có môn Quản trị học đường và môn Tâm lí giáo dục. Ở bất cứ trường sư phạm nào đào tạo giáo viên cấp 1 tại miền Nam bấy giờ không hề có các chuyên khoa để Trịnh Công Sơn học “Khoa tâm lí giáo dục trẻ em”, như Nhật Lệ viết.</p>
<p>Những chi tiết: trường Đại học sư phạm Qui Nhơn, trưởng giáo, khoa tâm lí giáo dục trẻ em là những bịa đặt không cần thiết. Nhưng khi các tác giả Nhật Lệ, Trịnh Cung, Đỗ Quang Hạnh vì yêu thương bạn bè mà vẽ rắn thêm chân như thế, chẳng những không giúp ích gì cho người đọc muốn tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp Trịnh Công Sơn, mà chứng tỏ các nhà vẽ rắn có một não trạng kỳ quái, khó hiểu. Thiên tài như Trịnh Công Sơn thì cần gì phải Trưởng giáo, phải tốt nghiệp đại học? Theo suy nghĩ của người đọc, Trịnh Công Sơn trở thành thiên tài một phần vì những lận đận trắc trở, bế tắc trên nhiều mặt đời thường. Tôi, kẻ viết bài này, con đẻ của một đất nước chưa thoát khỏi tình trạng nghèo đói lạc hậu, tất nhiên rất khát khao khoa bảng, nhưng trăm phần trăm, vì quyền lợi bản thân và đất nước, không đánh đổi một Trịnh Công Sơn hát rong để lấy 10 tiến sĩ bình thường nào, dù ông ta tốt nghiệp tại Sài Gòn, Hà Nội, Balê hay Hoa Thịnh Đốn ( tôi nói 10 ông tiến sĩ bình thường, tôi không nói 10 nhà khoa học.)</p>
<p>Chuyện rắn có chân trong sách TRỊNH CÔNG SƠN &#8211; MỘT NGƯỜI THƠ CA &#8211; MỘT CÕI ĐI VỀ nếu kể hết thì quá dài dòng, vô vị. Rắn dù có vẽ thêm bao nhiêu chân đi nữa thì rắn không thể biến thành rồng được.</p>
<p>Theo tôi, người đọc: Trịnh Công Sơn là rồng (cũng có thể là một con chim hót trên đầu ngọn lau). Ông không hề là rắn, nên việc vẽ thêm những cái chân cho ông là không những không cần thiết, mà chỉ làm hại ông thôi. Chắc là ông đang buồn khổ lắm. Đây này, xin các nhà biên soạn đọc lại lời sau đây của Trịnh Công Sơn ở trang 167 cuốn sách mà các ngài soạn:</p>
<p>“… Cái giả, giả mà rất thật trong đời. Sự giả dối đôi lúc biết được thì làm khổ lòng nhau biết bao nhiêu mà kể.” Có thể lúc này đây linh hồn Trịnh Công Sơn đang bay cùng một đám mây nào đó trên trời cao. Đột nhiên ông khựng lại, vì vừa phát hiện ra ngoài các chân rồng của mình, mấy nhà biên soạn, bạn ông, còn đeo thêm vào thân ông những cái chân rắn kỳ cục. Cái chân rắn kỳ cục nhất là bức ảnh có phụ đề Trịnh Công Sơn và vua hề Charlot &#8211; Huế 1959.</p>
<p>Đánh giá một con người bình thường là một việc làm không dễ. Để hiểu thấu đáo, đánh giá đúng đắn, công bằng và khám phá những giá trị ẩn chứa nơi con người sinh ra, lớn lên trong một đất nước vào một thời kỳ đặc biệt, con người có một đời sống đặc biệt, có một tài năng xuất chúng, có một sự nghiệp to lớn như Trịnh Công Sơn, là một việc cực kỳ khó khăn.</p>
<p>Các nhà biên soạn sách TRỊNH CÔNG SƠN – MỘT NGƯỜI THƠ CA &#8211; MỘT CÕI ĐI VỀ không có tham vọng và cũng không có khả năng để làm công việc đó.</p>
<p>Trong tư cách là những người có quan hệ thân tình ở một mức độ nào đó, trong một tình thế nào đó vào nửa sau cuộc đời Trịnh Công Sơn, đồng thời trong tư cách những người hâm mộ Trịnh Công Sơn nồng nhiệt, họ có được, sưu tầm được, lưu giữ được một số tác phẩm của Trịnh Công Sơn, một số tư liệu đời thường Trịnh Công Sơn, một số bài viết của nhiều tác giả về đời và nghệ thuật Trịnh Công Sơn, và họ đã làm sách.</p>
<p>Nói để thắp một nén hương cho người nhạc sĩ quá cố, nhưng thực chất họ chỉ là những người nhạy bén thị trường, nắm bắt thời cơ để kinh doanh trong tình thế bán khai của nền kinh tế ở thời điểm lố lăng này.</p>
<p>Cuốn sách của các ông Tạo, Kha, Huyến như lâm thời chúng tôi nhận định ở trên, không phải là một tập tư liệu cần thiết và quí báu về Trịnh Công Sơn, không phải là một toàn tập về Trịnh Công Sơn, không phải là một tập hợp các bài viết của nhiều tác giả về Trịnh Công Sơn, và còn lâu mới là một cuốn sách biên soạn về con người và sự nghiệp nghệ thuật Trịnh Công Sơn đúng nghĩa; nhưng chắc chắn nó lại là một thành công không nhỏ về mặt doanh thu.</p>
<p>Ít ra, Trịnh Công Sơn dù đã vĩnh viễn ra đi, nhưng tài năng và tấm lòng của ông, ngoài gia tài nghệ thuật quí báu ông để lại cho đất nước, ông còn để lại cái gì đó ích lợi cụ thể cho một ai đó giữa cõi đi về này. Và kẻ nào đó bảo rằng âm nhạc Trịnh Công Sơn là một trời ảo mộng, Y đã lầm.</p>
<p>&#160; <br /><em>Huế cuối tháng Năm 2001</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/11353/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>3</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bửu Chỉ: Bằng ch&#237;nh m&#236;nh đến với cuộc đời</title>
		<link>http://damau.org/archives/8650</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8650#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 10 Sep 2009 07:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Chu Sơn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn tròn]]></category>
		<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nghệ Thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8650</guid>
		<description><![CDATA[<p>Đối với Bửu Chỉ, mặt trời, mặt trăng còn là biểu hiện của thời gian. Thời gian ám ảnh Bửu Chỉ không nguôi. Con người khi còn trong trứng nước đã bị treo lơ lửng trên thập giá của thời gian. Thời gian là tên trấn lột đểu cáng, trêu ngươi. Con người đuổi theo nó đến hụt hơi mà chẳng bao giờ kịp để đòi lại những kỷ niệm êm đềm, những khoảnh khắc bình yên, những bạn bè, những người yêu dấu.</p>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><img style="border-right-width: 0px; margin: 0px 15px 5px 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/BuChBngchnhmnhnvicuci_719E/clip_image002_thumb.jpg" width="227" height="363" />Một sớm cuối thu 1972, sau “đêm không ngủ” hừng hực khí thế tranh đấu cùng các anh em học sinh, sinh viên, tôi và anh Ngô Kha cùng rời sân trường Đại học Văn khoa Huế. Không khí mát mẻ, mù sương của buổi tinh mơ khiến chúng tôi tỉnh táo và sảng khoái lạ lùng. Dường như cả thành phố Huế tràn ngập trong sương mù.Vòm các nhịp cầu Trường Tiền trông như những con thuyền bồng bềnh trên khói sóng. Chúng tôi không băng qua cầu để về nhà anh Ngô Kha làm một giấc ngủ bù như dự định, mà đi dọc theo đường Lê Lợi, con đường đẹp nhất theo cảm nhận của một người bạn đã đi khắp góc bể chân trời. Đường Lê Lợi sáng hôm ấy hiện ra trước mắt chúng tôi tựa một dải lụa hoa màu nguyệt bạch rủ xuống từ trời cao. Các ngọn đèn vàng đi ngủ muộn ẩn hiện trên những vòm lá muối có vẻ không thực. Lác đác mấy nữ sinh lớp nhỏ áo dài trắng từ ngoại ô đi học sớm đang tung tăng đuổi bắt nhau hay nhảy dây trong sân trường Đồng Khánh cũng có vẻ không thực. Cái đẹp thường là mong manh, ẩn mật. Chúng tôi lẳng lẽ đi bên nhau như sợ một động thái vô tình nào làm cái đẹp huyền hoặc tan biến đi. Quán cà phê cô Ba ở phía bên kia cầu Nam Giao như vừa mới bịn rịn làm một cuộc giã từ. Mấy sợi tơ trời còn vương vấn trên mái ngói tàn cây. Lúc ngồi vào quán, anh Ngô Kha như chợt tỉnh. Anh nói một mạch những lời, những câu không đầu không đuôi: “Cái đẹp, cái thiện là có thật. Nhưng cái xấu cái ác lại có thật hơn. Không biết bây giờ chúng nó giam cầm Bửu Chỉ, Nguyễn Duy Hiền và các anh em khác ở đâu? Kể cũng lạ, cái đất nước đau thương tội nghiệp này luôn có những điều nghịch lý. Ít có quốc gia nào trên lục địa châu Á mà vua chúa, quan lại, trí thức lại đứng chung cùng một chiến hào trên mặt trận giải phóng dân tộc với đại đa số đồng bào cùng khổ với một tỉ lệ cao như ở đây. Cũng như mình (Ngô Kha), Bửu Chỉ vừa có cái duy lý của người học Luật, lại vừa có cái mẫn cảm của một nghệ sĩ bẩm sinh. Qua tranh Bửu Chỉ, mình thấy được nỗi đau và khát vọng của chính mình. Khác với Tường, Phan, Ngô, Xuân, Đính và các anh em khác đã ra đi, mình, Bửu Chỉ, và một bộ phận không nhỏ người Huế khác sau biến cố Tết Mậu Thân đã lăn xả vào cuộc đấu tranh này không bởi lý do nào khác, mà là Hoà Bình. Hoà bình đích thực nhất thiết phải gắn liền với quyền tự quyết dân tộc. Người Mỹ nhất thiết phải ra đi. Con ruồi đậu nặng đòn cân. Nó (Bửu Chỉ) là học trò mình, mình biết nó muốn nhanh chóng làm lệch đòn cân&#8230;”</p>
<p>Quán cà phê đã có lác đác thêm nhiều khách hàng. Cuộc độc thoại của anh Ngô Kha về tình hình đất nước, về những người học trò của anh (Chỉ, Hiền, Quê, Cước, Nhân, Dung&#8230;) về phong trào học sinh, sinh viên Huế, về thân phận của người trí thức, về chiến tranh, về hoà bình&#8230;tưởng chừng không bao giờ dứt. Dường như anh Ngô Kha không hề biết hoặc không màng để ý rằng nơi này (quán cà phê cô Ba) ngoài chúng tôi còn có nhiều người khác nữa. Và tất nhiên không phải ai cũng đồng tình, chia sẻ với anh ,và chắc chắn không thiếu những ánh mắt nhìn về phía chúng tôi nghi ngại, căm thù. Cô Ba, bà chủ quán thì biết hết. Cô kín đáo khẽ đá vào chân tôi khi mang thêm nước trà. Chúng tôi rời quán cà phê khi mặt trời đã lên cao. Một ngày nắng gắt lại bắt đầu. Mùa thu năm đó thời tiết đặc biệt vào ban ngày hết sức ngột ngạt oi bức. Có lẽ cái nóng cháy của “mùa hè đỏ lửa” vẫn âm ỉ, lẩn quất đâu đây. Giá mà lúc đấy có ai nói về một thành phố Huế bồng bềnh trong sương khói mới chỉ cách đó hơn một tiếng đồng hồ thôi thì sẽ có một người Huế khác bảo là dối trá lừa bịp. Cũng dể hiểu thôi bởi bấy giờ họ đang ngon giấc, hoặc không ít người trằn trọc, rã rời mệt mỏi suốt đêm chỉ vừa kịp chợp mắt trước bình minh.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Cái đẹp, cái thiện là điều có thật. Bửu Chỉ vẫn tin như thế cho dù cảnh sát Sài gòn hết tra tấn lại đưa anh từ nhà tù này đến nhà tù khác. Sau đó không lâu, trong tối tăm của ngục tù, anh nhận được tin về sự mất tích, về cái chết tức tưởi của người thầy, người bạn chiến đấu lương tâm &#8211; anh Ngô Kha.</p>
<p>Lúc còn được tự do, Bửu Chỉ đã tham dự vào phong trào đấu tranh đô thị bằng tất cả khả năng đa dạng và sức sống mãnh liệt, kỳ lạ của mình. Anh viết bài lý luận cho báo đấu tranh, anh kẻ truyền đơn, vẽ biểu ngữ, anh vận động, kêu gọi học sinh, sinh viên, lao động, tiểu thương xuống đường đình công, bãi thị. Anh ca hát mê say những bài ca yêu nước, ngợi ca hoà bình, và đặc biệt, anh vẽ tranh. Bút sắt mực tàu, giấy, đôi khi với cả mười đầu ngón tay là tất cả nghệ cụ của anh. Vũ khí của Bửu Chỉ là hội hoạ, thứ hội hoạ tự học mê say, miệt mài, lao nhọc qua sách báo, qua thực tế cuộc sống để đáp ứng thiên hướng thẩm mỹ cá nhân anh thuở thiếu thời. Tất cả những vốn sống, những kinh nghiệm quí báu đó đã trở thành phương tiện hữu hiệu giúp anh lao vào cuộc đấu tranh. Chỉ trong một thời gian ngắn, những bức tranh ký tên Bửu Chỉ được nhiều người biết đến không chỉ ở Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Sài Gòn, các đô thị miền Nam, mà ở rất nhiều những nơi khác trên mọi miền đất nước, và cả ở nước ngoài.</p>
<p>Qua tranh của Bửu Chỉ chúng ta thấy: một em bé cụt chân mặt mày ngơ ngác chống gậy đứng một nơi nào đó trên quê hương, vây quanh em là bom đạn, tan tác, kinh hoàng. Một phụ nữ trẻ tay bị xiềng, trên chân chị là một cháu bé đã mở mắt chào đời trong góc tối xà lim. Một cụ già ôm cháu vượt chạy qua làng trong khi máy bay quần đuổi trên đầu. Một thanh niên mặt mày xanh xao, thần sắc phẫn nộ tay nắm chặt thanh sắt chắn lỗ sáng nhà giam. Một người đàn ông thân thể tả tơi đang bị treo rũ trong phòng tra tấn để lấy cung, chung quanh anh là bọn đồ tể đang quơ tay múa chân. Một người khác bị khoá miệng, mấy người khác nữa bị bịt mắt, bị xiềng tay xích chân hay bị trói thúc ké, bị kéo lê, bị đẩy đạp. Không kể hết, còn rất nhiều, rất nhiều hình ảnh của những con người trong những cảnh huống khác nhau đang là nạn nhân của bạo lực, của gian ác giữa một đất nước bị nô lệ và tàn phá bởi chiến tranh. Bằng nhận thức tinh tế, bằng đồng cảm sâu sắc, nhạy bén, bằng đôi tay tài hoa, bằng trí thông minh hiếm có, Bửu Chỉ đã vượt qua những hạn chế của họa cụ và tình thế khắc nghiệt của bản thân (bị giam cầm) đã khắc hoạ lên những bố cục tưởng như đơn giản, tận dụng đến tối đa sự tương phản của hai màu đen trắng để mô tả, để minh chứng, để tố cáo một cách tài tình sự ghê rợn, hung hiểm, khốc liệt của bạo lực chiến tranh và qua đó nói lên niềm tin mãnh liệt về một ngày mai đất nước thanh bình. Vào một thời điểm nào đó trong ngục tối, Bửu Chỉ đã vẽ “Nhà Thơ nằm chết, trái tim trổ bông” khi được tin Ngô Kha bị thủ tiêu một cách oan nghiệt. Dĩ nhiên sự kiện bi thảm này đối với Bửu Chỉ là một cú sốc lớn. Người xem có thể quả quyết: khi vẽ bức tranh ấy, Bửu Chỉ không những đã nói được nỗi đau của mình trước cái chết thê thảm của người thầy, người bạn lương tâm, mà anh còn bày tỏ được nỗi phẫn nộ sâu sắc của mình trước cái ác, trước những tội lỗi ghê gớm đang tiếp tục phủ chụp lên đất nước.</p>
<p><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="Buu-Chi,-Oil-on-canvas-Ngo-Kha" border="0" alt="Buu-Chi,-Oil-on-canvas-Ngo-Kha" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/BuChBngchnhmnhnvicuci_5EC0/BuuChiOiloncanvasNgoKha.jpg" width="401" height="332" /> </p>
<p align="center"><em>Bửu Chỉ&#160; &#8211; Tranh sơn dầu (60&#215;73)     <br />Để tưởng niệm Ngô Kha, vẽ tại nhà Đặng Tiến ngày Tết dương lịch 1989      <br />Tranh hiện được bảo lưu tại tư gia của nhà phê bình Đặng Tiến (Orleans, Pháp)      <br /></em><em>(tư liệu do nhà phê bình Đặng Tiến cung cấp)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thời niên thiếu Bửu Chỉ đã theo đuổi hội hoạ với bất cứ cái gì có thể và bất cứ nơi đâu: Bút chì, phấn, than, gạch, hoạ hoằn lắm mới có một hộp màu nước. Nơi góc bàn, bên vách tường, bên gốc sung sau bến nước, trong phòng ngủ, thậm chí cả ở lớp học, sân trường đều có dấu vết tô hoạ của anh. Lớn lên, người sinh viên Bửu Chỉ, người tù Bửu Chỉ đã biến hội hoạ thành một vũ khí sung sức nhất vào những thời khắc cao điểm của cuộc đấu tranh tại trụ sở Tổng Hội Sinh Viên, trong giảng đường trường Đại học và nhiều nhất là những tháng năm trong ngục tù. Thực tế này nói lên điều gì? Bửu Chỉ đã không trừu tượng hóa hội họa qua trí tưởng tượng mà anh đã vẽ bằng tất cả tinh lực cảm thụ của một người nghệ sĩ, người chiến sĩ công lý mà động cơ sâu thẳm vẫn là cái đẹp, cái thiện. Trong tranh của người nghệ sĩ đấu tranh, cho dù vào những tình thế khốn cùng nhất, ác liệt nhất, bi thảm nhất, bao giờ cũng ẩn chứa, cũng lấp lánh tình yêu thương và khát vọng hoà bình. Mặt trời và chim câu là hai biểu tượng xuất hiện nhiều lần trong tranh Bửu Chỉ thời kỳ này. Chim câu như hoá thân từ trái tim của người mẹ mà tuổi đời tính được bằng những năm tháng chiến tranh (Mẹ Hoà Bình). Trong bộ sưu tập Mặt Trời Tự Do rất nhiều hình tượng về chim như chim bồ câu đậu trên tay của em bé nhỏ chống gậy đứng bên đường dưới bầu trời bị xé nát bởi bom đạn, chim câu bên chấn song sắt nhà tù với những con người mắt ngời hy vọng, chim câu đậu trên vai người thiếu nữ, chim câu đáp xuống mái hầm của hai vợ chồng nông dân trong vùng lửa đạn, chim câu bay trong tầm với của những cánh tay khẳng khiu đầy thương tích.</p>
<p>Và hình tượng mặt trời nữa. Mặt trời trong tranh của Bửu Chỉ ở thời điểm này là sự phá tan gông cùm xiềng xích, là chiến thắng của quyền dân tộc tự quyết, là reo ca của Độc lập Tự do. Có người nói mặt trời trong tranh Bửu Chỉ cứ nhỏ dần, nhỏ dần cuối cùng chỉ còn như trái lê, mặt trăng, bầu vú <sup>(1)</sup>. Có lẽ có một phần cảm tính trong lời nhận xét thơ mộng ẩn chứa mùi vị đắng cay này. Mặt trời to, mặt trời nhỏ, bóng tối giữa trưa hay mặt trời chiếu sáng giữa đêm đen là những ẩn dụ nghệ thuật mà hơn một lần Bửu Chỉ đã khắc hoạ nên. Tôi không được xem loạt tranh Bửu Chỉ vẽ trên bao bố nên không biết mặt trời của anh ở thời kỳ này nhỏ to sáng tối thế nào. Có lẽ sau giai đoạn đồ hoạ, loạt tranh trên bao bố là một phản chứng trước những nhiễu nhương, những hiện thực cứ phát triển ngày một phi lý đến khó hiểu, kỳ quái. Đợt phản chứng tuy ngắn ngủi này là một bằng chứng lôgic, một dấu tích thú vị về người nghệ sĩ có một cá tính đặc biệt mạnh mẽ, một con người như Sherry Buchanan đã nhận xét: “&#8230; có tất cả tính sống động của một enfant terrible” <sup>(2)</sup>. Sau 1975, con người được “giải phóng kép” Bửu Chỉ (ra tù, Mỹ và đồng minh rút chạy, miền Nam được giải phóng, đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất), chẳng mấy chốc đã trống trơn <em>lòng tràn</em> <em>trề</em> <em>hy vọng</em><em><sup>(3)</sup></em>. Cũng như cậu bé chống gậy trong tranh bút sắt của anh, Bửu Chỉ đã bàng hoàng ngơ ngác, tiến thoái lưỡng nan <sup>(4)</sup>, chẳng biết phải làm gì, sắp xếp mình vào đâu trong một đất nước mà đáng ra phải được trùng tu như mơ ước của anh, của bạn bè anh. Phải chăng Thằng Hề Điên, Bộ Xương Cá, Chiếc Cốc Rơi, Mực Khô đã thai nghén và sản sinh trong những ngày tháng khó khăn này. Một chút Ernest Hemingway qua tâm sự “Ngư Ông và Biển Cả,” hoặc một chút Nguyễn Du qua nỗi lòng Từ Hải! Phải không?</p>
<p>Cuộc đời Bửu Chỉ có những bước ngoặc mà ngay chính bản thân anh và thân phụ anh, một người Huế tiêu biểu, một công chức mẫu mực và đồng thời cũng là một nghệ sĩ tài tử, đã không lường trước được. Thay vì mặc áo chùng đen mang kính trắng, xách cặp da đĩnh đạc lui tới pháp đình hay giảng đường đại học, người thanh niên Bửu Chỉ với kiểu đội mũ Ché Guevara, áo kaki bạc màu, đã lăn xả vào các cuộc mitting, biểu tình, bãi khoá, bãi công, bãi thị, làm kẻ bất phục, để rồi bị bắt bớ, bị tra tấn giam cầm. Sau 1975, thay vì phấn đấu để trở thành một cán bộ, một thứ ông bình vôi ở một cơ quan nào đó của nhà nước mới, thậm chí sẽ là một hoạ sĩ chuyên vẽ voi ở “Hội Tao Đàn,” Bửu Chỉ đã tự (hay bị) chọn lựa làm một công dân “bất thường,” “bất tín,” “bất lực” trong một xã hội mà mới đây thôi, vào cái ngày được giải phóng kép ấy, anh đã nghĩ: “Mình có thể giúp chút gì vào việc xây dựng lại đất nước.”</p>
<p>Làm gì? Không có sự lựa chọn nào khác là đi cho hết con đường của nghiệp dĩ, con đường mà từ năm 1975 trở về trước rất ít người Huế chọn lựa như là một nghề danh giá đàng hoàng, con đường nghệ thuật. Té ra hoạ phước khôn lường. Cuộc biển dâu đã giúp Bửu Chỉ tìm lại chính con người đích thực của mình, con người của lao động nghệ thuật mà điều kiện đầu tiên và cuối cùng là Tự Do và những đức tính cốt lõi cho sự xác lập chỗ đứng có trách nhiệm của mình trước cuộc đời là dũng cảm, trung thực và sáng tạo. Bửu Chỉ đã nói ở đâu đó: “&#8230;trong bất kỳ tình huống nào, hoàn cảnh nào, muốn làm nghệ thuật thì phải bằng chính mình đến với cuộc đời.” Cái chính mình ấy đã làm nên một Bùi Xuân Phái trong cách mạng mà “phố” của ông thì cổ sơ và vô cùng cô liêu. Không ai có thể trầm tư, suy nghĩ gì đến đầu đến đuôi khi phải ở trong khí thế rầm rập gào thét của đám đông hay trong các cuộc họp hành, học tập, hoan hô đả đảo làm căng cứng, làm tê liệt nhức nhối thần kinh. Bởi cái chính mình ấy, chứ không phải bất cứ khuôn vàng thước ngọc nào ở các Hội Tao Đàn cung đình, đã làm nên những Khuất Nguyên, những Bạch Cư Dị, những Đỗ Phủ, những Ôn Như Hầu, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát…</p>
<p>Đến với cuộc đời, bốn từ nghe qua có vẻ đơn giản này, đối với Bửu Chỉ là một cuộc tự vật lộn lẫm liệt của một võ sĩ luyện thế song thủ hổ bát. Làm gì trong cái cõi người ta ấy? Ngay cả chỉ với cha con nàng Kiều thôi cũng đã mỗi người đến với cuộc đời một khác, huống hồ trước mắt Nguyễn Du còn có một Từ Hải đối đầu với hằng hà sa số những Sở khanh, những Tú bà, những Khuyển Ưng và đặc biệt là những Hồ Tôn Hiến đại diện cho vương triều chính thống mà mệnh trời trớ trêu đã trao cho chúng một sứ mạng được toàn quyền sinh sát hay ban phát hoạ phước cho triệu triệu sinh linh. Không phải là mảng màu đầu tiên phóng lên khung vải sẽ quyết định toàn cục bức tranh từ bố cục đến đường nét, màu sắc của các hoạ sĩ hiện đại. Cũng không phải một ý tưởng, một luận đề gì đó sẽ được minh hoạ thành bức tranh của người hoạ sĩ hiện thực chân phương. Có không ít những bằng chứng cho rằng Bửu Chỉ cũng đã trải qua cả hai cuộc thử nghiệm trên và chắc là sau những trường hợp yếu lòng, thiếu bản lĩnh như thế, Bửu Chỉ đã tự phẫn nộ với chính mình. Cũng như Ngô Kha, cũng như lác đác mấy người bạn lương tâm khác, Bửu Chỉ đã trải nghiệm những tình huống trống trải đến rợn người:</p>
<p><em>Lòng ta như cái đình hoang     <br />Với chiếc trống cổ sơ kêu mãi</em></p>
<p>(Ngô Kha)</p>
<p>Không phải vì ngẫu nhiên mà nhiều năm sau giải phóng. Bửu Chỉ đã vẽ những vật chết (tranh tĩnh vật). Anh từng tuyên bố “Đó chính là ‘cái tôi’ được phóng chiếu thành tĩnh vật. Chất lỏng trong tách, cái chất lỏng đen sì đó là trạng thái tâm hồn tôi, một tâm hồn đắng chát. Đôi khi chiếc tách rơi lơ lửng, không có dù. Đôi khi chỉ là chiếc tách trống rỗng” <sup>(5)</sup>.</p>
<p>Thế đó, chẳng dễ dàng gì khi một người Huế, một người Việt Nam, một người Châu Á tự tách mình ra khỏi dòng chảy của triều cường, để thiết lập một cuộc vật lộn với chính mình hầu khải thị một phương thế mới “đến với cuộc đời”, cuộc đời mới và hoàn toàn xa lạ với những dự tưởng trước đây.</p>
<p>“Tôi chú trọng đến tính nghệ thuật của tác phẩm mình, những thông điệp của tôi là có thật” <sup>(6)</sup>. Trong một dịp khác anh cũng đã nhắc lại như thế nhưng mạnh mẽ, dứt khoát và rõ ràng hơn. “Người nghệ sĩ không chỉ <strong>nhìn</strong> cuộc đời <strong>mà sống</strong> với cuộc đời. Trước khi là <strong>cái đẹp</strong> tác phẩm hội hoạ phải là <strong>sự thật</strong>. Tác phẩm hội hoạ biểu hiện phần cuộc đời bị bóng tối khuất lấp. Nó là cảm nhận của người nghệ sĩ về sự thật” <sup>(7)</sup>. Bửu Chỉ đã không làm nghệ thuật với cái anh nhìn thấy hay với cái anh tư duy mà anh đã phóng lên khung vải cái anh cảm nhận về cuộc đời và từ đó anh khải thị những giấc mơ.</p>
<p>Con người trong tranh bút sắt của Bửu Chỉ trước 1975 là con người bằng xương bằng thịt, nó có tên X tên Y, nó là nam hay nữ, nó già hay trẻ, nhưng tất cả họ đều là thành viên khắng khít với một thực thể lớn hơn dung chứa nó. Thực thể đó là Dân tộc là Tổ quốc. Vào một thời điểm nào đó nó bị bắn giết, huỷ hoại, bầm dập, cắt bỏ bởi đạn bom, xiềng xích của ngoại xâm. Nhưng rồi cũng có ngày nhất định nó sẽ được khâu vá, hàn gắn, khôi phục, tái sinh lại làm người. Bửu Chỉ đã vẽ “Ta phải thấy mặt trời, Đợi ngày lên, Ngợi bình minh…” trong niềm hy vọng tột cùng ấy.</p>
<p>Trái lại, trong rất nhiều tranh sơn dầu Bửu Chỉ vẽ vào giai đoạn 2 (sau 1975), con người xuất hiện trong tranh của anh hoàn toàn là sản phẩm do khả năng trừu tượng và cảm nhận của người nghệ sĩ giữa những nhiễu nhương của thời đại mới. Bửu Chỉ đã phơi bày một diện mạo khác về con người trong bối cảnh rộng lớn hơn, nguyên sơ hơn: vũ trụ. Đây là một con người vô danh, không hộ khẩu, không quốc tịch, không bè cánh, không liên minh, không sắc áo màu cờ. Đó là những con bò cạp, châu chấu… Đúng hơn, nó là bộ xương gớm ghiếc của một quái thai chui ra từ huyệt mộ. Nó đang bò, đang đi, đang múa máy, đang lăn trượt, đang chới với. Nó cô đơn khắc khoải. Có lúc nào đó ta thấy nó đứng một mình trơ trọi trên mặt đất. Mặt đất tả tơi như một túm giẻ rách, như một nắm bọt biển bồng bềnh trôi, chậm chạp và vô định. Lửa cháy rần rật dưới chân nó, chung quanh nó. Nó lêu nghêu ngửa mặt nhìn trời. Bầu trời mênh mông không cùng, tăm tối và giá buốt. Một mảnh trăng non mong manh huyễn hoặc như một ảo giác. Trăng đang nhìn nó, hay cũng như nó, trăng đang tra vấn về chính mình <sup>(8)</sup>. Nó chẳng giống ai, nhưng ai cũng soi thấy có một phần bản thân mình trong nó. Bửu Chỉ ơi, thân phận con người thê lương đến thế sao?</p>
<p>Có một hình sắc khác trong tranh sơn dầu của Bửu Chỉ là con người được giản lược, được kiểu thức hoá, ẩn dụ hoá thành một chi tiết nào đó của cơ thể. Một bàn tay tả tơi thương tích, một bàn chân lở lói sần sùi, một khuôn mặt như mặt nạ với đôi mắt trắng dã. Con người ở đây hiện thân là những “vật chết” nằm bên cạnh hay bị đè bẹp, bị o ép bởi những vật chết khác <sup>(9)</sup>.</p>
<p>“Tôi miêu tả con người không còn một giá trị nào nữa. Do bạo động, lạm quyền và độc ác, con người trở thành nạn nhân của tất cả những thứ đó, nạn nhân của chính hành động của mình” (10). Bửu Chỉ đã nói như thế, rồi anh tiếp: “Đó là những gì còn lại của cuộc sống. Đó là tương lai của tôi” <sup>(11)</sup>.</p>
<p>Hiện thực cuộc sống là phũ phàng, là tàn nhẫn, là ảm đạm. Tuy nhiên, chẳng phải vì thế mà trong ý thức cũng như trong sâu thẳm tâm can Bửu Chỉ đã khánh kiệt niềm hy vọng. Trái lại là đàng khác, trong anh chẳng có tình yêu và niềm hy vọng nào mãnh liệt, to lớn bằng tình yêu và niềm hy vọng của một con người dám nhìn thẳng vào cuộc sống, hiên ngang dấn thân vào và đương đầu với nó cho dù hiện thực có bi thảm, tàn nhẫn đến đâu. Lần trước trong chiến tranh, thông điệp trong tranh Bửu Chỉ là <strong>Hòa bình</strong>, <strong>quyền sống của con người</strong> và <strong>quyền</strong> <strong>tự quyết</strong> <strong>d</strong><strong>ân tộc</strong>. Lần này chiến tranh đã lui lại ở phía sau, quyền tự quyết dân tộc đã phục hồi trong chừng mực nào đó. Nhưng cái ác thì không hề là độc quyền của đế quốc Mỹ, của tư bản châu Âu, Nhật Bản, của Nga hay Tàu. Cái ác đang được tôn vinh và tự tung tự tác tại những thiên đường của chúng như Afghanistan, Trung Đông, Đông Âu và cả Việt Nam nữa. Cái ác biến hoá khôn lường, nhân danh đủ thứ, mai phục và ngự trị khắp nơi, trong mỗi đất nước, trong mỗi con người chúng ta. Phơi bày sự thật, ký thác một ước mơ, gởi gắm một hy vọng về mối tương thông nhân bản giữa người và người là thông điệp thứ hai của Bửu Chỉ đến công chúng thưởng lãm nghệ thuật của anh <sup>(12)</sup>. Bản thân tôi, chính những khắc khoải về chân thiện mỹ đã dẫn dắt tôi đến việc tìm hiểu và rồi cảm thông với Bửu Chỉ về sự thật giữa cuộc đời.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Trở lại câu chuyện mặt trời trong tranh của Bửu Chỉ. Có hai hình tượng mặt trời trong hai thời kỳ sáng tác của anh:</p>
<p>- Trên tranh bút sắt mực tàu, Bửu Chỉ vẽ mặt trời là một khối tròn, to, chiếu sáng và luôn ở phía trên, trong tầm với, tầm nhìn của đám đông. Đó là khát vọng hoà bình, tự do cho dân tộc, độc lập cho đất nước. Là chân lý lịch sử.</p>
<p>- Trên tranh sơn dầu của Bửu Chỉ, mặt trời thường xuất hiện với mặt trăng, đôi khi cùng với nhiều tinh tú khác. Đây là một khối tròn nhỏ, thường là màu đỏ, không chiếu sáng và cũng không nhất thiết là ở trên cao. Đôi khi mặt trời ở dưới thấp, ở một bên, thậm chí mặt trời còn mọc trên rốn của người phụ nữ khoả thân. Mặt trời tượng trưng cho nguyên lý dương trong khái niệm âm dương – ngũ hành của người Á Đông. Âm dương là nguyên lý khởi đầu quá trình sinh thành, phát triển vũ trụ. Vạn vật trong đó có con người được tạo nên từ cuộc vận hành đó. Ở Huế ngày xưa hình tượng âm dương (lưỡng nghi) xuất hiện nhiều nơi, nhất là trên nóc các kiến trúc cung đình, chùa chiền, lăng miếu. Ở một khía cạnh nào đó có thể nói người Việt Nam tôn thờ Trời Đất (lưỡng nghi – âm dương) như người Thiên Chúa Giáo tin thờ Đấng Cứu Thế của họ. Trời đất tạo dựng nên con người. Trời đất theo dõi các hành vi tốt xấu của con người để mà thưởng phạt. Thề nguyền cùng trời đất, cúng lạy, cầu đảo, tạ ơn trời đất. Chửi bới nguyền rủa, đay nghiến trời đất &#8230; Tuỳ theo tâm cảm của mình mà mỗi người, mỗi cộng đồng, thiết lập và thực hiện một mối tương thông khác nhau với đấng sáng tạo ra mình. Vua quan thờ tế trời đất ở đàn Nam Giao. Dân gian cúng bái cầu khẩn trời đất ở miếu Ngũ Hành. Giới văn nghệ sĩ thường ít khi đối xử với trời đất ôn nhu, lễ phép. Ôn Như Hầu mắng trời đất là “trẻ tạo hoá.” Nguyễn Du gọi trời đất là “con tạo.” Trịnh Công Sơn thì hát “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về.” Còn Bửu Chỉ thì vẽ con người ngợm trong bối cảnh tâm linh của người Huế xưa gồm mặt trời, trái đất, mặt trăng và đôi khi có thêm vài tinh tú khác nữa, nhưng ánh sáng của “vũ trụ” trong tranh của Bửu Chỉ vừa đủ để biểu lộ cái thân phận bi đát của con người.</p>
<p>&#160;</p>
<p><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="Buu-Chi-Nui-Lua" border="0" alt="Buu-Chi-Nui-Lua" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/BuChBngchnhmnhnvicuci_5EC0/BuuChiNuiLua.jpg" width="253" height="375" /> </p>
<p align="center"><em>Núi Lửa – tranh Bửu Chỉ     <br />(do nhà phê bình Đặng Tiến cung cấp)</em></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p>Đối với Bửu Chỉ, mặt trời, mặt trăng còn là biểu hiện của thời gian. Thời gian ám ảnh Bửu Chỉ không nguôi. Con người khi còn trong trứng nước đã bị treo lơ lửng trên thập giá của thời gian <sup>(13)</sup>. Thời gian là tên trấn lột đểu cáng, trêu ngươi. Con người đuổi theo nó đến hụt hơi mà chẳng bao giờ kịp để đòi lại những kỷ niệm êm đềm <sup>(14)</sup>, những khoảnh khắc bình yên <sup>(15)</sup>, những bạn bè, những người yêu dấu <sup>(16)</sup>. Rốt cùng chính thời gian đã cướp đi của công chúng yêu thích hội hoạ người nghệ sĩ tài hoa, người nghệ sĩ lao động miệt mài mà khi nhắm mắt trở về với đất trời trong tay còn nắm chặt cây cọ vẽ.</p>
<p><em>Xin chào nhau giữa con đường     <br />Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau</em></p>
<p>(Bùi Giáng)</p>
<p>Mùa xuân và miên trường cũng là hai nửa trắng đen trên mảng điêu khắc “Thái Cực Đồ” mà Bửu Chỉ đã đeo trên ngực trong buổi sáng mù sương tại quán cà phê Thiên Đường bên bờ sông Hương, đúng một tuần trước ngày anh rời cõi thế. Hôm ấy Bửu Chỉ nói say sưa về lẽ vô thường trong Phật giáo, về vật lý hiện đại, về âm dương &#8211; ngũ hành, về nguyên lý tương sinh &#8211; tương khắc, về cái đúng cái sai, cái thiện, cái ác. Trong trắng có đen, trong đen có trắng. Cái này còn cái kia còn, cái này mất, cái kia tiêu vong.</p>
<p>Bửu Chỉ mất hay Bửu Chỉ còn? Câu trả lời thuộc về vợ con, gia đình, bạn bè và những người xem tranh của anh.</p>
<p>Bửu Chỉ này;</p>
<p>Ở cái nơi mà Trịnh Công Sơn mô tả là “đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng” này, chúng tôi vẫn chờ đợi như đã hẹn trước để được nghe anh hát lại nỗi niềm của chúng ta: “Tôi là ai, là ai mà trần gian thế. Tôi là ai, là ai mà yêu quá đời này” <sup>(17)</sup>.</p>
<p>Chu Sơn</p>
<p><em>Huế 24. 12. 2002     <br />Hiệu đính tháng Tám, 2009</em></p>
</p>
<hr /><sup>(1) Trần Doãn Nho, một vài suy nghĩ về con người trong tranh Bửu Chỉ.N</sup><sup>g</sup><sup>hiên cứu Huế</sup> <sup>t</sup><sup>ập 2 (2001)</sup>
</p>
<p><sup>(2) (3) (5) (6) (7) (10) (11) (12) Shery Buchanan. Bản dịch Lê Khắc Cầm – Nổi loạn có duyên cớ, Nghiên Cứu Huế tập 2 (2001)</sup></p>
<p><sup>(4)Tựa đề một bản nhạc Trịnh Công Sơn</sup></p>
<p><sup>(8) Bửu Chỉ. Trời và đất, tranh (1988)</sup></p>
<p><sup>(9) Bửu Chỉ, Thời gian và tôi, Tĩnh vật người, tranh</sup></p>
<p><sup>(13) Bửu Chỉ tranh sơn dầu: Sự sống và cái chết (2002)</sup></p>
<p><sup>(14) Bửu Chỉ tranh sơn dầu: Tay níu thời gian (2002)</sup></p>
<p><sup>(15) Bửu Chỉ Tĩnh vật; tranh sơn dầu (1989), tĩnh vật: mong manh và bình yên (2000)</sup></p>
<p><sup>(16) Bửu Chỉ: Tưởng niệm Nguyễn Tuân tranh sơn dầu &#8211; Tuổi đá buồn, Một cõi đi về. Trăng thiên cổ: Tranh sơn dầu, tưởng niệm Trịnh Công Sơn (2002)</sup></p>
<p><sup>(17) Một lời nhạc Trịnh Công Sơn.</sup></p>
<p><em>Cuối năm 2008, một anh bạn phương xa gởi cho tôi 10 bức tranh “Cáo” của Bửu Chỉ với lời giới thiệu của Hoàng Dũng và đề nghị tôi cho ý kiến. Tôi đã viết thư trả lời. Thư này tôi nêu vài điểm đã trình bày trong bài viết ở trên và có thêm mấy điểm mới. Nay tôi xin phép anh bạn gởi đến độc giả nội dung bức thư để bổ sung những nhận định của mình về Bửu Chỉ. Xin độc giả bỏ qua những chi tiết trùng lặp.</em></p>
<blockquote><p>Ông Bà T. Đ.T.L. thân mến;</p>
<p>…</p>
<p>Nhân việc ông bà hỏi ý kiến của tôi về 10 bức tranh “Cáo” của Bửu Chỉ mà T. L đã gởi kèm theo thư, tôi có mấy ý sau đây:</p>
<p>Mười bức tranh “Cáo” Bửu Chỉ vẽ để tặng bạn bè sau 1975 là những bức cuối cùng thời kỳ bút sắt của anh. Sau thời kỳ bút sắt trên giấy, Bửu Chỉ bắt đầu vẽ sơn trên bao bố rồi vẽ sơn dầu trên toiles. Giã từ thời kỳ bút sắt đồng thời Bửu Chỉ giã từ thời kỳ làm hội hoạ tài tử, hội hoạ phong trào và chuyển hẳn qua thời kỳ làm hội hoạ chuyên nghiệp.</p>
<p>Thời kỳ tranh bút sắt, Bửu Chỉ mô tả tình cảnh đất nước, dân tộc với tâm tình và ý thức của một người đấu tranh để thay đổi hiện thực đời sống dân tộc. Thời kỳ vẽ tranh sơn (công nghiệp) và sơn dầu, Bửu Chỉ mô tả thân phận con người và khắc khoải truy tìm, tiếp cận bản thể sự sống. Bức “Bi kịch con người” là một trong những tác phẩm cuối của thời ký bút sắt.</p>
<p>Tranh bút sắt mực tàu trên giấy của Bửu Chỉ được sáng tác vào hai thời đoạn: Trước và sau 1975. Mỗi thời đoạn có những biểu hiện khác nhau.</p>
<p>Thời đoạn trước 1975; với tư cách là một thành viên và lần hồi trở thành một thủ lĩnh của phong trào Học sinh Sinh viên trong phong trào đô thị trực thuộc Thành Uỷ Huế liên kết với phong trào đấu tranh chính trị toàn miền Nam. Thời đoạn này ngoài việc vẽ tranh, Bửu Chỉ còn xông vào các cuộc mitting, biểu tình, bãi khoá, “đêm không ngủ.” Bửu Chỉ cuốn hút quần chúng (đặc biệt là tuổi trẻ) không những bằng tài vẽ tranh, mà anh còn là người diễn thuyết hùng biện, người ca hát say sưa và bốc lửa. Bửu Chỉ thuộc rất nhiều bài ca kháng chiến anh nghe được qua Đài Tiếng Nói Việt Nam phát thanh từ Hà Nội. Mùa tranh đấu 1972, tại cuộc mitting trước mối cầu Tràng Tiền (phía Morin), trước hàng ngàn học sinh sinh viên, Bửu Chỉ sau khi diễn thuyết đã hát rất hay bài “Việt Nam trên đường chúng ta đi.” Bửu Chỉ còn hát những bài ca tranh đấu khác của các nhạc sĩ phong trào như Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn và đặc biệt là Trịnh Công Sơn: “ Nối vòng tay lớn,” “ Chính chúng ta phải nói hoà bình,” “Tôi phải thấy mặt trời,” “Ta quyết phải sống,” “Ta thấy gì đêm nay…”và nhiều bài ca phản chiến khác của Trịnh Công Sơn được sáng tác trong bối cảnh cuộc chiến tranh và trực tiếp từ các phong trào đấu tranh của Học sinh Sinh viên Huế, Sàigòn.</p>
<p>Nội dung chủ yếu trong tranh Bửu Chỉ trước năm 1975 là chống chiến tranh, kêu đòi hoà bình, chống đàn áp, kêu đòi tự do dân chủ, dân quyền, dân sinh&#8230; Tranh của Bửu Chỉ xuất hiện trên các đường phố, trên vách trên tường trường học, phòng hội thảo, trên bìa và phụ bản của nhiều tạp chí, tập san đấu tranh: Tự quyết, Mặt Trận Văn Hoá Miền Trung, Việt, Đất Nước, Trình Bày, Đối Diện. Tranh Bửu Chỉ còn được chuyền tay nhau qua cửa nhà tù đến với cộng đồng yêu nước ở hải ngoại như tại Pháp, Đức, Hoa Kỳ.</p>
<p>Tóm lại; Bửu Chỉ vẽ là đấu tranh, diễn thuyết là đấu tranh, ca hát là đấu tranh. Bởi anh là người của phong trào đô thị. Phong trào đô thị là một phần của cuộc đấu tranh chính trị do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thời chống Mỹ trong sách lược hai chân &#8211; ba mũi – ba vùng chiến lược từ nghị quyết 15.</p>
<p>Thời đoạn sau 1975: khối lượng tranh bút sắt mực tàu trên giấy của Bửu Chỉ không nhiều và không được phổ biến rộng rãi như thời đoạn trước 1975. Lác đác xuất hiện trên tạp chí Sông Hương nhưng tức khắc bị “cáp duồng,” sau đó chủ yếu lưu hành trong bạn bè đồng thanh tương khí &#8211; những người không nhiều thì ít có dính líu đến phong trào trước 1975 và có trăn trở trước bối cảnh mới. Bửu Chỉ ngỡ ngàng trước cuộc giải phóng và không khí cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa. Biết bao nhiêu câu hỏi làm rối lòng anh: Giải phóng thế này ư? Hoà Bình thế này ư? Cách Mạng thế này ư? Lý tưởng cộng sản thế này ư? Độc lập thế này ư? Thống nhất thế này ư? Tất cả mọi giá trị đều bị đảo ngược trước sự xác quyết lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng Cộng sản. Tâm thức Bửu Chỉ chuyển động từ ngỡ ngàng, choáng váng qua phẫn nộ, giằng xé, ray rứt, khổ đau, thất vọng, và cuối cùng là khắc khoải siêu hình.</p>
<p>Mười bức tranh “Cáo” là một khái quát (tuy chưa đầy đủ) hiện thực đời sống Việt Nam sau 1975: “Cáo làm vua,” “Cáo mang mặt nạ,”&#8230; “Cáo hiếp&#8230;,” và cuối cùng là “Cáo ị.” Cả đất nước, cả dân tộc bị lừa phỉnh, bị khinh miệt, bị phản bội và bị áp bức đày đoạ. Trước mắt Bửu Chỉ hiện thực cuộc sống là như thế.</p>
<p>Cái khác trong các bức tranh bút sắt của Bửu Chỉ vào hai thời đoạn (trước 1975 và sau 1975) là “có hay không có” niềm tin yêu và hy vọng.</p>
<p>Trước 1975, Bửu Chỉ thể hiện trong tranh của anh niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống và cuộc đấu tranh: mặt trời chiếu soi qua khung cửa nhà tù, mặt trời toả chiếu khắp không gian của cuộc đấu tranh khốc liệt mà cả dân tộc và tuổi trẻ đang xốc tới. Chim câu và nhành ô liu cũng là những biểu tượng trong tranh của Bửu Chỉ thời đoạn này.</p>
<p>Tóm lại, mặt trời, chim câu, nhành ô liu, niềm tin và hy vọng gần như biến mất trong tranh bút sắt của Bửu Chỉ vào thời đoạn sau 1975. Bửu Chỉ đã chuyển từ <strong>đấu tranh tích cực</strong> (trước1975) sang <strong>đấu tranh tiêu cực</strong> (sau 1975). Sau 1975 tranh bút sắt của Bửu Chỉ gần với thể loại biếm hoạ hoặc thể loại chuyện kể hài hước dân gian. Phải chăng anh cảm thấy run sợ trước bạo lực của guồng máy? Hay là anh đã nhận ra rằng chính anh cũng có phần trách nhiệm trước nhân dân trong việc đưa guồng máy đến cho họ? Hay là anh đã nhận ra rằng sau bạo lực Tư sản, bạo lực Thực dân, bạo lực Phát xít, bạo lực Đế quốc và bạo lực Cộng sản đã diễn ra trên bình diện toàn cầu trong đó có Việt Nam, là điều không thể tránh khỏi? Phải chăng chúng ta cần một khoảng thời gian đủ để nhìn lại, để trầm tư, hướng nội, quay về với những khắc khoải siêu hình để đặt lại vấn đề ngàn đời: Nhân sinh hà tại? Tại thế như hà…?</p>
<p>Với bút sắt mực tàu, Bửu Chỉ nhận ra rằng anh không thể biểu đạt được đầy đủ cảm xúc và tư tưởng của mình trên nền giấy trắng. Chiến tranh và cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa đã làm khánh kiệt đất nước, gia đình, bạn bè, và cá nhân anh. Sơn công nghiệp, bao tải là những thứ anh có được để bắt đầu thời kỳ hội hoạ chuyên nghiệp. Trước công chúng, tranh không lên khung mà treo trên tường như những bức trướng. Những bức trướng thô tháp gồ ghề, màu sắt đường nét, hình thể và bố cục không vừa ý người sáng tác ra nó, nhưng lại thu hút sự tò mò và trí tưởng tượng của người xem. Không gian trong tranh là cả một vũ trụ đa chiều. Thời gian trong tranh cũng khó phân biệt là thuở hồng hoang hay là thời hiện đại của đổ nát tang thương? Núi non mà sâu hơn trầm lũng. Sông suối mà cao hơn gò đồi. Mặt trời chẳng còn là “Mặt trời chân lý chói qua tim” như nó đã xuất hiện rất nhiều trên tranh bút sắt của Bửu Chỉ thời đoạn anh tham gia phong trào chống Mỹ, mà là một mảng mầu đỏ thẫm không phát sáng, nhỏ như hòn bi, như trái chanh hay tả tơi như miếng giẻ rách xuất hiện cùng với vành trăng lạnh, mấy ngôi sao mờ và không nhất thiết ở trên cao. Con người thì được giản lược thành những chi tiết hay chỉ biểu hiện đủ để cho người xem nhận ra nó mà không phân biệt được là nó đã bị huỷ hoại, nghiền xé đến tan nát, méo mó biến dạng hay nó đang tái sinh thành một sinh vật tật nguyền để bị trừng phạt vì những mê lầm trong tiền kiếp.</p>
<p>Cuộc thử nghiệm tình thế (do điều kiện sống&#8230;) ấy đã mang lại những thành tựu bất ngờ làm nền tảng cho những bước khởi đầu đầy hứng khởi trong cuộc hành trình trở thành hoạ sĩ chuyên nghiệp của anh. Những khởi đầu hứng khởi ấy đã tạo cho anh một chỗ đứng nhiều thiện cảm trước nhãn quan của công chúng nghệ thuật tạo hình và những nhà chuyên môn ở Huế, ở Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh và cả ở nước ngoài.</p>
<p>Thế là bức màn sắt đã được hé mở. Bán được tranh, mua được sơn dầu, toiles, đóng được khung&#8230; Bửu Chỉ lao vào cuộc sáng tạo mới và trở thành một hoạ sĩ chuyên nghiệp đích thực. Anh tự mở cho chính mình một chân trời nghệ thuật độc đáo, nghệ thuật của những khắc khoải siêu hình, nghệ thuật của những đạo sư hoá thân thành màu sắc, đường nét, chất liệu để tiếp cận bản thể của tồn tại.</p>
<p>Ông bà T. Đ.T. L thân mến;</p>
<p>Chính danh không phải là một nhà chuyên môn về hội họa, vậy đó mà tôi đã lan man dài dòng về một hoạ sĩ tài năng!</p>
<p>Hoàng Dũng đã có những kiến giải thú vị khi xem tranh Bửu Chỉ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại với những bức tranh bút sắt mực tàu trên giấy, Bửu Chỉ đã không là một hoạ sĩ chuyên nghiệp. Những bức tranh bút sắt đã làm cho Bửu Chỉ thành một hoạ sĩ phong trào và hậu phong trào. Tranh sơn dầu của anh mới chính là tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Bửu Chỉ đã tạo dựng cho mình một vị trí xứng đáng trong kho tàng nghệ thuật hội họa đương đại Việt Nam và thế giới bằng những tác phẩm thuộc thể loại này.</p>
<p>…</p>
<p>Chu Sơn</p>
</blockquote>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8650/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>15</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chu Sơn Trả Lời Thắc Mắc của Độc Giả về B&#224;i Viết &#8220;Ng&#244; Kha v&#224; Cuộc Chuyện Tr&#242; Cuối Năm&#8221;</title>
		<link>http://damau.org/archives/8138</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8138#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 17 Aug 2009 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Chu Sơn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bàn tròn]]></category>
		<category><![CDATA[Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị]]></category>
		<category><![CDATA[Phỏng vấn]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8138</guid>
		<description><![CDATA[Sau từng ấy thời gian (trên dưới ba mươi năm) với ký ức một kẻ trầm luân đã đến tuổi xấp xỉ cổ lai hi mà khẳng quyết bức thư (của anh Kha gởi cho tôi) được phục hồi y nguyên bản là một khoa trương không cần thiết, dễ gây ngộ nhận, và rất đáng chê trách.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>Kính gởi Ban Biên Tập Da Màu;</p>
<p>Để rộng đường dư luận tôi xin trả lời một số câu hỏi mà BBT Da Màu đã tóm lược từ những khúc mắc của một bộ phận độc giả đối với bài viết gần đây của tôi <i>– <a href="http://damau.org/archives/7322">Ngô Kha và Cuộc Chuyện Trò Cuối Năm</a>:</i></p>
<p><u>Câu hỏi #1:</u> Xin anh xác quyết là bức thư này đã được ghi lại theo trí nhớ của anh mà trong đó những lời của anh Ngô Kha đã được cố gắng hết sức ghi lại theo nguyên bản. </p>
<p><u>Trả lời #1:</u> Trong bài <i>Ngô Kha và Cuộc Chuyện Trò Cuối Năm</i>, tôi đã viết: &quot;&#8230; nay tôi chép lại theo ký ức nội dung bức thư đặc biệt mà ngay lần đọc đầu tiên (&#8230;) tôi đã mường tượng như một lời trăn trối.”</p>
<p>Qua các bài phản hồi của bạn đọc, tôi nghĩ mình viết như vậy là quá ngắn gọn, quá giản đơn khiến có thể dẫn đến hiểu lầm, ngờ vực thế này thế nọ tùy theo tâm cảm khác nhau của từng bộ phận độc giả. Tôi xin viết tiếp vào câu trên như thế này:&quot;&#8230; Sau từng ấy thời gian (trên dưới ba mươi năm) với ký ức một kẻ trầm luân đã đến tuổi xấp xỉ cổ lai hi mà khẳng quyết bức thư (của anh Kha gởi cho tôi) được phục hồi y nguyên bản là một khoa trương không cần thiết, dễ gây ngộ nhận, và rất đáng chê trách.</p>
<p>Tập thư viết trên giấy trà Tam Hỷ và bao hương anh Kha gởi cho tôi, cộng với trên mười năm (1962 -1973), thời gian mà chúng tôi (anh Kha, nhiều anh em khác và tôi) cùng nhau nghiền ngẫm, tra vấn, luận bàn, tranh cãi, tâm sự, ray rứt, khắc khoải, giằng xé&#8230; cuối cùng là dấn thân vào cuộc chiến mỗi người mỗi cách thế và mức độ khác nhau&#8230; đã được đúc kết lại như là xương cốt não tủy cho bài viết của tôi. Phần còn lại: câu cú, chữ nghĩa, chấm phết của tôi chỉ là da thịt, khí sắc, vóc dáng bên ngoài mà thôi.</p>
<p><u>Câu hỏi #2:</u> Ngô Du, Ngô Tú, và Ngô Thị Trang đều là anh em ruột thịt của anh Ngô Kha phải không? Anh có tin tức nào khác về ông Ngô Du, anh ruột của anh Ngô Kha, đã ra người thiên cổ nhưng nay vợ con hình như vẫn còn ở Sài gòn? </p>
<p><i>2/ Có hai Ngô Du. Một Ngô Du là anh ruột Ngô Kha, một Ngô Du nữa là tướng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, anh em chú bác họ của Ngô Kha. Về Ngô Du anh ruột Ngô Kha tôi chỉ nghe loáng thoáng qua một người nào đó chứ chưa bao giờ Ngô Kha nhắc đến trực tiếp với tôi. Cũng nghe loáng thoáng là anh Du này bị chết trong biến cố tết Mậu Thân. Thỉnh thoảng Ngô Kha có đưa tôi tới số 42 Bạch Đằng (Huế). Chúng tôi cùng làm việc ở trên gác (báo Tự Quyết). Ở đây tôi gặp qua một người phụ nữ cao ráo trang nhã và mấy cháu nhỏ. Phải chăng người phụ nữ này là chị dâu của anh Ngô Kha (vợ anh Ngô Du) và mấy cháu nhỏ là cháu gọi anh Ngô Kha bằng chú </i><i>ruột</i><i> (con anh Ngô Du)?</i></p>
<p><i>Ở nhà anh Kha dưới Thế Lại, ngoài bà cụ</i><i>,</i><i> tôi còn hay gặp một người phụ nữ lớn tuổi da ngăm ngăm và thấp. Người này tôi biết chắc là chị ruột của anh Kha. Có phải bà này tên là Ngô Thị Trang? Hay anh Kha còn có một chị gái khác tên là Ngô Thị Trang ở Sài Gòn nay là Tp Hồ Chí Minh?</i></p>
<p><u>Câu hỏi #3:</u> Thế còn tướng Ngô Dzu người mà anh nhắc đến nhiều lần trong bức thư có quan hệ bà con với anh Ngô Kha như thế nào? Hoàng Phủ Ngọc Phan, một người bạn thân của anh Ngô Kha, đã một lần mắc sai lầm khi cho rằng tướng Ngô Dzu là anh ruột của Ngô Kha; anh nghĩ thế nào về chuyện tại sao lại có thể có một sai sót như thế ?</p>
<p><u>Trả lời #3:</u> <i>Ngô Du, người tôi nhắc nhiều lần trong bài viết, là tướng Ngô Du, bà con họ với Ngô Kha. Tôi chưa gặp tướng Ngô Du lần nào nhưng em ruột ông ta là đại úy Ngô Liễn tôi có gặp vài lần qua giới thiệu của anh Kha. Ngô Liễn là người thật thà tử tế theo cảm nhận của tôi. Hoàng Phủ Ngọc Tường mới là bạn thân của Ngô Kha còn Hoàng phủ Ngọc Phan thì không. Đối với Ngô Kha, Phan bao giờ cũng giữ vị thế là em. Vừa kính Kha như anh, vừa mức độ nào đó kính nhi viễn chi. Do vậy các quan hệ của gia đình anh Kha Phan chỉ nghe loáng thoáng.</i></p>
<p><u>Câu hỏi #4:</u> Lý do gì khiến anh không gửi đăng bức thư này nhân dịp ra mắt tuyển tập <i>Ngô Kha: Ngụ Ngôn của Một Thế Hệ</i> (Nxb Thuận Hoá, 2005). Trong tuyển tập này có đăng một số thư từ của anh Ngô Kha nhưng bị cắt bỏ ba chỗ. Anh có biết ba chỗ đó nói về chuyện gì không? Những phần cắt bỏ đó có liên quan đến bức thư anh Ngô Kha gửi cho anh không?</p>
<p><u>Trả lời #4:</u> <i>Năm 1977 tôi đã rời Huế, thỉnh thoảng mới về thành phố này đôi ba ngày. Chừng mực nào đó anh em phong trào Huế (những người còn ở lại trở thành viên chức nhà nước) ngày một cách xa. Ví dụ việc đấu tranh cho anh Kha được công nhận là liệt sĩ tôi không đồng tình. Tôi nghĩ anh Kha không muốn, không cần như thế. Về bài viết của tôi về anh Kha, độc giả có nghĩ rằng bài viết này có thể được in chung với các bài khác trong tuyển tập đó chăng? Cũng cần nhắc thêm, việc phong liệt sĩ cho anh Kha là một nhượng bộ của Thành Ủy Huế, vì anh Kha là người ngoài, không phải là cơ sở cách mạng được Thành Ủy lãnh đạo.</i></p>
<p><i>Rất tiếc</i><i> tôi không có tuyển tập Ngô Kha: Ngụ Ngôn của Một Thế Hệ nên không thể trả lời đầy đủ câu hỏi số 4 này được.</i></p>
<p><u>Câu hỏi #5:</u> Anh nghĩ gì về độ khả tín của bức thư mà người ta cho là Trịnh Công Sơn gửi cho anh Ngô Kha? Vợ anh Ngô Kha, đồng thời là em ruột của Trịnh Công Sơn, bà Trịnh Vĩnh Thúy hiện nay đang ở đâu, anh có liên lạc với bà ấy không?</p>
<p><u>Trả lời #5a:</u> <i>Từ sau 27- 1- 1973 tôi ở Sài Gòn, thỉnh thoảng mới về Huế. Việc đấu tranh bằng báo chí (báo Đối Diện) cho anh Kha tôi không tham dự. Tôi có đọc các bài trên Đối Diện trong đó có thư của Trịnh Công Sơn viết cho Ngô Kha. Tôi nghĩ thư này do Trịnh Công Sơn viết. Anh em phong trào Huế không thô thiển và hồ đồ đến độ viết và ký tên Trịnh Công Sơn bởi lẽ:</i></p>
<p><i>&#8212; Trịnh Công Sơn không phải là người trong tổ chức của </i><i>T</i><i>hành ủy Huế. Anh chỉ là một nghệ sĩ có danh tiếng cần tranh thủ, không thể áp đặt Trịnh Công Sơn bất cứ điều gì. Vả lại người như Trịnh Công Sơn, dù yếu đuối về thể xác, không bao giờ chấp nhận một áp đặt nào. Những lần làm báo </i><i>Mặt Trận Văn Hóa Dân Tộc Miền Trung </i><i>và Tự Quyết tôi có kinh nghiệm: một khi đã nhận viết bài nào đó, anh Sơn viết rất nhanh, thông thường anh nộp bài trước những người khác. Vả lại Ngô Kha vừa đối với anh như bạn, vừa nguyên là em rể</i><i>, do đó</i><i> Trịnh Công Sơn không từ chối một việc làm nhiều chính nghĩa như thế. Có điều cũng nên biết là cùng một thời điểm Trịnh Công Sơn vừa viết thư cho Ngô Kha (để tranh đấu) vừa viết một bài dài (dài hơn bức thư viết riêng cho Ngô Kha trước đó) về vấn đề thuộc lãnh vực văn hóa văn nghệ mà lập trường xa lạ với &quot;đấu tranh chính trị&quot; nếu không nói là trái lại. Bài này đăng trên tạp chí Ý Thức. Từ lâu tôi có ý định đối chiếu lại hai văn bản này nhưng chưa làm được.</i></p>
<p><a name="OLE_LINK1"><u>Trả lời #5.b:</u></a> <i>Chị Trịnh Vĩnh Thúy, em gái Trịnh Công Sơn, </i><i>và Ngô Kha lấy nhau được vài ba bốn năm. Từ 1963(?) &#8211;1966 (?) Sau đó họ xa nhau chẳng biết lí do gì. Mặc dầu đã li dị, nhưng Ngô Kha thì nhớ thương Vĩnh Thúy không nguôi. Anh đã kẻ cho tôi nghe nhiều lần về nỗi nhớ thương này. Có lần chở tôi đi rong trong thành phố Huế anh quay lại nói với tôi: Con đường này mình đã chở Thúy đi, Thúy thế này, Thúy thế khác. Nói chung là những tình cảm sâu nặng. Tôi không hề có liên hệ hoặc liên lạc gì với Trịnh</i> <i>Vĩnh Thúy, với những người em khác của Trịnh Công Sơn cũng vậy. Nghe nói Trịnh Vĩnh Thúy đã ra nước ngoài và cư trú tại Canada?</i></p>
<p><u>Câu hỏi #6:</u> Anh nghĩ rằng đó là sự thật hay chỉ là Trịnh Cung suy đoán về việc “năm Mậu Thân 1968 Trịnh Công Sơn bị cộng sản giết hụt” – và nếu thế ai chủ trương việc đó?</p>
<p><u>Trả lời #6:</u> <i>Tôi không thể trả lời câu hỏi này bởi tôi không muốn tham dự vào những cuộc cãi vã có tính cách bản năng, vô bổ. Tôi chỉ tiếc cho họ, Trịnh Công Sơn và Trịnh Cung là bạn thân của nhau một thời mà lại xảy ra như thế. Riêng phần mình, tôi chưa từng nghe Trịnh Công Sơn chê trách nhiếc mắng xoi mói ai bao giờ.</i></p>
<p><i>Việc cộng sản Huế có tìm cách giết hụt Trịnh Công Sơn vào năm 1968 hay không tôi chỉ trình bày một nhận định như sau:</i></p>
<p><i>Theo tôi, người Huế bị giết chết trong biến cố Mậu Thân là nạn nhân chiến tranh của cả đôi bên. Bên nào giết nhiều bên nào giết ít khó mà xác quyết được. Riêng những người cho là bị giết bởi Cộng Sản có hai lí do:</i></p>
<p><i>1/Do căm giận mười mấy năm </i><i>Tố Cộng Diệt Cộng</i><i> tàn ác và đẫm máu. Từ 1954 </i><i>-</i><i> 1960 chính quyền Ngô Đình Diệm trên toàn miền Nam đã bắn giết tù đày khoảng 80.000 cán bộ Việt Cộng và gia đình họ. Riêng Thừa Thiên Huế và Quảng Trị non 10.000 (xem Lê Xuân Khoa Chiến Tranh Việt Nam 1945 </i><i>-</i><i> 1995)</i></p>
<p><i>2/ Lệnh từ Trung Ương là triệt hạ chính quyền tay sai. Mà triệt hạ chính quyền tay sai có nghĩa là không thể tránh khỏi việc bắt bớ và giết chóc đối tượng này.</i></p>
<p><i>Trịnh Công Sơn có thuộc một trong hai thành phần trên không? Theo tôi là không. Đây là lần đầu tiên tôi nghe câu chuyện này.</i></p>
<p>Nhân câu chuyện Ngô Du (anh ruột Ngô Kha) tử nạn, và chuyện Trịnh Công Sơn bị Cộng sản giết hụt năm Mậu Thân 1968 (theo suy đoán của Trịnh Cung) tôi mạn phép có mấy ý ngoài đề xin được nêu ra sau đây:</p>
<p>1/ Tổng Tấn Công và Nổi Dậy Tết Mậu Thân diễn ra tại nhiều tỉnh, nhiều thành phố trên toàn miền Nam, cớ sao chỉ có Huế mới xảy ra sự cố nghiêm trọng ấy? Ai chịu trách nhiệm về sự sai lầm đẫm máu ấy? Địa phương hay Trung Ương?</p>
<p>2/ Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc sao không công khai xin lỗi đồng bào Huế một lần và dứt điểm? Trong cuốn hồi ký Huế Xuân 68, ông Lê Minh, nguyên Phó Bí Thư Khu Ủy Trị Thiên, Tư Lệnh mặt trận Thừa Thiên Huế đã bày tỏ một cách chân thành suy nghĩ và trách nhiệm của mình đại thể như sau:</p>
<p>“Rốt cuộc là đã có những người bị xử lí oan trong chiến tranh. Dù lí do cụ thể thế nào thì trách nhiệm vẫn là thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi. Nhiệm vụ bây giờ là cách mạng phải minh oan cho gia đình con cái của những người đã chết. Trong hoàn cảnh như vậy, trong khi pháp luật cách mạng chưa hề có ý định xử lí họ vào tội chết, có một người phải minh oan cho một người, có một trăm người phải minh oan cho một trăm người. Đó chính là lẽ phải và tình thương, quần chúng sẽ thông cảm và không bao giờ lẫn lộn trắng đen.” (Huế Xuân 68 – Thành Ủy Huế 1988)</p>
<p>Ở phần mở đầu của hồi ức, ông Lê Minh cũng đã viết: Phần riêng, tôi cũng muốn được gởi theo đây một vòng hoa khiêm tốn thành kính tưởng niệm những người đã nằm xuống, kể cả những người bị tên bay đạn lạc trên mảnh đất của thành phố Huế bất khuất cách đây hai mươi năm.</p>
<p>Lời của ông Lê Minh, tuy đã được in trong tập sách do Thành Ủy Huế xuất bản từ năm 1988, nhưng đến nay ý tưởng chân thành và dũng cảm ấy vẫn chỉ là của cá nhân ông. Đảng bộ Cộng Sản Thừa Thiên Huế vẫn chưa thấy động tĩnh gì, mặc dầu các hội nghị và kỷ niệm chiến thắng Mậu Thân đã được tổ chức nhiều lần tại Huế từ bấy đến nay.</p>
<p><em>Chu Sơn</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8138/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trịnh C&#244;ng Sơn &#8211; Vi&#234;n Đ&#225; Bị Bỏ Qu&#234;n Của B&#224; Nữ Oa</title>
		<link>http://damau.org/archives/8047</link>
		<comments>http://damau.org/archives/8047#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 11 Aug 2009 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Chu Sơn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Nhận Định]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/8047</guid>
		<description><![CDATA[Có biết bao nhiêu điều tôi chưa biết về đất nước mình, về dân tộc mình, về Huế của những cực đoan, về tâm hồn, về âm nhạc củaTrịnh Công Sơn. Thế mà đành phải tạm gác, bởi tôi không thể nào quên, cho dù Nữ Oa đã chẳng còn nhớ về một viên đá lạc loài - Trịnh Công Sơn. Viên đá đã được luyện nên để thực hiện một ý đố ngông cuồng đội đá vá trời.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><strong></strong></p>
<p align="right"><i>Khi xưa, lúc trời đất mới hình thành nhưng chưa kín hẳn –      <br />còn lủng lỗ chỗ nơi này chốn nọ. Ở đỉnh Vô Kê </i>−<i> núi Đại Hoang,      <br />tương truyền có bà Nữ Oa luyện ba vạn sáu ngàn năm trăm       <br />lẻ một viên đá ngũ sắc để vá trời. Bà chỉ dùng có ba vạn sáu       <br />ngàn năm trăm viên. Còn lại một viên bà bỏ quên ở       <br />chân núi Thanh Ngạnh. Viên đá này từ khi được luyện đã       <br />có nhân tính, ngày đêm buồn tủi khóc than thân phận mình&#8230;       <br />(theo huyền thoại Trung Hoa.)</i></p>
<p>&#160;</p>
<p><b>Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa</b>. Nơi này phải chăng là núi Thanh Ngạnh, là đỉnh Vô Kê của núi Đại Hoang trong huyền thoại Trung Hoa, hay là Huế, là Buôn Mê Thuột, là Sài Gòn, là Hà Nội… của nước non nhà?</p>
<p>Thế còn mưa xa?</p>
<p>Không ít người láu táu − như kẻ viết bài này − vội vàng khẳng định: ấy là “Huế của ta,” “Huế của ta.”</p>
<p>Thế là, hẳn nhiên thêm một lần, Trịnh Công Sơn với mắt cười thật buồn, cố giấu đi một ánh mỉa mai, giễu cợt.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Dường như chỉ có một lần Trịnh Công Sơn đã khóc thật sự vì tình yêu. Mối tình trai gái đầu đời tan vỡ. Anh chỉ khóc đến độ <b>Ướt Mi.</b> Bởi tình yêu lúc này, nơi Trịnh Công Sơn chỉ là yêu thầm. Và khi người con gái cụ thể của cuộc tình ra đi, không nhất thiết có sự chọn lựa, trắc trở hay bội bạc gì nơi cô và cũng có thể nàng ra đi tình cờ, tự nhiên như bất cứ một cuộc chuyển cư nào.</p>
<p>Thế là Trịnh Công Sơn đơn độc nhìn về một hướng. Anh đã khóc thầm. Nước mắt làm <b>ướt mi</b> anh. Cả mẹ, cả các em, cả bạn bè thân thiết chẳng ai hay biết gì nếu sau đó không thấy anh ôm ghì cây đàn ghita rung lên từng tiếng nấc.</p>
<p>Phải chăng mối tình đầu ấy chỉ thoáng qua, chỉ lưu lại trong lòng người con trai mới lớn một kỷ niệm đẹp và buồn? Không chỉ có vậy. Mối tình đầu đời của anh cũng sâu nặng như bất cứ mối tình nào sâu nặng nhất trên thế gian này. Niềm đau và nỗi nhớ của anh cũng da diết, cũng quặn thắt, cũng đứt ruột như bất cứ kẻ tình si nào. Chỉ có điều là nước mắt của nòi tình chẳng có sông nào giống biển nào. Hơn trăm năm trước một thi sĩ, đồng thời là một hoàng đế đã hoá điên, hoá dại khi chôn cất một Bằng Phi: <i>Đập cổ kính ra tìm lấy bóng.</i> <i>Xếp tàn y lại để dành hơi.</i> Biến cố ấy nơi Tự Đức là một ngoại chấn. Cơn ngoại chấn chỉ gây cho người chứng một cảm nhận bỏng rát, run rẩy, bàng hoàng. Còn <b>Ướt Mi</b> của Trịnh Công Sơn là một cơn nội chấn. Nước mắt của kẻ tình si trăm năm sau lại chảy vào bên trong. Các nhân chứng cứ <b>ngỡ tình đã qua đi</b>, có ngờ đâu cứ theo thời gian nó thấm, nó ngấm, nó làm tê, làm điếng, làm buốt, làm nhức từng đường máu ống xương, từng làn da thớ thịt, làm nẫu từng khúc ruột, từng xó óc buồng tim đâu chỉ có một mình anh và đâu chỉ có một thời trẻ dại.</p>
<p>Nỗi đau chiếm lấy Trịnh Công Sơn?</p>
<p>Chưa đúng hẳn.</p>
<p>Chính Trịnh Công Sơn đã vồ chiếm lấy nỗi đau làm báu vật, đồng thời làm vũ khí của riêng mình. Lập tức Trịnh Công Sơn hoá thân làm nỗi đau. Nỗi đau chính là bản thể của anh. Nước mắt đã chuyển hoá thành năng lượng, thành sức mạnh khiến người nghệ sĩ nhập thế một cách bi thiết và mỹ lệ trong thế giới bát nháo ta bà này. Mỗi người trong chúng ta, bởi kinh nghiệm đau thương riêng tư của mình, mỗi khi tiếp cận với thế giới âm nhạc Trịnh Công Sơn, đã khám phá, phát hiện và trong chừng mực nào đó đã làm phong phú thêm những lóng lánh sắc màu. <i>Thế là Trịnh Công Sơn đã trở thành người bạn đường của hết thảy chúng sinh giữa trùng khơi nước mắt*</i>.</p>
<p>Sau Ướt Mi, Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhiều, rất nhiều tình khúc. Tình khúc Trịnh Công Sơn là tên một tập hợp sáng tác <b>thơ ca</b> của anh. Anh đã dành trọn cả đời mình để ca hát về tình yêu. Chưa đủ, Trịnh Công Sơn còn nói về tình yêu bất cứ nơi nào, lúc nào có dịp. Thậm chí anh còn muốn xây thêm một <b>vườn tình</b> chung quanh ngôi mộ của Mẹ. Từ sau cái lần ướt mi đó, khí hậu siêu thực từng bước thấm đẫm, đầy ắp trong nhạc tình Trịnh Công Sơn. Mới gặp một đôi lần mà <b>Diễm</b> (đã) <b>xưa</b>. Mới chỉ đối mặt mà đã <b>thành trăm năm</b>. Mới cú<b> </b>choáng váng mà đã<b> thấy em trong tiền kiếp</b> và cuối cùng <b>Em cũng là Tôi và Tôi cũng là Em.</b></p>
<p><b></b></p>
<p align="center">*</p>
<p>Có lúc nào đó, Trịnh Công Sơn sau những ngày dài tự kiềm chế, đã buộc phải giải bày về cái mà anh gọi là “<b>cái ta đáng ghét.</b>” Ai đó? Có thể rất nhiều, đã ngộ nhận anh thế này thế nọ, đã níu anh về phía bên này, đã đẩy anh về phía bên kia, đã choàng hoa hay chụp mũ cho anh. Trong một tình thế mà sau này anh bảo là khắc nghiệt, cũng có thể lâm thời là những mời gọi dịu dàng, những đẩy đưa bóng gió đã làm cho <i>con tim mây nước của anh xao xuyến</i> hoặc đã khiến cho <i>cái trí lau sậy của anh chập chờn nghiêng ngả</i><b>. Nối Vòng Tay Lớn, Cho Một</b> <b>Người Nằm Xuống, Huế − Sàigòn − Hà Nội</b>&#8230; đã được ra đời trong những bối cảnh như thế. Những bối cảnh mà đến một thời điểm thuận tiện, anh lại mỉa mai gọi là “<b>những ngày hét la to đầy nộ khí.</b>” Tất nhiên, anh luôn tìm cách đẩy những âm vang nghịch chọi ấy, những <b>đóa hoa vô thường</b> ấy đi vào lãng quên. Nhưng cái trớ trêu, cái bất hạnh, cái nghiệp chướng của tài năng là bất cứ một hành vi lớn nhỏ nào, có chủ hướng hay không, y cũng không thể chối từ các hệ quả của nó. Khi tình thế khắc nghiệt qua đi, khi giới tuyến lửa đạn chìm khuất, khi triệu triệu vết thương chiến tranh khép lại, khi cảm quan nghệ thuật được cởi trói, khi giá trị nghệ thuật được thử thách, sàng lọc, sáng tạo nghệ thuật được thừa nhận, rồi cuối cùng với năm tháng vang vọng, bay xa hay tiếp tục <b>Vết Lăn Trầm</b>. Anh Trịnh Công Sơn này, dù biển xanh hay nương dâu có thay nhau lấn chiếm, dù anh có nghĩ suy, thời biện thế nào thì <b>Nối Vòng Tay Lớn</b> đối với chúng tôi (không nhất thiết phải là toàn thể), những người cùng với anh cộng nghiệp, cũng là một bài ca toàn bích. Và, <b>Cho Một Người Nằm Xuống</b> cũng là một nốt đẹp được viết thêm vào bản trường ca chiêu hồn vô tận của một đất nước mà chiến tranh là nghiệp chướng ngàn đời. Té ra cái khát vọng tuyệt đối trong khá nhiều trường hợp lại được thai nghén, nuôi dưỡng từ một hiện hữu <b>nhỏ nhắn</b>, một động thái xô lệch, một tình cảm biền biệt phân thân. Tài năng cộng với những cảm xúc chân thật đã giải cứu người nghệ sĩ thoát khỏi những giới hạn thiểu não của cá nhân, nối kết anh trở về hát chung với cộng đồng bài ca chén đắng.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Không đợi đến thế kỷ này, nhân loại mới khám phá ra cái phi lý, cái bất hạnh cùng cực của kiếp người. Không phải những đấng bậc lớn lao như Phật, như Chúa mới cống hiến cho nhân loại những cảm nhận đớn đau khủng khiếp về một <i>Lò cừ nung nấu sự đời</i>, một <i>Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương**.</i> Kinh nghiệm trầm luân chưa hẳn Jesus đã sâu sắc hơn Promété hay Jean Vanjean. Và cũng như thế với Tất Đạt Đa, Kiều, Chí Phèo hay Trịnh Công Sơn.</p>
<p>Khi tiếp cận với số phận Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly, chúng ta bỗng <b>thương cho người rồi lạnh lùng riêng</b>, để rồi bị cuốn hút vào thế giới âm nhạc của anh bởi tính cách tân kỳ, độc đáo của ngôn ngữ (ca từ), bởi vóc dáng tiều tuỵ, đơn độc, lạc lõng, tuyệt vọng của chúng sinh giữa bát quái trận đồ chiến tranh, tội ác, bạo ngược, dối gian, bởi khát vọng hoà bình nóng bỏng và ngọn lửa yêu thương tưởng như hắt hiu mà không bao giờ tắt, giữa cái cõi đời mà <b>đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng.</b></p>
<p><b></b></p>
<p align="center">*</p>
<p>Trịnh Công Sơn đã lượm nhặt ngôn ngữ gần như là tình cờ trên những nẻo đường anh qua. Tưởng như không chọn lọc, không gia công, không đẽo gọt, không điểm tô, đôi khi có thêm bớt, thiếu thừa là bởi đãng trí hoặc bởi xúc cảm sáng tạo hơn là chủ hướng ý thức hay ký ức học thuật nào. Do vậy nếu không nghe hoặc không hát, chỉ đọc Trịnh Công Sơn qua các bản in, chúng ta sẽ bị ngỡ ngàng, bối rối bởi chúng dường như tối nghĩa và đôi khi chẳng có chút gì là thân quen giữa các câu, các từ với nhau. Thế mà những ca từ tưởng chừng như nghịch dị ấy, những <b>cỏ héo, cành trơ, lá úa</b>, những <b>cát bụi mệt nhoài ngu ngơ</b> ấy, những <b>đá cuội lăn</b> <b>lóc ưu phiền</b> ấy, những <b>tà dương mộ địa</b> ấy, những <b>quán không, phố hoang</b>, <b>vai gầy</b> ấy&#8230;, sau khi được người nghệ sĩ phả vào chúng những hơi thở thoi thóp theo từng bước rã rời, xiêu vẹo, qua những nẻo trần ai, đã biến thành những âm binh huyền ảo cuốn hút, mê hoặc chúng ta. Phút chốc chúng ta bàng hoàng, run rẩy, ớn lạnh, để rồi cùng với Trịnh Công Sơn cảm nhận đến tận cùng thân phận bi thương của kiếp người qua từng nhịp đổ của <b>Một Cõi Đi Về.</b></p>
<p align="center">*</p>
<p>Nhiều người trong chúng ta, kể cả người viết bài này, đôi lúc cũng muốn tranh luận với Trịnh Công Sơn điều này việc nọ. Nhưng đến lúc suy đi nghĩ lại thì thấy rằng đi thách đấu với một người không màng đến võ công như Trịnh Công Sơn thì rõ ràng mình cũng chỉ là kẻ vũ phu. Trịnh Công Sơn không sinh ra để làm người tình của cụ bà logic rạch ròi, khó tính, cũng không sinh ra để chỉ biết ỉ ôi ai oán. Trước sau như một anh cũng chỉ là chị em sinh đôi của cô nàng đa tình đa cảm có tên gọi là cảm nhận sâu lắng hay trực giác thiên phú. May mắn cho anh và cũng may mắn cho những ai mê thích nhạc Trịnh là trực quan sáng tạo nghệ thuật nơi anh, người nghệ sĩ có đôi mắt nhìn sâu vào nội tâm con người một cách nhạy bén và dồi dào đến thế. Có thể nói trong vòng 40 năm cuối thế kỷ 20 tại miền Nam chưa có một nhạc sĩ nào gẩy đúng sợi tơ lòng mong manh mẫn cảm của đông đảo tâm hồn thanh niên đô thị như Trịnh Công Sơn. Trong cái bối cảnh lịch sử khắc nghiệt của cuộc chiến tranh mà trắng đen, thiện ác, địch ta lại cộng cư trong một khung cửa hẹp của một ngôi nhà hình ống sâu hút, cũ kỹ, dột nát, nền móng long lở bởi thiên tai dịch hoạ triền miên như thế, một căn phố không có sân trước, không có ngã sau, thì sự lựa chọn dứt khoát bên này phía nọ quả thật chẳng đơn giản. Trong cái xó xỉnh tối tăm, ngột ngạt khó thở, khó nhận ra như thế, suốt cả thời trai trẻ của mình, con người phiêu lãng Trịnh Công Sơn, vì thiếu một ngõ sau để chiều chiều ngó về quê mẹ, nên <b>con mắt còn lại</b> của một thần kinh bén nhạy, dễ rung động như anh đã buộc phải hướng về nội tâm để mà bản lai diện mục. Thế là, qua lăng kính của Trịnh Công Sơn, <b>dưới</b> (mỗi) <b>vòng nôi mọc từng mộ địa và tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người.</b></p>
<p align="center">*</p>
<p><b>Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng</b>! Nhiều lần Trịnh Công Sơn kêu gọi chúng ta như thế. Thực ra đây là những lời tự bạch, tự trấn an chẳng có lấy một chút cơ may giải cứu nào. Nỗi khổ và bóng tối cứ đeo đẳng, phủ chụp lấy anh. Cuối cùng chính anh đã khẳng định: “<b>Tôi đã mỏi dần với lòng tin. Chỉ còn lại niềm tin cuối cùng vào tuyệt vọng. Có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vẫn không thể khác.”</b></p>
<p><b>Cuộc đời vốn không thể khác</b>. Đến những năm tháng cuối của cuộc phù du, Trịnh Công Sơn mới buồn rầu khẳng định niềm tin của anh qua câu nói tưởng chừng như đơn giản khi mới nghe qua này: “May mắn thay cho chúng ta chăng?” Giả dụ rằng, chỉ giả dụ thôi, nếu niềm tin ấy được xác lập sớm hơn, một thời điểm nào đó từ cái lần Tất Đạt Đa rời gốc bồ đề sau 49 ngày đêm thiền định chẳng hạn, thì hậu thế đâu có những tiếng thở dài đẹp đẽ đến não nùng như thế! Và cũng may mắn cho Trịnh Công Sơn chăng? Bởi mấy ai trong chúng ta được nhiều bạn bè đồng thanh tương khí như anh! <b>Bao lâu nhân loại còn đóng thêm</b> <b>những kệ hàng</b> còn tuyển dụng thêm nhiều tên mãi biện miệng mồm trơn láng ngày đêm lẻm bẻm rao bán <b>đủ thứ mặt hàng: đói kém, chết chóc, thù hận, nô lệ, vong thân</b>, bao lâu chiến tranh khổ nhục còn đeo bám lấy thân phận Việt Nam, bao lâu khát vọng hoà bình và ngọn lửa yêu thương còn rực cháy nơi mỗi buồng tim khối óc chúng ta thì Trịnh Công Sơn vẫn còn đó, cho dù <b>cát bụi rã rời</b> có bay đi.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Tuyệt vọng và yêu thương ít khi cùng ở chung nơi một con người. Nhưng ở Trịnh Công Sơn nó tuy hai mà một. Trịnh Công Sơn đã dành trọn đời mình để mô tả, khóc ca về nỗi đau, về tình cảnh vô vọng của kiếp người và đồng thời kêu gọi chính mình, kêu gọi những ai đồng hội đồng thuyền hãy giữ gìn ngọn lửa yêu thương và thực hiện tình yêu để giảm nhẹ hoặc cứu chuộc một phần khổ nạn làm người. Anh nói: <b>“ Sống giữa đời chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hạn hữu, tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào để nuôi dưỡng tình yêu, để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời.</b>” Điều Trịnh Công Sơn nói đúng sai thế nào chúng ta luôn tự nhủ rằng không nên và không thể tranh luận cùng anh. Tuy nhiên chẳng có ai mà không thừa nhận rằng anh đã chân thật, chân thật tự đáy lòng khi nói mấy lời này. Cứ để cho Lý Bạch tìm trăng đáy nước, cứ để cho chú Cuội đi tìm tiên <a>trên trời</a><a href="#_msocom_1" name="_msoanchor_1">[NVS1]</a> , và cứ để Trịnh Công Sơn mơ đem tình yêu xóa hận thù. Trăng đáy nước, tiên trên trời − nghệ thuật − trong rất nhiều trường hợp còn hiện thực, đẹp đẽ và cần thiết cho sự thăng hoa tâm hồn nhân loại hơn bất cứ một thiên đường bánh vẽ nào, hơn bất cứ một sứ mệnh khai hoá bịp bợm nào, hơn bất cứ một xác khô học thuyết nào.</p>
<p>Càng tiếp cận với Trịnh Công Sơn, chúng ta càng khám phá ở anh nhiều điều lạ. Ê chề, khốn quẫn, và vô vọng giữa hiện thực tàn nhẫn của nhân gian nhưng Trịnh Công Sơn chỉ khắc khoải, tra vấn, nhớ tiếc về <b>cội nguồn</b>, về <b>tiền</b> <b>kiếp</b>, về một quê hương xưa cũ đã mất, chứ chưa hề một lần anh mơ về kiếp sau, một bồng lai tiên cảnh hay một thiên đường nào ngoài cõi trần ai. <b>Đã đến</b> <b>đây như một khách trọ, một kẻ lưu đày</b>, thì thôi cũng đành ở lại bởi <b>cuộc</b> <b>đời không thể khác</b>. Chỉ còn một lựa chọn, một cách thế duy nhất để làm người là <b>yêu thương</b>. Tình yêu là phương thuốc hồi sinh duy nhất cho mỗi con người và cho cả nhân loại. Đây là niềm tin bất diệt của Trịnh Công Sơn.</p>
<p align="center">*</p>
<p>Mấy dòng ngu ngơ có thể tạm kết. Khốn nỗi là ở lời mũ, lời mở đã nhắc đến chuyện Nữ Oa đội đá vá trời và chuyện Trịnh Công Sơn nhớ mưa xa nên xin được làm phiền bạn đọc một vài phút nữa bằng mấy mẫu đối thoại thiếu trước hụt sau tình cờ nghe lóm được:</p>
<p>−“&#8230; ?”</p>
<p>− “Trịnh Công Sơn xa lạ với tình tự quê hương kiểu con đò, bến nước, cây đa, đình làng, tre xanh, khế ngọt &#8230; Thế Huế đối với Trịnh Công Sơn là gì?”</p>
<p>−“Cũng như Buôn Mê Thuột, Sàigòn, Hà Nội hay bất cứ nơi nào anh đi qua, Huế đối với Trịnh Công Sơn cũng chỉ là quán trọ, là chỗ ăn nhờ <b>ở đậu</b>, là một chặng của <b>cõi đi về</b>.”</p>
<p>−“ Nơi nào là mưa xa?”</p>
<p>−“ Đâu phải chỉ có Huế mới mưa nhiều. Trong Trăm Năm Cô Đơn của Marquez mưa còn nhiều hơn Huế gấp bội. Marquez mô tả một trận mưa kéo dài mấy năm liền. Mưa xa của Trịnh Công Sơn là kiếp trước, là ý niệm.”</p>
<p>−“ Nhưng mưa trong nhạc Trịnh Công Sơn đích thị là mưa Huế.”</p>
<p>−“ Vấn đề là ở chỗ đó. Dấu vết Huế trong nhạc Trịnh Công Sơn đâu phải chỉ có mưa, nhất là hoàn toàn không phải mưa đơn thuần là một hiện tượng thời tiết: mưa to, mưa vừa, mưa nhỏ, có mưa, không mưa. Người nghe nhạc Trịnh Công Sơn chẳng khó khăn gì bắt gặp Huế khi anh mô tả một ngày mưa ở Sàigòn. Giai điệu mở đầu trong <b>Mưa Mùa Hạ</b>:</p>
<p>Mưa&#8230; mưa&#8230; mưa&#8230; Sàigòn&#8230; mưa…</p>
<p>Chẳng phải là mưa Huế đó sao? Ông thời tiết sẽ cười vào mũi Trịnh Công Sơn khi nghe <b>Mưa Hồng</b>. Mọi sinh vật trước cuộc đối đầu sinh tử với những cơn hồng thuỷ thường xuyên xảy ra tại Huế không hề biết có một Trịnh Công Sơn với những <b>trời ươm nắng cho mây hồng &#8230; em đi về cầu mưa ướt áo&#8230; , đường phượng bay mù không</b> <b>lối vào</b> &#8230; Nhưng tất thảy nơi nhạc Trịnh Công Sơn từng giọt, <b>từng giọt buốt giá phận mình</b> khi đất trời cùng với nỗi buồn truyền kiếp hồi sinh trở lại. Cuộc hồi sinh bất hạnh này đối với Trịnh Công Sơn và công chúng mê thích nhạc của anh chỉ là sự triển hạn của cuộc trừng phạt <b>trên cây thập giá đời</b>.”</p>
<p>− “Có thể nói thêm đôi điều về đặc chất Huế trong âm nhạc Trịnh Công Sơn?”</p>
<p>− “Ngọai trừ một vài biệt lệ, hầu hết các ca khúc Trịnh Công Sơn đều ít nhiều âm hưởng Huế:</p>
<p><b>Thứ nhất</b> đó là những giai điệu mượt mà, tha thướt, tinh tế, sang trọng đặc biệt buồn rầu, tê tái, ngày càng ngả về hướng ảo não lâm ly. Đây là những hoá thân của nỗi buồn Nam ai, Nam bằng, Tứ đại cảnh, Chầu văn, văn tế, kinh cầu, lời ru, giọng hò Mái nhì Mái đẩy. Những làn điệu âm nhạc, những thể loại văn chương một thời thịnh hành ở Huế.</p>
<p><b>Thứ hai</b> là nội dung những ca từ là những tự truyện bằng thơ của một kẻ hát rong kể lể, than khóc về tất cả những nỗi niềm đớn đau, tuyệt vọng, những trầm tư ray rứt, những hoài niệm nhớ nhung về một tiền kiếp và phô bày một hiện sinh bi đát, bế tắc, tối tăm, đày đoạ ở cuối đường nhưng le lói đâu đó là tình yêu là hy vọng.. Bối cảnh ở những tự truyện Trịnh Công Sơn là những đền miếu tàn phế hoang liêu, những tha ma mộ địa, những phố xưa, đường vắng, quán không, những hầm hố bom đạn, những đói nghèo thù hận và nhất là những cuộc tình tan vỡ. Thế giới Huế qui nhập, tích tụ, ám ảnh, kích thích tâm trí anh, khêu gợi óc tưởng tượng và thôi thúc nhu cầu sáng tạo của anh. Kết quả là nhiều tác phẩm Trịnh Công Sơn &#8211; Huế đã được thai nghén và ra đời.</p>
<p><b>Thứ ba</b> là nhân vật chính của những tự truyện này thường có hai: Một là “<b>Tôi,</b>” Trịnh Công Sơn, chủ thể của mọi mối tương liên, mệt mỏi rã rời, bất an. Hai là <b>“Em,”</b> người con gái mình hạc xương mai, vai gầy, tay dài, gót nhỏ, bước nhẹ, mắt buồn xanh mướt. Em bước ra từ một khung cửa hẹp dưới khóm tường vi trong khu vườn xưa mộng mị (như trong truyện liêu trai). Em đi một mình dưới mưa bụi, trăng mờ hay trong nắng vàng, chiều tím, hân hoan hay thấp thỏm, ngẩn ngơ hay xót xa, ái ngại. Còn <b>Tôi</b> (lúc thì) <b>tìm thấy em theo từng gót xa</b>, (lúc thì) <b>xin làm đá cuội lăn theo dấu hài</b>. Tôi và em, những tình nhân một thời Huế đẹp, Huế thơ, Huế xanh xao mộng mị, Huế mong manh liễu yếu đào tơ.</p>
<p>− “ Ngoài đặc chất Huế, trong nhạc Trịnh Công Sơn, yếu tố lịch sử có vai trò gì?”</p>
<p>−“Trong nhạc Tịnh Công Sơn không phải chỉ có chừng ấy đặc chất Huế. Tất cả các đặc chất Huế cũng không dồn cho mỗi một Trịnh Công Sơn. Huế đâu chỉ có cái đẹp của u hoài, mong manh, hư ảo? Nếu Huế chỉ có thế thì Huế đã không còn là Huế. Con người cho dù là ai, y cũng chỉ được sinh ra từ một góc nào đó, vào một thời điểm nào đó trong ngút ngàn lịch sử. Cái tất yếu đã làm khó cho một Trịnh Công Sơn muốn vượt qua giới hạn của bản thân, muốn thoát khỏi những trói buộc phi lý, vô vị, tầm thường của nhân gian. Tha nhân là địa ngục của chính mình. Khái niệm xa lạ này có thể đúng khi “mình” tự thấy cũng là “tha nhân” của bất kỳ ai. Bởi <b>mình với ta tuy hai mà một</b>. Những thông tin triết học qua sách vở, báo chí, trường học đã thâm nhập vào tâm trí của một số bộ phận không nhỏ thanh niên đô thị miền Nam sau 1954, đã cản ngăn họ dấn thân vào chiến hào mà ý thức hệ đã buộc những đứa con dân tộc phải chọn lựa. Một chút hiện sinh, một chút hư vô đã nhiễm nhập vào một phần của đô thị miền Nam, đặc biệt là Huế, mảnh đất màu mỡ của u hoài, mong manh, hư ảo, đồng thời là một tiền đồn về mặt văn hoá trong cái bối cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng mà Trịnh Công Sơn và không ít người của thế hệ anh và cả thế hệ kế tiếp, đã chỉ nhìn thấy những hệ quả khốc hại của nó, thay vì nhận biết được mục tiêu tối hậu và ý đồ chiến lược của mỗi bên (Dân Tộc và Ngoại Xâm, Tự Do và Cộng Sản.)</p>
<p>− “Còn một tiếng nói khác của Huế, một sức mạnh khác của Huế, một bản lãnh khác của Huế, một sắc thái khác của Huế mà tự thân mỗi người trong chúng ta vì cơ duyên này nọ hoặc không biết, hoặc chưa biết, hoặc quên đi ít nhiều, hoặc mơ hồ về bản trường ca bi tráng vang vọng từ những anh linh Tày Việt − Mường Mán – Ô Rí – Hoá Châu − Thuận Quảng – Phú Xuân − Huế trên những chặng đường gian khổ của cuộc trường chinh mở cõi, giữ nước, khẳng định bản lĩnh, xác lập bản sắc, thăng hoa phẩm giá làm người&#8230;”</p>
<p>− “Nghĩ như thế nào về những ca khúc kêu gọi hoà bình của Trịnh Công Sơn khi cả nước đánh giặc từng ngày?”</p>
<p>− “Hãy tin vào khát vọng hoà bình và kêu gọi yêu thương da diết nơi những nhạc phẩm Trịnh Công Sơn, bởi trước đó, chúng ta đã từng tin vào khát vọng ấy, tình thương ấy nơi cậu bé làng Gióng. Hơn ai hết, chúng ta biết khát vọng Hoà Bình, khát vọng được yêu thương nơi Gióng mãnh liệt biết dường nào. Gióng còn quá nhỏ để ôm ấp mộng anh hùng. Gióng cũng chưa biết nói, biết đi để làm một kẻ du ca. Vậy đó mà cậu phải vươn vai đứng dậy, làm lính, bởi cậu biết chắc là kẻ xâm lược đâu để yên cho <b>mẹ ngồi ru con đong đưa vọng buồn, đong</b> <b>đưa vọng buồn</b>. Ngàn đời sau trong tâm hồn dân tộc, cậu là Thánh Gióng. Bởi cậu đã cỡi ngựa bay về trời khi yên giặc. Nói như ngôn ngữ ngày nay là cậu đã tự về hưu ở tuổi lên bốn bởi cậu đã dồn hết tinh lực cho cuộc chiến tranh vệ quốc. Cậu không muốn ở lại để chia chác phẩm hàm, cò kè danh lợi. Cậu không muốn mình trở thành cái cớ để Trịnh Công Sơn hát mãi bài ca <b>Biết Đâu Nguồn Cội</b> hoặc <b>gia tài của mẹ một lũ lai căng, gia tài của mẹ một lũ bội tình…”</b></p>
<p>Câu chuyện tôi nghe lóm chưa hẳn đã chấm dứt, bởi cả hai, người thì còn nhiều khúc mắc, kẻ thì chưa nói hết những điều muốn nói! Dù tôi rất muốn nghe thêm nhưng đành tạm gác. Có biết bao nhiêu điều tôi chưa biết về đất nước mình, về dân tộc mình, về Huế của những cực đoan, về tâm hồn, về âm nhạc củaTrịnh Công Sơn. Thế mà đành phải tạm gác, bởi tôi không thể nào quên, cho dù Nữ Oa đã chẳng còn nhớ về một viên đá lạc loài &#8211; Trịnh Công Sơn. Viên đá đã được luyện nên để thực hiện một ý đố ngông cuồng đội đá vá trời.</p>
<p>Tâm hồn nhân loại sẽ nghèo khó, teo tóp đi rất nhiều nếu không có những hoài bão, những khát vọng kiểu Nữ Oa ấy. Những mảng trời lủng của Nữ Oa, chắc chắn đối với tôi, chưa khủng khiếp bằng sự đổ vỡ, rách nát tang thương, tăm tối nơi tâm hồn nhân loại ngày nay.</p>
<p>Vá trời, kêu gọi yêu thương, quên đi những tị hiềm, có chút gì đó đồng điệu giữa người phụ nữ trong huyền thoại và chàng du ca lảo đảo bên những thành quách điêu tàn.</p>
<p>Cái ác đang ngụy trang, rình rập, tấn công chúng ta từ mọi phía. Chính nó − Cái Ác − đã phong thánh*** cho người nghệ sĩ có trái tim nhân hậu, kẻ đi mãi giữa <b>cõi người</b> với một hành trang duy nhất là cây đàn và tiếng hát yêu thương.</p>
<p><em>Chu Sơn     <br />Huế, tiết Hàn thực Tân Tỵ      <br />Xem lại và hiệu đính tháng Tám 2009</em></p>
<p>&#160;</p>
<p><u><strong>Ghi chú:</strong></u> những chữ in đậm là tên nhạc phẩm, ca từ, lời văn của Trịnh Công Sơn đặc biệt từ tuyển tập: Những Bài Ca Không Năm Tháng, Nxb. Âm Nhạc, 1998.</p>
<p>* Lấy ý từ tuyên ngôn của Phật Thích Ca: Nước mắt chúng sinh đổ đầy bốn biển.</p>
<p>** Trích thơ Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều (Cung Oán Ngâm Khúc)</p>
<p>*** Lấy ý từ định nghĩa của Marx về tôn giáo: “…là lương tâm của một thế giới không có lương tâm, là tiếng kêu đau thương, phẫn uất trong một xã hội đầy rẫy cả bất công và áp bức…”</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/8047/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chu Sơn</title>
		<link>http://damau.org/archives/7349</link>
		<comments>http://damau.org/archives/7349#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 13 Jul 2009 14:05:48 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Chu Sơn</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tác Giả]]></category>
		<category><![CDATA[Tác giả Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/7349</guid>
		<description><![CDATA[<p></p>
<p>Chu Sơn: Trần Huệ     <br />sinh năm 1943 tại Mỹ Lợi, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.</p>
<p>Trước 1975:</p>
<p>&#8212; Làm thơ   <br />&#8212; Là sĩ quan Ngụy – đào ngũ  ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/ChuSn_63C5/clip_image002.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 10px 10px 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/ChuSn_63C5/clip_image002_thumb.jpg" width="154" height="127" /></a></p>
<p><b>Chu</b><b> Sơn</b>: Trần Huệ     <br />sinh năm 1943 tại Mỹ Lợi, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.</p>
<p>Trước 1975:</p>
<p>&#8212; Làm thơ   <br />&#8212; Là sĩ quan Ngụy – đào ngũ    <br />&#8212; Là cán bộ Việt Cọng</p>
<p>Sau 1975:</p>
<p>&#8212; Làm bếp tại gia   <br />&#8212; làm thơ, viết văn tùy hứng.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/ChuSn_63C5/clip_image002.jpg">&#160;</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/7349/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

