<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Bùi văn Phú</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/buivanphu/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Thu, 09 Feb 2012 14:52:09 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2.1</generator>
		<item>
		<title>Người Việt v&#224; nem, phở ở ch&#226;u Phi</title>
		<link>http://damau.org/archives/23299</link>
		<comments>http://damau.org/archives/23299#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Feb 2012 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi văn Phú</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyên Đề]]></category>
		<category><![CDATA[Du Lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Phiếm luận]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/23299</guid>
		<description><![CDATA[Chúng tôi đến Accra lúc ở đó đang bừng lên không khí chống Mỹ với biểu tình hàng ngày trước toà đại sứ Hoa Kỳ. Từ vài năm qua, sau khi Trung úy Jerry Rawlings lên nắm quyền lãnh đạo bằng đảo chính, tình hình chính trị trở nên bất ổn với nghi ngờ có người Mỹ nhúng tay.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H01_ThanhPho_thumb.jpg" width="474" height="290" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Nem. Nhưng không phải nem chua. Phở và người Việt hai tiếng tự nó đã đầy đủ ý nghĩa. Châu Phi đây là ở Xứ Ngà, nước Côte d’Ivoire, có thành phố Abidjan là trung tâm kinh tế tài chính. Abidjan là thủ đô từ 1933, đến năm 1983 Tổng thống Félix Houphouet-Boigny cho rời thủ đô chính trị và hành chánh lên Yamoussoukro, nơi sinh của ông.</p>
<p>Những năm dạy học ở Togo, tôi có đi chơi vài nước lân bang cho biết thêm về đời sống quanh vùng. Dịp nghỉ lễ Phục Sinh năm 1985, tôi đi chơi hai nước Ghana và Côte d’Ivoire.</p>
<p>Đi cùng với một người bạn qua xứ Ghana. Quãng đường từ Lomé qua Accra dài chừng 200 cây số nhưng mất năm giờ xe.</p>
<p>Đã quen với cuộc sống ở đây, nơi mọi thứ trôi qua chầm chậm, mỗi lần đi xe đò là trong túi đeo lưng đều có vài cuốn sách để đọc vì xe chạy lâu hay mau, bao giờ đến nơi thì mới rõ.</p>
<p>Lúc còn ở Mỹ, có một tài tử đóng phim hài, tôi đã quên tên mà chỉ nhớ cái mũi to như quả cà chua và chiếc mũ dạ, ông quảng cáo cho thẻ tín dụng American Express với khẩu hiệu: “Don’t leave home without it”, diễn nghĩa tiếng Việt là “Đừng rời nhà nếu không có nó”. Từ ngày sang châu Phi, trước khi rời nhà đi chơi xa chúng tôi hay dùng khẩu hiệu này để nhắc nhở nhau đừng quên mang theo bên mình, không phải thẻ tín dụng, mà là hai thứ quan trọng hơn: sách truyện và giấy đi cầu. Đặc biệt là giấy đi cầu: “Don’t leave home without it” vì ăn uống lạ nước lạ cái nên bụng dễ bị biến chứng. Ra đi khó biết bao lâu mới đến nơi đã định. Có khi phải đợi ở bến cho đến khi đầy khách xe mới chạy. Có thể xe hư dọc đường, khi đó nếu phải đại tiện ở một góc rừng hay bờ đường thì có giấy mà dùng.</p>
<p>Chúng tôi đến Accra lúc ở đó đang bừng lên không khí chống Mỹ với biểu tình hàng ngày trước toà đại sứ Hoa Kỳ. Từ vài năm qua, sau khi Trung úy Jerry Rawlings lên nắm quyền lãnh đạo bằng đảo chính, tình hình chính trị trở nên bất ổn với nghi ngờ có người Mỹ nhúng tay. Hai năm trước chính phủ Ghana đã yêu cầu Hoa Kỳ rút về vài tình nguyện viên Peace Corps vì có những phát biểu chống chính phủ ở đây. Đời sống dân chúng khó khăn, đồng cedis mất giá. Du khách đi tắc-xi tài xế đòi trả bằng đô-la Mỹ chứ không nhận tiền điạ phương vì đổi chợ đen được giá gấp mấy lần hơn giá chính thức (1 USD = 50 cedis, giá chợ đen gấp ba hay bốn)</p>
<p>Khi nhập cảnh vào Ghana, du khách phải khai báo đem bao nhiêu tiền, khi ra phải chứng minh đã tiêu bao nhiêu, còn lại bao nhiêu, với biên nhận đầy đủ. Là những tình nguyện viên, sang đây chơi chúng tôi được ở miễn phí tại nhà trọ của Peace Corps nên không phải đổi tiền nhiều. Với kinh nghiệm gửi tiền về Việt Nam cho gia đình trong những năm qua, tôi giấu được ít tờ trăm cho mình và bạn, đem vào Ghana đổi chợ đen nên cũng đủ tiêu trong mấy ngày. Với tình hình như thế, văn phòng khuyên chúng tôi cẩn thận khi ra đường, không nên chụp hình, tránh đi lại trong khu vực quanh sứ quán. Chuyện chụp ảnh trên đường bị cảnh sát tịch thu hết phim thì chúng tôi đã có kinh nghiệm.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H02_KiotNem_thumb.jpg" width="305" height="384" /></a></p>
<p>Rời Accra sau vài hôm ở đó, tôi đi chơi xứ Ngà một mình, bằng xe đò lớn như Greyhound có máy lạnh. Giá vé một chiều 2,500 cedis.</p>
<p>Từ Accra đi Abidjan nếu theo đường dọc biển khoảng cách chỉ hơn 400 cây số, nhưng vì có xung đột giữa hai quốc gia, cửa biên giới phía nam không cho qua lại nên xe phải chạy lên hướng bắc, đến Kumasi là cố đô và nôi của văn hoá Ashanti, trước khi rẽ trái qua biên giới. Đường đi xa hơn nhiều, dài gần gấp đôi.</p>
<p>Xem bản đồ, mạn trên thành phổ cổ Kumasi có công viên quốc gia với tên gọi như họ của tôi &#8211; Bui National Park &#8211; nằm sát biên giới với xứ Ngà. Hai năm sống ở Togo cho tôi hiểu biết thêm về văn hoá, lịch sử khu vực. Nhiều quốc gia sau thời gian bị phương Tây đô hộ, được độc lập, dùng ngôn ngữ chính là tiếng Anh như ở Ghana, Nigeria hay tiếng Pháp như Bénin, Togo, Burkina Faso nhưng những bộ lạc vẫn giữ tiếng nói riêng của họ. Togo có người Ewe, Mina, Kabye với ngôn ngữ riêng cho từng bộ lạc. Bui ở Ghana gốc có thể là tiếng của người Ashanti chăng?</p>
<p>Khởi hành từ 6 giờ sáng. Đường đi băng ngang những đồn điền đất đỏ. Có lúc thấy xe hư nằm dọc đường trong rừng, hành khách đứng ngồi phe phẩy cho bớt cơn nóng. Tôi hơi lo. Nếu xe của mình cũng rơi vào tình cảnh đó thì không biết bao giờ mới đến nơi.</p>
<p>Gần đến Abidjan xe vào xa lộ rộng hơn với nhiều hàng xe chạy, ánh đèn điện toả sáng. Tôi ngạc nhiên khi thấy đường xá tân tiến ở đây vì đã đi qua mấy nước chung quanh nhưng không nơi nào có hệ thống giao thông tiến bộ như xứ Ngà. Nghe nói đây là khu đô thị phát triển nhất của châu Phi da đen.</p>
<p>Nằm bên một cù lao, thành phố về đêm rực sáng phản chiếu ánh đèn trên mặt nước cho tôi cảm tưởng như mình đang trở lại cuộc sống văn minh, gợi nhớ cho tôi San Francisco, Singapore. Ở góc độ so sánh Lomé của Togo với Abidjan thì như vừa từ quê lên tỉnh.</p>
<p>Sau hành trình dài 20 tiếng, đến khách sạn đã quá nửa khuya. Mệt mỏi. Tôi vùi đầu ngay vào giấc ngủ để lấy lại sức, mai còn đi chơi.</p>
<p>Buổi sáng đầu tiên tôi đón buýt xuống khu thương mại chính. Xe tiến vào trung tâm thành phố, Abidjan hiện ra với những toà bin-đinh trong ánh nắng ban mai. Boulevard de la République là đại lộ chính, nhiều chỗ khuất bóng mặt trời dưới những hàng cây xanh lá.</p>
<p>Xuống xe ở một trạm ngay trung tâm thành phố. Đi bộ vài bước, nơi góc đường thấy hai chú bé da đen đứng bán hàng sau một tủ kính phiá trước có sơn những chữ: “NEM 75F, Beignet de crevette 50F”. Thấy chữ như tiếng Việt, tôi tò mò đứng lại xem. Trong tủ kính nửa trên là những chiếc chả giò bằng độ hai ngón tay được xếp chồng lên nhau như kim tự tháp. Thì ra nem ở đây là chả giò. Nửa dưới tủ có bánh bột chiên vàng lớn bằng nửa nắm tay, như loại bánh cống đậu xanh ăn cùng bánh cuốn. Theo tên món ăn ghi bằng tiếng Pháp trên tủ thì đó bánh tôm tẩm bột chiên.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H03_KhuBuonBan_thumb.jpg" width="567" height="283" /></a></p>
<p>Tôi mua hai nem, 150F (1 USD = 500 CFA franc) coi như ăn điểm tâm. Cắn một miếng. Mùi thơm ngon quen thuộc mà lâu rồi chưa ăn làm tôi hít ha. Nhưng hương vị chưa trọn vẹn vì thiếu sà-lát, rau thơm và nước mắm như tôi thường ăn. Vừa đến xứ xa lạ mà lại gặp món ăn Việt ngay trên phố làm tôi tự hỏi từ đâu thức ăn quê hương lại lan trải đến đây. Cũng như tôi đã hết sức ngạc nhiên khi mới đến Togo thấy trong một siêu thị có bán nước mắm, có nhà hàng Việt để rồi thất vọng khi ăn phở ở đó vì quá dở.</p>
<p>Đi bộ về phiá những toà nhà cao tìm văn phòng hãng Air Afrique để mua vé cho chuyến về lại Lomé vì đi đường bộ quá xa và mệt mỏi. Rảo bước qua những con phố, ở một vài góc đường khác tôi cũng thấy những tủ kính bày bán hai món ăn Việt cạnh quầy bánh mì pa-tê, cà-phê. Tôi mua bánh tôm chiên ăn thử. Hỏi người bán hàng cho chắc là trong đó có tôm và bao nhiêu con. Anh ta trả lời hai ba con. Tôi thắc mắc vì so với giá nem, chiếc bánh tôm to mà lại rẻ hơn, 50F một chiếc. Ăn thử chỉ thấy vỏn vẹn một con tôm nhỏ, còn toàn bột.</p>
<p>Rong chơi Abidjan tôi đi qua một rạp xi-nê mang tên quen thuộc như ở Sài Gòn: Rex. Vào một quán có bàn ngoài hiên bên cạnh, gọi li cà-phê sữa nóng, ăn bánh croa-săng quyệt bơ và mứt trái cây. Ngày ở quê nhà, con nhà nghèo nên tôi chẳng được uống cà-phê, ăn sáng dưới trung tâm thành phố mà chỉ hay dạo chơi, ăn bò bía trước bưu điện hay vào Khai Trí đọc cọp sách. Sau bao năm xa cách quê nhà hôm nay nhìn quanh đây sao giống như Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Tự Do năm nào. Abidjan được gọi là Petit Paris của miền tây châu Phi. Có lẽ đúng. Cũng như Sài Gòn từng được gọi như thế của miền Viễn Đông.</p>
<p>Thành phố nhiều bóng cây xanh, bin-đinh cao tầng với kiến trúc tân kì. Gần toà nhà kim tự tháp có ngân hàng CitiBank bên cạnh những cửa hàng quần áo, túi xách, mỹ phẩm. Đông người qua lại trên phố, âu phục có, trang phục địa phương cũng có, nhiều người mặc áo trắng dài, đội nón trắng theo phong tục Hồi giáo. Phụ nữ váy dài như tu-nic hay quấn sà-rông mầu sắc rực rỡ, đẹp mắt. Giữa buổi sáng của một ngày trong tuần nhưng tôi thấy nơi đây mang vẻ tưng bừng, nhộn nhịp lạ thường. Hay tại hai năm qua sống ở một tỉnh nhỏ hiu quạnh, thiếu điện nước, nay có dịp du lịch thành phố lớn nên cho tôi cảm nhận như thế?</p>
<p>Uống cà-phê xong, qua bưu điện mua bưu thiếp gửi cho bạn bè phương xa. Mở xem niên giám điện thoại tìm tên người Việt. Họ Nguyễn có 5. Họ Trần 4 và Phạm 3. Không ai họ Bùi. Tìm nhà hàng bán thức ăn Việt có dăm bảy cái, tên Việt cũng có mà tên Pháp cũng có. Tôi ghi địa chỉ vài tiệm ở khu Plateau để dễ tìm đến khi đói.</p>
<p>Sau khi viết thư, gửi bưu thiếp xong, tiếp tục lang thang. Trời nắng nóng nhưng nhờ đường phố nhiều cây xanh bóng mát nên tôi thư thả đi bộ được lâu.</p>
<p>Boulevard de la République tràn ngập người đứng đón xe buýt vì đang là giờ tan sở giấc trưa. Nhìn những chuyến xe táp vào bến liên tục tôi thấy hệ thống chuyên chở công cộng ở đây rất hữu hiệu. Cứ đôi ba phút một chuyến, xe nào cũng đông khách đứng ngồi chen chúc. Bên đường nhảy múa sắc mầu của trang phục. Trong đời, ngoại trừ vài lần xem diễn hành dịp lễ hội ở Togo, có lẽ tôi chưa bao giờ thấy đường phố ở đâu rực rỡ đẹp như nơi đây. Những thiếu nữ, những thanh niên mặc y phục mang đặc tính địa phương nhiều mầu sặc sỡ, nổi bật.</p>
<p>Tôi ghé vào một trạm xe, đưa địa chỉ hỏi thăm tìm đường đến nhà hàng Le Dalat, 12 Rue Paris-Village. Một thanh niên chỉ hướng cho biết cũng gần đây, có thể đi bộ.</p>
<p>Theo lời chỉ đường, vào lại khu thương mại chính. Đi ngang Trung tâm Văn hoá Pháp thấy nhiều biểu ngữ, bích chương quảng bá cho thảo luận, diễn kịch, chiếu phim về Victor Hugo nhân dịp kỉ niệm 100 năm húy nhật đại văn hào Pháp. Tôi ghé xem có gì lạ nhưng đang giờ nghỉ trưa nên trung tâm đóng cửa.</p>
<p>Ngoài sân nhiều người ngồi bên bậc thang và ghế dài trên sân cỏ ăn trưa. Tìm bóng mát dưới một tàn cây để dừng chân, dò lại địa chỉ nhà hàng. Hỏi một người xem còn cách bao xa, anh cho biết cũng gần thôi.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H04_LeDalat_thumb.jpg" width="544" height="299" /></a></p>
<p>Rời trung tâm văn hoá, đi vài chục bước thấy một nhà hàng Việt, nhưng không phải tiệm đang muốn đến. Tên Kim Hoa thật to trên bảng hiệu đập vào mắt. Dưới là tủ kính bày nhiều chậu hoa che khuất phía trong. Vì đã đói nên tôi vào tiệm này thay vì tiếp tục đi tìm nhà hàng Le Dalat.</p>
<p>Bước vào trong. Người đàn ông đang ngồi ở quầy bán rượu ra đón đưa tôi vào một bàn. Lối trang trí vừa mang vẻ Việt Nam, mấy búp bê thiếu nữ đội nón lá; vừa vẻ Nhật, những chậu bonsai và vừa có nét Trung Hoa là tranh sơn thuỷ. Tờ thực đơn thuần món Việt: phở, hủ tiếu, các món rau, món sào nhưng giá khá đắt so với lương tình nguyện của tôi.</p>
<p>Tôi gọi tô hủ tiếu, 1400F và nước đá lạnh. Quán có dăm bảy khách. Nghe những người làm việc nói tiếng Việt, tôi biết là gia đình người miền Nam.</p>
<p>Người hầu bàn da đen bưng ra tô hủ tiếu nóng hổi. Nước trong, bánh trắng đục lờ lờ, phiá trên có hai con tôm trắng hồng, vài miếng thịt, ít cải bắc thảo vàng, lác đác mấy cọng hành xanh trông đẹp mắt. Như thế là đầy đủ hương vị quê nhà nơi Phi Châu xa xôi.</p>
<p>Ngon. Nhưng giá hơi đắt. Khi trả tiền tôi hỏi thăm và được biết tiệm mới mở được gần hai năm.</p>
<p>Chiều đón xe buýt qua khu Cocody. Theo sách hướng dẫn du lịch khu này có ngôi chợ nổi tiếng với nhiều trái cây nhiệt đới và những gian hàng bán đổ kỉ niệm bằng ngà, đá và đồng.</p>
<p>Xe dừng ngay trước chợ. Vừa bước xuống tôi đã bị một đám bạn hàng lôi kéo chào mua. Biết tôi là du khách, vì da vàng, nên ai cũng muốn kéo vào quầy hàng của họ để giới thiệu những món quà kỉ niệm. Tôi không ghé ngay mà rẽ vào nơi bán trái cây, rau cải. Nhiều nhất là soài cát chín. Bên cạnh có măng cầu xiêm vỏ có gai, đu đủ vàng, roi hồng. Tôi mua bốn trái roi vì từ ngày rời Việt Nam chưa được ăn lại và một trái soài, tất cả 200F.</p>
<p>Trở lại nơi bán đồ kỉ niệm lại bị níu kéo bởi năm bảy người bán. Chung quanh thấp thoáng có du khách Pháp, Nhật, Đức cũng đang bị mời mua hàng. Vô số đồ kỉ niệm bày bán la liệt dưới đất, trên kệ và dọc theo hành lang. Tôi chỉ muốn mua đồ đá hay đồng ở đây vì tay nghề mỹ thuật cao hơn những nước khác. Đồ ngà voi không biết thật giả và bị cấm mang vào Mỹ nên tôi không muốn mua.</p>
<p>Đi mua hàng ở đây, cũng như ở các nước chung quanh, là phải biết trả giá. Nghệ thuật này tôi học được từ ngày đến Togo làm việc. Hỏi giá một vài mặt nạ gỗ và tượng đồng hợp ý, người bán hàng ra giá từ 12,000F đến 20,000F. Du khách phương Tây thường không quen mặc cả nên trả giá cao. Nhất là mua đồ kỉ niệm mà trả một nửa là coi như hớ rồi, trả một phần ba có khi vẫn còn cao.</p>
<p>Một tượng đồng ông lão đang chơi nhạc cụ được ra giá 15,000F. Tôi trả 3,000. Người bán phân trần làm sao có thể bán một tượng to và đẹp thế này với giá đó. 14,000, anh ta xuống giá. Tôi lắc đầu. Giá chót 13,000. Người bán hàng xuống giá một lần nữa. Bỏ đi. Anh ta kéo lại. Giá chót của anh là bao nhiêu? Tôi trả 3,500. 12,000 là giá chót, chót, chót. Anh nhấn mạnh. Bỏ đi lần nữa. Người bán hàng nắm tay kéo lại, lấy tượng đặt vào tay tôi, kèm theo một câu: 10,000 tôi bán ngay, giá này rẻ nhất chợ. Tôi nhất định từ chối rồi qua một gian hàng khác. Như thế là không thể mua được tượng với giá 3,500F.</p>
<p>Qua nhiều quầy hàng, mặc cả tới lui tôi mua được ít món quà kỉ niệm. Hai tượng đồng cao 30 phân là một người đàn ông săn bắn và một phụ nữ phơi ngực đội thúng ra chợ rất đặc thù châu Phi, giá 8,000F. Thêm ba sâu chuỗi bằng đá giá cũng 8,000 sau khi trả giá từ 21,000F.</p>
<p>Ra khỏi chợ Cocody, ngó quanh tìm trạm xe buýt cho chuyến về thì gặp một ki-ốt đặt bên hông chợ với chữ NEM thật to. Thấy người bán là Á đông, hỏi thăm được biết là người Việt. Anh Vương Tường làm chủ ki-ốt, tuổi độ trung niên. Không như mấy tủ nem dưới phố, ki-ốt có bếp ga để chiên nóng tại chỗ và cả nước mắm chua cay ngọt phục vụ khách.</p>
<p>Nem ở đây to hơn. Bánh tôm chiên nhỏ hơn nhưng đích thực là tôm chiên tẩm bột vì chỉ có đầu con tôm nhúng vào bột với đuôi tôm lòi ra. Tôi mua 4 nem và 2 tôm, 400F.</p>
<p>Với nước mắm, vừa ăn và trò chuyện với anh Tường vì muốn biết ít nhiều về người Việt sinh sống ở đây. Anh kể món nem và tôm chiên nguyên thủy do một người Hoa sống ở Nam Vang qua Việt Nam làm ăn, sau khi cộng sản vào, ông kẹt lại đến năm 1980 qua đây và sống bằng nghề làm chả giò và tôm chiên. Những người da đen bán hàng bên khu Plateau là làm công cho ông. Theo lời anh, bánh tôm chiên nhiều bột là kiểu châu Phi vì người địa phương thích ăn nhiều bột như thế. Còn bánh của anh đúng mốt Việt Nam, bán cho khách đa số là người Pháp cư ngụ trong khu Cocody. Hỏi thăm về người Việt anh cho biết bên khu Marcory có tiệm chạp-phô Sunky, bên Plateau có nhà hàng Hoà Bình là của người Việt làm chủ.</p>
<p>Anh Tường trước có cửa tiệm trên đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn, gần toà hoà giải. Cộng sản vào anh kẹt lại đến năm 1980 được bảo trợ qua đây. Anh tưởng Côte d’Ivoire là một tỉnh ở miền nam nước Pháp chứ không biết đây là một xứ châu Phi.</p>
<p>Lúc mới qua anh cũng đi làm mướn, ít lâu sau sang lại ki-ốt để tự do buôn bán. Ngày mở cửa từ 8 giờ sáng đến 1 giờ trưa và chiều từ 4 đến 8 giờ tối. Công việc không vất vả lắm. Ngày đắt khách bán 300 nem và 100 tôm chiên. Ít khách cũng được 200 nem, dăm chục tôm. Sau gần năm năm định cư anh đã mua được chiếc xe hơi Toyota.</p>
<p>Khách hàng đa dạng như tôi quan sát thấy. Có cặp vợ chồng người Phi Luật Tân mua 100 cái chả giò. Vài bà đầm mỗi người năm, bảy cái. Trẻ con cũng thích món ăn vặt này, có 75F là chạy đến mua ngay nem. Mấy em phát âm chữ “nem” nghe rõ ràng. Mấy cô gái Algérie, mấy cô học trò bản xứ hay ăn quà cũng ghé vào mua đôi ba cái. Trong khoảng một giờ tại ki-ốt tôi ước chừng anh bán được đến hai trăm cái vừa nem rán và tôm.</p>
<p>Quá chiều tôi từ giã anh Vương lên xe buýt về nhà trọ. Khi xe dừng ở một trạm, có hành khách ngồi cạnh cửa sổ đập nhẹ vào tay tôi, rồi chỉ ra phiá ngoài. Ngó ra, qua ánh đèn là những người da đen bản xứ. Bỗng nghe từ đám đông có người hỏi lớn: “Anh người Việt Nam hả?” bằng tiếng Việt chính gốc, nghe không lơ lớ, lai lai. Tôi ngạc nhiên thấy có người da đen nói tiếng Việt sõi quá, rồi trả lời ngay: “Vâng. Tôi người Việt. Anh cũng người Việt hả?”. Thế là câu chuyện giữa hai chúng tôi bắt đầu. Anh hỏi tôi từ đâu đến, làm việc ở đây hay đi du lịch. Hành khách trên xe thấy chúng tôi nói ngôn ngữ lạ nên cười quá trời. Mọi người đã lên xuống hết nhưng tài xế vẫn chưa chạy để hai chúng tôi tiếp tục câu chuyện. Anh nhảy lên xe, nói chuyện tiếp, mời tôi lại nhà chơi vào ngày mai. Tôi nhận lời ngay và được anh chỉ cách cho tôi đón xe buýt đến nhà anh vào sáng mai, lúc 9 giờ. Trước khi từ giã, chúng tôi giới thiệu cho nhau biết tên. Đó là anh Hùng, làm việc soát vé cho công ti xe buýt, vì thế mà tài xế biết anh và đã không chạy khi chúng tôi còn đang nói chuyện với nhau.</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H05_DenThoHoiGiao_thumb.jpg" width="280" height="411" /></a></p>
<p>Treichville là khu lao động, nhiều nhà trọ, khách sạn rẻ. Hai bên những con đường quanh khu vực tràn ngập hàng quán. Tối về ra quán bên đường ngồi ăn thịt gà, bò hay dê nướng than, vừa uống bia vừa thưởng thức nhạc vang vang trong ánh đèn chỗ mờ chỗ tỏ, trong ánh lửa phập phồng của bếp than, nhìn ngắm cuộc sống của cư dân cũng vui say, nhộn nhịp. Đủ loại nhạc: châu Phi với những điệu dễ làm làm người nghe nhún nhảy, nhạc Pháp tình tứ lãng mạn và nhạc Mỹ đem đến cho tôi nỗi nhớ nhà, nhất là bài “Hotel California” thịnh hành lúc tôi rời Mỹ, giờ đang vọng ra từ một quán, vang vang bên tai.</p>
<p>Sáng hôm sau tôi qua khu Adjamé gặp anh Hùng như đã hẹn. Anh sống trong một khu dân cư trông xập xệ, nghèo. Lề đường cũng có hàng quán nhưng không nhiều như bên Treichville. Vào khu xóm này tôi như thấy mình đang trở lại khu Bàn Cờ hay Khánh Hội.</p>
<p>Anh dẫn tôi trở lại Treichville ăn sáng kiểu châu Phi. Theo sách du lịch đây là khu bình dân. Ngồi quán ngoài đường uống cà-phê, ăn bánh mì bên cạnh lò than nóng hổi đang đun nước sôi. Chúng tôi kể cho nhau nghe về đời sống. Anh Hùng mang hai dòng máu, Việt và Côte d’Ivoire. Bố theo lính Pháp sang chiến đấu tại Việt Nam thời thập niên 1950. Anh mới được bảo trợ qua xứ này từ năm 1980. Nghĩa là anh Hùng đã sống ở Việt Nam có đến ba chục năm. Nhìn nước da đen của anh tôi nhớ bạn Phước học cùng lớp thời trung học ở trường Nguyễn Bá Tòng. Phước cũng là đứa con lai da đen, vui tính, rất thích kể chuyện và nhất là thích xướng giọng nhiều bài hát cộng đồng. Như thế anh Hùng hơn tôi vài tuổi, sống ở Việt Nam lâu hơn tôi vì năm 1975 tôi đã qua Mỹ và giờ làm việc ở châu lục này. Hai năm qua tôi không có dịp nói tiếng Việt nhiều như hôm nay.</p>
<p>Nghe kể về bố và cuộc đời anh, tôi liên tưởng đến một thời dư luận Sài Gòn xôn xao khi Tổng thống Cộng hoà Trung Phi Bokassa đi tìm con gái mà ông bỏ lại Việt Nam thời lính đã trở thành câu chuyện “cô bé lọ lem”. Anh Hùng không có phúc như thế, nhưng nay cũng đã ra khỏi Việt Nam là điều may mắn cho anh. Các lãnh đạo ở châu Phi tôi biết còn có Tổng thống Gnassingbé Eyadéma của Togo cũng là lính viễn từng chinh phục vụ ở Đông Dương.</p>
<p>Ăn sáng xong anh Hùng đưa tôi đi quanh chợ. Đây là khu chợ bình dân nổi tiếng buôn bán sầm uất nhất thành phố. Nhiều cửa hàng quần áo. Anh chỉ cho thấy mấy tiệm tạp hoá và thực phẩm của người Việt, một tiệm tên Nam Định với nhiều đồ gia dụng nhôm nhựa treo phiá trước.</p>
<p>Tôi mời anh đi ăn trưa và đề nghị nhà hàng Le Dalat mà anh có biết.</p>
<p>Lên xe buýt. Đến nơi mới thấy Le Dalat không xa Kim Hoa chỗ ăn trưa hôm qua, chỉ cách nhau mươi bước.</p>
<p>Ngoài hiên có người đàn ông gốc Á đang phì phào thuốc lá. Chưa đến giờ mở cửa nhưng ông mời chúng tôi vào sân trò chuyện. Khi biết tôi là người Việt đến từ Hoa Kỳ, ông kể cho nghe về những chuyến đi Mỹ của ông, đến San Francisco, ghé San Jose ăn Phở Saigon, xuống nam California ăn Phở 79. Biết tôi thích phở và là người đến từ California, ông lên tiếng bảo đảm: “Nhà hàng của tôi không quảng cáo rầm rộ, nhưng bảo đảm với anh là ngon và rẻ vô địch. Không ai bì được.” Xin phép hỏi tên. Ông giới thiệu quý danh Đỗ Đắc Lộc, nguyên tổng lãnh sự Việt Nam Cộng Hoà tại đây trước năm 1975. Sau khi miền Nam đầu hàng ông và gia đình chọn ở lại đây định cư và mở quán ăn vài năm nay.</p>
<p>Nhà hàng bên trong không lớn lắm. Trang nhã với mấy bình sứ Việt, ít lồng đèn Tầu, vài bức tranh trên tường, hoa trên bàn.</p>
<p>Tôi muốn ăn phở. Anh Hùng cũng thế. Tôi gọi hai phở bắc và dĩa bì cuốn ăn thêm. Bác Lộc cho biết không như những quán ăn Việt khác với thực phẩm nhập cảng từ Pháp, còn Le Dalat nhập cảng từ Hoa Kỳ. Mỗi năm bác đều qua California nghỉ hè, khi về đem theo nhiều tấn hàng.</p>
<p>Trên tờ thực đơn, phiá sau có bài báo New York Times năm 1982 giới thiệu nhà hàng, nội dung khen Le Dalat thuần túy Việt, ngon và rẻ. Tác giả cũng dùng chữ “nem” trong bài để nói về món chả giò của quán và cách ăn là cuốn với sa-lát, rau thơm, chấm nước mắm là ngon hết ý.</p>
<p>Hỏi về lịch sử món nem trên đường phố bác Lộc nói do mấy ông lính Lê Dương đem về nước sau thời gian phục vụ ở Đông Dương.</p>
<p>Người con của bác bưng ra hai tô phở tái bốc khói, thơm phức. Anh Hùng hỏi giá sống, bác nói mấy bữa nay nóng không làm giá được. Tôi hỏi rau thơm thì có húng quế. Tôi chầm chậm thưởng thức món quốc hồn quốc tuý của quê hương nơi vùng đất lạ. Phải công nhận phở Le Dalat vừa rẻ, 900F một tô lớn, thơm ngon không thua gì phở 13 ở San Jose. Bì cuốn giá 730F cũng ngon, nhất là mùi húng rất đượm, chắc do bởi khí hậu nhiệt đới giống ở Việt Nam.</p>
<p>Rời quán Le Dalat chúng tôi chia tay nhau vì đến giờ anh Hùng phải đi làm. Tôi cám ơn anh đã bỏ thời giờ đón tiếp và hướng dẫn tham quan ít nơi ở xứ Ngà, cho tôi hiểu biết hơn về đời sống thường nhật, về người Việt ở đây. Tôi hẹn anh có dịp gặp nhau bên Mỹ.</p>
<p>Mấy ngày du lịch Abidjan tôi còn gặp mấy nhà hàng bán thức ăn Việt nữa: Baguette d’Or, Kim Sơn, Hoà Bình, Santal, Mekong và ghé ăn thử vài nơi với các món cơm, sào. Nhưng ngon, rẻ và đầy hương vị Việt Nam nhất là Le Dalat.</p>
<p>Lúc ăn ở Le Dalat, đọc bài trên <em>New York Times</em> có ghi nhận số người Việt sinh sống ở đây hơn 3 nghìn.</p>
<p>Ở một nơi rất xa quê hương, chỉ có vài nghìn người Việt trong số hơn một triệu cư dân mà Abidjan cũng có đến chục nhà hàng, nhiều ki-ốt bán nem, bánh tôm chiên bên đường, có vài tiệm thực phẩm Việt. Món ăn Việt như thế cũng hấp dẫn và được phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới đấy chứ.</p>
<p>(Mùa Xuân 1985)</p>
<p>© damau.org, Buivanphu</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong" border="0" alt="BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2012/02/BuiVanPhu_20120129_NemPho_H06_TuongDong_thumb.jpg" width="200" height="282" /></a></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>Hình:</strong></p>
<p>H01: Thành phố Abidjan năm 1985 (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H02: Ki-ốt bán nem rán và tôm chiên của anh Vương Tường (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H03: Khu buôn bán bên đường (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H04: Nhà hàng Le Dalat (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H05: Đền thờ hồi giáo (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H06: Cặp tượng đồng là đồ kỉ niệm tác giả còn giữ đến nay (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/23299/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Gi&#225;ng Sinh ở nơi xa nh&#224;</title>
		<link>http://damau.org/archives/22682</link>
		<comments>http://damau.org/archives/22682#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 24 Dec 2011 08:02:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi văn Phú</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chụp và Chép]]></category>
		<category><![CDATA[Du lịch]]></category>
		<category><![CDATA[Ký]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/22682</guid>
		<description><![CDATA[Giáng Sinh đầu tiên người trong giáo xứ bảo trợ đưa mấy anh em vào rừng chặt thông đem về nhà trưng. Ra cổng trả tiền theo chiều cao của cây. Hai mét, giá 20 đô-la. Lần đầu tiên lạc vào rừng thông, mùi nhựa và hương thông thoang thoảng ... cho tôi cảm giác lâng lâng.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H01_HoatCanh.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H01_HoatCanh" border="0" alt="BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H01_HoatCanh" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H01_HoatCanh_thumb.jpg" width="484" height="266" /></a></p>
<p align="center"><em>Hoạt cảnh đón Chúa Hài Đồng do các em Thiếu nhi Thánh Thể thực hiện (ảnh Bùi Văn Phú)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Giáng Sinh đầu tiên tôi xa gia đình là ở miền đất cách quê hương một đại dương bao la. Xa cả nửa vòng trái đất.</p>
<p>Năm đó người trong giáo xứ bảo trợ đưa mấy anh em vào rừng chặt thông đem về nhà trưng. Ra cổng trả tiền theo chiều cao của cây. Hai mét, giá 20 đô-la. Lần đầu tiên lạc vào rừng thông, mùi nhựa và hương thông thoang thoảng trong gió se lạnh cho tôi cảm giác lâng lâng. Mơ mộng. Nhớ nhà. Sài Gòn gần độ Giáng Sinh có năm trời se lạnh, trên nhiều con phố cũng bày bán thông, nhưng hầu hết là thông kim tuyến. Không chút hương thơm.</p>
<p>Năm đó tôi dự lễ nửa đêm đầu tiên nơi xứ lạ. Giáo đường vang vang thánh ca. Tiếng Anh còn lõm bõm, chưa nghe ra ca từ của “Silent Night, Holy Night”. Qua điệu nhạc quen thuộc tôi theo giọng ca đoàn ngân nga trong đầu: “Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng. Đất với Trời. Se chữ đồng…”.</p>
<p>Xanh của thông. Trắng của tuyết. Đỏ của Santa Claus. Đèn mầu rộn ràng nhấp nháy. Bên cạnh cây thông lòng tôi không reo vui mà buồn xám ngắt. Nỗi nhớ nhà buốt như cắt da.</p>
<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H02_GiaoDan.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H02_GiaoDan" border="0" alt="BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H02_GiaoDan" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H02_GiaoDan_thumb.jpg" width="320" height="438" /></a></p>
<p align="center"><em>Người tị nạn ở Galang đón mừng Giáng Sinh (ảnh Bùi Văn Phú)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thập niên sau tôi lại đón Giáng Sinh xa nhà, nơi một vùng đất mới. Xa nước Mỹ. Xa cả Việt Nam.</p>
<p>Năm đó tôi công tác tại xứ Togo bé nhỏ ở châu Phi. Dạy học ở tỉnh, những kì nghỉ lễ thường về thủ đô Lomé ở chơi với đôi vợ chồng bạn thân đồng hành.</p>
<p>Một dịp, chị bạn có mẹ từ bang Oregon qua thăm và muốn đi lễ đêm Giáng Sinh. Cả ba chúng tôi đều là người Ki-tô giáo, gia đình bạn đạo tin lành còn tôi công giáo. Đã lâu không ai đi lễ đêm Giáng Sinh. Phần tôi vì thời tiết lạnh ở Hoa Kỳ nên nhiều năm qua ngại không ra đường lúc đêm khuya. Đôi vợ chồng bạn, trước khi sang Togo đã làm việc nhiều năm tại một làng nhỏ bên xứ Nepal nên cũng không có cơ hội đi lễ. Tối nay theo đề nghị của người mẹ muốn có những hiểu biết hơn về đời sống, sinh hoạt tôn giáo của dân Togo nên chúng tôi rủ nhau đi lễ nửa đêm mừng đón Giáng Sinh nơi xứ lạ.</p>
<p>Togo có dân số hơn 5 triệu, đa số theo đạo thờ cúng vật tổ, 51%; Thiên Chúa giáo 30%, Hồi giáo 19%.</p>
<p>Trời ấm áp. Bên ngoài nhà thờ chính toà hai bên giăng đèn màu từ tháp cao đổ xuống. Bên trong đã đông giáo dân. Đang ngó tìm chỗ trống, một ông quản thấy chúng tôi là người ngoại quốc nên mời lên ngồi vào những hàng ghế đầu dành cho quan khách và người nước ngoài, ngay trước tượng Chúa Hài Đồng.</p>
<p>Thánh lễ bằng tiếng Pháp. Tôi đủ khả năng hiểu và vì cũng quen với nghi thức phụng vụ công giáo nên dễ hiệp thông, hướng tâm hồn lên cầu nguyện. Ca đoàn hát tiếng Pháp và tiếng địa phương, Ewe hay Mina tôi không rõ. Khi điệu nhạc quen thuộc của bài thánh ca trổi lên, âm vang tiếng Pháp và tiếng địa phương hoà vào nhau, lòng tôi lại reo lên lời ca tiếng Việt: “Đêm Thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng…”</p>
<p>Tan lễ, chúng tôi về nhà bạn ăn uống, kể cho nhau nghe những kỉ niệm Giáng Sinh. Bạn bỏ vào máy một băng nhạc với nhiều bài ca mà tôi đã quen thuộc. Khi nghe Anne Murray hát “I’ll be home for Christmas” lòng tôi chùng xuống những nỗi nhớ nhà.</p>
<p>Anh chị kể về những ngày làm việc ở Nepal, từ làng quê ra thị xã phải di chuyển bằng lừa, tốn đến 8 tiếng. Ở đó không có nhà thờ mà chỉ có ngôi chùa. Tôi kể cho bạn nghe về những làng quê công giáo theo linh mục di cư vào nam năm 1954, trong đó có bố mẹ tôi, và lập nên những họ đạo mới ở vùng Hố Nai, Gia Kiệm, Ngã ba Ông Tạ. Nơi đây tôi được sinh ra và đã tham gia nhiều cuộc rước kiệu quanh những xóm ngõ khi còn nhỏ.</p>
<p>Người mẹ đến từ nước Mỹ xa xôi tỏ vẻ vui vì được biết đến nhiều sinh hoạt tôn giáo và hài lòng vì đã tham dự thánh lễ nửa đêm ở Togo. Còn chúng tôi sẽ không bao giờ quên được kỉ niệm Giáng Sinh này, vì đã lâu rồi không đi lễ đêm, tối nay tình cờ lại được đón tiếp trịnh trọng khi vào thánh đường.</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H03_SantaClaus.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H03_SantaClaus" border="0" alt="BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H03_SantaClaus" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/12/BuiVanPhu_20111222_GiangSinh_H03_SantaClaus_thumb.jpg" width="404" height="393" /></a></p>
<p align="center"><em>Santa Claus phát quà cho trẻ em trong trại tị nạn (ảnh Bùi Văn Phú)</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Hai năm sau tôi công tác ở Galang, Indonesia. Những ngày cận lễ, chiều chiều trên loa nhà thờ phát ra những bản tình ca Giáng Sinh quen thuộc thuở nào. Giữa đảo tị nạn, giọng hát Khánh Ly, Thanh Lan, Sỹ Phú, Lệ Thu đưa tôi về khung trời kỉ niệm xa xưa:</p>
<p><em>Mùa Giáng Sinh xưa anh hẹn anh sẽ về</em></p>
<p><em>Ngày đó Noel bên hội sao trần thế      <br />Anh có nhớ không anh       <br />Em mặc màu áo xanh lam       <br />Xanh như liễu Đà Lạt       <br />Một chiều đông Giáng Sinh…</em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Lại một Noel nữa      <br />Mấy mùa giáng sinh rồi       <br />Anh ở đồn biên giới       <br />Thương về một khung trời       <br />Chắc Đà Lạt vui lắm       <br />Mimosa mimosa nở vàng       <br />Anh đào khoe sắc thắm       <br />Hương ngào ngạt không gian…</em></p>
<p>Sân nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm đông nghẹt giáo dân đứng, ngồi. Hành lang trước cửa nhà thờ được biến thành khán đài cho các em Thiếu nhi Thánh Thể, các bạn Thanh niên Công giáo và ca đoàn trình diễn thánh ca, làm hoạt cảnh, đóng kịch mừng đón Chúa Hài Đồng.</p>
<p>Sinh hoạt đêm nay như ở một họ đạo nơi quê nhà. Galang tuy xa quê hương nhưng không khí đón Giáng Sinh rất giống Việt Nam trong những ngày trước năm 1975. Đèn, sao lấp lánh. Hình ảnh máng cỏ, hang đá, những tiếng hát, tiếng đàn gợi lại cho tôi nỗi nhớ nhà:</p>
<p><em>Đàn ôi cứ rung những điệu réo rắt</em></p>
<p><em>Hát khen con một Chúa Trời, rày sinh xuống cõi đời      <br />Hỡi người dương thế lặng nghe cung đàn       <br />Mau tìm cho tới thờ kính Vua giáng trần…</em></p>
<p>Thánh lễ do cha Hùng và cha Padmo chủ tế. Bài giảng gợi lên ý nghĩa hai chữ “tị nạn” trong tinh thần Phúc âm đã là niềm an ủi và hi vọng cho thuyền nhân trên đảo. Đó là hình ảnh thân quen của gia đình Nazarét, một gia đình tị nạn khi Giuse và Maria phải bế con bỏ quê hương Do Thái trốn sang Ai Cập vì Vua Herôđê đang tìm cách giết Giêsu.</p>
<p>Tôi hoà mình cùng cộng đoàn, hướng tâm hồn cầu nguyện cho tự do trên quê huơng Việt Nam, cho hoà bình thế giới, cho gia đình còn ở quê nhà được an vui, cho những người tị nạn sớm được định cư.</p>
<p>Hơn mười năm xa nhà, nhiều khi chỉ thầm hát trong lòng những bản thánh ca quen thuộc khi Giáng Sinh về. Đêm nay tôi cất giọng cao, cùng hoà ca với ca đoàn: “Đêm thánh vô cùng. Giây phút tưng bừng. Đất vời trời se chữ đồng. Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa…”</p>
<p align="center">*</p>
<p>Sau hơn hai chục năm xa quê hương, tôi có dịp về lại Việt Nam dịp Giáng Sinh. Năm đó gia đình dự lễ nửa đêm ở nhà thờ chính toà Phủ Cam. Vì quen với một linh mục nên chúng tôi được đưa lên ngồi cùng với các tu sĩ và khách nước ngoài trong đó có hai thiện nguyện viên từ Hoa Kỳ đang dạy tiếng Anh tại Đại học Huế. Lòng tôi hân hoan vì được một lần mừng đón Giáng Sinh trên quê hương với các nghi thức thuần Việt qua những điệu múa, lời ca tiếng nhạc, câu kinh phụng vụ.</p>
<p>Tan lễ ra, sân nhà thờ không còn chỗ chen chân. Đèn màu trang trí trên hai tháp chuông chỉ đủ toả mờ sáng nhưng mọi người hình như từ nhiều con ngõ đang đổ về đây để chứng kiến một điều gì đó. Chúng tôi phải vất vả chen chân mới ra đến phố Lê Lợi cũng đông người qua lại. Người công giáo chiếm chưa đến 10% dân số Việt Nam, nhưng hình như ở thành phố cổ kính này đêm nay ai cũng ra đường vui chơi như thể Giáng Sinh là lễ hội của mọi người.</p>
<p>Vào nhà hàng trong khách sạn Century Riverside ăn tiệc mừng Giáng Sinh. Nhìn chung quanh có người Việt từ nước ngoài cùng nhiều khách ngoại quốc. Nhạc phát ra toàn những ca khúc tiếng Anh. Khi lời ca của “I’ll be home for Christmas” vang vọng bên tai, tôi bỗng nhớ nhà ở Mỹ vì bên đó bây giờ bố mẹ, anh em và bạn bè cũng đang mừng lễ mà thiếu vắng gia đình tôi.</p>
<p>Tôi cảm thấy mình lại như đang đón Giáng Sinh ở một nơi xa. Rất xa nhà.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/22682/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ho&#224;ng Xu&#226;n Sơn: nơi t&#244;i sinh sống th&#236; h&#225;t nhạc Trịnh cũng n&#234;n d&#232; dặt</title>
		<link>http://damau.org/archives/19866</link>
		<comments>http://damau.org/archives/19866#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 06 May 2011 07:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi văn Phú</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Phỏng vấn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/19866</guid>
		<description><![CDATA[Chiến tranh đã làm cho con người quá ngao ngán, mệt mỏi, lo sợ… nên cho dù bất cứ ai vẫn luôn luôn khao khát có được một đời sống yên lành. Tôi nhớ vẫn thường hát chung với anh chị em sinh hoạt cùng thời những lời ca mà tôi thấy không phải là ru ngủ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p><em>Hoàng Xuân Sơn thời trẻ là một trong những người khai sinh ra Quán Văn, tụ điểm văn nghệ của sinh viên Sài Gòn từ những năm giữa thập niên 1960. Khởi sự làm thơ năm 1963 và đã có sáng tác đăng trên Văn, Nghiên cứu văn học, Khởi Hành trước năm 1975 và trên nhiều mạng văn học, tuyển tập văn chương tại hải ngoại. Tốt nghiệp Đại học Văn khoa Sài Gòn và cao học chính trị kinh doanh, ông từng làm công chức và dạy học ở Việt Nam trước khi qua định cư tại Montréal cuối năm 1981. Một số tác phẩm của ông gồm Viễn phố (thi tập, 1988), Huế buồn chi (thi tập, 1993), Lục bát Hoàng Xuân Sơn (2004). Trong tương lai ông sẽ phát hành phóng bút “Cũng cần có nhau” ghi lại sinh hoạt của Quán Văn và của thanh niên, sinh viên miền Nam trong giai đoạn 1965-75.</em></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center">* * *</p>
<p align="center">&#160;</p>
<p><i><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H01_HXSon_.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 5px 12px 5px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H01_HXSon_" border="0" alt="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H01_HXSon_" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H01_HXSon__thumb.jpg" width="243" height="188" /></a>1. Ông thân với Trịnh Công Sơn, xin ông cho biết đã quen nhạc sĩ trong hoàn cảnh như thế nào?</i></p>
<p>- Thưa anh, nguyên thủy thế này. Lúc sinh thời, thân phụ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là bác Trịnh Xuân Thanh và ông cụ tôi là hai người bạn tri kỷ, chí thân. Cụ tôi không may mất sớm. Cứ mỗi lần tới ngày giỗ kỵ, bác Thanh lúc nào cũng bày biện chén bát, trà rượu ngồi đối diện nói chuyện với người đã khuất như thể cụ tôi vẫn còn trên dương thế! Do hoàn cảnh địa lý và kinh tế, gia đình Trịnh Công Sơn ở phía tả ngạn trong khi gia đình tôi cư ngụ phía hữu ngạn thành phố Huế, thời nhỏ chỉ có những người lớn giữa hai nhà giao tiếp với nhau. Bọn trẻ chúng tôi không được sinh sống gần nhau như hàng xóm láng giềng nên không có nhiều kỷ niệm chung dù giao tình giữa hai gia đình khá lớn. Cho đến khoảng 1965-66, do một cơ duyên không định trước, anh Trịnh Công Sơn từ Đà Lạt xuống còn tôi từ Huế vào Sài Gòn trọ học và chúng tôi đã gặp nhau ở môi trường sinh hoạt thanh niên sinh viên, khởi thủy từ cơ quan CPS tức Chương trình Phát triển Sinh hoạt Học đường, rồi Quán Văn sau đó… Tình đệ huynh và tình bằng hữu văn nghệ đã được đơm bông kết trái từ đấy.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>2. Còn nhạc Trịnh đã đến với ông đầu tiên trong đời vào lúc nào? Ông còn nhớ bài hát đầu tiên nào của Trịnh Công Sơn đã quyến rũ ông?</i></p>
<p>- Bài nhạc Trịnh quyến rũ đầu đời chính là ca khúc “Diễm xưa”. Chẳng là lúc bài hát ra đời, một nhóm bạn học chúng tôi đang sửa soạn ôn luyện thi tú tài ban triết ở một vùng biển vắng là biển Thuận An, Huế và đã bị choáng váng trước lời ca trừu tượng, diễm ảo và mới lạ của “Diễm xưa.”</p>
<p><em>Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ      <br />dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…       <br />Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động       <br />làm sao em nhớ những vết chim di…</em></p>
<p>Lời ca kết hợp với không gian lúc bấy giờ: sóng biển, cát trắng, thuỳ dương, chim chóc… đã ghi lại rất nhiều ấn tượng cho bọn tôi. Chính tôi cũng đã mượn một nhóm chữ trong ca khúc này để làm nhan sách cho những chương phóng bút viết về thời kỳ Quán Văn: “Cũng Cần Có Nhau.”</p>
<p><i>3. Thời Việt Nam Cộng hoà ông đã vào đời làm công chức, ông có nhớ gì về những cuốn băng “Hát cho quê hương Việt Nam” của Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly?</i></p>
<p>- Tôi có vào thăm blog của anh Phú, thấy băng nhạc “Hát cho Quê hương Việt Nam” với Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn và có ghi là do Hội quán Cây Tre phát hành. Băng nhạc này trộn lẫn nhiều loại ca khúc của Trịnh Công Sơn, từ nhạc tình, ca khúc da vàng và nhạc đấu tranh về sau mà chắc chắn là mình đã có nghe đâu đó.</p>
<p>Xin nói thêm về những băng nhạc đầu tiên của Trịnh Công Sơn. Theo chỗ tôi được biết, băng nhạc đầu tiên Trịnh Công Sơn-Khánh Ly thu âm được thực hiện tại Phòng Thông tin Hoa Kỳ tức JUSPAO nằm cạnh rạp chiếu bóng Rex cũ do sự sắp xếp của một nhân viên cơ quan này tên Hải. Băng nhạc “Hát cho quê hương Việt Nam” ghi người hòa âm là Duy Hải, không biết có phải là cùng một người, vào thời điểm Quán Văn đang sinh hoạt, khoảng 1966-67 trước khi Hội quán Cây Tre thành hình. Băng nhạc này chỉ thu thanh những ca khúc trong hai tập nhạc của Trịnh Công Sơn là <i>Ca khúc Da Vàng</i> và <em>Những tình khúc Trịnh Công Sơn</em>. Phần đệm nhạc đơn sơ chỉ có cây đàn thùng của tác giả.</p>
<p>Nhạc đấu tranh mà Khánh Ly hát trong “Hát cho quê hương Việt Nam” là những ca khúc thuộc hai tập nhạc <i>Kinh Việt Nam</i> và <i>Ta phải thấy mặt trời</i>. Tuy nhiên việc ca diễn và thu âm hai tập nhạc này lúc đó lại không có mặt Khánh Ly vì lý do gì tôi không được rõ. Sau khi hoàn tất hai tập nhạc này, Trịnh Công Sơn đã nhờ một số thân hữu tập dượt và trình diễn trước công chúng độ vài ba lần. Thành phần ban ca gồm có một số chị bên ca đoàn Trùng Dương mà tôi chỉ còn nhớ tên chị Tường Vân, chị Cúc. Các giọng ca nam gồm có Trịnh Công Sơn, Miên Đức Thắng, Hoàng Thi Thao, Hoàng Xuân Giang, Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Sơn. Tôi không nhớ hết và có thể còn ghi sót tên.</p>
<p>Những ca khúc trong hai tập nhạc <i>Kinh Việt Nam</i> và <i>Ta phải thấy mặt trời</i> được thu thử lần đầu tiên tại Huế ở tư gia Trịnh Công Sơn với sự góp giọng của nữ ca sĩ Hà Thanh, Trịnh Công Sơn và tôi vào khoảng 1972. Lần thu thử này cũng chỉ với một cây đàn thùng do Trịnh Công Sơn đàn đệm. Tuy nhiên những bài ca này đã được thu âm chính thức cùng năm 1972 tại phòng thu Pat Lâm ở Chợ Lớn qua sự trình bày của ba giọng ca nữ là Vân Hòa/Vân Quỳnh/Vân Khanh là những ái nữ của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và ca sĩ Minh Trang và hai giọng ca nam là Trịnh Công Sơn và tôi. Cũng với tây ban cầm Trịnh Công Sơn đệm nhạc chính, tôi phụ đệm và một người khác cầm phách gõ nhịp. Băng nhạc này đã được phát hành rộng rãi sau đó do người em ruột của Trịnh Công Sơn là anh Trịnh Xuân Tịnh thực hiện và coi sóc. Anh và bạn đọc có thể vào nghe lại băng nhạc này trên mạng <a href="http://www.saigonline.com">www.saigonline.com</a> hoặc <a href="http://www.nhaccuatui.com">www.nhaccuatui.com</a></p>
<p><i></i></p>
<p><i><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H02_QuanVan_1967.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 4px 12px 5px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H02_QuanVan_1967" border="0" alt="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H02_QuanVan_1967" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H02_QuanVan_1967_thumb.jpg" width="296" height="185" /></a>4. Trong bài viết về sự ra đời của Quán Văn, ông có nhắc đến một số quán văn nghệ khác theo kiểu Quán Văn, như Thằng Bờm, Hầm Gió, Hội quán Cây Tre. Một số băng nhạc Hát cho Quê hương Việt Nam do Hội quán Cây tre phát hành. Sinh hoạt của Hội quán Cây Tre và Quán Văn giống nhau và khác nhau ra sao?</i></p>
<p>- Quán Văn hầu như được thành lập từ công, sức và tim óc của một số bạn trẻ nhiệt thành, tự nguyện cả về phương tiện vật chất lẫn tài chánh cho nên mang dáng vẻ văn nghệ thuần chất, nguyên thuỷ và trẻ trung, nói nôm na là hơi “bụi đời” một chút. Thằng Bờm ra đời cũng cùng trong ý hướng đó, được dựng nên ở một địa điểm khác, vẫn do một hai anh em thành viên của Quán Văn chăm sóc. Đến Hầm Gió do Nam Lộc điều hành, rồi Hội quán Cây Tre, do Phạm Văn Sơn là một người anh của Khánh Ly trông coi thì đã nhạt dần tính chất văn nghệ thô sơ lúc ban đầu của Quán Văn. Các quán này trang hoàng nội thất trang trọng, có hơi hướm phòng trà và nghiêng về mục đích thương mãi. Ở Hội quán Cây Tre thường trực có Khánh Ly, Vũ Thành An, Thế Dung v.v… ca diễn. Bộ ba Giang/Sơn/Toại (Hoàng Xuân Giang, Hoàng Xuân Sơn, Ngô Vương Toại) chúng tôi dù là tài tử cũng có đến Cây Tre hát chơi đôi lần những bài ca trong <i>Kinh Việt Nam</i> và <i>Ta phải thấy mặt trời</i>.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>5. Có người cho rằng nhạc viết về quê hương, về chiến tranh của Trịnh Công Sơn mang tính phản chiến, thân cộng nên bị cấm, bị kiểm duyệt nhưng trong các tiệm sách lại thấy bày bán </i>Kinh Việt Nam<i>, </i>Ca khúc Da Vàng<i>. Ông có biết gì về việc nhạc Trịnh Công Sơn bị cấm, hay kiểm duyệt?</i></p>
<p>- Một dấu hỏi lớn? Thật tình tôi cũng lấy làm lạ là trong quá trình hoạt động ca nhạc của Trịnh Công Sơn, từ việc phát hành sách nhạc đến việc trình diễn trước công chúng hầu như thoát khỏi bàn tay kiểm duyệt. Trong lúc sách báo miền nam Việt Nam vẫn phải chịu sự kiểm soát của lưỡi kéo này nếu mang nội dung bất lợi như phản chiến, thân cộng chẳng hạn. Có sự bảo bọc, che chở nào lớn lao chăng? Nhưng tôi e cũng khó lòng, vì mỗi cơ quan công quyền đều độc lập trong việc hành xử quyền năng của mình, không dễ dầu gì can thiệp nội bộ. Họa chăng chính quyền đương thời giả bộ tảng lờ với dụng ý giăng một mẻ lưới tóm gọn những thành phần thân cộng hoặc cộng sản nằm vùng lợi dụng thời cơ lỏng lẻo để thò đầu vẫy đuôi?</p>
<p><i></i></p>
<p><i>6. Có những sinh hoạt với sinh viên thời bấy giờ, có bài hát nào về quê hương, chiến tranh hay thân phận mà đến nay ông còn thuộc lời ca?</i></p>
<p>- Chiến tranh đã làm cho con người quá ngao ngán, mệt mỏi, lo sợ… nên cho dù bất cứ ai vẫn luôn luôn khao khát có được một đời sống yên lành. Tôi nhớ vẫn thường hát chung với anh chị em sinh hoạt cùng thời những lời ca mà tôi thấy không phải là ru ngủ, mà như có một cái gì đó đánh động lòng người thẳm sâu:</p>
<p><em>Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu      <br />một trăm năm đô hộ giặc Tây       <br />hai mươi năm nội chiến từng ngày       <br />gia tài của mẹ để lại cho con       <br />gia tài của mẹ một nước Việt buồn…</em></p>
<p>hoặc:</p>
<p><em>Giọt nước mắt thương chim, chim bỏ xa rừng      <br />giọt nước mắt thương đêm, đêm đẩy xe tang       <br />giọt nước mắt thương anh trên vận nước điêu linh       <br />giọt nước mắt quê hương ôi còn chẩy miên man…       <br /></em></p>
<p>và niềm mơ ước:</p>
<p><em>Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi không ngừng      <br />Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam, tôi đi chung cuộc mừng       <br />và mong sẽ quên chuyện non nước mình.       <br /></em></p>
<p>Như anh Phú thấy đó, dù nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn hay nhạc tác động dựng xây của Nguyễn Đức Quang:</p>
<p><em>Không phải là lúc ta ngồi đặt vấn đề nữa rồi      <br />phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới… </em></p>
<p>hay:</p>
<p><em>Xin vươn vai ngó nhau cho gần      <br />đi hiên ngang bước hai chân trần       <br />nhìn nhau ta nói thơm cho người Việt Nam…</em></p>
<p>thì cũng vẫn đứng chung được, hòa hợp được trên mảnh đất Quán Văn nhỏ bé hay trong môi trường sinh hoạt thanh niên sinh viên rộng lớn hơn nơi các khuôn viên học đường. Tôi nghĩ đó là những bài ca đầy nhiệt huyết, xuất phát từ tận đáy tim, từ những tấm lòng còn mang nặng nợ quê hương đất nước.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>7. Ông có thể kể lại một vài sinh hoạt với Trịnh Công Sơn ở Quán Văn còn in đậm trong kí ức?</i></p>
<p>- Chúng tôi, những người bạn Quán Văn cùng Trịnh Công Sơn, ngoài những việc vàng riêng tư và những giờ sinh hoạt chung cho quán, thường có những ngày cuối tuần tà tà thả bộ rong chơi ngắm phố phường, la cà những quán xá khác như Chung Nhuận Hi, Phạm Thị Trước, Givral, Brodard, nhưng đa số chọn Cái Chùa – La Pagode &#8211; làm nơi gặp gỡ, đấu láo. Đêm về, sau khi vãn khách, bọn chúng tôi lại quây quần dưới mái nhà dù dã chiến của Quán Văn, với thau rượu lớn múc chuyền tay, kể chuyện, ngâm thơ, đàn hát cho nhau nghe, có khi thức tới trời rạng sáng với một vài người bạn phương xa ghé thăm. Bầu không khí thật là thân thiện, ấm cúng đã để lại quá nhiều kỷ niệm êm đềm. Kỷ niệm mà Hoàng Ngọc Tuấn đã thao thức cùng và viết nên những thiên truyện thơ mộng, ngậm ngùi như<em> Ở một nơi ai cũng quen nhau, Vĩnh biệt phố</em>… Sinh hoạt đáng nhớ? Không, nói đúng hơn kỷ niệm sâu sắc, gắn bó chính là những lần tôi xâm mình ôm đàn thế Trịnh Công Sơn đệm cho Khánh Ly hát trước công chúng dù chỉ với vài ba gam quờ quạng.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>8. Trong thời gian sinh hoạt với nhau có bao giờ anh nghe Trịnh Công Sơn tâm sự nhạc sĩ nhìn cuộc chiến tranh ra sao?</i></p>
<p>- Không! hiếm khi anh Sơn bộc bạch tâm sự về chiến cuộc vì hầu hết quan niệm của anh đã biểu tỏ trong lời ca. Trịnh Công Sơn cũng thường dẫn giải cho chúng tôi những lời ca của anh, cho dù tưởng tượng, cũng có khi rút từ kinh nghiệm và hoàn cảnh thực tế. Ví dụ: “Mưa hồng” là con đường rưng rưng phượng đỏ. “Hàng cây lá xanh gần với nhau” là những tàng cây long não trên đường Lê Lợi &#8211; Huế. “Ngàn cây thắp nến lên hai hàng” là buổi chiều nắng đã tắt dưới thấp, chỉ còn những đọt nắng chạy dài trên hàng cây cao… Hoặc trong ca khúc “Hát trên những xác người” sáng tác sau Mậu Thân: <i>Mẹ vỗ tay reo mừng xác con, chị vỗ tay hoan hô hoà bình, người vỗ tay</i> <i>cho thêm thù hận, người vỗ tay xa dần ăn năn</i>, mà có người cho là vô lý, thì chính là hình ảnh thấy được trong cuộc chiến Mậu Thân &#8211; một bà mẹ chạy theo xe kéo xác con, vừa khóc kể vừa cười sằng sặc, vừa vỗ tay hò hát như người điên.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>9. Trước năm 1975, Trịnh Công Sơn đã viết:</i></p>
<p>Ðêm nay hòa bình sao em nhỏ chưa vui    <br />Hãy bước ra đây nhìn phố ngập người     <br />Ðêm nay hòa bình không nụ cười trên môi     <br />Nhìn quanh em không ai còn lại     <br />Không ai còn lại     <br />Ru đỡ tình người cho có đôi…     <br />Ðêm nay hòa bình sao mắt mẹ chưa vui     <br />Mẹ hãy ra xem đường phố ngập người     <br />Ðêm nay hòa bình mắt mẹ buồn như kinh     <br />Lời kinh đêm ru căn nhà lạnh     <br />Ru me một mình     <br />Ru mẹ một mình ôm bóng đêm…     <br /><i></i></p>
<p><i>Dường như nhạc sĩ đã biết về một ngày hoà bình đến trên quê hương buồn như thế. Sống ở Việt Nam sau ngày chiến tranh chấm dứt 30.4.75. Nhìn lại, ông có những suy nghĩ gì, nhận xét gì về đất nước?</i></p>
<p>- Người ta thường nói thi sĩ là người có cái nhìn tiên tri, thấu thị những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ, một người viết ca từ đầy ắp chất thơ; cũng có người gọi ông là thi sĩ, cho nên giống như anh Phú đã nhận xét, người nghệ sĩ này đã cảm nhận được một ngày hoà bình buồn thảm sẽ đến trên quê hương mình.</p>
<p>Duyệt lại một vài lời ca của Trịnh Công Sơn trong <i>Kinh Việt Nam</i> và <i>Ta phải thấy mặt trời</i>, dù đã nhuốm chất da cam, nghiêng về một phía, tôi bỗng có một vài phân tích ngồ ngộ thế này. Ví dụ điểm lời bài ca “Huế Sài Gòn Hà Nội”:</p>
<p><em>Huế Sài Gòn Hà Nội quê hương ơi sao vẫn còn xa      <br />Huế Sài Gòn Hà Nội bao nhiêu năm sao vẫn thờ ơ?       <br />Triệu chân em, triệu chân anh, HỠI BA MIỀN VÙNG LÊN CÁCH MẠNG…</em></p>
<p>Nếu cho là lời ca này vào thời điểm sáng tác, trên vùng đất miền Nam tự do, có lợi cho cộng sản thì liệu phía bên kia có chấp nhận hay không vì tác dụng phản tuyên truyền: miền Bắc đã là cái nôi của cách mạng thì làm gì có chuyện cả ba miền cùng vùng lên làm cách mạng, để lật đổ cái gì?</p>
<p>Ngược lại, nếu tiếp tục điểm lời ca của bài hát này:</p>
<p><em>Đường đi đến những nơi lao tù      <br />ngày mai sẽ xây trường hay họp chợ       <br />dân ta về cầy bừa đủ áo cơm no…</em></p>
<p>rồi:</p>
<p><em>Bắc Nam Trung ơi đoàn kết một lòng      <br />bước ra ngoài một lần diệt vong dựng mái nhà chung</em></p>
<p>Liệu đây có phải là một lời tiên tri khác cho một nước Việt Nam mới trong tương lai, khi mà cuộc sống hiện tại của đa số dân mình vẫn còn lầm than đói khổ và họa diệt vong lăm le đến từ Bắc phương?</p>
<p>Tôi nhớ lại một đoạn thơ mình viết trước 75 về cái ước vọng hòa bình cho một cuộc sống an lành trên quê hương mình, trong ý nghĩa phản chiến phân tích ở trên:</p>
<p>[Hoà Bình Mở Cửa]</p>
<p><i></i></p>
<p><em>Mở tung cánh cửa ra ngoài nắng      <br />Tôi nghe tiếng người la dậy dưới đường       <br />Hoà bình đến thật sao? trong lòng choáng váng       <br />Tôi hét to như thể chưa từng!</em></p>
<p><em>Tôi bước chân không chạy ra ngoài phố      <br />Vì mừng vui chẳng kịp xỏ giày       <br />Tôi thấy nhiều người còn mang áo ngủ       <br />Để mơ cùng hạnh phúc ở đầy tay</em></p>
<p>Thật sự đất nước sau chiến tranh không hoàn toàn được như thế. Ghi lại một vài đoạn thơ viết sau 75 như một trả lời cho câu hỏi này của anh:</p>
<p>[nhật ký]</p>
<p><em>tôi chạy hoài chạy hủy      <br />trên vùng trí tưởng tôi lạ kỳ       <br />mang tôi chân đà điểu – trái tim ngựa hồng       <br />đi tìm một bóng dáng mùa xuân       <br />trôi mơ hồ dĩ vãng       <br />khi đời sống rào khung định mệnh       <br />Tự Do bị kết án tử hình</em></p>
<p>[chỉ có một thứ hạnh phúc đổi đời chạy rông ngoài phố]</p>
<p><em>có con người sớm mai hớp hớp vài ngụm tín điều tưởng mình no vừa bụng đói      <br />có bầy thú tối chiều ngáp ngáp thu không       <br />mộng mơ rù rì trên đỉnh đầu thập ác       <br />ngày hát lại điệp khúc tự trào       <br />cười ra nước mắt       <br />ôi vầng dương dập tắt hôm nào       <br />khi chủ nghĩa nhuốm kinh thành đỏ ối</em></p>
<p><i></i></p>
<p>HoàngXuânSơn</p>
<p>1978-2011</p>
<p><i></i></p>
<p><i>10. Thơ của anh như thế rất tương phản với ca từ nhạc Trịnh:</i></p>
<p>Khi đất nước tôi không còn giết nhau    <br />trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường     <br />mọi người ra phố mời rao nụ cười…</p>
<p><i>Sau năm 1975 có dịp gặp lại Trịnh Công Sơn ông có nghe nhạc sĩ nói về </i>Ca khúc Da vàng<i>, về “Nối vòng tay lớn” trên đài Sài Gòn? </i></p>
<p>- Đúng là có tương phản anh ạ! Một đàng là niềm mơ ước chưa thành hình, một đàng đã là “hiện thực xã hội chủ nghĩa.” Không! Sau 75 Trịnh Công Sơn chỉ vui chơi với anh em, bạn bè và không nhắc chuyện cũ, không đả động chuyện mới. Xem như một thời đã qua.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>11. Trong một bài viết của ông ghi lại tình cảm với bạn bè cũ, ông có viết rằng sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 Trịnh Công Sơn có ghé qua nhà ông, kêu ông cùng lên đài hát “Nối vòng tay lớn” nhưng ông không đi. Tại sao ông không cùng đi với Trịnh Công Sơn?</i></p>
<p>- Nếu anh Phú đọc kỹ phóng bút “Vạn nẻo mây tần” của tôi đã đăng trên damau.org sẽ thấy những ngày trước 30 tháng 4 năm 75 bọn công chức chúng tôi lo sợ, nao núng và vạch con đường CHẠY LOẠN. Sau đó gia đình tôi cũng tìm cách chen chân vào Tòa Đại sứ Mỹ để LÁNH NẠN như nhiều gia đình khác. Hành động này chắc chắn là bị phía bên kia lên án là hèn nhát, phản động, ôm chân đế quốc v.v… Lúc Trịnh Công Sơn chạy ngang nhà rủ tôi lên đài hát “Nối vòng tay lớn”, tôi từ chối không đi, trước hết có lẽ do bầu không khí hỗn loạn lúc bấy giờ đã làm cho mình mang một tâm trạng cực kỳ hoang mang. Và sợ hãi. Và không muốn làm bất cứ một điều gì khi tâm trí đã bất định. Hơn nữa trong sâu xa, trong tận cùng tâm khảm đã có sự chọn lựa: chọn đứng về phía ngôi nhà đã nuôi dưỡng, che chở mình, cho dù mọi cánh cửa đã bị khép lại. Ngôi nhà ấy dù có dột nát đến đâu cũng đã bảo đảm cho mình một quyền năng tối thiểu: quyền năng được làm người.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>12. Sau đó ông đã nhận tin miền Nam đầu hàng bằng cách nào?</i></p>
<p>- Hôm 30 tháng 4 năm 75 tôi có nghe lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh, vị tổng thống sau cùng của thể chế Việt Nam Cộng hoà. Trong lúc ruột rối tơ vò, tôi không nhớ rõ là có phải mình đã được nghe tin tức giờ phút cuối của miền Nam Việt Nam qua chiếc máy phát thanh được ai đó vặn lớn trong nhà? Chắc vậy! Cụ thể là một mình trên gác, với nỗi buồn mất mát choáng ngợp làm lệ rơi! Rồi không thiết gì nữa!</p>
<p><i></i></p>
<p><i>13. Trong khoảnh khắc đó, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã phát biểu và hát bài “Nối vòng tay lớn”. Ông có nghe được những điều đó trên đài phát thanh và cảm nhận của ông lúc đó thế nào? </i></p>
<p>- Tôi biết là Trịnh Công Sơn có lên đài hát “Nối vòng tay lớn” vì có được rủ rê, nhưng không được nghe tiếng hát của anh ấy cùng những lời tuyên bố gì gì sau đó.</p>
<p><i></i></p>
<p><i><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H03_HXSonKhanhLy_2008.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 5px 12px 5px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H03_HXSonKhanhLy_2008" border="0" alt="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H03_HXSonKhanhLy_2008" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H03_HXSonKhanhLy_2008_thumb.jpg" width="244" height="233" /></a>14. Những năm ngay sau 1975 dư luận về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mà ông nghe được trong thời gian đó ra sao?</i></p>
<p>- Tôi đã ở lại và sinh sống trong chế độ mới gần bảy năm nên cũng có ghi nhận được đôi điều tai nghe mắt thấy hoặc rút từ kinh nghiệm bản thân.</p>
<p>Đa số những người được kể là có công với cách mạng, hoạt động nằm vùng, nhảy bưng… sau 75 không được kể là công thần chế độ, chỉ được giao những chức vụ ngồi chơi xơi nước, không có thực quyền và lần hồi chỉ là những chiếc bóng mờ nhạt, những chiếc vỏ được bóc đi, vứt bỏ không thương tiếc. Điều này chắc ai cùng rõ. Phương chi những thành phần thân cộng, theo đuôi, được mệnh danh là dân 30, chỉ là đồ bỏ. Trịnh Công Sơn cũng không ở ngoài trường hợp này. Anh đã bị dẫn độ về Huế tham gia học tập cải tạo và lao động xã hội chủ nghĩa, suýt nguy hiểm tới bản thân vì đi gỡ mìn trên các bãi hoang. Chỉ sau khi Trịnh Công Sơn trở lại Sài Gòn, tham gia vào Hội văn nghệ Thành phố và được sự che chở bao bọc của ông Võ Văn Kiệt, một quyền chức cao cấp đương thời, do nguyên nhân nào không rõ, đời anh mới phất lên được.</p>
<p>Sau tháng 4.75, điều mà nhiều người mơ tưởng là chu kỳ “người mới &#8211; việc mới &#8211; vận hội mới” đang tới, thiệt ra chỉ là ảo vọng. Mọi trật tự xã hội, nấc thang giá trị lúc bấy giờ đều bị đảo lộn. Về âm nhạc, tất cả cái gọi là “nhạc vàng” thời cũ đều bị cấm đoán. Chỉ nghe ra rả một loại nhạc “hùng,” chiến đấu lai Tàu. Một vài năm sau cũng chưa có sáng tác nào ra hồn.</p>
<p>Trịnh Công Sơn cho ra đời hai nhạc phẩm tạm gọi là ve vuốt, theo đuôi chủ mới là “Em còn nhớ hay em đã quên” và “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui,” những tưởng là được chấp nhận cho phổ biến. Nhưng không! hoàn toàn không! Hai ca khúc này đều bị cấm trình diễn trước công chúng, có văn bản xếp hạng nằm trong những tác phẩm văn nghệ còn mang nặng tính tư sản, tàn dư của chế độ cũ.</p>
<p><i></i></p>
<p><em>Em ra đi nơi này vẫn thế,      <br />vẫn có em trong tim của mẹ,       <br />thành phố vẫn có những ước mơ,       <br />vẫn sống thiết tha       <br />vẫn lấp lánh HOA trên đường đi… </em></p>
<p>Không! không hẳn thế đâu! “lấp lánh hoa”! hoa gì? Hoa [nặng] họa thì có!</p>
<p><em>Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui      <br />chọn những bông hoa và những nụ cười       <br />tôi đợi em về, mời em giữ lấy       <br />để lá reo mừng tựa vẫy tay…       <br /></em></p>
<p>Không! làm gì có niềm vui nào cao cả và to tát hơn là phục vụ cách mạng, Đảng và Bác. Chính ca khúc này của Trịnh Công Sơn cũng đã được đổi lời như một sự châm biếm, tự trào, cười ra nước mắt, song song với phong trào nhạc chế, nhạc cải biên rộ ra ngoài dân gian:</p>
<p>Chả là sau “giải phóng,” cả nước vùi đầu vào hơi men, bàn nhậu cho quên mọi sự!</p>
<p><em>Mỗi ngày tôi nhậu một lần thôi      <br />Từ sáng tinh mơ nhậu tới chiều mờ       <br />Tôi nhậu với ai? mà tôi quên hết       <br />Nhậu tới khi nào gục mới thôi!&#8230;</em></p>
<p>Sau khi được thế lực lớn bảo bọc, và dây trói bắt đầu được nới một tí Trịnh Công Sơn dần dà sáng tác đều trở lại. Thời kỳ này có đôi bài ca phục vụ, ca ngợi chế độ mới như “Bài ca đường tàu Thống Nhất,” “Em là thế hệ rạng rỡ đóa hoa” hẳn nhiên phải có, song song với những ca khúc vô thưởng vô phạt như “Em ở nông trường Em ra biên giới,” “Như hòn bi xanh,” “Chiều trên quê hương tôi” hay nhạc phim “Đời gọi em biết bao lần”… Đó là nhạc nổi. Còn nhạc chìm Trịnh Công Sơn? Anh vẫn viết thật với lòng mình, lưu truyền hạn chế giữa nội bộ anh chị em bằng hữu văn nghệ những ca khúc về tình yêu, thân phận còn nguyên chất Trịnh Công Sơn khởi thủy như: “Một cõi đi về,”“Cõi tạm,” (Ở trọ) “Lặng lẽ bên đời,” “Giọt lệ thiên thu,” “Bay đi thầm lặng”… và sau này “Tôi ơi đừng tuyệt vọng,” “Tiến thoái lưỡng nan,” mang tâm trạng của kẻ xuống tinh thần “dùng dằng nửa ở nửa về.”</p>
<p>Công tâm mà nói, những người làm văn nghệ có tiếng cũng như dân chúng miền Bắc tất cả đều rất hâm mộ Trịnh Công Sơn và sau này thế hệ trẻ hầu như cả nước. Những khuôn mặt lớn như Văn Cao, Nguyễn Tuân&#8230; và những người văn nghệ trẻ hơn cũng lần lượt vào Nam tìm thăm Trịnh Công Sơn và kết thân với anh.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>15. Bài “Tình khúc ơ-bai” có lời:</i></p>
<p>Tôi đi bằng nhịp điệu. Một hai ba bốn năm    <br />Em đi bằng nhịp điệu. Sáu bảy tám chín mười     <br />Ta đi bằng nhịp điệu. Nhịp điệu không giống nhau     <br />Ta đi bằng nhịp điệu. Nhịp điệu sao khác mầu     <br />Sông cạn đá mòn. Sông cạn đá mòn     <br />Làm sao ta gặp. Làm sao ta gặp được nhau</p>
<p><i>“Em” trong ca từ nhạc Trịnh thì khó mà biết được nhạc sĩ muốn nói đến ai. Bài này, qua các phỏng vấn, Tiêu Dao Bảo Cự cho biết Trịnh Công Sơn viết năm 1988 về một phụ nữ dân tộc trên vùng Lâm Đồng. Khánh Ly nói “ơ-bai” có nghĩa “không được đâu”. Còn cựu Trung tá Bùi Đức Lạc cho rằng đó là xác định lập trường cộng sản rõ nhất của nhạc sĩ. Theo nhận xét riêng, Trịnh Công Sơn đã sử dụng tài tình bốn chữ “Sông cạn đá mòn” từ một câu nói rất phổ thông của ông Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lí đó không hề thay đổi”. Ông có biết hay có lý giải gì về ca khúc trên? </i></p>
<p>- Tôi đi khỏi Sài Gòn năm 1981. Có nhiều ca khúc Trịnh Công Sơn sáng tác sau đó tôi không được rõ, chỉ đọc loáng thoáng đâu đó. Tôi không quan tâm lắm những bài nhạc thuộc loại trả bài hoặc theo đơn đặt hàng của Trịnh Công Sơn.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>16. Trịnh Công Sơn sau thời gian khốn khó ở Huế, vào Sài Gòn nghe nói ông cũng bị bao vây bởi những người của nhà nước một thời gian dài. Là bạn cũ của nhạc sĩ ông thấy điều này đúng không?</i></p>
<p>- Nói Trịnh Công Sơn bị bao vây một mình cũng không đúng vì hầu như ai cũng bị bao vây. Cho dù anh được che chở bao bọc, nhưng cũng không phải là công thần chế độ nên cũng gặp khó khăn như mọi người thôi. Có điều là ở Sài Gòn dễ thở hơn Huế vì Huế là thí điểm đầu tiên của xã hội chủ nghĩa.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>17. Các em của Trịnh Công Sơn sau 75 cũng vượt biển như bao nhiêu người Việt khác. Có bao giờ ông nghe Trịnh Công nói về những người đã bỏ nước ra đi?</i></p>
<p>- Sau 75 chuyện vượt biên, chuyện đi tù, chuyện ở lại bươn chải mưu sinh bằng mọi cách đã là chuyện bình thường. Trịnh Công Sơn cũng biết trước tụi tôi sẽ ra đi nhưng anh không hề thắc mắc. Mọi người đều chạy xoay quanh cái vòng luẩn quẩn như đèn kéo quân. Anh chỉ muốn vui chơi những ngày còn lại.</p>
<p><i></i></p>
<p><i><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H04_HXSonNgoVuongToai_2007.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 5px 12px 5px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H04_HXSonNgoVuongToai_2007" border="0" alt="BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H04_HXSonNgoVuongToai_2007" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/05/BuiVanPhu_PhongVan_HoangXuanSon_H04_HXSonNgoVuongToai_2007_thumb.jpg" width="332" height="246" /></a>18. </i><i>M</i><i>ột bài hồi tưởng trong phóng bút “Cũng cần có nhau” ông viết rằng trong đêm văn nghệ của sinh viên văn khoa vào ngày 20.12.1967, sinh viên đã đồng ca:</i></p>
<p>Người nô lệ da vàng    <br />ngồi yên ngồi yên trong căn nhà nhỏ     <br />đèn thắp thì mờ.     <br />Ngồi yên quên nước quên non     <br />ngồi yên xin áo xin cơm.     <br />Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích     <br />vô hình trói buộc đôi chân.     <br />Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích     <br />vô hình trói buộc hờn căm…</p>
<p><i>Sau đó có cán bộ thành đoàn cộng sản lên cướp mi-crô, bắn trọng thương anh Ngô Vương Toại. Buổi hát đó có Trịnh Công Sơn và Khánh Ly là chính.</i><i> N</i><i>hạc sĩ có tâm sự hay chia sẻ gì với ông về biến cố này?</i></p>
<p>- Thiệt ra không phải là sinh viên đồng ca. Bài này chỉ có Trịnh Công Sơn, Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang và tôi hát chung, là những người cùng cư ngụ trong khuôn viên Đại học Văn khoa, trụ sở CPS. Sau vụ Ngô Vương Toại bị bắn, Trịnh Công Sơn cũng bày tỏ sự sợ hãi và chán ghét bạo loạn. Dù hạn chế di chuyển, anh cũng đã nhiều lần tìm cách vào bệnh viện Bình Dân viếng thăm và an ủi Ngô Vương Toại lúc nhân vật này còn nằm điều trị tại đây.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>19. Nghe nói Trịnh Công Sơn đã viết một ca khúc cho anh Ngô Vương Toại về biến cố này. Bài hát đó đã có bao giờ được trình diễn trong sinh hoạt văn nghệ của sinh viên hay trước công chúng?</i></p>
<p>- Sau khi Ngô Vương Toại bị đạn thù của phía bên kia bắn gục, Trịnh Công Sơn đã sáng tác “Nhân danh ai” dành cho nhân vật này, nội dung lên án hình thức sử dụng bạo lực để cướp mạng sống con người, đồng loại:</p>
<p><em>Nhân danh ai anh đến đây bắn vào người,      <br />trong mắt em trong mắt anh hãi hùng đầy       <br />xin nhân loại một ngày,       <br />nhủ lòng thương mến nhau thôi…       <br />Nhân danh ai anh đến đây giết một người,       <br />cho máu em cho máu anh tuôn tren da thịt này…</em><em></em> </p>
<p>Bài này chỉ mình Trịnh Công Sơn và bạn bè anh hát riêng cho Ngô Vương Toại. Chưa bao giờ được trình diễn trước công chúng.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>20. Chuyện Trịnh Công Sơn được hoãn dịch hay trốn lính, theo hiểu biết của ông ra sao?</i></p>
<p>- Chuyện Trịnh Công Sơn trốn lính là có thật! Anh không hề có một giấy tờ hoãn dịch nào lận lưng. Thời còn ở CPS/Quán Văn, mỗi khi cần đi đâu bằng xe gắn máy, rất hạn chế và thường là do Trịnh Xuân Tịnh em ruột của anh đèo đi. Trịnh Công Sơn rất thận trọng, dặn Tịnh luôn luôn dòm trước ngó sau lúc di chuyển để tránh những nút chặn của cảnh sát, quân cảnh… Thông thường thì anh chỉ thả bộ quanh quanh phố phường vui chơi với bạn bè. Trịnh Công Sơn lúc bấy giờ đã là một khuôn mặt được nhiều người biết đến, theo lời anh kể lại, có hôm bị quân cảnh chặn xét giấy tờ, viên chức kiểm soát nhận ra anh và để cho anh đi thay vì bắt giữ.</p>
<p>Ngược lại, một điều khôi hài là Trịnh Công Sơn lại “quen lớn” với nhiều nhân vật trong chính quyền lẫn quân đội, đặc biệt là Không quân, như Chuẩn tướng Lưu Kim Cương mà khi tử trận được Trịnh Công Sơn sáng tác ca khúc chiêu niệm “Hát cho một người nằm xuống” nhiều người biết, như Đại tá Phan Phụng Tiên, Thủ tướng và sau là Phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ… Nhớ có lần tôi đã được tháp tùng Trịnh Công Sơn với một số bằng hữu văn nghệ &#8211; có xe quân cảnh hụ còi đưa rước &#8211; vào phi trường Tân Sơn Nhất, đến câu lạc bộ Mây Bốn phương dự dạ tiệc do Tướng Kỳ khoản đãi. Đêm hôm ấy có Trịnh Công Sơn – Khánh Ly, nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Miên Đức Thắng, Ngô Vương Toại, Trần Xuân Kiêm (Chơn Hạnh), Hoàng Thi Thao, Hoàng Ngọc Tuấn, Hoàng Xuân Giang. Một lần khác, từ Huế vào Đà Nẵng thăm bạn là Quý Thuận được di chuyển bằng công xa của Ty Cảnh sát Thừa Thiên có cận vệ đi theo. Chuyến đi có Trịnh Công Sơn, Trịnh Quang Hà, em của Sơn, Nguyễn Thế Phồn, em Thiếu tá Nguyễn Thừa Dzu, Phạm Nhuận và tôi.</p>
<p>Sau một thời gian trốn quân dịch, đa số là ẩn náu tại Quán Văn, Trịnh Công Sơn theo lời khuyên của bạn bè thân cận đã nhịn ăn, xuống cân, ra trình diện nhập ngũ, được trả về vì không đủ tiêu chuẩn. Sau đó hình như anh được hoãn dịch vì lý do sức khỏe?</p>
<p><i></i></p>
<p><i>21. Ông có xem phim </i>Đất khổ<i> về cuộc đời Trịnh Công Sơn </i><i>trước năm 1975 </i><i>chưa? Xin ông cho biết ý kiến.</i></p>
<p>- Tôi chưa được xem phim <i>Đất Khổ</i>. Nhưng thời gian thực hiện phim này, tôi hay đi với anh Sơn đến nhà đạo diễn Hà Thúc Cần, lúc này anh Lưu Nguyễn Đạt hay đưa Trịnh Công Sơn lui tới bằng xe hơi. Tôi chỉ có một góp mặt nhỏ trong phim này, nơi đám đông sinh viên phản chiến, nhưng nghe nói cũng có tên ghi trong thành phần phụ diễn.</p>
<p><i></i></p>
<p><i>22. Trịnh Công Sơn đã viết trong thời chiến tranh:</i></p>
<p>Bao nhiêu năm còn nô lệ    <br />Anh em ta nhận vũ khí     <br />Quê ta bãi hoang chiến trường     <br />Diệt nhau như thú     <br />Trôi bao nhiêu dòng máu đỏ     <br />Bao yêu thương lùi trong quá khứ     <br />Ôi giấc mơ thanh bình còn quá xa…</p>
<p>[<i>Hát cho quê hương Việt Nam</i>, cuốn số 5]</p>
<p><i>Nhưng có người cho rằng cho rằng Trịnh Công Sơn bênh vực hay đứng về phiá cộng sản. Nhận xét của riêng ông ra sao?</i></p>
<p>- Mọi tranh cãi về vị thế chính trị của Trịnh Công Sơn đối với đất nước Việt Nam cho tới giờ phút này dường như vẫn chưa ngả ngũ. Trịnh Công Sơn là quốc gia hay cộng sản? Chung quanh vấn đề này đã xuất hiện nhiều bài viết từ nhiều phía: phía binh vực Trịnh Công Sơn rất hiếm hoi, phía quy kết là cộng sản gộc hay “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” thì rất đông đảo, phía những người thương và hận Trịnh Công Sơn tức vẫn yêu nhạc Trịnh nhưng hận ông về sự lựa chọn phản bội; và cánh hùa theo đánh hôi Trịnh Công Sơn để tự đánh bóng mình đông đảo không kém.</p>
<p>Theo nhận định rất chủ quan của tôi, với tư cách một người bạn đã từng sinh hoạt chung với nhau nhiều năm: THỜI ĐIỂM BẤY GIỜ Trịnh Công Sơn chưa hề là cộng sản! Những ca khúc của anh, cụ thể <i>là Ca khúc Da Vàng</i>, chỉ mang tính chất phản chiến, cho dù có quy kết những ca khúc này làm lợi cho địch, cũng không thể chối bỏ khuynh hướng nhân bản chống lại cuộc chiến phi nhân tương tàn. Nếu Trịnh Công Sơn là một cán bộ cộng sản gộc, có bề dày tuổi đảng, thì không thể viết: “Hai mươi năm <b><font style="background-color: #ffffff">nội chiến</font></b> từng ngày…” Trừ trường hợp, là giả thiết, Trịnh Công Sơn là một điệp viên cộng sản cao cấp, che dấu hết mọi căn cước của mình để ăn dầm ở dề trong lòng địch làm công tác ru ngủ đối phương tạo thành tích lớn cho “cách mạng.” Tôi không tin như thế. Vì quả đúng vậy thì Trịnh Công Sơn sau 75 sẽ trở thành một anh hùng dân tộc của phía bên kia. Nhưng Trịnh Công Sơn không hề được công kênh và chỉ là một con chốt trên bàn cờ thí.</p>
<p>Sau này, khi gặp lại Trịnh Công Sơn một lần duy nhất ở Canada, một vài bạn cũ, và chính tôi cũng nhận thấy anh có phần biến chất: một người đã từng được hưởng ơn mưa móc của chế độ mới qua cách suy nghĩ, diễn đạt và ứng xử. Như thế, từ thời điểm này, bảo Trịnh Công Sơn là người của cộng sản cũng không ngoa.</p>
<p><i>23. Trịnh Công Sơn có nhiều người yêu và nhiều cuộc tình đổ vỡ. Quen thân với nhạc sĩ cũng như Khánh Ly, theo ông quan hệ Trịnh Công Sơn và Khánh Ly ra sao?</i></p>
<p>- Anh Phú có tin là giữa người nam và người nữ kề cận nhau mà chỉ có tình bạn không thôi? Chuyện khó tin mà có thật: Trường hợp Khánh Ly và Trịnh Công Sơn. Hai người đã sinh hoạt khăng khít biết bao nhiêu năm mà không hề nảy nở một tình yêu trai gái thì cũng kể là lạ. Tôi thấy Trịnh Công Sơn chỉ xem Khánh Ly như một người bạn, đối xử như một người em với lòng thương mến trong gia đình ruột thịt. Ngược lại Khánh Ly lúc nào cũng THƯƠNG &#8211; tôi viết hoa chữ “thương” &#8211; và vô cùng kính nể anh Sơn. Lúc Khánh Ly mới đến với bằng hữu Quán Văn, không hiểu sao tất cả bọn tôi đều xem Lệ Mai &#8211; tên thật của Khánh Ly &#8211; là một người bạn đáng mến, có lẽ tại tính tình thẳng thắn, cởi mở và hòa đồng của Khánh Ly. Nàng không nề hà thức khuya dậy sớm với bọn tôi, cơm hàng cháo chợ, thậm chí chui vào rạp xem xi nê hạng bét vừa xem vừa gặm bánh mì. Rất nhiều đêm sau sinh hoạt ca ngâm hát hò với nhau, Khánh Ly đã ở lại Quán Văn, ngủ lại, một mình thân nữ giữa đám bạn trai nằm la liệt mà không hề có chuyện gì xảy ra. Đúng là “như chuyện thần tiên” phải không anh Phú?</p>
<p><i>24. Mới đây, trong nước có xuất bản cuốn </i>Thư tình gửi một người<i> với khoảng 100 bức thư Trịnh Công Sơn viết cho Ngô Vũ Dao Ánh trong thời gian dậy học ở B’Lao. Cuộc tình này dường như </i><i>nhạc sĩ </i><i>giữ </i><i>rất </i><i>kín, vì người ở chung phòng là Nguyễn Thanh Ty cũng không biết gì nhiều. Ông có bao giờ nghe nói về chuyện tình này?</i></p>
<p>- Thời gian Trịnh Công Sơn ở Quán Văn, thỉnh thoảng có thấy Dao Ánh đến thăm anh. Đây là một người nữ có dáng dấp thướt tha, kiêu sa, qúi phái. Mỗi lần gặp gỡ chúng tôi thấy Trịnh Công Sơn bồn chồn, quýnh quáng như mới hẹn người yêu lần đầu. Anh công nhận cuộc tình này và cho biết anh soạn “Hạ trắng” là dành riêng cho Dao Ánh – “<em>Áo xưa dù nhầu cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau.” </em>Đó là một tình yêu lớn, với lời hẹn thề tận mãi kiếp sau. Bọn tôi vẫn thường chọc Trịnh Công Sơn về chuyện tình này là “Diễm xưa/Ánh nay” vì Dao Ánh là em của Bích Diễm.</p>
<p><i>25. Có người cho rằng nhạc sĩ đồng tính, có người nói ông bất lực. Trong tác phẩm </i>Về một quãng đời của Trịnh Công Sơn<i>, Nguyễn Thanh Ty kể lại một lần đi chơi gái, Trịnh Công Sơn đánh rất mau, rút rất lẹ. Có người nói nhạc sĩ có 3 trái thận. Là bạn với nhạc sĩ, ông thấy chuyện tình cảm, tâm sinh lý của nhạc sĩ ra sao?</i></p>
<p>- Tôi thấy cũng bình thường.</p>
<p><i>26. Nhận xét của riêng ông về con người Trịnh Công Sơn?</i></p>
<p>- Trịnh Công Sơn dáng người tầm thước, da ngăm ngăm nhưng thần thái khá rạng rỡ. Anh ăn bận hơi chải chuốt nhưng nom lãng tử, nghệ sĩ với mái tóc bồng và đôi kính cận tròn gọng đồi mồi. Nói chung, bề ngoài anh nhìn dễ mến. Đặc biệt Trịnh Công Sơn có hai bàn tay với mười ngón tháp bút thật đẹp. Có phải tinh hoa phát tiết từ đây theo tướng số? Anh Sơn ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng khúc chiết và có sức thuyết phục. Anh đối xử với bạn không đơn sơ hờ hững, nhưng cũng không vồ vập thái quá. Ở anh, ta thấy được sự chân tình và đáng tin cậy trong giao tiếp. Tuy nhiên tính tình Trịnh Công Sơn hơi nhút nhát, hay sợ hãi, nễ vì, sợ mất lòng bạn. Có lẽ đây vừa là ưu điểm, tạo được lòng quan tâm, quý mến đưa đến sự che chở, bảo bọc của người khác, mà cũng là khuyết điểm của anh, bị kẻ dấu lợi dụng, bắt nạt, dụ dỗ, dễ yếu lòng nghe theo. Cụ thể là đám bạn nhảy bưng, nằm vùng như đã nêu.</p>
<p>Đối với những bằng hữu văn nghệ nhỏ tuổi hơn, Trịnh Công Sơn luôn luôn đối xử như bạn bè ngang vai vế, không hề có thái độ đàn anh, không hợm hĩnh dù anh rất thành công.</p>
<p>Trịnh Công Sơn đã có được sự ưu ái của những nhân vật cao cấp của cả hai chính quyền, hai chế độ. Tôi nghĩ chắc hẳn anh cũng phải có điểm son đặc biệt nào đó, ví dụ như lòng chân thành và sự chung thủy trong giao tiếp bạn bè.</p>
<p><i>27. Người Việt ở Canada, nơi ông sinh sống theo ông có những cách nhìn ra sao về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn?</i></p>
<p>Ở Canada, Montréal là cụ thể nơi tôi sinh sống thì hát nhạc Trịnh cũng nên dè dặt. Mặc dù không có sự chống đối nào dữ dội, nhưng khi chọn lựa trình bày nhạc Trịnh trước công chúng như trong các buổi sinh hoạt của Cộng đồng người Việt, các hội đoàn chính trị, quân nhân… thì cũng có lời khuyên chung chung, truyền miệng nhau là nên kiếm bài bản khác. Tuy nhiên, gạt ra ngoài vấn đề chính trị, người ca diễn cũng như người nghe vẫn còn ưa chuộng nhạc Trịnh, hát trong vòng bằng hữu, “hát cho nhau nghe,” hoặc ở những hội hè tư nhân thì rất OK! Không như ở một vài thành phố lớn khác ở Hoa Kỳ, nhạc Trịnh đôi khi bị chống đối, tẩy chay; nhưng cũng vẫn được trình diễn trong những show ca nhạc lớn như Asia, Thúy Nga v.v…</p>
<p>Khoảng năm 1991, lúc Trịnh Công Sơn sang Montréal thăm gia đình, đa số các người em của anh định cư tại đây, và gặp gỡ một số bạn bè cũ là một hành vi cá nhân nhưng cũng có sự vận động chống đối người nhạc sĩ này xuất phát từ nhóm Làng Văn của Nguyễn Hữu Nghĩa từ Toronto, một thành phố khác của Canada, song song với việc kêu gọi tẩy chay cuộc triễn lãm của họa sĩ Võ Đình tại Montréal với sự tham dự của một vài nhân vật thuộc tờ báo Hợp Lưu ở California và nhóm Trăm Con ở Toronto. Nhóm Làng Văn đã quy kết cuộc sinh hoạt văn nghệ này với sự có mặt tình cờ của Trịnh Công Sơn ở Montréal là thân cộng, có bàn tay sắp đạt của cộng sản? Tuy nhiên cũng không có gì đáng tiếc xảy ra. Một bạn văn, cựu cư dân Montréal là anh Đỗ Quý Toàn đã kết luận rằng đây chỉ là “Một cơn bão trong tách trà!”</p>
<p><i>28. Những lời ca viết cho quê hương của Trịnh Công Sơn thì gây tranh cãi, nhưng nhiều người yêu thích tình ca họ Trịnh. Có một vài bài ca nào của Trịnh Công Sơn mà ông yêu thích? Tại sao ông lại thích những ca khúc đó?</i></p>
<p>- “Mưa hồng” là bài tình ca đầu tiên gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi. Lúc được nghe Khánh Ly hát lần đầu tiên, chưa chính thức, lúc chân ướt chân ráo từ Đà Lạt xuống Quán Văn với giọng hát lạ, đầy ma lực. Sau này tôi thích “Quỳnh Hương” vì chất ngọc giản dị và thơ mộng của nó. Cũng có thể nói “Đóa hoa Vô thường,” một tâm khúc khá dài mang chút phong vị thiền. Nói chung, tình ca Trịnh Công Sơn bài nào nghe cũng thấm, nếu chọn được đúng người, đúng giọng.</p>
<p>Tuy nhiên theo tôi loạt nhạc mang nặng chất Trịnh Công Sơn nhất là loạt sáng tác <i>trong Thần thoại Quê hương</i>, <i>Tình yêu và Thân phận</i>. Những ca khúc như “Vết lăn trầm,” “Du mục,” “Phúc âm buồn,” “Lời của dòng sông,” “Cúi xuống” v.v… mang giai điệu kể lể, du mục nhiều hơn, rất hợp với âm vận trầm buồn, đơn thoại của chiếc đàn thùng; gộp lại như một lời kêu trầm thống của kiếp nhân sinh bọt bèo. Loạt nhạc này ít ca sĩ trình diễn vì chắc không hợp với không khí đàn sáo đủ lệ bộ và không gian trình diễn hoành tráng? Về sau một đôi sáng tác của Trịnh Công Sơn có lui về dạng nguyên thủy của thân phận ca này như “Một cõi đi về,” “Lặng lẽ nơi này.”</p>
<p><i></i></p>
<p><i>29. Thời sinh viên ông đã rất văn nghệ, bây giờ nếu có ai yêu cầu ông đàn và hát hai ca khúc của Trịnh Công Sơn, một tình ca và một về quê hương thì đó là hai bài nào?</i></p>
<p>- Bây giờ vẫn còn văn nghệ anh Phú ơi! (cười). Vẫn hát hò lai rai dù tuổi đời mòn, yếu! Đùa chút thôi. Tình thật lúc nào có sinh hoạt với bạn bè, tôi cũng bắt đầu với “Một cõi đi về” như một thói quen, và nhiều khi cũng được yêu cầu:</p>
<p><em>Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi      <br />Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt       <br />Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt       <br />Rọi suốt trăm năm một cõi đi về…</em></p>
<p>Không hiểu sao đối với tôi ca khúc này mang một âm hưởng vọng dội ghê gớm: sự hiện diện của cuộc đời, niềm tha thiết, và nỗi trống vắng của hư vô… Có lẽ tại lời ca, cung điệu trầm bỗng theo giọng hát gào thống thiết cùng với sự yến ắng của bạn bè vây quanh?</p>
<p>Nhưng một bài tình ca đúng nghĩa thì phải kể “Quỳnh hương”, ca khúc duy nhất mà tôi thu âm được cho tới giờ này sau khi chia tay Trịnh Công Sơn.</p>
<p>Một bài ca về quê hương? Có lẽ tôi chọn bài ca Trịnh Công Sơn viết sau này về một miền đất quê hương tôi ao ước được ghé thăm mà chưa hề có dịp: “Nhớ mùa thu Hà Nội.”</p>
<p><i>30. Ông có những nhận xét, phê bình nào khác về Trịnh Công Sơn?</i></p>
<p>- Có người cho rằng vốn liếng âm nhạc của Trịnh Công Sơn nghèo nàn, không xứng gọi là thiên tài vì giai điệu các ca khúc Trịnh Công Sơn đơn thuần, độc điệu không có gì khởi sắc. Nhưng bởi do đâu mà anh có được sự ngưỡng mộ của đông đảo người nghe? Theo ý rất riêng của tôi, phải chăng những lời lẽ siêu nhiên, trừu tượng, ẩn dụ và khá mới lạ trong ca từ Trịnh Công Sơn:</p>
<p><em>Bài ca dao trên cồn đá, trên ngai vàng quê nhà…      <br />Đường phượng bay mù không lối vào…       <br />Chim về vào ngày tuổi em trên cành bão bùng…       <br />Đàn bò vào thành phố gieo buồn tiếng hạt chuông…</em></p>
<p>Kết hợp một cách kỳ diệu với những cung nhạc bình thường đơn giản, như thầm thì, như kể lể, đi thẳng vào hồn người một cách lạ kỳ: nghe nhạc Trịnh lúc nào cũng thấy lâng lâng ở cõi phiêu bồng!</p>
<p>Thơ, nhạc đơn giản nhưng hay vẫn có giá trị, không cứ phải cầu kỳ, kiểu cách. Thơ, nhạc cao siêu có cái hay riêng, tầng lớp thưởng ngoạn riêng của nó. Nhạc thuật cao là một ưu điểm đã đành. Nhưng tạo được sự kết hợp hài hòa giữa lời ca ý nhạc, chuyên chở đầy, sâu, thu hút lòng người nghe phải chăng là một điểm son khác?</p>
<p>&#160;</p>
<p>© 2011 Buivanphu</p>
<p>&#160;</p>
<p>[ảnh trong bài do Hoàng Xuân Sơn gửi]</p>
<p><em>H01: Hoàng Xuân Sơn </em>(Hình Lê Phan Lân)</p>
<p><em>H02: Từ trái: Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang (mất), Trần Đại Lộc (mất) và Hoàng Xuân Sơn. Hình do Đỗ Việt Anh (Đỗ Tăng Bí) chụp năm 1967 và ông là một trong những người sáng lập Quán Văn. </em></p>
<p><em>H03: Hoàng Xuân Sơn và Khánh Ly năm 2008. (Hình Phạm Cơ)</em></p>
<p><em>H04: Hoàng Xuân Sơn, bên trái, và Ngô Vương Toại gặp nhau năm 2007, 40 năm sau ngày thành lập Quán Văn. </em>(Hình Nguyễn Tự Tín)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/19866/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>8</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Vy T&#250;y: Họ Trịnh hay d&#249;ng c&#225;c ng&#244;n từ lấp lửng v&#224; ẩn &#253; trong nhạc</title>
		<link>http://damau.org/archives/19698</link>
		<comments>http://damau.org/archives/19698#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 28 Apr 2011 11:13:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi văn Phú</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Phỏng vấn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/19698</guid>
		<description><![CDATA[Tiếng súng chống cự thưa dần. Cùng lúc tiếng gầm rú của những chiếc xe tăng còn lại của Bắc quân đã bắt đầu tiến vào Sài Gòn, theo sau là những chiếc xe vận tải sản xuất từ Trung Cộng chở đầy các tên bộ đội còn non choẹt, ngơ ngác nhìn ngắm tứ phía như những người đến từ các hành tinh khác.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></em></p>
<p><em>Ông Nguyễn Vy Túy được người Việt định cư ở Úc gọi là &quot;Nhà báo Nguyễn Vy Túy&quot; vì ông đã làm chủ bút tờ báo Việt ngữ đầu tiên ở đây khi ông đến tị nạn năm 1979. Hiện nay ông là chủ nhiệm kiêm chủ bút Văn nghệ Tuần báo, tờ báo có số bán dẫn đầu trong các báo tiếng Việt ở Úc. Trước 1975 ông là học sinh trường Văn Đức và Thánh Giuse ở Ngã ba Ông Tạ và là cán bộ y tế của Caritas khóa 13, khóa sau cùng ở Sài Gòn.</em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p align="center">&#160;</p>
<p align="center"><em></em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p align="center"><em></em></p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/BuiVanPhu_PhongVan_NguyenVyTuy_H01_Damau.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; margin: 0px 17px 0px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_PhongVan_NguyenVyTuy_H01_Damau" border="0" alt="BuiVanPhu_PhongVan_NguyenVyTuy_H01_Damau" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/BuiVanPhu_PhongVan_NguyenVyTuy_H01_Damau_thumb.jpg" width="227" height="244" /></a></p>
<p>1.&#160; Thưa ông, ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông đang ở đâu?</p>
<p>- Lúc ấy tôi đang “có mặt ở đằng sau lưng” những người lính Việt Nam Cộng hoà để ngăn chận một hướng tiến quân của bộ đội cộng sản Việt Nam từ Ngã tư Bảy Hiền vào thành phố. Lúc ấy tôi chỉ là một Liên toán trưởng Nhân dân Tự vệ.</p>
<p>&#160;</p>
<p>2. Tin Việt Nam Cộng hoà đầu hàng đến với ông bằng cách nào?</p>
<p>- Khi Dương Văn Minh hạ lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng, trên đường Lê Văn Duyệt (nay là Cách mạng Tháng 8), tôi thấy một người lính ôm chiếc máy truyền tin PRC-25 là người đầu tiên trút khỏi người chiếc máy nặng trình trịch bỏ xuống đường và chạy lại phía mấy người lính đang ngồi ôm súng cố thủ bên trong các ngõ hẻm. Họ nói nhỏ với nhau về lệnh buông súng của Dương Văn Minh và cứ thế họ rút về phía sau. Đám Nhân dân Tự vệ nhặt được máy truyền tin, nhưng không biết phải dùng nó vào việc gì. Tôi nhấc ống liên hợp lên và lần đầu tiên trong đời tôi nghe được những giọng nói the thé của Bắc quân: &quot;Buông súng đi! Tổng thống của các anh ra lệnh đầu hàng rồi!&quot; &quot;Bọn Ngụy quân nghe đây. Hàng sống! Chống chết!&quot;</p>
<p>Tiếng súng chống cự thưa dần. Cùng lúc tiếng gầm rú của những chiếc xe tăng còn lại của Bắc quân đã bắt đầu tiến vào Sài Gòn, theo sau là những chiếc xe vận tải sản xuất từ Trung Cộng chở đầy các tên bộ đội còn non choẹt, ngơ ngác nhìn ngắm tứ phía như những người đến từ các hành tinh khác.</p>
<p>Trên đường ngoài những đống vũ khí và xác người rải rác, còn có những đống quân phục đủ loại và những bộ lễ phục còn mới toanh được ném vội ra đường phố. Dân chúng e ngại một cuộc trả thù nên họ vội vàng tống khứ ra khỏi nhà bất cứ thứ gì có dính dáng đến chế độ cũ. Không ai nghĩ đến chuyện thu nhặt, vì không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới.</p>
<p>&#160;</p>
<p>3. Lúc đó ông có nghe đài Sài Gòn và điều gì ông còn nhớ?</p>
<p>- Tôi không nghe, mà chỉ thấy những người lính vứt bỏ súng sau khi họ được báo tin từ cấp chỉ huy.</p>
<p>&#160;</p>
<p>4. Nhắc đến ngày 30.4.1975 nhiều người Việt còn nhắc đến sự kiện nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên đài hát &quot;Nối vòng tay lớn&quot; và kêu gọi mọi người ở lại xây dựng đất nước. Ông nhìn sự kiện đó ra sao?</p>
<p>- Sau này ra được hải ngoại tôi mới biết đến chuyện này. Theo tôi, chuyện này không phải là chuyện lớn. Bởi những người bị kẹt ở lại Sài Gòn lúc ấy khó mà có những chọn lựa khác!</p>
<p>Ở đây, nhiều người kết án Trịnh Công Sơn đã “tự nguyện” chứ không phải bị ép buộc để lên đài phát thanh hát “Nối vòng tay lớn.” Nhưng nếu những người lãnh đạo miền Nam giữ được nước và nếu đồng minh không bỏ rơi thì làm gì Trịnh Công Sơn “bị” rơi vào hoàn cảnh gây tranh cãi này. Nó chỉ là cái cớ để làm rõ thêm luận cứ Trịnh Công Sơn là người đã được móc nối và “làm việc” với phe bên kia!</p>
<p>&#160;</p>
<p>5. Nhạc Trịnh Công Sơn đã đến với ông đầu tiên trong đời vào lúc nào và trong hoàn cảnh nào?</p>
<p>- Nhạc Trịnh Công Sơn tôi nghe lần đầu lúc tôi nhìn quanh và thấy bạn bè của mình bị gọi đi lính gần hết. Trong xóm tôi sống ở khu vực Ngã ba Ông Tạ có mấy chục nóc gia, mà chỉ còn mình tôi là đứa thanh niên còn xót lại! Rồi cứ lâu lâu lại phải cùng hàng xóm lên nghĩa trang Quân Đội để nhận xác những người đi không trở về! Trong đó có rất nhiều những đứa trước đó không lâu vẫn còn đánh cù đánh khăng với mình. Tôi nhớ bài “Gia tài của Mẹ” thường hát lúc đó vì có nhịp điệu dễ hát trong các đám đông. Khi có một người cất tiếng, là ai nấy đều cũng có thể hát theo. Tôi lúc ấy cũng có sinh hoạt trong một số hội đoàn tôn giáo và xã hội, nhiều lần tôi đã hát bài này, và cảm thấy bị nhập tâm bởi nội dung của nó.</p>
<p>&#160;</p>
<p>6. Ngày đó các quán cà-phê hay có nhạc Trịnh, ở ngã ba Ông Tạ có quán Thăng Long nổi tiếng mà ông thường đến đây uống cà phê, nghe nhạc. Hồi tưởng lại ông có thể mô tả không khí ở đó?</p>
<p>- Quán cà-phê này nhờ nằm ẩn vào trong đầu đường nhỏ nên tránh được cái ồn ào và hỗn độn của xe cộ qua lại. Quán lại thấp hơn so với mặt đường, đi vào quán khách phải bước xuống mấy bậc thềm, đằng trước lại trồng dàn hoa giấy tươi tốt quanh năm, nên khách vào ngồi “đồng” ở đây bất cứ lúc nào cũng có cái cảm giác mát rượi so với không khí đang nóng bức bên ngoài. Đằng trước quán có một khoảng trống để cho khách dựng xe rất an toàn. Khách có thể ngồi bất cứ nơi nào trong quán cũng có thể nhìn thấy xe của mình.</p>
<p>Phần lớn khách vào quán đều gọi cà-phê phin, vì hương vị ở đây thật tuyệt vời và khác lạ so với các quán khác. Người uống nó phải có thì giờ rảnh rỗi và sành điệu bởi nguyên việc chờ đợi các giọt “sương đen” này chảy hết xuống chiếc ly sành thì cũng đã mất mươi mười lăm phút.</p>
<p>Dàn máy Akai phát nhạc của quán Thăng Long cũng là điều đáng nói. Ông chủ quán là người hiểu biết và khá chững chạc nên đã chọn toàn loại nhạc tiền chiến lẫn phản chiến, chứ không bao giờ chịu cho phát các bản nhạc thời trang, khiến khách vào quán của ông thường là những người từ tuổi trung niên trở lên. Dân Bắc di cư và những người mặc quân phục cũng là khách thường xuyên đến đây, nhiều khi chỉ gọi một ly cà phê mà ngồi hết cả ngày để thưởng thức nhạc, ngoài ra còn có số người cầm bút chọn nơi này để tán gẫu và giải khát vì gần đó là toà báo <i>Xây Dựng</i> của Linh mục Nguyễn Quang Lãm. Hay lui tới có nhà văn Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long, có Vũ Bình Nghi, nay là chủ báo Thời Báo ở San Jose. Hồi ấy ông Cẩn chủ quán hay cho mở mấy bài như “Nỗi lòng người đi,” “Hướng về Hà Nội,” “Buồn tàn thu” hay “Bây giờ tháng mấy” hoặc những bài phản chiến như “Gia tài của Mẹ,” “Đại bác ru đêm,” “Người con gái Việt Nam da vàng” của Trịnh Công Sơn. Khách trong quán đều hạn chế tối đa các tiếng động để thưởng thức từng lời nhạc bổng trầm. Cái không khí ấy khiến nhiều người ưa chuộng lắm, vì họ tìm được những giây phút yên ắng để phì phèo điếu thuốc lá, để thả hồn về chốn xa xưa, về những kỷ niệm đã mất, và về thực tại hỗn mang.</p>
<p>&#160;</p>
<p>7. Nhắc đến Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, ông còn nhớ gì về những cuốn băng “Hát cho quê hương Việt Nam” của Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly?</p>
<p>- Gần đây, khi trở về Việt Nam tôi cố tìm mua cho bằng được những cuốn cát-sét “Hát cho quê hương Việt Nam” của Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly. Tôi mua được và cái làm tôi nhớ nhất là nghe lại tiếng đàn thùng ghi-ta và giọng hát đặc biệt có chất quyến rũ như ma tuý của Khánh Ly vào thời ấy.</p>
<p>&#160;</p>
<p>8. Có người cho rằng nhạc viết về quê hương của Trịnh Công Sơn mang tính phản chiến, thân cộng. Riêng ông nghĩ thế nào?</p>
<p>- Chuyện này cũng dễ hiểu, bởi ngay chính tôi lúc ấy chỉ là một cậu học trò nhưng cũng đã có những chán nản lẫn ưu tư khi nghe nhạc họ Trịnh. Còn thân cộng ư? Chắc chắn rồi, vì nếu người nghe chịu khó phân tích một số ca từ của Trịnh Công Sơn thì sẽ thấy ngay điều này. Họ Trịnh hay dùng các ngôn từ lấp lửng và ẩn ý trong nhạc, để nói về những người từ núi rừng&#8230; vào thành phố, về bà mẹ nuôi quân, ém quân để chờ ngày&#8230; chiến thắng v.v… Nếu không bị “móc nối” hay tin tưởng vào phía bên kia thì chắc chắn các ca từ của Trịnh Công Sơn sẽ phải rõ ràng và minh bạch hơn.</p>
<p>9. Nghe những ca từ:</p>
<p><em>Một ngàn năm nô lệ giặc tàu      <br />Một trăm năm đô hộ giặc tây       <br />Hai mươi năm nội chiến từng ngày       <br />Gia tài của mẹ để lại cho con       <br />Gia tài của mẹ là nước Việt buồn&#8230;</em></p>
<p><em>Lúc đó ông nghĩ gì hay có lý giải gì?</em></p>
<p>- Tôi chỉ nghĩ ngay là nếu có hòa bình thì hạnh phúc quá! Điều mong ước này không phải vì tôi sợ đi lính, bởi tôi lúc ấy đã được cấp giấy hoãn dịch gia cảnh với lý do tôi là con trai duy nhất còn lại trong gia đình, có cha chết vì tổ quốc, và anh đang tại ngũ.</p>
<p>&#160;</p>
<p>10. Đã tham gia sinh hoạt văn nghệ, làm báo ở Úc trong mấy thập niên qua, xin ông cho biết người Việt ở Úc có những nhận xét, cảm nhận ra sao về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn?</p>
<p>- Vào năm 1982 khi chúng tôi tổ chức đưa Khánh Ly sang Úc cùng nhạc sĩ Hà Thúc Sinh để hát trong các chương trình mang tên “Hát cho quê hương lao tù.” Chính vì Khánh Ly hát nhạc Hà Thúc Sinh nên mới được Cộng đồng người Việt tị nạn tại Úc lúc ấy chấp nhận. Chúng tôi cũng phải cam kết không cho Khánh Ly hát nhạc Trịnh. Thế nhưng trong một chương trình ở Melbourne, cô vẫn hát vài bản nhạc của Trịnh Công Sơn và nại cớ là do khán giả yêu cầu. Thế là bạo động xảy ra, một nhân viên an ninh bị đâm vào đùi và chương trình phải giải tán vào lúc giữa. Bây giờ, gần hai thập niên sau, chuyện ấy đã phần nào phai nhạt. Nữ ca sĩ Khánh Ly nay đã có thể hát bất cứ nhạc phẩm nào của Trịnh Công Sơn mà không còn sợ phản ứng từ phía khán giả, kể cả những khán giả vẫn còn giữ lập trường Trịnh Công Sơn và Khánh Ly là hai tay phản chiến “làm nản lòng chiến sĩ.”</p>
<p>Dù có người oán ghét và không muốn nghe nhạc Trịnh, nhưng nhiều người Việt khác ở Úc cũng công nhận rằng nếu thời ấy không có Trịnh Công Sơn thì chắc cũng chẳng có ai có khả năng ghi lại nhiều điều về cuộc chiến bằng người nghệ sĩ tài hoa này.</p>
<p>&#160;</p>
<p>11. Năm nay giỗ 10 năm Trịnh Công Sơn, những nơi có đông người Việt ở Úc có sinh hoạt tưởng niệm nhạc sĩ không?</p>
<p>Chắc chắn là không. Bởi trước đây khi nghe tin nhạc sĩ qua đời, có một nhóm muốn tổ chức “Đêm tưởng nhớ Trịnh Công Sơn” đã bị chống đối quyết liệt đến độ phải hủy bỏ chương trình.</p>
<p>Nghe nhạc Trịnh, hoặc hát vài bản của Trịnh Công Sơn trong một chương trình đại nhạc hội thì chẳng sao. Nhưng nếu tổ chức thành một buổi như để “vinh danh” thì khó mà thu hút được sự tham dự đông đảo, cũng như sẽ có kẻ phá rối.</p>
<p>&#160;</p>
<p>12. Những lời ca viết cho quê hương của Trịnh Công Sơn thì gây tranh cãi, nhưng nhiều người yêu thích tình ca họ Trịnh. Có một vài bài ca nào của Trịnh Công Sơn mà ông yêu thích? Tại sao ông lại thích những ca khúc đó?</p>
<p>Tôi thích bài “Diễm xưa” và bài “Biển nhớ.” Có lẽ vì ngày xưa tôi có cái thú đội mưa để ra quán cà-phê Thăng Long nghe nhạc Trịnh nên thấm bài “Diễm xưa.” Còn bài &quot;Biển nhớ&quot; thì bất kỳ một người tị nạn nào từng ở đảo thì sẽ phải nghẹn ngào mỗi khi bài hát này được trổi lên để thay lời chia tay giữa người được lên đường đi định cư và kẻ còn ở lại.</p>
<p>&#160;</p>
<p>13. Nhận xét của riêng ông về con người Trịnh Công Sơn?</p>
<p>- Dù là người gây ra nhiều tranh luận, tôi vẫn xem Trịnh Công Sơn là một nghệ sĩ lớn của nền âm nhạc Việt. Nhiều tác phẩm của ông sẽ còn sống mãi bởi những chữ nghĩa, trau chuốt, lạ lùng, và quyến rũ người nghe. Nếu người nghe có thể tách con người yếu đuối và nhập nhằng của Trịnh Công Sơn ra khỏi các bản nhạc của ông &#8211; thì đó là một điều tuyệt vời.</p>
<p>&#160;</p>
<p>© 2011 Buivanphu</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/19698/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đ&#224;i ph&#225;t thanh S&#224;i G&#242;n ng&#224;y 30.4.1975</title>
		<link>http://damau.org/archives/19600</link>
		<comments>http://damau.org/archives/19600#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 25 Apr 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Bùi văn Phú</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Tư Liệu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/19600</guid>
		<description><![CDATA[Khi bộ đội vào được trong dinh, ai đã gặp Tổng thống Dương Văn Minh đầu tiên và đã nói những gì? Ai giương cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam trên nóc dinh? Bên cạnh đó, những sự việc xảy ra tại đài phát thanh Sài Gòn liên quan đến một số lãnh đạo sinh viên, trí thức, đoàn thể và đặc biệt là Trịnh Công Sơn cũng gây tranh luận.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong></strong></p>
<p><strong></strong></p>
<p>Năm 2003 tôi có bài viết “<a href="http://buivanphu.wordpress.com/2010/04/27/dinh-%C3%B0%E1%BB%99c-l%E1%BA%ADp-tr%C6%B0a-ngay-30-04-1975/" target="_blank">Dinh Độc Lập trưa ngày 30.4.1975</a>” đầu tiên, bổ sung những năm sau, nêu ra khác biệt trong chuyện kể về thời khắc lịch sử qua đối chiếu sách báo trong nước và nước ngoài.</p>
<p>Chuyện gì xảy ra tại cổng Dinh Độc Lập, tăng nào vào trước, xe 390 hay 843? Khi bộ đội vào được trong dinh, ai đã gặp Tổng thống Dương Văn Minh đầu tiên và đã nói những gì? Ai giương cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam trên nóc dinh? Những nghi vấn đã là đề tài tranh cãi trên tạp chí <i>Xưa&amp;Nay</i> giữa những sĩ quan và bộ đội, với hai nhân chứng lịch sử quan trọng có mặt ở đó lúc bấy giờ là Đại úy bộ binh Phạm Xuân Thệ và Trung tá Chính ủy Bùi Văn Tùng, nay là Trung tướng Phạm Xuân Thệ và Đại tá Bùi Văn Tùng. Một nhân chứng khác là Thượng tá Bùi Tín, Phó Tổng biên tập báo Quân đội Nhân dân, cũng có mặt. Nhưng nay đã bị xóa tên trong các tài liệu lịch sử vì ông Bùi Tín đã bỏ nước ra đi vào năm 1990.</p>
<p>Vì có nhiều điều không nhất quán nên những năm gần đây Viện Lịch sử Quân đội Việt Nam và Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân đã có những nghiên cứu, tổ chức thảo luận về thời khắc lịch sử này. Nhưng tranh cãi về chuyện ai nói gì với lãnh đạo miền Nam tại Dinh Độc Lập, ai viết văn bản đầu hàng cho Tổng thống Dương Văn Minh đọc để thâu băng cho đến nay vẫn chưa được xác minh rõ ràng.</p>
<p>Bên cạnh đó, những sự việc xảy ra tại đài phát thanh Sài Gòn liên quan đến một số lãnh đạo sinh viên, trí thức, đoàn thể và đặc biệt là Trịnh Công Sơn cũng gây tranh luận vì ông là một nhạc sĩ nổi tiếng đã phát biểu và hát “Nối vòng tay lớn” trên đài vào giờ phút lịch sử sang trang. Lời ca của ông rất nhiều người biết đến. Tựa bài hát còn được dùng để đặt tên cho những trại hè sinh viên &#8211; Trại hè Nối vòng tay lớn &#8211; do phòng thông tin quốc ngoại tổ chức sau khi Hiệp định Ba Lê 1973 được kí kết để mời gọi sinh viên du học nước ngoài về thăm quê hương, sinh hoạt cùng sinh viên trong nước.</p>
<p>Nội dung các lời dẫn và phát biểu trong chương trình phát thanh đầu tiên của “Đài Sài Gòn Giải phóng”, như ghi lại trong băng phổ biến trên damau.org ngày 1.4.2011[http://damau.org/archives/19337], đã khiến một số bạn đọc muốn biết hư thực ra sao. Bài viết này trình bày những tài liệu ghi nhận được chung quanh đoạn băng đó.</p>
<p align="center">*</p>
<p><b>1. Những phát biểu về đầu hàng</b></p>
<p>Trước hết là ghi lại những phát biểu nghe được trong băng, từng đoạn một:</p>
<p>(1) Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hoà hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến điạ phương đã giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến điạ phương giao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.</p>
<p>(2) Trong tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc (không rõ) cả nước đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hoà bình của dân tộc và trở lại sinh hoạt bình thường. Các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn (không rõ).</p>
<p>(3) Chúng tôi đại diện Lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn.</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H01_XuaNay_234.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto" title="BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H01_XuaNay_234" border="0" alt="BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H01_XuaNay_234" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H01_XuaNay_234_thumb.jpg" width="297" height="440" /></a></p>
<p>Ông Nguyễn Hữu Thái, cựu lãnh đạo sinh viên Sài Gòn có mặt tại đài và là người đã phối trí chương trình phát thanh trưa ngày 30.4, trong hồi ức trên tạp chí <i>Xưa&amp;Nay</i> [Số 234, tháng 4.2005, tr. 19-20] tựa “Tiếng nói cách mạng đầu tiên trên Đài phát thanh Sài Gòn”, ghi lại phần mở đầu chương trình phát thanh vào lúc hơn 2 giờ chiều:</p>
<p>“Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới Dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng cắm cờ trên Dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái…”</p>
<p>Sau đó ông giới thiệu lời kêu gọi của Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu:</p>
<p>“Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”</p>
<p>Bài hồi ức ghi tiếp:</p>
<p>[trích báo <i>Xưa&amp;Nay</i>]</p>
<p>Tiếp theo là lời của tướng Dương Văn Minh:</p>
<p>“Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hoà hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến điạ phương phải giải tán hoàn toàn. Từ Trung ương đến điạ phương trao lại cho Chính phủ cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam”.</p>
<p>Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu tiếp theo:</p>
<p>“Trong tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hoà bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Nhân viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”.</p>
<p>Và cuối cùng là lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Bùi Văn Tùng:</p>
<p>“Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn”.</p>
<p>[hết trích]</p>
<p>Trong phần âm thanh phổ biến, so với trích dẫn từ tạp chí <i>Xưa&amp;Nay</i> ngoài những chỗ nghe không rõ có vài khác biệt.</p>
<p>Căn cứ vào hồi ức của Nguyễn Hữu Thái, ba phát biểu đó là của:</p>
<p>(1) Tổng thống Dương Văn Minh. Trong phần này tôi nghe là “đã” giải tán hoàn toàn, bài viết ghi “phải” giải tán hoàn toàn. Vì âm thanh rè, khó phân biệt rõ nên tôi không chắc. Tuy nhiên theo tài liệu của giới chức quân sử Việt Nam, bản tuyên bố đầu hàng do Chính ủy Bùi Văn Tùng viết trên giấy cho Tổng thống Dương Văn Minh đọc là “phải” giải tán hoàn toàn.</p>
<p>Trong tác phẩm “<i>Giai Phong</i><i>! </i><i>The Fall and Liberation of Saigon</i>” của Tiziano Terzani [Xuất bản năm 1975 bằng tiếng Ý. John Shepley dịch sang Anh ngữ. Nxb St. Martin 1976], phóng viên người Ý ở lại Sài Gòn cho đến tháng 7.1975 đã ghi nhận lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh do Chính ủy Bùi Văn Tùng viết trên tờ giấy mầu vàng [tr. 95]. Tác giả ghi nhận chương trình phát thanh có lại lúc 2 giờ 30 chiều vì đài đã im tiếng từ sau tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh vào lúc 10 giờ 25 sáng, khi ông kêu gọi hai bên buông súng và chờ đợi bàn giao quyền hành cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.</p>
<p>Buổi phát thanh đầu tiên sau 2 giờ chiều của lực lượng giải phóng theo Terzani có phần mở đầu như sau:</p>
<p>“This is the voice of the Revolutionary Forces of Saigon-Gia Dinh. I am a representative of the Liberation Forces. Now Duong Van Minh will make an appeal.”</p>
<p>[Dịch: Đây là tiếng nói của Lực lượng Cách mạng Sài Gòn Gia Định. Tôi là đại diện của Lực lượng Giải phóng. Bây giờ Dương Văn Minh sẽ có lời kêu gọi.”</p>
<p>Theo tác giả tường thuật, sau lời giới thiệu có sự im lặng rồi là lời tuyên bố của Tướng Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu [tr. 96]</p>
<p>“I, General Duong Van Minh, president of the Saigon government, appeal to the armed forces of the Republic of Vietnam to lay down their arms and surrender unconditionally to the forces of the National Liberation Front. Furthermore I declare that the Saigon government is completely dissolved at all levels.”</p>
<p>“In the spirit of harmony and national reconciliation, I, Professor Vu Van Mau, prime minister, appeal to all levels of the population to greet this day of peace for the Vietnamese people with joy. I appeal to all employees of the administration to return to their posts and continue their work.”</p>
<p>Như thế cho thấy lời phát biểu của Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu trên đài là có thực, nội dung như trong băng ghi âm.</p>
<p>Họ có bị ép buộc nói thế không? Theo lời kể của kí giả Đức Borries Gallasch là người đã cho mượn máy cát-sét để ghi lời đầu hàng thì đã có lời qua tiếng lại giữa Chính ủy Tùng và Tổng thống Minh về một vài chữ mà ông Tùng muốn ông Minh phải sử dụng. Trong một phóng sự điều tra 4 kì của đài truyền hình trong nước <a href="http://www.youtube.com/watch?v=OHwf5O3QxTg&amp;feature=related" target="_blank">HTV 9</a>, phần 4 chiếu khúc phim tài liệu với kí giả Gallasch kể về không khí và chuyện viết lệnh đầu hàng, thu thanh sau khi ông vừa rời đài phát thanh và trở lại đường Thống Nhất trước Dinh Độc Lập.</p>
<p>Trong “<i>30.4.1975 Bản hùng ca Thế kỷ XX”</i> [Nxb Lao động 2006] có nhiều tài liệu, hồi ức của những cấp chỉ huy quân sự Quân đội Nhân dân về chiến thắng năm 1975. Phần trích hồi ức của Tướng Võ Nguyên Giáp ghi lời đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh đã được Bộ Chính trị và Quân ủy nghe qua dây ghi âm vào chiều 30.4 như sau: “Tôi là Dương Văn Minh, tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi (không có: Quân lực Việt Nam Cộng hoà) bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến điạ phương vào giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.” [tr. 243]</p>
<p>Hồi ức của Tướng Giáp không ghi “Quân lực Việt Nam Cộng hoà” là vì không có trong phần âm thanh gốc hay quan chức thông tin kiểm duyệt bỏ đi?</p>
<p>(2) Sau lời tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh là tuyên bố của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Trong băng những chỗ về tên và chức vụ không nghe rõ. Không biết ông Thái nghe băng ghi lại có nghe được danh xưng và chức vụ của vị Thủ tướng cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà hay không? Ông ghi những điều đó vào trong bài viết vì đã biết rõ ông Vũ Văn Mẫu là ai hay ông dựa theo những nguồn tài liệu khác?</p>
<p>(3) Kế đến là lời Chính ủy Bùi Văn Tùng chấp nhận sự đầu hàng. Trong phần này, tôi nghe “tướng” Dương Văn Minh. Còn trong bài ghi là “ông” Dương Văn Minh.</p>
<p>Một nguồn thông tin khác là mạng BBC Việt ngữ ngày 29.04.2005 trong đó có trích báo <i>Tuổi Trẻ</i> ngày 23.03.2005 với lời của cựu Chính ủy Bùi Văn Tùng như sau: “Tôi thảo cho ông Dương Văn Minh lời đầu hàng. Sau khi ông đọc xong thì tôi đọc lời tuyên bố: ‘Chúng tôi đại diện lực lượng quân giải phóng miền Nam VN long trọng tuyên bố TP Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, tổng thống chính quyền Sài Gòn&#8230;’.”</p>
<p>Bài hồi ức trên tạp chí <i>Xưa&amp;Nay</i> số tháng 4.2005 cũng dùng chữ “ông” trước danh xưng Dương Văn Minh, thay vì chữ “tướng”. Có hai băng ghi âm khác nhau? Hay vì nghe không rõ nên ghi nhầm ở đây?</p>
<p>Lời chấp nhận đầu hàng này cũng đã được hãng thông tấn AP, qua bản tin của kí giả George Esper gửi đi và đăng trên nhật báo <i>New York Times</i> ngày 1.5.1975 đã ghi nguyên văn, trong đó có chữ Gen. &#8211; tiếng Anh nghĩa là “tướng” &#8211; với nội dung rất đúng lời của chính ủy Bùi Văn Tùng như ghi ra từ băng:</p>
<p>“We representatives of the liberation forces of Saigon formally proclaim that Saigon has been totally liberated. We accept the unconditional surrender of Gen. Duong Van Minh, President of the former Government.”</p>
<p>Hãng thông tấn AP có nhân viên nghe đài và dịch lại nguyên văn để kí giả Esper ghi nhận trong bài tường thuật của ông.</p>
<p>Tuần báo TIME ngày 12.05.1975 trong một bài tường thuật cũng ghi lời chấp nhận đầu hàng: “Saigon has been totally liberated. We accept the unconditional surrender of General Duong Van Minh, President of the former government.”</p>
<p>Dựa trên những tường thuật của Borries Gallasch, Tiziano Terzani và George Esper thì những lời tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Chính ủy Bùi Văn Tùng trên đài phát thanh Sài Gòn chiều ngày 30.4.1975 là có thực.</p>
<p>Cũng cần nói thêm là Tổng thống Dương Văn Minh trong ngày 30.4 đã đọc hai tuyên bố trên đài Sài Gòn.</p>
<p>Nhật báo <i>New York Times</i> ngày 1.5.1975 có đăng lời kêu gọi buông súng của Tổng thống Dương Văn Minh và của phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh dưới tiêu đề “Saigon’s Surrender Texts” do hãng thông tấn AFP gửi đi bản dịch không chính thức. Đây là bản tuyên bố được thu âm vào sáng sớm tại Dinh Thủ tướng và được phát đi trên đài lúc 10 giờ 25 phút sáng. Nguyên văn tiếng Việt của hai lời tuyên bố này cũng đã được ghi lại nguyên văn trên nhật báo <i>Nhân Dân</i> ngày 1.5.1975.</p>
<p>Còn lời tuyên bố đầu hàng phát đi lúc khoảng 2 giờ 30 chiều là sau khi Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu được áp giải từ Dinh Độc Lập đến đài phát thanh. Tại đây Chính ủy Bùi Tùng đã viết bản văn đầu hàng cho Tổng thống Minh đọc vào máy cát-sét của kí giả người Đức là Borries Gallasch, trước khi được truyền đi qua sóng trong chương trình phát thanh đầu tiên của cách mạng do Nguyễn Hữu Thái điều hợp.</p>
<p align="center">*</p>
<p><b>2. Về phát biểu và hát “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn</b></p>
<p>Về sự kiện Trịnh Công Sơn phát biểu và hát trên đài. Tiếp tục ghi lại tiếng nói trong băng:</p>
<p>“(không rõ) Cách mạng Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định. Và chúng tôi xin công bố là Thành phố Sài Gòn đã hoàn toàn được giải phóng lúc 12 giờ ngày hôm nay 30 tháng Tư năm 1975. Chúng tôi xin đồng bào hãy bình thản và bình tĩnh tiếp tục cuộc sống bình thường. Quân đội cách mạng đã làm chủ hoàn toàn thành phố và hiện tại chúng tôi (không rõ) nhưng sau này (không rõ) tất cả anh em thanh niên sinh viên học sinh Sài Gòn và toàn quốc đã biết. Chúng tôi xin giới thiệu anh Sơn có thể nói vài lời và cũng là hát cho qúi vị nghe một bài ngắn ngắn.”</p>
<p>Đoạn này là giọng nói của Nguyễn Hữu Thái, vì ông điều hợp buổi phát thanh. Lúc đó tại đài Sài Gòn có Nguyễn Hữu Thái cùng với giáo sư Huỳnh Văn Tòng, một trí thức từ Pháp về. Ông Thái viết trong hồi ức:</p>
<p>[trích <em>Xưa &amp; Nay</em>]</p>
<p>Thái đích thân đứng ra điều hành buổi phát thanh ấy, đọc thêm bảng công bố của Cách mạng đối với vùng mới giải phóng, mượn của một chính trị viên.</p>
<p>Thái và Tòng cố tình xưng tên tuổi mình là nhằm tạo tâm lý trấn an nhân dân Sài Gòn. Gần đây, nhân dân phía Nam từng bị guồng máy tâm lý chiến của Mỹ và Sài Gòn ra rả tung tin thất thiệt, mô tả nào cảnh tắm máu khi bộ đội đến miền Trung làm dân Sài Gòn sợ điếng hồn. Mọi người thực sự đang kinh hoàng, chỉ mong tìm đường đào thoát chạy thoát thân với bất cứ giá nào! Hy vọng khi nghe được tên tuổi Thái, Tòng họ sẽ nghĩ: “À, nếu mấy tên tư sản kiểu như Tòng, Thái mà còn đó thì chắc cũng không đến nỗi nào!</p>
<p>…</p>
<p>Xen kẽ vào các lời ghi âm sẵn phát đi phát lại nêu trên, họ tranh thủ kêu gọi đại diện đồng bào các giới đến lên tiếng trên làn sóng phát thanh.</p>
<p>Thấy trong đám đông ùa đến đài có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sinh viên Huỳnh Ngọc Chênh đưa anh vào và tất cả cùng anh hát vang bài “Nối vòng tay lớn”. Không có đàn trống, chúng tôi vỗ tay, khỏ nhịp lên bàn cùng nhau hát vang:</p>
<blockquote><p><i>Rừng núi dang tay nối lại biển xa        <br /></i><i>Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà        <br /></i><i>Mặt đất bao la anh em ta về        <br /></i><i>Gặp nhau mừng như bão táp quay cuồng        <br /></i><i>Trời rộng bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam</i></p>
<p><i>…</i><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay        <br /></i><i>Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi        <br /></i><i>Vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo        <br /></i><i>Từ quê nghèo lên phố lớn        <br /></i><i>Nắm tay nối liền </i><i>biển xanh sông gấm nối liền </i><i>một vòng tử sinh</i><i>.</i></p>
</blockquote>
<p>Bài hát ra đời từ năm 68 nói lên giấc mơ của dân tộc nay mới trở thành hiện thực. Đây là bài hát đầu tiên được phát trên sóng của đài phát thanh Sài Gòn ngày giải phóng.</p>
<p>[hết trích]</p>
<p>Bài viết không ghi lời phát biểu của Trịnh Công Sơn, cũng không ghi trọn vẹn lời ca mà nhạc sĩ cùng một vài người nữa đã đồng ca và câu hát cuối do Nguyễn Hữu Thái ghi lại không như phần âm thanh trên damau.org. Theo băng, đó là “Biển xanh sông gấm nối liền một vòng Việt Nam”. “Việt Nam” khác với “tử sinh” như ghi trong bài viết của Nguyễn Hữu Thái.</p>
<p>Có hai băng khác nhau chăng? Theo Nguyễn Hữu Thái, ông có băng ghi âm này từ nhà sử học Nguyễn Nhã tặng năm 2002.</p>
<p>Trong hồi ức, Nguyễn Hữu Thái không nhắc đến phát biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Tuy nhiên, khi ông viết rằng ông và Giáo sư Huỳnh Văn Tòng muốn có nhiều giới đồng bào đến để lên tiếng cho mọi người an tâm đừng bỏ nước ra đi thì việc Trịnh Công Sơn trước khi hát đã kêu gọi mọi người ở lại là hợp với tình cảnh bấy giờ tại đài và đúng ý muốn của các ông Thái, Tòng và một chính trị viên bộ đội có mặt.</p>
<p>Về phát biểu của Trịnh Công Sơn, trên tạp chí mạng honvietquochoc.com.vn của Hội Nhà văn Việt Nam ngày 18.8.2010 có bài của Thanh Huyền tựa: “<a href="http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu/Tu-lieu-lich-su/Trinh-Cong-Son-hat-Noi-vong-tay-lon.aspx" target="_blank">Trịnh Công Sơn hát ‘Nối vòng tay lớn’</a>”&#160; cũng ghi lại lời phát biểu của nhạc sĩ, nguyên văn giống như trong băng đã phổ biến, nhưng cắt bỏ một câu quan trọng có lẽ vì là vấn đề “nhạy cảm” trong nước. Đó là câu: “Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.”</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H02_HonViet_20100818.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H02_HonViet_20100818" border="0" alt="BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H02_HonViet_20100818" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/BuiVanPhu_TrinhCongSon_DaiPhatThanh_H02_HonViet_20100818_thumb.jpg" width="424" height="279" /></a></p>
<p>Phần lời ca, tác giả Thanh Huyền ghi lại đầy đủ, nhưng câu cuối cùng cũng ghi “tử sinh” thì khác với băng trên damau.org và giống như trong hồi ức của Nguyễn Hữu Thái.</p>
<p><b>3. Ai đã có mặt tại đài phát thanh Sài Gòn?</b></p>
<p>Sự kiện Trịnh Công Sơn hát trên đài Sài Gòn vào giờ phút lịch sử còn dẫn đến một số thắc mắc: Ai đã đưa nhạc sĩ đến đài? Ông đã phát biểu và hát tự nguyện hay bị ép buộc?</p>
<p>Theo Hoàng Xuân Sơn, một người có chơi với Trịnh Công Sơn thì Nguyễn Hữu Thái đã đưa nhạc sĩ đến đài. Trong bài “<a href="http://damau.org/archives/19354" target="_blank">Tạm thay lời kết: vạn nẻo mây tần</a>” đăng trên damau.org 04.04.2011, Hoàng Xuân Sơn kể ngày 30.4 Trịnh Công Sơn ghé qua nhà ông với vẻ “Mặt hớt hơ. Và giọng hớt hải” kêu ông cùng lên đài hát “Nối vòng tay lớn” nhưng ông không đi. Nhìn ra đường thấy Nguyễn Hữu Thái đưa Trịnh Công Sơn lên xe cùng bộ đội và những người đeo băng đỏ.</p>
<p>Nếu Trịnh Công Sơn đi với Nguyễn Hữu Thái thì hai người tách rời nhau khi nào? Vì trong hồi ức trên <i>Xưa&amp;Nay</i> đã dẫn trên, ông Thái viết “Thấy trong đám đông ùa đến đài có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Huỳnh Ngọc Chênh đưa anh vào…” và ông cho biết đây là lần đầu tiên gặp lại Trịnh Công Sơn sau 18 năm. Nguyễn Hữu Thái có mặt tại đài là đi theo đoàn xe do bộ đội áp giải Tổng thống Minh, Thủ tướng Mẫu từ Dinh Độc Lập đến đài để đọc lệnh đầu hàng. Đi chung với đoàn có Lý Quí Chung, Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Văn Tòng, Hà Huy Đĩnh.</p>
<p>Trong bài: “Góp phần làm sáng tỏ sự kiện lịch sử 30/4/1975” [<i>Xưa&amp;Nay</i> số 264, tháng 7.2006, tr. 27] Nguyễn Hữu Thái viết: “Toán sinh viên do anh Hà Thúc Huy hướng dẫn đã cùng bộ đội chiếm giữ Đài truyền hình và Đài phát thanh rồi nhưng lúng túng không biết phải làm gì tiếp”. Ông cũng đã kể với Terzani trong <i>Giai Phong!</i> là sau khi nghe lệnh buông súng lúc 10 giờ 20 sáng 30.4, ông đang ở Đại học Vạn Hạnh cùng với sinh viên lo tiếp thu quân trang quân phục của lính Việt Nam Cộng hoà đã buông súng theo lệnh Tổng thống Dương Văn Minh. Sau đó ông đi tìm Lý Quí Chung nên vào Dinh Độc Lập, nhưng tài xế sợ và đã không đưa ông và Lý Quí Chung đến đài. [tr. 88]. Như thế, nếu chuyện Nguyễn Hữu Thái kể là thật thì có thể người mà Hoàng Xuân Sơn thấy đưa Trịnh Công Sơn đến đài có thể là Hà Thúc Huy.</p>
<p>Bài “Góp phần làm sáng tỏ sự kiện lịch sử 30/4/1975” đã không làm sáng tỏ mà còn làm lịch sử rối thêm. Đối chiếu với bài hồi ức của ông đăng trên cùng tạp chí vào tháng 4.2005, bài này ông đã đảo lộn thứ tự các tuyên bố của Tổng thống Minh, Thủ tướng Mẫu, Chính ủy Tùng sang một thứ tự mới: Tổng thống Minh, Chính ủy Tùng rồi mới đến Thủ tướng Mẫu. Như thế thứ tự thật sự của các tuyên bố ghi trong băng mà nhà sử học Nguyễn Nhã đã tặng ông như thế nào?</p>
<p>Cuối bài, tác giả Nguyễn Hữu Thái đề nghị nên có những hội thảo khoa học với sự tham dự của các nhân chứng trong vào ngoài nước và cho biết ông đang cố gắng hoàn thành một cuốn sách về sự kiện 30.4.1975. Tập sách nhỏ chừng 50 trang mà ông đã nói với BBC Việt ngữ vào năm 2005 là đã không được phép xuất bản ở Việt Nam.</p>
<p>Chuyện ở đài phát thanh, theo Đoàn Văn Toại là người mà thời sinh viên thuộc thành phần chống chính phủ, tác giả quyển <em>The Vietnamese Gulag</em> [Nxb Simon and Schuster 1986. Tiếng Pháp do Nxb Robert Laffont 1979] thì có những chi tiết rất khác.</p>
<p>Ông kể sau khi nghe lệnh buông súng vào lúc hơn 10 giờ sáng, ông đi tìm bạn cùng thời hoạt động sinh viên và gặp Nguyen Van Thang, người miền Nam, ở trước Dinh Độc Lập và sau đó cùng nhau đi bộ đến đài phát thanh. Tại đài ông thấy hai kĩ thuật viên đã phát thanh lời kêu gọi buông súng của Tổng thống Minh và chưa biết phải làm gì. Họ tưởng ông là người của Mặt trận đến tiếp thu. Ông soạn “Quyết định số 1” kêu gọi dân chúng gom vũ khí vất bên đường đem đến những nơi chỉ định như dinh, tổng hội sinh viên hay Đại học Phật giáo.</p>
<p>Về sự có mặt của Trịnh Công Sơn, Đoàn Văn Toại viết:</p>
<p>“After it was broadcast, we called up Trinh Cong Son, the celebrated composer of peace music and lyrics, whose work had long been banned by the regime. Getting into the spirit of it, he came down to the station with his tapes, which the technicians were happy to play…” [tr. 190]</p>
<p>[Dịch: Sau khi Quyết định (số 1) được phát thanh, chúng tôi kêu Trịnh Công Sơn, một người sáng tác nhiều nhạc và lời ca hoà bình đã bị chế độ cấm phổ biến. Hoà nhập vào niềm vui hoà bình, anh đã đến đài mang theo băng nhạc của mình để những kĩ thuật viên vui vẻ phát đi…]</p>
<p>Tác giả ghi nhận lúc đó tại đài cũng có nhiều chính trị gia, thành phần thứ ba và lãnh đạo các đoàn thể, tổ chức tôn giáo, văn hoá với kiến nghị ủng hộ chế độ mới muốn được phát đi trên đài.</p>
<p>Nhưng trong tác phẩm “<i>The Fall of Saigon</i>” [Nxb Simon and Schuster 1985] Đoàn Văn Toại, rời Việt Nam qua Pháp năm 1978, đã kể với tác giả David Butler rằng đại diện các đoàn thể muốn ông đọc những kiến nghị của họ nhưng ông không đọc và ông nói với mấy người mặc quần áo như bộ đội đã đến đài là bản “Quyết định số 1” cũng chưa được truyền đi mà đến giờ đài chỉ có phát nhạc. [tr. 466]</p>
<p>Theo Đoàn Văn Toại, đài Sài Gòn còn phát thanh. Thông tin trên báo nước ngoài cho biết đài im tiếng – silent &#8211; từ sau khi phát đi lệnh buông súng lúc 10 giờ 25 phút của Tổng thống Dương Văn Minh. Không hiểu kí giả nước ngoài ghi “silent” có nghĩa không có gì trên sóng, hay không có tiếng nói, tin tức. Chỉ phát thanh nhạc thì họ cũng cho là đài im tiếng? </p>
<p>Trang thông tin anhbasam.wordpress.com ngày 10.04.2011, khi điểm tin băng ghi âm trên damau.org có nhắc lời tác giả Hoài Hương trong một bài viết dịp 30.04 năm ngoái cho biết Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình, cựu Phó Chính ủy Quân khu 4 đã kể lại<strong> </strong>“… <em>Sau khi TT. Dương Văn Minh đọc xong lời tuyên bố, trở lại Dinh Độc Lập, chúng tôi mới cho anh em sinh viên Sài Gòn thuộc Tổng đội Sinh viên Sài Gòn vào đàn hát các bài ca cách mạng. Trước giờ mọi người nói vào lúc TT. Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố </em><strong>đã có anh em sinh viên Sài Gòn có mặt là sai</strong><em>.</em><em> Lúc đó không có<b> </b>một thường dân nào hết.”</em><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><em>Tác giả Hoài Hương ghi lại như thế. Vậy tướng Hoàng Trọng Tình và Đoàn Văn Toại ai đúng, ai sai?</em></p>
<p>Sau khi phần ghi âm được phổ biến trên damau.org, có bạn đọc cho biết họ đã nghe Trịnh Công Sơn hát “Nối vòng tay lớn” với tiếng đàn.</p>
<p>Như thế trong vòng 4 tiếng đồng hồ từ 10 giờ 30 phút sáng, sau khi đài phát đi lời tuyên bố buông súng của ông Minh và của Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cho đến khoảng 2 giờ 30 chiều ngày 30.4 là lúc có phần phát thanh lệnh đầu hàng do Nguyễn Hữu Thái điều hợp thì làn sóng đài có phát đi điều gì không? Có phát nhạc từ băng cát-sét, có thể là những ca khúc trong băng Hát cho quê hương Việt Nam, của Trịnh Công Sơn không? Vấn đề này cần được tìm hiểu thêm.</p>
<p>Còn chuyện Trịnh Công Sơn phát biểu rất hăng say, rất có giọng cách mạng trên đài, theo tôi là vì ông tin tưởng hoà bình đã đến với quê hương. Sau bao nhiêu năm chiến tranh, lúc im tiếng súng có nhiều người mừng. Trong khi đó Trịnh Công Sơn là người đã viết lên nhiều ca khúc nói lên mơ ước của mình, của dân tộc thì chắc ông phải rất mừng vui vào giờ khắc đó. Chưa bàn đến quan điểm chính trị của ông mà có người cho là thân cộng vào lúc đó.</p>
<p>Thêm vào đó, câu chuyện của Trịnh Cung kể cách đây hai năm: “<a href="http://damau.org/archives/5055" target="_blank">Trịnh Công Sơn &amp; tham vọng chính trị</a>” về một thăm dò cho vai trò chính trị có thể có của Trịnh Công Sơn trong chính phủ mới có thể đã khiến ông khi lên đài phát biểu và cất tiếng ca bằng tất cả sự nhiệt tình và rung động của con tim vào giây phút lịch sử đó. Dù chỉ ít phút sau thì biết mình đã bị lừa. Như nhiều người Việt khác, như bao nhiêu bà mẹ đã bỏ công nuôi cách mạng để rồi phải than thở sau ngày 30.4.1975.</p>
<p><b>4. Trả lại sự thật cho lịch sử</b></p>
<p>Cuộc chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt đột ngột vào ngày cuối tháng Tư ba mươi sáu năm về trước. Các nhà phân tích tình hình thời bấy giờ dù biết rằng miền Nam không thể tự bảo vệ trước sức tiến quân của bộ đội miền Bắc. Nhưng không ai ngờ kết cuộc đã đến nhanh như thế.</p>
<p>Một cuộc chiến kéo dài gần 20 năm và phút cuối đến quá bất ngờ, ngay cả bộ đội cũng không biết kết thúc đã đến nhanh như thế, cho nên đến hôm nay khi nhớ lại sự việc nhiều chứng nhân lịch sử còn có những ghi nhận khác nhau, đôi khi trái nghịch nhau do bởi trí nhớ đã phai mờ cũng có mà vì hoàn cảnh chính trị cũng có.</p>
<p>Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một người đã che chở cho Trịnh Công Sơn sau này đã phát biểu ngày 30.4 “có triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”. Trước khi qua đời ông cũng nhắc đến thời khắc lịch sử mà sau hơn 30 năm còn gây tranh cãi. Ông nói muốn có một lịch sử công bằng cần phải có tiếng nói của mọi phiá trong các cuộc hội thảo, như tiếng nói của ông Triệu Quốc Mạnh, Nguyễn Hữu Hạnh là những người của phiá Việt Nam Cộng hoà.</p>
<p>Đối với sự kiện Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh cũng thế. Hãy để mọi chứng nhân lịch sử được nói ra những sự việc họ chứng kiến. Hãy trả lại cho lịch sử những sự thật của nó.</p>
<p>© 2011 Buivanphu</p>
<p>___</p>
<p><b>Tài liệu tham khảo:</b></p>
<p>1/ <i>Xưa&amp;Nay</i>. Tạp chí của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam. Số 234 (4.2005), 258 (4.2006), 264 (7.2006)</p>
<p>2/ Butler, David. <i>The Fall of Saigon</i>. Simon and Schuster 1985</p>
<p>3/ Doan Van Toai và David Chanoff. <i>The Vietnamese Gulag</i>. Simon and Schuster 1986</p>
<p>4/ Terzani, Tiziano. <i>Giai Phong! The Fall and Liberation of Saigon</i>. St. Martin’s Press 1976.</p>
<p>5/ <i>30.4.1975 Bản hùng ca Thế kỷ XX</i>. Nhiều tác giả. Nxb Lao động 2006.</p>
<p>6/ <a href="[http://www.youtube.com/watch?v=OHwf5O3QxTg&amp;feature=related" target="_blank">HTV9</a> trên YouTube.com</p>
<p>7/ Thanh Huyền. Trịnh Công Sơn hát “<a href="http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu/Tu-lieu-lich-su/Trinh-Cong-Son-hat-Noi-vong-tay-lon.aspx" target="_blank">Nối vòng tay lớn</a>”. Tạp chí <i>Hồn Việt</i>. Hội Nhà văn Việt Nam. 18.8.2010</p>
<p>8/ Trịnh Cung. <i><a href="http://damau.org/archives/5055" target="_blank">Trịnh Công Sơn &amp; tham vọng chính trị</a></i>. Damau.org 1.4.2009</p>
<p>9/ Bùi Văn Phú. <i><a href="http://damau.org/archives/19337" target="_blank">Lời phát biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên đài Sài Gòn trưa ngày 30.4.1975</a>.</i> damau.org 1.4.2011</p>
<p>10/ Hoàng Xuân Sơn. <i><a href="http://damau.org/archives/19354" target="_blank">Tạm thay lời kết: vạn nẻo mây tần</a></i>. damau.org 4.4.2011</p>
<p>Chú thích cho hình:</p>
<p>H01: Bài hồi ức của Nguyễn Hữu Thái trên tạp chí <i>Xưa&amp;Nay</i> số 234, tháng 4.2005 (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
<p>H02: Bài trên tạp chí <i>Hồn Việt</i> của Hội Nhà văn Việt Nam ghi lại phát biểu của Trịnh Công Sơn trên đài Sài Gòn ngày 30.4.1975 (ảnh Bùi Văn Phú)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/19600/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>6</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

