<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tạp chí Da Màu - Văn Chương Không Biên Giới &#187; Ban Mai</title>
	<atom:link href="http://damau.org/archives/author/banmai/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://damau.org</link>
	<description>Thúc đẩy sự cảm thông và chấp nhận những dị biệt bắt nguồn từ văn hóa, ngôn ngữ, phái tính, màu da, tín ngưỡng, và chính kiến qua các hình thái văn học nghệ thuật ♦ Promoting the awareness and acceptance of cultural, language, gender, religious and political differences through literary and artistic expressions</description>
	<lastBuildDate>Wed, 23 May 2012 13:21:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.3.1</generator>
		<item>
		<title>SAO ANH KH&#212;NG VỀ CHƠI TH&#212;N VĨ?</title>
		<link>http://damau.org/archives/19615</link>
		<comments>http://damau.org/archives/19615#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Apr 2011 07:05:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Mai</dc:creator>
				<category><![CDATA[Biên Khảo]]></category>
		<category><![CDATA[Phê Bình]]></category>
		<category><![CDATA[Đọc và Đọc lại]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/19615</guid>
		<description><![CDATA[Văn chương theo đất nước rẽ vào những nhánh sông đổi mới, tuy chưa ra biển lớn .... Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay từng là thân phận của “Đây thôn Vĩ dạ”, ngày nay, đã được giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p align="center"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/hmactu43.jpg"><img style="border-bottom: 0px; border-left: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; border-top: 0px; margin-right: auto; border-right: 0px" title="hmactu43" border="0" alt="hmactu43" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/04/hmactu43_thumb.jpg" width="228" height="331" /></a> </p>
<p align="center"><em>(1)</em> (<em>Nguồn: blog </em><a href="http://vanhoavn.blogspot.com/2010/11/gia-hoi-danh-nhan-mien-trung.html" target="_blank"><em>Văn Hóa Việt Nam</em></a>)</p>
<p>70 năm trôi qua kể từ khi Hàn Mặc Tử – thi sĩ của “ <i>Trường thơ</i> <i>Loạn</i> “ đi vào cõi vĩnh hằng, người đời vẫn không nguôi nhắc về ông. Ông là một hiện tượng độc đáo, một tài năng kỳ lạ bất thường trong phong trào Thơ Mới.</p>
<p>Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/9/1912 mất ngày 11/11/1940. Quê ở làng Lệ Mỹ (Đồng Hới), Quảng Bình. Ngay từ nhỏ gia đình ông chuyển vào sống tại Quy Nhơn. Nhà nghèo, cha mất sớm, học trường Quy Nhơn đến năm thứ ba. Làm việc ở Sở Đạc điền Quy Nhơn một thời gian bị đau rồi mất việc. Vào Nam làm báo ở Sài gòn ít lâu lại trở về Quy Nhơn. Sau đó bị bệnh hủi, đưa vào bệnh viện phong Quy Hoà ở Quy Nhơn rồi mất ở đó. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 16 tuổi (lấy hiệu Phong Trần rồi Lệ Thanh). Đến năm 1936, khi phụ trách phụ trương văn chương báo Sàigòn mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử. [1; 196]</p>
<p>Là một tài thơ lớn của phong trào Thơ Mới, Hàn Mặc Tử sáng tạo nhiều bài thơ tuyệt hay như “<i>Mùa xuân chín</i>”, “<i>Đây thôn vĩ dạ</i>”…. Bên cạnh những vần thơ hết sức trong sáng, là một thế giới hình tượng kỳ lạ đầy ghê sợ, thể hiện một tâm hồn thơ đau đớn, điên loạn, những dòng thơ viết bằng máu và nước mắt. Hàn Mặc Tử chết sớm năm 28 tuổi. Thơ ông là bằng chứng của một chàng trai trẻ tài hoa có tâm hồn luôn yêu đời, khao khát cuộc sống, nhưng cuộc đời cay nghiệt đã bắt ông phải lìa bỏ sớm. Cho nên trong thơ Hàn Mặc Tử, ta có thể cảm và nghe được cả một thế giới bên trong vô hình đang lâm vào niềm tuyệt vọng, là tiếng nói vô vọng của một thân phận bị dồn đẩy đến cùng cực, chới với bên bờ miệng vực của thần chết mà ngoái nhìn, nuối tiếc cuộc đời.</p>
<p>Sinh thời, Hàn Mặc Tử đã từng được Phan Bội Châu khen ngợi: “ <i>Từ về nước đến nay được xem nhiều thơ văn quốc âm song chưa gặp được bài nào hay đến thế. Hồng Nam nhạn Bắc ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười to một tiếng ấy là thỏa hồn thơ đó</i>”. Có lẽ <i>ông già bến ngự </i>là người đầu tiên giới thiệu Hàn Mặc Tử với công chúng, động viên nhà thơ trẻ tự tin trên con đường sáng tạo.[16; 76]</p>
<p>Năm 1936, với tập “Gái quê”, thi nhân họ Hàn đã làm xôn xao dư luận trong phong trào Thơ Mới, đặc biệt khi <i>Trường thơ Loạn </i>và tập <i>Thơ Điên</i> xuất hiện, giới phê bình lắm kẻ khen chê. Ta hãy xem tác giả Thi nhân Việt Nam nhận xét: “<i>Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo Hàn Mặc Tử, thơ với thẩn gì! Toàn nói nhảm. Có người nghiêm khắc hơn nữa: Thơ gì mà rắc rối thế! Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc đi đọc hoài, thì ra nó lừa mình…</i>” [1; 196]</p>
<p>Trong báo Ngày nay số 122 ( chủ nhật ngày 7/8/ 1938) Xuân Diệu viết bài <i>Thơ của Người</i> có lẽ cũng nhằm ám chỉ các thi sĩ “<i>Trường thơ Loạn</i>” ở Bình Định bằng một thái độ phủ nhận: “<i>Hãy so sánh thái độ can đảm kia, thái độ của những nhà chân thi sỹ, với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống</i>”. [1; 197]</p>
<p>Nhưng cũng lắm người ca tụng. Nhận xét về Hàn Mặc Tử, tài năng lạ của một thời, Chế Lan Viên viết: “<i>Tôi xin hứa hẹn với các người rằng, mai sau những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan và còn lại của các thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử.</i>” [1; 197]</p>
<p>Tỉnh táo và sâu sắc, Trần Tái Phùng đã không ngần ngại phô bày vẻ đẹp tuyệt mỹ của thơ ca Hàn Mặc Tử : “<i>Nghệ thuật chàng tựa một con sông dài đi xuyên qua thế kỷ chúng ta và hai bờ sông dàn bày không biết bao nhiêu cảnh sắc khác nhau đẹp đẽ đến say ngợp, đến tê liệt cả lòng người</i>”[2]. Trần Tái Phùng đã ví thơ Tử với những khung cảnh thần tiên của thời thượng cổ theo hội họa của Poussin, Millet và Murillo…[16; 77]</p>
<p>Bước vào thơ Hàn Mặc Tử, người đọc không khỏi có cảm giác phân tâm, bởi mạch thơ ông luôn là một mạch kết cấu của một dòng thơ bất định, tuôn chảy theo niềm cảm xúc phản ảnh một tâm trạng luôn bất ổn trong cuộc sống. Bài thơ “<i>Đây thôn vĩ dạ</i>” trong tập <i>Thơ Điên</i> là một tác phẩm nổi bật phần nào tiêu biểu cho dòng thơ ông.</p>
<p align="center"><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image0016.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image001" border="0" alt="clip_image001" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image001_thumb4.jpg" width="344" height="259" /></a></p>
<p align="center">(2)</p>
<p>Vĩ dạ là một thôn gần sát ngay cố đô Huế, làng ấy ngày xưa là nơi các vương hầu hoàng tộc và các gia đình quyền quí cư trú. Vĩ dạ là một làng khá tiêu biểu cho phong cách sống trầm mặc khép kín của xứ Huế. Nhà nào cũng có hàng rào dâm bụt, cắt xén gọn, tươm tất. Vào sân vườn là những chồi cây cảnh, xen kẽ hoa trái. Sau vườn là các khóm rau, có khi cả vạt bắp, và bậc cấp xuống mé sông Hương. Nhà vườn và tính chất an nhiên là một nét tiêu biểu của thôn Vĩ dạ.</p>
<p>Hồi ở Quy Nhơn những năm 1932 –1933 Hàn Mặc Tử có một mối tình với cô Hoàng Thị Kim Cúc. Cha cô Cúc làm ở Sở Đạc Điền và Hàn Mặc Tử cũng làm việc ở đó, thời gian sau ông bỏ vào Sàigòn làm báo, khi trở về Quy nhơn thì gia đình cô Cúc đã chuyển về Huế, ở thôn Vĩ dạ. Ít lâu sau, biết Hàn Mặc Tử mắc bệnh nan y, đang đau đớn và cô đơn tại bệnh viện phong Quy Hòa, người em họ gợi ý cô Cúc gửi một bưu thiếp thăm hỏi sức khỏe cho Mặc Tử. Hàn Mặc Tử làm bài thơ này đáp lại như một lời cảm ơn.[3]</p>
<blockquote><p><b><i>Đây thôn Vĩ dạ</i></b></p>
<p><i>Sao anh không về chơi thôn Vĩ?        <br /></i><i>Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.        <br /></i><i>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc,        <br /></i><i>Lá trúc che ngang mặt chữ điền.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Gió theo lối gió, mây đường mây,        <br /></i><i>Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.        <br /></i><i>Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,        <br /></i><i>Có chở trăng về kịp tối nay?</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Mơ khách đường xa, khách đường xa.        <br /></i><i>Áo em trắng quá nhìn không ra.        <br /></i><i>Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,        <br /></i><i>Ai biết tình ai có đậm đà!</i></p>
</blockquote>
<p>Toàn bài thơ là những câu hỏi phiếm chỉ, thể hiện tâm trạng bất an, bất định của tác giả, làm cho không khí bài thơ mang âm hưởng buồn.</p>
<p>Ngay đầu đề bài thơ, thi nhân đã cho người đọc một cảm giác lạ. Tại sao không gọi bài thơ là “<i>Thôn Vĩ dạ</i>”, mà phải là “<i>Đây thôn Vĩ dạ</i>”. Từ “đây” có một cái gì đó giới thiệu rất trân trọng. Hàn Mặc Tử trân trọng một làng quê mà ở đó có người con gái ông hết lòng yêu mến. Ở đây, thi nhân muốn thể hiện tình cảm của mình với cô gái qua cách giới thiệu. Trân trọng làng quê của người mình yêu cũng là trân trọng người yêu.</p>
<p>Mở đầu bài thơ là một câu hỏi nhưng cũng có thể là lời hờn trách của cô gái “ <i>Sao anh không về chơi thôn Vĩ</i>”. “ <i>Sao anh</i>…” đại từ nhân xưng “<i>anh</i>” ngọt ngào đã biểu lộ được mối quan hệ thân mật giữa thi nhân và cô gái. Sao anh không về chơi quê em, hay là sao anh không về đây thăm em. Dường như có một <i>thôn Vĩ</i> mà chỉ cần một lời mời đầu môi thì nó đã đủ cho hai người ngầm hiểu nhau rồi. Cả một câu thơ bảy chữ thì đã có sáu chữ đầu là thanh bằng, tạo nên một âm hưởng dịu êm mang đậm phong cách nhẹ nhàng của các cô gái Huế.</p>
<p>Về đây thăm quê em để ngắm hàng cau vươn mình trong nắng mai, để thả hồn chan hòa trong thiên nhiên xanh ngát, để ngắm nhìn ai tha thướt, thấp thoáng dưới hàng cây. Cảnh vật chỉ đơn sơ vậy thôi, nhưng đã đủ làm xôn xao, sầu nặng hồn ai. Cũng là cảnh làng quê, nhưng có người thích ngắm trong nắng trưa, hay buổi chiều tà, ở đây Hàn Mặc Tử muốn ngắm làng quê dưới ánh nắng ban mai của một ngày mới. “<i>Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên</i>”, câu thơ tả cảnh của ông có một nhịp điệu khác thường, hai từ “ nắng” trong cùng một câu thơ tạo nên cái tâm trạng xôn xao, háo hức của một thanh niên trẻ trung yêu đời. Và cuối cùng là một lời reo “ <i>Vườn ai mướt quá xanh như ngọc</i>”, vườn ai mà đẹp quá như vậy, có phải là vườn nhà nàng chăng? Người ta có thể nói xanh biếc, xanh mơn mởn, xanh mướt để tả màu xanh. Ở đây, Hàn Mặc Tử rất tài tình khi không dùng hai từ “ <i>xanh mướt</i>” đi kề nhau, bởi “ <i>xanh mướt</i>” có một vẻ gì đó yếu ớt, ít sinh khí. Vì thế, Hàn Mặc Tử đã tách ra, hoán đổi trật tự từ và thay bằng lời reo “<i>mướt quá”</i> rõ ràng câu thơ cũng tả về màu xanh nhưng lại tràn đầy sức sống, dồi dào sinh khí hơn. Do vậy, từ “<i>xanh như ngọc</i>” gieo vào lòng người đọc một cảm nhận đầy ấn tượng. Vườn của ai mà đẹp quá, quí giá quá, xanh quá, trong suốt như ngọc. Đứng trước thiên nhiên đầy sức sống như thế, ai lại không thấy yêu đời, yêu cuộc sống. Và kìa, thấp thoáng sau những khóm tre, khóm trúc là khuôn mặt của một người. “<i>Lá trúc che ngang mặt chữ điền”</i>. Thơ xưa thường ca ngợi cái đẹp “<i>thanh mai trúc mã</i>”, nét mảnh mai của cô gái bên cạnh cái cứng cỏi của một chàng trai. Hàn Mặc Tử muốn tả trong một khoảnh khắc nào đó, hình ảnh của một “ai đó” qua khóm trúc đã gây cho Hàn một ấn tượng mạnh, nên đã in dấu trong hồn thi sĩ và khi đặt bút đề thơ ông đã tạo ra một hình tượng thơ bí ẩn.[4]</p>
<p>Ở đây, chúng ta không cần phải tách bạch, “ khuôn mặt chữ điền” ấy là của ai. Bởi lẽ, đó cũng là một chi tiết thoáng qua, một đường nét đẹp nằm trong cái tổng thể.</p>
<p>Trên toàn cảnh của khổ thơ đầu là bút pháp tả thực của Hàn Mặc Tử về một miền quê xanh tươi tràn đầy sức sống, và đó cũng chính là lòng ham sống, lòng yêu đời của thi nhân. Vì nếu không ham sống, không yêu đời thì làm sao có thể tả được một khung cảnh bình dị mà đắm say lòng người đến thế.</p>
<p>Nhưng sang khổ thơ thứ hai, người đọc đột ngột rơi vào một tâm trạng buồn, chia cách khi nghe một nhạc điệu khác thường, lạnh lẽo, vô tình đến nghiệt ngã.</p>
<p><i>Gió theo lối gió, mây đường mây      <br /></i><i>Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay</i></p>
<p>Thiên nhiên cũng có gió, có mây, có nước, có hoa, nhưng sao rời rạc, nhạt nhẽo. Gió mây chia đường, tách ngã, và sông thì lặng im không buồn chảy trong khi đó hoa bắp lại vô tình lay. Mới vừa đây, thi nhân đang rạo rực trước sự sống thì nay tâm trạng bỗng buồn bã, nát tan. Bởi vì Hàn Mặc Tử có yêu đời mãnh liệt như thế nào, cũng bằng không &#8211; khi bản thân ông biết mình đang tan rữa từng ngày. Từng ngày là từng ngày bước dần vào cõi chết. Đó chính là mâu thuẫn trong tâm hồn của Hàn. Yêu đời nhưng tuyệt vọng.</p>
<p>Cuộc đời đã ngoảnh mặt quay lưng, nắng hình như đã tắt, trời đã chuyển hoàng hôn. Thi nhân tan nát cõi lòng, tuyệt vọng có thể chấm dứt hy vọng nhưng không thể chấm dứt tình yêu. Đối với Hàn Mặc Tử giờ đây tình yêu là lối thoát cuối cùng mà ông đang cố bám víu để hy vọng sống.</p>
<p><i>Thuyền ai đậu bến sông trăng đó      <br /></i><i>Có chở trăng về kịp tối nay?</i></p>
<p>Trong thơ ca dân gian Việt Nam, hình tượng thuyền và bến thường xuất hiện trong những bài ca về tình yêu để bộc lộ nỗi lòng và tâm trạng đôi lứa. Con thuyền là sự vật chuyển động không ngừng trên sông biển và thuyền mang ý nghĩa biểu trưng cho hình ảnh người con trai. Còn bến, bờ là điểm đến hay rời đi của thuyền thường biểu trưng cho hình ảnh người con gái. Sự kết hợp giữa thuyền và bến được khai thác bởi các yếu tố động – tĩnh, bởi hành trình và yên nghỉ … qua đó biểu hiện hoặc gợi lên những trạng thái tình cảm tương ứng.</p>
<p><i>Thuyền ơi có nhớ bến chăng      <br /></i><i>Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền</i></p>
<p>Tuy nhiên, cũng có lúc trong ca dao thuyền lại được ví như thân phận long đong của người con gái:</p>
<p><i>Tròng trành như nón không quai&#160; <br />Như thuyền không lái, như ai không chồng</i></p>
<p>hay thân gái lênh đênh mười hai bến nước:</p>
<p><i>Thân em như chiếc thuyền tình      <br /></i><i>Mười hai bến nước biết gửi phận mình nơi nao</i></p>
<p>Cũng giống như thơ ca dân gian, Hàn Mặc Tử kế thừa truyền thống dân tộc lấy hình ảnh thuyền và bến làm biểu trưng cho tình yêu đôi lứa. Hồn thơ Hàn tuyệt đẹp khi liên tưởng thuyền trăng, bến trăng, sông trăng. Trong đêm trăng kỳ ảo tràn ngập ánh vàng, thuyền em có kịp chở trăng về với anh trong đêm nay. Anh đang cô độc, đang cô đơn, đang tuyệt vọng, làm sao em đến được với anh trong lúc này. Câu hỏi “ <i>Thuyền ai đậu bến sông trăng đó. Có chở trăng về kịp tối nay?</i>” là một câu hỏi khẩn thiết của một người đang quằn quại trong đau đớn. Lúc này đây, ngay “ tối nay” đây, em có kịp về không? Tình yêu của em có đến kịp không? Anh cần em, tình yêu là niềm tin cuối cùng anh đang bấu víu để sống. Còn yêu là còn sống.</p>
<p><a href="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image0023.jpg"><img style="border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" src="http://bientap.vanhocvietnam.org/wp-content/uploads/2011/04/clip_image002_thumb3.jpg" width="382" height="263" /></a></p>
<p align="center">(3)</p>
<p>Trăng là một trong những hình ảnh nổi bật trong thơ Hàn Mặc Tử, có lẽ ông là một trong ít thi nhân có những câu thơ nói về trăng lạ lùng, kinh dị và độc đáo nhất. Ông nhân hóa trăng như người con gái:</p>
<p><i>Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu      <br /></i><i>Đợi gió đông về để lả lơi</i></p>
<p><i>(Bẽn lẽn)</i></p>
<p>Trăng cũng có mùi vị:</p>
<p><i>Mới lớn lên trăng đã thẹn thò      <br /></i><i>Thơm như tình ái của ni cô</i></p>
<p><i>(Huyền ảo)</i></p>
<p>Ông xem trăng như tài sản của riêng mình, trăng là của mình, nên tự ý rao bán:</p>
<p><i>Ai mua trăng tôi bán trăng cho      <br /></i><i>Không bán đoàn viên, ước hẹn hò      </p>
<p></i><i>(Trăng vàng trăng ngọc)</i></p>
<p>Hàn Mặc Tử đang tự hỏi lòng, vẫn biết câu hỏi sẽ rơi vào hư vô, hy vọng của mình là hy vọng hão huyền nhưng ông vẫn ước:</p>
<p><i>Mơ khách đường xa, khách đường xa.      <br /></i><i>Áo em trắng quá nhìn không ra.      <br /></i><i>Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,      <br /></i><i>Ai biết tình ai có đậm đà!</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Bây giờ, Hàn Mặc Tử đã rơi vào mộng thật rồi, Hàn đang tưởng tượng có người phương xa đến thăm chàng, mơ “ <i>khách đường xa, khách đường xa</i>” được lặp lại hai lần trong một câu diễn tả tâm trạng thiết tha mong ngóng đến độ khẩn thiết. Nơi chàng ở, cô liêu quá, người đời hắt hủi chàng, xa lánh chàng, ghê sợ chàng, chàng đang sống cô lập ở một nơi xung quanh bạt ngàn đồi cát trắng, trên một bờ biển hoang vắng ít dấu chân người, bạn của chàng là tiếng sóng vỗ, là tiếng thông reo, tri kỷ của chàng là ánh trăng đêm. Đêm nay, mơ thấy em về nhưng em mờ ảo quá, anh không thấy gì cả. “<i>Áo em trắng quá nhìn không ra</i>” hay vì anh nhìn em từ một cõi xa xăm nào. Bởi vì, trong đời sống bình thường làm gì có màu trắng nào là màu trắng không thể nhìn thấy được. Bút pháp của Hàn Mặc Tử lúc này đã rơi vào tâm linh, siêu thực.</p>
<p><i>Ai biết tình ai có đậm đà!</i></p>
<p>Từ hy vọng Hàn Mặc Tử đã rơi vào niềm tuyệt vọng, câu cảm thán cuối cùng của Hàn cũng vừa là một câu hỏi, vừa khẳng định vừa nghi vấn. “<i>Ai biết tình ai</i>” là một cặp từ phiếm chỉ nhiều tầng nghĩa, vừa gần gũi vừa xa vời. Có phải Hàn Mặc Tử đang muốn biết tình cảm của cô gái đối với mình có còn không? Hay Hàn đang muốn người phương xa biết tình mình vẫn ngày đêm mong ngóng? Một câu hỏi không có hồi âm, nó thiết tha mà nghẹn ngào xót tủi như cái ngơ ngác của kẻ đứng trước ngã ba đường tiến thoái lưỡng nan, đi về phía nào cũng thấy cụt đường, không còn phương hướng nữa.</p>
<p>Chu Văn Sơn đã từng bình thật hay: <i>Khép lại bài thơ, người đọc có thể thấy rõ mạch liên tưởng “cóc nhảy” đứt đoạn, bất định trong ba khổ thơ. Khổ đầu: một ước ao thầm kín ngấm ngầm bên trong lại cất lên như một lời mời mọc từ bên ngoài, nỗi hoài niệm âm u lại mang gương mặt sáng sủa của khát khao rực rỡ. Khổ hai: một ước mong khẩn thiết dâng lên thoắt trở thành một hoài vọng chới với nghẹn ngào. Khổ ba: một niềm mong ngóng vừa ló dạng hướng ra thế giới bên ngoài đã vội biến thành mối hoài nghi hướng vào nơi đang tồn tại. Mối u hoài nối ba khổ thơ tách biệt ấy còn được thể hiện bằng một “sợi dây” liên kết khác nữa: Ba khổ thơ đều ngầm chứa ba câu hỏi với bốn chữ ai dãi đều trong lòng bài thơ (Vườn ai? Thuyền ai? Ai biết tình ai?) khiến chúng vang lên thành giọng điệu da diết khắc khoải. Vậy là, nếu lối liên tưởng “cóc nhảy” tạo ra một văn bản hình tượng đầu Ngô mình Sở, thì dòng lưu chuyển cảm xúc đau thương dưới dạng u hoài khắc khoải kia lại tạo ra một âm điệu nhất quán, liền mạch. Phi logic ở bề mặt, nguyên phiến, nguyên điệu ở bề sâu, đó chính là siêu logic, đây là nét thi pháp điển hình của “ Đây thôn Vĩ dạ”.</i>[13]</p>
<p>Chế Lan Viên, trong khi chỉ ra cách đọc thơ Hàn Mặc Tử cũng đã từng viết rằng Hàn Mặc Tử thuộc týp thi sĩ bị thơ làm. “<i>Bị truy kích bởi cái chết, Tử hối hả, dồn dập sáng tạo chứ đâu có làm văn! Anh trút đời mình, lòng mình từng trận, từng hơi chứ đâu có ngồi điêu khắc, chạm trổ từng câu, từng chữ. Ta hiểu anh không phải từng câu, từng chữ, mà từng hơi</i>.”[5]</p>
<p>Trong bài “Đây thôn Vĩ dạ” Hàn Mặc Tử đã viết theo thể thơ Đường luật thất ngôn tứ tuyệt gồm 3 khổ 12 dòng, mỗi khổ 4 câu 7 chữ nhưng với phong cách sáng tác hoàn toàn mới, nhà thơ đi từ bút pháp tả thực, đến tượng trưng, rồi siêu thực.</p>
<p>Hai câu thơ:</p>
<p>&#160;<em>Áo em trắng quá nhìn không ra      <br />Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”…</em></p>
<p>Mang màu sắc tâm linh, kinh dị. Thực ra, như Chu Văn Sơn nhận xét: “…vẻ kinh dị trong thơ Hàn không quá xa lạ. Chúng ta đã từng tiếp nhận trong truyền thống ở những chuyện ma quái dân gian như “ <i>Lĩnh nam chích quái</i>, “ <i>Việt điện U linh</i>”, “ <i>Truyền kỳ mạn</i> <i>lục</i>” cả đây đó trong “<i>Truyện Kiều</i>” của Nguyễn Du… và đương thời Hàn Mặc Tử cũng có nhiều đồng minh trên con đường phiêu lưu vào thế giới của cái kinh dị như Chế Lan Viên, Thế Lữ, Vũ Bằng… song, có thể nói “<i>Quyết đi tìm sự lạ</i>” chính là động cơ lớn chi phối hành trình sáng tạo của Hàn Mặc Tử”. [13; 43] Trong tiểu luận “Nghệ thuật là gì?” Hàn Mặc Tử đã viết: “ <i>Quăng mình đi giữa cái vũ trụ mênh mông, vượt ra theo những nguyện vọng cao xa, những cái ý nghĩa, ấy là do cái năng lực tinh thần mạnh mẽ nó thúc giục mình (…) Bồn chồn, ta quyết đi tìm sự lạ</i>” [6]</p>
<p>Có người cho rằng Hàn Mặc Tử chịu ảnh hưởng lớn chủ nghĩa siêu thực của Baudelaire.[20] Ông đã thụ lĩnh từ tác giả&#160; <em>Hoa ác</em> một cảm quan ma quái để đi vào thế giới đau thương, rồi cứ bị thôi miên bởi vẻ đẹp kỳ lạ, kinh dị.[13] Tuy nhiên, theo tôi chúng ta cần lý giải theo chiều hướng khác, dưới góc nhìn của văn học so sánh. Đây chính là hiện tượng tương đồng khi có cùng hoàn cảnh sáng tác trong sáng tạo nghệ thuật. Thật vậy, Hàn Mặc Tử mang bệnh nan y, ông luôn ở trong tình trạng cô đơn, ám ảnh từ cái chết nên thế giới ông đầy ma quái, nhất là những đêm trăng tròn bệnh “hủi” phát tán mãnh liệt gây đau đớn quằn quại, trong lúc nửa mê nửa tỉnh như vậy thơ ông tuôn ra mang hình ảnh siêu thực là điều đương nhiên, không thể nói thơ ông lúc ấy làm do ảnh hưởng Baudelaire. Có chăng, thơ Hàn Mặc Tử là sự kết hợp tâm hồn đặc biệt của ông và nền văn hóa Pháp trong bối cảnh phong trào Thơ Mới những năm 30 của thế kỷ 20.</p>
<p>Bài thơ “Đây thôn Vĩ dạ” từ khi mới ra đời đã được người đọc đón nhận một cách nồng nhiệt và trân trọng, thi phẩm được đánh giá là một trong ít bài thơ tả cảnh làng quê xinh đẹp, nên thơ hay nhất trong phong trào Thơ Mới lúc bấy giờ.</p>
<p>Đây cũng là bài thơ nổi tiếng, tiêu biểu cho phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử đi từ tả thực – tượng trưng đến siêu thực.</p>
<p>Bài thơ “Đây thôn vĩ dạ” thực chất không phải là một bài thơ tả cảnh làng quê của Hàn Mặc Tử, thi nhân đã mượn cảnh để nói cái tình của mình. Nhân bức bưu ảnh gửi tặng của người xưa, ông hoài niệm về một mối tình đã qua. Bài thơ bắt đầu bằng một câu hỏi và cuối cùng kết thúc như một câu hỏi, thi nhân hy vọng vào tình yêu nhưng không dám tin vào tình yêu, bởi vì Hàn Mặc Tử biết đó là mối tình tuyệt vọng, mâu thuẫn ấy là một tâm trạng đau thương, bởi Hàn biết mình đang đi dần vào cõi chết. Bài thơ này làm trong giai đoạn cuối của cuộc đời ông.</p>
<p>Bài thơ khép lại nhưng câu thơ “<i>Ai biết tình ai có đậm đà</i>!” như vẫn còn rung mãi trong lòng người đọc như tiếng ngân của một điệu hò. Tứ thơ và lời thơ tuy buồn lay hiu hắt đã sắc đậm màu lục của lá trúc cắt vào lòng khách thơ, đến nỗi, không ít khách phương xa về qua Huế, không ai lại không muốn đến thăm “<i>miền thôn Vĩ dạ ấy</i>” để được tận mắt chứng kiến một lần <i>thôn vỹ</i> của Hàn Mạc Tử, được tận mắt nhìn thấy những nhà vườn Huế ẩn khuất bóng dáng của một đôi mắt và được sống dưới hàng cau mướt xanh đậm tình người…</p>
<p>Văn chương, cũng như cuộc đời, mang thăng trầm của giông bão chịu những định kiến từ quan điểm giai cấp hay phê phán hữu khuynh, từ sau 1945 đến năm 1986 dòng văn chương lãng mạn đã không được chấp nhận. Tài liệu hướng dẫn giảng dạy Văn học lớp 12 năm 1983 của Nhà xuất bản Giáo dục đã từng ghi: “<i>Về nội dung, đây là dòng văn học bạc nhược, suy đồi, tiêu cực, có tính chất phản động, tuy có ít nhiều yếu tố tích cực. Do đó, sau bài khái quát này, chương trình hiện hành không đưa tác phẩm cụ thể vào kế hoạch học giảng văn, tuy sách giáo khoa có giới thiệu bài thơ</i> “<i>Cây đàn muôn điệu của”của Thế Lữ để học sinh đọc thêm. Chúng ta cũng nên khuyên học sinh không nên đọc sách báo lãng mạn</i>…” [7], với quan niệm trên, thi ca Hàn Mặc Tử càng bị bài xích vì tư tưỏng siêu thực, thoát ly ngoài cuộc sống, “Đây thôn Vĩ dạ” cũng nằm trong tình trạng ấy. Chính cách đánh giá lạc hậu này từ một nền thẩm mỹ đóng khung, đã làm cho bao thế hệ học sinh bị thiệt thòi trong việc tiếp cận những áng văn thơ tuyệt tác của đất nước.</p>
<p>Văn chương theo đất nước rẽ vào những nhánh sông <i>đổi mới</i>, tuy chưa ra biển lớn. “Đây thôn Vĩ dạ” đã tìm lại vị trí xứng đáng của một thi phẩm tuyệt tác của một tài thơ lớn trên thi đàn Việt Nam. <i>Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay</i> từng là thân phận của “Đây thôn Vĩ dạ”, ngày nay, đã được giảng dạy trong chương trình trung học phổ thông.</p>
<p>Một tiếng thơ lớn, là một tiếng thơ mà lịch sử không xóa được.</p>
<p>BAN MAI</p>
<p>24/4/2011</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p><b>TÀI LIỆU THAM KHẢO</b></p>
<p>[1] <i>Thi nhân Việt Nam</i> &#8211; Hoài Thanh – Hoài Chân (NXB. VH: 2000).</p>
<p>[2] Chuyển dẫn theo Phan Cự Đệ – <em>Thơ văn Hàn Mặc Tử phê bình và tưởng niệm,</em> tr. 343. (NXBGD Huế: 1993).</p>
<p>[3] Theo tài liệu của Trần Thanh Địch, nhà văn, bạn thân của Hàn Mặc Tử.</p>
<p>[4] Hình tượng bí ẩn này đã có quá nhiều suy diễn và tranh cãi, đến nỗi có một lần Chế lan Viên phải thốt lên: “<i>Con gái mặt chữ điền thì đẹp gì mà Hàn Mặc Tử phải ca ngợi.</i>” Thôi thì, người cho rằng gương mặt ấy là của chính nhà thơ. Bình giảng bài thơ này, ông Lê Trí Viễn cho rằng: “<i>mặt chữ điền, theo dân gian Huế là khuôn mặt phúc hậu của các cô gái.</i>” Còn các nhà nghiên cứu thì cho rằng hình tượng mặt chữ điền trong Văn học Việt Nam thường dùng để chỉ gương mặt cương nghị của các chàng trai.</p>
<p>[5] Chế Lan Viên – <i>Lời giới thiệu tuyển tập Hàn Mặc Tử</i> (NXBVH: 1987).</p>
<p>[6] Hàn Mặc Tử – <i>Nghệ thuật là gì?</i> Báo Sài gòn 26/10/1935.</p>
<p>[7] Tài liệu hướng dẫn giảng dạy Văn học lớp 12 phổ thông, tập I, tr. 11 (NXBGD: 1983).</p>
<p>[8] <i>Văn học và thời gian</i> – Trần Đình Sử (NXBVH: 2000).</p>
<p>[9] <i>Đọc văn và học văn</i> – Trần Đình Sử (NXBGD: 2002).</p>
<p>[10] <i>Một thời đại trong thi ca</i> – Hà Minh Đức (NXB.ĐHQG Hà Nội: 2002).</p>
<p>[11] <i>Tác phẩm văn chương trong trường phổ thông – những con đường khám phá</i>- Vũ Dương Qúy – Lê Bảo (NXBGD: 2002).</p>
<p>[12] <i>Đến với thơ hay</i> – Lê Trí Viễn</p>
<p>[13] <i>Thơ Điên của Hàn Mặc Tử thi học của cái “ tột cùng”</i> – Chu Văn Sơn, TCVH số 11/2000.</p>
<p>[14<i>] Con mắt tâm linh văn hóa phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử</i> – Đoàn Thi Hương Giang, TCVH số 11/2000.</p>
<p>[15] <i>Chữ và nghĩa trong thơ</i> – Mã Giang Lân, TCVH số 4/2000.</p>
<p>[16] <i>Hàn Mặc Tử trong đời sống phê bình trước 1945</i> – Nguyễn Toàn Thắng, TCVH số 4/2001.</p>
<p>[17] <i>Ảnh hưởng của thơ tượng trưng Pháp đối với phong trào Thơ Mới Việt</i> <i>Nam</i><i> 1932 – 1945</i> – Trần Huyền Sâm, TCVH số 12/2001.</p>
<p>[18] <i>Các lý thuyết thi pháp học cấu trúc</i> – Trịnh Bá Đĩnh, TCVH số 8/2002.</p>
<p>[19] <i>Lý luận văn học</i> <i>tập 3.</i> – Phương Lựu(chủ biên)- NXBGD, 1988.</p>
<p>[20] Charles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX thuộc trường phái tượng trưng chủ nghĩa. Baudelaire sinh tại Paris, mồ côi cha lúc 6 tuổi, mẹ tái giá và đã gửi ông vào một ký túc xá. Ông theo gia đình sang Ấn Độ vào năm 1841, sau đó trở về Paris, sống cuộc đời kham khổ, thiếu thốn và bắt đầu sáng tác. Thi sĩ đã gặp vài kiều nữ như Jeanne Duval, Marie Daubrun, Apollonie Sabatier, và chính những người phụ nữ đẹp này đã đem nhiều cảm xúc, cuồng nhiệt và thi hứng cho những dòng thơ chập chờn mộng ảo của ông , năm 1867 ông bị bệnh ốm nặng, qua đời sau một thời gian bị bại liệt tàn phế. Thi phẩm <b><i>Les fleurs du mal</i></b> (<i>Hoa khổ đau</i> hay còn dịch <i>Hoa ác</i>, xuất bản 1857) là một thi phẩm nổi tiếng của ông.</p>
<p><b>Ảnh</b> (2) và (3) mang tính minh họa không rõ tác giả.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/19615/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>4</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Trịnh C&#244;ng Sơn,Vết ch&#226;n d&#227; tr&#224;ng của Ban Mai</title>
		<link>http://damau.org/archives/18175</link>
		<comments>http://damau.org/archives/18175#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 25 Jan 2011 13:45:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Mai</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sách Mới]]></category>
		<category><![CDATA[Sinh Hoạt]]></category>
		<category><![CDATA[Đó Đây]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/18175</guid>
		<description><![CDATA[<p>Sau nhiều tháng chỉnh sửa và in ấn công phu,nhà xuất bản Văn Mới đã cho phát hành tác phẩm “Trịnh Công Sơn,vết chân dã tràng” của Ban Mai. Ngoài phần nghiên cứu chính của ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/01/VetChanDaTrang1.jpg"><img style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 15px 0px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="VetChanDaTrang" border="0" alt="VetChanDaTrang" align="left" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2011/01/VetChanDaTrang_thumb1.jpg" width="161" height="254" /></a>Sau nhiều tháng chỉnh sửa và in ấn công phu,nhà xuất bản Văn Mới đã cho phát hành tác phẩm <b>“Trịnh Công Sơn,vết chân dã tràng”</b> của Ban Mai. Ngoài phần nghiên cứu chính của tác giả,còn có nhiều phụ lục hình ảnh mới,hiếm của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do họa sĩ Đinh Cường và tiến sĩ Phạm Văn Đỉnh cung cấp.     <br />Sách được tái bản với sự chăm sóc mỹ thuật và trình bày của họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi,nhà văn Lữ Quỳnh và đích thân giám đốc nhà xuất bản,ông Nguyễn Khoa.</p>
<p>Bạn đọc cần sách xin liên lạc với nhà xuất bản Văn Mới ở địa chỉ:   <br />P.O BOX 287 GARDENA, CA 90 248 Tel: (301)366-6867.</p>
<p><i>Giá :</i> 12 Mỹ kim (bao gồm cước phí)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/18175/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tạp b&#250;t của tro t&#224;n</title>
		<link>http://damau.org/archives/16961</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16961#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 22 Nov 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Mai</dc:creator>
				<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tạp ghi]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16961</guid>
		<description><![CDATA[Thành phố nằm bên một rẻo biển miền Trung yên bình và tĩnh lặng. Những ngày gần đây bỗng nhiên được khuấy động bởi mấy chú cá mập, không hiểu vì sao lại lang thang vào bờ, chúng lượn lờ nơi bãi tắm trước khuôn viên trường, là bãi du lịch của thành phố. Thỉnh thoảng chúng lại ruổi theo sóng nước cợt nhả với con người.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/banmai1.jpg"><img style="background-image: none; border-right-width: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; margin-left: auto; border-left-width: 0px; margin-right: auto; padding-top: 0px" title="banmai1" border="0" alt="banmai1" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/banmai1_thumb.jpg" width="218" height="267" /></a></p>
<p>&#160;</p>
<p>Thành phố nằm bên một rẻo biển miền Trung yên bình và tĩnh lặng. Những ngày gần đây bỗng nhiên được khuấy động bởi mấy chú cá mập, không hiểu vì sao lại lang thang vào bờ, chúng lượn lờ nơi bãi tắm trước khuôn viên trường, là bãi du lịch của thành phố. Thỉnh thoảng chúng lại ruổi theo sóng nước cợt nhả với con người. Có hôm một chú cá mập con nhá vào mông ai đó, có hôm lại ngoạm vào giò của kẻ nào bơi đến gần. Bạn tôi phán: đất này “linh kiệt”. Tôi cười vui: <i>Đất lành chim đậu, biển lành cá mập làm tổ</i>.</p>
<p>Dạo này tụi sinh viên ớn lạnh không dám xuống biển, chỉ ra hóng gió, tập thể dục. Tuần trước trong trường đã có người bị ngoạm cánh tay, cũng may cá mập chỉ nhá chơi rồi nhả ra nên vẫn còn nguyên vẹn, chỉ bị đứt gân nằm nhà thương một tháng. Sinh viên là lũ chực chờ có việc thì cười cợt, thi nhau chế diễu: mấy cô sinh viên mơn mởn bơi lội tung tăng cá mập không thèm đụng đến, lại nhè ông giáo dạy môn Chủ nghĩa Cộng sản Khoa học ngoạm một phát mất hồn, hẳn nhiên nó cũng biết lựa người ghê&#8230;</p>
<p>Loài cá còn như vậy, những âm hồn còn ghê hơn. Nghe đâu, mấy năm trước nhà trường đào móng xây cao ốc, người lãnh đạo cũ muốn xây tòa nhà cao nhất thành phố để khuếch trương “danh tiếng”. <i>Thứ nhất dinh cơ, thứ nhì âm phần </i>như người ta truyền dạy… nhưng đào mãi mà không đặt móng được, chủ thầu lo lắng mời các nhà ngoại cảm từ Hà Nội vào xem đất, nghe nói trúng Long Mạch và ngôi mã Hời. Cán bộ trong trường bàn nên tìm địa thế khác để xây vì trường còn nhiều đất, nhưng lãnh đạo cũ nhất quyết xây lên. Tinh thần hãnh tiến, hám danh phấn đấu chỉ một ngày…<i> “rũ bùn đứng dậy sáng lòa!”</i>.(1) Kết quả, cao ốc chưa xây xong ban giám hiệu đã sụp ngay tức khắc. Ụp như trứng tươi rơi vỡ trên sân trường. Vậy mới nói dân Tây Sơn hào kiệt, đất linh kiệt của áo vải cờ đào, người Tây Sơn bốn lần vào Gia Định, ba lần ra Bắc Hà, lần nào cũng kinh thiêng động địa, Nam-Bắc nể vì…. Trường nổi tiếng cả nước, báo chí liên tục đưa tin cán bộ trong trường đấu tranh chống tham nhũng và những gì xấu nhất, cần che đậy của một guồng máy bỗng phơi bày cho thiên hạ ngắm. Ngày ấy, Trường như một chảo lửa, mấy ông ở Bộ Giáo dục vào giải quyết ngày trước ngày sau phóng về ngay. Thầy cô trong trường thì kháo nhau “Ma Hời ám”. Các trang web thì khỏi nói, tới tấp những thông tin nóng hổi từng ngày.</p>
<p>Thông tin nóng hổi từng ngày, như ngày xưa những giấc chiều chị em tôi trông ngóng từng chuyến xe thư đem báo và truyện từ Sài Gòn về nhà sách chú Thiện. Lũ trẻ chúng tôi thích qua phụ giúp chú xếp báo và đọc “ké” tiểu thuyết. Tôi thích mùi thơm mực in và giấy mới. Sau năm 1975 — ngôi nhà bỏ hoang, những giá sách trống trơn, tôi thường ghé nhìn qua khe cửa gỗ tiếc nuối nhà sách hoang phế. Sách là phẩm vật của trời trao tặng con người, giúp con người lưu trữ ký ức và suy nghĩ mà ảnh chụp không giữ được. Sách biến mất là phần hồn của con người biến mất. Chính vì hiểu nên người ta đốt đi không luyến tiếc, vì phần hồn cũ không thể cải tạo chỉ có thể xóa. Tôi đứng nhìn qua khe cửa tuổi thơ từng ham mê sách truyện Sài Gòn của mình cũng hoang phế như nền gạch bông phẳng lặng. Sự trống vắng loang rộng ra mãi như mất mát một điều gì đó mà mình không bao giờ có nữa. Văn học miền Nam có biến mất thật không?</p>
<p>Một lần tôi bắt gặp chú mèo hoang nằm trên chiếc ghế gãy. Chú mèo mướp giương mắt nhìn tôi khi nghe tiếng động. Ánh mắt của loài linh miêu thường long lanh trong bóng tối. Ánh mắt sáng, không âm thanh, quan sát tôi đang nhìn qua khe cửa. Chúng tôi im lặng nhìn nhau hồi lâu, cho đến khi đôi mắt dịu lại, lim dim tư lự, rồi vụt thảng thốt phóng đi khi nghe tiếng nói của vài bóng người đi qua. Có lẽ cũng như tôi, con mèo mướp đang nhớ người chủ cũ của ngôi nhà. Đã chứng kiến con người đối đãi với nhau, nên con vật đâm hoảng sợ những bước chân nện thình thịch ít an lành.</p>
<p>Không hiểu vì sao nhiều năm sau khi nhớ đến nhà sách chú Thiện bỏ hoang, tôi lại nhớ đôi mắt con mèo ngày ấy. Cùng một dáng vẻ của ánh mắt u uất như người lính Cộng hòa ngồi ở vỉa hè nhà tôi đầu những năm 80. Ánh mắt đăm chiêu tư lự, nửa lạc lõng, nửa sợ sệt, đầy cô đơn chỉ dám ánh lên một chút tinh anh trong bóng tối khi không ai nhìn. Nhiều đêm đi học về, tôi thường thấy một người đàn ông ngồi dựa tường bên góc tối trước hiên nhà, cây nạng gỗ kề bên. Trời về đêm thật lạnh. Gió biển thổi hơi mưa còn chưa tan quất lên lề đường hãy còn những vũng nước đen. Tôi đưa ông trái bắp luộc mẹ để phần rồi ngồi xuống cạnh ông, chú ăn đi, nhà con không còn cơm. Ông lắc đầu cảm ơn, ông nói ông không còn răng! Hôm sau, ba đi rừng về, tôi kể chuyện, con thấy ông ấy mặc đồ rằn ri Thủy Quân Lục Chiến. Ba nói chắc lính đi cải tạo mới về. Mẹ nghĩ có thể là thương phế binh&#8230; Ba buồn rầu, cũng một kiếp người như nhau.</p>
<p>Tôi có một người thầy từ năm lớp 9, thời gian đã lâu, nhưng đến bây giờ tôi vẫn thường xuyên đến thăm. Có chuyện gì tôi cũng đến tâm sự và nghe những lời khuyên. Mới đây, thầy gọi, em rảnh đến nhà thầy, thầy có vài bạn già muốn gặp. Ngạc nhiên, tôi đến. Thầy giới thiệu, đây là những thầy giáo ngày xưa trước 75, có người là thầy của thầy nữa, lâu ngày họ về miền Trung thăm. Tôi là học trò của thầy, mà họ lại là thầy của thầy mình, vậy họ là bậc <i>kính nhi viễn chi </i>của tôi. Những giọng cười hào sảng lâu rồi tôi mới nghe, trong tiếng cười làm như còn vang vọng âm hao của một thời kỳ đã mất.</p>
<p>Người muốn gặp tôi là ông già này, tôi kinh ngạc – ba của Thảo – cô bạn học cùng lớp cấp hai. Ba của Thảo gầy như bộ xương khô, gương mặt ngang dọc những nếp nhăn cực khổ. Ông cười không còn răng, tôi nghe nói ông bị đánh trong nhà lao rụng hết. Tôi nhớ một mùa hè cả phố xôn xao khi hay tin ông đi cải tạo về không biết làm gì nên đạp xích lô. Ba của Thảo là sĩ quan biệt phái dạy học ở trường Cường Để. Tôi nhớ một hôm trời bão, ông đạp xích lô chờ trước cổng trường. Tôi được “hưởng lây phúc xích lô” ngồi chung với Thảo vì ở gần nhà. Trường tôi học phải đi qua eo biển hồi ấy gọi là “eo nín thở”. Eo biển lúc nào cũng lồng lộng gió phần phật, gió đến trĩu cả tàu dừa. Sợ con bay xuống biển, ông đạp xích lô đi đón. Đạp ngang eo biển, mưa xối xả, sóng lớn lớp lớp dập vào thành đá tràn lên đường, chiếc xe chổng càng, hai đứa tôi run cầm cập ngồi trong xe bịt kín, chỉ có ba của Thảo còm cõi đứng trước càng xe hứng sóng và ráng kéo chiếc xích lô qua đoạn đường dốc đó. Tôi nhớ mãi tiếng sóng động và tiếng gió gào thét của đại dương, cả tiếng Thảo khấn vái cho ba đừng bị cuốn trôi và tiếng kin kít của bánh xe ba Thảo cố trụ mỗi khi sóng đánh tung lên bờ. Tôi nhớ mãi ngày Thảo khóc sưng mắt vì cha đạp xích lô ế khách, ngồi buồn ông làm thơ, bị cho là “phản động” cấu kết tuyên truyền cùng với nhóm bạn đạp xích lô như ông. Năm đó, cả thành phố rúng động vì khung án cao nhất dành cho người bị ghép tội là án chung thân. Chung thân ở vào lứa tuổi của họ là án chết, án tử đại hình vì còn gì nữa ngoài xà lim tăm tối, đã hết ánh mặt trời của cuộc đời.</p>
<p>Những phu xích lô giỏi Pháp văn, Anh văn, Quốc văn, Toán, Vật lý, Triết Tây đi cải tạo về thích làm thơ nên người dân thành phố lúc đó gọi vui là nhóm “<i>Nhân văn giai phẩm Bình Định</i>”. Một trong những bài “<i>Phú xích lô</i>” khiến ba của Thảo bị đi tù là như vầy:</p>
<blockquote><p><i>Góc chợ đầu đường – Bến xe hè phố        <br /></i><i>Chẳng qua là gạo là tiền – Nào bởi tại căn tại số</i></p>
<p><i>……………….…..</i></p>
<p><i>Xem ngài:        <br /></i><i>Con người thanh lịch hào hoa – Tư chất thông minh tài bộ        <br /></i><i>Đã nhiều năm quan cách xênh xang – Cũng lắm lúc tù đày khốn khổ        <br /></i><i>Nghiệp xích lô dù rõ nét cu li – Cốt tiên tử vẫn còn nguyên phong độ.        <br /></i><i>Cà phê thuốc lá mỗi ngày hai cử giao duyên – Bằng hữu thi ca đôi tháng một lần hội ngộ.        <br /></i><i>Sớm nghêu ngao thấm giọng nhân tình – Khuya tỉnh tọa nhắp mùi thế cố.        <br /></i><i>Bốn giờ sáng ì è ì ạch kiếm mối mở hàng – Năm giờ chiều dạo quẩn dạo quanh đưa người lở bộ.        <br /></i><i>Cuốc xe đêm trúng mánh vẫn xuề xòa – Con khách kẹo trật trìa không phẫn nộ.        <br /></i><i>Định mức hai mươi đủ dù cho mõi gối chồn chân – Niên canh bốn mươi ngoài mặc kệ trầy khu rách khố.        <br /></i><i>Bánh xe lăn rổn rẻn xu hào – Cơn gió ngược lắc lư mông cổ.</i></p>
<p><i>………………… (…)….</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Sá gì bọn đưa hơi đón gió một giọng hồ đồ &#8211; Bận chi thằng theo đóm ăn tàn mười phần béo bổ.        <br /></i><i>Bến khu hai khu một ấy mới cơ duyên – Trời tháng chín tháng mười thường hay bão tố.        <br /></i><i>Chị rỗi chợ xa khó tính, thích đạp nhanh hơn lá phủ cánh gà – Con buôn xe tải ngon xơi, ưa đậy kín lẫn đường quanh ngõ trổ.        <br />B</i><i>ực mình chú “bao căn” sinh sự bòn mót từng hào – Khốn kiếp tên điểm chỉ tham lam rình ôm nguyên vố.        <br /></i><i>Đồng tiền ướt đẵm giọt mồ hôi – Hạt gạo khô cằn hòn tủy đỏ.        <br /></i><i>Chân đạp đều lúc nhặt lúc khoan – Mắt quần đảo nơi này nơi nọ.        <br />C</i><i>ùng bạn cũ thường tựa lưng hè phố, luận việc đời câu “Tiết trực tâm hư” – Với đàn em hay gác cẳng thùng xe, bày lẽ sống chuyện “Tri tân ôn cố”.        <br /></i><i>Chợ Hoài âm Hàn Tín luồn trôn – Bờ Vị Thủy Tử Nha xách giỏ.        <br /></i><i>Ấn công hầu đâu chỉ để riêng ai – Cung vận mệnh vẫn còn chưa giũ sổ.        <br /></i><i>Cho hay: Bước đường cùng cũng có lúc nên danh –        <br /></i><i>Đừng thấy: đạp xích lô mà tưởng đồ bỏ xó.(2)</i></p>
</blockquote>
<p>Ngày xưa Nguyễn Công Trứ cũng từng thao thức chí làm trai của người thất thế:</p>
<p><i>Ðã chắc rằng ai nhục, ai vinh,      <br />M</i><i><i>ấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.(3)</i></i></p>
<p>Còn kẻ sĩ ngày nay?</p>
<p>Tôi không biết kẻ sĩ ngày nay nghĩ gì nhưng tôi thương những kẻ sĩ miền Nam thất thế, sau thời hậu chiến phải chịu bao điều cay đắng. Có những người tài giỏi nhưng không được lưu dụng, thất nghiệp họ ra đường bán sách cũ, đi xe thồ, đạp xích lô, bán bong bóng, về quê cày ruộng. Những người trí thức càng hiền lành thì càng thảm thương. Tôi yêu những người lính dầm sương dãi nắng giữ an ninh làng mạc, giữ cuộc sống an bình cho chúng tôi đi học, cho cha mẹ tôi đi làm nuôi gia đình. Họ trả giá thay cho những người bây giờ sung sướng. Thời thế thay đổi, họ lây lất sống mà không ai đoái hoài rồi họ chết đi không một nghĩa trang liệt sĩ, không bia tưởng niệm. May mắn sang được Hoa Kỳ thì họ cũng cực nhọc trăm bề vì tuổi trẻ họ đã cống hiến hết cho miền Nam. Ngày xưa, khi còn trẻ chắc họ không nghĩ gì xa vời mà giản dị khi dân lành nguy biến thì họ phải bảo vệ, phải lấy sức mình ra che chắn như ba của Thảo đã lấy tấm thân còm cõi của ông che chắn phong ba bão táp trên đoạn đường eo nhô ra biển để con gái đừng ướt mưa gió, đừng bị sóng cuốn xuống biển sâu, để Thảo và tôi có thể lớn lên tìm hạnh phúc của mình. Họ đâu ngờ mình chỉ là con tốt trên bàn cờ chiến tranh của các nước lớn.</p>
<p>Ba Thảo không chết, ông mang bộ xương còm trở về gặp tôi để trông thấy chút hình ảnh của con gái, nhưng nhiều người đã ở lại trong xà lim vĩnh viễn hay ở lại trong những bãi chôn sau trại cải tạo vĩnh viễn. Còn được phóng thích thì họ còn gì ngoài thân phận xích lô. Thân phận của những người lính bại trận là thứ thân phận còn sức, còn đạp, còn thồ. Đến khi hết sức là hết đạp, hết thồ và đành biến mất như xích lô đang dần biến mất trên đất nước tôi.</p>
<p>Cảm thông những người lính là điều tôi muốn viết, ngày tiễn Cao Xuân Huy về với tro tàn. Người lính bên này hay người lính bên kia, với tôi họ là người Việt Nam.</p>
<p>&#160;</p>
<p><em>20/11/2010</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;-</p>
<p><em>(1) “<b>Đất nước</b>” Nguyễn Đình Thi.</em></p>
<p><em>(2) “<b>Phú xích lô</b>” của T.T.G. </em></p>
<p><em>Những đoạn để trống…….…..(…) …người viết không còn nhớ.</em></p>
<p><em>(3) “<b>Chí làm trai</b>” của Nguyễn Công Trứ</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16961/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG</title>
		<link>http://damau.org/archives/16843</link>
		<comments>http://damau.org/archives/16843#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 17 Nov 2010 08:03:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Mai</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tạp ghi]]></category>
		<category><![CDATA[Tưởng niệm Cao Xuân Huy]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/16843</guid>
		<description><![CDATA[Tôi mong muốn giới thiệu một cách trân trọng về tác giả và tác phẩm này cho bạn đọc trong nước biết.
Thế nhưng, dự định của tôi không thành khi BBT đọc xong hồi ký tôi gửi, cho biết ở trong nước đang có đợt truy quét mà hồi ký “Tháng ba gãy súng” quá nặng đô e trở ngại.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p> </p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/cxhpencil.jpg"><img class="aligncenter" style="display: block; float: none; margin-left: auto; margin-right: auto; border: 0px;" title="cxh pencil" src="http://damau.org/wp-content/uploads/2010/11/cxhpencil_thumb.jpg" border="0" alt="cxh pencil" width="169" height="242" /></a><span style="font-size: x-small; font-family: Times New Roman;"><em>Chân dung nhà văn Cao Xuân Huy (<strong>nguồn</strong>: </em></span><a href="http://aitubinhdien.aimoo.com/categroy/Topic-1-411856.html#NickName_1211114" target="_blank"><span style="font-size: x-small; font-family: Times New Roman;"><em>Ái Tử Bình Điền</em></span></a><span style="font-size: x-small; font-family: Times New Roman;"><em>)</em>  </span></p>
<p>Tôi “gặp” Cao Xuân Huy lần đầu tiên khi đọc bộ tiểu thuyết “<strong>Mùa biển động</strong>” của Nguyễn Mộng Giác. Mở đầu tập 5 “<strong>Tha hương</strong>” kể về cuộc triệt thoái cao nguyên trên Liên tỉnh lộ 7 và cuộc rút quân khỏi tỉnh Thừa Thiên Huế, vào những ngày tàn cuộc chiến. Tôi lạnh mình khi đọc chúng. Tôi thấy máu và máu chảy dài trên từng con chữ. Tôi thấy thịt xương của những chàng trai trẻ nước Việt bị băm nát, bầy nhầy dưới xích xe tăng. Sự thật trần trụi của chiến tranh gây cho tôi một xúc động mạnh. Tôi bật khóc nức nở khi những xác người nát tan trên biển, đầu người trôi nhấp nhô, cô gái lõa lồ điên loạn trên boong tàu. Sóng biển đỏ ngầu máu.</p>
<p>Sau khi đọc xong “<strong>Mùa biển động</strong>”, tò mò tôi tìm đến nguyên tác hồi ký “<strong>Ngày N+.</strong>..” của Hoàng Khởi Phong và “<strong>Tháng ba gãy súng</strong>” của Cao Xuân Huy, hai hồi ký xuất sắc mà nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã dựa sát vào đó để ghi lại trung thực lịch sử cuộc chiến trong bộ trường thiên tiểu thuyết của mình.</p>
<p>Kể từ đó tôi biết Cao Xuân Huy và thực sự quen anh khi gửi bài đăng trên tạp chí “Văn học” &#8211; tờ báo đầu tiên ở hải ngoại tôi gửi bài viết. Anh nhiệt tình và thân thiện. Lâu lâu anh lại email có bài không gửi cho anh với. Mấy năm sau này tạp chí chậm trễ, rồi sau đình bản, anh than sức khỏe giảm sút, anh đang thất nghiệp. Tôi hiểu nỗi khổ của người làm báo “không công” ở hải ngoại nhiêu khê trăm bề.</p>
<p>Hơn hai tuần trước nghe tin anh đau nặng, người ta nói có lẽ không qua khỏi, được tính bằng ngày.</p>
<p>Tôi muốn làm một điều gì đó cho anh vui, nên đề nghị với chủ biên website <em>Văn Chương Việt</em> làm một chuyên đề về Cao Xuân Huy, chủ biên đồng ý. Tôi đã lựa chọn bài “Nhận định về tác giả tác phẩm” của Nguyễn Mạnh Trinh, phỏng vấn Cao Xuân Huy của Lê Quỳnh Mai, điểm truyện “Trả lại tiền” của Trịnh Y Thư và giới thiệu toàn bộ hồi ký “Tháng ba gãy súng” của anh, mọi việc đã chuẩn bị. Tôi mong muốn giới thiệu một cách trân trọng về tác giả và tác phẩm này cho bạn đọc trong nước biết.</p>
<p>Thế nhưng, dự định của tôi không thành khi BBT đọc xong hồi ký tôi gửi, cho biết ở trong nước đang có đợt truy quét mà hồi ký “<strong>Tháng ba gãy súng</strong>” quá nặng đô e trở ngại.</p>
<p>Tôi cảm thấy hụt hẫng vì chủ biên đã hứa trước OK, và tôi cũng đã điện thoại anh Cao Xuân Huy xin phép. Tuần sau sẽ làm chuyên đề về anh và chúc anh mau lành bệnh.</p>
<p>Giờ đây, anh đã mệnh chung, tôi biết cách nào để nói lời xin lỗi.</p>
<p>Thì thôi, anh nhé. Một cuộc đời đầy bão giông, cay đắng.</p>
<p>Đã hết rồi:<br />
<em>Những sớm mai lửa đạn<br />
</em><em>Những máu xương chập chùng<br />
</em><em>Xin cho một người vừa nằm xuống<br />
</em><em>Thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang</em></p>
<p>Thấy bóng thiên đường thôi, vì trên đất nước Việt tôi vẫn còn truy quét chữ viết của những người lính bại trận.</p>
<p> <br />
<em>Ban Mai<br />
17/11/2010</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/16843/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thời Gian</title>
		<link>http://damau.org/archives/10781</link>
		<comments>http://damau.org/archives/10781#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 03 Feb 2010 08:04:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ban Mai</dc:creator>
				<category><![CDATA[Ký]]></category>
		<category><![CDATA[Sáng Tác]]></category>
		<category><![CDATA[Tùy bút]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://damau.org/archives/10781</guid>
		<description><![CDATA[Ước mơ của cháu là gì? Ông hỏi .... Tôi nói không suy nghĩ: Cháu sẽ bay vào vũ trụ khám phá các vì sao. Ông bật cười sang sảng, tiếng cười ông ngân vang, òa vỡ trên từng lớp sóng. Sóng uốn đến tận giải ngân hà. Đó là ước mơ can đảm nhất mà ông từng nghe. Ước mơ của tôi vỡ tan sau tiếng cười của ông ngày ấy.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p><strong>&#160;</strong></p>
<p align="center"><strong><a href="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/ThiGian_13B09/raniahassanwomenknittingthroughspace.jpg"><img style="border-right-width: 0px; display: inline; border-top-width: 0px; border-bottom-width: 0px; border-left-width: 0px" title="rania hassan women knitting through space" border="0" alt="rania hassan women knitting through space" src="http://damau.org/wp-content/uploads/bientap/ThiGian_13B09/raniahassanwomenknittingthroughspace_thumb.jpg" width="404" height="320" /></a> </strong></p>
<p align="center"><em><span style="font-size: xx-small">Rania Hassan, Người Đàn Bà Đan Qua Thời Gian (2006)</span></em></p>
<p>&#160;</p>
<p>Một lần anh hỏi Ước mơ của tôi là gì? Tôi chợt nhớ đến mùa hè xa…</p>
<p>Năm 1980, chị em tôi tíu tít khi ông Chín từ Sài Gòn về Quy Nhơn. Chúng tôi thích thú, cái gì ông cũng biết, đêm nào chúng tôi cũng cùng ông ra bờ biển hóng gió và chơi nhảy sóng. Nhìn trời đêm lấp lánh, ông dạy cho chúng tôi cách nhận ra những chòm sao. Nào là chòm sao Lạp Hộ dễ nhận thấy nhất trên bầu trời. Trong thần thoại Hy Lạp, Lạp Hộ là người khổng lồ cầm quả chùy thần. Còn đây là chòm sao Nhân Mã tốt bụng sáng rực rỡ phương Nam. Tôi nhìn theo tay ông chỉ mà không thể phân biệt được chòm sao nào với chòm sao nào. Ông còn tập chúng tôi truyền tin bằng tín hiệu Morse và Semaphore, tín hiệu thường liên lạc giữa các tàu trên đại dương. Ước mơ của cháu là gì? Ông hỏi. Thời gian đó, tôi đang nghiền ngẫm tủ sách Học làm người của Nguyễn Hiến Lê và say mê những tác phẩm kể về cuộc đời của các vĩ nhân. Tôi đọc hết những gì tôi bắt gặp trong tủ sách. Công thần Nguyễn Trãi nước Việt, tể tướng Ngũ Tử Tư nước Tàu, thủ tướng Ấn Độ Gandhi, tổng thống nước Mỹ Roosevelt, nữ bác học Marie Curie… Tôi thường mơ về họ. Nên khi ông hỏi, tôi nói không suy nghĩ: Cháu sẽ bay vào vũ trụ khám phá các vì sao. Ông bật cười sang sảng, tiếng cười ông ngân vang, òa vỡ trên từng lớp sóng. Sóng uốn đến tận giải ngân hà.</p>
<p>Một buổi tối, chúng tôi thấy ba mẹ căng thẳng, mẹ tấm tức khóc &#8211; ông Chín mất rồi, sau chuyến vượt biển. Cậu mợ Bảy và bé Phi bị bắt sau mấy lần vượt biên không thành. Chị em tôi bàng hoàng. Mấy đêm liền tôi không ngủ, tôi lên sân thượng nhìn trời đêm lấp lánh, tôi nhớ đến những chòm sao của ông ngày trước. Đây là sao Oméga trong chòm sao Nhân Mã, cụm sao già sáng nhất trên trời. Ước mơ của cháu là gì? Cháu sẽ là nữ phi hành gia đầu tiên bay vào vũ trụ. Đó là ước mơ can đảm nhất mà ông từng nghe. Ước mơ của tôi vỡ tan sau tiếng cười của ông ngày ấy.</p>
<p>Giờ đây, tôi chỉ mơ ước làm một con người bình dị trên trái đất này, sống hết mình với cuộc đời để đi trọn một kiếp người. Điều mơ ước nhỏ nhoi ấy, liệu tôi có thực hiện được không? Anh và tôi, những ngã rẻ của cuộc đời.</p>
<p>Có lần tôi nghe tiếng anh gọi, tôi chạy tìm nhưng không thấy đường đi, một bức tường nước thẳng đứng chắn lối qua sông. Người ta nói, tôi phải lên tầng tháp bên sông cầu nguyện, ở đó sẽ có câu trả lời. Tôi chạy lên thang gác lên những tầng tháp, nhìn vào đâu cũng bắt gặp những căn phòng trống, không bóng dáng, không gương mặt, không một nét người. Tôi chạy và chạy, tôi dừng chân khi chạm một căn phòng lạ. Giữa phòng là một hồ nước, trôi bềnh bồng hai chiếc giường tre, xung quanh hoa sứ trắng bập bềnh, hai đôi nam nữ đang nằm ngủ yên trên hai chiếc chõng tre ấy, gương mặt bình thản, thiên thần. Tôi thành tâm cầu nguyện và chạy xuống thang gác, đã gần hết giờ qua sông, bức tường nước đã biến mất, người lái đò đang đợi tôi. Tôi cặp bến và thấy mình đứng trên bến xe, ba và một người chị của tôi đang mong ngóng, tiếng ba nói, trễ giờ rồi con, mau lên đi.</p>
<p align="center">*</p>
<p><em><strong>Tam Đảo, 7g30 sáng.</strong></em></p>
<p>Tôi choàng tỉnh, trễ rồi Tâm ơi, tôi hét lên khi nhìn đồng hồ. 8g phải có mặt tại hội trường. Cả hai cuống quýt mặc quần áo, và chạy lên tầng 3 vào phòng ăn sáng. Cả đoàn bật cười khi thấy chúng tôi vào. Đêm đầu tiên, cả đoàn hốt hoảng khi nghe tiếng Tâm thét trong hành lang, điện khách sạn bị cúp, ngọn nến leo lét trên vách tường, Tâm run rẩy khi thấy một bóng đen bên ngoài khung cửa. Khách sạn dựa lưng vào vách núi, trong khuôn viên của một giáo đường. Tôi liên tưởng đến truyện đường rừng, những thước phim kinh dị, đêm đen lạnh với gió hú trong những vòm cây. Giấc ngủ chập chờn, tôi thấy bóng các giáo sĩ lướt qua dãy hành lang dài hun hút.</p>
<p>Dự án về môi trường làm việc và thảo luận trong các buổi sáng, giấc chiều chúng tôi được tự do. Những buổi chiều, nắng trên từng con dốc nhỏ. Tôi lang thang trên những con đường vắng, quanh co. Không khí mát lạnh và ngập đầy hương rừng. Tôi dừng lại một quán ven đường, người ta bán sáp mật ong ngâm rượu, chuối rừng ngâm rượu, vài túi thổ cẩm. Ở đây có một giáo đường Pháp xây dựng từ đầu thế kỷ và hàng trăm ngôi biệt thư bằng đá nhưng đã bị Việt Minh phá hủy trong trận Vĩnh Yên. Một ông già người bản địa nói. Trời ơi, tiếc ơi là tiếc, tôi than. Ước gì còn những ngôi biệt thự này thì đẹp biết bao. Dấu tích còn sót lại mà thỉnh thoảng tôi nhìn thấy là những bức tường đỗ nát đầy rêu phong, cỏ mọc ngút ngàn. Chung quanh tôi bạt ngàn lá rừng và hoa dại mọc dầy trên các vách. Những khách sạn mới được xây chen chúc dựa lưng vào núi, đủ phong cách không ai chịu nhường ai. Khách sạn <em>Thế giới xanh</em> diêm dúa bên cạnh <em>Nhà nghỉ Bộ Kế hoạch-Tài chính</em> thô sơ, khách sạn <em>Star</em> tân thời bên cạnh <em>Nhà nghỉ Văn phòng Chính phủ</em> lạc hậu, khách sạn <em>Hoa H</em><em>ồng</em> xuống cấp, khách sạn <em>Hương Rừng</em> quyến rũ, cảnh vật bị phá hủy vì những kiểu kiến trúc thiếu thẩm mỹ, phô trương. Từ cửa sổ phòng mình, nhìn toàn cảnh Tam Đảo, tôi thích thú khi phát hiện một ngôi biệt thự màu trắng đã cũ nằm ẩn mình thật xa trên núi cao, có lẽ từ thời Tây. Tôi phấn khích rủ Tâm hôm nào được nghỉ sớm, mình lên trên ấy. Tâm la, Mai leo tuốt trên đó, chắc khuya mình mới về, nhìn vậy nhưng xa lắm. Sương mù dày đặc không thấy đường đâu, nhưng hấp dẫn quá&#8230;Tôi nói.</p>
<p>Cơm chiều xong đã 7g tối, tôi và Tâm &#8211; cô bạn cùng phòng dân miền Tây &#8211; đi dạo trên con dốc vắng. Đêm sáng lạnh vì ánh trăng non, chúng tôi ngồi uống cà phê bên dòng suối dưới con dốc ven đường. Quán cà phê Internet đường truyền chập chờn, làm khách nước ngoài chán ngán bỏ về. Cà phê miền Bắc quá tệ, không thể tìm đâu ra được hương vị thơm nồng, đậm đặc, dẻo ngọt như cà phê Pleiku, tôi vừa uống ở quán Tân Tây Nguyên hai tuần trước. Pleiku mưa tuôn xối xả, ngồi trên chòi cao, gió tạt ướt cả áo, cả nhóm vừa uống vừa run vì lạnh. Nhưng thỏa mãn vì cà phê quá ngon không uổng công cả bọn cuốc bộ mấy cây số, cũng đường đèo dốc như Tam Đảo.</p>
<p>Đêm khuya, không khí và khung cảnh nơi này thật huyền ảo. Gần đến rằm Vu Lan tháng 7, trăng giát vàng lóng lánh mặt suối. Tôi ước gì anh có mặt ở đây, anh sẽ yêu tiếng suối đang róc rách chảy, âm thanh vỡ òa của nước tuôn giữa các khe đá trong đêm vắng nghe như tiếng hát.</p>
<p><em>Côn Sơn có suối, tiếng nước chảy rì rầm, ta coi làm đàn cầm </em>…. Côn Sơn của Nguyễn Trãi cách đây hơn 500 năm và Tam Đảo thế kỷ 21 có khác gì nhau đâu, thiên nhiên muôn đời vẫn vậy. Còn tôi và anh có vậy không?</p>
<p>Ngày anh trở về chịu tang cha, tôi không hề hay biết. “Mẹ ơi, có chú nào đó đến tìm mẹ ở nhà ngoại”. Tôi lặng người khi nhìn thấy anh ngồi bên cạnh mẹ tôi trong im lặng. Một cảm giác choáng ngộp bao phủ lấy hồn tôi, tôi gần như ngã quỵ chỉ lí nhí “xin lỗi” rồi chạy vào nhà sau, úp mặt vào làn nước cố trấn tĩnh tâm hồn mình nhưng nước mắt cứ trào rơi. Anh về rồi đó sao, đã bao nhiêu đêm tôi mơ về điều ấy… Ngày anh vượt biển, tôi 18 tuổi, tình cảm học trò chưa từng một lần dám nói tiếng yêu thương, chưa từng chạm khẽ tay nhau, có chăng là những ánh mắt. Vì anh tôi khước từ tất cả, những năm học đại học là những năm đợi chờ, những lá thư của anh là niềm hạnh phúc trong tôi. Rồi một ngày, anh viết: “Đừng bao giờ nghĩ đến chuyện vượt biển đó là điều nguy hiểm, hãy quên anh đi”. Ngày ấy, tôi tuổi hai mươi. Lúc đó, tôi vẫn còn là một cô bé đầy kiêu hãnh. Lòng tự trọng bị tổn thương. Tôi cứ nghĩ rằng anh đã có bạn mới nên không muốn gặp mình…. Sau tang cha, anh ở lại một tháng. Tôi không dám một mình đến thăm. Lần lữa mãi cho đến ngày cuối cùng, tôi điện thoại, hẹn ngày mai sẽ đến…. Tôi đứng lặng bên cánh cổng đã khép, giờ này cả nhà anh đang ở phi trường. Tôi đã đến trễ hay cố tình đến trễ? Tôi đẩy cửa bước vào khu vườn, đứng chôn chân trên bậc thềm phòng anh. Cửa đã khóa. Tôi dựa lưng vào khóm trúc, có còn ai nữa không, còn ai nữa không? Cũng trong căn phòng này, ngày xưa tôi thường đến mượn sách, chúng tôi thường nói chuyện trên trời dưới nước, không đâu vào đâu. Sau ngày anh ra đi, những lúc buồn, tôi thường đến thăm cha anh, và xin ông cho tôi ngồi im lặng trong căn phòng này. Một chái hiên nhỏ, phía trước có mấy khóm trúc và lan.</p>
<p>Tôi biết anh đau khổ khi trở về chịu tang cha và người mình yêu không đến gặp. Và tôi cũng biết vì sao mình không thể gặp riêng anh. Ngày cũ đã thật xa.</p>
<p>Sáng nay, cả đoàn dậy thật sớm để đi leo núi Thiên Nhị, lên trên đỉnh Tháp truyền hình và đi Thác Bạc. 7g sáng nắng vàng trải thảm lên những con đường nhỏ, trời thật mát. Minh chụp cho chúng tôi mấy tấm hình thật đẹp bên những con dốc. Không khí thật trong lành. Tâm bỗng la lên: “Nhìn kìa Mai ơi, hoa gì mà lạ quá vậy?”. Một vạt đồi sáng rực dưới nắng mai, bởi những màu trắng, đỏ chen chúc. “Bác ơi, hoa gì vậy bác?”. Tôi hỏi một người đàn bà địa phương đang nhặt ngọn susu cho vào mẹt thúng ven đường &#8211; món rau thôn quê của Tam Đảo &#8211; bà dừng tay, trả lời: “Đó là hoa đổi sắc. Khi mới nở hoa màu trắng tinh sau một thời gian hoa chuyển sang màu hồng, và khi tàn nó trở thành màu đỏ tươi như máu”. Cuộc đời của loài hoa này, sao giống cuộc đời con người quá vậy, tôi nghĩ. Khi vừa ra đời con người thật trinh trắng, trải qua bao đổi thay, tâm hồn họ cũng bao biến đổi, đến lúc sắp lìa xa cõi đời, con người vẫn còn cố gắng để lại trên đời giọt máu của thân phận mình, chứng tích của một lần có mặt trên thế gian. Số kiếp con người như một loài hoa, dù mong manh nhưng con người vẫn quả quyết không khuất phục tạo hóa.</p>
<p>Tôi nhát gan, cái gì cũng sợ. Tôi sợ rắn, sợ vắt và sợ đủ thứ những con côn trùng có thể bám vào cơ thể mình, nên vào rừng tôi che chắn cẩn thận. Mới một phần ba đoạn đường tôi bắt đầu vứt bỏ khăn choàng, áo khoác, mồ hôi tôi túa đầm đìa. Trên núi cây rừng giăng kín và sương phủ mờ, tôi vẫn thấy cơ thể nóng bức, mặc dù bên ngoài hơi sương thấm ướt. Những chú bướm trắng đu mình từng lớp trên những nhánh lá. Tại sao nhiều con nằm chồng lên nhau trên một búp lá như vậy, nó không bay lượn như dưới đồng bằng. Ủ ấm chăng? Hay là mùa giao phối. Tôi thắc mắc. Tôi gặp một nhóm nhà sinh vật học người Tân Tây Lan đang dùng vợt bắt côn trùng. Và suýt bật cười khi thấy ba ông cán bộ bụng to thở dốc, bên cạnh là một người địa phương quang gánh ba lô và thức ăn cho họ, có lẽ dân “Gà Công nghiệp”. Đi một hồi, nhìn quanh không còn ai, tôi và Tâm ngồi nghỉ trên đường ống dây điện cáp quang. Phía trên chắc Ban tổ chức đã lên đến đỉnh, có lẽ mình là người cuối cùng. Ồ không, Tâm mừng quá reo lên dưới mình còn có người nữa Mai ơi. Tôi nhìn xuống nhóm đại học Cần Thơ đang cố bò lên. Nhiều người liếng thoắng: Tụi em lạc đường, phải rẽ qua đền Mẫu thờ Bà Chúa Ngàn. Rằm tháng 7 mà chị, dân dưới núi leo lên đi lễ đông ơi là đông. Tụi em được phát “oản” đây nè. Đây là lần đầu tiên tôi thấy bánh “oản” miền Bắc. Lộc ở chùa phát cho các tín lễ. Ừ hôm nay là 14, lễ Vu Lan, ngày Ngưu Lang – Chức Nữ gặp nhau. Không biết trên Tam Đảo này có cầu Ô Thước cho hai kẻ yêu nhau tìm gặp.</p>
<p>&#8230; Mai cổ điển quá đi, cô bạn học ngày xưa của tôi cười ngất, tôi cảm thấy bối rối. Bây giờ làm gì có cầu Ô Thước cho hai kẻ yêu nhau tìm gặp. Ngày xưa Ngưu Lang-Chức Nữ yêu nhau say đắm, mỏi mòn chờ đợi đến rằm tháng 7 mới được gặp nhau. Ngày nay hai kẻ yêu nhau ở hai đầu trái đất, chỉ cần một giây bấm máy điện thoại là có thể nói chuyện bất tật. Cuộc sống là một vòng xoay chuyển động không ngừng, H mới từ Cali về, hai đứa ngồi cả buổi nói chuyện tào lao. Tình yêu bây giờ không còn lãng mạn như ngày xưa nữa, H không thấy văn chương Việt Nam đầy dẫy những cảnh sex rẻ tiền đó sao. Vấn đề sex. Trên mạng người ta vứt bộ phận sinh dục nam, nữ vào mặt độc giả chan chát, đọc vào mình thật sự không tin nổi. Tiếng Việt tinh tế, trong sáng của mình đi đâu rồi? Hồ Xuân Hương ngày xưa vẫn viết về sex nhưng mình thấy thanh không tục. Quan niệm của H thì sao? H nghĩ trong văn chương càng có nhiều giọng văn càng phong phú. Mình đồng ý điều ấy, nhưng có cần phải đầy nhục cảm thô thiển như vậy không. Cái quan trọng là nhà văn phải viết về vấn đề ấy cho tới và có nghệ thuật để người đọc không cảm thấy tầm thường và dung tục. <em>Rừng Na-uy</em> của Haruki Murakami cũng sex dữ dội, nhưng đọc mình thấy hay và tức cười nữa, vì Haruki dẫn dắt diễn biến câu chuyện hợp lý người đọc không thấy bị ngượng ngùng trước những cảnh sex rất tự nhiên.</p>
<p>Còn quan niệm tình dục ở bên ngoài Việt Nam thì sao? Có còn người con gái hiện đại nào suốt đời chỉ quan hệ một người đàn ông? Và sự chung thủy. H nghĩ ở bên ngoài tụi mình quan niệm tình dục tự do và thoáng hơn. Chuyện tình cảm gắn với tình dục bao giờ cũng rắc rối, chỉ cần đừng làm cho người khác đau khổ là không vấn đề gì. Ngoài những quan hệ gây đau khổ cho người khác, thì H nghĩ đó là tự do của họ, và nhiều khi như thế càng tốt đẹp hơn cho cuộc đời. Tôi ngạc nhiên, thích là quan hệ sao, dù đã có gia đình? Cũng còn tùy. Có người dễ dàng ngủ hết người này đến người khác, có người cũng không dễ dàng như vậy đâu. Họ rất coi trọng gia đình. Dân da trắng cũng vậy, cũng tùy người. H cũng đã từng nghĩ mình có khả năng tách quan hệ tình cảm ra khỏi quan hệ thể xác nhưng sau mình biết là mình không có khả năng đó. Thấy người khác hấp dẫn mà người đó không phải là chồng hay vợ của mình là chuyện thường tình, rất con người. Nếu mình không có như thế thì một là mình quá đè nén, hai là mình không thành thật với chính mình.</p>
<p>Tôi im lặng. Tôi hiểu những điều H nói, và dù sao tôi cũng là một phụ nữ Việt, mà người phụ nữ Việt thường luôn đè nén cảm xúc.</p>
<p>Tình yêu, tôi biết không phải bao giờ cũng trường tồn mãi mãi, đó chỉ là lý thuyết, nó biến chuyển, thay đổi cung bậc theo thời gian, theo nhận thức của con người trong từng năm tháng. Tùy thuộc rất nhiều vào cách ứng xử của người bạn đời. Tình yêu như mầm cây, người làm vườn phải biết cách chăm sóc, nếu không mầm cây sẽ chết.</p>
<p>Còn tình dục thì sao? Với tôi, tình dục là vấn đề hết sức thiêng liêng. Nó không thể nào là vì bản năng chỉ để thỏa mãn thể xác, và nó cũng không thể xảy ra dễ dàng cho bất cứ một ai. Giữ mình là ý thức tự trọng phải có của một người con gái. Tình dục là nghi lễ của tình yêu và nó chỉ được xảy ra khi hai tâm hồn cùng hòa một nhip. Tôi chắc là H cũng chưa thể hiểu mình. Dĩ nhiên, tình yêu và tình dục là một không thể tách rời. Khi yêu nhau người ta khao khát nhau, nhưng cuộc đời không bao giờ như mình suy nghĩ.</p>
<p>&#8230;Một ngàn năm trăm ba mươi bảy bậc, tôi và Tâm nhẩm tính, vậy là đã đến đích. Thật sảng khoái.</p>
<p>Trời mù sương không thể nhìn thấy gì ở phía dưới, chỉ là mây và mây. Mây bồng bềnh khắp chốn. Tôi như người trong mơ. Thời gian nơi đây như ngưng đọng. Có phải tôi đang trở về thời thiên cổ và chợt hiểu vì sao nửa thế kỷ trước Đoàn Phú Tứ đã mượn màu thời gian và hương thời gian để tâm tình với người xưa: …<em>Ngàn xưa không lạnh nữa Tần Phi, ta lặng dâng nàng, trời mây phảng phất nhuốm thời gian</em>…</p>
<p>Chuyến tập huấn của tôi ngày mai kết thúc. Nhưng tôi sẽ nhớ mãi cảm giác bềnh bồng khi đứng trên những tầng mây. Có một ai đó đã nói, khi bạn bước ra ngoài vũ trụ, nhìn lại quả đất bạn sẽ thấy trái đất mình nhỏ bé vô cùng. Nhân loại như một ngôi nhà chung mà biên giới giữa các quốc gia không còn ý nghĩa nữa. Tôi và anh, những người cùng thế hệ tứ tán khắp phương trời, thất lạc nhau trong cuộc bể dâu, điều gì đã xảy ra… Đồng hồ của chúng ta cũng đã quá trưa, chẳng còn bao lâu nữa tất cả rồi cũng sẽ chìm trôi.</p>
<p>Màu thời gian không xanh, màu thời gian tím ngát, hương thời gian không nồng, hương thời gian thanh thanh&#8230; Tôi ngước mắt lên ngắm nhìn những lượn mây trắng xóa uốn ngang đầu mình. Lớp sóng thời gian kết bằng mây chẳng khác những lượn triều.</p>
<p>&#160;<em>01/2010</em></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p align="right">.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://damau.org/archives/10781/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

