Trang chính » Bàn tròn, Ngôn ngữ Email bài này

Ngôn ngữ ngậm ngùi – phần 1

43 bình luận ♦ 21.10.2009

GiuThomQueMe

Giữ thơm quê mẹ, thư pháp Trụ Vũ

“Tiếng nước tôi,
bốn ngàn năm ròng rã buồn vui”

(Tình ca, Phạm Duy)

Một người bạn, qua Mỹ năm 1975, kể với tôi rằng, thành phố gia đình anh định cư trong năm đầu có rất ít người Á châu. Mỗi lần thoáng trông thấy một cái “đầu đen” nào là anh ta chạy ngay đến để xem thử có phải là người Việt không. Một hôm, trên đường phố, bất chợt anh ta nghe một tiếng nói quen thuộc cất lên. Tiếng Việt Nam. “Một cái đầu đen,” anh ta la lên, chạy bay đến trước mặt người đàn ông vừa thốt ra thứ tiếng ấy, nắm chặt hai vai, lắc lắc: “Việt Nam à? Tôi cũng Việt Nam đây!” (Anh ta không nói “tôi cũng là người Việt Nam đây!”). Người đàn ông cũng tỏ ra vui sướng không kém. Hai người quấn lấy nhau, tíu ta tíu tít như hai người bạn thân lâu ngày gặp lại và cùng tuôn ra một tràng tiếng Việt, mặc cho những người bản xứ đi qua đi lại nhìn chằm chằm hai người, ngạc nhiên vì một thứ ngôn ngữ “lạ tai”. Nỗi khát khao bị dồn nén lâu ngày, vỡ ra, ùa ra. Anh bạn tôi không cần biết người đàn ông nói tiếng Việt kia là ai, ở đâu ra, vì sao lại có mặt nơi đây(?). Không cần biết, chỉ cần… nói tiếng Việt. Thế là đủ.

Anh bạn tôi thèm được nghe, thèm được nói thứ ngôn ngữ ấy, cái mà anh ta thiếu thốn, khao khát đã lâu. Anh ta đi tìm chút “quê hương trong tiếng nói”. Cái cảm xúc ấy chỉ đến với anh ta một, hai lần sau đó, và không bao giờ trở lại nữa. Nơi anh ta sống bây giờ có khá đông người Việt, có khá nhiều “đầu đen”. “Người Việt ‘phức tạp’ quá!” anh ta nói, nhún vai.

Đấy là chuyện của anh bạn tôi. Chuyện của tôi thì có hơi khác một chút. Năm đầu đến Mỹ, tôi có cái vui gặp lại những người bạn cũ. Một ông bạn, sau ít câu thăm hỏi chuyện gia đình, hỏi tôi:

“Con trai ông tên gì?”

“Hữu Nghị.”

“Bộ hết tên rồi hay sao mà đặt cái tên gì ghê vậy?”

“Ông nói ‘ghê’ là ghê làm sao?” tôi hỏi.

“Thì ‘từ Việt cộng’ chứ còn ‘làm sao’ nữa,” người bạn phang một câu xanh rờn.

Từ VC! Không phải là lần đầu tôi nghe cái “từ” 1 này, bèn có một sự phản kháng:

“Thứ nhất, ông muốn tôi đặt tên gì khác bây giờ? Cả nhà tôi, mấy anh em trai đều là Lê Hữu… gì gì đó, Phước, Lộc, Tài, Đức…, đến đời thằng con tôi thì cũng phải cho nó cái ‘Hữu…’ gì chứ! Thứ hai, tôi đã plan cái tên ấy từ trước năm 75, vì muốn thằng con đi về… ngành ngoại giao. Việt cộng đâu có phải là người ‘phát minh’ ra cái chữ ấy, và cũng đâu có ‘độc quyền’ cái chữ ấy. Tiếng Việt là tài sản chung của người Việt mà.”

Người bạn nín thinh, cũng không tỏ dấu hiệu nào là có “nhất trí” 1 hay không.

“Hữu Nghị”, cái tên ấy, hai chữ ấy (và những chữ khác nữa) tự nó không có lỗi gì cả. Vậy mà tội nghiệp, nó đã bị ghét bỏ một cách oan uổng, chỉ vì… “ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”. Tâm lý này khá phổ biến và có thể hiểu được. Ghét người nào là ghét cả cái nhà cái xe, cái chăn cái chiếu, con chó con mèo… của người ấy. Nhiều người cảm thấy “ghét” chữ này chỉ vì thường đọc/nghe trên “báo, đài” 1 nào là “Tình hữu nghị thắm thiết môi hở răng lạnh”, nào là “Chúc cho tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước đời đời bền vững, mãi mãi xanh tươi”… vân vân và vân vân. Nghe mà dễ… ghét.

1. Tiếng Việt trong nước

Ông bạn tôi (và khá nhiều người như thế) chỉ suy nghĩ đơn giản, hoặc chỉ lập lại những gì ông ta nghe người khác nói, thành thử nhiều khi nói mà… không biết mình nói cái gì.

Sau này, mỗi khi bị “truy chụp” 1 là dùng “từ Việt cộng”, tôi tìm được cách giải thích khác, gọn hơn: “Ông thử lật tự điển tiếng Việt trước năm 75 của miền Nam ra xem, nếu có chữ này thì ông không thể gọi là ‘từ VC’ được.”

Tuy nhiên, lời giải thích ấy không phải lúc nào cũng “có sức thuyết phục” 1, lắm người không cần biết chữ ấy có hay không có trong tự điển “phe ta”, hễ tiếng nào “đối phương” sính dùng (nhất là dùng không đúng, nghe chướng tai, hoặc có vẻ “đao to búa lớn”) thảy đều là… “từ VC”. Những đối tượng ấy kể cũng hơi… khó nói chuyện (ngày trước gọi là “không có tinh thần đối thoại”).

Tội nghiệp cho những con chữ ấy, nằm yên ổn trong những trang sách tự điển từ bao nhiêu năm, nay bỗng nhiên bị nắm đầu lôi cổ ra tố khổ một cách oan uổng, như là những kẻ… nằm vùng. Vai trò của chữ nghĩa xưa nay vốn độc lập, không nghiêng bên này ngả bên kia, vậy mà nay lại bị gọi lên “làm việc” 1, tra vặn: “Anh theo bên nào?”

Những từ ngữ Hán-Việt như “hữu nghị”, “khẩn trương”, “tranh thủ”, “động viên”… không mới mẻ, lạ lùng gì với người dân miền Nam trước năm 1975. Nếu có khác là khác về cách diễn nghĩa và cách sử dụng. Ở miền Nam ngày trước ta vẫn nghe: “Thủ tướng chính phủ vừa ký quyết định ban hành tình trạng khẩn trương trên toàn lãnh thổ…”, hoặc “Tranh thủ nhân tâm (hay ‘tranh thủ sự ủng hộ của dư luận thế giới’ / ‘tranh thủ một nền hòa bình công chính’) là một trong những mục tiêu hàng đầu của công tác đấu tranh chính trị”, hoặc “Phái đoàn đến thăm viếng ủy lạo và động viên tinh thần binh sĩ”.

“Nhân dân cách mạng Việt Nam vùng đứng lên cùng thế giới

Vai chen vai bên nhau mưu cuộc giải phóng giống nòi…

Những câu hát ấy ở trong bài “Nhân dân cách mạng Việt Nam”, nhạc sĩ Hùng Lân sáng tác ở trong Nam, cho thấy những từ ngữ “nhân dân”, “giải phóng”… không phải là “độc quyền” của người Việt ngoài Bắc.

Nói đi thì cũng nói lại, hai chữ “đồng bào” không phải là “độc quyền” của người Việt trong Nam. “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” người Việt ngoài Bắc từng nghe câu ấy cách nay hơn sáu mươi năm. Vì sao người ta không chịu xài hai tiếng “thân thương” 1 đầy… “tình ruột thịt nghĩa đồng bào” ấy nữa lại là… chuyện khác.

Dẫn ra các ví dụ trên để thấy rằng tiếng Việt là của người Việt, không có Bắc Trung Nam chi cả, và chỉ vì duyên cớ nào đó mà đem lòng oán ghét những “từ” này “từ” nọ thì kể cũng bất công và tội tình cho chữ nghĩa. Hãy trả ngôn ngữ về vị trí độc lập như nó đã từng.

Trong phạm vi bài này, để cho dễ gọi (và để không phải lặp lại nhiều lần “trước/sau năm 1975”), xin được tạm dùng những “cụm từ” 1 sau:

- “Tiếng Việt trong nước”: tiếng Việt được sử dụng trong cả nước hiện nay.

- “Tiếng Việt ngoài nước”: tiếng Việt được người Việt định cư ở nước ngoài (trước và sau năm

1975) sử dụng.

- “Tiếng Việt cũ”: cách nói hoặc từ ngữ được sử dụng ở miền Nam trước năm 1975.

- “Tiếng Việt mới”: cách nói hoặc từ ngữ thay cho “tiếng Việt cũ”, được sử dụng ở trong nước

hiện nay.

- “Miền Nam thuở trước”: miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

Những cách gọi này có tính cách tương đối, giai đoạn (do những biến động của lịch sử), và chỉ sử dụng trong phạm vi bài này.

Từ đây trở đi, trong bài sẽ không có những chữ nghĩa như “từ VC”, “tiếng Saigon”… hoặc những phê phán kiểu “xưởng đẻ”, “chiến sĩ gái”, “Công ty chất đốt thanh niên”, “Cửa hàng thịt tươi sống phụ nữ”… ngụ ý cười nhạo sự quê mùa của người sử dụng ngôn ngữ. Quê mùa không phải là cái tội, chỉ là sự thua thiệt do không có may mắn được đến trường đến lớp để “tiếp thu” 1 những kiểu cách văn minh lịch sự. Theo đà tiến hóa, chắc chắn là những cách nói ấy sẽ không tồn tại. Ông cha ta ngày xưa ít được học hành đến nơi đến chốn, hầu hết đều đi từ “chân quê” đến văn minh thành thị. Có người Việt nào lò dò đặt chân đến nước Mỹ lần đầu mà không… ngáo ngáo, chỉ khác là không bị người bản xứ cười nhạo (và chỉ ít lâu sau đó là bắt đầu có sự phân biệt kẻ đến trước, người đến sau, trong lúc đều cùng một thân phận tha hương, ăn nhờ ở đậu, không lấy gì làm vẻ vang).

Ngôn ngữ là tài sản chung của dân tộc, chắc không ai phủ nhận điều này. Ngôn ngữ là sản phẩm của con người, chứ không… làm nên con người. Tiếng Việt cũng không ra khỏi lẽ ấy. Tiếng Việt dùng chung cho cả nước. “Người phát minh” ra tiếng Việt không hề có ý định cấp giấy phép cho “bên” nào đặc quyền sử dụng; vì vậy, thiết tưởng ta cũng không nên làm cho tiếng Việt–ngôn ngữ của nước ta–trở nên “phức tạp” 1.

Nếu ta có thể “nhất trí” được với nhau, tiếng Việt là những “tiếng” được ghi lại trong các bộ tự điển tiếng Việt của cả miền Bắc lẫn miền Nam thuở trước (tất nhiên những bộ tự điển này luôn cần được bổ sung) thì không có chữ nào, tiếng nào là độc quyền của “bên” nào. Bên nào xài cũng được, miễn là chịu khó xài cho đúng.

1.1. Chữ và nghĩa

Ngôn ngữ tự nó không có lỗi gì cả. Hoặc nếu có, chỉ là ở nơi người sử dụng chúng. Thế nhưng, như thế nào gọi là “lỗi”? Có thể kể ra một ít ví dụ về cách dùng từ ngữ và những cách nói cần được điều chỉnh sao cho hợp lý.

- Biểu diễn: Thay vì nói “Ca sĩ L.T. đã biểu diễn những ca khúc gắn liền với tên tuổi chị”, nói “Ca sĩ L.T. đã trình diễn những ca khúc gắn liền với tên tuổi chị”.

Ta không nói biểu diễn một bài hát, nhất là khi ca sĩ đứng yên một chỗ mà hát, không múa may nhảy nhót.

- Chúc sức khỏe: Thay vì nói “Chúc sức khỏe!” hoặc “Chúc sức khỏe anh chị!”, nói “Chúc khỏe!” hoặc “Chúc anh chị khỏe!” hoặc “Chúc anh chị nhiều sức khỏe!”

Nói “Chúc sức khỏe!” là không đủ ý (và chưa thành câu chúc), mà phải là “Chúc sức khỏe… (như thế nào?)”, chẳng hạn “Chúc sức khỏe tốt / dồi dào!” Hoặc, có thể nói “Chúc khỏe!”, “Chúc khỏe nhé!” (tương tự “Chúc vui!”, “Chúc thọ!”, “Chúc may mắn!”….).

- Chuyên môn: Thay vì nói “Cô Nga là giáo viên phụ trách chuyên môn”, nói “Cô Nga là giáo viên phụ trách về biên soạn tài liệu giáo khoa” (hoặc “… về hướng dẫn sư phạm”, hoặc “… về sinh hoạt học đường”, hoặc “… về sổ sách kế toán”).

Nói “phụ trách chuyên môn” là không đủ ý, vì có cả trăm thứ “chuyên môn”, người nghe không rõ là “chuyên môn” về… cái gì(?).

- Quá trình: Thay vì nói “Xin nói sơ qua về quá trình thực hiện một bộ phim”, nói “Xin nói sơ qua về tiến trình thực hiện một bộ phim”.

Nói “quá trình” là nói về trình tự của một diễn tiến đã kết thúc. Ví dụ: “Đơn xin việc cần ghi rõ quá trình học vấn”, hoặc: “Sau mười năm, nhìn lại quá trình hoạt động của trường”.

- Tản mạn: Thay vì nói “Tản mạn về tiếng Việt”, nói “Chuyện trò tản mạn về tiếng Việt”, hoặc “Mạn đàm về tiếng Việt”.

Nói “tản mạn về…” là không đúng nghĩa. Tản mạn (tính từ) chỉ có nghĩa tương tự “lan man”, “rải rác”, “tản mác”…, chứ không có nghĩa là “mạn đàm”, “phiếm luận”, “trò chuyện” (động từ)…

- Trao đổi: Thay vì nói “Sau khi trao đổi, chúng tôi hiểu nhau hơn”, nói “Sau khi trao đổi ý kiến, chúng tôi hiểu nhau hơn”.

Nói “trao đổi” là không đủ ý, mà cần nói “trao đổi”… cái gì(?), ví dụ: “trao đổi ý kiến / kinh nghiệm / quan niệm / hàng hóa / tù binh”…

- Trình độ văn hóa: Thay vì nói “Trình độ văn hóa: lớp 12”, nói “Trình độ học vấn: lớp 12”.

Muốn hỏi về quá trình học vấn hay bằng cấp của một người, câu hỏi là: “Trình độ học vấn?”.

- Tư liệu: Thay vì nói “Có thể tham khảo thêm các tư liệu về đề tài này ở các thư viện”, nói “Có thể tham khảo thêm các tài liệu về đề tài này ở các thư viện”.

“Tư liệu” là tài liệu riêng thuộc quyền sở hữu của cá nhân, gia đình, tổ chức…, không phổ biến đại chúng.

Những từ ngữ và những cách nói trên khá thông dụng ở trong nước và cả ở ngoài nước. Ngoài ra, có ít từ ngữ “mới” mà ý nghĩa và cách dùng chưa thống nhất, rõ ràng. “Dân oan”, chẳng hạn. Không rõ là cái “từ” này ở đâu ra, trong hay ngoài nước? Các “báo, đài” 1 ở ngoài nước có vẻ sính dùng “từ” này. Một dòng chữ đọc được bên dưới tấm ảnh, “Dân oan tập trung khiếu kiện trước nhà thờ Đức Bà”. Trong ảnh là đám đông tụ tập thành những nhóm dăm ba người, kẻ đứng người ngồi, chuyện trò bàn bạc chi đó. Nhiều người ăn mặc bảnh bao, mặt mũi tươi rói. “Dân oan” có khi được dùng thay cho “người dân”, có khi thay cho… “một người dân”, chẳng hạn “Lá thư kêu cứu của một dân oan”, hay “Một dân oan tỉnh Tiền Giang cho biết…” Ngày trước ta có những “dân chúng”, “dân lành”, “dân quê”, “dân nghèo”, “dân đen”…, nay lại có thêm tầng lớp mới là “dân oan” (không chừng mai đây lại có thêm “dân ức”, “dân oán”, “dân khổ”, “dân đói”…). Đến ngày nào “tuyệt đại bộ phận” 1 nhân dân được gọi là “dân oan” cả thì nhà cầm quyền cũng “mệt” đấy chứ không phải chơi.

1.2. Tiếng Hán-Việt và tiếng “nửa Hán-Việt”

Không phải từ ngữ Hán-Việt nào cũng cần và cũng có thể thay được bằng từ ngữ “thuần Việt”. Khá nhiều tiếng Hán-Việt khó mà tìm được tiếng thuần Việt nào tốt hơn hoặc tương đương để thay thế.

Một ít từ ngữ Hán-Việt thường được sử dụng trong nước có thể thay được bằng thuần Việt và… hay không kém, chẳng hạn: “đại đa số” hoặc “đại bộ phận” có thể thay bằng “phần lớn”, “phần đông”; “tuyệt đại đa số” hoặc “tuyệt đại bộ phận” có thể thay bằng “hầu hết”; “giáo trình”, “giáo án” có thể thay bằng “bài giảng”; “tham quan” có thể thay bằng “thăm”, “thăm viếng”; “thường niên” có thể thay bằng “hàng năm”; “tiếp thu” có thể thay bằng “hiểu”, “am hiểu”, “học hỏi”; “tranh thủ” có thể thay bằng “cố gắng”, “cố thu xếp”; “khẩn trương” có thể thay bằng “mau mắn”, “lẹ làng” hoặc “căng thẳng” (tùy nghĩa trong câu).

Trong khi đó, một số từ ngữ Hán-Việt được trong nước đổi sang thuần Việt khá tốt như: “cả nước” thay cho “toàn quốc”; “nhà nước” thay cho “quốc gia”; “trong nước” thay cho “quốc nội”; “ngoài nước” thay cho “hải ngoại”; “nước ngoài” thay cho “ngoại quốc”; “chữ cái” thay cho “mẫu tự”; “quý” thay cho “tam cá nguyệt” (miền Nam thuở trước có chữ này nhưng ít dùng); “tàu sân bay” thay cho “hàng không mẫu hạm”; “Lầu Năm Góc” thay cho “Ngũ Giác Đài”; “Hội Chữ Thập Đỏ” thay cho “Hội Hồng Thập Tự”.

Các ví dụ trên cũng cho thấy một điều hơi lạ, người Việt trong nước, một mặt có xu hướng thuần-Việt-hóa các từ ngữ Hán-Việt, một mặt lại sính dùng các từ ngữ này. Có vẻ như đối với những gì “trân quý” 1 hoặc muốn “phô trương thanh thế” thì họ chuộng sử dụng tiếng Hán-Việt, hoặc giữ nguyên tên Hán-Việt chứ không muốn đổi sang tiếng thuần Việt. Ví dụ: siêu đẳng, siêu thị, siêu tốc, siêu xa lộ, siêu khuyến mãi, siêu tiết kiệm, thậm chí siêu giảm giá, siêu rẻ, siêu sao, siêu mẫu, siêu quậy, siêu hot, siêu mỏng, siêu nhỏ, siêu khủng (không rõ là “khủng” gì, “khủng khiếp”, “khủng long” hay “khủng bố”?!) và cả siêu xe nữa (chẳng hạn: “Siêu xe Ferrari 599 GTB dạo quanh Hồ Gươm”). Về tên riêng, các tên gọi như Thiên An Môn, Hữu Nghị Quan, Vạn Lý Trường Thành… vẫn được giữ nguyên, trong lúc Tòa Bạch Ốc (hay Bạch Cung), Ngũ Giác Đài… thì lại đổi thành Nhà Trắng, Lầu Năm Góc.

Tiếng Hán-Việt, dù muốn dù không, trở thành một “bộ phận không thể tách rời” 1 trong ngôn ngữ của người Việt. Nhiều từ ngữ Hán-Việt được sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày tạo cảm giác gần gũi, thiết thân không kém gì tiếng thuần Việt. Hơn nữa, sử dụng tiếng Hán-Việt dẫu sao vẫn hơn là vay mượn những tiếng nước ngoài, vì dễ nghe hơn, dễ hiểu hơn, và ít ra cũng còn được… một nửa Việt.

Bên cạnh từ ngữ Hán-Việt, một số từ ngữ “nửa Hán-Việt” (tiếng Hán-Việt và tiếng thuần Việt sánh đôi nhau) cũng được sử dụng nhiều trong nước, như: người phát ngôn, nhà văn hóa, viện chăn nuôi, in ấn (thay vì “ấn loát”), tranh cãi (thay vì “tranh luận”, “tranh biện”), truy tìm (thay vì “truy tầm”), truy đuổi (thay vì “truy nã”), truy quét, truy lùng (thay vì “truy kích”), truy hỏi, truy vặn (thay vì “truy vấn”), vụ việc (thay vì “sự vụ”), di dời (thay vì “di động”), tu sửa (thay vì “tu bổ”)…

Một “đặc trưng” 1 khác của người Việt trong nước là sính “nói chữ”, thích dùng những “cụm từ” văn vẻ, quanh co hoặc bóng gió (thường là để tránh “đi thẳng vào vấn đề” hoặc để làm giảm nhẹ cái xấu), như: có khả năng (có thể); tạo điều kiện (tìm cách; thu xếp); kém văn hóa (ít học); bệnh thành tích (làm láo, báo cáo hay); quyết định thôi giữ chức (quyết định từ chức/cách chức); tình hình diễn biến phức tạp (tình hình xấu đi); giao lưu tình cảm (làm quen, kết bạn tâm tình); quà biếu trên mức tình cảm (hối lộ); ùn tắc giao thông (kẹt xe); trẻ em chưa ngoan (trẻ em hư hỏng); học sinh ngồi nhầm lớp (học sinh kém trình độ, cần cho xuống lớp dưới); điều kiện kinh tế gia đình rất hạn chế (gia đình nghèo khó, mức sống chật vật)…

1.3. Tiếng Việt “cũ” và “mới”

Bên dưới là một ít từ ngữ phổ biến ở trong nước, thay cho từ ngữ hoặc cách nói tương đương (ghi trong ngoặc đơn) của người Việt ở miền Nam thuở trước. (Các từ ngữ này xếp theo thứ tự vần abc).

Ban chấp hành (thay cho “ban điều hành”), bản chất (thay cho “bản tính”), biểu diễn (thay cho “trình diễn”), bức xúc (thay cho “ấm ức”; “bứt rứt”; “bực tức”; “nhức nhối”).

Ca từ (thay cho “lời ca”; “câu hát”), chấp hành (thay cho “thi hành”), chất lượng (thay cho “phẩm chất”), chủ trì (thay cho “chủ tọa”), chuyên nghiệp (thay cho “nhà nghề”), có sức/tính thuyết phục (thay cho “thuyết phục được”), cơ bản (thay cho “căn bản”), công nhân viên (thay cho “công chức”), cụm từ (thay cho “nhóm chữ”), cực đoan (thay cho “quá khích”), cường điệu (thay cho “phóng đại).

Di dời (thay cho “di chuyển”), dị ứng (thay cho “phản ứng”; “khó chịu”), diễn viên điện ảnh (thay cho “tài tử màn bạc”), diễu hành (thay cho “diễn hành”).

Đánh giá cao/thấp (thay cho “xem là có giá trị/kém giá trị”), đặc trưng (thay cho “đặc điểm”), đăng ký (thay cho “ghi danh”; “ghi tên”), đạt yêu cầu (thay cho “đáp ứng yêu cầu”), định kiến (thay cho “thành kiến”), đội ngũ (thay cho “hàng ngũ”), đột xuất (thay cho “bất ngờ”; “ngoài dự kiến”), đứng lớp (thay cho “dạy lớp”; “phụ trách lớp”).

Gần gụi (thay cho “gần gũi”), giao tiếp (thay cho “giao tế”; “xã giao”), giáo án (thay cho “giáo trình”; “bài giảng”).

Hải quan (thay cho “quan thuế”), hành xử (thay cho “xử sự”), hiện đại (thay cho “tối tân”), hộ chiếu (thay cho “sổ thông hành”), hộ khẩu (thay cho “tờ khai gia đình”), hoành tráng (thay cho “vĩ đại”), hội nhập (thay cho “hòa nhập”), hư cấu (thay cho “tưởng tượng”).

Khẳng định (thay cho “xác định”), khâu (thay cho “bước”; “phần hành”; “giai đoạn”), kiểm tra (thay cho “kiểm soát”).

Liên hệ (thay cho “liên lạc”, “tiếp xúc”), linh hoạt (thay cho “linh động”).

Năng nổ (thay cho “năng động”), nghiêm túc (thay cho “nghiêm chỉnh”; “nghiêm trang”; “đứng đắn”), nghiệp dư (thay cho “tài tử”), ngữ pháp (thay cho “văn phạm”), nhắc nhớ (thay cho “nhắc nhở”), nhất trí (thay cho “đồng ý”).

Phản cảm (thay cho “phản tác dụng”), phản hồi (thay cho “hồi đáp”), phát hiện (thay cho “phát giác”), phức tạp (thay cho “rắc rối”), phương án (thay cho “kế hoạch”).

Quá trình (thay cho “tiến trình”), quảng trường (thay cho “công trường”), quân hàm (thay cho “cấp bậc”).

Sâu sắc (thay cho “sâu xa”), sự cố (thay cho “trục trặc”; trở ngại”).

Tâm đắc (thay cho “ưng ý”; “đúng ý”), tản mạn (thay cho “mạn đàm”), tập trung (thay cho “tập họp”), tham gia (thay cho “tham dự”), tham quan (thay cho “thăm”; “thăm viếng”), thành danh (thay cho “tên tuổi”), thân thương (thay cho “thân yêu”; “thân mến”), thông tin (thay cho “tin tức”), thông tin thương mại (thay cho “quảng cáo”), thống nhất (thay cho “đồng nhất”), thu nhập (thay cho “lợi tức”), thuật ngữ (thay cho “danh từ kỹ thuật”), tiếp thu (thay cho “tiếp nhận”), tiết học (thay cho “giờ học”), tính từ (thay cho “tĩnh từ”), tình huống (thay cho “tình thế”; “tình cảnh”; “hoàn cảnh”), toàn bộ (thay cho “tất cả”), trân quý (thay cho “quý trọng”; “yêu quý”), tư liệu (thay cho “tài liệu”), tư vấn (thay cho “cố vấn”), từ (thay cho “chữ”; “từ ngữ”).

Vận động viên (thay cho “lực sĩ”), xuất khẩu (thay cho “xuất cảng”), xử lý (thay cho “giải quyết”)…

Những chữ in đậm (bold) ở đoạn trên là các từ ngữ được người Việt ở hải ngoại sử dụng nhiều trong sinh hoạt thường ngày, kể cả trong giới truyền thông, văn học (viết văn, viết báo, truyền thanh, truyền hình…) và các trường dạy tiếng Việt, khiến dần dà người ta không còn phân biệt được đâu là “tiếng Việt cũ”, đâu là “tiếng Việt mới” nữa.

Từ đó, xảy ra chuyện khôi hài, một bài báo công kích việc sử dụng “tiếng Việt mới” ở trong nước, thế nhưng trong bài tác giả lại sử dụng khá nhiều từ ngữ “mới” ấy, đại khái: “Tôi rất ‘tâm đắc’ với tác giả ‘bài viết’ ấy. Nội dung rất ‘sâu sắc’ và ‘có sức thuyết phục’. Mỗi lần đọc hay nghe những ‘từ’ ấy tôi rất ‘dị ứng’. Là người Việt phải biết ‘trân quý’ tiếng Việt ‘thân thương’ của ‘ta’…” Bài báo cho thấy người viết bị nhiễm “virus ‘tiếng Việt mới’” khá nặng, cần được điều trị.

Mỗi người có thể có những cách “đánh giá” 1 khác nhau về các “từ” của “tiếng Việt mới”. Cá nhân tôi, vẫn sử dụng các từ ngữ sau:

Dị ứng: Không dễ tìm được từ ngữ nào tương đương trong “tiếng Việt cũ” (không hẳn là “phản ứng” hay “khó chịu”). Nói: “Tôi rất dị ứng với cái từ ấy”, nghe giống như là ăn phải món gì đó, hoặc uống nhằm thứ thuốc men gì đó, da dẻ phát ngứa, nổi mề đay, gãi sồn sột…

Bản chất: Nghe “mạnh” hơn là “bản tính”. Nói: “Bản chất của hắn ta là vậy”, có nghĩa là “hắn ta”… hết thuốc chữa. Cái gì đã thuộc về “bản chất” rồi là đã nằm trong máu trong thịt, không cách chi “cải tạo” được, chỉ có nước… thay máu.

Tâm đắc: Nghe… tâm đắc hơn là “ưng ý”, “hợp ý”.

Nhạy cảm: Nghe… nhạy cảm hơn là “dễ đụng chạm”, “dễ gây xích mích”, “dễ xa nhau”.

Tính từ: Từ ngữ chỉ về tính cách, tính chất của người, vật, sự việc (đúng hơn “tĩnh từ”, nghĩa tương phản với “động từ”).

Vận động viên: Đúng hơn “lực sĩ”. Nhiều vận động viên không phải là “lực sĩ”.

Các từ ngữ mới như “đối tác”, “dữ kiện”, “dữ liệu”, “phản hồi”, “truy cập”, “hiển thị”… không thấy có trong “tiếng Việt cũ” cũng thường được tôi sử dụng. Những từ ngữ “quan ngại”, “phản ánh”, “hình thành”, “đảm bảo”… không phải là “tiếng Việt mới” như nhiều người tưởng mà từng được sử dụng ở miền Nam thuở trước.

Phần này không đề cập đến những tiếng lóng hoặc ngôn ngữ đường phố (street language) mà “tiếng Việt cũ”, “tiếng Việt mới” gì cũng đều có.

1.4. Nói sai, hiểu đúng

“Lát nữa đây tôi sẽ trao đổi với anh,” nghe người bạn nói vậy, ta tự động hiểu là anh ta sẽ trao đổi ý kiến với mình (chứ không phải trao đổi… hình ảnh tài liệu, hay thứ gì khác).

“Anh có thể vào trang web ấy để tham khảo ít tư liệu,” nghe người bạn nói thế, ta hiểu là cả nước đều có thể tham khảo thoải mái các tài liệu ấy (chứ chẳng phải riêng tư gì).

Nếu ta “nhất trí” được với nhau ngôn ngữ là “công cụ truyền đạt ý tưởng và giao tiếp giữa con người” thì hai câu nói trên xem như “đạt yêu cầu” 1. Người nói muốn nói cách nào cũng được, chỉ cần người nghe hiểu được và hiểu đúng là ngôn ngữ đã hoàn thành tốt đẹp vai trò của mình.

“Tư liệu” hay “tài liệu” thì cũng chỉ là cách gọi, là cái tên con người đặt để ra. Giả sử “nhà phát minh” chữ nghĩa chỉ tay vào cái bàn và nói “đây là cái ghế” thì vật dụng ấy sẽ có tên là “ghế”.

Giả sử ta gọi “chó” là “mèo” và “mèo” là “chó” thì khi nói “chó”, người nghe sẽ hiểu đấy là con vật nuôi ở trong nhà, kêu “meo meo” và giỏi bắt chuột; ngược lại, “mèo” là con vật nuôi để giữ nhà, sủa “gâu gâu”, và thường ngoắc ngoắc đuôi mừng chủ đi đâu về. Mới nghe thì có vẻ ngược ngạo, nhưng nghe riết cũng thành… quen tai. Tên gì thì cũng chỉ là cái… tên.

Nhiều người Việt ngoài nước vẫn phê phán hai chữ “chất lượng” của “tiếng Việt mới”, cho rằng “lượng” không thể nào là “phẩm” được, và nói “nâng cao chất lượng” là không đúng mà phải nói “nâng cao phẩm chất”. Thực ra, không phải người Việt trong nước không biết rằng chữ “lượng” (trong từ ngữ “chất lượng”) là chỉ mức độ lớn nhỏ, nhiều ít, cân đo đong đếm được. Cũng không phải họ không biết đến hai chữ “phẩm chất”. Từ ngữ này vẫn có trong từ điển tiếng Việt của họ, và được định nghĩa “Cái làm nên giá trị của người hay vật” (và còn cho ví dụ: “Hàng kém phẩm chất”). Trong lúc “chất lượng” được định nghĩa “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” (Từ điển tiếng Việt, Nhiều tác giả, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, 2006). Như vậy thì hai từ ngữ này có nghĩa tương tự, thế nhưng họ lại sính dùng “chất lượng” hơn, và giải thích rằng, nói “chất lượng” là để… phân biệt với “số lượng”.

Nói gì thì nói, cái “từ” ấy (và các “từ” khác nữa của “tiếng Việt mới”) vẫn được lưu hành rộng rãi trong mọi sinh hoạt của người Việt ở hải ngoại. Các “báo, đài” vẫn cứ “đảm bảo chất lượng” lia chia, các xướng ngôn viên truyền thanh, truyền hình vẫn cứ “nâng cao chất lượng” đều đều, và vẫn cứ phát ngôn ra rả những “phát hiện”, “kiểm tra”, “tham gia”, “tham quan”, “biểu diễn”, “đăng ký”, “tập trung”, “chủ yếu”, “tháng Một”, “tháng Bốn” (thay vì tháng Giêng, tháng Tư)… vân vân. “Khán thính giả nghe đài” thì cũng dễ dãi, ít có ai thắc mắc hay ý kiến này nọ, hoặc nếu có phản kháng thì cũng… yếu ớt, vì biết có phản kháng cũng chẳng ăn thua gì. Người nghe nghe mãi, nghe riết cũng… quen tai, và tới nay thì dù muốn dù không cũng đành chấp nhận “sống chung hòa bình”. Cũng không thể phê phán các cô xướng ngôn viên ấy được, vì các cô chỉ đọc làu làu các văn bản được ai đó soạn sẵn, và “ai đó” thì hầu như cũng chẳng bận tâm đến chuyện đúng sai, phải trái, “tiếng Việt mới”, “tiếng Việt cũ” của các “từ” ấy.

Trả lời các phản hồi của “thính giả nghe đài” về việc sử dụng nhiều từ ngữ “tiếng Việt mới” trong các chương trình phát thanh bằng Việt ngữ, người phụ trách chương trình này của một đài phát thanh nước ngoài giải thích, “Đối tượng của chương trình này ‘đại đa số’ 1 là thính giả ở trong nước chứ không phải chỉ là người Việt ở nước ngoài. Chúng tôi sử dụng từ ngữ thông dụng ở trong nước để việc ‘truyền thông’ đạt được hiệu quả .” “Thính giả nghe đài” chắc cũng thỏa mãn cách giải thích này nên không có ý kiến gì thêm.

[Cách gọi “thính giả nghe đài” cũng là “cụm từ” 1 của tiếng Việt trong nước. Thoạt đầu là “các bạn nghe đài”, sau đổi thành “quý bạn nghe đài” (nghe “trân quý” hơn), sau lại đổi thành “quý thính giả nghe đài” hoặc “quý khán thính giả xem đài” (lẽ ra phải là “quý khán thính giả xem và nghe đài”). Thế nhưng, đổi như vậy thì lại thừa ra cái đuôi “nghe đài”, “xem đài”. Những “cụm từ” này cũng được ít đài truyền thanh, truyền hình của người Việt ở hải ngoại vay mượn. Với cách dùng “từ” như thế, e rằng mai đây sẽ lại có thêm những “khán giả xem phim”, “khán giả xem kịch”, “độc giả đọc sách”, “độc giả đọc báo”... vân vân].

Thực tế, “tiếng Việt mới” và “tiếng Việt cũ” đều có những trường hợp sử dụng từ ngữ không được chính xác. Người Việt ở miền Nam thuở trước vẫn viết hoặc nói “áo lạnh” (thay vì “áo ấm”); “gái mãi dâm” (thay vì “gái mại dâm”); “đi khám bác sĩ” (thay vì “đi khám bệnh”, hoặc “đi gặp bác sĩ”)… Và người đọc hay người nghe, khi nghe “áo lạnh”, thay vì yêu cầu người nói điều chỉnh, phải… tự điều chỉnh não bộ (là nơi tiếp nhận ngôn ngữ) để hiểu rằng người nói muốn nói là “áo ấm”. Việc này có thể tạo ra chút lúng túng ở lần đầu tiên vì “sự cố” 1 có hơi bất thường; tuy nhiên, từ đó về sau thì “quá trình” tự điều chỉnh ấy sẽ trôi chảy và trở nên bình thường.

Nói sai nhưng… hiểu đúng là được, như cách nói của người Mỹ, “That’s ok, no problem”. Về mặt truyền đạt ý tưởng, như thế gọi là “đạt yêu cầu”.

lê hữu

————————————————————————

1 Từ ngữ phổ biến ở trong nước

bài đã đăng của Lê Hữu


43 bình luận »

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính gửi Anh Lê Hữu

    ….Đoạn này hơi “bị oan” (lẽ ra phải nói : gây oan ức, hii hii) cho người Việt trong nước nè “….Nhiều người Việt ngoài nước vẫn phê phán hai chữ “chất lượng” của “tiếng Việt mới”, cho rằng “lượng” không thể nào là “phẩm” được, và nói “nâng cao chất lượng” là không đúng mà phải nói “nâng cao phẩm chất”. Thực ra, không phải người Việt trong nước không biết rằng chữ “lượng” (trong từ ngữ “chất lượng”) là chỉ mức độ lớn nhỏ, nhiều ít, cân đo đong đếm được. Cũng không phải họ không biết đến hai chữ “phẩm chất”. Từ ngữ này vẫn có trong từ điển tiếng Việt của họ, và được định nghĩa “Cái làm nên giá trị của người hay vật” (và còn cho ví dụ: “Hàng kém phẩm chất”). Trong lúc “chất lượng” được định nghĩa “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” (Từ điển tiếng Việt, Nhiều tác giả, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, 2006). Như vậy thì hai từ ngữ này có nghĩa tương tự, thế nhưng họ lại sính dùng “chất lượng” hơn, và giải thích rằng, nói “chất lượng” là để… phân biệt với “số lượng”……”
    bởi vì, thưa anh
    Hiện nay đối với “tiếng Việt mới trong nước” (tạm dùng theo thuật ngữ của anh nhé), “chất lượng” và “phẩm chất” là 2 từ hoàn toàn khác nhau. Với sự phát triển của bộ môn Quản lý chất lượng (Quality management) du nhập từ Nhật, Pháp, Mỹ,…từ chất lượng trỏ nên không thể thay thế trong 1 số lãnh vực, ví dụ chất lượng dịch vụ, chất lượng đào tạo,…..do lý thuyết bộ môn QM bao trùm các lãnh vực Productivity (sản xuất), Services (dịch vụ), Trainning (đào tạo), Management (quản lý điều hành),…..
    Theo định nghĩa của chuyên ngành QM, chất lượng là 1 thuật ngữ diễn tả “sự đáp ứng 1 nhu cầu”. Ví dụ, chiếc xe máy này đối với Ông A là có chất lượng (vì vừa túi tiền của Ông A, có thể an toàn khi đi từ Sài gòn về miền Tây), nhưng cũng chiếc xe máy này lại không có chất lượng đối với Ông B (vì giá thành của nó quá thấp, không đảm bảo cho Ông, khi muốn thực hiện 1 chuyến xuyên Việt)
    Tôi nghĩ các cuốn từ điển học tiếng Việt cần được các soạn giả bổ sung thêm các từ đã trỏ nên thông dụng trong cuộc sống.
    Thưa anh Hữu,
    Chỉ 1 chi tiết nhỏ vậy thôi, các phần khác anh viết rất lôi cuốn và làm cho tôi hơi ….giật mình ! hii hii, cho nên mới khoái nhất cái phần kết thúc “khuyến mãi” của anh “Nói sai nhưng… hiểu đúng là được, như cách nói của người Mỹ, “That’s ok, no problem”. Về mặt truyền đạt ý tưởng, như thế gọi là “đạt yêu cầu”.”
    Kính anh,
    TTL

  • Đặng Tiến viết:

    Hoan nghênh anh Lê Hữu.

    Hoan nghênh anh đã viết bài chân tình và thông thoáng, đầy thiện chí.

    Thiện chí này, tôi đã từng gặp ở nhiều bài, đặc biệt là của Phạm văn Đồng, có tên ” Giữ gìn sự trong sáng trong tiếng Việt”, trong một hội nghị có tên như vậy, tại Hà Nội,từ ngày 7 đến 10, tháng 2, 1966, đăng lại trên Tạp Chí Văn Học, ngay sau đó, và in lại nhiều lần , nhiều nơi, dễ kiếm.
    Bài này là tư liệu cơ bản và kinh điển cho ngườilàm công tác ngôn ngữ học trong hay ngoài nước.
    Những ý kiến anh đưa ra, thậm ví nhiều ví dụ, đã có trong tư liệu này.

    Nói vậy để minh chứng rằng: người Việt, ở đâu, thời nào, cũng quan tâm đến tiếng Việt.
    Vào địa vị nào, tư thế nào,hoàn cảnh nào cũng muốn bảo vệ tiếng Việt, làm cho nó giàu đẹp và trong sáng .

    Ý tôi, duy nhất và minh bạch là như vậy; xin nói rõ, đề phòng xuyên tạc.

    Những ví dụ anh đưa ra, có đôi chỗ cần bàn lại, tôi nhường lời cho các bạn khác, cho những trao đổi được rôm rả.

    Đặng Tiến

  • Lê Hữu viết:

    Xin cám ơn quý anh Trịnh Trung Lập và Đặng Tiến đã cho ý kiến!
    Phần góp ý, diễn giải của anh Trịnh Trung Lập về từ ngữ “chất lượng” tuyệt quá, đã soi sáng thêm về “chữ, nghĩa”, và rất “mới” đối với tôi. Xin lĩnh hội.

    Vâng, thưa anh Đặng Tiến, quả đúng như anh nói (và tôi tin là nhiều người cũng chia sẻ): “Người Việt, ở đâu, thời nào, cũng quan tâm đến tiếng Việt”, và “Vào địa vị nào, tư thế nào,hoàn cảnh nào cũng muốn bảo vệ tiếng Việt, làm cho nó giàu đẹp và trong sáng.”

    Như đã bộc bạch, đây chỉ là một bài sơ thảo nên khó mà tránh được những sơ suất do do lỗi chủ quan của người viết, rất mong được đón nhận thêm ý kiến của quý anh chị.
    Trân trọng.

  • Đạm Thủy viết:

    Kính anh Lê Hữu

    Cám ơn bài viết của anh. Thán phục lòng “can đảm” đã thẳng thắn nói đến vấn đề khá nhạy cảm ở hải ngoại (thật ra ở đây còn nhiều vấn đề nhạy cảm lắm). Tuy rằng đề tài này rất cần từ lâu, nhưng bây giờ cũng không trễ. Đối với tình trạng “tranh chấp” ngôn ngữ ở hải ngoại, hy vọng bài viết của anh là một thứ thuốc giải hiệu nghiệm.

    Tôi không rành tiếng nói mới ở trong nước, nhưng rất không thích những ai “kỳ thị” nó. Về Việt Nam, Đạm Thủy thấy như mình đi vào tương lai (nói như trong phim khoa học giả tưởng), nghe các cô cậu “lướt” tiếng, phải cố gắng hiểu, cảm thấy mình ngớ ngẩn và buồn cười.
    Ở hải ngoại cần có thêm những tâm hồn thông thoáng như anh. Nói như thế, tôi không có ý trách những người “tử thủ” ngôn ngữ cũ (tiếng của anh), nhưng thú thật mỗi lần nghe thiên hạ cò kè với nhau vì những từ ngữ, tôi bị căng thẳng lắm. Nhiều lúc và nhiều nơi, tình bạn bị chết yểu cũng vì những nạn xung kích văn hóa này. Nhưng đôi khi mình cũng nên nhìn vấn đề với đôi mắt lạc quan hơn, rằng nhờ có những cuộc “tấn công” ngôn ngữ mà những người “chiến sĩ” đó vô tình làm giàu thêm cho tiếng Việt! Có điều lắm lúc tôi cho rằng thái độ kỳ thị ngôn ngữ đã gây nên những màn bi kịch.

    Trong bài anh có đề cập đến chuyện chuyện Hàn Lâm hóa chữ Việt! Cá nhân tôi cho rằng không cần phải lo đến chuyện “thống nhất” ngôn ngữ. Việc đó là việc “quét nhà” ở đầu gió, và càng tỏ ra thiếu nghiên cứu về tính “động” của văn hóa, mà ngôn ngữ là đại sứ xuất chúng của nó.

    Ngay cả lúc mình ở trong nước trước 1975, đi từ quê lên Sài gòn, Cần thơ, là ngôn ngữ đã chạm trán nhau rồi. Đi từ Gò Công đến Rạch Giá, là ngôn ngữ cũng “nhìn nhau ngỡ ngàng” rồi.

    Anh cũng đề cập đến chương trình gửi các giáo viên trong nước ra ngoại quốc để dạy. Xin hỏi riêng cá nhân anh, anh có welcome những giáo viên trong nước ra ngoài dạy tiếng Việt không?

    Đạm Thủy xin được bắt tay người hùng!

  • Đặng Tiến viết:

    Tán thành Đạm Thủy,
    chia sẻ tâm trạng, và phát triển ý kiến của bạn:

    1.Ở đời không nên kỳ thị trong mọi quan hệ, không cứ gì về ngôn ngữ.
    Riêng về ngôn ngữ, ai kỳ thị thì người ấy thiệt, về tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức,gì gì
    cũng vậy thôi.

    2.Vả lại, không nên tham lam . Ở đời, vâng, ở đời, được cái nọ, thì phải chịu mất cái kia. Tạo hóa có luật bù trừ, con người có luật sòng phẳng.
    Nguyễn Công Trứ có bài thơ làm hoàn toàn bằng tục ngữ, xin trích hai câu:

    Đã được bữa trưa, chừa bữa tối,
    Mà thương con giếc, tiếc con rô…

    Vui thôi, không có hậu ý gì..
    Đặng Tiến

  • Lê Hải viết:

    Anh Lê Hữu kính mến,
    Nếu anh là người ở trong nước Việt Nam đã viết bài này thì không có gì đáng nói, nhưng nếu anh là một việt kiều thì quả thật anh là một người dũng cảm. Tôi hiểu rằng sẽ có nhiều người đả kích, chụp mũ cho rằng anh thân cộng. Nhưng tôi tin sẽ có nhiều người đồng ý với anh: ngôn ngữ là của chung nhân loại. Nó tồn tại, phát triển từng ngày, từng giờ trong cộng đồng. Ngoài những từ ngữ chung mang tính toàn quốc, mỗi địa phương, mỗi cộng đồng đều có những từ ngữ riêng, mang dấu ấn đặc trưng. Người Quảng Trị gọi cái trốc thay vì cái đầu. Người Nghệ An gọi cái rạ thay vì cái rựa, nói trên côi thay vì trên cao…
    Xin kể một chuyện vui: Một bản tin địa phương viết: Đoàn đại biểu cấp “côi” của chính phủ ta do ông … dẫn “trốc” đã về đến Hà Nội.
    Trước 75 cả trong nam lẫn ngoài bắc đều có những từ ngữ riêng, và qua thời gian có những từ ngữ bị mất đi do ít dùng. Âu cũng là chuyện bình thường.
    Ông bác tôi mới đây được đi du lịch ở Pháp. Ông đã rất vui vì sau năm sáu chục năm vốn tiếng Pháp của ông khi còn học trường Pháp đã không bị rơi rụng nhiều. Ông say sưa trò chuyện với những người Pháp mà ông gặp. Những người già thì gật gù, còn bọn trẻ thì ngạc nhiên. Nhiều người cười. Hóa ra cái tiếng Pháp mà ông dùng là tiếng Pháp của 50, 60 năm trước.

  • Tiếng Việt « Chuyện hàng ngày viết:
  • Bao Tự viết:

    Nếu không có “vấn đề” thì đã chẳng phiền đến ông Thủ Tướng. Hoặc là trầm trọng, hoặc là ” toàn trị”, bao biện…cả hai đều chẳng có gì tốt cả. Ít có quốc gia nào phải cần đến một chính khách “can thiệp” vào chuyện văn hoá. Các nhà chuyên môn đâu? Hay là chỉ cần một ông giáo tiểu học cũng nhận ra và đã lên tiếng.

    Ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ căn bản giúp cho người trao đổi hiểu nhau, đừng quên yếu tố thẩm mỹ.

    Gạo không nên chỉ có toàn “thần nông”, còn cần cả dẻo và thơm như Tám xoan, Nàng Hương Chợ Đào.

    Phân hoá học, phân hữu cơ được ủ tới mức và ” phân tươi” đều giúp cho cây cối hoa màu phát triển nhưng có nên bỏ qua yếu tố ảnh hưởng môi trường sống?

  • Lê Hữu viết:

    Cám ơn quý anh chị đã cho ý kiến. Về lời “khen” của chị(?) Đạm Thủy và anh Lê Hải thiệt tình tôi không dám nhận (còn nhiều ý chưa nêu ra được trong bài); hơn nữa, “tản mạn” về tiếng Việt mà phải…thu hết “can đảm”, hoặc “dũng cảm”, hoặc…liều mạng thì chuyện ngôn ngữ không khéo là “bi kịch” thật (nói như chị ĐT) chứ không phải chơi.
    Tôi ngẫm nghĩ thấy chị ĐT nói chuyện “quét nhà ở đầu gió” quả có đúng.
    Các “dị ứng” về chữ nghĩa, hiểu theo nghĩa nào đó, cũng là một dạng “kỳ thị ngôn ngữ” như anh Đặng Tiến và chị Đạm Thủy nói. Gọi là “kỳ thị” thì không dễ gì một sớm một chiều xóa bỏ được.
    Các ví dụ của anh Lê Hải rất thú vị, là những minh họa về sự phát triển và “dấu ấn đặc trưng” của ngôn ngữ.
    Câu hỏi của chị ĐT “ác” quá, nhưng chị đã hỏi thì phải trả lời thôi:
    - Những giáo viên được gửi ra nước ngoài để dạy tiếng Việt ấy có vẻ là những “khách không mời mà đến”. Tôi vốn dè dặt, và thường thì không sẵn sàng để welcome những ai mà tôi chẳng biết rõ là…ai với ai. Cả đến chuyện họ là “những giáo viên trong nước ra nước ngoài dạy tiếng Việt” thì cũng chỉ là…nói thế thì biết thế. Những người khách ấy có việc của họ, và tôi hay chị hay ai khác có welcome hay không thì họ vẫn cứ xúc tiến việc họ.
    Ý kiến cá nhân tôi là vậy, thưa chị. Chắc là phải thỉnh ý các vị khác về câu hỏi của chị Đạm Thủy.
    Lê Hữu

  • Đạm Thủy viết:

    Trả lời t/g Lê Hữu:
    Ouch! Khen người mà người tặng cho một tiếng “ác”, xét ra cũng “lời” to. Nhưng mà … nghĩ lại mình cũng đáng nhận tiếng “ác” lắm. May là anh LH chịu khó thắng lại, nếu không thì nó chồm qua thêm chữ “ôn” thì nguy cho tui.
    Tôi chỉ theo dõi câu chuyện anh viết, và thử đem vào thực tế thôi. Thật ra đối tượng trong câu hỏi của Đạm Thủy không phải là con người (lạ, quen, hiền, dữ,..) mà là “vấn đề”. Lẽ đương nhiên, cái gì cũng do con người mà ra.
    Anh Lê Hữu không phải không hiểu, nhưng ông đã chọn mục tiêu khác để trả lời. Thế mà hay.
    Vậy thì Đạm Thủy cũng thôi không “ác” nữa, đợi mùa đông cái đã.
    Định nói là mùa Xuân cho nó hợp lý, nhưng mùa đông nghe “ấm áp” hơn.

    Cám ơn anh Đặng Tiến đã phát triển thêm cho thư của Đạm Thủy.

  • Huỳnh Phan viết:

    Cám ơn và xin hoan nghênh bài viết thoáng và hợp lẽ của anh Lê Hữu về một đề tài khá nhạy cảm. Tôi đồng ý với anh trên những điểm chính của bài viết nhưng cũng xin mạnh dạn có vài điều trao đổi thêm với anh về mặt chi tiết:
    Về nguyên nhân của việc phân biệt/kì thị “tiếng Việt của VNCH” với “tiếng Việt của VC”, ngoài tâm lí “ghét ai ghét cả tông chi họ hàng” như anh đã nêu hay “trăng Liên Xô tròn hơn trăng Mĩ” như trong nước đã mĩa mai, tôi cho rằng còn có nguyên nhân khác. Đó là lối giáo dục cũ làm cho nhiều người trong chúng ta có đầu óc thiếu cởi mở, cứ tưởng rằng những gì mình đã học được từ nhà trường, những gì mình quen dùng là tuyệt đối đúng, chưa có thói quen lật đi lật lại vấn đề. Không thấy rằng những quy tắc ngôn ngữ tiếng Việt đã ghi trong sách GK chỉ là những quy tắc do các NHÀ VIẾT SÁCH GK mô phỏng các quy tắc ngôn ngữ tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Pháp chứ chưa phải là quy tắc ngôn ngữ của tiếng Việt do các NHA NGÔN NGỮ HỌC tiếng Việt phát hiện (trong các thập niên 50, 60 trở về trước hình như chưa có nhà ngôn ngữ học tiếng Việt nào) và hình như cũng quên rằng rằng tiếng Việt, vốn là một sinh ngữ, vẫn còn đang trên đà phát triển. Do đó, tính đúng đắn của các quy tắc chỉ là tương đối và thâm chí nhiều quy tắc vẫn còn trong vòng tranh cãi.
    Một hiện tượng ngôn ngữ đi ngoài quy tắc đã biết thì không hẵn đã là sai bởi vì những quy tắc ngôn ngữ đó chưa chắc đã phản ánh đúng thực tế ngôn ngữ . Trước đây tôi (có lẽ nhiều bạn đọc cũng thế) rất dị ứng trước các từ ghép gồm một tiếng Hán Việt và một tiếng “thuần Việt” như từ “vi sóng” (vi ba), “siêu xe” (siêu xa)… nhưng nhìn lại ngôn ngữ khác như tiếng Anh chẳng hạn, họ cũng ghép tiếng có gốc Hi Lạp hoặc Latin (giữ vai trò như tiếng Hán Viết trong tiếng Việt) với tiếng “thuần Anh” như trong từ microwave (micro: Latin, wave: “thuần Anh”) hay “anti white” (anti: Hi Lạp, white: “thuần Anh”)… thế thì tại sao trong tiếng Việt ta không được ghép từ HV với từ”thuần Việt”, chính ta tự trói tay ta mà thôi! Mới đây tôi cũng cảm thấy rất chướng tai khi nghe từ “cưới” được dùng bình đẳng cho cả nam lẫn nữ như từ ‘marry” của tiếng Anh, và hiện nay xu hướng này đang phổ biến trong nước. Dù muốn hay không chúng ta cũng không thể ngăn cản được bởi vì tiếng Việt cũng như mọi sinh ngữ khác đều đang phát triển và ngôn ngữ có tính võ đoán, cái gì số đông dùng ta phải theo thôi. Không cần phải truy tận gốc tới thời vua Hùng mở nước, chỉ cần đem các sách báo hiện nay so sánh các sách báo thời Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh hay xa hơn một chút thời Trương Vĩnh Kí hay Huỳnh Tịnh Của ta đã thấy khá rõ sư thay đổi trong ngôn ngữ.
    Mặt khác, tiếng Việt ta vay mượn khá nhiều từ từ tiếng Hoa (quen gọi là từ Hán Việt, theo tôi có lẽ nên gọi từ gốc Hoa cho nhất quán với từ có gốc từ các thứ tiếng khác như từ gốc Pháp, từ gốc Anh…). Do thói quen dùng từ (gốc Hoa) mà không tra cứu kĩ càng nên khi gặp những ai dùng khác đi (do có tra cứu) ta cảm thấy dị ứng và thâm chí cãi cọ, kì thị nhau trong cách dùng từ, chẳng hạn như sử dụng / xử dụng, xán lạn / sáng lạng, phản ánh / phản ảnh, tư liệu / tài liệu… Nhân đây xin góp một vài ý về một số ví dụ mà tôi cho rằng anh có thể đã ‘hiểu lầm’ do dị ứng lúc đầu hay do chưa tiếp xúc nhiều với tiếng Việt trong nước. Với kinh nghiệm làm việc gần 20 năm trong ngành giáo dục, tôi xin nêu ra điều tôi đã hiểu và đã dùng (khi còn ở trong nước) một số từ trong những ví dụ của anh. Để thuận tiện, tôi xin được chuyển cách hiểu của mình bằng cách chua tiếng Anh, khi cần có thể thêm vào một vài ví dụ hay giải thích ngắn:
    -ban chấp hành (executive board/commitee) nhóm người chịu trách nhiệm thực hiện các quyết định của một tập thể , ban điều hành(management board) ban quản lí / ban giám đốc
    -chủ trì (sponsor, be the main responsible person for):chủ trì một đề tài khoa học, chủ trì cuộc hop chủ tọa (chair): chủ toạ một buổi lễ/buổi họp
    -cụm từ (phrase/expression), nhóm chữ (group of words)
    -đặc trưng (characteristic), đặc điểm (particular trait)
    -đăng ký (register); ghi tên/danh chỉ là một trường hợp cụ thể của đăng kí vì trong nhiều trường hợp khác không thể dùng ghi tên/danh chẳng hạn không thể thay đang kí kinh doanh, đăng kí xe… bằng “ghi tên kinh doanh”, “ghi tên xe’… được
    -giao tiếp (communication) , giao tế ; xã giao (social relation),
    -giáo án /bài soạn (lesson plan) giáo trình (course [textbook]); bài giảng (lesson),
    -hội nhập (integration) hòa nhập(assimiliation)
    -khẳng định (affirm/assert) xác định(determine),
    -khâu (stage/step) các phần của một tiến trình không nhất thiết phải tuần tự bước (step) các phần (thường là tuần tự) của một tiến trình;
    -kiểm tra (examine/control), kiểm soát (check).
    -Năng nổ (delgigent), năng động (dynamic)
    -nghiêm túc /nghiêm chỉnh /nghiêm trang /đứng đắn có nghĩa tương tự nhau nhưng nhiều khi không thể dùng thay thế cho nhau, ví dụ như học hành nghiêm túc, đứng nghiêm trang trước bàn thờ, nói năng đứng đắn, nghiêm chỉnh chấp hành kỉ luật
    -ngữ pháp là các phép tắc trong ngôn ngữ (nói/viết)chứ không phải chỉ có các phép tắc viết văn (văn phạm – phạm = khôn, phép tắc) mà thôi. Trong ngữ pháp, hiện nay người ta nghiên cứu các phép tắc ngôn ngữ ở nhiều cấp đô từ phép dùng từ (từ pháp), phép đặt câu (cú pháp), đến phép lâp ra văn bản (ngữ pháp văn bản) hay ở cấp độ cao hơn là phép tạo ra diễn từ/ngôn (discourse)
    -phương án (project/alternatives) kế hoạch (plans).
    -sâu sắc/ sâu sa (deep/profound) có nét nghĩa hơi khác nhau, ví dụ một ý kiến sâu sắc (tinh thần), nguyên nhân sâu xa (vật chất )
    -sự cố (event), trục trặc; trở ngại(trouble, obstacle).
    -tham gia (participate), tham dự (join/attend),
    -tham quan (go sight –seeing),thăm; thăm viếng(visit)
    -thông tin (information), tin tức (news)),
    -thu nhập (income), lợi tức(profit/interest)
    -thuật ngữ (terminology), danh từ kĩ thuật(technical nouns/terms),
    -tư liệu /tài liệu (material/document) được dùng xen lẫn, ví dụ phim tư liệu, tài liệu học tập (tư 资=tiền của, thiên tính, địa vị, nhờ cậy – không phải riêng tư 私, tài 材= gỗ để làm đồ)
    -từ (term/word), chữ(word/letter)

    Huỳnh Phan

  • Lam Truong Phong viết:

    Tôi đồng cảm với tâm tình người chị họ của tác giả bài viết nhân ông đề cập đến chữ “thân thương”. Năm 76, bị cơ quan lùa vào xem vở kịch Đôi Mắt do đoàn Kịch Nói Trung Ương Hà Nội biểu diễn ở Câu Lạc Bộ Thanh Niên tại Saigon. Cứ phải nghe những chữ “thân thương” rót vào tai. Nhưng thân gì nỗi vì mình dân bại trận bị phân biệt đối xử cứ phải nghe những anh hùng Cách Mạng nêu cao người tốt việc tốt mãi tận đâu đâu trong rừng, có liên quan gì đến hộp sữa đang kiếm đỏ con mắt, cần cho con nhỏ đang khát sữa ở nhà không? Thương sao nổi khi mình có tội lỗi gì với dân tộc đâu mà cứ bị nghe là được khoan hồng! Thét rồi hàng lô chữ đăng ký, chính sách, phân biệt đối xử, nợ máu,…cứ rót vào lổ tai này rồi chạy ra khỏi lổ tai kia không đầy một sát na vì nó không mang nội dung cũa chính nó hay còn gọi chúng là ngụy ngữ (xin lỗi nhà văn Ngụy Ngữ, ở đây không ám chỉ ông gì sất). Rồi, hình như do tự kỷ ám thị, những chữ này đập vào mắt làm mắt đầu bị nháng lửa, và mồm phải tranh luận nếu được tự do phát biếu tại hải ngoại. Một số qúi vị ở đây bảo tôi kỳ thị tiếng Việt , tôi xin phủ nhận cụm từ này, vì tôi không có thành kiến gì trước đó, mà do những kinh nghiệm kể trên phát sinh ra.

  • Hà Thủy viết:

    Ý kiến của Đạm Thủy và sự phân tích sâu sắc cũng như những ví dụ ông Huỳnh Phan đưa ra thật quá đầy đủ. Tôi nghĩ tác giả Lê Hữu là người hết sức nhiệt tình trong lãnh vực giữ gìn tiếng Việt, thật đáng quí, duy có điều sự nhiệt tình tỷ lệ thuận với tính chủ quan, nhưng cũng hay nhờ vậy mà có biết bao phản biện và góp ý hào hứng.

  • KHÁNH VÂN viết:

    Đọc qua bài viết của bác Lê Hữu và phần phản biện của các quý vị khác, tôi đã học hỏi được rất nhiều điều. Xin cảm ơn các Quý vị!

  • Đặng Tiến viết:

    Ngôn ngữ học và Huỳnh Phan:

    Hoan nghênh anh và các bạn đã tham gia vào cuộc thảo luận về ngôn ngữ gần đây, tinh thần thông thoáng và tích cực. Theo tôi, đã có sự đồng thuận (với tiến bộ ), trong thái độ.

    Trả lời anh, khi anh nói : dường như trước thập niên 1950, 1960 ” chưa có nhà ngôn ngữ học tiếng Việt nào. Nói chung, không đi vào chi tiết, là đúng.
    Trước đó, Nguyễn Bạt Tụy, Nguyễn Giang, Nguyễn Triệu Luật …đã quan tâm. Dường như tác gia cuối cùng này là người đầu tiên tại VN, đã dùng thuật từ ” ngữ pháp” trên báo Tao đàn,Hà Nội, số 7, 1939.

    Thời điểm này, còn thịnh hành môn ” văn phạm”, mà chuyên gia thẩm quyền là Phạm duy Khiêm, thạc sĩ khoa văn phạm, agrégé en grammaire, tốt nghiệp từ Pháp, cùng khóa với cố Tổng Thống Pháp Pompidou và Senegal là Senghor.
    Nhưng ông này không phải là nhà ngữ học lại không tinh thông tiếng Việt, đã ký chung với Bùi Kỷ và Trần trọng Kim cuốn sách giáo khoa ” Việt Nam Văn Phạm”, 1940, ghi chức danh là: “Văn phạm học giáo sư, Sư phạm cao đẳng học đường cựu học sinh”, dịch từ tiếng Pháp: ancien eleve de l ‘ Ecole Normale Superieure.
    Rõ ràng là không thông tiếng Việt. Nhưng sách ấy đã ăn sâu vào tim óc nhiều người, cho đến hôm nay, 2009, còn lưu luyến với tình duyên văn phạm.

    Khoa ngôn ngữ học khởi thủy từ lâu tại Âu châu, nhưng chỉ phổ cập từ đầu thế XX, nhờ những phát hiện của de Saussure, 1916. Tại Pháp, nó phát triển từ sau Thế Chíến, nhưng mãi đến 1970 mới ảnh hưởng sâu rộng đến học đường, nghĩa là quần chúng.

    Sau 1954, Miền Nam và Miền Bắc theo hai con đường khác nhau, nhưng riêng về khoa ngữ học, thì sự biến chuyển giống nhau, , cùng theo trào lưu khoa học thế giới.

    Tại miền Nam, Lê văn Lý du học Pháp, học với Martinet, tiếp thu kiến thức mới, viết cuốn Le Parler Vietnamien, Paris,1948, Sai gòn,1960. Nguyễn đình Hòa, du học ở Mỹ, về nước viết Ngữ học nhập môn, Sài gòn,1962, đồng thời vói cuốn Khảo luận Ngữ Phâp Việt Nam của Trương văn Chình và Nguyễn Hiến Lê, Huế,1963,có bản dịch ra tiếng Pháp.

    Cuốn cuối cùng của Miền Nam có lẽ là : Cơ cấu Việt ngữ, của Trần ngọc Ninh, thạc sĩ Y Khoa,nhà xuất bản Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1973; tôi có cơ may giói thiệu trên báo Bách Khoan mà, tình cờ, mới đây, mạng damau có đăng lại cái bìa 1975.

    Một điều lý thú cho việc nghiên cứu những biến chuyễn trong ngôn ngữ, và lý luận ngôn ngữ, là so sánh 3 ấn bản cuốn Văn Phạm Việt Nam,của Bùi đức Tịnh, Sai gòn 1952 và 1966, TP HCM 1995, dưới ba chế độ chính trị khác nhau

    Tại miền Bắc, nhiều chuyên gia đi học ở Nga, Liên Xô thời đó, hay các nước Đông Âu, hay tiếp thu kiến thức quốc tế tại nội địa, đã có nhiếu đóng góp khoa học về ngôn ngữ: đầu tiên là : Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Cao xuân Hạo, trong giai đọan đầu, khoảng 1960. Sách dễ kiếm, tôi khỏi trích dẫn

    Tại hai miền Nam Bắc, đều có những chuyên gia ngoại quốc, Nga và Mỹ đóng góp vào lý luận của người Việt, là việc quý hóa, vì họ khách quan hơn chúng ta.

    Những chỉ dẫn về từ vựng của anh, dù là đúng, có khi cần giải thích.
    Ví dụ ” cụm từ ” làm nhiều ngừoi khó chịu, anh dịch ra ” phrase” là đúng, nhưng sợ có tâm hồn hoài cổ sẽ nhầm với phrase là câu, với đầy đủ chủ từ hợp với động từ.
    Nên chua thêm chữ syntagme rõ nghĩa hơn.
    Anh còn dùng thêm chữ expression, trong ngữ học, thường được áp dụng cho thành ngữ.

    Chủ nhật, định rong chơi, viết ngắn thôi, nhưng vì mềm lòng,đã thất bại..
    Những việc lỡ làm, mà ngồi tiếc công, thì lại mất công thêm.
    Thôi,cứ xem như anh nợ tôi một chầu cà phê.

    Vậy phiên phiến thôi.
    Đặng Tiến.

  • Lam Truong Phong viết:

    Xin trích đoạn diễn văn của ông Lý Quang Diệu:

    He credited the ‘all-embracing’ nature of American culture for its ability to attract talent from all over the world.
    ‘You can come in as a migrant, speak with an accent, but as long as we understand you, we accept you as an American.’
    China would find it difficult to create such an environment because its culture and language are less friendly to foreigners. English is the world’s second language and this advantage held by the US will remain, said Mr Lee.

    Nguồn: The Straits Times (Singapore), số ngày October 20, 2009

    Dân Việt mình ở Mỹ đã lâu đủ đễ thẩm thấu cái đặc tính the “all-embracing” nature of American culture chưa? Hy vọng cái tâm tình Viet Nam của đồng bào mình rộng mở và chấp nhận sự khác biệt ngôn ngũ Việt một cách dễ dàng như người Mỹ chấp nhận chúng ta (dân di cư) là người Mỹ dù chúng ta nói tiếng Anh sai dấu giọng.

  • Huỳnh Phan viết:

    Nhân phản hồi của Lam Truong Phong:

    Trên thực tế, sự phân biệt/dị ứng ngôn ngữ (xin được rút lại từ “kì thị”) có lẽ chỉ có đối với “người thua cuộc”, còn “kẻ thắng cuộc” trong thế thượng phong đang nắm quyên hành trong tay chẳng quan tâm gì đến ngôn ngữ của “kẻ thua cuộc” đâu, Thật ra, hiện nay “kẻ thắng cuộc” thậm chí lại khôi phục khá nhiều “từ cũ”, và “tiếng miền Nam” cũng thâm nhập vào vốn ngôn ngữ của cả nước chớ không phải chỉ có một chiều, văn Nguyễn Ngoc Tư được chấp nhận trong cả nước là một ví dụ. Phản hồi của Lam Truong Phong và một vài phản hồi trước cho thấy một nguyên nhân khác và có lẽ là nguyên nhân chủ yếu của sư phân biệt trên. Đó là tâm lí phản kháng của “người thua cuộc” không muốn sử dụng ngôn ngữ của kẻ thắng cuộc. Nhất là tâm lí này còn bị làm tồi tệ hơn bởi thói tự kiêu/cao (kể cả thiếu văn hoá) của “kẻ thắng cuộc” muốn áp đặt (chứ không thuyết phục) công thêm thói xum xoe dùng vô tội vạ từ ngữ “mới” của “những kẻ xu thời” khiến sự dị ứng càng gay gắt hơn. Cứ không muốn nghe, không muốn dùng chẳng màn đến chuyện đúng sai, và cứ “vô tư” tự tin rằng chỉ cái của mình là đúng đắn hơn. Để thấy rõ hơn ta có thể trở lại giai đoạn sau 1954 ở miền Nam, khi người Bắc [di cư] hầu như giữ vai trò không chế trong ngôn ngữ [chính thống] ở miền Nam (SGK, thơ, văn, nhạc,…tác giả gốc Bắc chiếm đa số, trong công sở cũng có nhiều người gốc Bắc và thường cũng nắm vị trí chủ chốt). Tức là lúc đó cũng có việc “áp đặt”/”xâm lấn” ngôn ngữ nhưng diễn ra một cách âm thầm không qua một cuộc “đổi đời” và không có những yếu tố “giọt nước làm tràn li” phản cảm của kẻ “thắng cuộc” và “người xu thời” thêm vào nên người bị áp đặt “vui vẻ” chấp nhận. Nếu không “nhờ” xuộc “xâm lấn “ ngôn ngữ đó, có lẽ trong thảo luận ở đây, tôi và một số bạn đọc khác sẽ viết như Hồ Biểu Chánh và số còn lại sẽ viết như Tự Lực Văn Đoàn quá. Đúng ra lúc đó cũng có phản kháng nhưng ở mức độ kiểu như khi con cái đi học ở tỉnh về quê nói chuyện với cha me thì bị la rầy: “bây/mày nói gì tao không hiểu” hay đại loại như thế, không gay gắt đến nổi như kiểu ghét luôn ca sĩ dùng từ “thân thương” trong phản hồi của LTP Nhân đây cũng xin được lạm bàn về từ “thân thương”. Theo tôi, có lẽ từ này “nam kì” hơn cả từ “thân yêu” không bị ghét bỏ nhưng vì được phát ra không đúng miêng, không đúng lúc nên đã chịu số phận như thế. Vì rằng trong từ ghép “thân thương” thì “thương” chính là từ người Nam xài thường hơn, kể cả khi tỏ tình cũng vậy người Nam chuộng từ “thương” hơn là từ “yêu” (nói “yêu” bị xem là nghe giống “cải lương”). Để ý rằng đối với từ ghép chung “thương yêu”, khi nói ngắn gọn người Nam lựa lấy từ “thương” còn người Bắc lại chọn từ “yêu“ . Điếu này cũng đúng đối nhiều từ ghép khác như căm ghét, sơ hãi, đau ốm, gấy ốm… (Nam: ghét, Bắc: căm, Nam: sợ, Bắc: hãi, Nam: đau, Bắc: ốm, Nam: ốm, Bắc: gầy…)
    Có vẻ hơi đậm một chút, xin thắng lại.
    ——————
    anh Đặng Tiến: rất cám ơn/phục anh đã nhọc công trong ngày chủ nhật để giải toả có ngọn, có ngành cái“dường như” về ngôn ngữ học tiếng Việt của một tay mơ như tôi và cũng rất cám ơn anh đã chỉnh lại sai sót của tôi ở từ “cụm từ”. Đồng ý với anh nên thêm chữ syntagme cho rõ hơn (dù tôi có nói ở trên là chua bằng tiếng Anh chớ không phải tiếng Pháp, nói thêm một chút cho khỏi hiều lầm, “cẩn tắc vô áy náy” hén anh). Hiển nhiên là tôi nợ anh hơn một chầu cà phê rồi, làm việc chủ nhật mà! Rất mong có dịp gặp để “chung” anh.
    Huỳnh Phan

  • Lê Hữu viết:

    Những ý mới của anh Huỳnh Phan về chuyện “dị ứng ngôn ngữ”, như:
    - Một nguyên nhân khác dẫn đến việc dị ứng giữa tiếng Việt “cũ” và “mới” là “lối giáo dục cũ làm cho nhiều người trong chúng ta có đầu óc thiếu cởi mở, cứ tưởng rằng những gì mình đã học được từ nhà trường, những gì mình quen dùng là tuyệt đối đúng, chưa có thói quen lật đi lật lại vấn đề”.
    - Sự dị ứng ngôn ngữ này “có lẽ chỉ có đối với ‘người thua cuộc’”, và là “tâm lí phản kháng của ‘người thua cuộc’ không muốn sử dụng ngôn ngữ của kẻ thắng cuộc”.
    … theo tôi rất đáng suy gẫm!
    Anh cũng tỏ ra rất thoáng (và có lý do) khi cho rằng “một hiện tượng ngôn ngữ đi ra ngoài quy tắc đã biết thì không hẳn đã là sai” và nên tiếp nhận thay vì “chính ta tự trói tay ta”, chẳng hạn các từ ghép “Hán-Việt và thuần Việt” như siêu xe, siêu rẻ…
    Không rõ đối với các từ ghép “Hán-Việt và thuần…Mỹ” như siêu hot, siêu cute, siêu sexy thì thế nào? Ta cũng…chơi luôn, cho “thoáng” chăng? (nói đùa thôi anh Huỳnh Phan nhé).

    Những phân tích, diễn giải của anh Huỳnh Phan về những khác biệt ít, nhiều về nghĩa giữa những cặp “từ mới”/“từ cũ” tương đượng (phần “1.3. Tiếng Việt ‘cũ’ và ‘mới’” ở trong bài) là đúng. Chỉ xin thưa với anh thế này:
    Việc “đối chiếu” các “từ mới” và “từ cũ” ấy chỉ có tính cách khái quát (liệt kê ra như một cái list theo thứ tự abc). Một từ ngữ có thể có những nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ngữ/văn cảnh (context), ở đây tôi chỉ chọn lấy cái nghĩa phổ biến nhất của “từ mới” ấy để đối chiếu với “từ cũ” có nghĩa tương đương (trong cùng một câu văn). Thoạt đầu tôi có nghĩ đến việc cho các câu ví dụ để làm rõ ý hơn, chẳng hạn:
    - Tiếng Việt “mới” nói: “Xin gửi lời chia buồn sâu SẮC đến các nạn nhân”; tiếng Việt “cũ” nói: “Xin gửi lời chia buồn sâu XA đến các nạn nhân”. Hoặc, tiếng Việt “mới” nói: “Nguyên nhân sâu SẮC dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu”; tiếng Việt “cũ” nói: “Nguyên nhân sâu XA dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu”.
    - Tiếng Việt “mới” nói: “Thời hạn đăng ký tham GIA trại hè”; tiếng Việt “cũ” nói: “Thời hạn ghi danh tham DỰ trại hè”. Hoặc, tiếng Việt “mới” nói: “Xin mời quý đồng hương tham GIA cuộc hội luận về tiếng Việt”; tiếng Việt “cũ” nói: “Xin mời quý đồng hương tham DỰ cuộc hội thảo về tiếng Việt”
    - Tiếng Việt “mới” nói: “Học sinh tập TRUNG ở sân trường”; tiếng Việt “cũ” nói: “Học sinh tập HỌP ở sân trường”… vân vân.
    Tuy nhiên, tôi đã không làm cách này, vì đi hết cái list “từ mới”/“từ cũ” ấy thì e… dông dài quá!
    Do không “làm rõ” được phần này, xin nhận lỗi sơ suất. Thành thật cám ơn anh đã chỉ ra!

    Về góp ý của anh Lam Truong Phong, xin đươc chia sẻ với anh niềm “hy vọng cái tâm tình Việt Nam của đồng bào mình rộng mở và chấp nhận sự khác biệt ngôn ngữ Việt…”, mặc dầu văn hóa Mỹ có khác với “đặc trưng” của văn hóa Việt mình.
    Trân trọng.

  • Đặng Tiến viết:

    Thân thương với Lê Hữu, Huỳnh Phan:

    1.Gửi anh Lê Hữu: anh ưa dùng từ tiếng Việt” mới”. Dù chữ ” mới” có nhay nháy, mà liên tiếp lặp đi lặp lại nhiều lần, thì nó mang âm vang … Pol Pot. Vui thôi!!!

    2.Gửi anh Huỳnh Phan:
    a.Từ syntagm(e) có trong tiếng Anh lẫn tiếng Pháp. Cao xuân Hạo và Hoàng Dũng, 2005 dịch ra là “đoản ngữ”, thông dụng trong giới chuyên môn: đoản ngữ danh từ,sở trường của Nguyễn tài Cẩn, đoản ngừ động từ, sở trường của Nguyển kim Thản.

    b.Về chữ “thân thương”, ta cần lưu ý đến từ pháp, như anh đã làm, nhưng cũng nên thêm phần âm pháp,lẫn tự pháp, liên quan đến hình thái học.

    Một hiện tượng ngôn ngữ không bao giờ đơn giản. Cuộc đời không có gì đơn giản.
    Chỉ có những lý luận đơn giản.

    Từ ngữ vô tội.
    Thậm chí lịch sử, có lẽ,tự nhiên, và tự nó, cũng vô tội.

    Giấy vắn, tình dài,
    Đặng Tiến

  • Huỳnh Phan viết:

    @Lê Hữu:…”Anh cũng tỏ ra rất thoáng (và có lý do) khi cho rằng “một hiện tượng ngôn ngữ đi ra ngoài quy tắc đã biết thì không hẳn đã là sai” và nên tiếp nhận thay vì ‘chính ta tự trói tay ta’, “…

    Hơi bị oan cho tôi rồi, tôi có xúi “nên tiếp nhận “ hồi nào đâu, có lẽ 2 ví dụ “nhảy vọt/dựng” của tôi đã hại tôi. Đúng là trong 2 ví dụ đó tôi có ý “say yes” thiệt, còn nói chung tiếp nhận hay không là tuỳ vào trường hơp cụ thể. Nếu lưu ý, anh cũng thấy tôi viết “chưa hẵn đã sai” theo liền là “bởi vì những quy tắc ngôn ngữ đó chưa chắc đã phản ánh đúng thực tế ngôn ngữ.”. Như vậy, ở đây tôi có ý xúi… sửa sách (trước nhất là sách của “văn phạm học giáo sư” Phạm Duy Khiêm) khi thấy nó không phù hợp với thực tế ngôn ngữ. Còn việc tiếp nhận hay không tiếp nhận các hiện tượng ngôn ngữ, thật ra, anh, tôi hay bất cứ người có “thẩm quyền” nào chỉ “bótay chấm cơm “(2) thôi, “sức mấy”(1) mà can thiệp được. Vì lẽ một hiện tượng ngôn ngữ sống hay chết là theo các quy luật riêng của nó, con người chỉ có thể tác động rát ít.

    Xin mở ngoặc là tôi không có “lăn tăn” gì với giáo sư ngữ pháp Pham Duy Khiêm hết. Vào thời điểm đó, trong điều kiện mới chuyển tiếp từ nền giáo dục bằng chữ Hán sang “chữ quốc ngữ”, hầu như không có công trình nghiên cứu nào vể tiếng Việt trong tay, lại được đào tạo từ Pháp, viết sách ngữ pháp tiếng Việt mà không bị lai Tây/Tàu mới là chuyện lạ. Nhưng đến thế kỉ XXI này rồi, ngôn ngữ học tiếng Việt đã có khá nhiều thành tựu, và cuộc chiến đã qua gần 35 năm rối mà cứ tiếp tục theo “toa” cũ và dị ứng với “từ mới” thì có lẽ “hơi bị “(2) cố chấp. Dĩ nhiên, chúng ta có thể “tử thủ” chọn không dùng các “từ mới” hay chọn cách nói/viết kiểu như “văn phạm học giáo sư”, “thái dương hệ”, “hải quân đại uý”, “chủ tịch đoàn”, “giám sát viện”,… (“phụ trước – chính sau” bê của Tàu), hoặc cố căng kéo “chân” câu Việt, chẳng hạn “Cô ấy xinh quá” (với cấu trúc “chủ – vị’ hay “đề – thuyết”) thành “Cô ấy [thì/là] xinh quá” cho vừa “giầy” cú pháp Tây (với cấu trúc S – V – [C])… cũng chẳng sao (vì như ý anh nói, cái chính là “get the message thu”) nhưng cách nói/viết của 85 triệu người dân trong nước vẫn là quyết định.

    …”Không rõ đối với các từ ghép “Hán-Việt và thuần…Mỹ” như siêu hot, siêu cute, siêu sexy thì thế nào? Ta cũng…chơi luôn, cho “thoáng” chăng? …
    Đúng là ý tôi cũng gần như thế, nhưng không phải ghép từ HV (và có thể cả từ “thuần Việt” nữa) với từ “thuần Anh/Pháp/…” mà với những từ đã vay mượn từ các ngôn ngữ này. Ít ra tôi cũng có thể trưng ra ngay 2 ví dụ về từ tạo theo kiểu này mà không thấy ai “ọ e” gì. Đó là từ “vi phim” (vi: từ HV, phim: mượn từ film của Tây ) và từ “canh gác” (canh: từ “thuần Việt”, gác muợn từ garde của Pháp). Cũng xin lưu ý là từ “vi phim” có vẻ đang bị thần chết quơ liềm. Chết không phải vì không theo đúng quy tắc ngôn ngữ mà vì bản thân vi phim đang bị các phương tiện lưu trữ digital, ít tốn chỗ hơn, loại ra khỏi vòng chiến. Cũng có thể tìm thấy nhiều từ có cấu tạo như thế trong thuật ngữ các ngành khoa học, kĩ thuật., nghệ thuật… ví dụ như phi/không Euclid, giả cycloid, phản electron, tiền Raphael…
    Cuộc sống luôn có nhiều điều mới mẻ, để có thể phản ánh được thực tế mới, tiếng Việt cũng như bất kì sinh ngữ nào khác cần phải tạo ra thêm những từ mới và cách diễn đạt mới, không thể cứ bó tay cam chịu, giống như trẻ em đang lớn mặc quần áo cũ chật chội ta buộc phải sắm đồ mới cho các em chứ không thể bắt chúng “đai-ợt” để mặc vừa quần áo cũ.!

    Về chuyện đối chiếu từ cũ /mới, tôi có đọc một vài tác giả khác. Cũng làm đối chiếu như anh nhưng họ có ý khác. Chê bai người [CS] trong nước đều là dốt nát đang dùng sai tiếng Việt hoặc cố tình sửa ”sai” tiếng Việt cho khác với “tiếng Việt của VNCH ”(?!). Do định kiến hơi nặng, cứ nghe là dị ứng, thậm chí cố tình/ý hiểu sai các cách nói mỉa, nói giảm, nói tránh… , không chịu tìm hiểu, tra cứu lại thêm chủ quan tin rằng mình đúng hơn, nên rất tiếc là họ sai nhiều hơn đúng và thật sự họ cũng không tránh được việc dùng “từ mới” trong chính bài viết của mình! Thấy anh có vẻ thoáng nên tôi đã trao đổi cho vui, còn với các tác giả khác tôi chưa bao giờ lên tiếng. Ý anh như thế, nhất trí với anh thôi.

    @anh Đặng Tiến: tôi đã nói tôi chỉ là tay mơ thôi nên rất là lơ tơ mơ trong chuyện ngôn ngữ (làm việc trong ngành giáo dục nhưng không dính dáng gì với việc dạy học/nghiên cứu tiếng Việt đâu), ăn theo nói leo như thế là quá lắm rồi, đâu có đủ “công lực” mà đi vào phân tích âm pháp ví lại tự pháp hay điều gì cao xa hơn nữa . Chỉ vào đây hóng chuyện, thấy anh chị em có vẻ thoải mái nên góp vào mấy lời cho vui vậy mà.

    Chuyện ngoài lề: Khi nào rãnh anh có thể chỉ ra dùm tại sao có hiện tượng lệch pha giữa Nam và Bắc (đến nỗi nhiều khi không hiểu nhau) dù cùng xuất phát từ một từ ghép chung như tôi đã nêu. Có phải người Nam xài từ cổ, còn người Bắc dùng từ đang thông dụng vì xét cho cùng người Nam là người di dân gốc Bắc, và người di dân thì thường chỉ dùng (và truyền cho con cháu) vốn từ thời mới ra đi? Cám ơn trước.

    —————————–
    (1) Cách nói (đã hết thời) của giới trẻ miền Nam khi xưa
    (2) Cách nói (có lẽ rồi cũng sẽ hết thời) của giới trẻ trong nước hiện nay

  • Đặng Tiến viết:

    Thân thương Huỳnh Phan:
    1.Về từ thân thưong, không cần công lực gì đâu.

    Về âm pháp, phụ âm đầu th luyến láy, nguyên âm đôi ươ kéo dài.Du dưong hơn.
    Như câu hát : ” Về miền Trung , miền thùy dương bóng dừa ngàn thông/ thuyền ngược xuôi suốt một dòng sông dài…” Phạm Duy chịu ảnh hưởng của lối hát ả đào.

    Về tự pháp, grạphie, viết chữ thương dễ đẹp, nhất là khi viết thư cho… người thương.
    Người Pháp có thành phố Lyon, lẽ ra phải viết Lion,con sư tử.Chữ Y đẹp hơn.

    2.Về từ vựng của người lưu dân từ Bắc vô/ vào Nam, anh lý luận đúng.
    Nhưng đi vào từng trường hợp cụ thể, có khi khó giải thích, ví dụ ngay hai từ vô/ vào, chữ nào Nam, chữ nào Bắc ? Câu ” đường vô xứ Nghệ quanh quanh”, thì ai phát ngôn, từ địa phưong nào ?
    Lấy ví dụ bánh khoái / bánh xèo, dễ lý luận hơn.

    3. Nói chung,, trong một thời gian dài vài ba thế kỷ, châu thổ sông Hồng là cái nôi của dân tộc , ngôn ngữ phát triển, thay đổi.Cái bánh khoái trở thành một thứ bánh khác, bánh đúc không có vôi( tham chiếu Vũ Bằng ).
    Trong khi vô/vào Huế với đoàn quân Nguyễn Hoàng, khoảng 1600, thì nó giữ nguyên nghĩa gốc, trong một ngôn ngữ khô cứng lại. Khoái nghĩa là gỏi. Khoái chá = gỏi chả.

    Khi vượt đèo Hải Vân, từ “khoái” khó phát âm. Ném bột vào xanh (= chảo) nghe cái xèo, thì gọi là bánh xèo. Cũng như gọi cái hộp diêm là hộp quẹt.

    4. Rồi từ đó, dần dần, bánh xèo, món ăn cộng đồng, trở thành một định chế của xã hội nông thôn. Ngày xưa không có ai bán bánh xèo, cũng không ai ăn bánh xèo một mình như bây giờ.

    Câu hỏi của anh là khó, tôi khó bề phiên phiến.
    Tôi định kể chuyện nhà ngữ học Lê văn Lý, 1949, cho anh nghe.
    Thôi, chờ dịp khác.
    Thân,Đặng Tiến

  • Huỳnh Phan viết:

    Anh Đặng Tiến: Cảm ơn anh đã thân thương phân tích thêm về âm pháp và tự pháp của từ “thân thương”. Đúng là cũng khá đơn giản, tay mơ cũng có thể làm được (chuyện quả trứng của Christophe Colomb đây, hi hi). Phân tích này là cần thiết và làm sáng tỏ hơn tại sao ngưòi ta thích dùng từ này. Tôi theo hướng phân tich để tìm cách xoá đi tâm lí bị áp đặt trước nên cứ loay quay với gợi ý của anh (vì nghĩ rằng đã dị ứng rồi thì có nghe ‘ca’ là từ này du dương, [viết] đẹp hơn có khi di ứng càng nặng thêm). Tôi đã định sẽ chêm thêm ý này: “Tôi và các bạn bè cùng thời đã từng dùng các từ thân thương/mến (đôi khi “thân ái” nhưng hiếm khi dùng “thân yêu”) rất thường, nhất là khi viết thư, viết nhật kí, lưu bút…” để làm mạnh thêm một chút lập luận nhưng chỉ nhớ khi… bài đã post rồi.

    Mà hình như từ “thương” chính là từ mà ông bà ta cũng chuộng xài (trong các ca dao, tục ngữ xưa có vẻ từ “thương” được dùng với tần số cao hơn nhiều so với từ “yêu”) cho đến bây giờ người phương Nam vẫn còn theo, trong khi ở cái nôi ngôn ngữ Việt người ta lại thay đổi, sính dùng từ “yêu” hơn.

    Chờ bài không phiên phiến của anh.

    Huỳnh Phan

  • Điền L. viết:

    Chữ “thương” nhất định là của người miền Nam:
    “Trời mưa ướt lá trầu hương
    Ướt em, em chịu, ướt người thương, em buồn”

  • Đạm Thủy viết:

     
    @ Cám ơn tất cả những bài giảng về ngôn ngữ Việt của các anh, nhất là anh Hùynh Phan, và anh Đặng Tiến.  Giờ học free, nhưng hào hứng và giá trị.  ĐT cho rằng mục hội luận này đã quá đầy đủ.  Chỉ là những ý kiến sâu sắc đã gây hứng cho ĐT thêm vài dòng chữ huề vốn, và hơi xa đề.
    Câu nói của anh Huỳnh Phan:
    Đó là lối giáo dục cũ làm cho nhiều người trong chúng ta có đầu óc thiếu cởi mở, cứ tưởng rằng những gì mình đã học được từ nhà trường, những gì mình quen dùng là tuyệt đối đúng, chưa có thói quen lật đi lật lại vấn đề” là câu nói đơn giản nhưng có nhiều công lực, có thể làm một số người bị …trúng gió à nhe.  Theo ĐT thì có nhiều điểm để nói rằng đúng, và cũng có điểm để không hoàn toàn đồng ý với anh.
    Câu anh “phán” rất thấm thía khi đối chiếu các quan niệm giáo dục.  Giáo dục theo lối :”khai phóng” (như ở Mỹ) là làm cho học sinh tự tìm lấy kết luận, tự tìm ra ý tưởng, và tôn trọng những khám phá của bạn khác.  Học các trường ở Mỹ, học sinh phải đọc rất nhiều sách và làm tóm lược mỗi quyển cho thầy cô nghe. Nhưng làm sao có thể so sánh với một nước giàu như thế được!  Có tiền mua tiên cũng được mà.
    Giáo dục của ta (ngày xưa, còn ngày nay không biết) không được như thế, ít nhất là trong thời ĐT lớn lên ở miền Nam. Một phần là do lối giáo dục “nhồi sọ”: thày dạy câu nào học câu nấy, thầy cho học sách nào thì “may ra” biết theo quyển sách đó thôi.  Phần khác là do ta nghèo quá, không có sách vở để có thể đọc, lấy đâu mà so sánh các ý tưởng khác nhau để phát triển ý tưởng của mình.  Các trường học không có thư viện cho học sinh đọc. Có thể trừ ra vài nơi nào đặc biệt mà ĐT chưa biết (!).  Đa số học sinh thì vội vã làm bài cho xong để còn lo phụ cha mẹ trong vấn đề sinh kế (những ai không nằm trong trường hợp này là thiếu số may mắn, cho ĐT xin lỗi.)
    Chỗ mà ĐT cho rằng không hoàn toàn đồng ý với anh là cái tật  những gì mình quen dùng là tuyệt đối đúng, chưa có thói quen lật đi lật lại vấn đề” có thể không hẳn là tại nền giáo dục. Ông bà ta thật là sâu sắc:  “Chém cha cái thói nhân tình, vợ mình thì xấu, văn mình lại hay!”  Chẳng biết những người học ở Mỹ theo lối “khai phóng” có còn cái “thói nhân tình” đáng “yêu” đó không.
    Điểm thứ hai mà ĐT muốn nói là cụm từ “giáo dục cũ” gợi cho người đọc một câu hỏi “giáo dục mới” ra sao?  Thật tình ĐT không có “ác ý” gì cả à nhe. Trong lòng ĐT chỉ mong mỏi rằng ta nước có thể khắc phục được cảnh khó nghèo để chóng thoát khỏi những cái di lụy của nó, không còn “cái khó bó cái khôn” (trong đề tài bàn luận hôm nay.)
    @ Cám ơn anh Hà Thủy có nhắc tới ĐT. Ra ta cùng họ …Thủy

    Mến chào tất cả các anh chị

  • Lê Hữu viết:

    Nhất trí với anh Huỳnh Phan là “trong các ca dao, tục ngữ xưa có vẻ từ ‘thương’ được dùng với tần số cao hơn nhiều so với từ ‘yêu’”. Ngày xưa nói “yêu” có vẻ hơi “bạo” nên trai gái khi tỏ tình chỉ dám nói “thương”, hoặc rụt rè “Gợn buồn nhìn anh em nói… ‘Mến anh!’
    Câu ca dao có chữ “thương” được anh Điền L. ghi lại thật trữ tình. Nếu tôi nhớ không lầm, câu lục bát đứng trước hai câu ấy là:
    “Trời mưa ướt lá trầu vàng
    Ướt em em chịu, ướt chàng em thương
    Theo thiển ý, không riêng “người miền Nam” mà Bắc Trung Nam gì cũng đều nói “thương”. Ca dao “Mười thương”, hoặc “Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi…” là những ví dụ.

    Nhân nghe các anh trao đổi về “thân thương”, cũng xin được “tản mạn” chút chút về cái từ này:
    Không hiểu vì sao một cái “từ” nghe có vẻ hiền lành như vậy (không giống như “bức xúc”, “đột xuất”, “sự cố”…) mà lại “hơi bị” ghét. Nói “hiền lành” có nghĩa không có vẻ gì là khiêu khích, gây hấn, chọc giận, đụng chạm hoặc gây thiệt hại gì cho ai cả. “Chữ “thân” nghe… thân mật, chữ “thương” nghe… dễ thương, vậy mà ghép hai chữ này lại thì có lắm người… “dị ứng”. Như vậy nghĩa là sao? Nói về nghĩa, cái từ này chỉ đơn sơ bộc lộ chút tình cảm yêu thương giữa người và người, vậy mà lại bị… cau mày, lườm nguýt, dè bỉu, khiến nó phải bẽ bàng như cử chỉ chìa tay trước mặt người nào để làm thân mà “người ta” lạnh lùng ngoảnh mặt quay lưng, không thèm bắt tay.
    Khi được/bị anh Đặng Tiến trìu mến gọi tên anh Huỳnh Phan và tôi  với hai chữ “thân thương”, tôi không thấy “bức xúc” gì lắm, chỉ cảm thấy có gì… không ổn. Chả là vì trước giờ chỉ thấy thư từ mở đầu bằng “Anh ĐT kính/thân/quý/ mến, chứ chưa hề thấy “Anh ĐT thân thương” (và cũng chưa hề thấy hai anh đàn ông bày tỏ tình “thân thương” với nhau kiểu ấy).
    Vì sao nghe “thân thương” là… thương không dzô, là… dễ quạu? Chắc phải có duyên cớ nào đấy (chẳng hạn cái từ ấy không thành thật, giả dối, môi mép, đãi bôi, kịch cọt…). Không chỉ “ghét” cái từ ấy, có người còn “ghét” cả người sử dụng từ ấy.
    Thiết nghĩ cần phải tìm hiểu để “làm rõ vụ việc”. Chuyện nhỏ, rất nhỏ, nhưng có thể xem là tiêu biểu, và tìm được lời giải đáp là có cơ may giải tỏa được chuyện dị ứng trong ngôn ngữ Việt. “Quá trình” tìm hiểu có thể tiến hành theo hai bước:
    (1) Làm cuộc thăm dò, để xem là có bao nhiêu phần trăm trong số người được hỏi “dị ứng” với từ “thân thương” này, bao nhiêu phần trăm yêu thích từ này, bao nhiêu phần trăm không yêu không ghét, không có ý kiến. (Đối tượng survey có thể là “quý độc giả thân thương” của DaMàu, và là người sống ở trong Nam, chứ người ngoài Bắc thì chắc không có vấn đề gì).
    Cần có thêm câu hỏi phụ: “Nếu dị ứng, giải thích vì sao dị ứng? Nếu yêu thích, giải thích vì sao yêu thích?”
    (2) Nếu tỷ lệ “dị ứng” khá cao thì đề nghị thành lập một “Hội đồng xét xử”, để truy nguyên xem là việc dị ứng ấy có chính đáng hay không(?). Tất nhiên bị cáo “thân thương” được phép biện hộ, chẳng hạn: “Tên tôi có hai chữ đều bắt đầu bằng âm ‘th’, xét về ‘âm vang’ (nói như bác Đặng Tiến), khi phát ngôn nghe xuôi và êm tai hơn ‘thân yêu’ nhiều, tại sao lại dị ứng tôi?”. Hoặc: “Tại sao những anh chị em của tôi, như ‘thân thiết’, ‘thân thiện’, ‘thân thích’, ‘thân thuộc’ được đối xử tốt, mà tôi thì lại bị ‘phân biệt đối xử’? Cứ xáp vô thì lại bị ‘dội’ ra?”
    “Hội đồng xét xử” sau đó sẽ đưa ra phán quyết “thân thương” có phải là “dân oan” hay không. Nếu có tội thì cần nêu rõ tội trạng; nếu xét thấy lời biện hộ của “dân oan khiếu kiện” là thấu tình đạt lý thì cho phép được đối xử bình đẳng, bình thường như mọi từ khác trong sinh hoạt chữ nghĩa.
    Xin được lạm bàn chút chút như trên.
    Lê Hữu

  • Huỳnh Phan viết:

    Cảm ơn góp ý của anh/chị ĐT (Đạm Thuỷ – không phải Đặng Tiến à nhen).
    Cũng phải tìm một lí do khách quan nào đó để ‘đổ thừa’ cho đủ “lễ bộ” chớ ĐT(nói cho vui thôi). Và đã là khách quan thì nói chung, không nằm trong tầm kiềm soát của con người.  Không ai có thể chọn cho mình thời để sinh ra, nền giáo dục để theo học (ít ra trong thời tuổi trẻ và nếu có chọn thì chỉ chọn được những cái available [và theo khả năng thôi]).
    Hầu như các góp ý ở trên đều đã đồng ý về các nguyên nhân (chủ quan lẫn khách quan) cho tình trạng đang bàn.  Nhưng theo tôi, đối với mỗi cá nhân thì nguyên nhân nào là chính thì tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh sống, cơ may… của người đó. Ví dụ, tôi không phải trãi qua những kinh nghiệm như LTP, có may mắn tiếp xúc với những người có đầu óc cởi mở…nên mức độ dị ứng của tôi có thể nhẹ hơn anh LTP và nhiều người khác không cùng hoàn cảnh và cơ may.
    Nhân đây cũng xin nói thêm cho rõ là khi nói “lối dạy học cũ”, tôi có ý muốn nói đên lối dạy học “nhồi so” độc thoại như thời chúng ta học như ĐT mô tả  (vẫn đang tiếp diễn hiện nay trong nước). Phải nói lối dạy nàyđã làm khá nhiều người học có cái nhìn cứng nhắc đối với mọi sự vật, hiện tượng cũng như không thấy tính tương đối của chân lí trong các lời thầy day, trong SGK.  Lấy vị dụ đơn giản, trước đây chúng ta đều học trái đất có ‘ngũ đại dương’ và ‘ngũ đại châu’ nhưng  ngày nay Nam Băng Dương là châu Nam cực, còn “Mĩ Châu” thì lại phân ra thành châu Bắc Mĩ và châu Nam Mĩ, hay như kinh nghiệm ngôn ngữ của Đìền L. (phần bình luận bài viết “Trên những đường bay của chữ”).
    Như ĐT, tôi cũng rất “mong mỏi rằng nước ta có thể khắc phục được cảnh khó nghèo” để lớp trẻ VN sớm có được một nền giáo dục “khai phóng” có đối thoại như trong các xã hội Âu Mĩ và sẽ không có những “di luỵ” như chúng ta hiện nay. Dĩ nhiên cũng phải nói thêm rằng đây chỉ là một điều kiện cần để giúp cho con người có đầu óc cởi mở, độc lập suy nghĩ…nhưng chắc hẵn nó cũng không loại hết hoàn toàn cái “thói nhận tình” như ĐT nêu, vì con người không chỉ chịu ảnh hưởng giáo dục từ nhà trường mà còn từ gia đình, xã hội… cũng như những cơ may, hoàn cảnh riêng của mình.

  • Xác định lập trường cho tiếng Việt : talawas blog viết:

    [...] xin giới thiệu với bạn đọc bài “ngôn ngữ ngậm ngùi” của Lê Hữu trên Da Màu. Theo tác [...]

  • Lê Thiên viết:

    Từ ngữ nào gọi là “cũ” và từ ngữ nào cho là “mới”. Theo tôi, “mới” là “mới xuất hiện gần đây nhất.” Còn “cũ” là đã được đem ra dùng từ lâu, nay có thể còn dùng hay không còn dùng nữa. Trong bài viết của Lê Hữu, quả có những từ ngữ mới như “siêu xe”, “”vi ba”, “vi tính”. Nhưng nhiều từ ngữ hay nhóm từ ngữ mà Lê Hữu đề cập đến và nhiều độc giả góp ý, tôi thấy khó mà phân biệt từ ngữ nào cũ hơn từ ngữ nào, và ngược lại từ ngữ nào mới hơn từ ngữ nào. Thật ra, từ ngữ nào tôi quen dùng và thuận tai tôi, tôi cho nó là “chuẩn”, là “chính xác” và tôi loại trừ từ ngữ của đối phương. Đối phương của tôi cũng làm công việc “loại trừ” như vậy đối với từ ngữ của tôi để nâng cao giá trị từ ngữ họ quen dùng và cho là “tối ưu”. Trong trường hợp này, theo tôi, không có từ ngữ “mới” hay “cũ”, mà lchỉ có từ ngữ của “phe ta” hay của “phe địch”. Từ đó, mới có chuyện loại trừ từ ngữ của phía bên kia ra khỏi kho từ vựng của phe mình! Thậm chí cấm sử dụng từ ngữ của địch, dù kẻ địch ấy là kẻ thắng hay người thua!
    Đến nay, người miền nam vẫn chưa quên những từ ngữ quen thuộc của mình bị kẻ chiến thắng loại bỏ nhân danh “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, như các từ ngữ rất thông dụng sau đây: phi cơ/ máy bay (nay chỉ còn máy bay), phi công, tài xế, tài công (người lái máy bay, lái xe ô tô, lái tàu cũng đều là chú lái, anh lái, chiến sĩ lái). Phi trường (sân bay), phi cảng (ga tàu bay?), phi đạo (đường bay), tiệm may/hiêu may (cửa hàng may đo – ôi chao! May trước đo sau!). Ngày xưa thúc giục đi nhanh, làm nhanh, ăn nhanh lên, chỉ cần nói: Nhanh lên! Ngày nay: khẩn trương lên! Miền nam trước 1975: Cải thiện, sửa đổi tốt hơn, nên người! Sau 1975: người tù đi lao động nhặt một cọng rau,liền bị tội “cải thiện linh tinh” (“Cải thiện” cái gì vậy? Cải thiện sao lại “linh tinh”! “Linh tinh” là gì cơ?)…
    Còn nhiều, nhiều thứ “linh tinh” khác, kể ra không hết!
    Hoan hô bạn Trinh –Trung Lap – đã phân tích kỹ từ ngữ “chất lượng”. Phần tôi xin nói nôm na thế này: “phẩm” (phẩm chất), “lượng” (số lượng) là hai phạm trù tách biệt nhau hẳn. Một bên là “quality= phẩm chất)”, một đằng là “quantity= số lượng”. “Chất” khác với “lượng”,, không thể gộp vào nhau để chỉ “phẩm chất”. Thế mà đến nay “chất lượng” vẫn còn ngự ở ngôi cao trong tiếng Việt khiến cho cả người trong nước cũng mỉa mai. Cụ thể, gần đây, tại Việt Nam, giới doanh nghiệp tung ra một loại xe chở khách gọi là “xe chất lượng cao” được giải thích là xe có nhiều ưu điểm (phẩm chất) cao về mặt chuyên chở và phục vụ khách. Nhưng nhiều xe dù mang bảng “chất lượng cao” vẫn cứ nhét đầy hành khách quá số lượng ghế ngồi, và trên mui thì chất đầy lỉnh kỉnh cao ngất mọi thứ hàng hóa. Hành khách phàn nàn, thì “lái xe” (tài xế) tỉnh bơ hỏi khách chẳng thấy bảng ““xe chất lượng cao” đó sao???
    Ngôn ngữ là một mặt của văn hóa. Văn minh càng tiến bộ, văn hóa càng tiến lên. Ngôn ngữ cũng vậy. Ngôn ngữ cần được làm giàu. Và như vậy, việc vay mượn từ những nguồn ngôn ngữ khác, như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tàu là điều không tránh khỏi. Tiếng Pháp đã chẳng mượn những từ ngữ của tiếng Hy Lạp, tiếng La Tinh và cả tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý sao? Tiếng Anh cũng mượn không ít từ ngữ từ kho tang tiếng Hy-La như vậy cùng nhiều ngôn ngữ khác! Vay mượn như vậy, người Anh, người Pháp phạm cái lỗi lầm là không “giữ gìn sự trong sáng” của ngôn ngữ họ hay không? Cho nên, nhân danh “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà làm cho ngôn ngữ nước mình dậm chân tại chỗ là điều không thể chấp nhận! Cả phía bên này lẫn phía bên kia! Quan trọng là ở chỗ gạn lọc để chỉ chọn lựa những gì là tinh hoa nhất, thiết yếu nhất mà thôi!

  • Dang Tien viết:

    Thân thương trong ngôn ngữ.
    1.Gửi anh Lê Hữu: trong thư ngày 27-10, tôi viết ” thân thương với Lê Hữu và Huỳnh Phan” , nghĩa là bàn luận về chữ ” Thân thương ” với hai anh. Trong trả lời, HP từ tốn cho rằng mình thiếu công lục, cho nên thư sau cho anh ấy tôi mạn phép sỗ sàng “thân thương  HP” là để anh ấy an tâm tung chưởng tiếp.
    Và anh ấy đã hiểu đúng như thế.
    2 Yêu và thương với HP. Máy vi tính tôi trục trặc, đọc khó, viết, bỏ dấu không đươc, nên nay mới trả lời.
    Hai động từ yêu và thương đều có trong từ điển A de Rhodes 1651, nghĩa cũng na ná như bây giờ. A R còn ghi thành ngữ chịu thương chịu khó, và từ “nhà thương”được giảng là nhà từ bi.
    Trong tục ngữ ca dao, thường thuyết giảng đạo lý, nên từ thương đươc dùng nhiều hơn. Trong thơ Quốc Âm Nguyễn Trãi, ta thường gặp chữ thương, mà không gặp chữ yêu.
    Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có tư kép “thương yêu”.
    Từ  kép “thân thương”, nhiều người khôngb thích, vì bối cảnh lịch sử, lý do liên văn bản, intertexte.
    Nó không thuộc phạm vi ngữ học.
    Chữ “phản hồi “có trong Lục Vân Tiên, trong nghĩa trở về, câu  1796.
    3. Ngoài đề : năm Dần sắp tố là cầm tinh cọp, vậy hỏi anh: cách tiếp cận cọp, trong tâm lý người Miền Nam và Miền Bắc có khác nhau không?
    Vui thôi mà!
    Đặng Tiến

  • Điền L. viết:

    Xin đóng góp với bạn Lê Thiên: tự điển Văn Lâm (English_Chinese) có dịch quantity là số lượng(数量), quality là phẩm chất(品质) hoặc chất lượng(质量). Như vậy tiếng Hoa thì chất lượng là quality chứ không phải là quantity. Dùng cả hai chữ chất lượng hoặc phẩm chất đều đúng.

  • Lê Thiên viết:

    Cám ơn anh Điền L. đã làm sáng tỏ từ ngữ “chất lượng”. Tuy nhiên, tôi không viết chất lượng=quantity; tôi chỉ viết số lượng=quantity. Tôi đưa ra câu chuyên “tiếu lâm” về “chất lượng cao” là nhằm nói lên rằng, người “bình dân” cũng biết “chơi chữ” khi hiểu từ ngữ  ”chất” là xếp chồng lên, “lượng” là số lượng. “Xe chất lượng cao” hiểu theo cách chơi chữ ấy… Nói đùa vậy thôi. Trong thâm tâm tôi vẫn nhận khuyết điểm và hân hạnh được học hỏi thêm về “chữ và nghĩa trong tiếng Việt”. Một lần nữa cám on bạn Điền L. Tiện đây, tôi cũng cám ơn Da Mau và tác giả Le Huu đã đưa ra một đề tài mà tôi vô cùng “tâm đắc” nên mới “nhào vô” “ăn có” “phát biểu linh tinh” như vậy. Mong mọi người thứ lỗi cho.

  • an chi viết:

    Xin góp ý với ông Lê Hữu:

    Cám ơn bài viết khá lý thú của ông.
    Có một chi tiết nhỏ xin nhắc với ông về chữ “tư liệu”. Theo tôi biết, chữ tư ở đây là chữ tư trong “tư bản”, “tư cách” … không phải là chữ tư trong “tư nhân”, “tư hữu”; cho nên câu nói “vào thư viện tìm tư liệu …” không sai.

    An Chi

  • Lê Hữu viết:

    Đúng như anh Lê Thiên nói. Các cụm từ “tiếng Việt cũ” và “tiếng Việt mới” không chính xác, chỉ được dùng tạm trong phạm vi bài này (như tôi có nói trong bài). Theo đó, từ ngữ “cũ” là những “từ” được sử dụng ở miền Nam trước năm 1975, và từ ngữ “mới” là những “từ” thay cho từ ngữ “cũ”, được sử dụng ở trong nước hiện nay. Gọi “mới” chỉ là để đối với “cũ” (có “cũ” thì phải có “mới”). Thực tế, ngoài một số từ ngữ “mới” thực sự (như anh dẫn ra), các từ ngữ mới ấy không “mới” mẻ gì vì đã được dùng trong nước từ nhiều năm nay. Thành thật xin lỗi nếu cách “dùng tạm” ấy có làm anh và các vị khác lẫn lộn.
    Tôi rất thích cách “chơi chữ” của anh trong “xe chất lượng cao”.
    Cũng nhất trí với anh, “ngôn ngữ cần được làm giàu” và “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” không hẳn là tránh việc vay mượn tiếng nước ngoài mà là tránh những cách nói và sử dụng các từ ngữ tối nghĩa, sai nghĩa, khó hiểu, kỳ quặc, dễ gây nhầm lẫn…

    Thưa anh Đặng Tiến, thấy anh bàn luận về từ “thân thương” khá vui vui nên tôi cũng “tham gia” cho vui vậy, và có nhắc đến anh cũng chỉ là “vui thôi mà”, chứ không có hậu ý gì cả (như cách nói của anh).

    Cám ơn anh Điền L. đã làm sáng tỏ thêm việc phân biệt hai từ ngữ “số lượng” và “chất lượng”. Theo đó, “phẩm chất” hoặc “chất lượng” đều có nghĩa như nhau.

    Thưa anh/chị An Chi, trong bài, tôi viết “‘Tư liệu’ là tài liệu riêng thuộc quyền sở hữu của cá nhân, gia đình, tổ chức…” là cái nghĩa được nhiều người hiểu. Nay cám ơn anh/chị cho biết là nghĩa ấy không đúng.
    Tôi cũng ghi nhận khá nhiều trường hợp người trong nước sử dụng từ ngữ “tư liệu” với nghĩa “tài liệu” vẫn được dùng ở miền Nam trước năm 75, như: “tham khảo tư liệu” / “nghiên cứu tư liệu / “tư liệu giáo khoa” / “thu thập tin tức, tư liệu” / “thu thập tư liệu trên báo chí”…
    Định nghĩa “tư liệu”, một bộ từ điển trong nước (“Từ điển tiếng Việt”, nxb Từ điển bách khoa, 2007) ghi là: “Chất liệu, tư liệu sản xuất”. (Liệu có thể “nhất trí” với định nghĩa này?). Một từ điển khác (“Từ điển tiếng Việt”, Viện ngôn ngữ học, nxb Đà Nẵng, 2006) ghi là: “Tài liệu sử dụng cho việc nghiên cứu”. (Hầu như “đại đa số” tài liệu được dùng cho việc… nghiên cứu).
    Đôi lúc, người trong nước có phân biệt hai “từ” này, như thấy ghi là: “Tài liệu và tư liệu tham khảo”, hoặc “Những tư liệu và tài liệu sưu tầm được” (nhưng không thấy giải thích điểm khác nhau giữa hai “từ”).
    Vậy thì đâu là cách hiểu đúng về từ ngữ “tư liệu”, và người trong nước có sử dụng “từ” này theo nghĩa thống nhất nào đó (như là tài liệu “đặc biệt”, có chọn lọc, có giá trị, hạn chế phổ biến và sử dụng…)? Mong anh/chị An Chi và quý anh chị cho thêm ý kiến.

    Nhân đây, xin thành thật cám ơn tất cả quý anh chị về mọi góp ý, chia sẻ, và nêu ra những sai sót trong bài. Và cũng xin cám ơn chủ nhà Da Màu đã “tạo điều kiện” thuận lợi để mọi người, và cá nhân tôi, có được cơ hội học hỏi thêm từ “bàn tròn” về đề tài lý thú này.
    Lê Hữu

  • Đạm Thủy viết:

    Mến chào các anh chị,
    Tưởng đã đủ,  nhưng mỗi lần có một ý kiến mới lại có cơ hội cho ĐT học thêm, và xin được chia xẻ thêm.  
    Lần này tôi nhất định theo phương châm “huề lời”.  Người  Mỹ họ không huề kiểu ”ba phải” nhưng theo kiểu đôi bên đều thắng lợi cả (Win- Win).  Thử lấy vốn trong bài của anh Lê Hữu, và gần đây nhất là “An Chi” để đem “lời” lại cho tất cả.
    Nghe theo anh Lê Hữu, thử tra tự điển để “xài cho đúng…”
    Tự điển tôi đang xem là của Lê văn Đức và Lê Ngọc Trụ (cùng họ với anh Lê Hữu), nhà xuất bản Khai Trí, ấn hành năm 1970, có hiệu đính.  Đúng là chữ “TƯ” có nhiều nghĩa, ĐT mạn phép tóm lược và đánh số để dễ đọc:
    1. Tư:  bốn – tư bề, tư niên, anh Tư, tháng tư,…
    2. Tư: tơ, lo nghĩ, nhớ đến – suy tư, tư duy, tương tư, tư tưởng,…
    3. Tư: riêng – tư tình, con tư sinh, tư dục,tư gia, tư hữu, tư kiến, tư lợi, tư nhân, tư sản, …
    4. Tư: ty, coi giữ, trông nom – tư lịnh, tư pháp, …
    5. Tư: dáng dấp, cử chỉ, điệu bộ – tư mạo, tư thái, tư thế, tư cách..
    6. Tư: gởi sang để bàn hỏi, ra lệnh, hỏi ý kiến – tư văn, thông tư, tư thơ, tư vấn, tư trình,..
    7. Tư: tưới nước, bồi bổ, mùi vị – tư nhuận, tư sinh, tư vị,…
    8.  Tư: của cải, vốn liếng – đầu tư, tư bản, tư cách, tư chất, tư liệu, tư sản, tư trang,…
     
    Lạ ghê, chữ “tư sản” có mặt ở cả nghĩa số 3 và nghĩa số 8.  ĐT tra nghĩa “tư sản” ở nghĩa thứ ba thấy rằng nó được dùng theo nghĩa chính trị hơn. Tự điển cho thí dụ: Chế độ dân chủ tôn trọng tư sản của dân, khác với chế độ quân chủ xưa, ngọn rau tấc đất đều là của vua hay lãnh chúa. Trong lúc ở nghĩa thứ 8 thì “tư sản” đơn thuần chỉ là “của cải”, “gia tài” mà thôi. 
     
    Chữ “tư liệu” cũng nằm trong nghĩa thứ 8.  Tự điển này giải thích “tư liệu”: tài liệu, những món phải có để dùng đó tạo ra đồ vật.  Theo tôi biết thì trên thực tế, chữ “tư liệu” được dùng ở cấp độ trừu tượng hơn định nghĩa trên.  Thí dụ những người khảo cứu thường phải có “tư liệu” dùng như những dữ kiện để xây dựng một giả thuyết hay một kết luận cho chủ đề mà họ viết.
     
    Phải thú thật là không nhờ anh An Chi thì tôi không hề nghĩ đến từng ấy nghĩa của chữ Tư, và quyển tự điển trong nhà trở thành “Ông thầy cô đơn”.  
     
    Cũng vì “người ta đọc ý chứ không đọc lời” (đâu đó trong bài của LH)  để hiểu ý của tác giả, và cũng xin mượn câu khác của anh Lê Hữu để đồng ý với anh Lê Hữu:
     
     “Nói sai nhưng… hiểu đúng là được, như cách nói của người Mỹ, “That’s ok, no problem”. Về mặt truyền đạt ý tưởng, như thế gọi là “đạt yêu cầu”.”

     

     

    Mến chào tất cả
    Đạm Thủy

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính chào Quý vị !
     …..(mong mọi người cười sảng khoái)……
     Thật thú vị khi nhận ra rằng cái “món” (chủ đề) Ngôn ngữ này luôn làm cho “Thực khách” Damau bị cuốn hút để “đưa đũa” vào hoài….hiii..hiiii
     Xin chia sẻ cùng Anh/Chị (?) Đạm Thủy !
    Theo các định nghĩa của chữ “Tư”  trong Tự điển của Lê văn Đức và Lê Ngọc Trụ mà Chị đề cập dưới đây, tôi thấy “sai” hết à ! hiii….hiii
     Xin giải thích :
    1. Tư:  bốn – tư bề, tư niên, anh Tư, tháng tư,…
    - Theo TTL thấy : anh Tư lại là anh thứ ba chứ không phải thứ bốn như minh họa, hiii
     
    2. Tư: tơ, lo nghĩ, nhớ đến – suy tư, tư duy, tương tư, tư tưởng,…
    - Theo TTL suy diễn : chỉ có các chữ Suy/Duy/Tương/Tưởng mới làm nên nghĩa Lo/Nghĩ/Nhớ/Đến như Chị nói thôi.
    Ta thử suy diễn xem sao nhé, nếu Tư = Nghĩ theo “Tự điển” thì hóa ra Suy tư = Suy nghĩ, ……
    Và như thế, trong 1 cuộc họp, khi 1 người chủ trì đề nghị các thành viên đang tham dự :
    -         Mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ 3 phút để đưa ra phát biểu của cá nhân mình
    -         Mỗi người chúng ta hãy suy tư 3 phút sau đó đưa ra phát biểu của cá nhân mình.
    Câu 2 nghe không ổn chút nào, nhất là họ đang cùng nhau tập trung giải quyết vấn đề (đừng thả hồn đâu đó ngoài cuộc họp)
    3. Tư: riêng – tư tình, con tư sinh, tư dục,tư gia, tư hữu, tư kiến, tư lợi, tư nhân, tư sản, …
    -  TTL xin đùa chút cho vui :
    Nếu Tư sản = Tài sản riêng, thì làm gì có “Giai cấp tư sản” (và đã là cùng 1 giai cấp nghĩa là có lúc cũng “xài” chung của cải chứ), thế rồi “Tư sản”  khác với “Chung sản” (của công)” ở khía cạnh nào, vì trên đời làm gì có khái niệm “Của công” (cái gì cũng có chủ chứ : của tôi, của công ty tôi, của tập đoàn tôi, của quốc gia tôi, ….của riêng con tim tôi, của tâm hồn tôi, của xúc cảm trong tôi,….) hiii.hhiii …….bó tay
     
    4. Tư: ty, coi giữ, trông nom – tư lịnh, tư pháp, …
    - TTL nghĩ : ở bất cứ quốc gia nào cũng vậy, chỉ có Hành pháp mới “trông nom” (ngăn ngừa vi phạm) chứ, còn Tư pháp thì không trông nom đâu, mà chức năng của họ là “đối chiếu để trừng trị” thôi (có nghĩa là xét xử đó, việc đã rồi)
    5. Tư: dáng dấp, cử chỉ, điệu bộ – tư mạo, tư thái, tư thế, tư cách..
    - Chỉ có các chữ Mạo/Thái/Thế/Cách mới có nghĩa dáng dấp, cử chỉ,….. chứ. Giống mục 2
    6. Tư: gởi sang để bàn hỏi, ra lệnh, hỏi ý kiến – tư văn, thông tư, tư thơ, tư vấn, tư trình,..
    -         Cái này càng “sai” quá luôn đó …….
    Vì Thông tư khác với Pháp lệnh/Nghị định ở chỗ “cơ quan ban hành nó”, chứ không liên quan gì đến “ra lệnh”, hỏi bàn” gì cả. Quốc hội ban hành Pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định, Các Ngành, Bộ ban hành Thông tư, Chị ơi……!!!
    Tương tự, các mục 7/8 cũng lạ quá….Khoa Từ điển học cần xem lại thôi !
     
    Mong các quí vị khác có cao kiến về chữ Tư thêm, hiiii…hiiii

  • Điền L. viết:

    Xin đóng góp với bạn Đạm Thủy.

    Tôi tra từ điển Thiều Chửu hoặc Văn Lâm thì thấy nghĩa thứ 3 của chữ  ”tư” ( 私), bộ hòa, có nghĩa là riêng(private), trái với công, còn nghĩa thứ 8 “tư” ( 資), bộ bối, có nghĩa là vốn liếng(property, capital).
    “Tư sản” trong nghĩa thứ 3 là của cải riêng(private property), chữ tư nhấn mạnh rằng đây là của cải riêng (chứ không phải của chùa), trong khi “tư sản” trong nghĩa thứ 8 nhấn mạnh là vốn liếng (capital, assets), hoặc của cải(property). “Gia tư nghĩ cũng thường thường bực trung”. Chữ “tư” trong câu này dùng nghĩa thứ 8, gia tư là vốn liếng của nhà (hoặc tài sản của gia đình).
    Theo từ điển Thiều Chửu chữ “tư” có đến 28 nghĩa, tiếng Hoa viết 28 chữ khác nhau.

  • Đạm Thủy viết:

    Kính các anh,
    @ Anh Trinh Trung Lap: (Lần sau gọi ĐT thì khỏi cần thêm chữ “‘anh” cũng đúng rồi nhé.)
    Không ngờ cái chữ TƯ này đi ngang mắt của anh TTL lại đâm ra lắm chuyện thú vị ghê.  Đạm Thủy đọc bài anh TTL phân tích tất cả các nghĩa đều sai mà thấy rằng ngôn ngữ bắt đầu … hết ngậm ngùi.  Có lời nhắn với anh Lê Hữu như thế.  ĐT nghi ngờ anh TTL là “anh Tư” cũng không chừng (hì hì…) cho nên đính chính “anh Tư” thật ra là … “anh Ba.”  Nhưng có ai lại dịch “anh Tư” ra “anh Ba” đâu nào ? Thế còn “anh Ba”, chả lẽ thành “anh Hai”?  Vui thôi.
    @ Anh Điền L. : Như vậy thì Tự điển Thiều Chữu cũng giải thích nghĩa thứ 3 và thứ 8 giống như tự điển hai ông  Lê. Còn đến 28 nghĩa khác nhau thì quả thật … chữ TƯ trở thành “kinh khủng”  .  ĐT này ”chạy” hay “đầu hàng” cũng vậy!  Cám ơn các anh đóng góp thật phong phú.
    Trong tự điển Thành ngữ của Diên Hương có nói đến “tư cầm”, “ngẫu tư cầm”, là tên một cây đàn, dây làm bằng tơ sen, của nước Yên đem thách nước Tề đàn thử. Chẳng biết nó thuộc về nghĩa nào nữa.
    Cảm tưởng sau khi nghe anh Trinh Trung Lap giảng nghĩa “chui” mấy chữ Tư, ĐT nghĩ đến ông “Tư Mã Chiêu” và câu chuyện “mặt trời và thành Tràng An, cái nào gần?” Cùng một câu hỏi, khi thì ông Chiêu trả lời “Tràng An gần”, khi khác, ông lại nói “mặt trời gần”.
    Và lúc nào ông cũng có lý!!!
    ĐT Mến chào  

  • Điền L. viết:

    Xin đóng góp với bạn Đạm Thủy và Trinh – Trung Lap
    Đạm Thủy: Ngẫu Tư Cầm(藕丝琴), chữ tư có nghĩa là tơ(silk), ngẫu là ngó sen.
    Trinh – Trung Lap : “Nếu Tư sản = Tài sản riêng, thì làm gì có “Giai cấp tư sản” “. Chữ “tư sản” ở đây dùng theo nghĩa thứ 8 mà bạn ĐT đã liệt kê, nghĩa là vốn liếng(assets, property), chứ không phải tài sản riêng(private property). Giai cấp tiểu tư sản(petty bourgeoisie-petite bourgeoisie) cũng được dùng theo nghĩa này.
    Bạn có thể vào Thiều Chửu online(http://www.websitetrans.com/dictionaries/tcdictionary1/vietlist.asp)
    hoặc nếu biết tiếng Hoa, vào Bách độ(http://www.baidu.com/s?wd=%C5%BA%C7%D9) để xem.
    Tiếng Việt rất nhiều tiếng trùng từ nhưng khác nghĩa. Nếu truy cứu từ tiếng Hoa ra sẽ thấy ngay sự khác nhau. Thí dụ như “Gác mái ngư ông về viễn phố”, chữ “phố” (浦) có nghĩa là cửa biển, ngạch sông đổ ra biển, chứ không có nghĩa là phố(鋪) như trong “Em ơi Hà Nội phố”.  

  • Phùng Tường Vân viết:

    1/Rất thích sử dụng một số từ “trong nước”, trong một bản dịch nào đó, tôi bắt
    gặp một dịch giả , kết thúc một bức thư gửi một bà mẹ gửi cho con gái bằng 4 chữ  “Hôn con thắm thiết”,
    Hay quá chứ ! Những chữ “thân thương”, “hoành tráng” cũng vậy. Anh không thể trách một người dùng
    từ “hoành tráng” theo một ý châm biếm là một người dị ứng với “tiếng Việt đàng ngoài” được.
    2/ Tư liệu, không có nghĩa như tác giả nói đâu.
    3/ Chất lượng, cũng nhiều người cho chất là quality, lượng là quantity, trong sử dụng
    cũng không nhất thiết là như thế, xin đơn cử một thí dụ : Anh vào Nguyễn Huệ hay
    Quang Trung…  (little Saigon, CA) quất một tô phở, quay ra nói “Chất lượng lắm” thì hẳn nhiên
    tô phở ấy trước hết không thể là không ngon, cũng không thể  “lõng bõng” (như Phở Ta chẳng hạn),
    trong trường hợp này thì từ “chất lượng” quả là handy la(‘m chu+’ .

  • Phạm Quang Tuấn viết:

    Cám ơn anh Lê Hữu đã viết một bài rất hay.
     
    Về từ “tư liệu” hay dùng trong nước, chữ tư 資 đây có nghĩa là “của cải, vốn liếng” (như tư bản) chứ không phải là riêng tư 私. Nếu anh dùng Google translation để dịch chữ 資料 (tư liệu) thì sẽ được từ dịch tiếng Anh là “data”.
     
    Có lần tôi nghe người ta dịch chữ “đại thử” (kangaroo) là… chuột lớn. Thực ra, đại (đẫy) đây là cái túi, và đại thử là chuột túi.
     
    Tiếng Hán có quá nhiều đồng âm dị nghĩa. Chúng ta nên cẩn thận.

  • Lê Hữu viết:

    Xin cám ơn anh Phạm Quang Tuấn đã giải thích và làm rõ thêm nghĩa của từ Hán-Việt “tư liệu”.
    Vâng, “đại thử” dịch là “chuột túi” nghe hay hơn và đúng hơn “chuột lớn” (dễ nhầm là… chuột cống). Tuy nhiên theo tôi cách tốt nhất để gọi kangaroo vẫn là… “con kangaroo” (kăng-gu-ru), vì cái tên ấy có vẻ quen thuộc đối với người Việt mình hơn là tên gì khác. Chả thế mà người mình vẫn gọi nước Úc là “xứ kangaroo”, và vẫn nói “Siêu mẫu xứ kangaroo: Krystal Forscutt” hoặc “Thiên nga xứ kangaroo: Nicole Kidman”.
    Nói cho vui vậy, “nói sai, hiểu đúng” thì cũng tạm chấp nhận, chỉ sợ “nói sai, hiểu… sai” thì đúng là “ngôn ngữ bất đồng” thật, phải không thưa anh?
    Lê Hữu

  • Tiếng Việt Của Người Xa Xứ | Blog của Nguyễn Sĩ Hạnh viết:

    [...] (2) Ngôn ngữ ngậm ngùi – phần 1,  Lê Hữu, [...]

  • Việt Nhân viết:

    Hôm nay có dịp đọc kỹ bài “Ngôn ngữ ngậm ngùi” của tác giả Lê Hữu trên mạng damau.org và đọc tất cả các phản hồi của độc giả ở cuối bài, trong đó có phản hồi của Huỳnh Phan (tức Sông Trúc ở Chữ Việt Forum), tôi xin góp vài ý như sau:

    - Những năm gần đây, rải rác trên báo mạng và báo giấy ở hải ngoại thường có các bài viết so sánh, bàn về tiếng Việt trong nước, ngoài nước. Bài của tác giả Lê Hữu là một bài viết giá trị, công phu, nhất là có cái nhìn thực tế và thoáng.

    - Ngôn ngữ chỉ là công cụ để thông tin, vốn không có tính chính trị. Nhưng Việt Nam bị chia cách nhiều năm, lại thêm vài triệu người Việt lưu vong mà lòng hận thù chưa nguôi với nhà cầm quyền độc tài trong nước, nên một số từ ngữ đã bị người Việt hải ngoại gán nhãn chính trị.

    Một số từ ngữ bị khá đông người Việt hải ngoại “ghét bỏ một cách oan uổng, chỉ vì… ghét ai ghét cả tông chi họ hàng”. Tâm lý này khá phổ biến và có thể hiểu được. Ghét người nào là ghét cả cái nhà cái xe, cái chăn cái chiếu, con chó con mèo… của người ấy. Nhiều người cảm thấy “ghét” chữ này chỉ vì thường đọc/nghe trên “báo, đài” (Lê Hữu).

    Cho dù bài viết của Lê Hữu (hoặc của các tác giả khác) có hay đến đâu mà lòng người vẫn còn ngăn cách thì cũng không giải quyết được gì. Ghét ai ghét cả tông chi họ hàng vẫn là bản tính của con người, chứ không phải của riêng người Việt.

    - Tôi rất đồng ý với cách nhìn của Huỳnh Phan (Sông Trúc) là: “…Trên thực tế, sự phân biệt/dị ứng ngôn ngữ có lẽ chỉ có đối với “người thua cuộc”, còn “kẻ thắng cuộc” trong thế thượng phong đang nắm quyên hành trong tay chẳng quan tâm gì đến ngôn ngữ của “kẻ thua cuộc” đâu …” (Sông Trúc). Nhà cầm quyền VN hiện nay chỉ kiểm soát gắt gao nội dung bài viết, chứ không ra chỉ thị cấm dùng từ ngữ của chế độ cũ miền Nam trước 75.

    Thế nhưng, hiện nay ở hải ngoại vẫn có một số trang web độc đoán kiểm soát còn gắt gao hơn nhà cầm quyền VN, họ kiểm soát cả từ ngữ.

    Vài năm trước đây, có lần tôi gởi một bài viết của tôi vào diễn đàn tvvn.org. Trong bài viết tôi dùng chữ “phần mềm” cho chữ software. Họ yêu cầu tôi phải thay chữ “phần mềm” bằng chữ khác như “nhu liệu”, “chương trình” thì họ mới cho đăng vì họ cho rằng chữ “phần mềm” là chữ trong nước. Tôi không vui nên có hỏi lại họ là nếu dùng chữ “nhu liệu” thì khi dịch chữ hardware phải dùng chữ gì? “Cương liệu” được không? Họ ú ớ trả lời là câu hỏi hay và đề nghị độc giả góp ý!

    Họ còn ra nội quy khi gởi bài viết thì không được dùng các từ ngữ trong nước. Ví dụ: xem nguyên văn thể lệ trang web tvvn.org như sau:

    Đăng bài bằng tiếng Việt
    – Trong những bài đăng đầu tiên, các Hội Viên đến từ Việt Nam vẫn được dùng chữ trong nước, các Trưởng Phòng và Phụ Tá sẽ nhắc nhở dần. Xin tham khảo Tự Điển Việt (trong nước) – Việt (hải ngoại) để hiểu rõ thêm. http://www.tvvn.org/forum/faq.php

    Đọc các nội quy này, tôi thấy họ chống cộng kiểu như nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn có lần đại khái nói: “Nhiều người chỉ hăng hái chống cộng ở những nơi không có cộng sản”.

    (Cũng tựa như việc đến nay một số cộng động hải ngoại vẫn chủ trương biểu tình chống ca sĩ từ VN qua hát, dù là họ chỉ hát các bài hát tình yêu! Trong khi đó, nhà cầm quyền VN thì không cấm ca sĩ hải ngoại về VN hát. Họ còn dám mời cả ca sĩ Khánh Ly).

    Vì vậy, thiết nghĩ muốn chống cộng hiệu quả thì phải làm hay hơn người cộng sản. Đừng độc đoán hơn người cộng sản.

    NGUỒN: Chữ Việt Forum http://chuviet.net (http://www.chuviet.net/t129-topic#485)

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)