Trang chính » Biên Khảo, Da Màu và Bạn, Phiếm luận Email bài này

Khi vui thì vỗ tay vào…

(Bài này được viết vào ngày 6 tháng 10 năm 2009, vì vậy xin độc giả lùi về thời điểm tuần trước để đối chiếu những sự việc được nhắc đến trong bài.)

Câu chuyện về Edgardo Mortara là một trang bị che khuất trong quyển lịch sử châu Âu thời cận đại, một điều hơi khó hiểu kể cả khi ta đã xét đến việc có bao nhiêu người châu Âu hiện nay thật lòng mong muốn nó bị chôn vùi vào quên lãng. Khó hiểu và cũng đáng tiếc vô cùng là đằng khác, bởi vì biến cố này đã là một mắt xích vô cùng quan trọng trong chuỗi nguyên nhân hình thành ra bộ mặt của thế giới ngày nay; do đó, nó đã trở thành một bài học mà đánh mất đi rồi, chúng ta sẽ phải chịu những thiệt hại về mặt tri thức lịch sử. Nếu như trong bộ môn ứng xử chính trị, hoặc ứng xử văn hóa, có cái gì đó giống như là những ngụ ngôn có thật thì câu chuyện này nhất định xứng đáng được coi như một trong số đó; và thuật lại nó như một ngụ ngôn cũng là ý định của tôi ở đây để hầu chuyện độc giả.

Ngày 23 tháng 7 năm 1858, tại một ngôi nhà thuộc thành phố Bologna, – lúc bấy giờ còn là lãnh thổ của Giáo hoàng – cảnh binh ập tới khám xét và bắt đi, theo lệnh của Tòa án dị giáo, một trong tám đứa con của người lái buôn Do thái Momolo Mortara: cậu bé Edgardo lên sáu tuổi. Lý do của lệnh bắt là vì cậu bé đã được rửa tội, và giờ đây trở thành một người Công giáo, mà theo giáo luật thì không thể được nuôi dạy trong gia đình ngoại đạo. Số là một lần cậu bé bệnh thập tử nhất sinh, chị vú nuôi theo Công giáo đã bí mật làm lễ rửa tội cho cậu, với thiện ý mong cậu lên được nước Thiên đàng. Chuyện đã được trình báo tới tai các giới chức giáo quyền, và mặc cho cha mẹ cậu khẩn thiết van xin, Edgardo bị mang đi tới nuôi dạy ở một biệt xá giành cho các tân tòng.

Giáo hoàng thời đó là Pius IX đích thân chú ý đến trường hợp Edgardo. Ông tuyên bố sẽ coi cậu bé như con của mình, và chứng tỏ cho bên ngoài biết rằng cậu rất hài lòng với cuộc sống bên cạnh ông. Cha mẹ của cậu lúc bấy giờ chỉ còn được cho phép đến thăm con trong thời hạn có chừng mực nhất định. Chẳng bao lâu, sự bất bình của họ đã lan truyền đi khắp nơi và được sự hưởng ứng mạnh mẽ của giới cấp tiến châu Âu. Dưới áp lực dư luận, chính phủ các nước Anh, Đức, Áo và Pháp phải đồng lên tiếng phản đối hành động của Giáo hoàng – trong đó có cả Hoàng đế Pháp Napoleon đệ Tam, người đang cho quân đồn trú chung quanh La Mã để bảo vệ Giáo hoàng chống lại những đạo quân muốn giải phóng lãnh thổ này và thống nhất nước Ý.

Đối với những người cách mạng Ý, đây đã là một biến cố trọng đại, một cái cớ nổi bật để khích động sự ủng hộ của quần chúng. Nó đã chứng minh hùng hồn rằng sự cai trị của Giáo hoàng trên những mảnh đất Ý là một tàn tích man rợ của thời Trung Cổ, và thuyết phục lòng người như một đứng lên lật đổ giáo quyền. Nhờ vào dư luận ở Anh và Pháp, quốc gia Piedmon, lực lượng lãnh đạo phong trào quốc gia Ý đã thành công trong thương thuyết ngoại giao để thực hiện cuộc tấn công sáp nhập các lãnh thổ dưới quyền Giáo hoàng năm 1859. Đến năm 1870, sau khi chỉ còn La Mã trơ trọi trong tay Giáo hội, và sau khi quân đội Pháp đã rút khỏi tuyến phòng thủ chung quanh đó – quyết định mà nhiều sử gia cho rằng chịu ảnh hưởng dư luận bất mãn với Giáo hoàng vì chuyện Edgardo Mortara – quân đội quốc gia Ý tấn công và giải phóng nốt La Mã. Nước Ý hoàn toàn thống nhất.

Số phận của Edgardo Mortara tại sao lại gợi lên được sự đồng cảm quá rộng lớn từ giới nhân sĩ trí thức, ảnh hưởng đến cả các trung tâm quyền lực thời bấy giờ, vốn có những quyền lợi, văn hoá và tôn giáo hoàn toàn khác biệt? Lý do chính là sự trùng hợp về thời điểm của nó với cao trào khai phóng ở châu Âu, cho nên mặc nhiên nó được hai bên cùng ấn định thành trận đấu để thử thực lực và quyết tâm giữa trào lưu hai thời đại, hai hệ tư tưởng, hai hệ thống xác tín thiêng liêng: một đằng vào giáo lý với một đằng vào giá trị tối cao là con người. Về phía cấp tiến, họ đã đủ sáng suốt để nhận ra rằng, muốn cho những giá trị duy lý và nhân bản của mình thay đổi hoàn toàn thế giới, họ phải tập nhìn CON NGƯỜI như một định nghĩa chung, không còn lệ thuộc vào họ là Công giáo, Tin lành, Anh giáo hay Do thái; và họ phải chiến đấu không khoan nhượng với một thời đại tăm tối đang điên cuồng bảo vệ chỗ đứng cuối cùng[1], biến cuộc đấu tranh của một gia đình thành một cơ hội để đập tan sự kìm hãm của nó. Sự tôn trọng nguyên tắc tuyệt đối, sự đồng cảm những tương quan giữa người với người, là lý do cuộc chiến đấu này, dù để bảo vệ một gia đình xa lạ, đối với họ đã trở thành khẩn thiết và không cách nào thoả hiệp.

Khía cạnh khẩn thiết về mặt nhân đạo ấy thật lu mờ khi so sánh với thời đại của chúng ta. Một đằng là nguyện vọng được sum họp với con cái của một gia đình, là giải thoát một đứa bé đang được sự quan tâm chăm sóc của đích thân vị lãnh đạo uy quyền của Giáo hội, được cho ăn học trong những điều kiện tốt nhất, và thoả mãn với cảnh sống đó đến nỗi năm 1870, khi La Mã được giải phóng, Edgardo đã chính thức tuyên bố không muốn trở lại gia đình mà tiếp tục tu học để trở thành giáo sĩ Công giáo. Còn một đằng là một chuỗi thảm kịch, bắt đầu từ những cuộc khiếu kiện đòi đất liên tục hơn 10 năm qua, những phản ứng cùng đường của người dân thiểu số, cho đến Thái Hà, Tam Toà, Loan Lý, sau cùng là tu viện Bát Nhã dồn dập những ngày gần đây. Mười năm trời chồng chất bao nhiêu cảnh tủi nhục, oan khiên, bao nhiêu sự vô luân bạo ngược dưới đủ hình thức, với không ít lần đổ máu.

Mỗi một biến cố đánh dấu một cuộc đấu tranh mới, một nhân dạng nạn nhân mới. Chìm trong cái bóng tối bao la đằng sau đó, hẳn là còn vô số những áp bức bất công khác được che dấu bằng sự im lặng bất lực. Cái ác hiện diện trên đời này như một phạm trù tổng quát theo cái nghĩa là không ai có thể chắc chắn mình được vĩnh viễn miễn trừ không phải làm nạn nhân của nó khi nó có cơ hội; điều kiện giúp nó tiếp tục hiện diện chính là việc con người luôn luôn tự đặt mình ra ngoài cuộc cho đến khi nào đến lượt mình trở thành nạn nhân. Có một sự im lặng nhiều ý nghĩa từ phía những nạn nhân của ngày hôm nay đối với bất công ngang trái khi nó xảy ra vào hôm qua, và dĩ nhiên, một sự im lặng tương xứng từ những nạn nhân mới ngày hôm qua khi luồng gió bạo ngược tiếp tục cuộc hành trình, để ập xuống đầu những con người mới. Ở cương vị thiếu thốn thông tin của mình, tôi không hiểu rõ lắm lý do tại sao, chẳng hạn, Hoà thượng Quảng Độ giữ thái độ im lặng khi các linh mục và giáo dân bị đánh đập ở Tam Toà, hay khi chư Tăng sĩ đồng đạo được đón tiếp bởi “đám đông tự phát” ở Bảo Lộc, những việc mà dù gì đi nữa thì đúng sai cũng đã rõ ràng (trong khi ông được nhiều người Việt Nam cảm phục vì đã có mặt để hỗ trợ những dân oan khiếu kiện ở Sàigòn). Cũng vậy, tôi không hiểu tại sao chưa thấy một giới chức Công giáo nào có thái độ mạnh mẽ chia xẻ những tương đồng về cảnh ngộ với Tin lành Tây Nguyên bao năm qua, qua đó cùng kết hợp lại quyền lợi thiết thực và nguyên tắc chính trực của các bên “anh em trong Chúa Ki-tô” về cái gọi là tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tôi còn nghe nói đến những lý do mà vì đó, việc các dòng tu lớn ở Việt Nam không đả động gì đến việc dòng Chúa Cứu thế đòi đất ở các nơi không phải là chuyện thận trọng hay ngẫu nhiên, nhưng vì chưa xác nhận được, và có lẽ cũng không cần thiết, hãy tạm gác những lý do đó qua một bên và hy vọng rằng, là những người thông thạo tiếng Latin, các vị lãnh đạo dòng tu nói trên nhớ rất rõ câu ngạn ngữ “Homo sum: humani nil a me alienum puto”: tôi là người, không có gì thuộc về con người là xa lạ với tôi – kể cả những đau khổ của họ. Và những chuyện “tôi không biết” hoặc “tôi nghe nói” như vậy, buồn thay, có thể kể ra rất nhiều….

Dĩ nhiên, đứng bên cạnh tha nhân trước mặt áp bức bất công là một hành động mà người ta thường là trù trừ, hoặc ít nhất cũng cần suy tính kỹ càng, vì đó có thể đồng nghĩa với một cam kết ảnh hưởng đến cả cuộc đời,với sự chấp nhận các xáo trộn và phương hại, đồng nghĩa với nguy cơ bị thiện ý dẫn đường vào cạm bẫy, cho nên sự đắn đo cân nhắc, kể cả sự thoái thác, vô can là một quyền tự nhiên mà ai cũng phải tôn trọng. Nhưng dù sao, “fiat justitia ruat caelum“, cần phải bảo vệ công lý dù vì thế mà tầng trời sụp đổ, một xã hội vắng bóng những tiếng nói lý tưởng, thiếu vắng sự đồng khí liên chi giữa người với người là một xã hội chết chóc. Thiền sư Nhất Hạnh đáng lẽ ra đã phải nhìn thấy trước (hay nếu đòi hỏi như vậy là quá đáng, phải lo sợ trước) ngày này, và phải có những thái độ “thố tử hồ bi” hơn trong nhiều trường hợp, nhất là nếu có đọc lại những gì chính ông đã viết:

Tôi không ngủ được, một phần do nghĩ tới chùa Ấn Quang, đầu não của Giáo Hội, hiện giờ là một ngôi chùa hoang. Có lẽ Hà Nội lý luận rằng: Mỹ mà họ không sợ thì sợ gì chùa Ấn Quang? Họ lầm. Mỹ là Mỹ. Ấn Quang là dân. Ấn Quang không đơn độc trong cuộc đấu tranh. Dân chúng cùng khổ với Ấn Quang, thất vọng và hy vọng với Ấn Quang, thì Hà Nội không thể coi thường Ấn Quang. Quý thầy hiện nay trốn tránh ở đâu? Trong nước còn chưa biết, nữa là ngoài nước!”[2]

Nếu hy vọng là dân chúng sẽ cùng đấu tranh “” Ấn Quang, thì đó chỉ là một ý viển vông trong cơn tuyệt vọng. Nhưng nếu mong rằng dân chúng sẽ đấu tranh “với” Ấn Quang, chính là ông đã đúc kết được nhu cầu luân lý thực tế của xã hội Việt Nam. Vấn đề ở đây không phải là ở chỗ Ấn Quang; vấn đề là ở chỗ dân chúng phải “cùng khổ, cùng thất vọng và hy vọng” với Cao Đài, Hoà Hảo, với Làng Mai – Bát Nhã của chính ông, với Giáo phận Vinh, bất cứ nơi đâu con người đứng lên đòi công lý và lẽ phải. Và chính Ấn Quang, cũng như những đoàn thể, thực thể vừa nói, cũng phải nằm trong cái “dân chúng” ấy, một cái toàn thể cao cả hơn những thực trạng cục bộ của chúng ta, đẹp đẽ như trong thơ Đỗ Phủ:

An đắc quảng hạ thiên vạn gian,
Đại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan,
Phong vũ bất động an như sơn!
Ô hô! hà thì nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc,
Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc!

(Có được vạn gian nhà cho kẻ hàn sĩ trong khắp thiên hạ, thì dẫu nhà riêng ta tan tành, thân ta chết cũng vui lòng).

Tôi nghĩ đến những con người châu Âu kia đã quan tâm tha thiết đến số phận một gia đình Do thái xa lạ, đến không biết có bao nhiêu người Ý đã đứng lên cầm súng chiến đấu theo tiếng kêu gọi hành động để cho cảnh ngang trái không còn xảy ra với một gia đình Do thái nào khác nữa, và tôi nghĩ về ý nghĩa của văn hoá, văn minh. Văn hoá nằm trong cả những biểu hiện rất nhỏ, nhưng rất ấm áp, như việc ngả mũ chào một chiếc xe tang đi ngang qua mặt mình. Đó là biểu hiện ý thức cộng đồng, là hành động vô thức gắn kết thêm quan hệ cộng sinh giữa những người láng giềng, đúng thế, nhưng nó còn có những gốc rễ sâu xa hơn. Gốc rễ từ niềm tin vào tấm gương của Jesus, lúc chấp nhận con đường thánh giá nơi vườn Gethsemane vì nhân loại. Gốc rễ từ bài giảng về tiền kiếp của Thích Ca, đã cắt thịt nuôi chim ưng mà cứu bồ câu. Triết lý của nó là đại bi, bác ái, là cộng nghiệp, là cây thập giá để chịu đóng đinh mặc dù đã bị giới tăng lữ giảm thiểu xuống chỉ còn dùng để “vác mà theo thầy”, là “con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”… Thế giới đã không bao giờ có văn minh, nếu không có cái mà tâm lý người Việt chúng ta đôi khi khinh khỉnh gọi là “chuyện bao đồng”.

Và có lẽ chúng ta có thể hy vọng rằng, khi sóng gió tạm yên xung quanh Bát Nhã, 400 vị tu sĩ, tu sinh sẽ nghĩ đến những ký ức hôm nay như một cửa ải huấn luyện niềm tin của mình vào nhân loại. Họ sẽ sống lại những bài học của nó, khi nào tương lai đưa đến cho họ những lời kêu gọi tiếp viện giống như chính những gì họ đã từng gửi ra bên ngoài giữa một mùa mưa ác nghiệt “Hơn bao giờ hết, trong lúc này, chúng tôi rất cần đến sự giúp đỡ của các bạn. Chúng tôi đang cần những tấm lòng và khối óc của các bạn.”

Bạn đọc của Da Màu thân mến,

Độc giả sẽ chứng tỏ một khả năng cảm thụ văn học rất tồi nếu như đọc “Số đỏ” và cho rằng những ông Văn Minh, ông Typn, cụ cố Hồng, v.v. là những con người lập dị, cá biệt. Cũng vậy, nếu người ta quan sát tấn kịch tu viện Bát Nhã ngày hôm nay như một tranh chấp giữa các nhân vật 400 tu sinh, vài vị tăng sĩ và các cán bộ, chức sắc chính quyền, mà không thấy bóng dáng mình đứng ở đâu đó trên sân khấu. Văn học có thể là những gì riêng tư nhất, nhưng người quen cách diễn dịch văn học phải biến mỗi khoảnh khắc trong tình huống, trong nhân vật thành một cái gì đó khái quát, thuộc về tất cả mọi người, và nếu như văn học thật sự có làm được gì chăng để phục vụ cho nhân loại, thì chỉ là chức năng truyền đạt lại cách diễn dịch đó mà thôi. Cho đến hôm nay, môi trường văn học của chúng ta đã làm được gì trong công việc phổ biến và khái quát hoá số phận của những nhóm người bị áp bức riêng lẻ? Tôi quay về lại Da Màu, mảnh đất văn học quen thuộc của mình. Có một cái gì đó, hay sự vắng bóng một cái gì đó, không thể nhận dạng và gọi tên, lởn vởn bên trên không gian của Da Màu những ngày gần đây. Giữa tấn kịch này chúng ta đang ở đâu? Hãy tạm không nói đến nội dung bài vở. Tôi đếm lại các nhận xét phản hồi (comments) suốt tuần qua. Có khoảng 30 phản hồi như vậy, trong đó có tới hơn 10 chữ “vui thôi” và hơn 10 chữ “phiên phiến”. Cũng xin thưa rằng, số chữ mà nhà phê bình Đặng Tiến dùng chỉ là một phần trong đó.

Chỉ ra điều này, tôi muốn nói gì? Nhận xét về thái độ và phản ứng thời cuộc của những độc giả Da Màu ư? Cổ nhân đã dạy “Cái quan định luận”, huống chi là lấy vài khoảnh khắc ngắn ngủi dạo qua một diễn đàn mà nhận định về cả con người. Phê phán nội dung hay sinh hoạt trên Da Màu ư? Để thay thế với cái gì, một không khí trầm mặc, ai điếu? Đó là chuyện bứng cây sống, trồng cây chết. Kêu gọi cộng tác viên đóng góp một đề tài nào đó ư? Văn chương, tư tưởng viết theo thời cuộc, theo sự đặt hàng muôn đời vẫn là thứ văn chương tồi.

Tôi không rõ nữa. Mọi người ở đây đều đang sống thực, nghĩ thực, không bị ai cấm đoán hay bắt buộc, đều đang nói những điều họ cảm thấy nên nói, cần nói giữa khung cảnh này. Có lẽ mọi sự đang diễn ra theo cái trật tự tự nhiên đúng như nó phải thế. Nhưng tôi vẫn thắc mắc rằng, giữa một thế giới đang có bao nhiêu người bị thương tổn cần giúp đỡ, người bất hạnh cần an ủi, đang có bao nhiêu tiếng oán trách, bất bình, phẫn nộ cần phải được nghe thấy, giả như có  ai trong số họ chạy vào đây trong những ngày vừa qua, biết đâu họ lại không thấy như mình đã đi lạc chỗ? Tôi vẫn thắc mắc rằng, bên cạnh bao nhiêu công lao bàn cãi về chữ nghĩa tiếng Việt mấy tuần vừa rồi, chúng ta đã viết được chút ít nào có thể lấp bớt khoảng trống để lại trên xã hội hiện đại vì sự ra đi vĩnh viễn của tiếng hát Trương Chi:

Nào đứa em mồ côi khát sữa
Nào người quả phụ trắng khăn tang
Nào ai tan lìa đôi lứa
Nào ai sống nhục thác oan.
Nghe tiếng hát này nguôi dần nỗi khổ.
Dòng sông như lụa quấn quanh người.”

Chúng ta hồ hởi gặp nhau, tay bắt mặt mừng giữa những không gian ảo mà chính chúng ta gọi là “bữa tiệc”, là “chiếu rượu”. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, phải chăng cách diễn đạt đó biểu thị từ vô thức, Da Màu vô hình chung đã trở thành một nơi tự khép kín với sự đồng thuận của mọi người, tách biệt với một phần thực tế cuộc sống? Và với không gian tối tăm bao phủ bên ngoài những bức tường của nó, nơi hơn lúc nào hết đầy dẫy áp bức và đấu tranh, một ngày nào đó, khi chính một người từ “cuộc vui” văn nghệ giản dị mà thân mật theo cách nhìn của chúng ta bị vấp ngã trong bóng tối, bị thương tổn vì một cạm bẫy độc địa, Da Màu có làm nên được sức mạnh hỗ trợ tinh thần, có khiến được người ta nhớ đến khi cần tìm sự động viên, đồng tình, hay đó sẽ là dịp nó nhận chân rõ nhất cái lẽ phù du về những chốn tháp ngà:

Khi vui thì vỗ tay vào,
đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai”.

Mayakovsky đã từng nhắc nhở người cầm viết “Đẹp mà không son phấn, lớn lao mà không ầm ĩ huênh hoang, mạnh mẽ mà không thô bạo.” Những điều đó đều thuộc về các khuôn thước của trực giác, không thể dùng sở cứ bên ngoài mà đo đạc, ước lượng.  Khi dùng câu nói trên làm kim chỉ nam cho bài viết này, do đó, tôi cũng đã viết bằng những cảm nhận biến thiên không rõ nét, có được sau khi đối chiếu hiện thực với một thể thái lý tưởng ít có thật trên đời. Một cách khiêm tốn, bài viết này mong rằng, cũng như ước mơ của Mayakovksy, những gì nó ngụ ý mong muốn đối với Da Màu không hoàn toàn là một ảo tưởng hoang hư, mà ít nhất cũng chứa đựng đôi ba điều thiết thực nhỏ nhoi. Những gì xét ra về thực tế có hão huyền, thiếu cơ sở, cũng xin được có ích cho đời như cỏ, như rác vùi xuống đất sâu cho cây xanh lá…

Ba ơi, con không nói rõ ai cả, nhưng con cảm thấy có gì lệch lạc đâu đó!

Xin mượn câu kết vở kịch “Hồn tôi ở tận miền sơn cước” của văn hào William Saroyan để chấm dứt bài này.


[1] Giáo hoàng Pius IX đã tuyên bố năm 1859 với một phái đoàn cao cấp đại diện cộng đồng Do thái đến thỉnh cầu cho gia đình Mortara: “Ta không thèm quan tâm đến chuyện thế giới nghĩ gì”. Năm 1865, ông khẳng định: “Ta có quyền và có bổn phận làm những điều đã làm với đứa bé này, và nếu phải làm lại từ đầu, ta cũng sẽ làm y như vậy”. Năm 1871, trong một bài diễn từ, ông gọi những người Do thái ở La Mã là lũ chó, và nói rằng: “lũ chó đó, hiện giờ chúng có quá nhiều ở La Mã này, chúng ta nghe tiếng chúng tru lên ngoài đường, và đi tới đâu cũng bị chúng quấy nhiễu”.

[2] Kiêm Đạt, Lịch sử tranh đấu Phật Giáo Việt Nam, Phật Học Viện Quốc Tế, 1991, tr. 256.

.

bài đã đăng của Trần Thiện Huy


20 bình luận »

  • Ngô Nguyên Dũng viết:

    Thưa Anh Trần Thiện Huy,

    khi tôi viết những bài về chữ và nghĩa của tiếng Việt để góp mặt trong Da Màu trong khoảng thời gian gần đây, thỉnh thoảng tôi đã tự hỏi, nội dung của những bài viết ấy có phù phiếm không trong bối cảnh hiện nay? Cũng như tôi đã đặt nhiều dấu hỏi lớn về chủ trương của Da màu, vì hoàn toàn không được đọc bất cứ bài viết nào đả động tới các vấn đề thời sự sôi động ở trong nước gần đây.

    Để rồi tôi tự chọn cho mình câu trả lời, có lẽ Da Màu là tờ báo chuyên về văn chương và ngôn ngữ theo tiêu chuẩn: “Thúc đẩy sự cảm thông … qua các hình thái văn học nghệ thuật”.

    Vì vậy, tôi tương đối an tâm tiếp tục làm công việc “phù phiếm” của mình.

    Chủ trương của tôi: khi muốn tìm hiểu các vấn đề thời sự, tôi tìm đọc những trang báo khác. Tôi không mong đợi cũng như đòi hỏi Da Màu nhất thiết phải làm công việc ấy. Với cương vị của một người chuyên viết về lãnh vực văn chương, tôi cộng tác với Da Màu vì vậy. Và tôi viết với tất cả khả năng hạn hẹp của một cá nhân độc nhất. Có “vui” đó, nhưng không có ý để “chơi”, và nhất định không bao giờ “phiên phiến”, là chủ trương của riêng tôi. Văn chương có thể đáp ứng một vài nhu cầu tinh thần, nhưng không thể giải quyết mọi vấn đề nhân sinh.

    Hy vọng Anh cũng như các Bạn trong Ban biên tập và Độc giả Da Màu nhận ra những điểm ấy.

    Trân trọng,
    Ngô Nguyên Dũng.

  • đỗ xuân tê viết:

    Khi tôi đề nghị khép lại cuộc thảo luận bàn tròn (gọi đùa là chiếu rượu hay cái gì đó cho vui, chứ rượu đâu mà uống người đâu mà say) sau bài viết của anh Lê Hữu vì thấy không còn những ý mới cho ‘cốt lõi’ của vấn đề, chờ bài viết mới của LH như DM thông báo sẽ thảo luận tiếp. Sau đó anh Trần Thiện Huy, tuy đồng ý với quyết định của tâp thể BBT nhưng có nêu một ý riêng, ‘tại sao một cuộc thảo luận giữa những con người thiện chí lại đi đến chỗ mọi người trong cuộc đều đồng ý rằng giờ phút này đây nên chấm dứt thì hơn? Điều đó đặt ra một câu hỏi quan trọng hơn hết: thật sự cách hiểư của chúng ta là như thế nào về hai chữ Da Màu?’ Tôi thấy đây là một câu hỏi rất ‘Da Màu’ và khen ngầm lối làm việc của BBT rất tôn trọng quyền phát biểu cá nhân ngay cả trong nội bộ của mình.

    Nay đọc phần cuối của bài viết gửi cho, ‘Bạn đọc của DM thân mến’, tôi phần nào có sự ‘thất vọng’ khi anh TTH không còn thoáng đạt như thiện ý của mình trước đây. Tôi chỉ xin bổ sung một ý nhỏ là phần comments chính là ‘thước đo’ sự phản hồi và cảm nhận của độc giả. BBT Da Màu dọn món ăn, độc giả chúng tôi thưởng thức. Tất nhiên một tạp chí uy tín như DM, với các tác giả tên tuổi về bề dày nghiệp vụ và kinh nghiệm trên nhiều lãnh vực, thì chất lượng bài viết nào cũng đều được chúng tôi đọc và trân trọng. Không có ‘bình luận’ về bài viết nào đó ‘không có nghĩa là bài viết đó không hay hoặc ít được sự yêu thích của độc giả’. BBT và các tác giả cũng hiểu điều này, còn việc chọn menu, ai viết và viết về cái gì thì là trách nhiệm của BBT. Da Màu đối với tôi như một Cầu Vồng: tạp chí văn chương, đa dạng vì có Ngũ Sắc: ngôn ngữ, tín ngưỡng, phái tính, văn hóa, màu da, (không thấy có chính trị thời sự). Tôi thiển nghĩ văn học có vai trò trách nhiệm với những biến chuyển của xã hội, nhưng không nhất thiết phải chạy theo từng ngày với nỗi bức xúc của nó mà người cầm bút phải tính đến hệ lụy của nó bằng trí tuệ và cách nhìn khách quan của mình.

    Trân trọng,
    đỗ xuân tê

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Năm 1972, người ta kể lại có thấy 1 Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn suốt ngày chỉ chìm đắm trong rượu, suốt đêm ngồi nhìn thờ thẩn xa xăm ở cái quán bar của ca sĩ Khánh ly trên đường Đồng khởi (tôi nhớ không chính xác con đường lắm), người ta ái ngại và lo lắng cho chàng nhạc sĩ đã từng là thần tượng phản chiến của họ. Nhưng thật bất ngờ, sau đó “chàng ấy” đã cho ra lò hàng loạt ca khúc lay động nhân tâm yêu chuộng hòa bình trong nước và trên thế giới, khi cuộc chiến đang Việt nam đang ở giai đoạn dầu sôi lửa bỏng. Và người ta không bao giờ có thể quên được giai thoại ấy !…..

    Thưa anh Trần Thiện Huy cũng như anh Ngô Nguyên Dũng !

    Tôi thấy ý kiến các anh điều đúng cả. Không có ai lạc lối, cũng không có ai đã tìm thấy được đường đi hiện nay. Tôi không biết con đường thênh thang, hiu quạnh, lặng lẽ,.. của Trịnh sẽ còn dài đến thế hệ nào, nhưng có 1 điều chắc chắn ở đây như anh Trần Thiện Huy đã nói :”…Nhưng tôi vẫn thắc mắc rằng, giữa một thế giới đang có bao nhiêu người bị thương tổn cần giúp đỡ, người bất hạnh cần an ủi, đang có bao nhiêu tiếng oán trách, bất bình, phẫn nộ cần phải được nghe thấy, giả như có ai trong số họ chạy vào đây trong những ngày vừa qua, biết đâu họ lại không thấy như mình đã đi lạc chỗ?…..” và lại cũng chắc chắn như anh Ngô Nguyên Dũng nói : “Thúc đẩy sự cảm thông … qua các hình thái văn học nghệ thuật”. Điều đó không thể thiếu.

    Thế nên mới thấy càng yêu nhạc Trịnh hơn là vậy đó !

    …..Mỗi ngày tôi chọn 1 niềm vui,…và tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống. Vì đất nước cần 1 trái tim…..

    Kính !
    Trịnh Trung Lập

  • Nam Dao viết:

    Tác giả Trần Thiện Huy gợi ý về một khía cạnh ”có tâm và có tầm”.
    Tôi không nghĩ ông đề đạt với DM một nền văn chương thời sự hay một nền văn chương chính trị. Chúng ta quá ”ớn” với những khẩu hiệu, tuyên ngôn, lòng xót thương kiểu quốc văn giáo khoa thư, và những bức xúc ngoài da súng lục dao găm đi giải phóng. Có lẽ, ông nghĩ, văn chương không thể đứng ngoài xã hội, vui (vơí nhau) thôi, phiên phiến như một cuộc du ngoạn chữ (có nghĩa càng tốt, nếu không, thì phiên phiến cũng chẳng sao!). Có lẽ, lại có lẽ, ông kêu văn chương nên có tí chút ”dấn thân”, dù ý có cũ mèm đấy, nhưng cũng vinh danh những nhà văn nhà thơ viết có ý thức về những Thái Hà, Bát Nhã, Bauxite Tây Nguyên, đường Lưỡi Bò… chứ không lông bông khoái cảm điên rồ nhưng lại hợp lý trong 1 siêu thị Nam Cali hay 1 góc phố khi ngắm xe điện lòng vòng trước khi ghé đầu chiếc cầu San Francisco nổi tiếng. Và viết, như văn chương, về những tang thương xã hội (Việt Nam), cho ra văn chương. Viết thế, chẳng dễ, không thể đẻ như gà đẻ trứng. Tôi chỉ nhắc, DM cũng từng trân quí văn chương trong chiều hướng đó: lấy thí dụ, văn Cung Tích Biền chẳng hạn.
    Đồng ý với ông TT Huy, văn chương không nên tầm phào. Vì nó sẽ chỉ là tầm phào, không thể vươn lên thành văn chương được!
    Và văn chương, không phải khoa học, xin chớ khách quan đo đếm thực nghiệm. Văn là mang cái chủ quan của người viết – trí năng và cảm quan thân xác – ra chia sẻ với người đọc, những người sẽ tái tạo cái chủ quan người viết qua lăng kính đọc của mình. Nhưng phiên phiến, vui thôi, trong một thời bất tòng tâm tang thì… cũng chẳng chết ” thằng Tây say ” nào, chỉ sợ rằng vui là vui gượng kẻo mà… ai tri âm đó mặn mà với ai?

  • đứa bé viết:

    Có phải tâm ý của Tác giả Trần Thiện Huy như 2 câu thơ xưa không :
    “Thương nữ bất vi vong quốc hận
    Cách giang do xướng Hậu Đình hoa” ?!

  • Đặng Tiến viết:

    Phiên phiến trả lời:
    Đổ chung 10 lít rượu vào một thùng, thì sẽ có một thùng 10 lít rượu.
    Đổ chung 10 cái phiên phiến vào một thùng, chưa chắc gì đã ra một thùng phiên phiến.
    Thử xem.
    Vui thôi mà !!!
    Đặng Tiến

  • Lam Truong Phong viết:

    Ông Đặng Tiến viết: “Đổ chung 10 lít rượu vào một thùng, thì sẽ có một thùng 10 lít rượu. Đổ chung 10 cái phiên phiến vào một thùng, chưa chắc gì đã ra một thùng phiên phiến.”

    Tôi đồng ý với xác định đầu tiên của ông, nhưng không đồng ý với xác định thứ nhì của ông bởi lý do sau đây:

    Trong fuzzy logic, AND operation được định nghĩa như sau:

    x AND y = minimum(truth(x), truth(y))

    Truth (X) là trị số nằm giữa 0 và 1. Một cái phiên phiến là một lít dung dịch không ra rượu, mức độ phiên phiến càng nhiều thì truth (X) càng gần 0 và ngược lại. Như thế, đổ hai lít phiên phiến trộn vào nhau thì sẽ là hai lít phiên phiến vì min của hai trị số nằm giữa hai trị số 0 và 1 sẽ là một trị số trong khoảng [0,1]. Cứ như thế đổ mười lít phiên phiến thì sẽ là một thùng gồm mười lít phiên phiến.

  • Trần Doãn Nho viết:

    Liên hệ

    Có liên hệ nào giữa sự kiện Bát Nhã với Ban Giám Khảo giải Nobel bảo vệ quyết định của họ (1) trong việc trao giải Nobel Hòa Bình cho tổng thống Obama không?
    Có lẽ là không!
    Có liên hệ nào giữa vụ xử các ông Vũ Hùng, Nguyên Xuân Nghĩa, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Mạnh Sơn tuần rồi và tổng thống bị lật đổ Zelaya của Honduras hiện vẫn còn trốn trong tòa đại sứ của Ba Tây không?
    Có lẽ là không!
    Có liên hệ nào giữa lễ tấn phong tân Giám mục ở Đồng Nai với chuyện Ban biên tập cùng 70 phóng viên, nhà báo và nhân viên văn phòng của tờ tạp chí Tài Chính ở Bắc Kinh (2) tuyên bố từ chức không?
    Tất nhiên là không!
    Có liên hệ nào giữa thầy Quảng Độ, bác sĩ Nguyễn Đan Quế vẫn còn bị quản chế với việc tổng thống Obama tạm hoãn việc tiếp đón đức Đạt Lai Lạt Ma không?
    Tất nhiên là không?
    Có liên hệ nào giữa nhận xét của ông Lê Hiếu Đằng cho thấy chính quyền địa phương “vô trách nhiệm”, tạo ra một “tiền lệ hết sức nguy hiểm” trong vụ Bát Nhã và nhận xét của Jay Leno về việc Obama đoạt giải Nobel Hòa Bình “Thật hết sức kinh ngạc, [tổng thống Obama] đoạt được giải Nobel Hòa Bình. Mỉa mai thay, thành tích lớn nhất của vị tổng thống này cho đến bây giờ là… đoạt Giải Nobel Hòa Bình” (3).
    Tuyệt đối là không!
    Có liên hệ nào giữa vụ dân oan đòi đất ở Việt Nam và vụ Bắc Hàn thử nghiệm đạn đạo tầm xa không?
    Tuyệt đối là không!
    Có liên hệ nào giữa vụ Bâu Xít Tây Nguyên với buổi thiền hành im lặng ở Paris hôm 11/10 ở Paris ủng hộ các tu sĩ Bát Nhã không?
    Không, không, không!
    Có liên hệ nào giữa cô tù nhân Lê Thị Công Nhân với biến cố lịch sử 30/4/1975, hiệp định Paris 1973 với Cải Cách Ruộng Đất, Trần Dần với Lê Công Định, Nguyễn Khải với Trịnh Công Sơn không?
    Hoàn toàn không!
    ……….
    Vâng, giữa thế giới bùng nổ thông tin hiện nay, không có cái gì liên hệ đến cái gì.
    Mà cũng chẳng cần liên hệ cái gì với cái gì.
    Đèn nhà ai nấy rạng!

    _______________________________________________________________________________________
    (1) AP: http://news.yahoo.com/s/ap/20091013/ap_on_re_eu/eu_nobel_peace_obama
    (2) BBC http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2009/10/091013_caijing_resignations.shtml
    (3) JAY LENO “That’s pretty amazing, winning the Nobel Peace Prize. Ironically, his biggest accomplishment as president so far … winning the Nobel Peace Prize.”, New York Times 11/10/09. http://www.nytimes.com/2009/10/11/weekinreview/11leibovich.html?_r=2&ref=television

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Trong 1 bài tùy bút, Ông Trần Doãn Nho có bộc bạch rằng rất khoái cái cách phân tích 6 nguyên nhân gây xung đột của các nền văn minh trên thế giới hiện nay (như văn minh Phương tây – Hồi giáo,…) của tác giả Huntington…..

    Mặc dù trong 6 luận cứ đó, tôi thấy Huntington chẳng hề đả động tới 1 yếu tố cũng quan trọng khác, đó là sự phán xét của con tim nhân loại (xin lưu ý hoàn toàn khác với sự phán xét của lý trí) như: thấy nghèo thì thương, thấy đau thì giúp, thấy thiếu thì cho, thấy chết thì xót xa,…..

    Tại sao Việt nam “được cho vào” thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an LHQ, tại sao Việt nam “được cho vào” WTO, tại sao nước này nước nọ cho vay, viện trợ ODA, bão lụt, HIV, H1N1,…. Có liên hệ nào chăng? Thưa Ông TDN?

    Có lẽ vì thế mà Ông TDN nhất định muôn đời quyết chia làm 2 bờ đối mặt chừng 85 triệu con tim dân Việt và 1 con tim thứ 85 triệu lẻ 1 – con tim Việt nam chăng?

  • Lam Truong Phong viết:

    Trong chaos theory, Butterfly Effect được tóm gọn như sau :“a butterfly’s wings might create tiny changes in the atmosphere that may ultimately alter the path of a tornado or delay, accelerate or even prevent the occurrence of a tornado in a certain location. The flapping wing represents a small change in the initial condition of the system, which causes a chain of events leading to large-scale alterations of events. Had the butterfly not flapped its wings, the trajectory of the system might have been vastly different. While the butterfly does not “cause” the tornado in the sense of providing the energy for the tornado, it does “cause” it in the sense that the flap of its wings is an essential part of the initial conditions resulting in a tornado, and without that flap that particular tornado would not have existed”
    Trích http://en.wikipedia.org/wiki/Butterfly_efféct

    Nếu nhìn những sự kiện chính trị xảy ra trên tầm mức địa lý chính trị (geoplitics) cũa thế giới thì e rằng câu kết luận của ông Trần Doãn Nho :”Vâng, giữa thế giới bùng nổ thông tin hiện nay, không có cái gì liên hệ đến cái gì. Mà cũng chẳng cần liên hệ cái gì với cái gì. Đèn nhà ai nấy rạng!” không được thuyết phục lắm

  • Nam Dao viết:

    Thưa các bạn

    Góp ý ở trên, tôi có viết :…”chứ không lông bông khoái cảm điên rồ nhưng lại hợp lý trong 1 siêu thị Nam Cali …” nhưng không hề có ý châm chọc chỉ trích gì Nguyễn Thúy Hằng, một nghệ sĩ tôi yêu mến và quí trọng, đã (và đang) viết trên DM một loạt bài với cái tựa ”thời hôm nay, khoái cảm và điên rồ hợp lý”. Nghĩ lại, cái tựa đó đã ẩn sâu vào tiềm thức tôi, và khi xử dụng loại ngôn từ gây mê này, tôi có thể gây ngộ nhận. Nhưng, cũng xin ” tu từ”: tôi thì khoái cảm điên rồ nhưng hợp lý, mà Thúy Hằng thì khoái cảm và điên rồ hợp lý. Như vậy, khác biệt khá rõ. Một bên là khoái cảm …hợp lý, một bên là điên rồ hợp lý, bạn đọc cứ chọn một, và bắt chước anh Đặng Tiến, vui thôi mà.
    Thúy Hằng đừng hiểu lầm mà giận tôi nhé.
    Trân trọng
    ND

  • Trần Doãn Nho viết:

    Chào anh Trinh-Trung Lap,
    Cám ơn anh đã góp ý với tôi.
    1. Vâng, như anh đề cập, trong bài tùy bút “September 11”, viết cách đây 8 năm sau vụ 9/11, tôi khoái cách phân tích 6 nguyên nhân gây xung đột của các nền văn minh trên thế giới của Huntington. Trong đoạn kết, tôi có giải thích rằng “Trong cái tâm trạng bối rối, hoang mang sau biến cố 11/9, bỗng nhiên đọc được bài báo viết trước đó tám năm, đưa ra một lý giải về nguồn gốc sâu xa của nó, tôi cảm thấy thú vị.Tôi cũng có nói thêm là “rất có thể ông ta sẽ sai, vì dù sao, những gì ông viết ra chỉ là luận thuyết”.
    Mặt khác, vì Hungtington chỉ bàn về nguyên nhân dẫn đến sự xung đột, thì làm sao ông ta có thể thêm vào một yếu tố hoàn toàn không dính líu đến sự xung đột, có thể nói là phi-xung đột, là “chấm dứt sự xung đột”, là hàn gắn vết thương. “Thấy nghèo thì thương, thấy đau thì giúp…” , theo tôi, chẳng phải là yếu tố của một luận thuyết nào. Nó thuộc về bản năng của con người, nhờ đó mà có đối thoại, gặp gỡ, trao đổi, nhờ đó mà có tôn giáo, đạo đức…Và cũng nhơ đó, mà trước những điều bất công, áp bức, trước những sự dối trá, người ta lên tiếng, người ta đòi hỏi, người ta vạch ra những điều sai lầm của những kẻ cầm quyền, mục đích cũng chỉ để góp phần làm cho đất nước tươi đẹp hơn. Anh Lap “thấy nghèo thì thương, thấy đau thì giúp…” nhưng thấy “giàu do ăn cắp của công, do tham nhũng”, thấy kẻ “dùng quyền thế để bịt miệng người cô thế” chẳng hạn thì không biết anh có giận không? Mà nếu giận thì anh có lên tiếng không?

    “Sự phán xét của con tim nhân loại” thì có liên hệ đến cứu trợ thiên tai bão lụt, đến viện trợ cứu giúp những người bệnh HIV, cúm heo, cúm gà,(mà đồng bào hải ngoại đã đóng góp rất nhiều và rất thường xuyên) nhưng chắc chắn là không liên hệ gì đến việc Việt Nam được vào Hội Đồng Bảo An LHQ, vào WTO hay loại viện trợ có tính chất chính trị ODA cả, thưa anh Lap.
    Cuối cùng, 1/85 triệu mà chia thành “hai bờ đối mặt” thì không cân đối tí nào. Xin anh tính lại, thưa anh Lap.

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính gửi anh Lam Truong Phong !

    Không hẹn mà gặp nhau ở đây, tôi cũng phải “vô duyên” (hoặc có thể hiểu là vô tư) mà thú nhận với anh rằng tôi rất khâm phục cái suy luận “fuzzy logic” của anh về 10 cái phiên phiến và cái gọi là “non-related” mà anh đã đề cập. Rất vui vì có 1 người companion như anh !

    Kính !
    Trịnh Trung Lập

    ——————————————————————————-
    Kính thưa anh Trần Doãn Nho !

    – Khi tôi nói “sự phán xét của con tim nhân loại”, có nghĩa tôi đang nói đến căn nguyên nguyên của 1 chính sách, chứ không phải cách hàn gắn vết thương như anh nghĩ. Xin anh nhớ lại, mới đây thôi, khi vấn đề dân chủ và nhân quyền của Việt nam được Chính phủ Việt nam báo cáo trước Hội đồng LHQ, có tới hơn phân nửa đại diện các nước lên tiếng ủng hộ và tán thành những thành quả của Việt nam. Nói 1 cách “đại ngôn” rằng, tuy không được tham dự phiên họp đó, nhưng tôi có thể chắc chắn rằng, đại diện các nước Châu Phi, 1 ít nước Châu Mỹ, Châu Âu,…đã quyết định đứng về phía Việt nam, chỉ vì 1 lẽ đơn giản : Đó là phương cách duy nhất để họ thông điệp cho Chính phủ Việt nam tinh thần cầu thị cho 1 “nền dân chủ và nhân quyền” tại Việt nam mà thôi. Và đó là cách họ thương dân Việt.
    Do vậy cùng là người Việt, chúng ta cần xem lại thái độ thù địch với 1 số nhân sĩ trong nước, chẳng hạn như Trịnh Công Sơn. Ông ta có gì đâu ngoài cái chết chỉ mới được gọi là “hưởng dương” thôi chứ chưa được “hưởng thọ”, quá ngắn ngủi. Hồ sơ bệnh án lúc lìa trần, thói quen ăn uống của Ông sinh thời, di sản tinh thần ông để lại, đã cho thấy ông là 1 con người muốn “sống” chứ không phải chỉ muốn “tồn tại” theo thuyết tháp nhu cầu (từ sinh lý cho đến danh vọng của Maslov).

    – Cũng rất hạnh phúc khi được anh hỏi : ” nhưng thấy “giàu do ăn cắp của công, do tham nhũng”, thấy kẻ “dùng quyền thế để bịt miệng người cô thế” chẳng hạn thì không biết anh có giận không? Mà nếu giận thì anh có lên tiếng không?”. Anh hỏi tôi câu đó là anh đang hỏi cả 1 dân tộc đó anh ! Anh có nghĩ tới câu “chim lồng cá chậu” không anh ? Anh có biết chăng 1 cơn bão số 9 ở miền trung vừa qua có thể sẽ không làm cho người ta chết, nhưng sẽ (và đã giết chết) 2 con người cô độc đang leo lên sửa mái nhà trú ẩn trong đêm giông tố ! Gió hất tung bay 2 cái trọng lượng không đủ tiêu chuẩn BMI chút nào ! Anh có biết để viết những dòng chữ này, có khi người ta phải trả giá như thế nào không anh ! Anh ở hải ngoại, thật xa, thật an toàn, anh chỉ nghĩ và viết thôi chứ chưa chắc đã sống trọn 1 khoảng thời gian để có thể nói như Trịnh “…em ra đi nơi nay vẫn thế…”. Cái nghĩa “vẫn thế” của Trịnh, cái “im hơi lặng tiếng của Văn Cao” có đáng giá gì đâu ! Như tôi đã nói, không có ai lạc lối, mà cũng chẳng có ai “thấy đường”, dù sao thì cũng cảm nhận có thể ngồi với anh 1 tuần rượu để “tay bắt mặt mừng” rồi đó ! Không biết anh đã thông cảm với tôi khi, nói như Nam Dao, “Và văn chương, không phải khoa học, xin chớ khách quan đo đếm thực nghiệm”. Con số 1/85 không phải là toán học, mà chỉ là “chút trò đùa của hư vô”, chỉ là cái cảm giác của 1 con tim trong mấy chục triệu con tim mà thôi.

    Viết cho anh khi mới vừa xong có 1 tuần rượu thôi ! Chỉ là đệ tử của Lưu Linh và Trịnh Công Sơn mà thôi. Xin anh hiểu lòng tôi !

  • My Khanh viết:

    Khi đọc bài chủ, tôi lưu ý đoạn văn sau đây: Một ngày nào đó khi chính một người từ “cuộc vui” văn nghệ giản dị mà thân mật theo cách nhìn của chúng ta bị vấp ngã trong bóng tối, bị thương tổn vì một cạm bẫy độc địa, Da Màu có làm nên sức mạnh hổ trợ tinh thần, có khiến đưọc người ta nhớ đến khi cần sự động viên.

    Tôi tạm hiểu, tác giả đặt ra tình huống “Lỡ”: Ta (độc giả và tác giả) bị vấp ngã thì Da Màu đóng vai trò gì để giúp đỡ tinh thần nạn nhân, hay Da Màu chỉ là một chốn vui chơi? (Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi họan nạn thì nào thấy ai)

    Tôi nghĩ, Da Màu là tờ báo văn chương online. Cái thuyền chuyên chở văn chương vốn dĩ đã nhỏ bé. Nội cái việc phổ biến tiếng Việt, viết sao cho đúng ngữ pháp, áp dụng chữ Việt cho đúng nơi đúng chỗ để tiếng Việt không bị giết chết trên xứ người, đã cho thấy gánh nặng của một website văn chương nhiều lắm. Thử xem, lũ trẻ viết văn đi rồi sẽ thấy điều này.

    Giờ còn bắt chở thêm những khối “Tinh thần xuống dốc” của bạn đọc nữa thì e rằng quá tải cho Da Màu lắm.

    Mỗi người có một cái khó khăn của riêng họ, bạn ạ. Ở nước ngoài, chắc chắn không ai gặp khốn khổ vật chất như người trong nuớc. Vì vậy, hãy vui mừng còn thấy mình may mắn. Nếu như Độc giả “Lỡ” bị xuống tinh thần, chán nản, thất vọng, hụt hẫng, bi quan, etc…..Sao không níu lấy Chúa, Phật hoặc đi gặp Bác sĩ trị liệu tâm lý, mà lại đổ trách nhiệm ấy lên cho một tờ báo online?

    Đừng đặt quá nhiều kỳ vọng vào một tờ báo online bạn ạ. Lỡ vì một lý do nào đó, mất điện, computer virus,…màn hình xoá trắng, dữ kiện không còn, lúc ấy mình ra sao?

    Tóm lại, ta phải tự đứng trên chân của mình là chính yếu.

    Còn việc đấu tranh chống Cộng, thương dân nghèo, đã có muôn vàn website đấu tranh cho tự do của dân Việt kia mà. Thậm chí có các tổ chức hội đoàn, tôn giáo, báo chí hô hào quyên góp tiền của, nhân lực. Đâu phải chỉ có Da Màu là tờ báo duy nhất ở hải ngoại có đặc quyền ấy.

    Bữa nay tôi không phiên phiến như mọi lần vì cảm thấy sự phiên phiến của mình bị trách cứ. Nhưng này, cho phép tôi thắc mắc nhé.

    Có bao giờ tác giả tự hỏi, tại sao lại có nhiều “phiên phiến” và “vui thôi” không nhỉ?

    Và Da Màu có ý gì khi đăng tải “Khi vui thì vỗ tay vào”? Tôi có cảm giác, có phải bọn tôi phiên phiến nhiều quá chăng? Hãy cám ơn sự “phiên phiến “ của chúng tôi, vì nếu không phiên phiến, chúng tôi sẽ trở thành các nhà phê bình văn học hết thảy. Mà khi đã thành nhà phê bình thì cọng tóc sẽ chẻ ra thành 10 đấy.

  • Hoài Tử viết:

    Đọc bài này của Trần Thiện Huy làm tôi rơi vào hư ảo của DM. Tôi thì không thường xuyên đọc DM từ khi nhận thức được cái khía cạnh gọi là “văn chương không biên giới” mà theo tôi thì nó chỉ là nguỵ từ của “nghệ thuật vị nghệ thuật” . Nhưng cứ mỗi lần vào thì lại thường thấy những cuộc “chơi chữ” bâng quơ . Muốn tìm một ý niệm sống thực ở đây thì chỉ là “nghề chơi cũng lắm công phu” . Từ DM cho đăng về TCS, Ngô Kha cho đến phỏng vấn VAALA cho đến văn chương ẻo lã nhưng không thấy cái mặt khác như chuyện Liên Thành hay cái ngọn cờ vàng vẽ bằng dây kẻm gai mà không thấy lòng uất nghẹn của những “boat people” diễn hành ở thủ đô tị nạn . Nhiều khi cứ đọc những lời DM nào là văn chương không biên giới, nào là văn chương vì văn chương nhưng những đường lối chọn bài đã kẻ ra biên giới . Những câu chuyện Boxit, Bát Nhã, Bịt mồm kia chẳng lẽ không có được đến một vài chữ gọi là sáng tác gửi đến DM ?

    Khi người công dân Đức dồn phiếu cho Hitler thì họ nghĩ gì nhỉ ? Khi Hitler tàn sát nhân loại thì những người này nghĩ sao ? Tự hỏi những người này có mang tội với nhân loại hay không ?! Một lá phiếu chỉ là 1 lá phiếu của vạn ngàn lá phiếu nhưng lá phiếu của cây bút có thể làm thay đổi vạn nghìn hay triệu lá phiếu thì sao ? Như TCS chẳng hạn ngòi bút này đã từng làm thối chí những người đi đánh cộng . Vậy thì cái lá phiếu ngòi bút nó sẽ như thế nào ? Làm thế nào để cho nghệ thuật vị nghệ thuật mà không suy suyễn một nhân sinh, một xã hội ? Có thể được không ? Hay chỉ lã mỵ từ để bào chữa cho một cái ẩn tàng mưu lượt hay một nô lệ trung thành ?!

    Cảm ơn Trần Thiện Huy đã mạnh dạn nói lên nghệ thuật vị nhân sinh . Có thể Trần Thiện Huy cũng đã “nghề chơi cũng lắm công phu” để bài được đăng dù nằm trong BBT. Cảm ơn sư mạnh dạn đó .

    Lâu lắm rồi tôi cứ đi tìm và có lẻ cả đời mình cũng sẽ không bao giờ tìm được cái nghệ thuật vị nhân sinh của một người cầm bút Việt Nam nào đó nói ra được cái Gulag Việt Nam còn tệ hại hơn của Solzhenitsyn bởi vì cái nghệ thuật vị nghệ thuật nó cứ lấy báng súng AK47 mà nện vào tay bút của những kẽ sống thực. Nghệ thuật vị nghệ thuật nó đã đầy dẫy ở Sài Gòn trước khi giặc hiếp dâm nửa miền tự do còn lại .

    Đã 35 năm trôi qua . Những chiếc lá Việt Nam xa cành đã chứng minh tài năng trong mọi nghành nghề với các nước văn minh nhưng chẳng một cái lá nào có thể ghi lại những Gulag tàn khốc của mình . Diễn đàn văn chương cứ ca tụng nghệ thuật “bâng quơ” nếu có thì lại đề bạt đến những ngòi bút “nối giáo”. Cơn đau từ thịt da đâm thốc vào từng tế bào não đã bị đè bẹp . Nếu trở lại so sánh những lá phiếu bỏ cho Hitler và những cây bút bỏ phiếu không thực thì phải so sánh thế nào ? Nếu so sánh sự ảnh hưởng của lá phiếu cho Hitler và lá phiếu văn chương của người Việt Nam trong hiện sinh thì so sánh sao ?

    Giữa háng phân vân một tọa bàng
    Một đầu oai vũ gươm vô can
    Càn khôn sinh tử thùy man loạn
    Nghiệp dĩ định phân sử huy ngàn

  • Đặng Tiến viết:

    Vô chai phiên phiến:
    Cảm ơn Lâm Trường Phong đã tính lại chính xác, năm với năm rõ mười, tôi không còn biết cãi vào đâu.

    Và cảm ơn bạn cho biết là phiên phiến có thể vô chai, vào mùa nho năm nay.

    Vui thôi mà!!!
    Đặng Tiến

  • Huy Tử viết:

    CHÚNG TÔI KHÔNG VIẾT

    “Vi vô vi!” Lão Tử

    Chúng tôi chẳng viết:

    Bởi vì chúng tôi không biết,
    Hoặc, biết mà không dám thổ lộ,
    Biết, mà không có dịp thuận lợi,
    Biết, có cơ duyên thích hợp,
    nhưng không CẢM HỨNG để tỏ bày,…
    (cf. Hwy Tu, Triond blog)

    Huy Tử, S&FR,…

  • Trần Thiện Huy (author) viết:

    Cùng tất cả quý độc giả/cộng tác viên đã có nhã ý quan tâm đến bài viết này,

    Trước hết, tôi xin nói ngay điều quan trọng nhất tôi muốn làm rõ: đối với sự ủng hộ, đóng góp của quý vị, nhất là của những người cộng tác bài vở như quý anh Đỗ Xuân Tê, Ngô Nguyên Dũng, Đặng Tiến, Da Màu luôn luôn cần thiết và trân trọng. Nó quý nhất khi nó là những gì thật sự cá nhân, là suy nghĩ, là quan tâm, là sáng tạo của quý vị, không bị áp lực, không bị ảnh hưởng điều gì khác. Đối với chuyện này, không có “nhưng mà”, không có “nếu như”, không có “ngoại trừ” gì cả.

    Thứ hai, tôi phép trả lời những ý kiến trực tiếp đặt ra với tôi, và qua đó, hy vọng sẽ gián tiếp trả lời những ý kiến khác. Đầu tiên, xin nói rõ một chút về hình thức Da Màu và Bạn. Nó như một thứ nhật ký, được công bố để mở ra một khung cửa vào thế giới riêng của Ban biên tập Da Màu. Không nhất thiết, nhưng có lẽ trong đa số trường hợp, những bài viết thuộc thể loại này của chúng tôi sẽ có hình thức như một bức ảnh chụp, ghi lại một lát cắt thời gian giữa cuộc đời của người viết. Nó không giống như những bài chúng tôi trình bày về những suy nghĩ, quan điểm mà mình đặt nặng và giữ lâu dài.

    Nói như thế không có nghĩa là, người viết DM&B không phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về bài viết của mình như những bài viết khác. (Chịu trách nhiệm không phải chỉ là ký tên dưới bài viết rồi nói suông như vậy; theo cách hiểu của tôi, nó bao gồm việc bảo vệ ý kiến của mình, đồng thời tìm cách sửa chữa lại những điều sai trái mình đã gây ra, nếu có.) Cũng không phải là DM&B không phản ảnh trung thực và hoàn toàn quan điểm của chúng tôi. Nhưng đề tài mà một bài viết bình thường chọn lựa, cũng như những dữ kiện mà nó xử dụng thường được chọn lọc sao cho phản ảnh rõ nhất một vấn đề sẽ tồn tại lâu bền. Bài viết đoản kỳ, dĩ nhiên cũng có chọn lọc, và cũng có những ngụ ý lâu bền, nhưng giữa 2 thể loại có sự chênh lệch về sức nặng. Nói ví dụ, khi người ta viết về “Sự kiện nổi bật trong tuần”, sự kiện đó không thể mặc nhiên coi như nó sẽ nổi bật so với thời hạn một năm, một giai đoạn, một đời người.

    Những chuyện như tôi nhắc đến, chẳng hạn, bài viết về ngôn ngữ Việt, nó chỉ nghiễm nhiên xảy ra trong thời điểm tôi muốn ghi lại suy nghĩ của mình cho DM&B. Nếu tôi viết vào một tuần khác, tôi sẽ chọn lựa một sự kiện khác để mổ xẻ. Nó khác với việc khi tôi viết một bài không có giới hạn về thời gian tính, khi tôi có quyền chọn lựa những sự kiện tiêu biểu và có sức nặng nhất. Nếu trong trường hợp đó mà tôi nhắc đến bài viết về ngôn ngữ, người ta có thể hiểu rằng tôi coi đây là một hiện tượng nghiêm trọng, nhiều ý nghĩa cần ưu tiên mổ xẻ. Ở đây, nó chỉ đơn giản là một sự kiện mà tôi gặp phải trong khung thời gian của bài này.

    Nhưng dĩ nhiên, đã nhắc tới sự kiện nghĩa nói cho cùng vẫn là tôi có bày tỏ phản ứng với nó, thái độ với nó. Nhưng ở đây, đó không phải là thái độ chỉ trích hay than phiền – hay nếu có, cũng không phải là chỉ trích hay than phiền về hành động, ngôn từ cụ thể nào của ai. Những bài viết hay comment đó đã được ban biên tập Da Màu cho hiển thị, có nghĩa là, nếu nói ai có lỗi ở đây, thì lỗi đó là lỗi của ban biên tập. Không, việc tôi muốn nói đến nằm nhiều hơn ở cái chưa có, hơn là cái đã có.

    Có một câu nói, đầu tiên có lẽ là tự hào, nhưng sau đã thành mai mỉa, rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc có nhiều nhà thơ, dân tộc của các nhà thơ. Nó trở thành mai mỉa rõ nhất khi người ta nói “thi sĩ ở VN mọc lên như nấm”. Đôi khi nó chỉ mỉa mai các thi sĩ giả, nhưng đôi khi không đơn giản như vậy. Nói như vậy đâu có nghĩa là các thi sĩ có gì xấu xa hay có lỗi, nhưng là người ta muốn nói đến sự thiếu vắng những loại người khác bên cạnh thi sĩ. Vậy thì tôi muốn nói đến sự thiếu vắng cái gì? Như tôi đã thưa, tôi không biết. Tôi không hô hào chống Cộng hay thiên Cộng (dù là tôi dĩ nhiên có chính kiến riêng), không hô hào làm văn thơ thời sự, không đả phá cách nói này hay cách nói kia. Tôi chỉ muốn nói lên một cảm giác của mình vào thời điểm đó, và tại sao có cảm giác đó, cũng là một vấn đề tôi muốn sẽ trở lại vào lúc nào đó, với nội dung khái quát hơn.

    Da Màu xưa nay thường được nhìn vào như một tạp chí văn học; dĩ nhiên, điều đó hoàn toàn chính xác. Nhưng đi xa hơn khỏi danh từ, quan niệm của mỗi người về nội hàm của Da Màu bắt đầu chia rẽ. Tạp chí văn học phải chăng là nơi chỉ để đăng tác phẩm hư cấu, trần thuật, cùng với lý thuyết văn học, phê bình tác phẩm? Quan niệm như thế cũng không có gì không đúng. Nhưng đối với thực tế Da Màu thì không phải như vậy. Đã từ lâu, Da Màu mở rộng phạm vi của mình, đăng tải rất nhiều loại bài về nhân văn, xã hội, về những vấn đề cuộc sống, trong đó không loại trừ cả chính trị. Điều này rất phù hợp với quan niệm cá nhân của tôi. Nói rằng văn học không biên giới, nhưng những biên giới vẫn còn đó, văn học sáng tác, bút ký, phê bình… một mình làm thế nào vượt qua nổi? Vậy rồi cuối cùng, sự tồn tại của nó hy vọng sẽ có được tác dụng gì?

    Cái mà tôi muốn nói đến không phải là những cuộc phát biểu có sẵn, mà là sự dè dặt của một tỷ lệ độc giả, cộng tác viên, và những cây bút ở ngoài không muốn mở rộng cuộc tranh luận ra để đề cập đến những giá trị nằm ngoài phạm trù hư cấu sáng tác trên Da Màu. Cái mà tôi muốn nói đến, là tiếng vang đồng nhất và cộng hưởng trên Da Màu trong thời gian tôi viết bài này hoàn toàn nhất quán với hình ảnh Da Màu như một chỗ giành cho sáng tác siêu nghiệm (transcendental). Tôi nhắc đến những chuyện phiên phiến, chuyện viết bài ngôn ngữ, chuyện “bữa rượu” là để truyền đạt lại cái không khí cộng hưởng ấy. Tôi nhắc đến chuyện Bát Nhã, v.v. là vì ngay giờ phút ấy, tôi đang suy nghĩ về nó, đang thắc mắc rằng người ta có thể nói gì về nó như nhà văn và như người cầm bút. Tôi không có ý nói rằng, chuyện Bát Nhã giờ đây là chuyện chúng ta phải tập trung chú ý vào. Tôi chỉ thắc mắc rằng, sự vắng mặt của những bài về Bát Nhã trên Da Màu có ý nghĩa gì? Nó không khai thác được trong văn học, trong lý luận trừu tượng? Nó không thích hợp với Da Màu? Từ đâu ra những cái ý nghĩ đó, chúng đúng hay sai?

    Tôi thành thật rất lấy làm tiếc khi đã làm cho cá nhân những người viết cảm thấy cần giải thích về đề tài, về từ ngữ của mình. Điều này làm cho người ta thấy như tôi đang phản bác họ, tại sao anh viết cái này, hay tại sao anh không viết cái kia. Như đã nói, tôi muốn vẽ lại không khí của 1-2 tuần lễ mà tôi nghiền ngẫm ra bài viết của mình. Một bầu không khí là một cái gì vô cùng ngẫu nhiên, là kết quả của sự tập hợp vô số yếu tố. Tôi đã đọc những bài của quý anh Đỗ Xuân Tê, Ngô Nguyên Dũng viết ở nơi này nơi khác, tôi không bao giờ có ý nghĩ rằng các anh là những con người phù phiếm. Bài viết của tôi là một nội dung có kết luận mở, hướng về tương lai, kêu gọi những cái gì mới mẻ, bất ngờ sẽ đến. Bất ngờ là vì nếu chúng ta biết mình đang thiếu cái gì, chúng ta đã tự làm ra cái đó rồi. Nó không phải là một cố gắng bới móc quá khứ, đổ lỗi người này người kia để tỏ ra ưu việt hơn họ. Nhưng dĩ nhiên, tôi muốn cụ thể hoá mong ước của mình. Cái mà mới mẻ với người này chưa chắc mới mẻ với người kia. Tôi vẽ ra 1 bức tranh đã có sẵn, để nói rằng, theo ý tôi, cái mới tức là mới so với bức tranh này. Cái mới nghĩa là những cái mà tôi thấy chưa xuất hiện, hoặc xuất hiện chưa đủ, trên Da Màu. Mong muốn cái mới không đồng nghĩa với bài xích cái cũ.

    Độc giả có thể phản bác: nhưng qua ngôn ngữ của tôi rõ ràng là vẽ nên 1 bức tranh tiêu cực về những hoạt động gần đây trên Da Màu? Thưa rằng, vườn hoa không có trái cây thì không nuôi được kẻ đói, đó có thể là một sự thực tiêu cực, nhưng không kèm theo ngụ ý. Nó không có nghĩa là người trồng hoa không có mắt thẩm mỹ, không biết làm vườn, không có thiện chí giúp đời, hay vô dụng, thiếu trách nhiệm, đáng lẽ phải nghĩ đến chuyện đó… Nó chỉ muốn gợi ý rằng, những gì mặt đất sản sinh ra thì có muôn hình vạn trạng, cũng như nhu cầu của con người vậy. Khép kín chúng ta trong những giới hạn chết cứng, đó rất có thể là cuộc tự sát dần mòn.

    Và sau cùng, xin nói thêm 1 ý nhỏ: tôi nhận thấy nhiều độc giả hay đặt vấn đề, Da màu đăng bài này bài kia là có ý gì. Da Màu đăng bài “chống Cộng” như của hoạ sĩ Trịnh Cung cũng là có ý, mà đăng bài “thiên Cộng” như của ông Chu Sơn cũng là có ý. Tôi xin thành thật thưa, từ kinh nghiệm của mình rằng, Da màu không có nhiều ý đến như vậy đâu. Chúng tôi chỉ đơn giản là thấy bài nào có những điểm đáng đưa đến cho người đọc, thì đăng. Dù là người trong nhà, người thân, là ai đi nữa, mỗi tác giả ký tên dưới bài viết là người làm chủ ý tưởng trong bài viết đó.

  • Zoe Luong viết:

    – Văn chương, tư tưởng viết theo thời cuộc, theo sự đặt hàng muôn đời vẫn là thứ văn chương tồi. (Trần Thiện Huy)

    Tôi nghĩ ông Trần Thiện Huy viết câu này không có sự khảo sát. Hay la ông đã khảo sát và quả thật, không có tác phẩm văn chương, tư tưởng lớn nào do đơn đặt hàng mà có? Tôi quen thuộc với âm nhạc hơn, và đơn dặt hàng cho các vĩ nhân âm nhạc Tây phương thì đầy đống, khiến cho có lúc tôi nghĩ rằng, nếu không có những nhà quý tộc đó đặt hàng, liệu chúng ta có được Bach, Haydn, và Mozart như chúng ta đã có hay không? William Shakespear là kịch sĩ, thiết tưởng vụ đặt hàng cũng phải xảy ra (cái này tôi không rành, xin quý vị nhà văn điều tra và lên tiếng xác nhận giùm, cám ơn).

  • Trần Doãn Nho viết:

    Chào anh Trinh-Trung Lap ,
    Xin cám ơn những chia xẻ của anh về những vấn đề chung của đất nước. Theo tôi, có lẽ những ai có chút “tấm lòng” đều có những suy nghĩ không quá xa nhau. Nhưng xin phép anh được ngưng ở đây, vì nếu tiếp tục thảo luận thì có thể sẽ đi xa quá, đâm ra …phải chuyển qua Talawas, nơi khi nào cũng nóng sốt (Nhưng hình như nếu anh ở trong nước thì không thể vào trang mạng của Talawas, phải không anh Lap?). Xin cùng nâng côc với anh trong tuần rượu thứ hai và hy vọng có dịp “gặp lại” anh một lúc nào đó trong tương lai. Cũng xin thưa với anh, tôi đã “sống trọn 1 khoảng thời gian” ở trong nước… được 18 năm sau 4/1975, nên cũng hiểu đôi điều, không đến nỗi quá xa với thực tế.

    Chào anh Lam Truong Phong,
    Tôi hoàn toàn đồng ý với anh là luận cứ “…đèn nhà ai nấy rạng” của tôi không được thuyết phục lắm. Và xin nói thêm: hoàn toàn không thuyết phục! Thực ra, tôi đã sử dụng cách nói “ngược” để nhấn mạnh rằng trong thời đại thông tin ngày nay, không có cái gì là không liên hệ với cái khác, sau khi đọc đi đọc lại đoạn sau đây của Trần Thiện Huy (mà tôi cho là ý chính của bài viết):

    “Thiền sư Nhất Hạnh đáng lẽ ra đã phải nhìn thấy trước (hay nếu đòi hỏi như vậy là quá đáng, phải lo sợ trước) ngày này, và phải có những thái độ “thố tử hồ bi” hơn trong nhiều trường hợp, nhất là nếu có đọc lại những gì chính ông đã viết:
    “Tôi không ngủ được, một phần do nghĩ tới chùa Ấn Quang, đầu não của Giáo Hội, hiện giờ là một ngôi chùa hoang. Có lẽ Hà Nội lý luận rằng: Mỹ mà họ không sợ thì sợ gì chùa Ấn Quang? Họ lầm. Mỹ là Mỹ. Ấn Quang là dân. Ấn Quang không đơn độc trong cuộc đấu tranh. Dân chúng cùng khổ với Ấn Quang, thất vọng và hy vọng với Ấn Quang, thì Hà Nội không thể coi thường Ấn Quang. Quý thầy hiện nay trốn tránh ở đâu? Trong nước còn chưa biết, nữa là ngoài nước!”
    Nếu hy vọng là dân chúng sẽ cùng đấu tranh “vì” Ấn Quang, thì đó chỉ là một ý viển vông trong cơn tuyệt vọng. Nhưng nếu mong rằng dân chúng sẽ đấu tranh “với” Ấn Quang, chính là ông đã đúc kết được nhu cầu luân lý thực tế của xã hội Việt Nam. Vấn đề ở đây không phải là ở chỗ Ấn Quang; vấn đề là ở chỗ dân chúng phải “cùng khổ, cùng thất vọng và hy vọng” với Cao Đài, Hoà Hảo, với Làng Mai – Bát Nhã của chính ông, với Giáo phận Vinh, bất cứ nơi đâu con người đứng lên đòi công lý và lẽ phải. Và chính Ấn Quang, cũng như những đoàn thể, thực thể vừa nói, cũng phải nằm trong cái “dân chúng” ấy, một cái toàn thể cao cả hơn những thực trạng cục bộ của chúng ta
    (…) Và có lẽ chúng ta có thể hy vọng rằng, khi sóng gió tạm yên xung quanh Bát Nhã, 400 vị tu sĩ, tu sinh sẽ nghĩ đến những ký ức hôm nay như một cửa ải huấn luyện niềm tin của mình vào nhân loại. Họ sẽ sống lại những bài học của nó, khi nào tương lai đưa đến cho họ những lời kêu gọi tiếp viện giống như chính những gì họ đã từng gửi ra bên ngoài giữa một mùa mưa ác nghiệt “Hơn bao giờ hết, trong lúc này, chúng tôi rất cần đến sự giúp đỡ của các bạn. Chúng tôi đang cần những tấm lòng và khối óc của các bạn.”

    Tôi hoàn toàn đồng ý với Trần Thiện Huy: phải hướng đến một cái gì cao hơn sự cục bộ, cao hơn quan điểm “đèn nhà ai nấy rạng”.
    Trong ý nghĩ như thế thì “nóng sốt”như Talawas hay “nguồi nguội” như Da Màu, theo tôi, cái nào cũng có cái “dụng” riêng của nó!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch