Trang chính » Biên Khảo, Nhận Định, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Tình Yêu Trong Chiến Tranh

love and war

Tôi vẫn thường tự hỏi vì sao các nhà văn thời cổ của Hy Lạp khi viết huyền thoại đã cho thần ái tình Aphrodite yêu say đắm thần chiến tranh Ares đến độ phụ bạc ông chồng Hephaistus của nàng.  Tại sao cho tình yêu đi kèm với chiến tranh? Vô lý quá! Đáng lẽ đi kèm với thần chiến tranh phải là thần chết hay thần thù hận chứ.  Cho Hera vợ của Zeus đi kèm với Ares cũng còn hợp lý hơn. Có phải người ta ngầm nói rằng tình yêu trong chiến tranh là những mối tình bất hạnh, có số phận phải tan vỡ bởi vì Aphrodite nổi tiếng đa tình phụ bạc người yêu, không phải một mà nhiều người? Hay người ta cần có tình yêu để có thể chịu đựng được những đau khổ sợ hãi luôn luôn có mặt trong chiến tranh? Tôi chưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng nhưng lại tìm thấy một sự đồng dạng với huyền thoại Hy Lạp trong truyện ngắn của miền Nam. Trong 117 truyện ngắn của bộ Văn Miền Nam, đã từng xuất hiện trên các tạp chí Văn Học ở miền Nam từ 1958 cho đến tháng Ba năm 1975, có đến khoảng 60 phần trăm truyện ngắn viết về Tình Yêu trong khung cảnh Chiến Tranh.

Việt Nam có một lịch sử chiến tranh rất dài trải qua bao nhiêu đời; và bởi vì văn học bao giờ cũng phản ảnh lịch sử với đời sống và xã hội, văn học Việt Nam có rất nhiều tác phẩm có bối cảnh chiến tranh. Chinh phụ ngâm khúc là một thí dụ điển hình. Nàng chinh phụ đã đưa tiễn chồng ra trận rồi đứng nhìn theo:

Dấu chàng theo lớp mây đưa
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà
Chàng thì đi cõi xa mưa gió.
Thiếp lại về buồng cũ chiếu chăn
Đoái trông nay đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.

Hay ca dao:

Nàng về nuôi cái cùng con,
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng

Hay mơ hồ ngụ ý:

Anh đi em ở lại nhà
Vườn dâu em hái mẹ già em trông

Người xưa, đưa anh hùng ra trận cho uống rượu bồ đào đựng trong chén dạ quang. Bảo chàng cứ uống cho say bí tỉ đi bởi vì:

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi.

Người đi ra trận ít khi về. Odysseus là một trong những trường hợp hiếm có. Ông đi đánh chiếm thành Troy xa quê hương hai mươi năm.  Penelope, vợ của Odysseus, nhất định chờ chồng về mặc dù các nhà quý tộc quan lại cứ nài ép nàng phải tái giá.  Penelope dùng kế hoãn binh, nàng tuyên bố sẽ ưng thuận lấy chồng khác nếu họ đồng ý để nàng được hoàn tất cái áo nàng đan cho ông bố chồng.  Penelope ban ngày đan áo, tối lại bí mật tháo chỉ đan, mãi cho đến khi Odysseus trở về.  Penelope son sắt chờ chồng những hai mươi năm. Nàng Tô Thị của chúng ta không được may mắn đến thế, bà cũng son sắt chờ, cho đến khi hóa đá chàng vẫn không về. Và nhạc sĩ Lê Thương đã có những câu hát:

Nàng đứng ôm con, xem chàng về hay chưa? Về hay chưa?

Tôi rất tức các nhà viết huyền thoại của xứ mình. Sao không cho nàng hóa thành sấm sét đánh trốc gốc cây hay hóa thành cuồng phong bão tố mà lại cho nàng hóa đá, bắt nàng hứng chịu gió mưa muôn đời như thế.

Vương Thanh trong tác phẩm Giờ Hưu Chiến, đã mượn lời một nhân vật quân nhân tên Hữu viết thư cho người tình bé bỏng tên Trang Thanh nói về những mối tình trong chiến tranh.

“Em biết không có người chỉ ăn ở với nhau từ ngày cưới vỏn vẹn có 10 ngày phép rồi người chồng ra đi biền biệt tại một tiền đồn hẻo lánh nào, một năm hai năm chưa được phép về một lần, có người đã vội vàng mang một vành khăn trắng vì người chồng sau những giờ phút chiến đấu tuy can trường nhưng bất lực. Anh còn biết người cha ba năm chưa được nhìn mặt con kể từ khi nó chào đời, và cũng có người cha kém may mắn hơn chả bao giờ còn được nhìn giọt máu thân yêu của mình nữa…”

Tôi tin là cô người yêu bé bỏng Trang Thanh rất chán anh Hữu mỗi khi anh lên lớp giảng giải về tình yêu, nhưng tôi, một người đi tìm dấu vết tư tưởng các nhà văn thời ấy đã để lại qua tác phẩm, đã rất cảm động, vì ở trong anh và các chiến hữu chỉ có tình yêu chứ không có lòng thù hận:

“Thật ra chàng không muốn bi thảm hóa cuộc chiến này. Nhưng sự thật đã diễn ra. Từng phút, từng ngày lớp lớp thanh niên ngã xuống, không lý do, không hận thù. Cái đau xót của chúng ta là đã chết đi mà không cho một hận thù nào cả. Có thể một người anh giết một đứa em, một người cha giết một người con, một người chồng giết một người vợ. Cái chết không hình thái, không đắn đo, không từ chối, không phân biệt. Một viên đạn bắn đi, một khối chất nổ ném ra giữa những ràng buộc vây quanh. Sự chết nằm xuống.

Người ta nói đến chuyện cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi còn nhà văn Trần Doãn Nho nói về những người trở về nhưng không còn nguyên vẹn như câu thơ của nhà thơ Linh Phương được Phạm Duy phổ nhạc. “Mai anh về trên đôi nạng gỗ. Bại tướng về làm gã cụt chân.” Nhân vật của ông, Trang, trong truyện ngắn Con Mắt Thủy Tinh, trở về có vẻ như một người bình thường và nguyên vẹn. Mẹ của Trang đã bật cười bảo rằng bà hết hồn khi nghe anh trở thành thương phế binh. Mãi khi Trang giải thích bà mới hiểu anh đã bị mất một mắt. Và con mắt còn lại sẽ dần dần bị mất khả năng nhìn thấy. Thích âm nhạc, anh tập chơi đàn guitar và tự chế nhạo mình là nhạc sĩ mù. Trang yêu Hiền, một cô bé 18 tuổi ở chung xóm nhưng lo ngại Hiền sẽ không còn yêu anh nếu biết con mắt còn lại rồi sẽ hỏng nốt.

Liệu Hiền có thương mãi một nhạc sĩ mù không. Trang nhớ ra chưa bao giờ Trang can đảm nói với Hiền về tương lai của con mắt còn lại. Trang cứ sợ Hiền buồn, Hiền chán. Hiền còn nhỏ quá, mới mười tám tuổi. Trang vẫn nghĩ thế, nhưng không biết đàng sau cái khuôn mặt trông ngây thơ đó, Hiền đã thực sự có một cái gì người lớn chưa. Nếu Hiền người lớn rồi, biết đắn đo suy nghĩ, biết chọn lựa, hẳn Hiền sẽ không muốn quen Trang nữa, cũng nên. Trang cứ ngay ngáy lo một sự tuyệt vọng ở ngày mai, một sự tuyệt cọng Trang đã hình dung ra sẵn rồi, nhưng chắc không khỏi làm Trang bỡ ngỡ và đau đớn.

Điều Trang lo sợ cũng trở thành sự thật khi anh nhận thấy Hiền tìm cách từ chối tình yêu của anh. Cô bé không thích nhìn vào con mắt thủy tinh của anh và hỏi “tại sao anh không chỉ xem Hiền như em gái.”

Không chờ chồng đến độ hóa đá nhưng chị Đạo trong truyện ngắn Cuống Hoa Khô của Lương Thái Sĩ đã hết mực chung tình. Chị Đạo có chồng. Chồng của chị là anh Tản, đi theo phía bên kia. Chị ở chung nhà với bố chị, là lão Nhận. Chị Đạo có đứa con còn nhỏ để lão Nhận trông chừng khi chị đi mua bán ở chợ. Trong làng có một người thương phế binh tên Hấn phải lòng chị Đạo.

Chị Đạo nghĩ đến anh Tản những khi thằng Hấn nhìn chị đôi mắt màu đục ngầu. Thằng Hấn âm thầm coi chị thật gần. Chị coi hắn như ngoài chuyện tình cảm của mình. Anh Tản đi, chị ở lại thờ chồng ngày này qua ngày khác mớ tóc đã bạc. Chị vẫn chưa quên người chồng với sự cần cù nào đó, tay ôm bó củi ì ạch vác từ miệt rừng về nhà người lảo đảo muốn ngã. Chị cương quyết rồi. Thằng Hấn, anh Tản không thể là một.

Hấn tìm mọi cách để được lòng chị Đạo, kể cả hỏi chị thẳng thừng. Tôi thương chị, chị thương lại tôi được không? Chị trả lời Không, tôi nhất định rồi.

Bom đạn về làng, bố chết, con chết, chị Đạo quyết định bỏ làng vào thành phố ở. Nhưng đến phút cuối chị thay thổi ý ở lại, bởi vì ở làng quê này chị có thể chờ anh Tản về. Chiếc lưng gù bó củi của chồng tôi, tôi quên sao được.

Cũng đề cập đến khía cạnh tình yêu nhưng Trần Huiền Ân trong truyện ngắn Đứa Con đã nói lên một xung đột trong gia đình, sự tranh giành tình yêu của người đàn ông và hai người đàn bà, mẹ và vợ, trong khung cảnh chiến tranh. Bà mẹ, một mình nuôi con, sau khi khổ sở với bà mẹ chồng rồi chồng chết. Đứa con lớn lên trở thành quân nhân, giữ chức vụ chỉ huy, nhưng với bà người con vẫn là trẻ nhỏ. Bà mẹ sống trong trại gia binh với đứa con. Người con trai yêu một nữ trợ tá, bị bà phản đối. Bà cho là phụ nữ mà tham gia quân đội chỉ là đĩ. Người nữ trợ tá kết hôn với người quân nhân và có con. Một đêm vì không chịu nổi lời đay nghiến giận hờn của bà mẹ. Bà cằn nhằn vì anh đã dành tình yêu cho vợ chứ không dành tình yêu cho bà. Người quân nhân lại đi theo đoàn hành quân dù anh mới vửa trở về trong cuộc hành quân trước đó. Anh tử trận trong cuộc hành quân và bà mẹ lại nổi giận khi thấy người vợ được phép lãnh tiền tử tuất. Dù người vợ bằng lòng giao hết món tiền cho người mẹ nhưng bà vẫn không bằng lòng với chính quyền vì bà cho rằng người vợ không xứng đáng được quyền đó.

Truyện ngắn Thư Tình của Túy Hồng một câu chuyện tình rất ngắn và rất lãng mạn, cái lãng mạn của một cô gái trẻ tuy không còn choai choai mới lớn.  Tình yêu mà “Không gặp nhau được, lố bịch thật.  Ái tình gì chỉ toàn viết thư.  Viết thư rồi có thương nhau thật như trong thư không nhỉ?” Viết dưới dạng thư tình, chuyện tình này kéo dài trong sáu lá thư.  Túy Hồng có một bút pháp đặc biệt, giọng miền Trung, táo bạo, liếng láu một cách trẻ trung, nghe như đùa nghịch nhưng rất giàu tình cảm.   Bà diễn tả thật điêu luyện tâm lý của một cô gái trẻ đang yêu. Người viết thư là một cô gái sống ở Quảng Trị tên là Nhàn. Cô gái tự cho là mình không đẹp nhưng bằng lòng với nhan sắc của mình.  Quảng Trị đối với cô là một thành phố âu sầu xa Sài Gòn “như cái đầu và cái rốn của một thi thể.”  Thi thể đấy nhé chứ không phải thân thể.  Cô không nói gì đến chiến tranh nhưng sao tôi vẫn cảm thấy chiến tranh hiện diện đâu đó xa xa.  Hay chìm thật sâu trong trí nhớ ai cũng biết Quảng Trị của một mùa hè đỏ lửa?  Và vì những câu như thế này.  “Chắc chắn Quảng Trị sẽ lê vào lịch sử hoen máu.”  Cô tả quê hương Quảng Trị như thế này:  “Bây giờ là buổi chiều nắng chia hai dòng sông Thạch Hãn.  Đọc báo anh cũng biết lơ mơ dòng sông ngạo nghễ của quê hương em chứ?  Quân ta ở bên này dòng sông Thạch Hãn, địch ở bên kia dòng sông."

Người nhận thư tên Phi Ngạc, cô đùa tên anh nghĩa là cá sấu bay, một thứ nhãn hiệu nước mắm.  Cô gọi anh bằng đủ loại tên.  Anh muôn thuở. Mon trésor.  Cá sấu thần của em.  Nguồn tình của em.  Giấy bạc của em.  Bánh kẹo của em.  Xạo của em.  Anh của em là bụt.  Mũi tên độc yêu ái của em.

Qua 6 lá thư, người đọc biết anh ta là ca sĩ, xuất hiện trên truyền hình vì cô xem anh ta hát.  Người yêu của cô có giọng hát óng ả bảy sắc cầu vồng.  Anh ta có tặng quà cho cô; một cái máy magnétophone.  Cô yêu anh lắm, và mơ mộng rất nhiều.  Cô có công việc được vào Sài Gòn nên cô tìm đến gặp anh.  Cô mơ mộng, tưởng tượng, hy vọng, lo lắng, đủ mọi thứ tình cảm chạy ngang trái tim cô.  Cô cũng nhiều lần viết như báo động trước với người cô yêu cái nhan sắc của cô để tránh cho anh ta khỏi bị ngỡ ngàng.  Nào là: “Em mang một bộ mặt vô sản sạt nghiệp vào triều cống anh đó.”  Và: “Ba ngày nữa con chim Mỏ Giác xấu xí này sẽ bay.  em tự ví em như con chim Mỏ Giác là anh đủ biết em xí gái đến mức độ nào rồi!”

Cô tả những nụ hôn cô ước ao sẽ có khi gặp người yêu.  “Những nụ hôn đóng trên môi như những khuôn dấu đóng trên công văn, những nụ hôn thon thon hình viên thuốc dầu cá thu trong bóng ngầy ngậy mùi sữa đậu nành và ấm áp như mía ông Tàu bán đầu phố.  Những nụ hôn tách riêng và có khi chung đụng như hai hạt đậu phọng nằm trong một cái vỏ.”

Cô hỏi như bao nhiêu người tình bé bỏng và mơ mộng. “ Anh thương em bằng con kiến hay bằng con voi, bằng móng tay hay bằng cái tủ?  Anh thương em là thương miệng thương môi thương mũi thương mắt…”  Rồi cô quay trở lại với thực tế: “anh ngó qua em một cái rồi anh bỏ em liền một khi!  Em chết vì em xấu đó anh!”

Thế, cô biết thế.  Thực tế đến thế nhưng cô vẫn nuôi hy vọng.  Vẫn mong một kết cuộc đẹp đẽ khi cô gặp người cô yêu.  Hy vọng anh ta sẽ chấp nhận cô với cái cô gái có cái suy nghĩ và hình dáng mà cô đã tả qua những lá thư.  Tuy nhiên hy vọng của cô biến thành tuyệt vọng.  Bởi vì: “tình người ta tan theo năm tháng, tình của mình tắt cái phụt ngay phút đầu gặp mặt.”  “Tình chết khi em xuống tàu bay, tình chết ngay trên phi đao không cáo phó, không thiệp tang, không ai điếu.” Bởi vì: “Tôi kêu tên anh, tôi hỏi anh có nhận ra tôi, giờ phút đó tai tôi bỗng dưng nghe một câu nguyền rủa: “không nhan sắc hãy tự sát cho rồi.”

Anh ta đứng lạnh ngắt.  Cái im lặng chết đứng của anh làm cô cho đó là sự ngỡ ngàng thất vọng. Khi tôi đọc đến đó tôi hy vọng là cô lầm. Nhưng, cô vuốt cái mặt cô cho là xấu xí của cô và hỏi anh ta có nhận ra cô không.  Anh Ngạc cố gắng mỉm cười rồi thôi.  Thất vọng, thế giới của cô sụp đổ. “Tình yêu… tôi nghe tiếng ầm vang lớn nhất giữa chiến tranh này vì mộng mị cùng nổ tung một lúc như bao nhiêu kho đạn phế thải cùng nổ tung một lúc.  Tình yêu… máu tôi đổ như thác đổ; tim tôi mọc vòi, tim tôi làm băng.”

Rõ ràng cô đã cố gắng loại bớt đi những mơ mộng quá đáng, những tưởng tượng phi thường.  Rõ ràng cô đã cố mở to mắt nhìn thực tế để không tự dối trá và làm khổ bản thân.  Tình yêu của cô tan vỡ không phải vì chiến tranh mà vì thất vọng.  Thất vọng không hẳn vì đối tượng xấu xí mà chỉ vì đối tượng không giống như người ta tưởng tượng. Trong lá thư cuối cùng cô có nói đến tự tử.  Tôi hy vọng cô không ngu ngốc và điên cuồng đến thế.

Nhã Ca nổi tiếng cả hai mặt văn và thơ.  Tôi vẫn còn thuộc vài đoạn bài thơ Tháng Sáu của bà.  “Tôi là con gái.  Buồn như lá cây.  Chút hồn thơ dại.  Xanh xao tháng ngày.  Tôi là con gái.  Một lần yêu người.  Một lần mãi mãi.  Bao giờ cho nguôi.”  Thời còn đi học đám nữ sinh chúng tôi thường kháo nhau tác phẩm Mưa Trên Cây Sầu Đông của bà. Bà là người làm chúng tôi yêu thành phố Huế thơ mộng. Bà cũng đã lấy một ít nước mắt của tôi khi tôi đọc Truyện Cho Những Tình Nhân. Truyện này đã in trong Những Truyện Ngắn Hay Nhất của Quê Hương Chúng Ta năm 1974.

Diễm và Phan, đã đính hôn và đang chờ ra giêng sẽ cưới trước khi Phan vào quân trường Thủ Đức.  Người Huế mà, kín đáo lắm.  Sợ người ta dị nghị nên chiều chiều Diễm đạp xe đi học về Phan lẳng lặng đạp xe theo sau.  Vòng qua một chỗ vắng, nói chuyện chút xíu rồi đưa nàng về.  Thấy Diễm bắt đầu đeo nhẫn mà Phan chưa đeo.  Phan nói về nhà chàng cũng sẽ bắt đầu đeo nhẫn. Chàng trêu nàng mai mốt hết thương có lẽ nàng sẽ ném cái nhẫn xuống sông.  Nàng bảo “khi mô cái nhẫn ni rời khỏi tay em thì em chết.”

Ngày Tết Phan đi về Truồi chúc Tết ông nội.  Diễm ở lại Huế trong biến cố Mậu Thân.  Không được gặp nhau Diễm viết thư để lại cho Phan. “Anh Phan, chắc em chết không gặp anh.  Chắc chết quá anh ơi, súng vẫn bắn như mưa, trên đầu những người chờ đợi.  Nhưng anh ơi, trong những phút kinh hoàng như thế này, trong những phút nằm chờ một quả bom canh đúng rơi trúng miệng hầm đôi lúc em vẫn còn đầy tư tưởng lãng mạn.  Em nhớ anh hơn, nao nức hơn, và thấy mối tình mình trở nên quan trọng hơn.”

Những ngày thành phố bị vây hãm, người trong gia đình Diễm bị thương, bị chết, đối diện với những hình ảnh đang thật sự xảy ra cho mọi người chung quanh, Diễm lo sợ: “Anh ơi! Chắc em chết, gia đình em chết hết.  Em khóc ròng đây, em muốn khóc ngất khi nghĩ rằng, khi yên, anh sẽ tới tìm em nơi này, anh sẽ không thấy xác em đâu nữa.  Tay em nằm trong bụng con chó này, mặt em ở trong bụng một con chó khác.  Anh ơi, em tội tình chi mà không được một nấm mồ.”

Phan tìm hỏi tin tức biết Diễm trên đường chạy nạn bị bom rơi trúng “cả thân thể Diễm bay kẹt vào một bụi cây.”

Mười mấy ngày sau, khi Bến Ngự đã dẹp xong, Phan là người trước nhất đi dọc theo đường rầy xe hỏa về Bến Ngự.  Dọc đường Phan đã nhận ra xác Diễm.  Diễm chỉ còn lại đầu tóc, chiếc mặt đã bầm dập, cả người đã sình thối, nàng kẹt vào giữa bụi cây, và những dòng nước vàng đã chảy xuống.  Cánh áo phin trắng của Diễm đã rách nát, nhưng nơi ngực áo, hai chữ P D lồng nhau thêu bằng chỉ trắng vẫn chưa mục, và nhờ đó Phan nhận ra xác Diễm.  Diễm mất một cánh tay, và nơi bàn tay còn lại, Phan không nhìn thấy ngón đeo nhẫn đâu hết.  Ngón tay đeo nhẫn của Diễm cũng đã bị cắt lìa.  Phan tìm cùng khắp không thấy vết tích đốt tay và chiếc nhẫn đó nữa.

Khi đem xác Diễm về tẩn liệm, mọi người phác giác ngón tay đeo nhẫn của nàng đã nằm gọn trong đám ruột bầy nhầy, không ai hiểu tại sao, và chiếc nhẫn cũng không tìm thấy.

Nhã Ca dựng truyện rất khéo.  Và biết đánh thức tâm lý của độc giả . Ở đầu truyện bà đã cho đôi tình nhân nói đùa với nhau về cái nhẫn.  Cái nhẫn trên ngón tay là hiện thân của yêu thương, của nguyện ước, của bền chặt và hôn nhân.  Đeo nhẫn là thuộc về nhau.  Chết cũng không cởi nhẫn.  Khi nàng chết ngón tay rơi vào trong lòng nhưng cái nhẫn đi đâu? Cái nhẫn đã rời khỏi tay nàng.  Như nàng đã thệ ước, khi mô cái nhẫn ni rời khỏi tay em thì em chết.  Phan và Diễm, không oán thù ai, chỉ trách chiến tranh. Ngay cả người thân và bạn bè cũng không dám hỏi thăm hay an ủi Phan bởi vì anh không bao giờ đứng lại khi có người nhắc đến tên Diễm.

Hễ có bóng dáng của tình yêu, là có bóng dáng của phản bội. Aphrodite là nữ thần đa tình mà. Bà yêu nhiều và phản bội cũng nhiều. Trong một truyện ngắn của Đặng Đình Tòng, Cái Chết ở Cạnh Nhà, có một chi tiết rất nhỏ nhưng nó mang một nỗi đau lòng rất lớn. Có anh lính tên Vị. Anh này chỉ là một nhân vật nhỏ trong truyện chỉ được nhắc lến vài hàng thôi, nhưng anh ám ảnh tôi rất nhiều nên sau khi đọc 117 truyện ngắn, có truyện tôi đọc hai ba lần, tôi vẫn không quên anh. Anh ta bị vợ bỏ. Vì thất tình nên anh giải sầu bằng men rượu. Vì say sưa nên bị phạt đi phục kích. Tác giả đổ thừa vì say nên anh không thấy đường bắn súng, nên chết. Nói là nói vậy chứ biết bao nhiêu người đã chết vì súng đạn dù không say. Sao cái anh Vị bị vợ bỏ đó không may mắn mà say đến bất tỉnh để nằm như chết để bom đạn tình cờ mà tránh anh? Có ai cảm thấy mặc cảm tội lỗi trong cái chết của anh?

Truyện Bão Khô của Y Uyên nói về một người lính đi tìm vợ. Anh nghe đồn là chị đã ngoại tình. Anh hờn giận, ghét bỏ, hậm hực tìm đến một thành phố nhỏ nơi quân đội Mỹ vừa đến đóng. Hôm trước mìn nổ. Một cái xe lam, một cái xe nhà binh bị mìn, sáu mươi mấy người chết. Người quân nhân gặp một người phụ nữ mặc đồ tang đang đi tìm cánh tay có đeo nhẫn của người chồng để chôn chung với cái xác. Anh quân nhân nghe có một trong những xác chết vô thừa nhận là một xác người đàn bà bị mất đầu, người ta tìm thấy cái đầu bị văng xuống sông và xác chết đó có thể là xác chết của người vợ. Điều mỉa mai là rất có thể anh đã nghi oan cho chị vì chị chỉ buôn bán tảo tần để kiếm sống. Chị chết rồi còn ai minh oan?

Một nhân vật trong phim The English Patient đã nói: “Phản bội trong chiến tranh chỉ là trò trẻ con. Phản bội trong thời bình mới thật sự là khốn nạn.” Cái phản bội trong câu nói của này không phải nói về sự phản bội trong tình yêu. Nó nói đến một sự phản bội to lớn có tầm cỡ quốc gia. Tuy nhiên nó cũng áp dụng được khi nói về sự phản bội của tình yêu cá nhân. Trong chiến tranh đôi khi người ta phản bội người yêu chỉ vì chiến tranh mang cô đơn đến. Không phải ai cũng kiên trì chờ thấy mình hóa đá và biết đâu chừng cái chết sẽ đến với mình chiều nay hay ngày mai. Mường Mán trong truyện ngắn Những Chỗ Ngồi Bỏ Trống đã nói đến người thiếu phụ tên Lâm. Chị có chồng và người chồng đã theo du kích vào rừng. Chị thèm có một đứa con để an ủi nên âm thầm qua lại với Phủ là giáo viên trong vùng. Có lần người chồng cũ cùng với toán du kích về thăm vợ, Phủ phải nhảy xuống ao trốn. Ngại, nhân vật chính trong truyện ngắn này, gặp lại chị Lâm thấy chị đang để tang người chồng theo du kích mới chết. Ngại tự thắc mắc không biết đứa nhỏ có phải là con của Phủ. Tuy nhiên chị Lâm khóc nói rằng chị để tang cho bố đứa bé. Anh ấy chết xác bị bỏ ngoài ruộng.

“Làm sao chúng ta có thể chịu đựng được nhau cho đến hết đời nếu lúc nào ta cũng chỉ nghĩ rằng đời sống có những việc được gọi là hạnh phúc mà thật ra không phải như vậy.” Đó là ý nghĩ của Minh, nhân vật chính trong truyện ngắn Thăm Viếng của Âu Thị Phục An. Minh đang học năm cuối trong chương trình đại học. Minh đã yêu một người tên Vị, yêu tự nguyện, không có vẻ gì bị ép buộc. Vị đã vào quân trường Thủ Đức, và đến đây thì gia đình hai bên và dĩ nhiên cả Vị nữa, muốn hối thúc việc kết hôn của hai người. Đám hỏi đã được tổ chức vội vã. Vị muốn cô rời Đ., nơi cô đang học để kết hôn. Cô không đồng ý nhưng im lặng. Bởi vì đời sống không thong dong để có thể sống yên ổn trong đời sống chung, và bởi vì hai người vẫn xa cách. Cái đám hỏi và chiếc nhẫn cưới làm cô cảm thấy “Đấy là tất cả thành trì dường như muốn ngăn chận đời sống tôi đang trải dài. Tôi bỗng như ngột ngạt.” “Nhưng thành trì đó liệu có đủ chắc chắn ngăn tôi thoát ra ngoài hay ngược lại chận những kẻ ở ngoài muốn vào? Ngày chính thức trở thành vợ của Vị còn lâu, cũng khiến tôi thoải mái chút ít.” Cô nghĩ là nếu cho cô một thời gian để suy nghĩ có lẽ cô cũng sẽ ưng thuận. Nhưng kết hôn bây giờ, hôn nhân như chỉ để thỏa mãn nhu cầu xác thịt. Cô suy nghĩ thế bởi vì cuối tuần cô bị đốc thúc đi thăm viếng Vị ở quân trường. Ở đây có “những bóng mát tạm bợ và một vài chiếc lều được dựng vội vã nên trống trải và xiêu vẹo che dấu một cách hời hợt những cặp tình nhân nằm với nhau bên trong. Những cặp tình nhân hôn nhau, vuốt ve nhau một cách tự nhiên như chung quanh họ là một nơi riêng biệt vậy.” Vị đưa Minh đến một phòng tắm làm bằng những mảnh gỗ tạp quây chung quanh, không có nóc. Vị hôn nàng, cái móc áo nịt ngực cấn làm cho nàng đau. “Chúng tôi vẫn im lặng hôn nhau. Tôi nhắm kín mắt khi Vị yêu tôi.” Thế, không say đắm mê cuồng gì cả. Nhắm mắt như để trốn không nhìn những quần áo lót của đàn bà vương vãi trong phòng tắm lộ thiên, để tránh không nhìn một thực tại khốn đốn, để tránh không nhìn một nỗi nhục nhã mơ hồ trong lòng một cô gái nhạy cảm.

Người ta nói rằng “Yêu nhau đâu quản chiếu giường. Một tàu lá chuối che sương cũng vừa.” Hổ thẹn vì yêu nhau (hay bị yêu thì đúng hơn) trong nhà tắm quay tạm bợ bằng những tấm gỗ vụn thì có phải là không yêu hay không còn yêu? Trong 117 truyện ngắn, truyện ngắn này theo đuổi tôi mãi sau khi tôi gấp sách lại. Không phải vì đây là truyện ngắn xuất hiện đầu tiên trong tuyển tập, cũng không vì người viết mới 21 tuổi khi truyện đăng tháng 2 năm 1975. Nó theo đuổi tôi bởi vì nó rất mới lạ trong suy nghĩ của tôi. Nó mới ở chỗ, cô có suy nghĩ một cách độc lập đến cái hạnh phúc của riêng cô, việc học, sự xa cách của hai người, cái định nghĩa của hạnh phúc “Làm sao chúng ta có thể chịu đựng được nhau cho đến hết đời nếu lúc nào ta cũng chỉ nghĩ rằng đời sống vợ chồng có những việc được gọi là hạnh phúc mà thật ra không phải như vậy?” Có thể nói nhân vật vị kỷ rất hiện đại, cái hiện đại của Tây phương. Cô thẳng thắn và chống đối không muốn bị gia đình hai bên và nhu cầu của Vị xua cô vào chuồng như một con cừu hiền lành. Cô muốn nói với người yêu lần thăm viếng này là lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng. “Thăm viếng lần nữa? Ồ, không ai đủ can đảm đưa tay đập vào vết thương của mình lần thứ hai. Không bao giờ. Căn phòng tắm lộ thiên. Cái móc soutien bị cấn và trăm ngàn nỗi cùng quẫn trong đầu… Không bao giờ.”

Đọc bài này, ở cương vị người ngoại cuộc, nhìn sự kiện này 34 năm sau, tôi cảm thông tâm hồn người thiếu nữ nhưng không khỏi thương xót người lính trẻ tuổi trong bài. Anh có nhận biết hay không, chiến tranh tuy vẫn còn ở xa nhưng bàn tay móng vuốt của loài yêu quái đã cướp mất của anh những tiện nghi vật chất, tự do, tuổi trẻ, và tương lai; còn lăm le cướp đi tình yêu của anh? Và nếu anh chỉ mất bấy nhiêu tôi cho là anh vẫn còn may mắn hơn nhiều người. Anh có nhận thấy cái chau mặt của vị hôn thê vì đau hay chỉ nhận thấy cô ép sát người vào anh để tránh bị cấn đau mà anh tưởng là cô đáp ứng? Anh có thấy thái độ thay đổi, im lặng, ngập ngừng, cái nhìn lảng tránh, thay đổi trong tâm hồn của Minh, mà đau đớn? Anh có nghĩ người ta “yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua” thì vị hôn thê của tôi sẽ không phiền lòng vì tình huống như thế này? Tác giả không diễn tả thái độ của anh, không có một ánh nhìn buồn bã, đá cái lon không bị vất trên đường, hay mím môi, cho tôi thấy là anh nhận biết. Với cái nhìn của một người phụ nữ sống lâu năm ở ngoại quốc, tôi cho là Minh có quyền hành động vị kỷ như thế, vì đó là sự chọn lựa của cô. Nhưng trong cách suy nghĩ của xã hội VN thời ấy, tác giả tuy rất ngầm, người đọc vẫn cảm nhận được, nhân vật có cảm giác tội lỗi trong sự chọn lựa của nàng.

Qua 117 truyện ngắn của 117 tác giả, có khoảng 60 phần trăm trong tổng số truyện là truyện viết về tình yêu. Nhà văn miền Nam trong thời chiến tranh lại rất lãng mạn và đa tình. Họ viết về tình yêu và người họ yêu. Đa số tác phẩm đều có thấp thoáng bóng dáng của một người phụ nữ, người mẹ, bà, bạn gái, vợ, cô y tá, hay cô thư ký. Họ có khi gọi người bên kia là giặc là địch nhưng không biểu lộ lòng thù hận, quyết tâm đòi giết, và không có màn mổ bụng ăn gan uống máu kẻ thù. Phải nói là họ cũng không xem người chiến đấu bên mặt trận đối nghịch là kẻ thù. Họ biểu lộ tình yêu nhiều hơn là thù hận.

Ghi chú của tác giả: Tất cả những truyện ngắn được nhắc đến trong bài viết trích từ bộ truyện ngắn ba tập Văn Miền Nam do Thư Ấn Quán xuất bản năm 2009.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


2 bình luận »

  • Phục An viết:

    Sau 34 năm thất lạc, giờ mới nhận lại được đứa con tinh thần tên Thăm viếng . Thật sự cũng cảm thấy mừng mừng tủi tủi , lại chạnh lòng thương nhớ những đứa con khác mà mình đã chôn vội chôn vàng xuống lòng đất sau 30-4.1975.

    Nhân đây cũng rất cám ơn nhà thơ Thành Tôn đã giới thiệu Thăm viếng trên nguyệt san Phụ nữ diễn đàn của anh Phạm xuân đài.
    Cám ơn anh Trần hoài Thư về loạt truyện ngắn trong di Sản Văn học Miền Nam, rất công phu và quá sức quý báu cho chúng ta hiện tại, và cho những thế hệ tương lai .
    Cám ơn chị Nguyễn Thị Hải Hà về sự chia sẻ , với người viết 21 tuổi năm xưa.

    Trân trọng.
    Âu Thị Phục An.

  • Nguyễn thị Hải Hà (author) viết:

    Xin chào chị Phục An.

    Bài viết của chị chứng tỏ chị là một người phụ nữ có bản lĩnh, thông minh đi vượt tuổi đời. Ngày chị có bài đăng trên báo Văn thì Hà vẫn còn nhấp nhỏm lăm le viết mà không dám viết và đến bây giờ vẫn còn nhấp nhỏm lăm le mà không dám. Hai nhân vật của chị như được đặt trên hai dòng nước chảy ngược chiều cứ như thế mà trôi xa. Nhân vật này là phản diện của nhân vật kia, rất hay.

    Chị nên mang những đứa con tinh thần, mà đã một dạo chị đem dấu hay lãng quên, ra đánh bóng lại rồi trình diện làng văn học đi chị. Xin chúc chị thành công. Xem chừng chị vẫn viết, Hà thấy thơ của chị trên Da Màu.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)