Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Màu Da và Ngôn Ngữ, Nhận Định Email bài này

Chuyện thổ dân, trước khi… một snapshot

Thổ dân và di dân, màu da và ngôn ngữ, đất đai và sinh tồn, định cư và du mục, nghệ thuật va nghi lễ, nguyên chất và pha lai, bảo tồn và đồng hóa, ra đi hay ở lại, những cặp đôi này đi liền và đổ bóng lên nhau, lên tất cả. Nhớ một câu của Graham Greene: “Thế giới không phải đen và trắng. Đúng ra nó như là đen và xám.“ Đen, trắng và xám đây không phải là màu da thì đã đành. Greene, con người đã đi qua nhiều hành lang quyền lực và hậu trường xung đột, đang nói tới tông sắc của thế giới của những phán đoán và của những sự kiện. Những sự kiện không thể nào rạch ròi phân minh vì những góc nhìn khác nhau, những đan xen lập lệch, những bối cảnh, văn cảnh riêng biệt, làm nên những phóng ảnh tông sắc không đều của cùng một nguyên mẫu. Xám nhắc chừng sắc độ chìm của từng mỗi phiên bản của sự kiện còn tuỳ theo độ sâu trải nghiệm của con người nhìn, quán sát. Nhưng đã nói thế rồi thì ở thổ dân vẫn còn một chuyện đang rất cần đến trắng đen, ấy là câu hỏi, Có còn hay không còn sự kỳ thị? Có hay không có sự bình đẳng – bình đẳng trong cuộc sống và trong chỗ đứng của văn hoá thổ dân trong một nước.
Bình đẳng, không còn kỳ thị là mưu cầu lớn nhất, cốt tủy: chỉ trên nền tảng bình đẳng và không còn kỳ thị, một xã hội mới lành mạnh – nói như thổ dân trên nước Úc, lúc ấy mới có sự chữa lành, có hóa giải, có cái ngẩng cao phẩm giá làm người. Những công chức thư lại ở Canberra, ở Washington, hay nói tới những “vấn đề thổ dân”, và sự lập đi lập lại mê mãi những vấn đề như vậy có tác dụng tạm dời mưu cầu bình đẳng then chốt của thổ dân ra mãi ngoài phía ngoại biên, chậm chạp xê dịch cùng những bảng tường trình phòng giấy ty sở thường niên. Thổ dân vốn đã nằm ở ngoại biên tít tắp của mọi thứ, tới nỗi khi một thổ dân nào đó được chú ý, họ cuống lên, vì nó rất thường đồng nghĩa với trát toà, trại tạm giam, những ông cảnh sát to con, nặng tay, và da trắng. Thổ dân, như một cá nhân đơn lẽ, họ không ham được chú ý. Chẳng thà được bỏ quên, như thế, ít ra một người còn được tự do để đi trên những con đường. Sự đi, dù chỉ từ một miệt-trại reservation này đến một miệt trại khác, đi quá giang, đi không biết chắc khi nào tới, đi như ngoài thời gian, đi chia xẻ một chỗ ngồi, một không khí trầm ngâm – như trong “The Toughest Indian of The World” (Người Thổ Dân Lì Nhất Thế Giới) của Sherman Alexie, sự đi và chia xẻ đó tự nó đã là một lạc thú. Một lịch sử dài lâu bị trấn áp, người thổ dân sống được trước hết nhờ một kiên nhẫn đi. Một sự vượt, đều và chắc, cái khoảng cách – trong nghĩa phải khắc phục, nhưng mà phải là đi dưới bầu trời rộng rãi. Sự đi đó đã làm nên một phần căn cước, bản sắc của thổ dân.
Thổ dân là ai? Chẳng hạn nếu có ai một hôm hỏi bạn: Này bạn có phải là thổ dân không?, bạn sẽ trả lời thế nào? Làm sao bạn có thể đoan chắc bạn là thổ dân, hay nếu không phải, thì làm sao bạn có thể đoan chắc bạn không là thổ dân? 
Một người bạn thời đi học của tôi từng đoan chắc rằng Joni Mitchell phải mang giòng máu thổ dân. “Chị ấy là một thổ dân da đỏ đấy,” người bạn quả quyết. Không biết dựa vào chuẩn mực nào, linh tính gì mà bạn quả quyết. Những ngày 20 người ta có một cảm quan về chân dung, về âm tiếng, nào đó, nghĩa là có một cái gì trong cái giọng hát khao khan ấy của Joni Mitchell. Có thể vậy. Đọc những thứ báo bổ Rolling Stone (thời còn format cũ) hay đại loại thời rock folk còn thịnh như vậy, tôi chưa tìm được mảnh thông tin gì chứng thực điều người bạn đã nói cả. Thế mà hôm qua ngoài phố thấy bán một album mới của Joni Mitchell có nhan đề, The Beginning of Survival (Bắt đầu của Sống sót). Những chữ ‘Beginning of Survival’ này trích từ thư của Tộc Trưởng Seattle, viết vào những năm đầu thế kỷ 19, một thỉnh nguyện thư yêu cầu chấm dứt sự triệt hạ các quốc tộc thổ dân, những tàn phá môi sinh và đời sống của thổ dân trên đất Mỹ. Thư của Chief Seattle viết như thế này:
Định mệnh của qúi vị là một điều bí ẩn đối với chúng tôi. Cái gì sẽ xảy ra khi những con bò mộng cuối cùng đã bị bắn gục? Khi những con ngựa hoang cuối cùng bị thuần hóa? Và cái gì sẽ tiếp tới khi chúng tôi nói gĩa từ với con ngựa non nhanh bộ vó và cuộc săn? Sự chấm dứt của đời sống và sự bắt đầu của sống sót, phải vậy không ?
Thổ dân, đấy là mưu cầu bản sắc, cũng là sự chiếu rọi lại tương quan ta và kẻ khác. Một người Úc dù có rất ít giòng máu thổ dân (Aborigines, hay như một từ mới, Koori) pha trong thân thể họ cũng sẽ hiên ngang nhận mình là thổ dân. Người ta khai cả bộ tộc xuất sinh của cha, của mẹ, của ông, của bà, nội ngoại. Người Mỹ da đỏ ở Bắc Mỹ cũng vậy, họ nắm chắc bộ tộc nào, quốc tộc nào là nguồn của mình. Đây không phải là sự xác định hệ tộc để kỳ thị kẻ khác, đúng ra một nỗ lực biết mình là ai để được tồn vong. Con người hôm nay, ở điểm thời gian này [2005] đang bắt tay vào cuộc phân tích qui mô vào gien (di truyền tố) nhất là cuả các cộng đồng thổ dân ở các khu vực xa xôi của thế giới. Dự án Genographic vừa khởi phát bởi National Geographic Society đang cố gắng lập lại một đồ bản di cư, một chụp bắt lịch sử ra đi của con người, đi ngược lại nguồn, ngược 160 nghìn năm, dưạ trên phân tích gien của vào khoảng 100 nghìn con người thuộc tất cả các sắc dân, các dân tộc, đang có mặt trên thế giới. Thế thì gien, máu huyết, là quan trọng. Nhưng mà không phải chỉ máu huyết thôi đã làm nên căn cước của một thổ dân.
Căn cước của thổ dân là toàn bộ những gì quyện hoà với cuộc sống, ấy là hệ tín ngưỡng, niềm tin vào đất thiêng, tập tục sinh hoạt, môi trường sống, thú rừng, cây cối, huyền thoại, ca hát, nghệ thuật tạo hình, và không thể thiếu sự đi, cuộc trẩy bộ trên đất. Đi rất có thể là nhu cầu đã ăn sâu vào gien con người từ một thời du mục, du canh, nhưng mà nhu cầu này bám rễ sâu nhất ở đời sống thổ dân, nó được nuôi dưỡng, bảo tồn cẩn trọng hơn những con người định cư, của tiện nghi thị phố. Đi với người thổ dân là tiếp nối một hành trình tít tắp của tổ tiên họ, hai mươi nghìn năm đối với những thổ dân Sioux, Spokane, Coeur d’Alene … trên đất Mỹ, sáu mươi nghìn năm đối với những thổ dân Koori trên đại lục Úc. Sáu mươi nghìn năm trước, hay hai mươi nghìn năm trước, hãy nghĩ lúc ấy Âu Châu đang là cái gì?
Hai mươi nghìn năm trước, có lẽ trên những đồng cỏ của Âu Châu, những người bà con xa của những thổ dân hôm nay cũng vừa đặt chân tới như những lưu dân mới mẻ. Tưởng tượng: cũng hang động, cũng phóng ngọn dáo, cũng đập chạm đôi nhát đá mồi một ngọn lửa sáng trời. Những bờ đất tới, sau những nhánh rẻ ngay thời điểm ấy đã là xa rời nhau kẻ truớc người sau tới hàng muôn triệu bước chân trẩy bộ, nghìn sông rạch và một biển thời gian, nghĩa la tưởng như không bao giờ gặp cái kẻ quay nghịch một hướng đi từ khởi thủy. Ở những cõi tới hoang vu, không ai thấy ai, những kẻ du mục muôn phương, ở điểm thời gian ấy, dù sao cũng cùng một nhịp sống: tiền sử giản đơn, sinh tồn hay biến mất là chuyện sống được hay không sống được với thiên nhiên. Tới chạm thời đại gọi là văn minh mới là nhiêu khê, phức tuế cõi người. Những cái làm được, tích thu được, sang đoạt được từ tư góp thành một định kiến ở Kẻ Có rằng cái có, cái sở hữu là cao, và nó đối nghịch với cái không có là thấp; cái Ta là cao, Kẻ Khác là thấp. Thậm chí trong trò Crosses & Noughts này, Crosses còn đổ cho kẻ kia – Noughts – là savage, là dã man, là mọi. Trong lối nghĩ ấy, đất không có canh tác là terra nullius, đất hoang bỏ trống, không có người, và do đó ta có quyền chiếm hữu, truất hữu, … Chinh phục hình thái thực dân – khởi đi vào đầu thế kỷ 16 ở Mexico cho tới nửa thế kỷ 20 – là sự gặp lại nhau của những nhánh người, nhưng thay vì ở cuộc trùng phùng này người ta sẽ đối chiếu những di sản văn hóa song hành, thì kẻ viếng thăm đã chỉ chăm chú vào mỗi một chuyện: chiếm đoạt. Dưới áo khoác văn minh các cuộc xâm lược trong thời đại thực dân đi chiếm đất không che đậy tính thẳng tay trấn áp. Walter Benjamin khi nhìn lại lịch sử văn minh con người đã buộc miệng than rằng, “Lịch sử văn minh luôn luôn đồng lúc là lịch sử của sự dã man.” (The history of civilisation is always at the same time the history of barbarism). Câu nói này có lẽ cứ sẽ còn đúng cho mãi tới khi nào trái đất này còn con người. Văn-minh xác định một ngưỡng, một lằn ranh, ở đó xã hội con người đã tới, đã hoàn chỉnh, về mặt tổ chức và cả đạo đức, thế nhưng như một nghịch lý, như lịch sử giai đoạn thực dân ở các châu lục lớn đã cho thấy, sản phẩm này của văn minh được tiến hành bằng sự thanh toán những xã hội con người khác đã có văn hoá, nghĩa là thanh toán một nếp sinh hoạt đã sinh tồn hoàn thiện suốt quá trình thử thách dài của thời gian rồi, và làm thế bằng sự hạ thấp, xem khinh và trù dập toàn bộ nền văn hoá cũ. Văn hoá thổ dân, kết quả của hàng nghìn, hay hàng chục nghìn năm trong một phong thổ nhất định, bị thay thế như một chớp mắt bằng một hình thức khác. Để chinh phạt, văn minh cần cốt yếu sức mạnh của vũ khí. Chúng ta đã được nhắc nhở rằng những người Âu đi thực dân đi chinh phục người anh du mục của họ, ở Mexico, ở New England, ở Úc không phải là đại biểu của Âu Châu thời Khai Sáng, hay của Chủ nghĩa Nhân Bản. Đây là Âu Châu của thương buôn, cảnh binh, những cai tù, những tay súng phiêu lưu và những người nghèo khổ, những người tìm đất sống. Một thuyền trưởng hải quân, toán thủy binh, những cai tù ở Úc, những người lính Công Giáo đi ngựa của Cortez ở Mexico, những người Tân Giáo Anh, và Hà lan ở Bắc Mỹ, họ không là đại diện tiêu biểu của Âu Châu. Cho là thế đi, nhưng mà hậu phương Âu Châu chắc chắn đã ủng hộ triệt để cho sự ra đi của ho. Kẻ chinh phạt đem về tài sản cho giai cấp vua chúa? Kẻ nghèo thì đi cho nhẹ nợ, hay đi như một cách trả nợ.
Chữ “khai sáng” trong thời đi xâm lược các châu lục lại bị mượn tạm và bẻ ngoặc thành khai sáng cho những vùng đất tăm tối, ánh sáng văn minh Âu châu chưa trờ tới. Trong hành lý mang theo, bên cạnh áo quần, thùng rượu, súng ống, thì những cuốn thánh kinh bìa da là niềm tin vững chắc, nhưng ngoại giả không có mấy nữa những di sản thuộc phần tinh thần: những kẻ tới nơi không thấy cần những di sản triết học, thơ ca, kịch nghệ, âm nhạc để mà sống, hay để giao lưu khách/chủ. Những thổ dân cũng không kịp trình bày đời sống nghệ thuật của mình. Những nghi thức tế tự, những sân khấu không kéo màn linh thiêng, con người và thân ái như sân khấu giữa chợ của Molière chưa kịp dựng lên thì súng đã nổ. Giết chóc không cần luôn luôn phải bằng súng bắn từ trên lưng ngựa. Những chiếc mền mang khuẩn trùng đậu mùa. Những ao giếng bị đánh thuốc độc. Những vùng bị tàn phá, để triệt tiêu thực phẩm không cho kẻ sót lại trốn lánh cả cơ hội sống sót. Những cuộc xuống tay đã được tiên đoán từ Cựu Ước? Cain và Abel – người anh định cư giết người em du mục, để văn minh định cư được tiến hành. Thiên hướng xung đột trong con người là có thể chứng minh được qua chiều dài lịch sử, mà rõ nhất khi thiên hướng này bùng nổ ở một nhóm mạnh, đã củng cố xong những hình thức quân bị, đối với những nhóm bản địa, cuộc sống còn gắn bó (hoà bình) cùng thiên nhiên. Lịch sử con người là lịch sử đẫm máu của những cuộc tương tranh. Chỉ có khác: ở trường hợp bị lấy đất của thổ dân, nó là chiến tranh từ độc một phía. Cũng không thể gọi các cuộc chinh phục thực dân là chiến tranh. Không có một tuyên chiến. Ở Bắc Mỹ những chiến binh da đỏ còn làm những cuộc kháng cự, ở Úc thì cuộc xâm lược hầu như hoàn tất rất nhanh. Nếu có những Saladin trong cuộc cầm cự của thổ dân, chắc chắn người ta đã nghe đến trong những thiên anh hùng ca của họ rồi. Không có Saladin da nâu nào được nhắc tới trong những truyện tích hiện đại của thổ dân Úc. Những thổ dân Úc có nhiều huyền tích để giải thích trời đất, phong thổ, nhưng họ không tạo dựng những thiên anh hùng ca. Họ vẽ sa mạc, nhưng không tạc tượng đài.
Thổ dân, nói gọn như một định nghĩa, là người bản địa từng là chủ cũ của một vùng đất mà những cuộc chinh phục xâm lược đã đẩy họ thành những người thiểu số, bị mất quê hương trên vùng đất của mình. Kết quả của cuộc chiếm đất có nơi đưa tới cận kề tuyệt chủng, tận tuyệt dân số, khắp nơi là sự đồng hoá trên nhiều bình diện, sự loại trừ khỏi giòng văn hoá chủ lưu của kẻ chinh phục. Nếu bạn chấp nhận định nghĩa này (thay vì chẳng hạn, “Thổ dân là đôi chân tuổi thơ và là vầng trán già nua nhất của con người”, nghe cũng ra gì) thì thực sự trên bản đồ nhân văn của thế giới những cộng đồng thổ dân hiện diện đổ đốm khắp khắp, từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây – thế giới có thổ dân cư lưu ở Úc, thổ dân Maori ở Tân Tây Lan, thổ dân da đỏ ở Bắc Mỹ, ở Mexico, ở châu Mỹ La-tinh, khuất trong rừng già Amazon, thổ dân Inuit ở Canada, Alaska; thổ dân Polynesian, Melanesian ở những hải đảo Thái Bình Dương; những bộ lạc thiểu số sót lại trong những quốc gia Phi Châu hậu thuộc điạ trả lại từ ba nước Anh, Pháp và Đức; thổ dân Tây Tạng – nếu như Trung Hoa vẫn tiếp tục cuộc Hán hoá; thổ dân nằm dưới dạng “dân tộc thiểu số” ở Việt Nam mà dân tộc Chàm là một thí dụ. Khi nói tới thổ dân một nước, người ta cũng không nên quên,rất có thể chúng ta đang nói tới rất nhiều bộ lạc, bộ tộc khác nhau . Ở Úc thổ dân là tập hợp của hàng trăm bộ tộc có ngôn ngữ khác nhau, và giao lưu trên một nền luật cổ ôn hoà trong suốt quá trình cư lưu hàng chục nghìn năm.
Trải rộng, phân tán mảnh, phân cụm nhỏ, duy trì sự sinh tồn một cách ẩn lặng, không tạo thành thế lực chính trị, không liên minh, không gia nhập cái gì – liên kết hay phi-liên-kết, không có sức mạnh kinh tế, ngôn ngữ và văn hoá bị đe doạ biến mất, nếu không là đã biến mất rồi; thổ dân đúng là sự lãng quên và bỏ mặc khá lâu trong lịch sử những vùng đất bị lấy trắng. Nhưng như một nghịch lý, thổ dân cũng là sự tồn tại kiên trì lì lợm, sự thách thức cả gan, và gần đây có nơi thổ dân tìm được một sự hồi sinh trở lại. Điều quan trọng nữa là, chính bằng sự tồn tại gian nan của họ, thổ dân cho con người nhìn lại và tôn trọng những giá trị sống cơ bản nhất, những nguyên lý tiến hành đời sống, sử dụng năng lượng, kỹ thuật trong thế quân bình với môi trường phong thổ riêng biệt đặc thù của mỗi vùng. Những tổ chức môi sinh quốc tế như Green Peace, các hội đoàn bảo tồn đất và môi sinh của các quốc gia, các đảng Xanh ở Đức, Úc…, những hiệp ước quốc tế môi sinh kỹ nghệ như Hiến chương Môi sinh Kyoto, đã vô hình trung đón nhận nguyên lý về phát triển trong khả năng chịu đựng của môi sinh vốn đã có trong các xã hội thổ dân. Minh triết của thổ dân, nằm chính trong sự sống cẩn trọng, sự duy trì bản sắc và căn cước kinh qua một lịch sử bạo động của thế giới cận đại – đi từ thời thuộc điạ qua giải thực, hậu thuộc địa, toàn cầu hóa. Bài học của sự tồn tại này vốn mang một ý nghĩa cấp thiết, sẽ còn cấp thiết hơn khi, sẽ không còn xa nữa, dầu hỏa, khí hơi, các nguồn nguyên liệu bị tận khai trên qủa đất.
Nói rằng thổ dân là nội dung tiền kỹ thuật tân tiến của con người thì cũng không tâng cao hay hạ thấp tầm đứng của thổ dân. Thế giới kỹ thuật hoá, thì thổ dân vẫn như một khối thách thức, tiếp tục nói tới đất đai, sông ngòi, biển cả, nắng, nhật lượng, như những gì thiết yếu nhất của cuộc sống. Thế giới buộc toàn cầu hóa, thì thổ dân nói tới bản sắc, chống đồng hoá, chống những nhãn hiệu của các công ty liên quốc. Thế giới đặt tài lực lên ưu tiên hàng đầu, thổ dân quay lưng lại với Wall Street, cổ phần đầu tư, Index này, Chỉ số nọ. Thế giới đi đào, đi lấy, đi phung phá cho Mục Tiêu Lớn – Phát Triển, thổ dân nói tới nuôi dưỡng, nurture, tái tạo. Con người chơn chất không đọ nỗi cú đấm đầu của con người mạnh tay, con người hoang phí, con người hiếu thắng, dương oai, nhưng con người chơn chất tồn tại kiên trì, kiên nhẫn. Con người tiền kỹ thuật tân tiến khi bước đi hôm nay anh ta có nhìn ngắm con người kỹ thuật, trong khi con người kỹ thuật thì bay rất nhanh trên cái quĩ đạo hãnh tiến, không nhìn lại phần nội dung cũ, những mục tiêu buổi đầu. Và cũng vì thế, nên ngày nay thế giới có đủ mọi món hàng, cần thiết và không cần thiết, làm nên từ kỹ thuật. Nhưng kỹ thuật không chỉ phục vụ tiêu thụ, bất kể phí phạm, kỹ thuật còn để đánh át nỗi hoảng sợ miên man của con người: kỹ thuật cho quốc phòng, cho vũ khí bán ra, cho những cuộc chiến tranh không dứt, lúc lơi, lúc nổ bùng, tùy sự điều động của những quyền lực chủ chốt. Những kỹ thuật ấy cũng trực tiếp ảnh hưởng tới thổ dân. Những vùng đất của thổ dân đã bị biến thành điạ trường thí nghiệm. Nó xảy ra ở Mỹ, Úc, Tây Tạng, các đảo Thái Bình Dương. “Kỹ thuật không phải là làm chủ thiên nhiên mà là tương quan giữa thiên nhiên và con người,” khi nói thế Walter Benjamin như đang đặt chúng ta trước, cùng một lúc, người thổ dân Inuit tên Nanook, của năm 1922, như trong cuốn phim của nhà làm phim tài liệu tiên phong Robert Flaherty: Nanook, với kỹ thuật xây mái nhà tuyết igloo, cách phóng ngọn dáo có dây buộc tay của anh, là một cực; và ở cực kia những chiếc tàu đi giết cá voi, hay trải lưới rộng rà vét lòng biển của người Nhật trên biển cả ngày nay. Hay một thổ dân Úc hoàn thiện chiếc boomerang mài cho cái dụng khí đi săn có được một đường bay vòng về tay, theo một độ chuẩn xác của lực động học, và ở cực kia một thản nhiên cho nổ thử nghiệm vũ khí nguyên tử lộ thiên, trên những vùng đất bộ tộc còn người sống, như đã xảy ra trong thập niên 1950 ở trung bộ Úc.
Hiện diện ở ngoại biên, ngoài tầm chú ý của truyền thông, thực tại thổ dân là một thực tại câm nín. Di sản văn hóa thổ dân truyền tải ngầm lặng lẽ, chiếu nội, cầm cự : một sự truyền tải văn hóa có cả hàng rào tự dựng để tự bảo vệ. Trong không khí đó, một kẻ bên ngoài không dễ mà xâm nhập, khảo cứu. Những bức hình, những đoạn phim của những chuyên viên dân tộc học của thời gian tiên phong lưu trữ trong văn khố đã nổ bọt thủy theo thời gian mà thực tại văn hóa thổ dân cứ nằm riêng trong lòng các bộ tộc. Văn học bên ngoài cũng không thể xăm xăm bước tới hình thành tác phẩm nói về thực tại thổ dân. Bruce Chatwin với The Songlines là một trong vài biệt lệ. Octavio Paz ở thơ và tiểu luận về văn hóa Mexico hậu Cortez là một trường hợp khác. Nhưng Paz là đứa con của cuộc chinh phục, là một kẻ có đứng trong lòng một di sản văn hóa ngỗn ngang của kẻ chinh phục mang giòng máu Tây Ban Nha và thổ dân mang giòng máu bản điạ da đỏ, chứ không phải là người ngoài. Ở kịch, Peter Brook và chuyến đi vào Phi Châu vào năm 1972 cùng 11 diễn viên thế giới để tìm một ngôn ngữ kịch mới là một trường hợp cũng có thể nhắc tới, dù không hẳn tách biệt như một cố gắng đi vào khu vực di sản thổ dân. Đúng ra, nó là sự tìm tới di sản truyền khẩu, truyền thống, cổ sơ của du mục, của dân gian, của huyền thoại nói chung, hầu lấy ra một thứ nghệ thuật sân khấu mới cho thế giới cuối thế kỷ thứ hai mươi.
Khi đi tìm Songlines, Chatwin cũng muốn tìm xem đâu là di sản của thế giới trong di sản này của thổ dân Úc. Những con đường được đánh dấu như lộ trình thiêng kia không chỉ có riêng trong sa mạc Úc, nó có cả trong những vùng đất văn hóa cổ, như ley-lines (vòng đá xếp tròn) ở Anh, như Lapps (vùng đá hát) của Phần Lan. Văn học truyền khẩu cổ của thế giới nói chung còn được lưu giữ là nhờ một trí nhớ cộng đồng và một cấu trúc gắn bó với phong thổ. Những con đường ca hát của thổ dân Úc, là nơi chứa giữ thơ ca cộng đồng cổ sơ nhất, cấu trúc của nó là những điểm thờ phượng (sacred site) mà người ngoài bộ tộc không thể xâm nhập. Songlines trên mặt địa lý là những con đường đi từ phương Bắc của châu lục đi xuống, một hành trình di cư trong cổ thời. Nhưng những con đường làm nên từ những bài thơ truyền khẩu đã được sáng tạo khởi đầu với những những thi sĩ cổ sơ, khi họ trẩy bộ xuống khám phá vùng đất mới sáu mươi nghìn năm trước, còn là những tương quan giữa điạ lý và nhân văn. Những bài thơ (dreamings) không phải là thứ ngôn ngữ mô tả cảnh quan, tái hiện nó trong nghĩa mô phỏng (mimesis) mà đúng với ý nghĩa khởi thuỷ của thơ là sáng tạo: những người ca hát khởi thuỷ ấy tin rằng phong thổ đất nước được dựng lên sau cái phép xướng lời của họ. Những bài thơ truyền từ đời này qua đời khác là phong thổ, biên cương, sự dẫn dắt, phương hướng, sự thúc gọi hành trình, đồng thời là căn cước linh hồn linh khí của bộ tộc. Chúng là di sản ẩn mật của các bộ tộc, được giữ gìn suốt thời kỳ trấn áp dài gần hai thế kỷ. Những đứa con của bộ tộc cũng dùng màu sắc từ đá khoáng vẽ lại bài ca ấy bằng ký hiệu: những chấm, những vòng cung, vòng tròn, ký hiệu của phong thổ, của tô-tem vật tổ, như trong bài ca của lời, của lưỡi. Và, một lần nữa, ở lĩnh vực tạo hình này, cũng chỉ có người của bộ tộc mới được vẽ bài thơ của bộ tộc mình.
The Songlines của Chatwin, xuất bản năm 1987, ra mắt trong thời kỳ sống lại của nghệ thuật thổ dân Úc, cuốn tiểu thuyết ít chất hư cấu nhất trong tất cả các thể loại tiểu thuyết này tình cờ là một trang ghi nhận đẹp đẽ về cái nền đất thổ mà người da trắng Úc trước đấy đã không muốn thấy là “thiêng”, là có chủ, có lịch sử. Những bức tranh vẽ Dreaming của những thổ dân bộ tộc sống trong sa mạc ngày nay nhờ những curator bừng tỉnh và can đảm, đã đi tới với những gallery trưng bày tranh trên thế giới. Biết đâu sự này cũng một phần nhờ vào cánh cửa mở ra từ The Songlines. Có nhà phê bình từng nói những chấm màu, những ký hiệu trong những tranh Dreaming truyền thống (ngàn đời rồi) của thổ dân tình cờ đã gặp gỡ những ký hiệu trừu tượng trong tranh của Âu Châu, làm như những thổ dân sa mạc, lập tranh trên cùng một viễn kiến với những hoạ sĩ hiện đại gốc Âu, như Kandinski, Miró, Ryder, Orozco, và nhất là Pollock, người hoạ sĩ trong thập niên 1940 đã kiếm tìm đẻ hầu như toàn bộ hoạ phẩm trong thời kỳ này của ông mang những ảnh hình tô-tem, huyền thoại. Hơn hai trăm năm trước, 1788, ai có thể nói về nghệ thuật thổ dân Úc với những người bước xuống từ Hạm Đội Thứ Nhất chở tù đi tìm đất ngục? Và có nói, thì sẽ có ai quan tâm để tai?
Sự sống lại của nghệ thuật thổ dân Úc gần đây đi liền với sự công nhận mối tôn trọng hỗ tương trong môi trường đa văn hóa. Nó đã tới vào giai đoạn chuyển biến mạnh nhất về mặt ý thức của thế giới hiện đại, giai đoạn đặt định lại giá trị ở Tây Phương – bắt đầu giữa thập niên 1960. Thập niên 1960 của những xung đột chưa ngã ngũ (Chiến Tranh Lạnh Tư Bản/Cộng Sản, Chiến Tranh Việt Nam – điểm nóng thoát lửa cho Chiến Tranh Lạnh), ở Mỹ là thập niên của những mảnh hình ảnh baọ động mà người dân Mỹ chứng kiến được trên màn TV nếu không là tận mắt: các cuộc ám sát lãnh tụ: John F Kennedy, Martin Luther King, Robert Kennedy, những cuộc bạo động trong khuôn viên đại học, trên đường phố, ở ngay Hội Nghị Tiền Tuyển Cử các chính đảng, tất cả đó trên cái nền máu đổ những ngày nhiệt đới bên kia Thái Bình Dương. Ở Âu Tây nói chung 1960 cũng là thập niên bùng nổ những xuống đường, tranh luận, những đòi hỏi, từ trong lòng trí thức, các đại học, đến ra ngoài diễn trường xã hội, công xưởng, nhà thờ, các tổ chức tôn giáo, xã hội. 1960 ở Úc, tương tự, là thập niên xét lại về tính độc lập quốc gia (với Anh), tương hệ với Á Châu, và về tương giao chủng tộc trong nước, giữa di dân cũ và mới, đưa tới mở cửa và đa văn hóa. Với thổ dân Úc, cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1967 về thổ dân la khúc quanh quan trọng nhất cho tương hệ màu da trên xứ sở này. Kết quả của Referendum 1967 chính thức trên mặt hiến pháp hủy bỏ những chính sách, luật tắc, thái độ kỳ thị đối với thổ dân. Từ điểm lịch sử này, nhiều chính sách không giấu che tính kỳ thị của quá khứ trước đó đã được xét lại. Các cộng đồng thổ dân bắt đầu có quyền bầu cử, biểu tình, vận động đòi lại đất đai bị tước đoạt, nhất là những vùng sinh hoạt cũ, những nền đất thiêng nằm trên những songlines. Cũng bắt đầu từ đây, người da trắng không có quyền ly tách những trẻ em thổ dân, nghĩa là giật chúng ra khỏi bàn tay của bà mẹ thổ dân, để đem đi nuôi vào những gia đình da trắng hay những trại mồ côi của nhà thờ. Thế hệ thổ dân lớn lên trong những gia đình da trắng tự gọi mình là lost generation, thế hệ thất lạc. Đây là thế hệ đang làm nên phần chủ lực của cộng đồng thổ dân hôm nay trên đất Úc. Quá khứ của thế-hệ-thất-lạc đang có mặt trong văn, phim ảnh, thơ, nhạc, nhạc kịch. Có thể nói những đứa con của thế hệ này đã làm lại cuộc phục hưng nghệ thuật thổ dân trong 20 năm qua, ấy là Sally Morgan ở tự truyện My Place (Chốn của tôi), Tracey Moffatt ở phim ngắn Night Cries: a Rural Tragedy (Những tiếng kêu của Đêm Tối: Một Bi Kịch Miệt Quê), Leah Purcell – Box the Pony (Lấy Thúng Úp Ngựa Non) ở nhạc kịch; những cuốn phim như The Rabbit Proof Fence (Hàng Rào Ngăn Thỏ Hoang) của đạo diễn Philipp Noyce, những vở kịch như Black Medea (đạo diễn Wesley Enoch) trên sân khấu Belvoir và Melbourne Theatre Company. Những đứa con của thế hệ ấy làm nên Đoàn Vũ Bangarra hàng đầu của quốc gia Úc, là những tài năng lãnh đạo ở Adelaide Arts Festival 2004 với chủ đề “Phép chữa lành Thương tích ở Nghệ thuật”.
Cũng nhìn từ nước Úc, riêng nói về hiện đại, sau khúc quành 1967 đã có một giòng thơ ca và kịch sân khấu phản ánh qúa khứ của những sự tàn phá văn hoá thổ dân, nổi bật nhất là Kath Walker, Jack Davis và Judith Wright. Walker và Davis là thổ dân, Wright là hậu duệ của một gia đình giàu có ruộng đất canh tác xây dựng trên đất bộ tộc. Cả ba nhà thơ này không chỉ viết mà còn là những nhà hoạt động cho phong trào đòi lại đất đai, và có những uy tín mạnh mẽ trong văn giới. Trong 30 năm trở lại đây, chỗ đứng của văn học nghệ thuật thổ dân Úc đã thoát ra và đi xa hơn chuyện tìm lại đất. Những đề tài và những cách thể hiện đi ra khỏi biên giới bộ tộc, nhất là ở lĩnh vực kịch, hội họa và phim ảnh. Nó xuất hiện ở Edinburg Festival, ở Venice Biennale, và tiếp tục đi tới ở những sân khấu và gallery ở các nước, như là nghệ thuật của Úc, chứ không còn đóng khung như nghệ thuật truyền thống bộ tộc. Người đọc, người thưởng ngoạn tìm thấy thế giới từng ẩn giấu kia đa dạng, phức tuế, khôn lường như đời sống đang biến dạng mỗi lúc của toàn xã hội. Ngay cả những phiên bản truyền khẩu ở thơ, truyện, du ký, những footage phim ảnh rơi rớt chỗ này chỗ kia, trong bối cảnh xóa đen làm trắng của hôm qua, khi được tái hiện lại bằng những hình thức nghệ thuật hôm nay nó làm bật hiện, không chỉ là đưa ra ánh sáng những cái từng bị khuất lấp ở qúa khứ, mà cả những vấn đề đang sôi nổi trong lòng từng mỗi cá nhân, thổ dân, di dân cũ, di dân mới. Người ta sẽ bắt gặp ở đó những khiếm khuyết chung, những mảnh dễ đổ vỡ cũng là chung.
Như một tiêu đề của nghệ nhân thổ dân hôm nay: Living Black, Living Deadly (Sống Đen, Sống Ngon Lành) [deadly = cool một từ khẩu ngữ thổ dân], cái hôm qua lật lại, lại sống, người thổ dân cười vào chính họ black fellas, lẫn người anh em white fellas, balanda (ngoài bộ tộc), cái cười dung dị có thể được giải thích như một từ chối thế nạn nhân đã bị ức hiếp, nghĩa là không than khóc, không tự thương cảm. Thái độ nghệ thuật ấy đến từ cả một cái nhìn thấy rộng hơn, một viễn kiến, rằng mọi người đứng trên cùng một vùng đất sẽ gánh thực tại chung của vùng đất đó, không phân biệt thổ dân, di dân mới tới, hay là con cháu của kẻ chinh phục, những kẻ dẫn đạo văn hóa chính mạch. Nghệ thuật thổ dân Úc của hai mươi năm trở lại đây, trong cái mở cửa văn hoá của quốc gia, vừa là thổ dân, vùa là hiện đại đa văn, nó không khước từ sự tự phê phán, nhìn vào những đổ vỡ chính trong bản thân đời sống thổ dân, trong bạo động gia đình, sự vong thân, cuộc tranh đấu với nhịp sống. Tự nhiên như một hệ quả của đa văn hóa, văn hóa thổ dân là chất men cho nhiều nghệ nhân tới từ giòng chính mạch hay nhũng di dân mới tới từ những nguồn văn hóa Á Châu. Ở âm nhạc, sức sống trong văn hóa thổ dân đã nhập vào trong những tác phẩm đặc sắc của những nhà soạn nhạc quốc gia như Peter Sculthorpe (Earth Cry,Kakadu, Requiem), hay Liza Lim – đứa con của làn sóng di dân thứ ba. Tính cách hoá thân biến thể trong nghệ thuật đa văn thổ dân sát cạnh di dân đã gầy đựng cụ thể ý thức chung trong công chúng, khi hơn một triệu người xuống đường ủng hộ cho mưu cầu Hóa Giải/Reconciliation của thổ dân.
Khi ruộng đất bị nạn xói mòn phá hoang, những nhà nông da trắng chợt nhận ra định mệnh của họ không cách ly khỏi định mệnh của những thổ dân đã từng có mặt trên đất ấy. Trong cơn hạn hán thiêu đốt đất canh tác, người lưu dân tìm ra Mặt trời của thổ dân, vừa là nguồn tạo sinh sự sống, vừa là nguồn của cái chết. Cũng thế, khi bị đặt trước sự kỳ thị của thiểu số cực đoan, những di dân Á Châu tìm ra thổ dân trong tuyến kháng cự của mình. Mối tương hệ giữa thổ dân và những di dân mới thực ra gần gũi, gắn bó hơn người ta vốn nghĩ rất nhiều, ngoài nạn kỳ thị chủng tộc, còn nhu cầu tồn tại, còn căn cước, bản sắc văn hóa. Trong bối cảnh Úc, có thể lập luận rằng chính sách Úc Trắng (White Australia) đã bị thay thế từ từ trong bốn mươi năm qua, trước hết vào năm 1966 với đạo luật cho phép người không phải gốc Âu được trở thành công dân Úc, kế tới là cuộc trưng cầu dân ý hủy bỏ kỳ thị thổ dân vào năm 1967, và thứ ba là sự thông qua Đạo Luật Chống Kỳ Thị Chủng Tộc (Racial Discrimination Act) vào năm 1975. Quan trọng không kém là quyết định của chính phủ Malcolm Fraser vào những nằm 1976 trở đi cho hơn 70 nghìn người tỵ nạn Việt Nam vào Úc, bắt đầu “làn sóng di dân thứ ba” tới từ Á Châu. Bốn mươi năm cởi mở và mở cửa cho di dân tới từ mọi nơi, rõ nét nhất là Á Châu, cũng là 40 năm công nhận thổ dân có một chỗ đứng bình đẳng hơn. Ngược lại, Khi nước Úc xôn xao muốn quay lại thời kỳ cản trở di dân, quay về độc văn hoá, như vào giai đoạn 1997,1998 thì thổ dân và di dân gốc Á là hai thành phần bị tấn công đồng lúc và bằng một một cái nhìn nghi kỵ tương tự. Đa văn hóa hay đồng hoá, mở rộng cửa hay bảo vệ biên cương? Nước Úc vẫn dọ đẫm hai bước tiến, một bước lùi, và cũng khó để nói trước đảng phái nào là tiến bộ, đảng phái nào là bảo thủ. (Những người nghịch đảng co khi lại đồng ý với nhau trên bình diện mở cửa đa văn hóa. Khuynh hướng tiếp cận Á Châu, tôn trọng thổ dân của Paul Keating (Labor) trong giai đoạn giữa thập niên 1990 gần gũi với khuynh hướng đón nhận Á Châu, chấp nhận đòi hỏi hoà giải của thổ dân của Malcolm Fraser (Liberal) trước đó). Ở bối cảnh dù là đa văn hoá của Úc, rõ ràng thổ dân và những nhóm di dân Á Châu cùng cảm thấy văn hoá của họ nếu không được hàm dưỡng sẽ nằm ở ngoại biên của văn hoá giòng chính. Cả hai đều tranh đấu để giữ được phần nào căn cước và bản sắc của mình trước lực đồng hóa (cố tình hay không) của giòng văn hóa chủ lưu. Sự vắng mặt thiếu tiếng nói của họ trên diễn đàn báo chí, trên các phương tiện truyền thông đại chúng chính mạch là rõ ràng, và không có mấy hy vọng cứu chữa, cũng là như nhau.
Những dữ kiện chính trị thực tế như vậy không nằm ngoài thực tại thổ dân, di dân. Chúng cũng là kết quả năng động của những vận động không ngừng và không nhỏ của rất nhiều con người cá nhân trong xã hội, mà những người cầm bút là đáng kể, họ đã đóng một vai trò không nhỏ cho mưu cầu bình đẳng thổ dân. Ở Úc Patrick White, Judith Wright, Kath Walker của thập niên 1960 – được tiếp nối với Thomas Kenneally, David Malouf, Germaine Greer, Sally Morgan, Brian castro, Lionel Fogartỵ.. ấy là chưa kể những hoạ sĩ đã đưa thổ dân vào tâm thức của quốc gia sau Thế Chiến II, như Russell Drysdale, Arthur Boyd, những nhà viết sử như Manning Clark, những nhà xuất bản, những nhà báo không ngừng đưa mưu cầu của thổ dân lên diễn đàn quốc gia (một chính khách Ở Úc từng gọi mĩa họ là những phần tử “đeo băng tay đen”, trong nghĩa nhìn mãi vào quá khứ, để tang khi tang chế đã quá thời, đã mãn hạn).
Lẫn khuất trong những mảnh vỡ của một thế giới không tâm điểm, mất hệ trục (Paz), những tác phẩm cá nhân của những con người, thổ dân, di dân, lặn lội vựợt biên giới, đã để lại một di sản nhân văn không nhỏ. Những tác phẩm ở ngoại biên hôm qua, hôm nay đang tiến vào cận kề với vòng lõi chính mạch. Liệu chúng có nằm trong những Canon, những Thư điển Lớn , những “Cuốn Sách Lớn” – nói như nhân vật Etta Joseph của Sherman Alexie? Điều này chắc là không cấp thiết bằng liệu chúng có nói lên được thời đại, cõi sống chung gộp của con người trong thời đại này không. Hậu hiện đại là một thế giới đa dạng, pha tạp, chung đụng, cộng hợp, va chạm, vỡ mảnh. Ấy cũng là thế giới đang đi tới những lằn ranh mới. Lằn ranh thời nào Chief Seattle đã cảnh báo – giữa sống bước qua sống sót – vẫn còn đó, đang đùn lấn tới một lằn ranh nữa: ấy là lằn ranh tiếp giáp sự tuyệt chủng, sự đe dọa tuyệt chủng, đang diễn ra hằng ngày ở những góc khuất của trái đất, ở mặt ngôn ngữ, văn hóa, lẫn số dân.
Chúng ta hãy đọc lời cảnh báo khẩn cấp của Dự án Genographic:
“Chúng ta có lẽ chỉ có một thế hệ độc nhất còn sót lại để chụp bắt một pô hình, một snapshot, di truyền tính của lịch sử nhân loại trước khi nó biến mất, không bao giờ thấy lại nữa.”
(We may therefore only have a single generation remaining to capture a genetic ‘snapshot’ of the history of our species before it is lost forever.)
Genographic Project – National Geographic Society
Ở cảnh báo trên, từ “snapshot” không dưng hàm chứa một nghĩa oái oăm. Khi kết tính thế kỷ thứ 20, thế kỷ có những cuộc chiến tranh khốc liệt nhất đã lôi kéo nhiều phe, nhiều phía, gây nên cái chết và thương tích cho hàng mươi triệu con người, thế kỷ đã nhìn thấy sự hình thành và cáo chung của những chế độ toàn trị, cái đến và đi của chúng còn khiến người sống bàng hoàng, ấy cũng là thế kỷ của những hố sâu cực lớn: sự thừa mứa qúa độ sát kề những dân tộc chết đói; dục lạc và tự do sát kề bên tù đầy và xua đuổi ; kỹ thuật tân tiến sát kề bên trần truồng, trắng tay; sự chế ngự toàn cầu của một loại văn hóa sát kề bên sự triệt tiêu của những nhóm người bé nhỏ, những nhóm ngôn ngữ, văn hóa bé nhỏ. Một snapshot. Tấm hình dương bản gien tố cho con người nhin thấy gia đình tổ tông của mình trong một cái tóm thu chớp mắt, có lẽ là rất quan trọng. Nó cho người ta nhìn lại cái chung trong từng mỗi cá nhân. Đoạn đường con người đã đi qua là dài, nhưng so với tuổi trái đất, nó cũng chẳng là bao. Con người sẽ khắc phục dị biệt, sẽ lấp những hố sâu ngăn cách để cùng đi tiếp, hay tấm hình snapshot này là thêm một trữ vật nằm chìm trong kho tài liệu hoang phế, một di ảnh trên bệ đá bàn thờ mai hậu? Câu hỏi này cũng như nằm trong bí ẩn định mệnh mà Chief Seattle đã nhắc tới trong thỉnh nguyện thư gởi chính quyền Mỹ đúng 2 trăm năm về trước.
Phần Phụ Chú
Những mảnh rời về thổ dân

    1.
    Kẻ khác không hiện hữu: đây là một niềm tin duy lý, một niềm tin không cứu chữa được của lý trí con người. Căn cước = thực tại, làm như là, sau cùng, mọi thứ cần thiết và tuyệt đối phải là một và như nhau. Nhưng kẻ khác từ chối biến mất; nó tồn tại ngầm, nó kiên trì sống; ấy là khúc xương cứng làm gãy răng lý trí.
    Antonio Machado – đề từ vào tập Mê Lộ Cô Đơn (The Labyrinth of Solitude) của Octavio Paz
    2.
    Muốn hiểu một ai đó, bạn phải xỏ chân vào đôi giày của họ mà đi.
    Ngạn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ.
    3.
    “Tự nhận là một người du mục da trắng, mối lân mẫn của Chatwin với những bộ lạc lang thang của sa mạc bất tận xư” Úc đem lại một trong những chân dung nồng nhiệt nhất của một chủng tộc bị phá nát bởi rượu, điều mà nhiều người Úc khác thầm kín hy vọng là một Giải Pháp Chung Cuộc, Tối Hậu, (lại cho phép) tự định liều lượng."
    Trích đoạn, bìa sau của The Songlines, Daily Telegraph, 1987
    4.
    “Trong văn hóa Islam, và đặc biệt giữa những dòng Sufi, hành tác đi, hay nhịp điệu đi, được sử dụng như một phương tiện thiện xảo để làm tan biến dần những ràng buộc vào cõi thế, cho phép con người tự tan mất vào Thượng Đế… Khi tôi nhắc điều này với Arkady, anh ta bảo nó tương tự gần gũi với một khái niệm của thổ dân Úc, ‘Nhiều con người sau đó trở nên là một với quê hương, ở chốn ấy, họ là một với tổ tiên.’ Bằng cả cuộc đời đi và xướng lên Bài Ca của tổ tông, một kẻ sau cùng trở thành con đường, tổ tiên, và bài ca.”
    Bruce Chatwin, The Songlines, 1987
    5.
    Cuộc đời là một cây cầu. Đi ngang qua, nhưng đừng xây nhà trên ấy.”
    Ngạn ngữ thổ dân Bắc Mỹ, ghi lại trong The Songlines
    6.
    Những quân đoàn của cuộc Thánh Chiến đầu tiên theo giáo lệnh tối cao của Giáo Hoàng Urban Đệ Nhị tiến về biên cương của văn minh Islam bắt đầu vào năm 1095. Họ đi ngựa, đội mũ nồivà gọi cuộc chiến ấy là Thánh Chiến. Từ Á Rập cổ gọi những quân nhân này là franj (the Franks),giặc Tây Dương. Vị tướng Islam làm chấn động quân đoàn này là Saladin, người đặc biệt để lại một dấu ấn trong tâm thức Âu Châu trung cổ. Dante Alighieri đã cho Saladin vào trong tác phẩm Hài Kịch thiêng, đứng tách như một hiền nhân.
    Theo Peter Craven, essay ‘Holy War, Holy Wrongs’, The Age May 7, 2005
    7.
    Ngày 18 tháng 2, 1519, Cortez lên đường bắt đầu cuộc chinh phục Mexico, đoàn thuyền gồm 11 chiếc, với 508 binh nhân, 100 thủy thủ, và- quan trọng nhất – 16 chiến mã.
    Theo Britannica
    8.
    "Người Mễ Tây Cơ, trẻ hay gìa, criollo hay mestizo, thuần Tây Ban Nha hay pha lai da đỏ, quan tướng hay phu phen hay luật sư, thầy cãi, với tôi họ dường đều tự đóng cửa để phòng thân: khuôn mặt họ là một chiếc mặt nạ, và nụ cười họ cũng thế."
    Octavio Paz, The Labirynth of Solitude (Mê Lộ của Cô Đơn)
    9.
    Không còn tâm điểm
    hội trường của tập tụ và lễ dâng
    Không còn trục nối
    những năm tháng phân tán
    những chân trời giải thể
    Họ đã dán nhãn lên thành phố
    ở mọi cửa nhà
    Ở mọi đầu trán con người
    dấu $
    (Octavio Paz, “Vuelta” [Trở Về])
    10.
    Họ đi vào cái làng nhỏ
    Một nhúm người rách hở thân, trì nặng, im lặng
    Những kẻ còn sót từ một bộ tộc.
    Họ đến đây để trở về vòng bora ngày cũ
    Nơi hôm nay nhiều người đàn ông da trắng vội vàng chạy quanh như kiến.
    Bảng treo bán của công ty địa ốc: “Rác Có Thể Đổ Xuống Đây”.

    Chúng tôi là thiên nhiên là quá khứ, là tất cả lề lối cũ.
    Bây giờ đã biến mất, đã tứ tán.
    Những bụi cây đã biến mất, con đà điểu, con kăng-gu-ru
    đã biến mất, khỏi chốn này.
    Vòng bora đất thiêng đã biến mất.
    Đêm lủa trại corroboree đã biến mất.
    Và chúng tôi đang ra đi.”
    Oodgeroo Noonnuccal (Kath Walker), thi sĩ Úc “We Are Going” [Chúng tôi đang ra đi]
    11.
    Thổ dân Tasmania là thổ dân Úc tới từ đại lục trước khi mực nước biển Bass dâng lên chia cắt vớt đất liền cách đây 10 nghìn năm. Người da trắng tới đảo vào năm 1803. Dân số thổ dân trên đảo vào thời điểm này có chừng 2 nghìn người. Năm 1804 người da trắng bắt đầu cuộc Chiến gọi là Black War. Đến năm 1835 số thổ dân còn sống sót là 2 trăm người, được đưa qua Đảo Flinders. Truganini là người thổ dân cuối cùng của Tasmania, bà ta mất vào năm 1876.
    (Người thổ dân Tasmania cuối cùng – theo Britanica)
    12.
    "Là một thổ dân da đỏ Spokane, tôi chỉ cho lên xe những bạn xin quá giang là thổ dân da đỏ. Tôi học được nghi lễ này từ cha tôi, một người thổ dân giòng tộc Coeur d’Alene, người mà vẫn luôn luôn dừng xe cho những người du mục thổ dân thế kỷ hai mươi mà vẫn khước từ cá hồi đã biến mất. Tôi không biết chắc họ tin tưởng cái gì, nhưng họ đeo mang hy vọng như mang một chiếc sơ mi màu sáng rỡ."
    Sherman Alexie, nhà văn hai giòng máu da đỏ Spokane / Coeur d’Alene truyện ngắn “The Toughest Indian In the World”/Người Thổ Dân Da Đỏ Lì Nhất Thế Giới
    13.
    Cha tôi tộc Noonuncal Ông phải giữ tục xưa lề cũ
    Tô-tem của ông là rắn hổ, không ai được lóc da
    Mẹ tôi giòng Peewee, oang oang bà tỏ bày
    rắn hổ chỉ là một tai họa
    Oodgeroo, “Ballad of the Totems”/Thơ hát chuyện tô-tem
    14.
    "Những Giai Cấp Sang Trọng Hơn – Những Giai Cấp Thấp Hơn; người Anh – người Úc … Những sự khái quát hoá chung chung, và đặt kề bên nhau đối cặp là những trò mời mọc cái gì khiến cho một tình huống buồn cười cho một người Anh và ác nghiệt đối với một người Úc? Dường như những ngày đầu tiên trên đất Úc này đã qúa bạo tàn để nó khuyến khích một đầu óc dí dỏm nhạy bén ở con người ta. Những con người đi chiếm đất khẩn hoang dường như là những kẻ canh cánh sự ăn làm cặm cụi hơn là những kẻ vui cười. Ngay cả người di dân Ái Nhĩ Lan dường cũng đã bỏ tính dí dỏm và trí tưởng tượng lại trên đất tổ, chỉ đem theo với họ một nhãn Công Giáo đặc thù, những gắt gỏng của họ, sự yêu chuộng rượu bia và cá ngựa trường đua của họ. Tôi nhận thấy tính khôi hài của Úc thực lù khù xóm cũ, cứ thế cho đến giữa thế kỷ thứ hai mươi."
    Patrick White – Flaws in the Glass (Tự truyện, Những Tì Vết trong Gương)

    15.
    “Mẹ tôi rất mạnh. Một lần, bà nhặt một trái dừa và đập vào đầu cha tôi. Cú ấy dạy tôi về tự vệ, tự vệ thay vì gục xuống một đống.”
    Alice Walker, Maya Jaggi phỏng vấn, The Guardian Jan 15 – 2005
    16.
    Dignity or Death
    [Nhân phẩm hay là chết]
    (Graffiti trên tường phố Redfern, Sydney)
    17.
    “Tôi không quan tâm tới chụp bắt thực tại, tôi quan tâm tới chính mình tạo lấy thực tại đó.”
    Tracey Moffat, nhà làm phim, tác giả phim Night Cries: A Rural Tragedy

    18.
    "Night Cries: A Rural Tragedy:
    Phim ngắn, 1989, không đối thoại, cảnh trí lập thành từ sử dụng những tấm phông màu (tableau), hai diễn viên: một thiếu phụ thổ dân, đứa con của Lost Generation và một bà mẹ Úc da trắng đã già, sự sống tuỳ thuộc vào sự chăm sóc của người thiếu phụ thổ dân. Phim đi qua những điểm mấu chốt trong quan hệ thổ dân và người da trắng, khám phá quá khứ dằng co giưa đôi bên, cả mặt xã hội lẫn những thể hiện nghệ thuật của một thời chung đụng. Cuốn phim ngắn này vừa là một phê phán hình thái quán sát của lối phim dân tộc học thời kỳ thực dân, mà đã dõi nhìn thổ dân bằng ngôn ngữ bắt chụp làm tài liệu. Những bảng phông màu gợi cấu trúc của các hoạ sĩ Úc sau Thế Chiến II như Arthur Boyd, Russell Drysdale, và họa sĩ thổ dân Albert Namatjira, nền nghệ thuật đã cho lối khắc họa colonialist đi vào qúa khứ, cũng như đã biết nhìn thổ dân, di dân bằng con mắt bình thường, bình đẳng. Cuốn phim vừa mang những thông điệp chính trị, phê phán, vừa là trình bày một cách thể hiện mới, của pha lai và cộng hợp. Phim chấm dứt với sự sử dụng phép lồng footage ca sĩ thổ dân Jimmy Little, một ca sĩ giải tri’, entertainer, trong bộ quần áo trắng, với một khúc hoan ca nhà thờ, gợi nhắc thời kỳ đồng hóa."
    Lynne Cooke, “Tracey Moffatt – Free-falling”

    19.
    “Đối với hầu hết người da đỏ, những vì sao trên nền trời đêm không gì hơn là những bia đá đầu nấm mộ rải rạc rời suốt một nghĩa trang tối tăm. Nhưng những người da đỏ cha tôi cho quá giang từ chối tin vào sự hiện hữu của bầu trời. Họ là những người chất phác chỉ tin vào ngón tay cái và cẳng chân . Cha tôi thèm có được sư chât phác bình dị kia. Ông muốn thay đổi cách nghĩ cách nhìn của họ về cá hồi; ông muốn tách mở tim họ ra và thấy tương lai trong máu họ. Ông yêu họ."
    Sherman Alexie, The Toughest Indian of the World"/Ngươì Da Đỏ Lì Nhất Thế Giới
    20.
    The Long Slow Death of White Australia
    (
    Tựa đề sách, Gwenda Tawan, Scribe Publication, 2005)
    21.
    Etta Joseph: Ông Cox, Spencer. Trong một trăm mười tám năm qua, tôi sống trong thế giới của ông, thế giới da trắng của ông. Để tồn tại, để gầy dựng đàn con đàn cái tôi phải trắng năm mươi bảy phút một giờ.
    Spencer Cox: Còn ba phút kia?
    EJ: Ấy, thưa ông Cox, ba phút ấy là khi tôi trở lại làm thổ dân, và ông không có khái niệm, ý niệm gì, không có cách gì biết cái gì diễn ra trong ba phút ấy.
    SC: Thế thì bà cho tôi biết. Tôi có mặt ở đây là để biết điều ấy.
    EJ: Ô! không, không, không. Ba phút đó thuộc về chúng tôi. Chúng rất bí mật. Các ông đã thực dân hóa đất của thổ dân nhưng tim tôi óc tôi là một cõi không ai thực dân hoá được.
    Sherman Alexie, “ Dear John Wayne”, The Toughest Indian of the World
    22.
    "Trong xe, hay đúng hơn một chân trong xe, một chân đặt trên vệ đường ngoài cửa xe, Mary Lynn khóc. Ôi, God, cô ta yêu hắn, cô ta yêu đôi khi vì hắn da trắng, thường khi bất kể tới màu da trắng của hắn. Trong nỗi sợ hãi của Mary Lynn, cô nhận ra một sự thực Sitting Bull không bao giờ biết: Ít nhất có một người da trắng cô có thể tin tưởng được."
    Sherman Alexie, “ Assimilation/Đồng hóa”, The Toughest Indian of the World
    23.
    No I am not ashamed of our likeness,
    of what is in that betrays me, a smell of salt
    backwaters, a native
    grasp on the gist
    of things, our local patch
    of not-quite-solid earth from which the vast swing of the sky
    is trackable
    (không tôi không xấu hổ
    vì sự giống nhau của chúng ta, vì cái gì trong đó phản bội tôi
    một mùi muối
    ao sông nấp khuất, một cái nắm bắt bản thổ
    cốt lõi của những vật thể, mảnh đất
    của chúng ta, của đất không hoàn toàn chất đặc
    từ đó cú đảo nghiêng rộng lớn bầu trời
    là dõi tìm theo dấu được )
    (David Malouf – “The Crab Feast”)
    24.
    Spencer Cox: Những cuốn sách dối gạt này, như bà đang gọi chúng đây, là những văn bản chuẩn mực về khu vực thổ dân Trung Bộ Salish.
    Etta Joseph: Không ông, chẳng có gì chuẩn mực cả Chúng chỉ là truyền thống truyền khẩu của qúi ông, chúng chứa đầy những dối láo, khuyếch đại, sai lệch và ngu muội như những truyền thống của chúng tôi, vậy thôi .
    SC: Bà đã đọc cả những sách vở ấy à?
    EJ: Tôi đọc tất cả những sách vở của qúi ông. Ông trưng ra cho tôi một cuốn sách của người da trắng viết về da đỏ, tôi đã đọc rồi. Ông trưng tiếp cho tôi bất kỳ cuốn nào trong kho gọi là Những Tác Phẩm Lớn của qúi ông, tôi cũng đã đọc qua. Hemingway, Faulkner, Conrad. Đã đọc. Austen, Kafka, James, đã đọc. Whitman, Dickinson, Donne. Đã đọc. Chúng tôi đâm vào đại học này, college nọ, vào cả Harvard của ông, chụp lấy danh sách những cái cần đọc, tôi đã đọc. Như thế đã hàng trăm cuốn sách của qúi ông, những cuốn sách của người da trắng các ông, hàng nghìn cuốn. Tôi đã đọc chúng cả.
    SC: Bà muốn đưa ra ý gì khi nói những điều này với tôi vậy?
    EJ: Tôi biết về các ông nhiều hơn là các ông có bao giờ biết được về chúng tôi.
    Sherman Alexie, “ Dear John Wayne”, The Toughest Indian of the World

bài đã đăng của Thường Quán


Bài này không có phần bình luận.

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)