Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Màu Da và Ngôn Ngữ, Tiểu luận Email bài này

Tại sao viết bằng tiếng Việt?

0 bình luận ♦ 10.08.2006

Khi nghiên cứu nền văn học Việt hải ngoại, ngôn ngữ nguyên bản của tác phẩm là một điểm đặc trưng rất quan trọng nhưng thường ít được phân tích. Trong phạm vi văn học và lịch sử nước Mỹ, sự lựa chọn viết bằng tiếng Việt có liên hệ với nhiều vấn đề: chính kiến, lòng hoài hương, cách đồng hóa với văn hoá Mỹ, thể loại và phong cách văn học, ảnh hưởng của quốc gia hoặc truyền thống, đối tượng người đọc, v.v… Làm thế nào và dựa vào đâu để hiểu và phân tích dòng văn học này? Nội dung có gì khác so với văn học viết bằng tiếng Anh không? Có cần đối chiếu giữa những thế hệ không? So sánh theo giới hạn địa lý hay đặt trong bối cảnh quốc tế? Theo phạm trù dân tộc hoặc màu da trong nước Mỹ? Nếu so sánh với những tác giả ở Việt Nam, Pháp, và Châu Phi thì chúng ta sẽ rút ra những khác biệt hay khám phá gì mới lạ? Hoặc ở phạm trù nhỏ hơn là xét theo địa phương, tác phẩm sáng tác ở Nam Cali có gì khác so với tác phẩm ở Texas hay Louisiana không? Nếu muốn mở rộng việc phê bình tác phẩm viết bằng tiếng Việt thì phải chú ý tới nhưẠng câu hỏi này và nhiều hơn thế. Trong giới hạn của bài phân tích này, tôi muốn áp dụng những lý thuyết về ngôn ngữ trong ngành văn học về “hậu chủ nghĩa thực dân” Châu Phi-Caríb và ngành văn học da màu của dân tộc thiểu số tại Mỹ như của người Mỹ gốc Á.
Từ “francophone” – nói chung là tác giả viết bằng tiếng Pháp ngoài biên giới nước Pháp – ban đầu là một phạm trù văn hóa đế quốc vì những nhóm này bày tỏ sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân Pháp và thành công của cái gọi là “sứ mệnh khai hóa” của thực dân (mission civilisatrice).[1] Khái niệm này không khác gì mấy so với “anglophone” hoặc “lusophone” – sự truyền bá ngôn ngữ của thực dân Anh và Bồ Ðào Nha trên thế giới. Nhưng theo Belinda Jack, những tác giả francophone thường không gắn bó chặt chẽ với văn hóa nước Pháp cho dù họ là công dân Pháp, nhất là người thời thực dân và hậu thực dân. Jack khẳng định về văn học francophone:
..thứ quan hệ giữa văn học Châu Âu và văn học trong ngôn ngữ Châu Âu (hay một ngôn ngữ có liên hệ mật thiết với Châu Âu) ngày càng được xem không phải mối tương quan của việc cái sau bắt chước cái trước hay là một nhánh văn học phụ thuộc vào bố mẹ Châu Âu mà hơn thế. Ðó là cơ sở có tính chất lật đổ, một đứa con nổi loạn mà bắt buộc bố mẹ phải định nghĩa lại bản sắc cuả họ đối với thế hệ ngày sau.[2]
Thế thì việc dùng tiếng Pháp mang theo lịch sử thống trị của chủ nghĩa thực dân nhưng không phải là một chứng minh của sự đồng hóa thành công. Tiếng Pháp không cần thuộc về một dân tộc duy nhất như một tài sản, vẫn không là một ngôn ngữ bị giới hạn về mặt địa lý. Nhưng hai phái này, giữa “theo” hoặc “chống” bố mẹ, không phải lúc nào cũng rõ ràng. Ðiển hình là văn học của giai đoạn Négritude năm 1930’s và tác phẩm của Aimé Césaire (người Martinique), và Léopold Senghor (người Senegal).
Theo Césaire và Senghor, négritude là một tư tưởng chống chủ nghĩa thực dân và tán dương người da đen trên thế giới. Người Phi Châu không cần đánh giá văn hóa của họ theo tiêu chuẩn văn minh Pháp. Senghor viết về bản sắc của người da đen như thể của mọi người da đen trên thế giới ố cái tính cách riêng bẩm sinh trong huyết quản khiến họ khác biệt với người da trắng, giàu cảm xúc hơn, gần thiên nhiên hơn, v.v… Dù là những mẫu rập khuôn (stereotypes), Senghor vẫn xử dụng những thứ mà ông cho là thuộc tính của da đen, nhưng trong ngôn ngữ Pháp, thí dụ ông dùng chính từ “nègre,” nhưng để chống lại thành kiến cho rằng người da đen là hạng người hạ cấp.
Césaire, vì ông là người Caríb, đã dùng từ négritude không để chỉ một thuộc tính của người da đen nói chung, mà để chỉ một cộng đồng chính trị, dựa trên kinh nghiệm của người Phi Châu và người di dân trong lịch sử thực dân và đế quốc. Tiếng Pháp và những bài thơ của Senghor và Césaire không hoàn toàn theo ý thức hệ Tây, và không phải lúc nào cũng đọc và nghe giống hệt tiếng Pháp của người Pháp sống ở mẫu quốc. Tuy nhiên, tác phẩm của hai nhà văn này vẫn là sản phẩm của nền giáo dục Pháp. Họ phải dùng tiếng Pháp vì không có cơ hội nào khác để biết và học tiếng mẹ đẻ hoặc văn hóa quê hương, nhưng mục đích của họ là biến tiếng Pháp thành một ngôn ngữ bày tỏ được tinh thần phản kháng cuả người da đen.
Dù hai nhà văn này thường được xem như hai cha đẻ cuả phong trào Négritude, tương lai chính trị cuả hai nước họ cũng không giống nhau. Senghor thành tổng thống Cộng Hòa Senegal độc lập và giữ cương vị này hai mươi năm. Césaire thành thị trưởng thủ đô Fort-de-France của Martinique hơn năm mươi năm và ông chấp nhận quyền bảo hộ của chính phủ nước Pháp. Hiện nay, hai nước này vẫn còn giữ tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức. Việc sử dụng ngoại ngữ hay tiếng mẹ đẻ là một vấn đề rất phức tạp vì ta không thể chỉ xét đến việc đâu là ngôn ngữ “đúng” hoặc “thật” của một dân tộc, mà còn phải chú ý đến những điều kiện lịch sử và chính trị khiến cho một dân tộc có tự do lựa chọn ngôn ngữ hay không. Việc sử dụng tiếng Pháp không đơn thuần là một di sản của lịch sử đàn áp thực dân mà còn mang theo tinh thần cách mạng của phong trào Négritude và nhiều phong trào khác.
Trong phạm vi chủ nghĩa thực dân Anh, Edward Kamau Braithwaite, người Barbados, giải thích về sự dùng tiếng Anh như một “quốc ngữ”: “Xét theo từ vựng thì đó là tiếng Anh. Nhưng trong ngữ điệu, tiết tấu và âm sắc, cách phát âm, thì quốc ngữ không còn là tiếng Anh, dù những từ ngữ khi nói ra có vẻ ít nhiều là tiếng Anh.” Vì ông ưa chuộng hình thức của những bài thơ truyền khẩu, Braithwaite nhắc, “Tạp âm cũng là một phần của ý nghĩa.”[3] Ngôn ngữ không chỉ là những từ trong từ điển, và không xác định được mọi ý nghĩa trong giọng điệu cá nhân của người dùng tiếng Anh.
Trái ngược với Braithwaite là chiến lược của Ngũgĩ wa Thiong’o và việc xác định văn chương viết bằng tiếng quê hương của ông, Gikuyu. Ngũgĩ miêu tả, không viết bằng tiếng mẹ đẻ “cũng giống như tạo ra một xã hội của những thân thể không đầu và những cái đầu không thân thể.”[4] Cách hình dung dữ dội này nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ trong ý muốn vẹn toàn bản thân. Nếu người ta không kính trọng mọi ngôn ngữ, thậm chí những ngôn ngữ không phổ thông và không có một truyền thống văn học lớn, thì đây là nguyên nhân quan trọng nhất để phải gìn giữ và phát triển những ngôn ngữ này.
Quyền lựa chọn dùng tiếng mẹ đẻ không dành cho tất cả người da đen di dân, vì người Caríb không có một tiếng mẹ đẻ nguyên thủy mà chỉ có tiếng “créole” là một hỗn hợp những ngôn ngữ Phi Châu, Pháp, và thổ ngữ. Nhưng ai biết tiếng này? Ai sẽ đọc và dịch “créole”? Theo Éloge de la créolité của ba tác giả Patrick Chamoiseau, Jean Bernabé, và Raphaël Confiant, họ viết tiểu thuyết, làm thơ, và dạy lớp ngôn ngữ “creole” để nhấn mạnh tiếng này cũng là một tiếng chính đáng, phức tạp, và phong phú. Nhưng có ngôn ngữ nào tuyệt đối thuần nhất không? Việc viết bằng tiếng mẹ đẻ hay bằng ngoại ngữ mang những ngụ ý rất phức tạp và tùy thuộc vào giai đoạn lịch sử và chính trị. Ðiểm qua sơ lược như thế, những phong trào này (những lý thuyết về Négritude, việc bị cắt lìa khỏi một ngôn ngữ, và tiếng “créole”) liệu có giúp ta hiểu thêm những tác phẩm viết bằng tiếng Việt ở ngoài nước không?
Ngòai điểm tương đồng lịch sử là thuộc địa của Pháp, văn học francophone không có những điều kiện hoàn toàn trùng hợp với văn học và lịch sử của người Việt hải ngoại. Négritude là một khái niệm cần thiết để thách thức chủ nghĩa dân tộc thuần nhất (ethno-national homogeneity) của ngôn ngữ Pháp. Trái lại, ngôn ngữ Việt chiếm một vị trí rất nhỏ, và đa số người dùng tiếng Việt trong và ngoài nước là dân tộc Việt hoặc có gốc Việt. Dù liên hệ với quê hương có thể mạnh hay yếu, người Việt hải ngoại vẫn còn giữ được văn hóa và căn cước Việt khi dùng tiếng Việt.
Nhưng có thật bản sắc người Việt là cái gì đó sẵn có như một thuộc tính của người Việt hay gốc Việt? Tiếng Việt đang sử dụng ở ngoài nước có phù hợp với văn hoá, chính trị, tinh thần và căn cước nước Việt Nam hiện nay không? Tiếng Việt dùng trong ba miền Bắc-Trung-Nam có ý nghĩa khác biệt như thế nào? Người biết tiếng Việt phân biệt được giữa các “giọng” Bắc, Trung, và Nam, nhưng có thứ “giọng” riêng biệt trong văn học Việt-Mỹ, Việt-Pháp, và Việt-Úc không? Hay lý do của việc sử dụng tiếng Việt ngoài nước là để giữ gìn hoặc sáng tạo những đặc điểm chung của người Việt trong và ngoài nước?
Theo Ngũgĩ, sự lựa chọn viết bằng tiếng mẹ đẻ là cách giải quyết để xây dựng nền văn học dân tộc Kênia sau khi giành được độc lập và để chống lại sự đàn áp văn hóa dân tộc. Nhưng sự phức tạp của vấn đề văn học Việt hải ngoại lại là không xác định được tác giả viết bằng tiếng Việt để chống lịch sử thống trị Pháp, Mỹ, hay Ðảng cộng sản Việt Nam? Ai là bố mẹ trong thí dụ này? Viết bằng tiếng Việt có phải là một cách tạo ra chủ nghĩa dân tộc Việt ngòai biên giới Việt không? Ai được bao gồm trong cộng đồng này? Ai có quyền lực để quyết định căn cước người Việt? Ðúng là người Việt hải ngoại vẫn còn viết bằng tiếng Việt để ngôn ngữ ta không mai một, để kính trọng văn hóa ta, để diễn dạt sâu sắc giọng nói của ta. Thêm nữa, nếu mọi ngôn ngữ không thuần nhất thì không có ngôn ngữ nào mà không thay đổi. Văn chương là lãnh vực của sáng tạo. Ngôn ngữ không cố định, không phải là mệnh lệnh hay quy luật. Theo Stuart Hall viết về văn hóa Caríb, văn hóa không có nghĩa là mọi tác giả đều phải tìm kiếm một cái gì đó trong văn hoá truyền thống đã bị chôn vùi để cứu vãn như công việc của khảo cổ học.[5] Phải chú ý đến truyền thống, nhưng cũng phải cẩn thận không chôn bản thân mình trong quá khứ và huyền thoại về một ngôn ngữ thuần tuý.
Trong mảng văn học Mỹ gốc Việt, có một hình thức truyện kể theo lối cổ điển của người di dân và hình thức này có thể không phù hợp. Ðó là kinh nghiệm của người di dân khi bắt đầu đến nước Mỹ khi phải đấu tranh để chọn theo văn hóa mới hay cũ, thế hệ trẻ hay già. Nhưng nếu vì áp lực mà ta phải lựa chọn như thế, thì văn hóa Việt Nam chỉ nằm ở vị trí cũ. Văn hóa Việt chỉ nảy sinh ở quê hương, trong trường hợp này bị coi như không có gì thích hợp với người Mỹ và đời sống Mỹ để có thể tồn tại ở đất nước Mỹ. Nhưng thật sự có cần phải như thế không? Bao nhiêu tác giả trong nước Mỹ viết bằng tiếng Việt, có đài truyền hình và phát thanh bằng tiếng Việt, đọc báo bằng tiếngViệt, v.v… ? Khi đọc văn chương trong trường đại học, trong khoa văn học Mỹ gốc Châu Á, tại sao trong danh sách tác phẩm được công nhận không có những tác phẩm viết bằng tiếng Việt và viết trong nước Mỹ? Và trong việc lựa chọn những sách dạy trong lớp, nếu gặp tác phẩm viết bằng tiếng Việt, sinh viên lại đọc như thể nghiên cứu tài liệu về dân tộc học. Những lớp này thường đọc phỏng vấn, lịch sử , hồi ký … nhiều hơn những tác phẩm hư cấu. Có thể đây là một vấn đề thực tế về kinh phí và “vốn liếng văn hóa” của tiếng Việt – vì số người có nhu cầu đọc hoặc muốn học tiếng Việt không cao lắm, và không có nhiều cơ hội để dịch tác phẩm bằng tiếng Việt sang tiếng Anh. Nhưng, nếu những tác phẩm bằng tiếng Việt của người Việt hải ngoại không có chỗ đứng trong khoa Mỹ-Á học hay khoa Ðông Nam Á học (vì các ngành này thường chỉ nghiên cứu các tác phẩm viết trong nước), thì phạm trù bị mồ côi này nằm ở đâu? Tôi dùng ẩn dụ “mồ côi” như Gloria Anzaldua khi cô miêu tả tình hình ngôn ngữ của người di dân Mễ Tây Cơ ở nước Mỹ.
Nếu xem qua nền văn học “Chicano” (Mỹ gốc Mễ tây Cơ) thì việc dùng tiếng “Spanglish” (thứ tiếng trộn lộn Anh và Tây Ban Nha) và viết song song hai ngôn ngữ Anh và Tây Ban Nha lại rất quan trọng. Dù đa số tác giả Chicano viết bằng tiếng Anh, họ vẫn giữ gìn quyền sử dụng tiếng Tây Ban Nha và tiếng địa phương. Gloria Anzaldua giải thích về một thứ “ngôn ngữ biên giới,” nghĩa là một ngôn ngữ sống và không phải cứ dùng tiếng Anh thì tác giả là kẻ phản bội văn hóa hay cứ dùng tiếng Tây Ban Nha là tác giả không biết sử dụng đúng ngôn ngữ dòng chính, và ngôn ngữ của họ là “một ngôn ngữ mồ côi… bất hợp lệ, một ngôn ngữ lai căng.”[6] Vì ngôn ngữ không phải lúc nào cũng bám chặt vào căn cước dân tộc của một quốc gia, Anzaldua dùng khái niệm “ngôn ngữ biên giới” để xác định một vị trí linh động và chiến lược.
Có những nhà phê bình viết về kinh nghiệm di dân và sự mong mỏi tìm kiếm tình cảm quê hương tại nơi cư trú mới. Vì họ thường viết về di dân Châu Phi, họ khẳng định không thể trở về quá khứ lý tưởng được vì khoảng cách thời gian. Theo Stuart Hall, “Di trú là chuyến đi một chiều. Không còn ngôi nhà để trở về. Ngôi nhà này không hề có.” Họ quan tâm đến “đường đi” hơn “nguồn gốc,” và Rey Chow, nhà phê bình về người di dân Trung Quốc, cũng đồng ý, “Quê hương là đây, ngay trong tình trạng di trú của tôi.”[7] Nhưng lịch sử của người Việt di dân rất khác. Nhiều người di dân vẫn còn gia đình ở Việt Nam, thế hệ già và trẻ được trở về và đi du lịch ở Việt Nam, cũng nghe nhạc và xem phim Việt Nam. Dù sự trao đổi giữa hai quốc gia này không tương xứng, người Việt ở Mỹ có nhiều cơ hội hoài niệm quê hương và duy trì những nghi lễ theo phong tục tập quán. Ðiều đó không có nghĩa là người di dân bướng bỉnh và lạc hậu không chịu đồng hóa. Việc dùng tiếng Việt không phải là cách để tác giả chứng tỏ mình là người Việt chính gốc hơn người Việt viết bằng tiếng Anh. Kwame Anthony Appiah sáng tạo ra khái niệm “chủ nghĩa thế giới có cội rễ” (rooted cosmopolitanism). Ông khẳng định nguồn gốc và văn hoá có thể truyền bá được. Appiah nói, “Có gốc để làm gì nếu không mang theo với mình được?”[8] Ông viết bằng tiếng Anh, nhưng có “tinh thần chủ nghĩa quốc tế.” Cuối bài viết, ông nhắc lại một tục ngữ bằng tiếng Asante, ngôn ngữ của bố ông. Tinh thần chủ nghĩa quốc tế này cũng một sự quan tâm của Phạm Thị Hoài khi cô miêu tả đọc giả lý tưởng chính là người dịch.[9] Vấn đề lựa chọn giữa sử dụng tiếng Việt hay ngoại ngữ có thể là một nhị nguyên không xác đáng. Bao nhiêu người Việt di dân biết hai ngôn ngữ? Tại sao việc lựa chọn một ngôn ngữ để sáng tạo lại đồng nghĩa với việc đánh mất hay từ bỏ những ngôn ngữ khác? Câu trả lời của Phạm Thị Hoài cũng tựa như ý kiến của Salman Rushdie trong bài “Những Quê Hương Tưởng Tượng.” Rushdie nghĩ rằng, “Nhiều người thường cho là trong việc dịch thuật phải có cái gì đó bị tiêu vong; Tôi vẫn giữ ý kiến… là cũng có cái gì có được khai sinh.”[10] Vấn đề về sử dụng tiếng Việt hay tiếng Anh không cần bị hạn chế như một phương pháp để đo tính trung thành hay phản bội văn hóa quê hương. Có khi sử dụng tiếng mẹ đẻ là một hành động tác giả có tự do lựa chọn, có khi không. Nhà phê bình phải chú ý đến tất cả phạm vi, không được giải quyết việc sử dụng tiếng Việt chỉ có hay phải có một mục đích thôi. Quan trọng hơn là câu hỏi: Người viết bằng tiếng Việt để nói gì?
Những tác phẩm viết bằng tiếng Việt
Ðề tài phổ biến trong những tác phẩm viết bằng tiếng Việt là gì? Các nhà văn muốn ngụ ý gì khi sử dụng tiếng Việt để kể chuyện? Tôi chỉ đọc một vài truyện ngắn và thơ trong những số Hợp Lưu. Tuy không đọc đủ để phân tích kỹ lưỡng, nhưng tôi vẫn thấy rõ một đề tài nổi bật là những truyện về kỷ niệm và vấn đề giữa cách nhớ và quên quá khứ. Kỷ niệm gồm có nhiều loại để biểu tượng kinh nghiệm riêng của một cá nhân hoặc của cộng đồng Mỹ-Việt chung. Khái niệm nhớ và quên rất quan trọng trong những tác phẩm văn học và nghệ thuật liên quan đến những chấn thương tinh thần (trauma). Người ta không thể bỏ quên tất cả kỷ niệm từ một kinh nghiệm hay từ một biến cố gây chấn thương. Ðó là những ký ức luôn luôn trở lại, thường hiện ra trong những hình thức khác nhau, nhưng vẫn quay lại nhiều lần như nỗi ám ảnh. Ám ảnh này có thể hết sức nặng nề và thế là thế hệ ngay sau đó cũng thừa hưởng những kỷ niệm chấn thương của bố mẹ dù bản thân họ không hề trải nghiệm. Còn nếu không phải là sự chấn thương thì lại là nỗi luyến tiếc quá khứ (nostalgia). Ðó là những hoài niệm về quá khứ chứ không phải những biến cố đã từng xảy ra, mà chính sự tha thiết của chúng ta đối với quá khứ đã tác động lên kỷ niệm trong hồi tưởng. Kỷ niệm không chỉ là một biểu tượng về quá khứ mà còn là một hình ảnh quá khứ đã được lý tưởng hóa. Thế thì nhớ quê hương, nhớ gia đình, nhớ tuổi thơ, nhớ tiếng mẹ đẻ để làm gì? Sử dụng tiếng Việt có phải là một cách gần gũi những kỷ niệm không? Nếu mất tiếng mẹ đẻ, có phải là mất một thứ kỷ niệm không? Thứ kỷ niệm nào người ta muốn giữ hay cần gìn giữ, muốn lãng quên hay cần phải lãng quên?
Những truyện và thơ viết về kinh nghiệm di dân và vấn đề sử dụng ngôn ngữ thường chú ý đến vấn đề về tiếng mẹ đẻ bị mất. Thí dụ, bài thơ “Vietnamese” của Ðỗ Lê Anh Ðào nói về cái chết của tiếng Việt ngoài nước. Thường là thế hệ trẻ xem tiếng Việt như một phần của họ không còn nữa hoặc đang tan biến. Những nhà văn trẻ này lo về nỗi buồn mất tiếng Việt và cố gắng tiếp tục dùng tiếng Việt để có liên hệ với cộng đồng. Thí dụ, trong bài thơ “the OCmorphosis” của Jenni Trang Lê, tiếng Việt làm cho người kể, “Thấy mấy người lạ trở thành mấy người quen,/… Nhớ lại tới hồi xưa lúc em còn trẻ bé.” Tiếng Việt trong bài thơ này là một cách luyến tiếc quá khứ vì làm cho người kể nhớ một “đời sống… đơn giản và vui vui.” Dù nói lưu loát hay rời rạc, tiếng Việt trong nước Mỹ phải đối đầu và cạnh tranh với tiếng Anh. Bài thơ mang một hình thức phong phú và sáng tạo trong việc vận dụng ngôn ngữ, xử dụng cả hai thứ tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ, giống như nhiều bài thơ Chicano. Viết bằng cả hai ngôn ngữ không phải là vì tiếng Việt không đủ diễn cảm mà vì viết như thế làm cho cả hai ngôn ngữ Anh-Việt thay đổi với nhau và sáng tạo ra một cái gì mới.
Giống như hình ảnh của Ngũgĩ, mất tiếng Việt giống như một phần thể xác bị đứt lìa. Cảm giác bất lực này càng nặng nề hơn khi người di dân thường không được quyền quyết định trên sự mất mát này. Nhưng thực tế thường là thế hệ trẻ giỏi tiếng Anh hơn tiếng Việt. Tiếng Anh là ngôn ngữ có ưu thế hơn, có nhiều khả năng sử dụng hơn. Nhưng không có nghĩa người Việt không viết hoặc không biết tiếng Việt tức là chấp nhận ưu thế của ngôn ngữ và văn hóa Mỹ. Cũng không có nghĩa là người biết tiếng Việt là kẻ được ưu đãi vì có điều kiện thời gian và tiền bạc để học thêm. Như Rushdie đã nói, dịch thuật có hai mặt. Ngôn ngữ cũng vậy. Văn chương vốn dĩ là một cõi tự do, không thể áp đặt ý nghĩa và mục đích được. Ngôn ngữ là vũ khí chung của cả người có ưu thế lẫn người bị áp bức. Có khi tiếng Việt lại là một ngôn ngữ của thời dĩ vãng hay của một quê hương có thể đã mất rồi hay sắp chết. Với thế hệ trẻ, tiếng Việt là một ngôn ngữ vừa lạ vừa quen thuộc. Với người biết tiếng Việt lưu loát, tiếng Việt giống như một ngôi nhà được dời sang chỗ mới. Tiếng Việt hiện nay cũng có thể tồn tại như một “ngôn ngữ biên giới” theo cách nói của Anzaldua. Bài thơ của Phan Nhiên Hạo, “Phác thảo cho một chân dung tự họa,” giải thích tiếng Việt như sau: “Ðây là ngôn ngữ tôi: một nửa dưới nước, một nửa trên bờ/Ðây là nước tôi: đất nước nào? Tôi hỏi.”[11] Ðó là những thí dụ về liên hệ giữa tiếng Việt với thời quá khứ hay hiện tại. Nhưng có khi nào tiếng Việt hàm ý về tương lai không?
Phức tạp hơn là truyện ngắn “Mở tương lai” của Ðặng Thơ Thơ. Sử dụng tiếng Việt không phải là một điểm trọng tâm trong truyện này, nhưng đề tài về kỷ niệm và giấc mơ trong truyện này tôi hiểu như một ẩn dụ về việc sử dụng tiếng Việt ngoài nước. Tự truyện Ðặng Thơ Thơ kể về những kỷ niệm chấn thương và cũng kể lại những giấc mơ của ước mong. Nhưng truyện không giống những mẫu kỷ niệm chấn thương hoặc nỗi luyến tiếc quá khứ. Sau khi nhân vật Hương giải thích “Giấc mơ chỉ là một quá khứ gần. Không thể mở ra tương lai,” người kể truyện trả lời, “Hương không biết trò chơi giấc mơ là chuyển động hai chiều, như trái banh ném qua lại giữa hai người–tôi là người chơi sẽ tác động ngược về phía tương lai, để thay đổi nó.[12] Câu này rất quan trọng nếu so sánh với vấn đề dùng tiếng Việt. Ngoài những thí dụ về tiếng Việt như một di vật hoặc một biên giới ra, có thể hình dung tiếng Việt nằm ngoài bối cảnh kiếm tìm hay gìn giữ nguồn gốc không? Ðây là một câu hỏi của người kể truyện khi cô muốn biết, “Còn những giấc mơ này (như chúng tôi hôn nhau, rất nhiều đêm như vậy, và lần hôn nào cũng đê mê đắm dưới) thì gốc rễ ở đâu ra?”[13] Nếu theo những bài giảng của Freud về việc lý giải những giấc mơ, người ta không truy tận gốc được. Người ta chỉ biết những ước mong bị kiềm chế bằng những nguyên nhân mơ hồ nhưng lại giải bày trong những giấc mơ. Thí dụ này có thể dùng để phân tích thêm vấn đề sử dụng tiếng Việt và căn cước Việt hải ngoại, vì quê hương và nguồn gốc giống như một tiềm thức xa vời nhưng vẫn còn rất thật và sâu sát. Nếu không bận tâm truy tìm hoặc trở về nguồn gốc và quá khứ, thì tiếng Việt có bao nhiêu khả năng mới về tương lai và những ước mong chưa dám nảy sinh và thể hiện trong văn học?
Việc mất tiếng mẹ đẻ như Ngũgĩ miêu tả rất gần với tình huống cơ thể bị cắt lìa hay rạn nứt. Với thế hệ trẻ không biết tiếng mẹ đẻ lưu loát, gia tài ngôn ngữ của người Việt hải ngoại có thể xem như một hành động bị ức chế và kéo theo những mặc cảm kiêu hãnh, ngại ngùng và hổ thẹn. Nhưng tôi muốn nhắc đến câu trích dẫn của Rushdie một lần nữa. Ðó là ngôn ngữ, như việc dịch thuật, có cái mất mà cũng có cái được. Như một người bạn tôi đã nói đùa: “Mất tiếng mẹ đẻ không phải là mất tay. Khi đã muốn biết một ngoại ngữ nào thì người ta sẽ có dịp học được. Học ngoại ngữ rất khó nhưng không khó bằng mọc ra một tay mới!”
Tháng 08/2005

        [1] Từ Điển Việt Anh. Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia. Viện Ngôn Ngữ Học. NXB TPHCM.
        [2] Jack, Belinda. “Introduction.” Francophone Literatures: An Introductory Survey. UK: Oxford UP, 1997. P.1. “…the nature of the relationship between the European literature and literatures in the European language (or a language closely related to it) is, increasingly, analysed not to reveal the latter as imitative or an extension of the European parent literature, but rather as fundamentally subversive, a rebellious child which obliges the parent to redefine his or her identity in relation to the next generation.”
        [3] Braithwaite, Edward Kamau. “Nation Language.” History of the Voice: The Development of Nation Language in Anglophone Caribbean Poetry. London and Port of Spain: New Beacon, 1984. “English it may be in terms of some of its lexical features. But in its contours, its rhythm and timbre, its sound explosions, it is not English, even though the words, as you hear them, might be English to a greater or lesser degree… the noise is part of the meaning” (311).
        [4] Ngũgĩ wa Thiong’o. “The Language of African Literature.” Colonial Discourse and Post-colonial Theory. Eds. Patrick Williams and Laura Chrisman. New York: Columbia UP, 1994. “… like producing a society of headless bodies and bodiless heads.” P.451.
        [5] Hall, Stuart. “Cultural Identity and Diaspora.” Colonial Discourse and Post-Colonial Theory: A Reader. Eds. Patrick Williams and Laura Chrisman. New York: Columbia UP, 1994. pp. 392-403.
        [6] Anzaldua, Gloria. “How to Tame a Wild Tongue.” Borderlands/La Frontera: The New Mestiza. San Francisco: Spinsters, 1987. pp.53-64. “… an orphan tongue… illegitmate, a bastard language”
        [7] Chow, Rey. Writing Diaspora: Tactics of Intervention in Contemporary Cultural Studies. Bloomington: Indiana UP, 1993. Quoting Stuart Hall: “’Migration is a one way trip. There’s no “home” to go back to. There never was.’” Chow: “Home is here, in my migranthood.”
        [8] Appiah, Kwame Anthony. “Cosmopolitan Patriots.” Cosmopolitics: Thinking and Feeling Beyond the Nation. Eds. Pheng Cheah and Bruce Robbins. Minnesota: Minnesota UP, 1998. pp. 91-116.
        [9] Phạm Thị Hoài. “Nhà Văn Thời Hậu Đổi Mới. Bài thuyết trình. UCLA. February 2004.
        [10] Rushdie, Salman. “Imaginary Homelands.” Imaginary Homelands. New York: Penguin, 1981. pp. 9-21. “It is generally believed that something is lost in translation; I cling to the notion… that something can also be gained.”
        [11] Phan Nhiên Hạo. “Phác Thảo cho Một Chân Dung Tự Họa.” Hợp Lưu 82, 2005. P.16
        [12] Đặng Thơ Thơ. “Mở Tương Lai.” Hợp Lưu 82, 2005. P.46.
        [13] Ibid. P.57.

    bài đã đăng của Christine Cao


    Bài này không có phần bình luận.

    @2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)