Trang chính » Chuyên Đề, Dịch Thuật, Màu Da và Ngôn Ngữ, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Lục Ðịa Thứ Ba và Cuối Cùng


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 2.08.2006

Phạm Thị Ngọc dịch theo nguyên tác The Third and Final Continent

Tôi rời nước Ấn năm 1964 với mảnh bằng kinh tế và số tiền, tương đương với thời buổi đó, là mười đô-la trong tay. Trong ba tuần lễ, tôi vượt đại dương trên chiếc SS Roma, một thương thuyền Ý Ðại Lợi, buồng hành khách hạng ba của tôi sát bên buồng máy, băng xuyên biển Ả Rập, Biển Ðỏ, Ðịa Trung Hải, và cuối cùng thì đến Anh Quốc. Tôi cư ngụ tại phía bắc Luân Ðôn, ở Finsbury Park, trong một căn nhà chứa toàn đàn ông Bengali nghèo mạt như tôi, cả tá mạng người là ít, tất cả đều đang loay hoay để tự lập và học hỏi tại nước ngoài.
Tôi tham dự các khóa học ở trường LSE, và làm việc tại thư viện đại học để sống qua ngày. Chúng tôi ba bốn đứa chung nhau một phòng, dùng chung cái toa lét duy nhất, và thay phiên nhau nấu những nồi cà ri trứng mà chúng tôi đã ăn bằng tay trên mặt bàn trải giấy nhật báo. Ngoài việc làm sinh kế, chúng tôi có ít trách nhiệm khác. Cuối tuần, chúng tôi thư thả chân trần, pyjama thắt dây cạp, uống trà và hút thuốc Rothmans, hoặc đi xem đấu banh cricket ở Lord’s. Cũng có những lần cuối tuần nhà chật ních với khách Bengalis, những người chúng tôi đã làm quen ngoài siêu thị hay trên xe điện, và vì thế chúng tôi nấu thêm ra cà ri trứng, nghe nhạc Mukhesh trên máy băng Grundig reel-to-reel, rồi ngâm chén bát dơ trong bồn tắm. Thỉnh thoảng có người trong bọn tôi dọn ra, để dọn vào với người đàn bà đã được gia đình hắn ở Calcutta chọn cho hắn cưới. Năm 1969, khi tôi đã ba mươi sáu tuổi, hôn nhân của riêng tôi cũng được xếp đặt. Trong cùng thời gian này, tôi tìm được một việc làm toàn thời gian tại Hoa Kỳ, trong thư viện đại học MIT. Lương bổng cũng vừa đủ để nuôi vợ. Tôi hãnh diện được làm việc cho một đại học lừng danh thế giới, và tôi xin lãnh thẻ xanh ưu tiên cấp sáu, sẵn sàng đẩy đưa cuộc lữ hành của tôi xa hơn nữa.
Ðến lúc này tôi đã có đủ tiền để đi hàng không. Trước hết, tôi bay về Calcutta làm đám cưới, và tuần lễ sau thì sang Boston, bắt đầu công việc mới. Trên những chuyến bay này, tôi đọc sách cẩm nang hướng dẫn học sinh đến Bắc Mỹ, một quyển sách bìa mỏng tôi đã mua với giá bảy xu sáu tại đường Tottenham Court trước khi rời Luân Ðôn, vì dù không còn là sinh viên nữa tôi vẫn phải tằn tiện như vậy. Tôi học được rằng người Mỹ lái xe bên mặt, không phải bên trái, họ gọi thang kéo là thang máy, và điện thoại đang xử dụng là điện thoại bận. “Nhịp sống tại Bắc Mỹ khác hẵn với nhịp sống tại Anh, như các bạn sẽ thấy. Ai cũng muốn leo lên tầng cao nhất. Ðừng nghĩ mình sẽ được thưởng thức một tách trà Anh”. Khi chiếc phi cơ bắt đầu hạ cánh xuống Cảng Boston, viên phi công thông báo thời tiết và giờ giấc, tổng thống Nixon tuyên bố ngày cả nước ăn mừng: hai người Hoa Kỳ vừa đặt chân lên mặt trăng. Nhiều hành khách hoan hô. “Chúa ban phép lành cho nước Mỹ”. Ở hàng ghế bên cạnh, tôi thấy có người đàn bà đang cầu nguyện.
Buổi tối đầu tiên tôi ngủ tại trung tâm YMCA ở Central Square, Cambridge, một nơi tá túc rẻ tiền được liệt kê trong sách cẩm nang. Nơi đây cách MIT một quãng đi bộ, cách bưu điện vài bước, và gần siêu thị mang tên Purity Supreme. Gian phòng vỏn vẹn chỉ một chiếc giường, chiếc bàn, và một thánh giá gỗ trên tường. Tấm biển treo ngoài cửa phòng cấm ngặt nấu nướng. Cửa sổ trần trụi không màn che mở về hướng Massachusetts Avenue, mạch lộ chính với hai giòng lưu thông về hai phía. Còi xe thay phiên nhau gấu ó inh ỏi, loang loáng không ngớt ánh đèn cấp cứu vô tận. Những đoàn xe buýt rần rật chạy ngang, những cánh cửa xe của chúng mở và đóng xập lại mạnh mẽ tạo nên âm thanh như gió hú suốt đêm. Sự ồn ào ấy là nỗi khó chịu thường trực, lắm lúc đến mức ngộp thở. Nó thấm sâu vào tận xương sườn tôi, hệt như tiếng máy gào thét thịnh nộ của chiếc SS Roma năm xưa. Nhưng ở đây, tôi không có sân tàu để trốn, không có mặt biển óng ánh để kích thích tâm hồn, không có gió làm dịu mặt, không người để trò chuyện. Tôi quá mệt mỏi để còn có thể mặc quần ngủ rảo bước qua những hành lang tăm tối của YMCA. Tôi ngồi trước bàn, nhìn qua cửa sổ đến tòa đô chính Cambridge và một dãy tiệm tạp hóa lụp xụp. Sáng ra, tôi trình diện sở làm ở Thư Viện Dewey, một kiến trúc giống như một cái pháo đài màu nâu nhạt nằm trên đường Memorial. Tôi cũng đi mở trương mục ngân hàng, thuê hộp thư, và mua bộ bát dĩa tại tiệm Woolworth, một cái tên tôi đã biết đến khi còn ở Luân Ðôn. Tôi vào chợ Purity Supreme, rảo đi rảo lại để chuyển ounce sang gram, và so sánh giá cả với bên Anh. Cuối cùng, tôi mua hộp sữa tươi nhỏ và một hộp cốm ngô. Ðây là bữa ăn đầu tiên của tôi tại Mỹ, trên chiếc bàn nhỏ. Tôi chuộng món này hơn hamburgers hoặc hot dogs, vì nó là một lựa chọn vừa túi tiền so với những món ăn khác trong các quán cà phê trên Massachusetts Avenue. Vả lại, tôi chưa hề tiêu thụ thịt bò. Ngay cả công việc giản dị như mua sữa đối với tôi giờ đây trở thành rất mới mẻ. Bên Luân Ðôn, người ta giao sữa hàng ngày, trong chai thủy tinh để trước cửa nhà mỗi sáng.
Sau một tuần lễ tôi thấy tạm thích ứng. Tôi ăn cốm ngô với sữa hai bữa sáng tối, mua thêm chuối để thay vị. dùng muỗng cắt từng khoanh chuối nhỏ vào bát cốm. Thêm vào đó, tôi mua trà và lọ thủy tinh mà người bán hàng ở Woolworth đã gọi đó là bình thủy (lọ thủy tinh, ông ta giải thích, chỉ dùng để đựng whiskey, một thứ mà tôi chưa hề biết đến). Với cái giá tương đương với một ly trà ở ngoài quán cà phê, tôi chế nước sôi đầy bình đem đi làm mỗi sáng để pha đúng bốn ly trà tôi sẽ uống trong một ngày. Tôi mua bình sữa lớn hơn, và biết cất nó ở góc khuất nắng bên cửa sổ, như tôi đã thấy có người cư trú tại YMCA làm vậy. Ðể cho qua thì giờ vào buổi chiều, tôi đọc nhật báo The Boston Globe nơi phòng đọc chung ở lầu dưới, một gian phòng rộng rãi có cửa sổ kính hoa. Tôi đọc hết các bài báo và đọc luôn cả các bài quảng cáo, để làm quen với cái lạ, và khi mỏi mắt thì tôi ngủ. Chỉ có vấn đề là tôi không được yên giấc. Mỗi tối tôi phải mở toang cửa sổ để làm thoáng không khí bưng bít trong phòng, rồi lại chịu không thấu sự ồn ào bên ngoài. Tôi nằm bịt tai trên chiếc giường xếp, nhưng khi thiếp ngủ tay tôi xuội đi và âm thanh bên ngoài lại đánh thức tôi dậy. Lông chim bồ câu bay phất phơ bên ngoài rồi đậu lại bên khung cửa, và có buổi chiều khi tôi chan sữa lên cốm tôi thấy sữa đã chua đóng váng. Dù vậy, tôi quyết chí ở lại YMCA đủ sáu tuần, cho đến khi giấy thông hành và thẻ xanh của vợ tôi đã sẵn sàng. Khi nàng sang, tôi phải thuê nhà tử tế, nên thỉnh thoảng tôi đọc mục rao vặt trên nhật báo, hoặc dừng lại văn phòng gia cư tại MIT trong giờ giải lao để tìm nhà vừa với túi tiền của mình. Qua cách này mà tôi đã tìm được một căn nhà trong khu phố yên tĩnh, với giá tám đô-la một tuần. Tôi ghi số điện thoại này vào sách cẩm nang, và gọi từ một chiếc điện thoại công cộng, tìm cho đủ tiền từ nắm bạc cắc tôi chưa quen, nhỏ và nhẹ hơn đồng shilling của Anh, nặng và bóng hơn đồng paisa của Ấn.
“Ai đó?” Người đàn bà hỏi. Giọng nói bà sắt thép, âm thanh vang.
“Dạ, chào madame. Tôi muốn hỏi về phòng cho thuê.”
“Harvard hay Tech vậy?”
“Xin lỗi, bà nói chi?”
“Cậu là sinh viên Harvard hay Tech?”
Ðoán rằng Tech có nghĩa từ Massachusetts Institute of Technology, tôi đáp, “Tôi làm việc cho thư viện Dewey” và ngập ngừng nói thêm, “ở Tech.”
“Tôi chỉ cho mấy thằng Harvard hay Tech thuê phòng thôi!”
“Vâng, madame”.
Tôi lấy được địa chỉ và cái hẹn bẩy giờ chiều hôm đó. Ba mươi phút trước giờ hẹn, tôi rời chỗ ở, sách cẩm nang trong túi, miệng thơm phức mùi thuốc súc miệng Listerine. Tôi rẽ xuống một con đường hai bên rợp bóng cây, cắt ngang Massachusetts Avenue. Những cánh cỏ dại mọc trồi lên từ những rẽ nứt dưới lối đi. Dù trời nóng, tôi vẫn mặc áo khoác ngoài và đeo cà vạt, trịnh trọng như đi phỏng vấn. Tôi chưa hề ở chung nhà với người nào không phải người Ấn. Ngôi nhà, chung quanh được rào bằng một vòng hàng rào sắt, mang nước sơn trắng và viền cửa sổ nâu. Khác với loại nhà viền vách tôi đã biết bên Luân Ðôn, ngôi nhà này đứng riêng rẽ, bốn mặt tường bên ngoài kiến trúc gỗ, với những bụi cây liên kiều leo lên vách tường trước và hai bên nhà. Khi tôi nhấn chuông, người đàn bà trên điện thoại khi nãy the thé hét lên từ phía bên trong cánh cửa, “làm ơn chờ một phút!”
Nhiều phút sau cửa được mở bởi một người đàn bà nhỏ thó, già khốc. Mớ tóc trắng như tuyết được xếp đặt ngay ngắn như một cái bị nhỏ trên mỏm đầu của bà. Ðang khi tôi bước chân vào nhà, bà ngồi xuống trên băng ghế gỗ kê bên cạnh chân cầu thang dẫn lên lầu. Khi đã ngồi xuống, ngồi ngay giữa vùng ánh sáng, bà ngước mắt nhìn tôi bằng một sự chú ý tuyệt đối. Bà mặc váy dài màu đen mà khi bà ngồi xuống chiếc váy bung ra như một chiếc lều được trải rộng trên sàn nhà, và một chiếc sơ mi trắng ủi thẳng nếp có viền rèm ở cổ và tay áo. Ðôi tay bà, những ngón tay đan lại với nhau và đặt trên lòng, có những ngón tay dài và xám xịt, đốt xương sưng vù, móng dầy và vàng ố. Tuổi già đã xoá đi sắc nét khiến bà trông gần giống đàn ông với đôi mắt húp hí và hai nếp gấp ở hai bên mũi. Ðôi môi bà, khô và tái, đã gần như biến mất, và cặp chân mày thì hoàn toàn không còn nữa. Bà trông thật dữ dằn.
“Khóa cửa!” Bà ra lệnh. Bà nói như hét dù tôi chỉ đứng cách đấy vài bước. “Gài then bên trên và nhấn nút ở ổ khóa nắm cửa. Ðây là việc đầu tiên phải làm khi đã bước vào nhà, cậu hiểu chưa?”
Tôi khóa cửa như bà ta bảo, và quan sát bên trong. Bên cạnh băng ghế bà đang ngồi là một chiếc bàn tròn nhỏ, chân được che kín, như chân của bà già, bằng một chiếc khăn bàn phủ dài. Trên mặt bàn là chiếc đèn, máy truyền thanh, một ví da nhỏ, và cái điện thoại. Cây gậy gỗ phủ một lớp bụi mỏng dựng cạnh đó. Bên phải tôi là phòng khách chứa toàn những giá sách và bàn ghế móng thú cũ kỹ. Góc phòng có kê một chiếc dương cầm đóng nắp, trên đó chất lên từng chồng giấy tờ. Thiếu chiếc ghế đàn, có lẽ chính là băng ghế bà đang ngồi. Ðâu đó trong nhà, đồng hồ treo tường đổ bảy tiếng.
“Cậu đúng giờ đấy!” Bà cụ trầm trồ. “Tôi muốn cậu trả tiền nhà cũng đúng kỳ như vậy”.
“Tôi có lá thư này, madame”. Trong túi áo khoác của tôi là thư chứng nhận tôi là nhân viên của MIT.
Bà lướt qua lá thư, rồi cẩn thận trao lại cho tôi, nắm vững trong tay như đấy là một dĩa đầy ắp thức ăn chứ không chỉ là một tờ giấy tầm thường. Bà không đeo kính và tôi thắc mắc bà có đọc một chữ nào trong đó chăng.
“Cái thằng ở đây trước cậu bao giờ cũng trễ! Nó nợ tôi tám đồng! Bọn Harvard bây giờ không như trước! Chỉ có Harvard hoặc Tech mới được ở đây thôi! Tech bây giờ ra sao, nhãi con?”
“Khá”.
“Cậu khóa cửa chưa?”
“Rồi, madame”.
Bà đập tay xuống chỗ ghế trống và bảo tôi ngồi cạnh. Trong giây lát bà bỗng trở nên thinh lặng. Rồi bà cất tiếng, như thể bà là người duy nhất vừa ý thức được một sự kiện mới mẻ.
“Cờ Hoa Kỳ đang hiện diện trên mặt trăng!”
“Vâng, madame”. Trước đấy, tôi không nghĩ ngợi nhiều về chuyện mặt trăng. Chuyện này dĩ nhiên đã được báo chí tường trình đầy đủ từng loạt. Các phi hành gia đã đặt chân đến bến bờ của Biển Lặng, thám hiểm xa hơn bất cứ thời đại nào trong lịch sử văn minh. Họ thăm dò mặt trăng, thu nhặt đá sỏi, tả về một cảnh hoang vắng hùng vĩ, điện đàm cùng tổng thống, và cắm cờ lên cung trăng. Chuyến du hành được xem như một thành tích vĩ đại nhất của nhân loại. Tôi đã xem nhiều hình ảnh chiếm từng trang báo The Boston Globe, phi hành gia trong những bộ áo bay, sinh hoạt thường dân đã như thế nào trong chính giây khắc phi hành đoàn đặt chân lên mặt trăng trong một buổi trưa Chủ Nhật. Một người đàn ông đang chèo thuyền, radio dí sát tai. Một người đàn bà đang nướng bánh cho con cháu.
Bà lão chợt hú, “Cờ Hoa Kỳ trên cung trăng, nhãi con! Tuyệt diệu không?”
“Vâng, madame”.
Nhưng bà không hài lòng với câu trả lời của tôi. Bà ra lệnh, “Nói tuyệt đi”.
Tôi vừa bối rối vừa cảm thấy bị khinh thường. Tôi nhớ cách phải học làu bản cửu chương của ngày xưa còn bé, ngồi xếp bằng, không giày không bút, trên sàn lớp học của trường tiểu học ở Tollygunge. Tôi cũng hồi tưởng ngay đến ngày cưới, khi tôi phải lập đi lập lại sau vị chủ tế lễ cưới những câu kinh Sanskrit bất tận, những câu kinh kệ khó hiểu đã chắp nối tôi và người đàn bà tôi gọi là vợ. Tôi im lặng.
“Nói tuyệt đi”. Bà lão lại léo nhéo lần nữa.
“Tuyệt”. Tôi lí nhí, và lại phải gào lên, lập lại lần thứ hai, để bà ta nghe. Tính tình tôi nhỏ nhẹ nên không dám nói to với một người đàn bà tôi vừa mới gặp, nhưng bà ta dường như không giận. Ngược lại, câu trả lời có lẽ đã làm bà hài lòng vì mệnh lệnh kế tiếp của bà như sau:
“Ði xem phòng đi”.
Tôi rời ghế và bước lên cầu thang hẹp lót thảm. Trên lầu có năm cánh cửa, mỗi bên hành lang là hai cửa và cửa kia ở góc cuối cùng. Chỉ có một cửa được hé mở. Gian phòng này có chiếc giường đôi kê dưới trần nhà dốc thoai thoải, chiếc thảm nâu hình bầu dục, bồn rửa mặt với ống nước để hở không che đậy, và một chiếc tủ có nhiều ngăn. Một cánh cửa, sơn trắng, dẫn vào tủ quần áo, và một cửa khác mở vào phòng vệ sinh. Tường dán giấy xám có kẻ những đường kẻ màu ngà. Cửa sổ mở, gió lùa làm lay động chiếc màn. Tôi vén màn xem xét quang cảnh: sân nhỏ phía sau, vài cây ăn trái, và hàng dây phơi quần áo. Tôi vừa ý lắm. Từ dưới gác, tiếng bà già vọng lên:
“Cậu quyết định thế nào?”
Khi tôi trở xuống và cho bà câu trả lời, bà mở chiếc ví da trên bàn, lục và móc ra chiếc chìa khóa buộc lủng lẵng một sợi dây thiếc. Bà nói phía sau là nhà bếp. Tôi được tha hồ dùng bếp với điều kiện sau khi dùng tôi phải trả nó về tình trạng trước khi dùng. Khăn tắm và khăn trải giường đều có sẵn, nhưng việc giặt giũ chúng cho sạch sẽ là bổn phận của tôi. Tiền nhà mỗi sáng thứ Sáu phải có trên giá đàn dương cầm. “Và cấm ngặt khách phụ nữ”.
“Tôi có vợ rồi, madame”. Ðây là lần đầu tiên tôi nhìn nhận điều này với một người khác.
Nhưng bà ta không nghe thấy. “Cấm ngặt khách phụ nữ!” Bà cương quyết. Rồi bà tự giới thiệu mình là Mrs. Croft.
Tên vợ tôi là Mala. Cuộc hôn nhân này đã do người anh và chị dâu tôi định đoạt. Tôi đứng trước sự xếp đặt này không phản đối và cũng không hưởng ứng. Ðây là một trách nhiệm đòi hỏi ở tôi, như ở mọi người đàn ông. Cô ấy là ái nữ của một nhà giáo ở Beleghata. Tôi được cho hay rằng cô ấy biết nấu nướng, đan áo, thêu thùa, làm vườn, và ngâm thơ Tagore, nhưng tất cả tài năng này không thể bù đắp cho một nhược điểm là cô không được trắng, cho nên đã có cả tá đàn ông chê cô thẳng mặt. Cô đã đến hai mươi bảy, số tuổi mà cha mẹ cô đã bắt đầu e sợ cô sẽ phải ở vậy suốt đời, và vì thế họ sẵn sàng đẩy cô đi xa nửa vòng trái đất để cứu cô khỏi phận gái già.
Năm đêm liền chúng tôi chung giường. Mỗi đêm, sau khi đã trát kem dưỡng da mặt, bện tóc rồi thắt nơ đen ở nốt bện sau cùng, cô quay lưng tránh tôi và khóc. Cô nhớ cha mẹ. Mặc dù tôi sẽ phải rời quê hương trong ít ngày nữa, tục lệ bắt cô phải trở thành một phần phụ thuộc gia tộc tôi, và trong sáu tuần lễ tiếp theo cô sẽ phải ở trong nhà anh tôi, nấu nướng, lau dọn, rót nước tiếp khách cho họ. Tôi không an ủi cô. Tôi nằm bên nửa giường của tôi, đọc sách cẩm nang và nôn nao chờ ngày lên đường. Có lúc tôi nghĩ đến gian buồng chật hẹp bên kia vách tường nơi mẹ tôi đã ngủ. Bây giờ gian buồng ấy hoàn toàn trống trải; cái sạp gỗ lúc xưa bà nằm giờ đây chất chồng lên đó những rương kệ và chiếu cũ. Gần sáu năm qua, trước khi đi Luân Ðôn, tôi đã chứng kiến mẹ tôi chết trên sạp gỗ đó, đã nhìn thấy mẹ tôi bốc tay vào xú uế bài tiết của chính bà trong những ngày cuối cùng. Trước khi hỏa táng, tôi đã cạo sạch từng móng tay bà bằng chiếc rẽ tóc, và rồi vì anh tôi quá xúc động, tôi đã đứng thay anh làm phận sự trưởng nam, tự tay nhóm lửa hỏa táng, để giải thoát linh hồn đau khổ của mẹ về thiên đàng.
Sáng hôm sau tôi dọn vào nhà bà Croft. Khi mở cửa vào, tôi thấy bà đang ngồi trên băng ghế dương cầm, hệt như chiều hôm trước. Bà vẫn mặc chiếc váy đen đó, chiếc sơ mi trắng đó, và bà vẫn xếp đôi bàn tay đặt trong lòng như hôm qua. Không có sự gì thay đổi nơi bà khiến tôi nghĩ bà đã có thể ngồi đó suốt đêm. Tôi đem hành lý lên lầu, tra nước sôi vào bình thủy, và hăm hở đi làm. Chiều khi tôi trở về từ đại học, bà vẫn ngồi đó.
“Ngồi xuống đây, nhãi con!” Bà vỗ tay xuống chỗ ghế trống.
Tôi ngồi mép ghế bên cạnh bà. Tôi mới ôm về một giỏ chợ ố lại sữa, lại cốm, lại chuối, và khi đi xem bếp ban sáng tôi không tìm thấy bóng dáng nồi, chảo hay bất cứ dụng cụ bếp núc nào. Chỉ có hai nồi nhỏ trong tủ lạnh, cả hai đều chứa một thứ canh màu cam, và một siêu đồng trên bếp.
“Chào madame”.
Bà hỏi tôi khóa cửa chưa. Tôi trả lời khóa rồi.
Một thoáng bà trở nên yên lặng. Rồi bỗng dưng bà reo, với đồng một mức vừa khó tin vừa mừng rỡ như tối trước, “cờ Hoa Kỳ đang bay trên cung trăng kìa, nhãi con!”
“Vâng, madame”.
“Cờ bay trên mặt trăng! Tuyệt không?”
Tôi gật, hãi sợ điều tất đến. “Vâng, madame”.
“Nói ‘tuyệt’ đi”.
Tôi chần chừ, nhìn quanh hai phía xem còn ai ở đấy có thể nghe tôi chăng, dù tôi biết rõ nhà chỉ có mình bà. Tôi cảm thấy đần độn. Nhưng đây cũng chỉ là một đòi hỏi nhỏ. “Tuyệt!” Tôi nói lớn.
Chỉ trong vài ngày điều này đã trở nên thông lệ. Sáng sáng khi tôi rời nhà ra thư viện bà Croft ẩn thân đâu đó trong phòng ngủ của bà, hay ngồi yên trên băng ghế, lắng nghe tin tức hoặc nhạc cổ điển trên máy truyền thanh, không đếm xỉa đến sự có mặt của tôi. Nhưng chiều chiều khi tôi trở về, bao giờ cũng diễn ra duy nhất một việc: bà chỉ ghế bắt tôi ngồi cạnh, khoe rằng có lá cờ đang bay trên cung trăng, và gọi điều đó là tuyệt diệu. Tôi cũng reo tuyệt và rồi chúng tôi lại ngồi giữa thinh lặng. Kỳ quặc và xem như vô tận nhưng những lần gặp mặt của chúng tôi chỉ kéo dài mười phút. Bà bắt đầu ngủ gật, đầu gục xuống ngực, để tôi tự do trở về phòng mình. Ðến lúc đó, dĩ nhiên, không còn lá cờ nào trên cung trăng nữa cả. Phi hành đoàn đã gỡ cờ đem về trái đất. Nhưng tôi không nỡ để bà biết điều ấy.
Sáng Thứ Sáu, khi phải trả tiền nhà tuần lễ đầu tiên, tôi để tiền trên giá đàn dương cầm. Những phím đàn đã ngả màu vàng ố. Tôi nhấn một nốt đàn nhưng nó không phát ra âm thanh. Tôi cất tám tờ một đồng trong phong bì, và viết tên bà Croft lên đó. Tôi không hay để tiền bạc lay lứt không người thừa nhận. Từ nơi đang đứng tôi có thể chỉ thấy bóng dáng chiếc váy như chiếc lều của bà. Bà đang ngồi trên băng ghế, lắng nghe máy truyền thanh. Không cần phải bắt bà đứng lên để tới gặp tôi. Tôi chưa hề thấy bà đi lại, và đoán từ chiếc gậy luôn luôn được dựng cạnh chỗ ngồi, rằng bà đi lại rất khó khăn. Khi tôi đến gần, bà ngước nhìn tôi, và tra vấn:
“Cậu có chuyện gì đó?”
“Tiền nhà, madame”.
“Ðể nó trên giá đàn đi!”
“Tôi có nó đây”. Tôi trao phong bì về phía bà, nhưng đôi bàn tay bà, đan vào nhau và đặt trong lòng, vẫn bất động. Tôi cúi người, hạ thấp phong bì, để vừa tầm với cho bà. Sau một thoáng thì bà nhận, và gật đầu.
Tối đó khi tôi về bà Croft không chỉ ghế nữa, nhưng theo thói quen tôi vẫn ngồi xuống. Bà hỏi tôi đã khóa cửa chưa, nhưng không nhắc nữa về lá cờ trên cung trăng. Thay vào đó, bà nói:
“Cậu tử tế lắm”.
“Xin lỗi, madame nói chi?”
“Tử tế lắm!”
Bà vẫn cầm chặt phong bì trong tay.
Sáng Chủ Nhật có người gõ cửa phòng tôi. Người đàn bà lớn tuổi tự giới thiệu là Helen, con gái bà Croft. Helen bước vào phòng và nhìn lên mỗi vách tường như tìm tòi dấu lạ, liếc mắt nhìn đến những chiếc áo sơ mi trong tủ, cà vạt máng trên nắm cửa, chén bát dơ trong bồn rửa mặt, hộp cốm trên nóc tủ. Bà ta thấp dáng và rộng eo, tóc bạc tém ngắn, môi son hồng chói. Bà mặc áo đầm sát nách, đeo chuỗi hạt trai trắng, và cặp kính buộc dây chuyền treo lủng lẳng xuống ngực như một chiếc xích đu. Bắp chân bà mập mờ chằng chịt những đường gân xanh, và bắp thịt tay trên chảy xệ xuống hai bên như hai quả cà tím già héo. Helen nói bà sống ở Arlington, một tỉnh nhỏ phía bắc Massachusetts Avenue.
“Tôi đến lo chợ búa cho mẹ mỗi tuần một lần. Bả chưa làm cậu bỏ chạy à?”
“Mọi việc tốt đẹp lắm, thưa bà”.
“Có nhiều cậu thanh nhiên bỏ chạy la hoảng. Nhưng tôi thấy mẹ tôi hài lòng với cậu. Cậu là người thuê phòng đầu tiên bả khen là có ý tứ”.
“Không có gì đâu, thưa bà”.
Helen nhìn tôi, để ý đôi chân trần. (Tôi vẫn chưa quen đi giầy trong nhà, lúc nào cũng phải cởi giầy trước khi vào phòng.)
“Cậu mới đến Boston?”
“Mới đến Hoa Kỳ thưa bà”.
“Từ đâu?”
“Từ Calcutta, Ấn Ðộ”.
“Vậy sao? Năm trước chúng tôi có một cậu từ Ba Tây. Rồi cậu sẽ thấy Cambridge là một thành phố quốc tế”.
Tôi gật đầu, và tự hỏi cuộc đối thoại này sẽ kéo dài đến bao giờ. Nhưng ngay lúc đó chúng tôi nghe tiếng thét dựng tóc của bà Croft vọng lên từ dưới lầu. Khi bước ra ngoài lối đi, chúng tôi nghe bà hét:
“Các người phải xuống đây ngay tức khắc!”
“Chuyện gì vậy, Mẹ?” Helen hét lại.
“Ngay tức khắc!”
Tôi lập tức xỏ giầy. Helen thở dài.
Chúng tôi xuống lầu. Vì cầu thang hẹp, tôi đi sau Helen đi trước không một chút vội vã và còn than phiền đầu gối bà bị phong thấp. “Mẹ lại không chống gậy hả?” Helen nói to. “Mẹ biết Mẹ phải chống gậy mà”. Bà ngừng lại giữa lầu, vịn tay vào lan can nhìn ngược lên tôi. “Thỉnh thoảng bả ngã”.
Lần đầu tiên bà Croft như bị phơi trần nhược điểm. Tôi tưởng như bà đang nằm sóng soài dưới đất, mắt trợn trừng nhìn lên trần nhà, chân tay cong tứ phía. Nhưng khi chúng tôi đã xuống đến nấc chót của cầu thang, bà Croft vẫn ngồi lù lù ở đấy, tay đặt trên đùi. Hai giỏ quà chợ bên chân bà. Khi chúng tôi đến trước bà, bà không vỗ ghế, cũng không bảo chúng tôi ngồi. Bà chỉ lườm.
“Chuyện gì thế, Mẹ?”
“Trái phép!”
“Ðiều gì trái phép?”
“Trái phép là khi một người đàn bà và một người đàn ông chẳng phải vợ chồng mà lại trò chuyện riêng với nhau trong một phòng kín không có người làm chứng”.
Helen bảo bà đã sáu mươi tám tuổi, đáng tuổi mẹ tôi rồi, nhưng bà Croft nhất quyết chúng tôi phải nói chuyện trong phòng khách. Bà nói thêm Helen đã trái phép vì đã tiết lộ tuổi tác và vì mặc váy cao quá mắt cá.
“Mẹ à, thời buổi này đã là 1969. Mẹ sẽ ra sao nếu có bữa Mẹ ra đường và nhìn thấy một đứa con gái mặc váy ngắn?”
“Tao sẽ gọi cảnh sát”.
Helen lắc đầu, xách lên một giỏ chợ. Tôi xách nốt giỏ kia, đi theo bà qua phòng khách vào đến bếp. Hai chiếc giỏ chứa toàn đồ hộp. Helen đổ nồi xúp cũ xuống bồn rửa bát, vặn nước rửa nồi, đổ xúp mới vào nồi sạch, rồi cất nồi lại vào tủ lạnh. “Vài năm trước mẹ tôi có thể tự mở hộp lấy”. Helen nói. “Mẹ không thích tôi làm thay cho mẹ việc này. Nhưng phím đàn đã làm hỏng tay của mẹ”. Helen đeo kính lên mắt, nhìn lên tủ ly và tìm ra hộp trà của tôi. “Chúng ta uống trà nhé?”
Tôi chế nước vào siêu đặt lên bếp. “Xin lỗi bà, bà nói sao về đàn dương cầm?”
“Lúc xưa mẹ dạy đàn. Trải bốn mươi năm. Ðó là cách mẹ nuôi chúng tôi khôn lớn sau khi bố tôi mất”. Helen đứng chống nạnh nhìn vào tủ lạnh mở. Bà thò tay vào tận trong cùng, lôi ra thỏi bơ, xịu mặt, rồi vứt nó vào xọt rác. “Thế là xong”. Bà nói, và cất những hộp súp còn nguyên vào tủ. Tôi ngồi ở bàn, nhìn Helen rửa hết đống bát dơ, đổ rác, tưới chậu cây leo bên bồn chén, và rót nước sôi vào hai cái tách. Bà đưa tôi tách không sữa, giây gói trà thò lòng thòng ngoài miệng tách, và ngồi xuống cùng bàn với tôi.
“Xin lỗi bà, thế như vậy có đủ không?”
Helen hớp ngụm trà, để lại vết son trên mép tách.
“Cái gì đủ không?”
“Súp trong nồi. Bấy nhiêu đó có đủ cho bà Croft không?”
“Mẹ không chịu ăn gì ngoài súp. Mẹ thôi ăn chất đặc từ lúc mẹ thọ bách niên. Ðể xem, ngày ấy đến giờ cũng được ba năm rồi”.
Tôi hãi hùng. Tôi cứ ngỡ bà Croft chỉ ngoài tám mươi, già lắm là 90. Tôi chưa hề biết một người nào đã sống hơn một thế kỷ. Sự kiện đây là một bà goá sống một mình càng làm tôi hãi hùng hơn. Chính cảnh góa bụa đã làm mẹ tôi mất trí. Cha tôi, khi xưa là nhân viên của toà bưu chính Calcutta, qua đời vì chứng sưng màng óc khi tôi mười sáu tuổi. Mẹ tôi không chịu thích nghi với đời sống thiếu vắng cha, chìm sâu vào một thế giới tăm tối, không ai có thể kéo bà ra khỏi, không tôi, không anh tôi, không họ hàng, không luôn cả các viện thần kinh trên đường Rashbihari. Ðiều làm tôi đau đớn nhất là phải chứng kiến bà không còn biết giữ gìn, ọc ợ sau bữa ăn, đánh rắm trước mặt khách mà không chút xấu hổ. Sau khi cha qua đời, anh tôi nghỉ học để bắt đầu lao động và cuối cùng quản lý một xưởng dệt để nuôi gia đình. Phận sự của tôi là ngồi bên chân mẹ học thi, nhìn bà đếm đi đếm lại những chiếc vòng trên tay như đó là những hạt bàn tính. Chúng tôi thay phiên nhau canh chừng bà. Một lần mẹ tôi phân nửa người trần truồng đi lang thang ra đến tận trạm xe lửa trước khi chúng tôi tìm thấy bà.
“Tôi không ngại nấu súp cho bà Croft mỗi chiều”. tôi đề nghị, vớt gói trà ra khỏi tách và vắt cho ra hết nước. “Không có gì phiền hà cả”.
Helen nhìn đồng hồ đeo tay, đứng dậy, đổ phần trà còn lại xuống cống. “Ðừng làm vậy, cậu ạ. Ðó chính là điều sẽ giết mẹ hoàn toàn”.
Chiều hôm đó, khi Helen đã về Arlington, và khi chỉ còn lại tôi với bà Croft, tôi bắt đầu thấy lo. Bây giờ, khi đã biết được bà già cỡ nào, tôi lo những chuyện có thể xẩy ra cho bà lúc nửa đêm, hoặc vào lúc tôi đi vắng vào ban ngày. Dù cho giọng nói bà có mạnh đến độ nào, và dù cho bà trông vẫn còn rất đáng sợ, tôi biết chỉ cần một vết trầy hoặc một cơn ho cũng có thể giết chết một người già cỡ đó; mỗi một ngày bà còn sống, tôi hiểu, là một phép lạ. Dù cho Helen có vẻ thân thiện, tôi vẫn canh cánh lo âu bà sẽ bắt lỗi tôi nếu có chuyện gì xảy ra. Helen thì lại không có vẻ gì lo lắng. Bà đến rồi đi, đem súp cho bà Croft, hết Chủ Nhật này đến Chủ Nhật khác.
Cứ theo đà này mà sáu tuần lễ của mùa hè năm ấy đã trôi qua. Tôi đi làm về mỗi chiều, và bỏ ra vài phút ngồi ở ghế đàn với bà Croft. Tôi trò chuyện với bà, bảo đảm với bà tôi đã khóa cửa, và nói lá cờ trên mặt trăng trông tuyệt lắm. Có nhiều khi tôi cũng ngồi cạnh bà sau khi bà đã lãng đãng lạc vào giấc ngủ, kinh ngạc vì bà đã sống trên mặt đất này ngần ấy năm. Tôi cố hình dung ra một thế giới khi bà vừa chào đời, năm 1866 ố một thế giới có phụ nữ mặc váy đen che kín chân, nói chuyện ý tứ trong phòng khách. Bây giờ, khi tôi nhìn đôi tay bà với những đốt xương sưng vù, tôi hình dung ra ngày xưa chúng thon gầy và bóng bẩy, dạo trên phím đàn. Thỉnh thoảng tôi lại xuống gác trước khi đi ngủ để biết cho chắc chắn bà vẫn ngồi ngay ngắn trên ghế hay đã an toàn nằm ngủ trong phòng riêng. Mỗi sáng thứ Sáu tôi đem tiền nhà đặt vào tay bà. Tôi không thể làm gì hơn cho bà ngoài những cử chỉ đơn giản này. Tôi không phải là con trai ruột thịt của bà, và ngoài tám đồng bạc mỗi tuần, tôi không nợ nần bà điều gì khác.
Cuối tháng Tám, giấy thông hành và thẻ xanh của Mala đã sẵn sàng. Tôi nhận được điện tín với chi tiết chuyến bay của cô; nhà anh tôi ở Calcutta không có điện thoại. Vào cùng thời gian đó tôi nhận được thư cô viết, ngày tháng trên dấu ấn bưu điện chỉ sau hôm tôi đi vài ngày. Không một chữ chào hỏi mở đầu, và nếu gọi tên tôi chỉ có nghĩa là xác nhận một sự gần gũi chúng tôi chưa kinh nghiệm. Lá thư chỉ vỏn vẹn vài giòng. “Tôi viết bằng Anh ngữ để sửa soạn cho chuyến đi. Ở đây tôi lẻ loi quá. Ở nơi anh có lạnh không. Có tuyết không. Mala”.
Tôi không xúc động trước lời lẽ của cô. Chúng tôi mới ở với nhau có vài ngày mà đã bị trói buộc vào nhau. Sáu tuần liền cô đã đeo khuyên vàng trên cổ tay và đánh son đỏ lên trán để chứng tỏ cho thế giới biết cô là một nàng dâu. Trong sáu tuần lễ đó tôi đã chờ đợi cô như chờ đợi ngày tháng, tiết mùa, một điều gì đó tất phải đến, nhưng vô nghĩa. Tôi biết rất ít về cô, đến nỗi đôi khi vài nét về cô trở về trong trí nhớ tôi vẫn không thể gợi lên toàn thể khuôn mặt.
Vài ngày sau hôm nhận thư, một hôm đi bộ đến thư viện, tôi bắt gặp một người đàn bà Ấn đứng bên kia đường Massachusetts Avenue, mặc sari với vạt áo thả gần chạm mặt đất, tay đẩy xe em bé. Một người đàn bà Hoa Kỳ tay cầm dây xích một con chó đen nhỏ đi ngang ngay bên cạnh bà. Bỗng nhiên con chó cất tiếng sủa. Từ bên này đường tôi thấy người đàn bà Ấn giật mình, đứng lại, và cùng một lúc con chó chồm lên cắn lấy vạt áo của bà và kéo. Người đàn bà Hoa Kỳ mắng chó, dường như thốt lời xin lỗi và lại hấp tấp kéo chó bước đi, để lại người đàn bà Ấn đứng giữa đường sửa áo, dỗ dành đứa con nhỏ đang òa khóc. Bà không trông thấy tôi, tiếp tục bước đi. Sáng đó tôi nhận thấy những chuyện đáng tiếc như thế rồi sẽ trở thành những quan tâm của tôi. Tôi có bổn phận phải lo lắng cho Mala, chào đón cô, bảo vệ cô. Tôi phải sắm cho cô đôi giầy tuyết đầu tiên, áo lạnh đầu tiên. Tôi phải chỉ cô lối nào phải tránh, hướng nào đông xe, bảo cô khi mặc sari đừng để vạt áo lê dưới đất. Chỉ cách xa cha mẹ năm dặm thôi, tôi hồi tưởng lại với một chút khó chịu, cô đã khóc sướt mướt.
Khác với Mala, tôi đã quen với tất cả: quen ăn cốm với sữa, quen những cuộc thăm viếng của Helen, quen những buổi chiều ngồi với bà Croft. Chỉ duy nhất một điều tôi chưa quen là Mala. Dù vậy tôi vẫn làm nhiệm vụ tôi phải làm. Tôi đến văn phòng tìm nhà tại MIT và tìm được một căn chung cư cách đó vài góc phố có đầy đủ bàn ghế, bếp núc và nhà vệ sinh riêng rẽ, với giá bốn mươi đồng một tuần. Ngày thứ Sáu sau cùng tôi trao đến tay bà Croft tám tờ một đồng trong bao thư, đem giỏ hành lý xuống gác, và thưa bà rằng tôi phải dọn ra. Bà cất chìa khóa của tôi vào ví tiền lẻ. Ðiều cuối bà sai khiến tôi là lấy cho bà cái gậy để bà đứng lên đi khóa cửa. “Vậy thì từ giã cậu”. bà nói và rút lui vào nhà. Tôi không trông chờ một màn phô trương cảm xúc, thế nhưng tôi vẫn thất vọng. Tôi chỉ là một gã thuê phòng, một gã trả cho bà ít tiền hàng tuần, ra vào nhà bà trong sáu tuần lễ. So với một thế kỷ, thời gian ấy thật không đáng kể.
Tại phi trường tôi nhận ngay ra Mala. Tà sari của cô không lết đất, nhưng phủ lên đầu như một dấu hiệu cô dâu kín đáo, giống như mẹ tôi cho đến ngày cha tôi qua đời. Ðôi cánh tay nâu gầy của cô lủng lẳng nhiều chiếc vòng vàng, một dấu chấm đỏ tô trên trán, và đôi chân tô son đỏ. Tôi không ôm cô, không hôn cô, không nắm tay cô. Thay vào đó tôi chỉ hỏi cô bằng tiếng Bengali, lần đầu tiên trên đất Mỹ, cô có đói không.
Cô ngần ngừ, rồi gật đầu.
Tôi nói tôi đã nấu cà ri trứng ở nhà. “Người ta cho em ăn gì trên máy bay?”
“Em không ăn gì”.
“Suốt từ Calcutta sang đây?”
“Thực đơn chỉ có món súp đuôi bò”.
“Chắc chắn phải có món gì khác chứ”.
“Nghĩ đến chuyện phải ăn đuôi bò làm em mất khẩu vị”.
Khi chúng tôi về nhà, Mala mở hành lý và lấy ra cho tôi hai chiếc áo len chui, cả hai đều được đan bằng len màu xanh chói cô đã đan suốt thời gian chúng tôi cách xa, một chiếc có cổ chữ V, chiếc kia chằng chịt mẫu bện. Tôi mặc thử lên người, cả hai đều bị chật nách. Cô cũng đem cho tôi hai chiếc quần ngủ mới, một bức thư của anh tôi, và một gói trà Darjeeling. Tôi không có quà gì cho cô ngoài nồi cà ri trứng. Chúng tôi ngồi ở chiếc bàn cũ kỹ, cả hai chỉ biết nhìn đĩa. Chúng tôi ăn bằng tay, một tục lệ tôi đã quên từ ngày sang Mỹ.
“Nhà đẹp quá”. cô nói. “Cà ri cũng ngon nữa”. Cô giữ tà sari bằng tay trái, ép sát vào ngực, để nó đừng tuột khỏi đầu.
“Tôi không biết nhiều công thức nấu ăn”.
Cô gật, bóc vỏ khoai trước khi ăn. Một lần, tà sari trễ xuống vai, làm cô phải sửa lại ngay.
“Em không cần phải che đầu. Tôi không đòi hỏi chuyện linh tinh đó đâu”.
Cô vẫn che đầu như thường.
Tôi kiên nhẫn chờ để tập làm quen với cô, với sự hiện diện của cô bên tôi, tại bàn ăn và trên giường ngủ, nhưng một tuần sau chúng tôi vẫn là hai kẻ lạ. Tôi không quen bước vào căn nhà lộng hương cơm hấp, bước vào phòng tắm trước một chiếc bồn đã được chùi bóng, bàn chải đánh răng xếp ngay ngắn, bánh xà bông Pears của Ấn Ðộ đựng trong dĩa sành. Tôi không quen mùi dầu dừa cô xức lên da đầu mỗi tối, hay tiếng khua lách cách của những chiếc khuyên vàng mỗi lần cô rón rén đi lại trong căn chung cư. Sáng ra bao giờ cô cũng thức trước tôi. Buổi sáng vào bếp cô đã hâm nóng đồ ăn, và đã xếp một chiếc dĩa trên đó có một muỗng muối để tôi ăn cơm lót lòng, như tất cả mọi người đàn ông Bengali khác. Tôi nói tôi chỉ ăn cốm thôi, để sáng hôm sau khi tôi vào bếp cô đã chan sữa sẵn sàng vào bát cốm của tôi rồi. Một hôm cô thả bộ với tôi dọc đường Massachusetts Avenue xuống MIT, tôi đã đưa cô đi thăm trường. Trên đường về chúng tôi ngừng lại ở một tiệm phụ tùng, và tôi làm thêm chìa khóa nhà để cô có thể tự do ra vào một mình. Sáng hôm sau trước khi tôi đi làm nàng xin vài đồng. Tôi miễn cưỡng đưa tiền, nhưng biết rằng ngay cả điều này, từ giờ trở đi sẽ là chuyện thường. Khi tôi về thì trong ngăn kéo đã có dao gọt vỏ khoai, trên bàn có khăn trải, và trên bếp có nồi cà ri gà nấu với tỏi và gừng tươi. Ngày đó chúng tôi không có máy truyền hình. Xong bữa tôi ngồi đọc báo, còn Mala ngồi ở bàn ăn, tự đan cho mình một chiếc áo cùng màu len xanh chói, hoặc viết thư về nhà.
Cuối tuần lễ đầu tiên, tối thứ Sáu, tôi đề nghị đi chơi. Mala bỏ ngay que đan, và biến vào nhà tắm. Khi cô trở ra, tôi bỗng hối hận đã đề nghị như thế: cô mặc một chiếc áo sari lụa, đeo thêm vòng vàng, uốn tóc và rẽ ngôi lệch. Cô sửa soạn cho một bữa tiệc, hay ít nhất là cho một buổi xem phim, nhưng tôi lại không có dự định đó trong đầu. Gió chiều man mác. Chúng tôi tản bộ qua nhiều khu phố trên đường Massachusetts, nhìn vào những cửa hàng ẩm thực và thời trang. Và rồi, không suy nghĩ, tôi dẫn nàng về lại con đường vắng, nơi tôi đã từng đi một mình nhiều đêm.
“Ðây là nơi tôi đã ở trứơc khi em sang”. Tôi nói, ngừng chân lại trước nhà bà Croft.
“Nhà lớn như thế?”
“Tôi chỉ có cái phòng trên gác. Phía sau”.
“Ai ở đó nữa?”
“Một bà lão rất già”.
“Bà ở với con cháu?”
“Một mình”.
“Nhưng ai trông nom bà?”
Tôi mở cánh cổng. “Phần lớn bà ta tự lo lấy”.
Tôi tự hỏi bà Croft có nhớ tôi không; tôi tự hỏi không biết bà có người thuê khác chưa, họ có ngồi bên bà mỗi chiều chăng. Bấm chuông, tôi đoán mình sẽ phải chờ đợi lâu như ngày mới đến. Nhưng lần này cửa mở ngay, do Helen. Bà Croft không ngồi ở ghế. Cái ghế không còn ở chỗ của nó.
“Chào cô cậu”. Helen nói, cười với Mala bằng đôi môi hồng chói. “Mẹ tôi ở trong nhà. Cô cậu định ở chơi lâu không?”
“Thế nào cũng được, madame”.
“Vậy để tôi ra chợ một lát, nếu không phiền cô cậu. Mẹ bị một tai nạn nhỏ. Dạo này chúng tôi không thể rời bả được, một phút cũng không được”.
Tôi khoá cửa sau khi Helen đã đi, và bước vào trong. Bà Croft nằm thẳng lưng, đầu đặt lên chiếc gối màu đào, tấm chăn bông mỏng đắp lên người. Tay bà đặt trên ngực. Khi thấy tôi bà chỉ chiếc ghế và bảo tôi ngồi xuống. Tôi ngồi xuống như ý bà muốn, nhưng Mala thì tiến tới chiếc đàn và ngồi xuống ghế đàn, bây giờ đã trở về đúng vị trí của nó.
“Tôi bị gẫy xương chậu”.
“Tội nghiệp madame!”
“Tôi ngã ghế đàn”.
“Chia buồn cùng madame”.
“Nửa đêm đấy cậu! Cậu biết tôi phải làm gì không?”
Tôi lắc đầu.
“Gọi cảnh sát!”
Bà nhìn chăm chăm lên trần nhà và cười như mê man, để lộ hàm răng xám. Không thiếu một răng nào. “Cậu nghĩ sao, cậu nhỏ?”
Tôi sửng sốt lắm, nhưng vẫn biết mình phải nói gì. Không chút ngại ngùng, tôi reo lớn, “tuyệt!”
Mala bật cười. Giọng cười cô hiền lành, mắt cô long lanh thích thú. Tôi chưa hề được nghe cô cười, và cô đã cười lớn để bà Croft cũng nghe thấy. Bà quay nhìn Mala, sáng mắt.
“Ai vậy, nhãi con?”
“Cô ấy là vợ tôi, madame”.
Bà Croft quay đầu để nhìn rõ hơn: “Cô biết chơi dương cầm không?”
“Không, madame”.
“Vậy thì đứng dậy đi”.
Mala đứng lên, sửa lại tà sari trên đầu, kéo lại gần ngực, và lần đầu tiên từ ngày cô đến, tôi thấy thương hại cô. Tôi nhớ những ngày mới đến, tôi phải tìm lối xe điện đi Russell Square, đi thang quấn lần đầu, chưa hiểu rằng khi người bán báo rao “piper” thì đó có nghĩa là “paper”, một năm trời mới nghe ra người phu xe nói “coi chừng kẽ hổng” mỗi lần xe lửa rời ga. Như tôi, Mala luân lưu xa xứ, không biết mình đi đâu, sẽ tìm gặp được gì, không có mục đích nào khác ngoài việc làm vợ tôi. Dù lạ lùng bao nhiêu, trong thâm tâm tôi vẫn biết một ngày nào đó cái chết của cô sẽ ảnh hưởng đến tôi, và la hơn thế nữa, của tôi đến cô. Tôi muốn, bằng một cách nào đó, giải thích điều này cho bà Croft, khi bà vẫn đang xem xét Mala từ đầu đến chân bằng một thái độ gần như là khinh thường. Tôi không rõ bà Croft có bao giờ nhìn thấy một người đàn bà mặc sari, có đốt son trên trán, và khuyên vàng một tá trên cổ tay. Tôi không hiểu bà Croft sẽ chê điều gì. Tôi không rõ bà có thấy không chân Mala còn vương màu nhuộm đỏ. Cuối cùng, bà Croft tuyên bố, với một giọng vừa ngạc nhiên vừa thích thú mà tôi biết rõ:
“Cô ấy tuyệt đẹp!”
Ðến lượt tôi phải cười. Tôi cười khẽ để bà Croft đừng nghe. Nhưng Mala có nghe, và chúng tôi nhìn rồi cười với nhau lần đầu tiên.
Tôi thích nghĩ về giây phút trong nhà bà Croft như giây phút khoảng cách giữa Mala và tôi được thu hẹp. Dù chúng tôi chưa hẳn yêu nhau, tôi thích nghĩ về những tháng ngày sau đó như một loại trăng mật. Chúng tôi cùng đi thăm thành phố, và gặp gỡ nhiều người Bengali, nhiều người đến nay với chúng tôi đã trở nên bạn hữu. Chúng tôi tìm ra được ông Bill bán cá tươi trên đường Prospect, hiệu chạp phô Cardulla trong Harvard Square bán nguyệt quế và đinh hương. Chiều chiều chúng tôi thả bộ để nhìn những cánh buồm lướt trên mặt nước, hay ăn cà rem tại Harvard Yard. Chúng tôi mua máy ảnh lấy liền để đánh dấu cuộc sống chung, để tôi chụp hình cô trước tòa Prudential cho cô gửi về khoe cha mẹ. Buổi tối, chúng tôi hôn nhau, ban đầu còn thẹn nhưng dần dần trở nên dạn dĩ, và cuối cùng tìm ra khoái lạc và sự ủi an trong vòng tay nhau. Tôi thuật lại chuyến đi của tôi trên chiếc SS Roma, thuật lại đời sống ở Finsbury Park, ở YMCA, và những buổi chiều ngồi với bà Croft trên băng ghế. Khi tôi nhắc về mẹ tôi, Mala khóc. Chính Mala đã an ủi tôi khi một buổi chiều đọc tờ Globe tôi đã thấy tên bà Croft trong phần cáo phó. Tôi không hề nghĩ đến bà trong nhiều tháng ố đến lúc đó thì sáu tuần mùa hè chỉ còn là một thời điểm xa xôi trong diờ vãng ố nhưng khi hay tin bà chết thì tôi buồn, đến nỗi khi Mala ngừng kim đan ngước lên cô thấy tôi nhìn trân trối vách tường, tờ báo thả lỏng trên đùi, câm nín. Bà Croft là cái chết đầu tiên tại Hoa Kỳ tôi thương tiếc, vì đó là một đời sống tôi khâm phục; cuối cùng thì bà cũng lìa xa thế gian này, cô đơn và cằn cỗi, không bao giờ trở về.
Phần tôi, tôi đã không đi đâu xa hơn. Mala và tôi chọn sinh sống ở một thành phố nhỏ cách Boston hai mươi dặm, trên một con đường rợp bóng cây hai bên, hệt như nhà bà Croft khi xưa, trong một ngôi nhà chúng tôi làm chủ, có phòng nghỉ riêng cho khách, có vườn cho chúng tôi trồng cà chua vào mỗi vụ hè. Chúng tôi hiện nay là công dân Hoa Kỳ, để từ đây chúng tôi có thể lãnh tiền an sinh xã hội khi đã đủ tuổi. Dù chúng tôi cách vài năm lại về thăm Calcutta, đem về quần ngủ thắt cạp dây và trà Darjeeling, chúng tôi quyết định sống già ở đây. Tôi làm việc tại một thư viện đại học nhỏ. Chúng tôi có con trai theo học tại Harvard. Mala không còn lấy vạt sari che đầu, cũng không còn khóc nhớ cha mẹ hằng đêm, nhưng thỉnh thoảng cô khóc vì nhớ con. Thế là chúng tôi lại đi Cambridge thăm con, hoặc đón nó về nhà một cuối tuần nào đó, để nó có thể dùng cơm với chúng tôi bằng tay, và nói ngôn ngữ Bengali, những điều mà chúng tôi sợ nó sẽ không tiếp nối sau khi chúng tôi chết.
Mỗi khi đi thăm con, tôi vẫn có ý đi lại trên đường Massachusetts Avenue, không ngại kẹt xe. Tôi không nhớ rõ từng tòa nhà, nhưng mỗi lần trở lại, trí nhớ tôi lập tức trở về với sáu tuần diờ vãng như chúng mới chỉ là hôm qua. Tôi lái xe chậm, chỉ cho con tôi đường về nhà bà Croft và nói đây là nhàđầu tiên tôi ở khi mới đến Mỹ, nơi tôi đã sống với một bà già 103 tuổi. “Nhớ không?” Mala nói, rồi mỉm cười, sửng sốt, như tôi, là trước kia đã từng có một thời chúng tôi là hai kẻ lạ. Con trai tôi bày tỏ nỗi kinh ngạc, không vì tuổi tác của bà Croft, mà vì số tiền nhà nhỏ nhoi tôi đã phải trả, một sự kiện ngoài khả năng tưởng tượng của nó, tựa như một lá cờ cắm trên cung trăng cũng là chuyện khó tin đối với một người đàn bà sinh vào năm 1866. Trong mắt con trai, tôi nhìn thấy tính cầu tiến ngày nào đã đẩy tôi qua nửa vòng trái đất. Vài năm nữa nó sẽ tốt nghiệp và tự lên đường, một mình, không người che chở. Nhưng tôi tự nhắc nhở rằng con tôi có cha còn sống, có mẹ hạnh phúc và khoẻ mạnh. Khi nó xuống tinh thần tôi khuyên con rằng nếu tôi đã có thể sống còn trên ba lục địa thì không có một trở ngại nào nó không thể khắc phục. Khi những phi hành gia, mãi mãi là các anh hùng, chỉ tốn vài giờ đồng hồ trên cung trăng, tôi đã ở lại trên miền đất mới này gần ba mươi năm. Tôi biết những thành công của tôi chỉ là tầm thường. Tôi không phải là kẻ duy nhất đi tìm kho tàng ở chốn xa xăm, và dĩ nhiên không phải là người đầu tiên. Dù thế, có nhiều lúc tôi đã ngẩn ngơ trước mỗi dặm đường tôi đã từng đi, mỗi bữa ăn tôi đã từng ăn, mỗi một người tôi đã từng quen, mỗi buồng tôi đã từng ngủ. Dù tất cả đều xem như tầm thường, có những lúc chúng như nằm ngoài sức tưởng tượng của tôi.
Jhumpa Lahiri

bài đã đăng của Jhumpa Lahiri


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch