Trang chính » Biên Khảo, Nhân Văn, Phỏng vấn, Tôn Giáo, Tư Liệu Email bài này

Da màu Phỏng Vấn Mục Sư Trần Nguyên Đán

DTBT: Kính chào Mục sư Trần Nguyên Đán. Thay mặt BBT Da Màu, Thúy chân thành cám ơn mục sư đã dành thời giờ quý báu nói chuyện với Da Màu và quý độc giả. Trước hết, xin mục sư cho biết lý do và hoàn cảnh mục sư đã theo tiếng gọi của Chúa.

TND: Sau năm 1975 giống như nhiều người, tôi trở thành một kẻ bất đắc chí và có thể sẽ trở thành một người vô dụng, sống một đời sống không ý nghĩa. Trong thời gian nguy hiểm đó tôi đã gặp Chúa Jesus và tìm thấy ý nghĩa thật sự cho cuộc sống. Tôi biết ơn sự phục hồi kỳ diệu đó và khao khát kể lại cho mọi người biết, giống như người tìm được một phương thuốc chữa lành căn bệnh nan y của mình, vui mừng thông báo cho những người bệnh tật như mình để cũng được chữa lành giống như vậy. Sự khao khát đó thúc đẩy tôi vào chủng viện thần học và trở thành một Mục sư.

DTBT: Nếu đây không phải là một câu hỏi quá tò mò, xin Mục sư cho biết thêm chi tiết “về thời gian nguy hiểm đó,” về những thử thách, và lần đầu (nếu lần đó là lần đầu) được nghe thấy tiếng gọi của Chúa.

cover of ltk memoir

TND: Rồi những cơn sốt rét rừng vùi dập tôi, với những viên thuốc xuyên tâm liên uống như ăn những viên cơm nguội bị mốc. Sống sót qua những ngày tháng đó quả là một phép lạ. Thể xác bị hành hạ đã đành, tinh thần bị hủy diệt nhiều hơn. Có rất nhiều lần tôi chống cuốc đứng trên triền dốc con sông nước chảy đục ngầu phía dưới, chỉ muốn nhảy xuống. Nếu không lập gia đình sớm, không có đứa con, chắc đã có lần nhảy. Tôi không hề sợ chết lúc ấy, có khá nhiều những người bạn tôi tự chọn cái chết cho mình sau 1975, tôi muốn trở thành một trong số họ (Nước Mỹ Và Trăng, trong tập Biển Rộng Hai Vai trang 65).

Tôi đã gặp Chúa Jesus trong thời gian đó…. Người ta bị thuyết phục không bằng lý luận, mà bằng tình yêu. Ngày tôi cúi đầu cầu nguyện mời Ngài bước vào làm chủ cuộc đời mình là một buổi sáng mùa xuân trên bãi biển Nha Trang, sóng vỗ êm êm như câu ru êm của Mẹ dịu dàng. Ngày đó tôi quăng bao thuốc lá Mai vào trong bếp, và không bao giờ cầm lại điếu thuốc trong cuộc đời. Tôi trở thành một người khác (Nước Mỹ Và Trăng, Biển Rộng Hai Vai trang 67).

Tôi xin dùng hai trích đoạn ngắn trong truyện Nước Mỹ Và Trăng, đã đăng trên Việt Báo và in trong tuyển tập Biển Rộng Hai Vai để trả lời câu hỏi. Tiếng gọi của Chúa không đến với tôi đột ngột, qua một kinh nghiệm xuất thần, nhưng là một tiến trình, qua những lời chứng đạo của những Cơ đốc nhân và qua một thời gian nghiên cứu Kinh Thánh.

DTBT: Thúy ở bên Công Giáo (lâu rồi không đi lễ!!), trước đây theo học môn văn chương có lấy một lớp ở đại học gọi là Văn Chương và Tôn Giáo (Literature và Religion). Thúy có đọc và thảo luận đoạn Cựu Ước nói về nhà tiên tri Samuel nghe tiếng gọi của Chúa (hình như ông ấy được Chúa gọi 3 lần rồi mới tin và đáp lời Chúa gọi). Ở đây Thúy xin được tìm hiểu thêm về tiên trình “qua những lời chứng đạo của những Cơ Đốc nhân” mà mục sư đã trải nghiệm. Tiến trình này là như thế nào, thưa Mục sư?

TND: Như cô nhắc về Samuel trong Cựu Ước hoặc Paul trong Tân Ước, là những người nghe và gặp Chúa trong những trường hợp đặc biệt, ngay tức khắc. Tôi thì khác. Nhiều người trong nhà thờ, Christian, Cơ đốc nhân (nhà tôi tin Chúa trước khoảng 1 năm) đến thăm, nói chuyện, làm chứng về Chúa cho tôi, tặng tôi Kinh Thánh, ở không, không có chuyện gì làm, tôi đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Cái tiến trình (process) ấy kéo dài hơn 1 năm. Tôi bị chinh phục bởi cách sống của những Cơ đốc nhân ấy và chính Kinh Thánh. Tôi biết rằng tôi thật sự cần Chúa Jesus trong cuộc đời.

DTBT: Theo lời giới thiệu của nhà thơ Trần Dạ Từ thì hiện Mục sư đang quản nhiệm một giáo xứ ở Fort Worth, Texas. Trong “chữ nghĩa của đán,” có bài thơ tựa đề “fort worth,” tả thành phố này như sau:

tựa như một thanh niên còn trẻ
hào phóng quăng những bước chân trên cỏ….
tựa như bông hoa to tướng không hương thơm
nhưng lộng lẫy vẻ đẹp khỏe mạnh
của con tuấn mã trong buổi rước kiệu….
tựa như chàng cowboy về  hưu rớt mũ
còn quay lại thỉnh thoảng tiếc, ngó
như dòng sông không có  gì quyến rũ
chảy chậm, lờ đờ đôi mắt mất ngủ

Hình ảnh này cho người đọc có một ấn tượng đồ sộ, nhưng … vô cảm về nơi Mục sư đang quán xuyến?

TND: Bài thơ fort worth tôi làm khi lần đầu đến tìm hiểu Hội Thánh Fort Worth. Đó là những cảm giác và cảm xúc đầu tiên về thành phố này khi tôi chạy vòng quanh nó và ở trong nó. Như cô thấy, những từ tôi dùng cho Ft. Worth, như một thanh niên còn trẻ (cỡ teenager), như bông hoa to lớn không hương thơm, như con tuấn mã khỏe mạnh, như chàng cowboy về hưu, tựa như, tựa như… to lớn, khỏe mạnh, trẻ trung, đôi khi hơi cổ điển, có lúc hơi già…Chỉ là những cái nhìn đầu tiên thôi, có lẽ vì mới vừa ở trong một tiểu bang nổi tiếng có nhiều cảnh đẹp đến. Bây giờ thì khác. Lòng người Ft. Worth cũng …nóng cháy lắm, vào mùa hè, khi nhiệt độ lên hơn 100 (cười).

DTBT: Và giáo phận này, chắc có nhiều giáo dân người Việt? Về phía người Mỹ, vì nơi này được coi là miền Nam, không hiểu có những vấn đề dị biệt chủng tộc, hay ngôn ngữ, khi họ gặp một mục sư không phải là người bản xứ?

TND: Hội Thánh mà tôi đang phục vụ thuộc về giáo hội BápTít (Baptist), một giáo hội Tin lành lớn nhất ở Mỹ, giáo dân hoàn toàn là người Việt Nam, nhưng có liên hệ với nhà thờ Mỹ rất chặt chẽ và yêu thương, giúp đỡ nhau khi có việc cần. Không hề có phân biệt hay … kỳ thị gì. Hàng năm chúng tôi có những Đại Hội (conference) và tham dự chung với nhau trong tình anh em.

DTBT: Thú viết văn, làm thơ đã đến với Mục sư trước, hay sau khi, theo sứ mệnh của Chúa?

TND: Tôi viết văn làm thơ từ năm 13, 14 tuổi, đăng bài trên các tờ báo của tuổi trẻ trước 1975. Ngưng một thời gian vì hoàn cảnh xã hội, viết lại một vài năm, đăng bài trên các tờ báo văn học ở Sài gòn, in một tập thơ trước khi rời Việt Nam đến Mỹ. Suốt những năm ở Mỹ sinh hoạt văn chương của tôi chủ yếu trong các tạp chí Tin lành. Cuộc thi Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo là một cơ duyên đưa tôi trở lại với thế giới văn chương “không biên giới.” 

DTBT: Nhà thơ Anh Matthew Arnold, trong bài thơ nổi tiếng “Dover Beach” từ cuối thế kỷ 19, đã than thở rằng:

Biển cả của Đức tin
Có dạo đã tràn đầy, ôm vòng trái đất
Cuộn tròn như lề nếp của giải thắt lưng tươi thắm
Nhưng giờ tôi chỉ nghe thấy âm thanh
U buồn, tiếng rầm rì của biển, rút về xa …

(The Sea of Faith
Was
once, too, at the full, and round earth’s shore
Lay like the folds of a bright girdle furled.
But now I only hear
Its melancholy, long, withdrawing roar ….)

Như nhà thơ Arnold, Mục sư có nghĩ rằng “biển cả của đức tin” ở đầu thế kỳ 21 đã từ lâu trở thành “một âm thanh u buồn, rầm rì, rút về xa”? Làm sao để biển cả này không xa lánh con người, nhưng cũng không đàn áp con người (như trong những trường hợp của những giáo dân hay giáo sĩ “cuồng tín”)?

TND: Biển cả của đức tin, tôi tin rằng vẫn còn đang tràn đầy, ôm vòng trái đất, như một giải thắt lưng nới rộng, sẽ còn nới rộng. Chân lý không thay đổi. Chỉ hoàn cảnh thay đổi. Chúa muôn đời vẫn thế, như đại dương tràn đầy, nhưng cách nhìn và cách sống của con người qua từng thời đại đã làm cho những âm thanh vĩ đại của đại dương ấy trở nên những âm thanh rì rầm, buồn bã, rút về xa. Như tôi có trình bày, Chúa Jesus là một nhân vật rất dễ thương, không quá cứng ngắc và giáo điều như mọi người hiểu lầm. Không tin thì đến mà xem. Nếu câu trả lời này hơi nhạy cảm, dễ gây tranh luận, xin bỏ nó đi. Tôi không hề có ý định gây tranh luận và muốn tranh luận. Just my opinion. Tôi biết rằng Chúa Jesus không bao giờ muốn thuyết phục người ta bằng sự tranh luận, trái lại bằng tình yêu. Tôi sợ bị …mắng lắm (cười). Có lần sau khi đọc một vài truyện của tôi đăng trên Việt Báo, một bạn văn email, mắng: truyền đạo một cách trắng trợn. No, I am not.

DTBT: Nhưng có lẽ Kinh Thánh và đạo giáo cũng là nguồn văn chương cần sự phân tích và suy luận? Thúy nghĩ, cái thú vị của Kinh Thánh là nhiều câu truyện trong đó có những kẽ hở, và người muốn hiểu được thông điệp phải biết trám vào những kẽ hở, hoặc ngược lại, nếu không hiểu, cần nên chất vấn …hết lòng? Một tài liệu phê bình văn chương mà Thúy được đọc hồi còn là sinh viên, và nhớ đến bây giờ, là bài essay Mimesis: The Representation of Reality in Western Literature, của Eric Auerbach, một nhà phê bình người Đức gốc Do Thái phải di cư thoát Berlin vì muốn thoát hiểm họa Đức Quốc Xã. Ông ta nói Odyssey của Homer có cách kể truyện rất mạch lạc, tất cả action ở mặt tiền (foreground), còn Kinh Thánh có nhiều “khúc khuỷu” và những chỗ trống khó giải thích, vì vậy Kinh Thánh đòi hỏi người đọc phải biết suy luận và phân tích. Thúy được biết nhiều về Cựu Ước (có lẽ còn hơn cả Tân Ước), vì lúc bé ở nhà ông bà ngoại, bà ngoại sùng đạo, có một bộ sấm truyền vẽ theo kiểu truyện comic, và bà cũng có một quyển Kinh Thánh cho trẻ em trong thể thơ lục bát, bắt Thúy phải thuộc lòng. Lúc đi học, Thúy được gửi học trường đạo (trường Thánh Linh thuộc nhà thờ Chợ Quán, quận 5 Sàigòn, từ năm 1968 đến năm 1973). Hễ trong lớp có đứa học trò nào cứng đầu hay nghịch ngợm, thì lập tức bị bà sơ bắt ra đứng một góc, và bị gọi là “quân Pharisee(!)” và ngay từ năm lên 6 Thúy đã thấy có cái gì …hơi khắt khe, không dung hòa khi một đứa bé bị bà sơ dạy dỗ nó gọi là quân Pharisee. “Philistine” cũng là một chữ miệt thị. Sau 5 năm tiểu học ở trường đạo, Thúy thi vào Trưng Vương được 2 năm rồi biến cố 1975 qua Mỹ năm 13 tuổi, nhưng những kỷ niệm học trong 5 năm trường đạo là những kỷ niệm mạnh nhất trong đời, chắc không bao giờ quên.

TND: Có lẽ ấn tượng thời thơ ấu của cô trong các trường đạo khiến cô có suy nghĩ tôn giáo (đạo Chúa) như là một tôn giáo đàn áp con người (trong một câu hỏi trước). Có lẽ vì cách con người truyền đạt sai. Tôi đọc Kinh Thánh, và biết, Chúa Jesus không hề mang đến một tôn giáo như vậy. Điều Ngài muốn mang đến cho con người ấy là tình yêu. Có một vài người cũng nói với tôi như vậy nhưng khi họ đến nhà thờ Tin lành lần đầu và nghe giảng, nhìn thấy cách sống, những suy nghĩ ấy bị xóa bỏ. Đúng như cô nhận xét, Kinh Thánh rất lạ lùng, cho đến hết đời cũng không hiểu hết được.

DTBT: Nhà thơ John Milton, trong tác phẩm Paradise Lost, đề cập đến tư tưởng “sa ngã hạnh phúc” (Happy Fall), có nghĩa là, cho dù Adam và Evà ăn trái cấm và phạm tội tổ tông, trong sự sa ngã này, họ cũng biết được thế nào là hạnh phúc, thế nào là tình yêu, thế nào là sự cứu rỗi và lòng tha thứ của Thiên Chúa, qua những trải nghiệm khổ đau. Theo Mục sư, có phải sự kết hợp giữa văn chương và đời sống, hoặc giữa văn chương và tôn giáo, cũng là một sự “sa ngã hạnh phúc”?

TND: Ôi, câu hỏi này khó quá cô Thúy ạ. Miễn cho tôi được không? Nếu tôi trả lời, thì không nói ngắn được, phải nói dài dòng, chiếm chỗ nhiều quá, và lại dễ gây tranh luận. Thôi để tôi xin trả lời ngắn gọn một câu thôi nhé. Sự kết hợp giữa văn chương và tôn giáo (nói chung) với tôi, là một hạnh phúc mà không …sa ngã (cười)

DTBT: Vậy để Thúy hỏi một câu hỏi … dễ và cụ thể hơn nhé. Qua kinh nghiệm của Mục sư, sự sáng tạo và viết thơ văn có làm chi phối nhiều những sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày không ạ? Lúc nào là lúc “lý tưởng” nhất trong ngày, để làm một bài thơ (hay sáng tác một truyện ngắn)?

TND: Sự sáng tác không hề cản trở công việc thường ngày của tôi, trái lại giúp cho công việc đó phong phú hơn. Ngoài những thì giờ dành cho việc thăm viếng, chăm sóc, cố vấn, hầu hết thì giờ còn lại của tôi là ngồi trước computer để viết, soạn bài giảng, bài dạy Kinh Thánh…, viết bài cho các báo Tin lành. Làm thơ, viết văn là một phần trong những thì giờ đó. Viết bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu khi có ý tưởng xuất hiện trong đầu. Sau khi viết được một truyện ngắn hay làm một bài thơ ưng ý, việc soạn bài giảng trở nên dễ dàng hơn, thú vị hơn.

DTBT: Xin Mục sư cho biết những vấn đề tiêu biểu trong đời sống hàng ngày của các giáo dân (xin hiểu câu hỏi này ở trong nghĩa đại cương không ám chỉ hay đi vào chi tiết đời sống cá nhân của giáo dân, và Da Màu hy vọng cũng không vi phạm điều cần duy trì sự cẩn mật (confidential) của những tham khảo/cố vấn giữa Mục sư và các giáo dân).

TND: Những việc mà giáo dân cần Mục sư, ôi nhiều lắm, có tên gọi, mà cũng có những việc không thể gọi tên. Mục sư trên hết là một nhà lãnh đạo tinh thần, một thầy giáo, một người giảng đạo. Khi cần Mục sư có thể là một cố vấn tâm lý, một người quán xuyến mọi chuyện linh tinh, như một nhân viên xã hội, một người coi trẻ em, hay chăm sóc người già… Có khi cả ngày chạy ngoài đường, có khi phải đóng cửa phòng làm việc để trốn bên trong …soạn bài, khi thăm viếng viện dưỡng lão, nhà táng, nhà thương, lúc đến ủng hộ tinh thần ở những nơi dành riêng cho những bệnh nhân sắp chết (hospice), bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu, khi có chuyện cần. Việc làm thường xuyên hàng tuần là giảng dạy, ngoài ra còn một việc làm vô cùng khó khăn khác là … làm gương (cười). Làm gương khó lắm.

DTBT: Nhân ở câu trước Mục sư nói “làm gương [cho giáo dân] khó lắm.” Thúy không hiểu có phải 2 đoạn sau đây từ  bài “khúc khuỷu” trong tập chữ nghĩa của đán đã nói lên cái khó khăn/khó thở này (sự “khó thở” từ trách nhiệm người lãnh đạo có lẽ không dám cho mình sự tự do hay một lối thoát?):

có đôi khi thấy mình khó thở lắm
như một lần đứng trong funeral home lặng lẽ
phải cởi bớt khuy áo cổ
phải tháo bớt một nấc của sợi dây nịt

thèm một chút không gian của nắng
thứ nắng chói chang làm mình chói mắt
thèm bay đi trên những xa lộ mênh mông
trần trụi ánh chiều tà sắp tắt
….

TND: Nhận định về bài thơ “khúc khuỷu” rất chính xác. Có rất nhiều lúc “khó thở’ vì nhiều thứ: khi nhìn một hoàn cảnh đau khổ, một vấn nạn phức tạp, một câu chuyện thương tâm … mà mình không thể làm gì, chỉ biết cầu nguyện cho họ. Nhưng “khó thở” cũng có khi là từ chính con người của mình. Con người với bản chất cũ thỉnh thoảng cũng muốn vùng vẫy, vượt ra, …vui chơi một chút, như Paul nói trong sách Roma 7:19 ”vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn.” Thỉnh thoảng muốn chạy ra ngoài chơi một chút cho vui nhưng bị Chúa nắm cổ kéo lại, cảm thấy hơi “khó thở” (cười), tự mở nút áo ra để thở. Không có gì khó chịu cả. Nói ra, làm bài thơ xong, lại dễ thở.

DTBT: Vậy các giáo dân cũng biết rằng Mục sư là một nhà văn và nhà thơ?

TND: Vâng, giáo dân biết Mục sư của họ là một người viết văn, làm thơ, thỉnh thoảng hát (dù hát không hay), đăng bài trên các báo Tin lành, báo cộng đồng, thậm chí dự thi, được giải thưởng. Mục sư không có ý định dấu giếm giáo dân những điều đó, đôi khi còn khích lệ họ lên các tờ báo online và các website để đọc.

DTBT: Một bài thơ hay, và chân thật, thắm thiết nhất trong tuyển tập là bài “lời ở chân mây.” “Salinger” trong bài “lời ở chân mây” có phải là J.D. Salinger, tác giả quyển tiểu thuyết classic Bắt Trẻ Đồng Xanh (The Catcher in the Rye)? Trong truyện, giấc mơ của cậu teenager Holden Caulfield là muốn được cứu bắt những đứa trẻ đang chạy chơi trên đồng lúa mạch để chúng khỏi ngã xuống vực thẳm. Nhưng tại sao Salinger lại có “quả bóng đỏ” (vì hình như không có chi tiết này trong quyển Bắt Trẻ Đồng Xanh)?

TND: Quả bong bóng đỏ của Salinger trong bài thơ chỉ là một biểu tượng, đối với tôi nó có nghĩa là một niềm hy vọng, không dính dáng gì đến tác phẩm và con người của nhà văn. Tôi yêu nhân vật Holden Caulfield trong Bắt Trẻ Đồng Xanh, như một niềm ao ước, một nỗi khát khao đạt đến sự đẹp đẽ của cuộc sống, thỉnh thoảng thả cái bong bóng đỏ hy vọng lên trời và nhìn ngắm, cho dù có khi “gió thổi chao chác bong bóng đỏ như lời ru cuối.”

DTBT: Cũng trong bài “lời ở chân mây,” Mục sư có so sánh bài hát “Dòng Đời” của Nam Lộc với bài “My Way” của Sinatra. “Dòng đời” trong lời dịch của Nam Lộc, chắc đã thay đổi, nếu không nói là đi ngược nghĩa của “My Way” trong nguyên bản mà Sinatra hát? Theo cách nghĩ của Thúy, “Dòng Đời” trong bản Nam Lộc là một cách tiếp nhận/chấp nhận những thay đổi trong cuộc sống, còn “My Way” là … bất cần, và đượm nhiều ý thức cá nhân hơn. Như vậy, cái nhìn của người nghệ sĩ di dân (nhất là người nghệ sĩ di dân cũng là một mục sư) có phải cũng “nới rộng” nghĩa của “my way,” vì “sứ mệnh/calling” này không phải chỉ là “đường tôi đi” mà còn là “đường tôi phải dẫn dắt các bạn đồng hành” khác?

TND: Tôi không quan tâm lắm bài My Way trong lời tiếng Anh của Paul Anka, chỉ yêu giai điệu của nó và giọng hát của Frank Sinatra, cho tới khi Nam Lộc dịch thành bài Dòng Đời. Dường như ông ta đã nói thay cho tôi nhiều điều tôi chưa kịp nói. Đó là điều tôi muốn trả lời cho Da Màu. Khi người ta đứng ngoài bức màn, không biết cái gì bên trong, người ta đoán lung tung, đoán thì có khi đúng khi sai. Lâu nay người ta vẫn đứng ngoài bức màn Cơ đốc giáo và đoán, và e ngại. Tôi muốn kéo bức màn đó ra để cho mọi người có thể nhìn thấy, Cơ đốc giáo không có cái gì là ghê gớm nặng nề như mọi người đoán, trái lại, rất nhân bản, rất thật, như cuộc sống. Một cuộc sống với tất cả những khía cạnh đẹp và xấu của nó. Nơi người ta tìm đến để khám phá một cái gì khác mà mình không có hoặc chưa có.

DTBT: Đây chính là điều Thúy muốn được tìm hiểu thêm: làm sao để thi văn từ ánh nhìn của tôn giáo lúc nào cũng giữ được cái “thật,” cái “trực tiếp và can đảm của nhận thức,” như ánh nhìn của một cá nhân độc lập? Thế nào là cái “thật” mà không gây xung đột với những giáo điều?

TND: Theo lời nhận định của nhà thơ Trần Dạ Từ thì “không hề có sự xung đột giữa ‘nhà văn, nhà thơ và những nhà gì đó khó lường’ Trần Nguyên Đán và Mục sư Lữ Thành Kiến.” Thiên Chúa và Con Người luôn luôn là một thực thể gắn bó với nhau, gần gũi với nhau đến độ ngạc nhiên. Tất cả những điều tôi đã viết và sẽ viết sau này đều nhằm mục đích bày tỏ sự thật đó. Tôi ao ước sẽ đem đến cho cộng đồng thấy một Jesus rất dễ thương, rất người, rất thật thay vì những hình ảnh mù mờ mà người ta nghĩ về Ngài từ hàng trăm hàng ngàn năm nay.

DTBT: Xin được hỏi Mục sư một câu hỏi chót. Tại sao người ta thường nghĩ rằng sự sáng tạo phải đi đôi với đau khổ hay bất hạnh, mà không nghĩ rằng sự sáng tạo cũng có thể đi đôi với hạnh phúc? 

TND: Câu này lại rộng quá. Người ta nghĩ… mà người ta thì nhiều quá. Người ta có quyền nghĩ bất cứ điều gì người ta nghĩ. Nói sao cho vừa lòng người. Ai kiểm soát và ra lệnh được những suy nghĩ. Theo tôi, không nhất thiết sự sáng tạo (trong lãnh vực văn chương) phải đi đôi với sự đau khổ, nhưng có lẽ khi người ta gặp đau khổ, người ta thường đến với việc viết lách dễ dàng hơn, như để tìm một bấu víu, một giải tỏa, thì đúng hơn. Còn những lúc vui vẻ hạnh phúc thì … thì giờ đâu mà viết, lo mà hưởng thụ niềm vui, lo chơi không hết. Phải không?

DTBT: Thay mặt BBT Da Màu, Thúy xin chân thành cám ơn nhà thơ Trần Nguyên Đán tức Mục sư Lữ Thành Kiến.

TND: Xin cám ơn nhà văn Đinh Từ Bích Thúy và tòa soạn Da Màu. Đây là một sự hân hạnh, rất hân hạnh cho tôi. Hy vọng sẽ được cộng tác lâu dài với quý vị.

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


6 bình luận »

  • đỗ xuân tê viết:

    Tôi đã đọc nhiều bài của tác giả Trần Nguyên Đán gần như hầu hết trong mục VVNM. Ông dấu tên và chức vụ cho đến khi lãnh giải viết của Việt Báo 2007, mọi người mới biết ông là mục sư.Qua tiểu sử ông là con người bình thường sau nhiều thử thách ông mới trở thành người hầu việc Chúa.Trong một số bài viết, ông hay đi vào những vấn đề gai góc của con người và cuộc sống, khó có sự đồng thuận của quần chúng, dễ gây tranh cãi, cụ thể như tôn giáo, đồng tính, tình dục, ngoại tình…Nhưng trước hết ông là một nhà văn nhà thơ, một người rất yêu mùa Thu, niềm đam mê của ông sau Thiên Chúa. Xin hãy đón nhận TNĐ như một cây viết bình thường của diễn đàn, đừng xem ông là mục sư Lữ thành Kiến. Hày để ông thoải mái đến với độc giả và tôi tin là tác giả có vẻ thích nghi với Da Màu, một diễn đàn văn chương đa chiều, không biên giới. Tiện đây cũng xin cám ơn chị Đinh Từ Bích Thúy đã ‘khai thác ‘ được ít nhiều nội tâm của tác giả. đxt

  • My Khanh viết:

    Trong nghệ thuật, không có bằng cấp hay nghề nghiệp của đời sống thường ngày, chỉ có nghệ sĩ và tác phẩm mà thôi.

    Khi đọc văn, vì muốn vô tư trong nhận định tác phẩm, tôi không để ý tới thân thế tiểu sử tác giả (trừ trường hợp đặc biệt).

    Chẳng hạn, tôi đọc Trần Nguyên Đán viết văn, tôi không cần biết đó có phải là bài của mục sư Lữ Thành Kiến, cũng như tôi đọc Nam Dao, tôi không cần biết professor Hùng (không biết tôi có viết đúng tên ông ấy không?)Tôi đọc thơ của Trang Châu nhưng không đọc bài của ông bác sĩ (quên tên gì rồi)….tại sao phải nhớ những vặt vãnh ấy nhỉ?

    Nhiều khi tôi buồn cười vì gặp phải dòng ghi thêm bằng tốt nghiệp cạnh tên người viết, tác giả: Từng tốt nghiệp đại học XYZ, bác sĩ, thạc sĩ….có ngớ ngẩn lắm không? các vị ấy viết sách chuyên ngành thì hoan nghênh. Nhưng bác sĩ, tiến sĩ viết những thứ không chuyên ngành như viết sách tiểu thuyết thì…là Nghệ sĩ. Danh “Nghệ Sĩ” há không đủ để người khác tôn trọng sao (thêm chi title bác sĩ, giáo sư, giáo sĩ, etc. nữa thì coi hởm hĩnh lắm đó).

    Nên nhớ, Nghệ sĩ là do Thiên phú, là tài năng do Trời ban cho người ấy. Còn bác sĩ, kỹ sư, computer programmer, v.v… là do truờng lớp con người đào tạo huấn luyện, mỗi năm tốt nghiệp hàng tá. Cái ban cho của Thượng Đế há chẳng hơn sự huấn luyện đào tạo của con người hay sao. Cũng bởi lẽ ấy, một anh nhà binh khi viết một quyển sách và được mọi người hoan nghênh, thì khỏi nói, anh ta được gọi là Văn Sĩ. Danh gọi Văn sĩ (hay nhà văn) là do người thưởng ngoạn mến mộ quý tặng, không thể tự xưng được, nhớ nghe.

    Nhân đọc lời của anh Đỗ Xuân Tê về việc phân định tác giả và đời sống tác giả, tôi có lời thế thôi. Tôi không có ý chỉ trích người nào đâu nha. (Hãy tha thứ cho tôi vì đã không đi vào bài chủ)

  • Đinh Từ Bích Thúy viết:

    Kính Thưa ông Đỗ Xuân Tê và ông/bà My Khanh,

    Hiện nay chúng ta có 2 vấn đề riêng rẽ, mà thường hay bị “confused” hay phân tích lẫn lộn:

    (1) Sự tương quan giữa yếu tố giáo dục/ nghề nghiệp của người viết và tài năng của họ.
    (2) Sự tương quan giữa đời tư của người viết và tác phẩm của họ.

    Trong trường hợp thứ (1), tôi đồng ý với cách nhận xét của ông/bà My Khanh, giáo dục và nghề nghiệp của một người viết, tuy có thể giúp họ có những kinh nghiệm độc đáo, hay giúp họ có cách suy nghĩ hoặc cách diễn tả rành mạch hơn một người ít kiến thức, không chắc đã làm họ trở nên một nghệ sĩ truyền cảm, hay một nhà văn tuyệt diệu. Giáo dục và nghề nghiệp hướng về khía cạnh kỷ luật/kỹ thuật, và tài năng là bẩm sinh—tài năng là một yếu tố gần như huyền hoặc và đòi hỏi sự cảm xúc. (Nhưng dù sao, tôi vẫn nghĩ rằng một người viết nghiêm túc cũng cần phải có một căn bản kiến thức rộng, vì chính kiến thức của họ sẽ giúp họ có cái nhìn quân bình và đa diện khi phân tích và diễn tả sự việc).

    Trong trường hợp thứ (2), tôi nghĩ người đọc sẽ có một cái nhìn sâu xa hơn về tác phẩm, khi hiểu thêm về đời tư của tác giả. Cho dù khi phân tích văn chương, tôi không muốn những chi tiết về đời tư của tác giả làm chi phối hay mất thăng bằng giá trị nghệ thuật của một tác phẩm, tôi cũng không nghĩ tác phẩm tự nó có thể là nó, một hiện thể độc lập cắt đứt ra khỏi tác giả. Thí dụ, nhà thơ Anh John Milton, tác giả của Paradise Lost (Thiên Đường Đánh Mất) mà tôi có đề cập trong bài phỏng vấn mục sư Đán, là một nhà thơ Tin Lành, đi theo đường lối chính trị cộng hòa của Oliver Cromwell, chống cách nhìn chuyên chế của Hội Thánh, chế độ quân chủ của Anh quốc vào thế kỷ 17, chống kiểm duyệt. Nhân vật Lucifer của ông trong Paradise Lost là một … anh hùng nổi loạn, một “con quỷ” hiên ngang như Từ Hải, vì y dám chống lại sự độc tài của Chúa Trời nên đã bị đầy đọa. Chính trong tác phẩm này Milton đã “xúi dục” giới trí thức Anh nên bạo dạn hơn trong sự sa ngã/nổi loạn chống những đàn áp của chính quyền và Hội Thánh, vì trong sự sa ngã/nổi loạn này (như một cách ăn trái cấm), con người sẽ tìm được cứu rỗi và hạnh phúc. Văn chương lãng mạn Anh về sau này của Byron, Keats, và Shelley đã nẩy mầm từ sự nổi loạn của Milton/Lucifer. Milton cũng là một nhà thơ mù, và trong Paradise Lost, ông hay nói về sự mù quáng trong tư tưởng và kiến thức của con người. Trạng thái mù của ông, như sự mù lòa của Borges, đã giúp nhà thơ sắc sảo hơn trong cách hành văn. Thơ ông đọc nghe rất truyền cảm, vì bị mù, ông không thể viết xuống mà phải nhớ thuộc lòng và xướng đọc những đoạn thơ dài trong bài Paradise Lost, để cho con gái chép xuống. Vì được biết những chi tiết này về đời tư tác giả, khi đọc Paradise Lost, tôi đã hiểu được thêm phông đời sống, xã hội và chính trị của tác phẩm. Sau Paradise Lost, những nhân vật nổi loạn trong xã hội bỗng trở nên quyến rũ, phức tạp, họ không còn bị coi là “quỷ.” Tương tự, nếu chúng ta biết được người viết như một mục sư, hay bác sĩ (trường hợp của nhà thơ Mỹ William Carlos Williams), thư ký nhà băng như T.S. Eliot (và bây giờ ta có thể hiểu tại sao Eliot lại có một cái nhìn bi quan trong trong bài thơ Đất Hoang (The Wasteland), khi ông phải có một công việc quá boring như vậy), thì điều này sẽ giúp chúng ta “gần” hơn với tác giả, và cũng làm tác phẩm sống động thêm qua nhiều thời đại.

  • Minh Hung viết:

    Xin cám ơn chị Đinh Từ Bích Thuý đã có buổi phỏng vấn rất hay và thú vị với Mục sư, nhà văn và cũng là thi sĩ Trần Nguyên Đán. Tôi có cơ duyên may mắn được quen biết ông hơn một năm nay từ nhóm bạn Việt Bút, nơi sinh hoạt của một số anh chị em tác giả của “Viết Về Nước Mỹ” của Việt Báo. Tôi đã đọc phần lớn những câu chuyện của ông viết, và qua buổi phỏng vấn này, giúp cho tôi biết thêm nhiều điều về ông. Một lần nữa xin được gửi đến chị lời cám ơn chân thành, đặc biệt với những câu hỏi rất hay đặt ra cho Mục sư Trần Nguyên Đán trong suốt buổi phỏng vấn. Mến chúc “Da Màu” luôn ngày càng có nhiều bài viết hay và bổ ích cho người đọc.
    Minh Hưng
    http://www.caominhung.com

  • My Khanh viết:

    Cám ơn lời giải thích của cô Đinh Từ Bích Thúy.

    Thay vì, như mọi lần tôi có ý kiến với bài chủ nhưng vừa qua tôi lại tâm sự vớ vẩn với anh bạn Đặng Xuân Tê nơi diễn đàn và vượt khỏi phạm vi của bài chủ, xin quý vị tha lỗi cho.

    Khi tôi đọc lời góp ý của cô Đinh Từ Bích Thúy viết riêng cho Đỗ Xuân Tê và tôi. Tôi tá hỏa. Chết (mẹ) rồi, đụng tới BBT của một tờ báo, là đụng tới quyền lực. Tổng thống Mỹ còn phải kiêng dè giới báo chí, huống chi tôi. Nhưng tôi thiết nghĩ, bá nhân bá tánh, mỗi người một ý thích khác nhau, người thích ăn bún bò Huế, kẻ thích ăn hủ tiếu, làm sao tránh được sự đụng chạm nơi chốn đông người. Bởi vậy cô Thúy lên tiếng bổ sung là phải lẽ thôi.

    Đọc một đoạn dài về những dẫn dụ của cô Thúy, tôi vui lắm. Tôi hình dung ra quan cảnh ở các quầy trả tiền của Siêu Thị nơi tôi ở. Không biết chỗ quý vị ở, supermarket có giống nơi tôi không? Nơi tôi ở,trước quầy trả tiền của Siêu Thị thường có những kệ bán kẹo chocolate hoặc kẹo gum và những thứ lặt vặt, kề bên những gói nhỏ ấy là kệ bán tạp chí, gọn nhỏ thôi. Đó là loại tạp chí không dày lắm, có màu sắc loè loẹt và in bằng giấy mỏng. Liếc nhìn qua các trang bìa, tôi hiểu rằng, các tạp chí ấy nói về đời sống của giới nổi tiếng, nghệ sĩ minh tinh màn bạc (không có báo văn chương ở quầy đó đâu nghe.)Tôi thì chẳng bao giờ mua loại tạp chí ấy, vì biết chắc mình không thể copy theo nghệ sĩ, minh tinh tài tử ấy được. Thêm nữa, tôi cũng không mong mình giống minh tinh tài tử thì tôi mua làm chi thứ báo ấy, phí tiền. Nhưng lạ lắm qúy vị ơi, ông Manager của Siêu Thị tiết lộ: Coi vậy chứ, đó là loại sách báo bán chạy nhất trên thị trường Bắc Mỹ (thậm chí người ta còn dịch nó sang nhiều thứ tiếng), trong khi những cuốn sách loại ‘văn chương kinh điển’ đóng bụi.

    À! Thì ra cái món ‘hủ tíu’ mà nhiều người ưa thích lại không hợp khẩu vị với tôi.

    Do vậy, tôi hết dám xem thường loại báo mà tôi ưa gọi là báo “Lá cải”, báo đánh đúng vào thị hiếu của khách hàng. Từ đó, tôi nghiệm ra, mỗi người một ‘gu’. Ai cũng như tôi thì cái toà báo ấy dẹp tiệm à!!. Để tôn trọng tự do thưởng thức nghệ thuật, tôi đâu dám ép mọi người phải giống như tôi, là không đọc đời tư của nghệ sĩ!!!

    ….
    Làm Nghệ Sĩ, Văn Sĩ là một vinh dự. Vì người nghệ sĩ là người giúp cho tâm hồn kẻ khác biết rung động, nhắc nhở vị trí cao qúy của con người trong muôn loài tạo vật. Danh xưng ấy quý trọng lắm, không dễ đạt được nếu không có lòng mến mộ thương yêu của quần chúng.

    Bởi thế, đã Văn Nghệ Sĩ, đã trở thành con người của công chúng thì hãy giữ vững ngôi vị của mình trong lòng người thưởng ngoạn. (Mong lắm thay.)

    PS: Sao hôm nay tôi tự dưng tôi lên cơn tửng, dông dài, làm phiền bạn đọc lâu. Xin lỗi nha. Mong BBT đừng phiền lòng kẻ tửng như tôi.

  • Đinh Từ Bích Thúy viết:

    Xin chân thành cám ơn sự ủng hộ của anh Minh Hung.

    Tiện đây, vì vừa có thêm sự góp ý của ông/bà My Khanh, xin được nói rõ hơn quan điểm của tôi về “đời tư” của một tác giả. Khi phân tích văn chương, người phê bình thật sự không nhất thiết phải diễn dịch mọi chi tiết trong một tác phẩm qua cách đối chiếu/phanh phui mọi biến cố hay mọi quan hệ tình cảm trong cuộc đời của tác giả. Tuy nhiên, khuynh hướng nhân văn, chính trị và xã hội của tác giả là những yếu tố chính có thể giúp người đọc hiểu thêm về tác phẩm. Lúc phỏng vấn mục sư Đán, tôi thật sự chỉ mới đọc hết tập thơ “chữ nghĩa của đán” và truyện “Nằm Mơ Thấy Mình” của ông. Có lẽ ở một điểm nào đó, tôi đã cố tình không muốn đọc những truyện về thân thế của ông, như “Dòng Sông Yên Tĩnh,” “Biển Rộng Hai Vai,” “Chim Hót Bên Trời” … trước khi có dịp phỏng vấn ông (để giữ được không khí vô tư, mới mẻ … điếc không sợ súng của người hỏi.) Trên hết tôi muốn được hiểu rõ cách mục sư Đán suy nghĩ và sáng tạo—cuộc đời nội tâm—của ông (như ông Đỗ Xuân Tê đã tinh tế nhận xét), thay vì “đời tư” theo sự tò mò thông thường của thị hiếu. Những bài thơ của mục sư Đán đã hé mở cho tôi một chút đời sống tâm linh của tác giả.

    Tôi nghĩ, có lẽ trong văn chương, thể văn phê bình (criticism) và thơ, là hai thể cho phép người viết được biểu lộ thực sự phần nội tâm của mình, mà không sợ bị mất đi cái “đời riêng tư” của mình theo nghĩa thường được hiểu. (Tôi không/chưa biết làm thơ hay viết truyện fiction, nên thể phê bình trở nên cách phát biểu … khá tự nhiên mà tôi thường dùng để trình bày những điều quan tâm của mình). Sau bài phỏng vấn, tôi mới tìm đọc những truyện Ký của mục sư Đán, và bây giờ tôi đã hiểu tại sao ông đã dùng những sáng tác của mình để truyền bá tình yêu và sự quảng đại của Thiên Chúa. Trong bài phỏng vấn, tôi muốn khai phá “lý thuyết/tư tưởng,” của mục sư Đán. Bây giờ, tôi đã nắm được khía cạnh “tình cảm” trong văn chương ông.

    Thưa ông/bà My Khanh: BBT Da Màu không hề muốn, mà cũng không phải là một thể chế “quyền lực.” Da Màu luôn luôn mong được làm một sân chơi rộng thênh thang, không biên giới, không tường chắn, nơi chúng tôi mong rằng ông/bà My Khanh sẽ đừng bao giờ ngại ngùng hay sợ chuyện “đụng chạm chỗ đông người.” Da Màu luôn tôn trọng và hân hoan đón nhận mọi ý kiến đóng góp của bạn đọc.

    Trân trọng,

    DTBT

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)