Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Linh Hồn Tôi Đâu

 

Có lúc tôi ngờ đó là hình phạt Chúa của tôi giáng xuống đầu tôi nhằm răn đe một tín đồ Ki-tô đã để cho linh hồn hư nát. Nếu không sao Ngài lại khiến cặp mắt soi mói như cú vọ của anh nàng phát giác ra chiếc điện thoại di động Blackberry tôi đánh rơi, lọt vào khe hở của sô-pha trong phòng khách nhà nàng tôi đã ghé đêm ấy. Lạy Chúa, cũng tại cái tật lơ đểnh đáng nguyền rủa của tôi, tôi đã phải trả một giá đắt đến dường nào. Nhưng còn Chúa của nàng, Đấng A-la mà nàng hết lòng kính sợ và thờ phượng, sao cũng chẳng minh chứng cho sự trinh trắng của nàng và che chắn nàng thoát khỏi những nhát dao hung hãn ấy? Cứ tưởng tượng những phút giây khủng khiếp cuối cùng trong đời mà người con gái tôi yêu phải trải qua, tôi không chịu nổi. Hiển hiện trước mặt tôi khuôn mặt dịu dàng thanh tú trong chiếc khăn voan màu ngọc bích quấn quanh đầu và vai. Với chiếc khăn đội ấy, trông nàng như một nữ tu Công giáo. Đôi mắt nàng mở to, thảng thốt. Con dao mũi nhọn bất ngờ vung ra, xả vào cổ vào ngực vào bụng nàng. Không phải một nhát, mà hai, ba, bốn, rồi năm, rồi sáu… tổng cộng mười một nhát tới tấp, đều đặn, nhịp nhàng như một vũ điệu. Không hề nghe tiếng nàng. Chỉ giọng điềm tĩnh phảng phất u buồn của cha nàng lặp đi lặp lại một đoạn nào đó trong kinh Koran. Nàng ngồi ghế trước, trong chiếc xe hơi Toyota Cressida cũ màu xanh sậm, cạnh cha nàng. Đầu nàng ngoặt qua một bên, đôi mắt bất động vẫn còn mở to, bàng hoàng, máu ngấm khắp chiếc áo trắng trên người, máu loang cả tấm khăn trùm. Tôi đau đớn, bất lực, hãi hùng, cảm giác như chính thân xác mình đang bị băm chặt ra dưới ngọn dao sắc lẻm đó. Không, không thể nào. Mới những buổi chiều nàng còn cùng tôi sánh bước dọc theo sườn đồi rực rỡ nắng, bông hoa và các loài cỏ dại. Và mới tối trước đó, chúng tôi còn ngồi bên nhau đến quá nửa khuya ngay trong phòng khách nhà nàng, ngôi nhà lần đầu tiên tôi đặt chân vào, lấm lét, dáo dác như một tên trộm…

Tất cả là vì bọn họ. Bác sĩ, cảnh sát, chuyên gia cố vấn xã hội, và cả ba tôi nữa. Họ mưu mô họp hành to nhỏ với nhau rồi bắt đưa tôi vào đây. Mẹ tôi vào thăm hay sờ soạng mặt mũi tôi rồi chảy nước mắt, bảo tôi bị ma ám quỷ nhập nên mới hóa rồ như vậy (tất nhiên tôi biết mẹ tôi nói “quỷ ma” đây là ám chỉ nàng, người con gái tôi yêu). Em gái tôi thì hay đứng bên khung cửa sổ nhìn xuống bãi đậu xe dưới đường, chốc chốc quay lại tôi với ánh mắt thương hại, trước khi ra về nó luôn hỏi tôi cần sách gì nữa để lần sau nó mang lại. Ý nó là những tài liệu cho công trình nghiên cứu về đời sống thổ dân ở miền Tây Canada trước thời kỳ xâm lăng của người da trắng. Công trình này tôi đang thực hiện với một giáo sư đầu ngành trong nước. Nhưng đọc những thứ ấy làm gì nữa đâu. Tôi biết em tôi tưởng tôi chưa biết nên cứ vờ vịt để an ủi tôi thôi, chứ tôi đã nghe tin từ một người bạn đồng khoa rằng vị giáo sư đã gửi thư về nhà tôi thông báo rằng ông phải hủy hợp đồng với tôi, và đã tiếp nhận sinh viên khác thay thế tôi. Bạn bè tôi hồi đầu có đến thăm, nhưng mấy tuần nay biến đâu hết. Ba tôi thì tuyệt nhiên không xuất hiện, mẹ tôi nói ông bận túi bụi với những chuyến đi Việt Nam chăm lo cái công ty cổ phần chứng khoán ở thành phố Hồ Chí Minh ông mới thành lập. Tôi biết ba tôi không thiết gì thằng con trai trưởng ông từng đặt bao hy vọng. “Vậy là hết. Cá không ăn muối cá ươn. Business thì không học, đi chọn cái ngành vớ vẩn ra không xin đưọc việc. Bảo về Việt Nam lấy vợ cũng không nghe, để con yêu tinh Hồi giáo bắt mất hồn, giờ thân tàn ma dại. Thôi, coi như không có nó nữa!” Tôi nghe rõ giọng ông nói với mẹ tôi hôm có toán người tụ tập trong nhà, đúng vậy, lúc họ đè tôi ra tiêm thuốc rồi khiêng tôi ra ngoài cho xe cảnh sát chở đi.

*

Người con gái tôi yêu sinh trưởng từ thành phố thương mại sầm uất Karachi bên bờ biển Ả Rập, thuộc miền đông nam nước Pakistan. Còn tôi từ một giáo xứ Công giáo nhỏ ở miền trung Việt Nam. Tôi sang Canada đã hai mươi năm, từ lúc là cậu bé lớp ba. Nàng thì mới định cư ở đây với gia đình được ba năm. Chúng tôi quen nhau do cùng làm việc tình nguyện ở một trung tâm hỗ trợ thanh thiếu niên mới nhập cư. Nàng đang theo ngành luật năm thứ hai. Tôi đang viết luận án tiến sĩ hy vọng kiếm được công việc giảng dạy ngành nhân chủng học ở một trường đại học trong thành phố.

Tôi nhớ hồi mới quen nàng hỏi sao tôi tên Cao. Tôi bảo nghe mẹ kể ông bà nội di cư vào miền Nam đã lâu nhưng vẫn thương nhớ quê cha đất tổ Đống Cao, thuộc vùng duyên hải ở đồng bằng Bắc Bộ, nên lấy tên Cao đặt cho đứa cháu đích tôn. Còn nàng, cha nàng đặt nàng Ai-sha để tỏ lòng trân trọng vị sứ giả của Chúa. Ai-sha là tên người vợ trẻ nhất trong số mười mấy bà vợ của sứ giả Muhammad. Bà Ai-sha lấy ông khi bà mới chín tuổi và ông đã ngoài năm mươi. Vậy là Đức A-la của em không công bằng, cho vị giáo chủ của em phá lệ, có tới hơn bốn vợ. Tôi chỉ nói vui, nhưng đôi mắt to với hàng mi dài đen sẫm của Ai-sha nhìn tôi sửng sốt. “Anh Cao nói thế là cợt nhạo Chúa và sứ thần của ngài. Trọng tội đấy”. Giọng nàng nửa nghiêm trang nửa trách cứ.

Lần sau gặp tôi, nàng đưa quyển kinh Koran mới tinh, bản dịch tiếng Anh. “Thật ra nếu đọc được bằng tiếng Ả Rập thì mới thấu hiểu hết ý nghĩa sâu xa của nó,” nàng nói. Tôi hỏi có phải nàng muốn tôi cải đạo. Nàng lắc đầu bảo chỉ muốn tôi đọc cho thông suốt về Thượng Đế và cảm kích Ngài hơn. Nhưng những lần chuyện trò cởi mở với nhau sau đó, nàng lại có vẻ như muốn hướng tôi tin vào Chúa của nàng. Không có Chúa nào khác ngoài A-la. A-la là Ðấng Tạo Thiên Lập Ðịa. Nàng tranh luận với tôi. Làm thế nào Đức Chúa Trời lại có người con trai khi Ngài không hề có vợ. Chúa không sinh con và không do ai sinh ra. Nàng bảo Giê-su chỉ là một sứ giả của Chúa như bao sứ giả khác, chứ không phải là ông Chúa Con như tôn giáo của tôi nói. Chính Mu-ham-mad là vị tiên tri và sứ giả cuối cùng được A-la mặc khải kinh Kô-ran qua tổng lãnh thiên thần Ga-bri-ê. Nàng còn quả quyết với tôi rằng chẳng phải cuốn Thánh Kinh của tôi, mà Thiên Kinh Kô-ran của nàng mới chính thực lời Thượng Đế.

Sự thực thì những lời “giảng đạo” của nàng chẳng hề lay động nổi tôi. Nhưng tôi bị cuốn hút bởi vẻ đẹp trên gương mặt thanh tú sáng ngời với đôi mắt to thăm thẳm như tích tụ trong đó bao huyền diệu bí ẩn của vũ trụ. Tôi không quá lời, phải nói rằng chưa bao giờ tôi thấy phụ nữ Tây hoặc ta nào có đôi mắt mê hoặc đến vậy. Hay chê bôi như em gái tôi mà còn nói, “Cô bạn Hồi giáo của anh Cao có cặp mắt như muốn hớp hồn người khác.”

Tôi mang quyển kinh Koran về nhà, ba tôi phản ứng như nhìn thấy ác quỷ. Đó là thứ rác rưởi của bọn tà giáo chống lại Thiên Chúa Ba Ngôi, xúc phạm Đức Chúa Giê-su và công cuộc cứu rỗi nhân loại của Người. Mình là tín hữu Ki-tô, chỉ nên học hỏi những điều ghi chép trong Thánh Kinh. Ba tôi thuyết giảng một thôi một hồi. Tôi không lạ lùng. Hơn chục năm ba tôi giữ chức chủ tịch hội đồng giáo dân trong nhà thờ có hai ngàn con chiên người Việt định cư tại thành phố Bắc Mỹ này, nối nghiệp ông nội tôi đã mất ở Việt Nam, người suốt cuộc đời tận hiến sức lực và tiền bạc phụng sự Chúa. Ba tôi ngăn cấm vậy thôi, chứ ông làm sao kiểm soát được mọi việc làm của tôi. Quyển kinh Koran nàng đưa nghiễm nhiên nằm trong chồng sách nghiên cứu tôi đọc mỗi ngày. Có lẽ A-la biết, nếu không vì nàng, tôi đã chẳng bỏ công đọc nó. Ai-sha, người con gái lúc nào cũng đội chiếc khăn che kín đầu tóc và có đôi mắt to quyến rũ kỳ lạ ấy, tự bao giờ đã có thể khiến tôi làm bất kể điều gì.

*

Nếu không tính phòng khách nhà nàng nơi chúng tôi bên nhau lần cuối, thì khu đồi mênh mông vắng vẻ tọa lạc ở phía tây bắc thành phố là địa điểm duy nhất chứng kiến những buổi hò hẹn bí mật của tôi với nàng. Đó là thế giới dung chứa hai chúng tôi. Chỉ nơi đó, nàng mới có thể tự do sánh bước với một người con trai không phải anh em dòng họ. Tất nhiên nàng luôn nói dối với gia đình là đi thư viện học. Như để chắc chắn khỏi bị lộ diện, lần nào lên đồi với tôi nàng cũng cởi chiếc khăn trùm đầu cất vào túi xách. Em không muốn người ta tọc mạch khi thấy một cô gái Muslim đi với một người đàn ông vừa dị chủng vừa dị giáo. Lý do thứ hai là bảo đảm sự an toàn cho chúng ta, “anh thừa biết dân Hồi giáo Pakistan như em thường bị kỳ thị mà”, nàng giải thích. Mái tóc đen dài sóng sánh trên vai, nàng bước đi lúp xúp cạnh tôi như một cô gái nhỏ đơn sơ trong trắng. Con đường lên đến đỉnh đồi dài hai cây số. Một bên là bát ngát đồng cỏ phủ xanh các loài cỏ búi, Blue Grama, cỏ tranh, cỏ lúa mạch và cây ngải đắng. Một bên là thung lũng sáng rực từng mảng bông hoa đủ sắc màu, các bụi anh đào dại san sát nhấp nhô, và những khóm dương liễu gầy nhom, lá rung rinh trong nắng và gió. Sao gọi hoa này là hoa đậu trâu, sao hoa này là su-zan mắt đen. Em thấy hoa dại còn đẹp hơn cả hoa trồng. Giọng nàng phấn khích. Còn đây là Seneca Snakeroot anh nói hôm nào, thứ hoa người thổ dân nhai và đắp vào nếu bị rắn cắn hoặc côn trùng chích phải không? Ôi, nhìn kìa, cả một rừng hồng. Thảo nào miền đất chúng ta đang ở được mệnh danh là xứ sở hoa hồng dại. Nàng tựa như lạc bước vào cõi thiên đường với nhiều điều huyền bí không giống như thế giới thường ngày nhỏ hẹp tù túng của gia đình và nhà thờ. Cái gì cũng hỏi, cũng muốn biết. Nàng khen tôi có cặp mắt biết nhìn ra những con nai ẩn hiện sau những chòm cây xa tít. Tôi chỉ cho nàng thấy những con nhím sống riêng lẻ trên những cành dương. Tôi dạy nàng cách phân biệt diều hâu đuôi đỏ với diều hâu Swainson và chim ưng phương Bắc.

Tôi được dịp khoe với nàng những kiến thức thu lượm được từ công trình văn hóa quốc gia tôi đang nghiên cứu. Bao nhiêu thứ trên ngọn đồi được tạo lập từ cuối kỷ nguyên băng hà này vì thế đã trở nên thân thuộc với tôi. Chúng tôi hay dừng lại bên tảng đá nơi những con ba-fơ-lô bao thế kỷ trước từng ghé tới cạ mình vào để trút lông và gãi ngứa. Muôn triệu con bò rừng Bắc Mỹ sừng đen mặt ngắn lông bờm xờm và lưng có bướu ấy đã từng gặm cỏ trên những con dốc lộng gió quanh đây, chúng đã lang thang dọc bờ sông Bow River mà ngày nay biến thành trung tâm thành phố với những tòa nhà cao chót vót. Nàng nghe chăm chú những chuyện tôi kể về người Châu Âu xuất hiện trên mảnh đất này với súng đạn, ngựa, và cả bệnh dịch, tiêu diệt toàn bộ loài thú ba-fơ-lô mà người thổ dân bao đời lệ thuộc để sinh tồn. Họ tuyên bố họ đã khám phá ra vùng đất này, vùng đất thực ra của người thổ dân từ hàng ngàn năm trước. Người da trắng cho mình có trách nhiệm văn minh hóa dân bản địa bằng việc khu trú họ thành các bộ lạc, chia rẽ họ, thử thách tập tục sinh hoạt của họ, bảo họ rằng thuợng đế của họ không phải là thượng đế thật, và giới thiệu với họ khái niệm tư hữu đất đai. Người thổ dân trước đó đâu có nghĩ rằng đất là thứ có thể sở hữu được. Đất, là của thiên nhiên. Cũng như bầu trời và không khí vậy. Nhưng người da trắng đặt chân tới đây, giành lấy những vùng đất phì nhiêu, gọi đây là đất của mình rồi xua người thổ dân vào những miếng đất cằn cỗi dành cho các bộ lạc. Nàng thở dài bảo, “Đó chẳng phải là lối xử sự của dân da trắng ở nhiều nơi trên mặt đất này sao?”

Nàng nói với tôi về nỗi mặc cảm là một người Hồi giáo nhập cư trên đất phương Tây. Hôm hai tòa tháp ở New York bị sụp đổ, nàng đang ở trường. Mọi người xúm xít trước tivi trong phòng ăn trưa. Nàng bắt gặp những ánh mắt thiếu thân thiện trực chiếu vào mình, như thể chính nàng là một tên lái không tặc điều khiển một trong hai chiếc máy bay đó. Chiều về, nàng phát hiện chiếc xe hơi ba nàng đậu trước nhà bị đập vỡ kiếng cửa. Hàng chữ tiếng Anh nguệch ngoạc to tướng bằng bút lông đen ở đầu xe “Quân khủng bố. Cút về nước chúng bay.” Dường như vẫn chưa đủ, sáng hôm sau, mẹ nàng thất kinh khi bà mở cửa, mắt chạm một cái đầu lợn đẫm máu tươi ngay trước sân nhà. Nhà nàng là một gia đình Pakistan duy nhất dọc con đường ấy. Cùng ngày có tin trước cổng thánh đường Hồi giáo của thành phố ai đó ném vào bốn cái đầu lợn mới cắt lìa khỏi thân. Không biết người ta sẽ còn làm những gì nữa? Nàng lo sợ bị nhóm người quá khích hãm hại.

Phải nói những buổi gặp gỡ trên đồi với nàng là những giờ phút đẹp đẽ, sáng tươi nhất của cuộc đời tôi chưa từng biết đến. Có phải sự khao khát hiểu biết về thiên nhiên đã đưa chúng tôi mỗi ngày mỗi gần nhau hơn. Tôi vui sướng khi nàng tin tôi, không chút dè dặt chia sẻ với tôi bao nghĩ suy về cuộc sống. Với tôi, nàng là người phụ nữ đầu tiên và duy nhất tôi muốn đem hết tim óc ruột gan ra để chở che, bao bọc. Nhiều lúc đứng trên đỉnh đồi, chúng tôi không cần nói gì với nhau, chỉ lặng thinh dõi mắt về hướng rặng núi Rockies nơi mặt trời đang chầm chậm giấu mình sau những tảng mây có hình dạng như những đám cừu đang nô giỡn. Và đằng sau chúng tôi, những tòa nhà uy nghi mọc lên khỏi thung lũng phía bên kia sông và cả một vùng thảo nguyên bao la trải đến tận trời đông.

*

Hôm ấy nàng nói với tôi cả gia đình nàng đi vắng qua đêm. Đám cưới một người bà con ở thành phố Vancouver. Nàng ở lại nhà vì đang dịp thi cuối khóa. Nàng hẹn tôi đến.

Tôi đã đến. Chúng tôi ngồi bên nhau hàng giờ trên chiếc sô-pha trong phòng khách nhà nàng. Nàng cho tôi biết anh trai nàng tỏ ra ngờ vực vì dạo gần đây nàng hay “đi thư viện” về muộn. Có dấu hiệu máy vi tính và điện thoại di động của nàng bị kiểm tra. Nhưng anh đừng lo, em xóa mọi dấu vết rồi. Tôi nói với nàng việc ba tôi thúc ép tôi về nước cưới con gái một người bạn trong giới làm ăn với ông. “Và anh sẽ chiều ý ba anh?” Giọng nàng không giấu được vẻ lo âu. Tôi không hình dung mình sẽ có thể cải đạo, nhưng thề với nàng tôi sẽ tìm cách đấu tranh cho tình yêu của chúng tôi. Nàng cũng bảo nàng không thể dứt bỏ gia đình, nhưng thề sẽ ở vậy suốt đời nếu không lấy được tôi. Đêm ấy, lần đầu tiên sau hơn một năm biết nhau yêu nhau, chúng tôi mới được ở gần sát bên nhau trao vòng tay cho nhau như thế. Khung cảnh gợi mời của bóng tối và tình yêu tràn ngập trong lòng đã khiến chúng tôi không ngăn nổi niềm khát khao cháy bỏng được chung hòa hai thân xác với nhau. Tôi đặt môi lên vầng ngực thanh khiết của nàng. Nàng run rẩy đón nhận, hiến dâng, cả trái tim và linh hồn. Tôi đã có thể nghe thấy hơi thở van vỉ của nàng. Nhịp tim nàng. Ngửi thấy hương thơm trinh bạch từ cơ thể người con gái tôi yêu.

Và tôi đã dừng lại trong giây khắc thiêng liêng muôn đời tôi không thể quên ấy. Lỡ như tôi không cưới được nàng. Lỡ cha nàng ép nàng lấy một người con trai khác. Những câu chuyện man rợ đau đớn nàng từng kể với tôi xung quanh đạo luật Hồi giáo đối với sự trinh tiết của người thiếu nữ trong đêm động phòng đã kịp thời ngăn chặn phút giây cuồng si tột đỉnh của tôi.

Tôi rời khỏi nhà nàng lúc nàng chuẩn bị giờ cầu nguyện trước khi đi ngủ. Tôi ra về cũng thập thò, dáo dác như lúc bước vào nhà, sợ nhỡ ai trông thấy.

Đêm ấy tín đồ Hồi giáo bắt đầu dọn mình cho mùa chay Ramadan.

*

Sáng hôm sau là ngày đầu tiên của tháng Ramadan. Có lần nàng giải thích với tôi, đây là tháng nhà tiên tri Mu-ham-mad được mặc khải kinh Koran, trong tháng này con người phải tha thứ và sám hối.

Từ Vancouver về, anh nàng đã tra vấn nàng suốt buổi sáng sau khi phát hiện chiếc điện thoại di động lạ giữa những chiếc đệm sô-pha trong phòng khách. Giường ngủ, chăn gối, áo quần của nàng bị lục tung. Cặp mắt soi mói của anh nàng cuối cùng còn lục ra được quyển nhật ký của nàng. Những lần hò hẹn trên đồi. Nụ hôn và vòng tay người con trai. Lạy Đấng A-la Tối Cao và Duy Nhất. “ Thế ra cái Blackberry này là của thằng chó ấy. Ra đêm qua nó đã ở đây. Đồ đĩ bẩn thỉu! Mày tưởng qua mắt tao được. Tôi lỗi vẫn còn rành rành trên gương mặt đĩ thoả mệt mỏi của mày. Hay là thằng chó đó đã làm mày có chửa rồi? Nói đi. Mày đã thất thân với cái thằng thờ đa thần, thờ hình tượng, và ăn thịt lợn bẩn thỉu đó, bao nhiêu lần rồi. Nói!” Mẹ nàng khóc. Em gái nàng cũng khóc. Nàng yếu ớt phân bua trong lúc anh nàng túm cái khăn trùm của nàng dập đầu nàng vào tường. Chiều hôm ấy, cha nàng xếp đặt cho nàng cùng đi với ông đến thánh đường cầu nguyện. Đến một con đường vắng, ông đã đỗ xe lại và bất ngờ rút ra con dao nhọn giấu sẵn trong xe. Nàng không kịp phản ứng. Nàng đã không bao giờ biết rằng kế hoạch giết chết nàng đã được cha nàng thông qua với mẹ nàng và anh nàng vài giờ trước đó. Chỉ có cái chết của nàng mới bảo toàn thanh danh cho gia đình.

Tờ báo thành phố hôm sau có mẩu tin với tựa đề chạy lớn trên trang nhất “Cô sinh viên Hồi giáo bị đâm chết trong xe cha mình”. Bên cạnh là bức chân dung của Aisha trong mảnh khăn voan màu xanh ngọc lấp lánh những hạt cườm li ti choàng kín đầu và vai. Nàng đẹp như trong những bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh. Mắt mở to, thăm thẳm dịu dàng.

Cuối cùng thì nàng đã chết. Không phải bởi sự nghi kỵ của nhóm người da trắng quá khích như nàng từng lo sợ, song bởi chính bàn tay thịnh nộ của kẻ sinh thành ra nàng.

Cho đến lúc giã từ cuộc sống, người con gái tôi yêu vẫn chưa thực hiện được chuyến hành hương một lần trong đời về thánh địa Mecca như bao tín đồ Hồi giáo hằng ước nguyện.

Khi tôi kể lại chuyện này, cha nàng hiện ở trong nhà giam với án chung thân. Ông đang chờ luật sư chống án đòi tòa giảm nhẹ hình phạt cho tội danh “giết người vì lý do danh dự”. Vì theo ông, “giết con gái để bảo vệ danh dự gia đình là một nhiệm vụ thiêng liêng”. Mẹ nàng và các anh em nàng đã dọn nhà chuyển đến một tỉnh nhỏ miền đông. Còn tôi với linh hồn đang vất vưởng chốn nào không tìm thấy được, bị nhốt vào đây không biết đến bao giờ…

*

Đó là những điều tôi chắp nhặt lại sau nhiều buổi tiếp xúc với Cao, một chàng trai ba mươi tuổi gốc Việt, đối tượng nghiên cứu cho luận án tốt nghiệp ngành tâm học của tôi. Cao nhập viện cách đây ba tháng và được xếp là một trường hợp khá nghiêm trọng và phức tạp. Bình thường anh rất trầm lặng, chỉ cặm cụi đọc sách, có khi cả ngày không mở miệng một câu với bệnh nhân cùng phòng, nhưng lâu lâu lại nổi cơn đập phá, la hét, khóc lóc và người ta phải chuyển anh vào gian phòng đặc biệt. Sổ trực nhật của y tá có ngày ghi rằng Cao vứt quyển Kinh Thánh xuống nền nhà rồi vạch quần đái vào nó, có ngày anh dùng răng và tay cắn xé nhiều trang trong quyển kinh Koran.

Không phải lần nào gặp tôi cũng được nghe Cao kể chuyện. Khi thì anh ngồi lừ lừ như bức tượng chẳng thốt lời nào, cứ trừng trừng nhìn tôi với cặp mắt trống hoang. Khi thì nói một vài câu rồi thình lình đứng bật dậy chửi tục quát đuổi tôi ra. Khi lại tràng giang chuyện nọ xọ chuyện kia không chịu ngừng. Thường thì giọng anh rất tỉnh táo giống như kể chuyện của ai đó, nhưng có lúc bỗng nghẹn ngào, mắt đỏ lên. Một lần anh dừng lại giữa chừng, lẩm bẩm một mình chừng như quên mất sự hiện diện của tôi. “Linh hồn tôi đâu. Chúa Ba Ngôi đâu. A-la đâu. Ai-sha là người con gái tôi yêu.”Anh cứ lảm nhảm như đọc thuộc lòng trong sách giáo khoa, mắt nhìn tôi nhưng tâm trí lạc vào chốn nào. “Vì lợn là động vật móng guốc nhưng không thuộc nhóm động vật nhai lại, nên nó không sạch sẽ, thế nên chúng ta không được ăn thịt nó, cũng không được sờ vào thi thể nó. Toàn phịa. Tôn giáo. Văn hóa. Thập tự chinh. Thánh chiến. Láo toét.Cao bật ra những lời giận dữ, hai tay giơ lên múa may, giọng gắt gỏng. Anh ngừng thoáng ngắn, mắt vẫn xa xôi, rồi tiếp, lại lảm nhảm một mạch như đọc bài. “Đức Đạt Lai Lạt Ma dạy rằng nếu tôi nhìn bạn với ánh mắt thiển cận bề ngoài, hai chúng ta thật khác nhau. Và nếu cứ tập trung ở mức độ đó, hai chúng ta lại càng nhích ra xa hơn. Nhưng nếu tôi nhìn bạn như cùng nòi giống con người, với một cái mũi, hai con mắt, và cứ thế, thì tự động cái khoảng cách đó mất đi… Tôi lắng nghe Cao, không khỏi nghĩ đến cái bi kịch mãi mãi không xóa nổi trong thế giới loài người. Chẳng phải bản chất con người là mãi mãi kỳ thị nhau sao, và sự kỳ thị đó đâu chỉ giới hạn ở tín ngưỡng. Bên tôi Cao đang nghêu ngao trở lại điệp khúc Linh hồn tôi đâu. Chúa Ba Ngôi đâu. A-la đâu. Ai-sha là người con gái tôi yêu… Bây giờ thì tôi thấy nước mắt anh tràn ra.

Calgary, tháng 6, 2009

bài đã đăng của McAmmond Nguyen Thi Tu


6 bình luận »

  • trịnh sơn viết:

    Truyện không lạ, không mới. Có thể đọc được. Nhưng, sẽ hay hơn nếu tác giả không “lên gân” quá. Ồ, chữ “lên gân” này mới xuất hiện trong tiếng Việt gần đây, có lẽ phải nhờ các học giả giảng giải thêm. Tôi không hiểu hết nguyên bản tiếng Anh, vì tiếng Anh quá cao siêu hay vì tôi quá dốt nát ? Nếu cả 2 đếu không đúng, hy vọng BBT DA MÀU bỏ bớt 1 trong 2 bản, để tuân thủ và trung thành với tiêu chí KHÔNG BIÊN GIỚI của mình.
    Trân trọng !

  • BBT Da Mau viết:

    Mến chào bạn Trịnh Sơn,

    Xin bạn vui lòng giải nghĩa tại sao “bỏ bớt 1 trong 2 bản” lại là việc “tuân thủ và trung thành với tiêu chí KHÔNG BIÊN GIỚI của Da Màu”? Thiết tưởng do có cả hai bản Anh/Việt, như Da Màu thường làm, là điều nới rộng biên giới và tạo điều kiện cho độc giả của cả hai ngôn ngữ có dịp được thưởng thức những tác phẩm của cộng tác viên? Nói cách khác, “biên giới” có phải là một khái niệm tương đối, thay vì tuyệt đối, vì “biên giới” của một độc giả không biết hay không giỏi tiếng Anh, lại là cánh cửa mở cho một độc giả biết tiếng Anh muốn tìm hiểu văn chương Việt ở thể dịch thuật, vì họ không thể đọc trực tiếp nguyên bản tiếng Việt? Hoặc, nếu có hai bản đối chiếu cũng là cách tạo cơ hội để độc giả tìm hiểu thêm về nghệ thuật dịch văn chương, vì dịch thuật, tự nó, cũng là một môi trường với những điều kiện vừa có thể phá vỡ hay (vô tình) làm lệch lạc một tầm nhìn, nhưng dù sao cũng là một môi trường tạo nghi vấn. Có phải chính yếu tố “nghi vấn”/đối chiếu này là cách làm văn chương đuợc trường thọ?

    Trân trọng,

    BBT Da Màu

  • trịnh sơn viết:

    “Thiết tưởng do có cả hai bản Anh/Việt, như Da Màu thường làm, là điều nới rộng biên giới…” Chỉ một câu này thôi, nghĩa là chúng ta đã mặc nhiên công nhận sự tồn tại và không thể phá vỡ cái biên giới mà chúng ta vẫn muốn gỡ bỏ nó khỏi tầm nhận thức văn hóa của mình và đối tượng của mình. Tôi mạo muội dùng 2 chữ “chúng ta”, vì, rất tôn trọng và trân trọng những nỗ lực của DA MÀU đã và đang thực hiện.
    Nói rõ về ý muốn của tôi. Chọn một trong 2 bản, Anh hoặc Việt, nghĩa là chúng ta đã thể hiện sự cẩn trọng và nghiêm túc của mình trong vấn đề dịch thuật (chuyển ngữ )tác phẩm này. Và, tiếng Việt ( hoặc một thứ tiếng nào khác ), như tác giả Lê Hữu và một số học giả đã góp ý, nghĩa là, có giới hạn trong từng tầng tri thức của người nói , viết, hoặc nghe nó. Muốn cho 1 anh nông dân chân lấm tay bùn mới học xóa mù chữ đọc, rồi lại cho một quý bà sính ngoại ngữ đọc, đều thu được một kết quả như nhau, là, con số 0 không tròn! Linh hồn của tác phẩm, tự nó đã diễn đạt qua bản thể (rất cụ thể – tác giả đã dùng ngôn ngữ là phương tiện hữu hình để diễn đạt tư tưởng là thứ vô hình) của nó. Tiếp nhận không đồng đều là tất yếu. Trong sự vận động ngấm ngầm của tiến trình đọc-tiếp nhận-cảm nhận-đồng hành giữa người thưởng thức và tác phẩm, không thể tránh khỏi cái gọi là dị ngữ: lạ lẫm với cả những chữ quen thuộc nhất, trong hoàn cảnh mới của chữ ấy. Nhu cầu tìm hiểu “chữ lạ” (ý lạ) ấy, thúc đẩy ý thức tìm kiếm và sáng tạo một trường nghĩa thích hợp với bản thân mình. Đứng trước 1 tấm gương để soi, chúng ta dễ nhận ra những nếp nhăn mới của mình, và chấp nhận nó theo tính cách của từng người. Nhưng, không có 1 tấm gương cụ thể, tất cả chúng ta sẽ nhìn thấy những nếp nhăn của nhau một cách dễ chịu. Đây không phải là 1 cách xóa bỏ biên giới ư?
    Nếu như một truyện ngắn hay một bài luận văn mà chúng ta còn phải băn khoăn vì e ngại không đồng nhất 2,3,4 bản ngữ khác nhau, thì, ngẫm nghĩ lại sẽ thấy tự mình đã bộc lộ cái biên giới hoài nghi (hay là, cả tin) của chính mình. Các tác phẩm thơ ca thì sao? Không phải DA MÀU đã chuyển ngữ và giới thiệu được rất nhiều bài thơ vô cùng thành công hay sao? Có những bài thơ hay hơn cả nguyên bản của nó.
    Kính!

  • vũ tưởng viết:

    Mến gửi bạn Trịnh Sơn,
    Ý kiến của bạn làm tôi tò mò đọc thử bản tiếng Anh. Tôi không có ý tự khoe trình độ ngoại ngữ của mình nhưng công bằng mà nói bản dịch khá tốt, kkông có gì phải phàn nàn. Và tôi tin rằng nó cũng được sự kiểm duyệt và biên tập của BBT Da Màu. Chẳng lẽ BBT không có người thẩm định Anh ngữ sao? Nhưng có lẽ tôi sẽ đưa bản dịch này cho một vài giáo sư người bản xứ (dân Bắc Mỹ)chuyên về văn học xem, coi họ nói thế nào.

    Về việc đăng bản tiếng Anh, tuy Da Mau không làm thường xuyên, tôi cho rằng đây là điều rất đáng hoan nghênh, và tôi đồng ý hoàn toàn với ý kiến trả lời của BBt với bạn Trịnh Sơn. Why not? Lâu lâu tôi cũng hay giới thiệu Da Màu cho mấy người bạn VN nhưng không rành tiếng Việt bằng tiếng Anh. Họ cũng đọc và thích lắm, như cái truyện Bắt Hến ở Hồ gì đó của tác giả Phùng Nguyễn. Tóm lại, đây là việc làm đáng trân trọng của tạp chí Da Màu, để mở rộng thêm lượng độc giả, quảng bá văn học VN của mình ra thế giới. Tôi còn ước một ngày Da Mau có website tiếng Anh tiếng Pháp nữa (nói cho vui, chứ có lẽ điều này không “khả thi”).

    Đôi dòng với tác giả McAmmond Nguyen Thi Tu:
    Tôi rất yêu mến tác phẩm của chị. Những truyện in trên DM của chị đều đề cập những vấn đề nhân sinh, những đề tài khá gay góc. Và chị đã bày tỏ quan điểm/thông điệp của mình cho độc giả một cách khéo léo, nhuần nhị. Điều này không dễ. Câu chuyện này gợi tôi nhớ một người bạn gái Ấn (đạo Sikh) cũng bị cha cô đâm chết vì cô quan hệ với một người bạn trai da trắng.
    Mong được đọc thêm sáng tác của chị.

  • My Khanh viết:

    Riêng tôi, đối với “Linh hồn …” tôi không thích bản tiếng Anh khi có sẵn bản tiếng Việt. Có lẽ tại tính tôi quá lười, làm biếng biến đổi những cái có sẵn. Tôi đọc tiếng Việt do người Việt viết vẫn thú vị hơn là đọc tiếng Anh bằng bản dịch của người Việt. Kẹt quá thì tôi đọc bản tiếng Anh ở trường hợp tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất của người viết (như Lê Nam chẳng hạn -thì vẫn là đọc bản có sẵn, phải không?) Vì vậy thông cảm cho tôi nha, tôi đọc Truyện Linh Hồn Tôi Đâu bằng bản tiếng Việt,

    Truyện “Linh Hồn Tôi Đâu” nói về cuộc tình dị chủng, dị giáo và một kết cục bi thương. Trời! Chỉ một vấn đề Dị Chủng cũng đã gai góc cho đôi tình nhân trong việc thuyết phục gia đình mình. Còn thêm Dị Giáo nữa thì biết chắc truyện tình này đẫm nước mắt. Tôi háo hức, nhưng thú thật, tôi không thấy cảm động cho lắm khi đọc truyện này.

    Phải nói, tác giả đã đưa ra quá nhiều xung đột. Có lẽ vì vậy mà câu chuyện kể lại trong mức độ bề mặt, nhiều vấn đề được đưa ra nhưng chỉ thoáng lướt dưới cái nhìn của nhân vật “Tôi” (nào là Chúa phạt, nào là Luật lệ kết hôn của Hồi Giáo, câu nói của Đức Lạt Ma, lịch sử phát triển văn hóa Canada…) rồi góc nhìn của nhân vật bị trộn lẫn với góc nhìn của tác giả, khiến tôi vừa đọc vừa hoang mang, điều gì là điều chính yếu mà nhân vật hoặc tác giả quan tâm.

    Tất nhiên, giới hạn của một truyện ngắn không thể chuyên chở được nhiều vấn đề mà tác giả đưa ra, đọc cho biết như đã từng đọc những bản tin trên báo về vấn nạn ‘Giết người vì lý do danh dự’, thế thôi.

  • Việt Hương viết:

    Trước tiên xin cảm ơn BBT Da Màu đã làm việc tận tâm, cống hiến cho độc giả nhiều tác phẩm giá trị, mỗi ngày. Rất tiếc tôi không có thời gian đọc hết từng bài, nhưng tôi (và các bạn tôi) đều nhận xét thấy bài vở ngày càng đa dạng, phong phú, qui tụ được nhiều cây bút mới với chất giọng mới. Có thể nói hiện nay Da Màu có thể coi như đại diện xứng đáng của nền văn học VN của chúng ta.

    Về truyện “Linh Hồn Tôi Đâu”, tôi thiết tưởng vấn đề đáng bàn luận ở đây không phải là bản tiếng Anh hay tiếng Việt, mà là chất lượng của câu chuyện. Đụng đến đề tài tôn giáo không phải đơn giản. Tác giả phải rất thận trọng, “cao tay”, mới chọn viết về lĩnh vực này. Nhóm bạn chúng tôi uống cà phê sáng nay, nhắc đến Da Màu và truyện ngắn này. Phải công nhận nữ sĩ này khá táo bạo, như dũng sĩ xông vào trận địa. Câu chuyện tình khá bất thường và cái kết thúc bi thảm giữa một chàng trai Việt Nam đạo Công Giáo và một cô gái Pakistan đạo Hồi phản ảnh sự xung khắc, như tác giả nói, “không thể nào xóa nổi” trong thế giới loài người. Những đoạn viết táo tợn về tôn giáo! Tôi mong tác giả sẽ không bị “tấn công” bởi những người mộ đạo.

    Tôi thích lối kể chuyện của tác giả. Truyện nhiều tình tiết. Xung đột dồn dập. Và đoạn kết làm người đọc suy nghĩ.
    Thêm một truyện ngắn đáng đọc. Cảm ơn BBT và tác giả.

    việt hương

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)