Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Bàn Tròn: Chính trị, Biên Khảo, Da Màu 3 tuổi, Nhận Định, Tiểu luận Email bài này

Cuộc đối thoại từ quá khứ

Mừng sinh nhật muộn Da Màu

Trong khuôn khổ (muộn) tuần lễ tạp chí Da Màu kỷ niệm 3 năm thành lập, bài viết này có vẻ như có chỗ không hoàn toàn hợp lý về mặt thời điểm. Nói như thế vì nhiều lý do: nó có một giọng điệu gần như tổng kết về đề tài là một cuộc đối thoại trong khi cuộc đối thoại ấy: 1/ đã khởi đầu từ rất lâu trước khi Da Màu được thành lập; 2/ sẽ không có những cái mốc ngừng cho phép người ta thoải mái nhìn lại chặng đường vừa đi qua – hoặc nếu có, có lẽ những cái mốc ấy không nhất thiết trùng hợp với những cái mốc của lịch sử Da Màu; 3/ Da Màu không phải là mảnh đất duy nhất trên đó cuộc đối thoại đang đâm rễ và vươn cành; và sau cùng, dù cho vai trò của trang mạng này có nhỏ nhoi đến đâu đi nữa, ngay những gì đang diễn ra trên Da Màu cũng chưa thể đưa vào một tổng kết giữa lúc này, vì Da Màu chưa có ý định kết thúc công việc cung cấp không gian cho cuộc đối thoại mà chúng ta đang nói đến. Vì những lẽ như trên, sinh nhật của Da Màu không có một ý nghĩa gì làm cho việc trở nên cần thiết hay thuận lợi mà viết ra một bài viết có nội dung tóm lược. Vậy tại sao nó lại được viết ra?

Một lý do chính là vì sẽ không bao giờ có một thời điểm nào quá sớm hay quá muộn – và có lẽ, cả thời điểm đúng lúc nữa – để giúp cho độc giả có một cái nhìn phác hoạ toàn diện hơn về cuộc đối thoại này, rải rác qua suốt một thời kỳ dài có lẽ đến gần nửa thế kỷ, với những dấu tích lưu lại trên nhiều phương tiện in ấn và hiện nay, đang được phục hồi trên những trang mạng biệt lập. Đây cũng là cách chúc mừng cho một trong những công việc mà các trang mạng này đang cố gắng thực hiện, đó là nối liền hai phổ hệ tư tưởng khác biệt nhau về hình thức vì điều kiện truyền thông, và cho phép quá khứ có một tiếng nói đúng mực trong một giải lịch sử nối tiếp, một hệ thống tư tưởng của trí thức Việt.

Tuy nhiên, cho đến nay, một người đọc có nhiều “tham vọng” hơn mức trung bình, hoặc là muốn tìm một sự nhất quán bình tĩnh trong lịch sử, như Bỉm trong ý kiến sau, hoặc có ý hướng giải thích/bào chữa/chất vấn/thương xót đối với các thế hệ nằm ngay vào giữa những điểm mấu chốt của thời vận dân tộc, thế hệ mà với ý thức giới hạn bởi hoàn cảnh không gian bốn chiều của họ, đã đi/bị đẩy đi theo con đường nào đó đến gặp chúng ta ở ngày hôm nay – một người đọc như vậy sẽ phải làm rất nhiều công việc sắp xếp những mảnh rời rạc và vung vãi của câu đố xếp hình. Dĩ nhiên, sẽ không bao giờ có cách nào giải quyết giùm cho anh ta nhu cầu ấy giữa thời buổi thặng dư thông tin này, nhưng có những lúc một trang mạng cần tự lên tiếng nhắc nhở, bằng sự xuất hiện bài vở, rằng nó chính là một mảnh của một cái toàn cảnh nào đó, và những ý nghĩa nó cung cấp có được sự sống, có hơi thở đương đại khi nào nó chưa bị tách rời khỏi một toàn thể tính. Tôi cũng chỉ là một người đọc, và sự sắp xếp của tôi chỉ có ý nghĩa xác thực nhất đối với tôi, nhưng tôi tin rằng, sự trùng hợp về thời gian tính xuyên suốt qua những sự kiện (ta tạm coi 1 bài viết, 1 cuốn sách cũng là sự kiện) sắp được đề cập đến, kể cả khi chúng xảy ra lẫn khi chúng được dựng dậy trên các trang mạng học thuật, chứng tỏ rằng sự liên quan giữa chúng không phải vỏn vẹn là ngẫu nhiên.

Tôi muốn nói đến một cuộc đối thoại xuất xứ từ bối cảnh cuộc chiến 1954-1975, cuộc chiến mà chúng ta gọi bằng khá nhiều cái tên khác nhau. Đã có một thời kỳ ngôn ngữ trí thức Việt không thuần là những lối tu từ sao chép nguyên văn, và những chiêu bài, khẩu hiệu, những chân lý một chiều có tính thiêng liêng được vay mượn một cách vô tư từ đâu đó, như “xu hướng dân chủ, nhân quyền” “thế giới tự do” hay “tinh thần quốc tế vô sản”, “bước tiến của lịch sử”, v.v. và nói chung, một dạng trật tự cần được thiết lập dưới danh nghĩa của “tiến bộ”. Vào thời điểm đó, người trí thức Việt Nam đang đứng giữa một giao lộ của những lực thúc đẩy khác nhau: cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” lồng trong khung cảnh đối đầu lạnh giữa hai khối siêu cường, cơn sốt chủ nghĩa hiện sinh, phong trào hậu thuộc địa và trung lập hóa của các nước thế giới thứ ba… Và, về bản chất cũng chỉ là những vấn đề đó, nhưng lại khác biệt, lại riêng tư, ám ảnh theo một nghĩa khác vì tính cách kề cận hàng ngày, là nền kinh tế gạo tròn-gạo dài, là những quán bar huyên náo hình bóng đoàn quân ngoại quốc, là cái chết còn thảng thốt trong trí của một vị tổng thống, hay cảnh “rớt tú tài…” Tình hình dân tộc càng bế tắc, chiến tranh càng khốc liệt, và những giải pháp do các khối ý thức hệ dọn sẵn càng kém thoả mãn, khuynh hướng phản tư, phản kháng càng phát triển mạnh. Giữa sự quay cuồng của kính vạn hoa, luôn luôn nảy sinh câu hỏi thôi thúc về sự hiện hữu (hay hư vô) của chính mình như một cá nhân và một tổng thể của những phương diện, xuyên suốt qua mọi khoảnh khắc bản thể (moment).

Cuộc thảo luận của họ, do đó, tập trung rất nhiều trong thời kỳ này quanh một vấn đề triết lý cốt lõi: cần phải suy nghĩ và hành động thế nào như một hệ quả, vừa có tính cách dung hợp lẫn tính cách chuyển hoá, của việc mang thân phận đặc thù của con người Việt Nam, của việc được sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất cụ thể này, trong thời điểm nhất định này, chứ không phải như một phạm trù trừu tượng nào cả. Nói cách khác đi, ở đây quốc tịch và thế hệ không chỉ là một biến số trong một công thức tổng quát dẫn đạo lịch sử nào cả, mà nó là nguyên tố tạo tác, là cái mang vào, nhập vào, bắt phải có (Ereignis theo cách gọi của Heidegger) ý nghĩa và giá trị thăng hoa nhất, siêu nghiệm (transcendental) nhất, ngay từ trong tính cách thiết thực và cụ thể nhất. Tóm lại, đây là cuộc đối thoại về việc phải nghĩ như thế nào, và phải làm gì, không phải như một con người lịch sử, con người văn minh, con người quốc tế, hay con người với những giá trị phổ quát toàn nhân loại, mà là, cụ thể vô cùng và cũng ẩn dụ vô cùng, như một con người Việt Nam.

Trong cái khuôn đó, tôi tạm kết hợp ba vấn đề ngày hôm nay cùng lúc đang có sự xuất hiện nổi trội trên các trang mạng, mà, dù gia giảm theo từng trường hợp, tính cách địa lý và lịch sử của cái định nghĩa nên một vấn đề thuộc về người Việt luôn dàn trải và ẩn hiện bàng bạc ở gốc rễ những suy tư đã được phát biểu. Ba vấn đề ấy như sau:

– Chọn lựa hành động của người trí thức trong cuộc nội chiến;

– Ý thức sắc tộc – trong tính cách phức hợp của nó – và nguồn cội của người Việt; và

– Hình thành một binh thuyết, rộng hơn nữa là một sách lược đấu tranh, hoàn toàn “nội hoá”, với tiền đề căn bản là bảo toàn lãnh thổ, an ninh, bản sắc văn hoá, và sự bền bỉ của xã hội Việt Nam – một tiền đề sẽ không trùng hợp vĩnh viễn và toàn diện với quyền lợi của bất cứ thế lực ngoại bang nào.

(Ở đây có một điểm cần được nhấn mạnh: đó là sự cảm nhận về khủng hoảng của thời đại và cái gánh nặng tinh thần mà ta dễ hình dung thấy được trước cảnh người trí thức ngồi viết về “binh thuyết”. Ta phải hình dung thấy, do vậy, bên cạnh một phần nhỏ là sự ngã mạn trí thức, là khoái cảm được vạch ra con đường sống chết cho hàng triệu con người, được dẫn đạo sức mạnh khổng lồ của bộ máy chiến tranh, chính là cảm giác khẩn thiết cần phải tự cứu vớt mình, tìm lại mình của các tác giả; nó làm cho cuộc đối thoại này khác xa với những đàm luận suông vô bổ, viết ra chỉ để được xuất bản hoặc để chỉ trích cá nhân, lập lại thành kiến, hoặc khá hơn, để làm công cụ chuyển tải đầy thiện ý tiếp viện thêm vào mớ khổng lồ hỗn độn thông tin làm rối trí độc giả – những thực trạng mà các đối thoại trí thức từ muôn đời chưa bao giờ tránh khỏi. Đúng vậy, viết ở đây là một nghi thức tự khẳng định và tự cứu vớt một nhân thân, một căn cước của chính mình; nếu không nhấn vào ý niệm đó đủ mạnh, ta sẽ không áp dụng được cách phân biệt mà Henri Barbusse từng nhắc đến:

Phần tử trí thức? Tôi muốn nói đến những người suy tư, không phải bọn lộng chữ, lợi dụng, bịp bợm và ăn bám…)

Sự liệt kê đôi khi là một ảo giác đáng tiếc; nó làm cho người ta thấy những ranh giới ở nơi chúng không có mặt. Con số 3 hẳn không phải đã là số lượng đúng của mọi khía cạnh liên quan đến cuộc thảo luận của trí thức Việt, và mỗi vấn đề được liệt kê dĩ nhiên cũng không đứng biệt lập với nhau, mà ngược lại, còn tồn tại trong một quan hệ đồng lệ thuộc và trùng hợp phần lớn. Nhưng tạm thời, đây là cách phân loại tốt nhất mà tôi có thể tìm thấy, để nổi bật được tính thực tiễn và tính khẩn thiết của chủ đề cuộc đối thoại, giữ cho nó không sa vào những địa hạt thuần túy trừu tượng, viễn ảo, đồng thời cũng chọn lọc và giới hạn những đối tượng nằm lọt trong khuôn khổ một thứ triết-học-dân-tộc-tính, tách biệt được ra khỏi đó những yếu tố dung tục và chính trị hoá, những phép tu từ không có thói quen tự trung thực và tự chất vấn chính mình[1].

Có một thông lệ có lẽ phổ biến vào thời kỳ chiến tranh hơn thời của chúng ta, qua đó, tư duy độc lập, đặc thù Việt Nam và hướng về giải quyết vấn đề Việt Nam, vượt thoát khỏi những ý thức hệ quốc tế đang thịnh hành, được coi như là dấu hiệu nổi bật và đáng phục của người trí thức. Trần Bạch Đằng là một cán bộ cộng sản, nhưng, là một người quen thuộc với giới trí thức và có những thói quen của họ, ông có vẻ như âm thầm giữ một niềm kiêu hãnh tiểu tư sản về khả năng suy nghĩ độc lập và đa chiều của mình, và luôn cố biểu lộ nó hết cái mức an toàn mà kỷ luật đảng cho phép. Trong tác phẩm tuyên truyền lớn và nổi tiếng nhất của ông, “Ván bài lật ngửa”, ông đã xây dựng một người hùng không theo nghĩa là một cán bộ trung kiên, một cái máy được lập trình chính trị, mà là một con người có quan điểm mới mẻ, có kiến giải đi sát vào với tâm tư nguyện vọng dân tộc, gần như có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa:

Nguyễn Thành Luân đứng trên lập trường một người Quốc gia kháng chiến phân tích và đưa ra các nhận định, chủ trương. Anh ta nhắc khá nhiều đến quân đội Việt Minh – hoàn toàn trân trọng. Những bài của Nguyễn Thành Luân [….] cũng khác bài của Tân Đức trên báo Nhân Loại hay Khải Minh trên báo Tiếng Chuông: rõ ràng Tân Đức và Khải Minh là những Việt Cộng lợi dụng báo chí hướng dẫn dư luận chống lại chế độ hiện thời ở miền Nam rất khéo léo, song không khó phát hiện.

Nguyễn Thành Luân trước sau không phủ nhận quá khứ của bản thân, không chống Cộng, không đề cao và không dùng thủ thuật để công kích Ngô Đình Diệm và Mỹ. Anh ta không theo phương châm đã được Xứ ủy Cộng sản ở Nam Bộ chỉ đạo: tuyên truyền bí mật kết hợp với các hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp. Anh ta viết với tâm huyết, có suy nghĩ và rất nghiêm chỉnh. Nghĩa là anh ta công khai nói điều anh ta ôm ấp. (phần 4, chương 1)

Ta không cần đi sâu vào việc phân tích xem ý tưởng ấy có được tác giả trình bày một cách “thật” không, hoặc tác phẩm có trung thành với nó hay không. Nhưng Trần Bạch Đằng đã thành công trong việc sáng tạo ra nhân vật bất hủ nhất trong dòng văn học tuyên truyền của chế độ Cộng sản Việt Nam; đó là một nhân vật rất “người”, có bản lãnh, có tính cách riêng, trong cái giới hạn của kiểm duyệt văn học như đã lưu ý ở trên. Điều đó nói lên được rất nhiều về ý hướng của thời đại của ông, môi trường hoạt động của ông, giữa giới trí thức – thanh niên thành thị và những thói quen suy nghĩ của họ mà ông chịu ảnh hưởng.

Đó là trường hợp một người cộng sản. Nhìn về bên kia chiến tuyến, trong môi trường bớt khe khắt gấp bội về mặt kiểm duyệt, dĩ nhiên cũng sẽ mạnh mẽ hơn gấp bội cái ý hướng muốn giải quyết những vấn đề của người Việt Nam, mà lớn nhất là cuộc chiến tranh, bằng một phương cách sáng tạo thuần túy kiểu Việt Nam, bằng sự am hiểu ở mức độ thân thuộc với bản chất và đặc tính con người Việt, xã hội Việt. Và chính là từ phía ấy, nơi có không gian cho sự tự vấn lương tri, và tham khảo, suy tư độc lập, đã là môi trường đặt trọng tâm của cuộc đối thoại mà tôi muốn thảo luận ở đây; sự thảo luận này còn có ý nghĩa thêm vì nó góp phần vào việc nhắc nhở đến những tiếng nói đã bị lãng quên vì sự vô tình của lịch sử. Điều này, tuy nhiên, không hoàn toàn phản ánh quan điểm của tôi về chuyện so sánh trình độ tư duy giữa hai miền Nam-Bắc.

Thêm một điều cần phải lưu ý độc giả trước khi đi sâu hơn vào bài: Cụm từ “trí thức Việt Nam” thường xuất hiện trong bài là một cách nói tắt để chỉ những trí thức có chung khuynh hướng và tính cách như đã định nghĩa ở trên, mà theo thiển ý, đó là tiếng nói tiêu biểu cho sinh hoạt trí thức trong chính trị trước 1975. Cách diễn đạt tắt này không bao gồm trong số đó, ví dụ, những cán bộ – đảng viên Cộng sản trung kiên không có tư tưởng riêng, trí thức thân chính, trí thức xuất thế, hướng về tôn giáo – siêu hình hoặc thuần túy duy nghệ thuật, những người dùng cách thức khác hơn là trứ tác để trình bày quan điểm, hoặc có mà không lưu lại đến nay, và sau cùng, những người cũng hoạt động viết lách, nhưng xét thấy về trình độ hoặc phẩm cách lý luận chưa đáng liệt vào hạng trí thức, mặc dù trong số họ đã có thể có những “người bạn đường” (fellow traveller) cùng đi tới một mức nào đó.

1. Thái độ trí thức:

Khác với hai nội dung kế tiếp, đây là một vấn đề liên quan chủ yếu đến những quan niệm và hành xử cá nhân, liên quan đến thực tại đời sống và số phận những người trong cuộc hơn là thực tại sách vở. Hồ sơ mà chúng ta được thừa kế về phương diện này là một khối tư liệu phức tạp, có thể nói là ít nhiều hỗn độn, bao gồm 1) chính những gì do các trí thức viết ra về suy nghĩ của họ, 2) những gì người khác nói về suy nghĩ của họ, theo cả sự chứng kiến lẫn suy diễn; 3) những trần thuật ít nhiều xác thực về hành động của họ, và 4) những phê phán hậu xét về các hành động ấy. Các hình thức phê bình và tổng kết sau khi sự việc xảy ra thường có bao gồm một số lượng yếu tố dữ kiện được làm chứng, cũng như, trong nhiều trường hợp, làm phong phú thêm những góc nhìn khách quan đối với sự việc, nên cũng có thể xét đến để vấn đề được bao quát toàn diện hơn.

Tài liệu phức tạp nhưng lại không được dồi dào. Năm 2007, với mục đích cung cấp cho chúng ta một bức tranh đa diện và nhiều màu sắc về hoạt động của ông và những người cùng thời, giáo sư Nguyễn Văn Trung đã cho ra mắt loạt bài “Nhìn lại những chặng đường đã qua” trên trang Thông Luận, tiếc rằng bị ngừng nửa đường, nhưng cũng miêu tả và lý giải nhiều về xu hướng trí thức. Gần đây nhất, chúng ta nghe thấy những xôn xao dư luận xung quanh phát biểu của nhà văn Đào Hiếu trên talawas.org, sau đó là của ông Lữ Phương, biện giải về thái độ chính trị của mình trong giai đoạn trước 1975, những tranh luận xung quanh cái chết của nhà văn Nhất Linh, những hồi ức cá nhân của tác giả Thế Uyên, cũng như trần thuật của ông về chặng đường của nhóm Thái Độ, và sau cùng, ồn ào nhất, là loạt bài viết toả rộng ra trên khắp các trang mạng về con người cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cùng với bức thư của nhà thơ, nhà hoạt động tranh đấu Ngô Kha, mà sự xuất hiện vào thời điểm này ít nhiều có thể hồ nghi là hệ quả của sự kiện đi trước. Để tham khảo thêm cái nhìn của người ngoài cuộc, ta có loạt bài viết về tình hình trí thức miền Nam của Nguyễn Văn Lục[2], cũng như một số những bài viết và lời bình độc giả rải rác khác, mà bài viết này sẽ đề cập đến khi thích hợp.

Đây là một tập hợp những nhân vật vô cùng đa dạng và khác biệt, nhưng hình tích chính trị của họ lại khá chân phương và điển hình. Đó là một thời kỳ lịch sử, mà sự lựa chọn của người trí thức chân chính mặc nhiên được hướng dẫn bởi hai tiêu chí đến ngày nay chúng ta cũng không thể bác bỏ, nếu không thêm vào một mệnh đề “tuy nhiên” hay “nhưng mà” nào đó một cách không khỏi thiếu công bằng. Hai tiêu chí đó là: người trí thức hiển nhiên không thể đồng tình với chiến tranh, với bạo lực, cho nên, chủ trương cá nhân cũng như tập thể của họ buộc phải có tính chất phản chiến và chống đàn áp; và người trí thức không thể xu phụ quyền lực và đóng vai một thứ tuyên úy tư tưởng hay nghệ thuật cho bất cứ chính quyền nào. (Trường hợp của Nhất Linh có nhiều khác biệt, nhưng đó là một vấn đề ta sẽ dung hoà xuôi theo dòng lập luận của bài viết). Khi đã khởi đầu vấn đề từ chỗ đó, ta nhìn thấy được một bản chất đầy hệ lụy của lịch sử Việt Nam: nó là một lối đi rất hẹp giữa những vách đá cao, ở đó con người, khi muốn dùng lương tri để tự định hướng, sẽ thấy tầm mắt của mình bị ngăn trở và sức lực đôi tay không thể nào nâng đỡ nổi cho mình vượt lên đủ cao hơn được những trở ngại ấy.

Năm 1963 là một cái mốc lịch sử vô cùng quan trọng trong quá trình bất ổn hoá chính trị miền Nam. Cho đến nay, ý kiến của những bình luận gia trung thành với chế độ VNCH vẫn có thói quen nhập chung những phong trào chống đối thời Đệ nhất Cộng hòa với những gì kế tiếp theo đó mang khuynh hướng thiên tả rõ rệt hơn vào thành yếu tố làm suy yếu chính quyền và tạo điều kiện thuận lợi về chính trị dọn đường cho chiến thắng quân sự của miền Bắc. Chính ông Nguyễn Tường Tâm, người trong gia đình Nhất Linh, đã tham gia tổ chức hỗ trợ cuộc chính biến năm 63, cũng nhìn nhận rằng: “Mặc dù đoàn biểu tình đầu tiên này không phải là tự phát của quần chúng, nhưng trong thực tế của những thời gian từ mấy tháng trước đó, quần chúng đã chán ngấy chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Có lẽ đó là lầm lẫn lớn nhất của người dân miền Nam, khiến họ phải chịu thảm cảnh của “Thiên đường Xã hội Chủ nghĩa” sau 30-4-1975.” Dĩ nhiên, tuy không nói rõ ra, nhưng ta phải hiểu rằng năm 1963 chỉ có thể dẫn tới năm 1975 bằng cách khởi đầu một chuỗi những sự kiện tương tự, cái sau sinh ra từ cái trước. Ông Lữ Giang, trong cuốn “Những bí ẩn đằng sau các cuộc thánh chiến tại Việt Nam ”, đã có quan điểm rõ ràng hơn về sự liên hệ này (mặc dù chỉ nhìn phần lớn từ góc độ phong trào tranh đấu Phật giáo, nhưng ông nhắc nhở rất nhiều đến những khuôn mặt trí thức trực thuộc những hệ phái đấu tranh khác): gần như ông coi các phong trào và nhân tuyển đối kháng là con đẻ của âm mưu hai thế lực, Mỹ và “Việt Cộng”, muốn khuynh đảo chế độ Việt Nam Cộng Hoà vào những thời điểm khác nhau, trong khoảng từ 1960 đến 1975.

Có thể tạm diễn dịch là trước con mắt của những người bảo vệ chế độ, có một mối dây đi từ Nhất Linh năm 1960 cho đến Trịnh Công Sơn “nối vòng tay lớn” năm 1975. Đó là mối dây của sự tuyên truyền và hành động ngược với quyền lợi và nhu cầu chiến thắng của chế độ Cộng hoà, cũng như đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cuộc xâm lăng của miền Bắc. Và vì đã chọn những thế đứng cùng bị quan niệm theo cách đó[3], những con người tranh đấu này, trên một vài phương diện, cũng có thể được đề cập tới dưới cùng một đề mục, như trong bài viết này, để sắp xếp lại theo một trật tự tương đối và hơi chủ quan những đầu mối phức tạp trong trạng thái biến động (dynamic) của xã hội và chính trị trí thức Việt Nam. Tuy nhiên, phải nhận rõ rằng 1963 thay đổi rất nhiều về ngoại diện người trí thức Việt. Những động cơ hoạt động như giải thực (de-colonization), phản kháng sức mạnh, quan thiết đến vận mệnh người nghèo, bất mãn vì thân phận nhược tiểu, v.v., còn mơ hồ và thuần cảm tính trong con người những trí thức đi trước như Nhất Linh, đã biến thành một hệ tư tưởng đậm nét, nhất quán và cô đọng từ sau thời điểm này.

Vì vậy, dù có nhấn mạnh tới đâu về tính nối dài của một truyền thống, ta vẫn không tránh khỏi đưa ra những phân tích về truyền thống ấy nghe có vẻ như chú ý thiên lệch hẳn về phía sau năm 1963. Độc giả đành chấp nhận những bất cập khi phải mô tả một tiến trình trên một mặt phẳng tĩnh, một tiến trình mà trong đó di sản văn hoá của người đi trước là ảnh hưởng cho người đi sau. Nếu không như thế, ta sẽ không thoát ra khỏi những cách phân loại kiểu như “trí thức thiên tả”, tạo ra hình ảnh một hiện tượng mới, không có gốc rễ và loại trừ rất nhiều những trường hợp tương đồng về quan điểm nhưng không thể đặt vừa vào chỗ nào trong cách phân loại trên.

Tiếp cận vấn đề chính trị với tư duy luân lý trừu tượng, dù chỉ là trên khẩu hiệu trong một số trường hợp, trong cuộc tranh đấu của mình, trí thức Việt Nam giai đoạn này đã không chỉ nghĩ như/nghĩ được như nhiều người, ở tư thế cách xa khung cảnh của họ hơn 30 năm sau, và thường là nửa vòng trái đất, bây giờ quan niệm: “Làm suy yếu sức mạnh quân sự và chính trị của chế độ là tiếp tay cho Cộng sản.” Những năm 1960-1963, dấu ấn nổi bật của các phong trào là tiếng kêu gọi tự do, như Nhất Linh đã tự liên hệ mình với bối cảnh chung: “Tôi chống đối sự [bắt bớ đối lập] và tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.” Thời kỳ chống Hiến chương Vũng Tàu, đó là niềm thôi thúc đòi dân chủ – thứ dân chủ tự phát, tự ý thức, chứ không phải dân chủ khuôn vàng thước ngọc, lề luật của một thứ trật tự thế giới văn minh, nhân đạo ngoại lai như bây giờ chúng ta quen quan niệm. Từ khoảng sau 1965, chủ yếu mục tiêu hướng về hòa bình, thống nhất, đòi hỏi sự ngưng bắn giữa những con người Việt Nam, và tìm một chỗ đứng chật chội giữa sự tương tranh của các thế lực quốc tế. Hành động của họ xuất phát từ một sự nhiệt thành nóng vội, một thái độ thuần túy phản ứng với thời cuộc, không có truyền thống, không đi sâu vào tín điều ý thức hệ. Bên cạnh đó, suy nghĩ của họ còn biểu hiện thái độ hoài nghi và xa cách những ảnh hưởng từ nền chính trị quyền lực của các khối siêu cường, trong đó có ảnh hưởng chủ thuyết. Trong đa số trường hợp, họ đều cố tự khẳng định cách nhìn về mình như những con người yêu nước, chiến đấu vì một xã hội mang những giá trị tương đối truyền thống: yên bình, ổn định, hoà đồng và công bằng.

Tôi nghĩ rằng, đối với những con người chấp nhận đối mặt với nhiều khó khăn và nguy hiểm đến bản thân, nếu có vì một tương lai chính trị thì đó cũng chỉ là viễn ảnh rất mơ hồ, ta có thể và nên giả định từ họ những động cơ trong sáng và thành khẩn như vậy, bên cạnh những nhu cầu tâm lý cá nhân có thể đã thúc đẩy họ đi vào con đường đối kháng. Đào Hiếu là một trường hợp mở rộng cho sự quan sát của chúng ta. Khó ai đặt vấn đề được về sự thành khẩn – mặc dù về mặt khiêm tốn và phục thiện thì đã từng có – của ông khi ông trần thuậtNhưng thời đó, chuyện đúng hay sai của sự dấn thân rõ ràng quá. Vì kẻ thù đã chường mặt ra cùng với bom đạn, máy bay, xe tăng, đại bác… Những người có tấm lòng không thể không tìm kiếm một chọn lựa.” Qua những tự thuật của Đào Hiếu, người ta thấy vẽ lên nhân dạng của một lớp trí thức “lạc đường”, những người vô cùng lạc điệu nếu ở trong vai trò miễn cưỡng của cán bộ – chiến sĩ đảng phái, bơ vơ giữa chính trường (ngay cả lãnh tụ Nhất Linh, theo những tư liệu mà ông Nguyễn Văn Lục đã thu thập, dù cho ta không đồng ý được với kết luận chính của ông đi nữa); một dòng chảy nóng hổi những con người theo chủ nghĩa lý tưởng, có định kiến cá nhân rất mạnh, tin vào sự độc lập và tự phát phải có của tư tưởng, bị chính trị siêu cường cuốn theo trong khi họ đấu tranh vì quyền lợi dân tộc; bị chiến tranh lợi dụng trong khi họ kêu gọi hoà bình; bị đảng phái giam hãm trong khi họ đổ máu vì tự do dân chủ… Hành xử theo những mệnh đề luận lý học và đạo đức học trừu tượng về sự dấn thân giữa một thực tế phũ phàng, họ là những ví dụ sống động cho vấn nạn hiện sinh và sự khủng hoảng tinh thần thường thấy trên con người tiểu tư sản, sự khủng hoảng dẫn đến chỗ muôn đời bất mãn, nghi vấn và đối kháng, kể cả với tự bản thân; xa hơn nữa là sự tự hủy hoại như Ngô Kha:

Moi không có tự do đầu tiên sự ra đời – làm người. Tuy nhiên moi có tự do cuối cùng. Tự do cuối cùng của moi là sự lựa chọn giữa hai cái chết. Khi một con người còn có được sự lựa chọn, cho dù là sự lựa chọn giữa hai cái chết, thì con người ấy chưa phải là kẻ tuyệt vọng”. (Ngô Kha và cuộc chuyện trò cuối năm)

Những con người này có xuất thân từ một thứ có thể nói là tương tự một xã hội dân sự (civil society) của thời chiến: môi trường đoàn thể tôn giáo, học đường, truyền thông hoặc văn chương. Nhưng sự tương tự về mặt cấu trúc lại đi kèm với sự tương phản hoàn toàn về mặt hoạt động: thời điểm đó chỉ có một thứ xã hội dân sự quay cuồng và kích động vì những âm thanh của cuộc chiến dội về; tự ý thức về địa vị ưu đãi của mình, đó là những chi thể phát triển quá nhanh và mạnh; sự bạo phát ảnh hưởng của chúng luôn luôn lấn lướt toàn cơ thể, đe doạ phá vỡ ổn định của nền tảng chung, vốn đã không ngừng rúng động và rạn nứt vì bối cảnh bốn phía đầy dãy áp lực[4]. Do đó, trong đường lối chủ trương của trí thức Việt Nam, đặc biệt trong những đề nghị hay cổ súy hành động thực tiễn, ta thấy phản ánh cả những bài học lẫn những tập quán rút ra từ sinh hoạt xã hội dân sự và tất cả những ưu thế của nó: tự phát từ hạ tầng, lãnh đạo trực tiếp, kích thích và điều động được nhiệt tình đám đông nhờ sự sáng giá của các cá nhân; cùng với cả những bất lợi: khuynh hướng vô chính phủ, ít nhiều mang tính cục bộ, thiếu tổ chức, thiếu cái nhìn chiến thuật, đôi khi đánh giá quá cao sức mạnh quần chúng để rồi sa vào những cuộc phiêu lưu, hoặc bị sự phỉnh phờ hay dung túng của các quyền lực đẩy đi sai mục đích[5]

Từ cách đặt vấn đề, có thể thấy họ thường có ý hướng liên minh với quyền lực hoặc trung gian quyền lực, muốn đóng góp khả năng hợp thức hoá – văn minh hóa quyền lực của mình cho những lực lượng nắm giữ phương tiện và địa vị, không nhận thấy rằng, tất cả những lực lượng này đều không đủ thời gian, và đa số không đủ thiện chí, để tạo một liên kết xa hơn tính giai đoạn. Đó là trường hợp các nhóm Hành Trình và Thái Độ cổ vũ cho cách mạng quân nhân, các trí thức tham gia Mặt trận Giải phóng miền Nam hay hoạt động trong thành phần thứ ba, trường hợp Nhất Linh trong cuộc đảo chánh 1960, Trịnh Công Sơn với vai trò trong kế hoạch đảo chánh của Nguyễn Hữu Đống (xem “Tập nhạc Kinh Việt Nam” của Nguyễn Đắc Xuân). Ở một tầm vóc bất cân xứng hơn, với nhiều ý thức phục tùng hơn, là trường hợp những trí thức hoạt động cho kháng chiến, với một quan niệm gần như đang cộng tác với những người Cộng sản để giành độc lập dân tộc, ngăn chặn cái ác, trong sạch hoá chính quyền, hoặc thực hiện những lý tưởng chủ nghĩa xã hội khá mơ hồ. Phạm Việt Châu, tác giả “Trăm Việt trên vùng định mệnh” ở vai trò sĩ quan tham mưu cao cấp của chính thể Cộng hoà nhưng tư tưởng chính trị quan trọng nhất của ông hình như chỉ có chỗ đứng trên tạp chí Bách Khoa. Trong khi những kẻ có quyền lực đòi hỏi ở họ sự kiên nhẫn đối với những thực tế phũ phàng và quanh co của chính trị, họ đòi hỏi ngược lại sự kiên nhẫn để am hiểu đến rốt ráo những ý nguyện trừu tượng hoá và đạo đức hoá của người trí thức. Cuộc kết hợp nào, do đó, rồi cũng dẫn đến chuyện hai bên ngoảnh mặt lại với nhau.

Họ duy trì một ý thức cộng đồng, một sự trung thành tương đối với những người cùng mang chung xuất xứ, vượt qua những lằn ranh chính trị, như một bản năng sinh tồn xã hội học của những thiểu số yếu đuối mong manh, khó có thể hoà nhập hoàn toàn vào sinh hoạt chung quanh, và phải tìm sự hỗ trợ tinh thần từ tập thể. Trên những tương đồng hiển nhiên về sinh hoạt, chức nghiệp, cá tính v.v. thường thấy trong một thành phần xã hội thu hẹp, họ ít nhất nếu không duy trì được một cuộc đối thoại thì cũng là những quan hệ hữu hảo xuyên qua những tuyến chính kiến hoặc tôn giáo. (Xem, ví dụ, bối cảnh cuộc hội thảo văn nghệ mà giáo sư Nguyễn Văn Trung nhắc đến ở đây hoặc bài “Nhóm Thái Độ” của Thế Uyên). Đây cũng là một cách cố gắng duy trì sự độc lập trong nhân sinh quan, phản kháng ảnh hưởng những cách phân chia con người theo ý thức hệ, mặc dù Nguyễn Trọng Văn cho nó, không phải không có lý, là “tâm lý giữa hai lằn đạn”. Dù sao, nhìn tổng quát, đó cũng là một dấu chỉ cho phép tôi đánh giá một cách ước lượng mức độ độc lập tinh thần mà trí thức Việt Nam trong giai đoạn này cố bảo tồn và lấy làm tư thế khởi điểm, cũng như chuẩn mức hành xử. Họ bất đồng với nhau rất nhiều, nhưng họ không bất đồng về cách thức bất đồng; đó là một điều may mắn cho phép chúng ta tổng kết được điều gì đó về thái độ trí thức, thay vì sa đà quá sâu vào những bất đồng, dị biệt giữa họ với nhau.

Ở vào lứa tuổi đã phải chứng kiến nhiều điểm giao thời, và có ít nhiều kinh nghiệm với các hệ thống chính trị khác nhau, họ đều hướng về một thể chế lý tưởng mới mà chính mình chưa từng thực sự sống trong đó, thể chế duy nhất khác hẳn và là nơi để thoát ra khỏi những gì họ đã trải qua. Đó là chủ nghĩa xã hội không cộng sản (hoặc nhẹ về vai trò của những người Cộng sản), một công thức phảng phất hình bóng mơ ước về “thời đại hoàng kim”, một sự tiến hoá thần diệu lên tới tình trạng sống chung nhân ái hơn, hoà đồng hơn giữa người với người. Cụm từ “xã hội chủ nghĩa” xuất hiện nhan nhản trong nhiều tác phẩm chính luận, và ngụ ý hướng tới trong đa số những tác phẩm khác.[6] Cạnh đó, họ còn đồng ý với nhau trong việc gạt bỏ hầu hết mọi hình thức thoả hiệp, cải lương, mọi hy vọng vào sự tiến hoá của chính trị, theo quy luật tự nhiên hay đáp ứng yêu cầu ôn hoà của quần chúng. Trong suy nghĩ của họ, không một phương sách nào ít hơn một cuộc cách mạng có thể giải quyết vấn đề. “Cách mạng” đã trở thành bức xúc của thời đại. Như Lý Chánh Trung tuyên bố:

“… đòi hỏi dân chủ trong lúc này là đánh lạc mục tiêu tranh đấu của người dân. Người dân cần Cách mạng để được có dân chủ. Người dân không cần dân chủ khi chưa có Cách mạng”.

Có lẽ do sự nhạy cảm vượt hơn, họ có những ý niệm tuyệt đối hơn trí thức thời nay rất nhiều về bản chất đặc thù của dân tộc và điều kiện sinh tồn của nó (đọc “Những quy luật chính trị trong sử Việt” của Vũ Tài Lục, được nhóm Việt Chiến, do Nguyễn Hữu Đống lãnh đạo, xuất bản), về nhu cầu giải thực, rũ bỏ ảnh hưởng sự thống trị của phương Tây, cũng như của chính trị siêu cường khỏi xã hội Việt Nam, để trở về với tiến triển lịch sử phù hợp tự nhiên và nhân văn Việt (xem, chẳng hạn “Chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam” của giáo sư Nguyễn Văn Trung). Những điểm đó, đến cuối cùng, mới chỉ được đẩy xa đến mức kết tụ lại trong lời kêu gọi xác định bản sắc văn hoá dân tộc, ác cảm muốn hạn chế những thái quá của chủ nghĩa tư bản cho đến lúc loại trừ hoàn toàn, và chính sách trung lập, liên kết quốc tế trên tương đồng về bản chất sắc tộc, văn hoá và điều kiện xã hội. Sau cùng, họ có thái độ văn hoá hoài nghi và tra vấn đối với những gì ngoại lai, và bài bác, coi như phản trí thức, thói chấp nhận và tuân thủ không phê phán những thứ đó, từ lập trường chính trị đến nền giáo dục. Họ có vẻ chia sẻ tiên đề của những lý thuyết gia hậu thuộc địa, coi cái gì du nhập từ bên ngoài đều có một nội dung vong thân và lệ thuộc tư tưởng.[7]

Tổng kết lại, việc theo đuổi các tôn chỉ và quan điểm độc lập của trí thức Việt Nam có thể nói đã kết thúc ở một tình trạng chung, giản dị và rõ rệt: thất bại. Đã đi về đâu, ý tưởng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, muốn chuyển hoá chính trị bằng cách đánh động tâm linh thuần Việt, với tập Kinh Việt Nam? Đã đi về đâu, chính con người tác giả? Điều mà nhóm Thái Độ mong ước, “phương sách thực hiện cuộc cách mạng xã hội (không cộng sản) mới thắng được Cộng sản. Đối với chúng tôi, tiếp tục chiến tranh hiện nay chỉ có ý nghĩa nếu cuộc chiến này … là một ngăn bờ, một cầm cự để những người quốc gia có đủ thì giờ làm cách mạng”, hay Phạm Việt Châu trăn trở, “nhìn thẳng vào những vấn đề gai góc nhất để tìm giải pháp xác đáng, nhìn thẳng vào mặt những đế quốc hiện đại đang xâu xé vùng đất này để cùng quyết tâm đối phó, nhìn thẳng vào những vết rạn phân cách các dân tộc anh em để cùng đưa tay bắc một nhịp cầu kết hợp” đã hoàn toàn chết yểu gần như khi chưa đem ra thực hành được một bước nhỏ nào. Ý định quy mô nhất muốn thành lập một thực thể chính trị của riêng họ đã tan vỡ với kết cục của thành phần thứ ba. Điềm báo gở của Ngô Kha, con người thoát ly điển hình, đã thành sự thật: “Giữa Liên Thành và toi [đại diện cho hai phe của cuộc chiến] moi không sống được với ai cả”.

Sẽ thật là an ủi biết bao nếu ta có thể yên tâm mà lý luận: trong một giai đoạn đầy những biến cố to lớn thuộc loại nổi bật trong lịch sử thế giới, và chưa từng có gì tương đương trong lịch sử của vô số dân tộc, người trí thức Việt Nam đã chứng tỏ được khả năng của mình, với những chí hướng như vừa nói, tạo ra một tác động góp phần dẫn đến những biến cố nêu trên, tạo ra một sức mạnh thật sự. Về cơ bản, điều đó không sai lầm, cả về mặt sự kiện lẫn luận lý, và ở điểm này, manh nha một niềm hy vọng là sức mạnh ấy có thể trở lại với dân tộc, đem lại niềm tin mới và tạo ra những kỳ tích nếu xử dụng đúng đắn. Nhưng không may thay, ta không thể nào không nhìn thấy – quá rõ là đằng khác – hai mệnh đề song hành với sự thật ấy; đó là: 1/ sức mạnh của phong trào trí thức (thậm chí, có khả năng chính phong trào ấy cũng vậy) là hệ quả của những đặc tính của thời đại họ, những đặc tính sẽ không tái diễn trong tương lai – cuộc chiến tranh ủy nhiệm, sự nhạy cảm của dân chúng Mỹ, thể chế có bóng dáng chủ nghĩa quân phiệt, phong trào Phật giáo đang hồi mạnh mẽ, v.v. , và 2/ phong trào đó cuối cùng cũng chỉ dẫn đến sự bế tắc tất yếu của chủ nghĩa duy ý chí, không có tương quan phù hợp giữa mục tiêu, sự đam mê và cơ sở phương tiện vật chất.

Lúc này đây chính là lúc cái nhìn vô vọng thực tiễn như vậy thật sự kinh khủng nhất đối với chúng ta, vì hơn bao giờ hết, đất nước đang đứng trước những nguy cơ chồng chất mà hy vọng duy nhất chỉ còn biết đặt vào một phong trào trí thức dấn thân, mang nặng bản chất dân tộc và trọng liêm sỉ. Nhưng giải quyết cho hiện tại và dự phóng cho tương lai không phải là công việc thuộc về một mình những người tìm hiểu quá khứ. Do đó, nếu có một ích lợi thực tiễn nào cho việc tổng hợp chúng ta đang làm ở đây, thì đó không phải là để cho một đường lối được đề xướng, hay để tôn vinh hoặc bài bác điều gì. Cũng vì thế, tôi đã không xét đến những chi tiết thực tế chung quanh diện mạo những nhân vật trí thức đã và sẽ được nhắc đến, như việc bức thư của Ngô Kha có khả tín không, hay chuyện tham vọng chính trị của Trịnh Công Sơn, vì mổ xẻ kỹ càng quá khứ có lẽ chỉ có thích hợp với những tác giả có phương pháp và động cơ làm việc khác. Ý nghĩa của bài viết này có chăng chỉ hạn chế trong việc phác thảo một mô thức tổng quát (pattern), một mẫu số chung xuyên suốt, được coi như đã san bằng trong đó các tiểu tiết dị biệt trong những trường hợp cá nhân, về chủ nghĩa lãng mạn trí thức Việt Nam – một thứ lãng mạn không to tát, hoa mỹ như của trí thức phương Tây, những người hãnh diện nhận mình là hậu duệ của Prométheus đánh cắp lửa trời, nhưng là một thứ lãng mạn bình dị, sâu sắc, bền bỉ và tha thiết, một tình yêu và niềm khao khát những điều tốt đẹp nhỏ nhoi, thanh bình và trường cửu. Với suy nghĩ chủ quan nặng cảm tính không che dấu của mình, chẳng vì đâu cả, người viết tin rằng: một dân tộc còn duy trì được những rung cảm này, thì nó vẫn còn lý do để tồn tại. Dù ngày mai còn mang lại nhiều thử thách…….

(Xin xem tiếp phần 2)


[1] Để ví dụ, những “công trình” nương theo thời thượng theo kiểu “Ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung” của cố giáo sư Nguyễn Ngọc Huy

[2] Bài viết này đã hình thành phần lớn trước khi tôi khám phá ra loạt bài “Trí thức miền Nam – Hai mươi năm nhập cuộc (1955-1975)” của ông Nguyễn Văn Lục trên talawas.org, nhưng dù sao, loạt bài đó, đặc biệt là phần 4 và phần 5, cũng có ý nghĩa rất lớn, vì nó cung cấp hàng loạt những dữ kiện về tên tuổi, sự việc có thể dùng vào việc minh hoạ và củng cố những luận điểm của tôi ở đây, dù tôi không có ý giới hạn chủ đề trong phạm vi hay cách phân loại “trí thức thiên tả”. Như sẽ thấy, những khuôn mặt được nhắc đến ở đây có bao gồm cả Nhất Linh, Hồ Hữu Tường, Thượng toạ Thích Trí Quang hay Ngô Thế Vinh; cái nối kết họ là một thái độ độc lập, dân tộc chủ nghĩa đặc thù bao gồm sự phủ định cả chủ nghĩa cộng sản lẫn tư bản, trong đó có người thiên về mặt này nhiều hơn mặt kia.

[3] Trần Vũ đã lý tưởng hoá thế đứng đó khi nói về Nhất Linh, mặc dù vì lập trường chính trị, có lẽ anh sẽ cho rằng tôi áp dụng định nghĩa này quá rộng: “Với tôi, một nhà văn, ngoài tác phẩm, trước nhất là một người trí thức có tư cách và cất tiếng nói trước bất công của xã hội, trước chính quyền không sợ hãi, với tất cả trách nhiệm.

[4] Đọc bài “Họ đã sống và được đối xử ra sao?” của Nguyễn Ước, ta có thể hiểu thêm về những cơ chế hoà hoãn và ưu đãi đối với sinh viên, trí thức thời đó. Một trường hợp vi phạm khá điển hình nguyên tắc an ninh quốc gia và khởi tố hình sự nhiều người đều biết, chính là vụ Văn bút Việt Nam áp lực xin thả Vũ Hạnh.

[5] Một trong những trường hợp điển hình khá tế nhị là nội vụ việc đòi “quy chế đặc biệt” cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, đi đến sự bế tắc khi tranh chấp Hiến Chương sau này. Các sự kiện có thể tham khảo trong cuốn “Những bí ẩn đằng sau các cuộc thánh chiến tại Việt Nam”, chương IV, phần 3.

[6] Xin đơn cử vài ví dụ:

–  “[Trong hình ảnh kết hợp ngày mai] các lý thuyết gia chính trị sẽ bàn thảo với nhau để vạch ra con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa riêng của khu vực ngõ hầu phá tan bất công, thối nát và san bằng chênh lệch của xã hội hiện tại.” (Phạm Việt Châu – Trăm Việt trên vùng định mệnh).

– “Cách Mạng Chính Danh… sẽ là một biến cố bạo động lớn của lịch sử nước Việt, một biến cố phát sinh từ một cuộc cách mạng văn hóa, và có tác động thay được tầng lớp thực dân bản xứ, cơ cấu kinh tế chính trị cựu thuộc địa đế quốc cũ, tân thuộc địa đế quốc mới… bằng một tầng lớp lãnh đạo mới cấp tiến, bằng một cơ cấu chính trị kinh tế loại xã hội chủ nghĩa nhưng không cộng sản.” (Thế Uyên – Nghĩ trong một xã hội tan rã).

– “Xã hội chủ nghĩa là một chủ trương nhân bản nhằm đặt con người làm chủ thiên nhiên, cũng như làm chủ lịch sử của mình, đồng thời giải phóng con người ra khỏi những áp lực làm cho đà sống bị ngưng trệ” (Tự giới thiệu – Tủ Sách Nghiên cứu Xã hội của nhóm giáo sư Nguyễn Văn Trung)

Ngay cả Đào Hiếu cũng có vẻ như đã lựa chọn một thứ chính trị tả khuynh lãng mạn, một chủ nghĩa xã hội của văn nghệ sĩ:

Khi “tham gia cách mạng”, tôi chẳng quan tâm gì đến chủ nghĩa Marx-Lenin. Và cũng chỉ biết các thần tượng của Mặt trận Việt Minh qua những truyền thuyết. Nhưng tôi lại thích đồng hóa các vị ấy với Rambert (trong tác phẩm Dịch hạch của Camus), với Jean Aguerra (trong tác phẩm L’ Engrenage của Sartre)” (Đào Hiếu – Những con gà nuốt dây thung)

[7] Chẳng hạn, thái độ ảnh hưởng Mỹ quá mạnh của Phi Luật Tân là cái cớ để đa số trí thức Việt Nam coi thường. Phạm Việt Châu gọi đó là “cái vỏ tây phương kệch cỡm”, còn Thế Uyên thì coi đất nước này như hiện thân của thứ quốc gia vô nghĩa, vô chủ quyền: “một khi đã từ chối giải pháp trở thành Phi luật tân thứ hai, một khi đã từ chối giải pháp bôn sơ vích, thì chỉ còn cách nỗ lực thực hiện một cách mạng xã hội theo phương thức không cộng sản.

bài đã đăng của Trần Thiện Huy


1 bình luận »

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Bài viết rất thú vị cho những ai muốn đánh giá “người đương thời” trong giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt nam 1954-1975.
    Có lẽ thú vị ở chỗ ít thấy trong bài viết tư duy cá nhân thường có của logich về Chính trị học, Tôn giáo học, Luật học, Khoa học chiến tranh, Tâm lý học,….mà chỉ thấy đậm “Tính Việt nam học”.
    Chương trình “Người đương thời” là 1 chương trình rất hay ở Việt nam hiện nay. Nhưng có lẽ cái hay nhờ có dẫn dắt quan trọng của 1 MC trên truyền hình.
    Ở đây, Ông Trần Thiện Huy có lẽ là 1 MC “không đụng hàng” cho 1 chương trình “Người đương thời” rất đặc biệt mà trong chương trình ấy các người đương thời đã ra người thiên cổ.
    Chỉ mới cảm nhận như vậy nên rất mong được đọc phần 2. Cám ơn Tác giả.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch