Trang chính » Chụp và Chép, Du lich, Tôn Giáo, Văn hóa Email bài này

Bí Ẩn Ấn Độ

door in pune-india

Cánh cửa một biệt thự tư nhân ở Pune, Ấn Độ (ảnh Akshay)

Tôi đã chẳng ghé thành cổ Goa, nơi từng được mệnh danh “thành Rome của phương Đông” dưới đế chế Bồ Đào Nha. Cũng chẳng đến Delhi, chứng nhân lịch sử từ thời các vị hoàng đế Mughal, British Raj, đến những kỷ nguyên sau độc lập. Chẳng đi thăm nơi Gandhi bị ám sát nay trở thành đền thờ quốc gia. Chẳng dừng lại Mumbai xem hang động Buddhist Kanheri nơi các nhà sư ở và thiền trong suốt bốn tháng mùa mưa. Chẳng tới chỗ có tượng thần Shiva tạc bằng đá cao năm thước rưỡi. Chẳng tìm coi kiến trúc kỳ vĩ của lăng Taj Mahal đã được xếp vào di sản thế giới. Tóm lại là chẳng đi được đến những chỗ thiên hạ nhắc tên.

kbyoga1

 Viện huấn luyện Yoga Kabir Baug

Suốt thời gian năm tuần ở Ấn Độ tôi hầu như chỉ quẩn quanh ở mỗi cái góc nhỏ lọt thỏm trong những dãy nhà tăm tối nghèo nàn giữa thành phố Pune ồn ào sôi động. Cái góc ấy có tên Kabir Baug, một học viện nghiên cứu, giảng dạy, và thực nghiệm yoga.

 pune cobbler

Những người thợ nghèo ở Pune

Lúc đầu cái hơi hướng có vẻ tôn giáo ở đây khiến tôi thấy lạc lõng. Qui định như không cá thịt, không rượu bia, không thuốc lá, nói năng ăn mặc phải đứng đắn, vào gian chánh điện bỏ giầy dép bên ngoài, là những điều hiểu được với tôi. Trước mỗi giờ tập luyện thầy trò chắp tay ê a bài kinh tưởng niệm Patanjali – bậc hiền triết có công soạn thảo kinh pháp yoga từ 200 năm trước công nguyên, cũng là điều chấp nhận được. Nhưng khi thấy người ta quỳ mọp xuống chân một người đàn ông họ gọi là guru, rồi dùng trán hoặc tay chạm vào bàn chân ông để tỏ lòng tôn kính trí tuệ thông thái của Ngài và tin mình sẽ lãnh nhận được ân phúc, thì kẻ vốn hững hờ nguội lạnh với tôn giáo và thần thánh như tôi thật không khỏi bất ngờ.

Yoga Guru Patanjali

  Tượng hiền triết yoga Patanjali

Vị guru người Hinđu ấy là một triết gia về yoga, nguyên bác sĩ Tây y, ngoài 70 tuổi, người sáng lập học viện kiêm bệnh viện yoga tại Kabir Baug. Gần hai chục năm nay ông giảng dạy phương pháp ứng dụng động tác yoga kết hợp với y học hiện đại trong điều trị các chứng bệnh mãn tính, nhưng niềm đam mê lớn hơn của ông là chia sẻ kiến thức về triết lý yoga với mọi người. Bên cạnh những chuyến đi giảng ở các nước như Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Nhật, Nga, và Hàn Quốc, ông dành thời gian huấn luyện ngay tại Kabir Baug cho học viên trong và ngoài nước.

 Tôi thật ra là kẻ ngoại đạo với yoga. Đến Kabir Baug lần này cũng không phải để học hỏi nó. Chỉ muốn tận mắt nhìn thấy một đất nước với bao điều lạ lùng tôi chỉ biết chút ít qua sách vở. Tôi bảo với guru tôi ước gì đi được hết và hiểu hết cả cái xứ sở bao la này. Guru cười, nếu hiểu được hết Ấn Độ thì cũng giống như hiểu được cả thế gian. Rồi ông bảo đi hết đất nước này có lẽ là điều không thực tế, nhưng tại Kabir Baug cũng có thể thấy được nhiều.

 Hôm tôi đến, học viện khai giảng khóa đào tạo mới. Học viên Hàn Quốc chiếm số lượng đông nhất. 16 nữ 2 nam. Còn lại từ Mỹ và Canada. Tôi không tham gia những lớp thực hành động tác yoga, chỉ dự thính một số giờ triết học trong gian chính điện lúc nào cũng thoảng mùi khói nhang.

 Trong bộ trang phục kurta pyjamas truyền thống màu trắng, đầu cạo nhẵn thín, chừa đuôi tóc bạc thắt bím đằng sau, guru ngồi xếp bằng nghiêm nghị trên nền nhà. Những chồng sách triết lý dầy cộm bằng tiếng Sanskrit trước mặt ông. Đối diện là nhóm học viên trong đồng phục áo thun xanh nước biển và quần dài màu xám tro, cũng ngồi khoanh chân giống thầy trên nền nhà với cuốn sổ và cây bút trong tay. Guru giảng bằng tiếng Anh, có một người đàn ông Hàn Quốc trong nhóm thông dịch lại. Những bài thuyết giảng của guru chủ yếu về các quan niệm triết lý trích ra từ quyển trường thi Bhagavad Gita được xem như kinh thánh của người Hinđu, và về kinh điển yoga của Patanjali. Những lý thuyết khô khan, xa lạ với tôi. May lâu lâu có xen vào những câu chuyện kể.

 Tôi để ý không phải tất cả học viên đều tỏ ra hào hứng với môn học này. Lâu lâu có người che miệng ngáp. Có người ngủ gục nữa. Guru cho rằng rất nguy hại và đáng buồn là yoga ngày nay đang thịnh hành như một thứ thời trang trên thế giới. Tập luyện thể xác được chú trọng, rèn luyện trí não bị coi nhẹ. Ông bảo nếu mục đích việc luyện tập tư thế “con thuyền” chỉ để làm cho cái eo bụng nhỏ thì không đúng tinh thần yoga. Học yoga mà chỉ hướng đến các động tác cho cơ thể thì chẳng khác khỉ nhảy chuyền trên cây. 

câu chuyện trong lớp:

Hai Chị Em Thần

Làng Thachanattukara ở Ấn Độ là nơi duy nhất có một ngôi đền thờ nữ thần Jyeshta, chị của nữ thần Lakshmi. Jyeshta là nữ thần của người nghèo và sự bất hạnh. Lakshmi là nữ thần của người giàu và sự vinh hiển. Trong khi Lakshmi là thần tượng của sự hứa hẹn, thuận lợi, triển vọng, may mắn, của tất cả những khát vọng thì Jyeshta tượng trưng cho khó khăn, thất bại, tuyệt vọng, ô nhục, của tất cả những điều bị nguyền rủa trong đời. Hai chị em sinh ra đã là đối thủ của nhau. Hễ người này vào người kia ra, người này bên trong thì người kia bên ngoài.

Gia đình nào ở Ấn Độ cũng muốn giữ Lakshmi trong nhà và đẩy Jyeshta ra. Nếu Jyeshta không bị đuổi ra thì Lakshmi không chịu vào nhà. Vì thế người ta thường mở cửa sau cho Jyeshta ra rồi mở cửa trước cho Lakshmi vào. Một lần hai thần chạm nhau ở ngưỡng cửa cãi nhau xem ai đẹp hơn. Cuộc tranh cãi không phân thắng bại, họ hỏi ý kiến chủ nhà. Chủ nhà thông minh, không muốn làm thần nào nổi giận, nói: “Lakshmi, ngài đẹp hơn khi bước vào, và Jyeshta, ngài đẹp hơn khi bước ra.” Thế là hai chị em thần đều vui và tự hào.

Thế gian có thói quen ngưỡng mộ, cầu cạnh Lakshmi, và sợ hãi, khinh rẻ Jyeshta. Nhưng cũng không ít người biết Lakshmi nổi tiếng là cội nguồn của nhiều khổ đau và bất hạnh. Lakshmi là nguồn của hạnh phúc bề mặt, và chỉ thoáng qua, không bền. Sự đấu tranh cho Lakshmi thường hạ thấp nhân phẩm con người. Thế gian yêu quý và tôn thờ Lakshmi vì cái vẻ bên ngoài hào nhoáng mời mọc của nó. Còn Jyeshta xuất hiện nghèo và bần cùng, nhưng có sự mạnh mẽ của tính cách. Không quyến rũ mời gọi, không đổi thay chóng vánh. Hờ hững với vẻ ngoài. Can đảm và chịu đựng. Jyeshta đem đến cho con người sức mạnh và hạnh phúc thật.

Đền thờ nữ thần Jyeshta là một biểu tượng của trí tuệ người Ấn Độ. Nó được coi như là một “Hindu Sphinx” đối với người Tây phương.


bên ngoài lớp học:

Hộp Giấy Lau Mặt “Witch Hazel”

Nhìn cô như một diễn viên Holywood. Cô làm cho một trung tâm vật lý trị liệu ở California. Để theo kịp trào lưu yoga đang thịnh hành, trung tâm gởi cô đi Ấn Độ học để về quảng cáo với khách một phương pháp điều trị mới kết hợp với yoga. Chị học viên lớn tuổi chung phòng bảo ngày nào cô cũng ngắm nghía cơ thể trước gương. Làm điệu với đôi môi bơm đỏ mọng và bộ ngực giả căng phồng. Đến Kabir Baug được hai tuần, cô xài hết hộp giấy ướt lau mặt nhãn hiệu Witch Hazel đem từ nhà đi. Không muốn dùng nước Ấn Độ rửa mặt sợ hư da, cô điện thoại cho người yêu ở Mỹ mua giấy ướt gởi gấp qua. Ba hôm sau, tưởng bưu điện sẽ giao đến tận Kabir Baug, ai dè cô nhận được giấy báo đến văn phòng hải quan để đóng thuế. Tắc xi đi về mất 7 đô. Thuế 20 đô. Trị giá hộp giấy thì chưa tới 10 đô! Chưa tính người yêu cô phải trả 80 đô cho dịch vụ phát nhanh Air Couriers. Đem về mở ra thì không phải giấy lau mặt. Anh bồ đã mua nhầm cái hộp giấy ướt lau đít cho trẻ em, cũng đúng nhãn hiệu Witch Hazel ấy. Thật hết sức ngu xuẩn! Cô tức tốc gọi điện mắng người yêu một trận. Anh thật thà bảo cô xài đỡ vậy. Cũng là một thứ giấy người ta làm ướt sẵn dùng cho tiện thôi. Cô kêu trời. Giấy chùi đít mà anh dám bảo tôi chùi lên mặt được sao. Nghe cô kể lại, các học viên khác cười như hưởng ứng cô, nhưng sau lưng có kẻ lại xầm xì đồng tình với ý kiến của anh chàng người yêu ấy.

bên ngoài lớp học:

Mua Sắm

Học viên các nước đến Ấn Độ để học yoga, nhưng nhiều người cũng nhân cơ hội này thoả mãn ý thích mua sắm. Nghe guru nói lúc đầu tôi ngỡ ông nói vui sau mới thấy chiều tan học xong là cả lớp rủ nhau ra các khu vực sắm đồ. Hai con đường nổi tiếng học viên thường ghé mua sắm là Lakshmi và Mahatma Ganhdi. Học viên Hàn Quốc cũng như Mỹ và Canada mê man với hàng hóa và giá cả ở đây. Người nào cũng mua đầy dẫy để đóng gói mang về nước cho bản thân và gia đình. Quần áo, nữ trang, giày dép, dụng cụ làm bếp bằng i-nốc, và các tượng Phật tượng thần bằng đồng thanh. Chỉ có mấy người tìm mua mấy cuốn sách triết học, yoga, và văn hóa Ấn Độ. Rồi tối đến các phòng học viên lại chộn rộn, khoe nhau những thứ đã mua được, và bàn cách làm sao trốn được thuế hải quan.

pune view

Tôi nhớ đến giờ giảng của guru về yama, các điều răn dạy của nhà hiền triết Patanjali đối với những người theo học yoga. Một trong những điều răn ấy là không sở hữu. Phải giải thoát con người mình khỏi sự ham muốn, tích trữ, và góp nhặt của cải. Phải đơn giản hóa nhu cầu vật chất hàng ngày của mình đến mức tối đa. Guru giảng rằng khi lòng mình còn nao nức trước một bộ sa-lông tân kỳ hay một cái điện thoại di động đa năng thì chắc chắn chưa qua được nổi chặng đầu tiên, hết sức cơ bản, trên cuộc hành trình dài và gian khổ đến với yoga. Cả lớp im lặng gật gù như thông hiểu. Sau tôi nghe học viên phàn nàn sau lưng guru rằng những thuyết giảng ấy không cao. Lặn lội đến Ấn Độ họ ngỡ sẽ được nghe từ guru những điều thâm sâu bí ẩn hơn của yoga.

câu chuyện trong lớp:

Đó Là Cách Thức Thế Gian, Đó Là Qui Luật Cuộc Sống

Thằng bé đi dọc bờ sông, thấy cá sấu bị mắc lưới. Cá sấu nói: “Làm ơn cứu tôi. Tôi xấu xí thật, nhưng có phải lỗi tôi đâu, tôi bị tạo ra như vậy. Nhưng dù bề ngoài tôi thế nào tôi vẫn có trái tim của một người mẹ. Sáng nay tôi đương tìm thức ăn cho lũ nhỏ thì bị dính vào cái bẫy này.”

Thằng bé nói: “Nếu tôi giúp bà thoát ra, bà sẽ nuốt tôi mất.”

Cá sấu nhỏ những giọt nước mắt, nói: “Ôi, cậu nghĩ tôi có thể làm được điều ấy với vị ân nhân đã giải thoát tôi ư?”

Thằng bé gỡ tấm lưới ra, cá sấu tức thì vồ lấy nó.

Bị kẹt trong hàm cá sấu, thằng bé nói: “Ra thế, đây là điều tôi nhận được từ hành động tốt của mình.”

Cá sấu nói: “Đừng quá nghĩ ngợi, nhóc con ạ. Đó là cách thức của của thế gian, đó là qui luật của cuộc sống.”

Thằng bé không đồng ý. Cá sấu nói: “Không tin thì hỏi ý kiến kẻ khác xem.”

Thấy một con chim đậu trên cành cây gần đó, thằng bé nói: “Cô chim nè, bà cá sấu nói vậy có đúng không?” Chim nói: “Đúng đấy. Như tôi đây này. Tôi đang ngậm thức ăn về nhà cho lũ nhỏ, thì… ôi, hãy tưởng tượng nỗi kinh hãi của tôi khi nhìn thấy một con rắn bò lên cây đến ngay cái tổ của tôi. Tôi bất lực nhìn nó nuốt ngấu nghiến đám con tôi, từng con một. Tôi gào thét khản cổ, nhưng vô ích. Cá sấu nói đúng đấy. Đó là qui luật của cuộc sống, đó là cách thức của thế gian.”

“Thấy chưa,” cá sấu nói. Nhưng thằng bé bảo: “Để tôi hỏi người khác nữa.” Cá sấu nói: “Hỏi đi.”

Có một con lừa già đang gặm cỏ bên cạnh. “Này ông lừa,” thằng bé nói, “Bà cá sấu nói vậy có đúng không?”

Lừa nói: “Đúng đấy. Như ta đây này. Ta làm việc như một tên nô lệ cho chủ suốt cuộc đời, mà ông ấy không khi nào cho ta ăn đủ no. Bây giờ ta già và vô dụng thì ông ấy đuổi đi. Ta đang phải lang thang trong rừng, đợi một con thú dữ kết thúc cuộc đời mình. Cá sấu đúng đấy, đó là qui luật của cuộc sống, đó là cách thức của thế gian.”

“Thấy chưa,” cá sấu nói. “Sẵn sàng đi!”

Thằng bé nói, “Hãy cho tôi một cơ hội cuối cùng. Để tôi hỏi thêm một người nữa. Chẳng lẽ bà đã quên tôi vừa mới làm một điều tử tế với bà đó sao.” Cá sấu nói: “Được, cơ hội cuối cùng.”

Vừa lúc thấy một con thỏ ngang qua, thằng bé nói, “Chú thỏ ơi, bà cá sấu nói vậy có đúng không?”

Thỏ ngồi sụp xuống, hỏi cá sấu, “Bà nói như vậy với thằng nhỏ hả?” Cá sấu nói, “Ừ.” “Chờ một chút,” thỏ nói, “Chúng ta phải thảo luận vấn đề này.” Cá sấu nói,“Đồng ý.” Thỏ nói: “Nhưng thảo luận thế nào được khi thằng nhỏ còn nằm trong miệng bà. Thả nó ra đi, nó cũng phải tham gia vào cuộc thảo luận.” Cá sấu nói, “Chú em thông minh đấy. Ta thả nó ra để nó chạy mất à.” Thỏ nói, “Tôi cứ ngỡ bà hiểu biết hơn như thế. Nếu thằng nhỏ tìm cách chạy, một phát đuôi quật của bà là đủ nó tiêu đời.”

“Có lý,” cá sấu nói, và nhả thằng bé ra. Thỏ nói, “Chạy đi!” Thằng bé chạy xa khỏi chỗ cá sấu. Thỏ quay sang nói với cá sấu: “Bà đã biết rồi đấy. Đó là cách thức của thế gian, đó là quy luật của cuộc sống.” Rồi thỏ nói với thằng bé, “Mày không thích thịt cá sấu sao? Người trong làng mày không thích một bữa ăn ngon tuyệt sao? Mày chưa giải thoát cá sấu hẳn đâu, cái đuôi nó còn mắc kẹt trong tấm lưới kìa. Hãy về làng gọi mọi người tới thịt nó đi.”

Thằng bé chạy về gọi người làng. Họ cầm búa, gậy gộc, giáo mác ra và giết con cá sấu. Con chó của thằng bé cũng chạy ra, và khi trông thấy con thỏ, nó rượt theo bóp cổ con thỏ chết ngắc.Thằng bé đuổi theo cản con chó không kịp. Nhìn con thỏ chết, thằng bé buồn rầu nói, "Cá sấu đúng. Đó là cách thức của thế gian. Đó là qui luật của cuộc sống."

 

bên ngoài lớp học:

Bức Tranh Trong Nhà Bảo Tàng

Sutteism

Trong một nhà bảo tàng lịch sử và văn hóa, tôi chú ý đến một bức tranh minh họa tập tục Sutteeism của người Hinđu. Khi chồng qua đời, vợ cũng phải chết theo. Một cô học sinh cấp ba Ấn Độ đứng gần bên giải thích với tôi rằng tục lệ này bắt đầu bị bãi bỏ từ thế kỷ 17 dưới triều các hoàng đế Murghal, đến thời thuộc địa Anh năm 1828 bị đưa vào luật cấm, nhưng đến giờ nó vẫn tồn tại ở các làng mạc xa xôi. Tấm tranh vẽ cảnh bên bờ sông Hằng một phụ nữ trong bộ áo sari quý phái bị ném lên giàn lửa để thiêu sống cùng với thi hài người chồng. Cô học sinh đọc lời chú thích bằng tiếng Hin-đi và bảo bức tranh này là một trường hợp thật xảy ra cách đây cả trăm năm. Người đàn ông qua đời là một ông quan lớn ở huyện. Thấy tôi cứ nhìn sững bức tranh cô gái nói: “Bà chớ xúc động. Đó không phải vợ ông ta đâu, mà chỉ là một người đàn bà thuộc tầng lớp tiện dân bị bắt thay vào. Còn người vợ thì được giấu đi. Thời đó người ta thường làm vậy.”

bên ngoài lớp học:

Khi Hai Kẻ Yêu Nhau Không Cùng Đẳng Cấp

Chuyện vừa xảy ra chiều hôm qua ở một vùng ngoại ô cách Kabir Baug gần trăm cây số. Chị thư ký văn phòng nói với tôi. Hai học sinh trường cấp ba yêu nhau. Cậu con trai thuộc đẳng cấp Brahmins, tầng lớp cao nhất trong xã hội. Cô gái là con một gia đình thuộc đẳng cấp Shudras của những người lao động chân tay. Gia đình cả hai nhiều lần cảnh cáo. Hôm ấy đôi trai gái trốn học hẹn hò ở một nơi rất xa. Không biết thế nào mà cha mẹ hai bên biết được. Họ đến tận nơi bắt đôi trai gái về, và lôi ra trước một ngôi chùa giữa làng dùng đá và gậy gộc đánh cả hai đến chết. Sao cảnh sát và dân làng không can thiệp? Tôi hỏi. Chị nhún vai bảo, làm gì được.

Câu chuyện làm tôi nhớ đến chị bạn người Ấn di dân làm chung sở ở Canada. Năm nay tới tuổi 40, có nhan sắc, học thức, công việc lương cao, nhiều đức tính tốt, gia đình cũng thuộc tầng lớp Brahmins. Chị luôn khát khao có chồng có con như những phụ nữ khác trên đời. Người đàn ông chị vẫn trông đợi chỉ cần mỗi hai điều kiện: cùng đạo Sikh, và cùng đẳng cấp Brahmins. Nhưng thật khó. Có đàn ông nào vừa ở tuổi chị vừa đạt hai tiêu chuẩn ấy còn độc thân? Trẻ hơn thì người ta không tìm đến chị. Thực ra 15 năm trước cô gặp một chàng trai học nha khoa cũng người Ấn nhưng Hinđu, và rủi hơn lại là con trai của một gia đình bán hàng xén, có nghĩa thuộc đẳng cấp thứ ba – Vaishyas. Tất nhiên hôn nhân chẳng thể xảy ra cho hai người. Rồi thời gian qua. Anh ta đã cưới vợ, một cô giáo, gia đình thuộc đẳng cấp Shudras, thấp hơn anh một bậc, và có hai con. Chị thường thở dài bảo tôi giá như chị sinh ra thuộc tầng lớp của gia đình cô giáo ấy.

bên ngoài lớp học:

Những Người Giới Tính Thứ Ba

Anh học viên Hàn Quốc chưa hoàn hồn khi kể lại sự cố xảy ra trên đường Lakshmi khu vực trung tâm thương mại. Hai phụ nữ Ấn Độ trong bộ sari sặc sỡ, phấn son diêm dúa, vòng vàng đeo đầy người, chặn anh lại xin 100 ru-pi. Anh từ chối. Một cô giơ tay bẹo lên má anh, xong tuôn ra cả tràng ngôn ngữ anh không hiểu, vẻ tức giận. Rồi bất ngờ, cả hai cô cùng kéo hất vạt áo sari lên, phô ra phần cơ thể đã bị cắt trụi của đàn ông. Đám trẻ con gần đó rộ lên cười. Anh bỏ đi như chạy, vừa xấu hổ vừa sợ hãi.

Guru bảo hai người đó thật ra là đàn ông bị hoạn, tiếng Hinđi gọi là hijras. Có trường hợp bẩm sinh, có trường hợp sinh ra với cơ cấu sinh dục nam nhưng tính cách con người lại phát triển như nữ. Không ít hijras từ nhỏ bị gia đình ruồng bỏ vì sức ép của dư luận xã hội, đã bỏ trốn lên thành phố, trải qua nghi thức cắt bỏ dương vật và tinh hoàn của mình để gia nhập vào quần thể của những người cùng cảnh ngộ. Toàn nước hiện nay có hơn một triệu hijras sống trong những cộng đồng riêng. Đông nhất là ở các thành phố lớn như Mumbai, Chennai, Kolkata và Delhi. Không còn vai trò của một tầng lớp được sủng ái và trọng dụng trong chốn cung đình của người Hinđu và cả trong giới cầm quyền Hồi giáo của bao thế kỷ xưa, những “hoạn quan” trong xã hội Ấn Độ đương thời bị kỳ thị nặng nề, bị tước bỏ nhiều quyền lợi của một công dân. Mặc dù người ta tin rằng hijras được thần thánh ban cho quyền năng đặc biệt là có thể đem đến lời chúc phúc hoặc lời nguyền độc, nhưng thái độ chung của xã hội là ghê sợ và tìm cách né tránh họ. Ở các bến xe, nhà ga, hijas thường bị sỉ vả, uy hiếp. Phần lớn họ phải kiếm sống bằng cách ăn xin, bán thân, canh giữ các nhà chứa, hoặc ban phước lành ở tiệc mừng trẻ mới sinh, đám cưới, tân gia, khởi công xây nhà, khai trương buôn bán. Một số nhà băng thuê họ đòi nợ. Tưởng tượng cảnh một nhóm hijras trong những bộ áo sari lộng lẫy kéo đến trước cửa nhà con nợ múa hát, vỗ tay, gào thét. Rất có hiệu lực. Vì không ai đợi đến lúc lời rủa độc địa phát ra từ miệng họ “Con trai nhà ngươi sẽ là một hijra!”

Hijras hiện nay vẫn là một vấn nạn ở Ấn Độ. Những năm gần đây các cộng đồng hijras liên tục tranh đấu để không bị kỳ thị khi xin việc, không bị hiếp đáp bởi cảnh sát và dân chúng, và được sống như những người bình thường khác.

câu chuyện trong lớp:

Ba Điều Thỉnh Nguyện

Thần Vishnu nói với một người Hinđu mộ đạo:

“Ta mệt mỏi với sự cầu nguyện xin xỏ mỗi ngày của ngươi. Bây giờ ta quyết định ban cho ngươi ba điều. Rồi thôi. Sau đó đừng kèo nài ta nữa.”

Nguời đàn ông mừng quá bật luôn ra một lời thỉnh nguyện. Ông ta cầu xin cho người vợ vừa già vừa nhạt nhẽo chết đi để có thể cưới một người phụ nữ trẻ đẹp và sinh động hơn. Lập tức lời cầu khấn của ông được thần chấp thuận. Vợ ông đang nấu ăn bỗng lăn đùng ra chết.

Nhưng khi bà con, hàng xóm đến thăm và nghe họ khóc than khen ngợi những phẩm chất của vợ ông lúc còn sống, ông giật mình nhớ lại tất cả những tháng năm người vợ đã tận tuỵ với ông. Ông nhận ra mình đã quá nông nổi khi cầu cho vợ chết. Liệu ông có thể tìm được trong đám phụ nữ trẻ dại nhố nhăng đó những đức tính tốt như người vợ này không. Ông suy nghĩ và vội thỉnh cầu thần cho vợ sống lại.

Còn một ước nguyện cuối cùng, người đàn ông quyết không sai phạm vì sẽ không còn cơ hội sửa lại nữa. Nghĩ mãi không ra, ông tham khảo ý kiến người khác. Người bảo nên cầu được bất tử. Kẻ bảo sống dai để làm gì nếu nay ốm mai đau. Người bảo sức khoẻ tốt cũng không bằng có tiền để vui thú. Kẻ lại nói tiền bạc ích gì nếu không quyền thế. Người lại bảo có quyền lực cũng không bằng có người tri âm tri kỷ.

Ngày tháng qua đi, người đàn ông vẫn không quyết đinh nổi mình nên ước điều gì: sống thọ? sức khoẻ? tiền bạc? thế lực? tình yêu? bè bạn? Cuối cùng ông nói với thần, “Xin Ngài làm ơn mách bảo con nên thỉnh cầu điều gì.”

Thần Vishnu cười vang, nói: “Con người trần gian các ngươi thật chậm nghĩ. Sao không cầu cho được biết mãn nguyện với bất kỳ điều mình có.”

bên ngoài lớp học:

Guru Mất Thẻ Tín Dụng

Sau một ngày đi tĩnh tâm ở một bờ hồ vắng lặng trong khu vực công viên Sayajiraje cách Kabir Baug mấy trăm cây số, mọi người lên xe chuẩn bị ra về. Xe buýt lớn chở học viên và giáo viên. Xe hơi Tata Sumo chở guru và hai người khách trong đó có tôi, do Chandhu, tài xế của Kabir Baug lái. Guru bất chợt kêu lên rằng ông mất cái thẻ tín dụng. Ông nhớ ông đã bỏ nó lại vào ví sau khi trả tiền ở trạm xăng lúc sáng. Bây giờ ví đây, mà thẻ thì không thấy. Tin guru mất thẻ nhanh chóng truyền đến chiếc xe buýt đậu đằng trước đã bắt đầu nổ máy. Xe buýt lập tức tắt máy. Không thể bỏ đi trước. Phải chờ guru tìm ra tấm thẻ. Mọi người nhao nhác vây đến chiếc Tata Sumo trong lúc guru bắt đầu mắng nhiếc Chandhu, y như lỗi anh ta. Chandhu luống cuống lục tìm khắp ngõ ngách trong xe. Không tăm hơi. Guru giận dữ quát anh to hơn. Tôi chỉ biết vài từ tiếng Marathi, nhưng hiểu ông đang trút nỗi lo mất tấm thẻ lên đầu Chandhu. Mặt tái ngắt vì hoảng sợ người tài xế chạy ngược trở lại bờ hồ nơi guru và mọi người mới ngồi thiền trước đó xem tấm thẻ có rơi ra từ túi ông không. Anh vào cả khu vực căn-tin, nhà vệ sinh. Rốt cuộc thì chính guru đã tìm ra. Nó nằm trong chiếc cặp táp của ông. Ông đã nhét tấm thẻ vào đó lúc sáng nhưng quên. Chandhu thở hổn hển, mặt nghệch ra như người mắc tội được tha. Anh rút khăn mù xoa lau vội lau vàng mồ hôi và cả nước mắt chứa chan trên mặt anh tự lúc nào.

Không biết có phải là sự chỉ đạo của guru. Sáng hôm sau trong buổi lễ trao giấy chứng nhận mãn khóa cho học viên, đến phần đọc danh sách các ban ngành và cá nhân ở học viện đã có công lao đóng góp vào sự thành công của khóa huấn luyện, tên Chandhu được nhắc đến, sau cùng. Anh được ghi nhận đã có công chụp ảnh lưu niệm cho Kabir Baug. Bấy giờ, Chandhu đang đứng ở góc gian chánh điện với cái máy ảnh cồng kềnh đeo trước ngực. Tôi nhớ ra hôm trước ở bờ hồ anh cũng có làm nhiệm vụ đó. Nghe nói ai đó mới cho Kabir Baug cái camera chắc phải tới 20 tuổi đời, không giáo viên nào ngó tới, bảo tốn phim, cuối cùng guru đưa cho Chandhu.

Chandhu không biết tên mình được đề cập, vì không hiểu tiếng Anh. Các học viên reo ầm lên Chandhu Chandhu, rồi người dẫn chương trình chuyển sang nói gì đó tiếng Marathi. Mặt đỏ bừng vì xấu hổ, Chandhu bước lên nhận bó hoa của ban tổ chức. Rồi như bao người khác anh quỳ phủ phục trước guru, trán anh chạm vào chân ông một cách cung kính. Guru đặt tay lên đầu anh như với bao người. Anh ôm bó hoa đi xuống trong tràng pháo tay vang dội. Mắt anh đỏ hoe. Tôi được giải thích rằng lần đầu tiên ở Kabir Baug một người ở vị trí thấp như Chandhu được hưởng cái vinh dự lớn lao ấy. Có lẽ guru muốn chuộc lại hành vi của ông về chuyện mất thẻ ngày hôm trước. Tôi nghĩ.

bên ngoài lớp học:

Hai Trăm Đồng Ru-pi

Ngày cuối ở Kabir Baug. Còn mỗi hai tờ giấy100 ru-pi, tôi quyết định cho Chandhu. Muốn đưa anh, nhưng lúc nào cũng có người chung quanh. Tôi tự nhủ chờ khi anh chở đoàn học viên Mỹ và Canada chúng tôi ra phi trường Mumbai. (Nhóm học viên Hàn Quốc đã rời từ đêm trước.) Bảy giờ tối, mọi người trong học viện tụ tập trước sân chia tay với chúng tôi. Rồi chúng tôi lần lượt leo lên xe. Vì hay bị say xe, tôi chọn ghế trên sát bên tài xế. Chandhu cùng mấy người giúp việc nữa lúi húi chất vali của chúng tôi vào xe. Kabir Baug còn gởi theo mấy chai nước suối đóng chai và các thứ bánh trái vào băng ghế sau. Guru bảo để chúng tôi không bị đói lúc chờ máy bay ở phi trường. Đồ đạc chất xong xuôi, Chandhu nói Goodbye, đưa tay vẫy, rồi đóng sầm cửa xe đằng sau lại. Tôi đang bối rối thì một người đàn ông lạ mặt mở cửa xe ngồi vào ghế tài xế. Chandhu không chở chúng tôi ra phi trường như đã kế hoạch. Hóa ra vì trời chạng vạng, chúng tôi chẳng ai nhận ra đó không phải là chiếc xe Chandhu chạy mỗi ngày. Cũng là Tata Sumo 9 chỗ ngồi, cũng màu trắng, nhưng chiếc này mới hơn. Kabir Baug đã mượn hoặc thuê nó. Có thể vì Chandhu không thạo đường đi Mumbai. Có thể chiếcTata Sumo của Kabir Baug phải sửa chữa. Lý do gì chúng tôi không ai biết. Nhưng Chandhu không cùng đi với chúng tôi. Chandhu! Tôi bật kêu, giọng run lên. Hai tờ giấy 100 ru-pi nằm chặt trong tay tôi. Người tài xế đã nổ máy. Chiếc xe bắt đầu lăn bánh, chầm chậm. Bên ngoài, những cánh tay giơ lên vẫy chào. Tôi quay sang người lái xe, gào lên Stop! Stop, please! Mọi người trong xe không hiểu chuyện gì. Tôi luống cuống quay cửa kiếng xe xuống. Chandhu! Chandhu! Tôi hét to hơn. Xe thắng gấp lại. Từ đâu Chandhu chạy đến bên cửa xe phía tôi. Có mấy người cũng chạy theo đằng sau anh. Tôi hấp tấp với tay ra nhét vào túi áo anh hai tờ giấy bạc đã xếp nhỏ lại. “For you! ” Mặt Chandhu tái mét vì sợ. “Madam, I can’t”. Anh moi túi ra nhất quyết đưa lại cho tôi. Hai bên giằng co quyết liệt. Tôi biết anh sợ những người đang đứng cạnh anh nhìn thấy. Tôi cũng run bắn người như đang phạm tội. “It’s nothing. Keep it!” Tôi quát anh, dữ dằn như guru quát anh đêm ấy. Mặt Chandhu dại đi một cách thảm hại. Tôi giúi được tiền vào tay anh. Lập tức tôi đẩy anh gần như ngã chúi ra, rồi quay kiếng xe lên, “Let’s go!” Tôi giục tài xế chạy. Giây phút ấy tôi chỉ muốn chiếc xe chúng tôi biến ra khỏi khuôn viên Kabir Baug càng nhanh càng tốt. Tôi không dám ngoái lại đằng sau. Chỉ muốn òa lên khóc. Những người trong xe đã hiểu chuyện gì xảy ra. Bàn tay ai từ băng ghế sau vỗ về lên vai tôi như chia sẻ. Rồi những lời bàn luận thầm thì. “Hy vọng không ai nhìn thấy.” “Qua sao nổi cặp mắt của bà vợ ông chánh văn phòng đứng sát ngay bên Chandhu.” “Chắc phải nộp vào công quỹ của Kabir Baug.” “Sợ anh ta còn bị quở trách về tội nhận tiền nữa.” “Có lẽ còn tùy thuộc số tiền bao nhiêu.”…

Hai trăm rupi. Xấp xỉ 5 đô. Không đủ mua một kẹp bánh mì sandwich ở Canada. Nhưng với thân phận những kẻ làm công ở đất nước Ấn độ như Chandhu, nó có giá trị nhiều hơn. Một người trong học viện cho tôi biết đầy tớ chung quanh thành phố Pune thường chỉ được chủ cho cơm ăn và chỗ ở, may mắn lắm mới được trả thêm 200 rupi một tháng.

***

Về lại Canada nhiều người hỏi tôi Ấn Độ ra sao. Tôi thực tình không có câu trả lời. Đất nước mênh mông biển người như vậy. Nhìn sao thấu hết. Người bảo nền văn minh cổ kính đồ sộ, trí tuệ nhân loại. Kẻ bảo cái chậu toa-let của thế giới. Còn tôi? Trong trí tôi vẫn rõ hình ảnh những con chó hoang rảo quanh các đống rác trên đường phố tìm bới thức ăn. Những em bé đôi mắt to nâu như quả chà là ngơ ngác nhìn mấy ông Tây bà Tây trong đoàn chúng tôi như thể họ là những con người đến từ hành tinh khác. Những người phụ nữ đeo đầy trang sức bước đi thanh lịch trong những bộ sari lộng lẫy sắc màu lúc chói rọi lúc phiêu diêu như hư ảo.

Có cái gì như sự bí ẩn trong một nơi chốn dường như hỗn loạn và đầy mâu thuẫn này. Những ngôi biệt thự cao tầng hiện đại nằm lấn giữa những căn hộ lè tè xiêu vẹo như trăm tuổi. Phố xá chật chội. Lắm con đường không có tên, không cả vỉa hè, rẽ đi tứ hướng. Bước ra đường là cảm giác căng thẳng. Vừa phải ngó chừng xe cộ phóng vùn vụt sát bên mình, vừa phải liên tục nhìn xuống chân vì nhãng một chút là dẫm phải phân. Không phân người thì phân bò, hoặc phân chó, phân heo, phân ngựa, có khi cả phân lạc đà. Thỉnh thoảng đàn bò ở đâu nghênh ngang ngay giữa đường phố. Nhưng không ai phiền lòng. Mọi người nhẫn nại né tránh. Đánh chết một người đa-lit giữa thanh thiên bạch nhật có thể không sao, nhưng bị vu giết một con bò thì có khi phải thế mạng. Bò là con vật thánh với người Hinđu. Chúng có vị trí cao hơn nhiều so với đa-lit, những người ngoài đẳng cấp, tầng lớp đáy cùng xã hội. Người Hinđu trân trọng cả những chất thãi ra từ con bò. Vào một số ngôi chùa của họ, tín đồ và khách sau khi cúng thần chút tiền sẽ được mời uống một chén nước thánh đặc biệt. Đó là nước tiểu nguyên chất của những con bò còn trinh. “Cuộc cách mạng phân và nước tiểu bò” được bàn thảo ở Ấn Độ từ đầu thiên niên kỷ mới. Họ tuyên bố từ nay mọi người không phải lo sợ nguy cơ nhiễm chất phóng xạ hạt nhân. Chỉ cần trát phân bò lên mái nhà hoặc hiệu nghiệm hơn nữa là bôi phủ lên cơ thể mình. Năm 2002, Ấn Độ được Mỹ cấp bằng sáng chế cho các thành tựu chứng minh nước tiểu bò có thể dùng như những phương thuốc trị bệnh. Toàn Ấn Độ hiện nay có hơn 200 trung tâm điều trị dùng nước tiểu bò. Họ khẳng định rằng nó trị được tiểu đường, AIDS, hen suyển, xương khớp, các chứng tim mạch và ung thư. Nước tiểu bò đã quý, phân bò lại còn quý hơn. Ngoài việc dùng làm nhiên liệu đốt của người Ấn Độ bao đời nay, nó còn được sử dụng chế tạo trà, kem đánh răng, xà bông tắm, dầu gội đầu, thuốc trừ sâu, phân bón. Mùi khói nhang tỏa trong các đền đài chùa chiền và nhà ở cũng từ chất thải ra của con vật được coi là thiêng liêng này. Gần đây dân Nhật Bản cũng mê các loại nhang chế tạo từ phân bò ở Ấn Độ. Họ mua rất nhiều để dùng nơi thờ phượng, cầu nguyện, thiền, và đốt cho thơm nhà.

cow in pune street

Nói về tín ngưỡng, Ấn Độ được coi là đất nước của người Hinđu, vì Hinđu chiếm trên 80 phần trăm dân số. Còn lại đạo Hồi, Cơ đốc, Sikh, Phật và các giáo phái khác. Ít nhiều giữa các đạo đều có mâu thuẫn, không bề mặt thì cũng ngấm ngầm. Chỉ nội thành phố Pune đã thấy lắm thánh đường, đền đài, chùa chiền lớn nhỏ, nghe bao chuyện đổ máu giữa Hinđu và Hồi giáo. Vào thăm Pataleshwar, ngôi chùa thờ thần Shiva dựng bằng đá bazan từ hồi thế kỷ thứ tám, vẫn còn thấy dấu tích các tượng thần bị hành hung. Có lẽ không nơi nào trên thế giới nhiều thần thánh như Ấn Độ. Người Hinđu có trên ba ngàn vị thần. Thần nào cũng có chuyện về thần ấy. Nghe chuyện thần mới biết các vị cũng bê bối không kém người trần. Nóng tính, hám chuyện trăng hoa, ghen tuông, tham quyền lực. Tôi hỏi nhiều thần vậy làm sao người ta thờ cho hết. Các thần cư trú ở các chùa khác nhau, biết đi chùa nào. Guru giải thích rằng bắt đầu từ thời Chúa giáng sinh, người Hinđu có tập tục thờ lingam, biểu tượng cách điệu dương vật người đàn ông – mang ý nghĩa sức sinh sản của thiên nhiên. Nó tượng trưng cho thần Shiva, một trong những vị thần lớn của đạo Hinđu. Tuy nhiên tín đồ Hinđu không bị ép buộc phải thờ phượng một thần cụ thể nào. Thích thần nào thờ thần ấy. Không thờ thần nào cũng chẳng sao. Đạo Hinđu không có đức giáo hoàng, giám mục hay hội đồng giáo xứ nào quản lý. Các tín đồ chỉ phải tuân theo những truyền thống văn hóa của xã hội, bao gồm luật lệ của hệ thống đẳng cấp. Từ một tôn giáo Hinđu lại còn đẻ ra nhiều giáo phái khác, thí dụ như Jain. Tín đồ cực đoan thuộc giáo phái này không mặc quần áo, không giết bất kỳ một sinh linh, không tin sự tồn tại của các vị thần như người Hinđu chính thống. Họ tôn thờ tôn sư của mình, tin rằng thầy mình có quyền năng thần thánh. Về đạo Phật ở Ấn Độ, guru cho biết hiện nay chỉ còn một lượng nhỏ tín đồ. Vì mảnh đất này là nơi đức Phật sinh ra và đắc đạo, nên nó trở thành địa điểm hành hương của tín đồ Phật giáo trên thế giới. Một giáo phái khác của Hinđu cũng thờ đức Phật vì họ tin Ngài là sự hóa thân của thần Vishnu trong đạo Hinđu. Theo guru, sách vở hiện nay có lẽ cũng chưa tổng kết đầy đủ sự phức tạp về niềm tin tôn giáo của dân tộc Ấn Độ.
Giữa sự ngổn ngang bừa bộn trong xã hội ấy dường như lại có một thứ trật tự con người từ bao thế hệ luôn tự giác tuân theo. Người dân Ấn Độ tin rằng mỗi con người sinh ra trên đời có một vai trò được sắp đặt sẵn. Chu tròn nhiệm vụ mình ở cõi đời này là lập công đức chuẩn bị cho sự hóa kiếp lần sau tốt hơn. Tinh thần giáo lý trong Bhagavad Gita bị nhiều người trên thế giới phê bình vì nó dạy cho con người an phận với vị trí của mình, và nó khuyến khích sự tồn tại của hệ thống phân chia đẳng cấp trong xã hội, làm cho xã hội bị trì trệ, không tiến lên được. Tôi đã hiểu tại sao những người nghèo tôi gặp ở Ấn Độ thường có nét mặt bình thản, chấp nhận. Tại sao ở đây lại có một đời sống từ tốn khác thường? Đến chín mười giờ sáng các cửa tiệm vẫn chưa mở. Không tất bật hối hả. Mọi người như hòa theo nhịp điệu ung dung của cuộc sống. Không muốn thay đổi. Những truyền thống bao ngàn năm tự thời Vedas vẫn được tuân thủ giữ gìn. Tôi nghĩ đến bao nhiêu người từ tiểu lục địa Ấn Độ di dân tới Canada mấy chục năm vẫn không bị “Tây hóa” nhanh chóng như các dân tộc khác. Phụ nữ vẫn trong trang phục truyền thống, đàn ông Sikh vẫn đội khăn xếp và để tóc để râu, trẻ con sinh ra ở xứ người vẫn thông thạo tiếng mẹ đẻ, tín đồ Hồi giáo vẫn nghiêm ngặt ăn chay trong tháng Ramadan, vẫn sắp xếp thời gian đọc kinh Koran đủ năm lần một ngày.

Còn đọng trong tâm tưởng tôi là những sớm mai chập chờn tỉnh giấc với tiếng kinh cầu đức ngài Patanjali buồn bã vẳng lên từ những lớp học yoga ở tầng dưới. O…m…Tiếng guru ngân nga khởi xướng. O…m… Giọng nhóm người nhịp nhàng họa theo.

yogena cittasya padena vacam
malam sarirasya ca vaidyakena
yopakarottam pravaram muninam
patanjalim pranjalir anato smi
(Xin nghiêng mình trước đức Ngài Patanjali,

Đem yoga đến cho bình yên tâm tưởng

Nguyên tắc văn phạm cho sáng rõ ngôn từ

Và thuốc men để tẩy uế xác thân)

Cứ năm giờ sáng mỗi ngày. Hòa lẫn với nhịp kinh nguyện là tiếng khạc đờm từng tràng dữ dội như xé rách lồng ngực của người đàn ông từ khu nội trú bệnh nhân tầng trên, và tiếng bồ câu thăn thĩ đâu đó từ phía xóm nhà nhếch nhác đằng sau học viện. Như một khúc hòa tấu nhẫn nại lặp đi lặp lại mỗi ngày. Tôi nghĩ đến cuộc sống của guru, những bữa cơm rau đạm bạc mỗi ngày cùng chế độ như những kẻ giúp việc ở Kabir Baug, gian phòng ở và làm việc khiêm tốn của ông, cả những bài giảng và câu chuyện ông kể trên lớp. Rồi nghĩ đến ngôi biệt thự của người bạn ông đưa tôi đến uống trà, chủ một doanh nghiệp thực phẩm. Không khác một cung điện vua chúa. Chén bát ly tách tất cả đều bằng bạc nguyên chất, cầm nặng trong tay. Nhưng khách trầm trồ hơn cả là công trình kiến trúc tuyệt tác của ngôi chùa ông cất ngay trước sân nhà. Kiểu xe chiến mã hai bánh có mui và hai con ngựa kéo. Kích cỡ to như trong đời thực. Bên trong là một tượng thần Jain cũng bằng bạc nguyên chất. Toàn bộ ngôi chùa tạc bằng đá sống từ bàn tay những nghệ nhân có tiếng nhất của Ấn Độ. Một lần kẻ cướp vào định tẩu thoát với tượng bạc, cuộc xô xát làm ông bị bắn gãy một ngón tay. Nỗi buồn của ông là nếu như ông chết cơ sở làm ăn của ông không ai tiếp tục gánh vác. Con trai và con rể ông đã chết trong một tai nạn giao thông.
Guru nói Ấn Độ cũng như bao nơi khác. Cũng khắc khoải mơ một cuộc sống dễ dàng hơn hiện tại. Người giàu cũng lo gởi con đi du học Châu Mỹ Châu Âu. Người nghèo nếu có cơ hội cũng ráng ngoi ra khỏi số kiếp đen đủi của mình. Ngày xưa ai đáp tàu rời khỏi quê hương khi trở về phải theo nghi thức tẩy rửa mọi chất nhơ bẩn bằng cách tiêu thụ bốn chất lỏng từ con bò: nước tiểu, phân loãng, sữa và máu. Thời Gandhi trước khi đi học ở Anh Quốc cũng phải xin phép đẳng cấp của ông song bị chối từ vì điều đó trái với đạo luật Hinđu, nhưng ông vẫn đi và bị xóa tên trong đẳng cấp. Bây giờ nhiều người rời con nước quê hương, không ai bị khai trừ khỏi xã hội như xưa nhưng ở mức độ nào đó cũng bị kỳ thị, coi như đã hoen ố. Trong lúc nhiều kẻ bị cuốn hút vào trò chơi của thế gian thì cũng không ít người nhận ra rằng con người ta lúc chào đời chẳng có một ru-pi và khi giã từ dương thế cũng không có đồng cắc nào. Guru nói sự chọn lựa cách sống của tín đồ Hinđu chính là dựa trên nhận thức ấy.

Guru kể có lần ông đi giảng ở Mỹ về, người ta hỏi ông đất nước ấy như thế nào. Guru trả lời họ vật chất thừa mứa, nhưng tinh thần kham khổ. Tôi nghĩ câu trả lời chung chung người ta hay dùng ấy chắc không thỏa mãn đầu óc những người Ấn Độ hiếu kỳ muốn biết rõ về cuộc sống ở một đất nước Tây phương. Cũng như tôi không thể chỉ đơn giản mượn câu trả lời ngược lại của guru để nói về đất nước Ấn Độ.

Tôi nhớ tới câu chuyện nghe được về Vivekananda, người Hinđu đầu tiên đặt chân tới đất Mỹ năm 1893 truyền bá triết lý yoga trong một đại hội về tôn giáo thế giới. Bài diễn thuyết xôn xao nước Mỹ. Người ta ca ngợi Ấn Độ và đạo giáo Hinđu đã mang đến những tư tưởng cao cả cho thế giới vật chất tầm thường của Tây phương. Họ đua nhau góp tiền ủng hộ cho sứ mạng rao giảng yoga của ông. Vivekananda trở nên một nhân vật nổi tiếng và được kính trọng. Khi về lại quê hương, ông đã làm những môn đệ và các tín đồ Hinđu thất kinh. Ông bảo họ không thể tiếp tục suốt ngày ngồi suy tư trước các tượng thần. Phải rời khỏi chỗ cầu nguyện, bắt tay vào hành động. Đem học vấn và trí não của mình ra làm việc. Bắt chước người Mỹ, học tập công nghiệp của họ, giàu lên như họ, sống tiện nghi như họ. Không thể cứ ngồi một chỗ ăn đồ bố thí của tín đồ. Không thể hèn nhát mãi. Hãy làm một người đàn ông chân chính! Những lời ông có vẻ quá khích, nhưng giống như Gandhi, ông hiểu Hinđu, hiểu con người của đất nước ông.

Hơn thế kỷ trôi qua. Ấn Độ bây giờ đang được biết đến như một quốc gia có nội lực về kinh tế trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên tôi e rằng không phải tất cả mọi người trên đất nước ấy đều sẽ hưởng lợi từ cuộc cải tiến này, họ sẽ vẫn tiếp tục duy trì một đời sống của bao ngàn năm qua. Những câu chuyện xảy ra chưa lâu về những người đa-lit ở các làng mạc hẻo lánh vẫn làm tôi bàng hoàng. Tại làng Thinnian thuộc bang Tamil Nadu, hai người đàn ông đa-lit đấu tranh với một cặp vợ chồng đẳng cấp hy vọng lấy lại được số tiền bị chiếm đoạt. Kết quả của sự vùng dậy là cả hai bị gia đình nọ đóng dấu khắp cơ thể bằng thanh sắt nung nóng, rồi hai người bị bắt đút cho nhau ăn hết đĩa phân người họ đưa. Tại làng Pakri-pakohi huyện Muzaffarpur, một phụ nữ đa-lit bị một nhóm người đẳng cấp kết tội có ma thuật, bị bắt trần truồng diễu hành khắp xóm, bị rút hết móng tay, và cũng bị bắt nuốt phân người. Còn bao chuyện khó tin xảy ra hàng ngày ở Ấn Độ đương đại. Tôi cứ tự hỏi không biết số phận của 170 triệu người đalit sẽ ra sao trong những ngày sắp tới. Đất nước đi lên, nhưng nhiều công dân của nó chắc vẫn bị bỏ lại đằng sau.

Vẫn còn bao điều bí ẩn về đất nước của guru tôi chưa biết.

banarasi-sari

Pune, India, 02-2008
Calgary, Canada, 05-2008

bài đã đăng của McAmmond Nguyen Thi Tu


11 bình luận »

  • trần văn Thọ viết:

    Wow!
    Tôi thật sự sốc khi đọc Bí Ẩn Ấn Độ. Unbelievable!
    Cái nhìn của tác giả rất mới, hơi khe khắt, nhưng khá kỳ thú. Đây là một đất nước nói chung được tôn thờ, kính nể, coi như một trong những cái nôi văn minh của loài ngưòi. Trước giờ ít có bài viết phê phán và chỉ trích nó như Mcammond Nguyen Thi Tu.
    Tác giả hơi tham lam, đưa vào quá nhiều thông tin, chi tiết, nhưng tôi nghĩ cũng không sao, vì đó là những kiến thức bổ ích cho bạn đọc ham thích học hỏi như tôi.
    Chúc mừng McAmmond Nguyen Thi Tu và mong đọc thêm những bài viết mới.

  • vũ tưởng viết:

    nói chung đồng ý với Trần Văn Tho, nhưng tôi không cho rằng người viết “phê phán và chỉ trích” Ấn độ. Chẳng qua mượn chuyện ấn độ để nói chuyện đời, chuyện con người thôi.
    Cam ơn một bút ký rất kỳ công, không dễ dãi.
    Có điều đọc xong thấy buồn quá.
    (Tôi là một người thực hành yoga, và bài ký khiến tôi thấm lắm).
    Tôi cũng thích phần photos minh họa (không biết của tác giả, hay của BBT?)làm bài ký sinh động hơn.

  • Ngọc Mỹ viết:

    Ấn Độ có thật vậy không? Tôi cứ tự hỏi, vì bài ghi chép có nhiều tình tiết ghê rợn quá.
    Tôi nghĩ đến tiểu thuyết “Mùa Tôm” đọc hồi còn sinh viên. Một xứ sở quả lạ kỳ.
    Mấy câu chuyện trong lớp và ngoài lớp ý nghĩa lắm.
    Một bài bút ký thể hiện trách nhiệm người cầm bút. Chi tiết dồn dập. Văn phong giản dị, nhưng gợi.

  • BBT Da Màu viết:

    Mến chào bạn Vũ Tưởng,

    Chân thành cám ơn lời ủng hộ của bạn về phần photos minh họa cho bài “Bí Ẩn Ấn Độ.” Đây là phần BBT đã thêm vào để tượng hình hóa những khía cạnh của Ấn Độ mà tác giả McAmmond Nguyen thi Tu đã trực tiếp trải nghiệm. Thường thường, chúng tôi thêm vào phần minh họa cho những bài viết có tính cách học thuật, triết lý, văn hóa, để làm cho những thế giới có phần trừu tượng hoặc xa lạ được gần gũi hơn với bạn đọc. Hy vọng những nỗ lực khiêm tốn này cũng là cách “thu hẹp biên giới” giữa kinh nghiệm người viết và người đọc, và không phải là một sự áp đặt lên văn bản của tác giả.

  • vũ tưởng viết:

    Vô cùng cảm phục tinh thần làm việc nỗ lực của BBT, quả là quý vị đã “go the extra mile” (thành thật xin lỗi, tôi vụng về không tìm ra từ tiếng Việt). Không lạ gì khi Da Mau ngày càng tăng uy tín và có thêm bạn đọc. Tôi cứ tự hỏi không biết BBT Da Mau làm việc vất vả thế này có được trả lương không.
    Với câu hỏi của Ngọc Mỹ: Ấn Độ có thật vậy không? tôi có một số bạn thân người Ấn, và cũng nghe được khá nhiều điều phản ảnh trong bài viết này, nhất là tình trạng phân biệt đẳng cấp trong xã hội. Biết bao điều khó tin trên mặt đất này, ai có thể hình dung ở Ấn Độ lại còn cảnh tầng lớp tiện dân bị bắt ăn phân người!

  • hải đăng viết:

    Kính gửi chị (cô) Nguyễn Thị Tú,
    Rất thích thú khi đọc bài viết của chị.Chị đã đến Pune và ở đây năm tuần và rồi cống hiến cho đọc giả những dòng viết thú vị.
    Ông Trần văn Thọ bảo rằng chị “nhìn hơi khắt khe” về xã hội Ấn và tôi thấy rằng điều ấy có phần đúng.
    Thú thực, tôi hiện đang học tại Pune. Pune là một thành phố khá thanh bình của bang Maharastra. Nếu so sánh với Delhi, Mumbai, Veranasi, hay Cankota…thì Pune là thành phố nhỏ hơn, tuy nhiên nó sạch, trong lành và mát mẻ hơn. Nếu như ở Delhi đường phố (chỉ ở những khu dân cư)thường dơ bẩn bởi rác rưởi và phân bò, thì ở Pune phố xá thường sạch sẽ hơn. Ở đây cũng có bò đi rông, nhưng chỉ là thỉnh thoảng, chỉ khi chúng xông chuồng.
    Có lẽ do chỉ có 5 tuần ở Pune mà “hầu như chỉ quẩn quanh ở mỗi cái góc nhỏ lọt thỏm trong những dãy nhà tăm tối nghèo nàn giữa thành phố Pune ồn ào sôi động” nên chị đã có một cái nhìn hơi “khắt khe” và chưa thấy được cái hay cái đẹp ở nơi đây (?)
    Xã hội Ấn, nếu mình tìm điều hay điều tốt, có rất nhiều; nhưng để tìm những điều trái ngược lại (thường chủ quan), thì cũng vô số.
    Ba năm trước khi đến Ấn (lúc đầu tôi ở Delhi), tôi đã phần nào bị “shock” khi thấy điều kiện vệ sinh và lối sống của người dân ở đây. Nhưng một thời gian sau, tôi đã có những suy nghĩ khác.
    Lối sống của người Ấn có nhiều điều đáng để phàn nàn (phàn nàn vì tôi đang đứng từ một “thế đứng văn hoá” khác để đánh giá), nhưng có nhiều điều đáng để mình nể phục.
    Ở nơi tôi ở, vào buối tối, người dân chẳng cần chốt cửa ngõ, xe máy xe hơi dựng dọc đường phố, khoá cũng được mà không khoá cũng chẳng sao, mà chẳng khi nào bị lấy cắp, thấy mới hay làm sao!
    Ra đường chẳng mấy khi thấy xe đụng nhau, thấy người đánh lộn, say sưa chửi bới, thấy cũng hay làm sao.
    Đi mua đồ chẳng mấy khi bị nói thất giá, chẳng mấy khi bị lừa đảo … mới hay làm sao.
    Chim muông hót ríu rít, đậu đầy nóc nhà, sân nhà, chẳng ai xua đuổi, bắn giết … mới hay làm sao!
    ….
    Nói chung là những điều hay như vậy khó có thể kể hết, và những “điều hay” này hẳn có giá trị “phổ quát” phải không chị, vì tôi nghĩ những điều như vậy nếu đặt vào xã hội nào cũng đáng được ca ngợi cả.
    Thật khó viết ra hết được nơi đây những gì muốn viết sau khi đọc xong bài viết của chị. Thôi thì vài dòng chia sẽ cùng chị cho vui vậy.

    Kính chúc chị sức khoẻ
    Cám ơn BBT Damau

  • Hong Tam viết:

    Vài dòng gửi bạn Hải Đăng:

    Bạn thấy Pune trong lành, mát mẻ, sạch sẽ, trung thực, trật tự, nhưng chị Nguyễn Thị Tú thấy nhiều nơi còn trong lành hơn, mát mẻ hơn, sạch sẽ hơn, trung thực hơn, trật tự hơn thì sao? Bạn không thấy bò thả rông, nhưng chị ấy thấy bò đi rông thì sao. Bạn thấy những điều hay “có giá trị phổ quát” (tôi mượn chữ của bạn đó), nhưng chị ấy không thấy thì sao.

    Mỗi người có cái mắt nhìn, cái tai nghe, cái miệng nói, cái mũi ngửi khác nhau. Thí dụ như bao nhiêu thi nhân đất Bắc hết lời ca ngơi mùi thơm của hoa sữa trên đường phố Hà nội, nhưng riêng tôi thú thực tôi thấy nó hôi, thối, mỗi lần ngửi thấy nó là đến khổ cho cái mũi của tôi. Nhưng tôi vẫn phải tôn trọng ý kiến của người khác.

    Bí Ẩn Ấn Độ đề cập đến những căn nhà tăm tối, những dãy phố nghèo nàn, những tầng lớp tiện dân, những người hijras thấp cổ bé họng bị kỳ thị, những mảnh đời nô lệ, những luật lệ hà khắc, những quan điểm cực đoan, những kẻ trưởng giả mà xã hội nào cũng có. Chẳng lẽ xã hội Ấn Độ không có những chuyện này sao?

    Tôi thiển nghĩ đã cầm bút mà có cái nhìn khắt khe hay thiên vị, thì sớm muộn gì bài viết của mình cũng bị khai tử. Tôi nhớ đến câu thơ Tố Hữu “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng” Nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt nam mình lên cao được mấy trượng rồi?

    Với tôi, bài viết này chẳng có gì là “khắt khe” cả, nếu không muốn nói là tác giả dũng cảm phản ánh những điều chúng ta không thường nghe về Ấn Độ. Có lẽ còn ối chuyện “bí ẩn” khác ở đất nước ấy mà tôi tin rằng tác giả còn chưa nhìn thấy hết nữa.

    Hong Tam

  • hải đăng viết:

    Thưa bạn Hong Tam,
    Trước hết phải xin lỗi bạn vì cái comment của tôi đã làm cho bạn nổi “sân”. Tôi đã không có ý muốn gây ra điều này. Nhưng không sao, phẫn nộ thay cho bạn bè là một điều hay(vì bạn và ta tuy hai mà một, nên văn bạn và văn ta rất giống nhau!)
    Đúng như bạn nói, mỗi người có cách nói, cách nghe, cách ngửi riêng, và đôi lúc có cả cách không có mà nói cho có riêng nữa. Nó không ở đâu xa đâu, quanh quẩn đây thôi. Chán nhất cuộc đời này, khi mình chỉ biết một chút xíu à, mà dựng lên đủ thứ chuyện như mình biết nhiều lắm.
    Còn bạn muốn biết Việt Nam hiện nay cao lên mấy trượng, thì xin về Việt Nam mà hỏi. Hỏi tôi là bị nhầm người rồi. Mà có hỏi thì nhớ hỏi lén thôi nha.
    Sự thực là tôi đã không hiểu tới cái “ẩn ý” của bài ký. Nó sâu, nó xa và nó thậm thâm vi diệu quá đỗi; từ đâu bên nam á băng qua tới đông á. Nếu biết đây là bài ký lấy chuyện Nam để nói chuyện Đông thì tôi đã viết comment khác đi rồi, đại loại là hoàn toàn đồng ý với “quan điểm” của bài ký. Thiệt tình!

    Xin lỗi BBT Damau vì đã 2 lần làm phiền ở bài viết này. Tôi hứa sẽ không làm phiền lần thứ 3.

  • vanthanh viết:

    Tôi nghĩ đây chỉ là một phần sự thực xảy ra tại đất nước này, có lẽ ai đó sẽ thất vọng về những gì mà các guru không thể kiểm soát được sau tất cả những gì mà họ ước vọng

  • Hong Tam viết:

    Thân gởi Hải Đăng:

    Đọc được lời góp ý của bạn bữa qua – Thứ Hai – đầu tuần bận qúa, công việc trong sở làm thì lu bù, về đến nhà thì vợ la, con khóc, thiệt là một ngày tả tơi hoa lá. Bữa nay mới viết lại cho bạn đươc.

    Bạn viết cho tôi nghĩa là hai người Bạn và Tôi đang có một cuộc bút đàm nho nhỏ với nhau, vậy mà tự nhiên bạn tự xưng là “Ta” làm tôi chợt nhớ lại những bài giảng về “Ta và địch”, “Ta nhất định thắng, địch nhất đinh thua” của giáo viên chính trị khi tôi còn ngổi trên ghế nhà truờng.

    Ban viết “không có mà nói cho có” “biết một chút xíu à, mà dựng lên đủ thứ chuyện như mình biết nhiều lắm” Tôi không rõ ý bạn muốn ám chỉ ai. Nếu bạn ám chỉ tác giả Nguyễn Thị Tú thì sao bạn không viết đi, những độc giả hèn mọn và đói khát như tôi, luôn chân trọng những những sản phẩm tử tế và trung thực của những người cầm bút. Nếu bạn ám chỉ tôi, thi xin bạn bớt chút thì giờ vàng ngọc viện dẫn ra những bằng chứng.

    Theo thiển ý của riêng tôi thì Việt nam mình vẫn thuộc vào những quốc gia lạc hậu. Bởi vì chúng ta chưa có một nền dân chủ đa nguyên, chưa có một hệ thống pháp quyển. Một khoảng cách khổng lồ giữa người giàu và người nghèo. Tham nhũng trở thành quốc nạn. Đạo đức suy đồi. Quan hệ giữa người với người băng hoại. Chi gái, em gai, rồi đến lượt con gái chúng ta đang trở thành những nô lệ tình dục cho đàn ông nuớc ngoài. Nạn nạo phá thai ở phu nữ là cao nhất thế giới. Nạn hút thuốc, uống rượu ở đàn ông Việt nam cũng cao nhất thế giới. Cả nước ta không có một trường Đại học nào được xếp hạng. Còn nếu như Hải Đăng thấy Việt nam đang ở “đỉnh cao muôn trượng”; “đỉnh cao trí tuệ”, thì tôi vẫn tôn trọng ý kiến của bạn.

    Hong Tam

  • yumi viết:

    Bài viết Bí Ẩn Ấn Độ hay quá, xin cảm ơn tác giả rất nhiều. Vì tôi đang quen người bạn người Ấn Độ nên đang tận dụng mọi cơ hội để tìm hiểu về đất nước này. Nó quả thật bí hiểm vì hình như  người ở đây cứ lầm lũi làm sao ấy. Tối hôm khi đi ăn tối cùng anh chàng người Ấn Độ, anh cũng nói về sự tích con bò ở đất nước anh giống như nhưng gì tôi tìm hiểu trên báo chí suốt những ngày qua, nhưng quả thật tôi vẫn không hiểu nổi tại sao chúng (những con bò) lại được đối xử quá thần tượng như thế, nó còn được xem trọng hơn con người. Anh chàng nói vào những ngày hè trời nóng bức, gia đình anh mang một cái quạt máy rất lớn vào chuồng bò để quạt cho chúng nó, trời lạnh thì mang mền đắp cho chúng, đi đâu anh cũng chào hỏi nó đàng hoàng. Và anh nói một điều mà tôi ngạc nhiên hết sức, con bò được xem giống như Mẹ đẻ…>”<…Mèn ơi…Tôi hỏi vậy khi mấy con bò đó chết thì sẽ thế nào, anh nói là họ sẽ chôn cất nó như con người hoặc sẽ để cho chim đến ăn vì người Ấn cho rằng khi chim đến ăn xác bò thì sẽ mang linh hồn của chúng lên thiên đàng. Tôi không dám nói ra nhưng lòng thầm nghĩ, giá như được  mang về Việt Nam chắc tôi mang ra chợ bán là thành tỷ phú rồi, hoặc để dự trữ ăn hàng ngày thì tôi đâu phải thèm đến như vầy. Nghĩ sao mà phí phạm quá! hixhix…Cái số con bò bên đó sướng, nghe giọng điệu, ánh mắt, nụ cười của anh bạn người Ấn khi nói về con bò mà sao rạng ngời hạnh phúc quá…Tôi cũng thuộc dạng người hay nói lung tung nên buột miệng nói với anh ấy: “Nghe xong muốn trở thành con bò bên đất nước của anh quá”…hixhix…không biết anh có hiểu được suy nghĩ của tôi không. Vì tôi đã đọc khá nhiều thông tin về đất nước và con người Ấn nhưng tôi vẫn giả bộ ngây thơ hỏi anh rằng: “Nếu được miêu tả bằng một câu về Ấn Độ, anh sẽ nói gì?”, anh bạn tội trả lời : “Không thể dùng một từ để miêu tả về Ấn Độ”, rồi anh đưa ngón tay ra đếm, anh cố tình nói thật nhanh như để tôi không nghe thấy, nhưng may thay tôi cũng nghe được 1 từ : Stupid, … rồi anh nói rằng : “Anh phải bảo vệ cho India, nên anh không nói nữa”…Tôi phải từ hỏi anh hết về đất nước bí ẩn này thôi ..hihihi

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)