Trang chính » Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Đẻ sách – Chương 5: Độc giả ăn tác giả – Thư của độc giả Do Ngoc gửi tác giả Đẻ Sách

0 bình luận ♦ 13.08.2009

 

 

 

“Chào Đỗ Quyên – tác giả Đẻ Sách,

Tôi, độc giả Do Ngoc. Danh xưng cũng làm bút danh luôn. Liệu đó có thể xem là một trong các chỉ dấu nhỏ phân biệt giữa độc giả và tác giả? Nếu Đỗ Quyên chịu thế, chúng ta sẽ nói kỹ về chỉ dấu nhỏ này, rồi chuyển ngay sang các chỉ dấu lớn, mà bỏ qua các chỉ dấu nhỏ khác. Những cái nhỏ thường an trú trong phận của nó hay phận các cái nhỏ khác. Trong khi những cái lớn thì không thế. Cái lớn luôn không yên ổn. Vấn đề đâu phải do kích thước, mà là quan niệm tồn tại.

Người Việt mình ra các nước Âu-Mỹ, thú vị nhất phải nói là tên họ đệm cứ cởi tung ra. Không biết với Đỗ Quyên thế nào, chứ tôi phải mất nhiều năm mới thấy được đó chính là cái thú, cái vị cho người Việt xa xứ. Cả mấy ngàn năm đóng đai trong một trật tự họ đệm tên, bố bảo cũng không dám suy suyển. Thế mà ụych một cái, thằng Tây con Đầm cứ vô tư xáo trộn lộn tùng phèo danh giá của chúng ta, đến mức ngay như tôi — danh không có đệm, họ thì giản đơn hai mẫu tự tròn tròn — mà cũng không nhận ra. Ngoc Do? Tên của thằng bỏ làng nào đấy, đâu phải là mình? Đâu còn là các con tự ông bà thầy cha bác mẹ mình nâng niu chọn đặt với bao ý nghĩa cao vời trong những mộng ước thượng đỉnh cho cuộc đời mình, dòng tộc mình? Lần đầu tiên nhận về cái mớ tên họ bị bọn mũi lõ mắt xanh cho lộn tùng phèo, tôi sốc. Song, thú thật, chỉ giây lát thôi, và bỗng thấy lo thay cho một người mà tôi vừa mới được một lần chạm mắt liếc trộm tên — Tôn Nữ Hải Phụng Kim Hương — rồi xa cách ngàn khơi. Ngoài tội trộm, cái liếc đó còn căn tội trượt. Liếc là liếc cặp mắt của nàng. Cố tình. Nàng chịu hay không chịu, tôi cũng không hiểu. Chỉ biết nàng đong đưa hai con mắt, khiến cái liếc lúng túng của tôi trượt xuống quyển passport và ôm ghì lấy dòng chữ mang đầy đủ mớ ba mớ bảy họ tên nàng. Hương ơi, giờ này Hương ở nơi nào? Hương đã thấy thú, thấy vị chưa với sự nhung nhăng của danh phận khi thân thể Hương xa rời quê nhà? Hay ngần ấy năm trời Hương vẫn còn ngậm ngùi bên đống gia tài của mẹ của cha bị đảo tung lên trên đất người? Đỗ Quyên, là nhà văn, may ra còn danh tiếng, tiền bạc một ngày nào đó kéo về với tên tuổi, nên chắc vậy phải giữ gìn vết tích dân tộc qua vài ba cái dấu thanh điệu để ôm ấp danh tiếng, tiền bạc. Do Ngoc, tôi trần trùng trục vậy thôi. Đã cởi mở tên tuổi, đã tung phá danh phận trên khắp bốn phương trời mười hai phương đất thì cho nó đi luôn! Hết cả huyền sắc ngã nặng! Đỡ rối mắt dân bản xứ! Khỏi vướng lòng kẻ tha hương! Làm độc giả vô danh, chúng tôi không phải gìn giữ nhiều. Như các tác giả, dù vô dẫu hữu danh. Các vị đã chịu vác cây thánh giá “tác” của Thượng Đế ngôn từ trên bàn tay mình. Cơ khổ đấy! Công nghiệp đấy! Ráng mà tác thành tác tạo cái gì cho xứng danh tác. Bằng không, nói thiệt lòng, vứt xừ nó đi cho khỏe! Văn chương là cái có lẽ duy nhất không ai bắt ai phải đeo đuổi. Và ai cũng có thể rũ bỏ văn nghiệp vào bất kỳ lúc nào. Mà cũng có lẽ chính bậc tự do kỳ lạ đó đã ràng buộc các tác giả ở lại?

“Một vị tướng miền Nam, thiếu tướng Nguyễn Văn Chức, khi sang Mỹ, tức là Chuc Nguyen, Chuc V. Nguyen hay là Chuc Van Nguyen, đã khẳng khái cải danh thành Chuck Van Nugent. Rất tiếc, đại tướng Lê Văn Tỵ không còn sống, chứ ra ngoài nước ông đã có thể cải danh (Ty Le-Van) oai hùng thành… Dan Le-vy chẳng hạn để ví von tài cầm quân của ông với lại Moshe Dayan?” [1]

Người-sống-chung bao năm nay với tôi đã bỏ dấu cho danh phận của tôi: Đồ Ngốc. Tôi vui vẻ chấp nhận. Có ai mà không là khờ ngốc trước người-sống-chung? Chỉ có điều không ai đã ngốc hóa mình đến cùng như tôi. Đỗ Quyên có người-sống-chung không nhỉ? Hỏi về người-sống-chung không phạm luật lịch sự Tây phương như hỏi về vợ chồng, okay? Giả đò chuyện nhà chuyện cửa cùng người đối thoại trong lần đầu tiên, ấy là tôi cũng cho Việt tính của mình leo quá ngọn cau, như nhân vật Đồ Râu ở chương 2. Thề rằng, từ sau câu hỏi trên, cứ cho là Đỗ Quyên tam phu ngũ phụ, có người-sống-chung hay có người-chết-chung hay không, tôi mặc lòng, trên phương tiện cá nhân. Tôi chỉ buộc lòng tôi — thông qua các điều trình bày và cậy đăng dưới đây — với tiểu thuyết Đẻ Sách và với tác giả Đẻ Sách. Nói cho hết: Nếu một mai Đỗ Quyên đi đẻ các thứ khác, tôi cũng mặc lòng. Tất nhiên, nếu đẻ ngon lành như Đẻ Sách thì lại là chuyện khác. (À tiện hỏi, độc giả chúng tôi thấy cánh tác giả hay thập thụt dền dứ về dự kiến in sách hay nói trước sự viết. Như là một mê tín của nghề viết… Sao vậy?) Nếu một mai còn dở dang Đẻ Sách Đỗ Quyên bị đổi thành, xin lỗi, ví dụ, Đỗ Quéo, lòng tôi cũng mặc; miễn Đỗ Quéo là tác giả Đẻ Sách, dù là của các phần sau; còn Đỗ Quyên là tác giả ở các phần trước. Khác với một bài thơ, tên tuổi của tác giả một truyện ngắn, một cuốn tiểu thuyết không can dự mạnh mẽ vào ấn tượng của người đọc nhiều lắm. Ta vẫn có thể cầm đọc cho tới hết một pho tiểu thuyết bị rách mất trang bìa mang vác tên tác giả, miễn là các trang văn đó thu phục lòng ta. Ta thấy bất an làm sao trước một bài thơ, dù chỉ năm-bảy hàng, bị chặt cụt tên tác giả, khiến ta không buồn dành dù chỉ một góc lòng thưởng thức nó.

Tôi đã đọc các trích đoạn tiểu thuyết Đẻ Sách ở những tạp chí như Truyền Thông, Chủ Đề, Tạp Chí Thơ, truyen-thong.org, damau.org, maivanphan.com, giaiphamchude.net… Các trang văn này không mách chỉ giới tính của tác giả (có hình ảnh tác giả đấy nhưng thời nay ngu gì mà tin vào hình ảnh!), nên tôi đã không để các chữ vô lối vô tình Ông/Bà/Anh/Chị/Cô/Cậu ở trước tên Đỗ Quyên. Tôi thấy vậy là họ — các tạp chí, website — chơi đẹp với Đỗ Quyên đấy! Tại sao việc tác giả không rõ ràng tuổi tác lại dễ được mọi người chấp thuận hơn việc tác giả không minh bạch giới tính? Tôi không đồng ý với sự bất công này! Tôi bảo vệ quyền tác giả phi giới tính, như một trong số các tác giả quyền vậy.

Bật mí để Đỗ Quyên hiểu Do Ngoc tôi vừa có một đồ là không hề ngốc chút nào: Cuối năm vừa qua, ăn theo hai mạng damau.orgtienve.org (danh xưng Nhóm Văn Nghệ Sĩ) mời ký tên vào Tuyên Cáo Của Người Việt Nam Yêu Nước (chính xác ra phải gọi là yêu Quần Đảo) để phản đối và lên án chính quyền Trung Quốc xâm lược lãnh thổ Việt Nam tại Trường Sa và Hoàng Sa, chính tôi chứ không ai khác đã thu thập được một mớ chữ ký của các vị yêu quần đảo của tổ quốc nhưng cũng rất yêu lãnh thổ của giới tính để gởi Văn Bút Quốc Tế đòi bảo vệ quyền phi giới tính cho tác giả. Ai cũng rành rằng, nói chung xưa nay kết quả của các thỉnh nguyện thư — lại là thỉnh nguyện thư gởi tới chính quyền, ở vụ này lại là chính quyền Trung Quốc — giống như ném đá xem tăm. Nhưng hòn đá yêu Nước yêu Quần Đảo của dân Việt ở trong cũng như ngoài lãnh thổ Việt Nam dịp này được liệng ra rất ngoạn mục, từ cuộc Đệ nhất biểu tình sáng ngày 9/12/2007 với gần hai trăm sinh viên, văn nghệ sĩ, ký giả trước Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại Sài Thành; và cũng tương tự tại Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Thành. Thành ra bảo là tăm cũng đúng, kêu là sóng cũng trúng: Tăm lăn tăn trong chuyện quần chuyện đảo; Sóng cả trong việc tổ việc quốc. Quả nhiên, vừa lăn tăn vừa sóng cả. Lăn tăn: Trường Sa và Hoàng Sa vẫn trơ gan trong Tam Sa của Tàu; Sóng cả: đúng một tuần sau, sáng 16/12 diễn ra trước ánh sáng mặt trời Đệ nhị biểu tình với ngót ngàn người ở Hà Thành và gần trăm sinh viên ở Sài Gòn. Rồi Đệ tam biểu tình ngày 9/1/2008 nữa, không hoành tráng (vì bị dập tắt ngay) mà vẫn ấn tượng (quá tam ba bận)…

“talawas: Ông có lời khuyên gì cho những người Việt Nam quan tâm đến vấn đề này? Đặc biệt, trong những ngày này, khi lần đầu tiên có những cuộc biểu tình tự phát chống bá quyền Trung Quốc diễn ra tại hai thành phố lớn Hà Nội và Sài Gòn? (…)


Vũ Tường: Tôi nghĩ người Việt Nam nên bình tĩnh thảo luận vấn đề để tìm ra một giải pháp lâu dài. Đây không phải là một vấn đề mới, cũng không phải là vấn đề gấp gáp. (…) Dù chúng ta không nên phóng đại vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng chính phủ Việt Nam không nên và không có quyền cấm đoán dân chúng biểu tình hay giấu giếm thông tin về quan hệ Việt -Trung. (…) Sau suốt một thập kỷ chiến tranh dai dẳng với Trung Quốc, chính sách hiện nay của Việt Nam với Trung Quốc rất khó hiểu. Cũng có thể đây là chính sách khôn ngoan, nhưng nhân dân Việt Nam cần được giải thích rõ ràng tại sao như vậy, vì họ đã và sẽ phải trả giá cho những quyết định thiếu khôn ngoan bằng chính xương máu của họ” .[2]

Chuyện Tàu, chuyện Trường Sa và Hoàng Sa cứ để đó… Về thỉnh nguyện thư giới tính của tôi, Văn Bút hồi đáp ngay rằng quá bận vụ văn sĩ bị đàn áp ở các quốc gia độc tài nên chưa thể quan tâm đến chuyện giới tính văn sĩ. Rõ ràng không chỉ là sự sỉ nhục Thượng Đế mà còn chà đạp lên con của Người: Con người. Một khi con người không định vị xong xuôi chuyện giống tính đực cái hay không đực không cái thì sống cũng như chết. Chỉ có cái chết mới là nơi các giống loài có giới tính bình đẳng về giới tính. (Các mợ lãnh tụ nữ quyền đâu rồi, có nghe lời Ngốc nói không?) Nếu như nền độc tài nào đó siết chặt tự do ngôn luận, tự do sáng tác mà lại mở rộng tự do giới tính, tôi hô nền độc tài đó muôn năm ba lần. Song le, bao năm qua tôi vẫn chưa hô lên được một lần, vì không có nền độc tài nào chịu như thế. Họ khăng khăng không chịu nới rộng dây thun quần, mặc dù có lúc này lúc nọ cho mở miệng hoặc cởi trói tứ chi. Họ khôn lắm, khi biết chính cái tự do giới tính là tiêu chuẩn tiên khởi cho các dòng tự do khác tuôn trào theo. Thật ra, Liên Hợp Quốc đã có điều khoản này trong Công ước Quốc tế 1948 về các Quyền tự do rồi, thế mà độc giả chúng tôi không thể hiểu sao bên tác giả của Đỗ Quyên còn xì xụp với món ăn giới tính tác giả như chó quê mê cứt trẻ vậy?

Hỡi các tác giả, chúng tôi — độc giả — rất ghét việc phân loại dòng văn học gái trinh, nền văn xuôi nam thanh niên; phong trào thơ gay, phương pháp truyện ngắn lesbian… Ối mẹ ối chị em gái ối bạn gái ối sếp gái ối hàng xóm gái của tôi ơi, tới giờ này mà giữa nước Mỹ văn minh (vụ này khỏi phải chứng minh!) và kỳ cục (tháng tháng lại có vụ bắn súng chơi người chết thiệt!) vẫn có các ấn bản như

“Tuyển tập thơ song ngữ Nàng Thơ Ngạo Mạn: Thơ Phụ Nữ Từ Thượng Cổ Đến Hiện Đại (The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poetry from Antiquity to the Present), vừa được xuất bản trong trung tuần tháng 8 năm 2007, với sự cộng tác của hai nhà xuất bản Feminist Press của viện đại học thành phố Nữu Ước (The City College of New York) và Nhà Xuất Bản Phụ Nữ, Hà Nội, Việt Nam.” [3]

Tôi dị ứng nhứt cái chữ “Feminist” ở tên sách đó. Một khi đã phải réo gọi đến “Feminist” tức là xã hội đẻ ra cuốn sách đó đang cóc có “Feminist”! Đinh Từ Bích Thúy, cho phép Ngốc tôi nhái Nữ Quyền Dép Râu của chị thành thành Nữ Quyền Tháp Đôi nha? Vâng! Ba bảy cái sự phân loại đó chỉ mang ý nghĩ thống kê, trong các hồ sơ đóng hòm của giới văn học sử. Lạy Chúa! Văn học sử đích thị là một bộ môn lại giống rồi, văn chửa thành văn, sử chưa nên sử; nó mặc sức áp dụng các thuật ngữ trong đời sống như cầu tiêu trai, xu chiêng nữ, laptop đàn ông, ly con gái vào các phương pháp luận của mình. Thế nhưng, thi pháp văn học mà vậy là tịt giống! Mỹ học của nghệ thuật mà vậy là hết đường sinh nở! Khi muốn giới tính hóa thi pháp, người nghiên cứu có hậu ý thắt tinh tác phẩm. Để có ví dụ một lần cho mãi mãi, buộc lòng tôi phải đàn bà con gái ngồi lê kể chuyện kiếp trước — cái kiếp văn học nô lệ giới tính, từ nửa mình trên thế kỷ 20 kéo dài đến hậu môn của thế kỷ đó:

“Ẩn dụ tương đồng cây viết và dương vật này là quan trọng, Gilbert khẳng định, vì ẩn dụ ấy khiến chúng ta có thể nghĩ đến quá trình viết lách, và khả năng sáng tạo nói chung. Bằng cách nối liền khả năng viết với chuyện có dương vật, những tác giả này khẳng định rằng viết, và sáng tạo, là một hành động sinh học, một hành động bắt nguồn từ cơ thể — đặc biệt là cơ thể đàn ông. Bài viết (…) là một trong những ẩn dụ có ảnh hưởng lớn về sáng tạo trong văn hóa phương Tây, cho người viết nam lẫn nữ.

Chúng ta có thể phê bình lập trường này khá dễ dàng — làm sao những người đàn ông này có thể nghĩ rằng dương vật là mô hình thể chất hay vật đồng nghĩa của sự sáng tạo, vì nói rằng sự sáng tạo đến từ cơ thể nữ cũng có vẻ “hợp lý” như thế (và rõ ràng hơn), vì cơ thể nữ thực sự sinh sản? Nhưng đấy chính là điểm Gilbert muốn nói: trong suốt lịch sử văn hóa phương Tây, phụ nữ bị giới hạn trong vai trò sinh nở, là mẹ của con người; trong lúc ấy, đàn ông đã quan trọng hóa sự sáng tạo của họ như là người “sinh ra,” như là cha/người truyền giống, của những điều bất tử như sách, và không liên hệ đến những sinh vật sẽ chết (như con người). (…)

Gilbert kết luận rằng việc loại bỏ phụ nữ ra khỏi công cụ của nghề viết có nghĩa là các tác giả nữ đã tìm ra những phương thức khác để viết—nếu họ không viết bằng cây viết/dương vật, thì họ viết bằng cái gì đây? Có lẽ bằng sữa, bằng máu, trên lá và vỏ cây. (…)

Khái niệm này, rằng cấu trúc của ngôn ngữ xoay quanh dương vật, tạo ra từ “dương vật tâm điểm.” Ý tưởng của Derrida rằng trong ngôn ngữ lời nói có được trọng hơn chữ viết, tạo ra chữ “lời nói tâm điểm” để chỉ văn hóa Tây phương nói chung. Cixous và Irigaray kết hợp hai tư tưởng này để diễn tả những hệ thống và cấu trúc văn hóa Tây phương là “dương-vật-lời-nói-tâm-điểm,” dựa trên nguyên thủy của những chữ nhất định trong một dãy đối lập nhị phân. Như thế một văn hóa “dương-vật-lời-nói-tâm-điểm” là một văn hóa kết cấu bằng những đối lập nhị phân—nam/nữ, thứ tự/hỗn loạn, ngôn ngữ/im lặng, hiện diện/vắng mặt, lời nói/chữ viết, sáng/tối, tốt/xấu, v.v.—và trong nền văn hóa ấy điều khởi đầu trong những đối lập nhị phân được xem trọng hơn điều đi sau. Cixous và Irigaray khẳng định rằng những điều được xem trọng (nam, thứ tự, ngôn ngữ, hiện hữu, lời nói, v.v.) được xếp chung với nhau, và tất cả cùng nhau tạo nên những cấu trúc căn bản của tư tưởng Tây phương. (…)

Cixous cũng bàn về chuyện viết lách ở mức độ nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. Bà xếp viết lách vào chung hàng với thủ dâm, một điều đối với phái nữ lẽ ra là bí mật, đáng hổ thẹn, hay ngớ ngẩn, một điều không hẳn trưởng thành, một điều sẽ phải bị từ bỏ để đạt được mức trưởng thành, cũng như sự kích thích âm vật sẽ phải bị từ bỏ, thay vào là dục tính trưởng thành của âm đạo/sinh sản thụ động. Nếu phái nữ viết chính mình, Cixous nói, họ sẽ phải đòi (trở lại) một dục tính có tâm điểm nữ. Nếu phái nam viết với dương vật của họ, như Gilbert tranh luận, thì Cixous nói rằng trước khi phái nữ có thể viết họ phải khám phá ra khoái cảm của họ nằm ở đâu. (Và đừng quá nhanh chóng cho rằng phái nữ viết với âm vật của mình. Chuyện không hẳn đơn giản như thế).

Cixous cũng bàn cãi rằng chừng nào phái nam còn chú tâm vào chuyện viết lách bằng dương vật của họ, họ còn chưa khám phá ra mối liên hệ giữa viết lách và dục tính của họ. (…) Cixous tranh luận rằng đa số phái nữ nói và viết, nhưng họ làm thế từ vị trí “nam;” để nói, phái nữ (hay "người nữ”) đinh ninh rằng họ cần một hệ thống ý nghĩa cố định, không đổi, và như thế đã xếp mình vào chung hàng với Dương vật là điều làm ngôn ngữ ổn định. Trước nay chưa từng có hay có rất ít viết lách “nữ,” Cixous nói. (…)

Vì thế Cixous tranh luận rằng chỉ có đàn bà mới tạo ra được viết lách nữ tính, vì viết lách ấy phải đến từ thân thể họ. Và bà tranh cãi rằng đàn ông trong một vị thế cấu trúc nhất định có thể tạo ra viết lách nữ tính. Cixous tạo ra thành ngữ "l’ecriture feminine" (“văn chương nữ,” tạm dịch) để thảo luận khái niệm viết lách nữ tính (và viết lách nam tính, phần tương ứng của viết lách nữ tính trong thế giới dương-vật-lời-nói-tâm-điểm. Bà thấy "l’ecriture feminine" trước hết là một điều chỉ có thể xảy ra trong thơ (trong số những thể loại đang hiện hữu), và không có trong văn hiện thực. Tiểu thuyết (…) là "những đồng minh của chủ nghĩa biểu hiện"—chúng là những thể loại (đặc biệt trong văn chương hiện thực) cố gắng nói loại ngôn ngữ không đổi, ngôn ngữ với những ý nghĩa một-đối-một cố định, ngôn ngữ trong ấy những chữ dường như chỉ ra những vật (và không phải chính cấu trúc ngôn ngữ). Dù thế, Cixous nói, trong thơ, ngôn ngữ được thả lỏng—chuỗi chỉ định từ tuôn chảy tự do hơn, ý nghĩa ít cố định hơn; như thế, Cixous nói, thơ gần hơn với vô thức, và gần hơn những điều bị dồn nén (và như thế gần hơn với thân thể nữ/dục tính nữ).(…) (Dù thế, đáng ghi nhận là tất cả những nhà thơ và người viết "nữ tính" Cixous đặc biệt nhắc đến đều là đàn ông). (…)

Cixous nêu lên câu hỏi về lưỡng tính dục. Một lần nữa, bà bắt đầu từ ý kiến của Freud rằng trên căn bản tất cả mọi người đều là lưỡng tính dục, và rằng quỹ đạo Oedipus đã hướng các bé trai và bé gái vào tính dục không đồng phái là một đòi hỏi không may của văn hóa. Đối với Cixous, "văn hóa" luôn luôn là một trật tự dương-vật-lời-nói-tâm-điểm; lối vào Tượng Trưng đòi hỏi sự phân chia giữa nam và nữ, nữ tính và nam tính, sự phân chia đã đàn áp và dồn nén nữ tính. Nhưng bằng cách xóa đi gạch chéo giữa nam tính và nữ tính, Cixous không ủng hộ ý kiến xưa cũ của Freud về lưỡng dục tính. Thay vì thế, bà muốn một loại lưỡng dục tính mới, "lưỡng dục tính khác", loại lưỡng dục tính "không loại bỏ sự khác biệt giữa hai giới tính, hay loại bỏ một trong hai giới tính"—một sự từ chối người khác như là một cấu trúc phân đôi. Điều cốt yếu là, thay vì chắp vá nam tính và nữ tính vào với nhau, lưỡng dục tính của Cixous sẽ làm tan biến những phân biệt, như thế dục tính sẽ là từ bất cứ thân thể nào, bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. (…)

Nếu đàn bà có thể cho đàn ông thấy khoái cảm thật sự của họ, thân thể thật sự của họ—bằng viết ra chúng trong dạng không biểu hiện—Cixous nói, đàn ông sẽ hiểu là thân thể phụ nữ, tính dục nữ, không liên hệ gì đến dương vật (quá ít hay quá nhiều). Đấy là lý do bà nói chúng ta phải cho họ thấy "tính dục chữ" của chúng ta—một từ mới, kết hợp hai chữ tính dục và chữ viết, ý tưởng về dục tính nữ như là một dạng viết mới. (…)

Rồi bà bàn thảo những cách khác để hình dung sự thai nghén, tranh luận rằng, như những chức năng khác của cơ thể phụ nữ, thai nghén cần được viết bằng “l’ecriture feminine.” Khi thai nghén được viết ra, và trong ngôn ngữ, cơ thể phụ nữ, chứ không phải dương vật, là hình tượng của nguồn gốc sự sống, sự sinh nở có thể có hình tượng khác hơn là một sự chia cách, hay sự thiếu thốn.” [4]

Sao nào, Đỗ Quyên? Phe Helene Cixous hay phe Ngoc Do? Phe nào thì phe, khi một tay Này còn lần mò điểm G hay sửa lại son trên núm đồng điếu, còn cà lật cà lật bao quy đầu hay vuốt râu hùm và mặc mẹ cái tay Kia gò gõ trang văn, thì nhà văn đã dung túng cho hai tội lỗi. Một là hạ văn chương mình thấp hơn sự phân giới loài người của Thượng Đế. Hai là tăng tốc cho cuộc chiến tương tàn bàn tay Này – bàn tay Kia như hồi 8 chương 2 từng tường thuật.

Đồ Ngốc tôi đến mức tự triệt thoái giới tính linh quý bác mẹ sinh thành bằng cách quay mông—Á, không được! Tư thế quay mông thế nào cũng có cơ “sinh chuyện”! Nói lại—quay… gáy vào các phong trào, các đợt vận động viết về tình dục tính dục, về nữ quyền nam lực, về giới tính thứ ba hay giới tính chậm hoặc đang phát triển trên các văn đàn tiền phong nhong nhong như tienve.org, damau.org, talawas.org, Tạp Chí Thơ ở Hải ngoại với các tác giả đã được Hải Dớ kể hết cho Minh Rô-lăng, hay các nhóm Trong nước như (bốn chàng) Mở Miệng, Năm Con Ngựa Trời hiện nay, hay các tác giả thường được Thế Uyên, Nguyễn Văn Lục “ăn theo”—đơn hành từ kiếp trước những là Nguyễn Thị Hoàng, Phạm Thị Hoài… và tam tứ hành kiếp này như Đặng Thân, Lê Thị Thấm Vân, Đỗ Hoàng Diệu, Y Ban… Tôi chỉ phản cảm về sự thổi kèn từ vựng, cưỡi ngựa bút pháp của một số in ít tác giả, lơ thơ vài văn đàn nào đó thôi. Tục ngữ hiện đại chả có câu “Một con tinh trùng sâu làm rầu cả buồng trứng” đó sao! Với các đồng chí tinh trùng này—Ối! Xin lỗi, kiếp trước chúng mình mới đồng chí đồng méng với nhau như vậy!—Nói lại: Với các chú các cô tinh trùng đó, độc giả chúng tôi cảm thấy họ còn bị đề tài hóa tệ hại hơn các bác các thím tinh trùng Hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tôi vừa đọc lại khá nhiều sáng tác phục vụ phong trào Sinh đẻ có kế hoạch, cổ động chiến dịch Hố xí hai ngăn thời đó mà cũng không thấy dơ thúi bằng. Các bạn tác giả ơi! Đề tài trong văn chương là quần vải áo sợi mà thôi, tụt ra choàng vào mấy hồi, như mưa nắng ngoài trời rơi rồi lại rụng trước mái hiên thời gian. Giá trị văn chương, đó mới là cơ thể của bạn bằng xương bằng thịt khỏa thân rực sáng ngôi nhà chữ nghĩa, như mặt trời mặt trăng trong vũ trụ kia. Bạn có mấy mặt trời trong tiểu thuyết? Có mấy mặt trăng thi ca? Trả lời độc giả tôi xem nào! Mở ngoặc: Tôi gọi tác giả là cho gọn, trong đó tính cả người sáng tác và người phê bình. So lòng lại, tôi thật tâm không muốn nói thêm điều này, vì lâu nay chúng ta, người đọc cùng người viết, hễ cứ mó đến giới phê bình y như mở ra hũ tương ế. Nhưng, phải nói thôi. Trót mở ngoặc ra rồi. “Đành lòng vậy. Cầm lòng vậy.” Khi người viết đã phải mở ra dấu ngoặc chở một ý tưởng của mình, khác gì tráng sĩ rút gươm khỏi bao, gái chơi buông rơi váy? Nói này: Càng phản cảm về sự “thổi kèn” từ vựng, “cưỡi ngựa” bút pháp của một số in ít các văn-thi sĩ bao nhiêu, đông đảo quần chúng độc giả nhân dân lao động chân tay và lao động trí óc chúng tôi càng khó ngửi bấy nhiêu về lơ thơ mấy cộng (chứ không phải “cọng”—còn ở “cộng sản” thì lại là “cọng”—như học giả Nguyễn Khắc Kham từng sửa chính tả mà Đồ Ngốc tôi cứ lộn hoài!) phê bình gia ở các diễn đàn sếch-xì nói trên. Thi pháp nghiên cứu của họ rất cơ thể học: Dõi con mắt phê bình (Hi hi, thưa con mắt xanh đấy ạ!) của họ như máy dò chim bướm nơi văn thơ của các tác giả tinh trùng (sâu cũng như không sâu). Họ sẽ có những lời ca tụng, nâng bi tác giả tỷ lệ thuận, thậm chí cấp số nhân, với số lượng câu chữ thô tục và số lượng bộ phận sinh dục dò được. Thoạt tiên, độc giả chúng tôi đúng là đồ ngốc khi thầm phục các nhà phê bình đó. Nhoằng một cái, bài thơ văn sếch-xì vừa đi trên web đã có bài phê bình trích dẫn chỉn chu đầy đặn chạy kèm. Phê bình gia thì phê bình gia chứ, bộ là quỷ râu xanh hay sao mà đôi mắt và hai bàn tay của họ nhanh lẹ bắt sống được cả tiểu đoàn các câu tục tằn vô lối, các đồ nghề nhân tạo và thiên tạo tận tụy trong các trận mần tình vô đạo từ thứ thơ văn vô lối và vô đạo đó? Còn ai trồng khoai đất này nữa! Chính “anh giai” Bill Gates đã chắp tay cho họ: Chỉ cần copy & paste các chữ “l`’, “c.”, dâm thủy, “Đ. nhau”, v.v. vào ô “Find what” của Microsoft Word là các em “l`’, “c.”, dâm thủy, “Đ. nhau”… trần truồng chạy vô phơi mình trong bài của các anh phê bình gia! Đóng ngoặc. Tác giả Đỗ Quyên nghĩ sao? Phe quần chúng đồ ngốc hay phe các tinh trùng sâu? Im lặng.

Tác giả ơi? À, nhân có chữ “ơi”, lại nhớ một người bạn Liên Xô có lần thắc mắc: “Mới nghe chúng mày gọi nhau ‘Hương ơi?’, ‘Hoàng Hùng ơi?’, tao cứ tưởng người Việt chúng mày có họ chung là Ơi? Khác gì chúng tao nói ‘Ivan Ivannovich?’, Lyudmila? Irina?” Thôi thì không ơi nữa! Tác giả này! Nói chung, khi thưởng thức tác phẩm văn học, độc giả chúng tôi không thể chỉ ra nhà văn này theo đang một mình một làn trên xa lộ tân hình thức hay còn lẽo đẽo đuổi bắt đom đóm hiện thực thần kỳ, cũng như không thể đong đếm kịch tác gia kia ấm úng trong dòng Beckett đã bao lâu. Bạn đọc thực ra rất đàn bà, Quyên Đỗ ạ. A, cười rồi! Tưởng còn im lặng… À mà không. Cười vẫn thuộc về im lặng. Một tân hình thức của im lặng. Đỗ Quyên, cười, im lặng, và hãy nghe tiếp! Độc giả đàn bà là ở chỗ ham để ý các động thái, chi tiết hình thành thuộc về giới tính văn học. Độc giả chúng tôi ưa để ý xem tác giả làm việc với cái gì bằng bàn tay Kia trong lúc bàn tay Này đơn phương đả tự. Người chắp bút của tựa “Dăm lời” cho tờ báo ấy viết đến câu “Tháng Tư là tháng ác nghiệt thứ tư” thì cong cong ngón nhẫn hay vo bàn tay hình viên đạn? Chúng tôi biết lắm chứ! Tại câu thơ thứ năm trong bài “Trường ca CV” tác giả đó vê tóc sâu hay rờ râu dê? Chúng tôi biết lắm chứ! Khi ngập ngừng tới một nửa trước của dấu chấm hết truyện ngắn “Đóng hiện tại” người viết cắn móng tay hồng hay nâng ly rượu đỏ? Chúng tôi biết lắm chứ! Trong suốt thời gian chuyển ngữ bài “Ai mà biết…” dịch giả chống cằm hay tựa não trái? Chúng tôi biết lắm chứ! Phút ký tên dưới tranh ‘XXX’ minh họa bìa sau kỳ báo đó, họa sĩ đang vọc cu hay lần bướm? Chúng tôi biết lắm chứ.

Thật ra, nếu Cixous cứ cố chấp theo kiểu đờn bà rằng, người nữ phải viết “văn chương nữ”, nếu Gilbert cứ bảo thủ theo cách nữ giới rằng, sự viết văn—thông qua biểu tượng cây bút—có nguồn gốc từ sự có dương vật, thì tôi không cách gì cãi lại được. Dù ở tôi nguồn gốc đó đang nằm (cong thẳng tùy người đối diện) trong quần tôi lúc này đây. Có lẽ tôi phải mượn đỡ Thuyết bàn tay Này – bàn tay Kia của Đỗ Quyên tại cuộc chiến này với Cixous và Gilbert? Hai quý mợ nữ quyền đó đã nhầm lẫn khi quy đổi phương tiện và hình thức—thể hiện ở các đối lập nhị phân, như nam tính-nữ tính, trái-phải, ngôn ngữ-im lặng, hiện diện-vắng mặt, lời nói-chữ viết—sang mục đích và nội dung của con người, của xã hội, và của văn chương. Nhị quý mợ hoặc là chưa học tới nguyên lý Pauli về sự đối xứng gương trong lý thuyết lượng tử, hoặc là học dở chừng xuân thuyết Âm Dương của Kinh Dịch Đông phương. Việc gì phải nhặng củ kiệu lên mà giương cao mãi mãi ngọn cờ của thuyết nam nữ bình quyền, khi mà bản thân nam nữ đã là bình quyền về nội dung và mục đích tối hậu: Con Người. Không thể chế tạo ra một kết quả là văn học Nam hay văn học Nữ. Chỉ có một văn học Con Người ở cuối mỗi dấu chấm của một bài thơ, một áng văn. Việc tác giả viết ra bài thơ áng văn đó đã không còn ý nghĩa sau khi bài thơ áng văn ra đời, thì thằng này con kia, ông nọ bà ấy là tác giả lại càng khỏi cần tính đến. Viết bằng con cu hay bằng cộng tóc lông, tóc trên đầu hay lông cửa mình, đâu có gì là trọng? Như bàn tay Trái bàn tay Phải. Đó là trái là phải của nhân loại đi bằng chân. Còn trong thế giới quan, nhân sinh quan đi bằng đầu, thì phải lại thành trái. Ngôn ngữ hay Im lặng, Hiện diện hay Vắng mặt—đều phụ thuộc vào hệ quy chiếu nào đó mà thôi. Ai dám bảo các nhà sư ngồi đó là im là lặng? Người Việt hải ngoại có vắng mặt trên quê hương không? Câu trả lời đã có. Chính thế, nhị mợ Đầm ạ, trong Kinh Dịch chúng tui, tính Âm chất Dương luôn chứa trong nhau, chan vào nhau, đứa nổi lên kẻ chìm xuống nhưng không khi nào hiển hiện một cái Âm thằng Dương đơn lẻ. Túm (lai quần chị Út Tịch) lại, tôi thấy phí cho cái lý thuyết văn học hậu cấu trúc trong tay người đẹp Helene! Các sáng tác lạm dụng giới tính mà tôi vừa nêu trên của các con tinh trùng sâu chột trong văn đàn tiền phong Việt Nam, và cũng như thế giới, không hề—vì không thể—sinh sản ra một loại văn học nào như một số ông bà chủ báo thường nống lên là “văn chương tình dục”, “văn học kích dâm”, v.v. Giản đơn, chúng chỉ là các bãi đáp đơn lẻ, những câu thơ những đoạn văn như là nơi tạm cư cho các tên gọi thông tục hay chính thống của các chi tiết, sự việc, bộ phận phục vụ cho sự làm tình giữa những con người. Nói giọng chì chiết Bắc Kỳ, đó là Giả văn học. Hồ Điệp (trong Thu Tứ, damau.org 27/8/2007) và Lê Minh Hà (Không Nhìn Một Hướng, diendan.org 26/08/2007) ắt là không phải các chiến binh của Lệ Xuân Cixous, nên hai truyện ngắn đó đã là… văn học!

Đỗ Quyên đâu rồi? Đẻ Sách chứ có đẻ Giời cũng cứ để đó, xếp gập bàn văn lại mà nghe ý kiến quan trọng nữa của “Thượng Đế – Độc Giả” này! Khi tiện nói giùm với giới tác giả rằng, tương quan tính dục nam-nữ thật ra không phải là Quan hệ nhân quả như theo suy nghĩ của người phương Tây; mà đó là Nguyên lý đồng thời tương ưng luận như lối suy tư phương Đông. Vấn đề của nam nữ là xuất phát từ “không quan hệ nhân quả” và “ý nghĩa giống nhau hay tương tựmà ra. Muốn đi tìm tính bình đẳng nam nữ (trong văn chương) á? Hãy chịu khó mất công săm soi vào hai quan niệm trên, chứ không nên đánh mắt vào chỗ giao nhau của hai cái chân mà có kiểu suy luận chim bướm rằng, hễ viết văn bằng dương vật thì là văn đờn ông; và ngược lại! Jung vĩ đại lắm, đừng tưởng đùa khi ổng đã hạ bút (nhấn mạnh: bút chớ không phải dương vật!) định nghĩa:

“Tương phù có ý nghĩa (meaningful coinci-dence) là trường hợp hai biến cố xảy ra đồng thời, nhưng biến cố này không sinh xuất từ biến cố kia và chúng không cùng chung một nhân. Không quan hệ nhân quả nào giữa hai biến cố đồng thời tương ưng tuy chúng nối kết nhau, một nối kết vô nhân (acausal connection). Hơn nữa, sự tương phù ở đây không phải là tình cờ, ngẫu nhiên. Đây là trường hợp tương phù có ý nghĩa giữa một trạng thái tâm thức (psychic event) và một biến cố ngoại giới (external event).” [5]

Ví dụ dễ nhất là ở ba truyện ngắn của Đặng Thơ Thơ—trên damau.org và tạp chí Văn—Người Vợ Khổng Tử Và Cô Giáo Nữ Quyền, Mở Tương Lai, Em Sẽ Yêu Anh Mãi Mãi, bạn đọc chúng tôi không thấy tác giả xưng xưng nói lên nữ tính của mình, mà đó như là thể hiện sự trăn trở quyền lựa chọn giới tính trong các sự kiện cụ thể; nói cho oai là hoàn cảnh lịch sử. Riêng ở Mở Tương Lai cái lịch sử 30/4/1975 nó khốc liệt quá trời quá đất, khiến sự lựa chọn giới tính phải nhường chỗ cho sự mơ làm người. Làm người nói chung—trong thời khắc nào đó—cần hơn làm đàn ông hay đàn bà. Thưởng lãm những đoạn nhân vật tôi (Thơ Thơ) và nhân vật Nguyễn Hương yêu nhau, độc giả không biết họ ở “giống” nào. Chúng tôi, thú thiệt, không còn tò mò—như văn hào Gorky tuổi còn thơ giơ các trang văn kỳ diệu lên ánh mặt trời—hòng đi vòng ra sau trang văn để tầm tra xem họ có là lesbian hay không. Với các truyện khác, ở các tác giả khác thì phải thú thật là độc giả chúng tôi hay có cái thói “Gorky thời còn bé” lắm. Thì cũng tò mò mà thôi, xin các tác giả thể tất. (Không tò mò thì không thành độc giả!) Người Vợ Khổng Tử Và Cô Giáo Nữ Quyền là truyện về giới tính ở mức triết lý; giản dị mà thâm sâu. Không triết lý sao được, không giản dị mà thâm sâu sao đành! Cụ Khổng đọc không vô là đêm đêm cụ kéo cẳng. Hỡi Đặng Thơ Thơ, nàng có bị Khổng tiên sanh kéo co gì chăng? Ở chương trước của Đẻ Sách, chúng ta nhìn nhận truyện này khi nói đến vai trò của ngôn ngữ trong giới tính. Thật ra, độc giả chúng tôi không ham vụ nữ quyền lắm đâu, các tác giả ạ. Bảo chúng tôi buông sách xuống đường biểu tình cho nữ quyền thì xong ngay, chúng tôi lao xuống hè phố với cả bàn chân trần. Nhưng khi chúng tôi là con mèo trong tấm chăn chữ nghĩa mà cứ bắt tim, mắt chúng tôi hô khẩu hiệu là coi chừng đó nha! Sách văng đi đằng sách, nữ quyền tung về đường nữ quyền.

Lan man quá không? (Phi lan man bất thành tiểu thuyết!) Từ chuyện xưng danh, tên tác giả, qua giới tính, tới văn học giới tính rồi văn chương giới tính. Đến nước này nữa: Phê bình, nhận định về văn học và về tình hình văn học. Đố Đỗ Quyên thấy trong một pho tiểu thuyết nào đó có chuyện bình bàn văn chương đấy? “Gái góa lo việc triều đình” hay là “xỏ nhầm giầy”? Kệ! Cứ theo lời này mà làm: “Văn học là để biểu hiện nhân sanh và phê bình nhân sanh.” Tội vạ đã có Phan Khôi chịu. Biểu hiện thì cũng kha khá rồi. Từ chương Mở tới giờ. Nay phê bình là điều cần phải đến.

Âu cũng là ghé chút mẻm mông chữ nghĩa tài tử của Do Ngoc vào salon văn học rộng thênh của Đỗ Quyên thôi. Nếu được phép, nhiều thư sau tôi sẽ đồng tác giả với các độc giả khác gởi góp vào Đẻ Sách các bàn loạn về một số cây viết cùng với Đặng Thơ Thơ kể trên, góp bút ở các báo mạng văn học tienve.org và damau.org, mới xuất hiện vài năm nay, làm thay lông đổi lá văn học hải ngoại: Tiểu thuyết là Thuận. Phê bình là Đoàn Cầm Thi. Biên khảo Đinh Từ Bích Thúy. Thơ Đỗ Lê Anh Đào, Lê Đình Nhất Lang… Truyện ngắn Lynh Bacardi, Nguyễn Vĩnh Nguyên… Tạp bút Đặng Thân. Nếu biết nâng niu quá khứ, đề nghị phải có những dòng kính trọng tới các vị sắp già đời văn mà vẫn đang là các cô/chú lính chân chì của văn học hải ngoại, chí ít trên hai báo mạng vừa kể: Ký là Đỗ Kh.. Tiểu thuyết là Nguyễn Viện (và mới đây là Đỗ Quyên với Đẻ Sách! Hi hi hi…) Dịch thuật Hoàng Ngọc Biên, và nhứt là Hoàng Ngọc-Tuấn ở mảng dịch thơ tiếng Tây Ban Nha; Thơ là Lê An Thế, là Trần Mộng Tú, là Nguyễn Đức Tùng. Người thơ là đầu tiên cải bút danh đổi thi pháp tạo nghiệp mới; Người thơ thứ hai thủy chung với danh với pháp cơi nghiệp cũ; Người thơ thứ ba danh tiếng mới (dù tên tuổi cũ) nghiệp mới. Chú ý này: Dù mới hay cũ, nghiệp là nghiệp, nó vô danh vô pháp.

Với cách nói của Đẻ Sách, hãy gọi tôi—hay các độc giả khác—là những người-ăn-theo. Tác giả ăn cơ thể đồng loại, thì độc giả chúng tôi ăn theo tác giả mà để thành đồng sáng tác. Ý Đỗ Quyên sao? Câu hỏi này để hỏi, khỏi cần đáp. Đừng quên, trong một tá câu hỏi con người ta đối miệng đối tai hàng ngày, chỉ có hai, cùng lắm ba, câu cần đáp. Trong số chín-mười câu còn lại, chỉ có một, cùng lắm hai, câu có lời đáp. Vùng trắng bao la kia của sự Hỏi sự Đáp là đất sống của triết gia đi tìm các câu hỏi không có lời đáp, của các khoa học gia trả lời các câu hỏi có thể có lời đáp, của các đạo đức gia về các câu hỏi cần và không cần đáp dù chúng có lời đáp hay không… Trước Đẻ Sách, tiểu thuyết nói riêng và văn học nói chung thường chỉ là nơi nêu ra câu hỏi. Thơ khác văn xuôi ở chỗ cái Hỏi trong thơ không tạo gợi sự Đáp.

Ăn theo. Vâng, nhưng không có nghĩa độc giả chúng tôi được/bị đứng tên chung với nhiều các chương đoạn khác trong Đẻ Sách. Lúc này chúng tôi nghĩ là hãy ứng xử kiểu Á Đông: đến ăn cỗ nhà người thì chớ có góp ý về cách sắp đặt bàn thờ nơi gia đường. Mỗi bàn thờ có một cái chỗ của riêng nó mà phi gia chủ không một ai khác thấy nổi.

Thật ra, độc giả chúng tôi lâu nay không có chỗ để đồng sáng tác. Sân chơi truyền thống và cũ mèm của chúng tôi là dư luận, là xã hội và, vĩ đại hơn cả, là thời gian. Một khi dư luận và thời gian phải làm đồng tác giả thì đó là điều bất ưng cho văn học! Cái quan niệm độc giả cũng là đồng tác giả thật ra cũ hơn cung trăng, nhưng—chó chê mèo lắm lông một chút nha?—chưa có bố con thằng nào thực thi cho đúng quan niệm này. Vào những năm 68-70 của thế kỷ trước, từ thành Ba Lê lắm hoa và lắm mồm, những tiếng hú rằng, tác giả đã chết độc giả xông vào mà sáng tác, đã vang bốn phương tám hướng:

“Lý thuyết Phê bình cũ không bao giờ chú ý đến độc giả mà cho tác giả là nhân vật duy nhất. Đó chỉ là một huyền thoại. Phải lật đổ huyền thoại này: Sự khai sinh ra độc giả phải được trả bằng cái chết của tác giả”. [6]

Nhưng, mỹ từ đó chỉ đến tai độc giả. Có đến tay của họ đâu cơ chứ! Rút cục, tác giả chết giả vờ hay chết thiệt thì không biết. Tác phẩm thấy vắng hoe. Chỉ có tác giả nằm đó với các trang văn cũ chờ đợi “tác giả” mới. Vì sao vắng? Cho nói hỗn nha: Các ông thần của thuyết Phê bình mới, Hậu cấu trúc, từ Barthes cho chí Foucault, với sự phụ họa về sau của các ông thánh Valéry, Proust và Eco chỉ giỏi xăng xái làm trọng tài cho tác giả và ngôn ngữ đấm bốc với nhau (mà kỳ thực các ổng thành thày dùi xúi cho chúng thụi nhau chơi). Khi tác giả bị đo ván trong phòng xác, trên đấu trường còn trơ ngôn ngữ ở lại với nắm đấm giơ cao. Một là, các vị thần thánh đó đâu có cho độc giả leo lên khán đài, ngoài các câu vuốt đuôi, kiểu như

văn bản chỉ có một chỗ, nơi mà tất cả số lượng (chữ nghĩa) đó nhắm đến, đó là độc giả. Sự thống nhất của văn bản nằm ở chỗ đến là độc giả, không phải nơi xuất phát là tác giả. Độc giả là không gian nơi mọi trích dẫn tạo nên bài viết không bị mất”.[7]

Hai là có lên võ đài, độc giả cũng nắm phần thua, vì khi trọng tài đã nhìn võ sĩ mới này bằng nửa con mắt thì đấm đá làm chi cho nhọc công:

Và nơi đến này không còn có tính cá nhân: Độc giả thì không có lịch sử, không tiểu sử, không tâm lý. Đó đơn giản chỉ là một ai đó giữ lại với nhau trong một lãnh địa duy nhất tất cả dấu vết mà văn bản được dựng lên.” [8]

Tựu trung, công lao của thuyết “Tác giả đã chết” là lập ra được vùng đất hứa cho độc giả. Chỉ có điều đó là vùng đất hứa hão.

Mãi đến mười năm nay, quả đáng tội cũng có một số ít tác phẩm—thấy bảo—vứt đi được chữ hão nói trên. Cứ theo Đào Trung Đạo điểm sách trên gio-o.com, tạm kể ra ba tiểu thuyết: Những Đề Mục Đặc Biệt Trong Khoa Vật Lý Tai Họa (Special Topics in Calamity Physics) của Marisha Pessl; Kẻ Gây Tiếng Vang (The Echo Maker) của Richard Powers, Chúa Tể Việc Vặt (The God of Small Things) của Arundhati Roy.

Mới rồi, Thuận trả lời phỏng vấn ý rằng thích Nguyễn Huy Thiệp ở cái hậu hiện đại khi cho ra hai-ba kết luận để độc giả chọn và vào cuộc chơi cùng. Không biết bà Thuận và các ông bà độc giả khác chơi với hai-ba cái đuôi truyện của ông tác giả Thiệp ra sao. Riêng tôi thấy chính mình—như là độc giả—thành đồ chơi của ổng. Trước đây ít năm, Nguyễn Viện có loạt truyện thư email, mở thênh thang hơn cả đường tám thước của Tố Hữu hồi thế kỷ trước. Đề nghị tác giả Nguyễn Viện thành thật khai báo xem có được mấy cô chú độc giả sa vào truyện của mình mà chơi mí tác giả?

Đến màn mèo khen mèo dài đuôi đây này: Đẻ Sách mới là cái bàn đẻ cho độc giả vào đẻ chung. Chứ không à? Thấy bảo Đỗ Quyên từng mời rủ nhiều độc giả đầu tiên của các trang Đẻ Sách vào đẻ cùng kia mà: Đệ nhất độc giả Nguyễn Văn Thọ và đệ nhị độc giả Vũ Huy Quang, đệ nhất biên tập viên kiêm độc giả Đặng Thơ Thơ và rồi đệ nhị biên tập viên kiêm độc giả Thường Quán, sau đó là Trần Thiện Huy và Nguyễn Đình Chính và Khải Minh và Nguyễn Đức Tùng và Đỗ Ngọc Thạch và Văn Cầm Hải và Vũ Đình Kh. và Bão Vũ và Nguyễn Nguyên Thanh và Vũ Quần Phương và Vân Hải và vân vân. Đó cũng là các tác giả tướng sĩ tượng xe pháo mã, danh đã hoặc đang thành. Còn vô danh hoặc tiểu tốt như Do Ngoc chắc nhiều lắm! Tất nhiên, đệ nhất nội tướng kiêm độc giả mãn đời Hoài Hương thì khỏi nói. Nói dại miệng chứ cái kiểu đẻ sách giữa đàng thế này mạo hiểm hơn đẽo cày là cái chắc…

Vũ Đình Kh.: “Chúng ta được sinh ra từ bàn tay. Tôi khẳng định đúng như vậy, sau khi đọc Đẻ Sách. Này nhé: Ông bà già của chúng ta, đúng hơn là ông già chúng ta, khi làm tình (hay gọi là đụ), thoạt tiên thường cầm dương vật đút vào âm hộ bà già chúng ta. Rồi, tới lượt mình, bà già chúng ta, trong cơn thống khoái quá độ liền cầm dương vật của ổng ấn sâu hơn chút nữa! Và chúng ta—những đứa mắc dịch—được ra đời và… lặp lại những hành động đó. Con người đã ra đời từ bàn tay của cả hai giới nam nữ! Thủy chung, cuộc đời này chả có gì gọi là dung tục cả!”

———-

*) Trích thư riêng của tác giả nhận xét sau khi đọc bản thảo chương 4 – Người Từ Lòng Bàn Tay Mà Ra

Về nhuận bút và bản quyền: Vì việc đẻ chung, cậy đăng trong sáng tác tiểu thuyết này chưa có tiền lệ. Nên thôi, ta lấy tình văn bút và tình đồng hương mà xử đẹp với nhau. Thú thực là độc giả tôi cũng rất cần tiền. Lại là tiền bằng chữ nghĩa (dù là chữ nghĩa ăn theo) đem về dí vào bóp vợ miệng con thì thật sang cả làm sao. Một đồng bạc cắc giữa làng văn chương bằng một sàng bạc vạn trong phố thị. Còn danh. Chắc là chúng tôi không cần. Nội cái danh độc giả đã đồng phục hóa chúng tôi về giá trị chữ nghĩa rồi. Đây là một bất công lớn trong cặp nhị nguyên Tác giả-Độc giả mà riêng tôi không tin là văn học thời chúng ta giải quyết nổi. Ngay cả với Đẻ Sách. Và ngay cả nếu như Đẻ Sách dành danh đoạt giải gì đó thì để tôi hậu xét: danh đó thực hay hão. Tiền thì bất kể, thực hão gì vợ con tôi cũng xài.

Độc giả có trồng được các cây leo gì trên mảnh đất tác giả? Có đưa chính các con chữ mượn hồn của mình vào trang văn không, hay vẫn chỉ là các suy nghĩ nhung nhăng, hơn lối đọc truyền thống một chút?

Vì tương lai con chung chúng ta, độc giả tôi xin gởi trích đoạn bốn tin-bài dưới đây, tùy tác giả Đẻ Sách xử lý (nói theo cách miền Bắc Xã hội chủ nghĩa) hay xử trí (nói theo cách miền Nam trước 1975):

“Kêu gọi bản thảo cho cuộc thi tiểu thuyết lần 3

(…) Mảng đề tài lịch sử, mảng đề tài miền núi, được các cây bút quan tâm, nhưng cuộc thi cần nhiều hơn nữa những tiểu thuyết về nhịp sống đương đại. Cuộc thi tiểu thuyết lần 3, kéo dài từ năm 2005 đến 2008 có quy chế khá linh động: đề tài tự do [Chu cha! Vậy chuyện ăn thịt người để viết sách ắt là lọt rồi! - Do Ngoc xen vô] (…) Thời gian còn lại của cuộc thi là khoảng 15 tháng. Hội nhà văn Việt Nam mong trong giai đoạn nước rút, sẽ có nhiều hơn nữa những bản thảo được các tác giả khắp nơi gửi về Hội”. [9]

“Vắng bóng tiểu thuyết hay

Kỳ hạn nộp tác phẩm tranh tài tại Cuộc thi tiểu thuyết 2005-2008 đã hết, nhưng điểm mặt những cuốn tiểu thuyết được nhắc đến nhiều trên báo chí từ đầu năm trở lại đây vẫn chưa lấp đầy nổi một bàn tay: Giã biệt bóng tối (Tạ Duy Anh), Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Tiểu thuyết đàn bà (Lý Lan). (…) Với Tạ Duy Anh thì còn nhiều tranh luận hay-dở, và điều đáng nói là Giã biệt bóng tối không hề mới ở cả đề tài lẫn hình thức thể hiện. Còn trên một phương diện khác, có thể nói “đứa con thứ hai” của Dương Hướng là một khát vọng “phá kỷ lục của chính mình” không thành công. (…)

Trong bối cảnh ấy, một số tác giả tiểu thuyết lại như ẩn dật lâu quá, số khác vẫn viết thì tác phẩm lại thuộc loại đọc cũng được không đọc cũng chẳng sao (…) Có thể làm phật lòng các nhà văn khi khẳng định tiểu thuyết Việt Nam mang quá đậm tính báo chí, thông tấn (…) Thiết nghĩ, điều quan trọng là từ sự kiện đó mà nhà văn nhìn xa hơn, khái quát hơn để hàng chục, thậm chí hàng trăm năm sau đọc lại, người đọc vẫn thấy tươi mới, vẫn thấy cần thiết, vẫn thấy đó là vấn đề của mình, của xã hội mình. Trong khi đó, các cây viết trẻ cũng im hơi lặng tiếng. Những tuyên ngôn đao to búa lớn về cách tân, về văn học hậu hiện đại vẫn chưa thấy chứng tỏ bằng tác phẩm nào. (…) Tiểu thuyết là một thể loại khó, và càng khó với người viết trẻ, bởi nó đòi hỏi vốn sống, sự tích lũy, trải nghiệm và khả năng suy tư. Không phải người trẻ không có được những điều ấy. Chả phải Nguyên Hồng đã viết Bỉ vỏ khi mới 18 tuổi, Vũ Trọng Phụng thành danh với Giông tố, Số đỏ ở tuổi ngoài 20 đó sao. Một blogger tập hợp các entry lại để in sách cũng được gọi là nhà văn dù tác phẩm quá thiếu vắng giá trị nội dung lẫn nghệ thuật. Sự thành danh một cách dễ dãi khiến cho nhiều người viết trẻ nhầm lẫn và ảo tưởng. Và đó chính là một nguyên nhân khiến bút lực của họ yếu dần. Không phủ nhận một số cây bút đã có những bứt phá đáng kể và khao khát mãnh liệt trong việc thoát khỏi các ràng buộc của tiểu thuyết truyền thống để tiếp cận với tiểu thuyết hiện đại. Chỉ có điều “cái áo” ấy cho đến hiện tại thì chưa hẳn nhà văn Việt Nam trẻ nào có khả năng “mặc vừa”. Đó là chưa nói còn có cả sự nhầm lẫn trong quan niệm về phương tiện sống hiện đại với tâm thế sống hiện đại. Mà mọi bước đột phá trong văn học chỉ có thể được làm nên từ tâm thế thời đại của nhà văn chứ không phải từ việc họ sử dụng công cụ gì để viết. [10]

————–

10) Hoàng Hồng; anninhthudo.vn 25/08/2008

“Lạm bàn về “Tả thực” và hệ lụy văn chương

(…) Thông thường, ý tưởng là điểm xuất phát của tác phẩm, và ý tưởng ấy thuộc về đề tài nào là ngẫu nhiên. Nhưng khi nhà văn không xuất phát từ ý tưởng mà bắt đầu từ đề tài thì tác phẩm sẽ hình thành trên cơ sở cốt truyện. Đọc và khái quát, tôi thấy tác phẩm văn xuôi của đa số nhà văn Việt Nam lâu nay được bắt đầu từ việc phác dựng một cốt truyện có lớp có lang, rồi viết theo lối kể cho xong cốt truyện. (…) Cách đây vài năm, đọc một bài viết của TS Hoàng Ngọc Hiến, thấy ông đưa ra nhận xét tương tự với khái niệm "kể nội dung". (…) Nếu đó là nhận xét xác thực thì nhà văn cũng nên tham khảo, để thay đổi một vài thói quen trong sáng tác. "Nghiền ngẫm về hiện thực"—như ý kiến của Lê Ngọc Trà—không phải là một quá trình đơn giản, đó là một diễn biến phức tạp trong tâm trí nhà văn, ám ảnh và làm họ day dứt nếu không cầm bút (…) 11)

——–

11) Nguyễn Hòa, phongdiep.net 19/09/2008

“Chúng ta chưa có tác phẩm khó

Mặc dù đã đọc nguyên bản tiếng Anh, mấy ngày qua, tôi vẫn mong đọc tiếp bài “Sự nổi dậy của Văn Chương Khó: Một tổng quan mang tính lịch sử” của Kjell Espmark do Hoàng Ngọc-Tuấn dịch. Hơn nữa, tôi càng mong đọc những hồi âm của các thi văn sĩ Việt Nam về vấn đề ấy. Theo tôi, thi hào T.S. Eliot hoàn toàn có lý và rất sâu sắc khi cho trong thời đại chúng ta đang sống, một thời đại “phong phú và phức tạp”, thơ “phải khó”. Tôi chỉ có ý nghĩ thêm là, có lẽ Eliot chỉ nhắc đến thơ vì ông đang bàn đến thơ. Sự thật, có lẽ cả văn xuôi cũng cần phải khó.

(…) Về truyện ngắn và tiểu thuyết bằng tiếng Việt, ngoại trừ một số tác phẩm được phổ biến trên Tiền Vệ, tôi chưa từng gặp một tác phẩm nào được chính thức xuất bản ở Việt Nam có thể xếp vào loại phức tạp hay khó hiểu, chưa gặp trường hợp nào khiến tôi phải lúng túng hay hoảng hốt như đụng phải một bức tường kiên cố hay lạc vào một thế giới âm u, hoàn toàn xa lạ và mù mịt. (…) Việc đơn giản hoá văn chương hay đánh đồng cái lớn và sự đơn giản chỉ đặc biệt nghiêm trọng đối với các nhà văn hơn là đối với các nhà thơ. Phần lớn các nhà văn vẫn chuộng loại văn phong giản dị, lối kể chuyện mạch lạc và đều muốn chia sẻ với người đọc những mối bận tâm về chính trị, xã hội của thời đại. Ít có nhà văn dám mạo hiểm thí nghiệm những kỹ thuật mới lạ, thách thức với thị hiếu của người đọc.

(…) Tôi thành thực ao ước được đọc những tác phẩm mà mình mơ hồ cảm thấy là hay nhưng lại hoàn toàn không hiểu, những tác phẩm vượt lên trên tầm hiểu biết của tôi. Theo thiển ý của tôi, chính những tác phẩm như thế mới thực sự có đóng góp lớn vào việc thúc đẩy văn học Việt Nam phát triển. Chúng khiến người đọc cũng như các tác giả khác phải động não suy nghĩ, tìm tòi và vượt lên chính mình.” 12)

———

12) Cô Chi (Ph.D.), tienve.org 29/08/2007

Xiết chặt hai tay—nhất là tay cầm bút—của Đỗ Quyên!

Do Ngoc”

Melbourne, 6/4 — 19/8/2007

Vancouver, 12/2007 — 22/9/2008

(Trích tiểu thuyết Đẻ sách)

Đỗ Quyên


[1] Đỗ Kh.: “Ba mươi năm rồi còn mãi ra đi”; www.talawas.org 4/8/2007

[2] Vũ Tường: “Chính phủ Việt Nam không nên giấu giếm thông tin về quan hệ Việt – Trung”; Phạm Thị Hoài thực hiện; www.talawas.org 13/12/2007

[3] Đinh Từ Bích Thúy: Nữ Quyền Dép Râu, www.damau.org 18/8/2007

[4] Mary Klages: Helene Cixous: “Tiếng cười nàng Medusa”, Hồ Như chuyển ngữ, www.damau.org số 22

[5] Hồng Dương: Carl Jung và Wolfgang Pauli, www.thuvienhoasen.org 14/4/2007

[6] Roland Barthes, theo Trần Hữu Thục; Tác giả / Cuộc thăng trầm, Hợp Lưu số 95, tháng 6 & 7/2007

[7] Như trên

[8] Như trên

[9] Anh Vân; eVan.com.vn 20/07/2007

bài đã đăng của Đỗ Quyên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)