Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Chuyến hành trình sau chót
Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Chuyến hành trình sau chót

 

 

 

Con sói tự nãy giờ nằm chầu dưới chân gã bỗng nhổm đầu dậy. Cặp mắt màu vàng nhũ chăm chăm vào miếng thịt bê rừng đỏ hỏn trên tay gã. “Hỡi Con Người, xin rủ lòng thương kẻ đói khát lưu lạc này,” nó ngước lên nhìn gã van xin, rồi cái mõm thô ráp của nó dủi sát vào đùi gã. Gã rùng mình ngoảnh mặt đi.

“Út nhớ ông Mạnh cách nhà mình mấy căn có đứa con gái lấy chồngViệt Kiều không? Thằng rể gửi tiền về cho ổng mua cái giường đó, chị qua coi rồi. Có bốn ngàn đô à. Chở đến tận nhà, lắp ráp luôn…” Giọng chị Ba của gã trơn lu ở đầu dây bên kia.

Nỗi tức bực bị dồn ứ, giãy giụa, vùng vẫy trong lồng ngực gã. Gã hết chịu nổi. Gã muốn văng tục. Gã muốn chửi thề. Bốn ngàn đô Mỹ mà bà chị gã nói năng hồn nhiên như bốn ngàn đồng Việt Nam.

Cái mõm nó cựa quậy trên đùi gã. Tiếng rên nghe yếu ớt tựa tiếng khóc tỉ tê của sói con vọng đến từ cõi hoang mạc. Gã động lòng, ngoảnh lại nhìn nó. Lập tức nó chồm lên liếm vào má và cằm gã. Gã biết đó là cách sói con vòi vĩnh sói mẹ ựa thức ăn dành trữ trong bụng ra cho nó. Lưỡi nó ướt nhẹp. Gã rợn người đẩy nó ra. Cả cái khối đen thui nặng phải tới năm chục ký rạp thấp trở lại dưới chân gã như biết phận. Đôi tai dựng đứng giống loài chó bẹc-giê co thụt về phía sau, vẻ chịu lụy của một con sói không có thế lực trong bầy. Cái đuôi bù xù lông phe phẩy khiêm tốn. Mắt nó cụp xuống, thỉnh thoảng lấm lét nhìn gã. Cái lưỡi thè ra thụt vào liên hồi. Hơn hai tuần nó không có gì trong bụng. Gã thẩy miếng thịt ra. Nó nhảy tới đớp gọn. Nó nuốt trửng, không nhai. Xong lại nằm phục bên chân gã, ngoan ngoãn chờ đợi. Miếng thịt nhỏ bằng nửa con chuột xạ chẳng bõ. Sức nó bây giờ có thể ăn tới vài con thỏ rừng. Hồi nó chưa bỏ nhà đi, chẳng khi nào nó bị đói. Gia đình nó là bầy sói hùng mạnh gồm hai sói đầu đàn, tức sói bố sói mẹ, và mười sáu sói con hùng cứ một lãnh thổ mênh mông hơn chục ngàn héc ta trong một cánh rừng già phương bắc. Khi còn nhỏ nó phải ở nhà cả ngày, chờ sói mẹ và đám sói anh sói chị đi săn về mửa thức ăn ra cho nhai. Ba tháng tuổi nó được đi theo nhưng chỉ để quan sát cách tấn công và nhử mồi. Đến tám tháng hơn nó mới được phép săn mồi thực thụ. Không một con mồi nào sa vào lãnh địa nhà nó mà có thể thoát thân. Nai đuôi trắng, nai đuôi đen, ngựa hoang, dê núi, cừu núi, đủ hết, cả đám nhóc hải ly, thỏ rừng, chim rừng, gà rừng, sóc đỏ, chuột xạ, cá hồi. Thật tình mà nói, thức ăn không thiếu, nó chỉ không chịu nổi những thứ luật lệ khắc nghiệt kỳ khôi của gia đình nó. Từ giữa mùa đông đến đầu mùa xuân là mùa ái ân của loài sói, mà thật ra chỉ áp dụng cho mỗi hai vị đầu đàn. Những ngày ấy, cặp sói lãnh đạo thường chui vào mấy bụi kín. Khổ nỗi kín mấy các sói khác cũng ngửi thấy. Suốt mùa ái ân các sói đực bị kích thích, trở nên bồn chồn ham muốn, nhưng bị nghiêm cấm. Chuyện đó là đặc quyền của bố mẹ. Nó chứng kiến một thằng sói anh bắt chước bố mẹ làm giống vậy với một sói em thì bị sói bố cản, thằng anh ngoan cố chống lại, bị sói bố và sói mẹ đánh cho một trận nhừ tương. Thằng anh bỏ đi biệt tăm. Rồi tới một thằng anh khác, chuyện xảy ra tương tự, cũng bỏ đi mất. Giờ tới phiên nó. Bữa đó chuẩn bị đi săn, nó bỗng ngửi thấy cái mùi quyến rũ từ nước đái của một sói chị, nó chịu không nổi, chồm lên. Chị nó đứng im không phản đối, vậy mà mẹ nó tru um lên rồi xông lại táp gần đứt một miếng tai nó. Mấy thằng sói lớn cũng tiếp tay húc nó ngã xuống. Nó nằm ngửa chênh hênh trên mặt tuyết.  Bọn sói anh nhe mấy chiếc răng nanh dài nhọn sắc ra để cảnh cáo. Dù nó không bị trừng trị nặng như mấy thằng anh trước, nó vẫn quyết định bỏ bầy ra đi, hy vọng tìm được một nàng sói để kết đôi, để làm cái chuyện bị cấm, rồi đẻ ra những đám sói con và lập nên lãnh địa riêng của mình.

“Tội má, biết sống được bao lâu…” Chị Ba giáng trúng vào điểm mềm nơi trái tim gã. Hình ảnh người mẹ già bại liệt nửa thân nằm im thít đơn côi trên tầng lầu quạnh quẽ cạnh gian phòng thờ trong căn nhà nơi gã lớn lên hiện ra! Gã đầu hàng, như bao lần. Gã ráng vớt vát: “Giường điện, nhưng ở bển cúp điện hoài, làm sao?”

“Chuyện nhỏ. Chỉ cần cái máy phát điện. Rẻ lắm. Có mấy trăm à.” Cái giọng miền Đông Nam bộ mát rượt của chị Ba thánh thót bên tai gã.

Chuyện nhỏ. Rẻ lắm. Có mấy trăm. Có mấy ngàn. Không biết chị gã học đâu ra cái lối diễn đạt gã ghét cay ghét đắng này. Nỗi bực dọc trong gã lại lồng lên.

Nước miếng nó nhễu ra. Gã chìa tận miệng nó nguyên con gà mái tơ vàng mọng đã làm sạch lông, chưa mổ bụng. Hàm răng bén của nó trong nháy mắt đã xé tan con vật. Nó nhai rau ráu. Thứ thực phẩm dành cho loài người nó chưa từng nếm thiệt là ngon. Phải công nhận béo thơm hơn thịt một thứ chim rừng mình bé tẹo nhưng vỗ cánh rùm beng như gõ trống mà nó xơi được hôm lạc vào cánh rừng thông ấy. Cuộc hành trình của một con sói bỏ bầy đi tìm giang sơn mới thật gian nan. Nó đi không định hướng, không biết rẽ ngả nào. Đang giữa mùa đông, đâu đâu cũng chỉ thấy tuyết. Những con hải ly ngu ngốc hay ngao du trên bờ vào những ngày nắng ráo tẩn mẩn cắt cây dựng nhà, thường rất dễ làm mồi cho sói, mùa này đã lủi mất tăm dưới nước.  Giờ nó chỉ còn trông bọn thỏ rừng chân to và đám chim gõ trống khờ dại. Nhưng bao nhiêu ngày đêm nó không gặp may. Toàn lũ chuột xạ bé choắt ăn chẳng dính răng. Nói đúng ra có một buổi sáng lúc băng qua một dòng suối nước đã đóng băng nó gặp bầy nai đuôi trắng năm con đang gặm vỏ cây trong đó một con bụng chửa ì ạch. Phải chi lúc đó có đám sói anh sói chị nó bên cạnh, con nai chửa ấy đừng hòng có lối thoát. Được miếng thịt nai sữa còn trong bụng mẹ thì ngon phải biết, nhưng một thân một mình nó đành bó tay. Lâu lâu nghe tiếng sói hú gọi bầy, hoặc ngửi thấy mùi cứt và nước đái bọn chúng đánh dấu, nó biết mình đang lạc vào lãnh địa của các đàn sói khác, lại phải chạy trối chết. Nó vượt qua nhiều cánh rừng lạ, một lần chạm mặt mấy con sư tử núi nhưng chúng chẳng buồn để ý tới nó. Không gặp nàng sói nào đi hoang để kết đôi, nó lết lê, đói lả, lại còn lo đụng độ phải con người, kẻ thù hùng mạnh nhất của sói. Bố mẹ và đám anh chị nó thường bàn tán về loài sinh vật bí hiểm đi bằng hai chi sau, có mùi thối hoắc và dcao nghều xấu xí. Đáng sợ nhất là chúng có cách giết con mồi từ đằng xa với cái vật gì ngộ nghĩnh phóng ra tia lửa kèm một tiếng nổ đinh tai. Cái vật đó ghim vào con mồi thì thể nào con mồi nếu không chết cũng bị thương. Thế mà nó thật may mắn gặp thằng người này, chẳng những không bị mất mạng, còn được nuôi ăn nữa. “Con Người ơi, Ngài quả tốt bụng, không như tiếng đồn. Nhưng tôi vẫn còn đói lắm. Hãy thương tôi cho trót. Kìa, trên bàn tay Ngài còn bao nhiêu thứ nữa.” Nó nhìn gã với ánh mắt tuân phục. Mặt nó đã lại sắc một chút.

Gã nuốt nước bọt, giấu tiếng thở dài như bao lần. Có bao giờ gã từ chối đòi hỏi gì của người nhà bên Việt Nam.

“Được rồi. Để mấy bữa nữa em tính.”

“Vậy nghe Út,” chị Ba chỉ chờ có vậy, “Ráng phụ lo cho má được ngày nào hay ngày đó… Tết này ai cũng nhắc mày,” chị chuyển đề tài, “vậy là ba năm mày không về rồi. Thiên hạ về ào ào, ăn chơi sướng thân. Còn mày lúc nào cũng vướng chân với cái bi-zi-nét, thiệt khổ…” chị giả lả thêm một hồi trước khi cúp máy.

Gã buông điện thoại, thần người mấy giây, rồi hấp tấp nổ máy xe, lao trở ra đường phố. Gã lái tắc xi, đang trên đường đón khách thì chị gã gọi qua nên phải đỗ vào bãi đậu xe của một siêu thị để nói chuyện. Mỗi lần bên ấy gọi, gã thấy gai người, biết ngay chuyện thăm hỏi chỉ là mào đầu, chuyện tiền nong mới là nội dung chính. Người nhà gã lại thường xuyên có việc, thường xuyên gặp nạn, gã phải ra tay giải quyết. Nào là nhà anh Hai bị dột phải xây lại, mượn cậu Út tiền mua vật liệu; nào nhà chị Tư mất hằng chục triệu vì dịch cúm gà, chuyển sang nuôi heo thì heo bị lỡ mồm long móng lỗ hơn chục triệu nữa, giờ vay cậu Út chút vốn nuôi cá sấu; nào con gái lớn anh Năm đậu đại học lên thành phố xin cậu Út một chiếc xe máy, loại Honda Wave thôi; nào chồng chị Ba phải đi mổ u xơ tiền liệt tuyến. Mấy anh chị của gã hay hỏi “mượn cậu Út”. Gã lạ gì, cái từ “mượn” nghe cho lịch sự, thay vì chữ “xin” nghe hơi trắng trợn. Thế nhưng gã chẳng bao giờ từ chối, vì gã cảm thấy gã không thể từ chối. Gã thà âm thầm rút tiền từ cái thẻ MasterCard với lãi suất cắt cổ, rồi âm thầm đi làm trả nợ dần. Lần đầu về nước, gã lỡ khoác lác rằng gã là chủ một lò bánh thu nhập cao nhất của thành phố với hàng trăm công nhân, bao người nể sợ quý hóa gã mất rồi, nên gã cứ phải tiếp tục diễn cho trọn vai. Cái vai luôn hành gã, khiến gã lắm lúc phát khùng lên.

Theo gã, cái thứ chị Ba đòi mua lần này là sự phí phạm, là học đòi. Chiếc giường điện đa năng. Kiểu giường trong bệnh viện dành cho người ngoại quốc. Có thể thay đổi độ cao thấp, thay đổi các tư thế để vừa làm giường ngủ, vừa dùng ngồi ăn, đọc sách, coi ti vi, nghỉ ngơi. Nâng lên hạ xuống kiểu nào cũng được. Chỉ cần giơ tay bấm một cái nút. Chị Ba giải thích như một ngưòi chào hàng chuyên nghiệp. Gã thì cho rằng cái giường hôm gã về nước lần trước mua ngày mẹ gã xuất viện là hiện đại và xa xỉ rồi, mẹ gã nằm đến khi chết vẫn còn tốt. Hơn ngàn đô đâu phải ít. Cũng là loại giường chỉ trong nhà thương mới thấy, có đệm, có tay quay điều chỉnh cho nó nâng lên hạ xuống phần đầu hoặc phần chân. “Nhưng cái đó phải quay bằng tay, còn cái này điện tử, Út à. Má tự bấm nút điều chỉnh, hiểu không? Đỡ cực cho chị và lũ nhỏ. Khỏi phải chạy lên chạy xuống cả ngày…” chị Ba lý lẽ với gã. “Thiệt chán cho thằng em Việt Kiều lạc hậu của tôi.” Chị cười rúc lên, trêu gã. Gã thấy chạnh lòng. Không bao giờ gã quên lần xách về nước cái điện thoại di động gã mới dùng hai năm. Đám cháu cười rũ, “Trời đất, bên này không ai còn xài cái máy to đùng như cục gạch này đâu. Lại không có ‘sim’ nữa.” Thằng con chị Ba xúng xính móc ra cái điện thoại nó mới mua chỉ dài hơn cái hộp diêm một chút, quay phim, chụp hình, nghe nhạc, chơi game, đọc email, có cả bản đồ chỉ đường. “Rẻ lắm. Có bảy tám triệu à.” Thằng con chị Ba nói trong lúc bấm nút lia lịa giải thích các chức năng kỳ diệu ẩn chứa trong cái máy bé xíu khiến gã chóng hết mặt. Cả bọn níu tay níu chân gã đòi cậu Út mua cho mỗi đứa một cái điện thoại như vậy. Không thể chối cãi mỗi lần về nước gã mất bộn tiền nhưng bù lại được đối xử như thượng khách. Nghe gã về là anh em con cháu ở quê xa mấy cũng kéo về tập trung tại nhà chị Ba, tay bắt mặt mừng, say sưa nghe gã nói chuyện thâu đêm. Ngày nào cũng vui như hội. Chị Ba thì cứ ra phi trường đón gã về hôm trước là hôm sau lôi gã ra shop sắm một mớ giày dép và quần áo hiệu. “Phải đem mày đi ‘tút’ lại. Ai lại Việt Kiều mà nhìn tả tơi thế này!” Chị nói yêu, và rơm rớm nước mắt. Anh em trong nhà đều muốn gã kiếm một người vợ khác, giới thiệu mấy đám, gã cứ ì ra. Riết rồi mọi người chán, để gã yên. “Thằng hâm,” chị Ba lắc đầu ngao ngán. Chị nghĩ gã còn thương người vợ đã bỏ gã đi lấy người khác.

Gã nhấn ga cho xe phóng nhanh hơn trên xa lộ vắng ngắt. Chị Ba chắc mới tranh thủ giờ nghỉ trưa ở sở làm ra tiệm Internet gọi điện cho gã. “Rẻ lắm Út. Tấm cạc có bảy tám chục ngàn, nói được mấy tiếng đồng hồ,” chị gã hay khoe. Không như bọn Tây dè dặt sợ phiền không dám điện thoại cho ai sau chín giờ đêm, người nhà gã khỏi ngại, muốn gọi sang cho gã đêm ngày tùy thích. Như lúc này. Hai giờ sáng. Chị Ba gã líu lo chuyện chiếc giường điện, vô tình chẳng đoái hoài gã đang ngủ hay làm gì.
Thực ra gã có làm ở một lò bánh nướng, nhưng không phải là chủ. Gã chỉ là tên cai mà bên này Tây gọi là foreman chuyên pha bột và đôn đốc mười hai công nhân đa phần là người Việt. Chiều về cơm nước xong, gã ngủ đến hai giờ sáng rồi đi lái tắc xi thêm vài ba tiếng. Hai ngày thứ bảy chủ nhật gã dành cho đứa con trai. Thằng con đến giờ gã vẫn không đánh thức nổi tình cảm của nó. Thằng con mà có lúc rượu vào uất lên gã chỉ muốn vặn cổ. Thứ không có linh hồn! Gã hay thầm rủa nó. Đầu đuôi cũng tại vợ gã không biết trị nó, để nó biến thành ông vua con. Mới lớp một nó đã biết sử dụng quyền lực. Muốn nó học bài, mẹ nó phải mua đồ chơi điện tử thí dỗ. Lên lớp hai, nó chán hiện vật, nó thích tiền mặt. Trả tiền cho nó ngồi học ngang lương công nhân nướng bánh. Bảy đô, nó ngồi học một giờ. Mười bốn đô, nó ngồi hai tiếng. Hai mươi mốt đô, nó ngồi ba tiếng. Gã gầm lên. Nó không sợ. Mẹ nó là đồng minh. Vợ chồng gã tiếng nặng tiếng nhẹ với nhau hầu như mỗi ngày. Ngày vợ gã ra đi, mang theo thằng con bấy giờ đang mười tuổi học lớp năm, gã chới với. Đêm đầu tiên còn lại một mình trong ngôi nhà hai tầng tĩnh lặng đến rợn người, gã không ngủ được, gã khóc. Gã không ngờ gã bỗng thấy nhớ thằng vua con thật sự. Nhiều đêm tiếp đó, gã cứ thấy vợ gã và thằng con trai trong những giấc mơ. Tỉnh dậy gã không tin mình đã thật sự chẳng còn có một mái gia đình. Gã sinh uống rượu. Mỗi ngày một phần ba chai. Gã uống một mình, không ai biết. Nhìn gã không ai nói gã say bao giờ. Gã đi làm đều ở lò bánh nướng ban ngày, và lái tắc xi nửa đêm về sáng. Những lúc uống rượu, gã hay khóc, gã hận đời hận vợ hận con. Đời gã, từ một chủ nhiệm khoa Anh Văn trường cao đẳng bỏ sang xứ người biến thành thằng trộn bột đã đành. Vợ gã, một cô vợ hiền thục nết na sang đây hóa ra một thứ đàn bà hám của nhẫn tâm cũng đã đành. Nhưng thằng con là giọt máu của gã, là tình yêu của gã, sao nó có thể như vậy. Mỗi cuối tuần gặp nó, gã ra sức níu kéo. Gã vung tiền mua sắm cho nó bất kỳ cái gì nó thích. Gã không tiếc gì với nó nữa. Sao nó luôn hợt hời, dửng dưng. Gã biết gã có nhồi nhét cho nó đến đâu cũng không lại được mẹ nó. Gã chẳng thể mua được trái tim nó. Nhiều bận gã đến đón, nó nguây nguẩy lấy cớ này cớ khác để khỏi phải gặp gã. Vợ gã khinh khỉnh nhún vai, không can thiệp. Gã cảm giác nhục nhã, đớn đau. Vợ gã chiếm được thằng con, có nghĩa đã đánh gã ngã gục. Không hiểu sao gã cứ khao khát giật lại thằng con, dù gã biết nó chẳng có tình cảm cha con gì với gã. Tại nó ăn phải bả của đa số lũ trẻ bên này, gã kết luận. Chúng bắt chước nhau cái thói vô tâm, ích kỷ một cách tàn bạo. Đâu phải tại vợ chồng gã ly dị, gã nghe khối chuyện từ lò bánh của gã, bố mẹ ấm êm mà con vẫn đổ đốn, có bà mẹ còn phải đem con về nước bỏ cho sống trong chùa cả năm cho nó sáng mắt ra. Gã thì có muốn cũng chẳng làm được thế với thằng con quái gỡ của gã. Gã nhớ vợ chồng gã đưa nó về nước một lần vào mùa hè hồi nó tám tuổi. Ai cũng săn đón nó như một ông vua con. Không ăn thua. Nó cau có, khó chịu như đang bị đày. Trời nóng, điện mất, muỗi chích, đường mưa lầy lội, nhà vệ sinh hôi, cái gì nó cũng ca thán. Nó cứ một câu ‘I hate Vietnam’ làm gã phát ngượng với mọi người. Trở về Canada, nó tuyên bố rằng từ nay không ai được bắt nó về Việt Nam nữa. Ôi máu thịt của gã, thứ không có linh hồn, nó không có chút tình cảm gì với cha nó, nói chi đến quê hương cội nguồn.

Nhưng tại sao phải mua chiếc giường ấy? Đầu óc gã trở lại với cuộc điện thoại của chị Ba. Gã thấy mình bất lực, không còn hiểu nổi nhu cầu xa hoa của những người trong gia đình gã. Cũng tại cái thằng Việt Kiều Mỹ huýnh hoáng khoe khoang ấy, lần trước về Việt Nam gã ngứa mắt gặp nó mặc cái áo thun vằn vện, cổ thò ra sợi dây chuyền vàng choé to như cái dây buộc cổ chó gã thấy thường chỉ mấy thằng lấc cấc bên này đeo. Nó không mua cái giường chết tiệt ấy cho lão bố vợ thì đâu có chuyện chị Ba gã cũng gào lên đòi một cái như vậy cho mẹ mình. Bây giờ thì mới khốn cho thân gã. Lại phải gom góp số tiền bốn ngàn để gửi về. Lại nợ nần không ngóc đầu lên được. Bao giờ gã mới dứt được cái nợ với anh em con cháu đàn đống bên ấy? Gã làu bàu rủa, rồi ngẫm tới thân mình. Mười lăm năm vẫn còn nằm cái giường cũ với tấm đệm đã sờn của một hội từ thiện bố thí ngày hai vợ chồng gã mới đặt chân qua. Mấy lần vợ gã đề nghị sắm một cái giường mới. Loại năm bảy trăm loàng xoàng cũng được, nàng nhấn mạnh, nhưng gã cứ bàn ra. Cái giường này vẫn còn nằm được, sao lại vất đi, phí hoài. Tính gã hồi nào vẫn thế, không thay đổi. Nhưng vợ gã ức vì gã lại rộng rãi hết mức với anh em nhà gã bên Việt Nam. Một lần cãi nhau, nàng lớn tiếng bảo rằng chẳng ai ngu như gã, keo kiệt với bản thân và vợ con để ki cóp gửi về nuôi “một lũ ăn bám”. Gã tát vào mặt nàng một cái nẩy lửa. Gã có ngờ đó là cái tát số phận. Vợ gã không tha thứ cho gã. Nàng quyết định chia tay. Sau đó gã ngã ngửa khi biết nàng dọn đến sống với chủ nhân một tiệm Tim Hortons bán cà phê và bánh donuts nơi nàng đi làm buổi tối bao năm qua. Một lão da trắng đầu hói, mặt ngựa, răng hô, bụng như quả dưa hấu trúng giải ở một hội chợ trưng bày nông sản Bắc Mỹ. Gã đoan chắc vợ gã đã ăn nằm với thằng khốn ấy từ lâu rồi. Thảo nào có lần nàng cười rúc rích bảo gã rằng lão Tony đổ thừa bụng lão bự vì hơn hai chục năm ăn cái thứ bánh ngọt tẩm dầu chiên ấy, lão bảo suốt hơn hai chục năm làm cảnh sát không ngày nào lão và đồng nghiệp không ghé Tim Hortons uống cà phê và ăn bánh donuts không phải trả tiền. Lần khác nàng lại bâng quơ nói rằng lão Tony kiếm được gần hai trăm ngàn một năm từ lúc sang cái tiệm đó, chưa nói tiền hưu cảnh sát thâm niên của lão hơn bốn ngàn một tháng nữa. Làm sao vợ gã lại biết đến những chuyện ấy chứ? Gã nghĩ và lại thấy sôi máu. Còn gã, sang đây nhờ chút vốn tiếng Anh mới được cái chức cai. Lương ở lò bánh cộng tiền lái tắc xi gã vẫn chưa theo kịp nửa tháng lương hưu cảnh sát của lão Tony, nói chi đến khoản thu nhập khổng lồ từ cái tiệm của nó. Khi người phụ nữ giễu cợt về một thằng đàn ông nào đó, hãy coi chừng! Gã không còn tin đàn bà nữa. Đến như vợ gã, cô kế toán hồi nào ở Việt Nam mộc mạc thơ ngây là thế. Gã nghĩ tới dáng dấp và gương mặt vợ gã mỗi lần gã đến đón thằng con. Nàng mở cửa, gương mặt kênh kiệu. Nàng chào gã bằng một từ tiếng Anh “hi” nghe lạnh băng. Sống với lão già khốn nạn và giàu có ấy, vợ gã trở nên a dua học đòi cho giống bọn người da trắng. Qua thằng con, gã biết nàng có đầy tớ trong nhà, và nàng mới lấy được cái bằng kế toán cao cấp nữa, nhưng nàng không cần đi làm. Gã nghiến răng, nghe nhói trong ngực.

Hai bàn tay gã bụm nguyên bộ gan to nặng vừa moi ra từ trong bụng một con nai tơ. “Cho mày!” gã chìa ra trước mõm con sói đen. Nó kinh ngạc rú lên. Không chần chừ nó phóng tới, chộp ngay buồng gan còn ấm ngấu nghiến nhai. Gã lại đưa ra một khối thịt đỏ tươi, máu và mỡ bọc quanh, ôi trời, quả tim vẫn đang thoi thóp đập. Rồi tới hai lá phổi. Gã hối hả cho nó ăn. Nó há hốc cái miệng nhem nhuốc máu, lưỡi thè ra. Nó không tin vào mắt nó nữa. Trước giờ nó chưa bao giờ được phép nếm những thứ này. Bộ đồ lòng của bất kỳ con mồi lớn nào là cũng chỉ dành riêng cho sói bố sói mẹ, như là biểu tượng của quyền lực và sức mạnh. Sau khi hai sói lãnh đạo no nê, phần còn lại, thường là xương, da, hay chút thịt, chút gân, mới tới lượt bầy con chia nhau. Thế mà bây giờ… A, thằng người đã cho ta ăn cả tới tim gan, đã cho ta cái vị trí tột đỉnh và sức mạnh vô song. Sói đen vươn vai, bộ chân dài duỗi thẳng dậy với những ngón chân có mạng bè ra oai vệ. Tai nó kéo về phía trước, dựng đứng lên, còn cái đuôi bù xù lông thì hất cong về phía lưng. Nó không còn là một con sói yếm thế nữa. Nó đã thành một con sói chế ngự được tất cả những con khác trong bầy. Tất cả phải sợ, phải lụy, phải phục tùng nó. Nó hộc ra một tiếng sủa. Nó cười ngạo nghễ.

Vừa lúc ấy gã trông thấy một con sói màu nâu nhạt như cát biển xuất hiện tít trên đỉnh ngọn đồi phủ trắng tuyết. Nó đang túc tắc chạy xuống mé thung lũng tiến về phía gã.

Gã đỗ xe trước một ngôi nhà nhỏ chìm trong bóng đêm, ngoại trừ một vệt sáng lẻ loi lọt ra từ khung cửa sổ. Gã liếc đồng hồ. Năm phút nữa là ba giờ sáng.

“Làm ơn chờ một chút,” giọng một phụ nữ yếu ớt vọng ra khi gã gõ cửa. Sau đó gã nghe có tiếng vật gì kéo lê trên sàn nhà.  Lúc sau, tiếng chìa khóa lách cách, rồi cánh cửa mở ra. Gã không khỏi giật mình. Một bà cụ già xuất hiện như bước ra từ trong bộ phim nào đó thời thế chiến thứ hai. Nhìn những nếp nhăn hằn sâu trên khuôn mặt trang điểm nhẹ nhàng của bà, gã đoán bà ngoài 80. Người bà nhỏ thó nhưng uy nghi trong chiếc áo khoác dài thượt màu nâu đỏ, trên đầu là chiếc mũ lông cùng bộ có gắn một chùm lông chim trĩ đủ màu sặc sỡ, sợi dài nhất phải đến cả nửa thước, từ bên tai tủa ra phía sau. Tay bà mang găng da màu đen. Chân bà mang đôi giày tuyết cao cổ cũng màu đen. Bên cạnh là một chiếc va-li nhỏ cũng màu đen. Căn hộ nhìn như không có ai sống trong đó đã lâu. Bàn ghế đồ đạc trong nhà được bao phủ với những tấm vải bông. Không có đồng hồ trên tường. Không có vật trang trí, không dụng cụ bếp núc trên kệ. Trong góc nhà gần cửa ra vào có một thùng giấy chất ngay ngắn những tấm ảnh lồng trong các khung kính đủ cỡ.

“Cậu làm ơn đưa cái va-li này ra trước giúp tôi.” Bà nói nhũn nhặn. Lúc này gã mới nhận ra bà không bước đi bình thường được.

Gã xách chiếc va li không nặng lắm ra xe trong lúc bà lão tắt điện, khóa cửa. Khi gã quay trở lại, bà vịn chặt lấy cánh tay gã. Gã cẩn thận đỡ bà xuống mấy bậc thềm. Rồi hai người chậm chạp từng bước ra lề đường. Không gian chìm trong sự lạnh lẽo cô tịch của một đêm cuối đông. Gã nghe rõ tiếng giày của gã và bà lão giẫm trên mặt con đường nhựa còn sót những mảng tuyết chưa kịp tan.

“Trông cậu như là người Tàu?” bà lên tiếng.

“Không. Cháu đến từ Việt Nam,” gã đáp.

“Ồ,Việt Nam?” Bà dừng lại, nhìn vào mặt gã. Nét mặt chừng rạng rỡ lên. “Đất nước đã từng chiến thắng người Mỹ. Đó là tất cả những gì tôi biết về quê hương cậu. Hãy tha thứ cho sự thiển cận của bà lão này,” bà nói và nở nụ cười đôn hậu.

Bà già luôn miệng cảm ơn gã tốt bụng. Gã thấy ngượng khi được khen. “Không gì đâu, thưa bà. Cháu chỉ đang làm những việc mà mọi người con đều làm cho mẹ.” Gã thốt ra không suy nghĩ.

“Mẹ cậu, người đàn bà ấy thật may mắn.” Bà già nói, rồi im lặng. Gã chợt cảm giác hổ thẹn nghĩ tới những nỗi tức bực gã vừa trải qua xung quanh chuyện cái giường điện đa năng chị Ba đòi hỏi cho mẹ gã.

Khi người đàn bà đã yên vị trong xe, bà ta mở bóp lấy ra một tấm thẻ đưa gã.

“Cậu có thể chạy qua hướng đại lộ bờ sông không?” Bà hỏi trong lúc gã nhìn địa chỉ trong tấm thẻ. Mặt gã biến sắc.

“Thưa bà, đó không phải là con đường ngắn nhất. Cháu sẽ đi con đường khác, chỉ mất độ nửa giờ,” gã đáp.

“Tôi hiểu ý tốt của cậu. Chẳng mấy khi tài xế tắc xi nói điều ấy với khách. Nhưng cậu đừng lo. Tôi không ngại trả tiền. Vả lại, tôi chẳng có gì phải vội.” Giọng bà điềm nhiên.

Gã kín đáo vói tay tắt nút chiếc đồng hồ kê khai ki-lô-mét và số tiền khách phải trả.

Cách gã độ chừng ba sải tay, sói nâu ngồi im lặng, chỏm đuôi màu đen đủng đỉnh vẫy qua vẫy lại. Cặp mắt hiền từ buồn bã của nó lúc nhìn gã lúc quay sang sói đen đang đứng thủ thế bên cạnh gã. Sói nâu bề ngoài có vẻ đuối sức, nhưng không bộc lộ chút sợ sệt. Vóc dáng nó to ngang ngửa sói đen. Gã đoán nó cũng thuộc loại bỏ bầy ra đi. Chỉ tiếc nó cùng giống đực, không thì hai chúng nó có thể kết đôi và tiếp tục cuộc hành trình kiếm tìm xây dựng lãnh thổ mới. Gã cho rằng sói thuộc loài thú dũng cảm vì chúng dám từ bỏ bầy đàn mình đang chung sống. Biết bao con sói bỏ bầy kết thúc cuộc phiêu lưu bằng cái chết vì đói hoặc bị trúng đạn của những tay thợ săn, hoặc phải gia nhập một bầy sói xa lạ và lại trở về với thân phận bị o ép bởi cặp sói đầu đàn. Gã thẩy một miếng sườn heo cho sói nâu.  Ngay lập tức tiếng gầm gừ phát ra bên cạnh gã. Sói đen cong mình, hai tai nó dựng dậy, mảng lông dọc sống lưng nó xù lên, cùng lúc mấy chiếc răng nanh dài sắc nhọn nhe ra đe dọa. Mắt nó trợn ngược. A, thằng người tiếp thức ăn cho đối thủ của nó! Gã dường không nhận thấy phản ứng của sói đen, gã lại ném ra một con cá hồi to chắc như bắp tay. Sói nâu vừa ngoạm lấy con cá thì sói đen ập tới tấn công nó. Hai con sói bắt đầu trận chiến ác liệt.

Trong vòng có lẽ hai giờ đồng hồ, gã chở bà lão quanh thành phố. Gã làm theo yêu cầu của bà dừng lại ở đâu đó. Bà chỉ gã tòa nhà nơi bà làm việc ngót hai chục năm cho một công ty bảo hiểm, từ lúc bắt đầu là cô thư ký đến khi trở thành trưởng phòng thanh tra. Đây là bệnh viện nơi bà sinh đứa con trai ngoại hôn năm bà 17 tuổi và nó chết ba ngày sau đó vì viêm phổi cấp tính. Đây là công viên bên dòng sông Elbow nơi bà gặp chồng bà lần đầu tiên. “Đó là người đàn ông tuyệt vời như một vị thánh, nhưng khi có rượu thì biến thành quỷ dữ,” giọng bà cất lên mỏi mệt và sầu não. Bên kia sông là khu biệt thự sang trọng lấp ló giữa những tàng cây rậm. Bà chỉ ngôi nhà phía trước có cây bạch dương cao là nơi gia đình bà đã chung sống cho đến khi chồng bà mất vì chứng xơ gan cổ chướng (trướng?). Còn đây là trường trung học của con gái bà, bà đã đến tham dự lễ tốt nghiệp và xem nó trình diễn. “Nó đoạt giải nữ hoàng khiêu vũ. Cái áo đầm nó mặc đêm ấy là do tôi vẽ kiểu và tự cắt may lấy,” bà không giấu được niềm tự hào. “Nó đang sống ở Toronto. Đã ba năm nay tôi không gặp nó. Hồi trước thì mỗi Giáng Sinh tôi đều đáp máy bay đi thăm gia đình nó. Còn nó thì chẳng khi nào về đây được. Nó bận lắm. Công việc, con cái, cậu bảo làm sao có thời gian,” Gã nghe như có tiếng thở dài đang cố nén trong giọng nói đều đều của người đàn bà sắp đi vào cõi chết. “Tôi gọi điện hôm qua báo cho nó biết bác sĩ đã quyết định chuyển tôi sang nơi dành cho những người không còn kéo dài bao lâu nữa. Bác sĩ bảo ở đó nhân viên rất nhạy cảm và tử tế,” bà ngừng lại, húng hắng ho, “nhưng nó đang bời ngập công việc chuẩn bị cho cả nhà nó đi nghỉ Phục Sinh ở Cancun. Lo mua vé, đăng ký khách sạn, sắp xếp việc ở công ty trong thời gian nó đi vắng nữa. Tội nghiệp, nó bận lắm. Không thì nó cũng thu xếp về với tôi lúc này chứ.” Gã chảy nước mắt nhưng bà lão không thấy. “Tôi chỉ lo không kịp gặp nó.” Bà nói, rồi ngồi nhìn đăm chiêu vào bóng đêm, lặng thinh.

Gã đưa bà đi qua mấy con đường nữa thì trời rạng sáng. Bà bỗng nói, “Tôi mệt rồi. Thôi ta hãy đi đến nơi ấy.”

Gã im lặng lái xe, người đàn bà cũng ngồi im lặng. Chẳng bao lâu gã dừng lại trước địa chỉ trong tấm thẻ bà đưa. Một ngôi nhà dài, thấp và cũ nép mình dưới những vòm vây cổ thụ. Gã dừng xe lại, băn khoăn không biết có đúng chỗ không. Gã còn đang dáo dác tìm tấm biển với hàng chữ “Southwood Hospice”, thì hai người nữ hộ lý trong đồng phục màu xanh bước ra với một chiếc xe lăn.

Gã mở mắt ra, thấy mình đang nằm chơ vơ trên một thung lũng tuyết. Sói nâu ngồi bên cạnh, liếm những vết thương trên thân thể gã. Quần áo gã rách bươm, bết máu. Gã nhìn quanh, không thấy con sói đen. Nó biến đâu mất sau trận chiến. Gã không nhớ hết những gì đã xảy ra. Gã chỉ nhớ rằng khi gã tung bộ tim gan của một con dê núi cho sói nâu thì sói đen quay qua tấn công gã, vật gã té lăn ra đất. Sói nâu nhảy vào cứu lúc gã bắt đầu ngất lịm.

Gã cảm thấy phía sau của cả hai đùi đau chói. Con sói đen mưu ma đã nhằm vào khoeo chân nơi nó có thể dễ dàng phá đứt những bó mạch (máu) thần kinh, làm cho gã vừa bại liệt không di chuyển được vừa chảy máu cho đến chết để dễ ăn thịt. Đó là cách họ hàng nhà sói áp dụng khi săn mồi. Gã nghĩ tới những thứ đồ ăn gã đã hào phóng ban tặng cho con sói đen. Từ một ân nhân, gã trở thành kẻ thù và con mồi của nó. Không có sói nâu thì gã toi mạng hôm nay. Mắt gã liu riu muốn chìm vào cơn ngủ. Cái lưỡi ấm mềm và ẩm ướt của con sói nâu liếm lên da thịt gã mới dễ chịu làm sao. Cơn đau sau bắp vế gã dường như đang dịu dần đi. Gã nghe nói nước dãi của sói vừa chống nhiễm trùng vừa làm vết thương mau lành.

Gã mở thùng xe, xách chiếc va li đem lại cửa. Người đàn bà đã được đặt ngồi vào chiếc xe lăn. Chiếc áo khoác họ đã cởi ra cho bà nằm vắt ngang trên cánh tay một cô hộ lý. Còn cô kia thì đang thận trọng nhấc cái mũ có gắn chùm lông chim trĩ khỏi đầu của bà.

“Tôi nợ cậu bao nhiêu?” Bà già hỏi, và loay hoay mở ví tiền.

“Không gì cả, thưa bà.” gã lắc đầu.

“Cậu phải kiếm sống.”

“Bà đừng lo. Cháu có những người khách khác.”

Gần như không suy nghĩ, gã cúi xuống ôm người đàn bà xa lạ tạm biệt. Vòng tay yếu đuối của bà già cũng níu lấy gã như không muốn rời.

“Chàng trai trẻ Việt Nam vô cùng nhân hậu! Ta ước mọi người mẹ trên đời đều có con với trái tim giống như cậu. Cảm ơn cậu đã cho bà lão một khoảnh khắc thật ấm áp cuối đời. Cầu Chúa phù hộ và trả công bội phần cho cậu.” Giọng bà lão rưng rưng. Sống mũi gã cay nồng. Gã muốn nói gì đó đáp lại nhưng gã nghẹn lời.

Gã buông bà lão, quay bước trở ra trong ánh sáng nhạt nhờ của buổi sớm mai. Sau lưng gã, cánh cửa đóng sập. Như âm thanh khép lại của một đời sống. Gã trở ra xe, lạc vào những suy tư. Gã bỗng thấy cuộc đời thật ra rộng lớn hơn những ưu phiền tủn mủn cứ như độc dược giết mòn trí não gã. Đứa con trai không có linh hồn. Chiếc giường điện đa năng.

Sáng ấy, gã không chở thêm người khách nào. Gã lái xe vòng lên ngọn đồi gần nhà. Một mình gã ngồi trơ trọi trên đỉnh đồi loang lở những mảng tuyết đang tan. Gã nhận ra hơi hướng mùa xuân khi nhìn thấy những chồi xanh nhú lên trên mặt đất ướt và nâu sẫm với cỏ khô. Gã nhìn xuống xa xa qua màn sương mỏng thấy trọn một phương đông của thành phố vẫn còn lấp lánh những ngọn điện. Tất cả như thu hẹp lại trong một bức tranh tuyệt vời sống động với muôn ngàn chi tiết. Tất cả đều nhỏ xíu, chen chúc nhau, nhà cửa, cây cối, đường phố, sông nước, xe cộ, sân bay, cả đường băng nơi gã thấy một chiếc máy bay đang cất cánh. Gã dõi mắt đến chỗ tận cùng của thành phố. Ngay chỗ mặt đất chật chội kết thúc, bầu trời thênh thang bí ẩn bắt đầu. Bất chợt gã nhận ra một góc chân trời sáng rỡ lên. Lần đầu tiên sau mười lăm năm từ khi đặt chân sang đất nước Canada, gã ngây người ngắm cảnh mặt trời mọc.

 

Tháng 2, 2009
(truyện đã in trên báo Văn Nghệ số 14, tháng 3/2009)

 

 

.

bài đã đăng của McAmmond Nguyen Thi Tu


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)