Trang chính » Biên Khảo, Giữa Người Viết & Người Đọc, Phỏng vấn Email bài này

Đọc “Đường Ta Đi” của Đặng Đình Túy

 

Quyển Đường Ta Đi của Đặng Đình Túy được thưởng Giải Văn Học của Hội Y Sĩ Tự Do ở Sydney (Australia) năm 2004. Ban Giám Khảo của Giải thưởng này là những khuôn mặt văn học lừng danh như Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Phan Lạc Phúc, Nguyễn Hưng Quốc, Trần Văn Tích, và Trần Gia Phụng. Quyển Đường Ta Đi được gửi đến Ban Giám Khảo dưới dạng bản thảo và được giải nhì. Lần phát thưởng năm 2004 không có hạng nhất.

Tiểu sử của ông trên Website Newvietart.com chỉ ghi vỏn vẹn ông sinh năm 1939, ở Tuy Hòa. Trước 75, ông đi lính và dạy học. Hiện đang nghỉ hưu ở miền Nam nước Pháp. Khi tôi e-mail hỏi thêm về tiểu sử, ông cho biết hiện ông đang sống ở Grasse một nơi gần vùng biển Côte D’ Azur. Ông còn đùa thêm là người Pháp nghe nói đến vùng biển này là thèm nhỏ rãi (nguyên văn). Ông có vẻ khép kín, đối thoại bằng e-mail với tôi, văn phong nghiêm nghị, và rất khiêm tốn. Trước năm 75 ông đi lính trong Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) về sau lực lượng này được sát nhập vào Biệt Động Quân, nhưng ông không nói cấp bậc. Trong Lực Lượng Đặc Biệt ông làm thông dịch viên Anh ngữ. Tuy ông sinh ra ở Tuy hòa nhưng ông sống lang bạt nhiều nơi, sau năm 75 ông trở về Tuy Hòa dạy học. Ông bảo nhờ có bộ vó trói gà không chặt và vì ông thường ở xa nên người ta không biết quá khứ của ông, nhờ đó ông trốn tránh bị đi cải tạo. Phu nhân của ông có quốc tịch Pháp nên ông di dân sang Pháp năm 1980. Tôi đọc những bài truyện ngắn và tùy bút của ông trên website Newvietart.com và thú thật, tôi rất “mê” cách viết của ông. Cách viết đó là chẳng những có tài quan sát, ông nhìn ngắm ngoại giới và lắng nghe nội tại, và mang những nhìn ngắm của ông vào tác phẩm thật dễ dàng đến độ mượt mà. Đọc lời ông viết tôi có cảm tưởng như nghe tiếng nói từ tâm hồn của ông. Một giọng nói rất chân tình, chất chứa những quan sát, suy nghĩ, được chắt lọc rồi cô đọng lại thành một vài câu. Cái lối viết có thể dùng một câu thơ mà diễn tả “Bước đi một bước day day lại dừng.” Tôi cứ muốn trở lại với câu viết nghiền ngẫm thêm một ít nữa.

*

Hỏi: Ông viết quyển Đường Ta Đi lúc nào và bao lâu? Lý do vì sao ông viết, nếu có?

Đáp: Tôi viết quyển sách này khoảng cuối thập niên 80 trong khi đi làm kiếm sống. Thời đó chưa biết có font chữ Việt nên mỗi chiều khi tan sở, ngồi nán lại 1, 2 tiếng gõ máy không dấu cho cuốn sách. Sau lâu lắm mới mua máy ở nhà và hì hục cài được font chữ VPS keys của nhóm chuyên gia VN ở Pháp làm. Viết chỉ để đấy không có ý làm gì nữa cho đến khi có người em họ bên Mỹ khuyến khích gửi dự thi thì gửi bản thảo đến và quên đi. Một nhà văn Pháp trong một cuộc phỏng vấn nói rằng nhà văn làm việc ngay khi ông ta không làm gì, điều đó có thể áp dụng cho mọi ấp ủ của con người. Dù chưa làm được nhưng ta vẫn luôn luôn canh cánh bên lòng nên không thể trả lời được câu hỏi viết trong bao lâu. Còn lý do: tôi có nỗi đau đớn riêng trước khi hòa cùng đau đớn chung của người dân Miền Nam: bố tôi là đảng viên Cộng Sản; đa số người trong gia đình theo Cộng Sản trong khi tôi không biết nhờ thứ linh tính nào mà vùng vằng không đi theo họ. Viết là cách bày tỏ quan điểm với họ truớc khi với người khác. (Ông nói thêm trong một e-mail khác “Viết là một cách để tự cứu mình.”)

Hỏi: Trong Lực Lượng Đặc Biệt ông làm thông dịch viên Anh ngữ. Ông học Anh ngữ ở đâu?

Đáp: Học Anh văn ở trường (trời, tôi muốn hỏi vặn trường nào nhưng sợ ông chê hỗn) và nhờ đọc sách như cách trau dồi thêm và sau này thì thực hành trực tiếp với người Mỹ.

Hỏi: Viết đối với ông dễ hay khó?

Đáp: Viết có thể dễ mà cũng có thể rất khó. Điều quan trọng là hứng khởi. Và biết lắng nghe chính mình. Bất cứ một bắt đầu nào cũng do hoặc là một ý tưởng mình cho là thú vị hoặc những cảm giác gây xao xuyến. Vốn liếng chỉ có chừng đó. Trong giao tiếp với xã hội, mình có ít nhất ba giác quan để mở rộng trương hết khả năng của chúng hòng bắt chợp một cái gì đó. Rồi tự nơi này có thể là một hứa hẹn nhưng cũng có thể sau đó tia lửa không nhen nổi đám cháy, tắt ngúm, buồn hiu. Hình như André Gide có bảo đại khái là cảm xúc còn đẹp hơn cả tư tưởng. Riêng tôi, đôi khi tư tưởng cũng gây được hứng khởi dù nó kém hừng hực…

Hỏi: Trong quyển sách ông có vài bài thơ rất hay. Ông có còn làm thơ không và có bài thơ nào để tặng độc giả không?

Đáp: Trong một bài nào đó tôi có nói chuyện làm thơ và phân tích việc làm thơ với việc viết văn. Trường hợp tôi, không còn làm thơ được nữa. Tâm hồn trẻ có rạt rào hơn, khi già người ta trở nên tỉ mỉ, chậm chạp, ý thơ vừa nhập vào đã già mất nên không còn tươi được. Hình như trong bài Đọc và viết đăng trên VietArt hay là 1 bài bình thơ gì đó.

Hỏi: Truyện có thật không ạ?

Đáp: Phần lớn của quyển sách là hồi ký, tuy nhiên có vài chi tiết là hư cấu hay phóng đại.

*

Đây là một quyển hồi ký được viết với dạng tùy bút kết hợp với truyện ngắn. Câu chuyện xoay quanh một nhân vật tên Đạo và những người liên hệ với Đạo trong suốt cuộc đời của Đạo từ lúc ấu thơ cho đến khi trưởng thành với bối cảnh lịch sử chiến tranh Việt Nam. Quyển truyện có một cấu trúc linh động, độc giả có thể thưởng thức từng chương rời muốn bắt đầu từ chương nào cũng được, chứ không nhất thiết phải đọc từ đầu đến cuối. Mỗi chương khi đứng một mình nó là một bài tùy bút (hay tâm bút). Khi đứng chung với các chương khác, mỗi chương là một khoảng đời của Đạo với những ân tình, suy tư, khắc khoải, hay yêu thương trong khoảng đời ấy. Độc giả nhận ra bóng dáng tác giả trong nhân vật và những mảng đời với những hoàn cảnh có khi dịu dàng lãng mạn, có khi khắc nghiệt đớn đau nhưng cũng khó phân biệt đâu là chuyện thật còn đâu là hư cấu. Hai chương có liên hệ với nhau nhiều nhất là chương dẫn nhập “Bên Kia Núi,” chương hai “Câu Chuyện Giữa Đêm Khuya” và chương kết “Bài Hùng Ca của Kẻ Chiến Bại.” Với tôi chương Hai và chương kết cũng là hai chương cảm động nhất. Tuy nhiên những chương khác cũng đầy ắp tình cảm.

Bên Kia Núi làm tôi liên tưởng đến câu ca dao “Núi cao chi lắm núi ơi. Che khuất mặt trời không thấy người thương.” Bên kia núi hay bên kia sông bao giờ cũng nói lên một sự chia cắt, một khác biệt đến độ đối lập. Ở bên này Thanh ngó qua bên kia núi là nơi của ánh sáng kinh thành, nơi vùng địch đang chiếm đóng. Bên kia núi nói về Thanh, ngày còn nhỏ đi giao tin lấy tin, lớn lên theo bộ đội rồi phục viên. Thanh là em họ, kém Đạo ba bốn tuổi nhưng “mạnh bạo liều lĩnh hăng hái” còn Đạo “hão huyền lười lĩnh ủy mị.” Cuộc đời đưa đẩy Thanh và Đạo chiến đấu trên hai mặt trận đối nghịch nhau. “Kẻ thù ta không có phải là người” nhưng chiến tranh có thể ác nghiệt đến độ đã đưa cha con, anh em, hay họ hàng đến chỗ phải xem nhau như kẻ thù. Thanh về kịp để chứng kiến Đạo chuẩn bị đi tù cải tạo. Thanh là lãnh đạo Cộng sản nhân hậu nhưng nghiêm khắc. Thanh yêu đồng đội và được đồng đội kính mến. Tuy là người thuộc về phía thắng trận, trong lòng Thanh ray rứt mặc cảm tội lỗi là vì ông khinh địch mà thuộc hạ của ông, cô Chín, người Thanh xem như em gái, bị chết. Thanh càng khổ sở hơn khi Chín chết trong cơn đói. Trước khi bị địch phục kích Chín đã xin phép Thanh cho cô được ăn phần thức ăn dự trữ. Chín chết mà trên tay vẫn còn nắm cơm vắt. Không có gì thổi hơi sống vào tác phẩm cho bằng sự cắn rứt của lương tâm con người. Tác giả cho ta thấy một người Cộng sản biết cười buồn và biết khóc. Và động cơ gây ra nụ cười buồn và những giọt nước mắt là cái khốc nghiệt của chiến tranh Việt Nam.

Thanh cõng xác Chín trên vai có lẽ hơn hai ba cây số và sau này sẽ ôm Chín trong suốt cuộc đời dài. Anh biết rằng anh chẳng thế nào quên Chín dễ dàng, ít ra cũng trong một thời gian lâu lắm. Thân thể con người, khi đã mất sức sống, vàng như nghệ. Vàng như có ai bôi phẩm vào, vàng một cách ghê rợn vì không đều chỗ; nếu chỗ nào không vàng thì xanh như màu lá cây, bệnh hoạn khô héo. Thanh đã ôm cái màu vàng màu xanh lẫn lộn ấy như một cách sám hối. Thanh đã giật lấy nắm cơm vắt từ xác Chín giữ khư khư trong tay cho đến khi ngất đi. Bụng Chín hơi to vì nước độc nên khi ngã xuống, vạt áo bà ba bị xốc lên bày chiếc rốn. Lần đầu Thanh nhìn thấy một bộ phận kín đáo của thân thể Chín cũng là lúc Chín vĩnh viễn chia tay anh. Anh ứa nước mắt. Anh tức tưởi. Anh ân hận. Anh đau đớn vì… Chín như đau đớn cho một người tình; hay như một người anh cho một đứa em.

Với tác giả Đặng Đình Túy, có lẽ cốt truyện chỉ được dùng để hỗ trợ nhân sinh quan của ông. Đôi khi tôi có thể làm gan cả quyết là ông cho nhân vật Thanh bị đau bao tử chỉ để tạo lý do cho ông phát biểu tư tưởng này: “Ban nãy, lúc cảm thấy nhoi nhói trong bao tử anh đã chua chát tự bảo rằng, đã không cầm giữ được những gì chất chứa trong bụng thì chỉ việc đi vào nhà vệ sinh; nhưng những gì không giữ nổi trong đầu thì phải làm sao?”

Bởi vì nếu cốt truyện thật sự tối quan trọng đối với ông, thì có rất nhiều chương trong quyển Đường Ta Đi (đã được viết với dạng hồi ký và tùy bút) có thể được chuyển thể thành truyện ngắn, sắc và ngọt như truyện ngắn của Guy de Maupassant với cấu trúc chặt chẽ và kết thúc bất ngờ, như chương Thanh bị anh Địa phương quân tên Cầu phục kích, Cầu là một hiện thân của Trương Phi cứ bị người ta cho là hữu dũng vô mưu cho đến khi anh sử dụng cả trí lẫn dũng để thắng một anh chính ủy thâm trầm; như ông Thượng Sĩ của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã ra lệnh cho lính tháo vòng vây và ông ở lại chặn hậu bằng cách kêu pháo binh nã vào vị trí của mình, và chú lính tò te nhất định ở lại với ông Thượng Sĩ già đã mắng mình vì cái tật ca vọng cổ. Bảo đảm sau cái câu kết thúc người đọc như tôi sẽ bồi hồi, nhức nhối. Đến ứa nước mắt? Rất có thể. Tuy nhiên nếu ông làm thế tôi sẽ nghĩ ngay ông này có cách viết giống Maupassant. Còn viết như ông là kiểu viết của Đặng Đình Túy.

Ông có lối viết rất lạ. Ông bắt đầu chương bằng một việc không đâu. Cây gai bàn chải. Tôi không biết cây gai bàn chải là cây gì nên đọc thêm. Có lẽ đó là một loại xương rồng. Rồi người đọc liên tưởng đến cây xương rồng trông khô khan thế nhưng hoa rất đẹp. Rồi ông kể chuyện một cô gái cùng với chị em trong nhà chơi trốn tìm với anh người làm. Anh người làm bị bịt mắt nên đi lủi vào bụi cây bàn chải. Rồi ông tả cái đau của người bị gai bàn chải đâm vào người phải chờ cho những cái gai tự trồi lên, rồi ông mới để cô gái nói cái đau của một cô gái yêu một người (có thể là người có vợ) thổ lộ trên một bức thư không có tên người nhận. Người đọc phải biết cái đau khi bị gai bàn chải đâm vào người trước thì mới cảm nhận được cái đau của cô gái. Nhân vật Đạo có nhiệm vụ đi báo tin Thương, một người bạn đồng ngũ qua đời. Đạo tìm thấy trong hành lý của bạn lá thư của cô gái. Đạo tự hỏi không biết có nên đưa lá thư cho Tỷ Muội, vợ của Thương, hay không? Đưa thì Tỷ Muội buồn. Không đưa thì giống như mình không làm hết chuyện. Đạo không đưa vì anh lý luận là có thể đó là lá thư mà Thương nhận từ một người lính đồng ngũ khác, cũng như nếu Đạo qua đời ngay lúc ấy, Cẩm Đào vợ Đạo có thể nghĩ là lá thư ấy là thư của Đạo. Cốt truyện là thế nhưng nằm đằng sau cốt truyện là những khắc khoải của người sống trong chiến tranh không biết bao giờ mình chết và những đau đớn của người còn lại phải chịu. Cái chết của những người chiến đấu quá nhiều, quá nhanh, tin người chết dồn dập và chồng chất đến độ người ta không còn phân biệt được lá thư ấy viết cho ai vì đã mất thời gian tính. Nếu Thanh, người cán bộ cao cấp của miền Bắc, suốt đời đau nhức vì cái chết của Chín và cái chết này càng làm Thanh đau đớn hơn vì anh đã không cho phép Chín được ăn phần ăn của mình, có nghĩa là từ chối một cần thiết, một hạnh phúc, một lạc thú, của người sắp chết. Thì cô gái miền Nam vô danh trong lá thư đau đớn vì bị từ chối được yêu biết rằng có thể người đi là mãi mãi không về.

Trở lại hôm qua: em không chờ đến nửa đêm chợt tỉnh để “bỗng dưng sầu” như Thâm Tâm; em sầu tức khắc, như vậy vẫn hơn chứ nếu để đến nửa đêm thức giấc thì chắc em uống thuốc ngủ mất. Em rơm rớm khi anh hôn em và em òa khóc khi anh ra khỏi cửa. Em không oán ghét chiến tranh, em không nguyền rủa hoàn cảnh; em chỉ bất bình với chính em: tại sao em không có được một sứ mệnh cao cả như anh đủ để dứt áo ra đi, để dễ dàng quên khuấy đứa con gái hẩm hiu này. Anh ơi, gai-bàn-chải của em ơi, anh ở đâu, làm gì giờ này? Những câu hỏi như vậy không phải là sáo ngữ đâu anh. Anh, anh biết em ở đâu và làm gì (anh biết em nhiều, anh biết em rõ, tại sao anh có quyền hơn em?) nhưng em thì không biết gì về anh. Em muốn biết đến điên lên được. Em đau khổ đến muốn tan thành từng mảnh, từng hạt từng giọt. Xin cho em tan được thành nước mắt để lăn dài trên anh như thân thể em lăn dài trên anh đêm qua. Em đang hôn cánh tay trần của em, em thương da thịt em ở không phung phí vô ích. Màu trắng của em vô ích. No tròn nơi em vô ích. Căng tràn trong em vô ích. Cho em đi theo anh. Hãy bỏ em vào ba-lô của anh, nhét em vào túi anh, vào giày “saut” của anh để giữa chiến trận, khi cái chết gần kề mình sẽ ân ái cùng nhau rồi anh chết, em chết với anh, hơn là chết một mình ở đây…

Thú thật, tuy là phụ nữ tôi không có đủ tài để biểu lộ cảm xúc của một người phụ nữ một cách trữ tình và đầy đau đớn như thế này. Đấy, độc giả xem, ông bắt đầu từ cây gai bàn chải và kết thúc bằng cách đòi ân ái trước khi chết. Không để ý, ông sẽ dắt độc giả đi cùng trời cuối đất với lối kể chuyện như thế và độc giả sẽ quên không để ý là mình đang bị dắt đi.

Thường xuyên ông đẩy độc giả vào chỗ phải chọn lựa và cảm thấy bất lực vì mình không có điều kiện để, hay không thể chọn lựa. Ngày xưa trong chiến tranh người ta cưỡi ngựa. Kẻ thù tấn công ngựa để đánh ngã kẻ thù. Ngựa ngã có khi không hồi phục. Để giải thoát cho ngựa không còn bị đau đớn người ta bắn chết ngựa. Rồi có một lúc trong rừng. Cậu bé lính mới tò te phải canh giữ mặt trận. Chú ngủ quên xoay trở thế nào không biết thức giấc thấy bóng người, tưởng phe địch, bắn ngay cho một loạt đạn. Bạn đồng ngũ của chú cũng là lính mới giữa rừng, không thuốc tê hay mê, chết trong lúc chờ máy bay tải thương với một cơn đau mà không ai có thể làm gì được. Không thể giảm đau, cũng không thể ban phát súng ân huệ. Tác giả đặt người đọc vào giữa cơn đau, và cảm thấy cái bất lực của những người đồng ngũ và cấp chỉ huy. Đấy, nỗi đau vì chiến tranh của Đạo trước cái chết của người lính trẻ có khác gì cái đau của Thanh trước cái chết của Chín.

Trong Đường Ta Đi tác giả bắt tôi phải suy nghĩ giữa hai việc: một người không nỡ lòng bắn chết một con chim hay kẻ địch nhưng lại dám hy sinh ở lại với người thân giữa súng đạn, đâu mới là biểu hiện để đánh giá sự can đảm. Ông bắt tôi phải nghĩ đến tội thờ ơ với đất nước.

Nếu luận tội thực sự thì mỗi người dân miền Nam đều mang trên vai một bản án, có thể nặng có thể nhẹ nhưng mọi người đều đáng lãnh án cả. Trước tiên là tội thờ ơ với vận nước. Trong bộ dân luật của hầu hết mọi quốc gia, nếu một kẻ nhìn thấy kẻ khác đang lâm nguy mà không chịu ra tay cứu trợ sẽ bị buộc tội là thờ ơ trước sự sống còn của tha nhân. Trước một người mà bạn còn bị kết tội nữa là trước mấy chục triệu người! Vậy mà chẳng ai lên án chúng ta cả…

Dưới hình thức lá thư của Đạo gửi cho Thanh, tác giả chất vấn:

“… Khi Nixon thấy tình thế đã kẹt, bèn cho rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Việc rút quân và việc trao lại mọi cố gắng chiến tranh cho chúng tôi được những đỉnh cao trí tuệ nào đó sáng tác ra một danh từ khá đẹp: Việt Nam hóa chiến tranh! Như vậy có nghĩa là từ bấy đến nay thanh niên Mỹ từ ngàn dặm mang thân đến đây, ra mặt trận quần thảo với đối phương đến vỡ đầu thòi ruột trong khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi nằm nhà nghe nhạc, uống rượu, hút xì ke chăng? Và chỉ đến giờ này khi hành pháp Mỹ bị áp lực của lưỡng viện, không thể tiếp tục gửi quân sang đánh giặc hộ cho chúng tôi nên đành phải trao gánh nặng lại? Ấy thế mà các nhà lãnh đạo thông thái của chúng tôi chấp nhận danh từ hoa mỹ đó. Trong trường hợp như vậy thử hỏi có gì lạ khi dư luận quốc tế lên án Mỹ, khinh bỉ chúng tôi và ca ngợi không tiếc lời Hà Nội cờ đỏ?…”

Tôi mới vừa đọc hết quyển Lessons In Disaster của Gordon Goldstein, một quyển biên khảo công phu và tôi cho là rất khách quan; trong đó Goldstein đã nghiên cứu vai trò của McGeorge Bundy trong việc đưa đến sự thất bại của chiến cuộc Việt Nam, bắt đầu từ thời Kenedy năm 1961. Trong suốt quyển sách từ đầu cho đến cuối quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị đám cố vấn người Mỹ miêu tả là không hữu hiệu thậm chí thiếu kỷ luật. Điều này bắt nguồn từ đâu? Có phải người Mỹ đã có nhận xét này ngay từ lúc bắt đầu thay chân Pháp? Trong suốt quyển sách này tôi không hề thấy người Mỹ đã một lần hỏi ý kiến chính quyền Việt Nam trong việc quyết định vận mạng Việt Nam? Tôi cũng không nhận thấy có dấu hiệu chính quyền Việt Nam Cộng Hòa muốn Mỹ rút quân ra khỏi Việt Nam; tuy nhiên Goldstein có nói đến việc ông Ngô Đình Nhu tỏ ý không muốn có sự hiện diện của Mỹ. Ông Nhu cho rằng sự có mặt của Mỹ chỉ làm cho dân chống đối nhiều hơn. Và đó là một trong những lý do Mỹ muốn dẹp bỏ chế độ của hai ông Nhu Diệm. Điều mà tôi, một người ngu dốt về mặt lịch sử Việt Nam, nhận thấy rõ ràng qua quyển biên khảo của Goldstein là sinh linh dân tộc Việt Nam bị hủy hoại chỉ để thỏa mãn lòng kiêu căng, tham vọng chính trị của một nhóm người có quyền hành và sự bất nhân của họ còn to lớn hơn lòng tham vọng và sự kiêu căng của họ.

Nước Mỹ đất rộng, dân đông, giàu có, văn minh tiến bộ, bất cứ trong lãnh vực nào cũng chiếm ưu hạng, bất cứ cuộc thi thố nào cũng đoạt giải chiếm cúp nên người Mỹ sô vanh (từ này tôi cóp trong tạp chí Học-tập, cơ quan ngôn luận cấp cao của Đảng) là chuyện đương nhiên. Tuy vậy cái chauvinism nọ chẳng ích lợi gì cho Mỹ trong thời gian họ ở bên cạnh chúng tôi và nó còn tệ hơn khi họ vừa rút khỏi miền Nam. Vừa tự cho rằng mình nhất thiên hạ, lại vừa đóng vai ông anh chi tiền, người Mỹ đã có những quyết định đơn phương đáng tiếc trong thời gian tham chiến; kịp khi họ ra đi, thấy tình hình xuống dốc, họ càng tin rằng mọi khiếm khuyết đều từ nơi chúng tôi. Vết thương Việt Nam (đối với Mỹ) ngó vậy mà sâu, sâu đến độ trở thành một ám ảnh không nguôi!

Nhận xét này đeo đẳng tôi và tôi thấy là ông nhận xét rất đúng. Rất tình cờ tôi chọn hai quyển sách để đọc. Cả hai quyển này đều không có vẻ gì dính líu đến chiến cuộc Việt Nam. Một quyển là The East, the West, and Sex: A History of Erotic Encounters còn quyển kia là A Life on The Road của Charles Kuralt. Thú thật khi mượn quyển sách của Charles Bernstein ở thư viện tôi chỉ muốn xem người ta viết gì về tình dục, viết về tình dục thế nào là hay còn thế nào là khiêu dâm. Tôi không ngờ chiến tranh Việt Nam để lại dấu sẹo khắp nơi kể cả những chỗ tôi không ngờ sẽ nhìn thấy. Trong quyển The East, the West, and Sex: A History of Erotic Encounters của Charles Bernstein, chương Mười Một có tựa đề “I Souvenir. You Boom Boom” nói về những hoạt động tình dục cũng như quân sự của lính Mỹ khi chiến cuộc đang leo thang. Ở đây tôi bắt gặp những nhận xét sai lầm về Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa được kẻ nào đó bắt đầu và giới viết lách cứ thế mà lập lại. Tuy nhiên không phải ai cũng nghĩ xấu về quân đội Việt Nam Cộng Hòa; Charles Kuralt trong A Life on the Road sẽ không ngần ngại nói với độc giả những điều do chính ông nhận xét khi ông sang Việt Nam tháng Tư năm 1961. Charles Kuralt là một ký giả nổi tiếng của đài truyền hình CBS của Mỹ, đã cộng tác với Walter Cronkite trong mục On The Road. Trong chương Sáu có tựa đề Trung Úy Sơn, Charles Kuralt kể lại ông và người bạn phóng viên, Fred Dieterich, Trung Úy Sơn và tiểu đội của anh bị phục kích ở Bến Cát. Theo lời kể của Charles Kuralt, tiểu đội của Sơn đã chiến đấu hết sức gan dạ. Sơn hy sinh, nhưng Charles Kuralt và Fred Dieterich an toàn trở về thành phố với máu của Trung úy Sơn thấm đầy áo của Charles Kuralt. Tôi xin được trích dịch như sau:

Tôi không thể nào quên Sơn. Trong suốt những năm chiến tranh Việt nam, tôi thường nghĩ đến anh. Tôi trở lại Việt Nam nhiều lần và lại vào rừng với quân nhân – lúc ấy đã là lính Mỹ – và có mặt khi những quân nhân khác thiệt mạng ở trong rừng. Khi cuộc chiến tranh tiếp diễn không biết sẽ dẫn đến đâu, và con số lính Mỹ tử thương tăng dần, câu nói của người Mỹ là thanh niên Mỹ chết vì chuyện không đâu trở nên một câu nói thời thượng. Tất cả các bạn tôi đều đồng ý đây là một cuộc chiến phi nhân đạo, đế quốc Mỹ tấn công nhân dân Việt Nam.

Tôi không bao giờ nghĩ như thế. Người Việt mà tôi gặp không muốn có chiến tranh. Họ chỉ muốn được sống yên ổn. Họ bị quân đội miền Bắc xâm lăng, đạo quân này được gửi đến bởi một chính quyền mà họ căm ghét. Tôi nghĩ đến Sơn, người muốn Việt Nam được tự do đến độ anh sẵn sàng tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng ngay cả sau khi anh mãn hạn chiến đấu. Tôi nghĩ đến những quân nhân của đội 150, người đã phóng vào rừng tiếp tục bắn súng, người đã trèo lên cây với sợi ăng ten truyền tin trong mồm. Tôi đã nghĩ và vẫn còn nghĩ, công lý và chính nghĩa là ở phía những người can đảm này. Tôi ghét về sau trở lại nơi ấy và nghe người cùng xứ sở với tôi gọi họ là “gooks.”

Đạo quân Ma Dunharrow trong Lord of The Rings của Tolkien vì không giữ lời hứa giúp Isildur chống Sauron mà bị nguyền rủa phải sống trong nỗi nhục và khi chết không được siêu thoát, linh hồn của đạo quân ma này bị giam cầm ở Tử Đạo. Họ chỉ được giải thoát khỏi lời nguyền nếu họ giúp hậu duệ của Isildur khôi phục giang sơn. Về sau đạo quân Ma giúp Aragorn, giòng dõi của Isildur, chiếm lại vương quốc. Họ được giải nỗi oan nhục và linh hồn họ được siêu thoát. Rất tiếc cho những người lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa không có cơ hội biện bạch cho cái sai lầm gán cho họ. Với nhận xét thâm trầm, giọng văn ôn hòa, cái nhìn về chiến tranh Việt Nam của Đặng Đình Túy là cái nhìn đã lắng trầm theo thời gian. Ông mang đến cho người đọc một cái nhìn, và nhìn lại, có phần nào khách quan hơn. Ông buộc người đọc phải tự vấn lương tâm của mình, và cũng như Charles Kuralt, ông góp giọng vào bài hùng ca cho những người chiến bại. Bài học về chiến tranh Việt Nam không bao giờ muộn màng.

 

Một vài đoạn được trích như sau:

“Chúng ta tranh đấu để được sống tự do nhưng tự do ở miền Nam chẳng phục vụ hữu ích cho miền Nam, đôi khi cái tự do ấy còn phục vụ cho phía bên kia chiến tuyến nhiều hơn, hữu hiệu hơn.”

(Tôi chắc là độc giả sẽ liên tưởng ngay đến những điều mà ông Tô Hải viết làm sôi nổi dư luận gần đây.)

“Người quả phụ nhận xác chồng bọc trong túi ny-lông tức tưởi không vì mất mát một nửa xác thân nhưng vì một hy sinh vô ích: một nửa miền Nam mất còn trong gian nan để một nửa miền Nam kia ngang nhiên cướp bóc thụ hưởng…”

“Ân huệ quan trọng nhất mà Thượng Đế ban cho loài người không phải là trí nhớ mà là khả năng lãng quên. Vậy thì đừng vội vàng sử dụng khả năng ấy khi nỗi nhức nhối chưa tan.”

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)