Hội An và Volendam
Tôi đến Volendam vào mùa thu năm 2000. Mùa thu ở miền bắc Âu không huy hoàng như Paris hay miền núi Trung Âu, nó vẫn xam xám cái màu cố hữu của vùng biển Bắc, và mưa lất phất bay trên ngôi làng chài cổ kính. Làng này có lịch sử rất xa xưa, nghe đâu được tạo dựng từ thế kỷ 14, và trải qua bao dâu bể của lịch sử Hà Lan, ngôi làng vẫn….như thời xa xưa ấy. Tôi đứng trên con đường nhỏ vào làng mà nghĩ tới sự thách thức thời gian của những ngôi nhà cổ hai bên đường, mà trên tất cả là sự thách thức dòng lịch sử kinh tế xã hội như vũ bão đã diễn ra trên xứ sở này.
Có thể nói không ngoa rằng lịch sử thế giới hiện đại bắt đầu từ đây, từ Hà Lan, xứ sở của những người chăn bò sữa và đánh cá cần cù, những lái buôn thông minh. Họ đã hoài thai những ý niệm đầu tiên về thị trường chứng khoán, về tự do thương mại,…về chủ nghĩa tư bản. Với lãnh thổ và dân số khiêm tốn của mình, người Hà Lan đã đi tiên phong trong sự hình thành thương mại toàn cầu với những hạm thuyền lừng danh của công ty Đông Ấn Hà Lan. Nước Hà Lan ngày nay không nằm trong G7, thậm chí G8, là các quốc gia có nền kỹ nghệ hàng đầu, do kích thước quá khiêm tốn của mình (vốn chỉ rộng hơn đồng bằng sông Cửu Long một chút), và cũng có thể là do di chứng của căn bệnh Hà Lan ngày xưa, khi phát hiện ra những mỏ khí đốt khổng lồ, hậu duệ của những người xây đập đã ngủ quên giấc Nam kha bên ánh lửa tài nguyên phong phú. Tài nguyên không tái tạo, than ôi bài học vỡ lòng dễ đâu ai cũng thuộc!
Các cuộc chiến tranh đã trôi qua, nóng và lạnh, các chính biến và cách mạng, người ta đã khôn hơn, bình thản hơn. Hà cớ gì phải hì hục phát triển công nghiệp nặng trên mảnh đất mong manh giành giật từ tay biển cả này? Những người khổng lồ Shell, Philips…chắc hẳn đã đủ tôn vinh danh tiếng quốc gia trên toàn cầu. Mảnh đất thấp đầy bùn nhão và cạn kiệt khí thiên nhiên vẫn điềm nhiên tạo ra giá trị thặng dư cho chủ nhân của nó mà không cần tới công nghiệp nặng: sữa bò, đánh cá, chế tác kim cương, chế tạo bia, và…du lịch. Nhẹ nhàng, sung túc!
Ngôi làng Volendam ít nhiều mang hình ảnh ấy của nước Hà Lan.
Từ đô thị phồn hoa Amsterdam, du khách băng qua những cánh đồng ngay ngắn tinh tươm thoảng mùi phô mai và bất ngờ dừng bước trước ngôi làng nhỏ. Không hàng quán, không khách sạn mini lẫn phồn hoa hiện đại, Volendam thỏa lòng khao khát shopping của du khách một cách chừng mực trong vài cửa tiệm bán postcard, guốc gỗ, và …y phục thế kỷ 14. Các cửa hàng này quây quần quanh một quảng trường nhỏ cổ kính, và không xa là bến thuyền, những con thuyền trắng nằm phơi mình dưới làn mưa nhẹ, vài tia nắng hiếm hoi lấp lánh trên cột buồm. Người Volendam vẫn ra khơi đánh cá, trên những con tàu hiện đại, và cá được đưa về đâu đó trong khu chế biến xa xa, để lại bến cảng cổ kính trầm tư trong mưa thu nhuần nhị đón khách đường xa.
Đã có một lớp cư dân không làm nghề chài kéo đến Volendam, những người giàu có, đa phần lớn tuổi, để được tận hưởng không khí thanh bình xưa cũ. Giá nhà ở Volendam vì thế đắt lên, nhưng nhờ thế mà phố cổ vẫn còn nguyên vẹn. Tôi đi dọc con đường chính, cảm nhận hồn phách xa xưa qua những viên đá lót đường, ngắm nhìn các chậu hoa xinh xinh bên bậu cửa sổ, một bà cụ già ngồi đọc sách, một người đạp xe thong thả lên dốc… Chúng tôi cùng cả trăm du khách như lọt thỏm giữa bầu không khí cổ kính bao la khiến tôi chạnh lòng nhớ tới Hội An. Lần đầu tới Hội An năm 1993 tôi cũng có cảm giác ấy…
Mùa thu hai lẻ chín tôi trở lại Hội An. Tôi đã đến Hội An nhiều lần và phải thú thực rằng tôi yêu ….ngôi làng đó. Và lo lắng nhìn thấy nó được tôn vinh là thành phố…
Hình như có quan niệm cho rằng hạnh phúc sẽ tăng lên theo sau những danh hiệu! Vâng, thì thành phố Hội An! Thành phố cổ có nhiều cái….mới. Quảng trường Sông Hoài với mấy cái trụ bê tông như bước ra từ tiểu thuyết của Kim Dung tiên sinh, đường Nguyễn Phúc Chu mới tinh tươm bên hữu ngạn, hai ba khu ….ẩm thực có lẽ là một thử nghiệm đột phá của cái gọi là du lịch cộng đồng, ngôi chợ cũ kỹ đang được xây lại (mà chỉ mới xem mô hình không thôi đã thấy…hoành tráng đến phát choáng)….Bước chân lang thang đưa người du khách nặng lòng với làng Hội An năm xưa ra biển cửa Đại. Cả một đoạn đường bốn cây số từ Hội An xuống biển hầu như không còn đất trống nữa, vài mảnh ruộng buồn bã hắt hiu…Đủ loại kiến trúc, từ giả cổ đến hiện đại hăng hái vươn lên, với bao đường ngang lối tắt đều đã được hóa bê tông, bao vây mấy khu vườn xưa cố chấp đứng trân mình chối từ niềm vinh dự lên thành phố.
Những con đường trong khu bảo tồn đông nghịt du khách và người bán hàng,… hình như dân số Hội An đang gia tăng?! Đâu rồi không gian cổ kính bao la như tôi đã có với Volendam? Đâu rồi những bức tường rêu khiến không gian và thời gian quyện chặt, vun vút đưa ta ngược về với thật nhiều năm trước? Gió lồng lộng thênh thang, không hề phải len lỏi cúi luồn giữa những khối bê tông đầy sắc màu hiện đại. Hội An khi ấy…ít người, shop ít mà nhà hàng cũng thưa. Không như hôm nay, Hội An đang dần trở thành một cái shop khổng lồ!
Cô bạn vong niên của ở Hội An cho rằng sự sôi nổi của thương mại như thế quả cũng không hay nhưng trong chừng mực nào đó thì nó tạo điều kiện cho Di tích Hội An sống, chứ không phải như một bức tượng hay một phế tích. Nhưng Volendam không hề chết! Những cánh đồng Hà Lan xung quanh Volendam vẫn rạo rực mùi phômai, người Volendam vẫn đánh cá, vẫn hàng ngày mang đôi guốc gỗ ra đồng…Mấy người đánh cá ở Hội An nay đâu? Mấy làng dệt chiếu ven sông Thu liệu có còn không? Tôi thấy thấp thoáng một lão chài quắt queo nơi Cửa Đại, tôi nghe tiếng dệt chiếu rộn lên rồi tắt ngấm trong các shop phục vụ du khách. Quá vãng của Hội An chỉ còn là những đoạn phim sống mua vui cho du khách trong thoáng qua. Phải chăng Hội An đã đoạn tuyệt với quá khứ buồn bã, nằng nặng mặc cảm của nông thôn và cả ngư dân? Hội An bây giờ lấy du lịch làm chủ đạo? Du lịch không chỉ dừng lại ở mấy con đường hẹp quanh chùa Cầu, nó lan xuống biển, kéo theo hàng loạt các dịch vụ vệ tinh, nó hiên ngang ngự trị trên các cồn cát biển bao đời nay chỉ biết có sóng và thuyền thúng. Hàng trăm taxi dập dìu đưa khách từ phố xuống, rồi từ biển lên, tất bật rộn ràng…
Lúc dịch SARS bùng nổ tôi có dịp đến Hội An, phố vắng như tờ, khách sạn đìu hiu lặng lẽ…Nhưng cái vắng lặng ấy không phải là cái hồn tĩnh tại của mấy trăm năm hoá thạch khiến ta phải kính cẩn lắng nghe.Đó chỉ là sự im lặng lo âu của gã chào hàng trong bữa chợ thất bát. Có những điều không thể đảo ngược khi nó đã vận hành theo một cách nào đó. Khi dịch SARS đi qua thì du khách trở lại, du lịch vẫn là chủ đạo. Không còn thấy đâu nữa bóng bà cụ áo nâu cũ kỹ bán lục tàu xá như trong những lần đầu tôi đến Hội An! Bây giờ là các cô bán hàng mặc áo lụa ngời ngời, tay lăm lăm tờ menu, miệng đon đả “Sir! Sir! Madame! Madame!” (Ông ơi! Ông! Bà ơi! Bà!) ở các khu ẩm thực quy hoạch….
Những thức quà quê có lẽ không còn ngon như xưa, nhưng rõ ràng người Hội An khá lên đấy chứ! Nếu cứ mãi tiếc nuối cái hình ảnh xưa cũ thì e rằng ta lại thành kẻ ích kỷ! Nên tôi chỉ dám mong cho ông lão chài lưới nơi Cửa Đại, cô gái bán những con giống bằng đất sét…cũng hài lòng trong cái nếp du lịch chủ đạo ấy, và ngộ nhỡ…lúc nào đấy không có du khách thì Thành phố Hội An vẫn là nơi vui vẻ bình yên. Và mong sao cho cái linh hồn xưa cũ của Hội An, cái làm cho du khách đến đây, không mất đi, không khiến nó biến thành người khác!
Buổi chiều tôi rời Hội An nắng vàng rực rỡ., Tôi cứ tần ngần mãi bên cánh cửa gỗ của Bảo tàng Gốm sứ Mậu dịch, trên cánh cửa này là một khung sắt có rèn hình huy hiệu của Công ty Đông Ấn Hà Lan. Đã có những người Hà Lan đặt chân đến đây, có ai đến từ Volendam không nhỉ?
Sài Gòn
Mùa mưa 2009
bài đã đăng của Trần Đăng Khoa
- Potala - 02.01.2012
- Khái Niệm Critical Thinking Nhân Đọc Bài Viết của Nguyễn Hữu Liêm - 12.09.2010
- Tui Coi Đá Banh - 09.07.2010
- Áo Vàng, Áo Đỏ và Sinh Nhật Đức Phật - 31.05.2010
- Hội An và Volendam - 28.07.2009
- Ảo ảnh Vân Nam - 20.07.2009
- Lahsa 2008 - 03.07.2009

Thêm 1 lần nữa 1 bài viết rất ngậm ngùi của Tác giả về các địa danh. Tôi cũng có cảm giác như Tác giả đối với Đà Lạt ngày nay, khi được “phong hiệu” là “đô thị loại 1″, nhưng tôi không thể nào bày tỏ cảm xúc 1 cách chân thật và tuyệt vời như Tác giả. Xin cảm ơn Tác giả
Về Hội an, quê tôi !
Tất nhiên là khi yêu thì ai cũng có quyền dệt mông !
Dẫu “hoài cổ” hay “nghinh tân” thì cũng là tình lưu luyến (xin cảm ơn)
Nhưng hạnh phúc cho người hay hạnh phúc cho ai!
Không phải bởi cái quần thể resort đẹp lạc lõng kia, cũng chẳng bởi những làng truyền thống năm nao
Mà bởi ánh mắt, giọng buồn man mác của Mẹ già với Em thơ
Bên đời khắc khổ !
Đích thực là cái nhìn nhạy cảm của tâm hồn nghệ thuật. Anh đã nghe được “tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” của một đời lá kia mà! đó là cái tâm đối với cái đẹp, với cái vô giá mà nếu bây giờ, các nhà hoạch định định hướng sai lầm thì sẽ không thể sửa sai được. Cái giá phải trả là rất đắt. Điều anh lo lắng cũng là nỗi đau đáu của nhiều anh em văn nghệ sỹ khi danh xưng Thành phố được biết đến như một khái niệm quá mới mẻ đối với những người Hội An và bao người yêu mến Hội An.
“Một góc phố trong mưa nhạt nhoà ánh nắng,
một gợn sóng vàng lấp lánh trăng soi
Cổ tích ngày thơ, mẹ kể một chiều
Chuyện Con Cù quẫy đuôi, gươm vàng yểm thủy
Và …Tiếng guốc ai xa gõ nhịp cuối đường
Một tiếng rao đêm trong như giọt nước
Như duyên nợ từ muôn kiếp trước
Nếu vắng người, phố nhỏ biếng trầm tư!
để giữ được cái “Hồn của Phố” cái thần chủ thơ ca về Hoài Phố cần có những tấm lòng biết yêu giá trị của cái đẹp. (theo định nghĩa văn hoá). Quý hoá thay! Giữ được nó thì mới còn và có những tác phẩm văn học giá trị về Hội An.
Giữ những giá trị mà theo cách nói của nhà thơ Chế Lan Viên:
” Hội An không là quê
Mà là hương, khổ thế!
Quên quê-ai có thể
Hương ư? Ôi dễ gì!”
Cám ơn nhà thơ Trần Đăng Khoa. Mong rằng mùi Hương thầm Phố Hội sẽ không mất đi trong tâm khảm bao người, mãi mãi theo thời gian lan toả. Mong Hội An của tôi sẽ tồn tại như một Volendam.
Mong thay !
Phạm Phú Sương ( Hội An- Quảng Nam )
Gửi Phạm Phú Sương
Có lẽ bạn nhầm tôi với 1 nhà thơ trùng tên, họ, chữ lót. Tôi vốn không phải nhà thơ, chỉ rong chơi đây đó rồi tuỳ …bút (hứng). Quê ngoại tôi cách Hội An không xa, chỉ khoảng 20km, đi ngược về nguồn sông Thu.
Đọc những bài trước của Trần Đăng Khoa, tôi thật sự rất thích, và cũng phân vân không biết tác giả có phải là nhà thơ “gốc sân và khoảng trời” ở Việt Nam hay không. Chưa kịp hỏi thì nay đã gặp được câu trả lời của tác giả. Xin cảm ơn và rất mong được đọc tiếp những bài khác của anh trên Damau!
Phần Góp Ý/Bình Luận