Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định Email bài này

Hương Thái Cổ, Cánh Chim Trời: Đọc và Dịch Thơ Nguyễn Sỹ Tế

Ng Sy Te

Lời Giới Thiệu của người dịch: Nguyễn Sỹ Tế sinh năm 1922 tại Nam Định, Bắc Việt. Ông là lý thuyết gia của tạp chí Sáng Tạo, thành lập trong Nam vào giữa thập niên 1950. Ông được các thành viên của nhóm Sáng Tạo, như Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, v.v.. nhìn nhận như người “anh cả” của nhóm.

Ngoài một số biên khảo văn học và truyện ngắn đã xuất bản tại Việt Nam và Hoa kỳ, Nguyễn Sỹ Tế, với bút hiệu Người Sông Thương, cũng sáng tác nhiều bài thơ bằng tiếng Việt cũng như tiếng Pháp. Những tác phẩm được nhắc nhở nhiều của ông là Chờ sáng, Khúc hát Gia Trung, Chants d’Ya, Bốn phương mây trắng ….

Sau biến cố 30 tháng 4, 1975, nhà văn Nguyễn Sỹ Tế bị tù cải tạo nhiều năm vì tôi “tham gia tổ chức phản cách mạng” trước khi được sang định cư tại Hoa Kỳ. Ông qua đời vì bệnh tim tại Quận Cam, Nam California, vào tháng 8 năm 2005.

Tập thơ Khúc Hát Gia Trung: Thơ Hồi Niệm của Một Tội Đồ (nxb lmn: 1994), ghi lại những cảm nghĩ của nhà thơ trong 10 năm đi tù. Sau một năm bị giam giữ tại sở An Ninh Nội Chính Sài-gòn, vào năm 1977 chính quyền Cộng sản tải ông đến trại tù Gia Trung, Pleiku (Gia Trung được phiên âm từ chữ Ya-Zun, trong ngôn ngữ Thượng có nghĩa là “nơi có suối.”) Vào tháng Giêng năm 1985, Nguyễn Sỹ Tế bị chuyển đến trại tù Hàm Tân (Long Khánh), nơi ông nhận xét “còn nổi tiếng hơn Gia Trung về mặt khai thác sức lao động của người tù để kinh doanh kiếm lời rất mau và rất lớn..” Ông bị giam ở đây đến tháng 10 năm 1987 thì được trả tự do.

Trong lời Khai Từ cho tập Khúc Hát Gia Trung, Nguyễn Sỹ Tế nhận định về thi ca Việt Nam nói chung, và quá trình sáng tác thơ của ông, như sau:

Thi ca của Việt Nam cũng như của thế giới đã đổi thay nhiều từ nửa thế kỷ nay. Và của tôi phần nào cũng thế. Từ những bài thơ theo quy luật cũ, kể cả thơ mới của buổi thiếu thời, tôi đã chuyển qua thơ tự do khi tôi tham gia phong trào đó ở miền Nam sau 1954 …. Vào tù, tôi bó buộc phải trở lại với các hình thức cũ hiền lành và dung dị hơn chỉ vì một lẽ đơn giản là sự đòi hỏi của ký ức: dễ bề cấu trúc, dễ bề thuộc lòng, dễ bề bảo tồn và hồi tưởng các thi phẩm.

….

Với công việc làm thơ-một phương giải thoát tự nhiên như bản năng sinh tồn-tôi đã tạo cho chính mình một cực hình kỳ lạ: làm thơ thầm trong đầu óc, lẩm nhẩm thơ trên đầu ngón tay trong đêm tối, học thuộc lòng thơ của chính mình …. Ngay lúc đó đã cả là một cuộc chiến đấu nặng nề trong trí nhớ đã suy thoái trong tháng năm và trong cảnh bị dập vùi. Môt lần ở Hàm Tân, tôi đã viết thơ lên giấy, xếp thành tập nhưng rồi vì một biến động trong trại, tôi phải hủy bỏ tác phẩm của mình. Về Saigon, tôi tái lập những thi phẩm của tôi một lần nữa, đưa cho Thanh Tâm Tuyền đọc. Năm 1989, trong chiến dịch “tái đánh văn nghệ sĩ,” tôi buộc lòng phải hủy bỏ chúng một lần thứ hai.

….

Ngay từ trước 1975, tôi đã nhận thấy một cuộc khủng hoảng trong thi ca của ta. Hiện nay, tôi cũng chưa dự đoán được là cuộc khủng hoảng đó kéo dài bao lâu nữa và sẽ có một lối thoát nào. Cho nên trong tù, tôi chỉ còn biết lo toan về chất liệu của thơ hơn là về thi pháp. Từ chất liệu khổ đau tôi chắt chiu lấy một tinh lọc nhỏ ….

Tôi thành thực tán thưởng các bạn tù của tôi đã có những tập thơ đấu tranh đầy máu lửa, những thi phẩm hiện thực phũ phàng đến ngột ngạt. Bởi quan niệm tranh đấu của tôi có khác. Tôi như một người, theo một câu nói của một nhà văn Trung Quốc nói về các triết gia của họ, “mơ màng với một con mắt mở, [đ]ể không bị cắt đứt bởi thực tại mà cũng không bị kéo xuống bởi thực tại.

Nguyễn Sỹ Tế cũng so sánh khuynh hướng thi ca của ông với các nhà thơ khác trong nhóm Sáng Tạo:

Cả hai Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên đều chủ quan và hiền lành. Các anh đã gán cho thi ca những cứu cánh quá cao xa và hướng vào một thứ thẩm mỹ còn ‘cổ điển.’ Tôi thấy thi ca chỉ là một hiện tượng cá nhân, trong đó những yếu tố trí tuệ, tâm lý, sinh lý của nhà thơ và người đọc thơ bị khuấy động. Tôi nghiêng về một thứ thẩm mỹ của sự chênh vênh, của sự mất cân đối, một thứ thẩm mỹ của sự va chạm.[1]

Có thể nói, 4 bài thơ được trích dịch từ Khúc Hát Gia Trung, “Áo Xanh,” “Không Xuân,” “Cái Chết của Một Con Sáo,” và “Nhớ Biển” đều biểu lộ điều mà Nguyễn Sỹ Tế định nghĩa là “thứ thẩm mỹ của sự va chạm.” Đây là những bài thơ giản dị, u uẩn, đượm “hương thái cổ” dập dình giữa hiện thực và trừu tượng, và đồng thời, như những “cánh chim trời,” cũng hàm súc những tư tưởng, tình cảm phổ quát, mà khi đuợc dịch sang Anh ngữ vẫn tạo được sự gần gũi với độc giả ngoại quốc. Những ghi chú của Nguyễn Sỹ Tế dưới những bài thơ trong tuyển tập cũng giúp người đọc hình dung được khung cảnh bài thơ, cũng như hoàn cảnh sáng tạo của chúng.

Áo Xanh

Tặng Thanh Tâm Tuyền

Anh ngồi trong nắng thủy tinh
Ôm sầu dã thú nép mình cô đơn
Thời gian lả tả vàng son
Dậu thưa hiện-thực lối mòn suy tư.

Âm ba chuyển độ bao giờ
Suối nghe tưởng tiếng trẻ thơ nô đùa.
Xuân, Thu, Nhã Điển mấy mùa
Mùi hương thái cổ gió lùa rừng phong.

Ven đồi mấy nấm vùi nông
Nỗi hờn siêu thực một dòng vây quanh.
Sá gì một tấm áo xanh,
Nước non cát bụi Kinh Thành biển dâu.

(Ghi chú của Nguyễn Sỹ Tế: Hai năm đầu, tù nhân được phát một năm hai bộ quần áo vải, màu xanh chàm)  

 

Blue Shirt

To Thanh Tâm Tuyền

In crystalline sunlight you
Bear your sorrow like a lonely wild beast
Time has peeled off its gold-crimson veneer
Life has frayed the bamboo fence, anguish worn down your path.

When did the stream’s cascading sounds
Become the laughter of children at play
Spring and Fall have come and gone in Athens
The wind blows ancient perfumes through the maple forest.

On the hillside lie shallow graves
Enclosed by a stream of surreal rage
Your blue shirt, bare comfort,
Your country has turned to dust
Your city a vast wasteland.

(Note by Nguyễn Sỹ Tế: During the first 2 years, prisoners are given two sets of blue indigo shirts and trousers each year.)

Trước khi thảo luận về cách đọc và dịch thơ Nguyễn Sỹ Tế, tôi muốn đề cập đến trạng thái lửng lơ (stalemate) giữa quen thuộc và xa lạ mà người dịch thường phải đối đầu trong quá trình chuyển ngữ. Có những điển tích hoặc tư tưởng mà độc giả của bản gốc, vì thấm nhuần bối cảnh văn hóa, có thể hiểu ngay nhưng qua bản dịch cần được diễn tả cụ thể hơn (nhưng hy vọng vẫn không hoàn toàn mất đi vẻ xa lạ, “mới mẻ” vì xuất xứ từ một văn hóa khác).

Cách đây gần một thế kỷ trước, nhà thơ Erza Pound đã dịch bài thơ Ngọc Giai Oán (Oán Hận trên Thềm Ngọc) của Lý Bạch như sau:

The Jewel Stairs’ Grievance

The jewelled steps are already quite white with dew,
It is so late the dew soaks my gauze stockings,
Anh I let down the crystal curtain
And watch the moon through the clear autumn
.

(Nguyên văn:

Ngọc Giai Oán

Ngọc Giai sinh bạch lộ
Dạ cửu xâm la miệt
Khước há thủy tinh liêm,
Linh lung vọng thu nguyệt.

dịch:

Oán Hận Trên Thềm Ngọc

Đêm khuya thềm ngọc đầy sương,
Tất là thấm lạnh, thêm thương nỗi lòng.
Buông mành yên giấc cho xong,
Hãy còn lấp ló đứng trông trăng già.

bản dịch tiếng Việt của Trần Trọng Kim)[2]

Vì nghĩ rằng độc giả Anh ngữ không thể hiểu được nỗi lòng u tịch của người trong thơ, Erza Pound đã phải chú thích dưới bài thơ như sau:

Note.—Jewel stairs, therefore a palace. Grievance, therefore there is something to complain of. Gauze stockings, therefore a court lady, not a servant who complains. Clear autumn, therefore he has no excuse on account of the weather. Also she has come early, for the dew has not merely whitened the stairs, but soaks her stockings. The poem is especially prized because she utters no direct reproach.

tạm dịch:

Ghi chú —Lầu ngọc, có nghĩa là cung điện. Than thở, vì có điều phải phàn nàn. Vớ lụa, tức là một cung phi, không phải là tỳ nữ đang phàn nàn. Trời thu trong, cho nên người lỡ hẹn không thể lấy cớ là thời tiết xấu. Hơn nữa, nàng đã đến chỗ hẹn sớm (và phải đợi lâu), vì sương không những đã làm trắng bậc thang của lầu ngọc, mà còn thấm qua vớ. Bài thơ này thật tuyệt vì người trong thơ không trách móc thẳng thừng.

Erza Pound, một nhà thơ theo trường phái Tượng Hình (Imagism), chủ trương rằng một bài thơ phải chính nó “nói thẳng” với người đọc, đã tự mình phản lại khuynh hướng này khi thêm lời chú thích cho bài Ngọc Giai Oán. Khi Erza Pound  dịch thơ Lý Bạch vào năm 1912 với ngôn từ hiện đại, súc tích và giản dị trong Anh ngữ (khác với cách dịch rườm rà, “cải lương” của các nhà thơ thời nữ hoàng Victoria ở cuối thế kỷ 19), ông đã không tin tưởng rằng người đọc có thể hiểu rõ được ý của Lý Bạch lúc đọc bản dịch của ông  chính vì sự đơn giản của bản dịch đã để lộ những kẽ hở (interstice) hoặc mất đi những “mạch nối ngầm” mà độc giả Trung Hoa hay độc giả Việt Nam đọc bản dịch từ chữ Hán có thể hiểu ngay (vì đã thấm nhuần văn hóa Á Đông).

Vấn đề “kẽ hở/không có những mạch nối” cũng phát hiện trong quá trình dịch thơ Nguyễn Sỹ Tế. Như nhà thơ đã thố lộ, thơ của ông, vì phải sáng tác trong tù như một phương pháp tĩnh niệm để khỏi bị mất trí, đã mang cấu trúc “hiền lành” tuy nội dung đã được cất lọc. Thay vì dùng chú thích (ngoài chú thích sẵn có của tác giả về bối cảnh sáng tạo của bài thơ) vì nếu vậy bài thơ sẽ khó “nói thẳng” được với độc giả), tôi nghĩ mình phải tạo cho bài thơ trong tiếng Anh có những mạch nối hữu cơ để độc giả Anh ngữ hiểu được ý của bài thơ tương đương như người đọc trong nguyên bản tiếng Việt.

Thí dụ, trong bài Áo Xanh, câu “dậu thưa hiện thực, lối mòn suy tư” rất khó dịch. Theo cách hiểu của tôi, Nguyễn Sỹ Tế đã đảo ngược chủ từ và động từ trong câu, cho nên, trước khi dịch sang tiếng Anh, tôi đã hiểu câu trên là:

“Hiện thực đã làm thưa thớt, xơ xác giàn dậu, suy tư đã làm mòn lối đi.”

Trong tiếng Anh có hai động từ, “to slacken” (nới lỏng) và “to fray” (làm xơ xác). “To fray” tượng hình hơn, và cũng nhuyễn hơn trong tiếng Anh (vì không ai nói trong tiếng Anh là “reality slackens your bamboo fence” (hiện thực nới lỏng giàn dậu của anh), cho nên tôi đã dịch toàn câu như sau:

Reality has frayed your bamboo fence, anguish worn down your path. (Hiện thực đã làm xơ xác giàn dậu, sự dằn vặt/suy tư đã làm mòn lối đi/khuynh hướng đời sống của anh. Chữ “path” trong tiếng Anh có thể hiểu tương đương như chữ “lối đi” hay “đạo/đường” trong tiếng Việt.)

Hai câu cuối trong bài Áo Xanh cũng rất khó dịch:

Sá gì một tấm áo xanh,
Nước non cát bụi Kinh Thành biển dâu.

Theo cách tôi hiểu, Nguyễn Sỹ Tế muốn nói rằng tấm áo xanh (bắt buộc người mặc mang lên người bản sắc tội đồ/quân “ngụy”) thật ra chỉ là một bất hạnh nhỏ (sá gì /chả đáng gì), so với chuyện người tù (người quốc gia) phải chịu đựng cảnh mất nước, và mất đi quyền được gọi tên thành phố là Sài gòn. Thêm nữa, khi dịch, tôi không thể dịch “biển dâu” là “mulberry sea” vì độc giả Anh ngữ, nếu không quen thuộc với điển tích “tam thập niên vi nhất, thương hải biến vi tang điền” trong Thần tiên truyện (chu kỳ 30 năm một lần biển cả còn biến thành ruộng dâu huống chi con người chỉ là hạt bụi trong vũ trụ của tạo hóa, thì sự chuyển dịch từ cõi này qua cõi khác là chuyện bình thường), sẽ thấy cách dịch “mulberry sea” là hoàn toàn ngớ ngẩn hoặc vô nghĩa.  Vì thế, tôi đã dịch hai câu này sang 3 dòng tiếng Anh là:

Your blue shirt, bare comfort, (áo xanh của anh, một thoải mái trơ trẽn)
Your country has turned to dust (nước non (anh) thành cát bụi)
Your city a vast wasteland (thành phố (anh) thành đất hoang).

Vì phải thêm câu thứ ba (thay vì hai câu cuối trong nguyên bản của Nguyễn Sỹ Tế) cho nên có lẽ giải pháp này không phải là giải pháp hoàn hảo nhất, nhưng tôi không biết làm sao hơn.

Không Xuân

Đông cắt thịt trải tù buổi sớm
Lên sườn đồi, trưa hạ như thiêu.
Chiều, thu lại điệu tù về trại
Tù thiếu mùa Xuân, thiếu đủ điều.

No Spring

Flesh-cutting winter dawn herds prisoners
up the hillside. Summer noon sears.
Fall afternoon returns the prisoners to camp
There is no Spring in prison there is nothing.

Bài “Không Xuân” tương đối dễ dịch. Động từ “trải” trong nguyên bản trở thành “herd” trong tiếng Anh, có nghĩa là “xua lùa,” như ta xua lùa đàn gia súc ra đồng. Tôi dùng chữ “herd” với ngụ ý là đám tù nhân không được cư xử như loài người. Câu cuối “Tù thiếu mùa Xuân, thiếu đủ điều” đã được tôi dịch liên tục, không dấu phẩy là “There is no Spring in prison there is nothing” (“Không có mùa Xuân trong tù không có gì cả”). Có thể nghĩa trong tiếng Anh “bi thảm” và khẳng định hơn trong nguyên bản, nhưng trong tiếng Anh, động từ “lack” (thiếu) có lẽ còn quá cụ thể, ám chỉ những thiếu thốn vật chất nhiều hơn là tinh thần. Khi dùng động từ to be trong thể phủ nhận, “There is no Spring…” thì người đọc sẽ thấy rõ tâm cảnh rất ư hiện sinh của đám tù nhân.

Cái Chết của Một Con Sáo

Con sáo nhỏ đã chết
Trong sức ép của lồng
Giữa sớm mai hoa nở,
Một mùa xuân phiêu lung.

Những con kiến đã tới
Sớm ma chay cho ngươi,
Nhưng cũng xin thụ hưởng
Tiên thường cỗ lòng tươi.

Chú tiểu tù hồi tưởng
những ngày dài tối đen.
Một cuộc tình phi lý
Bao cồng kềnh rối ren!

The Death of a Mynar Bird

The little mynar bird has died
Suffocated by its cage
In the flowering dawn
Of an uncertain spring

The ants have arrived
To prepare its funeral rites
But they ask for choice shares
in the pre-funeral feast.

The mynar’s keeper reflects
on the dark days now gone
An absurd love story beset
by mishaps and disorder.

Bài “Cái Chết của Một Con Sáo” làm tôi nghĩ đến những bài thơ ngụ ngôn về súc vật của La Fontaine đã được học lúc còn bé. Bài thơ đề cập đến lễ Tiên Thường, có nghĩa là “lễ nếm trước” (còn được gọi là lễ cúng ngày sống, trước lễ “chính kỵ” là lễ giỗ vào đúng ngày chết) nếu phải chú thích ở bản tiếng Anh thì cũng hơi dài dòng hoặc sẽ chi phối người đọc, cho nên đã được dịch một cách giản dị là “the pre-funeral feast” (bữa tiệc trước đám ma).

Câu ở đoạn cuối “chú tiểu tù hồi tưởng” được hiểu là đứa bé chủ nhân con sáo (và có lẽ cũng ám chỉ bọn canh tù với tâm địa nhỏ nhen?), được tôi dịch qua tiếng Anh là “the mynar’s keeper (người giữ sáo).

Nhớ Biển

Chiều vàng run rẩy ngã trên đồi
Nghe dục đồn xa kẻng mấy hồi.
Lão lính vác lên vai khúc củi,
Giã từ lối biển cánh chim trời.

(Ghi chú của Nguyễn Sỹ Tế: Ngọn đồi cao này dân địa phương gọi là núi Mây Tàu. Đường biển vốn là đường mơ tưởng giúp bao người Việt đã vượt biên.)

Remembering the Sea

On the hill the afternoon light shimmers
While far away the sentry bell calls.
Shouldering his firewood bundle, an old soldier turns
Away from the sea, from skyward wings.

(Note by Nguyễn Sỹ Tế: The locals refer to this tall hill as Chinese Cloud Mountain. The sea represents the path to freedom that has helped many Vietnamese  cross borders.) 

Tựa bài “Nhớ Biển” của Nguyễn Sỹ Tế được dịch qua tiếng Anh là “Remembering the Sea.” Trong tiếng Anh động từ “remember” vừa là vắng bóng vừa là thành tựu, vì khi “nhớ lại” thay vì chỉ “nhớ” (to miss), người nhớ lại, trong nỗi nhớ, cũng lấy lại được điều mình đã mất (như ý trong tựa A La Recherche du temps perdu (Remembrance of Things Past–mà tôi thấy thấm thía hơn là tựa được một dịch giả Anh ngữ mới đổi lại sau này là In Search of Lost Time của Proust). Vì vậy, “Remembering the Sea” có lẽ cũng có nhiều hứa hẹn hơn là chỉ “Nhớ Biển.” Tương tự, “Chiều vàng run rẩy ngã trên đồi” cũng khả quan hơn khi trở thành “the afternoon light shimmers”—“shimmer” là lấp lánh, tuy cũng có thể hiểu là “nhập nhòe” (như một ảo tưởng) hoặc “run rẩy” nhưng chưa chắc phải bị “ngã trên đồi” như trong nguyên bản tiếng Việt. Dù sao thì người lính già vẫn phải quay lưng lại (“turns away from”) lối ra biển và chân trời rộng của những cánh chim–điều này người dịch mong được giữ trung thành với tính chất “mơ màng/chênh vênh” mà Nguyễn Sỹ Tế đã định nghĩa thơ của ông vào thời kỳ hậu-Sáng Tạo.

Trong Lời Bạt cho tuyển tập thơ Black Dog, Black Night (lấy tựa từ một bài thơ của Hoàng Hưng), dịch giả/nhà thơ Hoa Kỳ Paul Hoover đã nhận xét:

Ngay từ đầu, thấy rõ là tấn kịch nhân sinh của bài thơ đã nằm sẵn đó hiển nhiên bên dưới cái mặt nạ của sự khác biệt văn hoá. Ngay khi chúng tôi giải thích những thuật ngữ như “young girl rice” (lúa ngậm sữa ngọt), những ẩn dụ địa phương của các nhà thơ trở nên phổ quát….[3]

Thật sự, là người dịch, tôi không dám tự tin như Paul Hoover, vì tôi nghĩ rằng “tấn kịch nhân sinh” (human drama) không dễ gì mà “nằm sẵn đó hiển nhiên” để người dịch, như Tạo Hóa, ung dung soi sáng. Ngay cụm từ “young girl rice” mà Paul Hoover diễn tả trong tiếng Anh cũng khó được người Việt nhận diện ra là loại gạo gì khi được dịch giả Phổ Linh dịch sang tiếng Việt là “lúa ngậm sữa ngọt.” Ngay cả chú thích của Phổ Linh ở cuối bài dịch, rằng loại gạo này là “lúa đang thì con gái” cũng chỉ làm độc giả Việt càng hoang mang, mù tịt. Nghĩ một lúc (rồi kiểm chứng qua Google và nguyên bản tiếng Anh của Paul Hoover), thì hóa ra Paul Hoover muốn ám chỉ “gạo Nàng Thơm” là thổ sản của huyện Cần Đước, tỉnh Long An, là nơi duy nhất trồng được loại gạo này, chỉ trổ bông vào tiết Đông chí có nghĩa là giữa mùa Đông, mà trong nguyên bản tiếng Anh Paul Hoover cũng giải thích là “loại gạo trồng ở địa danh có thời tiết cực đoan,” nhưng Phổ Linh đã bỏ không dịch hết đoạn này trong câu văn tiếng Anh của Paul Hoover).

ijinja0001p1

Vì tất cả mọi bản dịch vừa là một cánh cửa mở ra đến một thế giới khác, vừa là một nhà tù, tôi nghĩ câu chuyện về ngôi chùa Thần Đạo (Shinto) ở làng Ise, Nhật Bản có lẽ gần gũi hơn với quan niệm dịch thuật “thương hải tang điền” của tôi.

Chùa làng Ise được xây lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 7 bởi hoàng đế Temmu, nhưng cứ 20 năm theo tục lệ lại bị phá đi và xây lại. Tuy nhiên, nếu ai có hỏi dân làng, thì họ vẫn khăng khăng nói rằng ngôi chùa này đã được xây gần 2,000 năm trước. Tôi nghĩ quá trình sáng tạo hoặc dịch thuật văn chương cũng tương tự. Như người tù tái tạo liên tục những bài thơ trong trí óc, như một kiến trúc sư, người dịch vừa là người phá hủy vừa là người xây lại lại tác phẩm.  Những tàn phá vẫn không thể phủ nhận điều là tác phẩm đã có một lịch sử, đã được ra đời lần đầu tiên trước khi những bản sao xuất hiện, và hy vọng sẽ mãi được tồn tại, qua thể này hay thể khác.

Cũng theo một truyền thuyết địa phương, chùa làng Ise đã được phá đi và xây cất lại nhiều lần mà hoàn toàn không dùng tới đinh, búa. Thiết tưởng sự vô tình, hay bất cẩn, tuy rất nhỏ, của người dịch hay người đọc, cũng gây ra những hậu quả trầm trọng cho một tác phẩm. Đồng thời, mọi xem xét tỉ mỉ để trám vào những kẽ hở, tuy cũng rất nhỏ, cũng vì thế mả “cứu sống/hồi sinh” được một tác phẩm.

__________________

[1] Mặc Lâm, Nhóm Sáng Tạo của Thập Niên 1950, Chương Trình Văn Học Nghệ Thuật Đài Á Châu Tự Do, http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Sang-tao-group-a-beginning-of-innovation-movement-mlam-03012009101014.html

[2] Chi Điền Hoàng Duy Tử, Đường Thi: Lý Bạch (Tuyển dịch II), nxb Hoàng Tuấn Lộc: 1986), tr. 136.

[3] Bản dịch tiếng Việt của Phổ Linh đăng trên talawas ngày 27-08-2008, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=14071&rb=0102

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


5 bình luận »

  • Dinh Le viết:

    Cảm ơn tác giả đã cho thưởng thức mấy bài thơ thời tù cải tạo của thi sĩ Nguyễn Sỹ Tế. Tôi không hiểu bằng cách nào nhà thơ nhớ hết những bài thơ mình làm lúc ở trong tù, vì tôi cũng sống trong tù ngục cộng sản Việt Nam nên biết rõ là người tù lao cải thường xuyên bị lục soát tư trang nên không thể giữ lại được bất kỳ một tờ giấy có ghi chữ viết của mình. Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện có một bộ óc đặc biệt, một ký ức phi phàm mới nhớ được hàng trăm bài thơ của ông trong suốt mấy mươi năm lao tù kiệt sức dưới chế độ cộng sản ở Miền Bắc.
    Có vài diểm ghi chú không quan trọng mà tôi thấy cũng nên bổ túc cho rõ thêm:
    1) Ở chú thích [1] đó là Đài Á Châu Tự Do (RFA) chứ không phải Đài Tiếng Nói Tự Do
    2) Về “gạo Nàng Thơm” : Quả thật là Miền Nam có câu “gạo Cần Đước, nước Đồng Nai” nói lên hai sản vật thiên nhiên của địa phương, nhưng quận (huyện) Cần Đước chỉ có mỗi một nơi sản xuất được loại gạo thơm nổi tiếng này, đó là xã Chợ Đào, cho nên người dân địa phương cũng gọi đó là “gạo nàng thơm Chợ Đào”. Cũng vậy, có ai lên Đà Lạt ăn chuối La-ba thì biết đó là loại chuối chỉ trồng được ở mỗi làng La-ba (thuộc quận Đức Trọng) mà thôi.

  • Nguyễn Thị Hải Hà viết:

    Young girl rice không phải ám chỉ lúa nàng thơm đâu Bich Thúy. Đó là lúa đòng đòng, trổ mã. Tức là lúa non hột gạo còn tơ, chưa già đủ như hột gạo mình nấu cơm ăn. Lúa non này ngọt và dẻo người ta có thể dùng làm kẹo hay các món ngon khác. Dịch hay lắm! Bái phục!

  • Thạch Trân viết:

    Chị Bích Thúy thân,

    Tôi có mấy gợi ý về bài thơ “Áo Xanh” của Nguyễn Sỹ Tế:
    – Nguyễn Sỹ Tế làm bài thơ này để tặng Thanh Tâm Tuyền nên bài thơ có tính cách khá riêng tư (nhưng khi được phổ biến dĩ nhiên tính riêng tư đó bị che khuất) nên/tuy nhiên muốn hiểu thấu cần đọc bài thơ trên cái “background” sự chia xẻ hoàn cảnh và tâm tư giữa Nguyễn Sỹ Tế và Thanh Tâm Tuyền.

    – Nguyễn Sỹ Tế và Thanh Tâm Tuyền từ hồi còn Sáng Tạo là hai người luôn tranh luận/khắc khoải về “thơ hôm nay”, có những ý kiến nhiều khi ngược chiều nhau nhưng luôn luôn “lắng nghe” nhau, cả hai không ngừng “vùng vẫy” trong “trận đồ” lý thuyết văn chương/thơ nên những chữ sau đây cần qui chiếu với những trường phái thơ/hội họa:
    * dã thú: trường phái họa/thơ
    * hiện thực: chủ nghĩa hiện thực (realisme)
    * Âm Ba: tên một bài thơ của TTT.
    * Xuân, Thu, Nhã Điển: Phái Xuân Thu Nhã Tập và trường phái thơ Nhã Điển.
    * Mùi hương thái cổ: Đường Thi.
    * Nỗi hờn “siêu thực”: trường phái thơ Siêu Thực của Pháp.
    * Áo Xanh: qui chiếu tới “Giang Châu Tư Mã đượm mùi áo xanh” nói đến hoàn cảnh thi sỹ sống nơi đất trích.

    Bài thơ này “ý tại ngôn ngoại” thật quá khó chuyển tải. Nỗ lực của chị thật đáng trân trọng. Tôi quen biết cả Nguyễn Sỹ Tế và Thanh Tâm Tuyền nên có vài gợi ý nhỏ.

    Tình thân,
    Thạch Trân

  • Hai Trầu viết:

    Kinh xáng Bốn Tổng ngày 28-7-2009

    Thưa nữ sĩ Nguyễn Thị Hải Hà,
    Thiệt tình là tui hổng biết “Young girl rice” dịch ra tiếng Việt mình là gì; nhưng theo như nữ sĩ cắt nghĩa ở phần kế:”… Đó là lúa đòng đòng, trổ mã. Tức là lúa non hột gạo còn tơ, chưa già đủ như hột gạo mình nấu cơm ăn. Lúa non này ngọt và dẻo người ta có thể dùng làm kẹo hay các món ngon khác.”, tui thấy chưa phù hợp với ba cái lúa thần nông miệt kinh xáng tụi tui, nên xin thưa cùng nữ sĩ các thời kỳ của lúa ngắn ngày mà dân ruộng tụi tui thường phân biệt và có các cách gọi như dưới đây:

    – Lúa giống khi đem ngâm và ủ chừng một đêm thì ra mộng.
    – Khi sạ hột giống này xuống đất, các mộng lúa này ghim xuống bùn, tụi tui gọi là lúa châm kim.
    – Qua khỏi giai đoạn lúa châm kim chừng mười ngày tới một tháng, giai đoạn này lúa còn rất non nên tụi gọi là lúa trong tháng, hoặc còn gọi là mạ.
    – Từ kkhi lúa đầy tháng kéo dài tới lúa được hai tháng, thời kỳ này giới chữ nghĩa gọi là “lúa con gái”, dân ruộng tụi tui kêu là lúa đang phát.
    – Tới khi lúa qua khỏi giai đoạn lúa phát như vậy và thân lúa bắt đầu mập tròn; dân ruộng tụi tui gọi là lúa tròn mình.
    – Tới khi những thân cây lúa này mập mạp thêm và những bắp lúa này gần như muốn xé bẹ lúa bung ra, tụi tui gọi là lúa có đòng đòng.
    – Khi lúa có đòng đòng như vậy, chừng mười ngày sau là những bắp lúa này nở thè lè ra; dân ruộng tụi tui gọi là lúa trổ.
    – Lúa trổ rộ chừng mười ngày là những hạt lúa bắt đầu ngậm gạo, tụi tui gọi là lúa ngậm sữa.
    – Khi lúa ngậm gạo nhiều, bông lúa nặng trĩu xuống và cong lại; tụi tui gọi là lúa cong trái me.
    Khi lúa gần chín nhưng chưa thiệt chín, với màu hơi vàng vàng; tụi tui gọi lúa vàng mơ.
    – Sau cùng , đúng ba tháng mười ngày là hột lúa đầy gạo; lúc bấy giờ lúa vàng rực, tụi tui gọi là lúa chín.

    Riêng lúa mùa, vì là lúa có mùa kéo dài khá dài, nên các thời kỳ phát triển của chúng có khác biệt với các giống lúa thần nông này vậy.

    Mấy hàng xin thưa cùng nữ sĩ.
    Trân trọng
    Hai Trầu

  • Nguyễn thị Hải Hà viết:

    Xin cám ơn anh Hai Trầu đã cho bài học bổ ích về lúa. Xin copy về để dành về sau nếu có dịp thì dùng. Chỗ anh em bạn bè văn nghệ với nhau anh thưa bẩm còn gọi là nữ sĩ nghe … ớn quá!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch