Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Biên Khảo, Tư Liệu Email bài này

Ngô Kha và Cuộc chuyện trò cuối năm – Phần 1

10 bình luận ♦ 13.07.2009

LTS:
Bài viết dưới đây, “Ngô Kha và Cuộc Chuyện Trò Cuối Năm,” kể lại nội dung “bức thư” của Ngô Kha viết ngày 28.01.1973 trong căn nhà của bà dì tác giả Chu Sơn ở An Cựu trên những tờ giấy gói trà hiệu Tam Hỷ và bao hương (nhang). Theo lời tác giả, bức thư viết trên những tờ giấy gói trà này đã bị tịch thu (và do đó không còn có thể truy lục) cùng với tập thơ Ngụ ngôn của Người Đãng Trí của Ngô Kha khi ông (Chu Sơn) bị bắt vào năm 1974 tại Sài Gòn. Như vậy, nội dung bức thư của Ngô Kha hoàn toàn dựa trên ký ức của Chu Sơn như ông tuyên bố trong bài viết:  Nay tôi chép lại theo ký ức nội dung bức thư đặc biệt mà ngay từ lần đọc đầu tiên (tôi đã đọc bức thư nhiều lần) tôi đã mường tượng như một lời trăn trối.

Bài viết, mà phần chủ yếu là bức thư của Ngô Kha gởi Chu Sơn, trình bày một cách khá chi tiết về suy nghĩ của nhà thơ này trước thời cuộc và cách thế ứng xử của ông trong một giai đoạn quan yếu của chiến tranh Việt Nam. Ngoài ra, còn có phần đóng góp của chính tác giả Chu Sơn về một số vấn đề, đặc biệt những nghi án liên quan đến cái chết của Ngô Kha sau lần ông bị bắt vào ngày 30.01.1973.

Cũng như bài viết “Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị” của Trịnh Cung trước đây, “Ngô Kha và Cuộc Chuyện Trò Cuối Năm” nhất định sẽ nhận được một số phản hồi đáng kể từ những người đồng ý hoặc không đồng ý với những điều được chuyên chở bởi nội dung bài viết.

Việc đăng tải “Ngô Kha và Cuộc Chuyện Trò Cuối Năm” của Chu Sơn đến từ ước muốn của tạp chí Da Màu kiến tạo một cơ hội cho quý độc giả xem xét, phân tích, và đóng góp vào cái nhìn của một cá nhân hoặc phe nhóm, một phiên bản lịch sử cá nhân,  về một giai đoạn lịch sử cận đại. Ở đây, Ban biên tập tạp chí Da Màu trông cậy rất nhiều vào hai điều: 1. Độ bền và sự khả tín của “bộ nhớ” của tác giả Chu Sơn, điều mà chúng tôi không thể kiểm chứng và 2. Khả năng đọc giữa hai dòng chữ của quý độc giả thân mến, điều mà chúng tôi không hề nghi ngờ.

Trân trọng

BBT tạp chí Da Màu

Đôi dòng về nhà thơ Ngô Kha (theo Lê Minh Quốc)

180px-Ngo_KhaNgô Kha sinh năm 1935 tại Huế, là bạn thân với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, anh tốt nghiệp thủ khoa khóa 1 Đại học Sư phạm Huế (1958 – 1959) và sau đó đi dạy học. Anh cùng Trịnh Công Sơn, Trần Viết Ngạc, Lê Khắc Cầm, Chu Sơn, Thái Ngọc San chủ trương tập san Tự quyết. Từ năm 1972, anh chủ trương tập san Mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung do Thành ủy Huế chỉ đạo. Trong thời gian hoạt động phong trào đấu tranh đô thị miền Nam, Ngô Kha đã bị chính quyền Sài Gòn bắt giam ba lần vào các năm 1966, 1971 và lần cuối cùng bị thủ tiêu bí mật sau Hiệp định Paris, 1973. Hiện nay, Ngô Kha đã được Nhà nước ta (Cộng sản VN) phong liệt sĩ. Hội Văn học Thừa Thiên – Huế đã xuất bản tập Thơ Ngô Kha – gồm 3 tập thơ của anh xuất bản trước 1975: Hoa cô độc, Ngụ ngôn của người đãng trí, Trường ca hòa bình.

Trích “Sự thật về lá thư Trịnh Công Sơn gửi Ngô Kha” của Lê Minh Quốc


Viết để tưởng nhớ Ngô Kha,
tưởng nhớ những người bạn đã nằm xuống,
đã tan tác, chia lìa…

Chu Sơn

PHẦN I:

Những ngày cuối năm 1972, anh Ngô Kha thường xuyên bị ám ảnh bởi những đeo bám, theo dõi, đe doạ của mạng lưới công an mật vụ ngày một siết chặt. Không giấu được vẻ hoảng sợ, hoang mang, anh thường xuyên đổi chỗ ở, ít về nhà, bớt đến những nơi hay lui tới.

Nơi tôi ghé đậu mỗi lần về Huế là một ngôi nhà vườn vắng vẻ hoang sơ ở An Cựu. Anh Kha đã từng lúc đến đây vào cái thời điểm căng thẳng ấy dù có tôi hay không. Bà dì tôi, người chủ cô quả của ngôi nhà, quí mến che chở cho anh như một bà mẹ đối với con mình. Bà thường nói:

– Tội nghiệp quá, ông giáo hà cớ gì mà phải lận đận như rứa. Như người ta thì vợ đẹp, con khôn, gia đình rân rác đề huề sung sướng.

Nói thì nói vậy chứ trong lòng dì tôi cũng như nhiều bà mẹ Huế khác có cùng tâm cảnh đâu có mơ hồ gì về cái lí do khiến anh Kha và nhiều thế hệ tuổi trẻ kế tiếp nhau đi vào chốn lao lung. Chừng năm ngày sau Tết dương lịch, tôi về Huế và gặp anh Kha đã nằm dài ở đó mấy ngày. Tôi ái ngại nhìn anh Kha mặt mày xanh xao hốc hác, tóc dài, râu không cạo lởm chởm xanh đen. Trông anh mệt mỏi bồn chồn, dao động. Căn phòng bà dì dành cho chúng tôi bề bộn tàn, bao thuốc lá và sách báo. Đêm hôm ấy tôi là kẻ nói nhiều. Tôi có nhiều thông tin cần san sẻ. Tôi cũng có nhiều điều cần hỏi han anh. Cuộc chiến đang chuyển động theo một chiều hướng đặc biệt phức tạp. Cả hai bên đang cố giành giựt chừng nào hay chừng ấy lãnh thổ, đất đai và quần chúng trước khi có một kí kết gì đó ở bàn hội nghị. Cả hai bên cùng ráo riết thuyết phục, níu kéo, ve vãn, phỉnh phờ các phe nhóm chính trị, tôn giáo về phía mình để giành thế mạnh tại một chính phủ liên hợp ba thành phần sẽ được khai sinh sau khi hiệp định hoà bình được công bố và có hiệu lực. Mãi cho đến khuya anh Kha mới lên tiếng:

“— Bọn Liên Thành sau nhiều lần bắn tiếng, gần đây chúng còn cho tay chân về nhà gặp mẹ mình, chặn mình giữa đường bảo là chúng sẽ không nương tay nếu mình cứ tiếp tục hành xử như trước đây. Mình biết chúng không doạ suông. Chiến tranh chưa kết thúc, bạo lực và tội ác sẽ tràn lan cho dù một hiệp định hoà bình sắp được kí kết giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn. Có được bài học từ hiệp định Genève, Hà Nội đã vượt thoát trong những mức độ căn bản trước các áp lực của Trung Quốc, Liên Xô và đã dành được thế chủ động trong các mưu lược, bản lĩnh tiến hành chiến tranh và kiến tạo hoà bình. Không còn một hội nghị được gọi: lập lại hoà bình, thực tế là những mặc cả, thoả hiệp, dàn xếp trên những mưu cầu mờ ám trước mắt cũng như lâu dài trong bối cảnh tương quan lực lượng của các nước lớn núp dưới chiêu bài có tên gọi: hai thế giới, hai phe Cọng sản và Tự do như hồi năm 1954. Ở Paris từ mấy năm nay một cuộc chiến tranh ngoại giao vừa công khai vừa bí mật đã diễn ra song song với cuộc chiến tranh ác liệt trên chiến trường chỉ với Mỹ và Việt Nam.

“Nói là hội nghị bốn bên, thực ra chỉ có hai phía.

“Phía bên này là đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cọng hoà và Cọng hoà miền Nam Việt Nam.

“Phía bên kia là chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam Cọng hoà.

“Đã đến lúc không cần phải giấu diếm, che đậy. Bởi ai cũng biết rõ về vai trò, vị trí và thực lực của các chính phủ Cọng hoà miền Nam Việt Nam, chính phủ Việt Nam Cọng hòa trước các con ác chủ bài là Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn.

“Từ lâu Mỹ và đồng minh của họ, bằng các phương tiện truyền thông đã không ngừng rêu rao về một cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai thế giới Cọng sản và Tự do. Một bộ phận không nhỏ người Việt Nam, kể cả moi cũng có lúc nghĩ tưởng như thế. Nhưng thực tế trên chiến trường cũng như trên bàn hội nghị ngày một sáng tỏ rằng đây chỉ là cuộc chiến tranh giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược. Cái được gọi là phe Xã Hội Chủ Nghĩa và phe Thế Giới Tự Do tuy không hoàn toàn là huyền thoại nhưng chắc chắn không phải cái cốt lõi của vấn đề. Hà Nội đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vừa đánh Mỹ vừa thoát khỏi o ép, ràng buộc của hai đồng minh đàn anh là Trung Quốc và Liên Xô mà thực tế trong những mức độ khác nhau đã có cậy nhờ. Người như ông Hồ Chí Minh dẫu có theo Cọng sản cũng chỉ vì mục tiêu cuối cùng là Độc lập Dân tộc chứ không phải đánh Tây đuổi Mỹ để rồi lệ thuộc ngoại bang nào khác dù là Nga hay là Tàu. Độc lập tất yếu gắn liền với Thống nhất, bởi nói như ông Hồ: Nước này là một, Dân tộc này là một. Miền Bắc hay miền Nam cũng chỉ là Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cọng hoà từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu đều thoát thai từ cái chính phủ gọi là Quốc gia của ông vua bù nhìn Bảo Đại do thực dân Pháp đẻ ra và do đế quốc Mỹ dàn dựng, nuôi dưỡng sẽ sụp đổ tức thì khi Mỹ rút quân.

“Mỹ cút nguỵ nhào không chỉ là một khẩu hiệu của những người kháng chiến mà là một tất yếu.

“Chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị với Hà Nội có nghĩa là Mỹ đã thừa nhận chiêu bài chiến tranh ý thức hệ cáo chung.

“Chấp nhận đàm phán tay đôi với Hà Nội, bất chấp ý đồ, nguyện vọng của Nguyễn Văn Thiệu, vô hình chung Mỹ đã chấp nhận Hà Nội là đại diện duy nhất của nhân dân, đất nước Việt Nam, và đồng thời Mỹ đã nói giùm cho Hà Nội là không hề có một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam Bắc hoặc giữa Quốc gia và Cọng Sản. Hãy nhìn lại coi cái chính phủ gọi là quốc gia với Đức quốc trưởng Bảo Đại đã hình thành sau vở kịch Hạ Long (1948): Từ người đứng đầu là Bảo Đại cho đến tên lính thấp nhất đều do thực dân tuyển chọn, nuôi dạy, trả lương và sai khiến. Ngô Đình Diệm và tập đoàn của ông ta là ai? Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm và bầu đoàn thê tử của họ là ai? Chính cuộc đời của họ là câu trả lời cho các thế hệ mai sau cái chân tướng đích thực của họ. Pháp bị đo ván ở Điện Biên Phủ, chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất kết thúc, sau lưng Pháp bại trận có đế quốc Mỹ giàu mạnh và hung hãn. Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai sắp đến hồi tàn cuộc. Sau lưng đoàn quân viễn chinh Mỹ bại hoại, rã rời, tơi tả, sau lưng bọn cầm quyền Mỹ lúng túng, dao động là đông đảo quần chúng Mỹ phẫn nộ, kêu đòi chấm dứt chiến tranh và nhân dân tiến bộ trên khắp các châu lục đồng loạt đấu tranh cho hoà bình. Mỹ phải rút quân thôi. Mỹ chấp nhận thua điểm để khỏi bị đo ván như người bạn đồng minh một thời mà họ đã chê bai, bêu riếu là kém cõi, hèn nhát. Mỹ sẽ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng quân đội miền Bắc sẽ ở lại cùng quân giải phóng, với chính phủ Cọng hoà miền Nam Việt Nam, với Mặt Trận Giải Phóng và với một phần không nhỏ nhân dân miền Nam. Bởi ở đâu cũng là đất nước Việt Nam. Đối với phần đông nhân dân Việt Nam và nhất là đối với người lãnh đạo kháng chiến, đảng Cọng sản Việt Nam: sẽ không có Hoà bình thực sự một khi Độc lập chưa được vãn hồi, Thống nhất chưa được thực hiện. Kinh nghiệm đắng cay sau năm 1954 chắc chắn là Hà Nội không thể nào quên. Chiến thắng Điện Biên Phủ quá ư lẫy lừng, oanh liệt mà hiệp định Genève rốt cũng chỉ là thời đoạn giải lao giữa hai hiệp đấu trên sân cỏ Đông Dương.

“Hiệp một giữa thực dân Pháp và Việt Nam.

“Hiệp hai giữa Việt Nam và đế quốc Mỹ.

“Cái dân tộc nghèo đói lạc hậu này trong một tình thế chẳng đặng đừng buộc phải chấp nhận một trận xa luân chiến với hai tên thực dân đế quốc sừng sỏ giàu mạnh vào bậc nhất địa cầu. Đối với moi hiệp định Paris sắp được ký kết chỉ là khoảnh khắc đá bù giờ ở cuối hiệp hai. Bây giờ trên sân cỏ Đông Dương về phía đội tuyển Mỹ chỉ còn lại những cầu thủ dự bị, chầu rìa bị bỏ rơi, hụt hẫng, hỗn loạn bởi các cầu thủ chính của cuộc đấu (quân đội Mỹ) đã rời sân. Cái thế tất thắng của đội banh có màu cờ sắc áo Việt Nam đã quá rõ ràng. Đấu tranh chính trị hay quần thảo quân sự kết cuộc cũng chỉ còn là vấn đề thời gian. Đế quốc Mỹ rút lui từ từ từng bước để khỏi nếm trải đắng cay nhục nhã như đồng minh của họ là thực dân Pháp thời Điện Biên Phủ. Cái được gọi là chính phủ ba thành phần ngang nhau mà cả hai phía đang chạy đua, nhào nặn, bơm thổi, níu kéo, mua chuộc dù chỉ là thời đoạn mánh lới chính trị, là thủ pháp tâm lý chỉ làm gia tăng tình trạng hoang tưởng của một số cá nhân, phe nhóm ngây thơ, cơ hội và tham vọng hảo huyền. Từ lâu bọn cầm quyền đã biết moi đã đi xa cái lằn mức của một cổ động viên nhiệt tình. Tuy nhiên bọn chúng không có chứng cớ để bắt bớ moi như một người kháng chiến thực thụ. Dụ hoặc, hù doạ không xong, vậy chúng sẽ làm gì moi đây? Một tình thế nguy hiểm, ác độc đang vây bủa moi ngày một chặt. Hội nghị bốn bên – hai phía, hoà bình với chính phủ liên hợp ở miền Nam, gồm ba thành phần chính trị ngang nhau … Thực chất chỉ là cuộc giằng co tay đôi giữa xâm lược và Dân tộc. Sau hơn một trăm năm chống xâm lăng với bao nhiêu xương máu đã đổ, bao nhiêu nước mắt đã chảy, bao nhiêu gia đình, dòng họ tan tác chia lìa, bao nhiêu triệu con người đã chết chóc, thương tật tù đày, bao nhiêu làng mạc, ruộng đồng, phố thị đổ nát hoang tàn, cái giá dù có đắt đến đâu cũng phải trả để có Độc Lập, Thống nhất và Hoà bình.

“Năm 1954 kháng chiến đã giành lại được một nửa đất nước. Một nửa còn lại đến thời điểm này hầu như khắp núi rừng, nông thôn, thành thị đâu cũng có người kháng chiến. Người kháng chiến, không những thế, có cả trong những dinh luỹ cao nhất, kiên cố nhất của quân đội, chính quyền tay sai. Hơn ai hết, tập đoàn chóp bu của chính quyền Việt Nam Cọng hoà đã thấy rất rõ hồi kết của những vai diễn bạo tàn, nhục nhã mà họ đóng suốt cả cuộc đời chống lại đất nước, phản lại dân tộc.

“Sự hung ác, nham hiểm của bầy thú cùng đường sẽ trút lên đầu lên cổ những người mà chúng thường hằn học gọi là kẻ tiếp tay cho Cọng sản xâm lược.

“Chúng sẽ giết moi thôi.

“—Thế tại sao anh không lên núi? Tôi hỏi anh.

“—-Không phải bây giờ và không phải chỉ có toi mới hỏi moi câu này. Moi biết những giới hạn của bản thân. Moi không hề lấy cái bé nhỏ của cá nhân để đo lường lịch sử. Moi học luật, moi biết thế nào là chính trị. Chính trị và cách mạng là hai phạm trù ít khi chung sống hoà bình. Chiến tranh rồi sẽ kết thúc, những người cách mạng hôm nay sẽ là ngưới chính trị ngày mai. Mà người chính trị từ bản chất không thể chấp chứa, dung tha người cách mạng. Moi cũng học văn, cũng quan tâm đến lịch sử và triết học, moi hiểu thế nào là nhân tình thế thái, moi chẳng ảo tưởng về những con người tuyệt đối, những con người không giới hạn bất cứ đâu. Cách mạng hay tôn giáo hay gì gì đi nữa cũng chỉ là những con người. Chính quyền này — bọn Liên Thành — giết moi thì hợp lý và dễ coi hơn. Lúc này moi nhớ VT* quá, không hiểu tại sao thời gian gần đây, càng ngày moi càng nhớ nàng da diết đến thế. Moi cũng nhớ thằng Tường, thằng Đính…, moi mong tụi bạn trên núi có nghị lực hơn moi, sáng suốt hơn moi – hoà nhập được vào cái lớn, cái chung, biết quên cái tôi bé nhỏ và biết kiên trì chờ đợi. Độc lập, Thống nhất, Hoà bình quả là khó, khó gấp ngàn vạn lần sự tưởng tuợng của nhiều người. Vì quá khó nên nhiều người đứt gánh nửa đường. Và cũng vì quá khó nên những người còn lại trở nên chai lòng hẹp trí. Nhưng Tự do Hạnh phúc còn khó gấp vạn lần. Tự do và Hạnh phúc luôn là cái đích phía trước. Chân lý bao giờ cũng đến chậm. Dường như Dostoievsky đã nói như thế. Nói gì đi nữa thì nhất thiết đất nước cũng phải Độc lập, Thống nhất và Hoà bình. Tự do, Hạnh phúc là mục tiêu, là nhiệm vụ của nhiều đời…”

Anh Ngô Kha đột ngột dừng lại. Cái dòng chảy tưởng không bao giờ đứt ấy đột ngột dừng lại. Mới hơn một phút trước đây thôi, con người có tài hùng biện ấy đã nhóm cho tôi một hy vọng, một niềm vui là một ngày rất gần Bông Hoa Cô độc, kẻ Đãng Trí ấy, chàng thi sĩ làm thơ siêu thực một thời ấy sẽ bỏ lại đàng sau thế giới phi lí lạc lõng, tuyệt vọng của tâm hồn mình mà nối kết mà hoà nhập vào biển người hò reo, múa hát đón chào đoàn quân chiến thắng. Trường ca Hoà Bình và những bài thơ, đoản văn, những tiểu luận chính trị anh đã viết từ sau 1968 chẳng phải là những tiên báo cho cái thời điểm huy hoàng đó sao? Tôi nhớ một vài đoạn anh Kha đọc cho tôi nghe tại căn gác số 42 Bạch Đằng hay tại căn chái ngôi nhà rường ở Thế Lại trong những đêm hồng hào hy vọng. Tôi không bắt chước được giọng đọc sang sảng của anh. Tôi đọc thấp nhỏ giọng nhưng rõ ràng cốt đưa anh khỏi không khí nặng nề đến rợn người vừa phủ chụp lên chúng tôi.

Ta buộc chặt vào nhau
ba mươi triệu người đứng lên
từ bỏ kiếp bọt bèo
thân trâu ngựa
ta đồng hành tiến bước
ca lên bài Việt Nam Thống nhất

( Trường Ca Hoà Bình )

Mừng gặp anh em như mới chào đời
ngày Việt Nam khai sinh ngôn ngữ mới
ba mươi triệu đồng bào anh em đứng dậy
như Trường Sơn hùng vĩ đời đời
Hoà bình về trong trái tim người
như sự sống một lần trở lại
Hoà bình khởi công
Hoà bình vùng dậy
Hoà bình ấm no độc lập
Hoà bình thống nhất muôn nơi
ta bỗng nghe xao xuyến trên thân người
muôn vó ngựa dập dồn trong thớ thịt

( Trường Ca Hoà Bình)

Cố gắng của tôi là vô ích. Tôi thất vọng dừng lại. Đêm đã khuya, khu nhà im ắng. Cái giá lạnh như chực chờ ập đến. Tôi co rút người lại nhưng cái giá buốt cũng không được đẩy lùi, ngăn chận. Nó như một đoàn quân vô hình len lén đột nhập vào từng lỗ chân lông, len lỏi vào da thịt, thấm vào tim gan, não tuỷ tâm hồn tôi. Tôi nghiến răng chịu đựng để khỏi phải run lên cầm cập. Ngọn đèn sáp trên chân đế sắp tàn. Những giọt sáp cuối cùng không chảy được thành dòng mà đọng quanh như những giọt nước mắt lưng tròng. Qua màn sương của cảm xúc tôi mơ hồ nhìn ngắm khuôn mặt đẹp tuyệt vời với nụ cười đắng cay héo hắt. Khuôn mặt ấy mới nhìn rất giống với Ché Guevara — người dũng sĩ châu Mỹ La Tinh hừng hực lửa cách mạng, một Kinh Kha của thời đại mới, một sớm máu loang dưới ánh sáng mặt trời trước làn đạn tiểu liên của bọn sát thủ được phái đi từ bạo chúa Hoa Kỳ. Khuôn mặt ấy nhìn sâu thấp thoáng vẻ u hoài, sầu muộn và vô vọng của Giả Bảo Ngọc, nhân vật chính trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần, đứa con bị bỏ quên của bà Nữ Oa luyện đá vá trời trong huyền thoại Trung Hoa. Tôi mường tượng thế nào anh Kha cũng như Giả Bảo Ngọc sẽ bỏ chúng ta mà ra đi thôi. Tôi như chợt tỉnh, như vừa mới thoát ra từ một giấc mơ não nùng. Tôi mở mắt thật to nhìn căn phòng tối đen như mực. Ngọn đèn sáp đã lụn bất tự bao giờ chỉ có tiếng côn trùng rên rỉ ngoài vườn và tiếng mỏ cầu kinh đều đều vọng lại từ ngôi chùa ở phía bên kia hàng rào.

Mấy câu cuối cùng trong Trường Ca Người Đãng Trí chợt hiện ra trong ký ức lạnh cóng của tôi:

con đã đi bao năm
mẹ chưa rời ngưỡng cửa
và nay
gió cũng tang bồng
nhưng thi sĩ vẫn nằm yên trong nhà tù vĩnh cửu

Tôi vừa dứt thì Ngô Kha như bừng tỉnh, anh vùng dậy, trong bóng đêm tôi có cảm tưởng hai mắt của anh chĩa vào tôi như hai mũi tên. Anh nói nhỏ, trầm và dằn mạnh từng tiếng: “ Xin lỗi toi, xin lỗi người cách mạng hồn nhiên các toi. Moi không hề tơ tưởng gì về một chia sẻ của cuộc đời. Moi là thi sĩ, cho dù thân phận của chủng loại này có ra sao đi nữa thì moi cũng không hoang tưởng rằng lâm thời sẽ thiết lập được sự tương thông với thiên hạ. Cũng như các đạo sư, ở một khía cạnh nào đó, những trải nghiệm của người thi sĩ vừa mang dấu vết riêng tư vừa là tiếng nói thầm kín của nhân loại. Đã là riêng thì không nên, cũng chẳng hy vọng gì về một nhân nhượng nào đó của lịch sử và đồng thời cũng chẳng quan ngại gì trước những áp lực, những điều kiện nào đó của bất cứ ai, cho dù là bạo lực hay là những vuốt ve mời gọi …”

Tôi chưng hửng trước phản ứng dữ dội, phi lí của anh Kha, nhưng tôi chẳng giận dữ gì hay tỏ ra khó chịu vì chúng tôi đã quá quen với những thất thường, lạ lẫm nơi anh, một con người quá ư mẫn cảm và huyền bí. Lại nữa, không riêng gì anh, mà rất nhiều người trong chúng tôi, những đứa con của Huế, của thành thị miền Nam trong bối cảnh của cuộc chiến chống ngoại xâm, không hiếm khi chúng tôi chẳng kiềm chế, che giấu được các biểu hiện trái tính trái nết, thất thường khó hiểu. Có thể chúng tôi là những con thú chưa bị thuần hoá, cảm ứng được cái xung động tiên khởi báo hiệu những cơn cuồng nộ dữ tợn sắp xảy ra của trời đất.

*

Năm ngày sau hiệp định Paris công bố, từ Sàigòn tôi nhận được một gói quà do bà dì tôi gởi qua một người bạn thân quen. Gói quà là một cái cớ. Trong gói quà có một mảnh giấy nhỏ dì viết báo tin anh Kha bị bắt và một tập nhiều tờ giấy gói trà Tam Hỷ và bao hương chi chít những chữ. Tôi nhận ra chữ viết của anh Ngô Kha. Theo dì tôi và những gì tôi nhận được từ những tờ giấy gói trà và bao hương anh Kha dùng để viết thư cho tôi, thì anh Kha ở lại nhà dì tôi thêm một ngày một đêm sau buổi tối chúng tôi trò chuyện. Như vậy anh Kha đã viết cho tôi vào tối ngày 28 tháng 1 năm 1973. Cuối năm 1974 tôi bị bắt thêm một lần nữa. Cảnh sát đã lục lọi nơi tôi ở và lấy đi những thứ họ cần cho cuộc điều tra trong đó có tập thư anh Kha viết cho tôi trước khi rời nhà bà dì và tập thơ Ngụ Ngôn Của Người Đãng Trí do anh Kha tặng tôi hồi 1969. Nay tôi chép lại theo ký ức nội dung bức thư đặc biệt mà ngay từ lần đọc đầu tiên (tôi đã đọc bức thư nhiều lần) tôi đã mường tượng như một lời trăn trối.

[“Bức thư” gởi Chu Sơn của Ngô Kha bắt đầu ở đây – ghi chú của BBT Da Màu]

Moi cứ tưởng toi sẽ trở lại nhà bà dì nên moi nằm chờ. Sáng, trưa, chiều rồi tối vẫn không thấy toi về. Moi đi tìm giấy bút viết thư cho toi. Bút thì có, giấy thì không. Mấy ngày nằm dài ở đây, moi đã sử dụng hết giấy mang theo. Trong nhà bà dì lúc này chỉ còn giấy gói trà được xếp vuốt phẳng phiu và những bao hương ở góc sau bàn thờ. Biết đâu đây cũng là dịp cuối cùng chúng mình nói chuyện với nhau, những câu chuyện của hàng chục năm trước và không bao giờ kết thúc. Lại nữa moi còn nợ toi một lời giải đáp cho một câu hỏi mà thời gian gần đây mỗi lần gặp nhau là toi cứ hỏi:

“— Tại sao anh không lên núi?

“ Sáng nay bà dì mở radio nghe đài BBC như thường lệ. Lúc ấy moi đang ở trong tình trạng nửa thức nửa ngủ. Khi nghe đến đoạn Hiệp định Paris đã được công bố, bà chạy qua đánh thức moi dậy báo tin mừng. Gần trưa đi chợ về bà kể chuyện chợ búa rộn rã tiếng nói cười, ai cũng bảo cứ có hoà bình cái đã, mọi chuyện rồi sẽ tính sau. Đói no, nóng lạnh, cực khổ thế nào cũng được, miễn là không còn bom đạn chiến tranh, không còn chém giết đầu rơi máu đổ, ruột thịt tương tàn. Hồi sáng sau khi báo tin mừng cho moi bà dì liền đi tới bàn thờ thắp hương, đánh chuông khấn vái cám ơn Trời Phật phò trợ để Hoà bình được vững bền, người chồng đi tập kết trở về. Bà cũng đã cầu nguyện cho toi, cho moi và mọi người được tai qua nạn khỏi, cưới vợ có con nối dỏi tông đường. Bữa trưa, rồi tối trước khi ăn cơm bà dì cũng đã cầu nguyện như vậy trước bàn thờ. Còn moi suốt cả ngày nay, rất tệ là moi không có được sự mừng vui hồ hởi như nhiều người trên cả hai miền đất nước vào cái thời điểm đặc biệt ấy.

“Những giây, phút, ngày, tháng liền sau khi hai bên ngồi lại với nhau ở Paris, moi cũng đã náo nức, reo ca, vẽ vời bao nhiêu cảnh huống với bao nhiêu niềm vui, hạnh phúc về một cuộc trùng phùng, hội ngộ mà cả dân tộc đang mong chờ, ước mơ hàng mấy chục năm. Moi cũng đã vẽ với bao nhiêu cảnh huống về một đất nước hồi sinh, người người nắm tay nhau vượt qua muôn trùng đau thương, thù hận, chia lìa, đổ nát, đói nghèo – xây dựng lại quê làng, thiết kế và kiến tạo lại đất nước. Cũng như bà dì toi, cũng như mạ moi, cũng như hàng triệu bà mẹ, ông cha, cũng như hàng triệu anh em đồng bào cả nước trong ngày hôm nay, suốt gần năm năm qua, moi đã có được những giờ phút hạnh phúc — hạnh phúc hồn nhiên như trẻ thơ. Bởi moi đã nghĩ: cho dù đàm phán cũng là một dạng thái của chiến tranh, cho dù đàm phán có kéo dài đi nữa thì cũng có ngày kết thúc chiến tranh. Và Hoà bình nhất định phải đến. Moi đã hy vọng, đã phấn chấn và bằng tất cả tinh huyết có thể vận dụng được moi đã cùng với anh em lao vào cuộc chiến tranh hiểm nguy và gian khổ với một thôi thúc mãnh liệt và duy nhất là góp phần trong muôn một làm cho hoà bình đến nhanh hơn dù cho một giây một phút.

“ Điều bất hạnh cho moi là niềm vui sướng hồn nhiên ngây ngất về một nền hoà bình sắp đến ấy cứ một ngày nhỏ dần, yếu dần, mờ dần. Mãi đến lúc này đây, khi hoà bình đã gõ cửa thì tất cả mọi thứ đối với moi đã nguội lạnh. Và ở một xó xỉnh nào đó sâu thẳm của tâm thức moi đã nhú lên, rồi lớn thật nhanh, một hiện thực mới nặng nề và tiêu cực làm cho moi rối bời.

“Chúng ta sinh ra và lớn lên trên một vùng đất, một thời đoạn lịch sử đặc biệt. Cái vùng đất và thời đoạn lịch sử mà hầu như tất cả mọi khúc mắc lớn nhất của đất nước tụ hội nơi đây. Và những giải đáp để tháo gỡ, để giải quyết những khúc mắc ấy đa phần cũng nảy sinh từ những con người của khúc đoạn trường này.

“Những khúc mắc đó là gì? Đó là nô lệ, nghèo đói và dốt nát. Vấn đề vô cùng cấp bách, xưa cũ và đồng thời cũng mới mẻ từng ngày. Giải pháp nào đã được đưa ra, được vận dụng để đối phó với tình trạng nước sôi lửa bỏng, thiên nan vạn nan ấy?

“Đầu tiên là giải pháp nửa dơi nửa chuột, đánh đàm — đàm đánh bát nháo thiếu hiểu biết địch – ta, thiếu tự tín, thiếu bản lĩnh của một triều đình cũ nát, lạc lõng và thoái trào trong một đất nước nghèo đói, dốt nát và phẫn nộ.

“Tiếp đến là tiếng thét nộ khí xung thiên của những người thà chết nhất định không chịu làm nô lệ: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Trần Quí Cáp, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thành, Nguyễn Thái Học …

“Thứ ba là tiếng còi đổi mới, canh tân, tự lực và hội nhập, đề huề và hoà hoãn. Giải pháp này bắt đầu từ Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch đến Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và phong trào Duy Tân.

“Thứ tư là tìm đường học tập cầu viện nương cậy một nước giàu mạnh nhờ canh tân và ý thức đại dân tộc ở Á châu là Nhật Bản. Chủ xướng và lãnh đạo phong trào này là nhà yêu nước Phan Bội Châu dưới ngọn cờ Cường Để và thể chế Quân chủ lập hiến.

“Tất cả mọi tìm tòi nỗ lực chiến đấu, dấn thân của các khuynh hướng trên đều thất bại trong bất khuất hoặc trong ê chề tuyệt vọng.

Cuối cùng là con đường của Hồ Chí Minh và những nhà yêu nước tân học sau này hình thành nên đảng Cọng sản. Đây là một cuộc trường chinh vừa học tập, tìm hiểu đối phương, vừa tiếp thu văn minh nhân loại đặc biệt là ý thức hệ Marx –Lénin, phong trào Công nhân, phong trào Xã hội, phong trào Cọng sản và phe Xã Hội Chủ Nghĩa. Sự lựa chọn, tiếp thu và vận dụng, kết hợp các sức mạnh truyền thống và hiện đại, sự khôn khéo, thông minh trong mưu lược, sách lược, chiến lược, chiến thuật, ý chí và bản lãnh chiến đấu kiên cường, bất khuất, niềm tin tất thắng và sự hy sinh chịu đựng vô bờ bến của dân tộc, của cụ Hồ, của đảng Cọng sản… tất cả đã dẫn đến những thắng lợi to lớn như nhiều người trong chúng ta đã biết.

“Về phía moi, moi chỉ biết đại khái là như thế. Mà không phải dễ dàng gì, không phải ngày một ngày hai để moi có được những hiểu biết đại khái như thế về Cách mạng Việt Nam. Nếu không phải ngày một ngày hai, vậy toi có biết moi phải mất bao nhiêu thời gian để đi từ chỗ chưa biết gì đến chỗ biết đại khái như thế? Trên dưới mười năm đó.

“Và cho dù thời gian nào đi nữa nếu không có một yếu tố mà rất nhiều năm sau moi mới phăng dần cái nội dung đích thực ẩn tàng đằng sau lời trối trăn của ông nội moi trước khi nhắm mắt. Ông nội moi là một nhà Nho, một quan lại cao cấp của triều đình nhà Nguyễn, có tham gia tí chút trong phong trào chống thuế năm 1908, bị cách chức về làng dạy học. Năm moi sinh, ông nội moi đã ngoài 80, và cha moi cũng gần 50, cũng làm quan và đang trấn nhiệm một huyện nào đó ở Hà Tĩnh. Ông nội moi mất khi moi lên 4, bây giờ cha moi đã về hưu. Lời trăn trối của ông nội moi thực ra chỉ là lời ông nói đã nhiều lần lúc còn sống, nay nhắc lại trước khi nhắm mắt: “Ráng mà nuôi thắng Tú (anh trai moi), thắng Kha học hành tử tế và bảo với chúng đừng làm nghề gì khác ngoài nghề dạy học. Thời thế sẽ còn phải nhiễu nhương nhiều hơn nữa. Nghề dạy học tốt cho chúng nó hơn… Theo nhận thức của ông nội moi và đồng thời của cha moi, thời bấy giờ người con trai đến tuổi trưởng thành, đỗ đạt chỉ có hai con đường để lập thân là làm quan hoặc làm thầy đồ, hay một nghề tự do nào khác như thầy thuốc, thầy địa, làm nông…

“Cha moi sau hồi về hưu là một người trầm mặc, ít lời. Theo như mạ moi, thì thời trai trẻ ông không có vậy, mà trái lại, hoạt bát và xông xáo. Ông lần hồi thay đổi tính nết theo năm tháng bất đắc dĩ ở chốn quan trường. Trong nhà có hai người đàn ông lớn tuổi là ông nội và cha moi. Ông nội bị cách chức, làm thầy đồ thầy đạt đã quá đủ. Cha moi không chịu đi con đường ông nội moi chỉ. Mon men đi về hướng Đông Du một thời gian rồi nản chí, tuyệt vọng quay lại phía quan trường với một mục đích duy nhất là cứu vãn tình trạng suy sụp của gia đình. Ông hoàn toàn như một chiếc bóng suốt mấy chục năm làm quan. Thời Xô Viết Nghệ Tĩnh, ông làm tri huyện ở Hà Tĩnh. Liền sau đó xin về triều nhận một chức thư lại ở bộ hình và về hưu trước hồi Nhật đảo chánh. Ông nghiêm khắc với chính mình mà lại rộng lượng với con cái, gia đình. Việc học hành của tụi moi ông chỉ nhắc nhở qua loa và tuyệt đối không can thiệp vào việc chọn hướng đi của con cái. Anh moi đi kháng chiến từ những ngày đầu vỡ mặt trận. Dường như ông không đồng tình nhưng cũng không ngăn cản. Năm 1954 anh moi truớc khi đi tập kết có về thăm nhà, ông nói xa nói gần gì đó về Xô Viêt Nghệ Tĩnh, nhưng rồi cũng tham gia chuẩn bị mọi thứ để con trai lên đường.

“ Việc thực hiện lời trăn trối của ông moi chỉ có mạ moi là chú tâm một cách nghiêm túc và khó nhọc. Trong nhà mạ moi là một nội tướng đích thực. Chồng con, mồ mả, kỵ chạp một tay bà quán xuyến hết mọi việc. Là con gái trong một gia đình quan lại cao cấp, khoa bảng nhiều đời, chẳng biết có phải vì vậy hay vì lí do anh moi đi tập kết mà mạ moi luôn gắn lòng mình với cuộc kháng chiến và tin tưởng nước nhà sẽ thống nhất, anh moi sẽ trở về sau hai năm ký hiệp định Genève.

“ Bản thân moi thì chẳng khó khăn gì lắm để làm thầy giáo theo ý nguyện của ông nội . Moi học thong thả, sính văn chương lại ưa nói năng giao tiếp nên gõ đầu trẻ xem ra là một việc thích hợp.

“ Có điều khi đứng trước bảng đen đối diện với học trò mọi chuyện đối với moi không đơn giản. Dạy cái gì, dạy như thế nào, dạy để làm gì, đó là những vấn nạn. Trước đó moi không biết ông nội moi muốn gì khi trăn trối như vậy. Nhưng chắc chắn không chỉ đơn giản là chuyện kiếm cơm. Ở Huế vào thời điểm ấy thang giá trị vẫn còn là “dân hữu tứ sĩ vi chi tiên”. Nhưng thế nào là sĩ? Phải chăng đó là kẻ câu cơm bằng cái vốn liếng chữ nghĩa cóp nhặt được nhiều năm trên ghế nhà trường? Nếu chỉ để câu cơm thì tại sao ông nội moi không khuyên con cháu đi làm quan để nhũng lạm hoặc đi buôn để làm giàu? Moi sinh ra, lớn lên trong một gia đình quan lại và Nho giáo. Quan lại, Nho giáo trong cái thời buổi suy tàn. Triều đình là một bộ máy rệu rã, đầu hàng, thối nát, là công cụ bất đắc dĩ của thực dân. Nho giáo thì lỗi thời, hết sinh lực lại bị vận dụng tuỳ tiện theo các nhu cầu tầm thường, cơ hội, cá nhân, bè phái, phe nhóm. Vua như Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại mà cũng kêu gọi trung quân với ái quốc. Thiên Chúa giáo và cát cứ như tập đoàn Ngô Đình Diệm mà cũng nhân danh mệnh trời, quốc gia để đè đầu vít cổ thiên hạ. Trong gia đình, người đàn ông, đặc biệt là những ông cả, ông trưởng, ông chồng cũng là những ông vua, những Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại tại gia. Tóm lại, tam cương ngũ thường là giềng mối là tinh tuý của Nho giáo thì tam cương được vận dụng, cổ xuý một chiều, cô lệch. Và ngũ thường thì gần như không còn dấu vết trong ký ức của rất nhiều kẻ mạo nhận, giả danh; nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.

“ Đại khái là như thế, Nhưng hiểu thế nào vẫn còn là vấn đề bảo lưu đậm nhạt khác nhau, những khía cạnh tích cực của một thể thống Nho giáo đã được Việt hoá nơi một ít cá nhân, gia đình, dòng họ và địa phương. Đối với họ cá nhân, gia đình và tổ quốc đã kết tụ thành một mối, và trong những tình thế đặc biệt phải chọn lựa, họ sẵn sàng hy sinh cá nhân, gia đình cho sự an vui, sự tồn vinh của dân của nước. Lo trước thiên hạ, khổ trước thiên hạ và chết trước thiên hạ là cốt cách của những kẻ sĩ tiêu biểu như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Đình Phùng, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Khôi và thành tựu sau cùng là người thanh niên Nguyễn Tất Thành.

“Không phải là chuyên tình cờ mà sĩ phu Nghệ Tĩnh, Nam Ngãi đã chọn nhà tù, pháp trường làm nơi đến của mình hơn là bất cứ nơi nào trên đất nước bị giặc chiếm đóng.

“ Cũng không phải là chuyên tình cờ mà Huế — nơi một thời là đất dụng võ của những hào kiệt từ Nguyễn Hoàng đến Quang Trung: một người thì mở mang bờ cõi, một người thì Nam chinh Bắc chiến quét đuổi xâm lược, giữ vững cơ đồ, thống nhất giang sơn — một trăm năm mươi năm sau nhà Nguyễn thiết lập Vương triều, gần một trăm năm thực dân Pháp đặt ách đô hộ, người Huế cứ nhỏ dần từ dáng vóc đến giọng nói. Rùn vai, hạ giọng, gọi dạ bảo vâng là mẫu mực của đám thần dân đâu phải của chỉ vương triều nhà Nguyễn mà của tất cả các triều đại chuyên chính. Một trăm năm qua, ở Huế chỉ còn lại những hào kiệt hạng hai, rất nhiều thi sĩ, và thư lại thì hằng hà sa số. Huế dễ thưong, Huế sâu lắng, Huế tinh tế, Huế thâm trầm là những đánh giá của anh em bạn bè. Năm phần chính xác và năm phần rộng lượng.

Moi xuất thân trong một gia đình Nho giáo và quan lại. Nho giáo chỉ đọng lại trong bản thân moi là những tập quán đạo đức, luân lí và tình cảm được thấm dần từ bà mẹ. Cha moi là một người khó hiểu và câm lặng, chỉ về nhà trước khi đã nghỉ hưu. Nơi ông, moi thấy rất mơ hồ dấu vết của học thuật (Nho giáo) và nghề nghiệp (quan lại). Moi chỉ nhận được từ ông những tình cảm dịu dàng và trìu mến. Ông không dạy moi chữ Hán, ông cũng không áp đặt những nguyên lí, những chuẩn mực triết lí, đạo đức Nho gia. Dường như ông muốn phủ nhận hoặc muốn quên đi những gì mà ông đã bỏ công kết tập. Có cái gì đó vừa trống rỗng vừa tuyệt vọng nơi ông. Ngoài sự câm lặng, ông không hề hở môi, ca thán về bất cứ gì như những người đồng thời cùng cảnh ngộ trước những đổi thay đến chóng mặt của cuộc sống nhãn tiền. Ông nội moi thì qua đời khi moi chưa đến tuổi lên năm. Ông chỉ để lại trong ký ức moi một ông già nhân hậu và lời trăn trối mà moi phải mất nhiều thời gian và công sức để lãnh hội và thực hành.

Moi bắt đầu đi dạy vào cuối năm 23 tuổi, năm ấy là năm 1958. Chính quyền Ngô Đình Diệm đang say sưa chiến thắng và những thành tựu đạt được sau năm năm đầu cầm quyền với cơ man nào là âm mưu thủ đoạn. Họ tiếp tục lao vào con đường âm mưu thủ đoạn ấy. Chắc họ nghĩ rằng chỉ với âm mưu thủ đoạn thôi họ có thể làm chủ thiên hạ. Cha moi ngày một ít nói hơn. Hình như ông cố che giấu, cố kiềm chế những rối rắm, những bức xúc trong lòng. Mạ moi thì ngày một sốt ruột. Tháng 7 năm 1956 đã qua, một tháng, một năm, rồi hai năm mà không thấy dấu hiệu gì để thống nhất hai miền. Anh Tú moi thì biệt vô âm tín. Nỗi nhớ thương mong đợi con khiến bà ngày một thêm héo hon buồn khổ. Nhiều lúc moi bắt gặp bà ngồi khóc âm thầm trong một góc tối của căn nhà rường. Bà thắp hương khấn vái nhiều hơn trên bàn thờ tổ tiên. Mọi tội lỗi bà trút hết lên tập đoàn Ngô Đình Diệm. Bà nói nhỏ, nói một mình nhưng moi cũng nghe được: “Tụi chúng ác, chúng muốn kéo dài vĩnh viễn sự chia cắt. Chúng muốn dẹp hết bàn thờ Tổ tiên Trời Phật, bắt ép mọi người chỉ thờ một ông chúa bà chúa gì đó của bọn Tây, của bọn cướp nước ấy…”

“Ngô Đình Diệm khi mới về nước, không ít người Huế chào đón và hy vọng. Nhưng rồi ngày lại ngày khi cái ghế Tổng Thống của ông tạm vững, anh em của ông ấy đã quay lưng lại với đại bộ phận người Huế. Diệt Cọng, bài Phong, đả Thực, tất cả chỉ là chiêu bài. Nép sau cái chiêu bài này, tập đoàn Ngô Đình Diệm đã trắng trợn gây ra bao nhiêu tội ác: giết người, cướp của, chà đạp, đàn áp, cưỡng bức là hành động hàng ngày của tập đoàn này. Không có cái gì ăn nhập với nhau giữa lời nói và hành động. Tự do, dân chủ, ấm no, hạnh phúc là những lời nói hàng ngày của tập đoàn Ngô Đình Diệm. Chúa Trời và Quốc gia. Có cái gì đó quá mờ ám, quá đen tối, ở cái mô hình này.

“—- Sao lại Chúa Trời mà không phải là Ông Bà Tổ Tiên Trời Phật được thờ cúng ở cái nơi trang trọng nhất của căn nhà trong tâm thức dân tộc.

“—- Sao lại Quốc gia độc lập trong khi miền Nam chỉ là một phần, một bộ phận của đất nước Việt Nam duy nhất chạy dài từ Bắc chí Nam, là kết quả của biết bao nhiêu máu xương, mồ hôi, nước mắt người Việt Nam đã đổ ra suốt cả ngàn năm.

“—- Sao lại là tiền đồn, là nơi đầu tên mũi đạn cho một thế giới Tự Do nào đó xa lắc xa lơ? Té ra tập đoàn Ngô Đình Diệm đã đem một phần lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc thế chấp cho Hoa Kỳ và để đổi lại tên đế quốc này đổ tiền bạc, bom đạn bảo vệ sự an toàn cho ông ta trong quá trình chống lại đất nước, chống lại nhân dân.

Moi đã mường tượng ra cái công việc, cái mục đích của Người Thầy Giáo mà ông nội moi đã gợi mở, đã dặn dò.

“ Lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, giữa Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, giữa hai con người tài hoa có hai số phận ngược chiều của thế kỷ 19, moi thích và cảm phục Cao Bá Quát hơn. Cái khí phách ngang tàng, cái hào khí ngất trời của kẻ muốn “xoay bạch ốc lại lâu đài” ấy hấp dẫn, chinh phục, và cuốn hút moi. Và thế là moi đã bỏ rơi cái ông già ham chơi lận đận lao đao đi xe cỏ chờ vận hội nơi cái triều đình ruỗng mục và chuyên chính nhà Nguyễn. Thế mà đến khi trở thành thầy giáo, moi lại phát hiện ra ở Nguyễn Công Trứ một khía cạnh mới.

Có giang sơn thì sĩ đã có tên

“Té ra sông núi, đất nước, dân tộc, tổ quốc đã sản sinh ra đứa con đầu lòng là kẻ sĩ. Giềng mối quốc gia, ý thức dân tộc, cái Nam quốc sơn hà, cái tinh tuý, cái hạo nhiên của mọi thời đại và cụ thể là con đường cứu nước mà cụ Hồ và những người Cọng sản đã đi tìm đều được tinh lọc qua khối óc, trái tim, hoài bảo, bản lãnh và khát vọng của những đứa con đầu lòng ấy của Mẹ Cha Giang Sơn Tổ Quốc.

“Trước khi giảng bài Kẻ Sĩ ở lớp đệ tứ, moi phải rủ về nhà vài đứa học trò đã qua chọn lựa để moi thực tập. Bọn moi ngồi ở căn chái mà sau này toi đã nhiều lần về ngủ. Sau khi đám học trò ra về, cha moi đã nhẹ nhàng, điềm đạm bảo Moi:

—“Nhìn ở một góc độ khác, chính cái chất sĩ nơi loài người là nguồn cội sản sinh ra mọi khái niệm từ Dân tộc, Quốc gia, Độc lập, Tự chủ, Nhân loại v…v…

“Con người vượt qua dạng thái tồn tại của thú, yếu tố đầu tiên nảy sinh trong đầu nó là trí khôn. Không có trí khôn con người chỉ là bầy thú. Để phân biệt giữa sĩ và ba hạng dân còn lại, yếu tố trí khôn và các phẩm chất ưu tú khác nơi kẻ sĩ nổi trội hơn.

—- “Mà sao con lại muốn làm một thầy giáo cá biệt? Gian nan và nguy hiểm lắm…”

Moi sững sờ trước những lời nói và thái độ của cha moi. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng moi thấy ông bày tỏ một thái độ nghiêm túc về một vấn đề nghiêm túc. Có thể ông là một người tuyệt vọng, chứ không phải là người trống rỗng như moi đã từng nhận xét. Moi đã ôm chầm lấy ông, và moi đã khóc như một đứa con trẻ.

Moi đã sáng tỏ vai trò của mình, chức năng của mình — Thầy Giáo — trước tình thế đặc biệt của đất nước như moi đã nói ở trên. Nhưng thế nào là tình thế đặc biệt moi còn rất mơ hồ. Nhưng hiểu được đến lúc này (1959) một cách đúng đắn về cuộc kháng chiến chống Pháp, về Điện Biên Phủ, về hiệp định Genève là nhờ những thông tin đơn giản và những tình cảm sâu sắc từ mạ moi. Ngoài ra không còn có gì nữa. Trong khi đó trong gần năm năm, ngày đêm ra rả bên tai, nhan nhản trước mắt mọi người dân miền Nam là những tuyên truyền của một bộ máy đồ sộ đông đảo nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều vòng, nhiều phương tiện của tập đoàn Ngô Đình Diệm và Mỹ. Phong trào cách mạng quốc gia, Liên đoàn công chức cách mạng, đảng Cần Lao, Thanh niên cọng hoà, Phụ nữ liên đới, Cảnh sát công an, Công dân vụ, Xây dựng nông thôn Phượng hoàng, cán bộ phường xã, thôn ấp, liên gia. Đặc biệt là cơ quan thông tin Mỹ Việt các cấp từ Sàigòn, Huế, các đội chiếu phim, các đoàn thông tin tâm lý chiến. Và cả hệ thống báo chí, sách vở, áp phích truyền đơn, loa phóng thanh…

“Cũng không thể không nhắc đến những cái loa chống Cọng trong đạo Thiên Chúa, trong gần một triệu người di cư từ miền Bắc và nhất là một số cán bộ kháng chiến bỏ hàng ngũ trở về đầu thú.

Moi đã đọc Le Zeros et L’infini của Koesler, moi đã đọc Trăm Hoa Đua Nở trên đất Bắc. moi đã đọc Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nhà Đua Tiếng trên đất Trung Hoa của Mao Trạch Đông, moi đã đọc tạp chí Sáng Tạo, nhật báo Tự Do, tạp chí Đại Học và rất nhiều sách báo chống Cọng, chống miền Bắc chống Cọng sản và ca ngợi Ngô Đình Diệm, ca ngợi Mỹ và thế giới Tự Do.

“ Đại học Huế, nơi moi đã học một năm ở Trường sư phạm, ba năm ở trường luật, phải chăng là nơi của một cái loa to, đào tạo nhiều cái loa nhỏ cổ xuý, động viên rao giảng, tô vẽ cho cái Quốc Gia Chúa Trời La Mã, cho cái tiền đồn chống Cọng của Ngô Đình Diệm và đế quốc Mỹ. Các trường trung học, đại học của chính quyền, của đạo Thiên Chúa cũng là nơi đặt để, sản xuất những cái loa như thế.

“ Không thể phủ nhận những năm đầu của chế độ Ngô Đình Diệm với tiền bạc từ viện trợ Mỹ, với hệ thống tuyên truyền khổng lồ, nham hiểm tinh vi của CIA và tập đoàn Cần Lao Thiên Chúa giáo — miền Nam trong đó có Huế đã đạt được những thành tựu nào đó. Một bộ phận không nhỏ quần chúng đã hy vọng và tin theo. Đồng thời, kinh tế ở đô thị tương đối ổn định. Thanh niên học xong tú tài hay tốt nghiệp từ các trường chuyên nghiệp sơ trung cấp có việc làm. Thanh niên ít học bị gọi đi lính được chu cấp đầy đủ các nhu yếu phẩm. Hạ sĩ quan, công chức sơ cấp có cuộc sống tạm ổn định. Sinh viên tốt nghiệp đại học, sĩ quan, công chức cao cấp, thì đời sống đầy đủ, phủ phê hoặc giàu có, con cái họ nếu có khả năng thì học đến nơi đến chốn.

“ Tất cả những thứ đại loại như thế dưới mắt nhìn đơn giản hời hợt của một bộ phận không nhỏ thị dân thì miền Nam có đủ vóc dáng và sức mạnh của một quốc gia dân chủ đồng thời là một pháo đài mẫu mực của thế giới Tự Do “ngăn chặn hữu hiệu sự xâm lăng của Cọng sản miền Bắc”.

“ Mãi cho đến khi nổ ra vụ Phật giáo và kết thúc chế độ Ngô Đình Diệm, bản thân moi mới nhận ra sự thật của vấn đề miền Nam.

“Trong khi đó mạ moi và tất cả các bà mẹ có chồng con anh em đi tập kết, đi kháng chiến và nhiều đồng bào ở nông thôn, đồng bào theo đạo Phật — những nạn nhân trực tiếp của sự cấu kết Mỹ – Diệm không cần phải vòng vo sách vở như moi, mà bằng sự trải nghiệm đau thương của mình đã không khó khăn gì nhận biết các mưu đồ đen tối, tàn ác, bạo ngược của guồng máy Phát xít và mỵ dân. Đối với họ, miền Nam không thể là tiền đồn, không thể là một nước, cũng không thể là một quốc gia trong vòng tay quan phòng của Chúa Trời La Mã. Dân tộc Việt Nam là một, nước Việt Nam là một. Ai đó nói với moi rằng cụ Hồ đã khẳng quyết chân lí ấy. Và moi đã nói lại với mạ moi, bà ấy bảo: Chỉ có cụ Hồ. Trước sau gì cũng chỉ có cụ Hồ.

Moi bắt đầu đi dạy từ mùa thu năm 1958, bốn năm sau khi Ngô Đình Diệm về nước và năm năm trước anh em Ngô Đình Diệm bi giết, quốc gia Chúa Trời La Mã của đảng Cần Lao Thiên Chúa sụp đổ. Anh em Nhu Diệm và đảng của họ biết hết các việc họ làm…  Duy có một điều đơn giản mà họ không biết là chính họ đã tự đào hố chôn mình. Bài học đơn giản mà rất nhiều người trong nhiều thời đại không chịu học là bất cứ ai muốn sống yên bình là sống giữa thiên hạ, sống phải chăng với thiên hạ, chứ không thể sống một mình, sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Ngày trước anh em họ Ngô đã không biết điều đó. Mới chân ướt chân ráo về miền Nam, Ngô Đình Diệm đã ra tay tàn sát người Cọng sản. Tiếp theo ông ta loại khỏi mưu đồ vương bá của mình các thế lực của một miền Nam bát nháo đã từng liên kết hay ủng hộ ông là phe Bảo Đại, các đảng phái, các giáo phái. Hành động cuối cùng chẳng phải là giọt nước mà là thác nước nên không chỉ làm tràn mà làm đổ bể, cuồn trôi cái ly nước đang trên thế chông chênh của tập đoàn Ngô Đình Diệm là thách đố một bộ phận đông đảo của quần chúng miền Nam: những người theo đạo Phật. Vậy Ngô Đình Diệm và bộ sậu của ông sống với ai giữa miền Nam như thế đó?

“— Chừng bảy tám phần trăm người theo đạo Thiên Chúa không muốn hoặc chưa bám rễ vững chắc vào đất nước vào dân tộc ư? Chừng ấy sức mạnh không đủ để đối chọi, để tranh hùng với hơn chín mươi phần trăm người miền Nam còn lại. Huống hồ gì ở phía bên kia vĩ tuyến 17 còn có một miền Bắc ruột thịt, một đảng Cọng sản đã tôi luyện dày dạn trong chiến tranh giải phóng và tiếp tục nắm vững ngọn cờ Dân tộc. Huống hồ gì ngoài cương thổ Việt Nam, ít nhiều mạnh yếu từng nơi, còn có tình liên đới nhân loại. Huống hồ gì còn có ông chủ của cái tiền đồn chống Cọng của thế giới Tự Do — người bạn đồng minh giàu có Hoa Kỳ. Dưới con mắt của người Mỹ, Ngô Đình Diệm chỉ là một thủ lãnh trông coi, bảo vệ tiền đồn. Một khi thủ lãnh đó không còn có khả năng canh gác tiền đồn, thậm chí còn là nguyên nhân khiến cái tiền đồn ấy suy sụp, thì lẽ đương nhiên ông chủ Mỹ sẽ tuyển chọn một thủ lãnh khác trong đám ứng viên dự bị để thay vào chỗ của ông ta.

Moi phải mất năm năm mới vỡ lẻ những vấn đề tưởng chừng như quá đơn giản ấy. Sự sáng tỏ moi có được là cả một chặng đường gian nan và cũng không phải một mình moi mày mò mà có sự tác động, hổ trợ ba bên bốn bề:

“ Trước hết là sự chuyển biến của toàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị và an ninh của miền Nam. Chỉ trong vòng bốn năm năm mà:

“— một nhà yêu nước, một lãnh tụ cách mạng quốc gia anh minh, một nhà cai trị sáng giá của thế giới Tự do Ngô Đình Diệm,

“— một lí thuyết gia, một đảng trưởng đảng Cần Lao Nhân Vị, một ngài cố vấn tối cao Ngô Đình Nhu và vợ ông ta — đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân,

“— một Giám mục, rồi Tổng giám mục Ngô Đình Thục, thành viên cao cấp của vương triều Thiên Chúa giáo La Mã, đại diện cho đức Chúa Trời, Đấng sáng tạo quyền năng và bác ái,

“— một Ngô Đình Cẩn, lãnh chúa miền Trung,

“— một đảng Cần Lao Thiên Chúa giáo …

đã trở thành một băng nhóm tội phạm chẳng từ một tội ác nào: cướp của, giết người, buôn lậu, tham ô những lạm và độc tôn tôn giáo.

“Và cũng trong chừng ấy thời gian mà các đảng phái, giáo phái, phe nhóm chính trị đã từng đứng chung với Ngô Đình Diệm dưới cái lọng đoàn kết quốc gia chống Cọng, trước sự phản trắc và lật lọng của anh em nhà họ Ngô và đảng Cần Lao Thiên Chúa giáo, đã bày tỏ sự căm thù, tức giận, quyết không đội chung trời, để rồi sau đó thể hiện qua các cuộc đảo chánh, tập hợp tuyên ngôn không mưu lược, không quyết tâm, rã rời, cạn kiệt sức sống, vỏ biền và xôi thịt.

“Những rối rắm, xuống dốc chính trị kéo theo sự suy sụp kinh tế, sự đổ vỡ niềm tin, sự bất mãn căm giận của đông đảo quần chúng không những ở nông thôn mà cả những thị dân đã một thời tin tưởng và ủng hộ Diệm.

“ Đó là những điều mắt thấy tai nghe. Ngoài ra sự sáng tỏ của moi một phần thông qua các cuộc trao đổi bàn luận với bạn bè, với đồng nghiệp ở trường Nguyễn Du, ở căn nhà tranh phên tre nền đất của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong hẻm Mai Thúc Loan gần chợ Xép, rồi căn nhà của Đinh Cường thuê trên dốc Bến Ngự là nơi bọn moi tụ tập, đấu đá, tranh cãi mọi thứ chuyện trên đời: triết học, sử học, văn nghệ, chính trị xã hội…

Ngoài Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Đinh Cường thường trú, moi còn gặp nơi đây hết tuần này qua tuần nọ, hết tháng này qua tháng kia của những năm sau 1963 nào là Đỗ Long Vân, Nguyễn Văn, Lê Tử Thành, Bửu Ý, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Tuấn Khanh (Rừng) và đám bạn bè đồng chí của Phan: Phan Duy Nhân, Lê Hiếu Đằng… Thỉnh thoảng moi còn gặp một vài người bạn phương xa có dịp tạt qua Huế. Lúc đầu bọn moi mỗi người mỗi vẻ, một xu hướng triết học, một lập trường chính trị, một quan điểm lich sử, một trường phái văn nghệ. Mọi người đều tha hồ giải bày, tha hồ mà bài bác, tha hồ tuyên dương. Marxism? Hiện sinh? Phật giáo? Hiện thực? Trừu tượng? Siêu thực? … Quả đây là một salon, một câu lạc bộ của một nhóm trí thức Huế. Có điều cái salon trí thức này không ở trong một lâu đài, một phòng khách sang trọng như ở châu Âu mà ở trong một túp lều, và bọn Tường Phan đặt cho nó một cái tên rất kiếm hiệp là Tuyệt Tình Cốc.

Moi đến Tuyệt Tình Cốc hay đến căn nhà trên Bến Ngự lúc đầu với mục đích cấp bách là xác lập hướng đi cụ thể cho công việc dạy học của mình.

“Nhiều sinh viên khi đến trường Đại học Sư phạm, là đã giải quyết xong vấn đề này. Với moi thì chưa. Moi không thể dạy cho đám học trò trở thành những công bộc cho chế độ Mỹ Diệm. Ông nội moi không muốn thế. Mạ moi không muốn thế. Hàng triêu người Việt Nam bình thường không muốn thế. Cao Bá Quát bảo moi nên cùng đám học trò mưu tính lật đổ chế độ. Nguyễn Công Trứ đề nghị moi khi thì “ Phù thế giáo một vài câu thanh nghị ”, khi thì “ Ngoài biên thuỳ rạch mũi can tương”.

“Một vài câu thanh nghị là cách nói tượng trưng và khiêm tốn. Khi một chế độ tàn ác, độc tài như chế độ Mỹ Diệm thì hơi thở của kẻ sĩ không chỉ là một vài câu thanh nghị mà toàn sinh lực của kẻ sĩ phải trở thành vũ khí góp phần đánh đuổi, lật đổ chúng.

“Nghĩ như thế đối với moi không phải là hết bế tắc, bởi vì bây giờ trên bình diện tư tưởng và cảm thức chính trị moi cùng tồn tại ba luồng nội lực khó bề hoá giải:

“Thứ nhất là con đường cách mạng tiến hành cùng lúc hai cuộc cách mạng Dân tộc Độc lập và Chủ Nghĩa Xã Hội hoặc ngược lại do đảng Cọng sản Việt Nam xướng xuất và lãnh đạo.

“Thứ hai là con đường Dân tộc và Đạo pháp hay Đạo pháp và Dân tộc do các vị cao tăng Phật giáo Bắc tông ở Huế, ở miền Trung âm thầm gợi mở và phát động.

“ Thứ ba là tư tưởng Tư sản Dân quyền và học thuyết của Rousseau mà moi đã tiếp thu từ trường Luật và mấy năm nghiền ngẫm sách báo.

Moi bế tắc bởi moi không thể gây cho học trò ý thức đuổi Mỹ, lật Diệm một cách chung chung rồi bỏ đó, mà tại sao moi không chỉ cho chúng luôn ngọn cờ nào chúng có thể theo để thực hiện nghĩa vụ công dân của mình?

“ Các cuộc trao đổi, thảo luận ở Tuyệt Tình Cốc, ở căn nhà trên dốc Bến Ngự nhất là những đóng góp của các anh Trần Hữu Trung, Hoàng Hữu Pha, và cả Lê Phước Tâm, Nguyễn Hữu Châu Phan sau này ở trường Ngưyễn Du đã giúp moi định hướng ngày một đúng đắn hơn công việc dạy học của mình.

“ Đối với moi từ trước cho đến thời điểm này, học thuyết Tư sản Dân quyền là tư tưởng cách mạng triệt để và đúng đắn nhất. Triệt để và đúng đắn như thế nào moi sẽ giải thích sau. Tuy nhiên không có tư tưởng, học thuyết nào có thể thực hiện được trong một nước bị chiếm đóng bị lệ thuộc. Vấn đề cấp bách và ưư tiên hàng đầu là đánh đuổi ngoại xâm và đánh sụp các chính quyền, các thế lực lệ thuộc, tay sai, giành lại độc lập, chủ quyền, thực hiện Thống nhất.

“Gác lại một bên thể chế Tư sản Dân quyền mà moi cho là cách mạng triệt để. Vấn đề còn lại là giữa Phật giáo miền Trung và đảng Cọng sản Việt Nam, moi sẽ đóng góp sức mình với ai, cọng tác với ai để thực hiện khát vọng Độc lập, Thống nhất và kiến tạo Hoà bình?

“ Với Phật giáo ư? trước khi gặp đám Hoàng Phủ Ngọc Tường và bạn bè ở Tuyệt Tình Cốc, trước khi trao đổi với các anh Trần Hữu Trung, Hoàng Hữu Pha, Lê Phước Tâm, Nguyễn hữu Châu Phan ở trường Nguyễn Du. Trước khi nghe toi, Nguyễn Đính, Võ Đông và nhiều anh em khác … Moi đã nghe quá nhiều, thấy quá nhiều những lời, những cảnh, những thiên đường, địa ngục từ guồng máy khổng lồ Mỹ Diệm, ở giữa những náo động gai mắt chói tai, ồn ào xa lạ và độc hại ấy, moi nghe được một tiếng nói khác nhỏ nhẹ, bao dung, từ ái … phát ra từ các vị lãnh đạo Phật giáo miền Trung. Các vị ấy nói rằng: đất nước đang bị qua phân, nhân dân ở hai miền Nam Bắc do sự thúc bách, áp đặt của hai thế lực quốc tế là Cọng sản độc tài vô thần và Tư bản Thiên Chúa giáo toàn trị đã và đang tiến hành cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt, tan tác thương đau. Phật giáo Việt Nam, không như một tôn giáo nào khác, mà là một tôn giáo đặt nền tảng trên tư tưởng Đại hùng, Đại lực, Đại Từ bi, trên ý thức trách nhiệm và lòng yêu nước thương nòi của người Việt Nam, đã gắn kết thân phận mình với thân phận quốc gia dân tộc, đã có những đóng góp to lớn trong suốt hàng ngàn năm lịch sử dựng nước, chống ngoại xâm, mở mang bờ cõi và kiến tạo đất nước trong hoà bình thịnh vượng. Trong quá khứ rất nhiều vị tăng sĩ Phật giáo qua những đóng góp to lớn đã được phong làm quốc sư, đặc biệt là hai triều Lý Trần.

“Với nền tảng sức mạnh tâm linh hùng hậu thâm viễn như vậy, với khối lượng tín đồ đông đảo gồm ba phần tư dân số, với một đội ngũ tăng ni đạo cao đức trọng và Phật tử có đủ tâm năng do được đào tạo chuẩn bị từ sau cuộc chấn hưng Phật giáo vào những năm đầu của thập kỷ ba mươi và tiếp tục phát triển qua nhiều thập niên đến ngày nay, Phật giáo Việt Nam nguyện đem hết sức mình thực hiện hoà giải dân tộc, thống nhất tổ quốc. Với một quốc gia độc lập, thống nhất, an bình thịnh vượng, một nước Việt Nam được trang bị bởi tư tưỏng Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi sẽ hoá giải các mâu thuẫn, tương tranh quốc tế góp phần đem lại an bình cho nhân loại.

“ Nhiều năm bị vây hãm giữa những tiếng nói, âm thanh chát chúa hung tợn của sắt thép, hận thù, đổ vỡ, moi đã sững sờ và vui sướng như kẻ lạc đường giữa sa mạc nắng cháy tìm được giếng nước và bóng râm khi nghe được tiếng nói bao dung hoà ái như thế. Độc lập Hoà bình, ngàn năm trước, ngàn năm sau dân tộc Việt Nam cũng chỉ mơ ước như thế. Rất nhiều người Huế, người miền Trung và cả miền Nam nữa, là nạn nhân của những giấc mơ đẫm máu, đã bị cuốn hút vào cơn mộng du tập thể tràn ngập ánh đạo vàng, nắng chiều, kinh cầu và nhạc tụng.

“Trong đêm dài của nô lệ và đói nghèo, dân tộc Việt Nam đã trải qua hai cuộc mộng du lớn. Một của người Cọng sản, và một là của các người Phật giáo miền Trung. Là một người ngoại đạo và cũng khá muộn màng, nhưng bởi là người Việt Nam, là thi sĩ, nên ít nhiều gì moi cũng đã tham dự vào hai cuộc mộng du ấy.

“Tuy nhiên, moi lại còn là người học luật, là kẻ duy lý, là học trò của J. Rouseau (moi nói trước để toi khỏi phân vân gì khi cần phải tố cáo moi là con đẻ của chủ nghĩa Tư bản, tên tư sản đội lốt mai phục) nên moi đã nhanh chóng nhận ra rằng con đường của các nhà lãnh đạo Phật giáo miền Trung chẳng phải là thông lộ cho vấn đề Việt Nam như cảm giác ban đầu của moi và của nhiều người khác. Bởi tiền đề mà các vị ấy nêu ra dựa trên những chi tiết chứ không phải là cốt lõi của vấn đề Việt Nam. Từ khi người Pháp xâm chiếm đất nước này cho đến bây giờ vẫn là xâm lược, chống xâm lược. Những vấn đề khác: vô thần hay hữư thần, độc tài hay dân chủ, cọng sản hay quốc gia…, không phải là hoàn toàn bịa đặt, nó có đó, nhưng là những nhân tố phát sinh, phụ thuộc, được thổi phồng, cường điệu và huyền thoại hoá. Tất cả sẽ được giải quyết sau khi nền độc lập của đất nước được thu hồi, việc thống nhất đất nước được thực hiện, và hoà bình được tái lập. Vả lại: ước mơ, hoài bảo, khát vọng của các vị lãnh đạo Phật giáo miền Trung quá to lớn, hảo huyền, ở ngoài khả năng, chức năng của một tôn giáo trước tình hình đất nước.

“ Về mặt lí thuyết, moi tâm đắc với học thuyêt Tư sản Dân qưyền, và không mặn mà gì với chủ nghĩa Cọng sản. Tuy nhiên để đạt được cái mục đích cấp bách: Độc lập và Thống nhất, moi sẵn sàng đứng chung ngọn cờ Dân tộc mà đảng Cọng sản giương cao. Moi là người dân như hàng triệu người dân miền Nam khác, không có tham vọng chính trị, không phe nhóm, tham gia kháng chiến theo khả năng và nhận thức của mình, một khi sáng tỏ ra rằng đảng Cọng sản có quyết tâm và có khả năng đưa cuộc kháng chiến chống đuổi Mỹ đến thắng lợi cuối cùng, moi đi chung với các toi một đoạn đường. Có thế thôi.

“Còn vấn đề học thuyết Tư sản Dân quyền của moi, như có lần toi đã hỏi?

“ Không có học thuyết nào của moi cả. Chọn một con đường để đi là việc của cả nhân dân. Học thuyết Tư sản Dân quyền phải chăng là những khôn ngoan, chứ không phải là chân lí tuyệt đối như chủ nghĩa Cọng sản hoặc như tín điều tôn giáo. Những khôn ngoan mà các ông Montesquieu và Rousseau đề nghị nếu nhân dân thấy có lợi thì dùng, không có lợi thì thôi. Không ai có quyền và có khả năng áp đặt, dạy dỗ người khác về bất cứ học thuyết nào khi người ta không thấy có nhu cầu hoặc khi người ta không có khả năng để tiếp cận. Học thuyết Tư sản Dân quyền là sản phẩm của một trình độ văn minh. Nó ra đời sau cuộc cách mạng đại công nghiệp, nó là những khế ước được thừa nhận, vận dụng cho cả hai phía: phía người cai trị được bầu vào các cơ quan công quyền và phía những người công dân chấp nhận sự cai trị của người mình đề cử thông qua lá phiếu. Cả hai đều công nhận, ràng buộc, bảo vệ các quyền hạn chức năng và các trách nhiệm thông qua hiến pháp và luật pháp. Không một ai, từ người đứng đầu các cơ quan quyền lực cao nhất (lập pháp, hành pháp, tư pháp) đến đảng cầm quyền, ở trên, ở ngoài pháp luật cả. Tất cả mọi người đều được pháp luật thừa nhận các quyền căn bản bất khả nhượng. Có lẽ sau chiến tranh, các quyền dân chủ chưa có điều kiện và khả năng thực hiện đầy đủ, trong khi đó nhu cầu cấp bách là bảo vệ các thành quả của cuộc kháng chiến, bảo vệ an ninh trật tự và các điều kiện sống căn bản cho tất cả mọi người không phân biệt, hạn chế và đề phòng sự lạm quyền của một số người say mê chiến thắng, cần nhanh chóng và nghiêm chỉnh xây dựng một nhà nước pháp quyền vững mạnh và trong sạch.

“ Câu hỏi tối qua của toi về lực luợng thứ ba, moi đã trả lời đại khái. Suốt mấy ngày nay, moi suy nghĩ khá nhiều về vấn đề này. Theo moi đây là một vấn đề tế nhị và phức tạp. Moi nhắc lại quan điểm của mình: không có lực lượng chính trị thứ ba trong cuộc chiến tranh giải phóng. Nhưng thực tế là đảng Cọng sản đã khẳng định: hai cuộc cách mạng tiến hành cùng một lúc là: cách mạng Dân tộc Dân chủ nhân dân và cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa.

“Ở miền Nam, có rất nhiều người kể cả một số người trong quân đội và chính quyền Saigòn có ý thức chống Mỹ nhưng đồng thời không đồng tình với người Cọng sản về chủ nghĩa Xã hội. Họ thuộc thành phần chính trị thứ ba.

“ Tuy nhiên do nhu cầu và thủ đoạn chính trị, không những người Cọng sản các toi mà cả Mỹ cũng đã khẳng định một cách giả dối rằng có một lực lượng thứ ba. Vả lại trong số đông đảo thuộc thành phần chính trị thứ ba cũng không thiếu những cá nhân, tổ chức do ảo tưởng chính trị, cọng với sự hồn nhiên cả tin, cũng vỗ ngực nhận mình là lực lượng thứ ba nhằm mơ lấy vị trí nào đó trong sinh hoạt chính trị sau này.

Moi đã học môn chính trị ở trường luật, moi đọc lịch sử, moi đọc Machiavelle, Lenin, Chiến quốc sách và qua kinh nghiệm hợp tác với các toi trong một số hành động của phong trào đô thị như tham gia phong trào Tự quyết, Mặt trận văn hoá miền Trung, làm báo Tự Quyết, báo Mặt trận Văn hoá và đặc biệt cùng với đám Bửu Chỉ, Võ Quê, Nguyễn Duy Hiền, Phan Hữu Lượng, Trần Đình Sơn Cước, và đám học trò trực tiếp như Dung, Nhân, Hoàng Thị Thọ và hàng ngàn sinh viên, học sinh Huê xuống đường, mitting, hội thảo, tổ chức đêm không ngủ… Chúng ta đã gần gũi chia sẻ những khó khăn, khổ nạn buồn vui và cả tâm sự … Qua đó moi đã có được những hiểu biết chưa đầy đủ nhưng cũng đã khái quát được mưu lược, thủ đoạn của người Cọng sản các toi. Moi chẳng mơ hồ gì về các gợi ý, xúi giục ngầm, những đề nghị ẩn tàng tính chất cơ hội, những thủ pháp câu kéo, hứa hẹn ỡm ờ mà các toi đã thao tác thành thục như bọn lầu xanh lão luyện các ngón nghề. Gần như trong rất nhiều trường hợp, moi đã tỏ ra ngây thơ, ngớ ngẩn để các toi mặc sức múa máy. Quả tình các toi chưa hiểu biết gì hết về một bộ phận trí thức giữa cái thời đoạn đau thương này.

“ Làm chính trị xôi thịt mà bẩy bịp, huyễn hoặc nhau, mua chuộc nhau là chuyện bình thường. Đằng này các toi làm cách mạng. Các toi xây dựng thế giới, con người mới. Các toi nhân danh cái nhân loại sáng láng, ưu việt nhất, cái nhân loại đã đạt được tới đỉnh điểm của văn minh, không ai có thể vượt qua, không cần phải thêm bớt, biến hoá nữa, cái nhân loại thoả thuê sung mãn tuyệt vời sau khi đã chia chác đầy đủ các nhu cầu sinh thực. Đồng thời, các toi cũng nhân danh mấy ngàn năm văn hiến mà đối xử với quần chúng, với bạn đường như là những phương tiện, thậm chí nếu cần thì biến họ thành kẻ thù. Moi đề nghị các toi coi lại. Nhất là toi, kẻ đi làm lực lượng thứ ba. Toi có biết khi Mỹ cút Nguỵ nhào thì ai là kẻ thù của cách mạng không? Chắc chắn là những người chống Mỹ tự phát, những người chống Mỹ mà không chịu sự lãnh đạo của đảng Cọng sản, thậm chí là những ngưòi kháng chiến mà không phải là đảng viên Cọng sản.

“ Qua sông bỏ đò, đặng cá quăng câu, đặng chim bẻ ná, vắt chanh vứt vỏ. Tất nhiên. Nhưng tuyệt đối: nhân dân và những người chống Mỹ không Cọng sản không phải là đò, không phải là câu, không phải là ná, không phải là chanh. Họ là những con người, cho dù họ tự phát, cho dù họ không ở trong guồng máy, cho dù ít nhiều họ có tham vọng tính toán riêng tư, cho dù họ mơ mộng hảo huyền. Tại sao các toi lại độc quyền tính toán riêng tư, độc quyền chỉ huy guồng máy, độc quyền mơ mộng hảo huyền, mà người khác lại không được? Chẳng phải các toi đã nói rát cổ rách miệng rằng cách mạng là sự nghiệp của nhân dân đó sao?

“ Hay là các toi nghĩ: sau khi xây dựng xong xã hội Cọng sản, các toi sẽ cho không nhân loại một thiên đường, do vậy mà sá gì cái văn hiến của một dân tộc hẹp hòi, sá gì cái đói, cái khát, cái nhục, cái đau, và cả cái chết nữa của một vài thế hệ mà các toi cho là tàn dư của một nền văn minh lỗi thời, là con đẻ của đế quốc thực dân?

“Khi hết giặc, ngày đó không xa, các toi không nên thừa thắng xông lên vội mà nên đọc kỹ, nghĩ sâu hơn lịch sử dân tộc, các toi sẽ thấy:

“Ở hai đầu cuộc chiến tranh giải phóng thông thường là hai cuộc nội chiến”

“Bao giờ cũng vậy, bọn hiếu chiến, bọn bành trướng bá quyền, thực dân, đế quốc (cứ gọi như vậy) luôn chực chờ cơ hội, lợi dụng và khoét sâu các mâu thuẫn, các tranh chấp xâu xé nội bộ dân tộc để tiến hành chiến tranh xâm lược. Không có triều đại nào trong lịch sử đất nước mà không để lại cho đời sau bài học cay đắng đau lòng ấy.

“ Nội chiến – ngoại xâm, ngoại xâm – nội chiến …

“ Cứ thế mà trùng trùng duyên khởi.

“Tối qua không biết moi nghe nhớ có đầy đủ không, khi toi bảo những ngày tới, toi sẽ tất bật với công tác lực lượng thứ ba.

Người Cọng sản mà đi làm lực lượng thứ ba thì làm sao có được một lực lượng thứ ba đích thực như hai lực lượng kia? Chắc chắn là lực lượng thứ ba trá hình. Trá hình Cọng sản hay trá hình Mỹ. Trong chiến tranh, việc đội lốt, trá hình, giả danh, mạo nhận là chuyện bình thường và cần thiết cho mỗi bên. Bên nào làm tốt công tác ấy là có thêm một yếu tố để chiến thắng.

“Thế tuy nhiên, bên cạnh và tiếp liền sau mục tiêu cách mạng Dân tộc, các cậu còn có mục tiêu to lớn và cao cả tuyệt đối là cách mạng Xã hội chủ nghĩa. Và để tiến hành mục tiêu này, một số người đã đứng chung chiến hào với các toi hôm nay, các toi sẽ biến họ thành kẻ thù ngày mai.

“Sau cái đêm dài nô lệ sẽ là bình minh của cuộc đấu tranh giai cấp. Cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp. Cải tạo văn hoá, văn nghệ …

“Bao nhiêu con người bị đày đoạ, bị sỉ nhục, bị giết chóc ở Nga, ở Tàu và ở cả miền Bắc. Moi biết cuộc hành trình bi thảm ấy từ Boris Pasternak, Koesler, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt … và có lẽ từ sự câm nín của cha moi ”.

Moi nói lại: Theo moi ở miền Nam vào cái thời điểm cuối của cuộc chiến tranh Việt Mỹ này không có lực lượng thứ ba mà chỉ có thành phần chính trị thứ ba. Tại sao moi phải nhăc đi nhắc lại nhiều lần vấn đề này? Bởi vì moi hy vọng các toi sẽ bớt ám ảnh về một lực lượng chờ chia với các toi quyền lãnh đạo đất nước, và để các toi đỡ phải tốn công sức đề phòng, đối phó với một kẻ thù ảo do quá máy móc trong suy luận và quá tha thiết bảo lưu vai trò lãnh đạo duy nhất, độc nhất của mình sau chiến tranh. Còn một lí do quan trọng, có lẽ quan trọng nhất khi moi khẳng định về một thành phần chính trị thứ ba bao gồm đại đa số quần chúng là để lưu ý các toi: cái khối lượng quần chúng đông đảo này tuy họ không đồng tình với các toi về chủ nghĩa Cọng sản nhưng họ không phải là kẻ địch. Và theo cái đạo lí bình thường họ có quyền và đồng thời có trách nhiệm trong việc hình thành đường hướng và cách thức xây dựng đất nước.

“ Suốt ngày này bà dì toi cứ nhắc đi nhắc lại câu nói của bà và những người đi chợ: Hoà bình cái đã, mọi chuyện tính sau. Câu nói cửa mệng ấy không hề đơn giản. Cái gọi là tính sau ấy, hệ trọng hàng đầu vẫn là đường hướng xây dựng đất nước sau chiến tranh. Chắc là toi không kìm dấu được sự bực mình nóng giận: Còn tính toán gì nữa, Đảng đã suy nghĩ tính toán cả rồi, chỉ sợ nhân dân không đủ sức, đủ tài thực hiện. Toi sẽ nói với bà dì như vậy bằng cái giọng hơi xẵng, toi không thấy cần phải giữ gìn lễ phép như hồi còn chiến tranh mà mỗi lần về Huế toi được chăm nuôi che chở.

“ Thôi tạm gác câu chuyện chưa tới. Chúng ta trở lại câu chuyện đã qua. Bởi chuyện qua cũng là chuyện sẽ tới.

“Sự hình thành thành phần chính trị thứ ba là kết quả của một quá trình vận động, là sự chuyển hoá tất yếu sau hàng chục năm đụng độ khốc liệt một bên là nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng Cọng sản và bên kia là đế quốc Mỹ và các chính quyền phụ thuộc từ Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu và các bộ phận phụ thuộc khác ở miền Nam. Các bộ phận phụ thuộc ấy gồm các thành phần kinh tế tư nhân, các đảng phái, các tôn giáo. Tất cả các lực lượng lớn nhỏ trên làm thành một cái khung sườn cho mô hình dân chủ kiểu Mỹ có nhiệm vụ canh gác tiền đồn của thế giới Tự do, chống Cọng, và cát cứ. Không có một lực lượng thứ ba nào ở giữa xâm lược và chống xâm lược cả.

“Tuy nhiên, nhân dân miền Nam thì một phần theo bên này một phần theo bên kia và đa phần không theo ai cả. Có nhiều lí do để cái thành phần thứ ba thầm lặng ấy chọn lựa chỗ đứng của mình, nhưng tập trung nhất thì có hai:

— “Không theo Mỹ vì Mỹ là ngoại nhân, là kẻ can thiệp, chiếm đóng, xâm lược.

— “Không theo kháng chiến, vì kháng chiến là Cọng sản, là độc tài, là chuyên chính vô sản, vô tôn giáo. Ba thành phần dị ứng với Cọng sản nhất là: tư sản, tôn giáo, trí thức.

“ Cuộc chiến tranh Việt Mỹ, không chỉ diễn ra sau trận Ấp Bắc và sau khi Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ra đời, mà thực chất nó đã diễn ra từ khi người Mỹ ủng hộ, bày mưu tính kế, nuôi dưỡng chế độ Ngô Đình Diệm tố Cọng, diệt Cọng và đặt Cọng sản ra ngoài vòng pháp luật. Ngô Đình Diệm thanh toán các đảng phái, các giáo phái và các thành phần quần chúng có quan hệ sâu sắc với Pháp (gồm cả Bảo Đại). Anh em Ngô Đình Diệm cướp bóc của cải, bách hại các nhà tư sản không cùng vây cánh , hạn chế Phật giáo và chủ trương Thiên Chúa giáo toàn trị.

“ Sau gần chín năm cai trị, chính quyền phụ thuộc Ngô Đình Diệm đã đẩy một bộ phận rất lớn quần chúng miền Nam hoặc đứng hẳn về phía người Cọng sản kháng chiến chống Mỹ, hoặc qui tụ dưới ngọn cờ Phật giáo miền Trung hình thành nên một lực lượng chính trị quyết liệt chống chế độ độc tài, hoặc tách ra khỏi chế độ mà trước đây mình ủng hộ để từng bước tham dự vào cái đám đông thầm lặng đứng giữa .

“Từ năm 1960 trở về sau, trên bình diện luật pháp của chế độ, ở miền Nam có hai lực lượng tranh hùng là các chính quyền phụ thuộc Mỹ và Mặt Trận Giải Phóng do đảng Cọng sản Việt Nam lãnh đạo: — một hợp pháp ( Cọng hoà ), và — một bất hợp pháp ( Cọng sản).

“Trên góc nhìn chính trị trong vòng luật pháp, ở miền Nam vào những năm cuối của chế độ Diệm đã phát sinh một phong trào đấu tranh của đồng bào theo đạo Phật. Động cơ gần của phong trào Phật giáo là chống chế độ Ngô Đình Diệm đàn áp, bất công, kêu đòi tự do và bình đẳng tôn giáo. Phong trào không những được đông đảo Phật tử hưởng ứng mà còn thu hút nhiều thành phần quần chúng khác tham gia. Nhiều tướng lãnh, chính khách của chế độ cũng quay lưng lại với anh em nhà Ngô.

“Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, đồng bào miền Bắc, chính phủ và đảng Cọng sản ở Hà Nội cổ vũ và ủng hộ nhiệt tình phong trào Phật giáo và xem phong trào này như là một đồng minh, một bộ phận của mặt trận chính trị đánh Mỹ.

“ Đến khi các giới cầm quyền của Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn, ở Sàigòn hoàn toàn thất vọng về anh em nhà họ Ngô thì cuộc lật đổ chính quyền này đã xảy ra. Cuộc lật đổ do các tướng lãnh của quân đội Saigòn tổ chức và phát động với sự hậu thuẫn của Phật giáo, của học sinh, sinh viên. Chế độ Ngô Đình Diệm cáo chung, nhưng chế độ Việt Nam Cọng hoà vẫn còn và Mỹ vẫn là ông chủ của tiền đồn chống Cọng.

“ Phật giáo nhận mình đã nắm vai trò chính trong cuộc chính biến mà họ gọi là cách mạng 1- 11- 1963.

“ Phật giáo nhanh chóng tổ chức phát triển và kiện toàn guồng máy giáo hội thống nhất.

“ Phật giáo nóng vội và đưa người của mình vào các cơ cấu quyền lực lâm thờì của chế độ Việt Nam Cọng hoà.

“Phật giáo còn muốn có một quốc hội lập hiến, một hiến pháp mới qua bầu cử dân chủ và từ đó hình thành một chính quyền dân sự mà những nhân vật chủ chốt trong các cơ quan công quyền từ trung ương xuống địa phương là người của Phật giáo hoặc đồng tình với Phật giáo trong các tư tưởng, đường hướng về đất nước, về thế giới. Nền tảng của tư tưởng và phương lược hánh động này lập cước trên tư tưởng Vô uý, Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi của đạo Phật. Một chính phủ như thế sẽ có những cao tăng làm cố vấn, bắt tay vào công việc ổn định tình thế, xây dựng lại miền Nam, thiết lập quan hệ với miền Bắc, hiệp thương thực hiện thống nhất, đưa đất nước thoát khỏi áp lực của hai thế giới Cọng sản và Tư bản.

“Chúng ta có thể hình dung, theo dự ước của lãnh đạo Phật giáo, chủ yếu là các vị lãnh đạo Phật giáo miền Trung, sau khi hoà giải hoà hợp dân tộc và thống nhất đất nước, Việt Nam sẽ là một quốc gia Phật giáo xã hội chủ nghĩa. Việt Nam sẽ là một nước phồn thịnh, có một nền văn hoá nhân bản, nhân văn không độc tài vô thần và cũng không quá thiên trọng vật chất. Việt Nam sẽ là một trung tâm Phật giáo thế giới, sẽ là nhân tố hoá giải các xung đột đẫm máu trên bình diện toàn cầu, góp phần xây dựng một nhân loại an lạc trong một thế giới hoà bình.

“ Trong khuôn khổ cho phép của một thứ dân chủ tiền đồn kiểu Mỹ, bằng phương pháp đấu tranh bất bạo động, bằng tinh thần vô uý của đạo Phật, bằng sức nhẫn nhục chịu đựng hy sinh vô bờ bến trong truyền thống dân tộc, bằng các kỹ thuật kêu gọi, vận động, tổ chức quần chúng đấu tranh học tập được từ người Cọng sản qua sự đóng góp tích cực của rất nhiều cựu kháng chiến nương nhờ cửa Phật sau các đợt tố Cọng, diệt Cọng của Ngô Đình Diệm, phong trào Phật giáo trong quá trình đấu tranh đã phô diễn một sức mạnh kỳ lạ, một bản sắc Việt Phật tuyệt vời, gây sửng sốt cho cả thế giới — đặc biệt là nhân dân và chính phủ Mỹ.

“ Do vậy, không dừng lại ở mục tiêu tôn giáo, sau khi chế dộ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Phật giáo đã vội vã dấn thân vào một chương trình chính trị, văn hoá, xã hội đầy tham vọng, khiến nhà cầm quyền Mỹ và các bộ phận phụ thuộc chống Cọng khác ở miền Nam lúng túng lo sợ về một cuộc giáp công có thể xảy ra giữa Cọng sản và Phật giáo, nên một mặc họ ra sức dùng các âm mưu thủ đoạn gây chia rẽ, phân hoá nội bộ giáo hội, mặt khác bằng bạo lực và các phương tiện dư thừa, Mỹ và đồng minh của họ ở Sàigòn đã xuống tay đánh nát các cơ cấu sức mạnh thế tục mà Phật giáo mới gây dựng có mấy năm.

“Thế là Phật giáo, một tôn giáo bị áp bức, bị phân biệt đối xử mới vươn lên thành một lực lượng chính trị, trong bối cảnh miền Nam đang diễn ra cuộc giao tranh ngày một ác liệt giữa xâm lược và chống xâm lược, đã tạo tác nên tình trạng đại náo loạn trong lòng các đô thị — địa bàn của các thế lực phụ thuộc, chỗ dựa tin cậy của Mỹ, và đã nhanh chóng trả giá cho những tham vọng, những hoài bão vượt quá giới hạn và khả năng của một tôn giáo lấy từ bi hỷ xả và sự buông bỏ làm lẽ sinh tồn.

“ Cuộc mộng du tập thể kết thúc. Giấc mộng lớn không thành (cứu đời lầm than, hoá giải hai thế giới), giấc mộng nhỏ dang dở (thống nhất Phật giáo,biến Phật giáo thành quốc giáo, hoà giải Dân tộc, Thống nhất đất nước). Tuy nhiên nếu nhìn trên góc độ lịch sử, vô hình chung, phong trào Phật giáo từ những năm 1963 đến cuối 1966 đã góp phần to lớn vào công cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ của toàn dân dưới sự lãnh đạo của đảng Cọng sản.

Các toi nên nhớ một điều, không nhất thiết, chỉ có những lãnh tụ, những vị anh hùng, những đảng viên, những kháng chiến quân kỳ cựu mới có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Phong trào Phật giáo nói chung và Hoà thượng Thích Quảng Đức … cũng đã bày tỏ lòng yêu nước, đã góp phần to lớn theo cách riêng của mình.

“Khi tham dự vào cuộc mộng du của Phật giáo, moi đã chẳng mơ hồ gì về một kết cục bế tắc đang chờ phía trước. Tuy nhiên những ngày bị giam cầm ở nhà ngục Phú quốc, moi mới có dịp nghiền ngẫm sâu hơn những nguyên nhân thất bại của con đường Đạo pháp và Dân tộc mà các vị lãnh đạo Phật giáo miền Trung khởi xướng.

Moi không phải là Phật tử, do vậy mà mục tiêu đạo pháp đối với moi cũng tương tự như mục tiêu Xã Hội Chủ Nghĩa mà các toi thường thuyết kèm mỗi lần có dịp từ sau sáu mươi tám (chiến dịch Mậu thân).

“Đối với moi Đạo pháp và Xã Hội Chủ Nghĩa rất xa và cũng rất gần. Xa trong nhận thức và gần trong tình cảm. Không ai phủ nhận yếu tố “tình” đóng một vai trò rất quan trọng trong các quan hệ thế thái.

“ Ngoài các ngôi nhà thờ họ tộc, các đình làng, rất nhiều người Thừa Thiên Huế lớn lên, hít thở, thâm nhập một cách tự nhiên trong bầu không khí của hương trầm, chuông mõ, kinh kệ, chùa chiền và Phật tự.

“Qua lịch sử, qua văn chương, qua địa chí, qua các mối giao tiếp hàng ngày của mạ moi, của chính bản thân moi ở xóm giềng, ở trường học, ở cảnh quan và đặc biệt ở trong tù… Gần như ngày nào, ở đâu moi cũng có thể gặp được Phật cả, không những moi gặp Phật qua các Tăng Ni thỉnh thoảng giao tiếp ở chùa, ở các tổ chức từ thiện, các hoạt động xã hội, mà moi còn gặp Phật qua các Phật tử như bà Huyện (mẹ của đám Kim Lan, Nguyên Hạnh …), như anh Trung, như Trụ Vũ, như Thanh Thuyền, như Võ Đình Cường — trực tiếp hay gián tiếp, không phải bằng thuyết giáo mà bằng hơi thở sự sống . Còn cái khối thiên kinh vạn quyển của đạo Phật thì moi chưa hề đụng đến. Do vậy Đạo pháp đối với moi vừa thân quen vừa xa lạ.

“Chủ Nghĩa Xã Hội đối với moi cũng như thế. Những gì moi đọc được qua sách báo, moi nghe được qua các phương tiện truyền thông, qua các cuộc trò chuyện, tranh luận – cho dù người đối thoại, trao gởi dẫn truyền là “địch” hay là “ta”, moi cũng không chia xẻ được. Đó là phần nhận thức. Tuy nhiên Marx, chủ nghĩa Cọng sản, Chủ Nghĩa Xã Hội đối với moi lại khá gần. Có lẽ những gì gần với tên tuổi Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh, cũng gần gũi đáng tin. Và bởi vì giữa Nguyễn Ái Quốc và moi còn có những con người ruột thịt, những bạn bè thân thiết, những người mà moi biết chắc họ đã đi vào cuộc kháng chiến với những động cơ trong sáng với lòng yêu nước thương nòi chứ không phải vì một lí do nào khác. Có thể họ mơ mộng, chứ họ không gian dối ích kỷ. Anh Tú moi đi kháng chiến rồi đi tập kết, đám Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngưyễn Đính, đám bạn trẻ moi (Bửu Chỉ, Võ Quê, Nguyễn Duy Hiền, Phan Hữu Luợng,Trần Đình Sơn Cước… ) và đám học trò lớp sau như Nguyễn Thị Nhân, Hoàng Thị Thọ, Phan thị Dung… là những ví dụ.

“ Những ngày bị giam ở Phú Quốc, thường xuyên bị biệt giam vì moi là một tên tù bất trị, trong cái bối cảnh khắc nghiệt của cái celulle chật chội, hôi hám tối tăm và nóng bức, moi đã chống đỡ, đã phản ứng để tự tồn bằng cách tập luyện và để tâm trí suy nghĩ miên man về nhóm từ: Đạo pháp và Dân tộc, theo như dự phóng của các nhà lãnh đạo Phật giáo miền Trung.

“Theo moi, cả Ngô Đình Diệm, cả Phật giáo miền Trung và cả người Cọng sản các toi, tuy có những nhận thức khác nhau về dân tộc nhưng đều có một điểm chung là xem dân tộc như một phương tiện (Ngô Đình Diệm) hoặc như một chặng đầu của cuộc hành trình của mình (Phật giáo và Cọng sản). Nước Chúa của Ngô Đình Diệm, Đạo pháp của Phật giáo, Chủ Nghĩa Cọng sản của người Cọng sản Việt Nam mới là cái đích cuối cùng.

“ Câu chuyện nước Chúa của Ngô Đình Diệm đã đi vào quá khứ, chỉ để lại cho người đời sau một ký ức đáng buồn.

“ Câu chuyện Đạo pháp vẫn còn lằng nhằng chưa ngã ngũ. Sau những cuộc đấu tranh chính trị từ 1964 – 1966 với hàng trăm cuộc xuống đường, biểu tình, tuyệt thực, tự thiêu, li khai và nhất là cuộc xuống đường kỳ lạ của bàn thờ, lư hương, bài vị, chuông mõ, ảnh tượng — Phật giáo đã bị đàn áp thẳng tay bởi Mỹ — Thiệu Kỳ, và bị tan rã, xâu xé, đổ nát từ bên trong. Nhưng một bộ phận lãnh đạo Phật giáo vẫn chưa buông bỏ cái khát vọng cứu nước, cứu đời bằng chuông mõ kinh kệ, bằng tinh thần vô uý bất bạo động, bằng đại hùng, đại lực, đại từ bi.

“ Theo moi, Đạo pháp dù có ưu việt đến đâu, uyên áo như thế nào cũng chỉ là một phạm trù thuộc lãnh vực tôn giáo. Tôn giáo nếu có một sức mạnh nhân bản thật sự và người lãnh đạo, người thực hành tôn giáo có nhận thức đúng đắn và tích cực đối với đất nước, dân tộc đến đâu cũng không nên gộp chung việc đạo, việc đời làm một. Đặc biệt dân tộc trong tình thế đất nước bị xâm lược là một vấn đề thuộc lãnh vực chính trị và cách mạng. Tinh thần vô uý, đại hùng, đại lực, đại từ bi chống trả với đồng đô la, với các ghế lớn nhỏ trong hệ thống quyền lực đời thường đã rất khó, huống hồ chi đương đầu với sức huỷ diệt của hàng triệu tấn bom B52, súng lớn súng nhỏ, chất độc hoá học, xe tăng, và hạm đội?

“Cuộc cách mạng Tư sản Dân Quyền tại Pháp năm 1789 đã giải quýêt triệt để những vấn đề căn bản của cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu rộng ở nước Pháp và châu Âu. Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến khủng hoảng ấy là sự cưỡng bức, sự tiếm quyền của nhà thờ Thiên Chúa giáo trong mọi lãnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lãnh vực chính trị, văn hoá và khoa học. Một trong những thành tựu lớn nhất của cách mạng Pháp (1789) là đánh sập quyền lực nhập nhằng giữa giáo quyền và thế quyền, cưỡng bức tôn giáo trở lại nhà thờ, trả lại các quyền lực, các của cải mà giáo hội đã tiếm đoạt lại cho nhân dân, trả lại chính trường cho các nhà hoạt động chính trị kiểu mới — những đại diện của các tầng lớp lao động tiên tiến gồm tư sản, trí thức và công nhân.

“Lúc mãn hạn tù, rời khỏi Phú quốc, trở lại đất liền, trở lại Huế, moi — một thành viên vòng ngoài của phong trào Phật giáo, ở những năm từ 1963 đến 1966, cảm thấy lòng mình có phần nhẹ nhàng thanh thản vì đã trả xong món nợ tình cảm qua mối liên hệ Dân tộc với các nhà tu hành làm chính trị viễn mơ.

“ Phong trào Phật giáo nói cho rốt ráo chẳng bao giờ nên, và chẳng có khả năng trở thành một lực lượng chính trị. Đừng nói chi đến một lực lượng chính trị gọi là “thứ ba” có tham vọng đứng trên, đứng ngoài hai thế lực tương tranh, mà xương sống của hai thế lực tương tranh ấy là bạo lực và của cải vật chất.

“ Phật giáo không có hai thứ đó — bạo lực và của cải vật chất — vậy thì Phật giáo lấy gì để nuôi dưỡng, để bảo vệ cho một thế quyền (Chính trị) ?

“ Cuộc đàn áp thẳng tay, bạo tàn của Mỹ — Thiệu Kỳ hồi 1966 đã đẩy những thành phần của phong trào Phật giáo, trong đó có moi, trở lại vị trí và chỗ đứng của mình — ấy là chỗ đứng và vị trí của đám đông thầm lặng: Thành phần thứ ba.

“ Phật giáo thì như thế.Vậy thì ở miền Nam không còn nhóm nào, nhân vật nào có khả năng, có điều kiện trở thành lực lượng thứ ba sao? Chắc chắn toi sẽ hỏi moi câu này. Bởi mỗi lần về Huế là toi say sưa kể và mô tả các cuộc đấu tranh quyết liệt của nhóm này, nhân vật nọ trong phong trào chống Mỹ, chống Thiệu — Kỳ ở Saigòn.

Moi đồng ý với toi là những ngày sắp tới phong trào đô thị càng sôi nổi và quyết liệt hơn bao giờ hết. Và chính những cuộc đấu tranh này qua các hệ thống truyền thông sẽ tạo nên một áp lực to lớn trong dư luận quốc nội và quốc tế đối với các thế lực phi dân tộc ngày càng teo co ốm yếu ở Sàigòn và các đô thị, Tuy nhiên theo nhận định của moi trong các vận động đầy phấn khích dưới con mắt của các toi, trong cái thế trận ngày càng qui tụ nhiều màu, nhiều sắc ấy sẽ không bao giờ có được một lực lượng chính trị nào khác ở ngoài cái quỹ đạo đang vận hành theo lực hút của cuộc chiến tranh nhân dân mà đảng Cọng sản là người chỉ huy tối thượng và duy nhất. Toi thử kiểm điểm đi. Nhóm Dương Văn Minh ư? Nhóm Công giáo cánh tả của các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, và của các trí thức như Nguyễn Văn Trung, Lý Chánh Trung, Thế Nguyên, Diễm Châu … ư? Nhóm đối lập ở Hạ viện của Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quí Chung, Phan Xuân Huy, Kiều Mộng Thu ư? Phong trào học sinh, sinh viên ư? … Nhóm Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành và Ni sư Huỳnh Liên ư? Phong trào Dân Tộc Tự Quyết của Luật sư Nguyễn Long ư? Tất cả các vị ấy, ai cũng nôn nóng, ai cũng dấn thân hết mình, hay tỏ ra hết mình tuỳ theo gốc gác và động cơ mà chính họ mới biết và các toi cũng biết được phần nào. Nhưng đối với người Cọng sản, đảng Cọng sản thì, một mặt cảnh giác, điều nghiên, một mặt níu bên này, kéo bên kia, thúc giục bên nọ, cốt sao cho sào huyệt của đối phương rối loạn và tan nát được chừng nào tốt chừng đó.

“Thực chất cái mà các toi dán cho nhãn mác, huyền thoại là lực lượng thứ ba bao gồm:

“— Một phần lực lượng thứ ba trá hình mà những nhân vật nòng cốt là những người Cọng sản được lệnh mai phục từ sau 1954 và được bổ sung thường xuyên trong các tổ chức, các toi gọi là công khai, biến tướng, hợp pháp hay nửa hợp pháp. Những người này luôn luôn vỗ ngực là người Quốc Gia đấu tranh vì các mục tiêu dân chủ, dân sinh, hoà bình.

“Một phần những lương tri Dân tộc trỗi dậy từ trong lòng chế độ phụ thuộc Mỹ. Do sự chuyển đổi của tình hình đất nước và thế giới, do sự đấu tranh không ngừng của bản thân và các mối quan hệ cục bộ, họ nhích từng bước, tách dần ra khỏi guồng máy phụ thuộc, lợi dụng cái gốc gác, cái thế Quốc gia sâu dày sẵn có của mình (chính trị, kinh tế, tôn giáo, trí thức), đấu tranh vì các mục tiêu trong sạch và lành mạnh xã hội ở bước khởi đầu. Bước tiếp theo là đấu tranh chống sự can thiệp ngày càng lộ liễu và trắng trợn của Mỹ, và chống chế độ phụ thuộc ngày càng đổ nát hư hỏng. Bước tiếp theo nữa là đấu tranh cho một miền Nam hoà bình, hoà hợp, một miền Nam là một phần của nước Việt Nam độc lập và thống nhất, chứ không phải là một quốc gia riêng biệt mà một thời họ đã thụ nhận và tin tưởng. Thành phần này tương đối trẻ, lớn lên sau Genève, được đào tạo hay tự đào tạo bài bản, nghiêm túc, có trình độ văn hoá cao, có lý tưởng. Ở giai đoạn cuối của cuộc hành trình của họ là chấp nhận Độc Lập, Thống Nhất, Hoà Bình dưới ngọn cờ và sự lãnh đạo của đảng Cọng sản, mặc dù đa phần trong số họ sẽ là đối tượng cải tạo, canh chừng của các toi. Bởi dưới con mắt của người Cọng sản , họ là những thành phần có khả năng, có điều kiện chia phần lãnh đạo đất nước.

“Họ là đại diện chân chính của thành phần chính trị thứ ba. (không phải là lực lượng chính trị thứ ba).

—“ Một phần là những nhân vật trung gian của cả hai phía đang chờ đợi một sắp xếp, một nâng đỡ quốc tế. Theo họ, cuộc chiến tranh này kết thúc như thế nào tuỳ thuộc tương quan lực lượng và quyền lợi của các nước lớn.

—“ Cũng còn một thành phần thứ ba là những con bài chiến lược của Mỹ hoặc là những tay trở cờ không chịu kết chùm với đám Nguyễn Văn Thiệu.

“Chắc chắn là toi biết rõ hơn moi, nên toi thử trả lời xem lấy gì để nối kết các thành phần trên làm một lực lượng chính trị? Tình tự dân tộc, tinh thần yêu nước, sự chán ghét chiến tranh một cách chung chung ư? Lấy gì để cái mà toi gọi là lực lượng chính trị thứ ba bảo vệ mình khi cần chiến đấu với hai lực lượng tua tủa bom đạn kia? Lại nữa, lực lượng chính trị thứ ba lấy gì để nuôi sống một khi những dành dụm trong gia đình sẽ cạn kiệt sau vài ba tháng, hoặc những đóng góp chia sẻ của “bạn bè” vì một lí do nào đó đứt đoạn? Và cuối cùng, lực lượng chính trị thứ ba có nơi nào làm chốn dung thân một khi bị chính quyền Sàigòn đánh bật ra khỏi địa bàn ký trú của mình? Nguyễn Hoàng còn có châu Thuận, Châu Hoá. Lưu Bị còn có Ba Thục, còn lực lượng chính trị thứ ba chỉ có cách chạy lên Lộc Ninh. Mà chạy lên Lộc Ninh thì còn đâu là thứ ba nữa!

“ Bốn yếu tố nền tảng là tư tưởng chính trị (sách lược, chiến lược), sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế và địa bàn đứng chân đều không có thì lấy gì cho một lực lượng chính trị tồn tại?

“Cũng như phong trào Phật giáo hồi 1964 – 1966, các hoạt động đối lập, tẩy chay, chống độc tài, kêu gọi chấm dứt chiến tranh, kêu gọi hoà bình, hô hào hoà giải hoà hợp dân tộc của các nhóm thứ ba đang dựa trên một điểm tựa chông chênh, mong manh và sách lược nhất thời.

— “ Điểm tựa thứ nhất là những kẻ hở pháp lí tiền đồn kiểu Mỹ mà bọn lính đánh thuê bị trói buộc vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Tại Sàigòn nơi có nhiều tai mắt của các cơ quan truyền thông quốc tế thì sự điên cuồng của con thú cùng đường sẽ bị kiềm chế, giảm nhẹ một mức độ nào đó, còn các địa phương xa xôi như Huế chẳng hạn thì sẽ có luật rừng.

— “Điểm tựa thứ hai là pháp lý hiệp định, pháp lý ngoại giao từ hiệp định Paris sắp được công bố trên bình diện quốc tế. Ở miền Nam thì chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ém nhẹm, và mặc dù các toi hả hê phổ biến, nhưng khó mà phổ cập đến đông đảo quần chúng nhân dân. Cũng như hiệp định Genève 1954, vấn đề thực hiện hay không nằm trong tay người Mỹ và Ngô Đình Diệm. Hiệp định Paris ngày nay trên đại thể quyền chủ động lại nằm trong tay Hà Nội và Mặt Trận Giải Phóng.

— “Điều thứ ba là sức mạnh quân sự, là bạo lực cách mạng của kháng chiến đang lớn lên từng ngày, đang tiến gần, tiến sát và âm thầm xâm nhập vào các cứ điểm cuối cùng của tiền đồn chống Cọng ở các đô thị miền Nam, đặc biệt Sàigòn.

“Quân Mỹ rút, quân Việt Nam Cọng hoà thì hụt hẫng, hết tinh thần, bấn loạn. Còn quân miền Bắc thì ở lại, đường chiến lược Hồ Chí Minh thì thênh thang ngang dọc, binh lính súng đạn, khí tài, cơm gạo tràn vào miền Nam như nước vỡ bờ. Trước hiệp định Paris người Cọng sản bị đặt ngoài vòng pháp luật. Sau hiệp định Paris con trai Hà Nội sẽ đi mua sắm và ngắm nhìn con gái Huế ở đường Trần Hưng Đạo, ở chợ Đông Ba, và những đứa cháu nội, cháu ngoại có thể tìm thăm ông bà tổ tiên ở Vỹ Dạ, ở Kim Long và cả trong Đại Nội.

“ Người Cọng sản các toi và cả nhân dân hai miền Nam Bắc còn mong chờ gì hơn khi mà lực lượng kháng chiến, lực lượng cách mạng ở trên hai thế chiến lược trong đánh ra và ngoài ào ào đánh vô? Mỹ và chính quyền Việt Nam Cọng hoà chỉ còn có một con đường duy nhất là bay lên trời.

“ Cũng may mà chỉ có một lực lượng thứ ba trong kịch bản, một lực lượng thứ ba ảo, một lực lượng thứ ba do cài đặt bơm thổi, giả danh, mạo nhận. Nếu không thì:

“ Giả dụ có một lực lượng thứ ba thật, một thứ Tây Thục của thời Tam quốc bên Tàu, một chân ở giữa hai chân Ngô — Nguỵ, thì tình hình đất nước, tình hình miền Nam sẽ giằng co năm mười năm nữa hoặc lâu hơn, và lấy gì mà bảo đảm mọi chuyện sẽ được dàn xếp tương nhượng trong hoà bình? Hay là xương máu còn đổ nữa cho đến trận cuối cùng! Và khi đó chỉ giữa những người Việt Nam với nhau.

Moi nói thêm một lần cuối, không có một lực lượng thứ ba nào trong các cuộc chiến tranh chống đuổi xâm lược . Mà chỉ có thành phần chính trị thứ ba, trong đó có moi. Và rồi cái thành phần chính trị thứ ba ấy cũng sẽ tiêu vong luôn một khi cuộc chiến tranh kết thúc. Khi ấy chỉ còn một nước Việt Nam, một dân tộc Việt Nam dưới dưới sự cai trị của đảng Cọng Sản. Không còn một, hai, ba gì hết. Đất nước sẽ Độc lập, Thống nhất và Hoà bình. Đất nước là một, Dân tộc là một như lời cụ Hồ đã nói.

Chu Sơn

* VT: Trịnh Vĩnh Thụy, vợ Ngô Kha

[xem tiếp Phần II]

bài đã đăng của Chu Sơn


10 bình luận »

  • Nguyễn Q Trung viết:

    Những cảm tưởng cá nhân của tôi ở đây…rất ư là… cá nhân. BBT Da Màu, muốn đăng tải hay không, xin tùy tiện.

    Tôi thật sự thất vọng sau khi đọc hết 22 trang đầu của bài này. Thật sự nó như một bản tuyên truyền, kể xấu chế độ Miền Nam mà chúng ta có thể tìm thấy từ trăm ngàn nguồn khác nhau. Chẳng có gì mới lạ.

    Trong 2 điều mà Da Màu trông cậy vào: thì điều Một làm tôi nghi ngờ. Tôi hiểu những dòng chữ trong bài có 100% đến từ những tờ giấy gói trà hiệu Tam Hỷ và bao hương hay không…Hay chính Chu Sơn đã nhiều phần diễn tả theo ý mình. Nếu quả thật, đây chính là những tư tưởng của Ngô Kha, thì chính quyền Miền Nam đã hành động đúng. Ngô Kha cũng chỉ là một trong những người chống đối một cách mù quáng. Tôi nói như vậy không có nghĩa là tôi hoàn toàn đồng tình với những vấn đề của chính quyền Miền Nam lúc đó.

    Còn điều Hai: thì tôi có lẽ không thuộc vào đa số những độc giả mà Da Màu ‘không hề nghi ngờ’, vì tôi đã cố gắng mà không đọc ra được những cái gì ẩn nấp giữa hai dòng chữ.

    Rất tiếc, những người như Ngô Kha không còn tồn tại để thấy được một phần sự thật sau năm 1975.

    Dầu gì thì cũng xin chân thành cảm ơn Da Màu đã đăng tải những bài viết như thế này để chúng ta cùng tìm hiểu và nhận xét.

    Thân Chúc Da Màu nhiều thành công

  • Ngô Kha và tự do chọn lựa: Chết dưới tay ai? : talawas blog viết:

    […] Ngô Kha và cuộc chuyện trò cuối năm – Phần I […]

  • vo danh viết:

    Bài dài thiệt , chỉ copy vài ý trong bài để “rộng đường dư luận” và cũng để nhớ tư cách của 1 người thầy dũng cảm , dám nói thật .
    “… Duy có một điều đơn giản mà họ không biết là chính họ đã tự đào hố chôn mình. Bài học đơn giản mà rất nhiều người trong nhiều thời đại không chịu học là bất cứ ai muốn sống yên bình là sống giữa thiên hạ, sống phải chăng với thiên hạ, chứ không thể sống một mình, sống trên đầu trên cổ thiên hạ…”
    “… Làm chính trị xôi thịt mà bẩy bịp, huyễn hoặc nhau, mua chuộc nhau là chuyện bình thường. Đằng này các toi làm cách mạng. Các toi xây dựng thế giới, con người mới. Các toi nhân danh cái nhân loại sáng láng, ưu việt nhất, cái nhân loại đã đạt được tới đỉnh điểm của văn minh, không ai có thể vượt qua, không cần phải thêm bớt, biến hoá nữa, cái nhân loại thoả thuê sung mãn tuyệt vời sau khi đã chia chác đầy đủ các nhu cầu sinh thực. Đồng thời, các toi cũng nhân danh mấy ngàn năm văn hiến mà đối xử với quần chúng, với bạn đường như là những phương tiện, thậm chí nếu cần thì biến họ thành kẻ thù….”
    “… Việc không làm được moi muốn nói ở đây là việc xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa.
    “ Căn cớ duy nhất là: Dù đảng Cọng sản có quyết tâm đến thế nào đi nữa mà nhân dân không đồng tình cũng đành chịu.
    “ Tại sao nhân dân không đồng tình?
    “ Lý do đơn giản và dễ hiểu là khi đảng lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối thì không ai còn một chút quyền tự do nào nữa cả.. Tự do kinh tế: không, mà tự do tinh thần cũng không nốt. Các toi bao giờ cũng nhắc lại câu nói của cụ Hồ là “ không có gì quí hơn độc lập — tự do ”. Cái khái niệm Độc Lập, Tự Do mà ông Hồ nêu lên không chỉ là tương quan giữa các quốc gia dân tộc, mà còn hàm chứa trong các mối quan hệ giữa người và người trong cùng một nước….”
    Tại sao hiện nay người C.S. sau khi tiếm đoạt quyền hành lại có cung cách cư xử như những kẻ khi xưa họ dè bỉu . Có gì khác giữa kẻ bị trị và kẻ thống trị ?

  • Nam Phan viết:

    Bỏ qua tất cả những “màn khói màu” (những suy nghĩ của Ngô Kha mà Chu Sơn suy nghĩ “dùm”, hay những “tư tưởng” của Chu Sơn mượn người đã khuất nói hộ), độc giả tinh ý sẽ thấy qua đám hoả mù kia có ba điều được Chu Sơn gửi gấm:
    1) Bạch hóa vụ Phật Giáo Miền Trung những năm từ 1963-1966.
    2) Lên án Cộng Sản như một số những người đã từng hoạt động cho CS trước 1975,( nôm na gọi họ là “phản tỉnh”), có điều Chu Sơn hơi ít dũng cảm nên phải mượn con ma Ngô Kha nói dùm.
    3) Duy trì, nuôi dưỡng, cổ võ “phong trào” bài Công Giáo của một nhóm “trí thức Phật Giáo” ở Hải Ngoại (mà ‘vô tình’ hay cố ý trùng hợp với sách lược dùng tôn giáo để diệt tôn giáo của chính quyền CSVN.)

  • Hoài Quốc Việt viết:

    Tôi thực sự ngỡ ngàng trước các thế lực chính trị của VN do bài viết mang lại . Nếu những ý kiến này thực sự là của Ngô Kha thì đúng ông ta là thiên tài trong chuyện tiên đoán vận nước sau ngày Cọng Sản nắm quyền . Tôi thương cho dân tộc này quá , chỉ có hai con đường để lựa chọn như ông Kha vậy : Hoặc chết với bọn này hay chết bởi lũ kia !!!

  • Minh Ngọc viết:

    Cũng như quý vị, tôi thấy có những điểm đáng ngờ như sau trong bài viết tràng giang đại hải của Ngô Kha và Chu Sơn:
    1/ Ông Ngô Kha phải dùng đến hàng bao nhiêu giấy gói trà để viết bức thư tâm sự dài lê thê như thế ?
    2/ Ông Chu Sơn phải có trí nhớ siêu việt để nhớ từng chữ của ông Ngô Kha sau gần 4 thập kỷ .
    Có chăng là những suy nghĩ của Chu Sơn mà Chu Sơn phải dừng cái chết của bạn mình để bảo vệ mạng sống của mình khi phát biểu những ý kiến về chế độ CS, cũng như để thanh minh lý do tại sao mình đã theo CS .
    Bài viết nếu do ông Chu Sơn thì chả có gì là đặc sắc. Những ai từng sống với chế độ CS đều biết điều này. Có điều sau khi đọc bài này tôi thấy ông Liên Thành còn có tình cảm thầy trò của một con người trong xã hội miền Nam, khi chính ông “Ngô Kha” kể là mình được Liên Thành tha chết . Ông Chu Sơn đã là người CS ắt hẳn biết được không có vụ khoan nhượng này trong xã hội CS, chỉ có chuyên chính vô sản, bạo lực cách mạng, phân biệt giữa bạn và thù trong trận chiến Ai Thắng Ai, giết lầm hơn tha lầm. Nếu các bạn từng cho rằng hình ảnh giết người đấu tố trong công cuộc cải cách ruộng đất trong phim Chúng Tôi Muốn Sống của Vĩnh Noãn là giả tạo, là tuyên truyền thì hãy đọc bài viết của Hữu Loan trong bài Màu Tím Hoa Sim đăng trong tờ Người Việt Trẻ cách đây không lâu thì rõ bạo lực Cách mạng là như thế nào.

    Nói đi nói lại chẳng qua nói thật, cho dù ông Chu Sơn đi theo CS vì lý do đi chăng nữa, ông phải chịu 1 phần trách nhiệm về sư sụp đổ của miền Nam mà theo ông Liên Thành nói là Ăn Cơm Quốc Gia Thờ Ma CS để đưa đến tình trạng đất nước hiện nay là tham nhũng (hẳn ông đã từng sống trong xã hội miền Nam, nó có tham nhũng thối nát bằng VN hiện nay hay không ?), bằng tình trạng đất nước đã và sắp mất thêm phần lãnh thổ vào tay ngoại bang. Xã hội miền Nam cho ông Chu Sơn cho ông quyền làm người để biểu tình chống đối, ông có còn cái quyền ấy ở chế độ mà ông đã góp phần tạo nên ?

  • Hien Le viết:

    Đồng ý với Minh Ngọc. Đây là một bài viết không lương thiện. Nếu bài viết chỉ nói lên những suy tư bức xúc của nguời viết Chu Sơn thì may ra còn có thể xem và phản biện được, nhưng ngụy tạo nhét chữ vào mồm một người đã chết thì thật là một việc làm không phải. Thật là một điều đáng buồn khi một diễn đàn trang trọng như Da Màu lại đi quyết định đăng (lại) những bài viết như vậy. Hy vọng về sau Da Màu sẽ thận trọng hơn.

    Hien Le

  • Minh Ngọc viết:

    Nếu qúy vị có đọc blog của Đào Hiếu, tác giả của Lạc Đường sẽ thấy bài viết của Hoàng Phủ Ngọc Phan, một bài HPNP cho rằng tướng VNCH Ngô Dzu là anh ruột của NK,xuí Ngô Du đi tìm, hỏi tội Liên Thành tại sao thủ tiêu em mình, bài tiếp theo thì lại đính chính xin lỗi Liên Thành vì mình đã nói sai. Bài viết này của NK (do ông Chu Sơn nhớ lại) nói tướng Ngô Du là anh họ của mình, khuyên bảo mẹ của NK tùm lum tùm la. Và ngay tại website này, có người bảo bà Ngô thị Trang, chị ruột NK có một Ngô Du khác, anh ruột của NK, không làm tướng, đã bị CS bắt và chôn sống tại Huế trong Tết Mậu Thân .
    Vậy xin hỏi Chu Sơn, tin nào đúng, từ người chị ruột của Ngô Kha hãy còn sống, hay từ Ngô Kha đã chết qua lá thư tuyệt mệnh do ông nhớ lại, hay từ HPNP .
    Thôi nhé, trước khi viết một bài nào nên tìm hiểu, điều tra trước cho dù người đó đã chết, không thể biện minh được. Có lẽ đây phải đòi hỏi đến lòng lương thiện, sự thành thật, và nhân cách của của môt con người . Có khó quá không?

  • Lac loi viết:

    Một vài ý nghĩ về Ngô Kha – Chu Sơn:

    + Nhìn chung tôi không nghi ngờ về lòng yêu nước của Ngô Kha – Chu Sơn. Việt Nam bây giờ hơn bao giờ hết cần những người có lòng với đất nước như vây. Chỉ trách một điều là họ đã bị lợi dụng như một con chốt trong đại cuôc. Đến giờ phút này mà vẫn chưa nghĩ ra cái con đường họ đã chọn để dấn thân đã làm hại cho tiền đồ của dân tộc. Đất nước đang bị lấn chiếm bởi người anh em phương Bắc CS của họ mà họ vẫn chưa thức tỉnh. Sự sụp đổ của chế độ CS đã cho thấy sự tai hại của một chủ thuyết cho tiền đồ của dân tộc. Đáng trách hơn bao giờ hết về sự mù quáng này.

    + Một vài dẫn chứng về sự mù quáng:

    1. “Không theo Mỹ vì Mỹ là ngoại nhân, là kẻ can thiệp, chiếm đóng, xâm lược.

    Vậy theo Trung Quốc sẽ yên ổn hơn chắc. Và ai bây giờ mong Mỹ và các nước Tây phương giúp hơn bao giờ hết?

    2. “ Phật giáo nhận mình đã nắm vai trò chính trong cuộc chính biến mà họ gọi là cách mạng 1- 11- 1963.

    Bị lợi dụng mà tới giờ này vẫn … không biết?

    3. “ Trong khuôn khổ cho phép của một thứ dân chủ tiền đồn kiểu Mỹ, bằng phương pháp đấu tranh bất bạo động

    Tự do mà không biết. Bây giờ hối hận thì đã muộn rồi.

    4. “Hiệp một giữa thực dân Pháp và Việt Nam.

    “Hiệp hai giữa Việt Nam và đế quốc Mỹ

    Hiệp cuối dâng đất cho Trung Quốc?

    5. Nhiều quá, nói không hết …

    Lạc lối

  • Phan Đức viết:

    Lẽ ra, tôi không nên góp ý về bài này (vì đề tài đăng từ lâu và quá cũ)
    nhưng mới đây đọc được một loạt bài của Chu Sơn có nhan đề “Gia đình cơ
    sở ở Huế”, do đó tôi cũng xin góp thêm vài ý kiến.
    Theo CS, gia đình cơ sở là gia đình nằm vùng, bám trụ ở Huế. Đọc hết loạt
    bài, tôi không ngờ Huế là nơi mà người dân theo miền Bắc CS khá nhiều và
    tôi thử lý giải là chính vì mối quan hệ gia đình dây mơ rễ má chằng chịt
    mà có nhiều người buộc phải theo, ngoài những kẻ tự nguyện nằm vùng.
    Sở dĩ nguyên cả gia đình nằm vùng được mà không bị khám phá là vì họ đội
    lốt công chức cán bộ của chế độ VNCH, thương gia hay người làm nghề tự do
    như giáo sư (trung học), bác sĩ v.v. Thế nhưng nguyên nhân chính yếu là vì
    mạng lưới an ninh, tình báo ở Huế qúa kém cõi sau khi TT NĐD bị lật đổ, đa
    số viên chức lão luyện về an ninh bị tù tội, ngay cả tử hình và số khác bị
    đuổi khỏi nghành, phải làm nghề dịch sách như Dương Văn Hiếu, nguyên trưởng
    Đoàn Công tác Đặc biệt miền Trung. Tổ chức này đã tóm cổ một trùm tình báo
    cao cấp của miền Bắc là Trần Quốc Hương và một số điệp viên là Vũ Ngọc Nhạ,
    Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy v.v. nhưng sau tháng 11/1963 đều được mấy ông
    tướng “hữu dũng vô mưu” thả hết. Nhạ và Trọng đến năm 1973 mới bị bắt lại!
    Như thế, chế độ miền Nam sụp đổ là điều dễ hiểu, không có gì lạ cả?

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch