Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Mùi thiên đàng

 

 

 

1.
 
“Tôi đã từng có một niềm tin tuyệt đối vào Đấng Tối Cao. Tôi tin có Chúa, Đấng đã tạo dựng lên trời đất, bóng tối và ánh sáng. Ngài đã tạo dựng ra các loài cỏ cây, chim trời, cá biển, thú rừng, súc vật, và côn trùng. Ngài lại còn dựng lên loài người chúng ta giống hình ảnh của Ngài để quản trị tất cả những muông thú đó. Đó là Đấng thiêng liêng vô hình mắt ta không trông thấy nhưng rất mực nhân từ và yêu thương ta vô bờ bến. Ngài luôn để mắt trông coi mọi điều trên thế gian. Vâng, từ rất lâu tôi đã tin như thế…” Nó bất chợt dừng lại. Bao nhiêu cặp mắt hau háu hướng về nó, chờ đợi. Nó tiếp tục im lặng như để tăng thêm sự chú ý của lũ con trai con gái trong lớp đang tuổi choai choai sẵn sàng làm loạn. Nó tiếp tục. “Nhưng cứ mỗi ngày qua đi,” cái giọng hùng biện như có ma lực của nó vang lên trở lại, “thấy và nghe càng nhiều những điều diễn ra chung quanh, tôi dần dà nhận ra rằng có cái gì như thảm họa, có cái gì không ổn ở đây.” Cả lớp đang lắng nghe “Dung Giu-đa,” con bé thường hay báng bổ Chúa như kẻ dị giáo. Không biết đứa nào lúc đầu gọi đùa nó, mà giờ ai trong trường trung học tư thục St. Mary này cũng biết đến con bé gốc Việt mang biệt danh kẻ phản Chúa ấy. Nhưng nó không tự ái chút nào. Nó nói một cách ương bướng, “Sao gọi Giu-đa là kẻ phản phúc? Trong mười hai môn đệ của Chúa Giêsu, Giu-đa mới chính là nhân vật sáng giá nhất trong Tân Ước, vì đã có công giúp Chúa Giêsu thực thi sứ mạng cứu chuộc nhân loại. Giả như ông ta không đem bán Chúa Giêsu lấy ba chục bạc, Chúa Giêsu không bị bắt bởi đế chế La Mã, và không bị đóng đinh, thì mọi sự đã hỏng bét, không xảy ra đúng với kế hoạch của Đức Chúa Cha trên trời.”

Các thầy cô không thích nó. Nó như cái bóng Sa-tăng, kích động, chờn vờn, thách đố. Nó hay thắc mắc, lý sự, hỏi những điều gai góc ranh ma bất ngờ họ khó thể trả lời ngay. Chẳng hiểu thế nào trời lại phú cho nó cái óc sắc sảo và cái lưỡi tinh khôn, mọi người tự hỏi. Nó bắt chước tài tình kiểu danh hài Mỹ George Carlin giễu cợt người đời. Hôm nay tranh thủ giờ âm nhạc thầy giáo bệnh không đến lớp, “Dung Giu-đa” đứng lên trước lớp nhại lại màn diễn thuyết của George Carlin về tôn giáo. Tất nhiên có phần thêm thắt của nó. “Chiến tranh, chết chóc, bệnh tật, đói nghèo, cướp bóc, lừa đảo, tham ô, đồi trụy, hành hình, tra tấn, và bao thứ xấu xa tội lỗi khác… Ai trong chúng ta không thừa nhận trần thế mỗi ngày một điên đảo hơn? Nếu có ông Chúa có trách nhiệm quan phòng mọi sự thì rõ là ổng kém cỏi bất tài mới để những chuyện nhơ nhuốc xảy ra trên mặt đất như vậy…” Tiếng cười khoái chí của đám trẻ trong phe nó rộ lên, tiếng vỗ tay rầm rập nhịp theo “Được lắm Giu-đa. Tiếp tục đi.” xen lẫn tiếng đập bàn la ó phản đối, rồi giọng một đứa con trai quát rõ to, “Im mồm, quân vô đạo!” Con bé trưởng lớp da đen béo ục ịch đứng dậy kêu gọi giữ trật tự, yêu cầu nó trở về chỗ ngồi. Nhưng cái giọng uy lực đầy bí ẩn của nó lấn át tất cả. “Nếu con người nhất thiết phải có một người hay một vật gì để thờ phượng và tôn kính, tôi thà chọn mặt trời. Tại sao mặt trời ư? Này nhé, nó là một vật hữu hình, tôi có thể nhìn thấy được. Không như ông Chúa ở tuốt trên mấy tầng mây chẳng ai ngó thấy bóng dáng, nhưng phải ráng tin rằng Ngài hiện diện ở khắp mọi ngõ ngách, không gì lọt qua mắt Ngài được. Vâng, có lẽ tôi giống như ông Thomas môn đệ của Chúa. Cái gì mắt thấy mới tin. Tôi chọn thờ mặt trời vì mỗi ngày tôi đều có thể nhìn thấy nó. Nó cho mọi thứ tôi cần trong cuộc sống như nhiệt, ánh sáng, thực phẩm, bông hoa đủ sắc màu trong công viên, vẻ đẹp của sự phản chiếu trên mặt hồ. Không có vụ đóng đinh trên thánh giá, không có chuyện ném người ta trên giàn lửa chỉ vì họ không cùng tư tưởng với mình. Tôn thờ mặt trời rất đơn giản. Không có gì thần bí, không phép màu, không nghi lễ phô trương. Không ai hỏi tiền mình. Không phải học hát thánh ca. Không cần tập trung đến tòa nhà đặc biệt tuần lễ một lần để khoe quần áo. Và một điều tôi cảm kích nhất về mặt trời là nó không khi nào bảo rằng ngay giây phút cất tiếng khóc chào đời tôi đã mang trong mình tội tổ tông Ađam và Eva truyền lại, nó không bao giờ phán rằng tôi là kẻ hèn hạ, tội lỗi, xấu xa cần phải được cứu rỗi…”

Tưởng chỉ là chút bỡn cợt mua vui cho lớp học như nó vẫn làm mọi bữa. Không ngờ đối với nhà trường đó là giọt nước cuối cùng tràn khỏi ly. Người ta không chịu nổi hành vi quá đáng của nó nữa. Nó không bị cảnh cáo đuổi học vài ngày như những lần trước. Lần này hội đồng kỷ luật nhà trường nghiên cứu mức độ nghiêm trọng của sự việc và quyết định trục xuất nó. Theo họ thấy, đầu óc ngỗ nghịch chống đối của nó rõ ràng đã bị ma quỷ lung lạc. “Nếu cô ấy còn ở trong trường ắt sẽ gây tác hại khôn lường đến những tâm hồn thánh thiện khác.” Gương mặt linh mục hiệu trưởng rầu rầu, bày tỏ cảm thông với nỗi bất hạnh của ba nó, nhưng nhấn mạnh trách nhiệm của cha mẹ trong việc dạy dỗ con cái. Đã đến lúc phải làm lại từ đầu. Cha mẹ phải làm gương trước, phải sống theo kiểu mẫu gia đình ông Giu-se thợ mộc ở thành Nazaret thuở xưa. Giọng linh mục đều đều với ba nó như đang trên bục giảng trong nhà thờ. Sau bài thuyết trình về bổn phận của cha me, ba nó được hướng dẫn làm thủ tục giấy tờ để xin chuyển cho nó sang trường công. “Môi trường bên đó có lẽ nhiều thử thách hơn. Chúc ông thành công trong việc uốn nắn con bé. Nó thông minh lắm, nhưng…” linh mục hiệu trưởng ngừng lời và bắt tay ba nó.

Bữa cơm chiều hôm ấy, ba nó giận dữ quát tháo và vơ hết chén bát trên bàn ném tới tấp lên đầu lên mặt nó, “Đồ khốn kiếp!” ba nó gầm lên, “Mười mấy năm nay tao không bao giờ tin mày là con gái tao cả.” Má nó nhào tới can, còn nó ôm gương mặt trầy trụa máu chạy lên lầu vào phòng nó.

Mấy vết cắt trên mặt khiến nó phải vào nhà thương sáng hôm sau. Rồi chẳng bao lâu hai người cảnh sát xuất hiện ở hãng lắp ráp hàng điện tử tìm gặp ba nó. Đây là lần thứ hai ba nó vi phạm luật hình sự ở Canada: sỉ nhục và đánh đập trẻ con. Lần thứ nhất cách đó mười năm lúc nó đang học mẫu giáo. Ba nó không hài lòng nó gì đó, lấy cái cán máy hút bụi khỏ lên đầu nó mấy cái. Hôm sau đi học chẳng biết nó nói với cô giáo thế nào mà dẫn tới việc cảnh sát đến nhà đọc lệnh bắt ba nó. Ba nó bị buộc tội sỉ nhục và hành hung con gây thương tích. Vì là lần đầu, quan tòa chỉ kiểm điểm phê phán, và bắt viết cam kết.

Lần tái phạm này, tốn hơn năm ngàn cho luật sư, thêm tờ đơn bảo lãnh của má nó, ba nó mới được ra với sáu tháng án treo kèm theo một loạt điều kiện. Từ sau sự cố ấy nó được xếp ở căn phòng dưới tầng hầm để tránh va chạm với ba nó. Còn ba nó, trong thời gian thi hành án vẫn được đi làm nhưng bị theo dõi. Vài ba ngày lại có một bà nhân viên tổ chức bảo vệ nhân quyền trẻ em ghé thăm gia đình, phỏng vấn và ghi chép báo cáo về ba má nó.

 
 

2.
 
Những lần trước nó chỉ đi qua đêm rồi hôm sau lù lù dẫn xác về. Má nó có hỏi đi đâu nó trả lời cụt ngẳn “Nhà bạn” rồi biến vào phòng. Lần này nó mất dạng đã ba ngày. Ba nó bề mặt dửng dưng một cách lạ lùng. Từ sau cái buổi sáng bị cảnh sát còng tay giải đi trước mặt bao người trong hãng, mới Tết vừa qua chứ xa xôi gì, ba nó đã thề không dính gì tới nó, coi như không có nó trên đời nữa. Nhưng má nó bắt đầu lo. Quần áo, đồ đạc nó vẫn còn nguyên trong căn phòng dưới tầng hầm. Má nó lục được cuốn sổ ghi điện thoại di động của đám bạn nó. Lần lượt từng số, má nó gọi. Lũ bạn nó toàn Tây. Tiếng Anh má nó lại ít. Ai đó bày cho má nó nói một câu hết sức lịch sự và nhũn nhặn, hy vọng lấy được tin tức từ đám trẻ ngang tàng ấy. “Hello, John (hoặc Danny, hoặc Linda v.v.). Mẹ của Dung đây. Thật lòng xin lỗi làm phiền cháu, nhưng cháu làm ơn cho biết Dung có ở đó không để bác khỏi lo.” Có đứa cộc lốc, “Không biết” rồi cúp máy. Có đứa hố lên cười, “Xin lỗi. Tôi không phải là người giữ trẻ của bà.” Có đứa tuôn ra một tràng dài tiếng Anh má nó không hiểu nhưng má nó cứ nói xin lỗi và cảm ơn, rồi gác máy. Không thể liên lạc nhà trường vì còn hơn tuần lễ nữa mới vào năm học mới. Người quen bày cho má nó báo cảnh sát để họ tìm giúp.

Từ mùa thu năm đó, tên nó được đưa vào danh sách những đứa trẻ mất tích của thành phố. Có tấm ảnh mới nhất của nó kèm theo.

 
 

3.
 
Má nó nói, “Con ráng tập ăn đồ Việt mình, để khỏi bị chê mất gốc.” Con bé chỉ nhún vai. Cá kho tộ nó bảo tanh. Nước mắm nó bảo khắm. Bún bò Huế nó không ăn, bảo cọng bún to trông khiếp như bầy giun. Tuần nào đi chợ má nó cũng phải mua thức ăn riêng cho nó. Bánh mì sandwich, pizza, hoặc các món đông lạnh chỉ cần bỏ vào lò vi ba hâm nóng. Bà nội nó bĩu môi, “Cái thứ đầu đen mũi tẹt mới chừng đó bày đặt bắt chước tụi Tây. Cũng tại con mẹ nó không dạy từ bé.” Nhưng thực ra nó cũng không thích đồ Tây, nó chỉ mê nấm thông. Cái thứ nấm dại nổi tiếng hiếm và đắt tiền chỉ xuất hiện vào mùa thu ở mấy siêu thị Á Đông cao cấp mà người Việt bên này hay đua theo người Nhật và người Tàu mua ăn. Hàng loại năm loại sáu, đầu đã bung tét lét cũng hơn chục đô một bông. Nướng, chiên, xào, nấu súp, má nó chế biến kiểu gì nó cũng ưng. Gia đình nó chẳng phải thuộc loại nhiều tiền hay thích đua đòi, cái món cũng không hợp khẩu vị ba má nó, nhưng vì nó thích, gặp khi giá nới một chút má nó cũng mua. Má nó bảo cái mùi nấm thông kỳ cục, khai như nước đái, thum thủm như vớ đeo chân mấy ngày chưa giặt. Nó thì nói mùi của thiên đàng. Mùi thiên đàng ra làm sao, má nó hỏi. Con bé vật lộn với vốn từ tiếng Việt ít ỏi của nó, “Thiên đàng là… giống như cái mùi của mấy thứ chung lại, mùi đất, mùi thông và mùi…” Nó ngắc ngứ không tìm ra từ tiếng Việt… “cinnamon.” Nó thường chêm tiếng Anh khi bí tiếng Việt. “Cái gì? Cinnamon?” Má nó không hiểu. Nó chạy lên lầu tìm cuốn tự điển Anh-Việt rồi từ trên cầu thang hét xuống nhà bếp cho má nó nghe, “Quế!” Má nó lắc đầu, “Đồ khùng!”

Bấy giờ nó học lớp hai. Trong bài tập làm văn lớn lên em thích làm gì, nó viết: trở thành một nhà nghiên cứu nấm, chuyên về nấm thông. Trả lời phần tại sao, nó viết: vì nấm thông có mùi thiên đàng. Nó vẽ kèm theo trong bài một góc rừng thông với những khuy nấm lác đác ngoi lên từ mặt đất. Cô giáo chấm bài, gạch đít cụm chữ “mùi thiên đàng” và đánh một dấu hỏi bên cạnh. Nhưng nó chẳng màng gặp cô giáo để giải thích. Thấy nó hay vào mạng đọc về nấm thông ba nó rầy, “Có liên quan gì tới bài vở trong trường!”

Năm lớp tám, nó đưa về nhà lá thư của ban tổ chức cuộc thi sáng tác văn thơ dành cho học sinh cấp hai toàn tỉnh. Nó đoạt giải nhì. Má nó không đọc được tiếng Anh. Ba nó coi xong, bảo, “Tích sự quái gì mấy thứ này!” Ba nó lờ luôn việc cho nó ba chục đồng để đặt mua tập sách in bài các tác giả trúng giải. Nó cũng không buồn nhắc. Sau này trở vào trường cũ của nó, ba nó tình cờ nhìn thấy quyển sách. Bài thơ nó nhan đề Mùi Thiên Đàng, mô tả loài nấm dại ấy như thứ tặng vật của đất trời mà con người bao thế kỷ qua cất công trồng không được.

 
 

4.
 
Chẳng biết có đúng như người ta nói tính cách đứa trẻ nào cũng ít nhiều phản ảnh trạng thái cảm xúc của người mẹ trong thời kỳ mang thai. Ba nó bảo má nó phá đi, phải đợi bảo lãnh ông bà nội ở Việt Nam sang rồi mới cưới hỏi và tính chuyện sanh con được. Má nó uống mấy liều thuốc Tàu nhưng cái thai không chết. Cái bụng má nó cứ lớn ra. Cho đến giờ bà nội nó vẫn còn ức chuyện ba nó dám tự tiện làm đám cưới với má nó bên này không chờ bố mẹ qua. Bà bảo không đời nào bà chấp nhận đứa con trai duy nhất của bà lấy vợ mà bỏ qua bí tích hôn phối như vậy. Thực ra ba nó có vào thưa chuyện với vị linh mục người Việt xin làm lễ cưới gấp, nhưng cha xứ một mực đòi má nó phải học giáo lý sáu tháng rồi cha mới đồng ý làm phép cưới. Bà nội nó sang đến Canada thì con bé đã được một tuổi. Thoạt nhìn thấy nó là bà ác cảm. Cái mặt không có một nét gì giống bên nội. Giống y con mẹ nó. Da ngăm, trán dồ, mắt một mí sắc lẻm, môi dầy trề trề. Hiếm khi thấy nó cười. Mặt lúc nào cũng buồn xịu. Càng lớn tính nết nó càng trái khoáy, không bình thường như những đứa trẻ khác. Đi đến đâu nó gây rối đến đó. Bà nội nó luôn đổ thừa “tại con mẹ nó không đạo hạnh, không biết đến Chúa, không đi lễ nhà thờ, không đọc kinh cầu nguyện, làm sao dạy được nó.”

Bà nội nó ghét má nó vì hai lẽ: một là má nó người Nam, hai là má nó không tín ngưỡng và nhất định không chịu rửa tội gia nhập đạo Công Giáo. Văn hóa chưa hết lớp năm, lớn lên từ một làng quê khổ và nghèo ở Gò Công Tây, má nó vượt biên với cô em gái sang Canada lúc 19 tuổi. Má nó nhìn không đẹp, tính khí như con trai, ăn nói thì thẳng tuột, không ý tứ nể nang. Biết mẹ chồng không ưa, má nó không ngán, bảo ba nó, “Ghét dâu là lẽ thường, nhưng con Dung nó là máu mủ của anh, là cháu nội của má, má phải thương phải gần gũi nó chứ.”

Ba nó không bao giờ nói cho má nó biết sự ngờ vực của gia đình, bạn bè ba nó, và của chính ba nó nữa. “Biết nó có phải con mày không? Cái thứ con gái đi vượt biên sống loang toàng trong mấy trại tị nạn tin sao nổi.” Bà nội nó có lần nói thẳng mặt ba nó. Còn mấy thằng bạn thân thỉnh thoảng đùa bảo ba nó ở xứ sở văn minh này cái gì cũng khó tin lắm, muốn biết hư thực chỉ có đi thử DNA. Ba nó cũng thú nhận rằng cuộc hôn nhân với má nó chẳng qua là sự thuận tiện. Còn má nó, má nó thường bô lô với mọi người về việc chia tay với người yêu cũ trước khi gặp ba nó như thế nào. “Quen nhau đã mấy tháng, cũng định cưới. Một hôm đi shopping, ở nhà em toàn nồi nhôm và i-nốc, em muốn tìm mua một cái nồi thủy tinh để nấu canh dưỡng sinh. Em bảo anh ta hỏi chủ tiệm cho em, nhưng anh ta mở miệng không ra. Chừng đó em mới biết anh ta qua Canada không học hành gì cả. Mình đã dốt không biết chữ, lấy người dốt nữa làm sao sống nổi ở đất này, làm sao nuôi nấng giúp đỡ con cái học hành được.”

Má nó bảo má nó “chấm” ba nó vì tuy không có của nhưng giỏi tiếng Anh, lại tốt nghiệp kỹ sư điện tử hẳn hoi. Bấy giờ ba nó mới học xong, chưa tìm ra việc làm, cứ đi đi về về căn nhà mướn của má nó, má nó bao ăn bao ở, lại còn phụ trả hơn chục ngàn đô tiền nợ đi học cho ba nó. Rồi má nó có bầu nó. Rồi ba nó phải làm đám cưới. Nghe phong phanh những chuyện như vậy, bà nội nó hứ, “Cái thứ dụ dỗ đàn ông con trai.”

Bà xét nét con dâu từng lời ăn tiếng nói. Có lần bà bị bệnh, má nó đi chợ về ghé qua bỏ một túi đồ lên bàn nói, “Cho má nè. Hai cây chả lụa.” Bà ghét không thèm trả lời. Má nó về rồi bà bắt lỗi cái từ “cho,” nghe thật chướng tai, lẽ ra phải nói “biếu má” mới phải. Thứ con gái trong Nam ăn nói lỏng chỏng không ý tứ khuôn phép. Ông nội nó bảo bà nội nó không nên phàn nàn, ở đây con dâu còn mang quà đến thăm mẹ chồng là tốt lắm rồi. Ông còn bảo ba nó chẳng thể kiếm đâu ra đứa nào giỏi hơn má nó. Mà thật vậy. Mấy người bạn ba nó về Việt Nam rước mấy cô vợ trẻ đẹp qua chỉ biết chưng diện xài tiền, làm mấy cũng không đủ.

Còn ba nó, lấy má nó xấu xí ít học quê mùa nhưng mới ba năm trả đứt được căn nhà trăm rưỡi ngàn đô. Ai cũng phải nể. Má nó lúc nào cũng làm quần quật. Hồi mang bầu nó, má nó làm cho tới ngày đẻ. Đẻ xong ba tuần là gởi nó, đi làm trở lại. Ban ngày cắt rau đóng gói cho siêu thị, tối đi dọn vệ sinh cho một sòng bài dưới phố. Thứ bảy chủ nhật phụ bếp cho một tiệm phở. Làm tiền mặt trốn được thuế, má nó thu nhập hơn cả lương kỹ sư của ba nó. Ba nó ngoài giờ làm không đi uống bia với bạn bè thì ngồi hàng giờ bên máy vi tính với cái thú nghiên cứu hàng điện tử đấu giá. Mọi việc trong nhà một tay má nó. Khoản này thì mẹ chồng không chê nàng dâu được. Nhưng điều làm bà bực bội nhất là má nó ở với ba nó hơn 15 năm rồi mà vẫn không chịu theo đạo, vẫn theo kiểu “đạo ai nấy giữ.” Người không chịu thờ phượng Chúa chỉ gặp hiểm họa trong cuộc sống, bà nội nó chì chiết. Bà đổ thừa nó hư hỏng là do Chúa trừng phạt cái đầu ương ngạnh của má nó. Má nó cãi, “Không có ông Chúa nào bất công, đi trừng phạt kẻ ăn ở lương thiện như con.”

Nghe người này người kia đua nhau khoe con, má nó hay tủi, tự hỏi không biết tại sao lại đẻ phải một đứa bé không giống ai như vậy. Từ cái tên của nó cũng ra cơ sự. Nó tên Dung. Trần Thị Mỹ Dung. Má nó đặt lúc đẻ nó ở nhà thương. Thời kỳ má nó sắp sanh ba má nó liên tiếp có những cuộc cãi vã, có lúc tưởng đi đến bỏ nhau, nhưng má nó cứ níu kéo. Thế nào chăng nữa má nó cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ ba nó. Những bà bạn chung chỗ làm, không ai có chồng giỏi tiếng Anh như ba nó. Ba nó bấy giờ không muốn có con, nên không thiết gì chuyện đặt tên. Về sau khi những rắc rối xảy ra, ba nó chửi má nó rằng chỉ có thứ ngu dốt mới sống ở một quốc gia nói tiếng Anh mà lại đặt tên con là Dung.

Ngày đầu nó vào lớp một, cô giáo muốn cả lớp làm quen nhau. Mỗi học sinh phải giới thiệu tên mình và con vật mình ưa thích. Thí dụ cô gọi tên John, John sẽ đứng lên nói, “Xin chào mọi người. Tôi tên John, tôi thích con hươu cao cổ.” Đến lượt nó, cô giáo phát âm tên nó thành “Đăng.” Lập tức có tiếng khúc khích cười. Nó vẫn ngồi im. Nó không nhận ra rằng cô gọi nó. Đến chừng cô viết chữ “Dung” thật to lên bảng, một thằng bé người Hoa ngồi sau lưng nó cười phá lên, “Ha ha. Ai tên là ‘Cứt’ ở đây?” Mấy đứa trong lớp rúc rích cười theo. “Tên tôi đọc là Dung. Dung, không phải Đăng,” nó giận dữ nói với cô giáo rồi gục mặt khóc nức nở. Cô giáo vỗ về, xin lỗi nó, rồi giảng cho cả lớp bài học về hành vi lịch sự và tôn trọng mọi người. Cô nói Canada là đất nước của nhiều nền văn hóa khác nhau. Cô cấm không được dùng ngôn từ thiếu văn minh trong lớp. Nhưng trong giờ ra chơi, thằng Tàu lại hét to đằng sau nó, “Ê, nhỏ Cứt! Mày là Cứt chó hay Cứt bò?” Đám trẻ đứng gần nghe thấy lại cười như nắc nẻ. Nó không nói không rằng chạy trở vào lớp một loáng rồi phóng ra ngay. Thằng Tàu vẫn đang bô bô cười nói với mấy đứa trẻ bám chung quanh, “Ba tao nói ở sở làm của ba tao, có một ông Việt Nam tên Phắc. Ha ha. Tụi bay tin không? Đánh vần là pi, ếch, du, xi (P-H-U-C). Không đọc là Phắc thì là gì…” Thằng Tàu chưa dứt lời, cây bút chì mũi nhọn như kim đã cắm phập vào một bên má nó. Thằng bé bị bất ngờ giơ tay che lấy mặt. Con bé đứng chống nạnh, mắt trừng trừng nhìn nó. Thằng Tàu giở tay ra nhìn thấy máu, nó bật lên tiếng rú kinh hoàng. Nhà trường phải đưa thằng bé đi bệnh viện để gắp mẩu chì găm trong thịt ra.

Hôm sau tại cuộc họp ở trường, ngoài ban giám hiệu, cô giáo phụ trách lớp, còn có cả ba má nó và một cô gái đại diện Hội Bảo Vệ Quyền Lợi Trẻ Em. Ba nó bắt nó xin lỗi mọi người. Nó lì lợm đứng im, một lúc nó nói nó không ân hận, nó chỉ tiếc là mũi bút chì không cắm trúng ngay vào cái lưỡi độc địa của thằng Tàu. Không ai bênh vực nó. Cô giáo cũng đứng về phía thằng Tàu. Ông hiệu trưởng bảo nó còn nhỏ nhưng đã bộc lộ bản chất hung bạo, bây giờ nó đã dùng cây bút chì đâm người khác, e rằng lớn lên nữa nó sẽ dùng tới dao tới súng. “Điều này thường thấy xảy ra ở trẻ em trong những gia đình mà bố mẹ hay dùng vũ lực với con cái,” ông kết luận. “Môi trường gia đình là nhân tố quyết định trong việc hình thành tính cách trẻ em,” cô nhân viên xã hội tiếp lời, đoạn nhắc khéo chuyện ba nó hành hung nó năm rồi. “Mọi thứ vẫn còn lưu trữ trong hồ sơ cảnh sát và tòa án,” cô ta nhấn mạnh. Ba nó về nhà chưa nguôi tự ái vì cô nhân viên xã hội trẻ măng có lẽ chưa chồng lại dám lên lớp dạy dỗ ba nó, lại còn hẹn những cuộc ghé thăm nhà để thảo luận phương pháp giáo dục trẻ. Má nó bàn hay đổi tên Tây cho nó, Lisa hay Kathy chẳng hạn, nhưng nó không chịu. Ban đầu nó bảo nó muốn giữ tên Dung, và nó sẽ giải thích cho người khác cách phát âm đúng và ý nghĩa của tên nó trong tiếng Việt, sau nó hăm he nếu ai có thái độ trêu ghẹo tên nó giống như thằng Tàu, nó sẽ quyết không chịu thua, nó sẽ chống trả với tất cả sự hung bạo tập hợp lại. Tất nhiên đó không phải chính xác lời lẽ của nó, nhưng chắc chắn đó là ý định của nó.

Khoảng một tháng sau sự kiện đâm cây bút chì vào mặt thằng Tàu, nó lại tham gia vào cuộc ẩu đả với một nhóm con gái da trắng lớp bên cạnh để bênh vực một đứa Ấn Độ. Không cần nghe nó phân giải, cô giáo phạt nó ngồi tại lớp trong giờ ra chơi một tuần liền. Trước mặt cả lớp, nó gọi hình phạt của cô giáo với nó là bất công, là kỳ thị. Kết quả nó bị đuổi học ba ngày. Ba má nó lại bị nhà trường mời họp. Không bao lâu mọi người trong trường ấn tượng nó là một đứa trẻ ngỗ ngược khó dạy. Dường như nó biết không ai ưa nó nên nó cũng sẵn sàng nghênh chiến với tất cả mọi người.

Năm nó vào lớp ba, bà nội nó chính thức can thiệp, bắt ba nó đưa nó vào nhà thờ rửa tội và đăng ký cho nó chuyển từ trường công sang trường đạo. Mỗi chủ nhật, nó còn phải học thêm tiếng Việt. Ngay buổi đầu tiên ở trường Việt Ngữ, nó đã kiếm chuyện. Cô giáo quy định sử dụng tiếng Việt một trăm phần trăm trong lớp học. Mỗi lần học sinh nào mở miệng nói tiếng Anh phải bỏ 25 xu vào cái hũ thủy tinh cô đặt giữa bàn. Không có tiền thì phải ghi nợ. Lũ trẻ sinh đẻ và lớn lên tại Canada, đứa nào tiếng Việt cũng bặp bẹ. Mới tiết học đầu, nó đã bị bắt năm lần vi phạm nội quy. Nó nổi sùng đợi giờ ra chơi chộp lấy hũ tiền ném luôn vào thùng rác. Cô giáo bắt nó viết kiểm điểm. Nó ngoáy vội vàng mấy chữ tiếng Anh đem nộp. Cô không chịu, bắt nó đem về bảo bố mẹ giúp viết bằng tiếng Việt.

Tới buổi học thứ hai, nó lại sinh chuyện. Cô giáo cho lớp viết chính tả, cô đọc chữ “dài,” nó đánh dấu huyền thành dấu sắc. Đứa ngồi cạnh nó nhìn thấy, cười ầm lên. Chuyện tức thời lan ra cả lớp. Thế là chúng nó được một phen cười thoả thích. Nó ra sức phân bua rằng nó vẫn chưa biết phân biệt dấu, nhưng cô giáo quy kết nó có đầu óc ma quỷ bẩn thỉu. Ba nó bực mình không cho nó đi học thêm tiếng Việt nữa.

Đi nhà thờ Việt Nam nó cũng không thích. Nó bảo nhà thờ Tây không phải quỳ sưng đầu gối. Ba nó bảo đi nhà thờ Việt Nam để nó có cơ hội thực tập tiếng mẹ đẻ. Mỗi chủ nhật tan lễ xong, linh mục có giờ giáo lý cho thiếu nhi. Bài giảng hôm ấy là về ngày tận thế và sự trừng phạt của Thiên Chúa đối với những kẻ tội lỗi. Linh mục bảo khi bị giam vào hỏa ngục, mọi giác quan con người đều bị tra tấn: mắt bao trùm bởi bóng đen, mũi ngạt thở với mùi phóng uế, miệng lưỡi nếm phải các vị thối tha tởm lợm, tai ập đầy tiếng khóc than man rợ của người chung quanh cùng tiếng nhạo báng cợt cười của quỷ dữ, da thịt thì chỗ nào cũng bị châm chích bởi những ngọn lửa vô tận, nóng hơn vạn lần thứ lửa trần gian, và thân xác con người nơi ấy sẽ không bị chết cháy thành tro, nhưng cứ phải ngày đêm chịu đựng sự nung nấu thiêu đốt cho đến đời đời kiếp kiếp. Lúc đó những kẻ tội lỗi mới biết khiếp sợ, và phải giơ tay khóc lóc khẩn nài Thiên Chúa, nhưng Ngài sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Sự ăn năn hối hận lúc ấy đã quá trễ.

Lũ trẻ kinh hãi ngồi nghe, im thin thít. Một lúc, có đứa hỏi, “Thưa Cha, trẻ con có bị trừng phạt trong địa ngục không, hay chỉ người lớn?” “Tất cả những kẻ tội lỗi không trừ ai,” linh mục đáp. Nó bỗng giơ tay phát biểu, “Thưa Cha, Cha luôn nói rằng tình yêu của Chúa đối với con người rất bao la, không bờ bến, nhất là với trẻ con. Chúa muốn tất cả chúng ta thương yêu nhau như anh em, và phải tha thứ cho nhau. Thế sao Chúa lại nghĩ ra cái cách tra tấn và trả thù con người dã man đến vậy?” Mặc dù bị bất ngờ trước một câu hỏi có vẻ như giản đơn nhưng lại rất thâm sâu ấy, linh mục không lộ vẻ lúng túng. “Các con biết điều gì dẫn con người sa xuống địa ngục nhanh nhất không? Thói kiêu ngạo và sự ngờ vực lời Chúa,” linh mục nói với cả lớp, giọng hạ thấp với lời trả đũa. Sau đó quay sang nó, ông bảo ông sẽ thảo luận riêng với nó lần tới. Linh mục gặp bà nội nó, nhăn nhó bảo, “Cháu gái của bà, ôi lạy Chúa, thật kinh khủng. Cái đầu của nó thật sự có vấn đề.”

Nó không hòa nhập nổi nơi nào. Như một người bị ruồng bỏ, bị cô lập, đi đến đâu nó cũng bị bật ra, lạc lõng. Các phụ huynh không muốn cho con giao du với nó, sợ ảnh hưởng xấu. Cho đến năm nó học lớp mười, việc học của nó chẳng tiến bộ chút nào. Điểm các môn học chỉ trung bình. Điểm đạo đức thì luôn luôn kém.
Sau khi nó bị đuổi khỏi trường đạo chuyển sang trường công, nó lại càng bê bối hơn. Rồi nó bỏ nhà đi đúng vào tuần lễ chuẩn bị vào năm học mới. Má nó mua được hai bông nấm thông loại nhất để dành cho ngày sinh nhật của nó, ngày một tháng chín, như hàng năm. Nhưng nó chẳng được thưởng thức, vì nó chẳng bao giờ trở về nữa.

 
 

5.
 
Một ngày giữa thu. Sau những trận mưa tầm tã và những đêm se lạnh tại khu rừng Cranberry thuộc miền tây bắc tỉnh British Columbia. Mùa thu hoạch nấm thông bắt đầu như một kiểu “cơn sốt vàng” hiện đại.

Đã tự bao giờ, cứ khoảng cuối tháng tám mỗi năm, dân chúng thập phương đổ xô tới chen chúc dựng trại cắm lều nơi đây một vài tuần, trước khi sương giá và tuyết tiễn họ tiếp tục cuộc hành trình về phương nam. Người ta mang xô nhựa, gậy gộc, cả súng ống, chó dữ, lặn lội sâu tít trong rừng săn lùng thứ nấm được mệnh danh “Vua của các loài nấm dại.” Ban ngày tìm hái nấm, tối về lán trại có người thu mua đợi sẵn. Phân loại, cân đo, trả tiền mặt tại chỗ. Loại nhất, chỏm còn nguyên chưa mở, lúc đắt ba bốn trăm đô một ký, lúc rẻ cũng phải một hai trăm. Có người kiếm cả ngàn đô một ngày. Những bông nấm được chất cẩn thận gọn gàng vào các thùng nhựa và chuyển về Vancouver ngay trong đêm để kịp thời bay đến Tokyo ngày hôm sau với giá gấp ba gấp bốn lần.

Nấm thông đắt vì nó khan hiếm. Đầu to như quả táo Tây, chân dài cả tấc, lúc mới ngoi lên từ mặt đất nó có màu trắng sữa sau đó trở nên lấm tấm đỏ nâu. Nấm thông chỉ mọc từ những cánh rừng thông từ bốn năm chục tuổi trở lên, và chỉ ở một vài nơi trên trái đất. Không nơi đâu chuộng nấm thông bằng người Nhật, ngặt nỗi cứ mỗi năm, nấm thông trên đất nước họ lại mọc ít đi, vì thế họ sẵn sàng mua với bất cứ giá nào đối với hàng nhập từ Hàn Quốc và Tây Bắc Thái Bình Dương. Người các nước khác cho rằng loại nấm hoang này vừa cứng, vừa dai, mùi lại hăng nồng nhưng với người Nhật từ ngàn xưa nó là một thứ cao lương mỹ vị, đặc sản của mùa thu. Tiếng Nhật gọi nó là matsutake. Nó là biểu tượng cho sự sinh sôi, phì nhiêu, phú quý và hạnh phúc. Người ta còn đồn đại ăn thứ nấm này hạ được cholesterol, khỏi bị ung thư, lại trì hoãn được dấu hiệu của tuổi già. Hồi xưa đặc sản này chỉ phổ biến trong tầng lớp quý tộc và tăng lữ, sau mới lan rộng trong giới doanh nhân và công chúng bình dân. Đến nay nó vẫn được dùng như một món quà truyền thống sang trọng ở nước Nhật.

Trong đoàn người tìm hái nấm ở khu rừng Cranberry hôm ấy có một cặp vợ chồng di dân người Lào mới vào nghề. Họ thuật lại bấy giờ đã giữa trưa, di chuyển bao nhiêu cây số trong rừng vẫn chưa tìm ra một bông nấm nào. Đang thất vọng và nản chí thì chị vợ không tin vào mắt mình khi chợt nhìn thấy phía trước, ngay giữa hàng cây thông, một khối trắng to như cái bát úp ló lên từ mặt đất phủ đầy rêu, cát, và vỏ cây. Chị ta mừng quýnh vừa chạy tới cái vật trắng vừa hú gọi người chồng đang lang thang đâu đó khuất tầm mắt chị. Anh chồng đến nơi lúc chị vợ kêu thất thanh nhảy lùi xa khỏi cái khối màu trắng chị vừa mới thọc tay moi lên. Không phải là cái đầu nấm to ngoại cỡ như chị tưởng. Nó là cái sọ người! Cái sọ trắng hếu nằm phơi trên mặt đất, hai con ngươi to sâu hoắm, nguyên phần hàm dưới biến mất, chỉ còn hàng răng trên trắng nhởn nhe ra. Chị vợ ôm ngực thở, “Chỗ này có hồn ma. Không phải của mình.” Chị nói và hối chồng mau quay về lán trại. Bỗng ngay khoảnh khắc đó anh chồng ngửi thấy một cái mùi rất đặc biệt — mùi thơm ngọt dịu của quế và đất ẩm quyện lẫn với mùi hăng nồng nã của thông lan tỏa đâu đây thật gần. Chị vợ run rẩy kêu khẽ chồng khi cả hai bất chợt nhận ra cách đó vài ba thước rực sáng một mảng bông nấm chỏm còn nguyên chưa mở, nõn nà như tuyết, nhú lên khỏi lớp lá thông dày đặc. Dưới ánh sáng mặt trời, những bông nấm tròn vây quanh một gốc thông già, lung linh bí hiểm như huyền thoại.

 
 

6.
 
Cảnh sát còn tìm thấy một chiếc giầy trắng nhãn hiệu Bitis bê bết bùn khô với hàng chữ “Made in Vietnam” nhòa nhạt bên trong, và mấy mẩu xương vai và đùi ở những địa điểm quanh đó. DNA xét nghiệm chứng minh cái sọ và các khúc xương là của nó, Trần Thị Mỹ Dung. Má nó xác nhận chiếc giầy đã mua cho nó trong một chuyến hai má con về Gò Công thăm ông bà ngoại nó. Một người đàn bà thu mua nấm ở khu rừng Cranberry tường trình rằng bà nhớ nhìn thấy một cô gái Á Đông thấp người, da ngăm đi chung với một người đàn ông da trắng không biết quan hệ với cô như thế nào. Người đàn ông da trắng thì cao nghệu, tóc nâu quăn. Lúc đó là tuần đầu tiên của mùa hái nấm ở Cranberry Junction mùa thu năm ngoái. Bà nhớ cô gái ấy vì cô là một trong những người hái được nhiều nấm nhất, và có lần bà tò mò hỏi có phải cô là công nhân hái nấm chuyên nghiệp từ nơi khác đến, cô lắc đầu. Hỏi cô xong ở đây có đi tiếp các điểm khác không, cô gật đầu bảo cô rất thích nhìn thấy ánh sáng mặt trời và thở không khí trong rừng. Đâu được chừng một tuần thì không thấy cô gái nữa. Cả gã đàn ông và căn lều tạm bợ của hai người cũng không thấy nữa.

Có thể gấu grizzly đã ăn thịt nó. Có thể gã đàn ông đi chung đã giết nó để chiếm đoạt tiền. Thú rừng và các loài côn trùng đã ăn hết thi thể nó, không để lại manh mối gì. Không ai biết nó chết như thế nào. Nhưng tình cờ qua chứng cớ DNA, điều người ta ngờ vực bấy lâu chợt rõ ra như dưới ánh sáng của mặt trời: nó thật sự mang dòng máu của ba nó.
 

Tháng 8, 2008

 

 

.

bài đã đăng của McAmmond Nguyen Thi Tu


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)