Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Bậc thầy thuật hóa kim [4]


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 3.06.2009

PHẦN HAI

Thằng con trai đã làm việc cho ông chủ tiệm pha lê gần được một tháng, và có thể thấy được đây không phải loại công việc làm cho nó thấy vui. Ông chủ tiệm bỏ cả ngày ngồi nói lẩm bẩm phía sau quầy, bảo thằng con trai phải cẩn thận với các món đồ và đừng làm bể cái nào hết.

Nhưng nó ở lại làm vì ông chủ tiệm, dù là một ông gìà cáu kỉnh, đối xử công bằng với nó; thằng con trai nhận được mức hoa hồng hậu hĩ cho mỗi món đồ nó bán được, và đã dành dụm được chút tiền. Sáng hôm đó nó làm một con tính: nếu nó tiếp tục làm việc mỗi ngày như hiện giờ, nó sẽ cần nguyên một năm để mua được vài con cừu.

“Con muốn dựng một cái kệ chưng đồ pha lê,” thằng con trai nói với ông chủ tiệm. “Mình có thể đặt nó bên ngoài tiệm, và thu hút được số khách qua lại phía dưới đồi.”

“Trước giờ bác chẳng có làm kệ,” ông chủ tiệm trả lời. “Khách đi qua sẽ đụng trúng nó, và các món đồ sẽ bị bể.”

“Ô, khi con dẫn đàn cừu băng qua đồng một số có thể chết nếu đạp trúng rắn. Nhưng đó là lối cừu và bọn chăn cừu sống.”

Ông chủ tiệm xoay qua một khách muốn mua ba cái ly pha lê. Ông ta bán được nhiều hàng hơn bao giờ hết… như thể thời gian đã quay ngược lại thuở trước, khi con đường này còn là một trong những điểm hấp dẫn chính của Tangier.

“Làm ăn lên thiệt,” ông ta nói với thằng con trai, sau khi người khách đi ra. “Bác kiếm khá hơn trước nhiều, và chẳng bao lâu nữa con có thể có lại đàn cừu. Sao lại đòi hỏi nhiều hơn?”

“Vì mình phải đáp ứng lại các điềm lạ,” thằng con trai nói, gần như chẳng chủ định, sau đó nó thấy hối cái mình nói, vì ông chủ tiệm chưa hề gặp được nhà vua.

“Người ta gọi đó là nguyên lý thuận lợi, cái may của kẻ mới bắt đầu. Vì cuộc đời muốn con đạt được cái Niềm Riêng của mình.” Vị vua già đã nói.

Nhưng ông chủ tiệm hiểu được cái thằng con trai nói ra. Sự hiện diện của thằng con trai trong cái tiệm này tự nó là một điềm lạ, và, khi thời gian lướt qua tiếp và tiền đang rót vô két, ông ta chẳng hề tiếc chuyện đã mướn nó. Thằng con trai được trả công cao hơn mức nó xứng đáng được hưởng, vì ông chủ tiệm, vốn nghĩ rằng số bán cộng lại sẽ chẳng nhiều gì cho lắm, đã cho nó một mức hoa hồng cao. Ông ta đã cho là nó sẽ nhanh chóng quay về với đàn cừu.

“Tại sao con muốn tới mấy cái Kim Tự Tháp?” ông ta hỏi, cốt tránh cái chuyện kệ chưng đồ.

“Vì con lúc nào cũng nghe đến chúng,” thằng con trai trả lời, không nói gì về giấc mơ của mình. Kho báu giờ chẳng là gì cả ngoại trừ một ký ức đau đớn, và thằng con trai cố không nghĩ về nó.

“Bác không biết được bất kỳ ai quanh đây muốn băng qua sa mạc chỉ để coi mấy cái Kim Tự Tháp,” ông chủ tiệm nói. “Chúng chỉ là một đống đá. Con có thể dựng một cái ở cái sân sau.”

“Bác chưa hề có những giấc mơ được đi đây đi đó,” thằng con trai nói, xoay qua chờ người khách mới bước vô tiệm.

Hai hôm sau, ông chủ tiệm nói với thằng con trai về cái kệ chưng đồ.

“Bác không thích thay đổi gì cho lắm,” ông nói. “Con và bác không như Hassan, cái ông chủ tiệm giàu có đó. Nếu ông ta bể một chuyến hàng, nó không ảnh hưởng nhiều đến ông ta. Nhưng hai ta phải sống với những lỗi lầm phạm phải.”

Điều đó đúng lắm, thằng con trai nghĩ, tiếc rẻ.

“Sao con nghĩ mình nên có cái kệ chưng đồ?”

“Con muốn quay lại với đàn cừu nhanh hơn. Mình phải nắm lấy cơ hội khi sự may mắn còn nằm ở phía mình, và phải làm thiệt nhiều để giúp nó như nó đang giúp mình. Cái đó được gọi là nguyên lý thuận lợi. Hay là cái may của người mới bắt đầu.”

Ông chủ tiệm im lặng trong một lúc. Rồi ông nói: “Đấng Tiên Tri cho ta quyển kinh Koran, và lưu lại cho chúng ta chỉ năm trách nhiệm phải thỏa mãn trong đời. Cái quan trọng nhất là chỉ tin ở một đấng Trời đích thực. Mấy cái còn lại là cầu nguyện năm lần một ngày, kiêng ăn suốt thời gian Ramadan, và làm phúc cho người nghèo khổ.”

Ông ta ngừng ở đó. Mắt ông ngấn đầy nước mắt khi nói về đấng Tiên Tri. Ông là người sùng đạo, và, ngay cả thiếu hẳn kiên nhẫn, ông muốn đời mình theo đúng những giới luật của Muslim.

“Trách nhiệm thứ năm là gì?” thằng con trai hỏi.

“Hai hôm trước con nói là bác chưa hề mơ được đi đây đi đó,” ông chủ tiệm đáp. “Trách nhiệm thứ năm của mỗi người Muslim là hành hương. Bọn ta có trách nhiệm, ít nhất một lần trong đời, đến viếng thành phố Mecca linh thiêng.

“Mecca ở xa hơn mấy ngọn Kim Tự Tháp nhiều. Khi còn trẻ, hết thảy cái bác muốn là dành dụm đủ tiền để gầy cái tiệm này. Bác nghĩ là một ngày nào đó mình sẽ giàu có, và đến được Mecca. Bác bắt đầu kiếm được chút tiền, nhưng bác chẳng thể để cho ai đó coi ngó cái tiệm; đồ pha lê là những món đồ tinh tế. Cùng lúc đó, người ta đi ngang qua tiệm suốt ngày, hướng tới Mecca. Một số là những người hành hương giàu có, đi trong những đoàn lữ hành có người phục dịch và lạc đà, nhưng phần lớn người đi hành hương thì nghèo hơn bác.

“Tất cả đều vui sướng ở chỗ làm được điều đó. Họ treo những biểu tượng hành hương trước cửa nhà. Một người trong số họ, ông thợ sửa giày, nói ông ta đã du hành suốt một năm xuyên qua sa mạc, nhưng ổng thấy mệt hơn khi ổng phải đi qua những con phố của Tangier để mua da.”

“Ô, sao bác không đi Mecca ngay bây giờ?” thằng con trai hỏi.

“Vì chính cái ý nghĩ về Mecca đã giữ cho bác còn sống tiếp. Đó là cái giúp bác đối mặt với những ngày này, vốn lúc nào cũng giống nhau, những món đồ pha lê câm lặng trên kệ, và những buổi ăn trưa ăn tối ở cùng một cái quán ăn kinh khủng. Bác sợ là nếu biến giấc mơ của mình thành hiện thực, bác sẽ không có lý do gì để sống nữa.

“Con mơ tới đàn cừu và những ngọn Kim Tự Tháp, nhưng con khác bác, vì con muốn biến các giấc mơ của mình thành hiện thực. Bác chỉ muốn mơ về Mecca. Bác đã tưởng tượng hàng ngàn lần chuyện băng qua sa mạc, đến được Hòn Đá Thiêng, bảy lần đi vòng quanh trước khi cho phép mình rờ nó. Bác đã tưởng tượng về người quanh mình, người trước mình, và các cuộc trò chuyện và cầu nguyện cùng chia xẻ. Nhưng bác e nó sẽ chỉ là một sự thất vọng, vì vậy bác chỉ mơ về nó.”

Ngày hôm đó, ông chủ tiệm cho phép thằng con trai dựng cái kệ chưng đồ. Không phải ai cũng thấy được những giấc mơ của mình biến thành hiện thực theo cùng một cách.

*

Hai tháng nữa trôi qua, cái kệ chưng hàng đã đem thêm nhiều khách tới tiệm. Thằng con trai ước lượng rằng, nếu nó làm thêm sáu tháng nữa, nó có thể trở về Tây Ban Nha và mua sáu chục con cừu, và thêm sáu chục con cừu nữa. Trong gần một năm, nó có thể nhân đôi đàn cừu, và sẽ có được khả năng giao dịch với người Ả Rập, vì nó giờ có thể nói được cái ngôn ngữ lạ lẫm của họ. Từ cái buổi sáng đó nơi cái chợ, nó chưa hề dùng lại hai hòn Urim và Thummim, vì Ai Cập giờ chỉ còn là một giấc mơ xa vời, cũng như Mecca đối với ông chủ tiệm. Dù gì thì thằng con trai đã trở nên thấy vui với công việc, và lúc nào cũng nghĩ đến cái ngày xuống bến ở Tarifa như một kẻ chiến thắng.

“Con phải luôn biết cái con muốn,” vị vua già đã nói. Thằng con trai biết, và đang cố có được nó. Có lẽ kho báu của nó là đã đến được miền đất lạ đó, gặp một tên trộm, và nhân đôi đàn cừu của mình mà không phải bỏ ra một xu.

Nó thấy tự hào về mình. Nó đã học được một số điều quan trọng, như xử trí làm sao với đồ pha lê, về thứ ngôn ngữ không lời… và về các điềm lạ. Một buổi trưa, nó trông thấy một người đàn ông ở đỉnh đồi, phàn nàn không thể tìm ra một chỗ coi được để kiếm thứ gì uống sau cú leo đồi như vậy. Thằng con trai, đã quen với việc nhận ra các điềm lạ, nói với ông chủ tiệm.

“Mình bán trà cho người leo đồi lên đây đi bác.”

“Đã có nhiều chỗ bán trà quanh đây rồi,” ông chủ tiệm trả lời.

“Nhưng mình có thể bán trà trong những cái ly pha lê. Người ta sẽ thưởng trà và thấy muốn mua những cái ly. Người ta bảo con cái đẹp là kẻ quyến rũ đàn ông dữ dội nhất.”

Ông chủ tiệm không phản ứng, nhưng buổi chiều đó, sau khi đọc kinh và đóng cửa tiệm, ông mời thằng con trai ngồi xuống với mình và chia với nó cái hookah, cái ống điếu tổ chảng người Ả Rập dùng hút thuốc.

“Con đang tìm kiếm điều gì?” ông chủ tiệm già hỏi.

“Con đã nói với bác rồi. Con cần mua lại đàn cừu, vì vậy con phải kiếm tiền để thực hiện điều đó.”

Ông chủ tiệm bỏ thêm than vô cái hookah, và rít một hơi thiệt sâu.

“Bác có được cái tiệm này ba mươi năm rồi. Bác biết được thứ đồ pha lê nào tốt thứ đồ pha lê nào xấu, và mọi thứ khác cần biết về đồ pha lê. Bác biết rõ kích thước của chúng và biết chúng xử sự ra sao. Nếu mình bán trà trong ly pha lê, cửa tiệm sẽ phải mở rộng. Rồi bác sẽ lại phải thay đổi lối sống của mình.”

“Ô, chẳng lẽ điều đó lại không tốt hả bác?”

“Bác đã quen với lệ thường rồi. Trước khi con tới, bác nghĩ mình đã phí biết bao nhiêu thời gian ở riết một chỗ, trong khi bạn bè mình tiếp tục di chuyển, hoặc phá sản hoặc kiếm khá hơn trước nữa. Nó khiến bác rất trầm uất. Giờ đây, bác có thể thấy được điều đó chẳng tệ tí nào. Cái tiệm có đúng cái cỡ bác muốn nó có. Bác không muốn thay đổi bất kỳ điều gì, bởi vì bác không biết xử trí ra sao với thay đổi. Bác quen với lối của mình rồi.”

Thằng con trai không biết nói gì. Ông chủ tiệm già tiếp tục, “Con đúng là một cái phúc cho bác. Hôm nay bác hiểu được một điều trước đây bác không hiểu nổi: mỗi cái phúc bị lờ đi sẽ biến thành một lời nguyền. Bác không muốn bất kỳ một điều gì khác nữa trong đời. Nhưng con đang ép bác để mắt tới của cải và đến những chân trời bác chưa hề biết. Giờ bác thấy được chúng, và giờ bác thấy được khả năng của mình bao la như thế nào. Bác cảm thấy mình tệ hơn nhiều so với cái lúc trước khi con tới. Vì bác biết được nhiều điều bác đã nên hoàn tất, và bác lại chẳng muốn làm.”

Hay thiệt mình đã kiềm lòng được không nói bất kỳ điều gì với ông thợ bánh ở Tarifa, thằng con trai nghĩ trong bụng.

Họ tiếp tục hút ống điếu trong một lúc khi mặt trời bắt đầu lặn. Họ chuyện trò bằng tiếng Ả Rập, và thằng con trai thấy tự hào vì có thể làm được điều đó. Có lúc nó đã nghĩ đàn cừu có thể dạy được nó mọi thứ cần biết về thế gian này. Nhưng chúng không thể dạy nó tiếng Ả Rập.

Có lẽ có những điều khác nữa trên thế gian mà cừu chẳng thể dạy mình, thằng con trai nghĩ khi nó cân nhắc đến ông chủ tiệm già. Mọi điều chúng làm từ trước đến giờ, thật vậy, chỉ là tìm cỏ và nước. Và có lẽ chẳng phải chúng đã dạy mình, mà là mình học được từ chúng.

Maktub,” rốt cuộc ông chủ tiệm nói.

“Nó nghĩa là gì vậy bác?”

“Con có lẽ phải sinh ra là người Ả Rập thì mới hiểu được nó,” ông trả lời, “Nhưng trong ngôn ngữ của con nó có lẽ là cái gì đó như ‘Nó được viết ra.’”

Rồi, khi dụi than trong cái hookah, ông ta bảo thằng con trai nó có thể bắt đầu bán trà trong ly pha lê. Đôi khi, chẳng có cách nào để cản lại giòng sông.

*

Đám đàn ông leo lên đồi, và họ thấy mệt khi lên tới đỉnh. Nhưng ở chỗ đó, họ thấy có một tiệm pha lê mời khách trà bạc hà giải khát. Họ vô uống trà, vốn được bưng ra tiếp trong những cái ly pha lê đẹp đẽ.

“Vợ tôi chưa hề nghĩ tới điều này,” một ông khách nói, và ông ta mua một ít món pha lê – ông ta sẽ đãi khách tối hôm đó, và khách sẽ bị ấn tượng bởi vẻ đẹp của pha lê. Người khách khác lưu ý trà luôn ngon hơn khi được tiếp đãi bằng ly pha lê, vì lưu được hương vị lại. Nguời khách thứ ba nói truyền thống phương Đông là dùng ly pha lê dâng trà vì nó có năng lực thần thông.

Không lâu sau, tin tức lan truyền, và một lượng lớn người bắt đầu leo lên đồi đển coi cái tiệm vốn đang làm ra một số điều mới mẻ trong một cái nghề cũ rích. Nhiều tiệm khác được mở ra để hầu trà trong đồ pha lê, nhưng chúng không nằm trên đỉnh đồi, và chúng chỉ có được chút doanh thương ít ỏi.

Kết cục, ông chủ tiệm phải mướn thêm hai nhân công nữa. Ông ta bắt đầu nhập về một lượng lớn trà, cùng với pha lê, và cửa tiệm của ông được những người đàn ông và đàn bà khát khao những điều mới mẻ tìm đến.

Và nhiều tháng đã trôi qua theo lối đó.

*

Thằng con trai tỉnh dậy trước khi trời rạng sáng. Đã mười một tháng chín ngày kể từ lúc nó bắt đầu đặt chân lên lục địa Phi.

Nó mặc bộ đồ Ả Rập may bằng vải lanh trắng, được mua đặc biệt cho ngày hôm nay. Nó đặt tấm khăn trùm đầu lên, và giữ chặt nó bằng một vòng dây da lạc đà. Mang đôi dép mới, nó xuống thang lặng lẽ.

Thành phố vẫn còn chìm trong giấc ngủ. Nó tự sửa soạn một cái bánh kẹp thịt, và uống trà trong ly pha lê. Rồi nó ra ngồi ngoài cái sảnh ngập nắng, hút ống điếu.

Nó hút thuốc trong lặng lẽ, không nghĩ gì, và lắng nghe âm thanh của gió vốn mang theo mùi sa mạc. Khi hút xong, nó thọc tay vô túi, ngồi đó một lát, trước cái món nó rút từ trong túi ra.

Đó là một cọc tiền. Đủ cho nó mua một trăm hai chục con cừu, vé tàu về nhà, và một cái giấy phép nhập khẩu hàng hóa từ châu Phi về nước.

Nó nhẫn nại chờ cho ông chủ tiệm tỉnh dậy và mở cửa tiệm. Rồi hai người ra ngoài uống một ít trà.

“Hôm nay con đi,” thằng con trai nói. “Con có được số tiền con cần để mua đàn cừu. Và bác có được số tiền bác cần để đi Mecca.”

Ông già không nói gì.

“Bác sẽ chúc lành cho con chứ?” thằng con trai hỏi. “Bác đã giúp con.” Ông chủ tiệm tiếp tục sửa soạn trà, không nói gì. Rồi ông ta xoay qua thằng con trai.

“Bác thấy tự hào về con,” ông nói. “Con đã đem đến một cái cảm giác mới vô trong tiệm pha lê của bác. Nhưng con biết là bác sẽ không đi Mecca. Cũng như con biết là con sẽ không mua cừu nữa.”

“Ai nói cho bác biết vậy?” thằng con trai hỏi, sửng sốt.

“Maktub,” ông chủ tiệm già nói.

Và ông chúc thằng con trai gặp được phúc lành.

*

Thằng con trai quay lại phòng riêng, thu dọn đồ đạc. Chúng chiếm đầy ba cái túi lớn. Khi đi ra, nó thấy cái túi chăn cừu của mình trong góc phòng. Cái túi được cột túm lại, và nó hiếm khi nghĩ tới cái túi suốt một thời gian dài. Khi nó lấy cái áo khoác ra khỏi túi, nghĩ sẽ đưa cho ai đó ngoài đường, hai hòn đá rơi xuống sàn. Urim và Thummim.

Nó khiến thằng con trai nhớ lại vị vua già, và nó làm thằng con trai sửng sốt khi nhận ra đã thiệt là lâu từ cái lần trước đây nó nghĩ về ông. Gần một năm trời, nó đã làm việc không ngơi, chỉ nghĩ tới dành dụm đủ tiền để về lại Tây Ban Nha với niềm tự hào.

“Đừng bao giờ ngừng mơ,” vị vua già đã nói. “Hãy theo các điềm lạ.”

Thằng con trai nhặt Urim và Thummim lên, và, một lần nữa, có cái cảm giác lạ lùng là vị vua già đang ở đâu đây. Nó đã làm việc cực khổ suốt năm, và cái điềm lạ là đến lúc phải đi.

Mình sẽ trở về làm lại cái mình làm trước kia, thằng con trai nghĩ. Ngay cả dù đàn cừu không dạy được mình tiếng Ả Rập.

Nhưng đàn cừu đã dạy nó một điều quan trọng hơn hết: có một thứ ngôn ngữ mà mọi người đều hiểu, thứ ngôn ngữ mà thằng con trai sử dụng suốt thời gian nó cố cải thiện một số chuyện ở tiệm. Đó là thứ ngôn ngữ của nhiệt thành, của những điều được hoàn tất bằng tình yêu và mục đích, và như một phần của cuộc tìm kiếm cái gì đó nó tin vào và ao ước. Tangier không còn là một thành phố lạ, và như thể nó đã chinh phục được nơi này, nó cảm thấy nó có thể chinh phục được thế giới.

“Khi con muốn điều gì, toàn vũ trụ hợp lại để giúp con đạt được điều đó,” vị vua già đã nói.

Nhưng vị vua già không nói gì đến chuyện bị cướp, hoặc về cái sa mạc bất tận, hoặc về những người biết họ mơ gì nhưng chẳng muốn biến chúng thành hiện thực. Vị vua già đã không nói cho nó biết là Kim Tự Tháp chỉ là một chồng đá mà ai cũng có thể dựng được ở cái sân sau. Và ông đã quên nói là, khi có được đủ tiền để mua một đàn cừu lớn hơn cái đàn đã có trước đây, phải mua liền.

Thằng con trai lượm cái túi lên, xếp nó vô chung với những thứ khác. Nó xuống thang lầu, và nhìn thấy ông chủ tiệm đang đứng chờ một cặp khách ngoại quốc, trong khi hai khách khác đang dạo quanh tiệm, uống trà trong ly pha lê. Tiệm bận rộn hơn thường ngày. Từ chỗ nó đứng, lần đầu nó thấy được tóc ông chủ tiệm giống y như tóc vị vua già. Nó nhớ lại nụ cười của người bán kẹo, trong ngày đầu ở Tangier, khi nó không có gì để ăn và không biết đi đâu – nụ cười đó cũng giống như nụ cười của vị vua già.

Hình như ổng đã ở đây và lưu dấu lại, nó nghĩ. Tuy vậy, không một ai ở đây đã từng gặp vị vua già. Mặt khác, ổng nói ổng luôn hiện ra để giúp những người đang cố biến cái Niềm Riêng của mình thành hiện thực.

Nó đi ra mà không nói lời từ biệt với ông chủ tiệm. Nó không muốn khóc khi có người khác ở đó. Nó sẽ nhớ nơi này và những điều hay ho đã học được. Nó thấy tự tin hơn, và cảm thấy dường như nó có thể chinh phục cả thế giới.

“Nhưng mình sẽ quay về những cánh đồng quen thuộc và lại chăm sóc đàn cừu.” Nó tự nhủ với vẻ chắc chắn, nhưng nó không còn thấy vui sướng với quyết định của mình nữa. Nó đã làm việc suốt năm để biến một giấc mơ thành hiện thực, và giấc mơ đó, từng phút một, trở nên bớt quan trọng đi. Có lẽ vì đó chẳng phải là giấc mơ đích thực của nó.

Ai mà biết được… có lẽ nên giống như ông chủ tiệm pha lê: không bao giờ đi Mecca, và chỉ sống cả đời mà chỉ muốn làm vậy thôi. Nó cố thuyết phục mình lần nữa. Nhưng khi nó cầm hai hòn Urim và Thummim trong tay, chúng truyền cho nó sức mạnh và ý chí của vị vua già. Do tình cờ – hoặc có lẽ là một điềm lạ, thằng con trai nghĩ – nó đi đến cái quán giải khát nó vô trong cái ngày đầu tiên tới đây. Thằng ăn trộm không có ở đó, và người chủ quán mang ra cho nó một tách trà.

Mình lúc nào cũng có thể quay lại làm đứa chăn cừu, thằng con trai nghĩ. Mình đã biết được làm sao để chăm sóc cừu, và mình chưa quên cái đó được làm ra làm sao. Nhưng có lẽ mình sẽ chẳng bao giờ có được một cơ hội khác để đi tới các ngọn Kim Tự Tháp ở Ai Cập. Ông già mang một tấm giáp ngực bằng vàng, và ổng biết rõ quá khứ của mình. Ổng thực sự là một vị vua, một vị vua thông thái.

Những ngọn đồi miền Andalusia chỉ cách xa có hai tiếng, nhưng có nguyên một cái sa mạc giữa nó và các ngọn Kim Tự Tháp. Tuy vậy thằng con trai thấy ra có một cách khác để nghĩ về tình trạng của mình: nó thiệt ra hai giờ gần hơn với cái kho báu của mình… cái chuyện hai giờ đó đã giãn ra thành trọn một năm thì chẳng thành vấn đề gì.

Mình biết là mình muốn quay lại với bầy cừu, nó nghĩ. Mình hiểu tụi cừu; chúng không còn là một vấn đề, và chúng có thể là bạn tốt. Mặt khác, nó không biết sa mạc có thể là một người bạn không, và nó phải tìm kho báu ở sa mạc. Nếu mình không tìm ra nó, mình lúc nào cũng có thể quay về. Mình rốt cục có đủ tiền, và tất cả thời gian mình cần. Sao lại không nhỉ?

Nó bất thần cảm thấy vui sướng tột độ. Nó lúc nào cũng có thể quay về làm đứa chăn cừu. Nó lúc nào cũng có thể trở lại làm người bán đồ pha lê. Có lẽ thế gian có những kho tàng khác, nhưng nó có một giấc mơ, và nó đã gặp được một vị vua. Điều đó không xảy ra với bất kỳ ai!

Nó lập một kế hoạch khi rời quán giải khát. Nó nhớ ra là một trong những người cung cấp hàng cho ông chủ tiệm đã chuyên chở pha lê theo các đoàn lữ hành băng qua sa mạc. Nó cầm Urim and Thummim trong tay; nhờ ở hai hòn đá này, nó một lần nữa lên đường tìm kho báu của mình.

“Ta luôn ở bên cạnh, khi ai đó muốn biến Niềm Riêng của mình thành hiện thực,” vị vua già đã bảo nó.

Có tốn gì không để đi tới cái kho của người bạn hàng, và coi các ngọn Kim Tự Tháp có thiệt xa đến vậy không?

*

Ông người Anh đang ngồi trên một băng ghế trong một cái kết cấu um mùi súc vật, mồ hôi, và bụi bặm; nó vừa là nhà kho vừa là chuồng súc vật. Mình chưa hề nghĩ là mình sẽ đến cái chỗ như thế này, ông ta nghĩ, khi lật nhanh qua các trang giấy của một tạp chí hóa học. Mười năm ở đại học, và giờ đây mình ở trong một cái chuồng súc vật.

Nhưng ông ta phải tiếp tục. Ông ta tin ở những điềm lạ. Trọn cuộc đời và mọi nghiên cứu của ông ta hướng đến việc tìm ra một ngôn ngữ thật sự phổ quát. Đầu tiên ông ta nghiên cứu Esperanto, rồi các tôn giáo trên thế giới, và bây giờ là thuật hóa kim. Ông ta biết nói Esperanto, hiểu tường tận mọi tôn giáo chính, nhưng chưa phải là một nhà hóa kim. Ông ta đã lần ra manh mối của sự thực phía sau các câu hỏi quan trọng, nhưng những nghiên cứu của ông ta dẫn ông ta đến một điểm mà dường như không thể đi xa hơn nữa. Ông ta đã cố gắng vô hiệu để thiết lập mối quan hệ với một nhà hóa kim. Nhưng các nhà hóa kim là những người kỳ lạ, vốn chỉ nghĩ đến họ, và hầu như luôn từ chối giúp ông ta. Ai mà biết được, có lẽ họ thất bại trong việc tìm ra bí mật của Kỳ Công – hòn Triết Thạch – và vì lý do này giữ kín kiến thức.

Ông ta đã xài phí phần lớn gia sản cha mình để lại, tìm kiếm vô hiệu hòn Triết Thạch. Ông ta đã dành một lượng thời gian khổng lồ ở các thư viện lớn nhất trên thế giới, và đã mua hết những tác phẩm quan trọng nhất và hiếm nhất về thuật hóa kim. Ông ta đã đọc được trong một cuốn là, nhiều năm trước đây, một nhà hóa kim Ả Rập nổi tiếng đã viếng thăm châu Âu. Người ta nói rằng ổng hơn hai trăm tuổi, và ổng đã khám phá ra hòn Triết Thạch và toa Sinh Dược. Câu chuyện gây cho ông người Anh một ấn tượng sâu đậm. Nhưng ông ta nghĩ nó chẳng hơn gì một huyền thoại, nếu không có một người bạn – trở về từ một chuyến thám hiểm khảo cổ trong sa mạc – kể cho ông ta nghe về một người Ả Rập sở hữu những năng lực ngoại hạng.

“Ổng sống trong ốc đảo Al-Fayoum,” người bạn nói. “Và người ta nói ổng hai trăm tuổi, và biến được bất kỳ kim loại nào thành vàng.”

Ông người Anh không thể kiềm nổi cảm xúc. Ông ta hủy hết mọi cam kết và gom những cuốn sách quan trọng nhất về thuật hóa kim lại, và giờ thì ngồi ở đây, trong một cái kho hôi hám và bụi bặm. Bên ngoài, một đoàn lữ hành lớn đang chuẩn bị để băng ngang qua sa mạc Sahara, và được sắp lịch trình đi ngang qua Al-Fayoum.

Mình sẽ tìm ra nhà hóa kim siêu phàm đó, ông người Anh nghĩ. Và mùi súc vật đỡ khó chịu hơn.

Một chàng Ả Rập trẻ trung, cũng mang đầy hành lý, bước vô, và chào ông người Anh.

“Ông đi đâu?”, anh chàng Ả Rập hỏi.

“Tôi vô sa mạc,”người đàn ông trả lời, quay lại đọc sách. Ông ta không muốn trò chuyện lúc này. Cái mà ông ta cần là ôn lại mọi điều đã học suốt nhiều năm, bởi nhà hóa kim chắc chắn sẽ kiểm tra ông ta.

Chàng Ả Rập lấy một cuốn sách ra và bắt đầu đọc. Cuốn sách được viết bằng tiếng Tây Ban Nha. Tốt, ông người Anh nghĩ. Ông ta nói tiếng Tây Ban Nha giỏi hơn tiếng Ả Rập, và, nếu thằng con trai này đi Al-Fayoum, sẽ có người để nói chuyện khi không có gì quan trọng để làm.

[Còn tiếp]

.

bài đã đăng của Paulo Cuelho


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2010 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)