Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Kiểm Duyệt Văn Hóa Nghệ Thuật, Tham luận Email bài này

Niềm tin và can đảm: Tự kiểm duyệt trong cộng đồng Việt ở Hoa Kỳ

Nhà bình luận bảo thủ của Mỹ David Horowitz gần đây (18-4) có viết một bài trong tờ The Wall Street Journal kể lại chuyện ông bị quấy rối, la ó, phản đối khi đến nói chuyện tại đại học Texas ở Austin. Horowitz là một tay viết cánh hữu nổi tiếng, nhưng lập trường của ông là về phía tự do ngôn luận, bất chấp các khuynh hướng nội dung và tư tưởng. Horowitz từng biện hộ và bênh vực cho giáo sư cực tả Ward Churchill của đại học Colorado (khi ông này bị đuổi việc vì tuyên bố rằng nhiều nạn nhân của vụ 9-11 ở New York City là tồi tệ như những phần tử Nazi) và khoa trưởng trường luật của UC Irvine là Erwin Chemerinsky (một luật gia cấp tiến lừng danh). Trong bài viết này, với tựa đề là “Phe tả của đại học không tin vào tự do ngôn luận” (The campus leftists don’t believe in free speech), ông diễn tả lại cảnh tượng bị ngăn cản bởi các giáo sư và sinh viên cánh tả trong lần diễn thuyết nói trên đến mức độ mà nhân viên an ninh đại học phải can thiệp. Ông cho biết rằng hiện nay những người phe bảo thủ cánh hữu ở Mỹ phải đem theo nhân viên bảo vệ (body guards) mỗi khi đến các đại học diễn thuyết. Horowitz viết, “Tôi không biết một ai trong số cả ngàn nhà diễn thuyết cánh tả khi đến các đại học đã từng bị phản đối hay tấn công bởi sinh viên bảo thủ, những người vốn có đủ lịch sự và khoan dung để không làm như thế. Từ kinh nghiệm của buổi nói chuyện ở đại học Texas đã làm tôi nhớ lại câu nói của Orianna Fallaci rằng, sau 11-9 thì chúng ta không phải sống trong sự ‘va chạm của các nền văn minh’ mà là sự va chạm giữa văn minh (civilization) và mọi rợ (barbarism).”

Đó là phía người Mỹ. Còn trong cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ thì tình hình cũng gần như thế – nhưng đi ngược lại về khuynh hướng chính trị. Không có một nhà bảo thủ, cánh hữu nào bị phe tả phái phản đối hay quấy rầy khi họ diễn thuyết ở các đại học hay cộng đồng Việt Nam. Tình trạng bị tấn công hay phá rối chỉ xẩy ra cho phía cánh tả vốn được chủ động bởi phe chống cộng bảo thủ. Liệu rằng ta có thể lấy câu kết luận của Horowitz ở trên để nói rằng, phe cánh tả trong cộng đồng Việt thì quá lịch sự và khoan dung? Và những chuyện cánh tả bị cánh hữu tấn công là hiện thân của “mọi rợ” xung khắc với “văn minh”?

Những ai cứ nghĩ rằng thế gian này, nhất là trên bình diện tư tưởng chính trị, mà không có xung khắc, thì kẻ ấy chỉ là mơ mộng. Trong một xã hội dân chủ, pháp trị, với một truyền thống tranh luận tư tưởng công khai lâu đời, dân chủ và tự do ngôn luận chỉ có thể được phát huy khi có sự đối nghịch về tư tưởng và cung cách diễn đạt. Luật pháp và chính quyền Hoa Kỳ không phân biệt đối xử trên bình diện nội dung tư tưởng – mà chỉ thiết lập những quy tắc trật tự nhằm bảo vệ và phát huy quyền tự do ngôn luận. Nội dung và chất lượng tư tưởng chỉ là vấn đề của trình độ tri kiến và ý thức của người tham dự. Mâu thuẫn tư tưởng là điều kiện thiết yếu cho nhu cầu khai sáng. Những xung đột về ngôn luận và tư tưởng giúp làm khai thông những vũng tối của giáo điều, của vô minh, lừa dối và ác ý. Mặc dù không có trên văn bản chính thức, nhưng cho một nền tảng chính trị hiến pháp tiến bộ của bất cứ quốc gia nào, nó phải hàm chứa những khuyến khích cho sự mâu thuẫn và đối nghịch tư tưởng.

Tôi xin phép đem trường hợp cá nhân chúng tôi ra làm bằng chứng ở đây. Từ những năm 1985 – 1992, tôi đã công khai kêu gọi Hoa Kỳ bỏ cấm vận và thiết lập bang giao với Việt Nam. Tôi tin rằng chỉ với con đường đó mới tạo cơ hội cho Việt Nam thoát ra khỏi vũng lầy nghèo đói kinh tế và áp bức chính trị. Lúc ấy, ít ai trong cộng đồng Việt ở Mỹ dám công khai lên tiếng về vấn đề này. Vì đó mà an ninh cá nhân đã trở nên một vấn đề. Văn phòng luật sư của tôi đã phải dời đi ít nhất hai lần vì bị đe dọa đặt bom. Một vài tờ báo Việt ngữ từ chối không đăng quảng cáo kinh doanh của tôi, và FBI của Mỹ đã đến gặp tôi tại nhà nhằm khuyến cáo những biện pháp an ninh cá nhân. Không khí thời ấy bao trùm sự đe dọa khủng bố. Những nhà báo như Dương Trọng Lâm, Đạm Phong, Tú Rua đã bị bắn chết theo hình thức xử tử. Nhiều nhà báo, nhà hoạt động chính trị cộng đồng thiên tả hay ôn hòa khác thì bị đe dọa, cô lập. Cơ sở kinh doanh của họ bị đốt cháy hay cá nhân họ đã bị bắn trọng thương, như trường hợp Đoàn Văn Toại. Đã nhiều lần, phe cánh hữu chống cộng đến trước văn phòng luật sư của tôi để biểu tình, làm cho nhân viên của tôi phải bỏ trốn. Dù trong bối cảnh đó, tôi đã không chùn bước. Tôi vẫn hành nghề luật sư, vẫn công khai tiếp tục phát biểu về lập trường chính trị của mình. Vì tôi tin rằng những gì tôi cổ võ là đúng – và khi tôi đã tin như vậy thì tôi phải sẵn sàng đứng lên hành xử quyền tự do ngôn luận của mình. Không ai có quyền “kiểm duyệt” tôi cả. Những người đe dọa tôi chỉ có thể có “quyền kiểm duyệt” đối với tôi chỉ khi nào tôi sợ hãi họ mà tự im miệng.

May mắn thay cho những ai có điều gì để nói mà bị phản đối. May mắn cho tôi là ở Mỹ chỉ có phản đối và đe dọa dân sự, mà không phải là của luật pháp hay chính quyền, đối với quyền ăn nói của tôi – dù có vấn đề nguy hiểm cho an ninh cá nhân. Mỗi lần tôi nói hay viết điều gì, nếu có người phản đối, phá rối, la hò, chửi rủa, tôi thông cảm và ghi nhận. Bởi vì ít nhất là người phản đối đã để ý và quan tâm đến những gì tôi muốn nói. May là họ không làm ngơ. Nhiều người cũng hỏi tôi là tại sao không kiện họ ra tòa vì tội phỉ báng. Tôi thì cho rằng nếu tôi đã lên tiếng nói về những vấn đề chung thì phải chấp nhận luật chơi để chấp nhận bị chỉ trích và phỉ báng. Đó là chưa kể đến “cái lợi” khi tôi bị biểu tình hay chỉ trích, bởi vì đó là một cách mà người ta “quảng cáo không công” cho công việc hay ý kiến của mình.

Thế nhưng, về các vấn đề Việt Nam, hầu hết những người cầm bút, hay hoạt động xã hội, nghệ thuật và tôn giáo trong cộng đồng người Việt ở Mỹ lại quá dè dặt, hay là quá nhạy cảm – nếu không nói là sợ hãi – khi muốn nói những gì mà họ tin. Những năm trước 1996, khi còn chưa có bang giao Việt-Mỹ, nhiều nhà báo, nhà bình luận, hoạt động chính trị, khi tôi gặp riêng thì họ cho tôi biết rằng họ ủng hộ bang giao, bỏ cấm vận. Nhưng khi viết bài trên báo hay ra công chúng thì họ lại hô hào chống đối. Hay là có những sinh hoạt tư nhân, ra mắt sách, hay sinh hoạt tôn giáo chẳng hạn, họ cũng phải “cực chẳng đả” làm lễ chào cờ quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Họ chỉ sợ bị “chụp mũ” là “thân cộng.”

Mà thực ra nếu có bị chụp mũ “thân cộng” thì có gì ghê gớm lắm đâu? Quá lắm thì chỉ bị biểu tình, vài bài báo, hay là đài radio chỉ trích, chửi bới. Trong suốt bốn năm trời từ 2003 đến 2007, ở San Jose, có một luật sư, từng là nhân viên văn phòng của tôi, nay làm chủ báo, liên tục đăng hình tôi lên trang nhất, tố cáo tôi là “Việt gian” là “đặc công trí vận,” nhưng tôi vần coi thường và bỏ qua. Tôi thấy rằng nếu chúng ta phát biểu ôn hòa, lý luận vững chắc thì quần chúng sẽ lắng nghe. Còn các trường hợp bị đe dọa an ninh cá nhân thì hiếm hoi, và chỉ ở vào thời điểm mười, hai mươi năm trước. Bây giờ, những ai chịu nói thật và thẳng về những vấn đề Việt Nam không còn phải lo sợ như trước. Tuy vậy, trên nhiều đề tài về Việt Nam, gần hết cả cộng đồng báo chí, văn hóa, cộng đồng người Việt chúng ta ở Mỹ chỉ vì sợ hãi sự chụp mũ mà phải im lặng. Đây là tự chính họ vi phạm quyền ngôn luận của mình. Họ đã thay mặt đám đông mà “tự kiểm duyệt.” Những người đó tự phủ nhận quyền tự do của chính họ. Hãy tự trách chính mình trước.

Trở lại câu chuyện của Horowitz ở trên, tôi nghĩ rằng ông này hơi quá đáng khi cho rằng sự xung đột giữa các phe tả và hữu ở Mỹ về các buổi diễn thuyết là chuyện giữa “văn minh” và “mọi rợ.” Xung đột và mâu thuẫn là điều đáng khuyến khích – kể cả những lúc đi quá đà. Không phe nào hay cá nhân ai là “lạc hậu” hay “tiến bộ” cả. Những hành động phản đối, quấy phá nào cũng không thể trở nên “kiểm duyệt” nếu kẻ phát ngôn đứng vững vị trí của họ. Vấn đề là ở chỗ rằng, người phát ngôn có đủ niềm tin vào lập trường của mình, có tư tưởng, có điều gì đáng để nói, để viết, và quan trọng nhất, họ có đủ can đảm để thực thi quyền tự do ngôn luận hay không.

Adam Michnik, một nhà báo Ba Lan đấu tranh cho dân chủ hai thập niên trước có lần viết, “Nếu bạn muốn có tự do ngôn luận ư? Đừng sợ hãi. Hãy nói lên. Bạn muốn có tự do tư tưởng? Hãy thực thi tự do tư tưởng cho mình.” Câu nói quen thuộc này hẵn phải còn đúng cho tất cả những người Việt Nam muốn có tự do tư tưởng và ngôn luận, dù ở trong nước hay ở hải ngoại. Khi nào mà tầng lớp trí thức cầm bút, những người có tư tưởng, quan điểm chính trị hay xã hội không có can đảm đứng lên hành xử quyền tự do ngôn luận và tư tưởng thì ngày đó sinh mệnh đất nước và cộng đồng vẫn còn bị nằm trong bóng tối của thoái hóa và áp bức.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng, dù bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào, kẻ sĩ Việt phải có can đảm đứng lên cho tiếng nói của mình. Đây chính là một thách thức quan trọng nhất hiện nay cho sĩ phu Việt Nam.

Nguyễn Hữu Liêm

bài đã đăng của Nguyễn Hữu Liêm


5 bình luận »

  • HT viết:

    Đọc bài trên của ông Nguyễn Hữu Liêm, hẳn độc giả trong nước sẽ mang một nỗi buồn man mác. Bởi vì dù can đảm đến đâu chăng nữa, họ cũng chỉ đăng bài ở các diễn đàn hải ngoại. Báo chí trong nước bị kiểm soát hết cả rồi. Còn các trang hải ngoại có dính dáng đến chính trị, công an mạng chốt chặn gần hết. Than ôi! làm sao độc giả trong nước đập phá được thành lũy firewall nếu không biết cài proxy.

    Với những kẻ mang danh trí thức, họ không đói ăn đói mặc, nhưng lại đói tiền. Ông Liêm ạ, đã qua rồi thời đại của cái gọi là “kẻ sĩ Việt”. Ông chờ mong “kẻ sĩ Việt” giống như mong chờ phép lạ từ đức chúa Trời vậy. Hỡi ôi!

  • Chính Trực viết:

    Kẻ sĩ Việt luôn còn và không phụ thuộc gì vào phép lạ của Chúa cả. Vì từ rất lâu rồi trước khi Chúa đến Việt Nam, Việt Nam đã có nhiều kẻ sĩ.

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Tôi xin phép không bình luận gì về tình hình tự do ngôn luận ở hải ngoại vì tôi không sống ở đó.

    Đối với nhận định của tác giả Chính Trực ở trên, tôi cho đó chỉ là “bông đùa tí thôi,” không biết có đúng chăng?

    Vì chưng, Đức Giesu đã đề cập nhiều lần về vấn đề đó rồi:
    – Chúa nói: của Cê-za hãy trả cho Cê-za
    – Chúa nói: nước tôi không thuộc về thế gian, nếu nước tôi thuộc về thế gian, quân lính tôi đã chiến đấu…
    – Chúa nói: hãy tích lũy của cải ở trên trời, là nơi không thể hư mất được
    – vân vân và vân vân…

    Rất nhiều Tin mừng như thế đã cho thấy: Đức Giesu đến Thế gian nói chung và Việt nam nói riêng không phải để làm chính trị. Ngài đã nói rất rõ ràng: Ai dùng gươm thì sẽ chết vì gươm. Cho nên suốt cuộc đời của Ngài cũng như Đức Phật vậy, chỉ có rao giảng/thuyết pháp và cầu nguyện/tọa thiền.

    Đối với vấn đề tự do ngôn luận, tôi tin và luôn tâm niệm rằng tự do ngôn luận là thứ mà không ai có quyền ban cho ai. Cái đó là của tạo hóa, là tự nhiên đối với mỗi cá nhân con người. Chỉ có con người tự đánh mất quyền đó của mình thôi vì sự sợ hãi hoặc e ngại. Tôi nghĩ, trước công luận quốc tế, lãnh đạo quốc gia nào cũng đã khẳng định rằng họ đương nhiên bảo vệ cho người dân của họ quyền tự do ngôn luận.

    Vấn đề ở đây là cách quốc gia đó xử lý như thế nào đối với các ý kiến trái ngược của dân chúng họ. Và vấn đề quan trọng hơn nữa là vai trò của Thế Giới (Liên Hợp Quốc) xử lý như thế nào đối với hành xử của quốc gia đó trước những góp ý chân thành nhưng trái ngược của người dân trong đất nước họ. Và tôi tin là ngày nay các vị độc tài trên thế giới (nếu còn) đã nhận được nhiều bài học thấm thía qua các tấm gương của Sadam Hussen, của Milosevic…

    Vậy ước gì Liên Hợp Quốc hãy phát huy vai trò của nó hơn nữa.

    Còn mỗi chúng ta chỉ cần hãy tin vào Thượng đế quan phòng. Bao lâu chúng ta không làm gì nô lệ cho tội lỗi, cho điều ác thì bấy lâu chúng ta luôn ở trong vòng tay yêu thương của Ngài.

    Xin cám ơn tác giả Nguyễn Hữu Liêm vì đã mở ra 1 đề tài rất thiết thực.

  • Hùng Trần viết:

    Rất tiếc phải viết rằng: t/g Nguyễn Hữu Liêm (NHL) đã (lại) có một bài viết với những thí dụ, chứng minh, lập luận đầy mâu thuẫn, sai ưu tiên, trật đối tượng, và vì thế các luận cứ không thuyết phục.

    Thật ra những đề tài ông viết đã được bàn đến rất nhiều, bởi nhiều người, trong nhiều năm qua. Cũng dễ hiểu vì những điều này đã ảnh hưởng đến tâm trí rất nhiều người Việt có quan tâm đến thời cuộc, đến vận mệnh đất nước, từ trong lẫn ngoài nước, ở cả thân hay chống, một chính quyền độc tài, bóp nghẹt tự do ngôn luận. Vì đó cũng là hệ quả tất yếu của một cuộc nội chiến dai dẳng đầy máu và nước mắt, và một tình trạng đất nước sau chiến tranh, tuy ít máu lửa nhưng cũng còn nhiều nước mắt.

    Nhân tâm người dân nước Việt còn ly tán vô cùng, vì thế không thể đơn giản lấy một vài trường hợp, quy tắc bình thường của các nước phương Tây đã an bình hơn nửa thế kỷ, không có những đối đầu sống chết, đem ra so sánh. Hoặc, nếu muốn so sánh, nên xem một điểm duy nhất: một chính quyền đối đãi với công dân mình, và với những người đối lập chính trị ra sao. Ta sẽ có ngay kết luận rõ ràng và chính xác.

    Theo tôi, các lãnh vực hoạt động, sinh sống, và quan điểm chính trị của người Việt hải ngoại (NVHN) tị nạn cộng sản tương đối đa dạng, tư duy khá rộng mở. Họ theo đủ mọi đảng phái, lập trường khá ôn hòa (t/d so sánh một số cđ Trung Đông hay Hồi giáo). Duy có điều, với chủ nghĩa và chế độ cộng sản VN, là thủ phạm cho những đau thương cùng cực của họ, khó được nguôi ngoai và chấp nhận, cho dù hiện diện dưới bất cứ hình thức nào. Tôi cho người nào không thấu hiểu được điều đương nhiên này của NVHN là có v/đ về kiến thức, nhận thức và suy luận.

    Tương tự với cộng đồng Do Thái, họ có thể chấp nhận nhiều khác biệt về quan điểm chính trị, cả với chủ nghĩa cộng sản, nhưng sẽ chống đối mạnh mẽ khi có ai trình bày thiên lệch hoặc ca tụng Hitler và chế độ Đức Quốc Xã. Cho dù sự việc đã hơn năm mươi mấy năm qua rồi.

    Nói cụ thể hơn, một diễn giả ca ngợi Đức Quốc Xã sẽ không bị cộng đồng Việt Nam tổ chức biểu tình nhưng cộng đồng Do Thái sẽ có. Và một phản ứng trái nghịch tương tự với chế độ cộng sản Việt Nam của hai cộng đồng. Đó là một tương quan tất yếu giữa nạn nhận và thủ phạm, ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời đại nào, dù xứ chậm tiến hay văn minh. Nhất là khi thủ phạm vẫn chưa nhìn nhận sai lầm của họ, xin lỗi nạn nhân, và thay đổi về bản chất.

    Do đó đem những lý lẽ về một sự tự do ngôn luận bình thường ở một quốc gia an bình cho một tập thể không bị tổn thương chính trị để so sánh sẽ không thuyết phục. Nếu không nói là lạc điệu.

    Cũng giống t/g NHL, tôi cũng đã công khai đồng tình việc Hoa Kỳ bải bỏ cấm vận và thiết lập bang giao với Việt Nam. Cũng muốn thấy VN (được) mở cửa, (được) bang giao với tất cả mọi nước. Tôi cho đó là một cách trực tiếp hay gián tiếp “mang ánh sáng vào nơi tối tăm,” giúp Việt Nam thoát khỏi lạc hậu, độc tài, u muội chính trị. Sẽ đem thịnh vượng, no ấm, tiến bộ đến cho đất nước, nhân dân.

    Nhưng khác biệt lớn nhất của tôi (và có lẽ rất đông NVHN khác) với t/g NHL là chúng tôi muốn qua sự giao thương đó đất nước sẽ có cơ hội được tự do và dân chủ. Chứ không đồng hành với chính quyền để nhằm cứu vớt một chế độ độc tài, để duy trì quyền lực, và tiếp tục trấn áp tự do ngôn luận của dân chúng. Và dù tôi không đồng tình với những người chống đối sự giao thương nhưng tôi thông hiểu quan điểm của họ. Nam Phi thời phân biệt chủng tộc bị cả thế giới cấm vận cũng có cái lý và hiệu quả của nó.

    Ông NHL có một kết luận rất hợp lý: “Khi nào mà tầng lớp trí thức cầm bút, … không có can đảm đứng lên hành sử quyền tự do ngôn luận và tư tưởng thì ngày đó sinh mệnh đất nước và cộng đồng vẫn còn bị nằm trong bóng tối của thoái hóa và áp bức.” Tiếc thay ông không thấy được nguyên nhân và hệ quả, hay đặt ra được cụ thể ưu tiên và mục tiêu.

    Một khi nước Việt Nam có tự do, dân chủ đầy đủ, thì cộng đồng NVHN sẽ tự khắc trở thành một cộng đồng an bình, không còn bị xáo trộn vì nỗi bất an chính trị, sẽ cùng hòa nhịp sống với các cộng đồng khác nơi sở tại. Một giai đoạn lịch sử hận thù đầy máu và nước mắt sẽ tự động và đương nhiên khép lại. Nụ cười của mọi người Việt sẽ lại có với nhau.

    Muốn trị bệnh phải trị nguyên nhân thay vì triệu chứng.

  • Nguyễn-Khoa Thái Anh viết:

    Tôi không hiểu người Việt đã từ bỏ chuyện chiến tranh, máu lửa chưa? Ít ra chuyện nồi da xáo thịt trong thế kỷ 21 này là một chuyện bất cập. Như vậy thì chúng ta phải trị căn bệnh hiểm nghèo của nhà nước Việt Nam như thế nào, khi chính họ sẽ không tự chữa trị lấy? Cho nên chuyện muốn trị bệnh phải trị nguyên nhân thay vì triệu chứng e rằng khó thực hiện ở đây, nhất là tôi không hiểu ông Trần Hùng muốn đề nghị ai chủ động trong chuyện ‘dứt nọc’ nhà nước này?

    Theo thiển ý, cho đến khi có một số đông đáng kể trong quần chúng không còn sợ hãi, không còn nhượng bộ, không còn tránh né vấn đề, lấy lại quyền tự do căn bản, lấy lại tiếng nói của mình, thì lúc đó mỗi người trong chúng ta phải phải ý thức được chuyện mình cần phải làm. Nhất là những nhà báo và người cầm bút. Người ta không thể nhượng bộ cho những kẻ xuẩn ngốc mãi được.

    Ở trong nước thì một nhà nước không xứng đáng đại diện và quyết định hướng đi cho cả nước. Ở hải ngoại người ta vẫn rụt rè để cho một thiểu số to mồm yêu sách, trì trệ những chuyện khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Gần một trăm năm nay, người Việt không thoát khỏi số mệnh đen như mõm chó là thế.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)