Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Kiểm Duyệt Văn Hóa Nghệ Thuật, Nhận Định Email bài này

Tự Do Ngôn Luận và Trách Nhiệm Người Viết

Tự Do Ngôn Luận được ghi nhận là quyền của con người – nhân quyền – theo điều 19 của Công Ước Quốc Tế do Liên Hiệp Quốc biểu quyết vào năm 1966, nguyên văn như sau:

Everyone shall have the right to freedom of expression; this right shall include the freedom to seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, in the form of art, or through any other media of his choice.

Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận; quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bằng chữ viết hoặc bằng bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình.

Công ước trên đã được tuyệt đại đa số các quốc gia trên thế giới ký kết tuân thủ, trong đó có Việt Nam tham gia vào năm 1982.

Công ước ấy đã được viết một cách rõ ràng, mạch lạc, dứt khoát, không thể gây ngộ nhận, không thể có một lối giải thích nào khác. Tuy thế một số quốc gia ký kết đã giải thích công ước một cách khiên cưỡng nhằm mục đích củng cố quyền lực và địa vị của giới thống trị. Đó là những nước theo chế độ độc tài, toàn trị, tại đấy sinh hoạt chữ nghĩa, nghệ thuật, phải phục vụ chế độ; nhà văn, nhà báo, hay nói rộng ra, văn nghệ sĩ, không được đi lệch ra khỏi đường lối do giới cầm quyền vạch sẵn. Nhà cầm quyền có khi “xả hơi”, “mở trói” cho giới viết lách được dễ thở đôi chút, lúc khác lại “bịt miệng” để trói lại chặt chẽ hơn. Nước Việt Nam ta hiện lâm vào tình trạng đó, cho nên không có tự do ngôn luận.

Quyền “Tự Do Ngôn Luận” đối với người cầm bút như chúng ta, do đó, chỉ có thể được bàn thảo tại hải ngoại. Vâng, thì có tự do đấy, nhưng tự do đến mức độ nào, trong lãnh vực nào? Thật ra tự do ngôn luận cũng gặp phải một số hạn chế nhất là trong lãnh vực quốc phòng và tôn giáo. Chẳng hạn người viết không được tiết lộ bí mật quốc phòng cho ngoại bang, phải tôn trọng tự do tôn giáo của người khác trong ý nghĩa con người có quyền theo một tôn giáo hoặc không theo tôn giáo nào cả. Ngoài hai lãnh vực vừa nêu lên, thử hỏi còn có những ràng buộc nào khác hay không? Kể cả mặt hình thức? (Vấn đề nội dung và hình thức sẽ được đề cập sơ lược ở đoạn sau.)

Thử đi ngược dòng lịch sử nhìn lại thời tiền chiến 1932-1945. Vào thời kỳ này “Thơ Mới” phát triển rầm rộ, thế mà một số nhà thơ có xu hướng cách tân, đổi mới vẫn bị giới phê bình lên án nặng nề. Hoài Thanh trong “Thi Nhân Việt Nam” cho rằng Nguyễn Vỹ “táo bạo thì táo bạo thực, nhưng trong văn thơ táo bạo không đủ đưa người ta ra khỏi cái tầm thường”. Ở một đoạn khác, ông viết: “Trong lúc say, Nguyễn Vỹ đã quên được cái tật cố hữu, cái tật lòe đời … đã quên những câu thơ hai chữ và những câu thơ mười hai chữ …” Hoài Thanh hết sức ca tụng “Thơ Mới”, nhưng với cái nhìn hạn hẹp, không tiến thêm được một bước nữa, nên đã tỏ ra rất dị ứng với những trào lưu khác.

Trong chiều hướng đó, Đặng Thai Mai cũng vào thời ấy, trong “Văn Học Khái Luận”, viết: “Trong khoảng mười năm sau đây một ít nhà văn nước ta phần thì chịu ảnh hưởng văn nghệ Âu châu trước sau hồi Âu chiến 1914- 1918, phần thì muốn thỏa mãn cái tính tự ái của tâm lý tiểu tư sản, cũng hô hào tự do, cũng cố tìm những cách viết tự do … Họ đã cố công vận dụng một lối văn cổ quái, kỳ dị, không ai hiểu, một lối nghệ thuật ‘kín mít’… Tự do hay phóng nhiệm trong văn nghệ không phải chỉ là một hình thức ‘vô chính phủ chủ nghĩa’. Một nhà văn phải theo quy luật ngôn từ của đại chúng, phải vận dụng những tài liệu mà sự sinh hoạt chung đã cung cấp cho mọi người để sáng tác.”

Ngay ở phương Tây, André Gide có lần nói rằng nghệ thuật muốn đạt đến những thành tựu đáng kể luôn luôn phải bắt nguồn từ sự ràng buộc, câu thúc, cũng như cánh diều có thể bay lên cao là nhờ có sợi dây giữ bên dưới. Ông nhấn mạnh, “nghệ thuật sinh ra trong câu thúc, tồn tại trong phấn đấu, và diệt vong trong tự do” (L’art nait de contrainte, vit de lutte, et meurt de liberté). Sự câu thúc ở đây là về mặt thể loại, hình thức. Gide nhắc đến nền văn học nghệ thuật rực rỡ thời Phục Hưng tại châu Âu, và riêng trong lãnh vực thơ, Gide cho rằng vào thời ấy nhiều người đã làm thơ theo thể loại sonnet, là loại thơ đòi hỏi những qui luật chặt chẽ về vần, điệu, số câu, thế mà vẫn có những bài thơ kiệt tác. Đó là trường hợp của các thi hào Shakespeare, Ronsard, chẳng hạn.

Những ý kiến trên, nhất là ý kiến của Gide, đều đã lỗi thời nhưng cũng cần được nhắc lại vì, cho đến nay, vẫn có người làm thơ coi đó là “khuôn vàng, thước ngọc”. Ngoài ra bảo rằng Shakespeare đã làm những bài thơ sonnet tuyệt tác bất kể những câu thúc khắt khe của thể loại đó, hay, tương tự như thế, Đỗ Phủ đã đẽo gọt một cách tài tình và rất thành công loại thơ Đường thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt với những quy tắc chặt chẽ về niêm luật, nói như thế không nhất thiết có nghĩa rằng hai thi hào ấy không thể làm những bài thơ hay nếu họ có dịp tiếp cận với thể loại, hình thức mới mẻ khác.

Đặt vấn đề như thế này có lẽ hợp lý hơn: Mỗi nhà văn, nhà thơ, đặc biệt là mỗi nhà thơ thường quen thuộc với một vài thể loại nào đó. Có nhà thơ thích làm thơ lục bát, người khác thích lối thơ bảy chữ, người khác nữa lại quen với lối thơ tự do, thơ xuôi, thơ không vần, thơ tân hình thức v.v… Không những thế, do đào luyện, cách tân, hay do không muốn lặp lại kỹ thuật cũ, một nhà thơ có thể chuyển đổi từ thể loại này qua thể loại khác, hoặc đi tìm một cái gì hoàn toàn mới mẻ. Có thế, trên con đường tìm tòi, khám phá, sáng tạo, chân trời thơ mới có thể mở rộng thênh thang, tác phẩm lớn mới có thể ra đời. Tóm lại, thể loại hoặc quy tắc không phải là vấn đề. Và cũng đừng nhầm lẫn những luật lệ bó buộc với hình thức của văn, thơ.

Thử đọc lại hai câu thơ sau đây theo lối “Thơ Mới” bảy chữ gieo vần cuối câu của Bích Khê mà Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam cho là hay nhất trong thơ Việt Nam:

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi! Thu mênh mông.

Quả là hai câu thơ tuyệt diệu. Ta có thể tán rộng: nào là âm điệu thật êm đềm toàn cả vần bằng được ngắt nhịp thật tài tình, câu đầu hai nhịp, nhịp thứ nhất với chỉ một chữ Ô đột ngột nói lên sự ngỡ ngàng, ngạc nhiên, tiếp theo là sáu chữ đi liên tiếp nhau của nhịp thứ hai nghe như nỗi buồn vấn vít kéo dài, Hay buồn vương cây ngô đồng, trong khi câu thứ nhì thì ngắt làm ba đoạn vang vang những âm thanh xào xạc, trùng trùng, đồng thời vẽ ra hình ảnh lá mùa thu rơi rơi từng đợt, từng hồi – nghĩa là trong thơ có cả tình, ý, lẫn nhạc và họa; nào là sử dụng điển tích một cách kín đáo, Ngô đồng nhất diệp lạc/Thiên hạ cộng tri thu (Một lá ngô đồng rụng/Mọi người biết thu về), mà ở đây không chỉ một lá ngô đồng rụng, cả ngàn vạn lá cây đã nhạt nhòa mất hết đường nét để đi đến màu sắc trong hội họa ấn tượng Vàng rơi! vàng rơi! Thu mênh mông; nào là xúc cảm và tưởng tượng phong phú khiến nỗi buồn, nỗi buồn từ trong lòng nhà thơ lan tỏa ra vạn vật, hay đó là nỗi buồn tự tại của mẹ thiên nhiên lúc thu về, đã biến hình thành một cái gì rất cụ thể, nó vương, nó quấn, nó quyện vào cây ngô đồng, nó khiến cho những chiếc lá vàng phải buồn theo và rơi rụng. Hai câu thơ ấy đã khơi dậy trong lòng người đọc những cảm xúc mông lung khiến ta không còn lòng nào mà nghĩ đến vấn đề nội dung gây xúc động hay hình thức truyền cảm. Vậy thì đâu là cái khung của hình thức, đâu là cái chứa đựng bên trong của nội dung? Ta không thể phân biệt được hai lãnh vực đó.

Viết đến đây, tôi không thể không liên tưởng đến một số nhận xét của nhà phê bình Kim Thánh Thán sống vào cuối đời Minh giữa thế kỷ thứ 17 khi ông nhận xét vở kịch Tây Sương Ký: “Viết văn muốn cho văn hay, nhưng văn hay tất phải mượn chuyện ấy, thế thì chuyện ấy tất là chuyện hay. Vì sao? Vì chuyện hay tất là văn phải hay, mà văn hay tất là chuyện phải hay vậy… Đến như chuyện ấy thật là chuyện hay, mà viết ra văn lại không phải là văn hay, thì chuyện ấy chưa chắc đã là chuyện hay… Vì sao? Vì văn không hay tất là chuyện không hay, mà chuyện không hay cho nên văn không hay vậy…” (Nhượng Tống dịch).

Nói đúng ra, hình thức và nội dung của một tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là văn và thơ, là một thể nhất quán bất khả phân. Sự đòi hỏi của nghệ thuật, của mỹ học, của cái hay, cái đẹp đến một mức độ nào đó sẽ phát sinh ra một sự hài hòa đồng nhất của nội dung và hình thức. Trong nội dung là hình thức, trong hình thức là nội dung. Hoặc cũng có thể nói nội dung chứa đựng hình thức, đồng thời hình thức chứa đựng nội dung.

Tóm lại, ngoài bổn phận tôn trọng bí mật quốc phòng và những gì liên quan đến tôn giáo như đã nêu lên ở phần đầu bài này, người viết phải được hoàn toàn tự do diễn đạt ý tưởng chân thành và lương thiện của mình dưới bất cứ hình thức nào, kỹ thuật nào.

Ngự Thuyết

bài đã đăng của Ngự Thuyết


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch