Trang chính » Biên Khảo, Kiểm Duyệt Văn Hóa Nghệ Thuật, Phỏng vấn, Tư Liệu Email bài này

Nguyễn Tà Cúc phỏng vấn dịch giả Đinh Từ Bích Thúy về cuốn The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present

Lời người phỏng vấn (Nguyễn Tà Cúc):

Trong Khởi Hành số 149 (tháng 3, 2009, Chủ Đề Phụ Nữ), người phỏng vấn có viết về những sai trái của bà Lady Borton (trong cuốn The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present do NXB The Feminist, Hoa Kỳ phối hợp với NXB Phụ nữ, Việt Nam ấn hành) khi bà này dịch một số ca dao và thơ của một số (nữ) tác giả Việt nam ra Anh ngữ. Không những thế, bà Borton còn mạt sát người Việt ở Biển-ngoài là không đủ ngôn ngữ cũng như văn hóa Việt để làm những tuyển tập song ngữ như thế ngoài Việt Nam. Để công bằng hơn cho bà Borton, người phỏng vấn cũng liên lạc với dịch giả Đinh Từ Bích Thúy (một trong vài dịch giả từ Hoa Kỳ được nhóm bà Borton mời) để phỏng vấn, cung cấp thêm tài liệu và làm sáng tỏ vấn đề hơn. Chúng tôi sẵn sàng cho bà Borton và hai bà người Việt đồng biên soạn (Nguyễn Thị Minh Hà, Nguyễn Thị Thanh Bình của NXB Phụ nữ) lên tiếng về những vấn đề do dịch giả Đinh Từ Bích Thúy và người phỏng vấn nêu ra dưới đây để rộng đường dư luận.

Trước khi xuất hiện trên Da Màu với sự đồng ý của tác giả và dịch giả Đinh từ Bích Thúy, bài phỏng vấn này đã được đăng trên Tạp chí Khởi Hành số 150, tháng 4, 2009, trang 30-32. Mọi sự trích dịch hay đăng lại sau này (dù trên Internet) cần có sự chấp thuận của Đinh Từ Bích Thúy và văn bản cho phép từ Nguyễn Tà Cúc. Địa chỉ liên lạc: Nguyễn Tà Cúc, c/o Khoi Hanh, PO Box 670, Midway City, CA 92655. (Biển-ngoài là chữ của nhà văn Mặc Đỗ. Người phỏng vấn mạn phép sử dụng chữ này của ông (thay cho “hải ngoại”) vì thứ nhất Biển-ngoài là tiếng Việt không vay mượn, thứ hai, Biển-ngoài gợi lên được hình ảnh chính xác của người Việt tỵ nạn Cộng sản và như thế đánh dấu được sự tự do, ngoài vòng kiềm tỏa của người Việt Cộng sản).

defiant-muse-cover

Nguyễn Tà Cúc: Thưa chị (xin được phép gọi là chị), chị là một trong vài dịch gỉả ngoài Việt Nam có mặt trong cuốn này. Chị nghĩ sao về những lời khẳng định của bà Borton trong buổi phỏng vấn với Daniel Tsang (KUCI Subversity Podcast, ngày 27-08-07), rằng có một dịch giả người Mỹ gốc Việt đã vì dùng tự điển của Miền Nam mà dịch sai, rằng người Việt ở Hoa Kỳ không hiểu được tiếng Việt địa phương hay tiếng Bắc cổ, rằng người Mỹ gốc Việt không thể có một công trình tương tự vì không có sự am hiểu sâu xa về văn hoá Việt Nam một khi đã sống một thời gian dài ở ngoài Việt Nam? Đương nhiên người ta có thể đặt ngay dấu hỏi là nếu đã khẳng định như thế thì tại sao lại mời nhiều dịch giả từ Hoa kỳ về hợp tác? Riêng tôi, chưa nói đến cái lý luận của bà Borton sai hay đúng, hay chưa nói đến cái sơ xuất trong khi dịch của chính “dịch giả” Borton vv…thì cảm tưởng sơ khởi của tôi là cách ứng xử ấy không lịch sự chút nào, nếu không nói là vô văn hóa: bêu xấu cộng sự viên của mình là điều tối kỵ, hơn thế nữa còn bêu xấu công khai.

Đinh Từ Bích Thúy: Thưa chị, thật sự tôi cũng không hiểu sao bà Borton đã nói như vậy trong buổi phỏng vấn đó. Tôi công nhận mình là một người viết ở thế hệ 1.5, viết và xuất bản trong cả hai tiếng Việt và tiếng Anh. Một dịch giả đáng tin cậy cần có kinh nghiệm từ ít nhất hai văn hóa và hai ngôn ngữ, văn hóa/ngôn ngữ gốc và văn hóa/ngôn ngữ được chuyển qua. Tôi cũng coi những công trình dịch văn chương của mình là những công trình chuyên nghiệp, qua nhiều chặng thanh lọc và tham khảo, qua nhiều đối chiếu từ những nguồn tự điển khác nhau, bao gồm những quyển tự điển Việt Nam đã được xuất bản trong nước nhưng hiện nay được bán nhan nhản ở những tiệm sách trong những cộng đồng người Việt.

Vì thế tôi hoàn toàn ngạc nhiên, và sốc, rồi thất vọng, khi được chị cho biết về bài phỏng vấn trong đó bà Borton nhận định sai lầm về những dịch giả gốc Việt ở Hoa Kỳ, vì trong lúc làm dự án dịch với bà Borton–cũng xin được nói với chị ở đây là tôi không hề “về Việt Nam” để dịch, mà dịch thơ qua email từ Hoa Kỳ, phần nhiều tôi trao đổi trực tiếp với bà Martha Collins, là người tôi thấy có cách làm việc thích hợp và từ trước đã cộng tác dịch thi tập Cốm Non của nhà thơ Lâm thị Mỹ Dạ trong một thời gian tương đối dài. Ở đây xin cũng được giới thiệu về bà Martha Collins. Bà Collins là nhà thơ, dịch giả, và giáo sư trước đã thành lập khoa sáng tác văn chương ở đại học Massachusetts tại Boston và cũng từng dạy văn chương ở đại học Oberlin tại Ohio. Trước khi cộng tác với bà để dịch quyển Cốm Non, tôi đã đọc thi tập song ngữ, Những Người Đàn Bà Gánh Nước Sông (The Women Carry River Water) mà bà Collins đã dịch cùng với tác giả tập thơ là Nguyễn Quang Thiều. Thi tập này đoạt giải thưởng dịch thuật của Hội Dịch Giả Văn Chương Hoa Kỳ (American Literary Translators Association). Tôi thấy bà Collins dịch thơ hay, trung thành với nguyên bản, và biết cách duy trì “nét thơ” khi chuyển ngữ, không làm bản dịch thành kệch cỡm như những dịch giả không có kinh nghiệm hoặc sự nhạy cảm về văn chương. Vì thế, sự cộng tác của chúng tôi rất tương đắc. Trong thời gian dịch những bài thơ trong Nàng Thơ Ngạo Mạn, khi hai chúng tôi đã ưng ý với bản dịch thì mới gửi cho bà Borton.

Ngoài khía cạnh nghệ thuật, chúng tôi cũng coi trọng khía cạnh “biên khảo” của dịch thuật. Tuy chúng tôi không sinh sống ở Việt Nam, nhưng có nhiều nguồn tham khảo khi dịch thơ từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Thí dụ, khi dịch thơ của chị Lâm thị Mỹ Dạ cho quyển Cốm Non, vì chị là người Trung, chúng tôi cũng liên lạc với chị qua email khi có câu hỏi về những từ ngữ địa phương về các món ăn, hoa quả, thực vật học. Khi dịch những bài thơ trong Nàng Thơ Ngạo Mạn, chúng tôi đã tra cứu những tự điển hiện đại—cả bà Collins và tôi có họ hàng và bạn bè hay du lịch về Việt Nam và đã được gửi tặng nhiều quyển tự điển xuất bản từ trong nước, như quyển tự điển Tiếng Nói Nôm NaSưu Tầm Dân Gian – của Lê Gia (nxb Văn Nghệ), quyển tự điển Việt-Anh/Anh-Việt của Bùi Phụng (nxb Thế Giới); Đại Từ Điển Tiếng Việt (xuất bản bởi Bộ Giáo Dục và Trung Tâm Nghiên Cứu Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam); Từ điển Anh-Việt (được Trung Tâm Khoa Học và Nhân Văn Quốc Gia thuộc Viện Ngôn Ngữ Học của Việt Nam sao chép thẳng từ bộ tự điển Oxford của Anh.) Tham khảo những nguồn tài liệu này, tôi và bà Collins cũng đối chiếu chúng với quyển tự điển Webster và quyển tự điển Oxford, áp dụng American English, vì chúng tôi nghĩ rằng khái niệm “địa phương” từ ngôn ngữ gốc cũng nên được duy trì ở ngôn ngữ được chuyển sang – tiếng Anh chúng tôi dùng là tiếng Anh của người Mỹ, không phải tiếng Anh của người Anh, hay người Úc.

Tôi cảm thấy, với những kinh nghiệm sẵn có, và tôi đã cố sống như một người muốn tin tưởng vào những điều tốt đẹp ở người khác—nhất là những người tự coi họ là những con người nghệ sĩ—và chỉ phán xét họ khi đã có bằng chứng cụ thể–thì lời nhận định của bà Borton, hay bất cứ một ai có những lập luận tương tự, có lẽ đã phát xuất từ mặc cảm tự ti–là chỉ có người sống trong nước Việt Nam mới có quyền “sở hữu chủ” ngôn ngữ và văn hóa Việt. Đây là một phán xét hồ đồ và gây chia rẽ không cần thiết. Nếu chỉ chú tâm vào vấn đề thực tế, nhất là trong thời kỳ văn chương Việt cần được phổ biến rộng rãi hơn qua những dự án dịch sang tiếng Anh, thì lời tuyên bố của bà Borton sẽ khó khuyến khích những dịch giả Việt ở Hoa Kỳ thông thạo tiếng Anh muốn giúp bà ta dịch văn chương Việt sang tiếng Anh sau này.

Hơn nữa, tôi cũng có thể nói ngược lại, là những dịch giả người Việt hiện đang sinh sống ở Việt Nam, nếu họ có thể dịch văn chương Việt sang tiếng Anh, cũng khó dịch nhuyễn như một số dịch giả có khả năng song ngữ vẹn toàn hiện đang ở Mỹ. Vào đầu năm 2007, ngoài chuyện dịch thuật và biên tập thường xuyên cho tạp chí mạng Da Màu, tôi đã nhận việc làm dịch giả và biên tập viên cho Hội Trao Đổi Văn Chương Ái Nhĩ Lan (The Ireland Literary Exchange), duyệt bản dịch của sáu chương đầu trong tiểu thuyết Exile (Tha Hương) của nhà văn Ái Nhĩ Lan Pádraic Ó Conaire từ bản tiếng Anh sang tiếng Việt. Bản dịch này được gửi sang Ái Nhĩ Lan từ một nhà xuất bản Việt Nam, dùng như đơn thỉnh cầu xin phép tác quyền và trợ cấp từ Hội Văn Chương Ái Nhĩ Lan để dịch toàn bộ tiểu thuyết này sang tiếng Việt. Tôi được Hội tuyển làm người đọc và biên tập sáu chương đầu của tiểu thuyết này qua một quá trình “mù” có nghĩa là, để duy trì tư cách hoàn toàn vô tư trong quá trình lựa chọn những đơn thỉnh cầu từ những nước muốn phổ biến văn chương Ái Nhĩ Lan, tôi liệt kê những chỗ người dịch đã dịch sai, hay không hiểu rõ nghĩa—phần nhiều vì người dịch, do sinh sống ở Việt Nam, không hiểu được những đặc ngữ tiêu biểu trong tiếng Anh. Tôi cũng viết xuống lời bàn để những chỗ dịch sai nên được tu sửa như thế nào trong tiếng Việt. Đồng thời, tôi cũng khuyến khích Hội chấp thuận việc cho tác quyền và trợ cấp dịch cho nhà xuất bản này, vì tôi thấy tương đối bản dịch không đến nỗi. Độ hơn một năm sau, tôi được Hội Trao Đổi Văn Chương Ái Nhĩ Lan gửi cho quyển Tha Hương, đã hội nhập những đề nghị tu sửa và biên tập của tôi, dịch bởi dịch giả tên Thanh Vân, và xuất bản bởi nhà xuất bản Phụ Nữ ở Việt Nam.

Cho nên, những điều mà bà Borton nói trong bài phỏng vấn với KUCI Podcast, tuy tôi biết bà ta không ám chỉ tôi, vì ngoài tôi còn có những dịch giả Mỹ gốc Việt khác đã tham dự vào dự án Nàng Thơ Ngạo Mạn (cho dù tên họ có thể không ở trong sách đã xuất bản) dù sao vẫn là một nhận xét hoàn toàn sai lầm về những dịch giả Việt ở hải ngoại nói chung. Tôi chỉ có thể gọi cách nhận xét đó là cant, một cách tuyên truyền máy móc và đã thành nếp của nhóm văn hóa chính quyền ở Việt Nam, tô điểm cho “chính nghĩa” dịch của thi tập.

Nguyễn Tà Cúc: Theo chỗ chị biết thì những bài thơ này được chọn như thế nào?

vietnamese feminist cover

Tranh phụ nữ Việt Nam trên bìa quyển The Defiant Muse

Đinh Từ Bích Thúy: Dự án Nàng Thơ Ngạo Mạn, từ lúc khởi sự cho đến lúc hoàn tất hết những vấn đề biên tập, chỉ bao gồm trong 8 tháng, từ mùa xuân năm 2006 tới khoảng gần cuối năm đó. Tôi và bà Collins được bà Borton nhờ dịch khoảng 10 bài thơ của những nhà thơ nữ hiện đại, tuyển chọn từ một thi tập đã in từ trước, là quyển Tuyển Thơ Tác Giả Nữ Việt Nam (NXB Phụ Nữ, 2000) nhưng lần này được xuất bản như một tác phẩm song ngữ để phổ biến trong nước và ngoài nước, nhất là, theo lời bà Borton, để đến tay những học giả ngoại quốc muốn tìm hiểu về thi ca Việt Nam từ cổ chí kim. Dưới đây là danh sách những bài thơ bà Borton đã gửi đến cho tôi và bà Collins vào khoảng tháng Tư năm 2006:

Sắc Không – Lê thị Ỷ Lan

Khúc Hát Hái Sen – Ngô Chi Lan

Đi Trong Tuổi Nhỏ – Nhã Ca

Hai Sắc Hoa Ti-Gôn T.T.K.H

Cát Làng Tôi – Lê thị Mây

Chồng Chị, Chồng Em – Đoàn thị Lam Luyến

Một Mình Khâu Những Lặng Im – Hoàng Việt Hằng

Vu Quy – Trần thị Tuệ Mai

Đi Lễ Chùa – Dư thị Hoàn

Nguyện Ước – Ý Nhi

Khoảng Trời, Hố Bom – Lâm thị Mỹ Dạ (đã xuất bản từ trước trong quyển Cốm Non, sau này rút ra khỏi Nàng Thơ Ngạo Mạn vì nhà xuất bản muốn thay thế vào một bài thơ khác chưa xuất bản của LTMD)

**[Có hai bài: Tổ Làm Đường dưới Núi Ngọc Mỹ Nhân của Trần thị Mỹ Ngọc, và bài Mùa Cau Không Hái của Nghiêm thị Hằng, bà Borton có đề cập trong list gửi lại sau đó, và hình như được bà Collins dịch riêng (không dịch cùng với tôi, vì tôi không “cảm” được hai bài này), thì sau đó cũng được bà Borton dịch lại]

Vì không ở Việt Nam, và cũng được mời tương đối trễ, tôi và bà Collins không có sự lựa chọn cho phần lớn những bài thơ được bà Borton gửi đến nhờ dịch. Tôi nhớ là khi bà Borton nói dự án sẽ bao gồm những nhà thơ của miền Nam, tôi đã yêu cầu được dịch thơ của hai nhà thơ nữ miền Nam. Trong danh sách bà Borton gửi đến thì quả có một bài thơ của Nhã Ca. Ngoài ra, trừ bài “Sắc Không” của Lê Thị Ỷ Lan sáng tác đầu thế kỷ 12, Khúc Hát Hái Sen (thế kỷ 15) và “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” của T.T.K.H. là thơ tiền chiến, phần lớn những bài thơ tôi và Collins được yêu cầu dịch là của các nhà thơ nữ hiện đại trong nước.

Về sau, sau khi đã dịch và gửi những bản dịch cho bà Borton, chúng tôi mới biết ở phút chót—vì chúng tôi không hề được tham khảo, rằng bà Borton đã dịch lại gần nửa những bài thơ nhờ chúng tôi dịch từ trước, như bài "Khúc Hát Hái Sen" của Ngô Chi Lan, bài “Cát Làng Tôi” của Lê thị Mây, bài “Chồng Chị, Chồng Em” của Đoàn thị Lam Luyến, và bài “Một Mình Khâu Những Lặng Im” của Hoàng Việt Hằng. Bản dịch của bài “Sắc Không” bị coi là “đi quá xa” với nguyên bản, cho nên đã được bà Borton nhờ một dịch giả khác, ông Xuân Oánh, dịch lại. Khi chúng tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi tại sao bà Borton không báo cho chúng tôi biết trước khi bản thảo được gửi đi in ở Nữu Ước, để chúng tôi có dịp tu sửa và thảo luận thêm—vì dù sao chúng tôi đã chịu trách nhiệm là người dịch—thì lúc đó bà Borton thuật lại rằng bà Florence Howe, nhà giám đốc và người thành lập nhà xuất bản Feminist Press ở Nữu Ước, thấy cách chúng tôi dịch là chưa “chỉnh” nhưng không nêu ra lý do, cho nên vì thời gian cấp bách, và vì “trong quá khứ chúng tôi đã phản đối quyết liệt về chuyện bị biên tập trên bản dịch,” nên bà Borton đã phải lo dịch lại những bài thơ này mà không có dịp báo lại cho chúng tôi. Dĩ nhiên, chúng tôi hơi “bàng hoàng” về lời giải thích này, vì chúng tôi nghĩ mình đã làm việc rất đắc lực với ban chủ biên và nhà xuất bản và hoàn toàn không phải là những dịch giả “diva” khó khăn hay nhiều yêu sách. Trong suốt quá trình dịch, chúng tôi cũng chưa bao giờ bác bỏ những lời đề nghị xây dựng của đồng nghiệp hay chủ biên. Chúng tôi chỉ biết kết luận rằng đây có vẻ như cách dựng chuyện sau khi mọi sự đã an bài.

(Đồng thời, chúng tôi cũng được bà Borton cho biết rằng bài thơ “Đi Trong Tuổi Nhỏ” của bà Nhã Ca mà chúng tôi đã dịch sẽ không xuất hiện trong thi tập, vì bài thơ này đã được chính bà Nhã Ca yêu cầu rút ra khỏi thi tập trước khi bản thảo được gửi đi in.)

lady borton portrait 

Bà Lady Borton

Bà Borton nói đại cương bà rất tiếc về chuyện này, và cho biết chúng tôi có toàn quyền xuất bản những bài thơ đã dịch nhưng không được tuyển vào thi tập ở bất cứ tạp chí văn chương nào do chúng tôi chọn lựa, khoảng một năm sau khi Nàng Thơ Ngạo Mạn ra mắt. Bà Borton cũng kết luận “tôi nghĩ đây là một giải pháp công bằng.” Dĩ nhiên, ngoài việc bị sốc và thất vọng về cách cư xử của bà Borton, người mà từ trước tôi vẫn kính trọng, tôi cũng phản đối chuyện phải chờ sau một năm để xuất bản những bài thơ bị loại vì điều khoản này không có trong bản hợp đồng tác quyền mà tôi ký với Feminist Press và nhà xuất bản Phụ Nữ. Tóm lại, tôi vô cùng ngạc nhiên và thất vọng.

Nguyễn Tà Cúc: Sau kinh nghiệm này, chị nghĩ sao? Ý tôi muốn hỏi ở đây là tôi không tin những cơ quan thuộc chính quyền Việt Nam bây giờ, như Nhà xuất bản Phụ Nữ tránh được sự kiểm soát của họ. Sau nữa, khoảng cách chính trị giữa họ và chúng ta quá lớn để mà có thể san bằng với nghệ thuật. Bằng cớ là cuốn The Defiant Muse: Vietnamese Feminist Poems from Antiquity to the Present này đây, một cuốn mà chị phải mệnh danh là Nữ Quyền Dép Râu đã hoàn toàn chỉ là tuyển tập thơ của chưa tới một nửa nước. Họ có muốn chối cãi thế nào cũng chẳng thể được, nhất là với những người sinh trưởng hoàn toàn trong môi trường tự do như các chị.

Đinh Từ Bích Thúy: Như đã nói ở trên, tôi vô cùng thất vọng vì đã thấy mình đã cả tin. Tôi vẫn tưởng những người làm nghệ thuật phải có cái nhìn công bằng của lý trí để giúp họ vượt qua những vấn đế khác biệt, như chính trị, tôn giáo, v.v… Sống và lớn lên trong môi trường đa hóa, tôi vẫn hoàn toàn tin vào điều đó, nhưng chắc từ nay tôi sẽ phải cẩn thận hơn, vì nếu không người khác sẽ tiếp tục lợi dụng mình trong lúc điềm nhiên rêu rao cái “chính nghĩa” của họ mà không hề nhìn nhận những mâu thuẫn hay bóp méo sự thật!

Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với nhận xét trong câu hỏi trên của chị. Nếu theo một định nghĩa khoáng đạt và nhân bản về văn chương Việt Nam, thì “Vietnamese Feminist Poems” cũng cần bao gồm những nhà thơ nữ của miền Nam trước đây, vì họ cũng là người Việt, sáng tác trong cùng một truyền thống, văn hóa và ngôn ngữ Việt. Như tôi đã nhận định sau đây trong bài Nữ Quyền Dép Râu:

"Đa số những nhà thơ phụ nữ trong Nàng Thơ Ngạo Mạn đã tham gia vào cuôc chiến “chống Mỹ cứu nước” hoặc sinh ra ở Việt Nam sau 1975. Chỉ có một nhà thơ (Trần Mộng Tú) và hai dịch giả (Rebekah Linh Collins và Đinh Từ Bích Thúy) trong tuyển tập Nàng Thơ Ngạo Mạn được coi như thuộc về thế hệ miền Nam trước 1975 và hiện nay đang sinh sống ở Hoa Kỳ. Không kể những bài ca dao, thơ cổ và những bài thơ Tiền Chiến tương đối quen thuộc với độc giả thấm nhuần văn hóa Việt, văn chương và tiếng nói của phụ nữ thuộc thành phần “chế độ Mỹ Ngụy” 1954-1975 hoàn toàn vắng bóng trong tuyển tập. Có thể những nhà thơ phụ nữ của miền Nam trước đây đã từ chối không tham dự vào tuyển tập, hay có thể những di tích thi văn của họ đã bị tịch thu và tiêu hủy từ hơn 30 năm trước, khi miền Bắc thắng trận và mở chiến dịch tẩy chay và bắt bớ những “biệt kích văn hóa của chế độ ngụy.” Vì tang chứng của nền văn hóa này đã tiêu tán, nó không thể tái sinh trong Nàng Thơ Ngạo Mạn—một tuyển tập về thi ca Việt Nam trên nguyên tắc không có biên giới ‘nội,’ ‘ngoại,’ ‘Bắc,’ ‘Nam,’ ‘Cộng sản,’ ‘Quốc gia.’”

Nguyễn Tà Cúc: Trong một cuộc hội họp với một số nhà văn và sử gia Hoa Kỳ cách đây khoảng hơn 20 năm, bà Borton đã góp ý rằng “lý do thực sự của làn một triệu dân tỵ nạn Đông dương không phải vì sự thiết lập của chính quyền cộng sản mà vì ‘sự hết sức nghiêm ngặt của chính sách đối ngoại’( của Hoa Kỳ) tiếp theo sau sự thiết lập đó. Hơn thế nữa, bà Borton còn góp ý một cách rất sỗ sàng rằng “Khi cắt hết mọi viện trợ cho (Nam) Việt Nam vào tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ cũng “ vô hiệu hóa xe Honda (của dân Miền Nam) và đưa dân Sài gòn lùi lại thời đại của xe đạp’. Bởi thế mà họ bỏ chạy…”[1] Chị nghĩ sao về hiện tượng những người có thứ thành kiến như thế lại có thể lọt vào một vị trí rất khôi hài là nhân danh Thơ của Phụ nữ Việt Nam để quảng cáo cho Nữ Quyền Dép Râu (mượn lời của chị)?

 Đinh Từ Bích Thúy: Thưa chị, tôi chỉ có một giải thích duy nhất, kẻ thắng trận, nhất là một kẻ thắng trận qua chiến lược xâm lăng và những xuyên tạc sự thật, thường lúc nào cũng phải chứng minh cái “chính nghĩa” của mình. Dĩ nhiên, bà Borton không thể chấp nhận chuyện người miền Nam bỏ nước ra đi vì chống chế độ Cộng Sản, vì chuyện này sẽ làm lung lạc “chính nghĩa” của người Cộng sản, cho nên bà đã định nghĩa chuyến ra đi này qua lý do kinh tế, người miển Nam, vì lệ thuộc vào ngoại bang, không quen được cách sống độc lập nhưng khắc khổ của “các anh hùng cách mạng,” đã liều thân vượt biển. Nhưng tôi thấy chuyện bóp méo sự thật qua những đưa đẩy thức thời, sẽ chính là chuyện “gậy ông đập lưng ông.” Cũng trong quyển Reading the Wind-The Literature of the Vietnam War của ông Timothy Lomperis mà chị đề cập ở trên, trong chương “Truth: Whither Goest Thou?,” bà Borton tuyên bố:

Tôi đã trải nghiệm mọi khía cạnh của cuộc chiến [Việt Nam], nhất là từ cái nhìn của người Việt Nam, và điều tôi  thấy rõ ràng nhất … là ngôn ngữ tình cảm đã vắng bóng trong buổi hội thảo …. Đối với tôi, tôi thực sự muốn khóc, dù tôi không phải là người hay khóc. Khóc cho nhóm người Việt Nam đặc thù, không phải cho một tập thể mờ mịt  … bất kể từ phe nào hay tội lỗi chiến tranh là ở ai ….” (From having been around on all the different sides of it  and particularly more on the Vietnamese perspective on it …  I am so struck by the absence of the word feelings in this conference.  At least for me, the feeling was one of weeping, and I’m not a crier. It was weeping for individual people, and not for a mass … regardless of which side they were on and where the blame for war should lie) (trang 91, sđd).

Nếu bà Borton đã thực sự muốn khóc “cho nhóm người Việt Nam đặc thù” (individual Vietnamese people) thì tại sao bà lại kết luận, trong cùng một quyển sách, rằng nguyên nhân sự bỏ nước ra đi của những người Việt tị nạn miền Nam cũng chỉ vỏn vẹn từ chuyện họ “đã bị tước đi chiếc xe Honda, và bây giờ phải trở lại thời kỳ đi xe đạp?”

sensing the enemy cover Trong Hồi Ký Sensing the Enemy (Nhận Diện Kẻ Thù)),[2] bà Borton công nhận rằng, trong sáu tháng trời vào đầu thập niên 1980, khi bà làm việc thiện nguyện cho trại tị nạn Pulau Bidong, hơn 10,000 thuyền nhân đã táp vào bờ biển Mã Lai. Trước đó, từ năm 1978 đến đầu năm 1980, đã có hơn 65,000 thuyền nhân, trên 692 ghe nhỏ, ghé vào trại. (Sensing the Enemy, tr. 20.) Nhiều người trong số này có người thân bị hải tặc hành hung, hãm hiếp, cướp bóc, giết chết trên biển cả. Trong suốt một quyển sách, mà tựa đề là Nhận Diện Kẻ Thù, bà Borton không hề hỏi câu hỏi chính, tại sao hàng ngàn người Việt lại có thể bỏ nhà, bỏ đất ra đi, không màng chuyện chết chóc trên biển cả? Vì không hỏi câu hỏi này, tôi thấy bà Borton, cho dù bà ta đã có lòng giúp đỡ người tị nạn, cho dù đã viết cả một quyển hồi ký, đã không cho họ một sự nể trọng xứng đáng với những đau đớn và khổ đau của họ, và vì vậy, tôi thấy dưới cái nhìn của bà Borton, người miền Nam vẫn chưa có diện mạo đặc thù, họ vẫn bị coi là “quỷ,” là “kẻ thù.” Có thể nói, nỗi đau của con người mất nhà, mất nước, nếu không được phân tích, định nghĩa từ một người đồng loại, vẫn chỉ là nỗi đau của loài thú. Đó là sự bất công lớn lao nhất, nỗi hẹp hòi ác nghiệt nhất, mà bà Borton đã để lại trong tâm trạng người đọc quyển Sensing the Enemy. “Kẻ thù,” trong suốt quyển sách, không bao giờ được bà coi là những người vì khao khát tự do mà đã lìa bỏ chế độ độc tài của Cộng Sản. Nếu bà Borton tin chắc nịch vào lý thuyết của kẻ thắng trận, và hoàn toàn thành thật về điều này, thì không sao. Nhưng bà ta đã không thành thật, và đã thay đổi quan điểm tùy thời, lúc thì tuyên truyền cho chế độ, lúc thì ra vẻ thương hại, muốn cứu giúp “kẻ thù.” Nếu bà Borton không coi mình là một con người đạo đức giả, thì những tuyên bố mâu thuẫn của bà vẫn có thể cho người khác hiểu rằng lý thuyết của người Cộng sản đã có phần nào không ổn thỏa.

Nguyễn Tà Cúc: Tôi có đọc hầu hết những tác phẩm của bà Borton và tôi không ngạc nhiên chút nào về cuốn Sensing the Enemy. Tôi tôn trọng quyền chọn lựa của bà Borton, là tôn sùng những người như ông Hồ và ủng hộ Miền Bắc tiến chiếm Miền Nam sau khi đã Cộng sản hoá Miền Bắc, tôi chỉ tiếc cho dân tộc chúng ta là vì cái vận nước có lúc tối tăm, văn chương của chúng ta đã bị lợi dụng một cách trơ trẽn và tệ mạt, điển hình là trường hợp này. Tôi quả thực không tin bà Borton có thể bào chữa về những sai lầm quá căn bản mà bà ta đã phô ra, cũng như hai bà đồng biên soạn người Việt ở Hà Nội cũng không thể nào giải nghĩa được cho những sai lầm đó mà tránh được câu hỏi của độc giả rằng, hay là chính bản thân hai bà người Việt này cũng thiếu sót những kiến thức căn bản như thế về văn hoá Việt? Nếu quả thật như thế thì còn đáng đau buồn hơn nữa. Ngoài ra, chính vì tôi đã biết quá rõ bà Borton cho nên tôi càng không có ảo tưởng gì về một sự công bằng trong việc chọn lựa tác giả. Như trường hợp bà Trần Mộng Tú. Bà Tú là người duy nhất ở ngoài nước có bài (như chị đã nhắc) nhưng đó không có gì là lạ: Từ đầu năm 2009, bà Tú đã có truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn Nghệ (của Hội Nhà Văn Việt Nam) mà tiêu chỉ đăng ngay trên trang bìa là “Vì Tổ quốc, Vì Chủ nghĩa Xã hội”, cho nên việc họ chọn bà Tú phải coi là một chuyện đương nhiên. Vấn đề bây giờ là chính những người như bà Tú sẽ phản ứng như thế nào? Không ai trách người đã “giao duyên lầm tướng cướp” nhưng sau khi khám phá ra, họ sẽ làm gì?! Bởi thế đó là lý do tôi đã liên lạc và ngỏ ý phỏng vấn chị vì chị, tuy là một dịch giả cộng tác với họ, chị đã có sự can đảm và tự trọng mà viết bài Nữ Quyền Dép Râu để trình bày cảm tưởng sau khi cuốn này xuất hiện.

Sau nữa, tôi rất thông cảm và chia sẻ sự thất vọng của một người trẻ hơn như chị. Quả thực, nói chung, đôi lúc chính tôi cũng có những cảm tưởng tương tự khi bắt gặp những sự việc không văn chương tý nào với những người tự nhận thuộc văn giới. Nhưng tôi tin vào sự thực: Sự Thực sẽ phơi bầy nếu không bây giờ thì sẽ mai sau, chỉ cần là chúng ta làm việc chăm chỉ và thành thực. Không có xã hội nào có thể tồn tại nếu không có căn bản là sự thực. Nếu chị và độc giả cho phép, tôi sẽ xin được nói rằng cái “xã hội văn chương Việt nam Biển–ngoài” xây dựng được bao lâu nay ở tình cảnh xa xứ muôn vàn khó khăn là nhờ Sự Thực mà những gì giả trá không thể tồn tại được. Từ những “hồi ký” bịa đặt cho đến những “công trình phê bình” man trá vv… đều đã bị đặt dấu hỏi rồi bị sàng lọc và đã hay sẽ tự đào thải.

Trong tinh thần ấy, tôi chúc chị và những người trẻ như chị tiếp tục con đường Văn chương của Sự Thực.


[1] “Lady Borton suggested that the real reason for the flow of one million refugees from Indochina was not the establishment of communist regimes but the ‘ very astringent American foreign policy’ that follow their establishment. In cutting off all aid to Vietnam on April 30, 1975, the United States, ‘cut off their Hondas and put the Saigonese back to the age of the bicycle.’ So they fled.” [Timothy J. Lomperis,"The Keynote: “Artistic Resolution, Societal Resolution.” Đoạn này trích trong cuốn “‘Reading the Wind’: The Literature of the Vietnam War: an Interpretative Critique” thu thập từ cuộc hội thảo “Asia Society, May 7-9, 1985” của cùng tác giả và đồng tác giả John Clark Pratt, NXB Duke University Press, 1987, trang 20)]. Những chữ trong ngoặc đơn là của Nguyễn Tà Cúc.

[2] Lady Borton, Sensing the Enemy (nxb Double Day: 1984).

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc & Đinh Từ Bích Thúy


1 bình luận »

  • Phùng Nguyễn viết:

    Trích Nguyễn Tà Cúc:

    Như trường hợp bà Trần Mộng Tú. Bà Tú là người duy nhất ở ngoài nước có bài (như chị đã nhắc) nhưng đó không có gì là lạ: Từ đầu năm 2009, bà Tú đã có truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn Nghệ (của Hội Nhà Văn Việt Nam) mà tiêu chỉ đăng ngay trên trang bìa là “Vì Tổ quốc, Vì Chủ nghĩa Xã hội”, cho nên việc họ chọn bà Tú phải coi là một chuyện đương nhiên. Vấn đề bây giờ là chính những người như bà Tú sẽ phản ứng như thế nào? Không ai trách người đã “giao duyên lầm tướng cướp” nhưng sau khi khám phá ra, họ sẽ làm gì?!

    PN:
    Sau khi khám phá ra đã “giao duyên lầm tướng cướp,” lẽ ra Trần Mộng Tú phải lập chính phủ lưu vong để lật đổ chế độ cs Hà nội. Hoặc ít nhất phải vui vẻ đội nón cối gởi đến từ phố Bolsa mỗi khi ra đường.

    Bài phỏng vấn lẽ ra giữ được giá trị của nó nếu không có phần quốc doanh bán kèm này.

    PN

    [ Xin xem phản hồi của Nguyễn Tà Cúc ở đây: http://damau.org/archives/6069 ]

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)