Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Kiểm Duyệt Văn Hóa Nghệ Thuật, Nhận Định, Tư Liệu Email bài này

Chế độ kiểm duyệt tại Việt Nam

 

Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, chế độ kiểm duyệt văn hóa phẩm chỉ có ở miền Nam, miền Bắc không có kiểm duyệt.
Nhìn chung trên thế giới, một số quốc gia có chế độ kiểm duyệt đều thuộc “thế giới tự do”, các quốc gia cộng sản trước đây và bây giờ không có kiểm duyệt.

Lý do giản dị: khi một chính quyền lựa chọn đặt đất nước mà mình cai trị trên một nền tảng tự do thì một cách mặc nhiên chấp nhận có sự đa nguyên trong xã hội, chấp nhận có nhiều ý kiến khác nhau, chấp nhận có đối lập. Với tiền đề ấy, tùy theo từng nhu cầu giai đoạn, một chính quyền có thể thiết lập chế độ kiểm duyệt đến một mức độ nào đó, để tự bảo vệ mình, hoặc bảo vệ một chính sách nào đó mà mình đang theo đuổi. Chế độ kiểm duyệt, trong trường hợp này, như những người lính canh cửa đề phòng sự đột nhập của kẻ gian vì tình hình không được an ninh. Khi tình hình khá hơn, có thể đổi khác. Ðó là biện pháp phòng ngừa có tính cách chiến thuật, áp dụng trong một giai đoạn thôi. Khi không cần nữa thì để cho cái nền tự do được lộ diện.

Nước ta bắt đầu biết đến sự kiểm duyệt khi nghề báo và nghề xuất bản được người Pháp mang vào từ khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Báo chí xứ Nam Kỳ bằng quốc ngữ xuất hiện trước tiên, hầu như chẳng có kiểm duyệt, vì Nam Kỳ là thuộc địa Pháp có luật lệ về ngôn luận khá tự do, vả lại những tờ báo đầu tiên ở Nam Kỳ đều đo người Pháp sáng lập, giao cho người mình làm. Nhưng khi làng báo Việt Nam dần dần trưởng thành từ thập niên 1920 trở về sau, khi người cầm bút Việt Nam bắt đầu ý thức sự lợi hại của ngôn luận báo giới và dùng nó như vũ khí đấu tranh với chính quyền thực dân thì sự kiểm duyệt mới thành rõ rệt. Tờ Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Huế, tờ Phong Hóa rồi Ngày Nay của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn ở Hà Nội trở thành “khách hàng” thường trực của Sở Kiểm Duyệt thuộc chính quyền thực dân. Tuy nhiên, trong một mức độ nào đó, tiếng nói phản kháng của những tờ báo đấu tranh thời ấy vẫn có thể cất lên được, nếu đề tài không “chạm nọc” lắm, hoặc cách trình bày khéo léo khiến người ta không bắt bẻ được. Kiểm duyệt, như thế, được coi là văn minh, phần nào vẫn tôn trọng cái quyền được phát biểu của người khác.

 

kiemduyet -ta ky kiemduyet

hình bìa và một trang bị kiểm duyệt trong bản thảo
tập thơ Giòng Mắt Em Xanh của Tạ Ký, 1961.

Ðến giai đoạn đất nước chia hai, bắc nam theo hai chế độ khác nhau thì miền Bắc không có kiểm duyệt, miền Nam có cơ quan kiểm duyệt báo chí, ấn phẩm thuộc bộ Thông Tin. Thời Ðệ nhất Cộng Hòa báo chí ngoan ngoãn, hầu như không có trường hợp chỉ trích chính quyền trừ tờ Thời Luận của ông Nghiêm Xuân Thiện trong thời gian đầu, sau bị chính quyền bóp chết, hoặc thủ đoạn chèn ép phát hành của chính quyền đối với tạp chí Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh khiến báo phải tự đóng cửa. Ðây là giai đoạn báo chí của “thời bình”, ít khi sở kiểm duyệt của chính quyền phải ra tay. Về sách thì trước khi xuất bản bắt buộc phải qua kiểm duyệt, có giấy phép rồi mới được in và phát hành.

Ðến thời Ðệ nhị Cộng Hòa thì xã hội tự do hơn, tiếng nói đối lập được công khai và mạnh mẽ hơn, và như một hệ quả tự nhiên, sự can thiệp của chính quyền vào báo chí cũng thường xuyên và thô bạo hơn. Xứ sở đang chiến tranh ngày càng khốc liệt với phe cộng sản, một cuộc chiến toàn diện mà phần tuyên truyền được đặt rất nặng không thua gì mặt quân sự. Dĩ nhiên chính quyền phải ngó chừng phía báo chí rất nhiều, phải hạn chế những chỉ trích chính quyền mà theo họ nghĩ, sẽ làm lợi cho đối phương. Rõ rệt hơn cả là hiện tượng “tự ý đục bỏ” trên các tờ nhật báo. Khi bạn mua một tờ báo ngày bỗng thấy có những khoảng trắng trên trang báo với một dòng chữ “tự ý đục bỏ” chạy ở giữa, thì bạn hiểu bài đó, hay đoạn đó đã bị kiểm duyệt bắt buộc phải bỏ đi. Bị bắt buộc, nhưng phải khẳng định bằng một dòng rằng đó là do mình tự ý muốn thế, đó là nét khôi hài lẫn chua chát của kiểm duyệt thời ấy.

(Tưởng cũng nên giải thích về chữ “đục bỏ” để những người trẻ bây giờ có thể hiểu tiếng ấy nghĩa là gì. Thời ấy nghề in còn theo phương pháp dùng những mẫu tự đúc rời bằng chì để xếp thành bài, mỗi bài là một khối những thanh chì xếp lại với nhau, rồi những khối ấy lại được xếp vào một cái khung chung tức khuôn khổ tờ báo- để làm thành một trang báo. Người ta lăn mực lên mặt khuôn chữ và đặt một tờ giấy lên trên rồi vỗ vỗ xuống để có bản in thử, những “thầy cò” đọc bản vỗ này để sửa lỗi. Ðối với nhật báo, sau khi thợ sắp chữ dựa trên những ghi chú của thầy cò mà sửa xong lỗi, thì người ta sẽ in một bản để nộp kiểm duyệt. Khi báo đã lên khuôn như thế mà bị kiểm duyệt phải bỏ một bài hay một một đoạn thì chỉ còn cách đục bỏ lớp mặt chữ bằng kim loại của bài ấy đi, chứ không thể tháo cả khuôn chữ ra xếp lại vì mất thì giờ lắm, nhật báo thì phải in và phát hành ngay. Kết quả, là sẽ có những khoảng trắng trên trang báo, nếu tờ báo ấy bị kiểm duyệt ra lệnh phải bỏ phần ấy).

Trong khi đó phía miền Bắc không cần chế độ kiểm duyệt báo chí sách vở, vì tất cả đều là của chính quyền, không lẽ chính quyền lại đi kiểm duyệt chính mình? Miền Bắc theo chế độ cộng sản, là một chế độ toàn trị do đảng cộng sản thâu tóm hết mọi thứ, kiểm soát hết mọi thứ, từ miếng ăn, áo mặc, việc làm, học hành, giải trí, tình cảm, đức tin, kể cả tư tưởng của con người ta… đều nhất nhất theo lệnh đảng, không một ai được bước chệch ra ngoài. Cộng sản là một chế độ sắt máu, không theo họ là bị trừ khử ngay, nên mọi người phải răm rắp tuân theo lệnh đảng, cả xã hội như một đàn cừu chỉ biết bước theo con đầu đàn. Cả cuộc sống, cả con người, từ phần xác lẫn phần hồn bị kiểm soát chặt chẽ chứ không phải là kiểm duyệt nữa. Nhân Văn Giai Phẩm là một trường hợp đau thương của những văn nghệ sĩ muốn có tự do trong sáng tạo, họ bị đàn áp tàn khốc, bị đẩy vào chỗ tàn phế suốt đời. Ðảng dành lấy quyền sản xuất mọi thức ăn tinh thần cho xã hội, báo chí, sách vở, văn nghệ… bắt buộc đều do tay sai của đảng thực hiện, người dân chỉ còn một cái quyền là đón nhận tất cả các sản phẩm ấy không chọn lựa và không ý kiến.

Với quyền sinh sát tuyệt đối như thế, đảng cộng sản tự thấy mình hoàn toàn có quyền, không những đối với xã hội hiện tại, mà còn với những thành tựu thuộc về quá khứ dân tộc. Họ hô lên nhà Nguyễn là phản động, tức thì cả một lịch sử dài từ các chúa Nguyễn đến triều đại nhà Nguyễn đều bị lên án. Họ hô Phan Thanh Giản là kẻ bán nước, tức thì cả một giàn đồng ca các “sử gia”, nhà nghiên cứu đều hát bài Phan Thanh Giản bán nước. Họ hô Vũ Trọng Phụng là nhà văn “phản động và làm mật thám cho Tây” tức thì suốt mấy mươi năm văn giới miền Bắc im thin thít không dám nhắc đến Vũ Trọng Phụng nữa.

Cần gì ai kiểm duyệt ai nữa? Ðối với cộng sản, cách kiểm duyệt tốt nhất chính là tiêu diệt cái nguồn sản sinh ra sự chống đối lại họ. Tiêu diệt nghĩa đen, nghĩa là giết chết (xử tử, thủ tiêu), hoặc cho vào trại cải tạo vô cùng tàn khốc không có ngày về, hoặc dứt hết khả năng sinh sống, hoặc nhẹ hơn, cấm dứt khoát không cho sáng tác nữa, châm chế lắm bài có thể đăng trên báo nhưng không được ký tên mình. Làm cho tiệt nọc, biến tất cả thành bồi bút.

Như vậy, chế độ cộng sản là chế độ không có kiểm duyệt. So sánh với nó, những xã hội có kiểm duyệt hàm nghĩa rằng đó là xã hội có tự do từ căn bản.

Chế độ cộng sản trong nước ngày nay vẫn giữ nguyên đặc tính là chế độ toàn trị, ít ra trong đời sống tinh thần. Tất cả báo chí đều là của đảng. Tất cả các nhà xuất bản đều là của đảng. Tất cả phương tiện truyền thông phát thanh truyền hình đều là của đảng. Không một tiếng nói không phải đảng được chen vào. Tuyệt đối không. Và quyền sinh sát thì vẫn như xưa. Một quyển sách được xuất bản rồi, muốn thu hồi là thu hồi. Ký giả không ngoan ngoãn thì đi tù. Tiếng nói đối lập càng đi tù lẹ hơn.

Bây giờ là đầu thế kỷ 21, đảng cộng sản vẫn cai trị nước Việt Nam theo nguyên tắc bất đi bất dịch: triệt để tiêu diệt các mầm mống đối lập. Ðảng vẫn tiếp tục độc quyền uốn nắn tư tưởng của mọi người, nên mọi hoạt động trí thức đều do đảng nắm hết. Kiểm duyệt, do đó, vẫn tiếp tục không cần đặt ra.

Từ khi thôi phát triển đất nước theo phương thức xã hội chủ nghĩa cô lập và khép kín (quốc doanh, nhà nước thâu tóm hết mọi phương tiện sản xuất) để mở cửa làm ăn buôn bán với thế giới thì đảng cộng sản có cho người dân đễ thở hơn, việc biểu lộ tư tưởng tương đối tự do hơn, miễn là đừng đụng chạm tới độc quyền lãnh đạo của chế độ. Bây giờ những biện pháp độc tài thu lại để bảo vệ một khoảnh đất nhỏ nhơn, là quyền lực và quyền lợi của nhóm lãnh đạo. Ðừng chạm tới những cái ấy thì muốn sao cũng được, xã hội sa đọa, giáo dục xuống dốc, y tế lạc hậu, môi trường hư hại v.v… được hết, miễn đừng đụng chạm tới quyền lực của đảng cộng sản và quyền lợi của đám có thế có quyền.

Tuy nhiên, khái niệm “đừng đụng chạm tới quyền lực” co giãn rất bất thường và phức tạp, nên những người quyền hành hay có nhiều phản ứng không sao có thể lường trước được đối với đời sống văn hóa trong nước. Bỗng dưng triệt hạ những bức tranh đang triển lãm, hay những vụ thu hồi sách thường xảy ra khiến người ta tưởng là có chế độ kiểm duyệt, kỳ thực chỉ là kết quả của những quyết định có khi rất “sảng” của một cá nhân cao cấp nào đó.

Còn đời sống của các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại thì sao? Nói chung các cộng đồng tị nạn cư trú trong các quốc gia tự do dân chủ nên được hưởng mọi quyền tự do của dân bản xứ. Tuy nhiên, trong từng cộng đồng vẫn có những “lệ làng” có khi còn mạnh hơn “phép vua” (tức luật lệ của nước sở tại). Ðối với những bài viết, hay hình thức diễn đạt nào mà người trong cộng đồng cho là có lợi, hoặc đề cao cộng sản thì bị biểu tình chống đối. Ðây thường chỉ là những phản ứng đầy cảm tính, chẳng có cơ sở pháp lý hay văn hóa nào rõ rệt. Thường chỉ là chống đối người trong cộng đồng với nhau, trong khi ai cũng biết sách vở của chế độ cộng sản đầy ắp trong các hiệu sách trong vùng Little Saigon, và những chương trình truyền hình Việt Nam tại đây chiếu thường xuyên những sản phẩm do chế độ cộng sản tại Việt Nam sản xuất, thế mà chẳng thấy có ai nhân danh chống cộng để phản ứng cả. Thành ra “kiểm duyệt” ở đây chỉ là các phản ứng rào dậu, che chắn không cho các biểu hiện lộ liễu liên quan đến chế độ cộng sản xâm nhập thôi, cốt để có một đời sống an tâm không bị cái ám ảnh của kẻ thù xưa đến quấy rầy, thế là đủ. Còn những cách xâm nhập tinh vi thì vẫn đi vào một cách êm thắm.

Các trang mạng ngày nay có vẻ đang là lối thoát trước mọi hình thức kiểm duyệt. Nó đang là thách đố cho những chế độ độc tài kỳ cựu nhất như là Trung Quốc, Việt Nam… Trong không gian ảo ấy, người ta lo dựng lên đủ loại rào cản để tránh cái ngoại nhập, lo dọn dẹp tiếng nói tương đối tự do trên các blog ở trong nước, những hành vi rất “phản động” trước sự phát triển trí tuệ và kỹ thuật to lớn của thế giới ngày nay. Nhưng hành động ấy của những đầu óc độc tài hủ lậu chỉ như những bàn tay che mặt trời.

Chuyện còn lại là của người cầm bút. Không gì hơn là đọc lại mấy câu thơ của Phùng Quán:

Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu…

 

 

hình ảnh: hình bìa và một trang bị kiểm duyệt trong bản thảo tập thơ Giòng Mắt Em Xanh của Tạ Ký, 1961.

bài đã đăng của Phạm Xuân Đài


12 bình luận »

  • Ba Bàm viết:

    Bài viết dài, nhưng thông tin quá ít, nhận xét méo mó, cực đoan.
    Về chế độ kiểm duyệt thời trước 1975 ở miền Nam và trước 1954 trên cả nước chắc không có gì phải bàn. Về hiện trạng người Việt ở nước ngoài, nêu quá sơ sài, nhưng là bài viết về “tại Việt Nam” nên khỏi nói thêm.

    Đánh giá miền Bắc 1954-1975 và cả nước sau 1975 “không có/không cần kiểm duyệt” vì Đảng nắm tuyệt đối phương tiện truyền thông, xuất bản rồi là quá lời. Cách nói này chỉ mang hiệu quả tuyên truyền (trong ngắn hạn, với những người biết rất ít) mà không có giá trị thông tin, và không có sức thuyết phục. Dường như người viết cũng mắc một sai lầm không khác gì người cộng sản một thời trong đấu tranh tuyền truyền, nay vẫn chưa giảm mấy, gọi là “duy ý chí”. Cũng vì tác giả hiểu quá ít chế độ kiểm duyệt ở Việt Nam hàng chục năm nay (bao gồm kiểm duyệt và “tự kiểm duyệt”), lại ít đọc sách, báo trong nước với ý thức nghiên cứu, nên nội dung chủ yếu là phê phán nặng lời, không có dẫn chứng, càng kém về phần phân tích.

  • Lê Ngọc viết:

    Ý kiến của Ba Bàm và những tranh luận được đăng lên da màu đã nói lên tự do trong tranh biện. Không biết Ba bàm sinh ở nước ngoài sao mà không biết ở ngoài Bắc trước 75 có thông tin nào lọt ra bên ngoài, ngoại trừ các phóng viên báo chí phương Tây được đảng cho đến những chỗ đã được dàn dựng sẵn để tự do loan tin ra ngoài (làm sao mà dẫn chứng được!)

  • Minh Đức viết:

    Nếu hiểu kiểm duyệt là để gò tư tưởng theo ý chính quyền thì cả miền Nam và miền Bắc đều có kiểm duyệt, nhưng có sự khác nhau cả về là hình thức lẫn nội dung. Kiểm duyệt tại miền Nam xảy ra khi tác giả nộp bản thảo xin phép xuất bản và báo chí có thời phải nộp bản in thử trước khi in ra báo. Còn kiểm duyệt tại miền Bắc được thực hiện qua các biện pháp:

    1. Lọc lựa người được quyền viết, không phải ai cũng được quyền viết báo, viết văn.
    2. Người viết phải viết theo một số đề tài nào đó mà thôi theo chỉ thị,
    3. Sau khi viết bài viết được rà soát trong nội bộ của cơ quan người đó để bảo đảm không vi phạm ý của cấp trên,
    4. Rồi sau đó tác phẩm được nộp lên trên để xin phép,
    5. Sau khi đã in và phát hành, nếu ở trên thấy có vấn đề gì thì tác phẩm sẽ bị thu hồi, người viết bị trừng phạt, cơ quan của người đó cũng có thể bị trừng phạt lây.

    Đem so sánh thì kiểm duyệt ở miền Nam chỉ có ở giai đoạn 4 và 5. Đây là nói về hình thức. Còn về nội dung kiểm duyệt thì miền Nam rộng rãi hơn nhiều vì chỉ kiểm duyệt để đề phòng sự tuyên truyền cho CS. Một số bài viết đả kích chính quyền quá đáng cũng bị cấm. Nhưng về mặt tư tưởng thì miền Nam không phải gò theo một tư tưởng chủ đạo nào. Chẳng hạn, ở miền Nam người viết có thể phê phán cái xấu của chế độ tư bản, cái dở của xã hội Tây phương, và cũng có thể đề ra một học thuyết mới để xã hội noi theo. Còn tại miền Bắc thì không được quyền phê phán cái sai của chủ nghĩa CS, hay phê phán cái dở của xã hội tại các nước XHCN, phải viết trong phạm vi của tư tưởng Mác xít – Lê nin nít. Trước 1990, chế độ CS không chấp nhận các tác phẩm nói về tình yêu đương trai gái không mang tính tuyên truyền cho thuyết Mác Lê, còn tại miền Nam các tác phẩm về tình yêu trai gái không phải là đề tài bị kiểm duyệt, trừ khi quá bậy bạ, vi phạm thuần phong mỹ tục.

  • Ba Bàm viết:

    Tuyệt vời! Thiệt rành rẽ, thưa bác Minh Đức. Và chính chế độ VNCH đã thất bại một phần vì lẽ đó. Hãy nhìn vô chế độ xã hội cùng thời ở Nam Hàn, Đài Loan… Họ đã phải thi hành chế độ độc tài không cộng sản thì mới “trụ” nổi với những người cộng sản. Còn VNCH thì … ham dân chủ quá sớm khi chưa đủ điều kiện để được thụ hưởng (đó là hệ quả từ ảo tưởng của người Mỹ không chịu hiểu Á đông và văn hóa Pháp). Cho tới giờ, sống giữa xứ được coi là văn minh nhứt, họ (lớp người 1975) vẫn không khá lên mấy về nhận thức thế nào là dân chủ.

  • Minh Đức viết:

    Trích Ô. Ba Bàm viết: “Hãy nhìn vô chế độ xã hội cùng thời ở Nam Hàn, Đài Loan… Họ đã phải thi hành chế độ độc tài không cộng sản thì mới “trụ” nổi với những người cộng sản”.

    Theo như những gì đã xảy ra thì chế độ VNCH tiêu diệt vì quân đội CS từ miền Bắc vào chứ không phải do lực lượng CS tại miền Nam. Trong trận Tổng Công Kích năm Mậu Thân 1968, người dân miền Nam không nổi dậy chống chính quyền như những nhà lãnh đạo miền Bắc tưởng. Như vậy là hiệu quả của truyên truyền của CS có giới hạn, chỉ có một thiểu số người là nghe theo CS mà thôi. Sau vụ Mậu Thân, chính quyền miền Nam dám đem 300 ngàn khẩu súng phát cho Nhân Dân Tự Vệ đem cất ở nhà mà không sợ những người này nghe theo lời CS xúi dùng súng chống lại chính quyền. Như vậy cũng chứng tỏ phần lớn dân miền Nam không tin vào tuyên truyền của CS dù CS lợi dụng miền Nam có tự do để hoạt động. Chỉ đến khi đoàn quân với xe tăng, đại bác kéo từ miền Bắc vào đánh thì miền Nam mới bị mất. Mà quân đội ở miền Bắc là do chính quyền miền Bắc cưỡng bách thanh niên phải đi, dù họ có tin theo CS thì họ cũng phải gia nhập bộ đội, điều này không dính dáng gì đến việc vì xã hội miền Nam có tự do cả. Như vậy miền Nam không bị mất vì CS lợi dụng tự do mà tuyên truyền. Nếu miền Nam còn nhận được viện trợ súng đạn của Mỹ thì còn đủ khả năng ngăn chận CS.

  • Vũ Ban viết:

    Tôi thích thú đọc bài viết khá hay và xúc tích của tác giả Phạm Xuân Ðài về Chế độ kiểm duyệt tại Việt Nam nhưng rất lấy làm ngạc nhiên trước những lời bình luận của ông Ba Bàm. Tôi không biết ông Ba Bàm là một độc giả ở hải ngoại hay ở trong nước. Nếu ông ở hải ngoại thì tôi cho ông là quá ngây thơ, nếu ông ở trong nước thì tôi cho ông là quá tội nghiệp. Những nhận định có tính cách bào chữa cho chế độ Cộng Sản của ông cho thấy một là ông không biết gì về chế độ Cộng Sản, hai là ông đích thực là nạn nhân của cái chế độ ấy!
    Chế độ Cộng Sản thực chất là một chế độ độc tài toàn trị. Ðảng nắm và kiểm soát mọi phương tiện truyền thông. Ðiều này là một sự thực rõ ràng, không phải là một nhận định “quá lời” như ông Ba Bàm nói. Nhưng rất có thể là những người ở trong nước họ không thấy rõ như thế. Ðã quen sống dưới chế độ ấy từ khi chào đời họ thấy tất cả đều bình thường, không được hít thở không khí hoàn toàn tự do dân chủ là điều bình thường, do đấy mà họ dễ bị dị ứng trước những lập luận có tính cách chống cộng mà họ cho là một hình thức tuyên truyền không có sức thuyết phục. Ðối thoại với họ về những vấn đề tự do, dân chủ nhiều khi rất khó, vì họ hiểu những từ này một cách khác biệt chúng ta, sự hiểu biết của họ dù muốn dù không cũng bị ảnh hưởng nặng bởi môi trường sống, nghĩa là môi trường cộng sản áp đặt.
    Trong môt bình luận khác của ông Ba Bàm, ông viết: “Cho đến giờ, sống giữa xứ được coi như văn minh nhất, họ(lớp người 1975) vẫn không khá lên mấy về nhận thức thế nào là dân chủ?”. Thưa ông Ba Bàm, tôi thuộc lớp người 1975 mà ông nói đến. Tôi không biết nhận thức về dân chủ của ông ra sao chứ nhận thức của tôi về dân chủ thì rõ ràng lắm: “Dân chủ phải đi đôi với đối lập. Cộng sản không chấp nhận đối lập thì không thể có dân chủ. Chừng nào cộng sản không chấp nhận chế độ đa đảng có đối lập ở Việt Nam thì chừng đó dân chủ chỉ là cái bánh vẽ”.

  • Minh Đức viết:

    Trích: “Không một ai được bước chệch ra ngoài. Cộng sản là một chế độ sắt máu, không theo họ là bị trừ khử ngay.”

    Câu trên cho thấy rằng tại miền Bắc ai không chịu nghe lời đảng CS và nhà nước thì bị trừ khử ngay. Việc trừ khử là sự trừng phạt cho các nhà văn, nhà báo đi ra ngoài đường lối của đảng CS. Thế thì tự câu này đã công nhận là ở miền Bắc có sự kiểm duyệt vì kiểm duyệt là chính quyền bắt mọi người phải viết theo khuôn khổ của nhà nước, nếu ai không nghe theo thì bị trừng phạt. Việc kiểm duyệt của đảng CS không phải chỉ ở trong phạm vi miền Bắc, mà còn vươn cánh tay ra đến miền Nam nữa. Trước 1975, một số ký giả miền Nam bị đặc công CS ám sát. Điển hình là ký giả Từ Chung, chủ bút (tổng biên tập) báo Chính Luận, và ký giả Chu Tử, chủ nhiệm báo Sống. Từ Chung bị giết chết còn Chu Tử bị thương. Cũng như chính quyền Trung Quốc ngày nay không chỉ kiểm duyệt ở trong nước mà còn vươn tay ra hải ngoại, cho người đến nhà người làm báo The Epoch Time ở Mỹ đánh người này, đập phá máy computer. Nếu nhìn vào 5 biện pháp kiểm duyệt kể ở trên thì việc ám sát ký giả thuộc vào biện pháp 1, tức là lọc lựa người được quyền viết. Khi ký giả đó ở trong phạm vi cai trị của chính quyền thì chính quyền đó bỏ tù, còn khi ký giả đó ở ngoài phạm vi cai trị của chính quyền đó thì vì không thể bắt đưa ra tòa thì cho người ám sát. Ám sát ký giả là có nghĩa nói rằng: “Mày không được quyền viết, chỉ có người của tao mới được quyền viết.”

  • Hoài Tử viết:

    Phạm Xuân Đài mở đầu viết: “Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, chế độ kiểm duyệt văn hóa phẩm chỉ có ở miền Nam, miền Bắc không có kiểm duyệt. Nhìn chung trên thế giới, một số quốc gia có chế độ kiểm duyệt đều thuộc ‘thế giới tự do,’ các quốc gia cộng sản trước đây và bây giờ không có kiểm duyệt.”

    Mới đọc hai câu này đã thấy có sự thiên lệch nào đó trong cách dùng câu, dù ông đã dẫn chứng xa hơn về kiểm duyệt dưới chế độ VNCH và không kiểm duyệt ở chế độ VC. Cái mà tôi thấy là định nghĩa chữ “kiểm duyệt.” Nếu định nghĩa theo nghĩa “VNCH và các nước tự do” thì kiểm duyệt từ một hệ thống trực thuộc chính quyền thì chính VC cũng đã có dù nằm trong bộ/ban văn hóa. Nếu định nghĩa theo nghĩa hạn hẹp tự kiểm như các báo/website (kể cả Damau) cũng đục bỏ những gì không cùng đường lối với họ thì VC và VNCH cũng đều có. Vậy đứng trên hai định nghĩa trên của sự kiểm duyệt cả hai chế độ đều đã kiểm duyệt.

    Phạm Xuân Đài viết: “Bây giờ là đầu thế kỷ 21, đảng cộng sản vẫn cai trị nước Việt Nam theo nguyên tắc bất đi bất dịch: triệt để tiêu diệt các mầm mống đối lập. Ðảng vẫn tiếp tục độc quyền uốn nắn tư tưởng của mọi người, nên mọi hoạt động trí thức đều do đảng nắm hết. Kiểm duyệt, do đó, vẫn tiếp tục không cần đặt ra.”

    Và ông kết luận: “Các trang mạng ngày nay có vẻ đang là lối thoát trước mọi hình thức kiểm duyệt. Nó đang là thách đố cho những chế độ độc tài kỳ cựu nhất như là Trung Quốc, Việt Nam… Trong không gian ảo ấy, người ta lo dựng lên đủ loại rào cản để tránh cái ngoại nhập, lo dọn dẹp tiếng nói tương đối tự do trên các blog ở trong nước, những hành vi rất ‘phản động’ trước sự phát triển trí tuệ và kỹ thuật to lớn của thế giới ngày nay. Nhưng hành động ấy của những đầu óc độc tài hủ lậu chỉ như những bàn tay che mặt trời.”

    Thưa ông! VC không thơ ngây đến độ để cho ý tưởng đối lập mặc sức tung hoành trên net như ông tưởng. Thử hỏi ai là những người giàu nhất và quyền bính nhất VN hiện nay? Có người gọi là tư bản đỏ không chính xác lắm. Nhưng những ê kíp từ trí thức cho đến thọc gậy bánh xe trên net hay dưới đất đều nhằm mục đích “đập tan” đối lập. Tôi viết chữ “đập tan” trong ngoặc kép vì nó phải hiểu với nhiều góc cạnh, đại loại là diệt hoàn toàn, làm mất uy tín của đối lập, làm mù mờ lập luận của đối lập, làm cho trở thành cãi vã, v.v.

    Trước khi vào đoạn kết tôi xin kinh qua lập luận của ông Vũ Ban: “Dân chủ phải đi đôi với đối lập.” Xin hỏi ông Vũ Ban là VN có giống nước Mỹ hay không? Trở về ví dụ của nước Nam Hàn sau 1953 họ đã được CS cho yên ổn mà khai phá tự do và đối lập thì bây giờ có đối lập cũng chẳng ăn thua gì Nam Hàn cả. Còn VC thì không cho đối lập nhưng hoan hô mọi người chống lại họ: đối lập nhau đi, cãi càng nhiều càng tốt. Càng phân hoá càng tốt. Vậy là VC bất chiến tự nhiên thành, chưa kể cái ê kíp chúng nuôi dường sẵn sàng làm chuyện cho mọi người đối lập nhau. Câu hỏi là VN trong và ngoài nước đã thực sự cần kíp sự tự do ngôn luận chưa (kể cả dân trí và ý thức)?

    Và cũng xin trả lời ông Minh Đức: Theo như những gì đã xảy ra thì chế độ VNCH bị tiêu diệt vì quân đội CS từ miền Bắc vào chứ không phải do lực lượng CS tại miền Nam. Cuộc chiến nào cũng phải có chiến lược, chiến thuật. Nếu ông chỉ nói tới quân đội thì ông đã chẳng hiểu gì về cuộc chiến. Ngày xưa cả Lưu Bang cũng dùng tâm lý chiến thì tuyên truyền và kéo ý dân ngả về mình hay làm dân thụ động mất nhuệ khí cũng là trong chiến lược. Đan cử: nếu nhạc phản chiến TCS mà cho dân miền bắc nghe thì trung tâm chiêu hồi VNCH đã không còn chỗ chứa. Nhưng chỉ cho dân miền nam thì ảnh hưởng đến tinh thần VNCH bao nhiêu có lẽ không ai muốn nói đến vì ngại nói lên chính mình cũng một phần đồng loã.

    Tất cả, đều quay về hai câu hỏi:
    – Cuộc chiến “ý thức hệ” của VC và mọi người đã thực sự chấm dứt chưa?
    – Thực sự dân trí người Việt (kể cả trong và ngoài nước) có đủ để đối lập hay không?

    Trả lời đầy đủ hai câu hỏi này thì mới có đủ nền tảng để đặt vấn đề kiểm duyệt và tự do ngôn luận trên các nẻo đường thế giới.

  • bắc phong viết:

    khác biệt

    cộng hòa miền nam kiểm duyệt sách
    cộng sản miền bắc kiểm thảo người
    đục chữ thì chỉ chữ rơi
    đục người thì vỡ nát đời nhà văn

    bắc phong

  • Minh Đức viết:

    Ô/B Hoài Tử viết: “Cuộc chiến nào cũng phải có chiến lược, chiến thuật. Nếu ông chỉ nói tới quân đội thì ông đã chẳng hiểu gì về cuộc chiến.”

    Điều tôi nói ở trên không phải là nói CS thắng chỉ cần có quân đội mà tôi nói rằng mặc dù miền Nam tương đối có tự do ngôn luận, CS cũng không thể lợi dụng tự do ngôn luận mà lật đổ chế độ VNCH vì không phải người dân ai cũng nghe theo lời tuyên truyền của CS.

  • Sean.P viết:

    Tôi thấy chuyện kiểm duyệt là chế độ nào, thời kì nào, cơ quan, bộ phận nào cũng có. Quan trọng là con người ta sử dụng công cụ kiểm duyệt với mục đích gì. Bài viết của anh Phạm Xuân Đài cũng khá hay dù không phản đối chính sách kiểm duyệt của CS nhưng cũng nêu được cái mặt cũ kĩ, ngu dốt, độc đoán một cách thiển cận của chế độ CS, đến nỗi ai ai trong nước cũng thấy nhưng có ai dám nói, dám đương đầu đâu.

    Nhà tôi người Bắc, có kể, hồi đi thanh niên xung phong trong khu, một lần ngồi hát vu vơ mấy câu nhạc Vàng, hình như bài “hai mùa mưa” của Anh Bằng (hát vu vơ một mình đấy nhé, không phải hát văn nghệ, tuyên truyền đâu nhé!), một đứa trong khu nghe thấy báo cấp trên, thế là nhà tôi bị kiểm điểm tùm lum, nói là tuyên truyền lời của Ngụy, không trung thành với Đảng, hứa này hứa nọ, thề này thề kia, nghe đâu suýt bị đuổi về. Mà thật ra mấy bài đó đồng chí CS nào thời đó chả biết, chả nghe, chả hát vu vơ. Buồn cười cho chế độ CS, không biết gì, không biết nó như thế nào, và cũng không cần biết, thích là cấm.

  • Minh Đức viết:

    Sean P. viết: “Buồn cười cho chế độ CS, không biết gì, không biết nó như thế nào, và cũng không cần biết, thích là cấm.”

    Đó là thời trước 1990, khi Liên Xô còn tồn tại. Chế độ CSVN cho đến ngày nay cũng giữ chính sách chỉ cho phép hát những bài mà chế độ cho phép. Nhưng trước 1990 thì tiêu chuẩn cho phép đó khe khắt hơn. Những bài hát nào có thực sự theo đúng đường lối tuyên truyền, theo đúng tư tưởng Mác Lê thì mới được hát, ngay cả những bài hát cũ không dính dáng đến chính trị cũng không được hát. Có những bài hát cũ nếu đem phân tích có thể không có vấn đề gì nhưng cũng vẫn cấm hết, nhưng có một số bài nếu đem phân tích ra dưới lăng kính của ban văn hóa tư tưởng của đảng CS có thể bị phạm vào các lỗi như mang tính cá nhân chủ nghĩa, ngay cả “lòng yêu nước chung chung,” không nói rõ ra cụ thể là yêu nước XHCN thì cũng bị xem là không thể chấp nhận được. Sau 1990 thì các tiêu chuẩn xét rộng rãi hơn. Một số bài hát cũ được gọi là các ca khúc bất tử cho phép được hát lại. Tình cảm bị lên án là có tính cách cá nhân chủ nghĩa trong các bài hát trước đây bị cấm thì cũng được chấp nhận phần nào.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)