Trang chính » Nhận Định Email bài này

NGHIỆP DƯ VÀ CHUYÊN NGHIỆP TRONG SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT

1 bình luận ♦ 9.07.2018



Với sáng tác nghệ thuật không có chuyện chuyên nghiệp hay nghiệp dư. Chuyên nghiệp là việc của thợ có nghề. Những ai hô hào “cần có tính chuyên nghệp trong sáng tác“ là không hiểu gì về tâm lý sáng tạo.

Trong hội hoạ và âm nhạc, hay văn chương, mọi sản phẩm nghệ thuật luôn là độc bản duy nhất không lặp lại. Vì thế mà không thể chuyên nghiệp.

Mỗi tác phẩm được sáng tác, người nghệ sĩ đều lạ lẫm ngỡ ngàng từng bước cho tới khi dừng không làm tiếp được nữa (gọi là làm xong). Khi nảy sinh sáng tác mới lại hồi hộp, lại hăng say trong bỡ ngỡ. Làm gì có sản xuất hàng loạt tác phẩm giống nhau để mà chuyên nghiệp như người thợ. Mấy anh chàng cán bộ chuyên nghiệp lãnh đạo các hội hè nghệ thuật, hay hô hào “sáng tác cần có tính chuyên nghiệp” là không tự thấy mình còn thiếu hiểu biết, không hiểu tâm trạng của người nghệ sĩ sáng tác.

Hai từ chuyên nghiệp chỉ có thể hiểu theo nghĩa kiếm tiền và sinh kế bằng một nghề nào đó. Và hai từ “nghiệp dư” dành cho người hành nghề yếu kém, còn hai từ “chuyên nghiệp” dành cho người hành nghề vững vàng bảo đảm uy tín sản phẩm, có cam kết bảo hành bảo trì dài hạn.

Sáng tạo nghệ thuật không có bảo hành. Mỗi tác phẩm nghệ thuật đích thực khi ra đời luôn có số phận riêng. Có khi có những tác phẩm kỳ lạ mà cộng đồng đương thời chưa nhìn ra giá trị của nó, phải đợi phát hiện của đời sau. Điều này minh chứng cho sáng tạo nghệ thuật không thể có tính chuyên nghiệp.

Khái niệm nghiệp dư nếu hiểu đúng là một thứ thao tác chưa ổn định, chưa đủ khả năng tạo ra công nghệ sản xuất “muôn cái như một”. Vì thế mà khái niệm nghiệp dư hay chuyên nghiệp là thứ ngôn ngữ xử dụng cho sản xuất sản phẩm, không dùng như một thuật ngữ trong nghệ thuật.

Vậy mà xưa nay khái niệm này đã bị xử dụng nhầm chỗ trong hoạt động nghệ thuật ở Việt Nam.

Vì sao những người làm nghệ thuật già đời thường tự coi mình là “dân làm nghệ thuật chuyên nghiệp” mà họ không hay biết rằng khả năng rung động trước sáng tạo mới lạ đã bị bào mòn từ lâu và đang mất hẳn, khiến họ chỉ còn là người thợ thuộc lòng những ngón nghề như kinh nghiệm và nguyên tắc hòa sắc, kinh nghiệm và nguyên tắc ánh sáng và hình họa, thông thạo vững vàng môn giải phẫu nghệ thuật…Tương tự như thế với Âm nhạc là giỏi nhạc lý, hiểu biết sâu âm vực các nhạc cụ, v.v.. Những thứ phải mất nhiều năm tháng mới thành thạo như thế đã gây nhầm lẫn cho nhiều người tưởng rằng đó chính là tính chuyên nghiệp của nghệ thuật.

Những nhạc sĩ hay hoạ sĩ lành nghề, thạo nghề tới mức tưởng là chuyên nghiệp như thế không có đột biến trong sáng tạo. Họ không biết họ đã không còn làm nghệ thuật nữa mà lại tự tưởng như đang làm nghệ thuật mạnh. Họ thường lặp lại chính mình một cách bền bỉ. Tất nhiên họ vẫn tạo được giá trị nhất định trong sinh hoạt nghệ thuật của cộng đồng cho dù cả đời sáng tác ra tác phẩm na ná nhau như người thợ, mà họ vẫn tự hào là “dân làm nghệ thuật chuyên nghiệp”. Thực ra những người đó đã có gì đó giống như những robot được lập trình sáng tác nghệ thuật. Hiện nay đã có những sản phẩm nghệ thuật của robot rất đáng nể phục, nhưng là nể phục vì robot làm ra. Tất nhiên không bao giờ là kiệt tác như những tác phẩm của con người.

Về nguyên lý, tính chuyên nghiệp của một nghề là có thể đúc kết thành từng công đoạn để truyền đạt được cho người muốn học nghề nghiệp đó. Và khẳng định mọi thao tác “chuyên nghiệp” đều truyền bá, giảng dạy được, và có thể lập trình công nghệ cho robot. Đó là khả năng chuyển giao công nghệ của tính chuyên nghiệp.

Còn tính sáng tạo của nghệ thuật là năng khiếu chỉ có giời truyền cho. Mà các nghệ sĩ không thể truyền lại cho nhau như những người thợ lành nghề. Nghệ thuật không thể chuyển giao công nghệ, nên không có chuyện nghiệp dư hay chuyên nghiệp. Khi sử dụng thuật ngữ “nghiệp dư” và “chuyên nghiệp” sai lầm đã sinh ra những chỉ đạo sai lầm trong các ngành văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dù tài ba vô song cũng chỉ tài ba cho duy nhất một mình ông. Ông không thể chuyển giao tài ba đó cho mọi người bằng kiểu quy trình chuyên nghiệp nào. Trong giới biểu diễn cũng thế, các nhạc công rất công phu khổ luyện vài chục năm và lâu hơn cũng không thể chuyển giao tài năng vốn là kết quả của năng khiếu và khổ luyện đó cho ai được.

Dễ dàng minh chứng bằng những cuộc thi âm nhạc thế giới, và những công phu tập luyện của pianis tầm cỡ Đặng Thái Sơn không thể gọi là chuyên nghiệp, vì đó là thiên bẩm, mỗi cá nhân thiên bẩm công phu khổ luyện đều tuyệt vời khác nhau dù cho họ cùng thi thố độc tấu một bản đàn.

Trong Âm nhạc cho dù là khổ luyện suốt đời để biểu diễn cũng không phải là chuyên nghiệp. Bởi mỗi một nhạc công khổ luyện thành tài đó đã cho ra những kết quả biểu diễn duy nhất không lặp lại. Sự khổ luyện ghê gớm của những công phu khác nhau trong ngành Âm nhạc đã làm nhiều người ngộ nhận đó là tính chuyên nghiệp. Cần nhấn mạnh rằng mỗi nhạc công khổ luyện cả đời cũng không thể là chuyên nghiệp bởi kết quả của những năng khiếu kết hợp khổ luyện thành công đó là duy nhất và không thể chuyển giao.

Các đệ tử ruột của bất kỳ bậc danh sư nghệ thuật nào nếu thành công cũng đều có yếu tố khác thầy của mình, vì trong nghệ thuật không có tính chuyên nghiệp.

Vì thế nghệ sĩ dù là sáng tác hay là biểu diễn vẫn là thiên bẩm trời phú cho. Thế nên có những người đam mê ghê gớm mà không có năng khiếu cũng không thể cứ tập riết, rèn luyện riết (chuyên nghiệp riết) mà thành công được. Rèn luyện của các nhạc công không phải là "chuyên nghiệp" như sản xuất sản phẩm.

Một tổ chức, một nhóm, hay một cá nhân làm nghệ thuật, đam mê nghệ thuật, nhưng không sinh kế bằng nghệ thuật thường bị coi là nghiệp dư. Từ đánh giá sai lầm đó mọi chính sách đến sách lược cụ thể cho phát triển văn hóa nghệ thuật đã không thành công, chỉ vì chuyên chú và hy vọng có kiệt tác văn học, nghệ thuật ở các trại sáng tác của những “cán bộ viên chức nghệ thuật” được nhà nước hiểu là đội ngũ chuyên nghiệp làm nghệ thuật.

Mang nhận thức đánh giá tay nghề của nghề thợ áp dụng cho nhận thức văn nghệ sĩ như thế, nhà nước sẽ phân cấp khác nhau giữa những tổ chức làm nghệ thuật được coi là chuyên nghiệp có được hưởng lương với những tổ chức làm nghệ thuật tự do không có lương nghệ thuật. Điều này dẫn tới một bộ máy hành chính của ngành văn hóa có rất nhiều “ cán bộ văn nghệ sĩ” hưởng lương suốt đời nhưng không có sáng tạo nghệ thuật tương đương.

Những viên chức nghệ thuật mang danh “chuyên nghiệp” đó không bao giờ sáng tạo được tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Không thể hy vọng có kiệt tác ở các viên chức nghệ thuật.

Khi sáng tác mà tác phẩm nghệ thuật mới mà cứ đều đều sòn sòn ra đời ở mức kha khá thì nghĩa là nghệ sĩ đó đã chuyên nghiệp trong sản xuất tác phẩm, đã đóng băng sự tươi mới, đã mất đi cái lung linh bất ngờ hạng nhất của tính ngẫu hứng bằng trực giác của cảm xúc nghệ thuật.

“ Với nghệ thuật chỉ có tác phẩm và tác giả mà không có nghiệp dư hay chuyên nghiệp”.

Vì sáng tạo nghệ thuật chỉ có một hạng duy nhất có “đẳng cấp nghệ thuật”, các hạng sau đồng hạng na ná nghệ thuật không tính.

Dù thời gian đằng đẵng suy tư cho nghệ thuật, nhưng giây phút khởi động một tác phẩm luôn luôn có trạng thái lâng lâng "không biết trước kết quả" khi kết thúc tác phẩm, bởi đó là trạng thái "không biết trước" thường trực trong sáng tác nghệ thuật. Người nghệ sĩ mất đi cảm xúc "không biết trước" này thì họ chỉ là nhà sản xuất sản phẩm lành nghề. Nên nhớ mọi thao tác chuyên nghiệp đều biết trước sản phẩm sẽ làm ra. Hãy xem như thi sĩ không bao giờ biết trước câu thơ sau câu vừa viết ra, thi sĩ cứ như thế cho đến khi muốn dừng kết thúc một cảm hứng. Hoặc như nhạc sĩ không khẳng định được những nốt nhạc tiếp theo nốt vừa sáng tác ngẫu hứng.

Nếu tạm gọi trạng thái sáng tạo không biết trước đó là “nghiệp dư”, thì chính vì có trạng thái “nghiệp dư” đó mà tác phẩm nghệ thuật luôn lung linh. Dưới đây là vài trường hợp nghệ sĩ không xác định là nghiệp dư hay chuyên nghiệp trong nghệ thuật, nhưng họ có tác phẩm lưu lại cho hậu thế ở tầm toàn cầu. Ở Hy Lạp thời cổ đại có Homer. Ông là nhà thơ và là người hát rong, ông được cho là tác giả của hai trường ca lừng danh Iliad và Odyssey. Tương truyền ông bị mù cả hai mắt. Thế kỷ thứ VIII trước CN, Homer hát rong và kiếm sống bằng hai tác phẩm Iliad và Odyssey. Đến thế kỷ thứ VI trước CN hai tác phẩm đó được chép lại thành văn bản theo lệnh của nhà cầm quyền Athena khi đó là Peisistratos.

Còn ở thời nay, thời hậu hiện đại của thế giới nghệ thuật này đã xuất hiện nữ văn sĩ bất đắc dĩ, tác giả viết cuốn tiểu thuyết Harry Potter lừng lẫy, J.K. Rowling không có ý định làm nhà văn. Bà chỉ viết những chuyện để kể cho con trước khi đi ngủ, và bây giờ là một cuốn sách kỳ lạ của nhân loại. Bà từng một mình nuôi con, thất nghiệp, túi không tiền và có ý định tự tử, nhưng hiện nay tác giả của bộ tiểu thuyết Harry Potter, là một trong những người phụ nữ quyền lực và giàu có nhất trên thế giới. Đến đây xin thưa, trường hợp này là nghiệp dư hay chuyên nghiệp? Rõ ràng giá trị của tác phẩm này không phụ thuộc vào hai từ “nghiệp dư” hay “chuyên nghiệp” mà ở chính bản thân tác phẩm.

Đó là dẫn chứng từ thời cổ đại đến nay. Thế còn từ Đông sang Tây thì sao. Thì hãy xem Thơ Đường hay Đường thi (chữ Hán:唐詩) là toàn bộ thơ ca đời Đường được các nhà thơ người Trung Quốc sáng tác trong khoảng từ thế kỷ 7 – 10 (618 – 907). Các sáng tác của hàng nghìn nhà thơ đời Đường được bảo tồn trong cuốn Toàn Đường thi gồm 48.900 bài. Đời Thanh chọn 300 bài do Hành Đường thoái sĩ và Trần Uyển Tuấn bổ chú thành Đường thi tam bách thủ được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc, Việt Nam. Thời đại của Đường Thi đó hầu như không có ai sinh kế bằng chuyên nghiệp làm thơ. Cầm – Kỳ -Thi – Họa chỉ là thú tiêu khiển của người quân tử. Nếu có kiếm sống thì những người quân tử (trí thức cổ đại và phong kiến Trung Quốc) chỉ dùng kiến thức về Nho – Y – Lý – Số. Hầu như toàn bộ Đường Thi là của các nhà thơ không hề biết tới khái niệm làm thơ chuyên nghiệp.

Lại nữa, trong âm nhạc và hội họa có hiện tượng thần đồng. Những thần đồng này thường xuất hiện từ trong gia đình, không được đào tạo bài bản từ các trường lớp chuyên nghiệp. Khái niệm thần đồng đã phủ nhận cách nghĩ phải công phu khổ luyện chuyên nghiệp mới thành nghệ sĩ.

Ở Việt Nam, có nhiều người lĩnh lương làm nghệ thuật, vỗ ngực cho mình là nghệ sĩ chuyên nghiệp. Khái niệm nghiệp dư và chuyên nghiệp được các viên chức nghệ thuật này cổ vũ tán thưởng. Bi kịch hiện nay ở chỗ hai từ “chuyên nghiệp “ hiện được toàn xã hội và các viên chức cơ quan ngành văn hóa dùng để xác định giá trị nghệ thuật cao thấp. Nên đã sản sinh ra những người khổ luyện công phu khi thực tế biểu diễn và biểu hiện qua tác phẩm bị thua kém người ít khổ luyện được trời phú cho tài năng, những viên chức nghệ thuật đó đã phải chứng tỏ tính chuyên nghiệp của mình, vì có biên chế có lương nghệ sĩ, mà gọi những người đồng nghiệp còn lại là nghiệp dư.

Những người dày công khổ luyện không bao giờ hiểu nổi "khổ luyện" chỉ là khúc ban đầu khi chưa hình thành quy trình công nghệ để chuyên nghiệp hóa cái công phu mà thôi. Khi đã "chuyên nghiệp" cái khổ luyện rồi thì làm gì còn khổ luyện nữa. Chỉ còn là chuyển giao công nghệ. Và bất kỳ ai được chuyển giao công nghệ đều có thể làm được sản phẩm có chất lượng chuyên nghiệp. Đây cũng là lý do giải thích vì sao có nhiều nghệ sĩ sáng tác rất khỏe mà chỉ ra rặt những tác phẩm không có "đẳng cấp nghệ thuật", bởi họ đã chuyên nghiệp hóa cái khổ luyện của họ thành sản xuất sản phẩm. Hai từ “chuyên nghiệp” và “nghiệp dư” còn đeo bám giới văn nghệ sĩ mãi cho đến khi chính những viên chức nghệ thuật nhận ra sự thật: "Với nghệ thuật chỉ có tác phẩm và tác giả mà không có nghiệp dư hay chuyên nghiệp".

bài đã đăng của Hồng Hoang


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    業, nghiệp

    Hình như hiện nay người ta dùng các từ kép chuyên nghiệp và nghiệp dư theo nghĩa chuyên môn kỹ thuật. Hiểu như vậy cũng không có gì sai. Nó chỉ được giới hạn và nhấn mạnh đặc tính trong phạm vi của sự việc mà người ta muốn nhắm tới. Nhà văn, chẳng hạn, nếu xuất thân từ “trường lớp” đào tạo, sinh hoạt trong một “tổ chức” văn học hẳn hoi thì là chuyên nghiệp. Trái lại, văn sĩ tay ngang, tự học lấy, sinh hoạt mình… ên, thì chắc có lẽ là nghiệp dư (hay ngoài luồng).

    Cũng có người dựa vào đặc tính sáng tạo trong văn học, và cho rằng chính tác phẩm có giá trị mới quyết định là nhà văn chuyên nghiệp hay nghiệp dư. Định nghĩa này có vẻ lý tưởng, tuy nhiên vì lý tưởng lại dễ sinh ra chuyện bất khả thuyết (bất khả tư … nghì) .

    Tôi tự đặt ra cho mình một quan niệm. Tôi hiểu chữ nghiệp 業 ở đây theo khía cạnh nghề nghiệp, sự nghiệp, nhà nghề – a career. Một nhà ngoại giao chuyên nghiệp thứ nhất anh ta không thể thiếu kiến thức giao tế nhân sự, thứ hai anh ta buộc phải có kinh nghiệm từng trãi với nghề này nhiều năm. Một vị sĩ quan quân đội tác chiến chuyên nghiệp cũng vậy, không thể nói anh ta là lính nhà nghề nều anh ta chưa từng xuất trận và không có chiến công binh nghiệp nào.

    Trong lĩnh vực nghệ thuật cũng thế. Nhà văn chuyên nghiệp (thí dụ), theo tôi, là nhà văn (thơ) có số tác phẩm hay tiểu thuyết xuất bản, có hoạt động liên quan tới văn học hay văn chương, có đọc giả hoặc khán thính giả, và nhất là có thể sống với sự nghiệp văn chương của mình. Ngoài ra, anh ta chỉ nên được gọi là văn thi nhân tài tử (không phải nghiệp dư).

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)